Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Hèn hay Hùa



Trần Văn Giang

Cả tuần nay cứ nghe ra rả các báo (báo in và điện bảo), các đài phát thanh hải ngoại lập lại các lời nói của các nhân vật thuộc lớp xướng ca “siêu sao” mà cộng đồng cũng đã từng biết tên tuổi thành tích; hoặc trích lục bàn loạn về các bài viết, hồi ký, sách mới xuất bản của các cựu đảng CS đang thoi thóp sắp mãn phần về cái tâm trạng gọi là “hèn” của họ khi phải sống dưới chế độ CS hoặc phải “làm việc” hay “cộng tác” với CS.

Người xấu thì ở đâu chẳng có; bạn xấu, đồng nghiệp xấu, láng giềng xấu, người thân trong gia đình xấu… ngay cả chính bản thân chúng ta trong đời sống hàng ngày đôi khi gặp ngày trở trời (bad day) bị ấm đầu cũng không tránh được việc cư xử “không đẹp” với người chung quanh. Nhưng sau đó, bản chất tốt (“tính bản thiện”) của con người cũng lại trở về… Còn nếu không, thì mọi người cũng phải tìm cách xa lánh người xấu bởi vì những cái độc địa của “người xấu” sẽ gây thiệt hại cho những người phải tiếp xúc sinh họat với họ cả về vật chât (hao tài, tốn của, tốn thời giờ, nhức đầu, lên máu, đau bao tử, táo bón, yếu tim…) lẫn tinh thần (chán nản, tuyệt vọng, yếm thế, trầm cảm…)

Những người xấu này chẳng sớm thì muộn rồi sẽ bị sống cô lập và không còn có ảnh hưởng gì đến chúng ta nữa. Cái khổ phải than thở kêu trời trách đất, muốn tìm mọi cách xa lánh, trốn thóat (vượt biên ?) cũng không được, chẳng đặng đừng muốn nói ở đây là cái đám người xấu xí đó lại là những người CS đã và đang lãnh đạo đất nước Việt Nam với một chính sách thật xấu xí tàn bạo kéo dài gần 100 năm rồi… người dân Việt đã nhận ra là họ phải chịu đựng sự khống chế của CS từ thế hệ cha đến thế hệ con cháu qua sự việc CS dùng vấn đề nhu cầu thấp nhất và cần thiết của đời sống là cơm áo và an ninh như cặp còng số 8 để giữ họ sống mà cũng như đã chết trong cái chuồng khỉ XHCN; không làm sao thóat ra được!

Tuy vậy, CSVN gian ác đã thấy sự tan rã tất nhiên hàng loạt của các nước xã hội chủ nghĩa anh em (Liên xô, Đông âu…) nên cũng e ngại đến lúc dân Việt đói quá thì có thể thiên đường XHCN sẽ loạn, sẽ sụp đổ; và hơn thế nữa là người dân Việt nhớ dai và cũng thù dai lắm chứ không dễ dãi mát tính như mấy đồng chí nhân dân của CS Đông âu (!) Cho nên CS mới có các chính sách “mở cửa,” “đổi mới,” “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (!)”…” để nhằm xoa dịu bớt cơn đói và rét của dân. Dân Việt thấy cửa hé mở, bắt đầu “tự lo,” tìm kiếm sống bằng mọi phương cách. Sau một thời gian gọi là “đổi mới” dân đen lại nhận ra là chế độ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ khác chế độ “bao cấp” một điểm rõ rệt nhất là: “các nhân vật lãnh đạo và đảng viên cán bộ cao cấp CS chẳng phải đổ mồ hôi mà họ giầu có nhanh một cách chóng mặt…” Ngoại trừ một số nhỏ nhân dân đen biết cách bám ống đu đủ hoặc đu dây theo quyền lực cai trị độc đoán và cực kỳ thô bạo của CS qua luật rừng, hối lộ, tiền cò, quà cáp thì ăn nên làm ra, còn đại đa số dân đen vẫn khổ hơn… chó! Đám thiểu số theo đóm ăn tàn ăn nên làm ra quên (lại quên!) không để ý đến cái tâm địa thâm độc của CS trong cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa:” có nghĩa là CS đến một lúc nào đó sẽ lại sẵn sàng trắng trợn thu lấy lại tất cả các của cải mồ hôi nước mắt của họ đã gây dựng ra trong giai đọan “đổi mới.” (Một số lớn Việt kiều yêu nước đã trắng mắt về việc đem hết của về Việt Nam làm ăn với CS rồi phải bỏ của chạy lấy thân!) Sờ sờ trước mặt, chúng ta còn nhớ CS và chỉ có XHCN mới có cái màn cướp ban ngày quái gở gọi là “đánh tư sản mai bản???” – CS có vẻ ưa chuộng và rất thích hợp với 2 động từ: “Đánh” (đánh Mỹ cứu nước, đánh tư sản…) và “Cướp” (cướp chính quyền, cướp đất…)

Cộng đồng tị nạn sống ở hải ngoại xa cách quận Ba đình cả chục ngàn cây số, có cái may mắn được chính phủ dân chủ nơi tạm dung bảo vệ mọi quyền công dân, mà không (chưa) thấy có hành động sáng suốt can đảm, hay đưa ra một sáng kiến cụ thể khả dĩ để làm cho CS phải trả lại cho dân cái “tiền dân mênh mông” và những nhân quyền căn bản; đưa đám khỉ CS trở về lại rừng nơi mà khỉ đã đi ra... mà chỉ biết cách ngồi chửi ngày chửi đêm; hết chửi đổng rồi quay ra chửi lẫn nhau hết ngày (thấy lửa cháy mà đứng ngòai la thì bố ai không la được!) Làm sao mà trách người dân đang sống dưới một chế độ đang dùng một thứ luật pháp (?) quái gở trên quả đất là (CS) muốn bắt ai thì bắt lúc nào cũng được; (CS) muốn ghép tội người mà họ (CS) không thích với tội gì cũng được!

Nhiều người dân bi quan đến độ phải kết luận là:

“HCM (và CSVN) từ cách mạng tháng 8 /1945, đã dần dần đưa dân tộc vào con đường hết thuốc chữa!”

Hoặc:

“Bây giờ mà có phực hưng lại thì cũng chẳng còn gì để xây dựng…”

Đại đa số tiến sĩ, giáo sư mà CS đào tạo ở trong nước chỉ có một cách hót theo bài vở đã biên sẵn của CS chứ không có một khả năng xây dựng hay sáng tạo gì (họ biết là phải đi bên lề bên phải thì mới yên tâhn và có ăn!) Nếu mai đây may ra Việt Nam chưa mất vào tay tầu phù, thì sau khi diệt sạch đảng CS cũng phải cần khỏang 60 năm nữa (Có vẻ hơi bi quan?! Hay tự ti vì cho là Đông âu dân trí của họ khá hơn mình mà họ đã cần đến 20 năm!) những cảm tình viên của CS mới chết hết, con bịnh Việt Nam mới mong chữa lành bịnh. Xin phép nêu lên vài con số như thế để thấy tai họa CS đã bao trùm nặng và dầy trên đất nước đến mức độ nào (mà chưa thấy ai sáng mắt ra?…) Việt Nam cần phải có một thiên tài chính trị can đảm đứng lên dẫn dắt dân đen (Xin lậy giời cao đất dầy đừng cho chúng con một HCM thứ 2!!!). Hay phải có một phép lạ mới chóng hóa giải được cái trù dập khốn khổ mà HCM đã đưa dẫn tổ quốc và dân tộc Việt Nam vào. Các nước láng giềng như Hồng kông, Đài loan, Nam hàn, Thái lan, Tân gia ba sở dĩ họ từ từ khá lên sau đệ nhị thế chiến vì lãnh đạo của họ không phải là lọai như HCM... Vậy mà vẫn còn có nhiều con vẹt ngây thơ cứ ca bài “Việt Nam - HCM” làm cái quỉ gì không biết? Không có HCM, đất nước Việt Nam có lẽ không đến nỗi ra nông nỗi thối như hũ tương tầu ngày hôm nay…

Vẻ vang ở chỗ nào? Vinh quang chỗ nào? Đảng CS đã làm dân Việt hoang tưởng đến độ là họ đang sống đời lạc hậu nô lệ mà không biết mình là yếu kém nô lệ; cứ tưởng mình là anh hùng kiệt suất liệt sĩ cả… Trí thức Việt Nam hiểu biết một chút, có tư cách một chút không tài nào ngóc đầu lên nổi để tạo được một phong trào có sức mạnh có thể giúp dân chúng nói lên cái nguyện vọng thèm khát dân chủ tự do của dân… Trí thức XHCN đã có đủ kiên nhẫn xếp hàng lãnh tem phiếu; quý 1 ký thịt, 1 ký gạo như là vàng, như hàng hiếm; hoặc hoan hỉ nhận huân chương bằng khen của bác và đảng nhưng lại nhẫn tâm để mặc kệ dân đen lẻ tẻ dăm ba người, thiếu tổ chức đứng trước cơ quan chính quyền CS kêu oan; để cho công an, cảnh sát đánh dùi cui vỡ đầu vỡ trán giải tán; dăm ba ngày sau lại đâu vào đó như không có chuyện gì xẩy ra…

Người dân Việt trong nước có đáng bị gọi là “hèn” hay không? Xin hãy thận trọng nghĩ lại câu nói quen thuộc “hãy nhìn kỹ những gì CS làm” trước khi trả lời câu hỏi này. Đại đa số nhân dân đen đã bị cả đảng lẫn và bác thay phiên nhau “nhân danh nhân dân…” lợi dụng cái “văn hóa nhân dân…” vắt chanh “quân đội nhân dân” thành lập các “Ủy ban bóp cổ nhân dân...” cho dân đi tù không thấy ngày về gặp lại cha mẹ vợ con qua cái gọi là “tòa án bịt mồm nhân dân…” Cứ mở miệng nói từ chuyện to đến chuyện nhỏ là có chữ “nhân dân…” (nhưng ngân hàng thì lại phải là “ngân hàng nhà nước” đấy; cho nhân dân vào ngân hàng là hỏng việc đảng ngay?) để hà hiếp (dâm) nhân dân nhiều lần ngay giữa ban ngày giữa chợ đông người. Nhân dân đen không có ai bênh vực cho cảnh thấp cổ bé họng của mình thì phải “sợ” (không phải là “hèn”) là chuyện dễ hiểu...

Phần các ông trí thức có nhiều tuổi đảng, có nhiều huân chương “nhân dân này, nhân dân nọ… (nhà giáo nhân dân, hiệp sĩ công nghiệp, nghệ sĩ nhân dân…) có nhiều thành tích trói tay hay bịt mồm dân đen cho đảng “làm việc” mà bây giờ lại tự thú là “hèn!” “Hèn” là thế nào? Cứ căn cứ theo hòan cảnh sử xự của các ông trí thức loại này ở Việt Nam hiện nay thì theo tự điển tiếng Việt, trái (nghĩa) với “can đảm” (brave) không phải là “hèn” (coward) mà là “hùa” (conformed) chứ chưa phải là “nhát” (scared. afraid). Cả cuộc đời họ đã “hùa” theo CS phá hoại đất nước đến tận cùng, bây giờ vài anh cựu đảng viên CS (phần lớn đã bị thất sủng vì một vài lý do riêng nào đó!) ở cuối cuộc đời mới than thở, thốt lời tự thú qua vài cái “Hồi ký của một thằng hèn (hay thằng “hùa”?), “Tôi đã hết hèn (hay ’Tôi đã quá ngu đần?’)”… coi bộ không được ăn khách cho lắm!!!

