Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Đọc sử để nhìn nhận hôm nay

" Tuần vừa rồi có dịp mượn lại "Bên Dòng Lịch Sử" từ người bạn lớn tuổi để tra cứu một số chi tiết cần cho công việc nghiên cứu cá nhân, tôi xem lại tập sử liệu một cách say mê, bởi lẽ lần đọc này mang đến cho tôi tâm trạng khác trước, gần như là khám phá mới lạ. Quả thật Linh mục Cao Văn Luận có nhiều cơ hội tiếp xúc và đối thoại với các nhân vật lịch sử khác nhau của Việt Nam ở hai bên chiến tuyến trong giai đoạn từ 1940 đến 1965, nhờ vậy thiên hồi ký của ông đã dẫn dắt người đọc đi qua các biến cố lịch sử trọng đại của đất nước một cách sinh động và lôi cuốn."

Từ khi bắt đầu vào đại học lúc 17 tuổi đến nay, tôi vẫn giữ thói quen đều đặn hàng năm dành khoảng hơn một tháng đọc sách vở và tài liệu viết về đề tài Việt Nam, quá khứ cũng như hiện tại, chủ yếu nhằm giúp trao dồi vốn kiến thức hạn hẹp của tôi về lịch sử nước nhà.


Tây Nguyên là vùng đất quan trọng chiến lược của Việt Nam

Tôi thường chọn thời gian làm công việc nhẹ nhàng, nhưng đầy hào hứng này vào độ trung tuần tháng 3 đến cuối tháng 4 mỗi năm. Đó cũng là khoảng thời gian của một năm thường gợi nhớ trong tôi nhiều biến cố vui buồn lẫn lộn, vừa hào hùng nhưng cũng vừa bi thương, của dân tộc.

'Vai trò Tây Nguyên'

Năm nay, trong số những sách vở và tài liệu tôi đọc có một quyển sách đặc biệt mà năm 18 tuổi tôi đã có dịp xem qua, đó là tập hồi ký "Bên dòng Lịch Sử, 1940-1965" của Linh mục Cao Văn Luận, nguyên Viện trưởng Đại học Huế và Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn. Hơn 20 năm trước tôi đọc quyển sách mang tính chất sử liệu này chủ yếu với ý định tìm hiểu các diễn biến lịch sử, mà vì nhiều lý do khác nhau thầy cô "dạy sử" của tôi ở trường trung học và cả những nhà "nghiên cứu" sử học sau 1975 tránh đề cập đến hoặc cố tình diễn giải sai lệch.

Tuần vừa rồi có dịp mượn lại "Bên Dòng Lịch Sử" từ người bạn lớn tuổi để tra cứu một số chi tiết cần cho công việc nghiên cứu cá nhân, tôi xem lại tập sử liệu một cách say mê, bởi lẽ lần đọc này mang đến cho tôi tâm trạng khác trước, gần như là khám phá mới lạ. Quả thật Linh mục Cao Văn Luận có nhiều cơ hội tiếp xúc và đối thoại với các nhân vật lịch sử khác nhau của Việt Nam ở hai bên chiến tuyến trong giai đoạn từ 1940 đến 1965, nhờ vậy thiên hồi ký của ông đã dẫn dắt người đọc đi qua các biến cố lịch sử trọng đại của đất nước một cách sinh động và lôi cuốn.

Trong phần kể về cuộc gặp gỡ và trò chuyện lần đầu tiên với cố Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm vào nửa đầu năm 1948 tại Đà Lạt, mà Linh mục Cao Văn Luận gọi là "câu chuyện bên lò sưởi năm 1948" (xem từ trang 165 đến 171 của bản in năm 1972), ông có nhắc đến một chi tiết lý thú trong nội dung câu chuyện mà tôi nghĩ ít nhiều liên quan đến một sự việc nghiêm trọng gần đây ở nước ta.

Khi được Linh mục Cao Văn Luận hỏi về chính sách của mình đối với Pháp trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954), ông Ngô Đình Diệm lúc ấy là nhà cách mạng khả kính tại Việt Nam, đã đề cập đến vấn đề Tây Nguyên như sau: "... ít người để ý là người Pháp lập ra Hoàng Triều Cương Thổ, để biến tất cả vùng cao nguyên Trung và Nam Phần thành đất thuộc địa trực tiếp của Pháp." Linh mục Cao Văn Luận không khỏi ngạc nhiên vì Cụ Ngô Đình Diệm dường như xem Tây nguyên là chuyện hệ trọng đối với chủ quyền quốc gia, mà khi ấy dù chưa cầm quyền ông vẫn trăn trở về vận mệnh đất nước trước ý đồ của thực dân Pháp.

Linh mục Cao Văn Luận tường thuật tiếp:

"Ông Diệm trầm ngâm một lúc. Tôi vẫn im lặng. Những lời ông nói ra nửa như suy tư, nửa như phân trần với tôi:

- Vùng Cao Nguyên này có một tầm quan trọng lớn về chiến lược và kinh tế. Về chiến lược, nó nằm ở giữa ba quốc gia Việt Miên Lào. Ai chiếm giữ được Cao Nguyên này có thể gây áp lực được đối với cả ba quốc gia đó. Người Pháp gọi vùng Cao Nguyên là Hoàng Triều Cương Thổ chỉ là một lối trá hình trên thực tế, chủ tâm của họ là biến vùng này thành thuộc địa Pháp. Về mặt kinh tế, thì vùng Cao Nguyên hết sức quan trọng đối với Việt Nam trong tương lai. Ở đó chắc chắn có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhiều khoáng sản chưa được khám phá và khai thác, nhưng chúng ta cần phải bảo vệ cho Việt Nam. Rồi còn vấn đề thể diện quốc gia, chủ quyền quốc gia nữa. Không thể bỗng dưng nhường cho Pháp một vùng đất quan trọng như thế, nằm ngay giữa lãnh thổ quốc gia, người Việt Nam nào muốn lên lại phải xin thông hành!

Ở đó chắc chắn có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhiều khoáng sản chưa được khám phá và khai thác, nhưng chúng ta cần phải bảo vệ cho Việt Nam.

Ngô Đình Diệm, theo lời kể của LM Cao Văn Luận

Tôi (tức là Linh mục Cao Văn Luận) chợt nhớ đến một cuốn sách khảo luận về địa dư Đông Pháp (tức là Đông Dương thuộc Pháp), không nhớ rõ tác giả, và tôi đem những ý kiến được nêu lên trong tập sách này trình bày lại với cụ Diệm:

- Cụ nói đúng. Tôi có đọc một cuốn sách viết đại ý rằng Pháp muốn ngăn chặn sức bành trướng của dân tộc Việt Nam về phía tây, muốn để dân tộc Việt Nam dừng lại ở các miền duyên hải, còn Pháp thì phải giữ vững vùng Cao Nguyên Trường Sơn, vừa để ngăn chặn sức bành trướng của dân tộc Việt Nam, vừa canh phòng phía Lào. Như vậy khi lập Hoàng Triều Cương Thổ, đặt trực thuộc Pháp, thì Pháp đã bắt đầu thi hành đúng cái chính sách đó rồi."

Tiếp theo, tại trang 194 và 195, Linh mục Cao Văn Luận kể rằng vào năm 1953 khi ông gặp cụ Ngô Đình Diệm lần thứ hai ở Paris, cụ Diệm một lần nữa nhắc lại vấn đề Hoàng Triều Cương Thổ với nhiều ưu tư và lo lắng hơn, khiến mọi người có mặt lúc ấy đều tỏ ý trách cứ cựu hoàng Bảo Đại mải mê ăn chơi mà không lưu tâm đến bảo vệ chủ quyền quốc gia, đã vậy còn trao hết cho người Pháp toàn quyền khai thác Tây nguyên.

Sử học trung thực

Đọc sử giúp người đời nay có được cơ hội "ôn cố tri tân", học hỏi điều hay lẽ phải của đời trước để làm điều hữu ích cho dân tộc.

Lê Công Định

Đọc xong những đoạn đối thoại quan trọng này trong "Bên Dòng Lịch Sử", tôi hạ quyển sách xuống với tâm trạng bàng hoàng. Chuyện của hơn 60 năm trước đây thật chẳng khác lắm so với vấn nạn của ngày hôm nay. Có điều những nhân vật lịch sử ngày ấy, như cụ Ngô Đình Diệm chẳng hạn, xem chừng rất quan tâm đến lợi ích, chủ quyền và thể diện của quốc gia. Họ trăn trở về điều này và xem Tây Nguyên thực sự là vấn đề ưu tiên trong chính sách của các chính quyền miền Nam thời bấy giờ, nhất là giữa bối cảnh có nhiều kẻ mang dã tâm xâm lược Việt Nam dù công khai hay ẩn ý.

Thật đáng trân trọng biết bao cách viết sử trung thực, tất nhiên theo nhãn quan và hiểu biết tối đa của tác giả, trong đó lối diễn đạt và sử dụng ngôn ngữ chừng mực, thể hiện sự tôn trọng dành cho mọi nhân vật của một thời đã qua, đặc biệt với cả những người không cùng chính kiến với mình. Chính vì vậy, đọc các công trình khảo cứu của giới học giả ở miền Nam trước đây, nhất là trong lĩnh vực sử học mà tôi yêu thích, kẻ hậu sinh ở lứa tuổi tôi thường cảm thấy an tâm và có thể đặt phần lớn niềm tin vào những thông tin và kiến thức mà mình tiếp nhận. Bởi lẽ ít ra các tác giả đó không có gì phải lo sợ khi muốn viết sự thật và trình bày nhận định thật của mình.

Cái hay của sử học trung thực là giúp người đời sau hiểu được các diễn biến lịch sử trong quá khứ, bác bỏ lối đánh giá sai lệch với dụng ý bôi nhọ những nhân vật lịch sử ở bên kia chiến tuyến. Song điều quan trọng hơn cả, đọc sử giúp người đời nay có được cơ hội "ôn cố tri tân", học hỏi điều hay lẽ phải của đời trước để làm điều hữu ích cho dân tộc hầu lưu tiếng thơm muôn đời.

Tất nhiên, không chỉ có gương tốt, lịch sử còn đặc biệt răn dạy người đời sau bằng cả gương xấu. Trong lần đọc lại sử sách nước nhà năm nay, không hiểu vì sao tôi lại quan tâm nhiều đến các nhân vật "thân bại danh liệt" như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống và Hoàng Cao Khải, rồi tự hỏi không biết 30 năm nữa, nếu còn sống, tôi sẽ biết thêm những cái tên nào tương tự như vậy trong lịch sử hiện đại của dân tộc. Bất giác tôi cầu mong điều đó đừng xảy ra...

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2 ... dinh.shtml

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thời Sự Kinh Tế: Các hãng xe hơi phải thay đổi

Ngô Nhân Dụng

Từ trước thập niên 1960 nghệ thuật quản trị của các công ty xe hơi Mỹ là những kiểu mẫu cho thế giới học hỏi và bắt chước. Những phương pháp gọi là “quản trị khoa học,” làm việc theo lối dây chuyền, nghiên cứu từng động tác của công nhân rồi xếp đặt chỗ làm việc tốt nhất để tiết kiệm thời giờ, vân vân, các công ty xe hơi Mỹ đã đi những bước đầu trước cuộc đại chiến thứ hai. Mười năm sau thế chiến, riêng việc nghiên cứu sơ đồ của General Motors cũng cho chúng ta những bài học về cách điều hành một tổ chức kinh doanh lớn. Xe Mustang là một bài học tiêu biểu về tiếp thị thành công, xe Edsell là một bài học phải tránh cho khỏi thất bại. Ông chủ tịch GM hãnh diện nói rằng “Cái gì tốt cho GM là tốt cho cả nước Mỹ.”

Bây giờ dân chúng cả nước Mỹ phải bỏ tiền ra cứu GM và Chrysler, để tránh cảnh sụp đổ của hai trong số 3 công ty xe hơi lớn tiêu biểu cho công nghiệp nước Mỹ từ hàng thế kỷ (công ty thứ ba là Ford). Hai ngày trước, công ty Chrysler chính thức tuyên bố phá sản để được bảo vệ theo Chương 11 của luật phá sản tại Mỹ. Nhờ thủ tục pháp lý này Chrysler sẽ có cơ hội “đổi mới” để chờ ngày sống mạnh trở lại. Trong một tháng nữa đến lượt số phận General Motors được quyết định. Nếu các phe nhóm quyền lợi trong công ty GM không tìm được cách thỏa hiệp thì công ty sẽ phải theo gót Chrysler. Thế giới đã thay đổi. Ðời sống lúc nào cũng thay đổi. Sinh vật nào không thích ứng được với môi trường mới thì sẽ chết, hoặc phải lột da để sống lại.

Nhưng các công ty sản xuất xe có phải là những sinh vật hay không? Chúng ta phải nhìn lại lịch sử ngành quản trị.

Những nhà quản lý và những người nghiên cứu về nghệ thuật quản trị vào đầu thế kỷ 20 đã nhìn các xí nghiệp như tập hợp của những bộ máy. Cả loài người thán phục sức làm việc và hiệu năng của máy móc, cho nên sinh ra khuynh hướng bắt chước máy. Các công nhân được dùng để giúp cho máy chạy, họ cũng trở thành những bộ phận trong nhà máy. Ban giám đốc điều khiển nhân viên giống như điều khiển máy, bơm tiền cho công nhân vừa đủ giống như bơm dầu nhớt cho máy chạy.

Quan niệm máy móc đó đã bị gạt bỏ trước đại chiến thứ hai; vì người ta khám phá ra yếu tố tâm lý và tác động xã hội trên hiệu năng sản xuất của công nhân. Sau đại chiến, một cuộc cách mạng diễn ra trong ngành nghiên cứu khoa học xã hội, khi cách nhìn “hệ thống” ra đời. Một bộ máy xe hơi phức tạp hơn một bộ máy đồng hồ, một vi khuẩn đơn bào là một hệ thống phức tạp hơn cái xe hơi; nhưng trình độ phức tạp của một xí nghiệp còn cao hơn gấp bội. Mỗi xí nghiệp phải nhìn như một “hệ thống mở” sống động, giống như một sinh vật luôn luôn tiếp xúc và trao đổi với môi trường. Xí nghiệp luôn luôn thay đổi, vì môi trường luôn luôn thay đổi. Nếu không thay đổi thì nó sẽ suy yếu, và sẽ chết yểu.

Có thể nói là các công ty xe hơi lớn ở Mỹ đã không thay đổi theo nhu cầu của xã hội, hoặc thay đổi quá chậm.

Ba công ty xe hơi lớn ở Mỹ đã mất tỷ lệ phần chiếm trong thị trường (thị phần) từ đầu thập niên 1970 khi cuộc khủng hoảng dầu lửa lớn đầu tiên diễn ra. Những loại xe nhỏ, dùng xăng với hiệu suất cao, xâm lăng thị trường Bắc Mỹ. Các hãng xe Mỹ có tìm cách thích ứng trong việc chế tạo xe nhỏ, ít hao xăng và bền. Ðứng trên mặt kỹ thuật, các hãng xe Mỹ có khả năng chế tạo những xe có phẩm chất không khác gì xe Nhật. Nhưng cái “quán tính” tự nhiên trong xã hội loài người là một trở ngại khiến họ không thể thay đổi nhanh như nhu cầu cần thiết. Một trong những quán tính nặng nề là thói quen nhắm vào lợi nhuận ngắn hạn. Trong hàng chục năm qua các hãng xe Mỹ kiếm nhiều tiền nhất khi bán các loại xe vận tải nhẹ, SUV, và xe sang trọng. Một chiếc xe trong loại này kiếm lời gấp chục lần những chiếc xe nhẹ và rẻ, cho nên ban giám đốc thấy tốt nhất là làm thật nhiều, quảng cáo thật mạnh để bán những chiếc xe hao xăng này. Trong khi đó các hãng xe Nhật chăm chú cải thiện những loại xe ít tốn xăng của họ, và thí nghiệm những máy xe “hybrid” dùng xăng và điện. Khi giá dầu lửa tăng lên 140 đô la một thùng, xăng ở Mỹ lên tới 4 đô la một ga lông, cả thị trường xe hơi đảo lộn.

Năm 2000, các hãng xe Mỹ chiếm hai phần ba (66%) thị trường Mỹ và Canada. Năm 2008, họ chỉ còn chiếm dưới một nửa (47%), và thị phần còn tiếp tục xuống nữa. Cơn khủng hoảng tài chánh tạo cú sốc nặng nề, số xe bán mỗi năm tụt từ 16 triệu chiếc xuống chỉ còn 10 triệu. Các công ty xe hơi đều lỗ lã, riêng Chrysler lỗ 8 tỷ Mỹ kim trong năm 2008. Chrysler đã được chính phủ Mỹ cứu với số tiền cho vay 4 tỷ đô la; GM được trợ giúp gấp đôi. Ford còn đứng vững được không cần vay chính phủ vì may mắn còn tiền sau khi đã bán được các tài sản khác chứ không phải nhờ bán nhiều xe. Tình trạng tài chánh các công ty xe hơi sẽ tiếp tục đi xuống nếu không có biện pháp chấm dứt cảnh “chảy máu” liên tục.

Khủng hoảng kinh tế thay đổi tác phong của người tiêu thụ. Người ta không những muốn mua các loại xe nhẹ và ít hao xăng mà còn muốn mua xe chạy bền, để khi bán lại vẫn được giá. Một chiếc xe Toyota tiêu biểu, sau 4 năm dùng có thể bán được nửa giá; còn một chiếc Chrysler chỉ bán được với giá bằng 18% giá mua lúc đầu. Trong hai chục năm qua các công ty xe hơi của Mỹ đã bỏ phí thời giờ không cải thiện phẩm chất để tính kế lâu dài mà vẫn nhắm vào những mục tiêu kiếm lời và lợi nhuận cho từng cổ phần (EPS) trong ngắn hạn. Nói chung, hội đồng quản trị các công ty tưởng lệ ban quản đốc dự trên những mục tiêu ngắn hạn như vậy, cho nên tạo ra tác phong đó.

