Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

TRIẾT LÝ BA XU
Điều gì nói ra mà ai cũng biết cả rồi vì nó tầm thường, đơn giản, hiển nhiên, rẻ tiền thì người ta thường mỉa mai gọi nó là “triết lý ba xu”, mặc dầu đó những điều xác thực, chỉ vì nó xưa cũ hay người ta đã quen nghe.

Bây giờ mỗi ngày bạn đang có bao nhiêu công việc phải lo toan từ sáng đến chiều, hết sức là bận rộn, mỗi tối trước khi lên giường, bạn phải liệt kê các công việc cần ghi nhớ cho ngày mai trên một trang giấy, sợ có điều không ghi nhớ thì sẽ quên mất. Giá như có ai đó đề nghị bạn bỏ một ngày đi thăm một người bạn ở xa, hay nghỉ trọn một tuần, bỏ hết tất cả công việc, để làm một chuyến du lịch cho thanh thản tấm thân, cắt đứt với mọi liên lạc công việc bên ngoài, bạn sẽ không bao giờ chấp nhận, vì quá thật là bạn quá bận, không dư ra một tí tẹo thời giờ nào cho những công việc như thế.

Thế rồi đùng một cái, không báo trước, buổi chiều, chiếc xe cấp cứu rú còi inh ỏi, ghé qua nhà bạn, mang vào bệnh viện cái đầu óc bận rộn và cả cái tấm thân đang bệnh tật, có thể là sắp chết của bạn vào bệnh viện. Bạn sẽ sắp đặt gì cho chương trình vào sáng hôm sau của bạn, công việc ở sở làm, một vài chuyện giả quyết chưa xong, đôi việc giao dịch chưa hoàn tất, cái thư chưa phúc đáp, cái bill chưa trả. Bạn sẽ không làm được gì hết ngoài ra việc nằm thẳng trên giường bệnh viện với các giây nhợ chằng chịt trên cánh tay suốt ngày, xoay trở cũng khó khăn, mê mê, tỉnh tỉnh, nói gì chuyện đi đứng, bay nhảy như những ngày khỏe mạnh. Nghĩa là tất cả đều được xếp lại, như cho vào một ngăn kéo đóng kín, không giải quyết không xoay trở gì được. Bây giờ ai đưa cháu đi học, bây giờ mấy cái bills chưa trả, bây giờ còn trăm thứ việc ngổn ngang.

Tổng Thống thứ 9 của Hoa Kỳ là ông William Henry Harrison, tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1841, lẽ cố nhiên ông có nhiều kế hoạch, chương trình cho nhiệm kỳ bốn năm trước mặt, còn ai trên thế giới này bận rộn hơn ông. Ngày tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống, nhiệt độ Washington DC xuống quá thấp dưới độ đông đá, đứng giữa trời suốt mấy tiếng đồng hồ không đội nón, Ông William Henry Harrison đã đọc một bài diễn văn dài 105 phút, ông bị cảm lạnh và bị sưng phổi rồi qua đời sau đó đúng một tháng vào ngày 4 tháng 4 năm 1841. Tổng Thống Harrison qua đời thì có ông Phó Tổng Thống John Tyler lên thay, cũng hết một nhiệm kỳ 4 năm (1841-1485), nước Mỹ đâu có một ngày nào không có Tổng Thống đâu. Bạn đừng nghĩ rằng vai trò của bạn khó thay thế, khi bạn không hiện diện hôm nay ở sở làm, trong gia đình, ngay tại văn phòng Phủ Tổng Thống, hay cả trên cõi trần gian này nữa. Không có gì không thể thay thế, ngay cả Tổng Thống một cường quốc như nước Mỹ.

Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe đến câu “Thân không cầu không tật bệnh, thân không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.” Quả thật, chúng ta có rất nhiều ham muốn, những món tiền lớn, chức vụ béo bở, danh vọng ngất trời, bình thường thì cũng nhà đẹp, xe đời mới, bữa ăn ngon, thú vui xác thịt. Nhưng khi nằm trên giường bệnh rồi, khi chúng ta bị bệnh tật, đau đớn, điều ước mơ duy nhất là lành bệnh, ngoài ra những thứ chức tước, danh vọng, tiền của đầy nhà, rượu ngon, gái đẹp... đều vô nghĩa. Khi thân thể rã rời, sinh lực tiêu hao, không buồn nhấc cánh tay lên, không muốn nở một nụ cười, ta còn ao ước điều gì trên cõi đời này nữa. Những con số trong ngân khoản nhà băng, những món lời trong tầm tay sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, sẽ không còn cần thiết gì cho thực trạng hôm nay với cái thân tàn tạ, nằm nhìn lên trần nhà mà chưa biết những gì có thể xẩy ra cho cái thân xác hữu cơ cùng với mầm thối rữa này.

Nhiều người đã kề cận với cái chết, nghĩa là đang ở giữa hai bờ sinh tử thì luôn luôn ám ảnh bởi nỗi biệt ly, xa cách rồi đây có thể xẩy ra giữa mình và những người thân yêu hơn là nghĩ đến những gì mình đang có bỗng phải bỏ lại đàng sau. Cái chết chỉ nhẹ nhàng, con đường ra đi chỉ có thể thênh thang nếu cuộc hành trình không mang những hành lý quá nặng với những nuối tiếc, với những tư hữu, những bận bịu tưởng chừng như không thể rời bỏ được ngay vào những giờ phút cuối cùng. Nhưng làm sao ra đi mà không thương nhớ, mà để lòng mình được thảnh thơi như người xưa nói rằng “chết là trở về” hay làm sao để cái chết nhẹ nhàng vui thú “như khi ta trở lại đi trên những con đường quê những ngày thơ ấu!”

Lúc nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày khỏe mạnh quý báu biết bao nhiêu. Những chuyện nghe ra rất tầm thường trong cuộc sống hằng ngày bây giờ bỗng trở nên giá trị, khó tìm lại được. Những buổi sáng thức dậy thấy được ánh mặt trời và những chòm lá xao động bên ngoài cửa sổ, có thể nghe cả tiếng chim hót, tiếng xe cộ qua lại ồn ào hay tiếng người lao xao đâu đó. Những chuyện ấy rất thường tình, đời sống trôi chảy chung quanh ta, mà ngày thường không bao giờ chúng ta quan tâm, để ý đến. Bây giờ trong một căn phòng vắng lặng, cách biệt đời sống bên ngoài, mạch máu và nhịp tim đập của chúng ta gắn liền với những giọt thuốc tỉ tê đang luồn vào cơ thể.

Có những ngày nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày lành mạnh là đáng quý, không gì hơn được sống gần những người mình thương yêu, được làm những điều mình thích, được nói được cười trong một nhân quần ấm áp trong một ngày như hôm nay. Thế thì khi chúng ta được trở lại với cuộc sống dù là tầm thường, nhưng rất bình thường yên ổn, chúng ta có thấy quý những ngày như thế không? Hay bây giờ chúng ta đã thực sự quên rồi.

Cuộc sống đã xô đẩy chúng ta đi không một phút giây ngơi nghỉ trên chuyến tàu tốc hành đang băng băng trong đêm trong ngày, qua bao nhiêu dòng sông, chiếc cầu, qua bao nhiêu cánh đồng, rặng núi. Con tàu đã dừng lại một ga nhỏ nào đó để cho chúng ta lên tàu, rồi con tàu sẽ dừng lại một sân ga nào đó cho chúng ta xuống tàu, có thể cũng không ai biết chúng ta là ai, hiện diện trên toa tàu này lúc nào, trừ những người hành khách kế cận. Một người khách đã xuống tàu lúc con tàu đậu lại một sân ga nào đó đâu có gì là quan trọng.

Trong cuốn sổ điện thoại của tôi dùng thường ngày đã có những cái tên và số điện thoại bị gạch bỏ hay không bao giờ dùng đến, vì những bạn bè, thân thuộc này đã không còn ở trên cõi đời này nữa. Tên của tôi trong cuốn sổ điện thoại của bạn cũng vậy, một này nào đó, như khi tôi đã xuống tàu, đâu có ai cần đến nữa.

Đến cái tuổi nào đó, có những người không còn thấy quyền lực, danh vọng và tiền của là quan trọng nữa. Con tàu trước khi rời sân ga đã kéo những hồi còi dài trong đêm tối, có thể không ai để ý đến một người hành khách đã xuống tàu lầm lũi một mình. Con tàu như dòng đời trôi chảy chúng ta đã bỏ lại sau lưng. Giờ phút đó, chúng ta không còn ở trên cõi đời này nữa, nhưng trước giờ ra đi, có thể có nhiều điều chúng ta chưa thực hiện được như những mơ ước từ lúc niên thiếu. Nhiều triết gia đã cho rằng chúng ta đã sống như thế nào chứ không phải đời sống dài hay ngắn.

Nhưng cái điều mà ai cũng biết, ai cũng nghe nói nhiều lần đến nhàm chán, và chẳng ai muốn nghe thì người ta gọi nó là thứ triết lý ...ba xu. Câu chuyện này có thể được xếp loại như vậy chăng?

Huy Phương

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Phát Hiện ở Quán Cà Phê

Đào Hiếu
Những điều người ta nói sau lưng mình không hẳn đã là xấu. Bởi vì nếu không có những lời đó chưa chắc tôi đã viết được bài báo này.

Chỉ khi rời quán cà phê, về nhà, tôi mới nhận được những lời đó. Nó vang lên trong điện thoại. Cuộc gọi của một người bạn thân: “Lúc nãy khi mày vừa đi thì có người nói: cái tay Đào Hiếu này viết bạo quá, chỉ trích nhà nước cỡ đó thì chỉ có mấy tay cò mồi hoặc là công an văn hóa đội lốt nhà văn mới dám làm.”

Câu nói sau lưng ấy như cái công tắc đèn điện, nó vừa bật lên trong cái đầu mù mịt của tôi, làm bừng sáng một khuôn mặt. Rồi nhiều khuôn mặt. Lố nhố. Lướt qua trí nhớ tôi, trôi dạt, đọng lại, hội tụ, định dạng ngay trước mũi. Tôi ngửi thấy được mùi của họ. Nhưng họ không là ai cụ thể. Họ là một tầng lớp, một nhóm bạn thân quen. Vẫn chơi. Vẫn bù khú, nhậu nhẹt, tán dóc. Một đám bằng hữu mà tôi không bao giờ từ bỏ, ghét bỏ. Vì họ có tri thức, có tấm lòng. Họ tốt. Họ là bạn tôi.

Chỉ có điều…

Tôi biết mình là ai. Tôi viết bạo. Tôi có một trang web cũng rất bạo. Sao tôi không bị bắt, sao trang web của tôi không bị dẹp tiệm hay phá hoại?

