Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chọn một thẩm phán Tối Cao Pháp Viện

Ngô Nhân Dụng
Ðây là một cơ hội cho mọi người cùng tìm hiểu một xã hội sống dân chủ tự do họ làm gì khi cùng chọn lựa một người nắm quyền hành vào loại cao nhất nước.

Nước Mỹ sắp chọn một vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện mới, vào cuối năm sẽ thay thế Thẩm Phán David Souter mới tuyên bố từ chức. Tổng Thống Barack Obama đã đề nghị bà Sonia Sotomayor, thẩm phán tòa phúc thẩm Ðịa hạt 2 ở New York. Và chúng ta sẽ chứng kiến những cuộc tranh luận về việc lựa chọn bà, chắc từ nay đến Tháng Mười mới biết ngã ngũ ra sao. Chúng ta nên theo dõi những cuộc tranh luận đó, trên các diễn đàn của công chúng cũng như trong Thượng Viện Mỹ, vì đó sẽ là một kinh nghiệm quý để hiểu rõ hơn về “cuộc chơi dân chủ” ở nước này.

Giống như những cuộc đấu bóng, việc bỏ phiếu chọn vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện có những luật lệ và thủ tục, và cũng có ít nhất hai phe: Ông tổng thống và những người cùng đảng, đối diện với các người thuộc đảng đối lập. Mỗi phe sẽ vận dụng tất cả các phương tiện, lý luận, hợp pháp và có hiệu quả để giành thắng lợi. Trong cuộc đấu này phần thưởng cho bên thắng không phải chỉ là kết cục, bà Sotomayor có được phong nhậm hay không. Một phần thưởng bên lề đáng chú ý nữa là trong suốt cuộc tranh luận này đảng nào sẽ vận động giỏi để chiếm được cảm tình của công chúng vô tư hơn. Bởi vì ngay sau khi cuộc tranh luận kết thúc và cuộc bỏ phiếu ở Thượng Viện bắt đầu thì cả hai đảng sẽ khởi sự tấn công nhau trong cuộc vận đồng tranh cử quốc hội năm 2010 rồi!

Ðối với đảng Cộng Hòa thì đây là một cơ hội rất tốt để gây dựng lại hàng ngũ và niềm tin của đảng mình; đồng thời “tốp lại” cơn sóng cảm tình mà nhiều người Mỹ dành cho Tổng Thống Obama từ ngày bỏ phiếu năm 2008 đến nay. Chắc chắn đảng Cộng Hòa sẽ sử dụng cơ hội này hết mình, vì họ không có gì để mất cả, ngược lại chỉ có hy vọng thắng. Tất cả các lời hô hào bảo vệ những nguyên tắc và hiến pháp sẽ được dùng để huy động hàng ngũ bảo thủ, tranh luận càng hăng hái thì sức huy động càng mạnh hơn. Nếu họ ngăn cản được việc bổ nhiệm bà Sotomayor thì thắng lớn; nếu không cũng có thể chinh phục được thêm được nhiều người ủng hộ vì những điều sẽ đưa ra trong cuộc tranh luận. Nếu các nhân vật lãnh đạo đảng Cộng Hòa lôi cuốn được dân Mỹ với những lý luận cho thấy việc ông Obama lựa chọn bà Sotomayor là một hành động không đúng, thì uy tín của ông tổng thống và cả đảng ông sẽ giảm bớt, đảng Cộng Hòa sẽ có thế mạnh hơn khi bắt đầu mùa tranh cử năm 2010. Từ khi tranh cử đến nay Tổng Thống Obama thường tìm cách chứng tỏ ông tôn trọng nguyên tắc hơn là vì lợi ích chính trị, ông có tinh thần cộng tác và đối thoại với đảng Cộng Hòa chứ không chỉ biết đến đảng mình. Nếu trong cuộc tranh luận về bà Sotomayor mà đảng Cộng Hòa vẽ ra được một hình ảnh khác, chứng tỏ ông tổng thống hành động theo tinh thần phe phái và phân biệt thì cơn sóng tình cảm tốt đối với ông Obama sẽ giảm bớt đi. Một điều quan trọng hơn nữa là vụ lựa chọn vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện sẽ cho đảng Cộng Hòa một đề tài thực sự quan trọng, có tầm mức cao và ảnh hưởng lâu dài để tranh luận với đối thủ, thay vì chỉ tấn công ông Obama về những chuyện nhỏ và rời rạc.

Nhưng việc chọn lựa một thẩm phán Tối Cao Pháp Viện không phải chỉ là một màn kịch chính trị, với các diễn viên chỉ chú ý đến hậu quả trong mùa tranh cử sắp tới. Ðây cũng là một diễn trình vô cùng quan trọng trong cuộc sống dân chủ tự do. Có thể nói đây là một nghi thức thiêng liêng thể hiện tinh thần Dân Chủ, mọi người tham dự sẽ không thể sử dụng những thủ đoạn chính trị thấp.

Vì Tối Cao Pháp Viện nắm quyền Tư Pháp, trong tam quyền phân lập cân bằng với ngôi vị Tổng Thống (Hành Pháp) và Quốc Hội (Lập Pháp). Dân chúng Mỹ bầu trực tiếp Tổng Thống và Quốc Hội, còn các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện (cũng như tại các tòa án liên bang khác) đều do vị tổng thống đề nghị và phải được Thượng Viện chấp thuận.

Ngay khi được một tổng thống đề cử, ứng viên vào chức thẩm phán Tối Cao Pháp Viện sẽ phải đi thăm các người đang lãnh đạo Thượng Viện theo tập tục xã giao. Nhưng còn một tập tục khác là không ai đi “vận động” các nghị sĩ để được họ bỏ phiếu cho mình. Làm như vậy là hạ thấp phẩm cách của ngôi vị thẩm phán mà họ có thể sẽ được đặt vào. Cũng vậy, khi chất vấn các ứng viên, các nghị sĩ cũng phải có thái độ nhã nhặn, tôn kính, dù khi đặt những câu hỏi hắc búa nhất, hoặc đau đớn nhất. Ứng viên sẽ được các nghị sĩ lãnh đạo phỏng vấn, họ sẽ từ chối trả lời các câu hỏi cụ thể về các vấn đề có thể sẽ đưa ra phán quyết tại Tối Cao Pháp Viện, và các nghị sĩ cũng phải lễ phép không bao giờ đặt những câu hỏi đó. Thí dụ, không ai hỏi một ứng viên là ông, bà nghĩ sao về quyền phá thai, hay về hôn nhân đồng tính. Hai bên đều phải tôn trọng tinh thần độc lập của ngành tư pháp. Không ai được biết vị thẩm phán tương lai có ý kiến định sẵn như thế nào trước khi ra xét xử trong tòa án. Ðây là một tập tục chứng tỏ mọi người đều muốn bảo vệ tính chất độc lập của ngành tư pháp. Chế độ dân chủ tự do khác hẳn với những nước độc tài, ở đó các thẩm phán thường nhận được chỉ thị phải xử như thế nào trước khi tòa khai mạc!

Các vị tổng thống Mỹ đều biết bổn phận của họ là đề nghị làm thẩm phán Tối Cao Pháp Viện những người nào hiểu thấu rõ hiến pháp và tinh thần luật pháp của quốc gia, có trí thông minh, chứng tỏ có tinh thần thượng tôn pháp luật, và có khả năng giải thích luật pháp rành mạch. Các nghị sĩ Thượng Viện cũng bỏ phiếu dựa trên những tiêu chuẩn trên. Những người được đề cử thường là các thẩm phán, luật sư, các học giả về pháp luật, hoặc cả ba. Hiện nay 9 vị thẩm phán đều đã từng ngồi xử án.

Vai trò chính của Tối Cao Pháp Viện là giải thích hiến pháp, họ có thể phán về một đạo luật, một quyết định hành chánh, vân vân, xem có phù hợp với hiến pháp nước Mỹ hay không. Khi chấp thuận xét lại một bản án của tòa phúc thẩm các địa hạt, họ cũng căn cứ vào hiến pháp. Vì tất cả mọi vụ kiện tụng đều có thể xin phúc thẩm ở tòa trên, nhiều vụ có thể đưa lên tới Tối Cao Pháp Viện, cho nên tính độc lập của Tối Cao Pháp Viện là điều kiện cốt yếu để bảo đảm cả ngành tư pháp đứng độc lập với chính quyền và các thế lực khác.

Ðể bảo đảm tính độc lập và sự trong sạch của các thẩm phán, tất nhiên họ được trả thù lao dư dả. Nhưng hiến pháp Mỹ đã ấn định một điều quan trọng nhất là nhiệm kỳ của các vị này là suốt đời, cho đến khi họ chết, bất lực, hoặc từ chức. Ngôi vị này là cao nhất trong ngành tư pháp. Họ sẽ không bao giờ phải “vận động” ai để giữ chức vụ nào cả. Cho nên, người dân Mỹ có thể đồng ý hay không đồng ý với những phán quyết của các vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện nhưng không có ai nghi ngờ tính độc lập của họ, không ai nghĩ họ có thể phán quyết theo chủ trương hay vì quyền lợi của một đảng chính trị đã đề cử và bỏ phiếu cho họ. Các vị thẩm phán cũng có thể bị bãi miễn theo thủ tục đàn hạch như từng áp dụng cho các vị tổng thống, bộ trưởng, hoặc đại biểu quốc hội.

Từ khi bà Sandra Day O'Connor từ chức, mọi người đã chờ đợi một phụ nữ vào Tối Cao Pháp Viện thay thế bà. Trong nhiệm kỳ của Tổng Thống George W. Bush ông đã một lần đề nghị bà Harriet Miers, nhưng bà tự ý rút lui sau khi nhiều người trong chính đảng Cộng Hòa không tin tưởng vào người luật sư mà ông tổng thống vẫn tín nhiệm. Nếu bà Sotomayor được tấn phong, bà sẽ là người phụ nữ thứ ba trong Tối Cao Pháp Viện, trong 200 năm lịch sử của nước Mỹ. Bà lại là người gốc Tây Ban Nha (Hispanic) đầu tiên được đề nghị vào ngôi đền pháp lý cao nhất nước Mỹ. Số người Mỹ gốc Hispanic ở Mỹ đã tăng từ 7% dân số vào năm lên 9% vào năm 2008. Cựu Tổng Thống Bush cũng đã nuôi ý định đề cử một người gốc La Tinh vào Tối Cao Pháp Viện, sau khi ông thắng cử năm 2004 nhờ nâng cao tỷ số người Latino ủng hộ ông lên tới 44%. Ông đã tính chọn Bộ Trưởng Tư Pháp Alberto Gonzales, nhưng sau phải bỏ ý định đó vì nhiều nghị sĩ Cộng Hòa phản đối và nhiều người ủng hộ ông Bush cũng thấy rằng ông Gonzales không mang đủ chất bảo thủ mặc dù lúc nào cũng trung thành với ông Bush.

Ngay sau khi bà Sotomayor được đê cử, phe bảo thủ và cấp tiến đều bắt đầu cuộc tấn công. Bên phe tả, những người ủng hộ quyền phá thai đã đưa ra một phán quyết của bà vào năm 2002, trong đó bà công nhận quyền của chính phủ Mỹ (lúc đó do Tổng Thống Bush quyết định) bắt buộc các nhóm ngoại quốc nhận tiền viện trợ của nước Mỹ không được dùng tiền đó để dậy hoặc giúp việc phá thai. Một phán quyết khác của bà Sotomayor cũng khiến phe tả bất bình, là khi bà công nhận quyền của một cảnh sát viên ở New York kiện cấp chỉ huy, vì anh ta bị sa thải sau khi cấp trên khám phá anh đã viết những điện thư có lời lẽ kỳ thị người da đen. Bà Sotomayor cho là những lá thư riêng, viết ngoài giờ làm việc, được bảo vệ bằng quyền tự do phát biểu trong hiến pháp Mỹ.

Từ phía hữu, những phát súng mở màn vang dội hơn. Bà Sotomayor là một trong ba thẩm phán trong phiên tòa phúc thẩm, đồng ý với quyết định của tòa dưới bác bỏ đơn kiện của ông Frank Ricci kiện thành phố New Haven ở tiểu bang Connecticutt không thăng cấp cho một số người lính cứu hỏa, sau một cuộc thi tuyển, vì thành phố thấy trong số những người trúng tuyển không có người da đen (có 14 người da trắng và một người gốc Latino). Ðây sẽ là một đề tài được nói đến mãi mãi trong mấy tháng tới, và vụ này có thể sẽ được Tối Cao Pháp Viện xét xử trong vài tháng. Nhưng đề tài sẽ được khai thác nhiều hơn là những lời trong bài diễn văn của bà Sotomayor ở Ðại Học Berkerley, trong đó bà nói một thẩm phán phụ nữ gốc Latino với kinh nghiệm ở đời có thể phán quyết đúng hơn một đồng nghiệp đàn ông da trắng và không có kinh nghiệm sống. Ðây là một thùng thuốc súng sẽ được phe đối thủ đem ra đốt từ nay cho tới ngày Thượng Viện bỏ phiếu.

Trong các cuộc chất vấn ở Thượng Viện, chắc chắn các vấn đề trên đây sẽ được nêu lên, và bà Sotomayor sẽ có cơ hội giải thích. Một điều các nghị sĩ sẽ thấy là sau 450 lần ngồi xử án và nhiều lần đi diễn thuyết, cả phe tả lẫn phe hữu đều có thể tìm ra những điểm để tấn công người phụ nữ 54 tuổi xuất thân nghèo khó này.

Theo tình hình trong Thượng Viện hiện nay thì bà Sotomayor có nhiều hy vọng. Ðảng Cộng Hòa chỉ có 39 nghị sĩ mà trong đó có 7 người đã từng bỏ phiếu chấp thuận bà Sotomayor vào chức vụ thẩm phán tòa phúc thẩm trước đây hơn mười năm. Nghị Sĩ Jeff Sessions, thành viên cao nhất của đảng Cộng Hòa trong ủy ban tư pháp Thượng Viện tiên đoán là các đồng viện của ông chắc sẽ không dùng thủ tục fillibuster để ngăn cản, thủ tục này cần 40 nghị sĩ đồng ý ngăn không cho Thượng Viện biểu quyết.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Dân Chủ hóa cách nào?

Ngô Nhân Dụng
Báo Ðại Ðoàn Kết là tiếng nói của các ông bà cầm đầu Mặt Trận Tổ Quốc, một tập hợp do đảng Cộng Sản bầy ra để kiểm soát các hội, đoàn bên ngoài đảng. Tờ báo này mới phỏng vấn ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch và Ðầu Tư, nay là chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu (ACB), một ngân hàng tư lớn ở Sài Gòn. Ông Trần Xuân Giá đã nói rất hùng hồn rằng đảng Cộng Sản Việt Nam cần phải trao cho Mặt Trận Tổ Quốc thêm một vai trò mới, vai trò ông gọi là “phản biện xã hội.” Cái đó là cái gì, chúng tôi sẽ giải thích sau; nhưng khi nghe đề nghị trao cho Mặt Trận vai trò mới thì tất cả những người lãnh đạo cái mặt trận đó chắc sướng tai lắm. Có nhiệm vụ mới, vai trò mới, tức là có ngân sách mới, sẽ sinh sôi nhiều lợi lộc có thể phát triển kinh tế cho mình, lợi nhiều hay lợi ít chưa thể nào tiên đoán được.

Ông Trần Xuân Giá gần đây bỗng tự nhiên nổi tiếng về những lời dự đoán kinh tế. Có người trong nước phỏng vấn ông về tình hình kinh tế Việt Nam; vào hồi giữa Tháng Năm, mới hai tuần trước đây, rồi đưa lên mạng Internet câu trả lời “cực kỳ” độc đáo và “tuyệt vời” của ông như thế này,

“Tôi kiểm nghiệm ra rằng, những năm nào có số cuối là 8 và 9 thì đều xấu với kinh tế của nước ta. Năm 1978 -1979 là xấu, rồi năm 1988 -1989 cũng xấu và bây giờ là 2009 cũng xấu.”

Trên thế giới chưa thấy một đại học nào dạy sinh viên phương pháp nghiên cứu chu kỳ kinh tế theo lối đếm các con số năm như thế này. Ðây là nghệ thuật kiểm nghiệm kinh tế thường được các chiêm tinh gia sử dụng. Ðó là các vị thầy bói, ở Việt Nam họ thường ngồi trước cửa Ðền Ngọc Sơn hoặc Lăng Ông Bà Chiểu; còn ở Hồng Kông họ mở những văn phòng bước vào thấy như vào văn phòng một chủ tịch ngân hàng.

Lời phát biểu trên của ông Trần Xuân Giá thế nào cũng gây ra những cuộc thảo luận sôi nổi ồn ào nhưng mà rất nghiêm túc, dựa trên những đề án trong khoa học có tầm mức quốc gia do ông nêu lên. Cuộc thảo luận có thể nâng cao không khí sinh hoạt trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.

Nhiều người viết trên mạng đã vạch ra rằng theo tin tưởng cổ truyền của người Trung Hoa thì những con số tốt nhất là số tám (bát, đọc giống như phát) và số chín (cửu, cũng đọc như trong chữ trường cửu, nghĩa là lâu dài). Ý kiến của ông Trần Xuân Giá hoàn toàn trái ngược với lý thuyết cổ truyền mà nền văn minh Trung Quốc đã đẻ ra. Riêng điểm này đã có thể đưa ông lên hàng một nhà cách mạng trong tư tưởng kinh tế học rất “hoành tráng” của đảng Cộng Sản Việt Nam. Người theo chủ nghĩa dân tộc quá khích có thể sẽ đề nghị đặt ra thêm một Giải Nobel Chiêm Tinh Kinh Tế Học để tặng ông. Tờ báo của Mặt Trận Tổ Quốc có thể hô hào cả nước học tập tư tưởng Trần Xuân Giá.

Vì cũng trong cuộc phỏng vấn kể trên, ông Trần Xuân Giá còn chứng tỏ ông là một nhà nghiên cứu nghiêm túc môn chính trị học nữa. Ông thúc đẩy đảng Cộng Sản nên tiến hành việc xây dựng dân chủ; đồng thời ông còn chỉ ra đường lối nên dân chủ hóa ra sao.

Tại sao lại cần dân chủ hóa? Ông Trần Xuân Giá nhắc lại một ý kiến mà nhiều nhà kinh tế nổi danh quốc tế đã nêu lên, ông nói, “Ðể đất nước phát triển bền vững phải xây dựng cho được nền dân chủ.”

Các người nghiên cứu kinh tế và chính trị học đã biện luận và chứng minh mệnh đề trên; đó là một sự thật mà chắc chắn giới trí thức Việt Nam đều biết. Nhưng có người chỉ biết lập lại câu nói như vậy mà không biết ý nghĩa đích thực là cái gì, điều này chúng ta sẽ thấy sau. Còn những người dân Việt bình thường, người dân đi ngoài đường phố (được tả trong câu ca dao “vỉa hè là của nhân dân anh hùng”) chắc chắn cũng đồng ý nước ta cần dân chủ hóa, dù họ không biết môn Kinh Tế Học là cái gì. Họ chỉ cần so sánh trình độ phát triển của hai nước Nam Hàn và Bắc Hàn sẽ thấy ngay. Cùng một dân tộc, cùng một lịch sử và truyền thống văn hóa, miền Bắc có sẵn tài nguyên công nghiệp giầu có hơn miền Nam. Nhưng Nam Hàn đã trở thành một cường quốc kinh tế ở Á Châu, đang chen chân với Nhật Bản trong cuộc chinh phục thị trường lục địa Trung Hoa. Còn dân Bắc Hàn thì hiện nay vẫn chỉ lo mỗi ngày làm sao có đủ miếng cơm cho vào miệng là thấy hạnh phúc cực kỳ rồi.

Cái gì làm cho sự phát triển giữa hai nước Nam Bắc Hàn chênh lệch xa nhau đến như vậy? Khác biệt duy nhất là dân Nam Hàn được sống dân chủ tự do, còn Bắc Triều Tiên sống dưới một chế độ Cộng Sản độc tài suốt 60 năm qua.

Cho nên, muốn phát triển bền vững, cần dân chủ hóa! Dù không dùng thuật đếm các con số, ông Trần Xuân Giá đã nói đúng hết chỗ chê.

Nhưng dân chủ hóa như thế nào? Ông tiếp tục tuyên bố như sau, “Phát huy dân chủ có nhiều kênh nhưng phản biện xã hội là kênh hết sức quan trọng.''

Nếu nghe câu trên thấy “hơi bị” khó hiểu thì đó cũng là lẽ thường. Vì các cán bộ cao cấp có lối nói riêng của họ. Có thể vì họ quen đọc các nghị quyết dịch từ chữ Hán rồi bị nhiễm. Hoặc vì họ cố ý nói càng khó hiểu càng có vẻ thông thái, cao sang. Hoặc nữa là họ chỉ nói cho nhau nghe, dịch ra chữ Nôm cho đám chúng sinh ngoài vỉa hè hiểu cũng chẳng ích lợi gì.

