Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hoạn quan - những số phận nghiệt ngã


Image
Hoạn quan là sản phẩm của chế độ phong kiến Trung Hoa. Trong gần 3.000 năm, những hoạn quan dù tồn tại trong biết bao dâu bể của lịch sử nhưng luôn bị người đời coi như một thứ sản phẩm dị hình dị tướng. Hoạn quan thường có nguồn gốc khác nhau. Ngoài những người cam chịu tự cung (thiến) vào làm hoạn quan trong triều đình để nhận những khoản bổng lộc cho gia đình, còn có những hoạn quan là tội phạm cam chịu gia hình nhằm giảm tội.

Nguồn gốc của thái giám vốn từ quan điểm của những người cầm quyền tin rằng hoạn quan khi không có những người kế tục sẽ không ham hố danh vọng, hết lòng phục vụ mình. Tuy nhiên, quan điểm đó có vẻ không chính xác vì nhiều vị hoạn quan vẫn muốn có quyền lực, thậm chí còn ham hố quyền lực hơn người thường.

Những người chuyên biến người thường thành hoạn quan là người phải có tay nghề đặc biệt gọi là "đao tử tượng". Những "đao tử tượng" có phương pháp "phẫu thuật" bí truyền nên chỉ nhận con cái, họ hàng thân thích làm đệ tử.

Thời xưa, cung hình (bị hoạn) là một trong những hình phạt thảm khốc dành cho tội nhân. Sử gia vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc Tư Mã Thiên (khoảng 145-90 TCN), do bênh vực tướng quân thua trận Lý Lăng, bị vua Hán nổi giận phạt "cung hình". Nhờ kiến văn quảng bác ông được giữ lại làm quan tại Sử quán. Sau đó với nỗi uất ức, ông đã trước tác nên bộ sử đồ sộ Sử ký Tư Mã Thiên danh tiếng.

Một trong những hoạn quan nổi tiếng nhất trong lịch sử là Triệu Cao. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, một tay Triệu Cao đã viết nên cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Trung Hoa. Triệu Cao đã thuyết phục tể tướng Lý Tư sửa chiếu thư của Thuỷ Hoàng, phế bỏ thái tử Phù Tô, đôn Tần Nhị Thế lên làm vua. Sau đó, cũng một tay Triệu Cao ép Phù Tô, Nhị Thế và Lý Tư uống thuốc độc tự tử và chút nữa thì Triệu Cao đã bước lên ngai vàng. Tuy nhiên, sau đó viên hoạn quan đầy tham vọng này đã bị ngũ mã phanh thây.

Không hiếm trường hợp sau khi bị hoạn, những hoạn quan vẫn có đầy đủ khả năng đàn ông. Trường hợp như Lao Ái là hoạn quan nhà Tần thông dâm với mẹ của Tần Thuỷ Hoàng và có hai con riêng với bà mẫu hậu này. Đến triều Thanh có trường hợp hoạn quan An Thế Hải, sau khi bị hoạn vẫn thông dâm với cung tần mỹ nữ.

Hoạn quan đôi khi tạo thành những thế lực lớn trong triều đình. Họ là những người hàng ngày sống gần gũi hoàng gia nên rất dễ được sự tin cậy của hoàng đế. Khi đã có được sự tin cậy, quyền lực rơi vào tay họ cũng là điều dễ hiểu. Điều đó khiến nhiều quan chức lo ngại và ganh ghét. Triều Càn Long (1736-1796) có chuyện quan lại tâu với Hoàng đế chuyện những hoạn quan tuy đã bị hoạn nhưng lâu ngày có thể trở lại như bình thường và xin Càn Long cho kiểm tra nhằm "thanh sạch hoá" cung cấm. Nhà vua chuẩn y và viên quan kia nhân đó giết hại nhiều hoạn quan.

Trong sử sách Trung Hoa xuất hiện một hoạn quan, một kiến trúc sư tài danh có nguồn gốc Việt Nam, đó là Nguyễn An (1381-1453). Triều Hồ đưa ông sang Trung Hoa như một cống vật và trở thành hoạn quan của nhà Minh. Nhận thấy phẩm chất của một công trình sư bậc nhất, triều Minh đã cho ông đảm nhận một công việc cực kỳ quan trọng, đó là xây thành Bắc Kinh. Nguyễn An đã chỉ huy một lượng nhân công hàng triệu người và tốn 17 năm để tạo thành một kiệt tác ghi tên vào danh sách Di sản Văn hóa thế giới ngày nay.

Bởi cuộc sống cô độc không người nối dõi nên nhiều vị thái giám tìm đến với đạo Phật. Ngôi Pháp Hải Thiền Tự ở núi Thuý Vy, phía tây thành Bắc Kinh là ngôi chùa do thái giám Lý Đồng xây dựng và là nơi những thái giám đến sống những ngày cuối đời. Hoạn quan được xếp vào hàng quan chức nhưng ở dạng tôi đòi phục vụ cho vua chúa và cung tần mỹ nữ. Họ là quan nhưng dường như chẳng mấy người muốn làm và cũng chẳng được mấy người coi trọng.

Những hoạn quan sau khi bị gia hình sẽ giữ gìn cẩn thận "phần đã mất". Họ ngâm với hương liệu quý giữ trong chiếc hộp nhỏ treo cẩn thận trên xà nhà. Mỗi năm họ treo chiếc hộp đó cao hơn một chút nhằm hàm ý thăng tiến trong triều đình. Khi được xét thưởng hay trong mỗi dịp triều đình điều tra, họ phải chứng minh mình vẫn là hoạn quan bằng cách trưng ra chiếc hộp đó. Cho đến khi qua đời, chiếc hộp sẽ được chôn theo với mong mỏi kiếp sau sẽ như người bình thường.

Một phần hoạn quan có những hành động bất thường có lẽ là vì yếu tố tâm sinh lý. Cuộc sống tình dục thiếu hụt nghiêm trọng, bị hoàng gia coi như vật trang trí, giữ mãi phận tôi đòi và ấn tượng khi bị "cung hình" luôn ám ảnh khiến họ trở thành những người đáng thương. Sử gia Tư Mã Thiên khi nghĩ lại giây phút bị cung hình đã cay đắng viết: "Mỗi khi nghĩ đến nỗi nhục đó thì mồ hôi ướt đầm áo, nghĩ mình chỉ đáng canh cửa cho đàn bà hay tốt hơn là nên ẩn thân vào nơi sơn cùng thuỷ tận".

Năm 1996, cụ Sun YaoTing, hoạn quan cuối cùng của chế độ phong kiến đã qua đời, đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của hoạn quan.

(Quốc Tế )

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Hãy yêu nhau bằng những lời nói ngọt ngào Cụm từ “anh yêu em” hoặc “em yêu anh” là một trong những từ ngữ mà thông thường chúng ta vẫn nói và nghe nhiều nhất trong tình trường và trong đời sống hôn nhân. Không chỉ bằng những lời anh yêu em, em yêu anh, những ngày đầu gặp nhau, đôi tình nhân còn có trăm cách nói để làm vui lòng nhau. Nói bằng ánh mắt, qua thư từ, điện thoại. Nói bằng tặng vật. Nói bằng những vuốt ve, những nụ hôn. Nhưng rồi với sức ép của thời gian, những căng thẳng cuộc sống, và những va chạm thường nhật đã từ từ biến thái những lời yêu đương thành thứ ngôn ngữ mà cả người nói lẫn người nghe đều cảm thấy khó nghe và khó chấp nhận.

