Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nước Ấn Ðộ có thể hãnh diện

Ngô Nhân Dụng

Trong truyện White Tiger của nhà văn Ấn Ðộ Aravind Adiga có đoạn kể anh tài xế Balram Halwai, khi đưa chủ nhân về tới cổng nhà, thì cậu chủ lớn đánh rớt một đồng ru-pi trong xe. Cậu bắt anh tài xế phải tìm cho ra. Anh tài Balram lúi húi tìm mãi không thấy, cậu chủ mắng: Mày đừng giả bộ tìm không ra để có cớ thuổng đồng tiền của tao nghe mầy! Cuối cùng, để cho ông chủ ngưng mắng, anh tài xế lén rút một đồng ru pi trong túi mình, rồi giả đò reo lên như mới tìm thấy đồng tiền, lễ phép cúi đầu đưa trả ông chủ. Mỗi đô la Mỹ đổi được từ 40 đến 50 ru pi Ấn Ðộ.

Người em ruột cậu chủ lớn, một sinh viên du học mới từ Mỹ về, phàn nàn với ông anh: Sao anh kỳ vậy? Mình vừa mới vào trong nhà thằng bộ trưởng đưa nó 500,000 ru pi tiền mặt để hối lộ, mà bây giờ chỉ đánh rớt có một đồng ru pi anh cũng bắt thằng tài xế tìm bằng được làm cái gì?

Cuốn tiểu thuyết Bạch Hổ (White Tiger) cố tình chế nhạo hai sự thành công lớn của xứ Ấn Ðộ: Các doanh nghiệp tin học ở Bangalore và chế độ tự do dân chủ. Chàng tài xế tinh khôn sau giết ông chủ để lấy 700,000 ru pi mà ông chủ đang tính mang đi hối lộ, rồi trốn đi tới Bagalore, làm lại cuộc đời, trở thành một nhà doanh nghiệp thành công và cũng biết hối lộ như ma! Bangalore là trung tâm kinh doanh của Ấn Ðộ, với các xí nghiệp chuyên nhận thầu làm thế công việc của các kỹ sư và chuyên viên tin học Mỹ. Còn chế độ dân chủ tự do thì đã thành lập ở Ấn Ðộ từ năm 1947, khi chế độ thuộc địa Anh quốc rút đi, cho tới nay đã tổ chức 15 cuộc tổng tuyển cử trong 60 năm, với nhiều lần thay đổi chính phủ một cách hòa bình. Hai thành tựu đó là những niềm hãnh diện của nhiều người dân Ấn Ðộ. Nhưng nhà văn không tha, đã mượn một câu chuyện tưởng tượng để “bôi xấu” tất cả, trong đó có tánh tham lam của các ông chủ lớn, và thói tham nhũng của các quan chức!

Nhưng nếu nước Ấn Ðộ không sống dưới chế độ dân chủ tự do thì chắc chắn Aravind Adiga không thể nào được phép xuất bản cuốn truyện hài hước này - để được trao giải thưởng Booker-Man có uy tín nhất thế giới dành cho các tiểu thuyết viết bằng tiếng Anh trong năm 2008. Trong một xã hội dân chủ, mọi người đều có quyền nói lên những bất mãn của mình, và nhờ thế mới có tiến bộ.

Ấn Ðộ mới hoàn tất cuộc tổng tuyển cử lần thứ 15, ngày mai sẽ biết kết quả. Chắc chắn sẽ có nhiều người không hài lòng với kết quả được công bố, cũng như sẽ có nhiều người bất mãn với tất cả “cái gọi là” diễn trình dân chủ này. Nhưng ngay ở nước Mỹ này sau mỗi cuộc bỏ phiếu nào cũng có nhiều người phàn nàn và bất mãn!

Chúng ta phải nhìn vào những con số khổng lồ trong cuộc tổng tuyển cử này để thấy riêng việc tổ chức được cho dân đi bỏ phiếu đã là một thành công đáng ca ngợi. Trong dân số hơn một tỷ người, có 714 triệu người có quyền và có tên trong danh sách cử tri. Người ta phải lập ra 800,000 phòng bỏ phiếu, với khoảng 4 triệu nhân viên phụ trách từ việc ghi danh, kiểm soát tên danh tính người đi bầu, chỉ dẫn, canh chừng những kẻ gian lận, đếm phiếu, tính toán kết quả, tất cả là để bảo đảm sự công bằng. Ngoài ra còn hơn 2 triệu nhân viên an ninh, cảnh sát bảo đảm cho người dân thi hành quyền dân chủ của họ.

Ðể cho 700 triệu người đi bầu trong trật tự, nước Ấn Ðộ đã tổ chức 5 lần bỏ phiếu cách nhau trong vòng một tháng, bắt đầu từ ngày 16 Tháng Tư cho đến ngày Thứ Tư 13 Tháng Năm mới xong. Có 1055 đảng chính trị đưa người ra tranh cử giành nhau 543 ghế dân biểu Hạ Viện (Lok Sabha), đó là nơi sẽ quyết định đảng nào thắng và được cử người ra làm thủ tướng. Mọi người đã biết trước vào Thứ Bẩy này sẽ không đảng nào chiếm đủ số ghế đại biểu để tự mình lập chính phủ mới.

Ngày Thứ Tư là ngày bỏ phiếu chót, trên màn ảnh có cảnh một nhà sư vừa la mắng vừa nắm áo một viên chức phòng phiếu kéo đi. Anh công chức này mặc y phục chững chạc nhưng bò lom khom khi bị kéo lê trên bãi cát. Nhà sư bắt anh giao cho cảnh sát vì nhiều cử tri tố cáo rằng anh ta đã bầy trò gian lận! Khi một tu sĩ cũng đứng ra bảo vệ sự trong sạch của nền chính trị tự do dân chủ thì chúng ta biết rằng nhiều người dân Ấn Ðộ đã ý thức rõ ràng là họ phải bảo vệ chế độ mà các nhà lập quốc đã chọn cho đất nước họ. Những người như Thánh Gandhi, Thủ Tướng Nehru và thế hệ của họ là những người lập nên quốc gia mới mẻ này, vì trong suốt 4000 năm trước đó chưa bao giờ có một quốc gia Ấn Ðộ. Xưa kia, đó là một bán đảo chia thành nhiều vương quốc rời rạc, họ chỉ được gom lại dưới những đế quốc Hồi giáo, đế quốc Anh. Khi người Anh tỏ ý định rút đi, nhiều người đã nghĩ phải chia bán đảo này thành nhiều mảnh, không tin rằng có thể thành lập một quốc gia với hàng ngàn ngôn ngữ khác nhau, với hệ thống đẳng cấp gồm hàng ngàn cấp phân biệt chặt chẽ quyết định đời sống tôn giáo, vai trò xã hội, nghề nghiệp, việc giáo dục và cả việc hôn nhân. Hệ thống đảng cấp đó đã ăn sâu trong xã hội và tâm lý mọi người đến bây giờ vẫn chưa gột sạch, mặc dù bản hiến pháp đã nhấn mạnh mọi công dân đều bình đẳng và xóa bỏ hệ thống đẳng cấp cổ truyền. Như tên anh tài xế trong truyện Bạch Hổ là Halwai, gọi tên đó ra người Ấn Ðộ ai cũng biết gia đình anh theo nghề làm bánh ngọt, cả đẳng cấp Halwai làm nghề đó. Một kỹ sư điện toán gốc thuộc đẳng cấp tiện dân (Dalit) được nhận vào làm trong một công ty ở Bangalore. Anh ta được trả lương bằng các đồng nghiệp thuộc đẳng cấp khác, được tham dự các sinh hoạt bình đẳng trong việc làm cũng như khi giải trí. Nhưng một đồng nghiệp thuộc đẳng cấp Brahmin đã nói nhỏ với anh rằng anh không nên dùng chung một phòng vệ sinh với những người thuộc đẳng cấp cao hơn! Với di sản nặng nề của quá khứ như vậy, 62 năm trước đây không mấy người tin nước Ấn Ðộ sẽ tồn tại được quá 10 năm, mà nếu còn tồn tại thì chắc phải đặt dưới một chế độ độc tài mới yên được!

Nhưng cuộc thí nghiệm lập quốc của Ấn Ðộ đã thành công. Không những thế, họ còn giữ gìn được một chế độ dân chủ tự do. Ấn Ðộ làm gương cho cả thế giới thấy khi đã quyết định cùng tôn trọng những luật chơi dân chủ thì một xã hội phức tạp, nghèo nàn và đông đúc như Ấn Ðộ vẫn có thể sống chung với nhau và cùng tiến bộ. Nước Ấn Ðộ đã đi theo con đường kinh tế sai lầm từ thời Thủ Tướng Nehru khi ông quyết định mô phỏng Liên Xô hướng nền kinh tế theo xã hội chủ nghĩa, xây dựng một bộ máy bàn giấy kiểm soát các hoạt động tư doanh, và guồng máy đó ngày càng lớn hơn. Sau khi Trung Quốc cải tổ kinh tế từ năm 1978, đến năm 1991 nước Ấn Ðộ mới quay trở lại với mô hình kinh tế thị trường; nhưng di sản của thời kỳ xã hội chủ nghĩa vẫn còn vì khó thay đổi tác phong các công chức xưa nay vẫn nắm nhiều quyền hành. Nhưng mỗi một lần thay đổi đảng cầm quyền, nước Ấn Ðộ lại tiến bộ thêm. Ðảng BJP khi giành được chính quyền đã cải tổ kinh tế mạnh bạo theo đường lối thị trường; đảng Congress (Quốc Ðại) vẫn giữ khuynh hướng xã hội nhưng vị thủ tướng đương nhiệm là một nhà kinh tế vẫn bảo vệ các thành tựu cũ. Hiện nay một đảng đang lên là BSP đang nuôi hy vọng chiếm được nhiều ghế đại biểu nhất, do bà Mayawati lãnh đạo, bà là người xuất thân từ giai cấp Dalit thấp nhất trong xã hội Ấn.

Một dấu hiệu của sự tiến bộ trong cuộc tổng tuyển cử năm nay là nhiều ứng cử viên mới xuất hiện, họ không phải là những nhà chính trị chuyên nghiệp mà là những nhà trí thức, chuyên gia, sĩ quan trong quân đội, cả những tài tử chiếu bóng và vũ công nổi tiếng. Với đà này thì nền dân chủ Ấn Ðộ sẽ tiến xa hơn, không còn những cảnh như nhà văn Aravind Adiga đã mô tả để chế nhạo. Trong tiểu thuyết của ông, một vị thủ tướng được gọi là “Nhà lãnh tụ xã hội chủ nghĩa vĩ đại” (The Great Socialist) nắm độc quyền chính trị trong tiểu bang. Nhưng một tay địa chủ cường hào đã chống ông ta, xúi giục một nhóm chính trị gia khác lập một đảng Xã hội thứ hai, lấy tên là Ðảng Xã hội Lê nin nít, và vận động dân chúng chống lãnh tụ vĩ đại xã hội chủ nghĩa. Sau một thời gian, lãnh tụ vĩ đại bèn mời tay địa chủ và chủ mỏ than đến thương lượng. Sau cuộc mặc cả, anh địa chủ bằng lòng gia nhập đảng của vị thủ tướng, được bầu làm lãnh tụ ở địa phương, còn cái đảng Lê Nin nít mới lập thì được giải tán!

Một quốc gia muốn xây dựng một chế độ tự do dân chủ, phải mất nhiều thời gian, qua nhiều cuộc thử thách, một quá trình hàng trăm năm mới thành tựu. Nước Ấn Ðộ đã đi được một bước đường 60 năm, và còn đang tiếp tục tiến tới nữa. Năm nay chỉ có một số biến cố đổ máu là do đảng Mao Ít tổ chức ám sát và phá hoại ở một vùng phía Ðông Bắc. Dù ngày mai đảng nào thắng ở Ấn Ðộ, thì cả dân tộc một tỷ người này cũng chứng tỏ họ đã trưởng thành.

Trong một bảng xếp hạng Chỉ số Dân Chủ (Democracy Index) năm 2008 của Economist Intelligence, nước Ấn Ðộ chỉ đứng hạng 35 trong số 167 quốc gia được tính điểm. Chỉ số này, từ 1 đến 10, được tính toán dựa trên việc đo lường điểm cao hay thấp của 60 chỉ dấu khác nhau, thuộc những phạm vi như việc thi hành và bảo vệ các quyền tự do dân sự, tính chất đa nguyên đa đảng, hiệu năng trong việc điều hành chính phủ, trình độ tham dự của dân chúng, và tinh thần dân chủ trong cả xã hội. Những nước đã xây dựng dân chủ tự do hàng thế kỷ, nhất là các nước ít dân, thì dễ được điểm cao. Còn Ấn Ðộ được 7.8 điểm chỉ đứng hàng thứ 35 nhưng còn cao điểm hơn nền dân chủ ở những nước như Thái Lan, Tích Lan, Brazil, Sri Lanka, Indonesia, Malaysia. Như vậy đã là đáng hãnh diện lắm rồi.

Như mục này đã viết, “Dân Chủ” không phải là một món mì ăn liền, cứ bầy ra là thành bữa ăn đầy đủ! Phải xây dựng từng ngày, từng giờ, hàng trăm năm mới thành. Cho nên dân tộc Việt Nam muốn tiến tới cuộc sống dân chủ tự do thì phải bắt đầu ngay, bắt đầu càng sớm càng tốt! Chậm ngày nào, con cháu chúng ta được hưởng tự do và sống dân chủ chậm ngày đó.

Một cuốn “nhật ký” của cựu Tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc mới được xuất bản ở Hồng Kông với tựa đề, “Tù nhân của chế độ: Nhật ký của Triệu Tử Dương” ghi lại 30 giờ nói chuyện được ghi âm trước khi ông qua đời năm 2005. Ông Triệu Tử Dương bị mất chức năm 1989 khi chống lại ý kiến đàn áp các sinh viên và công nhân biểu tình ở Thiên An Môn. Khi suy nghĩ về cuộc đời và chính trị Trung Quốc, Triệu Tử Dương đã đi tới ý kiến rằng nước ông phải cải tổ chính trị thì kinh tế mới phát triển đầy đủ được. Trong đoạn chót, Triệu Tử Dương đã nói về tương lai chính trị của nước Trung Hoa. Đây là lời ông dặn dò thế hệ người Trung Hoa mới: “Thực ra, tôi nghĩ chế độ dân chủ đại nghị kiểu Tây phương cho thấy nó có sinh lực mạnh mẽ nhất. Trong số các hệ thống chính trị đang thi hành thì đó là hệ thống tốt nhất hiện nay.” Người Việt Nam nghĩ thế nào?