Ðem dịch sang tiếng Việt thì câu trên có thể nói lại như thế này: Có nhiều việc phải làm để phát huy dân chủ, nhưng một việc hết sức quan trọng là cho phép mọi người dân nêu lên những ý kiến khác với đảng và nhà nước Cộng Sản.

Ý kiến này cũng hết sức đúng. Nên làm ngay công việc này: Làm sao trong nước Việt Nam có thêm nhiều “phản biện xã hội,” càng nhiều càng tốt.

Ở các nước dân chủ tự do, công việc đó được làm thường xuyên, làm mỗi ngày, từng giờ từng phút. Ông nhà nước làm gì, bà chính phủ nói gì, lập tức cả nước nghe thấy những ý kiến khen, chê, đủ mọi kích thước, đủ mầu sắc, từ phía tả, phía hữu, ai cũng có quyền nghe. Chính nhờ thế mà các ông bà nhà nước nhà non bớt dám làm bậy. Dân Mỹ chưa được học bốn chữ Hán “phản biện xã hội” nhưng khi ông tổng thống Mỹ mới đề cử một bà làm thẩm phán Tối Cao Pháp Viện thì năm phút sau lập tức các mạng lưới, trên các đài ti vi, phát thanh và báo chí đã đầy những “phản biện xã hội” rồi.

Ðây là một diễn trình tự nhiên trong xã hội dân chủ. Không ai biết chắc chắn là khi một chính phủ công bố chính sách hay có hành động nào đó thì những ý kiến đối chọi nổi lên trong xã hội sẽ ảnh hưởng khiến họ họ thay đổi nhiều hay ít ra sao. Nhưng chúng ta biết chắc là khi mỗi quyết định của một chính quyền đều được dư luận chăm chú theo dõi, suy nghĩ và bàn tán, thì những người quyết định sẽ phải suy nghĩ chín chắn hơn và lựa chọn làm sao phù hợp với nguyện vọng của đa số người dân hơn. Vì tất cả dư luận như thế sẽ được tích tụ trong hai năm, bốn năm, trở thành ý kiến phê phán người cầm quyền mà đa số dân chúng tin là đúng. Họ sẽ bỏ phiếu căn cứ vào các ý kiến tích lũy đó. Thí dụ, nếu một chính quyền bị nhiều người chỉ trích là thất bại trong việc điều hành kinh tế, chắc chắn dân chúng sẽ thay đổi. Năm ngoái các cử tri Mỹ đã làm công việc đó. Chính phủ Ấn Ðộ đã thắng lớn trong cuộc bỏ phiếu vừa qua, vì suốt bốn năm đảng Quốc Ðại nắm quyền những ý kiến ủng hộ cao hơn những lời chống đối. Ðảng Cộng Sản Ấn Ðộ đã nằm trong liên minh cầm quyền nhưng rút ra và quay lại chống chính phủ và tố cáo đảng Quốc Ðại thân Mỹ. Nhưng trong cuộc bầu cử vừa qua đảng Cộng Sản Ấn Ðộ đã mất nhiều ghế đại biểu, từ 64 xuống chỉ còn 24 ghế. Khi người dân được nghe nhiều ý kiến đối nghịch, việc lựa chọn của họ chắc phải đúng hơn.

Trong diễn trình dân chủ này có hai phần quan trọng. Một là mọi người dân được tự do phát biểu về những chính sách, công việc nhà nước làm có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Hai là người dân có thể lựa chọn giữa nhiều đảng chính trị khác nhau và các cử tri được tự do bỏ phiếu. Nếu thiếu một trong hai yếu tố trên thì chưa đáng gọi là tự do dân chủ.

Nhưng ông Trần Xuân Giá hình như chỉ nghe mà chưa hiểu cái quá trình dân chủ đơn giản này. Khi đề cao “phản biện xã hội” ông lại chỉ nghĩ đến một dụng cụ đang có sẵn trong guồng máy cai trị của đảng Cộng Sản, là Mặt Trận Tổ Quốc. Ông muốn cho cái Mặt Trận Tổ Quốc này nó đóng vai “phản biện.”

Rõ chán quá đi mất! Ở nước Việt Nam này ai chẳng biết chính các ông trong đảng Cộng Sản quyết định ai làm chủ tịch, ai làm phó chủ tịch, tổng thư ký mặt trận, không ông bà trong trong mặt trận dám cãi. Các ghế lãnh đạo đoàn thể trong mặt trận cũng do các chi bộ đảng Cộng Sản “bố trí,” “cơ cấu” người vào nắm đầu. Ðảng Cộng Sản và Mặt Trận Tổ Quốc liên hệ với nhau như bố với con, như thầy với tớ trong thời phong kiến; đố thằng con nào dám nói trái lời bố! Nói trật một câu cũng có thể mất ghế, mất hết quyền lợi ngay lập tức. Thế thì còn “phản biện” cái nỗi gì? Ông Giá cứ nghe thiên hạ nói đến “phản biện xã hội” nên ông nhắc lại chữ “phản biện xã hội” chứ thực tình ông nghe như vịt nghe sấm, chẳng biết nó là cái gì cả. Thật chán quá đi mất!

Ông Trần Xuân Giá còn dạy dỗ Mặt Trận cách “phản biện” như thế nào nữa. Ông nói, ''Vai trò của mặt trận là giúp Quốc Hội tập hợp các ý kiến kiến nghị lên Quốc Hội, lên chính phủ và các cơ quan hành pháp.” Ông không nói cho biết là còn cái Quốc Hội đó nó làm cái gì mà không tự nó đi tìm các ý kiến, tập hợp các ý kiến để trình lên đảng? Hay là giải tán cái Quốc Hội đi để Mặt Trận làm thay cho đỡ tốn cơm? Ông cũng khuyên Mặt Trận phải theo đuổi tới cùng xem các kiến nghị của mình được chính phủ giải quyết ra sao, chớ đừng “đánh trống bỏ dùi.” Về mặt này thì Mặt Trận nên học hỏi kinh nghiệm các nhà báo như Nguyễn Việt Chiến: Theo đuổi, theo đuổi, đuổi mãi tới tận khi bước vào nhà tù mới thôi.

Cuối cùng, phương pháp dân chủ hóa của ông Trần Xuân Giá rất là giản dị: Cứ để cho đảng Cộng Sản Việt Nam “phản biện” với đảng Cộng Sản Việt Nam. Bọn nắm quyền là đảng mà làm đối lập cũng là đảng, đảng chỉ cần sai thằng đồ đệ đứng ra phản biện cho mình nghe. Từ 60 năm nay đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn làm đúng theo mô hình đó; ông Trần Xuân Giá có nhắc lại cũng vô ích. Có lẽ đóng góp duy nhất của ông là khi đưa ra một điều kiện: người làm công tác mặt trận phải có tâm để ''không quên'' những kiến nghị của người dân.

Tức là phải chữa trị ngay cái tính hay quên của các cụ. Trao các cụ cho các bác sĩ tâm thần trị liệu thì sau vài chục năm có khi nước ta được dân chủ hóa thật không chừng!

Lý thuyết dân chủ hóa của ông cựu bộ trưởng kế hoạch và đầu tư chứng tỏ ông không biết tí gì về lối sinh hoạt ở một xã hội dân chủ. Dân chủ hóa theo lối của ông chính là kéo dài con đường độc tài đảng trị. Cứ theo lối đó thì xã hội Việt Nam không bao giờ có dân chủ; và do đó, khó lòng phát triển kinh tế bền vững. Có thể nói là ông Trần Xuân Giá đã chọn không đúng thời điểm này để bàn vấn đề dân chủ hóa. Theo sự kiểm nghiệm của các nhà báo trên mạng ở trong nước thì có những năm ông Trần Xuân Giá tuyệt đối không nên bàn về vấn đề dân chủ hóa. Ðó là những năm tận cùng bằng số không cho tới số chín. Năm nay là năm 2009, quả nhiên ông nói ra làm cả nước bật cười.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

20 năm sau cuộc tắm máu

Lữ Giang
Nhân đánh dấu 20 năm ngày xảy ra biến cố Thiên An Môn (1989 - 2009), một cuộc hội thảo nhỏ đã diễn ra tại Bắc Kinh gồm khoảng 20 giáo sư và trí thức nổi tiếng, để đánh giá lại biến cố này. Những quan điểm được nêu lên trong cuộc hội thảo này có thể sẽ giúp chúng ta rút ra được bài học gì về kinh nghiệm đấu tranh?

NGƯỜI TÙ CỦA NHÀ NƯỚC

Trong khi đó, tập hồi ký “Prisoner of the State: The Secret Journal of Premier Zhao Ziyang” (Người Tù của Nhà Nước: Nhật ký Bí Mật của Thủ Tướng Triệu Tử Dương), bản tiếng Anh, cũng được ra mắt tại Hong Kong hôm 19.5.2009 nói nhiều đến vụ Thiên An Môn.

Cuốn sách chỉ dày 306 trang, được biên soạn trong 4 năm dựa theo những lời phát biểu của Triệu Tử Dương được bí mật ghi lại trong những cuốn băng trong thời gian ông bị giam giữ tại gia từ 1989 đến 2005, tức đến khi ông qua đời vào ngày 17.1.2005. Tổng cộng thời gian phát biểu được ghi lại là khoảng 30 tiếng đồng hồ. Để có những cuốn băng này, ông Bào Đồng, bí thư cũ của Triệu Tử Dương đã dùng một máy ghi âm nhỏ và tìm cách đánh lừa cơ quan an ninh Trung Quốc nhiều cách trong nhiều năm mới có thể thu âm được, chẳng hạn như ông chọn những lúc đi dạo cùng với ông Triệu Tử Dương hoặc những khi nhân viên an ninh đi vắng vài chục phút, v.v. Ông Bào Đồng đã bị tù 6 năm, nhưng ông đã chuyển được cho con trai ông các đoạn băng nói trên và tư liệu để con ông chuyển qua Hong Kong và biên soạn thành sách.

Qua những cuốn băng nói trên, ông Triệu Tử Dương đã nói đến ba vấn đề quan trọng:

Vấn đề thứ nhất là các chi tiết liên hệ đến việc các nhà lãnh đạo trong “Cung Đình Trung Nam Hải” đã thảo luận và quyết định như thế nào trong thời điểm dẫn tới vụ thảm sát tại Thiên An Môn ngày 4.6.1989, thường được người Trung Quốc gọi là vụ Lục – Tứ.

Vấn đề thứ hai là ông đánh giá về “Bố Già” Đặng Tiểu Bình. Ông Triệu Tử Dương nói rằng lúc đó ông Đặng Tiểu Bình đã trên 80, không làm gì để điều hành đất nước. Ông ta chỉ ngồi nhà nghe các phe phái đến trình bày những đề nghị cho giải pháp này giải pháp khác, và lo phân xử những vụ xung khắc giữa các phe. Riêng trong vụ Thiên An Môn, theo ông Triệu Tử Dương, ông Đặng Tiểu Bình khi ấy chủ yếu thiên về ý kiến của phe bê-tông do Lý Bằng đứng đầu.

Vấn đề thứ ba là ông xác định quan điểm cải tổ kinh tế và hướng chuyển biến nội tâm của ông về hướng dân chủ sau vụ Thiên An Môn. Ông nói chính ông mới là kiến trúc sư của cải cách kinh tế Trung Quốc chứ không phải Đặng Tiểu Bình.

Trước khi đưa ra những nhận xét về quan điểm của một số giáo sư và trí thức Trung Quốc về biến cố Thiên An Môn, chúng tôi xin nói qua về biến cố này.

BIẾN CỐ THIÊN AN MÔN

Chữ Thiên An Môn có nghĩa là “Cổng Vào Nơi An Bình Riêng” chứ không phải là “Cổng Trời Bình An” như được dịch ra tiếng Anh là “The Gate of Heavenly Peace”. Đây là một đài kỷ niệm nổi tiếng ở Bắc Kinh, nó được xây cất đầu tiên vào năm 1420 dưới Triều Đại Nhà Minh. Thiên An Môn được coi như là cổng đi vào Cấm Thành, nằm ở phía bắc Quảng Trường Thiên An Môn

Quảng trường Thiên An Môn là một quảng trường lớn, dài 800m và ngang 500m, có sức chứa khoảng một triệu người.

Thiên An Môn là trung tâm điểm của các sinh hoạt chính trị ở Trung Quốc: Phía bắc là tháp Thiên An với tấm chân dung Mao Trạch Đông. Phía tây là Sảnh Đường Nhân Dân, nơi Quốc Hội nhóm họp. Phía đông là Viện Bảo Tàng Cách Mạng. Ngay giữa quảng trường là đài tưởng niệm liệt sĩ.

Tuy được gọi là “Cổng Vào Nơi An Bình Riêng”, nhưng năm 1989, nơi đây đã trở thành nơi đẩm màu.

1.- Nguyên nhân của biến cố

Khởi đầu của biến cố là cái chết của Hồ Diệu Bang. Ông sinh ngày 20.11.1915, vào đảng CSTQ từ đầu và là một nhà cải cách nổi tiếng. Ông đã cùng với Đặng Tiểu Bình thực hiện nhiều cuộc cải cách quan trọng. Ông đã tìm cách khôi phục danh dự cho những người từng bị ngược đãi thời Cách Mạng Văn Hóa. Năm 1980, ông được giữ chức Tổng Bí Thư Đảng CSTQ. Tuy nhiên, sau đó ông bị phe bảo thủ buộc tội đã phạm "những sai lầm trong các vấn đề liên quan tới những nguyên tắc chính trị quan trọng". Ngày 16.1.1987, ông phải từ chức Tổng Bí Thư Đảng CSTQ. Ông qua đời ngày 15.4.1989.

Nhân dân Trung Quốc coi ông là người của quần chúng. Trong bản điếu văn, đảng CSTQ đã ca ngợi những công lao của ông đối với Đảng và những thành tích cách mạng của ông, nhưng lại cho rằng ông đã sáng suốt khi “nhìn nhận sự sai lầm" của mình, ý nói ông đã từ chức khi biết lỗi. Bài điếu văn này đã gây mối bất bình trong quần chúng, nhất là giới trí thức trẻ.

2.- Thiên An Môn nổi sóng

Để bày tỏ sự ủng hộ Hồ Diệu Bang, một nhóm sinh viên trường Đại Học Bắc Kinh đã gửi một vòng hoa đến đài liệt sĩ ở quảng trường Thiên An Môn. Nhưng đêm đó giới lãnh đạo Trung Quốc đã ra lệnh bỏ vòng hoa này đi. Biết được chuyện này, ngày hôm sau khoảng 3.000 sinh viên đã tuần hành vào quảng trường Thiên An Môn với một bản kiến nghị gồm 7 điểm sau đây:

(1) Đảng CSTQ phải phục hồi danh dự cho Hồ Diệu Bang và nhìn nhận sai lầm đã ép ông từ chức.

(2) Chấm dứt cuộc tuyên truyền chống lại "thành phần tiểu tư sản" và "gột rửa tư tưởng tiểu tư sản".

(3) Bảo đảm quyền tự do ngôn luận.

(4) Tăng ngân sách giáo dục.

(5) Cho phép tổ chức các cuộc biểu tình ôn hòa.

(6) Chấm dứt nạn tham nhũng vào bao che bằng cách công bố lương của các lãnh đạo và hồ sơ thuế.

(7) Chấm dứt sự dính líu của chính quyền vào các doanh vụ bất chính.

Bản kiến nghị này đã bị các nhà lãnh đạo Trung Quốc bác bỏ. Không khí bất mãn dâng lên trong các trường đại học. Ngày 18.4.1989, khoảng 30.000 sinh viên tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn bất chấp lệnh giải tán của chính quyền.

Ngày 20.4.1989, một đám đông đến trước trụ sở của đảng CSTQ trao vòng hoa tưởng niệm Hồ Diệu Bang cho ban lãnh đạo Đảng. Đám đông bị cảnh sát chận lại. Sau nhiều lần cảnh cáo, cảnh sát đã đàn áp bằng dùi cui và bắt giữ nhiều người.

Đêm 21/4 có khoảng 200.000 sinh viên đã tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn để tưởng niệm Hồ Diêu Bang. Ủy Ban Đoàn Kết Sinh Viên được thành lập do hai hai sinh Vũ Khải (Wuer Kaixi) và Quang Đán (Wang Dan) đại diện lãnh đạo. Một dàn loa phát thanh được đưa tới lắp đặt tại quảng trường. Ban tổ chức tuyên bố rằng cuộc tưởng niệm sẽ được biến thành một cuộc tuần hành cho dân chủ. Họ yêu cầu tất cả các trường đại học gửi đại diện đến.

Sau đó, các sinh viên đã thông qua bản kiến nghị 7 điểm đã được công bố và các phương pháp biểu tình. Các phương pháp này gồm có tuyệt thực, bãi khóa, và biểu tình ngồi. Ban tổ chức nhấn mạnh rằng đây là cuộc biểu tình bất bạo động.

Để đối phó lại, trước hết nhà cầm quyền Trung Quốc cho đăng trên nhật báo Nhân Dân những bài lên án cuộc biểu tình của sinh viên, cho rằng đó là một cuộc nổi loạn, đồng thời đưa cảnh sát ra ngăn chận các sinh viên đổ vào quảng trường. Tiếp theo, cơ quan an ninh đã yêu cầu các trường đại học trình danh sách các giáo sư và sinh viên tham gia biểu tình, nhưng các trường đại học đều từ chối.

Được tin các sinh viên ở Bắc Kinh bắt đầu biểu tình đòi dân chủ, sinh viên tại nhiều tỉnh khác cũng tổ chức biểu tình. Nhiều nơi, các cuộc biểu tình đã trở thành bạo động, một số cơ sở của chính quyền bị đốt phá.

Ngày 27/4, một cuộc tuần hành lớn đã diễn ra: Hơn 200.000 sinh viên từ 42 trường đại học đã đi bộ 40 km trên các ngả đường để tiến về Bắc Kinh. Bằng cách nắm tay nhau, họ đã vượt qua 18 hàng rào cảnh sát. Hàng triệu người đứng hai bên đường xem sinh viên tuần hành. Họ đem thức ăn và nước uống cho những người biểu tình. Các cuộc biểu tình cứ thế kéo dài từ ngày này qua ngày khác.

Ngày 13/5 khoảng 2000 sinh viên đã tham gia một cuộc tuyệt thực tại đài liệt sĩ ở quảng trường Thiên An Môn. Họ mang trên đầu cái băng có hai chữ “tuyệt thực” mà mặc những chiếc áo có viết các chữ: "Không có dân chủ, chúng tôi thà chết".

Đến ngày thứ ba, số người tuyệt thực đã lên tới 3000, nhưng khoảng 600 người đã phải được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Ngày thứ tư, hàng triệu người dân đã đổ ra trên các đường phố Bắc Kinh để bày tỏ sự ủng hộ.

Thủ tướng Lý Bằng đã đứng ra thương lượng với những sinh viên tuyệt thực, nhưng không đi đến kết quả nào, vì ông ta từ chối không đề cập đến các yêu sách của sinh viên. Ông chỉ yêu cầu sinh viên ngưng biểu tình và tuyệt thực.

Sau đó, với sự chấp thuận của Đặng Tiểu Bình, Thủ Tướng Lý Bằng đã ra lệnh cho bộ đội tiến vào thành phố để "tái lập trật tự”, đồng thời ban hành lệnh giới nghiêm. Bộ Chính Trị đã cho điều hai quân đoàn 27 và 28 ở các tỉnh xa, không hiểu chuyện gì đã thật sự xẩy ra ở Bắc Kinh, tiến vào thủ đô “tiêu diệt bọn phản cách mạng”. Các binh sĩ bị cấm xem báo, nghe đài một tuần trước khi được huy động. Nguồn tin duy nhất họ nhận được là từ Ban Văn Hóa Thông Tin với lời tuyên truyền rằng đây là một cuộc nổi loạn của bọn người xấu.

Trước áp lực nặng nề của chính quyền, lãnh tụ sinh viên Quang Đán từ chức và kêu gọi chấm dứt cuộc biểu tình. Vũ Khải tuyên bố anh ta sẽ tiếp tục tham gia cho đến ngày 20/6, khi Quốc Hội nhóm họp.

Mặc dầu có lệnh giới nghiêm, dân chúng vẫn xuống đường ủng hộ cuộc biểu tình. Các xe quân sự bị dân chúng chận lại.

Ngày 30/5, một bức tượng được gọi là "Nữ Thần Dân Chủ”, cao 10m, đã được dựng lên ở quảng trường Thiên An Môn, đứng đối diện với tấm hình Mao Trạch Đông treo trước cổng Thiên An.