Theo những thống kê về đời sống hôn nhân cho biết, những người đã ly dị một lần thường là rất dễ ly dị hoặc sẽ tiếp tục ly dị những lần kế tiếp. Tiếc một điều là nhiều người sau khi ly dị đã không kiếm được người mà mình mong muốn, ngược lại, thường là ngậm đắng nuốt cay. Bởi vì hạnh phúc không đến từ bên ngoài, mà là tự nội tâm con người. Không phải là mình sửa đổi người chồng, người vợ, nhưng là sửa đổi chính mình.
Thương vợ như thương chính mình. Và như vậy phần thưởng chính sẽ là được vợ “kính trọng” lại. Thử hỏi ai mà chẳng thương mình, và ai mà chẳng o bế, và để ý săn sóc chính mình.
Nhân danh tình yêu:
Thương vợ như thương chính mình. Kính trọng chồng như coi trọng mình. Nhưng nếu không tế nhị và cẩn thận, chính khi nhân danh tình yêu mà nhiều người lại làm khổ nhau. Nhiều người thường bào chữa những lời nói sai trái của mình rằng: “Tôi chỉ muốn cho ông ấy sửa đổi thôi, nhưng thật là khó chịu và bực bội. Trăm lần như một, ông ấy không hề sửa đổi”. Hoặc: “Nói cho tức mà chừa. Vậy mà vẫn không chừa”.
Nếu để ý, chúng ta thấy ngay cái mâu thuẫn trong những câu nói đó. Có nghĩa là không phải vì thương chồng, yêu chồng, muốn sửa đổi cho chồng, mà những người vợ này đã nói năng như thế, nhưng là thương mình và yêu mình. Muốn chồng sửa đổi để mình khỏi phải bực bội hay khó chịu. Và trong những trường hợp như vậy, lời nói không những không được dịu dàng, dễ nghe mà ngược lại, mang một hình thức tiêu cực, ích kỷ, và thiếu xây dựng.
Tâm lý hôn nhân cho việc thông cảm và chia sẻ một cách cởi mở, tích cực là một hình thức tâm lý trị liệu. Nó có khả năng giải tỏa khủng hoảng trong đời sống hôn nhân gia đình. Nhưng chia sẻ và cảm thông không có nghĩa là nhiều lời. Hành động nói ở đây, do đó, được bao gồm không những bằng từ ngữ mà còn bằng chính hành động “body language” nữa.
Body language:
Thường ngày, những người chồng có thể nói tiếng “yêu” với vợ mình bằng những hành động cụ thể như giúp vợ rửa chén bát sau mỗi bữa ăn, giúp thổi một nồi cơm nếu vợ bận không làm kịp. Hoặc mỗi khi vợ đi chợ về, người chồng có thể phụ mang những thức ăn, hoặc đồ dùng giúp vợ. Đây là một cách thức cụ thể của lời nói “anh yêu em”.
Body language – nói qua hành động, còn được hiểu là một cái nháy mắt, một cái vuốt ve, một nụ hôn trên mái tóc vợ hoặc chồng. Những lời nói này chúng ta vẫn thường nói với nhau lúc mới gặp nhau, quen nhau. Nhưng đây là những lời nói có khi còn mạnh mẽ hơn bằng ngàn lời “anh yêu em” hoặc “em yêu anh” mà không thể hiện một hành động nào để minh chứng tình yêu ấy.
Ngôn ngữ:
Tiếp đến lối nói bằng từ. Có lẽ đây là lối trình bày quan niệm chung, cách riêng nữ giới hay dùng nhất. Phần đông nữ giới vẫn nghĩ rằng nói nhiều thì chồng họ sẽ thấm thía mà chừa, hoặc làm điều họ muốn. Nhưng chính vì nói nhiều quá, nên người nghe cảm thấy chán nản, bực dọc và có khuynh hướng đi tìm một sự thư giãn bên ngoài. Và do đó, vô tình nhiều người đã đẩy chồng hoặc vợ mình vào vòng tay người khác, vì khi ở ngoài, chồng hoặc vợ họ sẽ gặp những người khác ngọt ngào hơn, thông cảm hơn, tế nhị hơn.
Tóm lại, dù là nói với chồng hay vợ vẫn được coi như một nghệ thuật, cần phải để ý, tập luyện, và nhất là nói với lòng trọng kính, yêu thương người phối ngẫu. Riêng với nam giới, thái độ bình tĩnh và quảng đại luôn là một cách nói hữu hiệu nhất. Hành động bình tĩnh và lắng nghe luôn tạo điều kiện tốt cho việc cảm thông giữa hai vợ chồng.
Cuộc sống hôn nhân là một cuộc sống chung, đòi mỗi người phải nói và phải nghe nhau. Nhưng nếu nói mà không có ai nghe là độc thoại. Mà nói mà cả hai cùng nói là cãi lộn, là to tiếng. Chỉ khi nào có người nói, có người nghe lúc đó mới tạo sự cảm thông và sẽ đem lại hạnh phúc.
Khắc khẩu:
Chúng ta vẫn thường nghe nói rằng 3 năm đầu của cuộc sống hôn nhân, anh nói em nghe, hoặc em nói anh nghe. Nhưng 3 năm kế tiếp anh nói anh nghe, em nói em nghe. Và sau 3 năm ấy là những lần anh nói em không nghe mà anh cũng không nghe nhưng bà hàng xóm nghe. Hoặc em nói em không nghe mà anh cũng không nghe nhưng ông hàng xóm nghe.
Anh nói em nghe, em nói anh nghe thường được dệt bằng những lời nói tế nhị, hiểu biết và kính trọng. Những lời nói như thế được lồng vào khung cảnh yêu thương càng làm thích thú người nói và ngườii nghe. Người nói hạnh phúc vì lời mình nói được đón nghe mà người nghe ấy lại là chồng hay vợ mình. Và người nghe cảm thấy hạnh phúc, vì đó là những lời nói được nói ra do vợ hoặc chồng mình.
Anh nói anh nghe hoặc em nói em nghe, thường được dệt bằng những lời nói không đúng nơi, đúng lúc. Những lời nói thiếu nhẹ nhàng, tế nhị. Những lời nói để người nghe “nghe mà chừa”. Những lời nói làm đau lòng nhau và xoi mòn tình yêu giữa vợ chồng.
Anh nói anh không nghe, em cũng không nghe nhưng bà hàng xóm nghe. Em nói em không nghe, anh cũng không nghe nhưng ông hàng xóm nghe. Những lời nói vượt qua ràng rào và lọt vào tai những người hàng xóm. Nói như vậy không phải là nói, nhưng là chửi lộn, xào xáo, và bất hòa. Ở đây yêu tố lời nói, yếu tố khung cảnh, yếu tố âm điệu của lời nói chỉ phản ảnh sự thiếu bình tĩnh, thiếu tế nhị, và thiếu thông cảm của người nói. Đối với người nghe, thì đây là một thử thách lớn lao đối với sự bình tĩnh và tự chủ, vì những lời nói trong lúc nóng giận thường mang tính tiêu cực và thiếu xây dựng.
Người Việt Nam có câu: “Lời nói không mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Những lời này không chỉ áp dụng cho những hình thức giao tế xã hội, ngoài công cộng. Nếu đối với người ngoài mà ta cần phải tế nhị, tôn trọng, thì đối với vợ hoặc chồng mình thì sự tế nhị và tôn trọng lại càng phải để ý hơn. Nhưng trong thực tế, người ta dễ dàng và tỏ ra tế nhị hơn với những người ngoài, ngược lại, dễ tỏ ra cộc cằn, thô lỗ, đôi khi lỗ mãng đối với vợ hay chồng mình. Và lời bào chữa cho những hành xử thiếu trưởng thành và thiếu tâm lý ấy là “đã là vợ chồng còn giữ kẽ với nhau làm gì!” Hoặc: “Vợ ch��=9