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Triệu Tử Dương: Tiếng vọng từ đáy mộ
Friday, May 15, 2009

Ngô Nhân Dụng
Tựa đề này phỏng theo lời thơ Nguyễn Chí Thiện, và rất thích hợp. Nhân vật đang nằm trong đáy mộ là Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang). Và tiếng vọng đang vang lên là những lời nói trong năm sau cùng của đời ông được ghi âm sau 16 năm bị quản thúc tại gia, nay xuất bản thành sách. Ðiều đáng buồn cho mọi người Trung Hoa là bản dịch bằng tiếng Anh (Prisoner of State, Tù Nhân của Nhà Nước) được xuất bản trước, trong khi nguyên bản bằng Trung văn vẫn chưa in ra. Riêng điều này cũng chứng tỏ đời sống tinh thần của quốc gia với hơn một tỷ dân và hơn bốn ngàn năm văn hiến nay vẫn còn u ám vì thiếu tự do xuất bản.

Hai mươi cuốn băng thu lời tự sự của Triệu Tử Dương đã được các đồng chí của ông lén đưa ra ngoài để phiên tả, đến nay in thành sách. Người từng là cánh tay mặt của Triệu Tử Dương, ông Bao Ðồng (Bao Tong) nhận xét rằng việc in bản tiếng Anh cuốn sách ngay bây giờ là để dư luận thế giới chú ý, khiến cho đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể phủ nhận sự có mặt của cuốn tự sự này, và không thể cấm đoán và xóa bỏ nó mãi được. Ông Bao Ðồng là người tìm cách đưa cuốn sách này ra ánh sáng. Ngoài ra, chúng ta cũng biết việc xuất bản cuốn tự sự trong thời gian này cũng là để đi một bước trước ngày 4 Tháng Sáu, đúng 20 năm sau cuộc tàn sát ở Thiên An Môn mà ông Triệu Tử Dương đã phản đối, mà vì thế ông mất chức tổng bí thư đảng Cộng Sản. Những tiếng vọng từ đáy mộ được cất lên chỉ trong 3 tuần lễ trước ngày “Lục Tứ” này chính là để nêu lại vấn đề lịch sử về vụ án Thiên An Môn, mà nhiều gia đình của các sinh viên đã chết vẫn kêu gọi đảng Cộng Sản Trung Quốc xét lại.

Trong các lời tự sự, Triệu Tử Dương lên án quyết định đưa quân đội tới Thiên An Môn bắn giết các sinh viên là một hành động bất hợp pháp. Ðáng lẽ quyết định này phải được Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản thảo luận và biểu quyết, nhưng Ðặng Tiểu Bình đã chuyên quyền ra lệnh điều quân với tư cách chủ tịch Quân ủy Trung ương, với sự đồng lõa của Thủ Tướng Lý Bằng. Theo Triệu Tử Dương chính Lý Bằng là người đứng hẳn về phía chủ trương tàn bạo và thúc đẩy Ðặng Tiểu Bình đi tới quyết định giết người đó.

Triệu Tử Dương kể rằng ông phải yêu cầu được gặp Ðặng Tiểu Bình, và khi được đưa tới dinh cơ của ông này thì thấy các lãnh tụ khác trong Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị đã có mặt ở đó để ủng hộ quyết định đàn áp. Nhưng Triệu Tử Dương nhấn mạnh rằng không hề có một cuộc biểu quyết nào trong Bộ Chính Trị cho phép ban hành tình trạng thiết quân luật, và hành động đó hoàn toàn không hợp pháp, theo chính pháp luật của Trung Quốc trong thời gian đó.

Trong suốt thời gian Tháng Năm năm 1989 khi các sinh viên đang biểu tình, Triệu Tử Dương luôn luôn chủ trương phải nói chuyện với đại diện của các sinh viên để đáp ứng với nguyện vọng của người người biểu tình, gồm các sinh viên, công nhân và giới trí thức trẻ ở Bắc Kinh, đã được thanh niên toàn quốc ủng hộ. Theo ông, các lãnh tụ sinh viên không mấy người tỏ ý chống lại sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản mà họ chỉ yêu cầu đảng chống tham nhũng, đặc biệt là những đặc quyền đặc lợi của đám “con ông cháu cha” thuộc giới thống trị trong đảng.

Nhưng đối với những người không quá quan tâm đến biến cố lịch sử Thiên An Môn mà chỉ muốn tìm hiểu về công việc cải tổ kinh tế và chính trị ở Trung Quốc, thì cuốn sách của Triệu Tử Dương cũng cho chúng ta biết nhiều điều mới.

Một điều Triệu Tử Dương đã vạch ra là ý kiến thay đổi hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản không phải do Ðặng Tiểu Bình xướng xuất mà do chính những kinh nghiệm thực tế mà Triệu Tử Dương đã thành công khi thi hành những cải cách ở các tỉnh. Ðọc lại tiểu sử của ông, chúng ta thấy có thể tin ở lời quả quyết này, và thấy Ðặng Tiểu Bình vẫn theo thói của các lãnh tụ Cộng Sản độc tài, là cướp công của những người thuộc cấp.

Triệu Tử Dương sinh năm 1919 ở Hà Nam, cũng là con một địa chủ như Ðặng Tiểu Bình. Gia nhập đảng Cộng Sản từ năm 19 tuổi, ông làm cán bộ huyện ủy thi hành cải cách ruộng đất ở các tỉnh miền Trung Trung Quốc trong thời gian kháng Nhật và nội chiến với Quốc Dân Ðảng. Sau khi Cộng Sản chiếm được chính quyền năm 1949, Triệu Tử Dương tiếp tục những hoạt động về nông thôn ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc, năm 1955 được bầu vào ban lãnh đạo tỉnh Quảng Ðông, một tỉnh rộng lớn và sản sinh nhiều người có tinh thần cách mạng trong nước Trung Hoa. Năm 1965, ông làm bí thư thứ nhất của tỉnh Quảng Ðông, cho tới khi bị phế truất trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa; nhưng tới năm 1972 ông lại trở về tỉnh này rồi hai năm sau được lên làm tổng bí thư trở lại. Trong thời gian đầu lãnh đạo tỉnh Quảng Ðông, Triệu Tử Dương đã thí nghiệm những cải tổ về kinh tế đầu tiên ở nước Trung Hoa, cho phép chợ búa ở thôn quê được hoạt động và cho nông dân được cầy cấy những thửa ruộng tư của họ. Trong thời gian Cách Mạng Văn Hóa, Triệu Tử Dương đã bị đưa đi làm ở các nhà máy để “cải tạo bằng lao động” cũng giống như Ðặng Tiểu Bình.

Năm 1976, Triệu Tử Dương được đưa về làm bí thư thứ nhất của tỉnh Tứ Xuyên, tỉnh đông dân nhất Trung Quốc lúc đó, với 100 triệu dân, và cũng là quê hương của Ðặng Tiểu Bình. Chính tại tỉnh này, Triệu Tử Dương đã cho thử hệ thống “khoán sản” cho nông dân chịu trách nhiệm về mảnh đất mà họ trồng trọt, thay vì chỉ theo chỉ tiêu của công xã nhân dân. Cuộc cải tổ táo bạo này đã nâng sản năng nông phẩm của toàn tỉnh. Chính thành tích này đã khiến Ðặng Tiểu Bình chú ý tới và nâng Triệu Tử Dương lên làm ủy viên dự khuyết Bộ Chính Trị vào năm 1977, và hai năm sau thành ủy viên chính thức, một cuộc thăng quan tiến chức rất nhanh. Sang năm 1978 Ðặng Tiểu Bình bắt đầu cho áp dụng một số chính sách thay đổi nền kinh tế “xã hội chủ nghĩa.” Năm 1980 Triệu Tử Dương được phong làm phó thủ tướng, rồi mấy tháng sau lên làm thủ tướng Trung Quốc. Năm 1984 ông đi thăm nhiều quốc gia, trong đó có nước Mỹ. Năm 1987 Triệu Tử Dương được làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc thay Hồ Diệu Bang, nhưng hai năm sau thì ông mất chức vì muốn đi xa hơn trong việc cải tổ chính trị.

Về cuộc tàn sát Thiên An Môn, Triệu Tử Dương nói, “Tôi tự nhủ, dù bất cứ cái gì xẩy ra, tôi không thể nào là người tổng bí thư ra lệnh cho quân đội đàn áp sinh viên... Ðêm mùng Ba Tháng Sáu, tôi ngồi trong sân sau với gia đình, nghe thấy tiếng súng nổ. Một thảm kịch làm cả thế giới bị sốc đã không tránh được, giờ này đang diễn ra.”

Ðặng Tiểu Bình vẫn được coi là người xướng xuất cuộc “cải tổ” xóa bỏ kinh tế Cộng Sản ở Trung Quốc. Nhưng nay Triệu Tử Dương nói thẳng chính ông là người đi tiên phong trong cuộc cách mạng đó. Không những ông đã xóa bỏ các công xã nhân dân của Mao Trạch Ðông trước tiên, ông cũng là người khuyên Ðặng Tiểu Bình thành lập những khu kinh tế đặc biệt chuyên sản xuất để xuất cảng, một mô thức đã được áp dụng ở Ðài Loan trước đó. Trong lời giới thiệu cuốn Tù Nhân của Nhà Nước, Roderick MacFarquhar nhận xét rằng: “Ðọc những lời tự sự chân thật và không chút khoe khoang của ông, chúng ta thấy chính ông chứ không phải Ðặng là kiến trúc sư của cuộc cải tổ. Ðặng không đưa ra những tư tưởng mới, chính Triệu là người đưa ra.” Trên mặt chính trị, cuốn sách cho thấy Triệu Tử Dương đã thay đổi tư tưởng từ những ngày ông làm tổng bí thư đảng cho tới ngày ông qua đời năm 2005.

Khi còn lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc, Triệu Tử Dương vẫn chủ trương nước ông không thể theo chế độ đa đảng. Nhưng khi suy nghĩ trong thời gian bị quản thúc, ông đã nhận ra rằng công cuộc cải tổ kinh tế chỉ thành công nếu những người cai trị phải có chức trách (accountability), người dân phải được tự do tổ chức hội họp, và hệ thống tư pháp phải độc lập với đảng cầm quyền. Ông nói là, “Chính hệ thống dân chủ đại nghị đã chứng tỏ có sức sống mạnh nhất. Nếu chúng ta không tiến tới trên mục tiêu này thì không thể nào giải quyết được những hiện tượng bất bình thường trong nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc.”

Trái với Ðặng Tiểu Bình là người mà ông mô tả là hoàn toàn tin tưởng vào chế độ độc tài của đảng Cộng Sản, Triệu Tử Dương chủ trương ngược lại là phải giảm bớt sự tập trung quyền hành trong tay một đảng. Ông viết: “Nếu một đảng chính trị mà quyền lực không bị ai giám sát, thế nào nó cũng sinh ra các quan chức tham nhũng.” Những lời nói phải rất giản dị đó đã bị giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải bỏ qua! Cuốn sách gồm 30 giờ nói chuyện của Triệu Tử Dương sẽ ghi danh ông trong lịch sử Trung Quốc. Một người đã chết vẫn cất được tiếng nói từ đáy mộ, nhờ các đồng chí như Bao Ðồng tận tâm tận lực bảo vệ tiếng thơm của ông.

Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam đang theo chủ nghĩa Ðặng Tiểu Bình, người mà trong những năm 1979 - 80 bộ máy tuyên truyền ở nước ta vẫn gọi tên là Ðặng Lưu Manh.

Theo Lưu Manh có lợi cho riêng mình và gia đình mình. Nhưng nếu biết thuận theo lẽ phải thì sẽ tránh được tiếng xấu ngàn năm.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Những diễn tiến trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ?

Như tôi nói làm một con đường đi qua lãnh thổ của Trung Quốc thì là phải qua đèo cao, thế thì đi vòng chân đồi mở rộng sang chỗ đường bằng phẳng đi vòng trên đất nước Việt Nam thì đường ô-tô dễ đi. Lúc không có chuyện thì không sao, nhưng bây giờ anh nói đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy. ....Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi.

Những diễn tiến trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ?

Mới đây, Trung Quốc đã mạnh mẽ chống lại việc Hà Nội đệ trình bản đăng ký thềm lục địa mở rộng tại Liên Hiệp Quốc vào ngày 7 tháng 5 vừa qua và động thái này ngay sau đó đã bị Việt Nam phản bác.
Hà Nội cũng vừa công khai đặt mua một số tàu ngầm tối tân của Nga với số tiền bằng phân nửa ngân sách quốc phòng hàng năm của Việt Nam . Điều gì đang xảy ra giữa bang giao Trung -Việt khi chỉ cách đây ít lâu Việt Nam vẫn còn rất dè dặt khi nói đến vấn đề nhạy cảm này ?
Mặc Lâm phỏng vấn ông Dương Danh Dy một nhà ngoại giao kỳ cựu có nhiều chục năm làm việc tại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc để biết thêm những kinh nghiệm mà nhà ngoại giao này có được.

Tranh chấp thềm lục địa

Mặc Lâm: Thưa ông vào ngày 7 tháng 5 vừa qua Việt Nam đã đăng ký thềm lục địa mở rộng dù biết rằng Trung Quốc sẽ chống đối. Xin ông cho biết việc làm này có ý nghĩa như thế nào trong hoàn cảnh hiện nay ?

Ông Dương Danh Dy : Ta báo trước cho Trung Quốc biết đấy. Tôi nói cho các anh biết là tôi sẽ đăng ký cái này dù các anh có phản đối. Tức là tôi qua đó để nói với anh rằng thái độ của chúng ta, những nhà lãnh đạo của chúng ta bây giờ cũng là cương quyết rồi. Chúng ta có thể nói là những vấn đề lớn, những vấn đề nguyên tắc là chúng ta không lùi.