Phải thẳng thắn công nhận là những người dân Việt có cái may mắn sống ở hải ngoại, nơi có môi trường thuận tiện hơn, nơi có nhiều tự do hơn để phát triển về giáo dục, tri thức, kinh tế và thông tin; phải có trách nhiệm đứng ra gánh vách công cuộc “diệt sạch (eradicate) cộng sản” để phục hưng đất nước chứ không thể trông cậy ở mấy ông trí thức tiến sĩ, giáo sư ở trong nước. Hiện nay Việt Nam có nhiều tiến sĩ thật; nhưng đại đa số các bác này được đào tạo từ một hệ thống giáo dục hạng bét trên thế giới thì khả năng của họ cũng thảm hại lắm!!! Đặc biệt nhóm “trí thức yêu nước” (còn gọi là chuẩn liệt sĩ) này rất nhậy cảm. Hơi động vào một tí là mấy bác ấy đã nhẩy cỡn la tóang lên và phang vùn vụt lại ngay là “cái lũ đó (người Việt sống tị nạn ở hải ngoại) đã chạy theo liếm giầy, ăn bơ thừa sữa cặn… của đế quốc.” Óai oăm thật đấy... Các bác đã nhậy cảm nóng tính mà lại hay dung cái văn hóa “ếch ngồi đáy giếng” chán ghê! Nói cho được việc đấy chứ! Cứ cho là các bác có giầu tưởng tượng nhưng cũng phải thành thật nhìn thấy dân Việt không kể gì sinh mạng cá nhân và gia đình bỏ chạy thoát ra khỏi chế độ CS sống đời tị nạn ở ngoại quốc không phải vì miếng “bơ thừa sữa cặn” hay thèm món “liếm giầy đế quốc” đâu các bác ạ!” Các bác cũng biết thừa là ở ngòai nước Việt Nam không một chỗ nào có “bơ thừa sữa cặn” cả. Tất cả thực phẩm thứ nhất phải đúng tiêu chuẩn mới đem ra bán đuợc; thứ nhì phải có tiền mới mua được. Các bác nếu còn không tin thì cứ kiểm lại với con cháu của các bác đang gởi ra ngoại quốc học (du sinh) trên đồng tiền của nhân dân… Dân tị nạn CS kém nhất phải đi cắt cỏ thì cũng sống với đầy đủ quyền công dân được luật pháp bảo vệ ngày cũng như đêm (đó là chưa muốn nói các bác cắt cỏ lúc buồn buồn uống vào vài chai bia mà có muốn chửi tổng thống Mỹ, thống đốc tiểu bang, dân biểu quốc hội, cảnh sát… lúc nào cũng được chẳng ai dám động lến cái lông chân), vợ con các bác cắt cỏ mỗi người lái 1 ô tô riêng, gia đình các bác làm chủ 1-2 căn nhà, cơm no áo ấm quần áo mặc suốt ngày, con cái đi học đại học cả chứ không đến khổ như phải chạy xe ôm bữa đói bữa no đâu!…

Các bác tị nạn CS ở hải ngoại quan tâm về vận mạng của đất nước cho rằng con đường duy nhất phục hưng đất nước, đem lại thịnh vượng cho dân tộc là phải hoàn toàn lật đổ chế độ CS; lập một chính phủ đa đảng với các cơ chế dân chủ có quyền hạn và khả năng tự kiểm soát lẫn nhau (“check and balance”); và con đường diệt cộng này không đi đến đâu nếu không có sự tham gia của người dân trong nước… Nhưng đến nay, chỉ thấy có thất vọng. Thất vọng vì thấy là người dân Việt sống dưới XHCN bây giờ yếu đuối đến mức độ ngoài sức tưởng tượng: Cứ im lặng chịu đựng mọi sự bất công, kìm kẹp, cấm đoán, bắt bớ, kiểm duyệt của CS ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác; mà không tài nào có cách nổi dậy phản kháng, đòi hỏi nhân quyền… Chỉ vì đại đa số dân đen mỗi ngày phải quá bận tâm đến miếng ăn và sự an tòan của bản thân và gia đình. Chỉ vì hôm nay, có trên 50% dân số Việt Nam sinh sau ngày 30/4/1975. Ngay từ lớp 1 (nếu may mắn được đi học!) họ đã được CS dậy cho quên đi quyền công dân của mình; ngay từ lớp 1 (không đi lớp học cũng không sao!) họ đã được “học tập và sống theo gương đạo đức của HCM (?)” và phải học cách sống cho quen với cái bụng đói của mình (qua loa phát thanh của phường). Thực tế đã cho thấy dân trong hoàn cảnh tâm trí bị dồn ép đầy ắp các giáo điều tại hại của CS quốc tế mà thể xác lại suy dinh dưỡng, nhu nhược. Dân đã quá đói rách mà lại thiếu hoặc không có cơ hội đòan kết nào thì có muốn phản đối CS cũng không được; Chỉ rên rỉ than vãn, cầu trời may ra… Tất cà vấn đề khó nói khó làm này tựu trung ở yếu tố quyền lực: Đảng CS là đảng chính trị hơp pháp duy nhất nắm hết mọi quyền hành một cách tập trung; Đảng vừa là quốc hội lập pháp, vừa là chính phủ hành pháp trung ương và các ủy ban nhân dân (?) thành phố, phường, tỉnh, huyện; vừa là tư pháp với hệ thống “tòa án nhân dân” do đảng viên “xử lý”… đồng thời đảng chỉ huy cả quân đội, công an mật vụ cảnh sát; giữ quyền ban phát ân huệ kinh tế; sai khiến tôn giáo; kiểm sóat thông tin báo chí văn nghệ, tổ chức lễ hội, mít tinh… Đảng đã to mà lại nhiều tay nhiều tài đến thế… Thử hỏi là người dân có cái quyền và lực gì? Dựa vào chỗ nào? để có thể nói lên nguyện vọng của mình.

Ai cũng thấy lý tưởng cộng sản hôm nay chỉ còn viết trên nghị quyết, công hàm, diễn văn, khẩu hiệu băng rôn, pa nô và in khắc trên các cặp còng số 8 thôi chứ cứ nhìn cấp lãnh đạo CS (và con cháu họ) thì thấy các hình ảnh hoàn toàn trái ngược hẳn với giáo điều, cương lĩnh của chủ nghĩa vô sản mà họ cổ võ. Họ giầu vì tha hồ vơ vét cưỡng đoạt tài sản mồ hôi nước mắt của dân chúng, lũng đọan tài nguyên của quốc gia đồng thời công khai bày tỏ lòng thờ kính Phật Chúa, tin phong thủy tử vi… mới là nghịch lý… Lần về thăm Việt Nam, gặp lại một số bạn cũ, họ hàng là đảng viên CS; khi thử nhắc đến vấn đề “học tập tốt, lao động tốt” thì anh nào cũng cười một cách nhạo báng… lý tưởng CS và đạo đức HCM chỉ là vải thưa còn che mắt được ai?

Nhiều người dân luận ra là: “Nếu mình không đủ sức chống lại nó; thì phải chấp nhận chung sống với nó thôi!” (If you can not force it; then fit it!) Chẳng những chấp nhận chung sống mà còn phải miễn cưỡng nuôi sống nó dài dài!!! Con đường duy nhất để sống, để sinh tồn là làm mọi cách gia nhập đảng CS... bởi vì sau này nếu muốn xin xỏ cái gì thì là đảng viên cũng dễ dãi hơn… thế thì tội gì không gia nhập??? Vì vậy vấn đề “Việt nam là con bệnh hết thuốc chữa” là ở đây.

Tôn giáo lớn với tổ chức có sẵn như giáo phận, nhà thờ; giáo hội, chùa, tổ đình… sẽ là nơi lý tưởng tập hợp được sự phản kháng của dân. Tôn giáo dường như sẽ là 1 giải pháp tốt nhất mà dân có thể nương tựa vào để từ đó xây dựng sức mạnh đối lập; để dần dần tiến đến 1 phong trào “tòan dân nổi dậy” lật đổ chế độ CS. Lịch sử Việt Nam cận đại cho thấy chính phủ Ngô Đình Diệm tương đối khá mạnh mà chỉ đụng vào Phật gíáo thôi đã bị chấm dứt một cách bi thảm… Trong khi CS hiện nay phải đương đầu với sự phản kháng khá rộng rãi của cả 4 tôn giáo lớn ở Việt Nam cùng 1 lúc: Phật giáo, Công giáo, Tin lành và Hòa hảo; thì hệ quả bi thảm sắp dành cho lãnh đạo CS chắc chắn sẽ gấp 4 lần bi thảm mà chính phủ Ngô Đình Diệm đã lãnh đủ… CS gian ác đánh hơi được mối nguy nếu phải đối đầu với sự tập hợp và chống đối của tôn giáo, CS đang nỗ lực một mặt ra lệnh bắt bớ giam cầm, bịt mồm, loan tin thất thiệt lăng mạ uy tín các lãnh đạo tôn gíáo, một mặt ngày đêm gài người (dùng một số cán bộ công an CS làm sư và linh mục quốc doanh) để cố tình lũng đọan các tổ chức tôn giáo; ngăn chặn bằng mọi giá sự nổi dậy của dân qua ngõ tôn giáo…

Ngoài ra 1 khủng hỏang kinh tế (chẳng hạn như một suy thóai kinh tế trầm trọng) hay khủng hỏang quân sự (chẳng hạn như chiến tranh tòan diện với TQ) thật lớn xẩy đến cho Việt Nam lúc này cũng sẽ kéo theo sự sụp đổ của chế độ CS bở vì CS không hề được lòng của dân… Nhưng sự khủng hỏang này khó có thể tiên đóan là sẽ xẩy ra khi nào?

Chờ đến khi nào? CS đang ở thế phải phục tùng thiên triều TQ, thỏa mãn tất cả các đòi hỏi của TC để trước hết tránh chiến tranh trực tiếp với TC; một khác dùng TQ như là lá chắn kinh tế trong trường hợp kinh tế Việt Nam xụp đổ. Vì vậy không lạ gì khi thấy lãnh đạo CSVN hòan tòan bịt tai che mắt trước sự kêu gọi của toàn dân trong nước về việc để TQ khai thác “bauxite” và lãnh thầu các công trình xây cất, kiến thiết ở Việt Nam hiện nay.

Trí thức Việt Nam không cần phải kêu ca là cảm thấy “hèn quá!” mà nên can đảm tiếp sức với tôn giáo và nhân dân một cách tích cực để tỏ thái độ với đảng CS. Đã đến lúc không thể tiếp tục “hùa” với CS để hành động phản lại nguyện vọng chung của dân.

Không cần phải thật can đảm mà chỉ cần thật tình tin tưởng vào nhau là có thể làm cho CS xuống hố.