Ngày 31/5, bộ đội bắt đầu tiến vào thành phố. Cảnh sát chìm ngồi trong các xe bus và du lịch đi vào trung tâm. Đến ngày 2/6 đã có khoảng 200.000 bộ đội được đưa vào Bắc Kinh. Khoảng 10.000 bộ đội bị dân chúng chận lại. Biết rằng chính quyền đang điều động quân đội để dẹp biểu tình, các sinh viên vẫn nhất quyết không lùi bước.

3.- Thiên An Môn đẫm máu

Ngày 3.6.1989, lệnh hành quân được ban ra. Lệnh của chính quyền:

(1) Bắn bỏ bất cứ ai kháng cự.

(2) Quãng trường phải được dọn dẹp sạch trước khi trời sáng.

(3) Tất cả những người lãnh đạo cuộc biểu tình đều phải bị bắt.

Bộ đội dàn ra trên các đường phố, đánh đập và bắt giữ bất cứ ai kháng cự. Quảng trường Thiên An Môn bị khóa chặt. Cảnh sát ném lựu đạn cay, dùng dùi cui và roi điện đánh đập mọi người. Tiếng súng nổ vang ở ngoại vi thành phố. Lúc 2 giờ sáng xe thiết giáp ủi bằng các chướng ngại vật do sinh viên dựng lên. Bộ đội nã súng vào đoàn biểu tình. Từng đoàn xe tăng tiến vào quảng trường cán nát các thây người.

Charlie Cole, một nhiếp ảnh gia của tạp chí Newsweek, cho biết vào tháng 5 năm 1989, khi các cuộc biểu tình của các sinh viên ngày càng lên cao, ông được phái đến Bắc Kinh. Ông kể lại:

“Buổi chiều tối ngày 3/6, sau một ngày đương đầu căng thẳng giữa phía quân đội và những người biểu tình, quân đội bắt đầu bao vây trung tâm thành phố và cuối cùng, họ cho xe tăng và xe bọc thép vào ngay giữa Quảng Trường Thiên An Môn.

“Phía trên quảng trường, ở ngay trước Tử Cấm Thành, một chiếc xe bọc thép bị xé lẻ khỏi đội hình. Trong lúc hoảng loạn tìm cách thoát khỏi đám đông, chiếc xe này đã cán lên một số người biểu tình. Ngay lập tức, điều đó đã làm dấy lên tình trạng bạo lực. Đám đông chặn chiếc xe, lôi những người lính ra, giết chết rồi phóng hoả đốt xe. Cảnh tượng diễn ra ngay trước mắt một số tiểu đội lính đứng cách đó khoảng 150 mét...

“Khi tôi vừa đến gần những tán cây trên phố thì quân đội nổ sung vào đám đông ở phía trên quảng trường. Mọi người hoảng loạn khi bị bắn. Trời rất tối nên tôi không thể chụp ảnh, mà khi đó lại không thể dùng đèn flash được...

“Vào khoảng 4 - 5 giờ sáng, hàng đoàn xe tăng chạy vào quảng trường nghiền nát xe buýt, xe đạp và người dưới bánh xích.

Ngày hôm sau, 5/6, tôi và Stuard lại ra ban công theo dõi tình hình. Khi trời sáng, hàng trăm lính xếp hàng trước lối vào quảng trường. Họ nấp sau những chướng ngại vật, chĩa tiểu liên vào sinh viên và dân cư tò mò đang đứng cách đó khoảng 100 mét.

“Chúng tôi nhìn thấy hầu như trên mái nhà nào, kể cả toà nhà chúng tôi đang đứng, cũng có cảnh sát mật mang ống nhòm và máy truyền tin đang tìm cách kiểm soát tình hình.

“Vào khoảng trưa, chúng tôi nghe tiếng xe bọc thép nổ máy và bắt đầu rời quảng trường để giải tán đám đông ở Đại lộ Trường An, một số súng máy đã nhả đạn vào đám đông. Mọi người bỏ chạy vì hoảng loạn.

“Ngay sau đó, khoảng 25 xe tăng xếp hàng bắt đầu lăn bánh theo cùng hướng dọc theo đại lộ.

“Đột nhiên, chúng tôi thấy một thanh niên bước ra từ lề đường, một tay cầm chiếc áo khoác, tay kia cầm túi siêu thị bước vào lối đi của những chiếc xe tăng với ý định chặn đoàn xe lại.

“Thật là chuyện không thể tin được, nhất là sau tất cả những gì đã xảy ra. Không thể tin được điều đó, tôi vừa tiếp tục chụp ảnh, vừa dự đoán về số phận bất hạnh của anh.

“Và tôi ngạc nhiên khi thấy chiếc xe tăng đi đầu dừng lại rồi tìm cách đi vòng quanh người thanh niên. Thế nhưng anh lại tiếp tục chặn đầu xe. Cuối cùng, cảnh sát mật tóm lấy người thanh niên và và lôi anh đi.

“Tôi và Stuart nhìn nhau, cùng kinh ngạc về những gì mình vừa mới chứng kiến và ghi lại được bằng hình ảnh...

“Rất nhiều cơ quan và các tạp chí đã tìm cách xác định danh tính người thanh niên và những gì đã xảy ra với anh sau đó. Một số người nói anh tên là là Vương Vỵ Lâm, nhưng không chắc chắn lắm.”

4.- Một vài con số được ghi nhận

Cuộc đàn áp kéo dài vài ngày sau đó. Bộ đội nã súng vào bất cứ ai có thái độ khiêu khích hay cản đường. Các trường đại học bị lục soát, các nhân vật bất đồng chính kiến bị bắt đi. Hơn 1.500 người bị bắt, trong đó có ít nhất 6 lãnh tụ sinh viên trong danh sách 21 người bị truy nã.

Sáng ngày 8/6, một sự im lặng ngột ngạt bao trùm thành phố. Trong số 21 sinh viên nằm trong danh sách truy nã của chính quyền, có khoảng phân nửa đã lần lượt trốn ra nước ngoài

Chính quyền tuyên bố thắng lợi trước "Cuộc nổi loạn phản cách mạng." Một số đơn vị bộ đội từ chối không tham gia vào cuộc thảm sát đã bị giải giới sau đó. Tất cả các xác chết đều được dọn sạch trong đêm theo lệnh của chính quyền.

Số người chết và người bị thương không thể biết chính xác được. Theo báo cáo của tổ chức Hồng Thập Tự Quốc Tế, có khoảng 2.600 người dân bị giết và hơn 30.000 người bị thương. Theo báo cáo của chính quyền Trung Quốc, có khoảng 300 lính và người dân chết, 5000 lính và 2000 dân bị thương, có 400 lính mất liên lạc. Theo báo cáo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, có hơn 4000 người chết, trên 40.000 người bị thương.

HẬU THIÊN AN MÔN

Cả thế giới đã lên án chính quyền Trung Quốc trong việc đàn áp đẩm máu ở Thiên An Môn. Hồng Kông, Đài Loan đã mở cửa biên giới để cho người Trung Quốc vào tị nạn...

Quốc Hội Hoa Kỳ đã cấp tốc họp và biểu quyết với tỉ lệ 418/0 quyết định trừng phạt chính quyền Trung Quốc bằng các biện pháp sau đây: (1) Ngưng giao thương; (2) cấm bán các trang bị cho cảnh sát, các dụng cụ kỹ thuật cao và vũ khí; (3) ngưng các chương trình thăm viếng quân sự.

Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc trở nên căng thẳng. Trung Quốc tố cáo rằng HK can thiệp vào nội bộ Trung Quốc khi Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh giúp những người bị truy nã thoát ra nước ngoài.

Các nước trong Liên Hiệp Aâu Châu, nhất là Pháp và Đức, cũng đã áp dụng các biện phá chế tài đối với Trung Quốc gióng như ở Hoa Kỳ.

Trong khi đó, người dân Hoa Lục bị cấm không được nhắc đến biến cố ngày 4/6. Chính quyền cấm mọi hình thức bàn bạc về vụ Thiên An Môn. Ngay cả nhửng người mẹ mất con trong cuộc thảm sát đó cũng không được công khai khóc thương con họ.

Các sinh viên đã tham gia vào vụ biểu tình tại Thiên An Môn may mắn thoát được đến các nước khác, đã tiếp tục cuộc đấu tranh cho một đất nước Trung Quốc dân chủ và tự do.

Nhưng “để lâu cứt trâu cũng hoá bùn”. Vào tháng 12 năm 2004, tại Hội Nghị cao cấp của 7 nước trong Liên Hiệp Âu Châu (EU), Pháp và Đức đã đứng ra vận động hủy bỏ cấm vận võ khí cho Trung Quốc, nhưng chưa được toàn thể các hội viên đồng ý. Bắc Kinh cho rằng quyết định cấm vận này là tàn dư thời kỳ chiến tranh lạnh, nay đã đến lúc cần phải khai tử. Tuy nhiên, Hội Nghị cũng đi đến quyết định mở rộng cánh của hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Hoa Kỳ cũng đi theo. Nay mọi chuyện coi như đã trở lại bình thường.

BÀI HỌC LỊCH SỬ

Trong cuộc hội thảo bỏ túi tại Bắc Kinh hôm 10.5.2009, học giả Thôi Vệ Bình cho rằng sự im lặng tập thể (tại Trung Quốc) trong 20 năm qua đã tác động xấu đến đạo đức xã hội. Ông nói: "Ngay cả nếu chúng ta không trực tiếp gây ra tội ác đẫm máu 20 năm trước, việc chúng ta im lặng ngần ấy năm cũng khiến chúng ta thành kẻ đồng lõa."

Các giáo sư Thôi Vệ Bình, Từ Hữu Ngư, Trương Bác Thụ, v.v., đặt câu hỏi rằng sự im lặng của giới trí thức trong nước trong suốt 20 năm qua “đã làm hại gì cho tinh thần và đạo đức dân tộc?" Họ cho rằng khi “chính phủ đối xử với dân như kẻ thù, nhân dân sẽ đáp lại y như thế." Họ kết luận rằng thứ tư duy của Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo cộng sản khác “là sự bắt đầu của mọi điều sai trái trong lịch sử."

Đây chỉ là những nhận định về nguyên nhân của biến cố, những lời sám hối hay lên án suông. Bài học lịch sử Thiên An Môn đắt giá hơn nhiều.

1.- Đàn áp để bảo vệ quyền bính

Nếu những sự kiện như trên xẩy ra ở Miến Điện, Bắc Hàn, Nam Hàn, Indonesia, Zimbabwe hay Việt Nam, v.v., các nhà cầm quyền này cũng sẽ hành động như nhà cầm quyền Trung Quốc để bảo vệ quyền bính. Một vài thí dụ cụ thể:

Tháng 5 năm 1980, ông Kim Đại Trọng lãnh đạo một cuộc nổi dậy tại Gwangju, Nam Hàn, để đòi hỏi dân chủ. Tổng Thống Chung Đô Hoan liền đưa quân đội đến dẹp tan. Tài liệu của chính quyền nói có 191 người chết và 852 người bị thương. Nhưng các hãng thông tấn quốc tế ước lượng số người bị giết trên 1000 người. Nếu không có sự can thiệp của ĐGH Gioan Phaolô II, ông Kim Đại Trọng đã bị xử tử.

Tháng 10 năm 2007, dân chúng Miền Điện cũng biểu tình đòi dân chủ. Lúc đầu chỉ có 30.000 người, dần dần lên tới 50.000 rồi 100.000..., trong số đó có 15.000 tăng ni. Mặc dầu Liên Hiệp Quốc và Liên Hiệp Âu Châu đã kêu gọi tránh dùng bạo lực, nhà cầm quyền quân phiệt Miến cũng đã huy động quân đội đến dẹp biểu tình. Tin của nhà cầm quyền cho biết có khoảng 200 người chết, nhưng các hãng thông tấn ngoại quốc tin rằng đã có hàng ngàn nguời chết, khoảng 6000 người bị bắt, trong đó có 1.400 nhà sư. Cũng tại Miến Điện, trong năm 1988, sinh viên và học sinh cũng đã nổi dậy đòi dân chủ với kết quả là có khoảng 3000 người bị giết.

2.- Thiếu tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ

Sở dĩ cuộc biểu tình vĩ đại của các sinh viên ở Thiên An Môn bị thất bại vì các lý do chính sau đây:

Vụ Thiên An Môn là một cuộc nổi dậy bột phát do lòng hăng say của tuổi trẻ, được khơi động bởi một biến cố của thời cuộc, vì thế không được tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, không có chiến lược tổng quát và chiến thuật cho từng giai đoạn, hầu hết đều do sáng kiến cá nhân... thất bại là chuyện không tránh được.

Năm 1945, Việt Minh đã thành công trong việc cuớp chính quyền ở Việt Nam, mặc dầu lúc đó số đoàn viên của họ lúc chỉ bằng 1% số đoàn viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, đó là nhờ Việt Minh được tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, biết bắt kịp thời cơ và biết dùng thủ đoạn để đạt mục tiêu của mình.

Năm 1989, Công Đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan đã làm sụp đổ chế độ cộng sản ở Ba Lan và góp phần to lớn vào sự sụp đổ nhanh chóng sau đó các chế độ cộng sản trên khắp Đông Âu là nhờ có tổ chức và lãnh đạo, và biết nắm lấy thời cơ.

Chỉ kích động sự bất mãn của quần chúng để họ tự động đứng lên thì không thể làm thay đổi một chế độ độc tài được. Phải có những tổ chức lãnh đạo đứng đàng sau khai thác và điều khiển sự bất mãn đó mới có thể làm thay đổi thời cuộc.

3.- Thủ đoạn của các chính quyền

Trước một cuộc nổi dậy của đám đông không được kiểm soát, không thể nào tránh được bạo động. Chính quyền sẽ vinh vào đó để đàn áp. Giả thiết sự bạo động không xẩy ra, chính quyền cũng sẽ tạo ra bạo động để có lý do hành động.

Phương pháp thứ hai mà các chính quyền thường dùng để dẹp các cuộc nổi dậy là điều tra xem tổ chức hay cá nhân nào đã lãnh đạo cuộc nổi dậy. Nắm được nhóm lãnh đạo và xách động thì đám đông như rắn mất đầu.

Trong vụ Thiên An Môn, nhà cầm quyền Trung Quốc đã để cho biến cố kéo dài từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 4 tháng 6 năm 1989 mới ra tay. Thời gian 50 ngày quá đủ để cho nhân viên an ninh mở cuộc điều tra. Họ giả làm ký giả, sinh viên biểu tình, dân chúng đi xem... để quay phim và chụp hình những người lãnh đạo và xách động cuộc biểu tình. Họ đã đưa ra danh sách 21 lãnh tự sinh viên bị truy nã. Nếu tính cả những sinh viên có khả năng xách động, con số này có thể lên đến hàng ngàn người. Do đó, các tổ chức chuyên tạo bạo loạn như các đảng Cộng Sản, không bao giờ để cho những người lãnh đạo bị lộ diện. Họ chỉ dùng các tay chân bộ hạ để hành động.

4.- Thái độ của các cường quốc

Khi một phong trào đấu tranh đòi dân chủ nổi lên ở một quốc gia độc tài, các cường quốc Tây phương thường lên tiếng ủng hộ hay bênh vực. Nếu phong trào đó thành công, họ sẽ nhảy vào và biến thành công cụ của họ. Nếu phong trào đó thất bại, họ sẽ lên tiếng bênh vực qua loa rồi để cho đi vào lãng quên, sống chết mặc bây. Do đó, tự lực cánh sinh bao giờ cũng là nền tảng của các cuộc đấu tranh.

5.- Chiến thuật diễn biến hoà bình

Kinh nghiệm cho thấy nổ lực tạo nên các cuộc nổi đậy để lật đổ một chế độ độc tài rất khó thành công và thường xẩy ra các biến loạn liên tiếp sau khi những chế độ mới được hình thành. Do đó, ngày nay các cuờng quốc đã quyết định dùng “chiến thuật diễn biến hoà bình” để làm thay đổi những chế độ độc tài còn lại. Nói nôm na là dùng kinh tế và giáo dục để làm thay đổi chế độ chính trị, “dùng thắng con thay thế thằng cha”, v.v. Kế hoạch này có khi kéo dài 15, 20 hay 30 năm.

Trong hồi ký “Người Tù của Nhà Nước...”, ông Triệu Tử Dương đã nói rằng đa số sinh viên cũng chỉ mong cải cách dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa sao cho dễ thở hơn chứ không có ý phản loạn. Ông cho rằng hệ thống cộng sản ở Trung Quốc còn cải tổ được và sinh viên chỉ nêu ra các “tiêu cực”.

Ý của ông Triệu Tử Dương có lẽ cũng phù hợp với đường lối của các cường quốc ngày nay. Dĩ nhiên, những người thích mì ăn liền không chấp nhận đường lối đó, nhưng dù họ có cố gắng đến hơi thở cuối cùng, cũng không thể làm đảo ngược được đường lối mà các “Anh Hai” của họ đang theo đuổi. Vấn đề là phải tìm một hướng đi mới để đấu tranh có kết quả hơn.

Dầu sao, biến cố Thiên An Môn cũng đã đưa tới nhiều thay đổi tại Trung Quốc từ đó cho đến nay và máu của các nhà tranh đấu kiên cường đã không bị đổ ra một cách vô ích.

Lữ Giang

(25.5.2009)