Một lực quán tính thứ hai gây nạn cho các công ty xe Mỹ là những “di sản” của quá khứ.

Một di sản là những hợp đồng lao động với Nghiệp Ðoàn Công Nhân Xe Hơi (UAW) từ ba chục năm trước, trong đó ngoài lương bổng và điều kiện làm việc thỏa mãn các công nhân, các hãng xe còn chịu trách nhiệm trả hưu bổng và đóng bảo hiểm ý tế cho các công nhân về hưu. Khi thương thảo những hợp đồng này, người ta không ngờ là chi phí y tế ở nước Mỹ tăng nhanh và lên cao như hiện nay. Và mọi người cũng không biết trước là tuổi thọ ngày càng dài, những người nghỉ hưu trở thành một gánh nặng cho các công nhân mới vào làm việc và cho nhà sản xuất. Trung bình một giờ lao động của công nhân làm việc cho Chrysler tốn hơn Toyota gần 20 đô la. Tự nhiên giá thành của mỗi chiếc xe cũng cao hơn.

Các công ty xe hơi Mỹ ý thức nhu cầu “đổi mới.” Khi thấy các hãng xe Nhật theo chính sách “giảm chi phí sản xuất” tới cùng (lean production), thí dụ bằng cách giảm số giờ cần thiết để ráp một chiếc xe,hoặc chỉ đặt hàng mua phụ tùng đúng nhu cầu lắp ráp chứ không nhiều hơn (on time delivery), thì công ty xe hơi Mỹ nào cũng có thể làm theo được. Công ty General Motors rút kinh nghiệm cộng tác với Toyota ở nhà máy ráp xe tại Fremont, California, đã lập ra một phân bộ quản trị theo lối mới, chế tạo xe Saturn để thí nghiệm phương pháp lean production. Nhưng sau nhiều năm hoạt động, thay vì GM sẽ thay đổi theo lối Saturn, thì người ta lại thấy chính Saturn thay đổi, trở về với lối quản trị của GM!

Việc mô phỏng phương pháp quản trị đã đưa tới những hệ quả bất ngờ. Ðể giảm bớt sự dề kháng của các công nhân và công đoàn đại diện họ khi thay đổi phương pháp sản xuất, trong thập niên 1980 các hãng xe hơi Mỹ đã thỏa hiệp với công đoàn lập ra những “ngân hàng công việc” (job bank). Theo chế độ này, các công nhân phải nghỉ việc vì phương pháp mới không cần dùng nhiều lao động, thì công ty chủ nhân vẫn trả lương cho họ ngồi ở nhà, chỉ khi nào cần mới gọi tới. Phải công nhận là các nghiệp đoàn công nhân xe hơi đã phục vụ người lao động của họ rất có hiệu quả.

Nhưng chính vì những “ngân hàng công việc” đó mà các công ty sinh ra một tật quán tính khác. Khi thấy có dấu hiệu nhu cầu mua xe sẽ xuống, họ ngần ngại không muốn đóng cửa bớt cơ xưởng hoặc không giảm số sản xuất ngay. Vì đằng nào vẫn phải trả lương người thợ không làm việc. Họ chấp nhận tiếp tục sản xuất, tức là không những vẫn trả lương công nhân như cũ mà còn phải trả các chi phí sản xuất khác!

Bởi vậy, trước cảnh các xuống ty xe hơi suy sụp, chính phủ Mỹ đã ép cả các nghiệp đoàn lẫn các chủ nợ và chủ nhân của các hãng xe hơi phải cùng chia sẻ sự hy sinh trong việc thay đổi, như là những điều kiện để được chính phủ giúp đỡ qua cơn khốn đốn.

Trong vụ Chrysler, công đoàn UAW ở Mỹ và CAW ở Canada đã đồng ý hy sinh, một số ngân hàng lớn chủ nợ cũng chịu cắt bớt số nợ phải trả; nhưng tới ngày hẹn 30 Tháng Tư vẫn có 20 chủ nợ nhỏ không đồng ý với kế hoạch cải tổ. Cuối cùng chỉ còn một giải pháp là cho Chrysler khai phá sản để tòa án sẽ quyết định các chủ nợ, công nhân và chính phủ sẽ được chia phần lời lỗ như thế nào. Việc kết tội các chủ nợ nhỏ, như Tổng Thống Barack Obama đã làm, là không công bằng. Vì các chủ nợ sẽ bị thiệt khi không đòi được đủ số tiền cho vay, nhưng giảm bao nhiêu có thể đưa ra tòa án phá sản tín toán, thay vì để cho nhà nước quyết định. Hơn nữa, các chủ nợ lớn đã đồng ý với kế hoạch giải cứu của chính phủ phần lớn cũng là những ngân hàng đang được chính phủ giúp đỡ hàng tỷ Mỹ kim, họ không thể làm khác được.

Sau khi được cải tổ, các “chủ nhân” của Chrysler chắc sẽ mất hết, trong đó hai chủ nhân lớn là Daimler, công ty sản xuất Mercedes làm chủ 20% và công ty đầu tư Cerberus mới bỏ ra hơn 7 tỷ đô la để mua 80% cổ phần từ Daimler cách đây 2 năm. Công đoàn UAW và CAW sẽ trở thành chủ nhân của 55% số cổ phần của Chryeler, để lấy tiền lời trả hưu bổng cho công nhân. Chính phủ Mỹ và Canda sẽ làm chủ 8% và 2% các cổ phần. Tuy nhiên khi nào công ty khá hơn thì các chính phủ sẽ bán phần của họ, và chắc sẽ có lời; còn các công đoàn thì cũng sẽ bán lấy tiền đầu tư nhiều nơi khác, vì họ cũng không tội gì để tiền hưu bổng của đoàn viên vào trong một thứ cổ phần.

Với sự tham gia của Fiat, công ty xe hơi tiêu biểu cho nước Ý hy vọng Chrysler sẽ biến thái, vì Fiat chuyên sản xuất loại xe nhỏ, ít hao xăng, và có sẵn thị trường trên khắp thế giới. Với những thay đổi về kỹ thuật sản xuất và về tiếp thị, các hãng xe ở Mỹ sẽ còn tồn tại được.

Nhưng thế giới sẽ còn thay đổi, và các hãng xe sẽ còn thay đổi thêm nữa thì mới sống lâu dài được. Hiện nay 25% số xe của các công ty xe hơi ở Mỹ và Canada đang đặt làm ở ngoại quốc. Họ đã lập nhà máy chế tạo và ráp xe ở khắp thế giới. Chi nhánh của GM ở Âu Châu và ở Trung Quốc làm ăn khá hơn công ty mẹ. Sẽ tới ngày chính các công ty Mỹ sẽ đặt cơ xưởng ở các nước Ấn Ðộ, Brazil, Trung Quốc, và cả Việt Nam để sử dụng công nhân lương thấp, và các nhà máy đó sẽ sản xuất số xe hơi nhiều hơn làm ở Mỹ!

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Bản chất những chế độ Cộng Sản
Tác giả: Chu chi Nam




Nhìn vào tất cả những chế độ cộng sản, từ chế độ đầu tiên do Lénine thành lập năm 1917, qua những chế độ Đông Âu tới những chế độ còn rơi rớt lại như Trung cộng, cộng sản Việt nam, người ta đều thấy có những tính chất chung. Đó là : 1) Đều do ngoại quốc dựng lên ; 2) Độc đoán, độc tài, đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, đó là tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền ; 3) Đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của quốc gia dân tộc ; 4) Đó là một chế độ bất bình thường, chủ trương bạo động lịch sử, giết chết giai tầng trí thức và trung lưu, xương sống của một xã hội. Đó là một chế độ diệt chủng.

I ) Chế độ do ngoại quốc dựng lên

Người ta có thể nói tất cả những chế độ cộng sản, ngay cả chế độ đầu tiên ở Liên sô, cũng là đều do ngoại quốc dựng lên; và đều được dựng lên vào thời chiến tranh. Chính vì vậy mà Đức Đạt Lai Lạt ma đã nói: “ Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh xôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời.”

Thật vậy, ở đây tôi không đi sâu vào chi tiết lịch sử, ngoài những chế độ cộng sản Đông Âu là được dựng lên dưới gót giày quân đội chiếm đóng Liên sô, 3 chế độ cộng sản tiêu biểu còn lại là Liên Sô, Trung cộng và Việt Nam cũng là do ngoại quốc dựng lên, và là đều dựng lên vào cuối thời kỳ 2 cuộc thế chiến.

Thế Chiến thứ Nhất ( 1914-1918) gồm 2 phe: 1) Phe Pháp đứng đằng sau là Anh, Nga, thời Nga hoàng Nicolas I I, sau là chính quyền của đảng Dân chủ, xã hội, thợ thuyền do Kérenski cầm đầu, sau đó có Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến; 2) Phe Đức đứng đằng sau là đế quốc Áo Hung và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Vào gần cuối thế chiến, Đức nhận thấy không thể nào đối đầu với 2 mặt trận lớn cùng một lúc, mặt trận đông bắc với Nga và mặt trận phía tây nam với Pháp, muốn dồn lực vào mặt trận chính tây nam. Lénine đang sống ở Thụy Sỹ, đã đưa ra khẩu hiệu: “ Hòa bình bằng bất cứ giá nào. Ngay dù phải nhượng đất để có quyền .” Chính vì vậy mà Bộ Tham mưu Đức đã liên lạc với Lénine, đưa Lénine từ Thụy sỹ về Nga, trong một toa xe lửa bọc sắt, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để cướp chính quyền. Người ta có thể nói chính quyền Lénine là do ngoại quốc, Bộ Tham Mưu Đức lập nên (1).

Chính quyền Trung Cộng của Mao trạch Đông cũng không khác.

Đảng cộng sản Tàu được thành lập năm 1921, đứng đầu là Trần độc Tú, Lý khả Siêu, nhưng đức đằng sau là người của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản. Tôn dật Tiên và Lénine ký Hiệp ước thân thiện năm 1923, trong đó có điều khoản là để được giúp, thì người của đảng Cộng sản cũng có thể đồng thời là người của Trung hoa quốc dân đảng. Lénine chết năm 1924, một năm sau đó thì Tôn chết. Tưởng giới Thạch lên thay. Ý thức được sự nguy hiểm của chế độ cộng sản, Tưởng quyết định tiêu diệt cộng sản. Chính vì vậy có cuộc Vạn lý trường chinh; và trong cuộc trường chinh này, Mao đã được đưa lên làm Tổng bí thư vào tháng 1/1935. Trong cuộc trường chinh, đảng Cộng sản Tàu mất liên lạc với Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, sau đó, khi đã đặt được căn cứ ở Diên an, thì liên lạc được thiết lập lại. Vào tháng 7/1935, Đại hội 7 của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản họp ở Moscou, thay đổi chiến lược, thay vì chống đối giai cấp, thì là “ hợp tác “ giai cấp để chống Phát xít. Nên nhớ lúc này là phát xít Ý Mussolini đã lên nắm quyền từ cuối năm 1922, Phát xít Hitler đã lên nắm quyền ở Đức năm 1933.

Cũng chính từ chiến lược của Đại hội VI I Đệ Tam Quốc tế Cộng sản mà liên hệ giữa lien sô và đảng Cộng sản Tàu được tăng cường. Đảng Cộng sản Tàu nhận được một ngân phiếu 300 000$ thời đó, tương đương với 4 triệu $ thời nay, nhận ký bởi Mao, đề ngày 28/4/1938, do một người Nga tên Mikhailov, đưa ( Theo quyển sách Mao – trang phụ lục hình 30, của Jung Chang và Jon Halliday – nhà xuất bản Pháp ngữ Gallimard – 2006).

Thế rồi Chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ 1933, tiếp liền sau đó là Thế Chiến ( 1939-1945). Ngày 15/8/1945, Nhật đâu hàng Đồng Minh, Liên sô ngầm giúp đảng Cộng sản Tàu, chiếm Mãn Châu, giúp đỡ Tàu rất nhiều về súng đạn, tiền bạc và uy thế, một hành động tiêu biểu là chính quyền cầm đầu bởi ông vua Phục Hi, do Nhật lập lên ở Mãn châu, bị bắt bởi Liên sô, sau không được trao trả cho chính quyền chính thức cuả Tưởng giớI Thạch mà bề ngoài Staline tỏ ra rất thân thiện, nhưng bề trong tìm cách lật đổ, bằng cách giúp đảng Cộng sản Tàu. Ông vua này đã được trao cho đảng cộng sản Tàu. Được sự giúp đỡ của Liên sô, chiếm được Mãn Châu, đảng Cộng sản Tàu được uy thế và sức mạnh, đây là một trong những nguyên do chính, giúp Mao cướp được chính quyền năm 1949.

Chính quyền cộng sản Việt Nam cũng được thiết lập lên do do bàn tay ngoại quốc Trung Cộng và Liên Sô. Hồ chí Minh được thâu nạp vào Đệ Tam quốc tế Cộng sản, học ở trường cộng sản Đông phương, chờ thời cơ cướp chính quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào năm 1930, mỗi năm vào thời đó nhận được sự giúp đở 1 500 phật lăng Pháp tương đương với cả trăm lương của một người tri huyện vào khoảng từ 15 đến 20 phật lăng. Lương của Hồ chí Minh vào thời đó mà đã là 100$. Trong khi đó tất cả những đảng quốc gia thì không có một sự giúp đỡ nào ngoài việc bị Pháp trù dập.

Cũng từ quyết định của Đại hội VI I Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, đảng Cộng sản Việt Nam cũng được chỉ thị sửa soạn cướp chính quyền.Tháng 7/1936, Lê hồng Phong chủ tọa buổi họp Trung Ương đảng ở Thượng hải. ( Theo Chủ tịch Hồ chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp – Nhà xuất bản Sự thật- Hà nội -1980 – trang 85). Hồ chí Minh cũng tìm cách về nước qua đường Trung Cộng, ở Diên An, căn cứ của Mao vào cuối năm 1938; “ Từ tháng 2 đến tháng 7/ 1939, chủ tịch Hồ chí Minh đã viết 9 bài báo đề là Thư từ Trung quốc, gửi về nước và đăng trên báo Notre Voix ( Tiếng nói của chúng ta), tuần báo công khai của Đảng ta xuất bản tại Hà nội “ ( Sách đã dẫn- cùng trang 85).

Đảng cộng sản Việt Nam với sự giúp đỡ, chỉ bảo của ngoại quốc, tất nhiên phải nghe lời ngoại quốc, chính vì vậy mà mới ngay sau khi thành lập, Quốc tế cộng sản cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1930 đang đưa tư bản vào chỗ “ dãy chết” đã ra lệnh cho các đảng cộng sản đàn em phải nổi dậy, trong đó có đảng Cộng sản Việt Nam, trong vụ Nghệ An, Hà tĩnh năm 1930, đã đi đến thất bại. Sau này, khi Thế Chiến Thứ Hai vừa bùng nổ, Lỉên Sô cũng nghĩ tư bản sẽ cắn xé nhau, đưa nhau đến chỗ dãy chết, cũng ra lệnh cho các đảng đàn em nổi lên. Chính vì vậy có vụ nổi lên ở Hóc môn, Bà điểm. Chủ toạ buổi họp Trung ương đảng vào tháng 11/1939, để lấy quyết định này chính là Lê Duẫn. ( TheoLịch sử Việt Nam- tập I I- Nhà xuất bản Kgoa học xả hội- Hà nội – 1985 – trang hình, không đề số ). Ở điểm này, có một số ngưòi cho rằng Lê Duẫn, trước khi ra ngoài Hà nội làm Bí thư thứ nhất năm 1956, rồi Tổng bí thư năm 1960, chỉ là một anh cộng sản trung cấp, tầm thường. Họ đã sai. Lê Duẫn đã là nhân vật thứ ba của đảng vào thời đó, chỉ sau có Nguyễn văn Cừ, tổng bí thư và Lê hồng Phong, nhân vật thứ nhì. Lần nổi dậy thứ hai này củng thất bại, Nguyễn văn Cừ, Nguyễn thị Minh Khai, Lê Duẫn đều bị bắt, sau chỉ còn Lê Duẫn sống xót.

Lợi dụng những người thân Liên sô bị bắt, Hồ chí Minh, với sự trợ giúp của đảng Cộng sản Tàu, trực tiếp qua Chu ân Lai, đã triệu tập Hội nghị Trung ương đảng lần thứ VI I I, từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, đưa Trường Chinh lên Tổng Bí thư. Chúng ta cũng nên nhớ là chính Chu ân Lai, trên con đường Vạn lý trường chinh, cũng triệu tập Trung Ương đảng Cộng sản Tàu, đưa Mao lên Tổng bí thư, vào tháng 1/1935. Nay bổn cũ xao lại với việt Nam.

Ngày 6 và 8/9/1945, hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Nhật. Ngày 15/8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Quân Nhật ở Việt Nam như rắn mất đầu. Ngày 7/8, chính phủ Trần trọng Kim từ chức. Lợi dụng khoảng trống chính trị, và đoàn công chức biểu tình đòi tăng lương ở Hà nội, đảng cộng sản Việt Nam đã trà trộn người vào đoàn biểu tình, lúc đầu chiếm một vài công sở, sau đó cướp chính quyền. Ngày 2/9/1945, Hồ chí Minh đọc “ Bản Tuyên Ngôn Độc lập “; nhưng thực tế họ Hồ đã đặt đất nước chúng ta vào trong gông cùm cộng sản, biến dân Việt thành nạn nhân, nước Việt thành bãi chiến trường.

Nhìn lại lịch sử tất cả những chế độ cộng sản từ trước tới nay, đều là do sự giúp đỡ của ngoại bang, dưới hình thức này hay hình thức khác, đều là do cướp chính quyền mà ra, chứ không có một chế độ nào do dân bầu mà có. Về sau có những cuộc bầu cử, nhưng đều là những cuộc bầu cử giả dối, kiểu “Đảng cử, dân bầu “.