Trần Văn Giang (5/27/2009)
band4 3G McKeno

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

NHƯNG NGỪƠI ANH HÙNG....

Quý vị có bao giờ chứng kiến trực tiếp ( live ) giải phẩu để lấy một đầu đạn RPG chưa nổ, trong thân thể của một Chiến binh Hoa Kỳ…

Quý vị có bao giờ thấy một vị Bác Sĩ trẻ tình nguyện đảm nhận ca giải phẩu, có thể gây tử vong cho chính mình…và Ông ta đã khóc (vì cảm động hay sung sướng) khi hoàn thành nhiệm vụ ( ca giải phẩu thành công ), cứu mạng sống cho một chiến binh Hoa Kỳ trẻ tuổi…

M t chiến binh chuyên viên tháo gở đan dược (EOD), cũng khóc khi cuộc giải phẩu lấy đầu đạn thành công…


Trường hợp này đã có thể giúp Quý vị nhớ lại những ca giải phẩu tương tự của các Bác Sỉ Việt Nam Cộng Hòa để lấy đầu đạn M.79 trong thân thế của những đồng bào nạn nhân…trước 1975..trong những hầm bao cát….

Xin mời theo dỏi.
BMH
Washington, D.C

Xin CLICK vào LINK dưới đây:


http://militarytimes.com/multimedia/video/rpg_surgery/

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Nếu vẫn còn biết khóc


Nếu vẫn còn biết khóc,
Thì hãy khóc đi em!
Để thấy rằng em vẫn còn cảm xúc,
Hơn biết bao người vô thức, dửng dưng…
Nếu một lần trong đời em biết tủi hờn,
Đó là lúc em đã thấy mình lớn dậy.
Vượt lên nỗi đau, hằn thù, tức tối,
Để biết yêu thương, giận dỗi, buồn sầu.
Để biết làm người trung thực đáng yêu,
Cho dù phải nhỏ rất nhiều giọt nước mắt.
Sự trung thực không chỉ đến một cách bất cập,
Mà nó cần có cảm xúc thật lòng.
Giữa chợ đời giả dối hư không,
Tìm đâu ra một trái tim yêu thương chất phác?
Vậy nếu em vẫn còn biết khóc,
Thì cứ việc khóc nữa đi em!
Khóc để quên bao cay đắng tủi hờn…
Khóc để biết mình còn sống trong chân thật!
Khóc để biết mình vẫn còn nước mắt,
Nhỏ xuống cho đời và làm ướt trái tim ai?
Những giọt lệ dài…
Nhưng chất đầy cảm xúc.
Vẫn có khối người mong khóc nhưng không được!
Vì tim họ chai ngắt, tính toán mệt nhoài…
Vì cảm xúc của họ chẳng thèm dành cho ai,
Mà chỉ dành riêng cho họ.
Cất giấu trong hộc tủ.
Đeo mặt nạ hư danh chối bỏ tình đời.
Phủ lớp băng che lấy gương mặt người,
Để giành lấy chút danh xưng hư vị.
Em thua họ chút cao sang quyền quý,
Nhưng em hơn họ cái chân lý cuộc đời.
Đó là khi em biết khóc biết cười,
Nghĩa là em đã biết sống.
Tấm lòng em đã biết mở rộng,
Với nỗi đau, với hy vọng của riêng mình.
Nếu lúc nào đó xúc cảm dâng lên,
Thì cứ việc khóc liền đi em nhé!


Chẳng phải tôi già rồi, có tật xúc cảm, hay khóc nên bênh vực chuyện khóc lóc, viết thành bài thơ này đâu,
nhưng quả thật, khóc là một trạng thái chân thực nhất của cảm xúc con người lộ ra bên ngoài, không có gì ngại ngùng hay mắc cỡ cả.
Lắm kẻ có trái tim giá lạnh dửng dưng, muốn khóc mà không được vì cuộc sống của họ có quá nhiều thứ chi phối nên không thể để lộ cảm xúc của mình,
lâu dần thành quen và tim họ càng giá lạnh hơn.
Họ đâu biết rằng khóc sẽ giải tỏa mọi sầu não và bắt đầu một định hướng mới cho cuộc sống lạc quan hơn. Thật đấy bạn ạ!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Những Bức Tranh Kỳ Thú

Thoạt nhìn tưởng như có một thảm họa thiên nhiên nào đó đã phá hủy bức tường tòa nhà,
để lộ ra một công trình kiến trúc cổ đại... ẩn dấu từ hàng nghìn năm...
Thực ra, tất cả đều được vẽ trên bề mặt của một bức tường.


Những bức họa đồ sộ hệt như thật này là tác phẩm của họa sĩ John Pugh - bậc thầy trong nghệ thuật "lừa dối con mắt".
Ông dùng tài nghệ của mình để mê hoặc người xem nhìn vào những hiệu ứng 3D thể hiện trên bề mặt phẳng.
Người họa sĩ đến từ California , Mỹ, nói: "Dường như tất cả mọi người trên trái đất đều thích thú khi bị lừa con mắt như vậy".

Tác phẩm của ông có mặt ở mọi nơi trên thế giới, từ New Zealand cho tới Hawaii, trong đó kể lại những câu chuyện xảy ra tại khu vực đó. Họa sĩ Pugh đang tiếp tục tạo nên các bức tranh tường đặc trưng tại một trung tâm giải trí ở Canada .

Image

Bức tranh tại một tòa nhà ở một Đại học tại California thể hiện những chiếc cột mang phong cách Hy Lạp, lộ ra sau bức tường đổ vỡ.

Image
Con sóng thần trên bức tường tại Honolulu , Hawaii , đã khiến nhiều người bị đánh lừa.


Image
Bức tranh mang tên "Nghệ thuật mô phỏng cuộc sống" tại một quán cafe tại California .
Con người được đưa vào tranh để tăng thêm hiệu ứng 3D.


Image
Bức họa được vẽ trong Hội thảo về tranh tường toàn cầu tại Twenty-Nine Palms, California .

Image

Người ngắm bức tranh "Đại dương trong chai tại Santa Cruz , California cũng do bàn tay họa sĩ John Pugh tạo nên.

Image
Nơi này có vẻ như chốn dừng chân lý tưởng trên vỉa hè tại Trung tâm Sarasota ở Florida .

Diệu Minh ( theo Daily Mail )

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Vợ chồng tổng thống Mỹ hẹn hò cuối tuần

Tổng thống Mỹ Barack Obama đưa đệ nhất phu nhân Michelle đi xem nhạc kịch ở New York trong buổi hẹn hò cuối tuần qua.

Image
Vợ chồng tổng thống rời New York sau cuộc hẹn hò cuối tuần. Ảnh: China Daily.
"Tôi từng hứa khi đi tranh cử rằng sẽ đưa nàng đi xem nhạc kịch ở Broadway sau khi mọi chuyện kết thúc", tổng thống giải thích. Đây là lần đầu tiên Obama tới New York kể từ khi đắc cử.

Vợ chồng tổng thống cùng các trợ lý và báo chí tháp tùng bay tới New York trên một chiếc máy bay nhỏ, thay vì chiếc Air Force One của ông. Họ ăn tối ở nhà hàng Blue Hill mà ông cho là rất hợp thời. Sau bữa tối, họ đi tới nhà hát Broadway.

Tất cả cùng xem vở kịch có tên Come and Gone, lấy bối cảnh là một tòa nhà ở thành phố Pittsburg. Tại đây, hàng nghìn con cháu của các nô lệ da đen cũ mong tìm được công việc sau khi đi từ vùng nông thôn miền nam tới các thành phố công nghiệp ở miền bắc.

Vợ chồng tổng thống trở về Washington đêm 30/5 sau vở kịch. Phe đảng Cộng hòa lên tiếng phản đối chuyến đi tới New York của vợ chồng ông Obama. Họ cho rằng đây là một sự phí phạm trong thời điểm hãng xe ô tô lớn của Mỹ General Motors chuẩn bị phá sản.

Xem ảnh vợ chồng tổng thống Mỹ tới New York.

Hải Ninh (theo BBC)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Khi Nguyễn Ngọc Tư vương vấn với thơ
Nguyễn Ngọc Tư không dùng một chữ đắc địa nào, nhưng thơ thuyết phục nhờ vẻ yếu mềm phụ nữ không cần giấu giếm. Tôi mơ hồ nghĩ rằng, khi làm thơ Ngọc Tư không mấy tin vào giá trị của chữ nghĩa, mà cô tin tuyệt đối vào giá trị của nước mắt.

Cuối năm 2008, sau khi phát hành cuốn Gió lẻ và những truyện ngắn khác với số lượng khá lớn, Nguyễn Ngọc Tư bảo: "Sắp tới tui sẽ chuyển qua làm thơ!". Tôi cứ nghĩ cô bạn chỉ dọa mình cho vui. Ai ngờ, ít lâu sau, thấy tôi trên mạng, Nguyễn Ngọc Tư "chat" ngay một câu mừng rỡ: "Ông ơi, hôm nay là ngày trọng đại nhất trong đời tui. Tui có một bài thơ in báo rồi. Ha ha ha….".

Tôi giật mình, thôi rồi, nữ sĩ Nam bộ này hễ nói được là làm được. Bài thơ đầu tiên mà Nguyễn Ngọc Tư tự hào ấy, được in trên báo Đà Nẵng. Tôi đọc và ra vẻ người làm thơ đi trước: "Một bài thơ thì chưa nói lên được điều gì đâu!". Có lẽ tự ái, Nguyễn Ngọc Tư gửi e-mail luôn cho tôi một chùm thơ gần chục bài. Tôi cảm thấy hơi... nể!

Năm 1998, tôi quen Nguyễn Ngọc Tư khi cô đang làm văn thư cho Hội văn nghệ Cà Mau, chỉ mới viết được một vài bài ký kể chuyện vùng sông nước. Thế nhưng, sau đó Nguyễn Ngọc Tư có những bước tiến rất dài trong nghề văn, chứng tỏ một tài năng thiên bẩm. Riêng truyện dài Cánh đồng bất tận đã giúp Nguyễn Ngọc Tư vượt trội những cây bút cùng thế hệ. Vì vậy, tôi cũng rất cảnh giác với tiềm lực làm thơ của Nguyễn Ngọc Tư.


Nguyễn Ngọc Tư đến với thơ bằng những dòng buồn lặng lẽ. Ảnh: N.N.T.

Ưu điểm của thơ luôn nằm ở những khoảnh khắc. Cái khoảnh khắc ấy văn xuôi không thể diễn tả một cách mạch lạc. Thơ Nguyễn Ngọc Tư là đôi khoảnh khắc buồn len lén trình diện một tâm hồn đa cảm. Bài thơ Thềm nhà vướng mắc từ sự áy náy "lâu rồi không về ngồi nơi thềm nhà, để nhìn ba má già", cô đắng đót nhận ra:

"Bốn ngàn trưa con nằm co bên thềm như con chó nhỏ
ngủ và mơ giấc của riêng mình,
những chiêm bao bị cơn thèm ăn ngấu vào quay quắt
con chưa bao giờ kể ai nghe
sợ tay má khóc
mãi không búi được tóc
sợ lòng ba đau
miết cuốc vào giồng rau"

Cảm giác trôi từng dòng, từng dòng vừa như nỗi sợ hãi chạm phải ngày xưa cơ cực, mà từng dòng vừa như sự chột dạ không thể níu giữ kỷ niệm mờ phai. Nguyễn Ngọc Tư không dùng một chữ đắc địa nào, nhưng thơ thuyết phục nhờ vẻ yếu mềm phụ nữ không cần giấu giếm. Tôi mơ hồ nghĩ rằng, khi làm thơ Nguyễn Ngọc Tư không mấy tin vào giá trị của chữ nghĩa, mà cô tin tuyệt đối vào giá trị của nước mắt. Bởi thế, cô có câu "Sao đôi lúc mực rơi như đạn xé?" ẩn chứa sự mạnh mẽ của bao ngậm ngùi.