Mặc Lâm : Với kinh nghiệm nhiều năm làm việc trong lĩnh vực ngoại giao ông đã tiếp cận khá nhiều với Trung Quốc, ông có nhận xét gì về cách mà nước này đối phó với Việt Nam trong những năm qua ?

Ông Dương Danh Dy : Theo tôi, vấn đề của ta với Trung Quốc, ngoài những vấn đề bauxite ở trên lục địa thì bây giờ vấn đề Biển Đông nó nổi lên thành một vấn đề có thể nói là nhạy cảm, gay gắt và nó thể hiện rõ cái quan hệ hai nước ấm lạnh như thế nào là cũng qua đây nó thể hiện đấy.
Nhưng trong vấn đề này thì tôi nghĩ rằng Việt Nam chúng ta bây giờ không thể, nhưng mà muốn giải quyết vấn đề này (thì) không có cách gì khác là phải dựa trên sức mạnh dân tộc. Sức mạnh dân tộc đây tôi nói là cả trong và ngoài nước chứ không phải là chỉ có trong nước đâu. Ngoài nước cũng là sức mạnh rất đáng kể mà trước đây tôi đã rất chú ý vấn đề này nhưng mà gần đây thì người trong nước mới chú ý đến họ.
Thế thì đấy là sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại. Sức mạnh của thời đại đây tức là cái công khai hoá, cái quốc tế hoá, cái đa phương hoá để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của những người đồng tình với chúng ta.

Mặc Lâm : Dư luận cho rằng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc đã viện trợ cho miền Bắc rất nhiều và có lẽ sự trợ giúp quân sự này đã khiến cho Hà Nội tỏ ra quá mềm yếu trong khi đàm phán về biên giới giữa hai nước, phải không ạ?

Ông Dương Danh Dy : Bây giờ cũng không thể kết tội ai được bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi. Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.
Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy có những cái đúng là sự ngây ngô khờ dại, có những cái do lúc bấy giờ người ta giúp mình nhưng mà mục đích là đưa hàng hoá sang nhanh chẳng hạn.
Như tôi nói làm một con đường đi qua lãnh thổ của Trung Quốc thì là phải qua đèo cao, thế thì đi vòng chân đồi mở rộng sang chỗ đường bằng phẳng đi vòng trên đất nước Việt Nam thì đường ô-tô dễ đi. Lúc không có chuyện thì không sao, nhưng bây giờ anh nói đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy.
Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi.

Ứng phó với Bắc Kinh ?

Mặc Lâm : Mới đây thì Việt Nam đã chính thức đặt hàng mua một số tiềm thủy đỉnh tối tân của Nga. Ông nhận định việc này ra sao?

Ông Dương Danh Dy : Phông phải bây giờ mới là lần đầu. Ta có tên lửa, ta có máy bay tầm xa, ta có tàu ngầm bỏ túi, trước những cái này rồi. Tôi nói thật báo chí Trung Quốc họ công khai rồi, các anh không có đọc nên không biết đó thôi.
Báo chí Trung Quốc đánh giá lực lượng mình, cho điểm rất kỹ : máy báy SU-30, SU-37 của Nga thế nào, tàu ngầm bỏ túi của Triều Tiên như thế nào, họ biết cả đấy. Tên lửa tầm gần, tầm trung của ta như thế nào, họ biết cả đấy chứ không phải không đâu. Thế thì bây giờ cái chuyện chúng ta mua 6 tàu ngầm của Nga, như vậy đó là nằm trong kế hoạch.
Chúng ta thì không chạy đua vũ trang nhưng mà chúng phải có cái bảo vệ mình. Anh không còn lùi được nữa. Trên bộ xong rồi thì bây giờ trên biển đấy. Trên bộ thì họ còn cái bauxite, họ cắm cái dao găm vào đấy. Nhưng mà cái đó các anh bên ngoài theo dõi cũng thấy.
Nhân dân mình cảnh giác, người già cảnh giác, trẻ cảnh giác, cũng là một mặt nhưng mà không đáng ngại, nhưng còn cái biển thì bây giờ cái vấn đề nó nóng bỏng rồi, không lui được nữa rồi, chỉ có cách bây giờ mình giải quyết như thế nào?
Theo tinh thần của cha ông mình, khôn ngoan khéo léo dựa vào sức mạnh của ta, sức mạnh trong nước, sức mạnh ngoài nước, sức mạnh của thế giới, sức mạnh của dư luận tiến bộ, vân vân.

Mặc Lâm : Ông có nghĩ rằng động thái mua võ khí tối tân của Việt Nam có làm cho Trung Quốc đi đến những quyết định quân sự mà từ lâu họ vẫn âm thầm chờ đợi hay không?

Ông Dương Danh Dy : Tôi nghĩ rằng trong lúc này phía Trung Quốc họ chưa làm được cái gì lớn đâu. Cho đến tháng 10 sang năm Trung Quốc tổ chức triển lãm quốc tế ở Thượng Hải, cho nên trong giai đoạn này thì Trung Quốc chưa dám làm điều gì lớn ở Biển Đông đâu.
Nhưng mà sau thời điểm 2010 trở đi thì chưa biết họ làm cái gì đâu. Họ kinh khủng lắm chứ. Không phải là đùa với người láng giềng này được đâu.

Mặc Lâm : Trong khi làm việc với Trung Quốc, ông có nhận xét gì về những chiến lược của họ đối với vấn đề biên giới hai nước ? Đặc biệt là biên giới trên bộ ?

Ông Dương Danh Dy : Trong cái chuyện Biển Đông bây giờ thì nó lại còn gay gắt hơn trên bộ bởi vì rõ ràng là trong cái chuyện này thì đây là một cuộc đối đầu không cân sức. Trung Quốc mạnh hơn ta rất nhiều. Thế thì mình bây giờ phải có biện pháp khôn ngoan làm thế nào để mình giữ vững được. Chúng ta cũng phải xem lại, xem mình như trước đây chủ trương công khai như vậy đã đúng chưa ?
Theo tôi nghĩ bây giờ đương giai đoạn nung nấu. Vấn đề này hiện nay đã trở thành vấn đề thời sự trong nước. Bây giờ ở trong nước tôi biết là ta tìm được quả ấn chứng tỏ rằng ngày xưa đất của chúng ta ở gần Bằng Tường, cách biên giới bây giờ khoảng hai chục cây số, tức là các cụ nhà mình cũng mất đất cho Trung Quốc, cho nên những người bên ngoài cứ bảo rằng chúng tôi là hèn, chúng tôi bán nước, chúng tôi không có cái chuyện đó đâu.
Chúng tôi đấu với họ (Trung Quốc) cũng căng lắm chứ, nhưng mà trong cái tương quan lực lượng, nhất là biên giới trên bộ, anh nào yếu hơn, anh nào khôn hơn, lọc lõi hơn, mình thì yếu hơn lại có những lúc dại khờ, có những lúc cả tin, tất nhiên cái chuyện thua thiệt là cái điều khó tránh khỏi. Khó chứ không phải dễ tránh nổi lịch sử đâu !

Mặc Lâm : Và cuối cùng xin ông một kết luận về những điều mà ông cho là quan trọng nhất để người Việt chúng ta dè chừng và đối phó với họ?

Ông Dương Danh Dy : Tôi làm việc với Trung Quốc suốt từ năm 1962 đến năm nay về hưu rồi nhưng mà vẫn cứ tiếp xúc với những người làm với Trung Quốc là cái anh láng giềng nó to, nó khoẻ, nó lại tham, nó lại xấu tính. Mệt lắm. Lúc hữu nghị mình tưởng nó hữu nghị nó giúp mình hết sức, nhưng mà nó cũng luôn luôn tìm cách nó thọc gậy.
Tất nhiên là những cái giúp đỡ của họ với mình thì mình không bao giờ quên. Nó to lớn lắm! Nhưng mà ngay trong những lúc họ giúp đỡ mình to lớn nhất họ vẫn có ý đồ. Có, mà lúc đầu mình không để ý. Cho nên trong cái buổi phát biểu gần đây tôi có nói như thế này: “Mắt tôi đã từng thấy thế hệ cha anh bị Trung Quốc mang lòng tin ra để đánh lừa, thế hệ tôi cũng có lúc bị Trung Quốc mang cái lòng tin ra để đánh lừa. Tôi hy vọng và mong rằng thế hệ sau tôi không mắc những cái nhược điểm đó”.

Mặc Lâm : Thưa, một lần nữa xin cám ơn ông đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn rất đặc biệt này.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

CỨU NƯỚC

Đỗ Thái Nhiên
Ngày 09/03/2009, báo Lao Động của CSVN loan tin: Ngày 04/03/09, tại Hà Nội Ban Thường Trực Ủy Ban Trung Ương MTTQVN và quân chủng Hải Quân đã thống nhất các biện pháp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lóp quần chúng nhân dân. Bản tin này kết luận bằng cách nhắc lại một câu nói của tiền nhân: “Ta phải giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc sông của tổ tiên.”

Ngày 17/03/2009, Chương trình Nghiên Cứu Biển Đông cùng với Học Viện Ngoại Giao đã tổ chức tại Hà Nội, một cuộc hội thảo với đề tài: “Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị, và luật pháp quốc tế”. Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó Giám Đốc Thư Viện Hán Nôm viết về cuộc hội thảo này như sau: “Hội thảo đã diễn ra trong một ngày (Kết thúc lúc 5giờ 30 chiều) với một tinh thần khẩn trương. Các trao đổi bên lề và các thảo luận tại hội trường thực sự sôi nổi, chất lượng và khoa học. Đây là cuộc hội ngộ của những tấm lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm dấn thân vào mọi nỗ lực giữ bằng được biển Đông”.

Các tin tức nêu trên làm một số người nức lòng. Có người không ngần ngại cho rằng Hà Nội đã bật đèn xanh cho một phong trào dân tộc thượng tôn, toàn dân cứu nước. Tại hải ngoại có vài cá nhân /tổ chức công khai, hoặc kín đáo kêu gọi mọi người Việt Nam hãy kết hợp với CSVN để quyết liệt chống Tàu. Vài người còn nêu bật phương châm: “Cứu nước trước. Chống Cộng sau”

Câu hỏi cần đặt ra là: Liệu chừng lần này CSVN có thực sự muốn cùng với toàn dân cứu nước hay không? Câu trả lời nằm trong các bản tin sau đây:

1)Tin về việc CSVN bảo vệ “lưỡi bò Trung Quốc” trên biển Đông.

a) Tuy chưa bao giờ chính thức công bố, nhưng bằng nhiều hình thức truyền thông khác nhau, Trung Quốc đã cho toàn thế giới biết Trung Quốc khẳng định trọn bộ biển Đông là biển của Trung Quốc. Lãnh hải của Trung Quốc trên biển Đông do Trung Quốc đơn phương vẽ ra chiếm 75% biển Đông và có hình dạng giống cái lưỡi bò. Trên lưỡi bò kia có Hoàng Sa, Trường Sa và vô số các đảo khác. Ngày 10/03/2009 Philippines ban hành đạo luật Cộng Hòa 9522 xác định chủ quyền đối với hơn 7100 đảo, bao gồm một phần của Trường Sa. Trọng tâm của đạo luật 9522 là quyết tâm xé bỏ lưỡi bò Trung Quốc chứ không là một phần Trường Sa. Vì vậy, sự việc CSVN cùng Trung Quốc phản đối đạo luật 9522 của Philippines cần được hiểu là CSVN đã tích cực bảo vệ lưỡi bò giùm cho Trung Quốc.

b)Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển ra đời ngày 10/12/1982. Ngày 25/07/1994, CSVN phê chuẩn công ước biển 1982. Công ước này qui định: các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng bên ngoài 200 hải lý. Vẫn theo luật biển 1982: Muốn thềm lục địa được quốc tế bảo vệ, Việt Nam phải nộp hồ sơ thông báo cho Ủy-Ban-Ranh-Giới-Thềm-Lục-Địa của Liên Hiệp Quốc để cơ quan này ghi nhận thế nào là địa hình và diện tích của thềm lục địa Việt Nam. Hạn chót để Việt Nam đệ nạp hồ sơ kia là ngày 13/05/2009. Sở dĩ mãi cho tới bây giờ, CSVN vẫn chưa tiến hành thủ tục xác nhân thềm lục địa như vừa kể là vì thềm lục địa Việt Nam đương nhiên phủ nhận lưỡi bò của Trung Quốc. Nói rõ ra: CSVN không xác nhận lãnh hải Việt Nam chỉ vì muốn bảo vệ sự nguyên vẹn lưỡi bò Trung Quốc.

2)Tin về việc CSVN “giải phóng” Trung Quốc ra khỏi cơn túng thiếu bauxite-nhôm:

Mặc dầu cả nước ngăn cản, cả thế giới ngăn cản, CSVN vẫn một lòng trung thành với Trung Quốc đến độ mở cửa đón công nhân Trung Quốc lũ lượt vào Tây Nguyên khai thác bauxite. Công việc khai thác này để lộ ba nghịch lý lớn:

a) Trên lãnh thổ Trung Quốc, bauxite đã tàn phá môi sinh quá nặng nề. Đó là lý do khiến Trung Quốc quyết dịnh đóng cửa 100 mỏ bauxite ở Hà Nam trước khi kéo công nhân và máy móc qua Việt Nam khai thác bauxite.

b) Công ty ngoại quốc vào Việt Nam kinh doanh, phải thuê mướn công nhân Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc vào Việt Nam kinh doanh lại ngang nhiên mang theo nhiều ngàn công nhân Tàu cho mỗi đơn vị kinh doanh.

c) Ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN mạnh mẽ cam kết: “An ninh Việt Nam vẫn được bảo đảm” trước sự kiện Trung Quốc kéo vào Tây Nguyên. Kinh nghiệm sống với CS đã dạy người Việt Nam rằng CS bao giờ cũng làm ngược lại những gì họ cam kết.

Ba nghịch lý kể trên cho thấy CSVN quyết tâm lấy đất đai của Tổ Tiên Việt Nam làm bãi rác cho người Tàu nhằm cứu Trung Quốc thoát khỏi nạn khan hiếm chất nhôm tinh luyện từ bauxite.