Hơn thế nữa, tất cả những chế độ cộng sản đều tìm cách tiêu diệt những thành quả dân chủ đã có từ trước, do những phong trào, tổ chức, đảng phái quốc gia đã lập nên.

I I ) Chế độ đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loạu là tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền.

Thật vậy, tất cả những chế độ cộng sản đều là chế độ độc tài, bắt đầu bằng chế độ của Lénine. Sau khi được Bộ Tham Mưu Đức đưa về cướp chính quyền, Lénine có tổ chức một cuộc bầu cử quốc hội lập hiến, hy vọng rằng sẽ thắng; nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại, đảng của Lénine bị rơi vào thiểu số. Quốc hội này chỉ họp có một ngày, rồi bị Lénine giải tán ngày 18/1/1918.

Theo dõi sát những hành động của Lénine, bà Rosa Luxembourg, bạn của Lénine, cùng hoạt động trong Đệ Nhị Quốc Tế Cộng sản, người mà đảng Dân chủ Xã hội Đức hiện nay coi như là ân nhân và nhà sáng lập, đã không ngần ngại viết thư cho ông ta trước khi bà chết vào năm 1919, trong Nhật Ký của bà :

“ Cái đảng và nhà nước độc tài mà anh thành lập ra, anh bảo nó phục vụ thợ thuyền và nhân dân. Nhưng thực tế nó chẳng phục vụ một ai cả; vì nó đã đi ngược lại những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội. Đó là tôn trọng tự do và dân chủ.”

Đây cũng là một trong những lý do đưa đến sự sụp đổ của những chế độ cộng sản sau này, vì nó đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại. Đó là tôn trọng tự do, dân chủ và nhân quyền.

I I I ) Chế độ đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của quốc gia dân tộc

Không những chế độ cộng sản đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, mà nó còn đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.

Thật vậy, áp dụng lý thuyết của Marx, chủ trương đoạn tuyệt tận gốc rễ với truyền thống dân tộc, những chế độ cộng sản tìm cách tiêu hủy tôn giáo, phá nhà thờ, phá chùa, đốt sách. Marx viết:

“ Cách mạng cộng sản là sự đoạn tuyết tận gốc rễ với chế độ tư hữu cổ truyền; không có gì ngạc nhiên, nếu trong sự phát triển của nó, cách mạng cộng sản đoạn tuyệt tuyệt đối với những ý tưởng cổ truyền.” ( Le manifested u Parti communiste - trang 44 – Union générale d’Editions-Paris-1962).

I V ) Đó là một chế độ bất bình thường, chủ trương bạo động lịch sử, giết chết giai tầng trí thức và trung lưu, xương sống cũa một xã hội. Một chế độ diệt chủng !

Có thể nói, hai người hiểu rõ sự tàn độc của chủ nghĩa và chế độ cộng sản ở Á châu là cụ Phan bội Châu và tướng Tưởng giới Thạch.

Cũng vào những năm đầu của thập niên 20, trong khi Hồ chí Minh ở bên Pháp lao đầu đi theo cộng sản, mà chưa rõ Đệ Nhị và Đệ Tam là gì, thì cụ Phan bội Châu, cũng được người của tổ chức này chiêu dụ ở bên Tàu, đưa nội qui của tổ chức cho cụ đọc, cụ ý thức rất rõ là nếu theo thì phải từ bỏ chủ quyền quốc gia, truyền thống dân tộc. Cụ còn nói thêm: “ Tôi chẳng duy vật, tôi chẳng duy tâm, tôi chỉ duy dân.”

Người thứ hai, đó là tướng Tưởng. Ông được Tôn dật Tiên, sau hiệp ước thân thiện Trung Sô vào năm 1923, gửi sang Liên sô để học. Theo nguyên tắc, ông phải ở bên đó lâu. Nhưng ông về ngay sau mấy tháng. Người ta hỏi: “ Tại sao tướng quân không ở bên đó lâu để học ? “, thì ông trả lời:

“ Tôi không có gì để học ở bên đó ". Sau ông nói tiếp :

“ Một con người không có xương sống, thì suốt đời chỉ nằm và bò, không bao giờ đứng dậy được. Xương sống của một xã hội là giai tầng trí thức và trung lưu. Cộng sản chủ trương tiêu diệt trí thức và trung lưu. Nên xã hội cộng sản không bao giờ đứng dậy được "

Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan có tuyên bố:

“ Lịch sử nhân loại có nhiều trang đẫm máu và tang thương. Nhưng chưa có những trang nào đẫm máu và đau thương như những trang sử cộng sản. Nga sô và các dân tộc Đông Âu đã can đảm đứng lên lật qua những trang sử đẫm máu và tang thương của mình, để viết những trang sử mới tốt đẹp hơn. Những dân tộc còn lại hãy bắt noi gương các dân tộc Nga và Đông Âu, can đảm đứng lên để lật qua trang sử cộng sản, để viết trang sử mới, cũa tự do, dân chủ, của ấm no, hạnh phúc "

Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi.

Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.

Paris ngy 2/5/2009

Chu chi Nam

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ai bôi xấu nước Việt Nam?

Ngô Nhân Dụng

Trong tuần trước tôi đang ở Montréal, Canada, thì báo Người Việt đăng lá thư của bạn đọc ký tên là Cường, trong đó có câu: “Tôi tôn trọng cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa của các bạn, nhưng tôi không đồng ý với cái cách các bạn đang làm đó là bôi xấu Việt Nam, nơi cha sinh mẹ đẻ của các bạn, nơi mà những người thân, đồng bào của các bạn đã phải chịu đựng nhiều mất mát, nỗi đau và cả xương máu để giành lấy nền độc lập tự do cho thế hệ ngày nay. Tại sao các bạn không tự hỏi nhân dân Việt Nam muốn một nhà nước hoàn toàn độc lập do chính người dân mình xây dựng nên hay họ muốn nhà nước có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo?”

Người viết thư này có vẻ thuộc “diện” các anh chị em làm “công tác tư tưởng, văn hóa” của đảng Cộng Sản ở trong nước, mà lâu lâu vẫn viết email cho các tờ báo ở nước ngoài. Tòa soạn Người Việt cho biết đã nhận được nhiều thư của các độc giả khác để trả lời anh bạn tên Cường - có hai bức thư đăng trong cùng số báo này.

Nhận xét thứ nhất là những người có ý kiến chỉ trích đảng Cộng Sản Việt Nam không phải đều là những người của chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ, hoặc muốn phục hồi một nước Việt Nam Cộng Hòa dưới vĩ tuyến 17 như trước năm 1975! Gán ghép như vậy là các bạn vẫn bám víu lấy quá khứ! Trong tòa báo này có những bạn trẻ còn chưa mười tuổi khi chế độ Việt Nam Cộng Hòa chấm dứt năm 1975. Những người lớn tuổi hơn cũng không hề có ý muốn lập lại một chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũ ở Sài Gòn.

Nhưng tỏ ý tôn trọng chế độ Việt Nam Cộng Hòa là một thiện chí đáng khen. Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ mà vào năm 1975 có 15, 17 triệu người dân miền Nam đã sống. Nếu ai muốn tỏ ý tôn trọng thì nên nói với những người dân còn đang sống đó, và con cháu họ. Vì chính họ đang gánh chịu hậu quả của sự thay đổi chính trị. Nếu “tôn trọng chế độ Việt Nam Cộng Hòa” thì trước hết hãy tranh đấu làm sao cho chế độ “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa” bây giờ cũng được tự do đôi chút, ít nhất dễ thở bằng như thời trước 1975! Giảm bớt tham nhũng khoảng 90% cho ngang bằng thời Việt Nam Cộng Hòa thì dân sẽ mừng vô cùng, cả dân miền Nam lẫn dân miền Bắc. Làm sao cho học sinh trung, tiểu học vào trường công không phải đóng học phí, người bệnh đến nhà thương không phải mang theo bịch ni lông, không phải mua bông gòn, không cần hối lộ y tá, bác sĩ; đó là một cách tỏ lòng tôn trọng lối sống thời Việt Nam Cộng Hòa đấy. Tăng mức sống cho các giáo viên lên bằng được thời Việt Nam Cộng Hòa thì rất nhiều vấn đề giáo dục, đạo đức học đường sẽ được cải thiện. Hãy bảo vệ các quần đảo ngoài khơi như các chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã bảo vệ.

Chính những người dân trong nước đã sống qua trước 1975 bây giờ đang nuối tiếc chế độ Việt Nam Cộng Hòa; hơn là những người Việt sống ở nước ngoài. Cứ cho họ được nói tự do, tự do cho bằng thời trước 1975 thôi chưa cần nhiều hơn, thì họ sẽ nói hết cho mà nghe. Ngược lại, những người Việt ở nước ngoài, bây giờ nếu nhớ lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa họ sẽ thấy chế độ đó còn đầy những khuyết điểm. Họ tự bảo nhau đáng lẽ mình phải sửa đổi chế độ cho tốt hơn ngay từ thời đó mới phải.

Có thể quả quyết với các bạn: Ở nước ngoài không ai nuối tiếc để muốn xây dựng một chế độ Việt Nam Cộng Hòa y như cũ. Trái lại, nếu được sống dưới chế độ đó lần nữa, người ta biết cách làm sao cải thiện chế độ cho tốt hơn, vì bây giờ đã học được nhiều kinh nghiệm mới. Nhưng chỉ trong một chế độ tự do dân chủ thì người dân mới có cơ hội thay đổi. Còn trong chế độ đảng trị, độc quyền, chuyên chế thì khó lắm!

Ðiều cần “đả thông” thứ nhì là những người Việt sống ở nước ngoài, trong đó những người viết trên tờ báo này, không ai nỡ lòng nào “bôi xấu Việt Nam, nơi cha sinh mẹ đẻ” của họ cả. Các bạn có thấy người ta vẫn làm lễ giỗ Tổ Hùng Vương, diễn hành ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng tuẫn tiết hay không? Có biết mỗi năm ngày Trung Cộng chiếm Hoàng Sa người Việt ở California, ở Florida vẫn tưởng niệm các chiến sĩ bỏ mình khi bảo vệ tổ quốc hay không? Biết bao nhiêu độc giả thổn thức khi đọc những bài viết về quê hương Bến Tre trên báo Người Việt; hay bài tường thuật cảnh hội Bắc Ninh nghe tiếng Quan Họ ở ngay Tiểu Sài Gòn; các bạn biết hay không? Khi đọc một bài phóng sự ở Việt Nam, có biết bao nhiêu độc giả Người Việt viết thư hỏi địa chỉ Bà Chín để giúp bà tiếp tục việc nuôi dưỡng các cụ già, các bạn biết hay không? Trời đất ơi, có người Việt Nam nào lại nỡ lòng bôi xấu nước Việt Nam?

Ðảng Cộng Sản Việt Nam có lối vu vạ là ai không đồng ý với chế độ Cộng Sản tức là “chống lại nước Việt Nam!” Ai chỉ trích các chính sách của đảng Cộng Sản là gán cho họ tội “bôi xấu nước Việt Nam!” Lối vu oan giá họa đó do hàm ý là nước Việt Nam là sở hữu của đảng Cộng Sản. Ai chống họ là chống cả nước Việt Nam! Trong chế độ quân chủ chuyên chế người ta đề cao “trung quân,” lòng trung thành với vua là tuyệt đối. Hồ Chí Minh đề ra khẩu hiệu “Trung với Ðảng.” Nghiễm nhiên, đảng thay thế cho vua, hễ ai viết đến “đảng” là phải viết hoa.

Ở các nước quân chủ lập hiến như Thái Lan, Nhật Bản bây giờ, người dân phải tôn kính nhà vua, vì họ là biểu tượng của quốc gia. Nhưng người dân vẫn có quyền chỉ trích, đả phá các người làm thủ tướng, làm quan chức từ lớn đến nhỏ. Ở Việt Nam có nhà báo nào dám đả kích mấy ông Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng hay không? Người nào viết chỉ trích Huỳnh Ngọc Sĩ hay Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến tức là bôi xấu đảng, cũng gán cho người ta tội nói xấu nước Việt Nam hay chăng? Khi nhà văn Dương Thu Hương viết chuyện tả cảnh “lãnh tụ vĩ đại” có cô đào nhí bị đàn em cướp mất rồi đem giết, như thế là bà bôi xấu nước Việt Nam hay sao? Khi bà Trần Khải Thanh Thủy “chửi” bọn cường quyền đã cho bọn côn đồ tới đổ “Tư tưởng Hồ Chí Minh” đầy trước cửa nhà bà, như vậy là bà chống lại nước Việt Nam, bôi xấu nước Việt Nam, hay là chỉ chửi bọn du côn mà cái chế độ bọ xít thuê mướn cho quấy nhiễu bà? Có bao nhiêu chế độ quân chủ tàn ngược tới như vậy? Bây giờ các bạn còn muốn khuyên bảo người Việt sống ngoài vòng kiểm tỏa cũng không được nói lên những lời nói ngược với lỗ tai của đảng hay sao?

Lá thư của anh Cường nhắc tới những “thân nhân,”những “đồng bào... đã phải chịu đựng nhiều mất mát, nỗi đau và cả xương máu để giành lấy nền độc lập tự do cho thế hệ ngày nay.” Hãy hỏi những nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Dương Thu Hương, các nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Ðiếu Cầy, nhạc sĩ Tô Hải, giáo sư Hà Sĩ Phu, hãy hỏi xem thế hệ của họ và các con em của họ được hưởng thứ “độc lập, tự do” như thế nào? Các vị trên không ai liên can gì tới chế độ Việt Nam Cộng Hòa cả. Một nước mà các sinh viên không được phép bầy tỏ nỗi uất ức khi đất đai của tổ tiên bị chiếm đoạt, giới trí thức không được phép trình bày trước quốc dân mối lo khi tài nguyên bị đem bán, môi trường bị đe dọa; như vậy có độc lập và có tự do hay không? Hay là chỉ có những người thuộc giai cấp thống trị như Bà Hai Tâm mới có tự do, vì tất cả nước Việt Nam bây giờ thuộc về họ, họ tha hồ khai thác?

Cuối cùng, các vị trong ban tư tưởng, văn hóa đặt một câu hỏi nữa khi viết thư cho báo Người Việt:

“Tại sao các bạn không tự hỏi nhân dân Việt Nam muốn một nhà nước hoàn toàn độc lập do chính người dân mình xây dựng nên hay họ muốn nhà nước có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo?” Câu hỏi này rất hay, xin mang phổ biến cho tất cả đồng bào trong nước cùng đọc. Và nên tổ chức những cuộc hội thảo khắp nước để bàn về vấn đề này.

Ðề tài thảo luận là: Chúng ta muốn có một nhà nước độc lập, bảo vệ chủ quyền đối với nước ngoài hay không?

Những người làm báo Người Việt lúc nào cũng chủ trương nước Việt Nam phải độc lập, guồng máy nhà nước là của mọi người dân Việt chứ không do một nhóm độc quyền nào cả, do đó nhà nước phải do chính người dân Việt xây dựng để phục vụ người Việt. Vậy làm thế nào để mọi người dân Việt Nam có cơ hội xây dựng một nhà nước Việt Nam của chính họ?

Theo kinh nghiệm lịch sử loài người, dân chúng phải được tự do ứng cử, tự do bầu cử. Chỉ khi nào người dân được tự do chọn những người nắm quyền, thì lúc đó đất nước mới là của họ, họ là chủ nhân. Còn như cứ giữ chế độ độc tài theo lối Xít Ta Lin, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh, thì sao? Thì nhà nước chỉ là dụng cụ của đảng Cộng Sản, của những người như chị em bà Hai Tâm, cho họ sử dụng guồng mày nhà nước như của riêng họ. Xin lỗi, chúng tôi không có ý “bôi xấu” chị em bà Hai Tâm. Ông bà Hai Tâm mà tôi không quen biết có thể là những người hiền lành, lương thiện, với lòng yêu nước thương nòi. Nhưng khi đảng Cộng Sản cho họ cơ hội mua đất với giá rẻ do nhà nước bán, họ không mua là họ dại! Cái nhà nước này do đảng của họ nắm trong tay, như một người có con bò thì tha hồ vắt sữa. Có tới 40 đứa nó đang chia nhau ăn, mua đất công với giá rẻ mạt, tại sao mình lại phải nhịn không ăn?

Tới lúc được bán lại cho nhà nước những mảnh đất cũ, với giá đắt gấp 10 lần, 20 lần, mà ông bà Hai Tâm vẫn không chịu bán; chắc là vì họ nghĩ có anh em làm lớn còn giúp họ vắt ra được nhiều sữa hơn, tội gì không chờ ngày ăn nhiều hơn nữa? Trong một xã hội mà nhìn chung quanh thấy toàn những thằng ăn cướp trắng trợn làm giầu, toàn những cháu ngoan Bác Hồ chia chác nhau của công, họ đâu biết có một nền luân lý nào khác để mà theo?

Bây giờ lại tới lời nhắc nhở nói rằng người dân Việt Nam chỉ “muốn nhà nước có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo.” Xin hỏi các bạn rằng có bao giờ các bạn thấy trong những tờ báo, trên các đài phát thanh của người Việt Nam sống ở hải ngoại có thấy ai muốn Việt Nam “có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo” hay không? Báo Dân Chủ và Phát Triển ở Ðức mong nhà nước Việt Nam mời cố vấn Ðức chỉ đạo hay không? Nhóm Thông Luận ở Pháp, nhóm Dân Việt ở Úc, Thời Báo ở Canada; có ai muốn cố vấn các nước tới đó chỉ đạo cho một nhà nước Việt Nam trong tương lai hay không?

Như vậy thì những người nào muốn nhà nước Việt Nam “có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo?” Ðiều này nên hỏi thẳng các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng.

Nếu họ ấm ớ không nói được thì xin hỏi các ông Ðiếu Cầy, bà Trần Khải Thanh Thủy, vì đó là những người dám nói thẳng!