Một người viết truyện ngắn có văn phong thì khi quyết định làm thơ sẽ có lợi thế ngưng tụ được nhiều hình ảnh. Đó là nguyên nhân Nguyễn Ngọc Tư quan sát được một Lễ hội rạng rỡ: "Những lời hứa không mang theo dấu hỏi / Nhiều mật, hoa và lắm nụ cười / Em cả tin chảy cùng người ngơ ngác / Vắt tim mình pha sắc những cuộc vui" và dò tìm được một phương pháp Hỏi đường trắc ẩn: "Những ngày rong ruổi trên đất lạ, chỉ mình, tôi một lần ngẩn ngơ hỏi con đường, lối nào sẽ dẫn đến người. Đường im lặng đi lên đồi mải miết, người ngốc ơi, chỉ cần dừng chân lại, sẽ thấy người".

Khi đọc thơ Nguyễn Ngọc Tư, tôi cố gạt ra quan hệ thân tình để giải đáp câu hỏi có thể nhiều người cũng quan tâm: nhà văn ăn khách làm thơ với mục đích gì? Xin thưa, khi viết văn xuôi, Nguyễn Ngọc Tư mong muốn làm cuộc đối thọai với nhân vật và tình tiết, còn khi sáng tác thơ, Nguyễn Ngọc Tư mới có cơ hội làm cuộc đối thoại với bản thân. Và chính cuộc đối thoại trễ nải vần điệu giúp công chúng hình dung một Nguyễn Ngọc Tư xa thẳm với cô đơn thường trực của kẻ ưu tư: "Mình tôi mình tôi riêng tôi riêng tôi. Thênh thang lầm lũi… Thèm cùng người nhìn tách trà thoi thóp khói, nghe chút ngọt mụ mị mềm đầu lưỡi, nơi đắng chát đã từng qua".

Từ xưa đến nay, thơ có một mối nguy hiểm là thể loại văn chương tưởng chừng mơ màng hư thực này luôn bắt người viết phải thổ lộ những riêng tư thầm kín nhất, nếu muốn tìm được đồng cảm phía độc giả. Nguyễn Ngọc Tư tình nguyện làm một người ngây dại để đi tìm run rẩy trái tim mình Bão đã từng chới với giữa cuộc sống ngày càng dửng dưng hơn.

"Những nhớ thương, chờ đợi, tủi buồn,
bỗng một ngày em không nhốt được,
tan chảy từ khối ngày đông đặc,
chúng chực tràn ràn rụa phía anh

Từng chữ từng chữ tuôn trên những ngón tay
chữ mặn và trong,
chữ xót ròng ròng
em không sao dừng lại được
anh sẽ ướt

anh sẽ ướt. Em sợ anh sẽ ướt
khoét một vết sâu, em dẫn nhớ chảy vào
mỗi thư nháp là một dấu đau
một vũng chữ anh không bao giờ nhìn thấy

Mỗi thư nháp là một cơn bão
Đã từng..."

Mai sau, liệu có một lúc nào đó công chúng sẽ giới thiệu "nhà thơ Nguyễn Ngọc Tư đã từng viết văn" chăng? Tôi không dám phỏng đoán, nhưng tôi chắc chắn nhiều câu thơ đã an ủi Nguyễn Ngọc Tư những lúc xao xác ngả lòng. Và có thể cũng nhờ thơ, tôi và mọi người sẽ hiểu Nguyễn Ngọc Tư thêm chút nữ

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Những vấn đề của sân khấu

Image
Cải lương chi bảo Bạch Tuyết và cầu thủ Tam Lang trong ngày cưới. (Hình: Ngành Mai sưu tầm)

Image
Cô Ba Út, nghệ sĩ hát bội vang bóng một thời. (Hình: Ngành Mai sưu tầm)

Ngành Mai
Chuyện nàng Nguyệt Nga sáu mươi niên kỷ

Trong hoạt động nghệ thuật sân khấu, đào kép già nua vẫn muốn đóng vai trẻ là một tệ nạn, là căn bịnh trầm kha không thuốc chữa, nó cứ đeo đẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ðây cũng là một trong những nguyên nhân đưa bộ môn nghệ thuật hát bội, cải lương đến chỗ suy tàn như ngày nay.

Năm 1952 nhận thấy bộ môn hát bội tê liệt, đang đi dần đến mai một, nên lúc bấy giờ có một nhóm những người thuộc giới trí thức, vốn quan tâm đến vấn đề bảo tồn văn hóa đã đứng ra thành lập Hội Khuyến Lệ Cổ Ca, do ông Ðốc Phủ Sứ Ðỗ Văn Rỡ làm hội trưởng luôn cho đến 1975.

Mục tiêu hoạt động của hội là quy tụ các đào kép thất nghiệp dù họ đang làm nghề khác kiếm sống, chịu khó bỏ thì giờ hàng tuần tập dượt sẵn các tuồng Tàu, tuồng San Hậu để hát cúng Kỳ Yên vào tháng Hai, tháng Ba Âm Lịch hằng năm, và Tháng Bảy thì hát cúng Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt tại Lăng Ông Bà Chiểu. Cũng như tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn thì tập dượt tuồng Kim Vân Kiều để hát trong ngày giỗ thi hào Nguyễn Du, và tập tuồng Lục Vân Tiên để hát trong ngày giỗ cụ Nguyễn Ðình Chiểu. Ngoài ra còn trình diễn ở Hội Việt Mỹ cho quan khách ngoại quốc xem, và hằng tháng đi thu hình ở đài Truyền Hình Việt Nam. Tóm lại nhờ có Hội Khuyến Lệ Cổ Ca mà hát bội được tồn tại, giúp được một số đào kép thỉnh thoảng được lên sân khấu và có tiền đắp đổi.

Có điều là hát bội vẫn được khuyến khích mà ít có người xem, đó là tại bộ môn này chỉ hát tới hát lui có từng ấy tuồng tích, và cũng tại những diễn viên kỳ cựu của hội đã luống tuổi hết mà không thay thế. Do đó Hội Khuyến Lệ Cổ Ca chỉ hát cho khán giả coi miễn phí chớ không bán vé (nếu bán vé chắc chẳng bao nhiêu người coi). Thế nhưng, hội vẫn sống hoạt động là nhờ chính quyền trợ cấp đều đều, và mỗi buổi hát như vậy thì mời quan khách cơ quan chính quyền, các bộ, nha, sở trong Ðô Thành và hầu như chức quyền nào đi coi cũng ký sổ vàng.

Do chẳng cần bán vé mà vẫn có tiền hoạt động, nên quí vị có trách nhiệm trong hội đâu có để ý đến vấn đề trẻ trung hóa thành phần nghệ sĩ, mà mỗi lần hát thì đào kép coi như già thêm lên một tuổi, và cứ bao nhiêu đào kép đó, với vai trò đó hết năm này sang năm khác.

Khoảng 1970 nhân ngày giỗ cụ Ðồ Chiểu, hội lại hát tuồng Lục Vân Tiên, câu chuyện Lục Vân Tiên không thể nào soạn ra thành một vở hát trình diễn trong thời lượng từ 2 đến 3 giờ đồng hồ, do vậy nên khi soạn vở hát này thì ông Ðỗ Văn Rỡ chỉ soạn vài lớp, nhưng dù lớp nào thì cũng phải có vai chánh Nguyệt Nga xuất hiện, và năm nay thì vai Nguyệt Nga do nữ nghệ sĩ Ba Út đảm trách. Suốt mấy mươi năm, từ ngày thành lập hội (1952) cho đến thời điểm đó, vai Nguyệt Nga nếu không cô Ba Út thì cô Năm Ðồ, dù hai “cô” đào này tuổi đã 60.

Lần trình diễn nói trên, hội mời được rất nhiều quan khách cấp lớn ở các bộ, trong số có cả ông Trương Bửu Ðiện, Tổng Trưởng Bộ Thông Tin. Khi xem được nửa tuồng thì ông Ðiện bỏ ra về, ông Rỡ phải vội vàng đi theo tiễn đưa ra tận xe, và trước khi lên xe ông tổng trưởng day qua hỏi ông Rỡ:

- Cô đào hát nào đóng vai Nguyệt Nga vậy ông?

- Dạ thưa cô Ba Út.

- Bao nhiêu tuổi vậy?

- Dạ hình như 60 rồi, cổ đóng vai Nguyệt Nga từ hồi 20 tuổi tới giờ đó.

- Ông có đọc qua tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Ðình Chiểu chưa?

- Tôi rành lắm chớ, và bữa nay tôi soạn lớp Nguyệt Nga đi cống hồ Phiên.

- Theo như trong tác phẩm thì đưa cống Phiên một nàng Kiều Nguyệt Nga trẻ đẹp hay đưa một bà già 60 tuổi?

Ông Ðốc Phủ Rỡ đã biết được ông tổng trưởng muốn nói gì, và vội vã phân bua.

- Tôi có đề nghị cô Ba Út đóng vai lão bà, để vai Nguyệt Nga cho đào trẻ nhưng cổ hổng chịu.

- Hổng chịu à! Nếu như cái đà này mãi thì tương lai hội của ông sẽ có bà lão tay xách giỏ trầu, tay chống gậy lên sân khấu làm Nguyệt Nga.

Ông đốc phủ sứ nhà ta ngẩn tò te, chưa biết giãi bày sao đây thì ông tổng trưởng nói tiếp:

- Bảo tồn văn hóa là điều tốt, đáng khuyến khích, nhưng đừng làm hư danh phẩm của cụ Ðồ Chiểu.

Có lẽ nhờ vậy mà lần trình diễn năm sau người ta thấy một sự phối hợp hai thế hệ diễn viên: Ðào trẻ Kim Ngà mới 20 tuổi đóng vai Nguyệt Nga, kép trẻ Hoàng Sóc vai Lục Vân Tiên, kép lão Mười Sự vai Lục Ông và “cô” Ba Út vai lão bà.

Người ta bảo rằng tài nghệ như cô Ba Út, cô Năm Ðồ đã đến lúc nên truyền dạy cho nhóm em cháu đang nối gót, hơn là cứ khư khư ôm lấy vai trẻ mãi thì khó coi lắm. Có tô son tô phấn đầy mặt thì cũng vậy thôi, ráng gân cổ hát thì lại càng khó nghe, tội nghiệp cho khán giả vậy!