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Đánh bóng

Một trong những cách đánh bóng thông dụng nhất là viết "Hồi ký", viết "Tự truyện" ..... để kể lại những thành tích của mình. CNN không vơ đũa cả nắm, nhưng 99.9% các chi tiết trong Hồi ký dù có đúng 98.2% đi chăng nữa cũng được người viết (hay thuê viết) đánh bóng cái 1.8% còn lại để người đọc có cảm tưởng mình thật đến 103% và "danh giá" mình nhờ đó tăng thên được 104.6%.

Gần đây, có một số người viết về Trịnh Công Sơn (TSC). Có người cho là anh chàng này thân Cộng, có người cho là anh chàng này phản chiến, có người cho là anh chàng này thế này, thế nọ ...... Không lâu lắm, một Ngài nọ đã khẳng định TCS là điệp viên 3 mang: vừa là nhân viên có số của Quốc gia, vừa nhà nhân viên bí số của Cộng sản và còn là điệp viên ẵm (một mớ) số (tiền) của bàn tay lông lá để làm nhạc phải chiến, hầu lông lá có thể rút lui sau khi làm bầy nhầy một quốc gia. Một điều là ai cũng viết: chỉ mình mới là người biết TCS từ trong ra ngoài. Có người còn quả quyết TCS có tật xuất tinh sớm từ hồi còn rất trẻ và liệt dương vào năm 1974. Cứ làm như là từng nằm dưới ... quên chung giường cuả người khác vậy.

CNN không biết TCS, dù có nghe nhạc TCS một thời gian và trong kho nhạc ở nhà có thể vẫn còn vài đĩa nhạc. Lúc nghe nhạc, CNN không cần biết tác giả là ai, hay thì nghe, không hay thì nhấn núp "skip" hoặc "foreward" chẳng hạn như bài Silent Night có bao nhiêu người biết tên tác giả vật mà nghe hết Giáng sinh (Christmas) năm này đến năm khác mà không chán. Có bạn viết:

"Về âm nhạc nói ra nghe cũng buồn cười vì tôi nghe nhạc thượng vàng hạ cám. Từ cải lương hồ quảng cho tới TCS, Phạm Duy, Nhật Trường v.v. chỉ thiếu có cái nhạc trẻ bây giờ vì già mà còn bương chẩy cho nên không còn có cái thì giờ tìm tòi để thưởng thức nữa.

Về cải lương, nhớ cái thủa nào còn đi học buổi sáng, về nhà ăn trưa xong ngủ một giấc rồi bắt đầu học bài. Trên căn gác tiếng cải lương từ nhà hàng xóm vọng qua mồn một, không nghe cũng phải nghe. Nghe mãi đến một lúc nào đó tôi tự nhiên cảm ra rằng cái giọng ca của Thành Được Thanh Nga quả là quá đã so với những ca sĩ xoàng xoàng khác. Cải lương tếu thì nhất là Văn Hường không có ai hơn.

Sau 1975, người ta bảo với tôi rằng mấy người ăn xin phải hát nhạc cũ thì người ta mới cho tiền. Một hôm tôi ngồi trong quán cà phê thì có một anh đeo kiếng đen (mù?) dắt một anh cà thọt vào quán hát bài "Trăng tàn trên hè phố" thế là từ hôm đó bài hát này tôi thích và thuộc luôn:

Tôi lại gặp anh
Người trai nơi chiến tuyến
Súng trên vai bước về qua đường phố ...."


Trở lại chuyện đánh bóng: tại sao họ viết vậy, chẳng qua chỉ muốn khoe thành tích của mình, khoe mình biết chuyện, khoe mình rành rõi về một người làm nên một hiện tượng, một thời. Âu cũng là một cách đánh bóng mình vậy.

CNN
(Meo bùn)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Lại chuyện nón cối

Lữ Giang
Hôm 17.4.2009, hãng thông tấn Associated Press và các báo online ở vùng Bắc Mỹ như oregonlive.com, seattlepi.com, theolympian. com, columbian.com, onpointnews. com, article.wn.com, examiner.com, v.v. đều loan tin “Một người Việt Nam đã thắng trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng” (Vietnamese man wins defamation case).

Tờ news.newamericamedi a.org cho biết hôm 16.4.2009, Tòa Superior Court ở Thurston County, Washington State, đã đưa ra phán quyết rắng một người Việt Nam đã thắng trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng. Đây là là trường hợp đầu tiên thuộc loại như vậy ở tiểu bang Washington.

Tòa nhận thấy rằng 5 bị đơn gồm có ba ông Norman Lê, Phiệt Nguyễn, Đạt Hồ, và hai bà Nhàn Trần và Nga Phạm đã vi phạm sai lầm khi lên án ông Tân Thục Đức, một cựu Trung Úy VNCH và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County (Vietnamese Community of Thurston County - VCTC) là thân cộng.

Các bị đơn bị phạt $310.000, trong số tiền phạt này ông Tân Thục Đức, hiệu trưởng Trường Việt Ngữ ở Thurston County được hưởng $225.000, và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County do ông Hứa Minh Đức là chủ tịch được hưởng $85.000.

Vụ xét xử đã kéo dài trong ba tuần. Sau khi tòa tuyên án, các bị đơn đã xin tòa nguyên thẩm cho tái thẩm (retrial). Nhưng trong phiên toà ngày 29.5.2006 vừa qua, tòa đã bác đơn.

BỊ ĐÁNH TRÚNG HUYỆT

Trong khi hãng thông tấn Associated Press và các báo ở vùng Bắc Mỹ đã phổ biến tin tức về vụ án này một cách khá rộng rãi, đa số các báo Việt ngữ ở Hoa Kỳ gần như “phớt lờ” vụ án này. Trên các diễn đàn Internet, các tham dự viên thường rất năng nổ trong việc phổ biến và bình luận về các tin tức cộng đồng, tin này cũng chỉ được phổ biến rất giới hạn. Điều này rất dễ hiểu, vì đây là một lần nữa, toà án Mỹ lại đánh trúng huyệt của nhiều “xạ thủ chống cộng” trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đó là “huyệt nón cối”!