Chớ nên vu cáo người Việt khác là không yêu nước Việt Nam bằng mình và bôi xấu nước Việt Nam. Chính những người dựng lên một chế độ độc quyền tham nhũng, độc quyền thối nát, dùng chính sách tàn bạo khiến cho hàng triệu người Việt phải liều chết bỏ nước ra đi; chính đó là bọn người đã bôi xấu nước Việt Nam. Chính bọn người dựng lên một nhà nước toàn những thằng ăn cắp, ăn cắp cả tiền viện trợ cho dân Việt khiến các chính phủ cho tiền phải đưa công dân nước họ ra tòa làm gương; chính đám người đó là những kẻ đang làm xấu mặt dân tộc Việt Nam trên khắp thế giới!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

THÁI LAN VÀ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN

Đỗ Thái Nhiên
Ngày 11/04/09, 09 nhà lãnh đạo các quốc gia Á Châu có mặt tại Thái Lan để tham dự hội nghị Thượng Đỉnh ASEAN. Hội nghị này được tổ chức tại Pattaya 140 cây số Đông Nam Bangkok. Tuy nhiên, trước giờ hội nghị khai mạc, những người biểu tình chống chính phủ đã tràn ngập trung tâm hội nghị. Họ đòi hỏi thủ tướng Abhisit Vejjajiva và toàn bộ nội các Thái từ chức. Tình hình căng thẳng đến độ chính phủ Thái Lan phải quyết định hủy bỏ hội nghị. Đồng thời dùng trực thăng di tản các nhà lãnh đạo ra khỏi khu vực bị những người biểu tình bao vây. Ông Abhisit Vejjajiva, thủ tướng Thái gọi những người biểu tình là “kẻ thù của Thái Lan”.

Ngày 13/04/2009 binh sĩ Thái Lan đã nổ súng để dẹp biểu tình. Ngựơc lại những người biểu tình không ngừng ném đá về phía quân đội. Số người bị thương lên tới 70 người. Những khủng hoảng vừa qua chẳng những làm mất uy tín chính trị của Thái Lan trên trường quốc tế mà còn gây thiệt hại 8 tỉ Mỹ kim cho ngành du lịch Thái. Được biết, trong khoảng thời gian chưa tới hai năm, Thái Lan đã có năm lần thay đổi chính phủ.

Tin tức từ Việt Nam cho biết kể từ ngày 11/04/2009 và các ngày kế tiếp hệ thống truyền hình CSVN liên tục chiếu cho dân chúng Việt Nam xem những cảnh rối loạn tại Thái Lan. Bằng vào hành động vừa kể chế độ Hà Nội muốn nói với quần chúngViệt Nam rằng dân chủ đa nguyên đồng nghĩa với rối loạn và rằng chỉ có kiến trúc chính trị độc đảng kiểu CSVN mới mang lại ổn định cho xã hội Việt Nam.

Từ Úc Đại Lợi, giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc khi đề cập tới những ảnh hưởng chính trị của tình hình Thái Lan đối với Việt nam đã nhận định như sau: “Giống như những gì đã xảy ra tại Liên Xô và Nam Tư, truyền hình Việt Nam sẽ chiếu rộng rãi hình ảnh bạo lực ở Thái Lan với ý răn đe: đây là những gì đi kèm đa nguyên đa đảng.”

Phải chăng rối loạn là hậu quả tất nhiên của dân chủ đa nguyên? Phải chăng Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn là chấp nhận và tuân phục chế độ Hà Nội độc tài, tham ô và bán nước ? Muốn có câu trả lời thích nghi và chừng mực đối với các thắc mắc vừa nêu, chúng ta cần nhìn lại lịch sử của Thái Lan trong các thập niên qua.

Từ tháng 06/1932 Thái Lan bắt đầu đi những bước chập chửng tìm tới dân chủ. Thế nhưng. mãi cho tới 1997 Thái Lan mới có một hiến pháp thực sự dân chủ. Dân chủ từ tư cách lập hiến của quốc hội cho đến nội dung của hiến pháp. Căn cứ vào Hiến Pháp Nhân Dân 1997, tháng 01/2001, lần đầu tiên trong lịch sử Thái Lan, nhà cầm quyền tại đây đã tổ chức một cuộc bầu cử được cả thế giới ghi nhận là hoàn toàn tự do và trong sáng. Cuộc bầu cử này cho thấy đảng Thái Rak Thái do ông Thaksin Shinawatra sáng lập đã toàn thắng với số phiếu áp đảo. Từ đó ông Thaksin trở thành vị thủ tướng Thái xuất thân từ những thủ tục ứng cử và bầu cử hoàn toàn tôn trọng pháp chế dân chủ. Ở cương vị thủ tướng dân chủ ông Thaksin Shinawatra thi hành chính sách giảm nghèo cho nông thôn một cách hữu hiệu. Mặt khác Thaksin còn thiết lập được một mạng lưới y tế phục vu toàn dân. Vì vậy dư luận Thái Lan gọi Thaksin là thủ tướng của người nghèo.

Tuy nhiên, “Càng cao danh vọng, càng dày gian nan”. Bên cạnh những thành công ngoạn mục kia Thaksin phải không ngừng chống trả vô số búa rìu của phe đối lập. Những người chống đối lên án Thaksin thiếu lòng tôn kính nhà vua, mị dân, tham nhũng, độc đoán, vi phạm nhân quyền, không thân thiện với báo chí… Các cáo buộc vừa kể chỉ diễn ra dưới hình thức tiếng nói của đường phố, thay vì được phân xử bởi pháp chế dân chủ.

Vượt lên trên những ồn ào của đường phố, tháng 01/2005 Thaksin Shinawatra đắc cử vẻ vang thủ tướng Thái Lan nhiệm kỳ 2. Đảng Thái Rak Thai của Thaksin chiếm 374 ghế trong tổng số 500 ghế của quốc hội. Kết quả vừa nêu làm gia tăng cường độ giận dữ của phe đối lập.

Ngày 23/01/2006 gia dinh Thaksin bán toàn bộ phần hùn của ho trong công ty Shin Corporation cho một công ty Singapore. Những người chống đối lên án Thaksin đã gian lân giá cả thị trường và tiền thuế trong vụ mua bán vừa kể.

Ngày 04/02/06, ngày 11/02/06 tại Bangkok hàng trăm ngàn người biểu tình chống Thaksin.

Ngày 24/02/2006 Thaksin tuyên bố giải tán quộc hội nhằm làm giảm nhẹ những căng thẳng chính trị.

Ngày 03/04/2006 Thaksin thắng lớn trong cuộc thăm dò dân ý với mục đích thành lập chính phủ dân chủ thống nhất.

Ngày 26/04/2006 Vua Bhumibol từ chối bổ nhiệm thủ tướng mới. Nhà vua cho rằng: “Thỉnh cầu quốc vương bổ nhiệm thủ tướng là không dân chủ. Đó là điều không hợp lý.”
Ngày 19/09/2006 quân đội Hoàng Gia Thai lật đổ chính phủ dân cử Thaksin.

Ngày 01/10/2006 vua Bhumibol bổ nhiệm tân thủ tướng, đồng thời phê chuẩn phê chuẩn hiến pháp lâm thời do Hội Đồng Cải Cách Dân Chủ đệ trình. Quyết định của nhà vua có ý nghĩa vừa xé bỏ hiến pháp dân chủ 1997, vừa đoạn tuyệt với pháp chế dân chủ chính thống.

Ông Abhisit Vejjajiva đương kim thủ tướng Thái là thủ tướng thứ năm sau đảo chánh quân sự 19/09/2006. Mặc dầu đã bị truất phế từ năm 2006, ông Thaksin Shinawatra vẫn là trung tâm của tình trạng chia rẽ trầm trọng tại Thái Lan. Ba lần thắng cử của Thaksin (01/2001, 01/2005, 04/2006) là dấu hiệu cho thấy Thaksin được đông đảo quần chúng nghèo khổ ở thành thị và nông thôn ủng hộ. Khối quần chúng này mặc áo đỏ, gọi là Khối Áo Đỏ. Khối này đã làm cho hội nghị thượng đỉnh ASEAN không thể nhóm họp ngày 11/04/2009. Đối đầu với áo đỏ là áo vàng. Phe Áo Vàng gồm những người bảo hoàng, đựoc sự đồng tình của hoàng tộc, quân đội, công nhân viên chính phủ đương nhiệm.

Trận đấu Đỏ và Vàng chỉ là trận đấu chiếm phi trường, ngăn cản hội nghị ASEAN nhóm họp, phá hủy kỷ nghệ Du Lịch của Thái Lan, làm mất uy tín Thái Lan trên trường quốc tế. Trận đấu Đỏ và Vàng có ba bệnh thái sau đây:

1) Dân chủ đa nguyên đòi hỏi mọi người phải tôn trọng luật chơi đa nguyên. Luật chơi đa nguyên ở Thái Lan chính là Hiến Pháp Dân Chủ 1997.Hiện tình Thái Lan không là hậu quả của dân chủ đa nguyên mà chính là hậu quả của sự việc con người xé bỏ luật đa nguyên 1997.

2) Trên sân chơi đa nguyên, con người cần triệt để tôn trọng lá phiếu của người dân. Xin đừng tin rằng ma thuật chiếm phi trường, chiếm trung tâm hội nghị có thể thay thế được quyền lực của lá phiếu. Phe Áo Đỏ kêu gào tôn trọng lá phiếu của người dân. Phe Áo Vàng tránh né phổ thông đầu phiếu bằng những toan tính dùng uy quyền của nhà vua cọng với họng súng của quân đội để đè bẹp tiếng nói của lá phiếu.

3) Quyền hạn của nhà Vua không được hiến pháp qui định rõ ràng. Nhà Vua quyết định tiền hậu bất nhất. Ngày 26/04/06 Vua tuyên bố bổ nhiệm thủ tướng là không dân chủ. Ngày 01/10/2006 Vua bổ nhiệm tân thủ tướng. Sự thể này làm cho cuộc chiến đấu giữa Đỏ và Vàng trở nên rối bời, vô nghĩa.

Ba bệnh thái của hiện tình Thái Lan là sự hối thúc mạnh mẽ người Thái Lan hãy tìm đến một phương pháp luận thích nghi. Phương pháp rằng: muốn cho xã hội Thái trở về với ổn định và phát triển, nhân dân Thái Lan cần phải thực hiện bốn công việc sau đây:

Một là bầu cử quốc hội lập hiến.

Hai là quốc hội lập hiến làm ra hiến pháp mới. Trong hiến pháp này, vai trò và quyền hạn của nhà vua cần phải được minh định rõ ràng.

Ba là căn cứ vào hiến pháp mới, người Thái Lan bầu ra nhà cầm quyền mới.

Bốn là giữa người Thái Lan với nhau phải có lời cam kết mạnh mẽ rằng: mọi tranh chấp trong sinh hoạt dân chủ đa nguyên phải đươc tòa án phân xử theo đúng pháp chế dân chủ. Vĩnh viễn từ giả những động tác hoàn toàn phản dân chủ kiểu chiếm phi trường, chiếm trung tâm hội nghị, phá hoại kỹ nghệ du lịch…

Nói tóm lại, căn bệnh của Thái Lan là bệnh nhảy ra ngoài sân chơi của dân chủ đa nguyên. Rối loạn xảy ra bên ngoài sân chơi của dân chủ đa nguyên. Thuốc chửa dành cho căn bệnh Thái Lan là liều thuốc kéo xã hội Thái Lan trở vào bên trong sân chơi của dân chủ đa nguyên. Những điều vừa trình bày cho thấy luận cứ cho rằng thể chế dân chủ đa nguyên là nguồn cội của mọi rối loan tai Thái lan hiển nhiên là kiểu tuyên truyền thô thiển và gian trá của chế độ Hà Nội. Tuyên truyền như vừa kể Hà Nội có gian ý:

Xuyên tạc tính văn minh và ổn dịnh của thể chế dân chủ đa nguyên.

Phá hoại nổ lực tìm đến dân chủ đa nguyên của lịch sử Việt Nam.

Ngấm ngầm thuyết phục quần chúng Việt Nam tin rằng: chỉ có chế độ độc tài, tham ô và bán nước kiểu CSVN là chế độ duy nhất xứng đáng thống trị đất nước Việt Nam vĩnh viễn.

Đỗ Thái Nhiên
\

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Người Việt Nam ở Đức... Tưởng như huyền thoại

Image

Dr. Rupert Neudeck, ân nhân của người tị nạn Việt Nam
Hầu như bất kỳ chuyện gì người trong chính giới và xã hội Đức cũng đều có thể hình dung ra được, duy chỉ có điều này thì không: Vào năm 2009 tại Đức không cần phải bàn cãi gì nữa, nhóm người gốc ngoại quốc có thành quả hội nhập tốt đẹp nhất chính là những người Việt Nam. Tập thể người Việt, khoảng 80.000, rất thành công, không những trong việc học tiếng Đức, mà còn qua những đợt lấy bằng tú tài, kỳ thi cử đỗ đạt giỏi nhất.
Người Việt Nam đã trở thành những người con đáng yêu của tổ quốc, bởi vì họ đã thành công vượt trội hơn tất cả các nhóm người ngoại quốc khác (ít nhất là cho tới lúc này).

Nhóm chúng tôi, những người mà trong năm 1979 đã phải đương đầu với những chống đối mãnh liệt của chính sách nhà nước, đâu có ai đoán trước được cái thành quả ấy? Hồi ấy chúng tôi trong đầu chỉ có mỗi cái thôi thúc mang tính chất chủng tộc, mà chính cái đức tin Thiên chúa giáo cũng đòi hỏi chúng tôi là phải cố gắng cứu những người trước mắt đang gặp hiểm họa chết chóc và bị giết.

Sự kiện đó thật rõ ràng, nhưng trong giới cầm quyền thì lại chẳng mấy ai hiểu cả. Họ cứ mải lo tìm kiếm những kẻ có thẩm quyền và phó mặc cho chuyên gia để cuối cùng biết đâu lại có thêm một mớ các bản giám định chồng chất nữa, nhưng rồi chẳng cứu được một thuyền nhân tỵ nạn nào cả.
Riêng chúng tôi thì chỉ muốn thực hiện ngay một cái gì đó, mà cũng không ưa chuyện đề cử một chuyên gia về luật hàng hải, kẻ đó chỉ gây thêm phiền toái và trở ngại cho công việc của chúng tôi mà thôi. Chiến dịch này đã được sự tiếp tay của hàng triệu công dân Đức, nam cũng như nữ, hồi ấy họ đã yểm trợ con tàu, mà không hề biết đến cái tổ chức đó. Chiến dịch ấy đã trở thành sự khởi xướng lớn nhất của quần chúng và thành công nhất ở nước Đức kể từ năm 1949. Với con tàu đầu tiên, phát xuất vào ngày 09 tháng tám 1979, chúng tôi đã vớt được tổng cộng 9.507 người Việt. Rồi với con tàu thứ hai (từ tháng ba tới tháng sáu 1986) chúng tôi lại cứu được 888 thuyền nhân tỵ nạn. Tàu thứ ba, mà chúng tôi thực hiện chung với ông Bernard Kouchner, bây giờ là ngoại trưởng Pháp, và tổ chức "Y khoa cho thế giới" của ông, lại thêm được 905 người Việt được vớt lên từ những chiếc ghe chạy sông chở khẳm mà trang bị lại quá sức sơ sài. Hầu hết số người đó đã đến định cư tại Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Hàng triệu đồng hương người Đức của tôi, rất nhiều người đã đích thân góp phần đáng kể: Ở đây tôi chỉ xin kể ra năm người:
Heinrich Böll, không có ông ta thì tổ chức đã không hình thành được.
Dieter Hildebrannt gửi cho chúng tôi 1.000 Đức Mã đầu tiên và viết trong thư: "Cái ý tưởng đó thật là điên rồ, nhưng tôi lại chịu những người có những ý tưởng điên rồ như vậy !" Rồi Thống đốc tiểu bang Niedersachsen Ernst Albrecht, người bạn sốt sắng nhất trong các chiến dịch này, sau đến Johannes Rau, thời đó là Thống đốc tiểu bang Nordrhein Westphalen. Sau cùng là Franz Alt, hồi đó là người đã dùng tiếng nói của mình, ra rả vận động trong công chúng không biết mệt mỏi và đặc biệt luôn luôn ủng hộ mọi công việc của chúng tôi hết mình.

Những thuyền nhân đầu tiên đã tới Đức ngày 03 tháng 12 1978, thuộc nhóm một ngàn người đã được Thống đốc Albrecht đón nhận một cách can đảm và quảng đại, bởi vì ông hiểu rằng, với tư cách là Thống đốc, ông không thể nào xoa dịu được tất cả những khổ đau của thế giới này, cũng như không thể giải quyết được tất cả các vấn đề, nhưng ở đây ông có thể can đảm hứa nhận đón người. Và ông cũng đã làm điều ấy !
Tàu Cap Anamur đầu tiên hoạt động đến năm thứ ba thì chúng tôi bị dập một cú trước mũi tàu. Chính quyền các tiểu bang Tây Đức lo sợ điều mà người ta hồi đó rêu rao, là không chừng chúng tôi "dám vớt sạch cả biển Đông lắm". Và phải chận điều đó lại mới được. Hành động có tính chất tượng trưng, rồi tới cả mấy ngàn, nhưng làm việc thiện gì thì cũng có giới hạn thôi!

Có câu chuyện rất thú vị mà chúng tôi được nghe kể từ cuộc họp nội các tiểu bang Nieder-sachsen: Chúng tôi, những kẻ chuyên tạo rắc rối cho nhà Chung và xã hội, lại có đầy người tỵ nạn trên chiếc tàu Cap nhỏ bé của mình. Tôi gọi điện cho ông Albrecht và hỏi xem ông ta có thể nhận thêm trăm người tỵ nạn quá số lượng đã phân chia được không, ông chấp thuận ngay. Tôi phải gửi bằng fax cho ông một bức thư ngắn - hồi đó tôi đã học được điều này.