Những mẩu chuyện trong nghệ thuật sân khấu

Ngành Mai


Ðôi vợ chồng Bạch Tuyết, Tam Lang muôn năm cầm sắt


Người ta thường bảo đào kép cải lương thay vợ đổi chồng như thay áo. Ðó là người ta sẵn có thành kiến không tốt đẹp với nghệ sĩ sân khấu, và chỉ căn cứ vào một vài sự kiện nào đó để bôi dơ cho cả làng. Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi. Sách xưa có nói vậy, cho nên không phải hầu hết đào kép cải lương đều vô thủy vô chung hết đâu. Và báo chí thời bấy giờ nêu lên một số trường hợp của những đôi vợ chồng hạnh phúc nhìn thấy: Ðôi vợ chồng Bạch Tuyết Tam Lang. Ai đồn Tam Lang ghen không muốn cho Bạch Tuyết hát cho đoàn Dạ Lý Hương nữa? Tam Lang vẫn làm thinh. Ai hỏi Bạch Tuyết có thật sự hạnh phúc với Tam Lang không, thì nàng cười hết miệng: Tụi này cưới hỏi đàng hoàng quá mà. Yêu nhau gì tài mến nhau vì tình, cứ vậy mà khắng khít, trời đánh cũng không rời nhau được!

Nhìn thấy đôi uyên ương hạnh phúc, ký giả kịch trường Cẩm Thi nói rằng, Bạch Tuyết báo tin mừng với tôi bằng tất cả một giọng nói xúc cảm. Nàng nói, hôm ấy nàng suýt ứa nước mắt khi thấy gia đình Tam Lang đến nhà nàng chính thức “xin bàn tay”mình. Ảnh hiền và đứng đắn lắm! Anh ơi! Em sung sướng quá!

Sau đám cưới ít lâu, Tuyết lại say sưa báo tin cho tôi rõ là “anh” được chọn vào hội tuyển Á Châu đá với hội Anh Quốc. Trong giọng báo tin của Tuyết, tôi bắt gặp một yêu đương có pha sự nể phục. Ðời Bạch Tuyết được an lành trong hạnh phúc thì nghệ thuật còn có quyền hy vọng ở nàng nhiều thành công rực rỡ hơn.

Bạch Tuyết còn thố lộ là Tam Lang vốn là một cầu thủ, rất có tinh thần thể thao nên không hề coi gì là quan hệ cả. Do đó mà đôi lúc người ta tưởng chừng như anh lạnh lùng. Riêng em - Bạch Tuyết nói - lúc nào em cũng sợ làm mất lòng tin của ảnh, nên chi, có lúc ảnh đá banh bên Thái Lan, ở nhà em bị cướp. Thế là em định tự tử đó không thấy sao?

Mấy năm gần đây ở hải ngoại, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy Bạch Tuyết xuất hiện ở các sô hát cải lương. Có điều là giờ đây không biết đôi vợ chồng này ra sao, có muôn năm cầm sắt như họ từng ước nguyện.

Cặp Minh Cảnh, Kiều My

Kẻ Nam, người Bắc kết nghĩa vợ chồng, rồi đứng ra lập gánh hát. Thời cải lương cực thịnh, thập niên 1960 Minh Cảnh luôn tuyên bố: Ðời tôi không bao giờ nghỉ tới mèo mỡ, bởi bên cạnh tôi có Kiều My. Không biết ai xui khiến mà sao tôi thấy vợ tôi đẹp hơn tất cả mọi cô gái khác. Tụi tôi tuổi rất hạp nên từ ngày ăn ở với nhau là làm ăn phấn chấn đến giờ. Tôi có ông bố vợ thật điệu mà tôi khoái như bố ruột, khi nào bố vợ rầy mắng vợ tôi, tôi nghe như bị mắng cùng lúc đó. Tụi này cam kết sống với nhau cho tới lúc bạc đầu. Rõ ràng Minh Cảnh “ca vọng cổ” mùi hết cỡ! Nhưng giờ đây chẳng biết cả hai đã bạc đầu chưa? Nghe nói thì mấy năm trước Minh Cảnh sang Mỹ hát rồi ở luôn bên đây không về!

Còn những cặp khác cũng “ca” mùi không kém Minh Cảnh, đó là: Việt Hùng-Ngọc Nuôi, Bảy Cao-Kim Luông, Nam Hùng-Thanh Thanh Hoa Ngọc Giàu-Ba Hóa. Cuối cùng họ ra sao?

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Tâm Sự Vợ Chồng Già
(Trích Từ Nguyệt San "Thằng Mõ")




Họ tự nhận là “hai con khỉ già”, bởi vì nụ cười của họ bây giờ cũng xệch xạc, méo mó lắm, nhất là mỗi lần cãi nhau, nhìn lại càng chẳng giống ai, cứ vênh vênh váo váo mà lại lườm lườm nguýt nguýt trông đáng ghét tệ. Nhưng mà đó là chuyện của họ, chẳng là của ai trên cõi đời này, nếu ai có trùng hợp mà nhận là vợ của mình thì cũng mặc thiên hạ.

Ðúng ra họ đã hay chí chóe từ hồi còn trẻ, y như hai con khỉ non. Lúc mới yêu nhau họ cũng hay giận hờn, nhưng những thứ giận hờn thuở đó chỉ bừng lên như lửa rơm, làm họ càng nhớ tới nhau nhiều hơn khi xa cách.

Trước khi quyết định đi tới hôn nhân, họ đã về vấn đề và xin phép cha mẹ đôi bên so tuổi như bao nhiêu cặp vợ chồng khác. Lão thầy bói đeo đôi kính đen, gật gù bấm bấm đốt tay, sau một lúc lẩm nhẩm tính toán, nghe loáng thoáng câu gì “thìn, tuất, sửu, mùi tứ hành xung, tý ngọ mẹo dậu ở với nhau không nát một chiếu”. Nhưng may quá hai người không nằm trong nhóm tuổi ấy, cuối cùng thì thầy cùng nói một câu ba phải: “Nữ mạng hỏa, nam mạng thổ, thổ sanh hỏa, tương sanh, tuy không giàu có, nhưng sống với nhau trăm năm đầu bạc”.

Thôi thế cũng được, bà già đứng dậy xuýt xoa cám ơn thầy, dẫu có khắc khẩu chút đĩnh mà cứ bạc đầu răng long cãi nhau hoài hoài thì cũng xem là hạp tuổi, không lo một đứa rửa chân về chầu Giời sớm. Mạng tích lịch hỏa chỉ là lửa sấm sét, nó gầm thét lên như chớp nhoáng là nguội ngay, còn thổ ngự sơn thì tuy không điền sản, dinh cơ, nhưng thanh cao chót vót đỉnh núi, sấm chớp không hề hấn gì. Sợ nhất là cái mạng mộc gặp hỏa, hay hỏa gặp thủy thì coi chừng hai đứa, đứa chết đứa bị thương. Xem thế cũng chưa chắc đúng, và thời ấy là thời chiến tranh, có nhiều người xem rất hạp tuổi mà vẫn gãy gánh giữa đường. Những lúc ấy, hai người đang yêu nhau lắm, dẫu có phải nhảy vào lửa để chết cho tình yêu họ vẫn chết, cho nên việc đưa nhau đi xem tuổi chỉ là để các cụ ở nhà yên chí mà thôi.

Thời gian cứ như thế vùn vụt trôi đi, mới ngày nào mà nay đã hơn ba mươi năm đầu gối tay ấp. Hôm lũ con đề nghị những ngày “hấp hôn” cho cha mẹ, ông đã nửa đùa nửa thật nói với lũ nhỏ:

“Thôi, đừng phú quí sinh lễ nghĩa, tao với mẹ mày ngày nào cũng như ngày tân hôn, cần gì tổ chức cho rậm đám. Ðứa nào thương cha mẹ, cứ cho tí tiền đi du lịch trăng mật tuổi già, chứ ăn thì đã không dám ăn, mặc đẹp cũng chả ai nhìn”.

Ðúng thế, với tuổi này ông nghỉ như vậy là thực tế, tiết kiệm được tiền cho con cái, mà lại không ngại thiên hạ xì xèo. Vợ chồng ông sống theo lối Việt Nam, hôm ngày Valentine, ông đi làm về, nghe thiên hạ ra rả chuyện tặng nhau đóa hoa Tình Yêu, lại thấy chú Mỹ đen đứng bán hoa ở ngã tư đường, ông bèn hào sảng mua tặng bà một đóa hồng nhung đỏ. Hí hửng lái xe, ông đậu xe rồi đem đóa hoa vào bếp. Thấy bà đầu bù tóc rối đang nấu cơm, ông vui vẻ đưa cho vợ, chưa kịp nói câu gì hay ho để lấy điểm với bà, thì bà đã nhăn nhó lên như khỉ:

“Làm trò khỉ gì thế, hoa với chả hóet. Sao không mua cho tôi bó rau muống xào thịt bò ăn cơm có phải ngon không?”

Ông cụt hứng, ngẫm nghĩ, rõ chán phèo cho cái con khỉ già, làm như cuộc đời chưa hề biết tới chữ “romantic” bao giờ cả. Nhưng nhìn mặt mũi vợ đỏ gay khi đứng bên bếp lửa, đang làm bữa cơm chiều cho cả nhà, ông lại nghĩ thương vợ: “Ừ phải đấy, cứ rửa cho bà ấy đống bát đĩa bẩn mà bằng trăm đóa hoa hồng phỉ gió kia.” Thế là ông xắn tay áo lên để rửa bát, nhưng bình thường đã mấy khi ông đụng đến công việc bếp núc của vợ. Ông lúng túng rồi tuộc tay làm vỡ cái ly, thế là bà tru tréo lên:

“Thôi ông cụ ơi, hễ ông mó vào đâu là đổ vỡ đến đó. Cứ để tôi, chẳng cần ông phải làm.”

Ông lắc đầu bỏ ra ngoài vườn, thôi đi tưới cây vậy. Nhác nhìn thấy mấy cây mướp đắng bà trồng hôm nay đã leo lên hết chiếc cột gỗ bên vệ rào, ông nghĩ ngay đến chuyện làm cho bà cái giàn.

Nghĩ là làm, ông hí hoáy lấy thang, rồi dùng những thanh gỗ mỏng để bắc giàn, nhưng chưa gì ông đã thấy bà đứng lù lù sau lưng. Tưởng bà khen, ai ngờ bạ lại la hoảng lên:

“Tôi lạy ông, ông chẳng làm gì cho nên thân cả. Lỡ gãy chân, nằm một chỗ là chết cái thân già này.”

Ông tự ái: “Bà cứ hay ồn ào, không ngã mà cứ nghe bà la hoảng cũng đủ giật mình ngã gãy cổ. Ðàn bà có thứ đâu ăn nói cứ toang toác lên.”

Bà đâu có toang toác, bà lo cho ông đấy chứ, nhưng hai chữ “toang tóac” làm bà ấm ách, mặt sưng lên lên trông hệt như con khỉ già. Tuy thế, ông cũng vác cái thang cất vào nhà kho, rồi vào nhà cơm, trên chiếc kệ gỗ, đã thấy hoa hồng đỏ ông mua tặng bà được cắm vào chiếc bình thuỷ tinh. Ông tủm tỉm cười, đàn bà họ nói vậy mà không phải vậy, đóa hoa hồng bây giờ đã tươi lên vì có nước.