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương

TRẦN TRUNG ĐẠO
Một ngày hè như thế này 29 năm trước, người anh cùng sở làm và cũng cùng quê Đà Nẵng ghé qua hỏi tôi có thích đi Côn Đảo một chuyến với anh. Không giống như khi được các anh chị khác rủ đi thăm miền bắc trong những lần họ nghỉ phép về thăm nhà mà tôi đã từ chối trước đây, Côn Đảo có một hấp lực cực mạnh khiến tôi gật đầu không chút gì ngần ngại. Chiếc ghe vượt biên anh đóng sắp hoàn tất và đã hứa dành cho tôi một chỗ. Nghĩ đến việc ra đi không hẹn ngày trở lại, thăm Côn Đảo là dịp hiếm hoi không thể bỏ qua. Côn Đảo là đất lịch sử của cách mạng Việt Nam, điểm hẹn của những tâm hồn yêu nước và cũng là nơi nhà cách mạng Phan Chu Trinh từng tả “Bốn mặt dày vò oai sóng gió / Một mình che chở tội non sông” trong bài thơ “Đập đá Côn Lôn” nỗi tiếng của ông. Người anh cùng sở làm lo hết các phương tiện cần thiết, và như thế chúng tôi đi. Anh có vài việc phải đi, còn tôi chỉ đi theo cho biết chứ không làm gì cả.
Khi anh làm xong việc, thời gian còn lại anh em chúng tôi đi vài nơi trên đảo. Côn Đảo ngày chúng tôi đến còn rất hoang vắng. Những khu tù chính trị đã giải tán từ lâu. Tù chính trị mới không bị đưa ra đây mà vào Chí Hòa, Phan Đăng Lưu hay các trại tù miền Bắc. Các khu trại giam Côn Đảo đã trở thành một viện bảo tàng nhưng ít có người thăm. Bên cạnh những xà lim nơi các đảng viên Cộng sản cấp trung ương từng bị giam giữ, Côn Đảo còn có những khu nỗi tiếng vì được báo chí phản chiến Mỹ và Việt khai thác tận tình như chuồng cọp, chuồng bò. Khu chuồng cọp được xây từ thời thực dân, cũ kỷ, kích thước rộng bằng những lớp học nối tiếp nhau. Đặc điểm của khu chuồng cọp là phòng giam không có mái che mà chỉ có những bờ tường dày và thanh sắt lớn. Chị coi sóc ở đây, vốn là một tù nhân Côn Đảo, cho biết trên bờ tường dựng sẵn nhiều thùng vôi bột, nếu tù nhân la ó, phản đối, trật tự tù sẽ đổ vôi xuống.
Trên đường ra về chúng tôi đi theo chị coi sóc nhà tù đến nghĩa địa Hàng Dương. Nắng đã dịu nhiều. Mặt trời đang xuống dần bên kia đỉnh núi. Được gọi là Hàng Dương có lẽ vì chung quanh nghĩa địa có rất nhiều dương liễu. Nghĩa địa có nhiều khu. Mỗi khu có vài trăm ngôi mộ. Chị trịnh trọng giới thiệu một ngôi mộ mà chị gọi là rất linh thiêng: mộ chị Võ Thị Sáu. Tôi không biết gì nhiều về chị Sáu ngoài bản nhạc bắt đầu với “Mùa lêkima nở, ở quê tôi miền đất đỏ” và đọc đâu đó chuyện chị bị xử bắn khi còn trong tuổi vị thành niên. Tấm bia trên mộ chị Sáu hướng về phía biển và nỗi bật lên vì ngày đó đã được xây cao hơn các ngôi mộ khác. Phía sau mộ chị Sáu có một cây dương liễu cụt ngọn, cằn cỗi, trên tàn cây có những chồi xanh nhú lên. Việc một cây bị chặt ngọn nên sinh ra những nhánh non là chuyện bình thường nhưng qua lời giải thích của chị hướng dẫn thì đó là một điều kỳ diệu, một dấu chứng linh thiêng, điềm báo của một cái cũ tàn đi nhưng những cái mới ra đời. Ngay cả một cây dương liễu cũng được giải thích bằng lý luận và niềm tin Cộng Sản.
Anh tôi không thích cảnh nghĩa trang buồn tẻ nên đã đi dạo nơi khác. Cả chị hướng dẫn cũng đi ra ngoài. Tôi ngồi một mình nhìn mấy trăm ngôi mộ, có tên và không tên, được đắp và không được đắp, cao thấp không đều. Bên cạnh một số mộ có bia, tên tuổi và vừa được chỉnh trang, hẳn là của các đảng viên Cộng sản cao cấp, rất nhiều ngôi mộ không có ngay cả tấm thẻ gỗ ghi tên, cỏ mọc đầy sau nhiều năm chưa được một lần chăm sóc. Phần lớn các ngôi mộ trong nghĩa địa Hàng Dương là dấu tích tàn ác của thực dân Pháp. Thời Việt Nam Cộng Hòa, chuyện ở tù Côn Đảo cho đến chết là chuyện hiếm hoi. Hầu hết tù chính trị chỉ ở một thời gian ngắn trước khi được đưa ra Thạch Hản, Thiện Ngôn, Lộc Ninh, Bồng Sơn để trao trả về phía bên kia như đã ghi lại một cách chi tiết trong tác phẩm ký sự Tù Binh và Hòa Bình của nhà văn Phan Nhật Nam.
Hôm qua, khi bắt đầu viết bài này tôi vào Google tìm mộ chị Võ Thị Sáu. Cây dương liễu đã chết và được thay vào đó bằng cây phượng đỏ. Ngôi mộ của chị cũng được xây bằng đá đen, cao hơn ngôi mộ cũ nhiều và không phải sơn màu vôi trắng như lần tôi đến. Nghĩa địa Hàng Dương bây giờ là một trung tâm du lịch, màu sắc lòe loẹt, không còn những mộ cỏ hoang vu, những con đường đất hẹp và những hàng dương cằn cỗi chung quanh. Tôi không cảm thấy chút nào xúc động khi nhìn lại cảnh nghĩa địa Hàng Dương mà chỉ tội nghiệp cho các em học sinh đang sắp hàng vào xem các di tích được gọi là cách mạng ở Côn Đảo. Các em đi xem kịch mà tưởng mình đang tìm về lịch sử cha ông.
Một trong những đặc điểm của chế độ Cộng sản là lừa dối. Không phải chỉ Việt Nam mà mọi quốc gia Cộng sản đều như thế. Khi chế độ Cộng sản Đông Đức sụp đổ, báo chí khám phá trong cơ sở dữ liệu của cơ quan an ninh Stasi một hệ thống lừa dối có tầm vóc quy mô ngoài giới hạn đạo đức của con người. Việc nghi ky, lừa dối không chỉ ở nằm trong hệ thống đảng, các cơ quan nhà nước, mà cả trong mỗi gia đình ruột thịt, máu mủ thân yêu. Anh lừa dối em. Vợ lừa dối chồng. Cha mẹ lừa dối con cái. Cháu chắt lừa dối ông bà. Lừa dối là phương tiện duy nhất để tồn tại trong xã hội Cộng Sản.
Tại Việt Nam cũng thế. Vở kịch tuyên truyền mà Đảng đã đóng suốt mấy chục năm qua làm thui chột nhận thức của nhiều thế hệ Việt Nam. Từ chuyện Lê Văn Tám lấy thân mình làm đuốc đến chuyện Tôn Đức Thắng kéo cờ Cộng sản trên Hắc Hải đều là những chuyện hoang đường nhưng nghe riết cũng quen tai, nghe riết nên tin là chuyện thật.
Có một thời không ít người dân miền bắc còn tin rằng những khẩu CKC, AK47 của mấy chị dân quân đã từng bắn hạ những F-4 Fantom, F-111 của Mỹ. Theo lời kể của cựu Trung Tướng Yevgeni Antonov, nguyên trưởng đoàn cố vấn quân sự của Liên Xô tại Việt Nam trong một bài báo trên tờ Pravda nhân dịp đánh dấu 30 năm cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, Liên Xô đã gởi nguyên một trung đoàn phòng không với đầy đủ vũ khí và trang bị sang Việt Nam tham chiến và 13 người lính phòng không Liên Xô đã chết trên đất bắc. Những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, kể cả chiếc chiến đấu cơ F4 Fantom của Thượng Nghị Sĩ John McCain, cũng từ hỏa tiển của các đơn vị Hồng Quân Liên Xô chứ không phải từ “Bộ đội phòng không anh hùng”, nói chi là các chị dân quân núp bên bờ ruộng như trong mấy bức ảnh tuyên truyền của đảng.
Cũng theo lời kể của cựu thiếu tướng Liên Xô Yevgeni Antonov, chỉ huy lực lượng phòng không Liên Xô tại Việt Nam từ 1969 đến 1970, Việt Nam chỉ là một phòng thí nghiệm cho vũ khí Liên Xô. Họ muốn đích thân xử dụng vũ khí để chuẩn bị cho việc máy bay Mỹ và NATO oanh tạc vào nội địa Liên Xô trong trường hợp có chiến tranh giữa hai khối sau này. Cuộc chiến đã tàn, chế độ cũng đã tan, ngọn đèn đời sắp tắt, những người lính già Nga chẳng bị áp lực nào để phải nói dối, để tuyên truyền, để bảo vệ cho đảng, hay cho cả chính mình. Họ chỉ còn kỷ niệm, và kỷ niệm của tuổi về chiều thường thành thật, trong sáng như những ngày mới lớn.
Bên cạnh Liên-Xô, vào thời điểm 1967 ngoài hàng vạn tấn đạn dược, vũ khí, đã có 16 sư đoàn với 170 ngàn quân Trung Quốc tại miền bắc Việt Nam để yểm trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đồng thời để bảo vệ vòng đai an ninh của Trung Quốc. Tội ác của đảng Cộng sản Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam, từ các tư tưởng độc hại đến võ khí giết người, từ cải cách ruộng đất đến đến Hoàng Sa, Trường Sa, từ chiến tranh biên giới đến trận chiến Lão Sơn, không thể viết hết trong một bài, trong một cuốn sách mà phải xây dựng một trung tâm dữ kiện.
Máu đổ, thây rơi, nhà tan, cửa nát ở Hà Nội, Hải Phòng là điều có thật. Những mất mát đau thương vô cùng to lớn của đồng bào miền Bắc đã chịu đựng dưới đạn bom Mỹ là điều có thật. Căm thù, phẩn uất vì thế là những phản ứng tự nhiên. Tuy nhiên không phải chỉ vì đế quốc Mỹ đã đơn phương xâm lược Việt Nam như các thế hệ sinh viên học sinh đã và đang được dạy. Hơn ba mươi năm là một thời gian đủ dài để đồng bào miền bắc, các thế hệ trẻ miền bắc có gia đình chịu đựng đau thương bất hạnh trong chiến tranh, nhìn lại cuộc chiến một cách khách quan và so sánh với thực tế đất nước để qua đó biết rõ những ai và học thuyết nào chính là nguyên nhân của chiến tranh, độc tài và chậm tiến hôm nay.
Đảng Cộng sản có thể tùy thích tạo ra hàng trăm đảng viên cỡ Lê Văn Tám, Tôn Đức Thắng. Đó là chuyện nội bộ của đảng nhưng họ không có quyền biến Côn Đảo thành tài sản riêng của đảng, không có quyền mê hoặc của các thế hệ trẻ Việt Nam bằng các mẫu chuyện hoang đường kiểu Lê Văn Tám như bộ máy tuyên truyền Liên Xô đã từng tô điểm lên một cậu bé nhà nông Pavlik Morozov bất hiếu trước đây. Côn Đảo cũng không phải là đất hương hỏa của Marx, Lenin để lại cho đảng Cộng sản Việt Nam mà là đất thiêng của cách mạng Việt Nam nơi nhiều thế hệ đã lấy xương thịt mình làm phân bón cho mầm xanh tương lai dân tộc.
Trong nghĩa địa Hàng Dương, bên chiếc cầu đá phía bên phải dinh chúa đảo, trước những xà lim chật hẹp, một ngày không xa, các thế hệ Việt Nam sẽ đến đó, không phải để nghe kể công, nghe tuyên truyền mà đến để im lặng cúi đầu tưởng niệm các anh hùng dân tộc.
Họ là ai? Họ là những đảng viên Việt Nam Quang Phục Hội, Phong Trào Đông Du, Phong Trào Duy Tân, Tân Việt Cách Mạng Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Dân Chính, Dân Xã Đảng, Đảng Lập Hiến, Đại Việt Duy Dân và nhiều tổ chức, phong trào không Cộng sản khác.
Họ là ai ? Họ là tín đồ các tôn giáo, nhất là Cao Đài và Hòa Hảo, hai tôn giáo được ra đời tại miền Nam, có truyền thống kiên quyết chống cả thực dân lẫn Cộng Sản.
Nếu họ đã từng là đảng viên Cộng sản thì sao? Không sao cả. Như tôi đã có dịp viết vài lần trên diễn đàn này, việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn chứ không phải vì tin vào chủ nghĩa Cộng Sản. Ngày đó, vì điều kiện giao thông khó khăn, núi non cách trở, sự phát triển của các đảng phái chống thực dân ít nhiều bị giới hạn bởi các đặc tính địa phương, bà con giòng họ, hoàn cảnh trưởng thành. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Ông bà chúng ta có súng dùng súng, có gậy dùng gậy, và trong nhiều trường hợp chỉ là những bàn tay không gầy yếu.
Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập. Những nông dân hiền hòa chất phát , nhưng công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay.
Tôi tin, phần lớn những người yêu nước đã chết trong giấc mơ về một Việt Nam hòa bình, độc lập chứ không phải trong giấc mơ về một xã hội Cộng sản đại đồng. Người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, dân tộc sẽ ghi ơn họ một cách công bằng.
Tôi tin, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Trong suốt gần một thế kỷ trong bóng tối thực dân, hàng vạn đồng bào thuộc nhiều thế hệ Việt Nam đã bị bắt, tra tấn và đã hy sinh trên Côn Đảo. Ngoài một Nguyễn An Ninh để lại thịt xương, một Trần Cao Vân, một Phan Chu Trinh để lại những bài thơ viết bằng máu và mồ hôi trong những ngày đập đá, còn có hàng ngàn, hàng vạn đồng bào đã chết trong âm thầm, không để lại họ tên.
Nhưng cho dù họ có để lại đủ họ tên đi nữa, các thế hệ Việt Nam sau 1975 cũng không có quyền biết đến họ, không có cơ hội để cám ơn họ, để thắp một nén hương, và phần mộ họ một mai có thể sẽ bị san bằng theo mưa nắng. Đảng Cộng sản không chỉ nhuộm đỏ miền Nam, nhuộm đỏ Việt Nam mà còn cố tình nhuộm đỏ cả lịch sử.
Côn Đảo ngày nay gắn liền với tên tuổi của các đảng viên Cộng sản trung ương Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Hà Huy Tập, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Lê Quang Vịnh v.v. Các em học sinh đang sắp hàng chờ vào xem những xà lim kia làm sao biết được, với số đảng viên vỏn vẹn 5 ngàn vào mùa thu 1945, đảng Cộng Sản, dù bị bỏ tù và chết gấp mười lần trong hai cuộc chiến, cũng không thể bằng với con số khoảng 200 ngàn người Việt Nam yêu nước đã từng ở tù Côn Đảo theo nhiều nguồn ước lượng.
Các em cũng không biết rằng hàng trăm lãnh tụ cách mạng không Cộng sản mà đức độ và tài năng bao trùm nhiều lãnh vực như Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trương Tử Anh, Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp v.v., đã không ở tù hay chết ngoài Côn Đảo chỉ vì họ bị Cộng sản thủ tiêu ngay tại đất liền.
Khác với đảng Cộng sản được thành lập từ nước ngoài theo chỉ thị của quốc tế Cộng sản và nhiều đảng viên được đưa sang Trung Quốc, Liên Xô huấn luyện một cách bài bản nhằm thực hiện các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn của trung ương đảng đề ra, phần lớn đảng phái không Cộng sản đã sinh ra và lớn lên ngay trong lòng dân tộc với tất cả khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt. Họ không chỉ bị chết dưới lưỡi đao phong kiến, máy chém thực dân mà còn chết trong bàn tay của những người cùng máu mủ với mình.
Đọc lại diễn tiến của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, quá trình thành lập các đảng phái không Cộng sản và lắng nghe các nhà cách mạng trải lòng qua thơ văn đẩm đầy máu lệ, mới cảm thấy lòng yêu nước của thế hệ cha ông thật vô bờ bến.
Bằng hành trang duy nhất trên vai là lòng yêu nước, các nhà cách mạng không Cộng sản dấn thân vào con đường giải phóng dân tộc trên chuyến xe chạy bằng máu của chính mình.
Chiều mùa hè năm đó, lần đầu tiên trong đời tôi xúc động đứng im lặng trước anh linh của những anh hùng đã ngã xuống cho độc lập tự do thật sự của dân tộc. Xương thịt của những người đã hy sinh từ phong trào kháng thuế miền Trung, Hà Thành đầu độc, khởi nghĩa Duy Tân, Thái Nguyên, Yên Bái hẳn đã hòa tan vào lòng đất mẹ nhưng anh linh họ vẫn là ngọn đuốc soi sáng giấc mơ Việt Nam độc lập, tự chủ của dân tộc.
Như tôi có lần đã viết. Giấc của họ là giấc mơ của những người để lưng trần, tóc cắt ngắn, đóng khố che thân, dắt bầy con, vượt bao nhiêu núi rừng ghềnh thác trong cuộc nam tiến đầy gian nan nhưng vô cùng hiển hách, từ dọc bờ Dương Tử di dân xuống lưu vực sông Hồng cách đây gần 50 thế kỷ. Trong lúc bao nhiêu bộ tộc Bách Việt khác đã hoàn toàn bị tiêu diệt hay đồng hóa vào những tỉnh, những huyện như Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến của Trung Quốc ngày nay, giòng giống Lạc Việt qua bao độ thăng trầm, vẫn tồn tại và trưởng thành như một nước Việt Nam.
Giấc mơ của họ là giấc mơ của những người đã tạo nên nền văn minh Việt Nam rất sớm. Nơi đó, từ nhiều thế kỷ trước Công Nguyên, tổ tiên chúng ta đã biết trồng cây ăn trái, biết làm đồ gốm, biết đẽo đá thành những lưỡi cuốc nhọn, biết đắp đất ngăn bờ để đưa nước sông vào ruộng. Tổ tiên chúng ta đã biết xây dựng các cơ xấu xã hội, lấy thôn làng làm căn bản, lấy nông nghiệp làm nền tảng kinh tế, lấy tình nghĩa đồng bào làm sức mạnh, lấy nguồn gốc tổ tiên (một mẹ trăm con, chung cùng bọc trứng) làm nơi nương tựa tinh thần. Những hình ảnh thân thương quen thuộc của cây đa, bến nước, sân đình gắn liền trong tâm thức của mỗi người Việt Nam. Những chiếc trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lữ được chạm trổ tinh vi đánh dấu một thời đại vàng son trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Chính tinh thần văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn đã hun đúc thành sức mạnh dân tộc, để các thế kỷ sau đó, đủ sức đối kháng với sự xâm lăng thô bạo của các nguồn văn hóa mang ý đồ đồng hóa phát xuất từ phương Bắc.
Giấc mơ của họ là giấc mơ của một dân tộc hơn một ngàn năm trong bóng đêm nô lệ nhà Hán, nhà Ngô, nhà Đường, nhà Minh qua bốn lần bắc thuộc với bao nhiêu cực hình đày đọa, sáng xuống bể tìm ngọc châu, chiều lên non săn ngà voi, trầm hương, châu báu, dân tộc Việt vẫn bảo vệ được tính độc lập, vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt trong sáng và thuần nhất.
Đất nước chúng ta đã hơn một lần bị mất đi và giành lại được nhưng chúng ta hãnh diện nói lớn rằng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ bị mất gốc. Hình ảnh những chiếc búa, những chiếc rìu, những mũi thương, mũi đao, mũi tên bằng đồng đào được ở vùng Trung Châu, Bắc Việt, ở sông Bạch Đằng, dọc Ải Nam Quan không chỉ là những cổ vật mà còn là chứng tích của bao nhiêu trận mạc, bao nhiêu cuộc chiến đấu, bao nhiêu máu xương và nước mắt của tổ tiên đã đổ xuống trước các cuộc xâm lăng của các triều đại Bắc phương khác.
Lịch sử bao giờ cũng mang tính kế tục nhưng trước hết là lịch sử của thời đại. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm để hoàn thành những trách nhiệm mà lịch sử giao phó cho thời đại của họ nhưng dù không hoàn thành, ngọn đuốc lịch sử vẫn phải được chuyển sang bàn tay thế hệ khác. Giấc mơ về Việt Nam tự do, dân chủ và giàu mạnh dù sớm hay muộn sẽ phải thành hiện thực.
Thời gian gần đây, tôi có dịp đọc nhiều bài viết từ những tấm lòng đang băng khoăng vì đất nước. Phần lớn bắt đầu bằng nhóm chữ “chưa bao giờ …như hôm nay”. Chưa bao giờ con người Việt Nam bị khinh thường như hôm nay. Chưa bao giờ lãnh thổ Việt Nam bị chiếm đoạt trắng trợn như hôm nay. Chưa bao giờ chủ quyền đất nước bị đe dọa như hôm nay. Chưa bao giờ tài nguyên thiên nhiên bị thất thoát như hôm nay. Tất cả đều đúng cả. Tôi chỉ muốn thêm vào một “chưa bao giờ” nữa, đó là, chưa bao giờ ranh giới giữa dân tộc và phản dân tộc rõ ràng như hôm nay. Biên giới đó rõ ràng đến mức một người Việt Nam có thể chọn lựa đứng về phía chính nghĩa, phía dân tộc mà không phải lo lầm lỡ về sau.
Giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn một con đường riêng của họ. Con đường đảng chọn cũng rất rõ ràng: phát triển đất nước theo định hướng Trung Quốc và cùng lúc bằng mọi giá duy trì chế độ độc tài toàn trị tại Việt Nam.
Bộ chính trị trung ương đảng Cộng sản Việt Nam không phải là những người không biết suy nghĩ, không thấy đúng, thấy sai và thậm chí có rất nhiều cơ hội để sửa sai nhưng quyền lợi cá nhân, phe nhóm và đảng đã che khuất sự sống còn và tương lai đất nước.
Nhân dân Việt Nam chịu đựng quá nhiều rồi, nhượng bộ quá nhiều rồi, lùi bước quá nhiều rồi. Từ xâm lăng Hoàng Sa đến chiến tranh biên giới, các trận đánh khu vực Lão Sơn, lấn chiếm Trường Sa, bắn chết ngư dân Thanh Hóa và hôm nay Bauxite. Chỉ một thời gian ngắn thôi mà nhìn ra biển, nhìn lên núi, nhìn xuống phố, nhìn qua sông, đâu đâu cũng thấy hàng Trung Quốc, đất Trung Quốc, đảo Trung Quốc, người Trung Quốc, vài chục năm nữa đất nước sẽ ra sao?
Tại sao Trung Quốc không bắn thủng tàu, không ăn cướp tài sản, đất đai của Thái Lan, Philippines hay ngay cả của đàn em Bắc Hàn một cách công khai, lộ liễu như họ đã và đang làm đối với Việt Nam? Một người có ý thức nào cũng biết, đơn giản bởi vì giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc sống trong gan ruột của giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam những kẻ không còn một chọn lựa nào khác ngoài việc núp dưới chiếc dù Trung Quốc.
Như tôi có lần mách nước cho bà con ngư dân trong bài “Ai giết 9 ngư dân Thanh Hóa”, cách hay nhất để khỏi bị hải quân Trung Quốc bắn chết là khi tàu đánh cá vừa ra khỏi cửa biển thì xin các bác làm ơn hạ cái lá cờ gọi là “cờ tổ quốc” xuống dùm. Nếu phải treo thì treo đại một lá cờ Phi, cờ Thái Lan, cờ Nhật lên mũi tàu. Nói ra thì cho là phản động nhưng tin tôi đi, làm như thế bà con ngư dân mới hy vọng còn đường trở về với vợ con.
Thời điểm 1958, Pháp đã rút đi và Mỹ thì chưa đến mà Phạm Văn Đồng, còn có thể thay mặt cho 11 ủy viên bộ chính tri, hạ bút ký một văn kiện nhục nhã như thế thì với hoàn cảnh phe Cộng sản chỉ còn lại năm anh em trên một chiếc xe tang, trong đó có đến bốn em đang lâm cảnh hàn vi đói khát, thì chuyện gì mà họ không dám làm. Lê Khả Phiêu, trong giai đoạn tìm về chủ cũ năm 1991, cũng có thể đã ký những văn bản tương tự như văn bản của Phạm Văn Đồng, khác chăng, “đồng chí Phạm Văn Đồng bị lộ” và “đồng chí Lê Khả Phiêu chưa bị lộ” mà thôi.
Người Do Thái nguyền rủa Hitler, nhân loại kết án Hitler, nhưng nhân dân Đức trước khi có thái độ tương tự, họ phải biết trách các thế hệ Đức trong thập niên 30 của thế kỷ 20, bởi vì chính dân Đức thời đó bằng con đường bầu cử hợp pháp đã đồng ý đặt mình dưới sự lãnh đạo của Hitler và đảng Quốc Xã. Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ bầu đảng Cộng sản để lãnh đạo nhưng chắc chắn cũng sẽ phải trả lời cho các thế hệ mai sau về thái độ thờ ơ, thỏa hiệp, yếu hèn của các thế hệ hôm nay trước tình trạng băng hoại đạo đức, lạc hậu kinh tế, thất thoát tài nguyên, mất mát lãnh thổ và suy yếu chủ quyền đất nước.