Image
Cap Anamur, hải đảo của người tị nạn Việt Nam

Tới kỳ họp nội các ở Hannover, ông Albrecht báo tin ấy: Chúng ta lại nhận thêm trăm người do tàu Cap Anamur cứu. Bộ trưởng Nội vụ thời ấy là Möcklinghoff đã viết vào mảnh giấy: "Nhưng mình không còn chỗ nữa. Möcklinghoff !" Rồi đẩy mảnh giấy ấy đến chỗ ngài Thống đốc. Ông viết vào phía dưới mảnh giấy đó: "Thế thì ông hãy tạo ra chỗ mới đi! Albrecht". Khi ấy là giờ hoàng đạo của xã hội Đức - Không chỉ riêng cho phía nhà Chung, hồi ấy thái độ của họ có vẻ còn lưỡng lự lắm. Nhưng trong tất cả các giáo xứ Đức thì người ta tích cực vô cùng , để thêm chỗ trống đón nhận những "damnes de la mer" ("những kẻ khốn cùng ngoài biển").

Giờ thì chẳng có nhầm lẫn gì nữa và cũng không ai nghi ngờ gì cả: Tập thể người Việt Nam ở đây tạo thịnh vượng thêm cho xã hội Đức, họ làm người Đức chúng ta được hãnh diện. Ngay cả nếu như Việt Nam thay đổi chế độ và đa số người Việt trở về quê hương thì họ cũng sẽ để lại trong chúng ta một kỷ niệm rất ư là nồng nàn, sống động.
Trong xã hội Đức hiếm khi thấy tổ chức NRO, một hình thức tổ chức phi chính phủ hoàn toàn do dân chúng gánh vác như hồi những năm 1979 – 1986. Về phía các quốc gia thì chỉ có một lần được sự trợ giúp của Cộng đồng Âu châu. Vào năm 1983 quốc hội Âu châu đã bỏ phiếu cho một nghị quyết do dân biểu Horst Langes đề ra. Chúng tôi được mời tới Strassburg để chứng kiến quốc hội, thời đó có những nhân vật nổi tiếng như Willy Brandt, Heinz Oskar Vetter, Enrico Berlinguer, thuộc ban chấp hành đảng cộng sản Ý, đồng bỏ phiếu thuận cho nghị quyết và chúng tôi đã nhận được 60.000 Đức Mã.
Người Đức chúng ta, giờ đây bao gồm cả 80.000 người Đức gốc Việt, hãy nhận như một lời nguyện suốt đời. Bất kỳ nơi đâu, trên mặt đất, dưới nước hay trên trời, nếu có người bị tra tấn, hành hạ, bị theo dõi, xua đuổi, bị đánh đập, ép buộc lao động, bị giam giữ dưới các chế độ xâm chiếm, chúng ta phải can thiệp cho họ.
Công tác cứu vớt trên biển Đông dù thành công, vẫn đòi hỏi chúng ta bây giờ, năm 2009 này, phải tiếp tục. Dầu là A Phú Hãn, Ruanda, dầu là Zimbabwe hay Kaschmir, Palestin hay Mauretanien, nó vẫn mãi là cái qui tắc muôn đời của người Samariter trong câu chuyện ngụ ý trong sách Phúc âm: Ai trong bọn họ là người đã có tình đồng loại, cứu giúp những người Việt Nam bị hiểm nguy chết đuối trên biển Đông?
Chính là những người Đức đồng hương của tôi!!
Họ luôn sẵn sàng và có thể tiếp tục đảm nhận những việc thiện cao quý khác.


Dr. Rupert Neudeck
Nhân buổi Lễ Kỷ niệm 02.05.2009 tại München vào dịp 30 năm CAP ANAMUR và việc CỨU VỚT NGƯỜI


Image
Thuyền trưởng Rupert Neudeck

Die Vietnamesen in Deutschland

... fast ein Mythos!

Zu der Gedenkfeier in München am 2. Mai 2009 aus Anlaß von 30 Jahren CAP ANAMUR und MENSCHENRETTUNG

Fast alles hätte die deutsche Politik und die deutsche Gesellschaft annehmen können, nur das nicht: Dass es 2009 in Deutschland keine Debatte und keinen Streit darüber gibt, dass die bestintegrierte Gruppe ausländischer Herkunft die Vietnamesen sind. Etwa 80.000 Vietnamesen, das sind diejenigen, die es geschafft haben, die deutsche Sprache nicht nur zu lernen, sondern auch die besten Abiture, die besten Examina zu machen.
Die Vietnamesen sind geradezu die Lieblinge der Nation geworden, weil es mit ihnen so gut geht wie bisher mit keiner ausländischen Gruppe (bisher jedenfalls!) .
Wer von uns, die wir uns 1979ff großen und heftigen Widerständen der Politik gegenübersahen, hätte das für möglich gehalten? Wir hatten ja damals nur den ethnischen Imperativ im Kopf, den uns auch unser christlicher Glaube verpflichtend machte: Menschen, die vor unseren Augen in Gefahr sind, zu sterben und getötet zu werden, muss man versuchen zu retten.
Das ist sehr klar, nicht so klar ist es in der verwalteten Welt. Dort sucht man nach den Zuständigen und den Experten und hat am Ende vielleicht mehrere Gutachten aufeinandergestapel t, aber nicht einen einzigen dieser Bootsflüchtlinge gerettet.
Wir aber wollten nur etwas tun, wir wollten nicht einmal einen Seerechtsreferenten anstellen, der uns ganz sicher bei dem Unternehmen nur Hindernisse in den Weg gelegt hätte.
Die Aktion wurde getragen von Millionen deutscher Bürgerinnen und Bürgern, die damals für das Schiff gespendet haben, ohne die Organisation zu kennen. Es war dieses die größte und erfolgreichste Bürgerinitiative in deutschen Landen seit 1949. Mit dem ersten Schiff, das wir am 9. August 1979 in Dienst stellten, haben wir insgesamt 9507 Vietnamesen aus dem Wassergezogen. Mit dem zweiten Schiff (März bis Juni 1986) haben wir erneut 888 Bootsflüchtlinge retten können. Mit dritten Schiff, das wir mit dem jetzigen französischen Außenminister Bernard Kouchner und seiner Organisation „Medecins du Monde“ zusammen organisiert haben, konnten wieder 905 Vietnamesen in völlig unzureichend ausgerüsteten und überfüllten Flussboote dem Wasser entrissen werden.
Fast alle kamen in die Bundesrepublik Deutschland.
Es waren Millionen meiner Mitbürgerinnen und Mitbürger, es waren auch viele Einzelpersonen, die daran entscheidenden Anteil hatten: Ich nenne hier jetzt nur fünf:
Heinrich Böll, ohne den der Verein gar nicht hätte aus der Taufe gehoben werden können. Dieter Hildebrandt, der uns die ersten 1000 DM schickte und dazu schrieb: „Das ist zwar eine verrückte Idee, aber ich liebe Menschen mit verrückten Ideen!“
Dann war es der Ministerpräsident von Niedersachsen Ernst Albrecht, der der bereitwilligste Freund dieser Aktionen war, es war auch Johannes Rau, der damals Ministerpräsidenten von Nordrhein Westfalen war. Und last but not least – Franz Alt, der mit seiner Stimme damals eine unerbittliche Nervensäge in der Öffentlichkeit war und besonders unsere Aktion immer unterstützt hat.

Die ersten kamen schon am 3. Dezember 1978, sie waren die tausend, die beherzt und großzügig der Ministerpräsident Albrecht aufgenommen hatte, weil er sich klar war: Er kann als MP nicht alle große Elend dieser Welt lindern und alle Probleme lösen, aber hier kann er beherzt etwas zusagen. Und er TAT das auch.
Wir haben dann im 3. Jahr der ersten CAP ANAMUR einen Schuß vor den Bug bekommen. Die Regierungen der westdeutschen Bundesländer hatten Angst, wie man damals sagte, dass wir „das ganze chinesische Meer leer retten“ würden. Und das musste verhindert werden. Symbolische Aktionen, auch ein paar tausend, aber es muss sich das Gutes Tun doch in Grenzen halten.
Wunderbar die Szene, die uns vom niedersächsischen Kabinettstisch berichtet wurde:
Wir hatten als kirchlich und gesellschaftlich geprüfte Quälgeister wieder den Kahn Cap Anamur voll mit Flüchtlingen. Ich rief den Albrecht an und fragte ihn, ob er über seinen Proporz gleich mal hundert wieder aufnehmen würde, sagte er sofort zu. Ich musste ihm – das lernte ich damals – ihm einen kurzen Brief mit dem Telefax zusenden.
Albrecht gab am Kabinettstisch in Hannover bekannt: Wir nehmen erneut hundert Leute, die von der Cap Anamur gerettet wurden, auf. Da schrieb der damalige niedersächsische Innenminister Möcklinghoff auf einen Zettel: „Wir haben aber keine Plätze. Möcklinghoff!“
Und schon den Zettel auf dem Kabinettstisch zum Ministerpräsidenten. Darauf schrieb Ministerpräsident Albrecht darunter:
„Dann machen Sie welche! Albrecht“ das war damals eine Sternstunde der Deutschen Gesellschaft-
Nicht allein der Kirchen, die haben sich eher politisch verhalten. Aber in allen Gemeinden Deutschlands gab es ein Stühlerücken, um diese „damnes de la mer“, (dt. die „Verdammten der Meere“) aufzunehmen.

Es ist heute unbeirrbar klar und wird von niemandem mehr bezweifelt: Diese Vietnamesen tun der deutschen Gesellschaft gut, sie tun uns als Deutschen gut. Selbst wenn sie bei einem Regimewechsel in Vietnam einfach in der Mehrheit wieder zurückgehen würden, sie würden eine lebhafte große Erinnerung zurücklassen.
Die Selten ist in der deutschen Gesellschaft eine NRO, eine Nicht Regierungs-Organisa tion so allein von den Bürgern getragen worden wie in den Jahren 1979 bis 1986. Es gab von Seiten der Staaten nur einmal eine Zuwendung von Seiten der europäischen Gemeinschaft. Das Europa Parlament stimmte 1983 eine Resolution ab, die der Abgeordnete Horst Langes eingebracht hatte. Wir wurden dafür eingeladen nach Strassburg, Und wir haben zugeschaut, dass das Parlament, dem damals so illustre Leute wie Willy Brandt, Heinz Oskar Vetter, Enrico Berlinguer, der Chef der italienischen Kommunisten angehörte, alle einstimmig diese Resolution unterstützen und wir 60.000 DM bekamen.

Wir Deutschen, jetzt mit Einschluß der 80.000 vietnamesischen Deutschen, sollten das als ein Versprechen in unserer Lebenszeit nehmen. Immer da, ob zu lande zu wasser oder in der Luft, Menschen gefoltert, gequält, verfolgt, gejagt, geschlagen, zur Zwangsarbeit gezwungen, unter Besatzungsregime gehalten werden, da müssen wir uns für sie einsetzen.
Die erfolgreiche Rettungsaktion auf dem südchinesischen Meer fordert von uns Fortsetzungen auch in unseren Tagen, auch in den Jahren 2009ff. Ob das Afghanistan, Ruanda, ob das Zimbabwe oder Kaschmir, ob das Palästina oder Mauretanien ist, es geht immer um das Urgesetz des Samariters aus dem Gleichnis im Evangelium: Wer war denen der Nächste, der den vom Tod durch Ertrinken bedrohten Vietnamesen auf dem Südchina Meer geholfen hat? Es waren meine deutschen Landsleute!!
Sie sind zu weiteren humanitären Großtaten bereit und in der Lage.

Dr. Rupert Neudeck

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Việt Nam, Hàn Quốc và Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng
Vào thế kỷ thứ 7, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều được nhà Ðường bên Trung Quốc chiếu cố bằng chính sách bành trướng. Vua Cao Tông nhà Ðường sai Tiết Nhân Quý (Xue Renguy) chinh phục xứ Cao Ly, lúc đó họ đang chia làm ba nước, rồi nhà Ðường lập An Ðông Ðô Hộ Phủ vào năm 668 để cai trị Triều Tiên. Rút kinh nghiệm đó Cao Tông cũng sai lập An Nam Ðô Hộ Phủ vào năm 679 để cai trị 12 châu của xứ Giao Châu cũ.

Dân Cao Ly chống ngoại xâm giỏi hơn dân Việt. Năm 676 một đạo quân của nước Silla từng liên kết với quân Ðường đã quay ngược lại, đánh thắng được quân Ðường. Họ phải đợi tới năm 761 mới chấm dứt chế độ Ðô Hộ Phủ, giành độc lập và dần dần thống nhất quốc gia. Một phần họ cũng nhờ quân Ðường phải rút về vì quân Tây Tạng đang tiến đánh đe dọa cả kinh đô Trường An. Còn dân Việt Nam ta phải đợi lâu hơn một thế kỷ nữa, tới năm 906, khi nhà Ðường suy sụp mới có ông Khúc Thừa Dụ tự lập lên làm Tiết Ðộ Sứ. Tuy nhiên ông vẫn xin vua nhà Ðường phong nhậm; mãi đến đời Ngô Quyền vào năm 939 nước ta mới thật sự độc lập.

Trong hơn một ngàn năm sau đó, các nước Triều Tiên và Việt Nam vẫn giữ phận nước nhỏ, mặc dù độc lập nhưng vẫn thần phục và triều cống các hoàng đế Trung Hoa.

Ngày nay, Hàn Quốc cũng chia đôi, không khác gì thời “Tam Quốc” trước đây 14 thế kỷ. Nhưng họ may mắn còn một nửa đất nước vẫn độc lập và đang trở thành một quốc gia hùng cường ở Á Ðông. Người dân Nam Hàn không chịu cảnh một ngàn năm bị đô hộ như dân Việt, và cũng không lo bị quân Trung Cộng đánh như hồi 1950; nhưng dân Nam Hàn vẫn đang quan tâm lo ngại về kế hoạch bành trướng của Trung Quốc về mặt kinh tế khiến họ phải lấn áp các nước chung quanh. Giữa Tháng Tư năm 2009 bộ Tài chánh ở Seoul đã công bố một tài liệu nêu lên mối đe dọa vì chính phủ Bắc Kinh đi tìm tài nguyên quặng mỏ bằng cách liên kết thương mại hoặc mua chuộc các chính quyền tham nhũng ở các nước chưa mở mang. Bản báo cáo nói rằng chương trình đó của Bắc Kinh có thể làm cho “các nỗ lực của Hàn Quốc trong việc nhập cảng tài nguyên thiên nhiên sẽ bị lâm nguy.” Bản báo cáo kết luận kêu gọi chính phủ Seoul phải tìm các biện pháp đối phó với kế hoạch bành trướng của Trung Quốc. Những ý kiến công khai này đã gây ra một cơn sốt ngoại giao mà sau đó chính phủ hai nước phải tìm cách làm cho nguội bớt.

Gần đây, Triều Tiên Nhật báo (Chosun Ilbo) ở Seoul đã viết một bài xã luận về mối đe dọa của Trung Quốc. Trong bài báo đó họ nêu lên một thí dụ về thái độ trịch thượng của chính quyền Trung Quốc là việc chính phủ Pháp phải “kéo cờ trắng” trước áp lực của Bắc Kinh. Bên lề cuộc họp Khối G 20 ở London, Tổng Thống Nicolas Sarkozy phải công khai tuyên bố xác nhận nước Pháp không bao giờ ủng hộ Tây Tạng độc lập. Nhưng điều “nhục nhã” mà báo này nêu lên, là vị tổng thống nước Pháp phải đích thân đến phòng ông Hồ Cẩm Ðào để “triều kiến” ông trùm đảng Trung Quốc, người chủ tịch đảng Cộng Sản đang ngồi trên ngai vàng của Ðường Cao Tông ngày xưa.

Chính phủ Nam Hàn và báo chí ở Seoul có “thù nghịch” với Trung Quốc hay không? Không thù nghịch mà còn giao hảo. Nhưng không phải vì thế mà họ không công bố những ý kiến bất đồng. Và chính phủ Hàn Quốc cũng không cấm báo chí không được nói xấu về Trung Quốc. Không có tờ báo “Du lịch” nào ở Seoul bị đóng cửa vì chỉ trích nước láng giềng vĩ đại.

Hàn Quốc không thể coi Bắc Kinh là kẻ thù; mà ngược lại phải coi đó là “đồng minh khách quan,” vì chỉ có cộng sản Trung Quốc mới có thể tạo sức ép trên chính quyền cộng sản ở Bắc Hàn, và chia sẻ ảnh hưởng của Nhật Bản trong vùng Ðông Á. Trung Quốc là nước đứng hàng đầu trong hoạt động ngoại thương của Nam Hàn, mỗi năm có gần 6 triệu người đi lại giữa hai quốc gia. Các công ty Nam Hàn từ Sam Sung tới Kia đang đầu tư 40 tỷ Mỹ kim trong lục địa Trung Hoa. Về mặt kinh tế thì hai quốc gia liên kết với nhau theo thế “môi hở răng lạnh!” Một câu ngạn ngữ ở Hàn Quốc là “Gà gáy ở Sơn Ðông thì bên Cao Ly cũng nghe thấy.”

Nói đến gà gáy lại nhớ tới bài hát “Việt Nam, Trung Hoa núi liên núi, sông liền sông” của Ðỗ Nhuận viết dưới thời Hồ Chí Minh trị vì, trong đó có câu cực tả (cường điệu) nói dân hai nước (ở Quảng Tây và ở Lạng Sơn, dân Vân Nam cùng dân Lào Cay) cùng nghe thấy tiếng gà gáy sáng với nhau: “Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng!”