Cũng không phải lúc nào họ cũng cãi nhau, và cũng không phải lúc nào ông với bà lại không có những giây phút êm đềm bên nhau khi lũ con đi vắng cả. Những câu chuyện họ trao đổi, nghe không ngọt ngào như hồi đôi mươi, nhưng đầy những lo lắng và băn khoăn cho nhau về sức khỏe cũng như chuyện trong nhà, ngoài phố. Ông hay nhắc bà cần phải uống thêm thuốc bổ mỗi ngày, còn bà thì lo lắng cái chân của ông dạo này đi đứng có phần thiếu ngay ngắn. Nhưng phiền nhất là mỗi lúc lái xe có bà bên cạnh lái phụ, nhắc nhở từng chi tiết khi cái kim đồng hồ nhích lên nhích xuống, bởi vì bà không lái xe mà lái tài xế. Cái này thực khổ cho ông, khi mắt phải chăm chú nhìn kính trước kính sau, miệng bà thì ong óng nhắc nhở chạy nhanh chạy chậm, khiến đầu ông cử hoảng lên suýt tông vào xe người khác. Ông quát vợ:

“Có câm cái mồm khi không? Ði với bà có ngày chết mết ngáp. ‘Pô Lít” tôi không sợ mà sợ cái miệng bà’.

Bà im một tí rồi lại lên mày:

“Ðã lái dở mà lại cứ chạy ‘len’ giữa, lỡ muốn ‘ếch xít’ thì sao?

Ông hầm hừ: “Ðường nó nằm trong đầu tôi, lái ‘len’ trong lỡ trượt bánh xe là đi vào thành xi măng, cũng giập đầu mà chết.”

Họ cứ cãi nhau lọan xạ như thế, nhất là khi ông mắt mũi kèm nhèm, không nhìn rõ bảng tên đường, định quẹo phải mà một thằng Mỹ đen đã lù lù chặn ngay bên cạnh. Thế là ‘sảy một ly đi một dặm’. Họ đã có nhiều kinh nghiệm những lần đi lộn đường như vậy, rồi loanh quanh mãi tìm không ra lối về, đi lạc vào những khu lạ hoắc, chỉ mới hoàng hôn mà nghe như đã tối om vì nỗi sự dâng ngập lòng.

Bà còn sơ nhất là tính nóng nảy của ông, khi bị một cái xe đằng sau cứ bóp còi ‘tin tin’ thúc hối, bởi ông bận nghĩ đâu đâu mà đèn xanh nhấp nháy vẫn chưa chịu chạy. Rồi khi nó vượt qua mặt ông, bèn giơ ngón tay giữa ra để chọc tức. Mỗi ngón tay là một biểu tượng của ngôn ngữ, có xấu có tốt, nhưng ở trường hợp này thì bà phải can ông đừng bắt chước kiểu trả lời thiếu văn hóa như thế, nhất là lỡ gặp phải thằng có súng, thôi thì ‘một câu nhịn chín câu lành’ vậy. Hồi ông mới qua Mỹ, chả hiểu ‘mô tê’ gì về ngôn ngữ ngón tay như vậy, lông ngông tìm đường đi thì đã thấy một cái đầu ở xe bên kia thò ra, giơ một ngón tay lên, ông còn lại mĩm cười nói ‘thank you’ người bạn Mỹ tốt bụng, về nhà cứ thắt thỏm sao nó biết mình đang đi tìm đường để chỉ.

Mỗi lần có dịp đi đâu với ông, phải lái trên ‘freeway’, xe cộ lạng lách như điên khiến ông xoay trở đến nhức đầu, mồm luôn luôn rủa ‘đồ khốn nạn’ bà lại bật cười. Hôm ấy trong lòng ông đời đầy những thằng khốn nạn, chúng nó đi đâu mà như ăn cướp, xã hội này khó mà có hòa bình khi con người cứ sùng sục lên như vậy. Nghĩ cho cùng thì chả bao giờ hết chiến tranh, từ triệu năm trước tới ngàn năm sau, con người cứ sống rồi chết, chiến tranh rồi lại hòa bình, kẻ đi vào lòng đất người lại tiếp tục sinh ra. Gọi là nhân loại còn khổ, vì lòng người cứ sùng sục lên như nồi nước sôi.

Hôm nay ông bà lại cãi nhau. Mặt bà sưng lên còn ông thì lừ lừ không nói năng. Họ đang cằn nhằn nhau, hay là chỉ có bà hay cằn nhằn mà thôi. Bà nói dai như đĩa, mà lạ thật, bà chỉ hay dai dẳng với ông chứ với người ngoài bà ngọt sớt, chiến tranh chỉ xảy ra giữa hai vợ chồng già còn khi ra ngoài bà hay đem hai chữ ‘bình an’ để tặng riêng cho thiên hạ. Thế có tức không chứ. Chuyện thì đâu có gì ghê gớm, vợ chồng thằng con trai dẫn đứa cháu nội đi đâu từ sáng sớm, chúng nó quên cả ngày kỵ của ông cố, mãi tới giờ này vẫn chưa dẫn cháu về ăn giỗ.

Ông bảo bà: “Muốn gì phải nói. Thời buổi này bận bù đầu bù cổ, chúng nó làm sao nhớ được ngày gì ngoài ngày thứ bảy với ngày chúa nhật”.

Bà chua chát: “Nhưng ít ra thấy tôi sửa soạn bàn thờ, nói xa nói gần thì cũng phải biết để cháu ở nhà đốt nhang cho ông bà chứ. Có thứ đâu lại cắp đít đi hết như vậy.

Ông chép miệng: “Ôi giào! Không có chúng nó thì tôi với bà cứ bày ra cúng rồi cùng xơi với nhau, càng ít người càng được ăn nhiều.”

Nhìn căn nhà vắng vẻ, nấu nướng bày biện xong đã mệt ngất như mà con cháu chưa đứa nào về, đâm tủi thân: “Mai mốt tôi với ông chết đi chắc chẳng có ai đốt cho nén nhang, cứ thời buổi này thì chẳng giỗ chạp làm gì cho mất công.

Ông gật gù: “Ừ, mà cũng chẳng cần phải chôn cất nữa cho chật đất. Tôi có chết cứ thiêu xong rồi đem tro đổ xuống biển, nhà thờ cho chúng nó một năm đôi lần thăm viếng. Nằm dưới ấy lại mát. Còn không thì đem lên núi, trãi ra làm phân bón cho cây cỏ, không ích lợi hơn à?

Nghe ông bình thản nói vui vẻ mà vẫn cứ ngậm ngùi. Mâm cúng đã dọn lên, mùi trầm nhang nghi ngút. Bà đốt ba nén nhang cắm vào bát nhang trên bàn thờ, miệng lâm râm khấn vái:

“Lạy các cụ, hôm nay ngày giỗ ông, mời các cụ về xơi bữa cơm với con cháu. Các cháu bất hiếu cụ bỏ lỗi cho, thời buổi này chẳng giống hồi xưa, các cụ ‘sống khỏe chết thiêng’ về phù hộ cho cả nhà an vui, khỏe mạnh, gia đạo trong ấm ngòai êm...’

Nghe bà khấn, ông vốn hay pha trò buộc miệng:

“Các cụ có phù hộ thì cứ phù hộ, còn việc hiện về xin miễn cho kẻo con cháu nó sợ.’

Ðang buồn trong bụng, thế là bà quay sang vặc lên với ông:

“Ăn nói rõ là lăng nhăng, ông đừng đùa với người khuất bóng mà mang tội, các cụ nghe được cả, đâu phải chỗ để ông đùa, bố thế hèn gì con cũng vậy. Tôi nói cho ông biết, lát nữa dẫn nhau về đây tôi cho một trận...”

Ông nhăn mặt: “Thôi xin can bà, bà chửi chúng nó các cụ cũng nghe, lần sau hoảng không dám về ăn giỗ nữa. Ai lại mời các cụ về ăn giỗ, cầu vui cầu khỏe, mà gia chủ mặt mũi nhăn nhó như con khỉ già, tôi mà là cụ tôi cũng ‘đấm’ vào. Bà cứ để tôi dạy chúng cho, ‘ngọt mật mới chết ruồi’ chứ nhấm nhẳng chỉ làm nó ghét mình hơn”.

Bà ngang nghạnh trả miếng, bởi vì có mấy khi bà chịu thua ông.

“Không phải ngọt với ai cả, nó là con chứ không phải bố mình, nói nặng còn chẳng nghe ra, chứ nhẹ đã ăn thua gì.”

Thế là bữa cơm nấu nướng công phu đầy những món ngon bỗng lạnh ngắt vì chẳng ai muốn ăn. Ông bực mình nghĩ tới thằng con trai vô tâm không biết đến ngày giỗ ông bà mà bảo vợ ở nhà giúp mẹ chồng. Chúng nó đi đâu mà quên cả đường về, bọn trẻ bây giờ đều vô tâm thế cả, nếu cha mẹ mà không có lòng tha thứ và thông cảm, thì chắc chắn sẽ buồn giận suốt đời. Hóa cho nên hồi vợ chồng chúng nó mới lấy nhau, ông đã nghĩ đến chuyện ở riêng để ai có tự do của người đó. Nhưng riêng thì riêng, nề nếp gia đình vẫn phải giữ. Ông mặc quần áo rồi bảo vợ: “Tôi đi đằng này một chút”.

Bà đang ngồi buồn rầu nhìn mâm cơm: “Ði đâu? Cơm canh dọn sẵn rồi cũng bỏ đi, đúng là ‘bố nào con nấy’.

Ông bực mình quát: “Bà biết tôi đi đâu mà đã toang toát lên. Tôi đi tìm chúng nó về để bà chửi, chứ ăn uống thế này ngon lành gì mà ăn.

Tự nhiên giọng bà dịu xuống, ứa nước mắt: “Thôi ông ạ. Hai đứa kia đi học xa, chỉ còn chúng nó ở với mình, khó lắm chỉ sinh tội ra.

Thấy bà nói, ông bật cười, cái tính bà thì ông không lạ, chỉ chớp lên như lửa trời nhưng rồi lại tắt đi ngay, lão thầy bói chả nói thế là gì. Ông nhìn vợ pha trò: “Trông mặt bà cứ y như ‘con khỉ già’ trong sở thú.

Bà cũng nguýt yêu ông: “Ngó ông cười thì khỉ cũng đẹp hơn. Răng cỏ chưa gì đã ‘sút càng gẫy gọng’ cả ra.

Hai vợ chồng già giống như ‘hai con khỉ’ ngồi bắt chấy cho nhau. Họ cãi nhau luôn luôn để rồi vẫn thương nhau như thế đấy, ai có cười thì hở mười cái răng. Mỗi lần ông đi làm về thấy vắng bóng bà, ông bổ đi tìm, thấy bà nằm đắp chăn kín mít, vội sờ vào chân vợ thấy lạnh ngắt, ông hối hả đi lấy dầu bóp chân cho bà. Còn hễ ông đi về muộn, bà đi ra đi vào mắt không ngừng ngó cái kim đồng hồ, bụng nghĩ đến trăm thứ bất trắc trên đời. Nhưng hễ nghe tiếng xe ông đậu ở ngoài ‘garage’, bà thở phào nhẹ nhỏm, nhưng rất bực mình vì cái ‘con khỉ già’ về muộn mà không nói qua cho bà biết, lúc ấy mặt bà nặng chịch y hệt một con khỉ. Không biết ai là khỉ, nhưng họ cứ nghĩ tới nhau bằng cái tình đầy âu yếm mà chẳng cần ai phải hiểu.