Tường thuật lại bản án nói trên là một sự nhức nhối đối với những người xưa nay vẫn coi nón cối như một võ khí “chống cộng”, và lúc nào cũng sẵn sàng dùng nó để triệt hạ bất cứ ai có chính kiến khác với họ, xâm phạm đến các quyền lợi hay địa vị của họ trong cộng đồng. Đây là một cơn bệnh trầm kha, nó đã phá tan các cộng đồng người Việt hải ngoại ra thành nhiều mãnh và khiến những người có khả năng và thiện chí nản chí, không muốn tham gia các sinh hoạt cộng đồng hay chống cộng nữa.

Tại Orange County, Nam California, chỉ có nhật báo Người Việt khai thác vụ án này. Trong sồ báo ra ngày 19.4.2009, báo này đã dựa vào bản tin của tờ The Olympian cho phổ biến một bài nói về vụ án này dưới đầu đề “Chụp mũ “Cộng Sản” bậy bạ, năm người Việt Nam bị tòa phạt hơn $300,000”. Bài báo đã mở đầu như sau:

“Một bài học cho những người chuyên chụp mũ bậy bạ người khác vừa xảy ra tại Tòa Thượng Thẩm Washington, Thurston County, hôm Thứ Năm vừa qua, sau khi bồi thẩm đoàn đồng ý phạt và bắt năm cá nhân trong Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng phải liên đới bồi thường $225,000 cho ông Tân Thục Đức, cựu trung úy QLVNCH, vì đã chụp mũ ông là “Cộng Sản,” một bản tin của nhật báo The Olympian cho biết như vậy.

“Ngoài ông Tân Thục Đức, năm cá nhân thuộc ủy ban nêu trên còn phải bồi thường cho Cộng Đồng Việt Nam tại Thurston County, Washington, nơi ông Đức sinh hoạt, $85.000.”

Cuối bài báo đã nhắc lại ba vụ án nón cối nghiêm trọng đã xẩy ra trong cộng đồng người Việt hải ngoại trước đây:

“Hôm Tháng Hai vừa qua, Giáo Sư Nguyễn Lâm Kim Oanh, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Garden Grove, đã kiện ông Cao Sinh Cường, một nhà hoạt động cộng đồng của đảng Cộng Hòa Orange County, tội phỉ báng sau khi ông chụp mũ bà là “Cộng Sản.

“Bà cho rằng vì bị chụp mũ mà bà mất chức Tổng Quản Trị Học Khu Westminster hồi năm 2006. Vụ việc hiện đang do Tòa Kháng Án California thụ lý.

“Hồi năm 2003, ba cha con ông Hồ Ngộ tại tiểu bang Colorado đã thắng một vụ kiện trong đó họ bị chụp mũ “Cộng Sản,” và tòa án Denver đã phán quyết bị cáo bồi thường gần $4.8 triệu.

“Tại Saint Paul, Minnesota, ông Tuấn Phạm, một cựu quân nhân QLVNCH và là chủ chợ Capital Market, cũng bị một số người Việt Nam chụp mũ tương tự.

“Cuối cùng, tòa phán quyết bị cáo bồi thường cho ông Tuấn $693,000.”

Nhiều người tin rằng nhật báo Người Việt muốn dùng vụ án này để hù dọa những người đang tố cáo báo Người Việt là thân cộng. Bình thường, báo Người Việt thường tránh những cuộc “đụng độ” như thế trong cộng đồng. Điều này cho thấy “công an chống cộng” ở hải ngoại vẫn đang tiếp tục khống chế cộng đồng rập khuôn theo phương thức khống chế của cộng an CSVN ở trong nước.

ĐẦU ĐUÔI CỦA VỤ ÁN

Vào tháng 7 năm 2003, tại hội chợ Lakefair, một đầu bếp trong gian hàng của Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County (VCTC) mặc tạp dề (tablet – apron) mua ở chợ Mỹ, có hình ông già Noel đội nón đỏ có ngôi sao vàng và trên hai túi nền đỏ cũng có hai ngôi sao vàng. Sau đó, người đầu bếp này đã quay ngược mặt ngoài của tạp dề này vào bên trong.

Ngày 7.8.2003, ban đại diện của Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng gồm các ông Vũ Anh Tuấn, Hồ Tấn Đạt, Nguyễn Xuân Phiệt, Lê Thiện Ngọ, bà Trần Thanh Nhàn và bà Phạm Thị Nga, đã cho phổ biến “Bản Công Bố v/v Cộng Đồng Người Việt Quận Thurston trưng bày cờ Việt Cộng trá hình tại Lakefair, Olympia, Washington State”. Bản công bố đã kể lại câu chuyện xẩy ra với hình Ông Già Noel trên tạp dề mà người đầu bếp đã mặc và quy kết rằng “hình in trên áo đó muốn phô bày trước công chúng lá cở đỏ sao vàng của Cộng Sản Việt Nam”. Bản công bố viết tiếp:

“Còn khuôn mặt Già Noel gợi cho người xem hình ảnh của Già Hồ! Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khéo léo đội trên đầu Già Noel cái mũ có hình lưỡi liềm đỏ, tượng trưng cho cờ của đảng Cộng Sản Quốc Tế. Già Noel là biểu tượng của lòng yêu thương mang quà Noel đến cho mọi người. Còn trên tạp dề này, Gìa Hồ đeo găng boxing đánh bại Mỹ qua hình ảnh cờ Mỹ rơi hết vào trong hai găng tay.

“Chủ đích trưng ra các biểu tượng trên đây là để phổ biến sự hiện hữu của chế dộ cộng sản Hà Nội trong cộng đồng người Việt cho khoảng 250.000 người đến thăm Hội chợ, như chúng cố treo cờ VC tại SPSCC và vài nơi khác.”

Cũng trong ngày 7.8.2003, ông Vũ Anh Tuấn, lấy tư cách là Đồng Chủ Tịch Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng đã gởi email đi nhiều nơi “Công Bố Cộng Đồng Người Việt Quận Thurston đã trưng bày cờ Việt Cộng” và yêu cầu có biện pháp.

Các email kế tiếp của Ủy Ban đã yêu cầu các cộng đồng và cơ quan truyền thông của người Việt trên thế giới tẩy chay và trục xuất ông Tân Thục Đức và các thành viên hội đồng quản trị VCTC ra khỏi cộng đồng vì “họ đang làm việc cho CSVN.”

Ủy Ban đã mở cuộc họp báo vào ngày 17.8.2003 tại Rainier Community Center, Seatle, và hai cuộc họp báo khác tại Olympia và Tumwater để tố cáo như đã nói trên, và cho rằng ông Tân Thục Đức và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County là những người yểm trợ cho chế độ CSVN, thành viên của đảng CSVN, v.v.

Ủy Ban còn tố cáo rằng trong một buổi văn nghệ vinh danh một nhà thơ Việt Nam tổ chức tại Olympia năm 1997, một người trong ban nhạc do ông Tân Thục Đức mời đến đã đánh vài nốt nhạc trong bài quốc ca của Việt Nam Cộng Sản.