Ở nước ta bây giờ, nhiều người dân Quảng Tây của Trung Quốc cũng đang nghe được tiếng gà gáy ở Việt Nam, nhưng không phải chỉ tiếng gáy ở Lạng Sơn mà là tiếng gà ở tận Quảng Nam lận! Hôm qua Nhật báo Người Việt đã thuật lại những chi tiết do tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị tường thuật là có cả một làng công nhân Trung Quốc đã lập nên ở tỉnh Quảng Nam từ mấy năm nay. Báo chí trong nước cho biết có hàng chục ngàn công nhân Trung Quốc đã sang Việt Nam làm việc từ nhiều năm qua ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Cà Mau, và bây giờ vào tận Ðắc Nông! Công nhân đi tới đâu mang theo cả các đầu bếp đi theo nấu nướng cho hợp khẩu vị! Họ được chính quyền cộng sản Việt Nam hoan nghênh để thể hiện hình ảnh “Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng!”

Ở thôn Cà Dầu gần nhà máy thủy điện Za Hưng 1 đang xây cất, thôn trưởng nói mỗi khi công nhân Trung Quốc đến thăm nhà người Việt Nam, họ đều mang quà tới; như chăn màn, thuốc lá, và cả cơm nguội ăn dư để nuôi heo! Cứ theo cái đà tiến triển của tình hữu hảo này thì các công nhân Quảng Tây và người dân Quảng Nam sẽ có ngày không những cùng nghe tiếng gà gáy sớm mà sẽ dần dần tiến đến cảnh “tam cùng,” cùng hút thuốc, cùng ăn thịt heo và cùng chung chăn, chung màn nữa.

Nhưng tại sao phải nhập cảng công nhân Trung Quốc sang làm cả những công việc lặt vặt gọi là việc “phổ thông” như đẩy xe, múc nước, làm “cửu vạn” khuân vác? Bài báo hôm qua dẫn lời giải thích của ông Nguyễn Văn Ðảm, tổng giám đốc công ty Za Hưng thuộc Bộ Quốc Phòng Hà Nội: Công nhân Trung Quốc làm việc có hiệu quả hơn, vì ba yếu tố, sức khỏe tốt hơn, chuyên nghiệp hơn, và giữ kỷ luật và tôn trọng của công cao hơn các công nhân người Việt. Ðây chắc hẳn là một chính sách của Bộ Quốc Phòng trong chính phủ Hà Nội, chính sách nâng cao hiệu quả công việc.

Nhưng tại sao các công nhân Việt Nam lại yếu sức hơn, tay nghề thì kém mà tinh thần kỷ luật lại yếu hơn các đồng chí Trung Quốc? Có phải bản chất dân Việt Nam vốn thấp kém như thế, hay là nhờ được đảng Cộng Sản lãnh đạo cho nên mới gây ra như thế? Tại sao công nhân nước mình kém cỏi như thế mà hàng trăm ngàn thanh niên nam nữ vẫn được “xuất khẩu lao động?” Nếu công nhân nước mình yếu đuối như vậy thì có nên tìm cách cho họ ăn uống no đủ hơn để nâng cao sức khỏe? Có nên mở trường huấn luyện nghề nghiệp cho công nhân hay là cứ phải đi nhập cảng lao động? Có thể nào nâng cao kỷ luật của công nhân bằng cách các cấp chỉ huy làm gương hay không? Nếu các quan lớn, từ Bộ Chính Trị cho đến chính phủ cũng tôn trọng kỷ luật quốc gia, không tham nhũng, giữ đạo công bằng không kết bè kết phái, không nâng đỡ con ông cháu cha và các đảng viên để chèn ép những người khác, tôn trong của công, thì liệu dân Việt Nam có học được thêm tinh thần kỷ luật hay không?

Nếu theo tiêu chuẩn hễ thấy người ngoại quốc nào làm việc với sức khỏe tốt hơn, hiệu năng cao hơn, thì nên đem họ vào Việt Nam làm việc thay cho các công nhân người Việt, thì có lẽ nên thay thế tất cả Bộ Chính trị, cả chính phủ, nhập cảng các đồng chí Trung Quốc vào làm việc thế chỗ họ. Vì bên Trung Quốc thiếu gì người có học vấn và kinh nghiệm hơn các ông bà trong Trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam!

Và chắc chắn các đồng chí Trung Quốc thông hiểu chủ nghĩa Mao Trạch Ðông hơn các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bên Trung Quốc người ta đang tái lập đạo thờ Mao, và ca tụng Mao như một nhà ái quốc. Mới có một cuộc thi chọn những bài hát ái quốc nào hay và được ưa chuộng nhất, do một trang nhà (Website) của chính phủ tổ chức. Bài hát đứng đầu bảng là bài “Ðông Phương Hồng” mà các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam tuổi từ 60 trở lên chắc đều phải thuộc lòng (Ðông phương hồng mặt trời lên, Trung Quốc có ông Mao Trạch Ðông!) Bài hát đứng hạng nhì là “Mặt trời đỏ nhất, Mao chủ tịch yêu quý nhất.” Ðây là những bài hát rất phổ thông trong thời “Cách Mạng Văn Hóa” nhưng bây giờ lại được đề cao. Vì lý do nào vậy?

Vì giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đang mở một chiến dịch cổ động tinh thần ái quốc, và lấy ông Mao làm biểu tượng. Ngày 1 Tháng Mười năm nay họ sẽ kỷ niệm 60 năm thành lập chính thể cộng sản. Sẽ có những cuộc diễn binh vĩ đại. Ðêm sẽ có những màn trình diễn ngoạn mục do Trương Nghệ Mưu đạo diễn không kém gì cảnh diễn xuất ở Thế Vận Hội năm ngoái. Cho nên ngay tự bây giờ Bộ Chính trị đảng Cộng Sản đã nấu sẵn món canh “ái quốc” cho dân tộc Trung Hoa ăn, và mô tả ông Mao Trạch Ðông là người có tư tưởng ái quốc vĩ đại! Họ muốn mọi người dân Trung Hoa hãnh diện về nước Trung Hoa, tự hào về nhà ái quốc Mao Trạch Ðông!

Nhưng khi mô tả Mao Trạch Ðông như một nhà ái quốc thì họ có tự mâu thuẫn hay không, khi cũng vẫn ca ngợi ông như là một nhà lãnh đạo vĩ đại của vô sản thế giới trong suốt mấy chục năm? Không sao cả, đối với người Trung Hoa thì ông ta là người theo chủ nghĩa dân tộc vĩ đại, còn đối với thế giới sẽ đeo cho ông ta bộ mặt khác!

Ðối với người Trung Hoa ở lục địa, Mao Trạch Ðông là người theo chủ nghĩa ái quốc. Ai đi thăm Vạn Lý Trường Thành đều thấy chữ viết của Mao Trạch Ðông trên bia đá; một cảnh tượng khiến ông Lý Quang Diệu phải thấy dòng máu Hán tộc trong con người ông sôi lên. Mao viết: “Bất kiến Trường thành phi hảo Hán” (Chưa thấy Trường Thành thì không phải là người Hán giỏi). Cũng trong thắng cảnh đó, có thủ bút của Ðặng Tiểu Bình: “Ái ngã Trung Quốc, tu ngã Trường thành” (Yêu Trung Quốc của ta, tu bổ Trường thành của ta). Cái gì cũng của ta, của ta. Họ rất tự hào, và họ có lý do chính đáng!

Nhưng khi một tỷ người Trung Hoa được bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản Trung Quốc đêm ngày tôi luyện tinh thần ái quốc và tự hào chủng tộc, thì tất cả các dân tộc ở những nước nhỏ chung quanh đều phải lo lắng. Có người sẽ thấy sợ đến dựng tóc gáy!

Trừ quý vị lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam là cứ thản nhiên.

Khi các nhà trí thức trong nước tỏ ý kiến chống việc cho đạo quân công nhân Trung Quốc vào khai thác quặng bô xít ở cao nguyên Trung phần, ngoài các lý do kinh tế và môi trường sống người ta còn nêu lên vấn đề chiến lược. Cao nguyên Trường Sơn ở nước ta là mái nhà của cả vùng. Làm xa lộ Bắc Nam trên Trường Sơn, mở rộng các xa lộ nối nước Lào với bờ biển miền Trung, rồi lại cho hàng vạn người Trung Quốc tới làm việc ở đó không theo quy chế nào cả, thì quả là một điều đáng lo ngại.

Nhưng trong tháng trước, ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm một cuộc hành hương kéo dài một tuần lễ ở Trung Quốc. Nhà bình luận David Pilling trên Nhật báo Financial Times đã mô tả chuyến công du đó như là một cuộc triều kiến, và nêu rõ món quà ông Nguyễn Tấn Dũng đã tiến cống thiên triều là những quặng mỏ bauxite, mà ký giả này ghi nhận đó là nguồn quặng bauxite lớn thứ ba trên thế giới. Món quà triều cống này, theo ông, là để giảm bớt một phần lỗ hổng mậu dịch giữa Trung Quốc và Việt Nam, năm ngoái lên tới 11 tỷ đô la. Ông Pilling cũng nhắc lại là Việt Nam từng bị Trung Quốc đô hộ một ngàn năm.

Nhưng ai cũng biết dù bị cai trị hà khắc suốt một ngàn năm, dân Việt Nam vẫn không bị đồng hóa mà còn giành lại được độc lập, cũng như dân Cao Ly. An Nam Ðô hộ phủ đã sụp đổ cũng như An Ðông Ðô hộ phủ đã tan rã.

Hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc cùng anh dũng như nhau. Họ không bao giờ chịu khuất phục. Hiện nay chỉ có một điểm khác biệt giữa hai nước, Việt Nam và Hàn Quốc, là bên xứ Nam Hàn có một chế độ dân chủ tự do và đã theo kinh tế thị trường từ hơn nửa thế kỷ nay; ngược lại bên Việt Nam thì đã bị chủ nghĩa cộng sản theo lối Mao Trạch Ðông chiếm cứ hơn nửa thế kỷ và đến giờ vẫn một đảng cộng sản nắm độc quyền.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Thời sự kinh tế: Hy vọng le lói

Ngô Nhân Dụng
Một dấu hiệu báo trước kinh tế sẽ lên hay xuống là thị trường chứng khoán. Khi nào thị trường chứng khoán tăng một cách rõ ràng, thì đó là dấu hiệu cho thấy kinh tế Mỹ sẽ lên trong vòng 6 tháng đến một năm sau đó. Căn cứ vào chỉ dấu tiên đoán (leading indicator) này thì người dân Mỹ đang thấy tia sáng le lói ở cuối con đường hầm suy thoái. Nhưng cũng như tất cả những tia sáng le lói, chúng ta vẫn phải dè dặt vì lo sẽ có những cơn gió mạnh làm cho ngọn lửa le lói bị tắt ngủm.

Cho tới ngày hôm qua, thị trường chứng khoán New York đã lên được 8 lần trong 9 tuần lễ liên tiếp. Thị trường xuống đến đáy (mức thấp nhất trong suốt 12 năm) vào ngày 9 Tháng Ba. Nhưng tới hôm qua chỉ số Dow Jones tăng được 31% và chỉ số S&P 500 tăng được 37%. Những tin tức nào đã khiến thị trường lên được hơn 4% trong tuần qua? Ðầu tiên là tin tức về công ăn việc làm. Tình trạng thất nghiệp vẫn cao, lên 8.9% nhưng các số thống kê cho thấy là con đường kinh tế, tuy chưa đi lên, nhưng tốc độ đi xuống có vẻ giảm chậm hơn trước.

Trong ngày Thứ Năm, Bộ Lao Ðộng Mỹ công bố con số những người mới nạp đơn hưởng bảo hiểm thất nghiệp trong tuần lễ chấm dứt ngày 2 Tháng Năm. Chỉ có 601,000 đơn xin lãnh trợ cấp thất nghiệp, thấp hơn tuần trước 34,000 người, và là con số thấp nhất kể từ Tháng Giêng đến nay. Tổng số người Mỹ đang nhận trợ cấp thất nghiệp đã tăng lên tới 6 triệu 350 ngàn người kể từ khi kinh tế suy thoái vào Tháng Mười Hai năm 2007. Vào cuối Tháng Ba, có tuần lễ số người mới nạp đơn lên đến con số cao nhất là 674,000 người, bây giờ đã giảm được 73,000, có thể coi là bớt lo.

Hôm qua Thứ Sáu lại thêm một tin mừng nữa trong thị trường nhân dụng. Bộ Lao Ðộng cho biết trong Tháng Tư số công việc bị cắt bớt (tức là số người mới mất việc cao hơn số người mới tìm được việc làm) là 539,000 việc. Tuy vẫn nhiều công việc bị cắt nhưng con số này rất thấp so với ước tính của các chuyên gia, họ tiên đoán trong Tháng Tư nước Mỹ phải mất 602,000 công việc vì kinh tế xuống.

Ðó là một dấu hiệu cho thấy tình trạng kinh tế giống như chiếc xe đang xuống dốc nhưng đang từ từ giảm tốc độ xuống để chờ ngày đi lên.

Ngoài những số thống kê về công việc làm, những tin tức khác cho thấy thị trường nhà cửa đã có vẻ ổn định không xuống quá nhanh như trước nữa. Nhưng tin tức khiến người ta bớt lo lắng là tình trạng các ngân hàng lớn ở Mỹ không tồi tệ như mọi người vẫn lo ngại. Trong tuần qua chính phủ cho biết trong số 19 ngân hàng lớn được cứu xét chỉ có 10 ngân hàng cần phải tăng vốn, mà số vốn cần tăng chỉ có dưới 75 tỷ đô la. Mặc dù Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tiên đoán các ngân hàng ở Mỹ sẽ lỗ lã gần 600 tỷ đô la vì những món nợ không đòi được, nhưng tài sản của họ vẫn còn vững, cho thấy chưa suy yếu đến mức bị sụp đổ. Từ hơn nửa năm nay ai cũng lo sợ một cơn sụp đổ của các ngân hàng lớn, bây giờ thấy họ có thể tránh được. Thị trường lên trong cả tuần qua vì những tin tức đó được loan báo từ từ mỗi ngày.

Việc loan báo từ từ những tin tức tốt của giới lãnh đạo nền kinh tế Mỹ, từ Bộ Tài Chánh đến Ngân Hàng Trung Ương, là một cách để “kích thích kinh tế” qua cảm tính của người tiêu thụ. Kinh tế lên hay xuống không phải chỉ vì trong túi người dân có nhiều hay ít tiền để chi tiêu (mà chính phủ Bush và chính phủ Obama đều đã gửi thêm tiền đến những người dân đóng thuế để kích thích họ tiêu xài). Chiều hướng kinh tế còn tùy thuộc tâm lý người tiêu thụ vui hay buồn, mừng hay lo.

Vào mấy tháng cuối năm ngoái thì phải nói là tâm lý người Mỹ đã xuống quá thấp, và chính phủ Mỹ coi đó là một cơ hội để... xin tiền của dân! Dựa trên tâm trạng bi quan lo lắng đó, Tổng Thống George W. Bush đã xin và được quốc hội chấp thuận 700 tỷ đô la giải cứu hệ thống tài chánh, mà dư luận dân chúng cùng báo chí Mỹ không ai lớn tiếng phản đối cả. Chính phủ Bush đã chi tiêu một nửa số tiền này cho các ngân hàng và hãng bảo hiểm, còn một nửa để lại cho chính phủ kế nhiệm.

Trong một tháng đầu sau khi ông Barack Obama nhậm chức, ông vẫn còn mang bộ mặt lo lắng để nhấn mạnh rằng tình trạng kinh tế này không phải do ông gây ra! Và ông Obama cũng dùng bộ mặt “đưa đám” đó khi xin quốc hội khẩn cấp thông qua đạo luật 800 tỷ kích thích kinh tế!

Nhưng tấm lòng rộng rãi của dân Mỹ cũng có giới hạn, và mối lo về khiếm hụt ngân sách thì tăng lên. Người dân nào cũng hiểu là cho phép nhà nước tiêu tiền thì mai mốt chính người dân đóng thuế sẽ phải trả nợ! Chính phủ Obama chắc cũng biết là bây giờ khó xin thêm được tiền. Trong vòng một tháng nay, họ đã thay đổi, bắt đầu nhấn mạnh đến niềm hy vọng mỗi khi có tin mừng.

Tâm lý dân Mỹ đã có vẻ lạc quan hơn. Một nhà báo đã dùng mạng lưới dò tìm Google để đo lường sự biến chuyển trong dư luận. Khi đi tìm những thông tin liên can đến những chữ “kinh tế hồi phục” (economic recovery) trong Google, người ta thấy trong Tháng Giêng năm 2009 có 6,991 thông tin dùng chữ đó. Sang Tháng Hai, tăng lên với 7,831 bài và bản tin đụng tới vấn đề economic recovery. Nhưng trong tuần lễ đầu của Tháng Năm, có tới 24,443 bản tin và bài vở nói đến những chữ kinh tế phục hồi!

Một cuộc nghiên cứu dư luận đáng tin cậy hơn, do nhật báo Washington Post và đài ABC thực hiện, cho thấy có tới 50% dân Mỹ nghĩ là đất nước họ đang đi đúng đường (right direction). Ðây là tỷ số lạc quan cao nhất trong 6 năm nay, và cao hơn hẳn tỷ số vào lúc cuối năm ngoái, khi đó chỉ có 19% dân Mỹ nghĩ là đất nước họ đi đúng hướng.

Nếu dân Mỹ tiếp tục lạc quan như vậy, và nếu yếu tố tâm lý này khuyến khích họ chi tiêu và đầu tư nhiều hơn, thì tia sáng le lói cuối đường hầm có hy vọng sẽ ngày một sáng hơn. Chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang vùng Ðông Nam, đặt ở Richmond, ông Jeffrey Lacker mới nói trước Phòng Thương Mại ở Washington rằng tới cuối năm nay thì kinh tế sẽ hồi phục.

Nhưng trong bất cứ tình trạng lạc quan nào cũng có những tín hiệu buộc mọi người phải dè dặt, không nên lạc quan tếu!