3)Tin về việc CSVN ra tay cứu nguy nạn thất nghiệp đang bành trướng ở Trung Quốc:

Theo tin Báo Tuổi Trẻ: Ngày 27/03/2009 Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam có tổ chức một cuộc hội thảo chung quanh chủ đề Hoạt Động Xây Dựng Tại Việt Nam. Nhân cuộc hội thảo này, ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam đã thông báo cho toàn thể tham dự viên biết các sự kiện sau đây:

a) Doanh nghiệp Trung Quốc được hỗ trợ của nhà nước Việt Nam như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn các công ty nước ngoài khác. Vì vậy, nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất đều về tay nhà thầu Trung Quốc.

b) Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân vào Việt Nam với đầy dủ trang thiết bị. Trong khi những trang thiết bị Việt Nam có thể sản xuất để bán cho Trung Quốc. Mặt khác, mỗi công trình Trung Quốc mang vào Việt Nam tối thiểu hai ngàn công nhân.

c) Trang thiết bị Tàu và công nhân Tàu đổ vào Việt Nam như kể trên đang làm “triệt tiêu nội lực”( chữ dùng trong cuộc hội thảo) kinh tế Việt Nam.

d) Năm 2007 Trung Quốc đẩy vào Phi Châu 750 ngàn công nhân hoạt động trong các lãnh vực: xây dựng, nông nghiệp, khoáng sản. Tháng 02 năm 2009 Bộ Trưởng Thương Mãi Trung Quốc nói với đài BBC rằng: Thất nghiệp là “thách thức lớn nhất” mà Trung Quốc đang đối diện.

Trong khi đó trong một báo cáo của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội CSVN cho biết chỉ ba tháng đầu năm 2009 Việt Nam đã có tới 700.000 người thất nghiệp.

Sự việc CSVN tạo điều kiện để nhà thầu Tàu, công nhân Tàu với vô số nhóm 2000 người (chưa kể vợ con) tự do tung hoành trên toàn lãnh thổ Viêt cho thấy CSVN quyết tâm cứu nguy nạn thất nghiệp tại Trung Quốc. Do mải mê cứu nguy Tàu, CSVN lờ đi thảm cảnh kinh tế Việt Nam tiêu tan nội lực, dân Việt Nam đói, thợ Việt Nam thất nghiệp.

Tóm lại, bài viết này có mục tiêu nêu bật hai thái độ ứng xử của CSVN:
Thứ nhất là ứng xử đối với đồng bào Việt Nam: CSVN ban phát cho đồng bào Việt Nam hai quyền tự do không có trong nhân quyền. Đó là tự do đói và tự do thất nghiệp. Nhằm che đậy phần nào cung cách ứng xử tệ hại kia, CSVN ra lệnh cho Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng với binh chủng hải quân kéo cao ngọn cờ dân tộc nay đã tả tơi. Bên dưới ngọn cờ tả tơi là tấm biểu ngữ với hàng chữ: “Quyết tâm bảo vệ từng thước núi tấc sông của tổ tiên bằng nước bọt”.

Thứ hai là ứng xử với Trung Quốc: CSVN nỗ lực tỏ lòng trung thành với Trung Quốc bằng kịch bản ba cứu: Một là cứu “Lưỡi bò” Trung Quốc không bị xé rách. Hai là cứu Trung Quốc thoát cơn khan hiếm bauxite-nhôm. Ba là cứu Trung Quốc giảm thiểu đại họa thất nghiệp.

Mang hai kiểu ứng xử kể trên đặt cạnh nhau, không ai là không nhận biết: Quả thực, chế độ Hà Nội đã và đang cực kỳ mẫn cán trong công việc cứu nước. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh rằng nước ở đây là nước Tàu chứ không là nước Việt Nam. CSVN chỉ biết cứu nước Tàu. Nước Việt Nam là nơi CSVN ngày càng tăng cao cường độ bóc lột và hành hạ đồng bào khốn khổ của chính họ. Mặt khác trong kịch bản ba cứu có kịch bản cứu thất nghiệp Trung Quốc là đáng chú ý nhất. Lá cờ bauxite chỉ cho phép Trung Quốc “đóng quân” ở những nơi nào có quặng bauxite. Ngọn cờ “Nhà thầu Trung Quốc trúng thầu xây dựng” mở đường cho Trung Quốc tung hoành trên khắp lãnh thổ Việt Nam.Với ngọn cờ xây dựng, Trung Quốc chia “quân” ra làm nhiều đơn vị khác nhau. Mỗi đơn vị tối thiểu 2000 người, chưa kể vợ con, tùy tiện “tiếp thu” những phần lãnh thổ trọng yếu của Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia là một đòn chí tử làm tiêu tán nội lực của dân tộc Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia chẳng khác nào một bọc ung thư đang nhảy cóc trên cơ thể Mẹ Việt Nam. Chừng nào những bọc ung thư quái ác vừa kể nhảy đúng vào tim, vào gan hay vào óc của Mẹ Việt Nam, Chừng đó MẸ SẼ QUA ĐỜI. Đó là tội ác, quỷ phải khóc, thần phải sầu của chế độ Hà Nội.

Đỗ Thái Nhiên

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

TỪ HOÀNG SA ĐẾN TÂY NGUYÊN "Ngày nhậm chức, ông Ngữ nói: "Với cương vị Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa tôi thấy rõ hơn trách nhiệm của mình nặng nề hơn trước nhân dân. Đây là mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc, là máu thịt của tôi, của dân tộc và của tổ quốc mình. Nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo. Hoàng Sa là của Việt Nam. Chúng tôi đang triển khai xây dựng cuốn kỷ yếu, sách viết về Hoàng Sa". Đúng. Hoàng Sa là của Việt Nam Và nhiệm vụ của mọi người Việt Nam là chiến đấu, là hy sinh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ từng mảnh đất, từng hải đảo xa xôi ..."

Đảng Cộng Sản VN lại tiếp tục diễn trò hề bằng cách ra quyết định ngày 21/4, để bổ nhiệm ông đảng viên Đặng Công Ngữ làm chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa trong nhiệm kỳ 2009-2014. Việc bổ nhiệm tùy tiện, tùy ý một đảng viên vào bất cứ một chức vụ nào trong chính quyền là một điều bình thường dưới chế độ CS mà không ai được quyền thắc mắc. Cái không bình thường ở đây là ông đảng viên này được bổ nhiệm làm “chủ tịch” của một huyện đảo đã không còn là của Việt Nam, nó đã mất vào tay Trung Cộng hơn 35 mùa lá rụng rồi.

Image
Quân Trung Cộng tuần tra trên Hoàng Sa chiếm được của VN từ năm 1974.



Ngày nhậm chức, ông Ngữ nói: "Với cương vị Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa tôi thấy rõ hơn trách nhiệm của mình nặng nề hơn trước nhân dân. Đây là mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc, là máu thịt của tôi, của dân tộc và của tổ quốc mình. Nhiệm vụ trước mắt của chúng tôi là sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo. Hoàng Sa là của Việt Nam. Chúng tôi đang triển khai xây dựng cuốn kỷ yếu, sách viết về Hoàng Sa". Đúng. Hoàng Sa là của Việt Nam. Và nhiệm vụ của mọi người Việt Nam là chiến đấu, là hy sinh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ từng mảnh đất, từng hải đảo xa xôi của tiền nhân để lại dù có phải trả bằng máu. Nhưng tổ quốc là của ai? Tổ quốc có phải là tài sản riêng của đảng Cộng Sản Việt Nam, nhất là của những tên lãnh đạo chóp bu tham lam, ngu dốt và hèn mọn trong bộ Chính Trị? Tổ quốc có phải là tài sản của những đảng viên cộng sản thối nát, tham nhũng, đã đồng lõa với nhau để moi ruột tồ quốc và móc mắt dân tộc? Không, nhất định không. Tồ quốc của chúng ta là của Hai bà Trưng, của Ngô Quyền, của Lý Thường Kiệt, của Quang Trung, của các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong trận hải chiến đẫm máu ngày 19/1/1974 để bảo vệ Hoàng Sa, và của hơn 70 chiến sĩ đã nằm lại ở vùng biển Trường Sa năm 1988. Thiệt thê thảm! Hoàng Sa mất đã 35 năm, giặc Tàu đã biến Hoàng Sa thành một căn cứ hải quân hùng mạnh của chúng ở biển Đông, vậy mà mãi đến hôm nay cái đảng cướp thổ tả của ông Ngữ mới “đang triển khai xây dựng cuốn kỷ yếu, sách viết về Hoàng Sa”!!!.


Nhớ lại trận hải chiến Hoàng Sa năm xưa, dù trước một địch thủ đông hơn, mạnh hơn gấp bội, các chiến sĩ Hải quân VNCH đã chiến đấu kiên cường. Dù thất trận họ đã làm cho kẻ thù truyền kiếp phải khiếp đãm khi 1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy của chúng đã đền tội trên bốn chiếc chiến hạm ngay khi chiến sự vừa xảy ra. Ngày đó, trong lúc Hải Quân Việt-Nam Cộng-Hoà đang quyết chiến một mất một còn với bọn rợ Hán trên biển Đông để bảo vệ “toàn vẹn lãnh thổ biển đảo” thì quân đội cộng sản Việt gian của ông Ngữ đang làm gì? Bộ chính trị Hà-Nội đã chọn thái độ “câm như hến”, chúng không hề dám lên tiếng, “dù chỉ một lời không đáng chi” để chỉ trích bọn quan thầy Trung Cộng xâm lăng lãnh thổ VN. Chúng phớt lờ lời kêu gọi của phía VNCH tạm ngừng chiến sự để đối phó với quân bành trướng Trung Cộng. Không những thế, bọn lãnh đạo CSVN còn thừa cơ “nước đục thả câu”, gia tăng chiến sự, chúng ra sức hối hả, cuống cuồng lùa hàng vạn thanh niên miền Bắc theo đường mòn “Hồ chí Minh” để tấn chiếm miền Nam qua những trận địa pháo và chiến thuật biển người ở các mặt trận ở Tây Nguyên và miền Trung như ở Bình-Long, An-Lộc, Komtum và Quảng-Trị.


Image


Trong suốt khoảng thời gian sáng tạo trò chơi “giải phóng dân tộc”, để có đủ quân tiến chiếm miền Nam, “cha già dân tộc” và đám lãnh tụ CS cầy cáo ở Bắc bộ phủ Hà-Nội đã từng để cho quân Trung Cộng vào trấn đóng miền Bắc. Thật đúng với thái độ của những kẻ “khôn nhà dại chợ!” hay chính xác hơn là “cõng rắn cắn gà nhà”. Rồi cũng vì ngày oan nghiệt 30/4/1975 mà những kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa của quân lực VNCH đã không bao giờ thực hiện được.



Chẳng có người Việt Nam nào không cảm thấy đau đớn, xót xa khi xem lại những đoạn phim do bọn Trung Cộng ghi lại khi chúng ngang nhiên xua quân chiếm hàng loạt đảo của VN tại Trưòng Sa vào năm 1988. Từ chiến hạm chúng lạnh lùng nã súng vào những người lính hải quân VN trên những tàu chiến thô sơ mua lại của Nga. Bọn lãnh tụ CS khiếp sợ giặc Tàu đến nỗi chúng hoàn toàn bắt người lính VN phải ở thế thụ động và kết quả 3 chiếc tàu chiến của VN bị chìm, hơn 70 người lính hy sinh trong khi về phía Trung Cộng chỉ có 1 tên lính bị thương… ở cánh tay! Bây giờ tại Đông Nam Á, lãnh đạo các nước Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Phillipines đều thấy rõ mộng bành trướng của bọn rợ Hán trên biển Đông. Những nước này ra sức canh tân lực lượng hải quân bằng cách mua các tàu chiến, tàu ngầm và vũ khí tối tân của các nước phương Tây. Trong khi đó, bọn lãnh tụ cộng sản vẫn ngủ mê trên cái quá khứ phù ảo “kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Chúng vẫn cứ ăn cắp, bán sạch mọi tài nguyên quốc gia cho ngoại bang để hưởng thụ, để làm giàu cho bản thân và gia đình. Bọn Ủy viên bộ chính trị đã phóng uế lên danh dự Việt Nam. Chúng nó làm cho ngoại bang khinh thường cái uy linh của dân tộc. Thấy rõ những yếu kém và hèn mạt của chúng, giờ đây các nước Phillipines, Đài Loan, Malaysia cũng bắt chước bọn Hán tộc xâu xé và giành giật biển đảo của Việt Nam. Liên tiếp những tổng thống, rồi thủ tướng của các nước này “ghé thăm” Trường Sa của Việt Nam để động viên binh sĩ họ trước sự bất lực của đảng CSVN. Con két Lê Dũng chỉ biết chổng mông lên hót “lập trường của Việt Nam về vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rõ ràng. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này”. Chưa hề thấy bất cứ một tên Uỷ viên bộ chính trị nào có can đảm bỏ ra vài ngày ngừng ăn cắp, ngừng tiệc tùng liên hoan, ngừng khiêu vũ trên nỗi thống khổ của dân tộc, để ra thăm các “đồng chí” của chúng nó đang “làm nhiệm vụ thiêng liêng” ở Trường Sa.



Kinh nghiệm lịch sử tranh đấu của dân tộc đã dạy chúng ta những bài học quý giá, tủi nhục và đớn đau với kẻ thù truyền kiếp của nòi giống Bách Việt. Kẻ đã đô hộ đất nước ta hàng nghìn năm, kẻ đã đày đọa ông cha ta, bắt ông cha ta cống cho chúng nó ngọc trai, ngà voi, người vàng, gái đẹp, thầy thuốc giỏi, thợ lành nghề hết từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Chúng ta chưa hề quên Lê Chiêu Thống với sự nghiệp ruớc giặc vào nhà. Chúng ta chưa quên “lãnh tụ vĩ đại Hồ chí Minh” đã phát động “Tuần Lễ Vàng” quyên vàng của dân, nói rằng để mua vũ khí chống Pháp. Nhưng kỳ thực“lãnh tụ vĩ đại” đã lừa bịp ngưòi dân một cách tàn nhẫn. Vàng của dân đã được lãnh tụ đem cống hiến cho tướng Tàu Tiêu Văn. Trong thời gian quân Tàu phù sang Việt Nam để giải giới quân Nhật, chúng đã thừa cơ cướp bóc, hãm hiếp dã man dân Việt. Chúng sang Việt Nam rồi không chịu về, chúng cứ muốn ở lỳ ra mãi. Muốn đuổi chúng về “lãnh tụ vĩ đại” chỉ còn cách mang vàng của dân ra hối lộ cho thằng tướng Tàu để nó rút quân về. Những trang lịch sử chó đẻ ngày xưa còn chưa ráo mực thì ngày nay, bọn lãnh tụ phỉ quyền cộng sản, vì cái lợi trước mắt, vì để bảo vệ quyền uy thống trị của chúng, vì hạnh phúc của vợ con chúng, chúng lại cam đành luồn cúi bá quyền Trung Hoa. Chúng một lần nữa lại tình nguyện làm con chó nhỏ, rước giặc vào nhà.