Trước nay tôi vẫn nghĩ mình là một thằng liều mạng, một kẻ chịu chơi. Cái gì mình cho là đúng thì viết, cái gì mình thấy là sai thì lên án, phê phán, nguyền rủa. Đơn giản là vậy. Vài người bạn bảo tôi: “Công an nó theo dõi mày đấy, coi chừng!” Tôi nói: “Việc của họ thì họ làm, việc của mình thì mình làm, hơi đâu mà lo. Cứ lo sợ thì chẳng làm gì được.”

Đó là chuyện trước đây.

Bây giờ, sau khi nghe “câu nói sau lưng” kia, thì đã khác rồi.

Khác như thế nào?

Rằng không phải tôi “chịu chơi” hay “liều mạng” mà chỉ là một thằng “cò mồi”, một tên “công an văn hóa đội lốt nhà văn”. Bằng chứng là tôi viết tự do thoải mái như thế nhưng có ai hù dọa răn đe bắt nhốt gì tôi đâu.

Rất may là khi biết có người nghĩ về mình như vậy tôi mới phát hiện một sự thực: đó là sở dĩ tôi có thể viết tự do thoải mái như thế là vì chế độ cộng sản ở Việt Nam hiện nay phớt lờ những gì người ta viết trên mạng. Mặt của họ đã dày như cái mo rồi, có lấy ngòi bút mà chọc vào má, họ cũng chẳng “ngứa”.

Rồi tôi lại phát hiện thêm một sự thực nữa: đó là chính giới cầm bút trong nước hiện nay bị nỗi sợ hãi truyền kiếp (từ thời Nhân văn giai phẩm) làm cho khiếp đảm nên không dám viết, thi thoảng mới có vài anh nhà báo, nhà văn viết một bài gì hơi “có vấn đề” một chút, thì giấu giấu, đút đút, quan trọng hóa đến khốn khổ.

Còn viết huỵch tẹc như tôi thì được khen là “dũng cảm” hoặc bị nghi ngờ là “cò mồi” là “công an văn hóa”. Tôi cám ơn lời khen ấy nhưng tôi xin thưa rằng tôi chẳng dũng cảm gì cả, cũng chẳng bao giờ được cái hân hạnh làm anh công an văn hóa vô cùng cao quý của Đảng.

Tôi chỉ là một anh công chức quèn đã về hưu. Đơn giản như vậy. Nhưng tôi dám viết. Còn các anh (đang sống trong nước) sao im lặng? Sao chết nhát thế? Cứ viết đi. Viết như những gì các anh đã suy nghĩ, đã từng nói với tôi. Với bè bạn, với đồng nghiệp. Viết đi chứ. Tại sao cứ nghĩ rằng nhà nước cộng sản sẽ xét nhà, tịch thu máy tính, bắt bỏ tù?…

Tôi cũng đã từng bị như vậy, nhưng thời đó qua rồi. Các anh cứ mạnh dạn viết đi. Nếu không dám viết thì đừng có mà đổ thừa cho chế độ.

Nếu các anh không dám viết thì chẳng lẽ quanh đi quẩn lại chỉ có Lữ Phương, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Đào Hiếu, Hà Sĩ Phu… thôi sao? Các anh nghĩ chúng tôi là ai?

Háo danh? Chơi nổi? Thích chính trị? Muốn làm bộ trưởng? Muốn lập đảng phái này nọ?

Hay các anh đứng ngoài cuộc vì các anh muốn làm văn học phi chính trị? Đó chỉ là ngụy tín. Không bao giờ có thứ văn học đó đâu. Hay các anh đang mai phục, náu mình? Ôi thôi, trong tình hình này mà còn mai phục và náu mình thì có khác gì “bọn cơ hội”. Hay các anh muốn nói: “Hãy để yên cho nhà nước xây dựng cầu đường, bệnh viện, trường học, nhà máy, đừng la lối chỉ trích, rách việc…” Các anh không biết rằng nhà nước xây dựng có một mà “ăn” tới năm ba phần sao? Xây cầu thì cầu sập chết hàng trăm người, làm đường thì đường sạt lở, bỏ ra hàng trăm triệu đô-la để làm hệ thống thoát nước Hà Nội thì Hà Nội chìm trong biển nước, hao tốn 10.000 tỷ đồng để làm hầm ngầm Thủ Thiêm thì hầm nứt, nuớc rò rỉ tùm lum… chuyện đó ở Việt Nam đứa con nít nó cũng biết.

Vậy các anh lấy cớ gì mà đứng ngoài cuộc? Sao không giúp chúng tôi một tay? Có ai cấm các anh viết đâu? Có ai bỏ tù các anh đâu? (Tôi đã chứng minh bằng chính bản thân mình, các anh không tin sao? Hay là các anh cũng nghĩ tôi là cò mồi, là công an văn hóa?).

Trong bài “Tổ quốc của kẻ sĩ” nhà văn Nguyễn Gia Kiểng đã viết:

“Mỗi người có cách riêng để luồn lách và tồn tại. Tất cả đều khôn, không ai chịu dại cả. Kết quả tổng hợp là đất nước vẫn tiếp tục quằn quại trong độc tài và lạc hậu. MỘT DÂN TỘC GỒM TOÀN NHỮNG NGƯỜI KHÔN LÀ MỘT DÂN TỘC RẤT ĐẦN ĐỘN. Chỉ có thể coi là yêu nước những người sẵn sàng chấp nhận một sự dại dột nào đó cho đất nước.”
Nếu những nhận xét trên của ông Nguyễn Gia Kiểng là chính xác thì giới trí thức văn nghệ sĩ chúng ta có vĩnh viễn làm gia nô cho chính quyền cộng sản cũng là đáng đời.


ĐÀO HIẾU

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

TRÁCH NHIỆM VỀ AI? Những tin tức dồn dập từ quê nhà gởi sang, từ khắp nơi trên thế giới gởi đến, chung qui cũng chỉ xác nhận một điều: Việt Nam hiện đang bị Trung Cộng xích hóa với nhịp độ nhanh chóng, nhờ Bộ Chính Trị Việt Cộng ra sức khuyển mã giúp rập. Do đó, Việt Nam đang đứng trước bờ vực diệt vong!



Kể từ khi Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam thì nước Việt yêu mến của chúng ta chịu không biết bao nhiêu tai họa. Ký hiệp ước rước Pháp vào Bắc Kỳ để tạo thêm cuộc chiến chống Pháp chín năm, bần cùng hoá dân Việt qua hình thức “tiêu thổ kháng chiến”, liên hiệp để tiêu diệt các tổ chức quốc gia, Cải Cách Ruộng Đất để bóc lột dân chúng, mở chiến dịch “chống Mỹ, giải phóng miền Nam” để nhuộm đỏ cả nước v.v… nhưng chưa có cái họa nào đẩy dân tộc đến bên bờ vực thẳm diệt vong như cái họa Cộng Sản làm đấy tờ Trung Cộng, mở cửa, mở ngõ cho Trung Cộng tiến vào toàn cõi Việt Nam mà không tốn một viên đạn!



Sau Đệ Nhị Thế Chiến, hầu hết các nước bị trị, bị đô hộ đều được trao trả độc lập mà không phải nạn chiến tranh, Riêng Việt Nam vì đảng Cộng Sản của Hồ Chí Minh âm mưu rước Tây vào Bắc Việt để rồi cũng chính đảng Cộng Sản hô hào “toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp” và nạn binh đao bắt đầu. Chuyện khó tin, nhưng đó là sự thật. Sự thật này đưa đất nước đến cuộc chiến tranh 9 năm để cuối cùng đất nước bị chia đôi! Ai không tin xin nhớ lại câu nói của Hồ Chí Minh: “thà ăn cứt Tây chứ không thà làm bạn với Tàu”. Nghĩa là thà rước Tây vào chứ không thể làm bạn với Tàu. Đến bây giờ thì đảng Cộng Sản Việt Nam đã vừa ăn cứt Tây, lại vừa làm nô lệ cho Tàu Cộng. Hành động nô lệ cụ thể nhất là văn kiện mà Hồ Chí Minh, Chủ tịch Nước kiêm Tổng Bí Thư Đảng hồi đó, ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký ngày 14.9.1958, chấp nhận bản công bố của Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Cộng hồi đó, xác định lại bờ biển giữa Việt Nam và Trung Cộng một cách bất công, lấn ép một lãnh hải rộng lớn của ta, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa đang được quân đội VNCH bảo vệ. Đổi lại, Việt Nam được hưởng lợi lộc gì? Đảng Cộng Sản Việt Nam được Trung Cộng viện trợ quân sự để tấn công miền Nam trong khi chính quyền miền Nam đang ra sức củng cố đời sống mọi mặt cho dân chúng! Câu nói của Hồ Chí Minh đã xác nhận chính Hồ Chí Minh đã rước Tây vào Hà Nội. Cái gian dối của Hồ gây cho mấy triệu dân Việt Nam bị chết, bị thương tật, bao nhiêu tài sản bị hủy hoại.



Với chính sách “tiêu thổ kháng chiến”, Hồ Chí Minh ra lệnh đốt phá quê hương, phá hủy tài sản đồng bào với chiêu bài “để cho Tây không có đồ dùng, không có lương thực, không có chỗ ở, và rồi chúng sẽ chết đói và thế là chúng ta… thắng lợi. Nhưng Tây không ăn cơm Việt Nam , chỉ ăn bánh mì, không ở nhà dân mà ở trong đồn bót. Tiêu thổ kháng chiến chỉ làm cho dân kiệt quệ, đói nghèo phải chạy theo Cộng Sản mà thôi. Cái gian dối của Hồ Chí Minh là ở chỗ đó, dân Việt phải trả một giá rất đắt vì chuyện “ăn cứt Tây, và nô lệ Tàu” của Hồ Chí Minh. Nếu còn nghi ngờ, quý vị cứ dở “Hồ Chí Minh Toàn Tập, trang 29, khi “chiến thắng Ðiện Biên Phủ nhờ Tàu chỉ huy, Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Nhận chỉ thị của Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, về vấn đề giải phóng Việt Nam , tôi đã hoàn thành sứ mạng”. Nói cách khác, xương máu của Việt Nam đổ ra theo lời xách động của Hồ Chí Minh, không phải để đánh đuổi thực dân Pháp cho dân hưởng độc lập, tự do hạnh phúc, nhưng là để “dịch chủ tái nô”, phục vụ cho Ðệ Tam Quốc Tế, vải mỗi năm 4 thước, gạo mỗi người 13 ký (lý thuyết), của mình mà phải ăn vụng, vì cán bộ nhi đồng do VC huấn luyện, theo sát mỗi gia đình!



Hồ Chí Minh kêu gọi các đảng phái Quốc Gia chống Pháp hợp tác trong Chính Phủ Liên Hiệp, nhưng kể từ đó, các đảng phái Quốc Gia lần lượt bị Việt Minh thủ tiêu bắt cóc, tiêu diệt! Ðó là “Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” của Hồ Chí Minh.