Trần Trung Đạo

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Tổng thống Obama khó giữ lời hứa

Ngô Nhân Dụng
Khi công bố tình trạng chính phủ Mỹ sẽ nắm 60% cổ phần của Công ty General Motors sau khi khai phá sản, Tổng Thống Barack Obama nói chính phủ ông là một “cổ đông bất đắc dĩ,” và ông hứa sẽ không trực tiếp can thiệp vào công việc kinh doanh của công ty sản xuất xe hơi này, rồi trong 5 năm sẽ bán cổ phần thu hồi tiền về cho những người dân Mỹ đóng thuế.

Ðây là những lời hứa rất khó giữ, dù là đối với một “cổ đông” bất đắc dĩ. Chính phủ Mỹ sẽ phải “đi dây” một cách khó khăn để không can thiệp, hơi nghiêng chút là té, và trong 3 năm nữa đến kỳ bầu tổng thống ông Obama sẽ phải trả lời rất nhiều câu hỏi về các lời hứa này.

Khi nói “chính phủ Mỹ” thì chúng ta phải hiểu có ít nhất hai thành phần: Hành Pháp và Lập Pháp. Liệu Tòa Bạch Ốc có thể tự kiềm chế không can thiệp vào các quyết định kinh doanh của GM và Chrysler hay không? Các đại biểu Quốc Hội sẽ tạo những thứ áp lực nào trên ban giám đốc công ty này?

Khi các công ty làm xe hơi còn hoàn toàn độc lập, chính phủ và Quốc Hội vẫn tạo những áp lực trên hoạt động của họ, từ “khuyến khích” đến “ép buộc” bằng luật lệ. “Khuyến khích” như cho giảm hoặc miễn thuế nếu theo một chương trình của nhà nước; và ép buộc khi soạn các đạo luật nhân danh mục đích bảo vệ sự an toàn của người lái xe hoặc để bảo vệ môi trường sống và tiết kiệm năng lượng. Nhưng khi chính phủ Mỹ lại làm chủ đa số cổ phần trong các công ty Chrysler và General Motors, thì mỗi hành động trên đều có thể bị coi là “can thiệp” vào việc quản trị của các công ty này.

Trước khi General Motors khai phá sản theo Chương 11 luật phá sản của Mỹ để được hoạt động tiếp tục, thì chính phủ Mỹ bắt đầu đã “can thiệp” rồi. Ðiều dễ thấy nhất là chính phủ đã tranh đấu để giành cho Công đoàn Công nhân Xe hơi Mỹ (UAW) chiếm 17.5% số cổ phần của công ty sau khi qua thủ tục khai phá sản; trong khi các chủ nợ chỉ được hưởng 10% - chỉ có khoảng 60% các chủ nợ đồng ý - với hy vọng với mỗi đô la cho vay sẽ đòi lại được từ 30 xu đến 60 xu tùy mức độ bảo đảm.

Trong mỗi vụ phá sản đều có nhiều phe muốn giành phần “chia của” khi thanh toán tài sản của xí nghiệp đang ngắc ngoải. Ðối với General Motors thì các cổ đông coi như chịu mất hết tiền, nhưng còn hai thành phần quan trọng là các chủ nợ mà quyền lợi của họ khác với các công nhân và nhân viên. Những món nợ vay của người ngoài, như các ngân hàng và những nhà đầu tư mua trái khoán, thường được bảo đảm bằng các tài sản của công ty. Ngược lại, những “món nợ” của công ty đối với các công nhân thì được viết trong những bản hợp đồng lao động thuộc loại những khoản nợ “tổng quát” tức là không bảo đảm. Khi một xí nghiệp bị “khai tử” hoặc “tan hàng” thì ra trước tòa án phá sản bình thường những ràng buộc của các hợp đồng lao động chấm dứt. Chính phủ Mỹ đã chọn không cho các công ty xe hơi bị khai tử theo thủ tục bình thường.

Chính phủ Obama đã tiếp tục công việc cứu giúp các công ty Chrysler và GM như chính phủ Bush đã làm, nhưng quyết định sau cùng hoàn toàn do chính quyền mới quyết định là có để cho hai công ty này “phá sản theo thủ tục bình thường” hay không. Nếu theo thủ tục bình thường, dựa trên điều 1113 luật phá sản thì các công ty xe hơi như GM sẽ ra tòa, trước tòa cho các chủ nợ thấy họ phải nhượng bộ những gì để “vớt được” đồng nợ nào tốt đồng đó; nếu không thì tòa án sẽ ấn định cho. Ðồng thời công ty có quyền buộc công nhân phải ký lại các hợp đồng mới, mà nếu các công nhân không chấp thuận thì tòa án sẽ có quyền ấn định những bản hợp đồng cho cả hai bên. Khi đó, lợi thế mặc cả của các công đoàn rất yếu vì công ty sẽ sống lại như một thực thể mới.

Nhưng chính phủ Mỹ từ thời Tổng Thống Bush đã bắt đầu trợ cấp cho các công ty xe hơi, không phải vì có hy vọng “cứu sống” mà chỉ vì cho họ thêm thời giờ “tìm cách chết” bằng cách trì hoãn việc khai phá sản theo lối bình thường. Kết quả là chính phủ càng ngày càng can thiệp vào những cuộc mặc cả giữa ban giám đốc, công đoàn, và các chủ nợ. Ðể cuối cùng đi tới một phương thức khai phá sản với những “thỏa hiệp” được dàn xếp trước: Chính phủ Mỹ chiếm 60% với số tiền 60 tỷ, chính phủ Canada và tỉnh Ontario chiếm 12.5% với số tiền 9 tỷ rưỡi, còn 17.5% cho công đoàn UAW, các chủ nợ được 10% với quyền mua thêm 15% cổ phần nữa nếu thấy có lợi.

Việc thu xếp để ba bốn phe thỏa hiệp với nhau trước khi ra tòa án phá sản có phải là một quyết định đúng hay không? Liệu chính phủ Bush có làm khác với chính phủ Obama, tức là cho Chrysler và GM phá sản luôn hay không?

Rất khó trả lời những câu hỏi này. Người ta chỉ biết rằng nếu để cho hai công ty xe hơi lớn hàng đầu và hàng thứ ba của Mỹ phá sản bình thường như tất cả các xí nghiệp khác thì có những hậu quả xã hội, kinh tế và chính trị mà những người cầm quyền rất lo ngại. Phiên tòa phá sản sẽ là nơi luật sư của các phe, từ ban giám đốc đến các chủ nợ và công đoàn, tranh cãi nhau không nghỉ, và không biết sẽ kéo dài đến bao giờ. Trong thời gian đó chắc họ không thể sản xuất xe như cũ, không thể nghiên cứu các loại xe mới, không tìm hiểu thị trường. Ðến khi họ hoạt động trở lại, nếu hoạt động được, thì chắc là đa số khách hàng đã bỏ đi, họ khó bán được xe, không thể cạnh tranh với Ford, Toyota, Honda, v.v... Hậu quả là hàng triệu người sẽ thất nghiệp thêm, suy thoái kinh tế ở nước Mỹ sẽ kéo dài thêm.

Có lẽ vì thế ngay từ Tháng Mười Một năm ngoái rất ít người chủ trương cứ để cho các công ty Chrysler và GM phá sản. Chính phủ Mỹ phải trực tiếp can thiệp để dàn xếp một thỏa hiệp “tiền phá sản.”

Nhưng người ta vẫn đặt câu hỏi về vai trò của chính phủ trong quá trình dàn xếp giữa các phe liên hệ. Các chủ nợ sẽ mất khá nhiều tiền, và họ đặt câu hỏi tại sao lại giành cho công đoàn UAW những 17.5% số cổ phần của công ty? Nhiều người trả lời rằng chính các công nhân làm ra xe hơi, chứ không phải các chủ ngân hàng! Nhưng trong nền kinh tế tự do này, người cung cấp tiền làm vốn cũng có quyền như những người cung cấp sức lao động, theo quy luật thị trường mà mọi người mặc cả với nhau. Khi chính phủ Mỹ dàn xếp giúp cho hai bên thỏa hiệp, nhưng còn 40% các chủ nợ bất mãn, thì chính phủ có thiên vị công đoàn hay không? Người ta hỏi có phải vì Tổng Thống Obama và các đại biểu Quốc Hội đảng Dân Chủ đã “mang nợ” các nghiệp đoàn, trong đó có UAW, cho nên họ tìm cách cho công đoàn phần chia lớn hơn hay không? Ðây là một câu hỏi sẽ đuổi theo Tổng Thống Obama trong những năm sắp tới.

Nhưng từ nay về sau liệu ông Obama có thể thực hiện được lời hứa “không can thiệp” vào công việc quản trị kinh doanh của các công ty xe hơi đang thuộc quyền sở hữu của chính phủ Mỹ hay không? Ông có muốn giữ cũng khó.

Hiện nay chương trình phục hồi hai công ty xe hơi GM và Chrysler đã “bị can thiệp” một cách rõ ràng là cả hai đều được dàn xếp để sản xuất thêm nhiều những loại xe nhỏ, tiết kiệm xăng. Việc sản xuất xe bớt hao xăng là một điều đáng khen, nhưng quyết định làm loại xe đó là do mục đích nào khác chứ không phải chỉ vì việc kinh doanh. Nếu trong một năm nữa, giá xăng lại xuống thấp và dân tiêu thụ ở Mỹ lại thích đi xe to, xe khỏe và tốn xăng thì các công ty trên có dám quyết định thay đổi kế hoạch sản xuất và tiếp thị hay không? Chính phủ và Quốc Hội Mỹ có khả năng thúc đẩy tất cả các hãng xe hơi chế loại xe bớt hao xăng, bằng cách tăng thuế xăng hay bớt thuế cho những người mua xe tiết kiệm xăng chẳng hạn. Tại sao họ không làm như vậy mà lại “khuyến khích” riêng hai công ty mới phá sản phải theo ý của họ? Liệu chính phủ có can thiệp khi họ thay đổi chiến lược kinh doanh hay không? Hiện nay những loại xe tiết kiệm chỉ chiếm 17% thị trường xe hơi, nếu thị phần đó giảm đi thì sao?

Các đại biểu Quốc Hội Mỹ đã bắt đầu can thiệp vào công việc làm ăn của General Motors ngay trong lúc đang dàn xếp trước khi phá sản. Họ la làng khi ban giám đốc công ty này có ý định sẽ nhập cảng các loại xe nhỏ mà chi nhánh của GM sản xuất ở Trung Quốc, rẻ hơn và ít hao xăng hơn. Thế là GM phải rút lui; và chịu mở lại hai nhà máy để làm xe nhỏ theo áp lực của công đoàn.

Một loại áp lực thế nào cũng xảy ra là khi General Motors phải quyết định đóng cửa các nhà máy. Chọn đóng cửa nhà máy ở tiểu bang nào? Mỗi đại biểu Quốc Hội xưa nay vẫn tìm cách ngăn cản Bộ Quốc Phòng Mỹ mỗi khi tính đóng cửa một phi trường hay căn cứ quân sự, nếu cử tri trong đơn vị họ bị ảnh hưởng. Nay họ sẽ áp dụng những chiến thuật tương tự đối với các cơ xưởng chế tạo xe hơi; vì chính họ sẽ bỏ phiếu trợ cấp cho các công ty này khi cần!

Chính phủ Mỹ mỗi năm mua hoặc thuê hàng triệu chiếc xe, liệu các cơ quan mãi dịch có ưu tiên cho hai công ty mà chính phủ làm chủ hay không? Nếu bị khiếu kiện thì chính phủ trả lời ra sao?

Trên đây chỉ là một số khó khăn mà chính phủ Obama và Quốc Hội Mỹ sẽ phải đối phó khi muốn tránh tiếng không “can thiệp” vào hoạt động của các công ty General Motors và Chrysler. Dân chúng Mỹ sẽ chú mục theo dõi trong mấy năm tới, và sẽ lên tiếng trong các mùa bầu cử.

Sau cùng, Tổng Thống Obama còn hứa hẹn một điều là trong vòng 5 năm chính phủ sẽ giải tư hết, không muốn làm chủ các cổ phần của hai công ty xe hơi nữa. Tất nhiên nhà nước sẽ chỉ bán các cổ phần từ từ, để khỏi làm cho giá cổ phần xuống nhanh quá. Nhưng trong năm năm thì giá cổ phần của General Motors sẽ ra sao?

Giả thiết chính phủ Mỹ chỉ bỏ vô công ty GM 50 tỷ đô la tiền để lấy 60% số cổ phần, không bỏ thêm đồng nào nữa. Mai mốt nếu muốn thâu hồi đủ 50 tỷ đó, không cần lấy tiền lãi, thì trị giá 100% của GM lúc đó phải lên tới 80 tỷ đô la. Liệu trong 5 năm nữa giá trị của GM có thể lên con số đó hay không?

Xin trả lời ngay: Rất khó. Vì trong quá khứ lúc giá trị công ty lên cao nhất vào thời hoàng kim năm 2000, tổng cộng các cổ phần của GM cũng chỉ đáng giá dưới 60 tỷ đô la. Giả thử tính lạm phát mỗi năm làm đồng tiền mất giá 2% thì trong 15 năm, con số 60 tỷ năm 2000 đó tính theo thời giá tương đương với đúng 80 tỷ vào năm 2015. Nhưng liệu trong 5 năm nữa công ty GM có hoạt động mạnh mẽ và thành công bằng thời hoàng kim năm 2000 hay không? Sau con khủng hoảng phá sản thất điên bát đảo này, thấy là rất khó! Chắc chỉ có cách là cầu Trời khấn Phật! Nếu không thì đúng là toàn dân Mỹ đang trông thấy là họ đã mất tiền!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Khủng Hoảng Tài Chánh Cali và Ảnh Hưởng Cộng Đồng

Luật Sư Nguyễn Quốc Lân
Cali Today News - Cuộc khủng hoảng tài chánh tại Tiểu Bang California đã kéo dài gần hai năm và hiện đang đưa đến nhiều sự bế tắc mà có ảnh hưởng tai hại đến mọi thành phần cư dân trong tiểu bang, đặc biệt là các cộng đồng di dân hay có lợi tức thấp như cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại đây. Đây là lúc mà cộng đồng Việt Nam cần hiểu rõ về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chánh này để có những kế hoạch phản ứng thích hợp hầu ngăn cản những ảnh hưởng bất công đối với các thành phần đang gặp khó khăn nhiều nhất trong cộng đồng Việt Nam.

Bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chánh

Vào tháng 2 năm nay, Thống Đốc Arnold Schwarenegger đã ký ban hành Đạo Luật Tài Khoá năm 2009 -2010 nhằm giải quyết sự thâm thủng hơn 40 tỉ Mỹ Kim. Tài khóa này bao gồm các điều khoản chính như tăng khoảng 12.5 tỉ tiền thuế từ các nguồn như thuế mua bán (sales tax), thuế đăng bộ xe hơi (DMV tax) và thuế lợi tức (income taxes), cộng với khoản 15 tỉ tiền cắt giảm chi phí, trong đó có cả hơn 8 tỉ chi phí cho giáo dục.

Đạo luật tài khóa này còn dựa trên một kế hoạch thông qua các dự luật trưng cầu dân ý (propositions) trong cuộc bầu cử đặc biệt vào ngày 18 tháng 5 vừa qua với mục đích có thêm khoảng 16 tỉ MK, bao gồm gia hạn các nguồn thuế kể trên và mượn khỏan 5 tỉ từ tiền lời bán vé sổ xố và chuyển một số tiền từ các ngân quỹ dành riêng như tiền thuế thuốc lá dành cho các trẻ em từ sơ sinh đến 5 tuổi hay tiền thuế lợi tức dành cho các chương trình chữa trị bệnh tâm thần. Cử tri tại California đã bác bỏ tất cả các dự luật này trong kỳ bầu cử đặc biệt đó.
Trước sự thất bại của các dự luật trưng cầu dân ý cộng thêm sự kéo dài của cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn Hoa Kỳ, cuộc khủng hoảng tài chánh tại California lại trở nên nghiêm trọng hơn. Cộng thêm số thiếu hụt khoảng 16 tỉ không có được từ các dự luật, sự thâm thủng lại gia tăng thêm hơn 5 tỉ MK và đưa tổng số thâm thủng hiện nay lên đến 21.3 tỉ cho tài khoá 2009-2010. Tài khoá trung bình hằng năm của Tiểu Bang chỉ vào khoảng trên dưới 100 tỉ MK.

Trước tình hình đó, TD Schwarenegger đã đưa ra một bản dự thảo tài khoá vào giữa tháng 5 vừa qua trong đó có liệt kê hàng loạt những sự cắt giảm đối với hầu hết các chương trình chính phủ, trong đó có nhiều chương trình nhằm trợ giúp các thành phần nghèo khó trong tiểu bang như người già, người khuyết tật, trẻ em, người nhận tiền trợ cấp chính phủ, sinh viên đại học, v..v.. Mặc dầu đây chỉ là một đề nghị tài khoá của Văn Phòng Thống Đốc, chương trình nào sẽ thực sự bị cắt giảm sẽ tùy thuộc vào Nghị Hội Tiểu Bang California – và dĩ nhiên trong đó có sự vận động của các thành phần liên hệ. Đây là lúc Cộng Đồng Việt Nam và các thành phần quan tâm cần hiểu rõ tiến trình thông qua dự luật tài khoá để có được những phản ứng thích hợp.

Các Đề Nghị Cắt Giảm Của Văn Phòng Thống Đốc

Theo bản dự thảo tài khóa do VP Thống Đốc đưa ra vào giữa tháng 5 vừa qua, các chương trình sau đây đang bị đề nghị cắt giảm mà sẽ có ảnh hưởng nhiều đến Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt tại Tiểu Bang California:

1. Chương Trình Healthy Family, hiện đang cung cấp bảo hiểm cho gần 950,000 trẻ em thuộc gia đình có lợi tức thấp, trong đó có khoảng gần 90,000 trẻ em tại Quận Cam và khoảng 32,000 tại vùng San Jose. Chương Trình Healthy Family cung cấp bảo hiểm sức khoẻ cho các trẻ em thuộc gia đình không nghèo đủ để được nhận Medi-Cal nhưng không có đủ lợi tức để mua bảo hiểm tư nhân.

2. $750 triệu MK từ Chương Trình Medi-Cal nhằm cung cấp bảo hiểm sức khoẻ dành cho người nghèo, bao gồm việc giảm thiểu mức trả tiền cho các bệnh viện hay bác sĩ trong chương trình Medi-Cal hay CalOptima. Đã từ lâu, chí phí trả cho các dịch vụ ý tế này đã được ấn định ở một mức rất thấp và làm cho nhiều bác sĩ không muốn nhận bệnh nhân Medi-Cal. Nay với mức cắt giảm thêm, có nhiều nhiều bác sĩ hay bệnh viện không muốn nhận thêm các bệnh nhân Medi-Cal hay CalOptima.

3. Chương trình y tế dành cho người lớn tuổi trong các trung tâm sinh hoạt người lớn tuổi (Adult Day Health Care Program). Sự cắt giảm này có thể đưa đến việc đóng cửa các trung tâm phục vụ người lớn tuổi hay giới hạn chương trình phục vụ chỉ vài ngày trong tuần.

4. Các chương trình trợ cấp xã hội như CAPI, CalWORKs nhằm giúp đỡ các gia đình có con nhỏ có thể vừa đi học hay đi làm để có thể tiến tới tự túc trong một thời gian ngắn.

5. Các chương trình trợ giúp cho những người già hay khuyết tật trong các chương trình trợ giúp phụ tá tại gia, thường được gọi là In-Home Supportive Services.