Với những ai biết rõ sự thâm độc, nham hiểm truyền thống của nòi Hán, sẽ thấy rõ bọn lãnh tụ phỉ quyền Cộng Sản đã cố tình làm băng hoại đất nước Việt Nam yêu dấu khi chúng đồng ý cho giặc Tàu vào khai thác Bauxit ở Tây Nguyên. Hàng ngày chúng ta vẫn nghe những cái loa của bọn phỉ quyền cộng sản nhả ra hàng loạt thống kê “thắng lợi” khi chúng đẩy hàng triệu người Việt Nam khốn khổ vì không có công ăn việc làm trong nước ra nước ngoài kiếm ngoại tệ bằng cái danh xưng mỹ miều là ‘xuất khẩu lao động”. Nay chỉ vì quyền lợi trước mắt của phe nhóm, chúng nó lại dang tay ra ruớc hàng ngàn thằng giặc Tầu vào lao động trong nước. Chưa nói tới những hiểm họa tàn khốc cho môi trường do việc khai thác Bauxit. Chưa nghĩ đến một “nền văn hóa cồng chiêng” sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi Tây Nguyên. Chỉ mới nghĩ rằng rồi đây hàng ngàn thằng công nhân (hay gián điệp) Tàu phù này sẽ ở lỳ trên đất Việt Nam vĩnh viễn thì những người Việt Nam còn quan tâm đến quê hương, đến giống nòi sẽ không khỏi âu lo vì rõ ràng nó là mối họa khôn lường cho dân tộc Việt. Càng nghĩ, chúng ta càng thêm tủi hổ với anh linh các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chiến đấu chống Tàu.



Than ôi! hình như dân tộc chúng ta không thể lớn nổi? Hình như tiếng kêu than thống thiết, sầu thảm của người dân Việt chẳng hề lay động nổi tâm hồn chai đá của đám lãnh tụ phỉ quyền Cộng Sản. Chúng vẫn say sưa trong tiếng kêu của nút Champagne nổ tiếp tân và tiếng cười hữu nghị thắm thiết tình nghĩa láng giềng sát nhân. Tất cả đều đã rõ. Những người trẻ VN hôm nay, đặc biệt là những ngưòi lính hãy nhìn rõ hơn, để nhận đường chiến đấu. Nếu không mọi hy sinh sẽ chỉ đóng góp cho bọn giả danh, giả nghĩa vô sản củng cố cái ghế thống trị của chúng. Ngày nào còn bóng dáng bọn lãnh tụ CS giả hình, mãi mãi đất nước Việt Nam còn băng hoại, dân tộc Việt Nam còn quằn quại, còn đau thương. Và viễn ảnh mất nước vào tay giặc Tàu sẽ không còn xa nữa!


Lỗ Rốn,
http://blog.360.yahoo.com/blog-eqhbmtVN9NCHI50MY1tA

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

California bất trị

Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua trong lúc dân chúng California (rất ít) bắt đầu đi bỏ phiếu về 6 đề án liên quan đến ngân sách tiểu bang thì Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger đã bay đi Washington. Ông cùng với cả phái đoàn tiểu bang được Tổng Thống Barack Obama ca ngợi vì California đi bước đầu cả nước trong việc đặt tiêu chuẩn hiệu năng cao cho máy xe hơi nhằm giảm bớt số xăng dùng và bớt khí thải làm hại môi trường. Trước khi trở về nhà để bỏ phiếu rồi nghe kết quả thì chắc ông thống đốc cũng đoán được là dân chúng sẽ bác bỏ đề án cho phép chính phủ ở Sacrramento tiếp tục tăng thuế thêm 2 năm nữa để tìm ra 16 tỷ đô la lấp một phần lỗ hổng ngân sách tiểu bang mà ông thống đốc tiên đoán sang năm sẽ thiếu hụt hơn 41 tỷ.

Cứ bẩy năm cho tới chín năm tiểu bang được gọi là Bờ Biển Vàng lại lâm vào một cuộc khủng hoảng ngân sách. Nếu quý vị thắc mắc tại sao ngân sách lại theo một chu kỳ khủng hoảng không khác gì chu kỳ kinh tế trồi sụt, thì câu trả lời là đúng như vậy, mỗi khi kinh tế thoái trào là ngân sách tiểu bang này lại lâm nạn. Ngân sách tiểu bang California tùy thuộc quá nhiều vào thuế lợi tức cá nhân (53% hoặc nhiều hơn) cho nên khi kinh tế xuống thì số thuế thu được giảm đi không có cái gì thay thế được. Ðó là lý do chính cho tình trạng thâm thủng ngân sách biến thành khủng hoảng theo chu kỳ kinh tế.

Năm 1990 Thống Ðốc Pete Wilson đắc cử khi ngân sách tiểu bang đang bị khiếm hụt, sẽ lên tới hơn 4 tỷ đô la. Ðó cũng là một năm kinh tế thoái trào. Khi ông Wilson rời nhiệm sở, số khiếm hụt ngân sách lên tới hơn 14 tỷ (lúc đó toàn thể ngân sách chưa bằng một nửa ngày nay). Ông Gray Davis lên thay vừa lúc kinh tế California bùng lên nhờ cuộc cách mạng tin học. Ông đã cắt giảm hơn 5 tỷ đô la tiền thuế trong đó có 3 tỷ rưỡi thuế tiêu thụ, và giảm lệ phí mua bảng số xe. Ngân sách California đạt mức thặng dư kỷ lục. Cho tới khi kinh tế xuống và giá cổ phiếu các công ty tin học tụt dốc quá nhanh. Ông Davis đã bị dân mời về vườn khi ngân sách khiếm hụt 35 tỷ, mở đường cho tài tử chiếu bóng Schwarzenegger lên thay, cho tới bây giờ.

Thống Ðốc Schwarzenegger sẽ mãn nhiệm năm 2011. Ngay từ lúc tranh cử lần đầu ông đã nói sẽ cương quyết cải tổ chính quyền tiểu bang California để tránh tình trạng tài chánh mà ông đã thừa hưởng. Ông là người rất cương quyết, nói là làm và làm được, điều đó đã chứng tỏ ngay từ lúc còn thơ ấu, khi bị bố cấm không cho đi tập thể dục nhiều quá thì ông lập lấy phòng tập ở ngay trong nhà!

Nhưng nói đến California là nhiều người đã phải dùng đến chữ “bất trị” theo nghĩa xấu, ungovernable, không thể nào cai trị được. Lực sĩ Schwarzenegger và những vị thống đốc trước, thuộc cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, không ai trị nổi những khó khăn ở tiểu bang này. Vì California có những căn bệnh thâm căn không thể nào chữa được nếu giới chính trị trong tiểu bang, thuộc cả hai đảng, đồng tâm thay đổi tận gốc. Các nhà chính trị tiểu bang khi bàn đến những khó khăn, bế tắc, thường tìm cách để tội cho đảng đối thủ của mình, Cộng Hòa chê Dân Chủ, Dân Chủ trách Cộng Hòa. Nhưng có những nguyên nhân gây nên khó khăn, bế tắc nằm trong cả hệ thống cai trị cả hai đảng đã tạo nên. Mà hiện nay thì tất cả đang chỉ lo “làm chính trị” giành phe với nhau chứ không lo việc “trị quốc,” tức là thay đổi cách cai trị “quốc gia.”

Nếu coi như một nước riêng tách khỏi kinh tế nước Mỹ thì California với 40 triệu dân là nền kinh tế đứng hàng thứ sáu hoặc thứ bẩy trên thế giới. Nếu tính bằng đô la, tổng sản lượng của California cao hơn Trung Quốc, Mexico hoặc Ấn Ðộ. Riêng kinh tế Quận Los Angeles, với 10 triệu 400 ngàn dân, lớn ngang ngửa kinh tế nước Nga.

Nhưng cả guồng máy cai trị của tiểu bang gồm những mảnh chắp vá không theo một bản kế hoạch, một hệ thống nào cả; giống như một căn nhà được dựng lên mỗi tuần xây thêm một chút không có họa đồ. Có gần 60 “quận” (counties) trong đó có quận Los Angeles kể trên và có quận Alpine mà cuộc kiểm tra dân số năm 2000 cho biết chỉ có 1,208 người. Công việc giáo dục được chia cho gần một ngàn học khu (school districts) trong đó có học khu chỉ có một trường học duy nhất và học khu Los Angeles đông tới 700 ngàn học sinh.

Một định chế độc đáo của California là nền “dân chủ trực tiếp” với việc tu chính hiến pháp năm 1911, đặt ra ba định chế chính trị mới: Các cử tri có quyền “bãi miễn” (recall) các quan chức đã được bầu. Tiểu bang có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Và đặc biệt là những “đề án” (initiative hoặc proposition) đưa ra cho dân chúng bỏ phiếu để trở thành luật, chứ không phải chỉ do Quốc Hội và chính phủ đưa ra. Ðây là những sáng kiến rất đẹp nhưng khi phát triển thì đưa tới tình trạng bị các “khối quyền lợi riêng” (special interests) lạm dụng, một lý do khiến tiểu bang này trở thành bất trị.

Lúc đầu người ta nghĩ rằng đặt ra thủ tục “đề án” là để dân trực tiếp quyết định, thay vì để cho các đại biểu Quốc Hội làm việc nước, lo rằng họ dễ bị ảnh hưởng của các nhóm quyền lợi riêng “lóp bi.” Từ năm 1912 đến năm 1978 chỉ có 46 đề án được dân California thông qua. Trong cả thập niên 1960 chỉ có 9 đề án được thông qua. Nhưng sau đó thì trăm hoa đua nở: Từ 1980 đến năm 2000 trong toàn tiểu bang đã có 626 đề án được đưa ra, 123 đủ điều kiện để cho bỏ phiếu và 52 đề án chiếm được đa số phiếu. Thành quả trong 20 năm này cao hơn toàn thể 7 thập niên trước đó. Trong năm 2000 riêng quận Los Angeles có 40 đề án được đề nghị cho dân biểu quyết. Việc tìm hiểu các đề án và những hậu quả của chúng là một điều quá sức người, khiến các cử tri thấy việc đi bầu không còn ý nghĩa nữa. California là một tiểu bang có tỷ lệ đi bầu thấp nhất nước Mỹ.

Các định chế dân chủ trực tiếp muốn giảm bớt ảnh hưởng của những người “lóp bi” phục vụ cho những nhóm quyền lợi riêng. Nhưng các nhóm quyền lợi đã lợi dụng phương pháp cai trị trực tiếp này để đạt những mục tiêu của chính họ. Muốn có một đề án được đưa ra biểu quyết, người ta có thể bỏ tiền ra cổ động trong dư luận, rồi thuê người đi nói cho bùi tai lấy cho đủ chữ ký, và chi nhiều tiền quảng cáo, tất cả chi phí chỉ khoảng 15 triệu đô la.

Một hậu quả của tình trạng dân chủ trực tiếp này là hạn chế số thuế thu vào; và rất nhiều khoản trong ngân sách không thể thay đổi được, dù số thuế thu vào có xuống thấp. Năm 1988 dân chúng California thông qua một đề án buộc chính phủ phải dành 40% ngân sách tổng quát (khoảng 30% toàn thể ngân sách) cho việc giáo dục tiểu và trung học, và mỗi năm ngân sách đó phải tăng lên với nền kinh tế và với số học sinh. Ðề án 42, năm 2002, buộc phải dùng thuế tiêu thụ xăng riêng cho khoản chi về vận tải. Khi cộng kết quả của tất cả các đề án như vậy lại, thì quốc hội và ông thống đốc chỉ có quyền quyết định trên một phần tư đến một phần ba ngân sách tiểu bang mà thôi, số còn lại họ chịu bó tay!

Một đề án đã được thông qua năm 1978 khiến California nổi tiếng trên thế giới như nơi khởi đầu cuộc cách mạng chống thuế, là đề án số 13 (Propositon 13) cắt bớt thuế gia cư một nửa. Nhưng đề án này cũng đặt mức hạn chế suất thuế gia cư dựa trên giá lúc người chủ mới mua nhà, và sau đó mỗi năm không được tăng thêm quá 2%. Cho nên hai ngôi nhà giống nhau ở cùng một góc phố có thể được đánh thuế khác hẳn nhau. Một người mua nhà năm 1975 đóng thuế trên căn bản giá mua lúc đó là 70 ngàn, người hàng xóm mua nhà năm 2005 có thể phải trả dựa trên giá nhà 700 ngàn đô la. Cho nên ông tỷ phú Warren Buffett đã kể, ngôi nhà của ông ở Laguna Beach, California trị giá mấy triệu nhưng đóng thuế rất thấp, so với ngôi nhà ông đang ở Nebraska đóng thuế quá cao dù giá thị trường chỉ có mấy trăm ngàn. Như khi ông Buffett làm cố vấn cho Thống Ðốc Schwarzenegger đề nghị hãy thay đổi những tiêu chuẩn đánh thuế gia cư, thì ông thống đốc đã cấm không được nói tới nữa.