Cái đau nhất cho dân tộc là tiếng súng chưa kịp ngưng, Hồ Chí Minh đã tuân lệnh Mao Trạch Ðông mở chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất. Hầu hết những người mà Việt Cộng gọi là “địa chủ” chỉ có một vài mẫu ruộng, tự canh tác lấy, tức là thuộc hạng trung nông, nhưng vì phải giết cho đủ chỉ tiêu, Hồ Chí Minh cho lệnh “đôn” lên thành địa chủ. Có xã không có người, phải đưa những kẻ có 5, 3 sào ruộng lên làm địa chủ để chúng giết cho đủ số. Hậu quả là có hơn 200 ngàn người bị giết vì tội địa chủ và chỉ vì Hồ Chí Minh sợ Mao Trạch Ðông “quở” mà thôi!



Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Cộng đã nướng bao nhiêu sư đoàn để “giải phóng” miền Nam ? Tính cả 2 miền Nam Bắc vừa chết vừa bị thương hơn mười triệu, khói lửa triền miên 2 mươi năm! Việt Cộng huênh hoang khoác lác rằng đã đánh tan 3 đế quốc, thực sự, nếu Quân Lực VNCH được trang bị đầy đủ, Việt Cộng chắc chắn phải thảm bại.



Và bây giờ, Việt Nam mất Bản Giốc, Suối Phi Khanh v.v… và nhiều nữa, nhiều cho đến nỗi Việt Cộng không dám phổ biến bản đồ biên giới cho dân chúng biết, cho quốc hội, dù là quốc hội bù nhìn biết. Trên biển thì coi như VC dâng hầu hết lãnh hải cho Trung Cộng. Ngặt nghèo nhất là Nguyễn Tấn Dũng đã để cho Trung Cộng khai thác 2 mỏ bâu xít ở Cao Nguyên Trung Phần, đưa hàng vạn dân công qua làm việc và cả một đạo quân Trung Cộng sẽ theo chân “bâu xít”, cắt đôi Việt Nam. Ngoài ra, còn có cả 130 ngàn công nhân Trung Cộng đang tự do làm việc trên đất nước Việt Nam . Ðó không phải là công nhân bình thường, nhưng là quân nhân trá hình! Khi cần đánh Việt Nam , Tàu đã có quân khắp 3 miền Việt Nam . Ngày xưa, một Cù Thị làm nội gián đã đưa nước nhà đến bờ vực thẳm, may nhờ có anh hùng Lữ Gia “nổi lên làm cách mạng”. Hôm nay, trước tình thế nguy ngập này, Trung Cộng chiếm Việt Nam dễ dàng như vậy, ai là người đứng lên lập lại kỷ cương cho đất nước? Ai có trách nhiệm lịch sử giai đoạn này?



Dĩ nhiên, trách nhiệm cứu nước là trách nhiệm chung, già trẻ lớn bé trai gái đều có trách nhiệm trước sự mất còn của đất nước! Người Việt tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài, thành phần trí thức, tu sĩ, thanh niên, sinh viên nam nữ v.v… tất cả đều có bổn phận đứng lên lật đổ chế độ nô lệ Tàu Cộng, đem lại độc lập cho nước nhà, sau đó mới thanh toán bọn xâm lược Tàu Cộng. Ngày xưa nghe Hồ Chí Minh hô hào chống Pháp, toàn dân đã đứng lên, những người “trai mùa thu 1945” nay còn sống, có kẻ giải ngũ, có kẻ tại ngũ, tất cả thành phần cầm súng lăn vào lửa đạn để ngày nay, bị Việt Cộng gạt gẫm, chiến công của tầng lớp thanh niên ngày xưa là một vật hy sinh để Hồ Chí Minh dâng chiến thắng cho Ðệ Tam Quốc Tế, mà gần gũi nhất là Tàu Cộng.



Ngày nay, đứng trước cơ nguy tổ quốc bị xóa tên trên bản đồ thế giới, ai là người Việt Nam hãy gắng sức mình đứng lên lật đổ chế độ VC. Rất nhiều tướng lãnh Việt Cộng đã ý thức trách nhiệm lịch sử của mình, ngay cả Võ Nguyên Giáp cũng phải mở miệng phản đối, nhưng Nguyễn Tấn Dũng coi Võ Nguyên Giáp là kẻ sắp chết, chẳng thèm lưu tâm, trái lại Dũng cho việc để Tàu khai thác bâu xít là “một việc lớn của Ðảng ta”. Các tướng lãnh, các sĩ quan Việt Cộng hôm nay phải đứng lên, đứng về phía nhân dân lật đổ Chính Trị Bộ, Trung Ương Ðảng, lấy lại quyền tự quyết của dân tộc. Ðây chẳng những là vấn đề sinh tử của nòi giống, mà còn là vấn đề sinh tử của CHÍNH quân đội VC, nhất là cấp lãnh đạo chỉ huy, thành phần ưu tiên một phải thanh toán khi Trung Cộng ra mặt chiếm được nước ta.

Qua các cuộc hội thảo, qua những tờ báo “không còn chịu đựng nổi sự bưng bít” đã la lên cho toàn thể đồng bào sự nguy ngập mà Việt Nam đang và sẽ gánh chịu. Và hầu hết dân chúng đã nghe, đã biết. Giờ lịch sử đã điểm, mọi người đều phải ý thức trách nhiệm mình, có trách nhiệm, có tội trước dân tộc nếu Trung Cộng xâm lăng Việt Nam và biến Việt Nam thành một tỉnh của chúng. Và cũng cần ý thức câu nói “Còn tổ quốc là còn tất cả, mất tổ quốc là mất tất cả”. Ðã đến lúc mọi người mọi giới phải đứng lên, nhất là quân đội Việt Cộng, một khi có cuộc binh biến, chính biến lập tức toàn dân sẽ đứng lên, một triệu ba gia đình dân oan, 8 triều tín đồ Công Giáo, nhiều triệu tín đồ Phật Giáo, Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo, tất cả cùng đứng lên một lượt, chắc chắn sẽ đạt thắng lợi, đem lại độc lập tự do cho toàn dân. Chỉ có con đường đó, toàn dân mới có tự do dân chủ, đất nước mới giữ được nguyên vẹn lãnh thổ. Hãy đứng lên lãnh trách nhiệm trước lịch sử.



Lê Văn Ấn

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Khi Yêu Trái Ấu Cũng Tròn Ignacy Paderewski là một chính trị gia kiêm nhạc sĩ dương cầm
nổi tiếng của Balan. Ông đã từng là chủ tịch Hội Ðồng Nhà
Nước năm 1919.

Một hôm, ông đến thăm một người bạn. Do sự yêu cầu của
gia đình người bạn, ông đã ngồi vào đàn dương cầm để
biểu diễn một vài bản nhạc do chính ông sáng tác. Tiếng đàn
vang lên trong cả khu phố.

Từ phòng bên cạnh, một người đàn bà đang chăm chú dọn dẹp
và sắp đặt lại trật tự trong nhà. Tiếng đàn du dương của
nhà nhạc sĩ đại tài, thay vì làm vui tai bà, lại làm cho bà khó
chịu. Người đàn bà đã nhắc điện thoại lên yêu cầu người
bạn cho nhạc sĩ Paderewski ngưng chơi đàn, vì bà không chịu nổi
tiếng ồn ào.

Nhưng người bạn của nhà nhạc sĩ mới giải thích: "Thưa
bà, người đang chơi đàn chính là nhạc sĩ Paderewski đại tài
của chúng ta đó".

Vừa nghe nhắc đến tên của nhạc sĩ, người đàn bà láng
giềng khó tính bỗng đổi giọng tức khắc. Những âm thanh
trước kia bà nghe như tiếng ồn ào, nay được bà đón nhận như
những âm thanh tuyệt mỹ. Người đàn bà bèn gọi điện thoại
mời bà con và bạn bè đến thưởng thức những tấu khúc của
Paderewski.



Cũng một âm thanh, nhưng có lúc người đàn bà nghe như những
tiếng ồn ào khó chịu, có lúc lại được bà đón nhận như
khúc nhạc tuyệt mỹ. Ðó cũng là phản ứng thường tình của
chúng ta. Khi chúng ta mang sẵn thành kiến đối với người nào
đó, thì dường như tất cả những gì người đó nói hay làm
đều được chúng ta đón nhận một cách tiêu cực.

Yêu nhau thì trái ấu cùng tròn, mà ghét nhau thì cau bảy cũng bổ
ra làm mười. Thái độ của chúng ta đối với người khác tùy
thuộc ở cái nhìn của chúng ta về người đó. Nếu chúng ta chỉ
nhìn người đó bằng lăng kính của thành kiến có sẵn, thì dĩ
nhiên, chúng ta không thể yêu thích được bất cứ điều gì
người đó nói hay làm.

Thạch Râu Siu Tầm

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

GIÃ TỪ VIỆT NAM
Ed. Oshiro, MPH (Master of Public Health-Bác Sĩ Y Tế Công Cộng)


Trần Trúc Lâm chuyển ngữ
Ba mươi phút sau khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam chở chúng tôi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất thuộc thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi nhìn xuống những đồng bằng màu đỏ trơ trụi của xứ Cambodia, tôi và vợ tôi bỗng dưng có một cảm giác kỳ lạ của sự thoải mái và tự do. Hú vía, chúng tôi thực sự đã thoát khỏi những sự cách nhiễu, hăm dọa và tham nhũng thường nhật của các giới chức Việt Nam, và cái gánh nặng đè trên vai trong ba tháng qua chợt trút mất.

Mọi chuyện như bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, khi tôi nhận làm quản lý hải ngoại vụ cho Cơ Sở Đông Gặp Tây (East Meets West Foundation) hiện đang trông coi một bệnh xá toàn khoa cho “kẻ nghèo nhất trong đám nghèo” và một cô nhi viện với 125 trẻ em ở ngoại ô thành phố Đà Nẳng, Việt Nam. Tôi đã quyết định chụp lấy cơ hội hưu trí sớm với đầy đủ cấp dưỡng do Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng với ý định đi phục vụ tình nguyện khoảng một đến hai năm tại Việt Nam, bắt đầu vào giữa tháng Giêng.

Công tác của tôi là giúp bệnh xá hoạt động được hữu hiệu hơn và hướng dẫn những chương trình về giáo dục y tế công cộng cho bốn làng hẻo lánh. Vợ tôi thì được giao việc ở cô nhi viện như là giáo viên mỹ thuật và dạy Anh ngữ cho các nhân viên.