6. Cắt giảm chương trình SSI dành cho người già hay khuyết tật xuống còn mức tối thiểu của liên bang mà thôi. Từ trước đến nay, số tiền SSI, hay còn được gọi là tiền già, tại tiểu bang California có phần nhiều hơn ngân khoản này tại các tiểu bang khác vài tiểu bang California còn cấp thêm tiền cộng thêm tiền của lien bang. Với đề nghị này, những người nhận tiền này chỉ có thể nhận được số tiền do Liên Bang cấp mà thôi. Chương trình bảo hiểm y tế cho những người nhận tiền trợ cấp SSI tại tiểu bang cũng sẽ bị ảnh hưởng trong chiều hướng này.

7. Cắt giảm thêm $100 triệu trên mức $234 triệu vào tháng 2 vừa qua cho các chương trình giúp người khuyết tật qua các Regional Centers. Đây là nơi cung cấp các chương trình trợ giúp cho người khuyết tật hay giáo dục đặc biệt từ trẻ đến lớn trên khắp tiểu bang.

Thêm vào đó, ngân quỹ cho các chương trình giáo dục cũng bị cắt giảm hằng tỉ dollar, thêm vào sự cắt giảm đã được thông qua vào tháng 2 vừa qua. Sự cắt giảm này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cơ sở giáo dục thuộc các cấp lớp trung tiểu học, đại học cộng đồng, đại học 4 năm, và cả chương trình giáo dụ cao cấp khác trên toàn tiểu bang. Đối với các trường đại học, bản dự thảo tài khoá còn đề nghị cắt giảm chương trình trợ giúp tài chánh cho các sinh viên nghèo (Cal-Grants), tăng tiền lệ phí ghi danh (tuition), và giảm các chi phí cho các cấp đại học.

Cộng đồng Việt Nam cần phải làm gì?

Để đối phó với các đề nghị cắt giảm ngân khoản hiện nay, Cộng Đồng Việt Nam cần mạnh mẽ lên tiếng phản đối để cho các thành phần chính quyền biết rằng Cộng Đồng Việt Nam rất quan tâm về vấn đề này và sẵn sang có những phản ứng thích hợp. Trong tình thế mà sự cắt giảm nặng nề và hàng loạt sẽ xảy ra đối với mọi thành phần, chỉ có những thành phần nào lên tiếng thì mới có thể tránh được các ảnh hưởng bất công đến với mình. Chúng ta không thể nào cứ để mọi người lên tiếng phản đối mà không nói lên quan điểm riêng của mình vì nghĩ rằng giải quyết sự quan tâm của người khác cũng sẽ có lợi cho mình, hay “cha chung chết không ai khóc.”

Một số việc mà các thành phần trong cộng đồng có thể làm được trong thời gian này là:

• Gởi thư phản đối đến các vị dân cử tại tiểu bang để tỏ bày sự phản đối và quan tâm của cộng đồng đối với các đề nghị cắt giảm này. Các thư phản đối nên được viết riêng và gởi trực tiếp đến các vị dân biểu hay thượng nghị sĩ tiểu bang để tỏ bày quan điểm của mình. Tên và địa chỉ liên lạc của các vị dân cử đại diện cho mỗi khu vực có thể được tìm thấy ở địa chỉ trên lưới điện toán sau đây: www.legislature.ca.gov

• Tìm hiểu rõ về tiến trình tranh luận về các đề nghị cắt giảm để kịp thời lên tiếng bảo vệ các chương trình cần thiết. Mọi người cần hiểu rõ tình hình chung, ảnh hưởng đối với mình cũng như ảnh hưởng đối với những người khác có thể liên hệ đến mình.

• Ghi danh bầu cử thật đông để chứng tỏ sự sẵn sàng xử dụng lá phiếu khi cần thiết để nói lên tiếng nói của mình. Sự tích cực tham gia bầu cử trong hoàn cảnh này sẽ gây sự chú ý rất nhiều của các vị dân cử liên hệ. Những vị này thường chỉ quan tâm đến cộng đồng Việt Nam chỉ khi nào họ thấy có ảnh hưởng về phiếu bầu có lợi cho họ. Các hoạt động tham gia bầu cử sẽ có tác động rất lớn nhằm gây sự chú ý từ các vị dân cử này và hỗ trợ cho mục tiêu nói lên quan tâm của cộng đồng Việt Nam nói chung.

Kết Luận

Mặc dầu các đề nghị cắt giảm hiện nay chỉ là một dự thảo và không ai biết được kết quả sau cùng sẽ như thế nào. Tuy nhiên, mọi người biết chắc rằng sự cắt giảm sẽ đến hằng loạt và nghiêm trọng, đặc biệt là đối với các thành phần thấp cổ bé miệng trong hệ thống chính trị trong tiểu bang, đối với đủ mọi thành phần. Dĩ nhiên, thành phần nào lên tiếng nhiều hay hiệu quả hơn có thể sẽ tránh được những hậu quả bất công đến với mình.

LUẬT SƯ NGUYỄN QUỐC LÂN

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Nguồn gốc bạo lực cộng sản

Ngô Nhân Dụng
Ðêm mùng 3 tháng Sáu năm 1989, bà Trương Tiên Linh (Zhang XianLing) thấy tấm giấy do cậu con trai 19 tuổi viết để lại, cho bố mẹ biết cậu đi tới quảng trường Thiên An Môn, coi các bạn biểu tình. Bà là một kỹ sư, hai vợ chồng chỉ có một đứa con đang học đại học. Ðêm hôm đó, súng nổ ở Thiên An Môn, không biết mấy ngàn sinh viên đã bị giết, bà Trương không tìm thấy con đâu. Mười ngày sau người ta mới đưa xác của cậu trả cho cha mẹ, xác đã bắt đầu hư, nhưng trên mặt cậu sinh viên còn đeo đôi kính trắng.

Bà Ðinh Tử Lâm (Ding Zilin) là giáo sư Triết Học tại Ðại Học Nhân Dân ở Bắc Kinh, trong bảy tuần lễ các sinh viên và công nhân biểu tình ở Thiên An Môn bà đã khuyên các học trò của mình, có khi đến tận ký túc xá nơi sinh viên ở trọ, yêu cầu họ đừng có dính vào vụ biểu tình, nguy hiểm, vì thế nào đảng Cộng Sản cũng đập. Nhưng bà không ngăn được cậu con trai 17 tuổi, vì chồng bà đồng ý với con. Ðêm mùng 3 Tháng Sáu 1989 cảnh sát đem xác cậu về nhà trả cho cha mẹ, cậu bị bắn trúng tim. Bà Ðinh thấy mình mất lẽ sống, bà đã tính tự tử, sáu lần, nhưng không chết được. Hai vợ chồng bà đều là giáo sư, đã bị cho nghỉ hưu non.

Hai bà mẹ trên là những người thành lập nhóm Các Bà Mẹ Thiên An Môn. Mỗi năm đến ngày Lục Tứ (4 Tháng Sáu, nói lối người Trung Hoa) họ lại gửi thư cho các người lãnh đạo đảng Cộng Sản và chính phủ Trung Quốc để yêu cầu điều tra lại vụ tàn sát ở Thiên An Môn. Họ đã liên lạc và xác định được 195 gia đình có con bị giết ở Thiên An Môn trong cuộc tàn sát do Ðặng Tiểu Bình ra lệnh. Họ tin rằng con số sinh viên bị giết cao gấp mười lần số đó. Còn nhiều gia đình khác không biết con cái của mình đã biến đi đâu từ đó tới giờ.

Mỗi năm sắp đến ngày Lục Tứ hai bà mẹ trên dưới 70 tuổi này lại bị công an gọi lên “làm việc” mặc dù họ đều bị giam lỏng tại nhà sau nhiều lần bị tù. Bà Trương nói, chính nhờ cuộc tranh đấu vì cái chết của con mình mà bà mới khám phá ra những gì gọi là “nghĩa vụ công dân.” Làm công dân một nước thì phải tranh đấu cải thiện xã hội. Các Bà Mẹ Thiên An Môn yêu cầu chính quyền Trung Quốc phải xóa bỏ lời kết tội “phản cách mạng” mà họ đã gán cho các sinh viên biểu tình. Họ yêu cầu phải điều tra xem ai là người chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát; tìm đủ danh sách những người đã bị giết và bồi thường cho các nạn nhân.

Năm nay, cuốn tự thuật của ông Triệu Tử Dương, cựu tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc trong thời gian xảy ra vụ Thiên An Môn, cho thấy người quyết định vụ tàn sát chính là Ðặng Tiểu Bình, và người xúi giục rồi thi hành là Lý Bằng, lúc đó là thủ tướng. Triệu Tử Dương xác định rằng ông phản đối thái độ coi cuộc biểu tình của các sinh viên là “phản cách mạng;” vì họ không hề chống lại sự cai trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Bà Trương cũng nghĩ như vậy, “Sau 20 năm, ý kiến của tôi vẫn không thay đổi. Các sinh viên biểu tình họ chỉ đi biểu tình chống tham nhũng. Và bây giờ thì chúng ta phải công nhận là các sinh viên có lý. Bây giờ tham nhũng nhan nhản khắp mọi nơi. Bọn sinh viên đã nhìn thấy trước cảnh này.” Ông Bao Ðồng, một cộng sự viên thân cận của Triệu Tử Dương mới nhớ lại 20 năm trước, cũng nhận xét là từ thời điểm đó “lịch sử đã ngừng; cuộc cải tổ đã đứng khựng lại.”

Năm nay nhiều cựu sinh viên Trung Quốc đã từng tham dự cuộc biểu tình ở Thiên An Môn và đang sống lưu vong đã gặp nhau để tưởng niệm những người bạn đã bị giết. Họ cùng nhau xác định ý nghĩa của cuộc biểu tình: Ðòi cải tổ Trung Quốc theo một đường lối phát triển có tự do dân chủ hơn, khác với chính sách mà đảng Cộng Sản vẫn theo đuổi từ đó tới nay. Hậu quả của vụ tàn sát sinh viên là đảng Cộng Sản đã đưa Trung Quốc tới cảnh tượng bây giờ: quan chức tham nhũng, xã hội bất công, đạo đức suy đồi, công nhân thất nghiệp và môi trường sống bị hủy hoại. Càng ngày người Trung Hoa càng thấy rằng muốn giảm bớt những tai họa trên thì phải dân chủ hóa.

Ðặng Tiểu Bình và Lý Bằng không chịu thay đổi chủ trương độc tài đảng trị, cho nên họ dẹp đám sinh viên biểu tình. Nhưng điều khiến mọi người vẫn ngạc nhiên là tại sao họ phải giết nhiều người như vậy mà không dẹp biểu tình một cách trật tự ôn hòa hơn? Những đoàn quân từ các tỉnh được chuyển về theo lệnh Ðặng Tiểu Bình, người cầm đầu quân ủy trung ương. Phần lớn các binh lính đó là nông dân, nhiều người bị bắt lính vì đến tuổi, họ không biết đám sinh viên biểu tình này là ai, không biết chúng ở đó làm cái gì. Họ chỉ biết được lệnh bắn là bắn. Và những chiếc xe tải chở lính đi theo xe tăng chạy vào trong đám sinh viên, trên những chiếc xe đó, đám lính trẻ được lệnh bắn là bắn. Coi lại những video quay trong đêm mùng 3, sang ngày 4 Tháng Sáu năm 1989 chúng ta nghe súng nổ như một trận chiến đang diễn ra. Nhưng đây là một trận đánh chỉ có một bên có súng và nổ súng. Và trong lúc đám lính vô tội cứ bắn xả vào đám sinh viên vô tội không làm gì để chống cự, thì đám thanh niên biểu tình vẫn cùng nhau hát vang lên bài “Quốc Tế Ca,” bài hát của phong trào Cộng Sản quốc tế vẫn được đài Bắc Kinh phát thanh mỗi ngày!

Ai đã ra lệnh cho lính bắn xối xả vào đám thường dân biểu tình ôn hòa và trật tự? Ai ra lệnh họ bắn giết không ghê tay trong khi đám thanh niên trẻ tuổi không một tấc vũ khí chỉ biết chạy trốn để rồi bị quét sạch như những con thú bị săn đuổi trong rừng?

Cuộc thảm sát sinh viên ở Gwangju, Hàn Quốc năm 1980 (Quang Châu Dân Chủ hóa vận động) xảy ra sau khi các sinh viên và dân chúng biểu tình chống độc tài quân phiệt đã chiếm chính quyền ở thành phố này trong 2 ngày. Nhưng về sau, khi Hàn Quốc đã lập chế độ tự do dân chủ, Tướng Chun Doo-Hwan vẫn bị đưa ra tòa kết án tù. Biến cố này, theo chính quyền chỉ gây ra 144 thường dân tử thương, nhưng các gia đình nạn nhân cho con số 165 người.

Chế độ độc tài quân phiệt ở Hàn Quốc không nhẫn tâm bằng chế độ Cộng Sản ở Trung Quốc. Và ngay những người lãnh tụ quân phiệt cũng chấp nhận bắt đầu quá trình dân chủ hóa, để tới ngày người dân bỏ phiếu chọn người nắm quyền cai trị, những vị tổng thống mới đã truy tố các lãnh tụ quân phiệt, ông Chun Doo-Hwan bị án tử hình rồi được hai vị tổng thống dân chủ đồng ý ân xá.

Tại sao các lãnh tụ Cộng Sản Trung Quốc có thể nhẫn tâm ra lệnh cho lính bắn những sinh viên biểu tình ôn hòa gần hai tháng trời? Ðặng Tiểu Bình, Lý Bằng cũng không phải là những người khát máu. Chính họ đã từng bị đầy ải, hành hạ vì bất đồng ý kiến với các lãnh tụ đảng! Tại sao họ lại đang tay ra lệnh giết những thanh niên đáng tuổi con cháu họ, chỉ vì đám trẻ này hăng hái đòi bài trừ tham nhũng và trừ bỏ những đặc quyền dành cho các cán bộ cao cấp?

Có thể nói Ðặng Tiểu Bình hoặc Lý Bằng và những lãnh tụ Cộng Sản khác cũng chỉ là những người bình thường. Nhưng mai sau lịch sử có thể coi họ là những kẻ sát nhất tàn bạo. Lý do duy nhất khiến họ có những hành động tàn ác, chính là vì họ được đào tạo trong cái lò Cộng Sản.

Cuộc cách mạng Cộng Sản đầu tiên ở Nga diễn ra trong sắt máu. Một nhóm người do Lenin cầm đầu cướp được chính quyền năm 1917, với khẩu hiệu “Hòa Bình, Bánh Mì,” và “Chính quyền về tay các ủy ban (Xô Viết).” Nhưng cái chính quyền đó chỉ kiểm soát được một số thành phố, trong khi có hàng trăm cuộc nổi dậy khác chống lẫn nhau và đánh lại chính quyền Xô Viết. Cuộc nội chiến diễn ra trong hai năm. Lenin đã hứa hẹn hòa bình vì biết dân Nga đang chán ngán cuộc chiến tranh thế giới, nhưng sau khi Lenin chịu thỏa hiệp với Ðức để rút nước Nga ra khỏi cuộc chiến thì dân Nga vẫn không có hòa bình. Cuộc nội chiến còn giết chết nhiều người hơn là cuộc chiến tranh thật, chỉ kéo dài thêm một năm nữa là chấm dứt.

Yếu tố quan trọng nhất khiến đảng Bôn Sơ Vích thành công trong cuộc nội chiến ở Nga không phải là chủ nghĩa Cộng Sản - dân chúng phần lớn là nông dân, không ai biết cái chủ nghĩa ấy như thế nào. Nhóm Bôn Sơ Vích cuối cùng đã thắng chỉ vì họ dám dùng những thủ đoạn tàn bạo nhất. Leo Trotsky, người sáng lập Hồng Quân, vốn không phải là một quân nhân, nhưng ông ta hiểu rằng lính cũng sợ chết. Mà đảng của ông thì đã từng chuyên làm công việc khủng bố, đe dọa người khác bằng bạo lực. Cho nên Trotsky đã dọa đám binh sĩ bị cưỡng bách tòng quân bằng cách giết hết những người đào ngũ. Trận đánh ở thành phố Kazan vào Tháng Tám năm 1918 đánh dấu việc áp dụng chiến thuật khủng bố đe dọa Hồng Quân.

Sử gia Niall Ferguson (trong cuốn The War of The World, xuất bản năm 2006) kể rằng ngay sau khi tới Kazan, Trotsky ra lệnh đem 27 đào binh ra bắn ngay bên bờ sông Volga. Sau đó, ông trong mỗi trận đánh cho bố trí súng máy ở phía sau đám quân của ông, hễ thấy tên lính nào tính chạy trốn là bắn chết. Một nhóm quân trong đơn vị nào không chịu đánh nhau thì cả đơn vị bị tiêu diệt luôn. Không một đám quân nào trong các nhóm Bạch Quân có người chỉ huy dám giết người một cách thản nhiên như vậy.

Trận Kazan là một bước ngoặt thay đổi thế cờ trong cuộc nội chiến ở Nga, và Frguson cũng nhận xét, nó cũng là một “dấu hiệu cho thấy sau khi thắng trận thì đảng Bôn Sơ Vích sẽ cai trị dân như thế nào.”

Họ cai trị bằng mọi phương tiện và thủ đoạn tàn bạo. Lenin học vai trò của Robespiere trong cuộc cách mạng Pháp, nhưng tránh được những lầm lẫn của Robespiere, vì ông ta giết nhiều người hơn, một cách thản nhiên, vô tình hơn. Lenin hỏi, “Làm sao có thể làm cách mạng nếu không có một đội hành hình?” Theo Ferguson tìm hiểu, trong mấy năm từ 1918 đến 1920, có 300,000 vụ hành quyết những người dân chống Bôn Sơ Vích. Những đội “cải cách” đi tịch thu thóc của nông dân đã được lệnh giết hết những trung nông cưỡng lệnh. Tháng Hai năm 1921 các thủy thủ ở pháo đài Kronstadt vốn vẫn ủng hộ Cộng Sản đã nổi lên chống Bôn Sơ Vích sau khi đưa ra các yêu cầu bầu cử tự do, báo chí và hội họp tự do mà không được. Lenin đã giết và lưu đầy hết.

Sau này người ta thường nhắc tới những tội ác của Stalin, nhưng cuộc cách mạng Cộng Sản đã bắt đầu đẫm máu từ thời Lenin.

Những lãnh tụ Cộng Sản có thể thản nhiên ra lệnh giết người, có khi hân hoan ra lệnh giết người, chính vì họ đã biến những tư tưởng kinh tế chính trị học của Karl Marx thành một thứ tôn giáo. Ðảng Cộng Sản cho họ đóng vai trò “cứu nhân loại” vì họ tự coi là những người duy nhất “giác ngộ” được hướng đi của lịch sử. Ðó là một thứ niềm tin có tính cách tôn giáo. Khi đã tự tin là mình nắm “chân lý” trong tay, nắm “lẽ phải” trong tay, thì người ta không ngại ngần làm bất cứ hành động tàn ác nào, để “phụng sự chân lý” và “giải phóng nhân loại!” Bao nhiêu thanh niên và thiếu nữ đã ôm bom tự sát ở Iraq, ở Afghanistan hoặc Pakistan bây giờ cũng mang niềm tin mạnh như vậy.

Cho nên trong đám người theo chủ nghĩa Cộng Sản chúng ta thấy những kẻ sát nhân cuồng tín nhất. Và trong đó mới có những lãnh tụ như Stalin bỏ mặc cho 4 triệu người Ukraine chết đói chứ không chịu rút lại chính sách tập thể hóa nông nghiệp. Mới có Mao Trạch Ðông phất tay phát động “Bước nhẩy vọt” làm chết hai chục triệu người Trung Hoa, không hề ân hận, lại ra lệnh làm “Cách Mạng Văn Hóa” giết chết thêm hàng chục triệu người khác. Và chỉ trong hàng ngũ Cộng Sản mới có những Hồ Chí Minh nhắm mắt theo Mao cải cách ruộng đất giết hàng trăm ngàn người Việt, mới có Pol Pot làm chết một phần ba dân số Campuchia.

Những Ðặng Tiểu Bình, Lý Bằng ra lệnh giết các thanh niên Bắc Kinh biểu tình ngày 4 Tháng Sáu năm 1989 không một chút ngần ngại, và sau này không bao giờ áy náy ăn năn, vì họ cũng được đào luyện trong môi trường Cộng Sản.