Ông Tân Thục Đức cũng bị tố cáo đã không treo cờ VNCH tại nơi ông dạy học là Trường Việt Ngữ Hùng Vương.

Kể từ khi vụ việc xảy ra, ban đại diện Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County chỉ còn lại 4 người, vì 11 người khác đã rút lui vì sợ bị chụp mũ. Riêng ông Tân Thục Đức còn bị đe dọa giết.

CÂU CHUYỆN XẨY RA TRƯỚC TOÀ

Ngày 3.3.2004, Luật sư Gregory M. Rhodes đã đại diện ông Tân Thục Đức và Hội Cộng Đồng Người Việt Thurston County truy tố các bị đơn sau đây ra Toà Superior Court của Washington State tại Thurston, về tội mạ lỵ phỉ báng:

- Norman Le và Phu Le, chồng và vợ;

- Tuan A. Vu và Huynh T. Vũ, chồng và vợ;

- Phiet X. Nguyen và Vinh T. Nguyen, chồng và vợ;

- Đat T. Ho và “Jean Doe” Ho, chồng và vợ;

- Nga T. Pham và Tri V. Duong, vợ và chồng;

- Nhan T. Tran và Mam M. Võ, vợ và chồng.

Ngày 30.3.2009, Toà Superior Court của Washington State tại Thurston với bồi thẩm đoàn, đã bắt đầu xử vụ này. Việc lấy lời khai các nguyên đơn, bị đơn và nhân chứng kéo dài đến 3 tuần. Chúng tôi xin tóm lược một vài đoạn chính để cho “đạo quân nón cối” thấy rằng những chuyện bịa đặt của họ nếu được đưa ra toà sẽ như thế nào:

1.- Vụ cái tạp dề:

Khi chất vấn một nhân chứng là Đại Tá Hứa Yển Lến, Luật sư Nguyễn Tâm, đại diện các bị can, đã chiếu lên screen hình cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng và hỏi:

- Có phải đây là cờ CSVN không?

Đại Tá Lến trả lời:

- Đúng!

Luật sư Tâm chiếu hình cô gái mặc áo đỏ sao vàng đã từng được triển lảm tại Nam California và hỏi đó có phải là cờ CSVN không.

Đại Tá Lến cũng trả lời:

- Đúng.

Luật sư Tâm lại chiếu hình lá cờ đỏ sao vàng lớn và hỏi: Nếu hình này mà nhỏ cở này (đưa bàn tay chỉ kích thước của lá cờ) có phải là cờ CSVN không?

Đại Tá Lến vẫn trả lời “Đúng!”, nhưng bất thần ông quát lớn giữa toà:

- Tôi đến làm chứng cho ông Đức, tại sao cứ chiếu lá cờ này trước mặt tôi vậy?

Luật sư Tâm vội xin lỗi rồi đi vào chủ đề chính. Ông đưa các tạp dề lên và hỏi Đại Tá Lến:

- Đây là cái gì?

Đại Tá Lến trã lời:

- Đó là cái tạp dề...

Luật sư Tâm lại hỏi:

- Có phải lá cờ không?

Đại Tá Lến nói:

- Không, đó là cái tạp dề dùng ở nhà bếp.

Luật sư Tâm liền cho chiếu lại hình cô gái mặc áo có hình cờ đỏ sao vàng đã triển lảm ở Nam Cali và hỏi Đại Tá Lến:

- Sao lúc nảy ông nói hình này là lá cờ (CSVN)?

Đại Tá Lến hỏi lại Luật sư Tâm:

- Ông có thấy tượng Hồ Chí Minh kế đó không?

2.- Chuyện ông Tân Thục Đức không treo cờ vàng

Luật sư Gregory M. Rhodes của các nguyên đơn đã hỏi bị đơn Trần Thanh Nhàn:

- Bà có tới Trường Việt Ngữ ở Olympia không?

Bà trả lời:

- Không

Luật sư Rhodes lại hỏi:

- Bà có gọi điện thoại hỏi ông Tân Thục Đức về việc từ chối treo cờ (VNCH) tại Trường Việt Ngữ không?

Bà trả lời:

- Không.

Luật sư Rhodes nói:

- Thế mà bà có thể ký tên vào đơn tố cáo ông Tân Thục Đức (từ chối treo cờ)?

Luật sư Rhodes hỏi tiếp:

- Sự kiện ông Tân Thục Đức tổ chức Họp Mặt Mùa Thu năm 2002 có liên hệ gì với cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Hồ Chí Minh (như đã nói trong Bản Công Bố) không?

Bà không hiểu câu hỏi hay không thể trả lời được, nên Luật sư Rhodes phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Bà đành im luôn.

Buổi chiều, Luật sư Rhodes đã hỏi một bị can khác là ông Hồ Tấn Dạt về những câu hỏi mà ông đã hỏi bà Trần Thanh Nhàn vào buổi sáng. Ông Đạt biện minh rằng ông ở xa hàng trăm miles nên không có tới Trường Việt Ngữ Olympia và cũng không điện thoại hỏi ông Tân Thục Đức. Ông cũng không trả lời được câu hỏi về cuộc Họp Mặt Mùa Thu đã nói trong Bản Công Bố.

Sau đó, Luật sư Rhodes đã quay qua hỏi bị can Nguyễn Xuân Phiệt:

- Ông Tân Thục Đức cho biết ông có tới Trường Việt Ngữ và đã thấy ở đó có treo cờ (VNCH), điều đó có đúng hay không?

Ông Phiệt trả lời:

- Có. Nhưng sau đó vài ba phút ông ấy có lấy xuống hay không, tôi không biết.

Luật sư Rhodes lại hỏi:

- Ông có thấy học sinh Trường Việt Ngữ đã chào cờ vàng (VNCH) và hát quốc ca (VNCH) trước khi vào lớp học hay không?

Ông Phiệt nói:

- Tôi không để ý...

Các nhân chứng khác đã khai rằng họ có thấy cờ VNCH được treo ở Trường Việt Ngữ và các em học sinh có chào cờ và hát quốc ca VNCH trước khi vào lớp.

Chúng tôi xin nói rõ trên đây chỉ là tóm lược vài câu chuyện xẩy ra tại phiên tòa. Khi nào có bản transcript (bản đánh máy lại bản tốc ký) của phiên toà, chúng tôi sẽ đăng nguyên văn để độc giả thấy sự thật bi thảm như thế nào. Tuy nhiên, một vài thí dụ cụ thể nói trên cũng đủ để cho “đạo quân nón cối” thấy rằng không phải họ muốn đội thứ nón cối gì lên các đối thủ của họ cũng được. Khi đáo tụng đình, những sự bịa đặt của họ để chụp mũ sẽ bị đưa ra trước ánh sáng ngay.

3.- “Public figure” và “actual malice”

Thông thường, luật sư của bị đơn thường nêu lên rằng nguyên đơn là “public figure”, tức một nhân vật nổi tiếng, nên phải chịu những sự phê phán của dư luận. Lúc đó, luật sư của nguyên đơn phải chứng minh rằng bị đơn có “actual malice”, có nghĩa là “có ác ý hiển nhiên”, tức vu khống người khác mặc dầu biết sự việc mình phát biểu là dối trá mà vẫn phát biểu không cần kiểm chứng hư thật.