Một điều báo trước cho những việc sẽ gặp ở trong nước Việt Nam thực ra đã bắt đầu khi chúng tôi bay xuống San Francisco để nhận giấy hộ chiếu trên đường đi Việt Nam. Khi đến San Francisco thì chúng tôi được báo rằng viên chức Bộ Ngoại Giao (Việt Nam) muốn chúng tôi phải thuê căn phòng của y ở Đà Nẳng với giá 700 đô la mỗi tháng, với sáu tháng tiền nhà đưa trước. Chúng tôi phản đối và y không chịu cấp giấy nhập cảnh nữa, chúng tôi đành phải quay về lại Seattle để chờ Cơ sở tiếp tục thương lượng. Cuối cùng đến tháng Hai, sau khi đồng ý với vụ sắp xếp, trả cho y 4200 đô la, và dấu hộ chiếu cho ba tháng thay vì một năm, chúng tôi bay đi Việt Nam. Khi đến nơi thì căn phòng, hỡi ôi! còn đang sửa chữa và chúng tôi đành ở khách sạn với giá 15 đô la một ngày.

Vừa vào đến Việt Nam thì tất cả đĩa điện toán của chúng tôi đều bị tịch thâu ngay, và mãi đến ba tuần mới được trả sau khi đóng 40 đô la gọi là “lệ phí bảo quản” và có cả khối bản phụ được sao chép (để bán về sau).

Ngày đầu làm việc trong văn phòng, tôi nhắc máy điện thoại để gọi con gái tôi ở Seattle và đã có thể nghe rõ tiếng nhạc quân hành văng vẳng trong máy suốt cuộc điện đàm. Tôi nhắc lại chuyện đó với nhân viên người Việt thì được họ cho biết là công an và quân đội luôn theo dõi nghe trộm mọi cuộc điện đàm. Chúng tôi được khuyến cáo là ngay cả thư từ cũng được mở ra đọc ngang xương, cho nên phải cẩn thận khi viết. Có một lần công an gọi tôi phải đem tờ báo cáo tài chính cuối tháng cho họ xem để họ quyết định cho gởi hay không.

Vài ngày sau khi tôi bắt đầu làm việc, thì cô kế toán viên bay đi Florida để làm đám cưới với anh bác sĩ Mỹ mà cô đã quen trong thời gian anh ta phục vụ tình nguyện cho bệnh xá. Khi chúng tôi rao tuyển người thay thế thì viên Bộ Trưởng chuyển đến một danh sách ứng viên mà y muốn chúng tôi thâu dụng. Chúng tôi bác ngay vì họ không biết tí gì vế kế toán và chẳng có chút khiếu năng gì về Anh ngữ. Chúng tôi tuyển được một cô có bằng kế toán và nói giỏi tiếng Anh, nhưng viên Bộ trưởng và Sở Công An lại trì hoản việc chuẩn y thâu dụng, cho mãi đến khi tôi nghĩ rằng, có chút tiền đút lót hoặc cô ta chịu chia một phần lương của cô.

Chúng tôi được biết rằng tất cả nhân viên người Việt đều buộc phải đóng một phần tiền lương cho cho công an, các viên chức nhà nước, đảng viên, v.v... Đã mấy lần công an đến văn phòng chúng tôi hạch hỏi vì sao chúng tôi không dùng người của họ. Bất ngờ có một bác sĩ người Việt lại nộp đơn xin làm kế toán bởi vì anh đã thất nghiệp đến hơn 5 năm nay. Quả có hàng trăm bác sĩ thất nghiệp mặc dù họ thuộc hạng lao động có lương thấp nhất ở Việ Nam... 30 đô la một tháng. Tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao lại có quá nhiều bác sĩ thất nghiệp tại Việt Nam. Tôi được nghe kể rằng họ buộc phải đăng ký quỹ 1,500 đô la để được thực tập và lấy kinh nghiệm ở bệnh viện sau khi học xong. Không có kinh nghiệm ở bệnh viện là thất nghiệp. Tôi lại được biết có một sự kỳ thị nặng nề đối với dân trong Nam, đặc biệt l à những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Hầu hết những bác sĩ thất nghiệp mà chúng tôi đã gặp là dân miền Nam.

Trong phần họp định hướng tại Hoa Kỳ, chúng tôi được báo cho biết rằng các bác sĩ tại bệnh xá làng Hòa Bình rất lười và ù lì, vì họ chỉ biết có một điều là viết toa cho thuốc bổ sinh tố. Sau khi làm việc với họ vài ngày, tôi nhận thấy họ rất thông minh, rất ham học để hành nghề tốt và sẵn sàng đón nhận những sự giúp đỡ để trở thành thầy thuốc giỏi. Điều đáng tiếc là sự đào tạo của họ tệ quá, cho nên họ độc chỉ giỏi viết toa sinh tố cho mọi bệnh trạng.

Mỗi ngày trong một tuần, các bác sĩ đi khám bệnh ở một trong những làng lân cận. Tôi đi theo họ vài lần và nhận thấy rằng sinh tố được cấp cho mọi chứng: sốt rét, mù lòa, sốt nóng, bệnh ký sinh trùng, đái ra máu, ỉa chảy v.v... Họ đâu có thể làm gì khác hơn được? Họ chẳng có món thuốc nào ngoài vài lọ Ampicilin. Mấy bác sĩ bảo rằng ít ra cũng nên cho bệnh nhân món gì để đem về nhà, và họ cấp sinh tố. À ra thế! Trụ sinh thì ai cũng có thể mua được chẳng cần toa cho nên nhà nào cũng có vài lọ trữ sẵn. Ngay cả thông dịch viên của tôi cũng dùng trụ sinh cho nhức đầu, cảm, tiêu chảy, đau lưng, hoặc khi cô ta cảm không thấy được khỏe.

Một ông bác sĩ Sản Phụ Khoa từ San Diego đã làm việc vài ngày tại bệnh xá và đã chỉ cho các bác sĩ cách sử dụng mỏ vịt đế khám âm đạo. Năm sau, ông ta quay lại và bất bình vì các bác sĩ không dùng mỏ vịt. Ông ta báo cáo với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây ở San Francisco rằng các bác sĩ ở bệnh xá ù lì và lười biếng. Tôi báo cáo về Ban Quản Trị chất vấn sự giám định của ông ta. Các bác sĩ tại bệnh xá không thể nào học khám và chữa bệnh phụ khoa trong vài ngày được, và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm chỉ làm được dăm ba xét nghiệm đơn giản mà thôi. Cho dù họ có chuẩn được điều gì đi nữa thì cũng chẳng có thuốc men và dụng cụ để điều trị. Tại sao phải đi học những chuyện mà dù có biết mình cũng đành bó tay? Tôi cảm thấy rằng bác sĩ Mỹ tình nguyện làm việc tại bệnh xá làng Hòa Bình thiếu nhạy bén và làm hại nhiều hơn là giúp đỡ.

Sau khi ổn định công việc, tôi liền gặp viên Bộ trưởng Y Tế (CSVN) để đề nghị xúc tiến dự án hướng dẫn y tế công cộng cho bốn làng, và ông ta cũng phấn khởi về ý kiến đó. Ông ta nhận bản dự án đó và bảo rằng ông ta sẽ thảo luận với Ủy Ban Nhân Dân rồi cho tôi biết sau, hai tuần sau, ông ta gửi cho chúng tôi một lá thư nói rằng bản dự án đó đã được chấp thuận và Bộ sẽ thi hành, nhưng họ lại muốn tôi tài trợ 25 ngàn đô la. Tôi trả lời rằng tôi không có tiền mà chỉ có sự hiểu biết, thời giờ và lòng nhiệt thành muốn huấn luyện và làm việc với các nhân viên y tế mà thôi, nhưng họ chẳng tha thiết mấy đến sự tham gia của tôi – mà chỉ nghĩ đến tiền của tôi thôi. Tôi không được mời trở lại Bộ Y Tế nữa.

Khi tôi đi thăm ngôi làng đầu tiên để lượng định về y tế thì tôi được gặp Chủ Tịch Nhân Dân xã và y dẫn tôi đi thăm những gia đình nghèo nhất. Tại mỗi nhà y đòi tôi giúp cho những món mà gia đình đó cần như một mái nhà nới, tiền mua gạo, áo quần, xe lăn v.v... Đến khi tôi nhắc đi nhắc lại rằng tôi đến đây không phải để cho tiền, y liền bảo thông dịch viên dẫn tôi ra khỏi làng ngay.

Ở một làng khác, các viên chức đòi tôi phải cấp một ngân khoản để xây một ngôi chợ mới, và khi họ biết tôi không thể làm được, họ bắt giữ tôi lại tại chỗ rồi ra lệnh cấm tôi rời khỏi trụ sở Ủy Ban. Đêm đó tôi bị buộc phải ngủ trên sàn gỗ bẩn thỉu với một manh mền rách, và một tên an ninh nằm ngủ bên cạnh canh phòng tôi trốn. Cho thêm phần khốn khỗ, tên an ninh này lại bị cụt tay vì mìn, y đặt cánh tay cụt lên bụng tôi suốt đêm mà ngủ. Còn tôi thì làm sao mà ngủ được, nằm nghĩ ngợi lung tung, mấy ai tin được rằng tôi lại ngủ trên sàn nhà một văn phòng đảng Cộng Sản, cạnh một tên công an Cộng Sản, mà cánh tay cụt của hằn lại đặt trên bụng tôi! Đó là một trong những đêm kinh dị và hãi hùng nhất trong đời. Tôi cứ ngỡ mình bị ác mộng.

Vì tôi trú trong khách sạn nên phải đi ăn hiệu. Chỉ có một nơi mà chúng tôi và hầu hết các du khách đến ăn mà không sợ bệnh là nhà hàng mang tên Christies. Mỗi đêm chúng tôi gặp nhóm Thủy Quân Lục Chiến và quân nhân Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm lính mất tích trong cuộc chiến (MIA’s) . Họ bảo ràng mỗi làng đều có mánh khóe làm ăn trong vụ này. Chức sắc ở làng có thể báo cáo là đã chôn hai hay ba xác lính Mỹ ngoài ruộng. Thế là Hoa Kỳ phải mất khoảng 10 ngàn đô la cho việc đào xới và mướn phu phen địa phương.

Các giới chức Mỹ mà tôi chuyện trò bảo rằng từ năm 1991, họ chẳng tìm ra cái gì ráo và cũng chẳng mong mỏi tìm thêm cái gì khác. Họ được yêu cầu trú tại khách sạn của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam với giá 75 đô la một đêm và phải thuê phi cơ trực thăng chở họ đến các làng, mà giá của một giờ bay trực thăng là 750 đô la. Có khoảng 30 quân nhân Hoa Kỳ tìm kiếm MIAs tại Đà Nẳng và ở mỗi thành phố lớn đều có một nhóm như vây. Dĩ nhiên là Hoa Kỳ tốn hàng triệu đô la vào túi các viên chức người Việt!