Trước hết, những tin tức đáng mừng trên đây một phần là kết quả của các hành động trợ giúp do chính phủ Mỹ và Ngân Hàng Trung Ương đã thực hiện. Trong vòng một năm mới biết những tác động đó có hệ quả lâu dài hay không, giống như một bệnh nhân được tiêm thuốc hồi sinh nhưng chưa biết bao giờ mới khỏi bệnh.

Thị trường chứng khoán có thể đưa ra những tin tức lạc quan tếu. Trong thời kỳ đại khủng hoảng kinh tế thập niên 1930 đã xẩy ra như vậy. Từ năm 1929 đến 1932 thị trường chứng khoán New York đã vọt lên 4 lần, mỗi lần trên 29%, nhưng rồi lại xuống! Kể từ khi kinh tế Mỹ đi xuống hơn một năm nay, chỉ số Dow Jones cũng đã lên 5 lần mỗi lần hơn 10% rồi lại xuống.

Các ngân hàng ở Mỹ chưa ra khỏi vũng lầy với những món nợ địa ốc dưới tiêu chuẩn. Việc giải quyết các trái khoán nhiễm độc mới chỉ thấy những ý kiến mà chưa thấy bắt đầu mua hay bán trái khoán nào cả. Các ngân hàng còn bị đóng băng thì dòng tiền tệ nuôi sống nền kinh tế vẫn còn chưa lưu thông đều đặn.

Một mối lo là tâm lý dân Mỹ đang thay đổi vì cơn khủng hoảng. Người Mỹ đã vay nợ quá nhiều trong mươi năm qua, bây giờ họ sẽ bớt chi tiêu để giảm bớt nợ. Từ năm 2000 đến năm 2008 con số nợ nần của tư nhân ở Mỹ đã tăng lên một số lượng hơn 10 ngàn tỷ đô la, lớn bằng 70% Tổng Sản lượng Nội địa. Bây giờ tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ đang tăng từ số không lên tới 4%, một tin mừng về lâu dài những đáng lo trong ngắn hạn.

Kinh tế nước Mỹ không sống lẻ loi như một hòn đảo, mà liên hệ tới kinh tế toàn thế giới. Nếu nền kinh tế ở các nước khác không lên được, thì một mình nước Mỹ cũng không lên nổi. Hiện nay chỉ có ở Trung Quốc là người ta bớt lo, vì chính phủ Bắc Kinh đã bỏ tiền ra đốc thúc các xí nghiệp đầu tư thêm. Nếu người tiêu thụ ở Trung Quốc cũng hăng hái chi tiêu thì xứ này có thể qua khỏi con suy yếu, mà đối với một nước nghèo như Trung Quốc thì kinh tế tăng trưởng chỉ có 6% đã là yếu, bao giờ lên tới 8% trở lên mới là mạnh. Ngoài ra kinh tế các nước Âu Châu và Nhật Bản hiện vẫn chưa thấy nhiều dấu hiệu lạc quan. Nếu nói đến các nước nghèo khác thì tình hình còn bi quan hơn nữa. Một mối lo của các nước nghèo là số đầu tư của ngoại quốc sẽ tiếp tục giảm trong năm nay và nhiều năm tới. Trước đây các chính phủ và các nhà tư bản toàn cầu đem tiền đến cho các nước nghèo vay, nay vì sợ rủi ro họ đang thắt túi tiền lại. Trong năm nay, theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thì các nước nghèo sẽ phải trả nợ tổng cộng 1.8 ngàn tỷ mỹ kim, tức là phải đi vay nợ mới mà trả nợ cũ, trong lúc thị trường tín dụng khô cạn hơn trước.

Trong khi các nước nghèo lo đi vay thêm để trả nợ thì các nước giầu cũng lo phải đi vay để bù vào ngân sách khiếm hụt. Nhu cầu kích thích kinh tế khiến ngân sách các nước giầu bị khiếm hụt với con số trung bình lớn bằng 9% Tổng Sản Lượng Quốc Gia. Ðó là cái giá họ phải trả để tránh không cho cuộc suy thoái biến thành khủng hoảng kinh tế.

Tất cả những yếu tố trên khiến chúng ta thấy cần phải dè dặt trước những tin tức lạc quan về kinh tế Mỹ. Tuy dè dặt, nhưng không đến nỗi bi quan. Khi thị trường chứng khoán tăng liên tiếp, với tỷ số tăng trong 2 tháng lên cao nhất kể từ 35 năm nay, người dân Mỹ có quyền lạc quan tin rằng ngày kinh tế hồi phục đang tới gần. Ðầu năm nay nhiều người lo sợ kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục suy thoái cho đến cuối năm 1010. Bây giờ số người tin kinh tế hồi phục vào cuối 2009 đã lên cao. Nếu tinh thần lạc quan cũng là một yếu tố giúp cho kinh tế hồi phục sớm thì tội gì người ta không lạc quan tin tưởng?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cộng Sản Việt Nam: Bauxite - Tiếng vọng từ đáy vực

Phạm Trần

Hoa Thịnh Ðốn.- “Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương nhất quán từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay. Triển khai các nghị quyết đại hội, trong hai nhiệm kỳ, Bộ Chính Trị đã nhiều lần bàn và ra các nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế-xã hội Tây Nguyên nói riêng.

Ðó là lời mở đầu của kết luận ngày 24-4 (2009) của Bộ Chính trị 15 người của đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đế khai thác Bauxite (Bô-Xít) tại Tây Nguyên, sau hàng loạt phản ứng, từ trong và ngoài Việt Nam, chống đối kế hoạch khai thác chưa có sự đồng thuận trong xã hội.

Trong số người chống quyết định của CSVN có cả Tướng Võ Nguyên Giáp và hơn 1,000 trí thức, chuyên gia, văn nghệ sỹ và nhà tu hành trong và ngoài nước.

Cũng nên biết trong số 15 người của Bộ Chính Trị đảng CSVN đã quyết định khai thác bauxite và hợp tác với nhà thầu Chalco của Trung Hoa chỉ có Phạm Gia Khiêm, bộ trưởng Ngoại Giao có bằng tiến sỹ luyện kim, nhưng cũng không liên quan gì đến quặng bô-xít (Bauxite).

Số còn lại gồm Nông Ðức Mạnh (Tổng Bí thư); Nguyễn Minh Triết (Chủ tịch Nước); Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng); Trương Tấn Sang (Thường trực Ban Bí thư Trung ương); Nguyễn Văn Chi (Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW Ðảng);Nguyễn Phú Trọng (Chủ tịch Quốc Hội); Phùng Quang Thanh (Bộ trưởng Quốc Phòng); Lê Hồng Anh (Bộ trưởng Công an); Phạm Quang Nghị (Bí thư Thành ủy Hà Nội); Lê Thanh Hải (Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (Sàigòn); Tô Huy Rứa (Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương); Hồ Ðức Việt (Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đảng) ; Nguyễn Sinh Hùng (Phó Thủ tướng thường trực chính phủ) ; Trương Vĩnh Trọng (Phó Thủ tướng) đều không có kiến thức gì về quặng, mỏ nên không thể hiểu tường tận đến tác hại sẽ gây ra cho môi trường và các mặt kinh tế-xã hội-văn hóa trong việc khai thác Bô-xít.

Vì vậy ai cũng muốn biết rõ hơn về điều được gọi là “chủ trương nhất quán” của hai Ðại hội đảng IX năm 2001 và X năm 2006 đã nói gì về quyết định khai thác Bô-xít?

Thứ nhất, vấn đề khai thác Bô-xít chỉ được đề cập đến 2 lần trong hai Văn kiện quan trọng của Khóa đảng VIII được trình bày tại Ðại hội đảng IX (tháng 04/2001) khi Lê Khả Phiêu dao lại chức Tổng Bí thư đảng cho Nông Ðức Mạnh.

Trong “Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005” khóa đảng VIII viết: “Khai thác và chế biến các loại khoáng sản, phát triển công nghiệp khai thác bôxit, luyện alumin và chế biến nhôm theo 1 trong 2 phương án: sản xuất 300 nghìn tấn/năm alumin để điện phân 75 nghìn tấn nhôm sử dụng trong nước; sản xuất 1 triệu tấn alumin cho xuất khẩu, giai đoạn sau nâng lên 3 triệu tấn. Ðầu tư khai thác và tuyển quặng đồng, khai thác imenhít, đá quý, vàng, đất hiếm; xây dựng nhà máy luyện kẽm Thái Nguyên, luyện đồng ở Lào Cai.”

Trong tài liệu thứ hai gọi là “Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010”, Khóa VIII viết: “Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước cả về kinh tế-xã hội và quốc phòng-an ninh, có lợi thế để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp sản xuất hàng hóa lớn kết hợp với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp năng lượng và công nghiệp khai thác khoáng sản. Có chiến lược và quy hoạch xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tới thành vùng kinh tế động lực.

Phát triển nhanh theo hướng thâm canh là chính đối với các cây công nghiệp gắn với thị trường xuất khẩu (cà phê, cao su, chè, bông...), chăn nuôi đại gia súc, trồng và bảo vệ rừng, cây dược liệu, cây đặc sản và công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Phát triển thủy điện lớn và vừa, các hồ chứa nước cho thủy lợi. Khai thác và chế biến quặng bôxít. Phát triển công nghiệp giấy. Nâng cấp, khai thác tốt các tuyến đường trục và đường ngang nối xuống vùng duyên hải. Phát triển sự hợp tác liên kết kinh tế-thương mại-dịch vụ với các nước láng giềng Lào, Campuchia. Có chính sách thu hút vốn đầu tư, bố trí dân cư và lao động và đất đai theo quy hoạch, nâng cao dân trí và trình độ công nghệ. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, thật sự cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào dân tộc.”

Thứ nhì, đến kỳ Ðại hội đảng X năm 2006 thì chuyện khai thác Bô-xít không còn “ồn ào” như tại Ðại hội đảng IX.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IX (Nông Ðức Mạnh) ngày 10 tháng 4 năm 2006 khi nói về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010” chỉ viết vắn tắt: “Việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng chủ yếu là dựa vào nguồn lực của các thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, như: lọc hóa dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hóa chất, xi măng, khai thác bô-xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng, một số sản phẩm cơ khí chế tạo.”

Như vậy trong cả 2 kỳ Ðại hội đảng IX và X, không có một nghị quyết nào nói riêng về kế hoạch khai thác Bô-xít, cũng như không có tài liệu nào của đảng ghi lại cuộc thảo luận về vấn đề này.


Nông Ðức Mạnh-Bauxite-Trung Hoa

Tuy nhiên chỉ 7 tháng sau thay Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh đã sang Tầu “thăm hữu nghị” theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Giang Trạch Dân, từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 4 tháng 12 năm 2001.

Trong chuyến đi này, một thông cáo chung phổ biến cho thấy Mạnh đã ký hiệp định hợp tác kinh tế với Trung Hoa, trong đó có việc hợp tác với Tầu khai thác Bôxít ở Ðắc Nông (Ðắk Nông).

Một đoạn quan trọng trong Hiệp định viết: “Hai bên xác định trong thế kỷ mới cần tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học-kỹ thuật và các lĩnh vực khác giữa hai nước theo phương châm bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả, bổ sung ưu thế cho nhau, hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển; tích cực khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp hai bên khai thác thêm thị trường hàng hóa của hai nước, tăng cường đầu tư và hợp tác, mở rộng quy mô hợp tác kinh tế và kỹ thuật, thực hiện các dự án hợp tác đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội thiết thực.

Nhân dịp này, hai bên đã ký hiệp định khung giữa chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi và hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; và nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Ðắc Nông.” (Thông Tấn Xã Việt Nam, TTXVN)

Như vậy, chuyện để cho Tầu nhẩy vào Ðắk Nông là do Nông Ðức Mạnh ký kết bởi vì trước đó, dưới thời Lê Khả Phiêu (Khóa VIII) và Ðỗ Mười (Khóa VII), không thấy có văn kiện nào công khai nói đến vấn đề hợp tác khai thác Bô-xít với Trung Hoa.

Mạnh còn đi thăm Trung Hoa lần thứ hai từ ngày 30-5 - 2-6-2008, và cũng như lần trước, Thông cáo chung đã nói đến Ðắk Nông: “Hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như: Bôxit Ðắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác. Hai bên khẳng định tăng cường hợp tác trong các cơ chế kinh tế.” (Ðài Tiếng Nói Việt Nam)

Nhưng không riêng gì Mạnh mà cả khi Trần Ðức Lương còn là Chủ tịch Nước đi thăm Tầu tháng 7/2005 cũng bị Thủ tướng Tầu là Ôn Gia Bảo thúc bách mau chóng thi hành thỏa hiệp khai thác Bô-xít ở tỉnh Ðắk Nông.

Ðến khi Hồ Cẩm Ðào kết thúc chuyến thăm Việt Nam ngày 17-11-2006, hai bên cũng lại nhắc đến cam kết hợp tác Ðắk Nông trong Thống cáo chung.

Ðến phiên Nguyễn Minh Triết đi thăm Tầu từ 15 đến 18-5-2008 thì Hồ Cẩm Ðào lại nhắc lại chuyện phải xúc tiến việc khai thác Bô-xít tại Ðắk Nông.

Nhưng tại sao lại chỉ thấy Tầu nhắc đến dự án Ðắk Nông mà không nói đến Lâm Ðồng?

Vì Ðắk Nông (tỉnh Quảng Ðức dưới thời Việt Nam Cộng Hòa) nằm gần Nga Ba Biên giới Việt-Miên-Lào, là vị trí chiến lược quốc phòng và chính trị quan trọng nhất của Tây Nguyên.

Có tin cho hay đảng CSVN dự tính mở Xa Lộ nối liền Ðắk Nông với Ngã Ba Biên giới để giao thông kinh tế-thương mại giữa 3 nước Việt-Miên-Lào.

Như vậy, nếu Tầu nhảy vào được Tây Nguyên thì giấc mơ “quản lý” Bán đảo Ðông Dương có còn xa không?

Hãy đọc báo cáo của Thiếu Tướng Công An, Phó Giáo Sư, Tiến Sỹ Lê Văn Cương phổ biến trên một số mạng lưới điện tử toàn cầu: “Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đã có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri - sát biên giới tỉnh Ðak Nông với thời gian 99 năm, và Trung Quốc đã làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-Ta-Pu - tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngã ba Ðông Dương). Ðây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia. Không rõ những người quyết định cho Trung Quốc vào Tây Nguyên có biết điều này không?”

Chưa thấy câu hỏi của Thiếu Tướng Lê Văn Cương được trả lời, nhưng ai cũng biết sau thời gian có sức ép của Trung Hoa đối với Lãnh đạo đảng CSVN từ 2001 đến 2006, hai bên Việt-Tầu đã xúc tiến mau hơn các thỏa hiệp giữa Tập đoàn Khoáng sản Việt Nam (TKV) với công ty Chalco của Tầu để khai thác Bô-xít tại Tân Rai (Lâm Ðồng) và Nhân Cơ (Ðắk Nông).

Ðáng lẽ những việc làm to lớn này phải được trình cho Quốc hội xem xét, nhưng đảng CSVN vịn cớ số lượng sản xuất chưa tới 1 triệu tấn một năm nên không cần phải trình với Quốc Hội.

Theo dự kiến, mỗi năm sẽ có 600 ngàn tấn Alumina được sản xuất từ Tân Rai (Lâm Ðồng) và 600 ngàn tấn (mới tăng từ 300 ngàn) từ Nhân Cơ (Ðắk Nông).

Bộ Công Thương của Việt Nam nói: “Theo một số điều tra, đánh giá, vùng đất Tây Nguyên có trữ lượng bauxite khoảng 5,4 tỷ tấn.”


Lùi để tiến xa hơn?

Nhưng cũng vì những hành động độc tài này mà một làn sóng phản đối đã nổi lên từ đầu năm 2009 khiến đảng phải co vòi nhượng bộ bằng Kết luận ngày 24-4 (2009) ra lệnh cho Chính phủ làm ngay một số việc cơ bản:

1) “Rà soát, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của cả nước và khu vực Tây Nguyên trong từng thời kỳ; gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế để đạt hiệu quả toàn diện.”

2) “Chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài; sử dụng lao động trong nước, chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết, lựa chọn công nghệ hiện đại; thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường. Khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường của từng dự án để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.”

3) “Riêng Dự án Nhân Cơ, cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện. Quá trình triển khai hai dự án này cần thực hiện tốt việc hoàn thổ và trồng rừng ngay sau khi khai thác.”

Những chỉ đạo này có tính nguyên tắc và lý thuyết nhằm giải tỏa thắc mắc và áp lực của dư luận, nhưng sau đó vào ngày 29-4 (2009) Nguyễn Tấn Dũng đã phải chỉ thị cho các bộ liên hệ phải nghiên cứu lại kế hoạch để trình với Hội nghị Trung ương đảng và Quốc Hội.

Hai việc này trước đây chưa hề được đặt ra, nhưng cũng không nên quá lạc quan về quyết định của Dũng, bởi vì Trung ương Ðảng và Quốc Hội cũng đếu là người của đảng. Hơn nữa, dù phản ứng trong và ngoài nước lên cao chưa từng có đối với một dự án kinh tế, nhưng Quốc hội và Ban Chấp hành Trung ương đảng vẫn ngậm tăm để tiếp tục ăn lương tháng.

Ðại biểu Quốc Hội duy nhất của Khóa 12 đã lên tiếng phản đối kế hoạch khai thác Bô-xít là ông Nguyễn Lân Dũng, giáo sư, tiến sỹ. Ông Dũng còn là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam.

Tuy nhiên cùng lúc với nhượng bộ của đảng và nhà nước thì Ban Tuyên Giáo Trung Ương lại chỉ thị cho một số cán bộ viết bài lên án những người chống đối có ý đồ xuyên tạc.