“Actual malice” cũng là yếu tố để toà quyết định số thiệt hại bị trừng phạt.

Dĩ nhiên, “đạo quân nón cối” khi chụp mũ người khác thường chỉ nói ra những điều họ biết chắc là dối trá mà vẫn cứ nói, và vì biết đó là sự dối trá nên không khi nào họ kiểm chứng trước khi nói. Do đó, một khi bị đưa ra tòa “đạo quân nón cối” thường phải lãnh đủ vì đối phương có thể chứng minh “ác ý hiển nhiên” của họ một cách dễ dàng. Cứ xem Luật sư Rhodes quây các bị đơn như đã nói trên, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.

Vụ án này cũng cho thấy nón cối đã được xử dụng để hạ nhau trong việc tranh chấp giữa các phe nhóm trong Cộng Đồng Thurston trong nhiều năm qua. Đây cũng là tình trạng đã xẩy ra tại các cộng đồng người Việt khác như ở San José, Orange County, Los Angeles, Houston, Atlanta, v.v. Sau nón cối Việt Cộng là nón cối Việt Tân!

NHỮNG CHUYỆN ĐÁNG BUỒN

Vụ một số thành viên trong Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng bị tòa Thurston phạt $310.000 là vụ thứ ba toà án Mỹ đã giáng những đòn chí tử xuống “đoàn quân nói cối”. Hai vụ trước đã xẩy ra tại Denver, Colorado và Minnesota.

1.- Nón cối từ cửa Phật

Hai tờ báo ở Denver, Colorado, là tờ “Rocky Mountain News” ngày 6.9.2003 và tờ “The Denver Post” ngày 7.9.2003 đã đề cập đến một bán án mà những kẻ chuyên bán nói cối trong cộng đồng người Việt không thể không biết đến. Dưới đầu đề “Chị em thắng một vụ kiện chống lại nhà chùa” (Sisters win suit against temple) tờ “Rocky Mountain News” viết:

“Một gia đình Việt Nam bị chụp mũ cộng sản sau khi họ tố cáo một nhà sư ở Denver đã có hành vi tình dục bất chánh, đã thắng gần 5 triệu đô la hôm thứ sáu qua một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng.

“Bản án đã kết thúc một vụ tai tiếng làm chia rẽ cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại Denver trong 5 năm qua.

“Hai chị em Hồ Thị Thu và Hồ Thi Thi, và người cha là Hồ Ngộ, nói rằng Tu Viện Phật Giáo Việt Nam tại Colorado và người tăng sĩ trụ trì, Lê Kim Cương, đã phát động một chiến dịch triệt hạ uy tín gia đình của họ sau khi hai chị em tố cáo nhà sư tấn công tình dục họ là những người đang vị thành niên.

“Sau bốn tuần xét xử, một bồi thẩm đoàn thuộc Tòa Quận Hạt Denver đã bắt Ban Quản Trị chùa Như Lai và nhà sư Lê Kim Cương phải bồi thường thiệt hại cho họ $4.800.000 về sự mạ lỵ phỉ báng, có hành động xâm phạm thô bạo và tác trách. Bồi thẩm đoàn cũng xác nhận nhà sư Lê Kim Cương có phạm tội bạo hành tình dục (sexual battery)”

Gia Đình của ông Hồ Ngộ đã khóc và ôm lấy bồi thẩm đoàn sau khi bản án được tuyên đọc. Cô Hồ Thị Thu, lúc đó đã 29 tuổi, nói với ký giả tờ Rocky Mountain News: “Tôi cảm thấy nhẹ nhàng sự việc đã kết thúc và cảm thấy vui sướng là sự thật đã được phơi bày.”

2.- Cũng phát xuất từ lá cờ vàng

Tờ Minneapolis dBusinessNews và hầu hết các báo ở Minnesota ngày thứ ba 23.3.2006, đều đăng một bản tin dưới đầu đề như sau: “Một người 70 tuổi đã được tòa quyết định ban cho 659.000 đô (thật sự là 693.000 đô) trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng ở St. Paul”.

Sau đó, bài báo cho biết:

“Một cựu quân nhân Miền Nam Việt Nam, một người đã bị tù hơn hai năm sau chiến tranh Việt Nam và sau đó được Tổng Thống George W. Bush chỉ định vào Hội Giáo Dục Việt Nam tại St, Paul (St. Paul's Vietnamese Educational Foundation - VEF) đã thắng 659.000 đô (thật sự là 693.000 đô) trong một vụ kiện về mạ lỵ phỉ báng chống lại 7 bị đơn đã bị bồi thẩm đoàn đồng thanh xác nhận đã gây thiệt hại cho cơ sở thương mại và danh tiếng của ông ta. Tuấn J. Phạm, 70 tuổi, vợ ông ta là Mai Vũ và chợ Capital Market của họ ở đường University, đã thắng trong bản án hôm thứ tư ngày 22.3.2006, trong một cuộc chiến đầy thù hận đã gây chia rẻ trong cộng đồng người Việt tại Twin City và đã được tranh luận sôi nổi trên các chương trình phát thanh của người Việt trên toàn quốc.”

Vụ này do Tòa Liên Bang ở Ramsey County (Ramsey County Second Judicial District Court) ở Minnesota thụ lý và xét xử.

Cho đến khi phiên xử bắt đầu vào sáng thứ hai ngày 20.3.2006, nhiều bị đơn vẫn tin tưởng rằng “chính nghĩa tự do và lá cờ vàng ba sọc đỏ sẽ thắng”, Vì trong 18 tội phạm được gán cho ông Phạm Ngọc Tuận, có tội phạm đã ra lệnh hạ cờ vàng ba sọc đỏ. Nhưng qua các cuộc thẩm vấn tại phiên tòa, họ không nghe nói gì đến biểu tượng cờ vàng ba sọc đỏ mà chỉ được yêu cầu chứng minh ông Phạm Ngọc Tuận là tay sai Cộng Sản và đã vi phạm 18 tội đã được họ liệt kê. Không ai chứng minh được gì hết, kể cả chứng minh ông Tuận đã ra lệnh hạ cờ vàng, nên tòa đã thuyên phạt như trên.

CỜ VÀNG VÀ ĐẠO QUÂN NÓI CỐI

Ngày 2.2.2009, Hội Đồng Thành Phố Santa Ana, một thành phố lớn nhất tại Orange County, California, đã đưa ra nghị quyết như sau: “Chúng ta phải công nhận lá Cờ Vàng là biểu tượng của cộng đồng Việt Nam. Đây là một biểu tượng của dân chủ.” Rất nhiều hội đồng thành phố tại những nơi có đông cử tri người Mỹ gốc Việt đi bầu cũng đã làm như vậy.