Sau hai tháng rõ ràng là chẳng ai cần đến chúng tôi tại Việt Nam. Cô nhi viện thì đã được Chính Phủ Hoa Kỳ tài trợ dồi dào và nhân viên Việt Nam thì làm việc xuất sắc. Trẻ em học ở trường nhà nước, được dạy nghề mộc, may vá, điện toán, v.v... và một bác sĩ toàn thời gian chăm sóc sức khỏe cho chúng. Chúng có cả sân bóng rổ, bóng bàn, máy truyền hình, mày chiếu hình, xe đạp, máy điện toán, một nông trại trồng rau, và chúng nuôi gà và lợn để sinh lợi. Ai cũng biết rằng chúng sống khá hơn đại đa số trẻ con khác ở Việt Nam! Tôi đã tìm cách tăng lương cho tất cả các bác sĩ và nhân viên (Việt Nam) tại bệnh xá từ 30 đô la đến 50 đô la mỗi tháng. Nhà cầm q uyền lại đòi rằng ai cũng được trả đồng hạng dù là bác sĩ hay y công.

Tôi cũng đã giúp vào một chương trình phát triển dài hạn giáo dục liên tục cho các bác sĩ. Một bác sĩ tim mạch ở Nhật chịu đỡ đầu hàng năm, trong nhiều năm về sau, cho một bác sĩ của bệnh xá luân phiên qua tu học tại bệnh viện Okasa khoảng sáu tháng. Người đầu tiên đi Osaka đã rời hồi tháng Sáu. Tôi cũng đã bắt liên lạc với bệnh viện Huế xin các bác sĩ của bệnh viện thực tập và chúng tôi chịu trả tiền phí tổn huấn luyện. Tôi đã đệ trình dự án này với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây vào ngày công tác cuối cùng của tôi ở Việt Nam. Hi vọng rằng Ban Quản Trị sẽ biểu quyết tán đồng chương trình này. Tôi cảm thấy quá rẻ để huấn luyện một bác sĩ với giá 1500 đô la.

Vài tuần sau khi đến Đà Nẳng, viên chức Bộ Ngoại Giao đòi thêm tiền để dứt điểm việc tu bổ căn phòng và mua đồ bày biện. Nhưng chúng tôi được biết rằng một bác sĩ Việt Nam kiếm được 30 đô la một tháng và đã trả, có lẽ từ 10 đến 15 đô la tiền thuê căn phòng như thế nên chúng tôi đã lịch sự phất lờ đòi hỏi thêm tiền của y. Y bèn trở mặt chèn ép, đòi chúng tôi phải báo cáo trước chi tiết lộ trình mỗi hai tuần, không cứu xét yêu cầu gia hạn hộ chiếu và làm khó dễ các nhân viên người Việt của bệnh xá.

Ba tháng sau khi đến Việt Nam viên chức Bộ Ngoại Giao bảo rằng chúng tôi có thể vào ở được rồi, và chúng tôi chỉ trú – có mỗi một đêm. Căn phòng chỉ được tu sửa nửa chừng với dây điện còn lòng thòng từ trần nhà, tường được sơn một phần, ống nước chưa được nối vào, không có bàn ghế và gián thì ôi thôi! bò lổn ngổn khắp nơi. Chỉ trong mấy phút mà tôi xài hết một lọ xịt côn trùng và sàn nhà đầy la liệt cả dán dài khoảng 2 đốt tay đang nằm ngửa ngo ngoe.

Chúng tôi dọn trở lại khách sạn sau đúng một đêm. Viên chức Bộ Ngoại Giao rất bực dọc và gay gắt bảo chúng tôi nên rời khỏi nước nếu không hài lòng. Lần đầu tiên chúng tôi cảm thấy sợ hãi, chúng tôi biết rằng y có thể bỏ tù chúng tôi hoặc dàn cảnh một tai nạn mà chẳng ai có thể làm gì được.

Biết rõ rằng chẳng ai muốn và cần đến chúng tôi tại Việt Nam, sự đóng góp của chúng tôi cũng nhỏ nhoi, và có một sự đe dọa đến an ninh của chúng tôi, chúng tôi quyết định rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi cũng bị dằn vặt bời quyết định này bởi vì chúng tôi đã đến và mến yêu trẻ mồ côi, những người làm việc chung và cái bệnh xá làng Hòa Bình. Chúng tôi mang theo một tình cảm rất nồng nàn đối với dân Việt, đối với đất nước tuyệt đẹp này, và mong một ngày nào đó sẽ trở lại để hoàn tất những công tác đã phát khởi.

Một ngày kia, cái thế hệ lãnh đạo hiện nay sẽ trao quyền lại và Việt Nam sẽ vươn mình như con bướm sặc sỡ của vùng Đông Nam Á.

Ed Oshiro hiện về hưu và ngụ tại Mereer Island (thành phố Seattle, tiểu bang Washington) nguyên là Phụ Tá Giám Đốc Chương Trình Giáo Dục Y Tế của Group Health Cooperatives.
http://hoanlan. multiply. com/journal/ item/1

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

TÂM TÌNH VỚI NHỮNG NGƯỜI
CHỊ... KHÚC MINH THƠ


Thụy Vi
Người Việt Nam của mình lạ lắm, yêu ai, thương quý ai, cứ để trong lòng, dấu thật kín. Nhận ơn ai, cảm động- có thể rơi nước mắt, nhưng bày tỏ lòng biết ơn thì họ rất ngại ngùng.

Thưa những người chị Khúc Minh Thơ, tôi là một trong những người vợ lính, những người may mắn nhờ các chị tháp cho đôi cánh để vợ chồng con cái chúng tôi đến được xứ xở tự do tràn đầy sửa và mật. Chúng tôi lúc nào cũng canh cánh thầm lặng mang ơn đất nước hết lòng cưu mang tạo cho chúng tôi những cơ hội để mỗi người trong gia đình chúng tôi sống một đời sống tự do, dạy cho chúng tôi hành xử một cách văn minh và ươm vào những trái tim lì mòn của chúng tôi chút lửa thương yêu để chúng tôi biết sống bao dung hơn, biết thêm thế nào là lòng chia sẽ, tánh hy sinh, và, biết mạnh dạn nói lên những lời mình muốn nói. Lời nói muộn màng của một người vợ lính trễ tràng gần hai mươi năm:

"Cảm ơn vô cùng, những người chị Khúc Minh Thơ”

Vâng, giống như lời chị Khúc Minh Thơ đã viết trong một lá thư rất cảm động gần đây. Những người đàn bà Việt Nam chúng ta thường chỉ biết khóc- nước mắt người vợ thương chồng cứ chảy lặng thinh không thôi. Chảy trong lúc người chồng bị lao tù đày ải. Chảy trong lúc người chồng được thả về với gia đình, họ cay đắng bất đắc chí, ngồi nghiến răng một mình trong bóng tối - có lẽ, nếu họ không vì quá thương vợ thương con thì những người lính đã không sống qua được những ngày tháng nặng nề tủi nhục đó, vì có nỗi ê chề tủi nhục nào bằng nỗi ê chề tủi nhục mất nước, vì có nỗi cay đắng nào bằng nỗi cay đắng phải buông súng qui hàng, chị hả? Và những giòng nước mắt cứ tiếp tục chảy trong nỗi âm thầm đau đớn cả khi được đến bến bờ tự do, bởi vì, nhìn lại người chồng sau bao năm bị CS hành hạ thể xác, khủng bố tinh thần, giờ, già yếu, suy kiệt, lẩn thẩn… Ấy thế, người chồng chưa dám hưởng một ngày nhàn nhả, một phần vì tự trọng, một phần vì cái nợ đùm đeo vợ cái con cột mà họ lao đi kiếm sống. Nước mắt người vợ lại tiếp tục rơi khi nhìn thấy người chồng mỏi mòn bươn chảy bơ phờ cố gắng lội trong giòng nước ngược đang cuốn xiết từng giờ.

Thưa những người chị Khúc Minh Thơ. Tôi mơ ước vô cùng, một ngày nào đó nếu có khả năng, tôi sẽ ghi lại những suy tư cảm xúc của người lính bại trận giờ già nua mà lúc nào trong tâm tư của họ cũng đau đáu làm một điều gì đó có ích cho quê hương đang hứng chịu lầm than…có phải vì chưa thực hiện được những ước mơ, mà người chồng thương kính một đời của tôi- tâm tình ông cứ trăn trở không thôi, quẩn quanh như những con kiến bò trên miệng chảo sắp bị đốt nóng, đối với tôi, đôi lúc- chuyện không đâu, sợi tóc ông có thể chẻ ba chẻ tư… cũng vì thương chồng, thông cảm nỗi khổ “ Lực bất tòng tâm” tôi biết làm gì hơn là để mặc những giòng nước mắt rơi trong lặng lẽ.

Mong các chị chân cứng đá mềm cũng như tôi tự thầm mong cho chính mình vậy. Kính qúy.

Thụy Vi
Ngày 1 tháng 10 năm 2008

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

NHỮNG NGƯỜI LÍNH NĂM NÀO, VẪN CÒN ĐÓ

thụyvi
Ngay bây giờ, trong chúng ta hình như có nhiều người vẽ ra trong trí hình ảnh những người lính VNCH năm nào giờ chỉ là những ông già lẫm cẫm, cứ ngồi đó nghiến răng thù hằn trong bóng tối, hay là những ông già cứ ngậm hoài cọng dây thun tiếc nuối mà không chịu nhổ ra như ông văn sĩ nào đó đã châm biếm ví von!

Hôm nay tôi sẽ kể cho quý vị nghe một chút nghĩa cử thật cảm động của những người lính mà thời tuổi trẻ của họ đã cống hiến trọn vẹn cho Tổ Quốc. Tuy bây giờ họ có già nua. Tuy bây giờ họ mang nhiều tật bệnh đau yếu do những năm tháng nhọc nhằn, hay do những năm dài triền miên bị hành hạ tù đày trong những trại tập trung cải tạo. Mặc dầu vậy, họ vẫn hết lòng tiếp tục tranh đấu. Họ tranh đấu không phải vì những hận thù mất mát năm xưa, mà tranh đấu cho một VN không CS độc tài. Một VN có nhân quyền tự do bình đẵng thật sự.

Trước tiên, tôi sẽ viết về những người lính năm nào trong hội Cựu Quân Cán Chính tại Detroit, là một trong những nơi CĐ Việt Nam hảnh diện có lá cờ Vàng ba sọc đỏ ngạo nghễ phất phới. Tuy Detroit là một thành phố vào mùa Đông trời thật lạnh, cái lạnh nhiều lúc như đông cứng cả bầu trời, khi những cơn bảo tuyết thổi qua, mọi vật gần như bẹp dí, ngột ngạt trong cõi mịt mờ buốt giá. Trong thời tiết muôn vàn khắc nghiệt như vậy, nếu không vì sinh kế thì không ai muốn ra đường.