Vì hầu như không một nhà chính trị nào dám đụng tới con bò thần Propositon 13. Ở các tiểu bang khác, ngân sách giáo dục địa phương thường do thuế gia cư trong vùng đóng góp, cho nên dân chúng địa phương có thể quan tâm và kiểm soát; nhưng tại California thì thuế thổ trạch được đóng cho tiểu bang, còn ngân sách trường học lấy từ quỹ chung của tiểu bang. Vì thế, hệ thống cai trị đã làm hại cho một cơ bản của xã hội dân chủ tự do, là người ta quên hẳn vấn đề “chức trách” (accountability): Người nào quyết định ngân sách thì phải có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm về việc chi tiêu. Nếu người dân một thành phố than phiền về tình trạng trường học, thì quý vị ở học khu có thể trút hết tội lên đầu chính quyền tiểu bang, vì họ quyết định ngân sách. Dân đóng thuế nhà cửa trong một thị xã không còn được quan tâm đến nền giáo dục của thị xã mình nữa vì đã có guồng máy tiểu bang lo. Hậu quả là các nghiệp đoàn giáo chức nắm quyền quyết định nền giáo dục chứ không phải dân chúng; vì họ có khả năng lóp bi và tạo áp lực trên các vị dân cử.

Trong khi đó dân chúng “mệt mỏi chính trị” vì mỗi lần bỏ phiếu có biết bao nhiêu đề án và các chức vụ phải bầu (California có trên 15,000 chức vụ dân cử, từ các thị xã, các học khu, lên quận cho tới cấp tiểu bang). Các đề án hạn chế thời gian tại chức của các đại biểu Quốc Hội tiểu bang đã khiến các đại biểu thay đổi luôn luôn. Dân Biểu Trần Thái Văn sắp hết hạn kỳ 6 năm ở Hạ Viện California vì luật chỉ cho 80 vị dân biểu làm 6 năm, 80 nghị sĩ tiểu bang mỗi người chỉ được phục vụ 8 năm tối đa. Nhưng tại thủ phủ Sacramento thì có một đạo quân thường trực không có hạn chế nhiệm kỳ, là các nhà lóp bi của các khối quyền lợi.

Một điều trong hiến pháp California khiến cho các cuộc khủng hoảng ngân sách cứ diễn ra hàng năm là phải có 2 phần 3 đại biểu mới thông qua được ngân sách tiểu bang. Một đảng hay nhóm nào có 27 dân biểu trong Nghị viện (Assembly) là có thể phủ quyết bản ngân sách.

Tại sao các nhà chính trị không giải quyết ngay những rắc rối trong cơ chế để California dễ cai trị hơn? Vì các đại biểu Quốc Hội thuộc hai đảng đều lo bảo vệ cái “ghế an toàn” của đảng mình nên không còn thời giờ lo những vấn đề lớn và khó khăn hơn. Việc chia ranh giới các đơn vị bầu cử do chính các đại biểu quyết định; tới thời Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger mới thay đổi được một phần nhờ có đề án được dân chấp thuận. Cho nên trong tiểu bang có 120 đại biểu thì tới mỗi kỳ bầu cử chỉ có khoảng 5 hay 7 đơn vị tranh cử sát nút, số còn lại ai cũng đoán trước được đảng nào sẽ thắng. Ðây cũng là một lý do khiến nhiều người dân chán không đi bỏ phiếu.

Nhưng các nhà chính trị, những nhóm quyền lợi lớn và các chuyên viên lóp bi thì vẫn không ngừng hoạt động. Ngày hôm qua tuy số người đi bỏ phiếu ít nhưng phần lớn tỏ ý phẫn nộ vì các nhà chính trị không làm gì ngoài chuyện xin dân đóng thêm thuế! Dân chúng tiếp tục chịu đựng được vì tiểu bang này vẫn giầu quá, sinh lực mạnh mẽ quá, và khí hậu dễ chịu quá!

Có lẽ California sẽ tiếp tục đóng vai một tiểu bang bất trị ở nước Mỹ vì dân chúng đã thấy các cuộc khủng hoảng ngân sách tới rồi lại đi qua không để lại dấu vết nào, coi mãi cũng chán. Cũng giống như những trận động đất cứ xẩy ra đều đều nhưng chưa làm cho một làng nào rớt xuống biển cả.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

“Của mình nhưng mà là phía Trung Quốc phụ trách”

Ngô Nhân Dụng

Ngày còn nhỏ mỗi lần được thầy giáo trả bài luận văn, chúng ta thường nghe thầy dặn dò: Không được viết những câu đầy những chữ “rằng, thì, là, mà.” Câu văn trích dẫn trên tựa bài này thuộc loại văn thầy dậy nên tránh. Ðó là lối nói lòng thòng của các cụ già đời xưa quen dùng chữ Hán cổ khi nói năng, mở miệng ra là đầy những chữ “chi, hồ, giả, dã.”

Câu văn trên đây là văn của báo Sài Gòn Tiếp Thị. Nhưng nhà báo không tự viết mà đã dẫn nguyên văn lời nói của ông Nguyễn Thanh Hưng, cục trưởng một cái cục có tên khá dài cho thấy đây là một cục rất to, đó là “Cục Thương mại Ðiện tử và Công nghệ Thông tin,” thuộc Bộ Công Thương. Ông Hưng nói rằng phần viết tiếng Việt trong trang “Website Hợp tác Kinh Tế Thương Mại Việt Nam và Trung Quốc” là do Trung Quốc “phụ trách”.

Sở dĩ phải có những lời giải thích “rằng, thì, là, mà.” trên đây vì phần tiếng Việt trong trang web này đã đăng những lời tuyên bố của quan chức nước láng giềng phía Bắc khẳng định rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của chính phủ Bắc Kinh và họ dùng tên mà họ quen gọi, Nam Sa và Tây Sa.

Một trang web viết bằng tiếng Việt Nam lại có đuôi với những chữ “...gov.vn” tức là do chính quyền Hà Nội nắm quyền kiểm soát trong tay, giống như một thứ “công báo” của nhà nước. Nếu trang web đó lại đăng những lời xác định hai quần đảo của nước ta là thuộc một nước khác, thì đây là một hiện tượng đáng ngạc nhiên. Ai cũng phải ngạc nhiên. Trừ ba trường hợp: a) những người khiếm thị nặng (mù); b) những người không biết và không bao giờ đọc tiếng Việt; hoặc c) những người hoàn toàn đồng ý với quan điểm chính phủ nước ngoài; và d) những người bán nước.

Vậy cái chính phủ làm chủ trang web trên của các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng thuộc loại nào? Cả nước Việt Nam phải hỏi nhau câu hỏi đó. Nhiều người hỏi quá, sau cùng ông nhà nước Cộng Sản phải giải thích: Rằng trong trang web đó phần tiếng Việt Nam “của mình nhưng mà là phía Trung Quốc phụ trách.”

Người dân Việt lại càng thắc mắc: Vậy thì trong trang web này người Việt Nam phụ trách phần nào? Phần tiếng Congo, tiếng Nepal, hay tiếng Tagalog?

Chắc phải chờ các quan chức trong chính phủ Việt Nam trả lời cho câu hỏi này. (Xin quý vị lưu ý, chữ “chính” trong từ “chính phủ” hoặc “chính quyền” chỉ có nghĩa là thuộc về việc hành chính hoặc về chính trị, không có nghĩa tốt như khi nói “chính đáng,” “chính thống,” hoặc “chân chính,” dùng một chữ chính khác).

Sau khi nghe ông chính phủ cho biết phần thông tin bằng tiếng Việt trong một thứ công báo của chính quyền Việt Nam lại do người Trung Quốc phụ trách thì người dân nước Việt lại càng thắc mắc hơn. Ðồng bào ta muốn kiến nghị với các ngài rằng: Ngoài phần tiếng Việt trong cái trang web này ra, có những cái gì khác mà quý ngài đang làm là “của mình” nhưng “mà là do người Trung Quốc phụ trách,” mà người dân Việt Nam vẫn chưa biết? Xin quý ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng làm ơn thông báo hết những thứ “do người ngoại quốc phụ trách” để cho nhân dân không bị “sốc” vì những “cú” ngạc nhiên chết người như vầy.

Một thí dụ, nhiều người Việt tự hỏi không biết những bản nhạc được trình diễn trên sân khấu ở nước ta là do người nước nào quyết định. Một nước kiểm duyệt cả những bài báo cho tới bài ca đã là một mối nhục, nếu việc kiểm duyệt lại do người nước khác phụ trách thì “ê” lắm! Nghe nói nhạc sĩ Phạm Duy đã vô cùng mừng rỡ, mừng rớt nước mắt, khi được nhà nước Cộng Sản cho phép các ca sĩ hát bài “Tôi yêu tiếng nước tôi” của ông trên sân khấu. Người Việt Nam sống trên đất Việt Nam, muốn nói “yêu nước” cũng phải chờ được “trên cho phép!” Cái danh sách những bản nhạc được trình diễn chắc cũng là “của mình.” Nhưng không biết do người nước nào phụ trách? Nhạc sĩ Tô Hải, người đã gọi Phạm Duy là “chuyên viên trở cờ” trong cuốn hồi ký mới xuất bản của ông, đã than phiền mãi là hiện giờ tai ông phải nghe nhiều bài ca bắt chước nhạc ngoại quốc “chói tai” chịu không nổi. Ông Tô Hải cứ than như thế mãi, biết đâu có ngày ông sẽ ngạc nhiên vì có vị quan chức văn hóa tư tưởng nào đó tiết lộ: Danh sách các bản nhạc được trình diễn là “của mình” nhưng lại do các cô con gái của ông bà Obama phụ trách!

Những lời giải thích của ông Nguyễn Thanh Hưng, cục trưởng cái cục to tướng, được đưa ra sau khi các quan chức khác trong chính quyền Hà Nội đã công nhận rằng việc đăng những lời của quan chức Trung Quốc nói ngược hẳn với các tuyên bố của bộ Ngoại giao Việt Nam là một “sai sót.” Ðó là một lời hiếm hoi, vì thường thì chỉ sau khi giết hàng trăm ngàn người oan chết oan nhà nước Cộng Sản mới chịu công nhận là mình làm sai và xin được sửa sai.

Nhưng sai sót như thế nào? Ngày 15 Tháng Năm có tin ông Lưu Vũ Hải, Cục trưởng một cái cục còn to hơn vì cái tên dài hơn, là “Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử,” cho biết ông đã coi trang web www.vietnamchina.gov.vn, và thấy có “những thông tin 'không có lợi'.”

Không có lợi cho ai, không có lợi về cái gì? Một bản tin của nhà nước nói rõ hơn: “ ... nội dung không có lợi cho chính sách ngoại giao” của nhà nước cộng sản. Chỉ có thế thôi: Không có lợi.

Nghe cũng giống như một ông bố nghe thằng con nó đi đâu về nhà, nó chỉ mặt bố “chửi cha” cả ông bà nội nó, mà ông bố chỉ khuyên con: Ngài nói thế không có lợi! Việc xác định chủ quyền của một nước khác trên phần đất của tổ tiên mình, lại viết trên trang báo của mình, thì lối chửi đó còn nặng hơn là chửi cha nữa. Trước hành động ngang ngược đó, một chính phủ biết bảo vệ quyền lợi quốc gia thì phải lập tức công khai lên án nghiêm khắc. Phải nói ba năm rõ mười rằng: “Nội dung bản thông tin đó sai, hoàn toàn sai.” Phải long trọng nói: “Chúng tôi cực lực cải chính và chính thức phản đối việc thông tin xuyên tạc sự thật này.” Có như vậy mới xác định được chủ quyền quốc gia và gỡ được danh dự quốc gia. Không thể chỉ nói suông: Không có lợi! Mà lại chỉ nói cho trong nước nghe với nhau thôi!

Một chính quyền có danh dự thì sau khi thấy người nước khác dùng ngay một web site của nước mình viết những lời phủ nhận chủ quyền của nước mình trên đất đai của tổ tiên mình, thì tuyên bố suông cũng không đủ. Phải lập tức gửi công hàm ngoại giao phản đối, phản đối chính thức và làm ầm lên cho cả thế giới cùng nghe. Chứ không thể nào cứ đóng cửa im ỉm rồi quay ra nói nho nhỏ đủ trong nhà bố con nghe với nhau, rằng chúng nó làm như thế là “không có lợi.” Cái thằng ngoại quốc nó vào nhà mình viết bậy viết bạ ngay trên tường trong nhà mình, chửi cha mình lên, mà không dám mắng nó, chỉ khe khẽ bảo con cháu trong nhà rằng nó làm như vậy là “không có lợi!” Một chính quyền như vậy gọi là cái giống gì?

Hãy tạm trả lời câu hỏi cuối cùng này: Ðó là một chính quyền Cộng Sản! Nói như vậy tạm đủ.

Nhìn vào cách chính quyền Cộng Sản Việt Nam phản ứng lúng túng và hèn nhát trước cơn phẫn nộ của báo chí trong nước, chúng ta thấy những triệu chứng của một sự sụp đổ đang bắt đầu. Sự sụp đổ sẽ diễn ra khi nào chính các đảng viên Cộng Sản thấy rằng cái đảng đó cũng là “Của mình nhưng mà là phía Trung Quốc phụ trách!”

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Chính là Bác Mao!

Ngô Nhân Dụng
Vụ trang điện tử www.vietnamchina.gov.vn khiến nhiều người Việt trong nước đặt nhiều câu hỏi. Thứ nhất, không biết tại sao chính quyền Cộng Sản nước ta lại để cho một website bằng tiếng Việt của Bộ Công Thương Hà Nội đăng những lập trường của chính phủ Bắc Kinh về Hoàng Sa Trường Sa ngược lại với quyền lợi tổ quốc? Thứ nhì, tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại phản ứng lúng túng và yếu ớt như vậy? Hôm nay thử bàn về câu hỏi thứ nhất.

Một giả thuyết trả lời cho câu hỏi này, cho đây là một lầm lẫn vì vô ý, sơ hở. Thứ Trưởng Bộ Công Thương Bùi Xuân Khu nói với báo Tuổi Trẻ rằng việc “quản lý thông tin” của trang web này “có lỗ hổng.” Thường chỉ vì vô tình người ta mới để lộ ra những lỗ hổng như thế. Cho nên, mới có những thông tin “nhậy cảm” nó vào được - hai chữ “nhậy cảm” là lời ông thứ trưởng. Cái lỗ hổng của Bộ Công Thương đã bị các đồng chí Trung Quốc lợi dụng, dùng nó làm nơi khua môi múa lưỡi tuyên truyền cho chính sách hải phận của nước đàn anh, chỉ vì các cán bộ Cộng Sản gốc Việt không ai thấy các trò múa máy đó là nhậy cảm cả!