Chúng ta nhớ lại, ngày 5.8.2006, Thống Đốc Arnold Schwarzenegger của tiểu bang California, đã đưa ra quyết định như sau: "Kể từ nay lá cờ (Vàng Ba Sọc Đỏ) được phép treo trên tất cả các cơ sơ của tiểu bang khi có các sinh hoạt của cộng đồng người Việt".

Tuy nhiên, nhiều người Việt tỵ nạn đã không phân biệt được biểu tượng với mục tiêu. Mục tiêu chính mà chúng ta đang nhắm tới là liên kết mọi người và mọi phe nhóm, không phân biệt biểu tượng, để giải phóng đất nước khỏi áp bức và nghèo đói. Chúng ta cũng không thể đem biểu tượng của chúng ta áp đặt lên trên những người hay phe nhóm không công nhận hay coi trọng nó. Đó là nguyên tắc dân chủ mà chúng ta đang đòi hỏi cộng sản phải tuân theo.

Rất tiếc “đạo quân nón cối” thường dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm nón cối để hạ nhau, nhất là gây ra sự ngăn cách giữa những người đầu tranh từ phiá bên kia với nhũng người đấu tranh ở hải ngoại, gây khó khăn cho những nỗ lực liên kết để tạo sức mạnh đầu tranh.

Có thể nói sự quậy phá của “đạo quân nón cối” đã vô hiệu hoá hay phá vỡ nhiều nỗ lực chống cộng ở hải ngoại gấp trăm lần Nghị Quyết 36 của đảng CSVN. Nó cũng đã phá vỡ nhiều sinh hoạt cộng đồng. Chỉ có tòa án Mỹ mới ngăn chận được “đạo quân nón cối”. Nhưng đạo quân này chỉ biến đi khi thế hệ di dân đầu tiên của chúng ta qua đi. Đó là một điều bất hạnh cho dân tộc.

Lữ Giang

(2.6.2009)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chữ Nhẫn


Có tích xưa: Ông Quách-Tử-Nghi, đời nhà Ðường khi còn nhỏ đang đi học, một hôm ông xem kinh Phật thấy câu "Hắc phong xuy châu phiêu nhập chi khổ hải". Nghĩa là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào trong biển khổ. Ông không hiểu ý câu ấy ra sao, bèn đến hỏi một Hòa-Thượng, vị Hòa-Thượng thấy hỏi như vậy, thì thịnh nộ mắng ông Quách-Tử-Nghi rằng mầy còn con nít biết gì mà dám hỏi những câu đó. Ông Quách-Tử-Nghi thấy vị Hòa-Thượng trả lời như vậy thì nổi giận hầm-hầm tím mặt. Lúc ấy vị Hòa-Thượng bèn ung dung day lại cười mà cắt nghĩa cho ông Quách-Tử-Nghi biết rằng: Sự thịnh nộ của công-tử từ nãy đến giờ tức là luồng gió đen thổi chiếc thuyền trôi vào biển khổ đó....

Ông Quách-Tử-Nghi hồi tâm tỉnh ngộ, bèn chấp tay tạ ơn vị Hòa-Thượng, đã dùng một cách gián-tiếp mà chỉ giáo cho mình. Ôi! Ở đời biết bao nhiêu luồng gió đen, hằng ngày lẩn-quẩn xung quanh mình của chúng ta, nếu chúng ta không hết sức lấy tấm lòng kiên-nhẫn ra chống chỏi, thì cơ hồ thân thể của chúng ta như một chiếc thuyền nhỏ kia, có ngày chìm đắm vào trong bể khổ.

Trong Kinh Hoa-Nghiêm có câu rằng: "Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai". Một phen nư giận nổi lên thì muôn ngàn nghiệt chướng nảy sanh. Trong các kinh sách của Phật, Tiên, Thánh-Hiền hằng ngày dạy nhơn-sanh chữ nhẫn làm đầu, mà con người mơ-màng chưa tỉnh ngộ.

Chúng ta nhận xét qua một trận giông tố, ắt phải có cây ngã, nhà sập, thuyền tàu chìm đắm. Còn người trải qua những cơn thịnh nộ rồi, thường có xãy ra lắm điều tai ương hoạn-họa, khi biết tự-tỉnh ăn-năn thì việc đã muộn rồi.

Vậy mà có nhiều người trải qua biết bao nhiêu lần giông tố, mà cũng không biết kiên-nhẫn chút nào, thật cũng đáng buồn cho đó ..







Hẳn với mỗi cách thể hiện, mỗi cách cảm nhận khác nhau về "Nhẫn." Vào năm 2003, một lần ngồi đợi máy bay, tôi có được một bác cao niên, có rất nhiều năm trên thị trường tài chính quốc tế, giảng giải cho về chữ "Nhẫn." Đại ý, "nhẫn" không phải là chấp nhận thực tại. Đó là sẵn sàng đương đầu, và âm thầm chuẩn bị để vượt qua khó khăn, thách thức, để rồi lại tiếp tục "Nhẫn", lại tiếp tục vượt qua thử thách lớn hơn. Hình ảnh minh họa là những lớp sóng trên đại dương, không ngừng nghỉ, cái sau tiếp nối cái trước, ngọn sóng sau cao hơn và mạnh mẽ hơn ngọn sóng trước..
.
Nhẫn để yêu thương: Gắn kết đời đời
Nhẫn để tìm đường lo toan: An tâm bình sinh
Nhẫn để vẹn toàn: Viên mãn công thành
Nhẫn để tránh tàn sát nhau: Dĩ hoà vi quý

Theo Saga

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Nửa Thế Kỷ Nhạc Sến
Nói đến 'Nhạc sến' là nói đến sự hôn phối của 'sến' với 'âm nhạc' mà ra dòng Nhạc sến. Âm nhạc thì ai cũng đã biết đến món ăn tinh thần có từ ngàn đời, không thể thiếu mà dân tộc nào trên thế giới cũng có. Nhưng 'sến' từ đâu đến và đi về đâu? Cuộc hôn phối ngoạn mục giữa 'sến' với âm nhạc Việt Nam thế nào?

Sến

Từ 'sến' có người cho rằng xuất xứ và biến thể từ chữ 'Ma-ri-sến', một ngẫu hứng của giới báo chí ghép chữ 'Marie' với chữ 'sến' để câu khách cho những bài viết giật gân, những xì-căng-đan vào thập niên 60 ở Sài Gòn. Cũng có giả thuyết cho rằng chữ 'sến' bắt nguồn từ chữ 'sen' để chỉ người nhà quê, quen với ruộng đồng nhưng chiến tranh hay hoàn cảnh gia đình khó khăn bởi chiến tranh đã phải rời bỏ ruộng vườn mà trôi dạt lên thành thị kiếm sống bằng những công việc hạ tiện bởi trình độ hiểu biết khiêm nhường, và thái độ lẫn hành vi quê kệch. “ Sen” thường làm việc nhà cho những gia đình khá giả ở thành phố hay cửa hàng. Từ đó, thành thị xuất hiện một tầng lớp nông dân bị chiến tranh xô đẩy ra khỏi ruộng vườn, trôi dạt vào cuộc sống thị thành ngoài ý muốn.