Nhưng, bất chấp mọi khó khăn, hội CQCC tại thành phố Detroit và những vùng phụ cận được thành lập và hoạt động liên tục thật sinh động, đem lại không khí đầm ấm vui tươi gắn bó thân thương cho đồng hương. Ngoài ra hội CQCC còn qui tụ rất nhiều Sĩ quan, binh lính Quân nhân, Cảnh sát, Công chức, Cán bộ Xây dựng nông thôn..v..v. Vì thế mà hội có được rất nhiều các bậc tài hoa vừa khéo tay vừa có óc tổ chức. Niềm tự hào hơn nữa là con chim đầu đàn của hội chính là vị anh hùng đánh trận cuối cùng 12 ngày đêm trên chiến trường Xuân Lộc của tiểu đoàn 2/ 43 sư đoàn 18 lẫy lừng năm nào - Cựu Thiếu Tá Tiểu đoàn trưởng, ông Nguyễn Hữu Chế. Ông còn được nhiều người mến mộ qua những bài viết với tên Bảo Định.

Năm 2008, hội CQCC với tâm tình biết ơn những anh TPB- VNCH. Nhờ sự thương mến và ủng hộ của mọi người, hội CQCC tổ chức đêm văn nghệ Tình Thương đã quyên góp được hơn 20,000 USD.
Image Những người lính già đó cũng không hề nệ gì mưa to gió lớn, bảo tuyết dậy trời, họ dấn thân không mệt mõi có mặt khắp nơi, yểm trợ cho những sinh hoạt khác như chương trình Văn Hoá tại New York, tham gia những cuộc biểu tình ở Washington DC, Califonia, New York…Ngày 29- 4- 2009 tới đây họ cũng sẽ có mặt tại Ohio trong buổi lễ Vinh Danh Cờ Vàng do Thống Đốc của tiểu bang này long trọng tổ chức.

Tờ báo BÚT THÉP của hội ra đời, những hội viên của hội còn là những cây viết nỗi tiếng trên Văn đàn báo chí như: nhà thơ Nhật Hồng, thi sĩ Thu Lan, nhà văn kiêm thi sĩ Trầm Thu Ca, nhà viết bút ký Phạm Thắng Vũ, thi sĩ Ngô Sỹ Hân…

Nhìn những kết quả thiết thực của hội CQCC, khiến thế hệ thứ hai hết lòng ngưỡng mộ và tình nguyện …nhập cuộc! Trong một bài đọc của người Hậu duệ, những người này đã nói lên những suy nghĩ chân thật của mình:

“.. Chúng cháu không thể nào đứng ngoài điềm nhiên thinh lặng một cách ích kỷ…Chúng cháu phải cùng thế hệ Cha, Anh…”
Image Có lẽ bạn và tôi bây giờ có thể thấy được những giọt nước mắt nóng hổi cảm động và an tâm lặng lẽ chảy trên những khuôn mặt của những người lính hào hùng thưở nào, phải không? Và, nếu bạn có dịp đến Detroit, xin mời bạn ghé lại hội CQCC, bạn sẽ thấy trong tổ chức đó đã có 3 thế hệ cùng với nhau cười rạng rỡ dưới lá cờ Vàng mãi mãi thân thương.

thụyvi
(Hầm Nắng, 25-4-2009)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

HÀ NỘI ĐI VỚI MỸ: CÒN LÂU
Vi Anh

Một vài sự kiện có tính chỉ dẫn đáng suy gẩm gần đây để xem coi CS Hà nội đi đu dây nhưng nghiêng bên nào nhiều, Trung Cộng hay Mỹ.
Gần đây TNS Mc Cain thuộc đảng Cộng Hoà trong chuyến công du Á châu, ghé VN hai ngày, có kêu gọi tăng cường quan hệ giữa Hà nội và Washington. Và liên quan vấn đề Hoàng sa- Trường sa bị mất người dân Việt rất bất bình, TNS có nói xa, nói gần, rằng "Hoa kỳ ủng hộ quan điểm tự do đi lại trên toàn thế giới và sự tự do này phải bao gồm cả ở Biển Đông . . Washington có lợi ích trong lưu thông đường biển tự do trong khu vực và trong việc giải quyết hoà bình những tranh chấp ở Hoàng Sa, Trường Sa và các vị trí khác giữa hai nước."

Mới đây, "Lần đầu tiên các sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam [CS] đã thăm một tàu sân bay Hoa Kỳ. Theo bản tin của Đài VOA hôm 22-4, một phái đoàn quân sự cao cấp của Việt Nam đã được mời ghé thăm hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis của Hải Quân Hoa Kỳ đang đậu tại khu vực ngoài khơi Biển Đông. Bản tin nhân định, "Sự kiện này cho thấy những cải thiện rõ ràng trong mối quan hệ quân sự giữa hai nước."

Mới nhứt, tin Đài Pháp quốc tế (RFA), nhà cầm quyền CS Hà nội "khẳng định tiếp tục thực hiện hai dự án khai thác bauxit tại Tây Nguyên" do TC khai thác, một vấn đề gây nhiều lo ngại, tranh luận từ Tướng Võ nguyên Giáp hồi hưu và Tướng Lê văn Cương tại chức ở Bộ Công an, và Đại lão HT Quảng Độâ đến các khoa học gia, nhà báo, văn nghệ sĩ, trí thức và hầu hết dân chúng. Nhưng Bộ chính trị "quyết" một cách gọn gàng, "Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã thay mặt Bộ chính trị ký thông báo kết luận liên quan đến dự án bauxit tại Tây Nguyên": đó là một chánh sách lớn của Đảng, phải thi hành.”

Vấn đề đặt ra là liệu CS Hà nội có quyết tâm đi với Mỹ để hoá giải đà bành trướng, xâm thực của Bắc Kinh hay không. Hay là CS Hà nội chỉ đi đu dây giữa Trung Cộng và Mỹ, nhưng nghiêng nhiều về phía TC, hy vọng dùng thế ngao cò tương tranh ngư ông đắc lợi. Nói khác di. CS đi với Mỹ hay không. Phân tích cho thấy, còn lâu Hà nội mới đi vơi Mỹõ.

Một, lời kêu gọi của TNS Mc Cain cũng chỉ là lời của một thượng nghị sĩ đối lập dù ông từng là ứng cử viên tống thống của Đảng Cộng Hoà hai lần nhưng thất cử. Đại diện Mỹ ở nước ngoài là tổng thống, ngoại trưởng thuộc Hành Pháp và đường lối chánh sách ngoại giao trong non bốn năm tới dây do TT Obama chủ trương và thực hiện với sự góp ý và giám sát của Quốc Hội thôi. Mỹ có quyền lợi với TC lớn hơn quyền lợi với đối với VNCS. Mỹ chỉ cần con đường hàng hải huyết mạch ngang quần đảo Hoàng sa an toàn, không bị TC khống chế thôi. Mỹ có thể thoả hiệp với TC không khó về vấn đề này, trên đầu trên cổ CS Hà nội. Chớ Mỹ không cần một nước VNCS và chế độ CS Hà nội để làm tiền đồn ngăn chận CS như thời Chiến tranh Lạnh nữa. Đặc biệt là đối với TT Obama chủ trương đối thoại, chớ không đối đầu.

Hơn nữa Mỹ không có đủ cảm tình viên, không có "đặc tình" trong hành lang quyền lực của CS Hà nội để chuyển hướng chiến lược thân TC của Đảng CS Hà nội. Trái lại TC có rất nhiều trong đảng, nhà nước, quân đội của CS Hà nội, TC đã đầu tư hao tốân và lâu năm hơn Mỹ; TC đã "nắm" hồ sơ đen "tình, tiền, tù" của những cán bộ chóp bu, ai chông TC, TC sẽ "bất mí", xì căn dan sẽ làm tiêu sinh mạng chánh trị.

Hai, cho đến bây giờ người ta không thấy dấu chỉ khả tín, quan trọng nào nói lên CS Hà nội đi sát với Mỹ theo giả thuyết Mỹ dùng CS Hà nội để be bờ TC. Đây không phải là lần đấu có những cuộc viếng thăm như tin trên . Chiến hạm Mỹ đã từng vào tận Cảng Saigon, Đà nẳng, thủy thủ đoàn Mỹ lên bờ vào thành phố đi đây đi đó. Dù Đại tá Vinh nói đây là một "bước tiến trong quan hệ quân sự giữa hai nước", dù Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael Michalak người đã cùng đi với đoàn sĩ quan Việt Nam chuyến thăm nói đây là 'một sự cải thiện rõ ràng' trong quan hệ giữa hải quân hai nước, đoàn sĩ quan CS đi thăm hàng không mẫu hạm Mỹ mới đây, hai ngườøi lớn nhứt là "Đại tá Nguyễn Hữu Vinh phó tham mưu trưởng quân chủng hải quân và Đại tá Đỗ Minh Tuấn, phó tham mưu trưởng quân chủng phòng không không quân" cũng chỉ là sĩ quan tham mưu, chớ không phải hàng tướng lãnh chiến lược. Xét qua diễn tiến cuộc viếng thăm, thực chất theo tiếng CS đó chỉ là một cuộc "tham quan" không hơn không kém.
Há từ Chủ tịch Nguyễn minh Triết đến Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng không nhiều lần đi Mỹ và đặïc biệt là Bộ Trưởng Quốc Phòng VC đi Mỹ mà quan hệ quân sự có tiến bộ gì đâu.

Chuyến viếng thăm của phái đoàn sĩ quan CS Hà nội chỉ là một chuyến viếng thăm nếu không là một chuyến viếng thăm định kỳ thì cũng vô tình trùng hợp thời điểm có lợi cho Mỹ mà thôi. Biết đâu Mỹ cao tay ấn hơn CS Hà nội. Mỹ muốn có mặt vào thời gian TC kỷ niệm 60 Hải quân, nhiều tàu chiến của TC giương oai diệâu võ ở ngoài khơi Thanh Đảo. Mỹ muốn gỡ gạt tiếng Cọp Biển nhưng "cọp giấy" sau khi tàu thăm dò của Hải quân Mỹ Impeccable ngày 8 tháng 3 bị 4 tàu giả dạng đánh cá và 1 tàu chiến của TC làm nhục (có thủy thủ TC trật quần đưa đít vào tàu Mỹ, dùng sào móc máy ràøõ), và TC xem mình là sở hữu chủ của toàn bộ vùng biển Đông, mà Mỹ chẳng có phản ứng nào coi cho được.