Một cách trả lời khác là các quan chức Cộng Sản cố ý để cho các cán bộ tuyên truyền của Cộng Sản Trung Quốc sử dụng cái lỗ hổng trong Bộ Công Thương mình. Nếu họ không cố tình cộng tác với Trung Quốc thì chắc chắn ngay sau khi xuất hiện những lời lẽ xúc phạm đến chủ quyền của đất nước ta, các quan chức, cán bộ người Việt phải thấy và phản ứng ngay. Phản ứng cách nào không biết, nhưng phải có phản ứng. Can đảm thì trực tiếp phản đối người Trung Quốc. Ít nhất họ phải báo cáo với cấp trên để xin chỉ thị nên làm gì, chứ không thể im thin thít mãi, cho đến khi dư luận cả nước vang ầm lên thì các quan mới nhìn ra cái lỗ hổng. Thái độ im lặng của họ, nhìn thấy lỗ hổng mà không làm gì cả, tức là họ cố ý để chuyện đó xẩy ra, dùng một diễn đàn của chính quyền nước Việt làm loa tuyên truyền nhậy cảm cho Cộng Sản Trung Quốc.

Nhưng cũng không chắc là các quan chức Bộ Công Thương phụ trách trang web phản quốc này cố ý làm tay chân cho các đồng chí Trung Quốc. Họ có thể không vô tình mà cũng không cố ý, mà chỉ “vô cảm” mà thôi. Họ đọc mà không biết, không thấy những lời lẽ tuyên truyền của chính phủ Bắc Kinh là trái ngược với quan điểm mà chính phủ Hà Nội vẫn công bố về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hoặc biết mà không thấy đó là một chuyện lạ. Hoặc thấy lạ nhưng không thấy cần phải làm gì cả. Có thể họ cũng biết các bản tuyên ngôn chính thức của chính quyền Hà Nội thường không có giá trị gì cả, mà chắc chắn là vô giá trị đối với các đồng chí Trung Quốc. Biết như vậy rồi thì họ phản ứng làm cái gì? Vừa mệt xác mà lại có thể gây rắc rối cho cá nhân mình?

Chuyện rắc rối cá nhân có thể xẩy ra lắm. Vì quyết định hợp tác giữa hai chính phủ Bắc Kinh và Hà Nội trong việc làm cái mạng lưới chung này là do quyết định từ cấp cao nhất. Năm 2006 Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào sang Hà Nội đã cùng với Tổng Bí Thư Cộng Sản Việt Nam Nông Ðức Mạnh ký kết nhiều hiệp ước, trong đó có việc làm cái mạng web chung này. Khi người Trung Quốc được trao toàn quyền làm bản tin bằng chữ Việt, tức là hai bên đồng chí đã hoàn toàn tin tưởng nhau, giống như anh này giao con gái của mình cho anh kia quản lý, tình nghĩa “trước là đồng chí sau là anh em” được thể hiện từ trên cấp cao nhất. Bây giờ tưởng tượng có một anh công chức hay cán bộ trong Bộ Công Thương đọc bản thông tin do người Trung Quốc phụ trách cảm thấy chướng, rồi gọi điện thoại hay viết thư phản đối! Có anh, chị nào dám làm công việc ấy không? Bố bảo cũng không dám. Im lặng là vàng, hoặc ngậm miệng ăn tiền là chiến lược chắc ăn nhất.

Có ai nghĩ đến chuyện làm báo cáo nộp lên cấp trên nêu thắc mắc tại sao các bản tin này hoàn toàn phủ nhận chủ quyền của nước Việt Nam trên các quần đảo nhậy cảm hay không? Chỉ báo cáo không thôi, dù không dám đề nghị điều gì về các hành động ngang ngược đó, cũng đủ mang tội, mất chức như chơi rồi. Ðảng có thể buộc anh ta vào tội thọc gậy bánh xe “phá hoại tình đoàn kết” giữa hai nước đồng chí anh em mà Hồ Chí Minh đã mất công gây dựng từ nửa thế kỷ nay.

Liệu đảng Cộng Sản Trung Quốc có thể làm mất chức một cán bộ chính quyền Cộng Sản Việt Nam được hay không? Trong quá khứ chuyện đó đã xẩy ra nhiều lần. Nổi tiếng nhất là vụ ông Nguyễn Cơ Thạch mất chức bộ trưởng ngoại giao, mất cả chân đứng trong trung ương đảng, chỉ vì bị Cộng Sản Trung Quốc phủ quyết. Hồi ký của ông Trần Quang Cơ cho biết có lúc đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội không thèm nói chuyện với bất cứ ai ở Bộ Ngoại Giao của Cộng Sản Việt Nam. Họ coi như không có cái bộ ấy. Chính phủ Trung Quốc không bao giờ thèm nói chuyện với ông đại sứ người Việt ở Bắc Kinh. Họ cho đại sứ của họ ở Hà Nội làm việc trực tiếp với các tay chỉ huy cao nhất trong Bộ Chính Trị. Từ khi thấy tấm gương Nguyễn Cơ Thạch, các quan chức Việt Nam không ai muốn làm mất lòng các đồng chí Trung Quốc nữa.

Ngày xưa đến Hồ Chí Minh cũng còn phải chịu thua, cúi đầu nghe lệnh các cố vấn “vĩ đại” dù đám này chỉ là những cán bộ cấp thấp trong hàng ngũ Cộng Sản Trung Quốc. Khi các cố vấn phát động đấu tố địa chủ, Hồ Chí Minh muốn xin tha cho bà Nguyễn Thị Năm vì bà đã đóng góp nhiều tiền bạc cho kháng chiến và cứu giúp nuôi nấng nhiều cán bộ Cộng Sản Việt Nam cao cấp. Nhưng khi các cố vấn vĩ đại không đồng ý thì “Bác” cũng đành chịu bó tay. Tấm gương đó đến nay vẫn còn được noi theo. Trừ lúc các lãnh tụ đảng bỏ Bắc Kinh để theo Mát Cơ Va thì không kể, còn khi họ đã nhất quyết theo Trung Cộng thì từ trên xuống dưới phải “nhất trí” với nước bạn.

Tinh thần “nhất trí” và “trước sau như một” đó từ đời Hồ Chí Minh truyền đến đời Nông Ðức Mạnh, chỉ có một thời gián đoạn khi Lê Duẩn “phản Trung đầu Nga” thôi. Sau khi “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” Nga Xô của ông Lê Duẩn vỡ tan tành thì các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam, từ Ðỗ Mười tới Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh, không có cách nào khác là bám lấy các đồng chí Trung Quốc làm chỗ tựa.

Thực ra họ cũng chỉ noi gương Hồ Chủ Tịch thôi, không có gì mới. Người dân miền Bắc Việt Nam còn nhớ thi sĩ Chế Lan Viên, một công thần văn nghệ luôn luôn minh họa đúng chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhà thơ này đã khóc to hơn cả Tố Hữu khi nghe tin Nguyên Soái Stalin chết. Ông Tố Hữu chỉ “thương” ông Xít gấp mười lần tình thương dành cho cha, mẹ, vợ, chồng thôi. Còn Chế Lan Viên là người đã từng ca ngợi Stalin khi còn sống (Có một người đêm khuya không ngủ - Thức canh cho thế giới hòa bình) khi nghe tin Stalin chết thì ông tưởng tượng là nhân dân cả thế giới khóc òa ào như những đứa trẻ mồ côi: “Vạt áo nhân dân thấm đầy nước mắt - Thế giới không cha nặng tiếng thở dài!”

Cũng chính nhà thơ Chế Lan Viên đã viết những bài ca ngợi Mao Chủ Tịch, trong đó có hai câu lục bát bất hủ:



Bác Mao không ở đâu xa

Bác Hồ ta đó chính là bác Mao


Ông Chế Lan Viên nhìn ông Hồ mà thấy hình ảnh ông Mao! Nghe ông Hồ nói thấy đúng là ông Mao nói! Mao nghĩ cái gì Hồ nghĩ cái đó, vì chính Hồ Chí Minh đã tuyên bố với một nhà báo Pháp rằng ông không cần viết sách; lý do là những điều nào cần viết thì đã có Mao Chủ Tịch viết hết sạch cả rồi! Ông Hồ đã tự thú nhận là một người không cần suy nghĩ vì đã có cái đầu của ông Mao làm công tác lao động đó thay cho mình. Một người tư duy bằng đầu người khác, đó là một hiện tượng hiếm có. Nhưng phải có thiên tài nịnh bợ của một nhà thơ như Chế Lan Viên thì mới làm nổi bật đức trung thành của ông Hồ đối với Mao Chủ Tịch: “Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao!”

Khi Chế Lan Viên viết những câu thơ này thì Hồ Chí Minh vẫn còn sống. Nếu nghe câu thơ đó mà mắc cỡ hay khó chịu, thì ông Hồ đã cấm phổ biến. Nếu ông Hồ hoặc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam không đồng ý những lời lẽ xu nịnh này, thì cuộc đời Chế Lan Viên đã “điêu tàn” từ lâu rồi. Vì đây là những lời diễn tả cả chính sách, chủ trương của đảng! Nhưng hai câu thơ đó đã được phổ biến cho toàn thể dân và quân đội miền Bắc Việt Nam đọc, Chế Lan Viên vẫn nhận được những bổng lộc của chế độ cho tới hết đời. Tức là ông Hồ nghe câu thơ như vậy mà không thấy ngượng. Ðảng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ý với thi sĩ. Có thể ông Hồ còn hãnh diện vì được đem ra so sánh với ông Mao, người lèo lái lịch sử!

Cho nên toàn thể các đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam đã được học thuộc lòng hai câu thơ ca ngợi bác Mao của Chế Lan Viên mà thi sĩ nhân tiện còn nịnh bợ cả bác Hồ- một câu thơ nâng hai con chim. Tâm lý của những đảng viên đọc hai câu thơ này đã được uốn nắn theo lời thơ, ý thơ. Nếu Bác Hồ chính là Bác Mao thì Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh cũng chính là Bộ Ngoại Giao Hà Nội, có khác gì đâu? Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc Việt Nam thì cũng một nhà cả!

Từ thời Hồ Chí Minh cho đến năm 1976, đảng Cộng Sản Việt Nam không cần mệt sức suy nghĩ. Vì đã có những cái đầu ở Bắc Kinh nghĩ giúp. Sau một thời kỳ phiêu lưu của Lê Duẩn làm chết mấy trăm ngàn thanh niên Việt Nam ở Campuchia và biên giới Trung Quốc, hai mươi năm sau đảng Cộng Sản Việt Nam lại trở về chính sách do “Bác Hồ” chỉ đường. Các cán bộ ở Bộ Công Thương không cần suy nghĩ gì khi thấy có những bản tin “chửi cha” chủ quyền của nước Việt Nam trên các quân đào Hoàng Sa và Trường Sa. Vì trong đầu còn văng vẳng khẩu quyết “Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao!” Cái óc nô lệ đó trở thành một tập quán không bỏ được, vì đã được các đảng viên học tập từ thời cải cách ruộng đất tới nay.

Trong các hình thức nô lệ, không có gì đón mạt bằng nô lệ về tư tưởng. Ông Hồ Chí Minh đã coi ông Mao Trạch Ðông như người suy nghĩ giúp mình, để chính ông không cần suy nghĩ nữa. Ông không đỏ mặt ngượng ngùng khi có thi sĩ người Việt khẳng định “Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao!” Cái đức nô lệ đó đã được ông Hồ truyền xuống cho đến các lãnh tụ Cộng Sản bây giờ. Biết đâu hiện giờ cũng có những nhà thơ ở trong nước đang chuẩn bị viết những câu như “Bác Mạnh ta đó chính là bác Hồ Cẩm Ðào!” Hoặc là “Chú Dũng ta đó cũng chính là chú Ôn Gia Bảo!”

Trong không khí đó, biến cố xẩy ra ở cái website của Bộ Công Thương là chuyện nhỏ. Khi nào gột rửa được óc nô lệ thì sẽ không lo chuyện đó xẩy ra nữa. Khi đó, khi một công chức Việt Nam đọc bản tin trên mạng lưới thấy nó tuyên truyền cho Cộng Sản Trung Quốc ngược lại với nước mình thì họ phản ứng ngay lập tức! Họ sẽ nói: Không được! Không được! Và họ sẽ tự động phản đối các công chức người Trung Quốc mà không cần phải xin phép ai cả. Bởi vì tại sao phải xin phép? Một người quen sống tự do sẽ hỏi: Yêu nước mà cũng phải xin phép là thế nào? Yêu nước mình tại sao phải xin phép người nước khác?

Muốn tập cho các cán bộ, đảng viên đảng Cộng Sản thói quen suy nghĩ tự do sẽ phải mất rất nhiều thời gian. Công phu huấn luyện của Hồ Chí Minh bao nhiêu năm, cũng phải mất một thời gian dài bấy nhiêu mới tẩy rửa được. Nhưng không phải vì việc khó mà không làm. Không phải vì chậm trễ mà để cho chậm hơn nữa!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Từ Phản Chiến Đến Hòa Hợp Hòa Giải Cuộc đời có nhiều chuyện kể ra rõ là nghịch lý mà cái lạ lùng là ở chỗ vẫn có người nghe, vẫn có người ngây thơ tin được.

Hơn hai mươi năm cuộc chiến, bao nhiêu người lính, người dân VNCH đã nằm xuống vì hai chữ tự do. Hơn hai mươi năm cuộc chiến để bảo vệ miền Nam thân yêu, trong quyết tâm chống lại mưu đồ nhuộm đỏ quê hương của CS Bắc Việt. Bao nhiêu mất mát của tuổi thanh xuân, của hạnh phúc gia đình nho nhỏ. Bao nhiêu giọt máu đào đã đổ xuống nơi chiến trường. Nhưng những giọt máu rơi vì đạn thù chiến trận có lẽ không xót xa bằng những... vết dao đằng phía sau lưng. Nhát dao của những kẻ mạo danh hòa bình! Những ngây thơ đến mù quáng của một thiểu số tự coi mình là phản chiến, là yêu chuộng hòa bình.