Bỗng ông đứng bật dậy khi nghe tiếng máy xe nổ ngoài sân, vợ chồng thằng con đã dẫn cháu về, thằng bé lên năm mặt mũi xinh xắn, chạy ào ào vào ôm lấy ông nội nói bi bô: “Thưa ông nội cháu mới về”

Thằng cháu nói còn đã đớt, mặt mũi nó hồng lên như hai quả đào. Ông ôm cháu và lòng âu yếm hỏi: “Cháu ông đi đâu mà lâu thế? Hôm nay giỗ cụ không về sớm mà ăn giỗ.”

Bây giờ anh con trai mới lên tiếng: “Chúng con cho cháu đi sở thú, nhớ ngày giỗ cụ muốn về sớm, nhưng cháu ông không chịu về, cứ đòi xem mãi.”

Ông vuốt tóc cháu, hôn lên đôi má phính: “Thế cháu thấy con gì trong sở thú kể cho ông nghe với.”

“Cháu xem con khỉ con bú mẹ, xem hai con khỉ già cãi nhau.”

Ông bảo cháu: “Tưởng gì, ở nhà mình cũng có hai con khỉ già cãi nhau suốt ngày.”

Bà đang đứng trong nhà nhìn ra, nghe ông nói, lườm ông một cái dài hơn cây số.


3G McKeno cốp pi
band4 3G McKeno

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Phan Nhật Nam, văn chương và những hệ lụy thời thế

Image
Nhà Văn Phan Nhật Nam

Nguyễn Mạnh Trinh

Tôi muốn nói về tác giả Phan Nhật Nam từ tác phẩm đến đời sống của ông suốt trong cả cuộc chiến và sau cuộc chiến ở vị trí của một độc giả qua những cảm nhận của cá nhân mình. Có thể đó là những nhận xét có nhiều chất chủ quan và nhiều khi đầy cảm tính. Theo tôi, ở cương vị một người lính, Phan Nhật Nam phát biểu rất trung thực cái tâm cảm của một thế hệ thanh niên phải bắt buộc đi vào chiến tranh . Những tác phẩm của ông mang chất lửa của một người tốt nghiệp khóa sĩ quan hiện dịch của trường Võ Bị Ðà Lạt chọn võ nghiệp làm mục đích cho cuộc sống mình. Từ khi ra trường, viết lên những dòng chữ nói lên hoài bão của mình, dù cả những lúc binh nghiệp bị gập ghềnh trắc trở, ông vẫn là người lính trẻ thật nhiều mơ mộng và lãng mạn, tham dự cuộc chiến như một việc phải làm của một thanh niên như mọi người trong thế hệ của ông

Lý do à! Thật giản dị. Tôi muốn nói về một người lính và viết văn có lửa.Những tác phẩm của ông là kết tinh của xương máu tủy da của một người lính đã trải qua những thống khổ của cuộc chiến . Văn chương của ông không phải là một thứ cưỡi ngựa xem hoa mà là cuộc đời thực, của cảm xúc thực. Viết về bè bạn, ông và họ chia sẻ niềm vui nỗi buồn của những người chung mang một thời thế, một cảnh ngộ của những nhiễu nhương, những oan khuất. Viết về chính mình, ông không muốn là người phác họa một chân dung mà còn có tham vọng đi kiếm tìm ở đó những kinh nghiệm sống, những bài học của một người tuổi trẻ lớn lên trong chiến tranh nhưng tấm lòng lúc nào cũng ngây thơ tin tưởng vào những tốt đẹp nhân bản .

Phan Nhật Nam là tên tuổi sau này của Phan Ngọc Khuê, thay đổi tên vì lý do cha ông không được vào Ðảng Cộng Sản vì lý do thuộc giai cấp tiểu tư sản, sinh năm 1943 ở Quảng Trị. Là một người lính, tốt nghiệp khóa 18 Võ Bị Ðà Lạt và đơn vị đầu tiên là binh chủng Dù. Là một nhà văn, mang chiến tranh Việt Nam vào văn chươngvới tác phẩm đầu tay Dấu Binh Lửa và các tác phẩm tiếp theo Dọc Ðường Số Một, Ải Trần Gian, Dựa Lưng Nỗi Chết, Mùa Hè Ðỏ Lửa, Tù Binh và Hòa Bình. Sau 1975, ông bị tù cải tạo 14 năm trong đó có 7 năm 8 tháng bị kiên giam. Năm 1993, qua Mỹ định cư và xuất bản Những Chuyện Cần Ðược Kể lại, Ðường Trường Xa Xăm, Ðêm Tận Thất Thanh, Mùa Ðông Giữ Lửa. Tác phẩm Những Chuyện Cần Ðược Kể Lại được in với ấn bản Anh ngữ The Stories Must Be Told. Tác phẩm Mùa Hè Ðỏ Lửa được giải thưởng văn học toàn quốc năm 1973.

Ðó là một bút ký chiến tranh ghi lại một thời kỳ chúng ta gắng quên nhưng lại phải nhớ. Những địa danh như đồi Charlie, như An Lộc, như Quảng Trị, như sông Thạch Hãn, là những bãi chiến trường khốc liệt, nơi thử sức của những cường quốc qua võ khí, bom đạn viện trợ cho cả hai bên và ở chiến địa đó, không biết bao nhiêu là thanh niên Việt Nam ở hai bên bị gục ngã.

Nhà thơ Ðỗ Quý Toàn đã đọc một bài viết về Mùa Hè Ðỏ Lửa trên Chương Trình Văn Học Nghệ Thuật của đài truyền hình Việt Nam với tâm cảm bừng bừng đầy lửa. Tôi nhớ lúc đã nghe bài viết ấy buổi tối khi vừa về thăm nhà từ đơn vị. Tôi vừa bước chân vào nhà, nghe chương trình chưa vội cơm nước gì cả mà cảm xúc đã làm tôi tự nhiên như thấy đã no ngang rồi và không thấy đói nữa. Về sau gặp lại nhà thơ Ðỗ Quý Toàn thì ông cho biết là lúc ấy Phan Nhật Nam đang nằm trong Tổng Y Viện Cộng Hòa thấy thật lạ lùng khi được khen ngợi hết lời từ một cây bút chưa hề quen biết. Có lẽ, đó là những đồng cảm cùng phát sinh từ những tâm hồn đồng điệu. Cũng như nhà báo Chu Tử đã hết lời ca tụng tập bút ký chiến tranh này và đề nghị lập một giải thưởng xứng đáng để trao tặng cho tác phẩm này. Không những thế, những người cầm bút đối nghịch phía bên kia như Tô Hoài và Nguyễn Tuân đã phải có nhận định rằng quả thực Phan Nhật Nam đã viết những tác phẩm bằng máu của chính mình nhưng lại là loại máu bị nhiễm độc (dù rằng chê bai nhưng vẫn không dấu được sự thán phục).

Nhà thơ Ðỗ Quý Toàn cũng có bài thơ cảm khái về Mùa Hè Ðỏ Lửa có những câu như :

“Ngày mưa đọc lại Phan Nhật Nam

trời bỗng sầm đen tóe sấm sét

mặt đất ào ào trận pháo tuôn

trong thành phố tử thần co quắp

viên đạn cuối cùng đã bắn đi

người chết giữa trời cơn đồng cháy

hồn anh thảng thốt bay lên không

suốt dọc Trường Sơn đất rung rẩy

mặt trời chưa thấy đêm dài ôi

từng khối lớn mênh mang đặc cứng

qua khe nhìn lại đồi C2

nhớ lại anh em ta nằm xuống”

Nhà thơ đã làm thơ về một tác phẩm văn xuôi của một nhà thơ. Phan Nhật Nam cũng là một nhà thơ, không những mê thơ mà còn coi thi ca có vị trí trang trọng nhất trong văn chương. Giống như câu thơ Phùng Quán, “vịn vào thơ mà đứng dậy” trong 7 năm 8 tháng bị biệt giam, ông đã làm thơ như một cung cách vận động thân thể để chống lại cái khung cảnh tối tăm cô độc của xà lim kiên giam. Ông dùng cán của một chiếc muỗng bằng inoxidable vạch những câu thơ trên tường. Và sau này ông đã nói đùa rằng mình đã có lúc khắc thơ lên đá.

Cứ tưởng tượng một thời gian dài 7 năm 8 tháng mà nằm bó rọ trong một căn phòng bịt kín thì cái cảm giác ấy sẽ kinh khiếp đến bực nào. Có lúc dường như ông quên cả tuổi tên và thời gian cũng chỉ là những ký ức mờ ảo không rõ rệt. Ông đã làm thơ như vắt máu mình để viết ra:

Bước đằng trước ba bước

Bước đằng sau ba bước

Ngang dọc hai mươi mốt gang

Căn phòng chìm ảm đạm

Ta là ai họ Phan?

Người Nam giam đất Bắc

Ðôi lúc chợt bàng hoàng

Phải chăng năm thứ tám?

Phan Nhật Nam làm thơ để kể về đời mình. Những câu thơ uất nghẹn. Những cuộc đời mà bi thảm cứ mãi kéo dài. Ông làm thơ kể chuyện về người em ruột, trong cái đau đớn của người bị vây bủa bởi bi thàm thống khổ:

Tôi đi làm lính chiến

Trôi nổi chốn trận tiền

Em một thân côi cút

Ðâu được ngày đoàn viên

Mong phần sau lớn lên

Tình duyên nên mãn nguyện

cầu em đời bình yên

quên khuất thời uất nghẹn

nào đâu buổi sụp vỡ

cảnh nước mất tan nhà

làm thân sơ thất sở

vây quanh khổn mù sa

Long Thành, chồng tập trung

Anh ngục tù lấm nhục

Trên quê hương lưu đày

Rừng rực lửa địa ngục

Bốn con thơ khốn cùng

Sức người căng vượt sống

Tư trang bán sạch dần

Cây rừng khô lá rụng

Tôi đi lên miền Bắc

Nghiệt phần riêng thậm ngặt

Nhớ thương em dãi dầu

Nơi quê nhà bằn bặt

Rừng núi trời vào thu

Tù vượt đồi đốn nứa

Bên đường đèo nghỉ đỗ

Nghe chuyện buồn thương tâm

Chồng cải tạo tập trung

Vợ ở nhà chết thảm

Bốn con nhỏ khốn cùng

Quay quắt bên thây cứng

Những tưởng nghe nhầm tai

Giật mình gào hỏi lại

Oại xiết bao kinh hãi

Ðúng tên chồng em gái

Chuyện những Ðồi hoa sim

Nay một lần hiện thực

Không chết người ngục tù

Một mình Em oan trái

Tôi bật khóc trên đồi

Nhìn khoảng không vần vũ

Có còn không? Ðất Trời

Mây mang mang kéo lũ...”