Ba và sau cùng CS Hà nội đâu có thiết tha việc mất đất vào tay TC khi đi với TC vì Đảng CSVN cần nắm được quyền hành cai trị nhân dân thôi, nếu không An nam quốc Vương được thì Thái Thú cũng chẳng sao miển là nắm được quyền hành thông trị đối với ngưòi dân VN.

Nhiều sự kiện chứng minh CS Hà nội đã thần phục CS Bắc Kinh. Cả ba lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam là tổng bí thư Nông Đức Mạnh, chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp đón nồng nhiệt và long trọng trong hai ngày 19 và 20.03.2009 như một vị nguyên thủ quốc gia đối với Oâng Đới Bỉnh Quốc chỉ là một Uỷ viên trung ương Đảng, Uỷ viên Quốc vụ viện của Trung Quốc. Còn Thủ Tướng VC Nguyễn tấn Dũng thì đi sang đảo Hải Nam thăm mấy ngày và dự hội nghị bên đó luôn. Bưu điện của hai nước ký kết một nghị định thư về việc thiết lập đường dây nóng, tức là đường dây điện thoại bảo mật giữa các lãnh đạo cấp cao. Hai nước đúc kết, ăn mừng việc cấm mốc dù VN mất rất nhiều đất và biển.

Đúng như lời Đại Lão Hoá Thượng Quảng Độ nói trong "Lời Kêu Gọi Một Tháng [Năm] Biểu Tình Tại Gia": "Với "một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam" như CS Hà nội, chỉ còn có cách kỳ vọng vào người dân. "CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN. Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng."

VI ANH

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

MỖI NGƯỜI CÓ MỘT NGÀY “30 THÁNG TƯ” !

Thưa bác,. Nhiều năm qua bác nhắc đi nhắc lại về chuyện Ba Mươi tháng Tư. Bác nói rằng mỗi người đều có một ngày Ba Mươi tháng Tư cho riêng mình. Bác vẫn hỏi một câu. Lúc ấy quý vị đang ở đâu? Thưa bác, ngày Ba Mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Xin kể đầu đuôi như sau: Người yêu của cháu, chồng sắp cưới của cháu là Nguyễn Ðông Thành, Trung Úy Biệt Ðộng Quân Ðơn vị đóng tại Chân Thành vào thời kỳ 1975. Từ lúc ra trường Thủ Ðức, anh làm Trung Ðội Trưởng Tác Chiến cho đến khi lên đến Trung Úy Ðại Ðội Trưởng đã bị thương 4 lần. Một lần bị thương nặng phải nằm nhà thương hai tháng. Còn các lần khác chỉ bị thương nhẹ.

Cháu gặp anh trong một lần nữ sinh đi ủy lạo chiến sĩ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa rồi quen nhau. Sau đó chúng cháu đôi khi lại còn cầu cho bị thương nhẹ để có dịp gặp nhau ở Sài Gòn. Một lần anh chỉ bị trẹo chân vì nhảy trực thăng mà được nghỉ đến gần một tháng.

Ðó là lần bị thương hạnh phúc nhất của chúng cháu. Gia đình hai bên đã có dịp gặp nhau sau khi chúng cháu về thưa với cha mẹ. Ðầu năm 75 đã làm đám hỏi. Chờ đến đầu tháng 5-1975 là làm đám cưới. Cháu có ông cậu làm Trung Tá ở Sài Gòn quen biết nhiều nên hy vọng sẽ giúp cho anh Ðông Thành đổi về đơn vị hậu cứ hay về Bộ Quốc Phòng.

Tết 75, hai đứa chúng cháu đến mừng tuổi cậu và xin cậu chạy giúp Chạy đây là nói hộ chứ không phải tiền bạc gì hết. Cậu cháu coi tướng anh Thành và rất hài lòng để mừng cho cháu gái. Cậu khen vị hôn phu của cháu tuy còn trẻ nhưng rất đẹp trai và tướng mạo đàng hoàng. Anh mới có 22 tuổi, còn cháu 19 tuổi vào năm 1975. Cháu cũng khá cao mà anh Thành còn cao hơn cháu cả đầu người. Anh chơi thể thao cả xà ngang và xà dọc nên người rất tài tử. Bạn học trường Gia Long đứa nào cũng thích Trung Úy Ðông Thành của cháu.

Tuy nhiên, khi hỏi chuyện về đơn vị của Thành thì ông cậu của cháu hơi ngần ngại. Cậu nói rằng năm trước có xin cho con một anh bạn đóng đồn được đổi về tỉnh. Chỉ một tuần sau anh Thiếu Úy lên thay thế bị hy sinh. Bà mẹ anh này đi thưa Giám Sát Viện về tội ăn tiền đổi người để đưa con bà vào chỗ chết. Vì vậy cậu cháu nói để chờ một thời gian, đơn vị rút từ Chân Thành về hậu cứ rồi sẽ xin đổi sau.

Người yêu của cháu cũng rất tự ái nên không hề nói gì thêm, cứ bấm tay cháu gạt đi không muốn đề cập đến việc xin thuyên chuyển nữa. Từ biệt ông cậu xong, hai đứa ra về. Cháu giận anh ấy hết sức, nhiều lúc chỉ muốn cho ra trận chết đi cho rồi.

Ðàn ông mới hơn hai mươi tuổi mà đã muốn làm anh hùng. Gia đình anh ấy con một, xin hoãn dịch cũng còn được chứ ai lại đi Biệt Ðộng Quân. Quanh năm hành quân, đôi khi ở đơn vị còn có lệnh phải cạo trọc đầu cho thêm dữ dội. Nhưng nói gì thì nói, anh Ðông Thành dù để tóc dài hay tóc ngắn thì trông vẫn đẹp như tài tử Pháp Alain Delon. Cháu rất hãnh diện đi với anh ở đường Nguyễn Huệ. Nhưng hai đứa đâu có được dịp đi chơi với nhau nhiều lần. Qua tháng 3-1975, có tin địch uy hiếp Chân Thành, gia đình hai bên và riêng cháu lo lắng ngày đêm. Rồi tin từ Bộ Chỉ Huy là đơn vị Biệt Ðộng Quân ở Chân Thành có lệnh rút. Quân đội cho lệnh bỏ Chân Thành.

Chưa bao giờ cháu lại vui mừng khi được tin quân ta rút như vậy. Là một học sinh chưa được 20 tuổi, cháu chỉ mong người yêu sớm trở về bình yên. Quân đội muốn bỏ đâu thì bỏ. Muốn rút đâu thì rút. Nhưng đau khổ chưa, đúng như cháu đã lo ngày lo đêm. Ðơn vị cho người đưa tin về nhà để đi nhận xác Ðông Thành vào ngày 25 tháng 4-1975. Người lính ở đơn vị nói rằng anh ấy đã chiến đấu anh dũng ra sao, hy sinh như thế nào, chẳng còn lòng dạ nào mà nghe chuyện. Sao bao nhiêu người còn sống ở Sài Gòn không ra mà anh dũng hy sinh.

Trời đất công bình ở chỗ nào. Ði lính có ba năm mà bị thương đến 4 lần, rồi mới chết. Ðông Thành của cháu hiền lành như thế, có làm hại ai đâu mà phải chết oan uổng như vậy. Sau khi được tin cháu cứ như điên dại rồi đi theo gia đình lên Nghĩa Trang Quân Ðội nhận xác người yêu. Dù chưa cưới nhưng cháu đã khai là chồng. Mấy ông đòi hôn thú vì tưởng cháu muốn xin tiền chồng chết. Xin tiền tử tuất với 12 tháng lương. Cháu quyết liệt nhận xác chồng dù chẳng có hôn thú.

Ðất nước có còn đâu mà lãnh tiền. Anh Ðông Thành nằm như ngủ. Ðạn vào ngực, vào tim, vào bụng nhưng mặt anh vẫn nguyên lành. Anh nằm đó vẫn đẹp như thiên thần. Anh về bằng trực thăng trên băng ca đúng như trong bài ca, đúng như trong tiểu thuyết. Bên cạnh xác anh có nhiều đồng bạn cũng chết nhưng vì để lâu nên bốc mùi hôi thối.

Nhiều gia đình cũng đến nhận xác. Ðàn bà trẻ con khóc la ầm ỹ. Cháu cũng hòa theo tiếng khóc nức nở. Gia đình chôn xác anh ngày 27 tháng 4-1975, buổi chiều thì ra về nhưng cháu ở lại. Cháu trốn vào khu Nghĩa Dũng Ðài nhưng người nhà lại tưởng bạn cháu chở về Sài Gòn. Suốt những ngày cuối tháng 4 đau khổ cháu tha hồ khóc. Trên Nghĩa Trang Biên Hòa toàn là gia đình tử sĩ nên cũng không ai chú ý. Có gia đình đem theo Radio nên mở ra nghe tin tức chiến sự. Rồi dân di tản ở bốn phương trời kéo nhau về tạm trú. Họ dựng lều ngay bên cạnh các phần mộ.

Khu lính chết đã lâu thì có mộ bia và tấm Ciment bên trên. Khu mới chết thì chỉ đắp đất. Có cả trăm cả ngàn ngôi mộ. Những ngày đầu thì có nhiều xác chở về bằng trực thăng. Về sau xác chở về toàn bằng xe nhà binh. Sau cùng thì đủ các thứ xe chở xác về Ðơn Vị Chung Sự.
Nơi để xác có máy lạnh nhưng không có điện nên trở mùi hôi thối. Nhiều xác chở đến để ngay dưới đất, trời nắng bốc mùi làm cho các gia đình ở gần phải dở lều di chuyển đi nơi khác. Ông sĩ quan trách nhiệm chôn cất nóng nẩy gắt gỏng và anh em chôn cất làm việc rất vất vả. Ai cũng có mùi rượu và dầu Nhị Thiên Ðường đầy người.

Ðến ngày 30 tháng 4, khi có lệnh đầu hàng thì không còn ai trách nhiệm. Lúc đó đã xuất hiện người của cộng sản ra gom dân gom lính chạy loạn bắt phải đào hố chôn tập thể. Một anh Công Binh của ta lấy xe đào các hố thật lớn, rồi đưa tất cả các xác lính Việt Nam Cộng Hòa chôn tập thể. Có gia đình cố dành lại xác người thân tự đào lỗ chôn riêng. Cháu thấy một gia đình chỉ có người vợ trẻ với mấy đứa con tám chín tuổi ạch đụi bới đất chôn chồng.

Cháu tìm cuốc đến giúp một tay và thấy mình đã bớt điên. Thấy cảnh hai đứa nhỏ cùng mẹ móc đất chôn bố, cháu thấy cuộc chiến tranh vô nghĩa biết chừng nào. Và sự đau khổ của mình cũng chẳng phải là duy nhất. Ðứa con gái chừng 10 tuổi và đứa em trai 6 tuổi vừa khóc vừa móc đất giúp mẹ. Cháu sẽ không bao giờ quên được hình ảnh này.