Họ có thể mù quáng đến độ không thấy được ai là kẻ mang chiến tranh, tang tóc đến với quê hương? Họ có thể mù quáng đến độ không thấy được người lính VNCH chỉ hành xử quyền tự vệ trong cuộc chiến. Và họ ở đâu, phong trào phản chiến đã làm gì trước cuộc xâm lăng của CS Bắc Việt hay trước guồng máy chiến tranh của Nga Sô, của Trung Cộng, đám quan thầy CS ngày đó? Một số thành phần ngoại quốc thiên tả ngu xuẩn đã đành; lại thêm một đám “Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” ca tụng lẫn nhau, văn với chương, thơ với nhạc, phản chiến với hòa bình! Phản chiến trong một cuộc chiến tự vệ, một cuộc chiến vì hai chữ tự do, vì tổ quốc thiêng liêng, vì dân tộc thân yêu, là một hành vi phản quốc!

Giờ đây trong cuộc sống lưu đày thỉnh thoảng vẫn tìm thấy một vài con ruồi nhặng nẩy sinh từ những cặn bã dân tộc, từ những tư tưởng ngu muội như thành phần phản chiến ngày xưa. Giờ thì họ ngụy biện nhân danh tuổi trẻ, nhân danh quyền tự do ngôn luận. Không biết họ nhân danh tuổi trẻ nào? Niềm thiếu xót lớn nhất đời của tuổi trẻ này là chưa được một lần bồng súng bảo vệ quê hương! Và tuổi trẻ này cũng không biết dùng quyền tự do nào để bào chữa cho những hành vi phản quốc ngày trước và hôm nay?

Vẫn cũng những cặn bã dân tộc ấy lại bị ru ngủ một lần nữa, bằng những mảnh bánh vẽ của hòa hợp hòa giải, của quên đi quá khứ. Người Việt xa xứ nếu còn luyến nhớ mảnh đất quê cha, nếu còn nặng lòng tình tự dân tộc thì sao đành quên đi quá khứ, sao đành tiếp tay với bọn bán nước, buôn dân. Người Việt với người Việt, tha hương hay ở tại quê nhà, vẫn còn đó nghĩa đồng bào, vẫn giúp đỡ lẫn nhau khi đói khi no, không hiềm khích thì đâu cần hòa hợp hòa giải. Còn chuyện hòa hợp hòa giải với cái đảng cướp tư bản đỏ thì để mang lại gì? Để tiến mau, tiến mạnh hơn trên con đường áp đặt tín ngưỡng, áp bức và bóc lột dân lành? Để tiếp tay với cái Đảng và đám Đảng Viên đang tâm bán đứng cả quê hương?

Ngày xưa phản chiến, ngày nay hòa hợp hòa giải, phản quốc vẫn là phản quốc !

VNQHNN

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Người Đại Hàn có thể hãnh diện

Ngô Nhân Dụng

Rất khó phê phán hành động tự sát của cựu Tổng Thống Nam Hàn Lư Vũ Huyền. Nhưng ai cũng có thể chia sẻ niềm tiếc thương đối với ông mà đa số người dân Hàn Quốc đang bầy tỏ. Họ có thể hãnh diện về ông, một niềm hãnh diện mà người dân nhiều nước khác không thể cảm thấy được đối với những người đã lãnh đạo xứ họ.

Ông Lư Vũ Huyền (đọc theo lối Hán Việt tên Roh Moo Hyun, cũng viết là Noh Moo Hyeon trong các địa chỉ mạng [website] của dân Hàn Quốc) tranh cử tổng thống và thắng cử với khẩu hiệu quyết tâm bài trừ tham nhũng. Trước khi tự sát, ông bị mời lên thẩm vấn tại Bộ Tư Pháp về vụ tố cáo mấy người trong gia đình ông đã được một nhà sản xuất giầy không nổi tiếng đưa những món tiền tổng cộng trị giá 6 triệu đô la, trong khi ông tại chức. So với những món tiền tham nhũng hàng trăm triệu đô la trước đây vài chục năm của những vị tổng thống cựu tướng lãnh quân phiệt, thì con số 6 triệu quả là nhỏ. Nhưng tai tiếng thì bao giờ cũng lớn, dù chỉ nhận một đồng tiền hối lộ. Chỉ khi nào công tố viện chứng minh được là doanh nhân đưa tiền đã được hưởng những đặc quyền do chính phủ cho thì người ta mới biết đây có phải là một vụ hối mại quyền thế hay không.

Nhưng chắc mọi người sẽ không bao giờ biết hết sự thật về vụ “tham nhũng” này vì sau khi ông qua đời công tố viện tuyên bố ngưng các cuộc điều tra. Trên website của chính ông, Lư Vũ Huyền công nhận những vụ đưa tiền bạc đó có thật, nhưng ông chỉ mới biết tới sau khi đã rời bỏ chức tổng thống vào Tháng Hai năm 2009. Theo ông nói, số tiền bà vợ ông nhận được là tiền vay để trả những món nợ cũ, đồng thời để trả học phí và nuôi con ông sang Mỹ học ở Ðại Học Standford. Ngoài ra là tiền hùn vốn một vụ làm ăn của người cháu rể của ông.

Vị cựu tổng thống 62 tuổi đã chịu cảnh tủi nhục khi ông được triệu lên thủ đô Hán Thành (Seoul) hỏi cung. Báo chí Hàn Quốc tả cảnh ông Lư Vũ Huyền đáp chuyến xe buýt đi 6 tiếng đồng hồ tới Hán Thành, dọc đường có hàng đoàn xe và máy bay trực thăng của các báo, đài truyền hình đi theo. Ông bị thẩm vấn trong 10 tiếng đồng hồ vào ngày 30 Tháng Tư năm 2009. Ðối với các nhà chính trị ở Mỹ thì cảnh tượng trên không có gì lạ, nhưng đối với một người Hàn Quốc thì họ cảm thấy bị sỉ nhục.

Trước đó, ngày 22 Tháng Tư ông Lư Vũ Huyền đã viết thư qua email gửi các người ủng hộ ông, “Xin quý vị hãy gạt bỏ tôi đi. Tôi không còn là biểu tượng, không còn xứng đáng để nói đến những giá trị như dân chủ, tiến bộ và công lý mà quý vị theo đuổi nữa.”

Khác với những vị cựu tổng thống Hàn Quốc thường ở thủ đô Seoul sau khi về hưu, ông Lư Vũ Huyền về sống ở Bongha, một làng nhỏ với dân số 121 người. Ông thường đạp xe đạp đi trong làng và leo núi ngắm cảnh, lâu lâu cũng tham dự việc trồng cây và đào mương với các nông dân. Bongha ở vùng núi gần làng Kim Hae (Kim Hải) là nơi ông ra đời trong một gia đình nghèo khó. Cha mẹ ông không có tiền cho ông theo bậc đại học cho nên Lư Vũ Huyền đã tự học để thi và được hành nghề luật sư. Chính những vụ biện hộ cho các sinh viên biểu tình chống chế độ quân phiệt đã thúc đẩy ông hoạt động chính trị, ông cộng tác với nhà chính trị đối lập Kim Ðại Trọng, sau trở thành tổng thống Hàn Quốc mà ông kế vị.

Từ khi ông hồi hưu, Lư Vũ Huyền được nhiều người dân yêu mến, ngôi làng Bongha trở thành một nơi thu hút người Hàn Quốc đến thăm, với những “tua” du lịch có tổ chức, có ngày vài chục ngàn người. Dân trong vùng tiếp nhận vị cựu tổng thống, một cô giáo dẫn 67 học sinh mẫu giáo tới trước nhà ông để giảng về tấm gương một người nghèo có chí làm nên sự nghiệp ích quốc lợi dân. Có thanh niên 22 tuổi nói với nhà báo rằng hồi xưa anh ta chống chính sách của ông nhưng nay thấy ông giống như một người bác. Khi số du khách đến thăm đông quá, thường vị cựu tổng thống phải xuất hiện chào họ, nếu không tiếng ồn ào cũng ngăn cản công việc ông làm trong nhà. Ông phải hẹn những giờ nhất định sẽ ra cửa chào khách, có ngày đông quá phải xuất hiện tám lần, ông được hoan hô và thường xin lỗi không thể mời tất cả mọi người vào trong nhà uống trà. Khi có người yêu cầu mời bà vợ ông ra gặp, ông cũng biết nói đùa; nói “bà ấy đang rửa chén,” hoặc nói bà còn đang trang điểm và như vậy thì không biết đến lúc nào mới xong! Trước đây người Hàn Quốc đến nhà các vị cựu tổng thống thường là người đi biểu tình đả đảo, chứ không phải là du khách.

Sau khi ông tự sát, dân Ðại Hàn càng thương yêu ông hơn, nhiều người đổ cho vị tổng thống đương nhiệm là đã khuyến khích việc truy cứu gia đình ông để hạ thấp uy tín của ông. Khi vòng hoa phúng điếu của Tổng Thống Lee Myung Bak được đưa tới làng Bongha, dân làng đã giẫm đạp lên.

Lư Vũ Huyền là vị cựu tổng thống Ðại Hàn đầu tiên làm một website trên Internet. Ngày 23 Tháng Năm, nửa giờ trước khi rời nhà ra đi dạo trên núi rồi tự sát, ông viết email tuyệt mệnh gửi cho gia đình và những người ủng hộ, trong đó ông thổ lộ rằng, “Tôi yếu quá. Tôi không còn đọc và viết được nữa.” Ông chia sẻ nỗi khổ tâm của mình: “Nhiều người đau khổ chỉ vì tôi. Còn sống tôi sẽ là một gánh nặng cho họ suốt đời tôi.” Và ông cũng dặn dò: “Ðừng buồn. Ðừng ân hận. Hãy hỏa thiêu xác tôi. Chôn tôi ở một ngôi mộ nhỏ gần nhà. Ðây là định mệnh...”

Khi tại chức, Lư Vũ Huyền có những chính sách bị nhiều người dân phản đối, như gửi quân qua Iraq, ký hiệp định thương mại tự do với Mỹ, và cả dự án đổi thủ đô ra khỏi Hán Thành nơi gần giới tuyến, và chủ trương giao thương với Bắc Hàn. Nhưng khi ông qua đời rồi thì hầu hết mọi người thấy ông là vị tổng thống trong sạch nhất, và người ta đặt câu hỏi về vai trò của Công tố viện Tối cao bị chính trị chi phối khiến cho tất cả các vị cựu tổng thống đều bị người kế nhiệm đưa ra tòa vì gia đình họ bị coi là đã được hối lộ. Hai vị tướng lãnh làm tổng thống năm 1995 đã bị tòa án xử tù vì không giải thích được hàng trăm triệu Mỹ kim đã nhận, và phần lớn dân Hàn Quốc đồng ý là họ đã phạm tội dùng mật vụ đàn áp sinh viên biểu tình chống độc tài. Dân chúng sung sướng trước cảnh những nhà độc tài phải đền tội sau khi dân bầu lên một chính quyền dân chủ. Ðó là hình ảnh Dân Chủ thắng Ðộc Tài! Nhưng kể từ khi đó, việc tố cáo các vị tổng thống tiền nhiệm đã thành một tập quán mà giới chính trị Hàn Quốc không bỏ được. Hai vị tổng thống trước ông Lư Vũ Huyền chính họ không bị ai tố cáo, nhưng mấy người con của họ đều bị tù vì tham nhũng. Cả hai ông đều công khai xin quốc dân tha lỗi vì đã không dậy bảo được con. Có thể ông Lư Vũ Huyền cũng nhìn thấy trước có ngày ông sẽ phải đứng trong cảnh nhục nhã như vậy cho nên nhẩy từ trên vách núi xuống tự sát. Cái chết của ông hy vọng làm thay đổi cơ cấu Bộ Tư Pháp và các cơ quan an ninh, trong đó có Công tố viện Tối cao.

Một giáo sư Ðại Học Soongsil ở Hán Thành, ông Kang Won-Taek nhận xét rằng “Có một tập quán xấu trong chính trị là tố cáo người tiền nhiệm tham nhũng để được lòng dân.” Nhưng hiện nay chính vì ông Lư Vũ Huyền tự sát mà vị tổng thống đang cầm quyền bị dân chỉ trích, coi là người chịu trách nhiệm. Giáo Sư Kang hy vọng cái chết của vị cựu tổng thống sẽ chứng tỏ cho dân Hàn Quốc thấy là “Ðã đến lúc phải phá bỏ cái tập quán” xấu đó.

Một người ngoại quốc khó đóng vai phán đoán việc tự sát của cựu Tổng Thống Lư Vũ Huyền. Vì ông sống trong một xã hội khác hẳn nơi chúng ta đang sống. Người Nam Hàn không sống theo lối duy lý, vụ luật pháp và đề cao cá nhân như trong xã hội Mỹ. Xã hội Nam Hàn đã theo những giá trị đạo đức Nho Giáo trong hàng ngàn năm giống như Việt Nam. Nhưng họ không phải trải qua mấy chục năm sống dưới chế độ Cộng Sản, cho nên những khái niệm về danh dự, về tiết tháo, về trách nhiệm của người công bộc phải chí công vô tư, tất cả các giá trị đó vẫn còn được người dân Nam Hàn tôn kính và chia sẻ với nhau.

Còn ở Việt Nam, sau khi các vị tướng, các sĩ quan và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa tự sát ngày 30 Tháng Tư năm 1975, không còn ai nêu lên những tấm gương như thế nữa. Những giá trị như danh dự, trách nhiệm, công ích không còn được tin tưởng, cho nên không còn ai phạm lỗi mà biết công khai xin lỗi người dân. Trái lại, nhưng người ăn hối lộ, các gian thương còn coi những thủ đoạn gian tham của họ là tài giỏi hơn đời và đáng khen ngợi!

Ông Lư Vũ Huyền đã chết theo đúng truyền thống các nhà Nho, như Phan Thanh Giản, như Nguyễn Cao ở nước ta vào thế kỷ 19. Chết vì mình không hoàn toàn bảo vệ được danh tiết. Chết để những người chung quanh mình tránh được những phiền lụy vô ích.

Người dân Hàn Quốc có thể hãnh diện về một vị tổng thống như ông.

Post Reply