Bài viết của Hà Văn Thịnh trên báo Lao Ðộng ngày 27/04/2009 là bằng chứng của luận điệu chụp mũ như thế: “Chủ trương khai thác bauxite có từ Ðại hội IX, có nghĩa là đã rất lâu và đã được cân nhắc, suy xét kỹ càng. Một số phần tử muốn chống phá công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta, đã mưu toan lợi dụng, tung những tin đồn thất thiệt, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc hòng ‘diễn biến hòa bình’ để phá vỡ sự ổn định của chúng ta...”

“...Qua ‘vấn đề bauxite’, phải rút ra những bài học sắc sâu về sự hiểu biết và dư luận. Ða số người dân không hiểu tường tận sự thật của vấn đề nên dễ bị lợi dụng và bị kích động, đưa một chuyện riêng về kinh tế thành ‘nguy cơ’ về chính trị, an ninh... Trách nhiệm của giới trí thức là rất lớn trong việc đánh giá, xem xét các lợi ích cục bộ và lợi ích tổng thể, kịp thời và chính xác trong việc tham mưu cho Ðảng và Nhà nước trước những nhiệm vụ cấp bách, liên quan đến sự nghiệp của dân tộc, tương lai của đất nước. Ðảng lắng nghe và thấu hiểu ý kiến trí thức, nhưng không có nghĩa bỏ qua việc một số người lợi dụng điều đó để xuyên tạc, chống phá.”

Như vậy đảng có còn đủ bình tĩnh để nghe những tiếng vỡ của Bô-xít vọng lên từ dưới mắt xích xe ủi của Trung Quốc hay vì đã ngủ mê mà quên luôn cả bổn phận giữ nước?

Phạm Trần

(05/09)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hãy Lật Lá Bài Tẩy Trung Quốc Dùng
Để Khống Chế Bộ Chính Trị Đảng CSVN


Tiết Liêu
Cho đến thời điểm bài viết này được đưa lên mạng, thì vấn đề Bô-xít Tây Nguyên đang sôi sục trong công luận trong và ngoài nước.

Một sự thực mọi người đều nhận rõ là bộ chính trị (BCT) đảng CSVN đang bị Trung Quốc khống chế, và họ đang chịu áp lực nặng nề đến nỗi không thể không làm theo mệnh lệnh của Trung quốc, dù thừa biết rằng đó là việc làm phản quốc, và cũng thừa biết rằng họ sẽ phải trả một giá nặng nề trước lịch sử cũng như có thể dẫn đến hỗn loạn xã hội và nguy cơ mất nước trong thời gian không xa, nếu dự án này vẫn tiếp tục được thực hiện.

Vậy Trung quốc đã có trong tay lá bài gì, khiến cả BCT 15 người - những người thừa gian xảo, không thiếu thủ đoạn - cũng đành răm rắp cúi đầu vâng lệnh, bất chấp những can ngăn chân thành, cũng như những tiếng thét phẫn nộ của người Việt trong và ngoài nước. Chúng ta hãy thử đi tìm lá bài tẩy này, cùng bàn cách vô hiệu hóa nó, để cứu nguy đất nước đã và đang thật sự đứng trước bờ vực thẳm.

Đã có rất nhiều bài viết đề cập đến vai trò tay sai Trung quốc của BCT đảng CSVN đặc biệt những nhân vật đứng đầu nắm giữ vận mệnh quốc gia như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết v…v…, những bài viết khả tín của những học giả, chuyên gia, nhân sĩ có uy tín, am hiểu tường tận bối cảnh, lịch sử và thế đứng của Việt Nam đều đưa ra một nhận định chung là sở dĩ Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất nước trước bành trướng Bắc Kinh, vì phẩm chất và tài năng kém cỏi của bọn 15 người trong BCT. Đó là những “người lùn” cả về tài năng lẫn nhân cách. Đó là những cái bình vôi khi phải đối đầu với những vấn đề trọng đại trên trường quốc tế. Bản lãnh của họ không đủ để lắng nghe những nguyện vọng tha thiết về tự do dân chủ nhân quyền của 82 triệu người Việt, và cũng không có can đảm thoát ra khỏi đường mòn Cộng Sản Hồ Chí Minh đã vạch ra. Trái tim của họ không thổn thức được trước nỗi nhục hèn kém mà một dân tộc từng tự hào có 5000 năm văn hiến đang phải chịu đựng. Đó là những người chỉ biết nhắm mắt dung dưỡng những việc làm vô luân xẩy ra hàng ngày cho người dân trong nước và cho những con em bị bán làm nô lệ cho nước ngoài. Họ vô lương tìm mọi cách để tham nhũng cho đầy túi tham và thản nhiên chèn ép, cướp đoạt nhà cửa, đất đai, của người dân, trong đó không ít người đã từng là những đồng chí của họ. Nhưng suy cho cùng, chính vì trí nông sức hèn như vậy, nên họ không thể có ‘gan’ để bất chấp tất cả mà bắt tay với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Hơn nữa, ‘cha nó lú thì chú nó khôn’, đằng sau 15 tên bị thịt kia, ắt hẳn phải có những thái thượng hoàng đưa lưng chống đỡ, thế mà cũng vẫn không xong, vẫn phải cúi đầu chịu nhục. Tự thắt thòng lọng vào cổ mình!…

Vậy Trung Quốc đã dùng thứ vũ khí gì khiến cả bọn 15 người, và cả cái đảng ‘quanh vinh, đỉnh cao trí tuệ loài người’ kia phải khúm núm cúi đầu vâng lệnh?

Vâng. Tất cả chỉ là một lá bài tẩy! Là một bí mật vô tiền khóang hậu. Xin bật mí với quí độc giả lá bài tẩy trong tay Trung quốc không gì xa lạ, mà đó chính là “con người thật” của Hồ Chí Minh. Vâng, chính Trung Quốc đã nắm trong tay đầy đủ dữ kiện chính xác và khoa học không thể chối cãi, là cái xác Hồ Chí Minh hiện đang nằm tại lăng Ba Đình, chỉ là một người Trung Hoa gốc Hẹ, đã đột lốt Hồ Chí Minh thật, chết năm 1932, có giấy khai tử của chính quyền bảo hộ Anh hẳn hòi, để tự phong là ‘cha già dân tộc’ của Việt Nam.

Chính Hồ Cẩm Đào đã gọi Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng sang Trung Nam Hải để cho thấy tận mắt các chứng liệu ấy! Và tôi tin rằng Tổng Cục 2, Bộ quốc phòng CSVN, cũng đã kiểm chứng nguồn tin này, và không thể phản bác: Đó là sự thật! Hồ Chí Minh thật đã chết năm 1932! Cái xác Hồ Chí Minh hiện đang nằm ở Ba Đình chỉ là xác của Hồ Chí Minh giả. Đó là lý do khiến cả Nông Đức Mạnh lẫn Nguyễn Tấn Dũng (và cả bộ chính trị) đều phải ngoan ngoãn vâng lời những chỉ thị của Hồ Cẩm Đào!

Qủa thật đây là một đòn tối độc của Trung Quốc! Và đó là lá bài tẩy của họ để khống chế BCT đảng CSVN! Và họ đã thắng!

Tại sao chúng ta có thể tin tưởng giả thuyết này là sự thật?

Hẳn độc giả còn nhớ tất cả những chi tiết về Hồ Chí Minh giả, đều đã được tiết lộ trong cuốn “Hồ Chí Minh Bình Sanh Khảo” của tác giả Đài Loan Hồ Tuấn Hùng gây xôn xao dư luận trên Internet trước đây. Vì câu chuyện đã được phổ biến khá rộng rãi, nên không cần ghi lại những chi tiết ở đây, chỉ cần sơ lược vài điểm quan trọng sau:

1. Sau khi tin tức của cuốn biên khảo Hồ Chí Minh Bình Sinh Khảo được phổ biến rộng rãi trên Internet và báo chí hải ngọai, thì cũng có một số phản bác của một vài cá nhân, cho là những gì nhà nghiên cứu Hồ Tuấn Anh trưng dẫn đều không phải là sự thật. Nhưng tất cả những phản bác này đều yếu ớt, hời hợt, không có sức thuyết phục về mặt khoa học.

2. Trong khi với kỹ thuật DNA, những gì có thể làm để xác tín việc Hồ Chí Minh thật đã chết năm 1932 và Hồ Chí Minh sau đó là Hồ Chí Minh giả thì vô cùng dễ dàng, đặc biệt dễ dàng đối với cục phản gián Trung quốc và Cục phản gián (Tổng cục 2) của CSVN, vì họ nắm trong tay cái xác ướp của Hồ Chí Minh giả, và hàng trăm vật dụng, di tích của Hồ Chí Minh thật chết năm 1932, cũng như về Hồ Chí Minh giả từ 1933 về sau. Chỉ cần một cuộc thử nghiệm DNA là biết trắng đen, là không cần tranh cãi. Và họ đã làm.

Bộ chính trị CSVN đang ở thế kẹt! Tiến thoái lưỡng nan. Vì họ không muốn sự thật bị đem ra ánh sáng nên họ đang bị Bắc Kinh khống chế! Nói cũng chết mà không nói cũng chết! Nên họ chọn giải pháp thà chết từ từ còn hơn chết tức khắc! Nói cách khác họ dùng chiến thuật câu giờ, phó cho may rủi! Nắm được quyền lực ngày nào hay ngày ấy! Bất chấp sinh mệnh của dân tộc! Bất kể lẽ tồn sinh của giống nòi!

Câu hỏi kế tiếp được đặt ra cho chúng ta là: Chúng ta có thể làm gì để biết đâu là sự thật? Chúng ta có thể làm gì để vô hiệu hóa đòn độc của Bắc Kinh?

Câu trả lời thật giản dị, và đã có ngay từ bản chất của vấn đề: Đó là chúng ta phải tôn trọng sự thật! Chúng ta không thể tự lừa dối mình, cũng không thể phản ứng bằng chủi rủa, mạt sát.

Tất cả là sự thật phải được tôn trọng, phải được công bố. Bởi vì trên căn bản, mọi thảm kịch xẩy ra cho dân tộc chúng ta chỉ do sự lừa bịp vĩ đại của một người không phải là người Việt Nam. Người đó là ngoại nhân đội lốt một người Việt để đem một chủ nghĩa ngoại lai về áp đặt trên dân Việt. Người đó gây ra cuộc nội chiến, mong người Việt giết nhau đến người cuối cùng. Người ấy hô hào đốt cả dẫy Trường Sơn, nướng hơn 3 triệu sinh mạng thanh niên, gây cảnh góa bụa, côi cút cho hàng triệu phụ nữ, mẹ già, con trẻ. Người ấy kêu gọi viết chữ Việt giống hệt anh chệt phiên âm tiếng Tàu bằng ký hiệu Latin như ‘Kách mệnh’, ‘fi fáp’. Người ấy chỉ dám gặp người chị ruột của mình một lần sau mấy chục năm xa cách, và không bao giờ muốn gặp lại, vì sợ bị lộ tung tích, và vì chẳng liên quan máu mủ gì với người đàn bà gọi là chị đó. Người ấy có về thăm nhà một lần và nhận ra ngay cái ngõ mà mấy chục năm không hề nhớ đến, diễn xuất một cách lố bịch kịch bản đư�= ��c cơ quan tình báo dàn cảnh. Người đó bất nhân đến nỗi để cho thuộc hạ hiếp dâm vào bạo dâm nhiều lần người vợ đã có thai với mình, rồi sau đó ra lệnh cho thủ tiêu để phi tang!

Thất đức đến nỗi có con mà không nuôi! Không dám nhận! Người ấy bất nghĩa với bạn bè, ngủ với vợ đồng chí mình, bỏ mặc những người đã làm ơn cho mình như Vũ Đình Huỳnh, mặc cho bị hàm oan, tù tội. Đã thế, lại còn trân tráo viết sách tự ca tụng mình, và trong di chúc còn khoe rằng có con rơi lai Pháp, ý hẳn muốn thanh minh ta cũng là người, cũng có con rơi nhưng không phải những đứa như Nguyễn Thành Trung mà mẹ nó chỉ là người Việt thiếu số da vàng mũi tẹt! (Tâm lý vọng ngoại, chơi gái Tây vẫn ‘oai’ hơn chơi gái Việt!!!). Tóm lại đó là một con người vô luân, đầy thủ đoạn và thâm độc…Hắn là một điệp viên thượng thặng của Liên Sô, Trung Quốc và có thể của cả Mỹ (điều này giải thích được tại sao ông ta lại tha Ngô Đình Diệm, một lá bài của Mỹ). Hắn là tác phẩm toàn hảo của Cộng sản quốc tế, cho nên đến chết vẫn để di chúc lại là về cõi với Lê với Sít chứ chẳng biết gì tới Đinh, Lê, Lý Trần!!! Dứt khoát, người ấy không phải là người Việt Nam. Không phải là ‘Bác Hồ’ như chúng ta vẫn đọc được trong sách báo của đảng. Hắn có tên thật là Hồ Tập Chương, vốn người thuộc sắc tộc Hyakka tức Khách Gia, mà người Việt gọi là Hẹ, thuộc huyện Miên Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan!

Rất may cho chúng ta là màn kịch đã đến lúc hạ màn. Và bổn phận của chúng ta là phải làm sáng tỏ Vụ bịp bợm thế kỷ này!

Bằng cách nào? Trong khi ta không được rờ vào cái xác ướp tại Ba Đình, thì làm sao ta có thể dùng DNA để kiểm chứng?

Vâng, ta vẫn có cách! Nhưng ta phải đi đường vòng, cũng bằng phương tiện DNA.

Thật thế, như chúng ta đã biết, nhiều tác giả như Vũ thư Hiên, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Vũ Ký, Trần Khải Thanh Thủy v… v… đã khẳng định Nguyễn Tất Trung là con của Hồ Chí Minh (giả) và Nông Thị Xuân, thế thì ta chỉ việc xin anh Trung một sợi tóc, rồi sau đó so sánh mẫu DNA của anh với mẫu DNA của bà Thanh, chị ruột ông Nguyễn Tất Thành mà ta có thể tìm dễ dàng:

* Nếu DNA của anh Trung và bà Thanh giống nhau thì cái xác Hồ Chí Minh tại Ba Đình là xác thật, và Nguyễn Tấn Trung đích thị 100% là con của Hồ Chí Minh thật và do đó những nghiên cứu của ông Hồ Tuấn Hùng là bố láo.

* Nếu 2 mẫu DNA khác nhau, thì rõ ràng bố của anh Trung (và cả anh Trung nữa) chẳng dính dáng gì đến bà Thanh, chị của Nguyễn Tất Thành – Nói cách khác, Hồ Chí Minh nằm trong lăng Ba Đình chính là Hồ Chí Minh giả, và sự nghiên cứu của Giáo sư Hồ Tuấn Hùng được xác tín 100% bằng khoa học là: Hồ Chí Minh thật đã chết năm 1932. Và người mang tên Hồ Chí Minh từ sau 1933 đích thị là Hồ Chí Minh giả.

Theo tôi, đây là việc chúng ta phải làm, vì lẽ tồn sinh của dân tộc, cho nên một nghi án đã được nêu ra một cách nghiêm túc như vậy, thì cũng phải được kiểm chứng một cách nghiêm túc và khoa học bằng tất cả những gì có thể làm được. Nếu sự thật không được sáng tỏ, dân tộc Việt Nam sẽ bị phá sản bởi sự hoang mang và sự mất lòng tin. Hơn nữa, việc kiểm chứng này có thể thực hiện một cách dễ dàng, đặc biệt với người Việt trong nước, bằng cách xin anh Trung một sợi tóc, và về Thanh Hóa xin gia đình bà Thanh một đồ dùng nào đó của bà đã dùng. Sau đó nhờ một phòng nghiên cứu quốc tế, độc lập và uy tín thử nghiệm DNA, và đưa kết quả ra trước công luận.

Trong khi chờ đợi thực hiện việc này, thì việc cấp thiết chúng ta phải làm là bằng mọi phương tiện, nguồn tin về Hồ Chí Minh giả cần được thông báo cho mọi người dân trong nước. Cuốn ‘Hồ Chí Minh Bình Sanh Khảo’ cần được dịch sang Tiếng Việt, phổ biến rộng rãi, để mọi người Việt đều có thể đọc. (Xin mở dấu ngoặc rằng Giáo Sư Hồ Tuấn Hùng là một nhà sử học chuyện nghiệp với 30 năm kinh nghiệm, ông tốt nghiệp tại Đại Học Quốc Lập Đài Loan, và đây là một công trình nghiên cứu nghiêm túc. Ông không dính dáng gì đến cuộc chiến Việt Nam, và cũng không phải chỉ mình ông nghiên cứu về đề tài này, mà còn có những nguồn khác cũng công bố tin tức về một Hồ Chí Minh gốc người Khách Gia ở Việt Nam như vậy, xin xem chi tiết ở www.sctlog.sctnet. edu.tw) . Khi người dân trong nước đã ý thức được vấn đề, thì mọi việc sẽ không còn là bí mật và do đó Trung Quốc không thể dùng làm vũ khí bắt chẹt những người yếu niềm tin vào dân tộc như ông Mạnh, ông Dũng nữa. Trung Quốc cũng sẽ phải cẩn trọng hơn trong âm mưu thôn tính Việt Nam.

Khi kết quả cuộc thử nghiệm được công bố. Dù Hồ Chí Minh là thật hay giả, thì lá bài của Trung quốc cũng đã bị ta lật tẩy. Màn kịch hạ màn. Vụ lừa bịp vô tiền khoáng hậu của lịch sử Việt Nam nếu có sẽ được soi sáng. Bao nhiêu oán hờn sẽ được giải tỏa. Bao nhiêu oan ức sẽ được phục hồi. Bao nhiêu hiểu lầm sẽ được soi sáng. Từ đó ta sẽ dành được thế chủ động trong công cuộc cứu nước và có đủ tự tin và sức mạnh cùng nhau tiến lên xây dựng tổ quốc giữa những người Việt Nam ruột thịt cùng giòng máu với nhau.

Mong thay!

Post Reply