Nhưng chúng ta phải tin rằng trong lịch sử nhân loại, cuối cùng các bà mẹ sẽ thắng. Sẽ có ngày các bà Ðinh Tử Lâm, Trương Tiên Linh, Giang Kỳ Sinh, và 193 các bà mẹ khác sẽ có ngày được thấy những người con của họ đã không chết uổng. Sẽ có ngày người dân Trung Quốc được sống trong tự do dân chủ. Khi đó, những người lãnh đạo quốc gia sẽ là những người bình thường không thể nào chấp nhận việc giết người một cách tàn bạo không cần pháp luật, không cần đạo lý. Khi đó mới thật là đem Ðạo Nghĩa để thắng Hung Tàn - Lấy Chí Nhân mà thay Cường Bạo

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Làm Dân Chủ lối Trần Xuân Giá

Ngô Nhân Dụng
Báo Ðại Ðoàn Kết là tiếng nói của các ông bà cầm đầu Mặt Trận Tổ Quốc, một tập hợp do đảng Cộng Sản bày ra để kiểm soát các hội, đoàn bên ngoài đảng. Tờ báo này mới phỏng vấn ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch và Ðầu Tư, nay là chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng Á Châu (ACB), một ngân hàng tư lớn ở Sài Gòn. Ông Trần Xuân Giá đã nói rất hùng hồn rằng đảng Cộng Sản Việt Nam cần phải trao cho Mặt Trận Tổ Quốc thêm một vai trò mới, vai trò ông gọi là “phản biện xã hội.” Mấy chữ đó nghĩa là cái gì, chúng tôi sẽ giải thích sau; nhưng khi nghe đề nghị trao cho Mặt Trận vai trò mới thì tất cả những người lãnh đạo cái mặt trận đó chắc sướng tai lắm. Có nhiệm vụ mới, vai trò mới, tức là có ngân sách mới, quyền lực mới, sẽ sinh sôi thêm lợi lộc, lợi ích kinh tế chưa thể nào tiên đoán được.

Ông Trần Xuân Giá gần đây bỗng tự nhiên nổi tiếng do mấy lời dự đoán kinh tế. Có người trong nước phỏng vấn ông về tình hình kinh tế Việt Nam; vào hồi giữa Tháng Năm, mới hai tuần trước đây. Họ đưa lên mạng Internet mấy câu trả lời của ông Trần Xuân Giá “cực kỳ” độc đáo như thế này:

“Tôi kiểm nghiệm ra rằng, những năm nào có số cuối là 8 và 9 thì đều xấu với kinh tế của nước ta. Năm 1978 -1979 là xấu, rồi năm 1988 -1989 cũng xấu và bây giờ là 2009 cũng xấu.”

Trên thế giới chưa thấy một đại học nào dạy sinh viên phương pháp nghiên cứu chu kỳ kinh tế theo lối đếm các con số năm như thế này. Ðây là nghệ thuật kiểm nghiệm kinh tế thường chỉ được các chiêm tinh gia sử dụng. Ðó là các vị thầy bói, ở Việt Nam họ thường ngồi trước cửa Ðền Ngọc Sơn hoặc Lăng Ông Bà Chiểu; còn ở Hồng Kông họ mở những văn phòng bước vào thấy như vào văn phòng một chủ tịch ngân hàng.

Lời phát biểu trên của ông Trần Xuân Giá đã gây ra những cuộc thảo luận sôi nổi ồn ào nhưng mà rất nghiêm túc, dựa trên một “đề án trong khoa học có tầm mức quốc gia” do kinh tế gia Trần Xuân Giá đưa lên. Cuộc thảo luận này có thể nâng cao trình độ sinh hoạt trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.

Nhiều người viết trên mạng Internet không đồng ý; họ nói rằng theo tin tưởng cổ truyền của người Trung Hoa thì những con số tốt nhất là số tám (8, bát, đọc giống như phát) và số chín (9, cửu, cũng đọc như trong chữ trường cửu, nghĩa là lâu dài). Ý kiến của nhà kinh tế Trần Xuân Giá hoàn toàn trái ngược với lý thuyết cổ truyền mà nền văn minh Trung Quốc đã sinh ra.

Riêng điểm trái nghịch này đã có thể đưa ông Trần Xuân Giá lên hàng một nhà cách mạng trong tư tưởng kinh tế học “hoành tráng” của đảng Cộng Sản Việt Nam. Người theo chủ nghĩa dân tộc quá khích có thể sẽ đề nghị đặt ra thêm một Giải Nobel Chiêm Tinh Kinh tế học để tặng ông. Tờ báo của Mặt Trận Tổ Quốc có thể hô hào cả nước cùng học tập tư tưởng Trần Xuân Giá, không khác gì đã học tư tưởng Mao Chủ Tịch (Vì nhà thơ Chế Lan Viên đã viết rằng, “Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” và Hồ Chí Minh không phản đối, cho nên nay chỉ cần nhắc đến tư tưởng Mao Chủ Tịch là đủ cho cả hai người).

Mặt Trận Tổ Quốc nên khởi xướng vì cũng trong cuộc phỏng vấn kể trên, ông Trần Xuân Giá còn chứng tỏ ông là một nhà nghiên cứu nghiêm túc môn chính trị học nữa. Ông thúc đẩy đảng Cộng Sản Việt Nam nên tiến hành việc xây dựng dân chủ; đồng thời ông còn chỉ ra đường lối ngõ ngách nên di theo để dân chủ hóa.

Tại sao lại cần dân chủ hóa? Ông Trần Xuân Giá nhắc lại một ý kiến mà nhiều nhà kinh tế nổi danh quốc tế đã đề ra, “Ðể đất nước phát triển bền vững phải xây dựng cho được nền dân chủ.”

Ðúng quá! Các người nghiên cứu kinh tế và chính trị học đã biện luận và chứng minh mệnh đề trên. Ðó là một sự thật mà chắc chắn giới trí thức Việt Nam đều biết. Tuy nhiên cũng có người chỉ biết lập lại câu nói như vậy mà không biết ý nghĩa đích thực là cái gì, điều này chúng ta sẽ thấy sau. Còn những người dân Việt bình thường, người dân đi ngoài đường phố (được tả trong câu ca dao “vỉa hè là của nhân dân anh hùng”) chắc chắn cũng đồng ý rằng nước ta cần dân chủ hóa, dù họ không hề biết môn Kinh Tế Học nói cái gì.

Người dân Việt bình thường chỉ cần so sánh trình độ phát triển của hai nước Nam Hàn và Bắc Hàn sẽ thấy ngay tại sao dân chủ lại sinh lợi hơn độc tài. Hai miền Hàn Quốc cùng một dân tộc, cùng một lịch sử và truyền thống văn hóa, miền Bắc có sẵn tài nguyên công nghiệp giàu có hơn miền Nam. Nhưng Nam Hàn đã trở thành một cường quốc kinh tế ở Á châu, đang chen chân với Nhật Bản trong cuộc chinh phục thị trường lục địa Trung Hoa. Còn dân Bắc Hàn thì hiện nay vẫn chỉ lo mỗi ngày làm sao có đủ miếng cơm cho vào miệng là thấy hạnh phúc cực kỳ rồi - sau khi được coi những phim truyền hình cảnh phóng hỏa tiễn và thử bom nguyên tử; mà những thứ đó thì không ăn no bụng được.

Cái gì khiến cho sự phát triển kinh tế giữa hai nước Nam Hàn và Bắc Hàn chênh lệch xa nhau đến như vậy? Khác biệt duy nhất là dân Nam Hàn được sống dân chủ tự do từ những năm 1980, còn Bắc Triều Tiên sống dưới một chế độ Cộng Sản độc tài suốt 60 năm qua.

Cho nên ai cũng thấy muốn phát triển bền vững, cần dân chủ hóa! Dù không dùng thuật chiêm tinh đếm các con số, ông Trần Xuân Giá đã nói đúng hết chỗ chê.

Nhưng dân chủ hóa như thế nào? Ông Trần Xuân Giá tiếp tục tuyên bố như sau, “Phát huy dân chủ có nhiều kênh nhưng phản biện xã hội là kênh hết sức quan trọng.''

Nếu nghe câu trên thấy “hơi bị” khó hiểu thì đó cũng là lẽ thường. Vì các cán bộ cao cấp ở nước ta có lối nói riêng của họ. Có thể vì họ quen đọc các nghị quyết dịch từ chữ Hán rồi bị nhiễm nên dùng nhiều chữ “hơi bị” khó hiểu. Hoặc vì họ cố ý nói cho càng khó hiểu thì càng có vẻ thông thái, cao sang hơn đời. Hoặc nữa là họ chỉ cốt nói cho nhau nghe, nói toàn mã số, có dịch ra chữ Nôm cho đám chúng sinh ngoài vỉa hè hiểu cũng chẳng ích lợi gì.

Ðem dịch sang tiếng Việt thì câu trên có thể nói lại như thế này, “Có nhiều việc phải làm để phát huy dân chủ, nhưng một việc hết sức quan trọng là cho phép mọi người dân nêu lên những ý kiến khác với đảng và nhà nước Cộng Sản.”

Ý kiến này cũng hết sức đúng. Chúng ta nên làm công việc này ngay: Phải làm sao trong nước Việt Nam có thêm nhiều “phản biện xã hội,” càng nhiều càng tốt.

Ở các nước dân chủ tự do, công việc đó được làm thường xuyên, làm mỗi ngày, từng giờ từng phút không theo kế hoạch nhà nước. Ông nhà nước làm gì, bà chính phủ nói gì, lập tức cả nước thấy những ý kiến khen, chê, đủ mọi kích thước, đủ mầu sắc, từ phía tả, phía hữu, ai cũng có quyền nói và quyền nghe.

Chính nhờ những “phản biện” như thế mà ở các nước tự do dân chủ các ông bà nhà nước nhà non bớt dám làm bậy. Vì họ lo dân sẽ không bầu cho họ nữa. Dân Mỹ chưa được học bốn chữ Hán “phản biện xã hội” nhưng khi ông tổng thống Mỹ mới đề cử một bà làm thẩm phán Tối Cao Pháp Viện thì năm phút sau lập tức các mạng lưới, trên các đài ti vi, phát thanh và báo chí đã đầy những “phản biện xã hội” rồi.

Ðây là một diễn trình tự nhiên, tự phát trong xã hội dân chủ. Không ai biết chắc chắn là những ý kiến đối chọi nổi lên trong xã hội sẽ ảnh hưởng khiến chính phủ phải thay đổi các chính sách của họ nhiều hay ít ra sao. Nhưng chúng ta biết chắc là khi mỗi quyết định của một chính quyền đều được dư luận chăm chú theo dõi, được bao người suy nghĩ và bàn tán, thì những người cầm quyền quyết định sẽ phải suy nghĩ chín chắn hơn. Và họ sẽ phải lựa chọn kỹ trước khi quyết định, làm sao phù hợp với nguyện vọng của đa số người dân hơn.

Vì tất cả những dư luận “phản biện” đó sẽ tích tụ trong suốt thời gian hai năm, bốn năm, cuối cùng thấm vào dân. Ý kiến phê phán người cầm quyền mà đa số dân chúng tin là đúng thì họ sẽ bỏ phiếu căn cứ vào đó. Thí dụ, nếu một chính quyền bị nhiều người chỉ trích là thất bại trong việc điều hành kinh tế, chắc chắn dân chúng sẽ thay đổi đảng cầm quyền. Chưa biết thay đổi rồi chắc chắn 100% sẽ khá hơn hay không, nhưng thế nào dân cũng thay đổi. Năm ngoái các cử tri Mỹ đã làm công việc đó. Chính phủ Ấn Ðộ đã thắng lớn trong cuộc bỏ phiếu vừa qua, cũng nhờ suốt bốn năm đảng Quốc Ðại nắm quyền những ý kiến ủng hộ nhiều hơn những lời chống đối. Ðảng Cộng Sản Ấn Ðộ đã nằm trong liên minh cầm quyền nhưng rút ra và quay lại chống chính phủ và tố cáo đảng Quốc Ðại thân Mỹ. Ðó cũng là một cách “phản biện” rất chính đáng. Nhưng trong cuộc bầu cử vừa qua đảng Cộng Sản Ấn Ðộ đã mất nhiều ghế đại biểu, từ 64 xuống chỉ còn 24 ghế. Khi người dân được nghe nhiều ý kiến đối nghịch, thì việc lựa chọn của họ chắc phải đúng hơn là không được nghe gì cả hoặc chỉ nghe một chiều, một giọng điệu.

Trong diễn trình dân chủ này có hai phần quan trọng. Một là mọi người dân được tự do phát biểu về những chính sách, công việc của nhà nước có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Hai là người dân có quyền lựa chọn giữa nhiều đảng chính trị khác nhau và các cử tri được tự do bỏ phiếu. Nếu thiếu một trong ba yếu tố trên, tự do phát biểu, tự do lập hội lập đảng, và tự do bầu cử, thì chưa gọi là tự do dân chủ.

Nhưng ông Trần Xuân Giá hình như chỉ thoáng nghe mà chưa hiểu cái quá trình dân chủ đơn giản này. Khi đề cao “phản biện xã hội” ông lại nghĩ khác hẳn. Vì báo Ðại Ðoàn Kết phỏng vấn nên ông nghĩ ngay đến việc sử dụng một khí cụ đang có sẵn trong guồng máy cai trị của đảng Cộng Sản, là Mặt Trận Tổ Quốc. Ông muốn cho cái Mặt Trận Tổ Quốc này nó đóng vai “phản biện.”

Rõ chán quá đi mất! Ở nước Việt Nam này ai chẳng biết là với cái Mặt Trận Tổ Quốc này, chính các cụ trong đảng Cộng Sản quyết định ai lên làm chủ tịch, ai làm phó chủ tịch, tổng thư ký mặt trận. Ðảng quyết định, không ông bà trong trong mặt trận dám cãi. Các ghế lãnh đạo đoàn thể trong mặt trận cũng do các chi bộ đảng Cộng Sản “bố trí,” “cơ cấu” người vào nắm đầu hết. Ðảng Cộng Sản và Mặt Trận Tổ Quốc liên hệ với nhau như bố với con, như thầy với tớ trong thời phong kiến. Ðố thằng con nào dám nói trái lời bố! Nói trật một câu cũng có thể mất ghế, mất hết quyền lợi ngay lập tức.

Thế thì còn “phản biện” cái nỗi gì? Ông Giá cứ nghe thiên hạ nói đến “phản biện xã hội” nên ông nhắc lại chữ “phản biện xã hội” chứ thực tình ông nghe như vịt nghe sấm! Thực tình ông chẳng biết ý nghĩa nó là cái gì cả. Thật chán quá đi mất! Nếu báo Thanh Niên phỏng vấn chắc ông Giá sẽ bảo nên giao vai trò phản biện cho Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản chắc!

Ông Trần Xuân Giá còn dạy dỗ Mặt Trận cách “phản biện” như thế nào nữa. Ông nói, ''Vai trò của mặt trận là giúp Quốc Hội tập hợp các ý kiến kiến nghị lên Quốc Hội, lên chính phủ và các cơ quan hành pháp.”

Ông không nói cho biết rằng cái Quốc Hội đó nó sẽ làm cái gì mà không tự nó đi tìm các ý kiến, tập hợp các ý kiến để trình lên đảng? Hay là giải tán cái Quốc Hội đi để Mặt Trận làm thay cho đỡ tốn cơm? Ông cũng khuyên Mặt Trận phải “theo đuổi tới cùng” xem các kiến nghị của mình được chính phủ giải quyết ra sao, chớ đừng “đánh trống bỏ dùi.” Về mặt này thì Mặt Trận nên học hỏi kinh nghiệm các nhà báo như anh Nguyễn Việt Chiến: Theo đuổi, theo đuổi, đuổi mãi; tới lúc bước vào nhà tù mới thôi.

Cuối cùng, thực chất công việc dân chủ hóa của ông Trần Xuân Giá rất là giản dị: Cứ để cho đảng Cộng Sản Việt Nam “phản biện” với đảng Cộng Sản Việt Nam. Bọn người nắm quyền là của đảng mà làm đối lập cũng là của đảng. Nói cách khác, đảng chỉ cần sai thằng đồ đệ đứng ra đóng trò phản biện cho mình nghe, giống như những vai hề trên sân khấu cổ truyền vậy.

Từ 60 năm nay đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn làm đúng theo mô hình dân chủ hóa đó; ông Trần Xuân Giá có nhắc lại cũng vô ích. Có lẽ đóng góp duy nhất của ông trong đề án tư tưởng này là khi ông đưa ra một điều kiện: Người làm công tác mặt trận phải có tâm để ''không quên'' những kiến nghị của người dân.

Tức là phải nghiên cứu y học, chữa trị ngay cái tính hay quên của các cụ. Trao các cụ cho các bác sĩ tâm thần trị liệu thì không chừng sau vài chục năm có khi nước ta được dân chủ hóa thật!

Lý thuyết dân chủ hóa của ông cựu bộ trưởng kế hoạch và đầu tư chứng tỏ ông không biết tí gì về lối sinh hoạt trong các xã hội dân chủ. Dân chủ hóa theo lối của ông chính là kéo dài con đường độc tài đảng trị. Cứ theo lối đó thì xã hội Việt Nam không bao giờ có dân chủ; và do đó, khó lòng phát triển kinh tế bền vững như ông Giá mong ước. Có thể nói là ông Trần Xuân Giá đã chọn thời điểm này để bàn vấn đề dân chủ hóa là không đúng lúc. Theo sự kiểm nghiệm của các nhà chiêm tinh trên mạng ở trong nước thì có những năm ông Trần Xuân Giá tuyệt đối không nên bàn về vấn đề dân chủ hóa. Ðó là những năm tận cùng bằng số không cho tới số chín. Năm nay là năm 2009, quả nhiên ông mới nói ra là cả nước bật cười.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Lời Ngay Mất Lòng:
Chúng Ta Sẽ Còn "Thua" Việt Cộng Dài Dài Nếu…



Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi, “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản? Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh tức Hoa Kỳ bỏ. Nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia Việt Nam cũng như ngoại quốc phân tích và đã đưa ra rất nhiều lý do, chủ quan cũng có, khách quan cũng có, nhưng chưa thấy tác gỉa nào nói tới lý do đạo đức và luật pháp.
Vì đạo đức, chúng ta không thể bắt chước Cộng Sản, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản, những tên Việt Gian, những tên ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản, chúng ta vẫn đối xử nhận đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào năm 1955-1956, một phong trào mang tên là Phong Trào Hòa Binh do các Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào thiên Cộng họạt đông với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng và đòi Tổng Tuyển Cử theo Hiệp định Geneve 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên qua cầu Hiền Lương ra Bắc.

Đến đầu năm 1965 cũng có một phong trào mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình do những tên Việt Gian, Ăn Cơm Quốc Gia, Thờ Ma Cộng Sản thành lập như Thượng Tọa Thích Quảng Liên, Bác Sỉ Thú Y Phạm Văn Huyến, Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiến, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác Sĩ Lê Khắc Quyến v.v… Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiến, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vỹ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng làm như vậy, quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.

Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng mò tôm, bắt ốc như bọn Cộng Sản đã làm đối với những người quốc gia, mà chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Nhiều khi chúng ta còn rất nhẹ tay với chúng. Dù có tội thì cũng chỉ giam giữ ít lâư rồi lại thả ra. Trường hợp tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền VNCH được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt hoặc được cho biết trước để mà chạy trốn hoặc phi tang chứng cớ. Trường hợp điển hình là trường hợp của Trần Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon; vì có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông Ngọc. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh án.

Vụ Têt Mậu Thân 1968, không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hang loạt, vậy mà bọn chúng đâu có đưa air a tòa? Còn chúng ta, nếu vì qúa tức giận trước những hành động qúa độc ác, dã man cuả bọn chúng mà tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù có lý do chính đáng đến đâu cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo. Nếu không bị đưa ra tòa thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của tướng Nguyễn Ngọc Loan đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lớp, kẻ đã sát hại cả gia đình một sĩ quan cảnh sát vào Tết Mậu Thân 1968.

Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy, những người chống Cộng luôn luôn bị một số người vin vào lý do đạo đức, văn hóa để chỉ trích người khác. Nếu chống Cộng hăng say qúa thì bị chỉ trích là quá khích. Nếu dùng danh từ mạnh mẽ qúa hay bình dân quá thì bị phê bình, chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền có khi còn bị nhục mạ là hạ cấp, là vô học.

Bọn Việt Cộng ăn gian nói dối cả trăm ngàn lần dân chúng trong nước đâu ai dám nói gì. Trái lại, ở hải ngoại, nếu có ai vì chống Cộng nói sai một chút, nói qúa lời một chút, mà đâu có phải nói họ mà chỉ là nói bọn Việt Cộng hoăc bọn Việt Gian Cộng Sản là bị chỉ trích, bị phê bình liền, có khi còn bị mạ lỵ. Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào, có thể là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể là bọn Việt Gian Cộng Sản, nhưng cũng có thể chỉ vì cảm tinh cá nhân, nói ra họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn là không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống Cộng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt hoặc vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là người chống Cộng còn những bài viết chỉ trích những người chống Cộng thì phê bình chỉ trích tới nơi, tới chốn. Gọi ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là chính quyền Việt Nam mà chỉ trích thì đã đành. Viết hai chữ Cộng Sản là CS hay Việt Cộng là VC cũng bị chỉ trích hoặc gọi bọn bưng bô cho Việt Cộng hay làm lợi cho Việt Cộng là Việt Gian Cộng Sản cũng bị chỉ trích. Thật hết chỗ nói.