Bài thơ này ông làm năm 1983 khi còn đang bị nằm trong xà lim tối. Những tiếng kêu thất thanh : Có còn không? Ðất? Trời?ợ Tiếng của mòn mỏi, của nặng nề hiện tại, của đau buồn quá khứ và của nhọc nhằn tương lai!!! Thơ của niềm đau nào mênh mang nhất, của đớn đau nào tột cùng.

Con đường binh nghiệp của ông cũng khá gập ghềnh. Cùng khóa Võ Bị với ông có nhiều người đã lên đến cấp đại tá, trung tá . Thế mà, năm 1975 ông chỉ mới có cấp bậc đại úy nhiệm chức nghĩa là chỉ trên cấp bực trung úy thực thụ một chút xíu. Dù rằng ông ở trong binh chủng Nhảy Dù và bị thương nhiều lần. Nhưng không phải vì thế mà ông không yêu quân đội. Ông viết về binh chủng Nhảy Dù của mình, về những cấp chỉ huy mà ông gọi là “ngoại khổ” hay về những bằng hữu của mình, những người bạn sống chết của ông với cả tấm lòng trân trọng. Ông kể những “tai nạn” của đời binh nghiệp mình như một cách thế để hồi tưởng và nhớ lại chứ không có một chút nào căm hận cả. Ông viết về thân phận người lính, những người mà ông cho rằng có thể chất và tâm hồn cứng cỏi như sắt, như một cách vinh danh những thiệt thòi và mất mát của họ. Và, chẳng bao giờ ông than van về cách đời đối xử không công bằng với mình.

Nhà văn Nguyễn Bá Trạc, tác giả Ngọn Cỏ Bồng, là một bạn thân của ông đã viết như thế chứ không phải tôi. Sở dĩ tôi tin vào điều đó là vì anh Trạc là bạn của ông từ thuở ấu thơ ở Ðà Nẵng cho đến bây giờ nên rất hiểu hoàn cảnh của ông. Xuất thân từ con nhà nghèo, cha đi tập kết và bà mẹ nuôi dưỡng hai anh em ông trong hoàn cảnh gieo neo. Rồi bà mẹ mất sớm và hai anh em đùm bọc với nhau để sống cho đến khi vào lính, gia nhập binh chủng nhảy dù bị thương bảy lần nhưng binh nghiệp lênh đênh. Sau năm 1975 thì bị 14 năm tù đày nghiệt ngã rồi qua xứ người thì lại bị hiểu lầm và có người kết án là có tư tưởng chao đảo muốn hòa giải hòa hợp dân tộc, thậm chí là Cộng Sản nằm vùng nữa. Nhưng rồi thời gian qua đi, để thấy những luận điểm buộc tội ấy có vẻ mơ hồ không căn cứ. Trước sau, Phan Nhật Nam vẫn là một người lính và nhiều công việc ông làm đã chứng minh điều ấy.

Nếu có một nhận xét khách quan, thì chúng ta sẽ nghĩ ngợi như thế nào để có sự công bằng hơn trong nhận xét về một mẫu nhân vật như Phan Nhật Nam?

Có rất nhiều chuyện kể về ông. Tôi có người anh rể cùng bị tù với Phan Nhật Nam và anh tôi đã khen ngợi hết lời về sức chịu đựng cũng như tư cách của ông trong tù. Một người nữa cũng ở chung trại với Phan Nhật Nam là anh Nguyễn Thế Ðỉnh, một tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân nổi tiếng cũng nói với tôi rằng khi Phan Nhật Nam ở chung trại tù với anh tư cách rất đàng hoàng. Anh Ðỉnh kể lại chuyện cha của anh Phan Nhật Nam là một cán bộ tập kết vào thăm thì anh cũng tỏ ra rất rõ ràng trong sự phân định chính kiến của mình.

Cũng như, chuyện giữa anh Phan Nhật Nam và nhà thơ Phan Duy Nhân tức sinh viên Phan Chánh Dinh, hai người là bạn chí thân với nhau. Khi Phan Duy Nhân lãnh đạo nhóm biểu tình ở Ðà Nẵng thì Phan Nhật Nam làm đại đội trưởng Nhảy Dù có nhiệm vụ giải tán đám biểu tình. Tiêu lệnh là phải bắt sống hoặc bắn chết Phan Duy Nhân nhưng khi Phan Nhật Nam biết thì một người lính đã nổ súng và Phan Duy Nhân bị thương ở chân và bị bắt đầy đi Côn Ðảo. Sau năm 1975, Phan Duy Nhân trở thành phó trưởng ban tôn giáo trung ương và đi tìm những người thù cũ để trả hận. Một người bạn cả hai người là sử gia Trần Gia Phụng đã hỏi sẽ cư xử ra sao với Phan Nhật Nam thì Phan Chánh Dinh trả lời là giết, giết không thể có sự khoan hồng nào. Dù khi ấy Phan Nhật Nam đã vào tù cải tạo. Trước năm 1975, Phan Nhật Nam đã viết trong bút ký của mình về người bạn thân Phan Chánh Dinh, người hay đọc bài thơ của Thủy Thủ, đăng ở trang đầu của báo Chỉ Ðạo. Có lẽ giới tuyến phân cách hai bên đến nỗi hai người bạn thân thiết trở thành hai người thù địch ghìm súng bắn nhau, một tệ hại của cuộc chiến nồi da xáo thịt.

Dĩ nhiên, là nhà văn không thể là một người tả một cách chân thực một trăm phần trăm. Phải có sự thêm bớt để sự kiện được nhìn ngắm toàn diện hơn cũng như có bề sâu hơn. Ở Phan Nhật Nam ông có phong cách của một người lính luôn luôn giữ trong tâm hồn mình ngọn lửa của sự hiến tặng hết mình cho cuộc sống. Từ bút ký đầu tiên Dấu Binh Lửa đến các tác phẩm sau kể cả Mùa Hè Ðỏ Lửa, những ngọn lửa hồng được nhen lên để soi rọi từng góc cạnh của chiến tranh. Và, từ những chứng tích ấy, những tâm tư, những nỗi niềm được giãi bày để người thế hệ sau có thể hiểu biết được phần nào con người Việt nam trong chiến tranh và trong khi đã ngưng tiếng súng nhưng cuộc chiến vẫn còn tiếp tục.

Ở chủ quan tôi, một người đã là lính và có nhiều tâm tư có phần trùng hợp với tác giả Mùa Hè Ðỏ Lửa thì ý nghĩ của tôi rất đơn giản. Viết về chiến tranh có lẽ không ai hơn được Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh của Erich Maria Remarque với chân dung người lính muôn thuở, có thể tương tự với nhau dù ở bên này và bên kia chiến tuyến. Nhưng với Phan Nhật Nam, của Mùa Hè Ðỏ Lửa thì chân dung ấy lại đặc biệt của người lính Việt nam Cộng Hòa mà ông gọi là “người lính nhiệm mầu”. Và một điều khá lạ là chân dung ấy lại sinh động và đẫm chất nhân bản không thua người lính của Remarque. Thành ra, tôi đọc và bị lôi cuốn theo những người lính như Anh Năm Nguyễn Ðình Bảo tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, như Sông Lô Lọ Rượu tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, như Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, như Beo Gấm Lê Quang Lưỡng tư lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù... Những người lính ngoại hạng, những người lính thép nhưng lại rất người, rất nhân bản. Giống như thống tướng Mac Arthur đã nói những người lính không bao giờ chết, họ chỉ mờ dần đi... Nhưng với tôi, họ vẫn sáng rực từ một niềm kính phục vì những hy sinh cho tổ quốc.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những hành khách lỡ chuyến bay mất tích

Image
Người thân của hành khách trên chiếc máy bay mất tích an ủi nhau ở một nhà thờ tại Rio de Janeiro. Ảnh: AP.
Andrej Aplinc bị sưng tấy đầu gối và luôn phải duỗi chân, nhưng ghế trên chuyến bay số 477 của Air France không đủ chỗ cho cái chân anh. Vậy là Aplinc may mắn thoát chết.


Aplinc được đưa tới sân bay ở Rio de Janeiro, Brazil, quá sớm. Chàng thủy thủ người Slovenia và là cha của hai đứa con thoát nạn vì tài xế của anh vội vàng đi xem một trận bóng đá.

Đáng lẽ Aplinc sẽ lên chuyến AF 447, tuy nhiên các nhân viên ở đây cho biết trên phi cơ đó không có chỗ để anh duỗi chân. Đầu gối của anh lúc đó bị sưng tấy. Vì tới sân bay sớm, anh được lên chuyến bay vào lúc 16h chiều, trước chuyến AF 447. "Tôi thực sự quá may mắn khi được lên phi cơ này", Aplinc nói.

Một hành khách khác, Gustavo Ciriaco, đã đặt chỗ trước trên chuyến bay lúc 16h tuy nhiên anh làm thủ tục ở sân bay quá muộn. Nhân viên Air France khẳng định trên máy bay không còn chỗ và cửa vào chuẩn bị đóng. Nghệ sĩ và biên đạo múa người Brazil này phải tới châu Âu để tham gia hai tuần tập luyện chuẩn bị cho lần biểu diễn sắp tới. Anh còn phải bắt một máy bay nối tiếp tại Paris.

Ciriaco đã phải cầu xin nhân viên Air France cho anh lên máy bay. Những người này cuối cùng phát hiện ra việc nhầm lẫn ghế ngồi và đưa anh lên chuyến 16h. "Nếu sai sót đấy không được giải quyết, tôi có lẽ phải lên chuyến kế tiếp (AF 447)", anh nói.

Trong khi đó, Benouargha-Jaffiol và chồng, sống ở Montpellier, Pháp, thì cố tìm cách lên máy bay AF 447 bằng được. Họ thậm chí còn gọi điện cho một người bạn là nhà ngoại giao Hà Lan, ép Air France cho phép họ lên máy bay. "Chồng tôi yêu cầu Air France cho chúng tôi bay chuyến đó", Benouargha-Jaffiol nói. "Tuy nhiên họ không làm thế, chuyến bay đã đủ khách".

"Chúng tôi cảm thấy may mắn song cũng buồn vô hạn cho những người đã gặp nạn. Thảm họa cho chúng ta một bài học về sự khiêm tốn và tính nhân văn", cô nói. "Chẳng ai sống mãi mãi. Mọi người cứ hay quên điều đó".

Máy bay Airbus A330 mang số hiệu AF 477 của hãng hàng không Air France rời sân bay ở Rio de Janeiro, Brazil, tối ngày 31/5. 4 giờ sau khi cất cánh, nó liên tiếp phát tín hiệu cảnh báo sự cố, sau đó biến mất khỏi màn hình radar. Máy bay và tàu của Pháp, Brazil và các nước khác đang lùng sục khắp Đại Tây Dương để mong tìm kiếm xác chiếc phi cơ này.

Chiếc Airbus chở 228 người thuộc 32 quốc tịch khác nhau, đa phần là người Brazil và Pháp. Nếu tất cả những người này được khẳng định thiệt mạng, đây sẽ là tai nạn hàng không tồi tệ nhất trong lịch sử 75 năm hoạt động của Air France.

Hải Ninh (theo AP)

Post Reply