Sau đó qua ngày 2 tháng 5-1975, cháu quá giang xe của người ta về lại Sài Gòn. Năm 1980, cháu lập gia đình với một anh Thủ Ðức còn trẻ có 2 năm cải tạo. Chúng cháu vượt biên rồi vào Mỹ. Chồng cháu rất hiểu biết nên tôn trọng mối tình đầu của cháu với Ðông Thành.

Từ mùa Xuân 1993, chúng cháu cứ vài năm lại về Sài Gòn và lần nào cũng lên Nghĩa Trang Biên Hòa Cháu có theo dõi chương trình tảo mộ chui của các bác. Lần nào cũng khấn vái cho anh Ðông Thành phù hộ công việc của hội. Cháu có thuê người làm cho anh Thành tấm Ciment đúng kích thước như các ngôi mộ khác chứ không muốn xây cho thật lớn. Anh Thành đã muốn được chết như các chiến hữu thì phải để anh nằm giống như các bạn của anh.

Cháu vừa thương mà vừa giận anh biết chừng nào. Người yêu của cháu là mối tình đầu, anh chính là hình ảnh của chiến tranh Việt Nam. Cháu vừa ghét lại vừa thương. Ðã 30 năm qua rồi mà tình cảm vẫn không thay đổi. Bác đã hỏi rằng, ngày Ba Mươi tháng Tư cháu ở đâu? Vâng, 30 tháng 4-1975, cháu đi chôn chồng ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Vậy thì phần bác, Ba Mươi tháng Tư, bác ở đâu?

Tiểu Quyên
Viết tặng các con của mẹ.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tháng Tư, nghĩ đến những người đã chết

Huy Phương

Ta nợ những người chết sông chết biển
Nợ những người ở lại để ta đi.

Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, cả miền Nam vấn khăn tang. Trên bàn thờ của mỗi gia đình, ngoài ông bà, cha mẹ chết vì tuổi già, đã có những khuôn mặt trẻ, những người mặc quân phục chết trận hay bà con mất tích trong những ngày di tản hỗn loạn, trên tất cả bờ biển của miền Trung, không những trên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn về đến Ninh Hòa mà còn trên tất cả mọi nẻo đường của đất nước. Tất cả người chết đều là những người miền Nam đang cầm súng chống lại Cộng Sản hay tháo chạy hỗn loạn vì nghe tin Cộng Sản sắp đến. Phần lớn những người chết đều bị chết vùi dập với cỏ cây, đất đá, trong bom đạn không ai còn lo được cho ai.

Không những chúng ta chỉ có những vị tướng đã tự sát để giữ tròn khí tiết, mà còn có hàng nghìn chiến sĩ vô danh chết trong giờ phút tàn cuộc vì không chịu nỗi nhục đầu hàng với lựu đạn nổ trong tay hay viên đạn bắn vào đầu, trong bước đường cùng. Chúng ta có biết hay còn nhớ đến những người như thế không?

Bây giờ đã 34 năm rồi, chúng ta còn phải đọc những bản tin tìm người thân mất tích trong những ngày cuối Tháng Tư năm đó. Họ nằm lại trên bãi biển, bên cánh rừng, trên một con đường đất đỏ, thân thể như vươn chuồi về phía trước, bỏ lại nỗi ghê sợ đuổi sát đến sau lưng, nỗi ghê sợ cái ác, cái tàn bạo mà chỉ mới nghe đến người ta đã rùng mình bỏ chạy. Cái ác đó là những chuyện đấu tố ở nông thôn, những vụ chôn tập thể của Mậu Thân, của những lối bắn giết tàn bạo trong những vùng tranh tối tranh sáng mang tên Việt Cộng. Cái ác đó là nỗi ám ảnh từ những năm của 45-50, với những tiếng chó sủa trong đêm, để buổi sáng thấy xác người trôi sông hay những người bị giết đêm qua, đang được đắp tạm một mảnh chiếu trên đường làng, giữa chợ huyện, mang tên Việt Minh.

Cái ác đó là chủ trương bất di dịch, người ta dùng để khủng bố và tạo ra cường quyền, để trấn áp những người bất đồng chính kiến. Cái ác đó kéo dài cho đến thời kỳ gọi là văn minh, hiện đại. Khi miền Nam sụp đổ và Saigon đầu hàng, không như chủ trương kêu gọi hòa hợp hòa giải qua thông báo của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam và sau đó là của các Ủy Ban Quân Quản địa phương, binh lính và sĩ quan “ngụy” được về quê làm ăn, Cộng Sản bắt đầu một chiến dịch trả thù tàn độc. Tránh né một chiến dịch “tắm máu” to lớn, Cộng Sản tìm cách trả thù bằng cách giết lẻ.

Tại Ðại An, Biên Hòa, ba toán thám sát của Biệt Kích Dù 81, sau khi buông súng đầu hàng ngày 5 Tháng Năm 1975 tại địa phương, mười tám anh em bị Việt Cộng bắt giam, bỏ đói, sau đó bị bắn chết rồi thả trôi sông. Những xác của anh em sau đó bị sình thối nên Việt Cộng bắt dân vớt lên chôn dọc theo bờ sông Ðồng Nai, còn 8 xác anh em khác đã bị chôn tập thể trong một cái giếng bỏ hoang. Hai thám sát khác cũng đã bị đánh chết sau khi đã vào nhà tù. Người dân địa phương đã chứng kiến nhưng không dám nói ra, và không ai dám xây mộ hay đặt bia kỷ niệm, chỉ còn một điều: chế độ Cộng Sản sụp đổ trước khi các nhân chứng qua đời. Tại Quảng Ngãi, nhiều đảng viên một đảng chính trị đã bị bắt, thay vì đưa đi “tập trung cải tạo” như chiêu bài, họ bị đưa về phía biển và bị chôn sống. Nhiều thân nhân theo dõi, đã đánh dấu vùng chôn người này, nhưng nếu họ tiết lộ, vùng đất này sẽ bị san bằng và con cháu những nạn nhân sẽ không bao giờ tìm được nắm xương của những người đã khuất, nên đành nín lặng. Nhiều nhân viên cảnh sát đặc biệt hay viên chức địa phương, người nhà biết ngày giờ đi trình diện “học tập”, nhưng không bao giờ có tin tức để thăm nuôi, và cố nhiên là không bao giờ có ngày về. Ðó là chủ trương “đánh người chạy đi, nhưng phải giết người chạy lại”.

Ðối với những người chống đối sau ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Sản thẳng tay đàn áp dùng án tử hình để đè bẹp ý chí của những người tranh đấu. Hội Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo Việt Nam đang có danh sách 300 tù nhân miền Nam bị án tử hình, trong đó những tên tuổi chúng ta không thể quên như các L.M. Nguyễn Hữu Nghị, Trần Học Hiệu hay như hai phụ nữ là chị Trương Ánh Loan chiến sĩ Phục Quốc bị xử tử tại hãng thuốc Bastos Khánh Hội Tháng Năm 1975, chị Trần Thị Lan bị xử tử hình trong lúc có thai tháng đúng vào ngày Vu Lan! Cựu Thiếu Tá Nhảy Dù Nguyễn Văn Viên, đã anh dũng bước tới pháp trường, người anh là L.M. Nguyễn Văn Vàng bị kết án chung thân và chết trong xà lim của trại tù “thung lũng tử thần” Xuân Phước. Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Võ Vàng, Thiếu Tá Nguyễn Ðức Xích, Ðại Úy Quách Dược Thanh... đều là nạn nhân của chính sách trả thù man rợ của Cộng Sản. Chúng ta không thể kể hết những tên tuổi quá lớn này.

Chúng ta có biết bao người yêu nước đã chết trong những trại tập trung mang danh “cải tạo” của Cộng Sản dựng lên cả ở hai miền Nam Bắc vì đói rét, bệnh tật, kiệt sức, mà hiện nay nhiều anh em, nắm xương tàn còn lưu lạc trong những vùng rừng núi xa xôi, chưa về được với gia đình.

Vì không thể sống với chế độ Cộng Sản, hàng trăm nghìn người đã tìm cách vượt biển, vượt biên giới để ra đi, nhưng hai phần ba đã không bao giờ đến được bến bờ tự do. Trong mỗi gia đình chúng ta, gia đình nào lại không có bà con ruột thịt xa gần bị vùi thây trên biển cả hay giữa núi rừng. Nhiều gia đình đã chết trọn cha mẹ, con cái, anh em trên một chiếc thuyền mỏng manh giữa biển khơi. Có gia đình mất hết con. Người mất anh, kẻ mất chị. Có tìm hiểu chuyện trò dần dần chúng ta mới thấy những mất mát, những niềm đau bị giấu kín, ít khi muốn phơi bày. Cuộc sống xô đẩy mọi gia đình cuốn trôi theo dòng đời, tang tóc thường được giấu kín sau những nụ cười từ hơn ba mươi năm nay, từ ngày miền Nam được gọi là “giải phóng”: chỉ có “đế quốc Mỹ là thua, còn chúng ta không kể Nam hay Bắc đều là anh em, những người thắng trận” như giọng nói nhân nghĩa của kẻ thống trị. Cái ác đã thắng và điều thiện đã thua, nhưng đời đời lịch sử sẽ không ngưng nguyền rủa.

Quả thật, sau khi Cộng Sản tiến chiếm miền Nam không có việc “tắm máu”, những quả thật người miền Nam đã chết dần chết mòn trong sự trả thù tinh vi từ trại tập trung đến việc xô đẩy hằng trăm nghìn người ra biển khơi. Chúng ta chưa hề có được một con số thống kê về những người đã chết vì chế độ Cộng Sản. Tượng đài kỷ niệm nạn nhân Cộng Sản có thể đã được dựng lên ở một nơi nào đó trên trái đất, nhưng trong mỗi gia đình người Việt đều đã có một tượng đài. Chẳng qua rồi con người chóng quên, để những hình ảnh này phai nhạt cùng năm tháng, như những chiếc khung ảnh người quá cố phủ bụi thời gian trên bàn thờ của mỗi gia đình.

Ba mươi bốn năm đã trôi qua, những người già lưu lạc đã chết đi mang niềm tuyệt vọng chưa có một ngày về cố hương, những đứa trẻ lớn lên gần như không biết gì đến dĩ vãng. Những người đã chết sẽ không chết uổng, khi những người còn sống có cuộc đời đáng sống. Chúng ta không những nợ những người đã chết mà còn nợ những người đang sống, đó là những thương binh miền Nam thương tật ở quê nhà, những gia đình mất cha, mất chồng, mất anh em trong cuộc chiến để cho chúng ta có được ngày hôm nay.

Mong anh em, bạn bè, sống khôn thác thiêng, phù hộ độ trì cho đất nước qua cơn đại nạn.

Post Reply