Trong khi đó, bọn Việt Cộng tung ra hải ngoại không biết là bao nhiêu là cán bộ đội lốt ca sĩ, du sinh, thày tu, bất đồng chính kiến v.v…thì chẳng thấy những người này nói tới. Chính vì vậy mà ngày nay, văn hóa phẩm của Việt Cộng tha hồ bầy bán trên thị trường hải ngoại và bọn Việt Gian, bọn tay sai Cộng Sản tha hồ tung hoành tổ chức nhạc hội gây qũy từ thiện, nhiều khi bọn chúng còn dám tổ chức triển lãm, hội thảo nữa mà cũng chẳng mấy ai dám nói tới, khiến bọn chúng lộng hành.

Trường hợp Cô Tim và Căn Nhà May Mắn là một thí dụ điển hình. Cô được Hội Người Việt San Fernando Valley, California tổ chức buổi Văn Nghệ Gây Qũy cho cô vào ngày 25 tháng 10 năm 2008. Cô Tim không những không chào cờ VN Cộng Hòa đã đành, cô còn ra lệnh cho ông Chủ Tịch Richard Mười Trương và những người trong ban tổ chức phải dẹp bỏ cờ vàng ba sọc đỏ đi cô mới chịu đăng đàn nói chuyện. Vậy mà ông Chủ Tịch Mười Trương và những thành viên trong ban tổ chức đã răm rắp nghe theo. Thà cứ như chùa Pháp Vân ở Canada trong buổi gây qũy cho cô Tim chẳng cờ quạt gì cả còn hơn. Đằng này ông Chủ Tịch mười Trương cũng cũng chào cờ quốc gia, cũng hát quốc ca VNCH, cũng mặc niệm, nhưng khi nhân vật chính là cô Tim lên diễn đàn nói chuyện, thì ông lại nghe lệnh cô Tim dẹp cờ vàng đi.

Hành động này, không khác gì mượn danh từ thiện để hạ nhục cờ quốc gia VNCH. Ấy vậy mà vẫn còn có kẻ bênh vực cho cô Tim, vẫn đòi hỏi phải có bằng cớ rõ ràng mới có thể kết tội cô là người của Việt Cộng. Chắc bọn Việt Gian Cộng Sản muốn chúng ta phải trưng ra thẻ đảng viên của cô hay ít nhất cũng phải có giấy công tác của cô do Việt Cộng cấp?
Và gần đây, ngày 7 / 5 /09, Tiêu Dao Bảo Cự, một tên bất đồng chính kiến cuội đã được bọn Việt Cộng cho sang Hoa kỳ và đã tới Đại Học Berkley thuyết trình về nhà thơ Hữu Loan với bài thơ Đồi Tím Hoa Sim nhưng chẳng thấy y nói gì tới bài thơ Đồi Tím Hoa Xim mà chỉ thấy y khuyến dụ sinh viên về nước giúp ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam.
Ngày nay bọn Việt Cộng biết rằng cái chính nghĩa của chúng do sự tuyên truyền và bịp bợm mà có không còn có thể che dấu được nữa, nhất là đồng bào hải ngoại. Do đó chúng đã tìm mọi cách để xâm nhập vào cộng đồng người Việt Hải Ngoại để tìm cách chia rẽ và phá hoại sự đoàn kết của chúng ta. Chúng như con bạch tuộc. Nếu con bạch tuộc có nhiều chân thì bọn Việt Cộng có nhiều tiền. Bọn chúng sẵn sang tung tiền ra để mua chuộc những thành phần lưu mamh, ham danh, hám lợi, những thành phần ngu dốt, mê muội, tưởng chế độ Cộng Sản đã thay đổi, tưởng chúng muốn hòa hợp, hoà gỉai với người quốc gia để xây dựng đất nước. Do đó, chúng ta thấy ở bất cứ nơi nào, Hội đòan nào, Diễn đàn nào, cũng có đầy dẫy nhưng kẻ luôn luôn tìm cách phá thối, lũng loạn để gây chia rẽ.


Tóm lại, đã gọi là chống Cộng thì phải chống Cộng tới nơi, tới chốn, Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học. Không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo. Chống chúng, không thể dùng những lý lẽ của Không Tử, những lời dạy của Đức Phật hay của Đức Ki Tô, mà phải dùng những lời lẽ của những bà mẹ nông dân Việt Nam hay ít nhất cũng phải là những lời lẽ của những người bình dân đang bị VC cướp của, cướp nhà. Những ai không chống Cộng hay không dám chống Cộng vì còn muốn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng hay về VN để ăn chơi du hí thì hãy im cái mồn lại, để người khác chống Cộng, Đừng đạo đức gỉa, đừng quân tử Tầu mà chỉ trích người khác. Thật buồn khi thấy trên các báo chí cũng như trên các diễn đàn, những bài chống Cộng thì ít mà những bài chống nhau thì nhiều.

Chúng ta phải coi chừng, đừng mắc mưu bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc bọn Việt gian Cộng Sản mà quên đâm thẳng mũi dùi vào bọn Việt Cộng mà lại quay mũi dùi đâm vào anh em. Nếu không, chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài...

Cổ nhân đã dạy:

Đi với Bụt, mặc áo Cà Sa,
Đi với Ma, mặc Áo Giấy./-

Lê Duy San

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hồi ký của một thằng hèn
của nhạc sĩ Tô Hải.

Mấy tháng gần đây, cuốn Hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải tuy chưa xuất bản, chỉ mới giới thiệu sơ sơ trên mạng, nhưng âm vang của nó đã chấn động đến giới «sĩ phu trí thức Xã Nghĩa», nhất là giới lãnh đạo «đảng ta» hơi «bị» choáng vì chữ « hèn » trong cái nhan đề của cuốn sách: «Hồi ký của một thằng hèn». Tác giả định mượn gió vẻ trăng chăng? Mượn mình để mắng cả một tập thể đang «mê» chăng ?

Ở hải ngoại, nhiều người quan tâm đến «hiện tượng» 700 tờ báo đảng với hơn 13 ngàn ký giả, ký thiệt, văn, thi sĩ viết bài mà chỉ có một Tổng Biên tập, một lãnh chúa lãnh đạo, nên cũng tò mò muốn đọc cuốn hồi ký này để biết «Thằng nào là thằng hèn, làm văn nô bồi bút cho cái chế độ phi nhân này!»

Riêng nhạc sĩ Tô Hải vì sao lại hèn? Đã cho mình là «thằng hèn» sao lại còn đủ can đảm viết hồi ký để kể khổ cái hèn của mình toét toè loe ra cho bàn dân thiên hạ chiêm ngưỡng?

Lê Phú Khải viết lời tựa giới thiệu cho cuốn hồi ký trên, ngay những dòng đầu có nhắc đến một sĩ phu đầy nhân cách, sớm tỉnh thức trong cơn hôn mê dài của chế độ Cộng sản. Lê Phú Khải viết : (trích)

« Đọc ‘Hồi ký của một thằng hèn’ của nhạc sĩ Tô Hải, tôi bất giác nhớ đến bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Ông là một trí thức Việt kiều, rất hăng hái hoạt động trong phong trào mác-xít, đảng viên đảng Cộng sản Pháp, đã tình nguyện về nước để tham gia kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hăng hái là thế, mà ở tuổi ngoài tám mươi, khi làm bản tổng kết đời mình, ông đã phải thốt lên: «Đời tôi là đời một thằng ngây thơ». Trong hai chữ «thơ» và chữ «ngây», tôi xin giữ lại cho mình chữ «thơ» vì đã đi theo kháng chiến, còn cái chữ « ngây» để chỉ cái sự đi theo chủ nghĩa xã hội thì xin… vứt nó đi!».

Bên cạnh bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, Lê Phú Khải còn trưng ra thêm một nhân chứng khác, Nguyễn Khải, đại tá, nhà văn, giải thưởng Hồ chí Minh. Trước khi chết ông đã gửi lại lời trối của kẻ đã lạc (lầm!) đường trong mấy câu:

« Quả thực dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!»

Đối với nhạc sĩ Tô Hải, tác giả Hồi Ký Của Một Thằng Hèn, Lê Phú Khải viết:

Tô Hải và Nguyễn Khắc Viện – hai con người, hai số phận, cả hai đều được Nhà nước Cộng sản tặng nhiều huân chương «cao quí», nhưng cái tương đồng giữa hai người là ở chỗ họ đều thiết tha yêu nước, nhưng không thể yêu chủ nghĩa xã hội.

Cậu học trò Tô Hải gia nhập Vệ Quốc Đoàn ngay từ những ngày đầu cách mạng. Cuộc đời binh nghiệp của Tô Hải có đủ niềm vui và nỗi buồn, vinh quang và tủi nhục, được ông ghi lại trong cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay. Nó là cuốn sách cần cho những ai muốn biết về chủ nghĩa cộng sản trong hiện thực. Nó cần cho những ai chưa tỉnh giấc nồng của những mộng mị được sơn phết vàng son. »

Có thể nói không ngoa rằng Hồi Ký Của Một Thằng Hèn là cuốn biên niên sử ghi lại quá trình từng bước, từng bước, nhân dân Việt Nam, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ bị tước đoạt đi cái quí giá của con người là Tự Do. Là chứng nhân của lịch sử, Tô Hải ghi lại trung thực, sống động cả một quá trình nhào nặn, đấu tố, cưỡng bức tư tưởng để biến văn học nghệ thuật thành « vũ khí đấu tranh » của Đảng, cho Đảng, vì Đảng. Hồi Ký Của Một Thằng Hèn là những trang viết bằng máu và nước mắt ghi lại tỉ mỉ tấn bi kịch của chính tác giả và bạn bè ông, nay kẻ cỏn người mất, để mọi người được biết họ đã phải sống như thế nào, phải… « hèn nhát» ra sao chỉ cốt để tồn tại. »
…
Và trãi qua những đại bi kịch được đảng cộng sản luôn say máu đấu tranh tạo ra như Cải Cách Ruộng Đất, Chỉnh Đảng, Chỉnh Quân, Nhân Văn Giai Phẩm, Xét Lại Chống Đảng, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Tạo Tư Sản… Tô Hải thấy đàng sau nó thực sự là cái gì ?Nó chẳng phải cái gì khác ngoài mưu đồ của một lũ cơ hội chuyên nghề lừa bịp, trấn áp nhằm chiếm bằng được quyền cai trị đất nước. Ông không che giấu những việc đáng xấu hổ khi tả lại cảnh phải đóng vai « đại hèn » để vợ con có miếng ăn, không bị cắt sổ gạo, bị đuổi khỏi biên chế hay tệ hại hơn nữa, bị đi cải tạo, vào tù. Ông thẳng thắn chỉ ra những bộ mặt cơ hội trong giới văn nghệ sĩ đã nhẫn tâm bước qua xác đồng nghiệp để kiếm chút đỉnh chung. » (ngưng trích)

Nhà văn Uyên Thao cũng viết về Hồi Ký Của Một Thằng Hèn của Tô Hải như sau : (trích)

« Dù viết về các lời lẽ gian trá hay hành vi tàn bạo của chế độ, dù viết về những ngu xuẩn tận cùng hay lưu manh ghê gớm, dù viết về toan tính bản thân hay tâm tư của bè bạn, Tô Hải không bao giờ rời nỗi đau đã thành cực hình vò xé tim óc.

Đó là nỗi đau phải sống cuộc sống không còn là cuộc sống con người. Nỗi đau càng lớn hơn khi luôn phải gặp gỡ không ít kẻ mệnh danh trí thức vẫn vênh váo tự hào với cuộc sống đó. »

Những lớp lớp cá nhân Tô Hải qua Hồi Ký Của Một Thằng Hèn dù có đáng thương mức nào, đáng tội nghiệp tới đâu thì cảm xúc xót thương, tội nghiệp dành cho họ sẽ hoàn toàn vô ích.

Bởi nỗi đau mà Tô Hải gánh chịu không phải nỗi đau riêng của Tô Hải, không phải hậu quả chỉ đến với một cá nhân do những chọn lựa của bản thân mà chính là một nét thực tế biểu hiện cái thân phận oan khiên mà dân tộc Việt Nam đang gánh chịu.

Cho nên thay vì bày tỏ cảm giác tội nghiệp xót thương cho cá nhân này hay cá nhân khác, cần nhìn thẳng vào nỗi nhục tự biến mình thành công cụ tôi đòi, nỗi nhục vận dụng tới tận cùng khả năng trí óc để ngụy biện cho sự tình nguyện khom lưng, uốn gối là thức thời – theo kiểu Nguyễn Tuân với câu nói từng được lập lại « phải biết sợ để tồn tại. »

Về phần tác giả, Tô Hải, khi bắt đầu viết Hồi Ký Của Một Thằng Hèn, Ông đã có những suy tư gì lúc đặt bút lên trang giấy?

Chúng ta hãy đọc qua bài viết ngắn của Ông với nhan đề : VÌ SAO TÔI VIẾT HỒI KÝ? (trích)

« Câu mở đầu đó, nếu tôi không nhầm, là của George Sand mà tôi đã đọc, đã thương cảm và đã tự nhủ rằng rồi đây chính mình cũng sẽ phải để lại cho đời ít dòng nói thật khi bước vào tuổi 70, nếu như cái chết lãng nhách không đến bất chợt.

Biết đâu đấy, rồi đây lịch sử sẽ có thêm được một số chi tiết trong « tội ác diệt văn hóa » của nhà cầm quyền Việt Nam trong một thời gian trên nửa thế kỷ nhờ những chứng liệu ghi trong hồi ký của một kẻ từng làm thứ văn nghệ gọi là « vì Đảng vì dân » trong suốt đời mình. »

Tô Hải nhận định suốt một thời gian dài từ năm 1945 đến đầu thế kỷ 21, lịch sử văn học nghệ thuật ở miền Bắc chỉ là một lỗ hổng lớn vì giới trí thức, văn nghệ bị cai trị bởi cái đám ‘đỉnh cao trí tuệ loài người’ :

« Tác phẩm của họ đâu rồi, ngoài lèo tèo mấy bài thơ của Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán…và chẳng có một tiểu thuyết, một đoạn văn nào đáng được trích giảng trong các chương trình từ tiểu, trung đến đại học? Vậy mà suốt thời kỳ đất nước nằm dưới «sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt» và «duy nhất đúng đắn» của những tên «xuất thân thành phần cơ bản», trình độ học thức ở mức «đánh vần được chữ quốc ngữ», các văn nghệ sĩ công chức ở nơi này vẫn được nhà cầm quyền trao tặng «Giải thưởng Nhà Nước», « Giải thưởng Hồ Chí Minh» và đủ thứ bằng khen, giấy khen, được trang trọng lồng kính treo kín những bức tường phòng khách! Thử hỏi những tác phẩm được khen nức khen nở ấy bây giờ ra sao ?

Té ra tất cả đã bị lịch sử xếp xó.

Hơn thế nữa, những tác giả được Nhà nước XHCN khen hàng loạt nọ, trong thực tế, còn là những kẻ bán rẽ lương tâm đã lợi dụng các loại hình văn nghệ để ca ngợi những điều bất nhân, bất nghĩa bị cả nhân loại phỉ nhổ: Khuyến khích con đấu cha, vợ tố chồng, hô hào, kích động người cùng một nước chém giết lẫn nhau, ra sức ca ngợi những tên sát nhân khét tiếng như Stalin,Mao Trạch Đông…thậm chí, còn quì gối khấu đầu tạ ơn những tên đao phủ và cái tổ chức tội ác là «Đảng đã cho ta mùa xuân», dạy những đứa trẻ bập bẹ biết nói : «tiếng đầu lòng con gọi Stalin» ! Nhục nhã thay cho nhnữg kẻ cam tâm bợ đít, luồn trôn những kẻ giết cha mình! Cho tới cuối thế kỷ thứ 20 vẫn còn những kẻ u mê cứ tưởng các tác phẩm « tuyên truyền» cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cho hận thù dân tộc, cho đấu tranh giai cấp của chúng là giá trị lắm ! Cứ xem chúng tâng bốc nhau, nịnh bợ nhau, bôi xấu nhau, để được nhận cái… vết nhơ một thời làm lính văn nghệ của Đảng thì thấy.
…
Trong khi đó, hồi ký của các «lãnh tụ cách mạng» chỉ là những cuốn sách viết ra cốt tự đề cao mình một lần cuối, để giải thích (chống chế thì đúng hơn) cho những hành động sai lầm, đổ tội cho người khác về những thất bại mang tính lịch sử mà kẻ viết hồi ký chính là tội phạm. Vậy thì, tôi, Tô Hải, một cái tên được nhiều người biết ở cái thời «âm nhạc phục vụ công nông binh», ở cái thời mà âm nhạc, nếu không làm đúng yêu cầu của đảng sẽ lập tức bị bọn «quan văn nghệ» lên án là «mất lập trường», là «cá nhân tiểu tư sản», thậm chí là « âm nhạc phản động», có gì để mà hồi với ký ?

Tô Hải đã «tự thú trước bình minh» cái hèn của mình ra sao và bắt nguồn cội rễ như thế nào khi ông nghĩ rằng mình đã hết hèn để nói toạc móng heo ra «nỗi bất bình dồn nén ám ảnh suốt mấy chục năm T.H» :

« Trước hết, tôi phải đè bẹp được sự « hèn nhát » trong tôi là cái đã bén rễ sâu chặt do thời gian quá dài sống trong lồng kín, cách ly bầu trời tự do.

Tôi tình nguyện làm một trong những người vạch trần những bộ mặt chính trị dỏm, văn nghệ dỏm, những tên cơ hội, đã cản trở, giết chết tác phẩm, đẩy những tài nang vào hố sâu quên lãng.

Đáng buồn là những chuyện được giấu kín đó, tôi đều được biết, thậm chí còn được tham dự các kế hoạch hại người (được gọi là kiểm điểm, học tập, thu hoạch…) ngay từ khi chúng mới được phác họa, trong suốt quá trình tôi ở cương vị cấp ủy, lãnh đạo, chỉ đạo nghệ thuật.

Để bảo vệ chổ đứng của mình, tôi đã không dám cãi lại những lời chửi rủa bố tôi là đồ « phản động», mẹ tôi là «Việt gian», họ hàng nhà tôi là « tay sai đế quốc»!

Và khi không còn chịu « lao động nghệ thuật » nữa, «bỗng dưng» ông được cái nhà nước công nông binh tặng cho cái «Huân Chương Lao Động Hạng Nhất» và đè ông ra đeo lên cổ cái mề đay « Giải thưởng Nhà nước». Ông mô tả đó là «Một bức tranh cười ra nước mắt» và kêu lên một cách mĩa mai chua xót: « Bi kịch hay hài kịch đây?»

Như thế đó, Tô Hải hy vọng rằng đất nước sẽ có ngày hoàn toàn đổi mới thật sự, hồi ký của ông sẽ được in ra để làm tài liệu lưu trữ về một thời cay đắng và tủi nhục nhất trong lịch sử Việt Nam. Và ông cũng mong rằng bạn bè, con cháu đời sau hiểu cho rằng ông đã có thời tưởng rằng mình là một cánh đại bàng bay bỗng giữa trời nhưng than ôi, gần hết cuộc đời ông vẫn chỉ là «một con đại bàng… cánh cụt, chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông.»

« Nhưng, ‘ vừa là tội đồ vừa là tòng phạm’ làm sao con đại bàng cánh cụt kia có thể bay cao, bay xa ? Thôi thì xin làm con sói của Alfred de Virngi, con bói cá của Musset tru lên tiếng rú cuối cùng, phan ngực, xé lòng, hiến cho lịch sử một mẫu trái tim, một mẫu óc, một chút hơi tàn của thân xác.

Với niềm tin vô bờ bến rằng ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã đến rất gần, dù có chậm hơn ở các nước bậc cha ông, anh cả, anh hai đến vài ba thập kỷ, niềm tin ấy vẫn cháy bỏng trong tôi thúc giục tôi vứt bỏ mọi sợ hãi, mọi hèn kém để ngồi vào computer.

Nhưng, Tô Hải lại mắc cái nhưng to tướng, tập Hồi Ký Của Một Thằng Hèn đã được viết xong từ năm 2000, nhưng do… hèn, Tô Hải vẫn không dám cho ra mắt bạn đọc như lời ông thú nhận trong « Đôi điều phi lộ viết… sau cùng » và còn cẩn thận ghi thêm một dòng ở ngoài bìa «Để xuất bản vào năm 2010». Có lẽ ông nghĩ rằng lúc đó ông đã «đi theo Bác» rồi thì những quân cẩu trệ sẽ chẳng làm gì được ông nữa chăng ? Ông lầm! Chúng sẽ thi hành đủ các thủ đoạn bẩn thỉu như đã làm đối với hai ông Trần Độ và Hoàng Minh Chính với cái chết của ông và vợ con ông sẽ … hết đất sống về sau !

Với quân tiểu nhân ti tiện, mặt người dạ thú như cộng sản Việt Nam thì đừng có hòng chúng có lòng nhân với câu «nghĩa tử là nghĩa tận» như lời người xưa giáo huấn.

Post Reply