Để tồn tại, họ tiếp xúc với cuộc sống thị thành, tiếp nhận 'văn hoá tây phương' du nhập ồ ạt vào Việt Nam theo gót chân những đoàn quân viễn chinh và văn hoá tây phương tràn vào Việt Nam nói chung, và Sài Gòn nói riêng trong thập niên 60. Sự tiếp thu văn hoá nước ngoài theo hiểu biết, trình độ kiến thức hạn chế và hoàn cảnh khó khăn của người nông dân miền quê vốn dĩ chất phác thật thà đã tạo ra những hình ảnh dở khóc dở cười nơi thành thị sa hoa nhưng cũng đầy phức tạp. Ví như cô sen thấy cô chủ quần này áo nọ thì bẩm sinh thích làm đẹp của phái nữ trỗi dậy! Thấy cô chủ đi giày cao gót , cô sen cũng tậu một đôi để dành cho dịp về quê ăn tết, thăm gia đình. Thấy cô chủ son phấn thì cô 'Thắm' cũng phấn son... Nói chung là bắt chước người thành thị cho ra vẻ thị thành. Nhưng thu nhập kém nên phải xài loại rẻ tiền cùng với kiến thức hạn chế về thẩm mỹ trong trang phục, nghệ thuật làm đẹp từ (bằng) mỹ phẩm đã biến sự diệu hiền, dễ thương bản chất của cô gái quê nói chung thành những hình ảnh không tỉnh không thành mà sự kết hợp không hài hoà đã để lại ấn tượng không tốt đẹp mấy trong ánh mắt người dân thị thành. Về giao tiếp xã hội cũng không khá hơn, thấy cô chủ ăn nói văn minh là thỉnh thoảng chêm vô tiếng Việt một câu tiếng Pháp, tiếng Anh, hay thơ phú, triết lý phương tây thì cô sen cũng ráng nhớ một câu trong tuồng cải lương nào đó, một lời nhạc hóm hỉnh nào đó để diễn tả ý mình cho nó ‘cao lên ngang tầm thời đại’. (Anh tài xế của ông bà chủ hỏi chị sen hùng cứ dưới nhà bếp: 'Sao không thấy hồi âm?...' lá thơ anh tỏ tình với chị thì chị trả lời cũng bằng âm nhạc cho nó du dương... 'thơ gởi không tốn tiền, hồi âm làm sao thấy!' Họ đã thuộc nằm lòng lời nhạc: 'Sao không thấy hồi âm, thơ gởi đi mấy lần, hồi âm sao không thấy...' của Châu Kỳ. Bản nhạc nói về sự mong tin trong tình yêu đôi lứa, với điệu Bolero nức nở lòng người. Họ không hề có ý xúc phạm, coi thường hay chế diễu âm nhạc hoặc cải lương (là những thứ họ rất thích) Nhưng ở đây, sự vận dụng nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, vào đời sống ở trình độ 'tài xế-cô sen' đã tạo ra những dị biệt trong mắt, bên tai người sành điệu.

Sự hiện diện của tầng lớp lao động này ngày càng đông nơi phố thị theo chiến tranh leo thang, theo đà phát triển hội nhập với văn minh thế giới của thành thị mà họ đã bất đắc dĩ có mặt. Nói một cách khác là một tầng lớp mới đã xuất hiện trong nhịp điệu cuộc sống ở thành thị đã thay đổi nhiều so với thập niên 50 - khi miền Nam thanh bình, cơm no áo ấm trong những năm ngắn ngủi của nền Đệ Nhất Cộng Hoà mà âm nhạc Lam Phương đã ghi lại 'Khúc ca ngày mùa', 'Trăng thanh bình'... Họ bị hạn chế kiến thức và thu nhập so với người thị thành nhưng đã là con người thì ai cũng có nhu cầu về mọi mặt như nhau. Trong đó, nhu cầu về âm nhạc và tình yêu đôi lứa đã làm hao khá nhiều giấy mực của nhạc - văn sĩ thời đó.

'Sến' hội nhập vô đời sống thành thị, ở tầng lớp nghèo. Nhưng không dừng ở đó mà leo thang đến giới cao hơn, những người ở hoàn cảnh khác hơn, khá hơn trong xã hội nhưng họ lại có sở thích ăn mặc cùng ăn nói như con ở (cô sen); nên người ngang hàng biểu thị sự coi thường bằng cách gọi họ là con sen thì ngại (không đúng) vì họ chẳng đi ở cho ai nên gọi trại đi là 'sến' để ngầm nói người ấy không đi làm công việc hạ tiện nhưng ăn nói như người hạ tiện. Một ca sĩ chẳng hạn, ăn mặc diêm dúa hơn những ca sĩ bình thường khác, sẽ được chấp nhận thì lắm người bắt chước và đương sự lên ngôi thần tượng về thời trang, y phục. Ngược lại, mang tiếng...'sến'. Ý ngầm bảo cô ca sĩ đó ăn mặc diêm dúa như con ở. Một ví dụ khác: Người bạn trai tỏ tình với cô gái bằng cách trao một bó hoa kiểu tây phương thì không có gì để nói nhưng anh chàng ‘đến hẹn lại lên’ với mái tóc bóng mượt - ruồi đậu cũng té, tóc mai quéo quéo vô lỗ tai, áo hoa hoè hoa sói, nhận thêm cái răng vàng để khi cười le lói hơn đời thì ngoài cô Ma-ri-sến, chẳng cô gái nào muốn nhận hoa, muốn đi dạo phố, coi ciné với cậu hai lúa.

Còn nhiều thí dụ, ta thấy thoạt tiên từ 'sến' chỉ là danh từ chỉ một thành phần xã hội, cụ thể là tầng lớp đi giúp việc ở thành thị. Tại sao không gọi thẳng là đám con sen, phu xe cho tiện việc vì từ 'sen' có trong tự điển Việt Nam. Có lẽ người Việt quen thói ăn nói vòng vo, bắt người nghe suy nghĩ... mới là người sành điệu, hiểu biết! Nên “sen' nói trại đi thành 'sến', lâu dần thành quen miệng và phổ biến trong xã hội. Ngôn ngữ thời thượng có dùng một từ ngữ khác, mà thỉnh thoảng ta gặp lại trong những tác phẩm văn học cu,õ là 'Liên tử' để chỉ người giúp việc trong nhà. Nhưng từ ngữ này không phổ biến nên chết theo quy luật đào thải tự nhiên của ngôn ngữ trong xã hội.

Đặc biệt của 'sến' là người sến không mặc cảm về sự khác thường của mình như cô tiểu thư thuộc gia đình danh giá nhưng đã khánh tận, phải diêm dúa trong trang phục lỗi thời, giao tiếp hạ lưu để sống còn sẽ khép nép nơi đông người vì sợ người quen cũ trong giới thượng lưu nhận diện thì quê. Khác xa với cô gái nhà quê lên tỉnh thành với đôi guốc mộc, chiếc quần đen, áo bà ba, cái nón lá, ngữ âm quê mùa... 'coon cá gô chong gổ nhải gồ gồ, kiu gột gột”= “ con cá rô trong rổ nhảy rồ rồ, kêu rột rột.' Bỗng một hôm, cô sen về thăm nhà dưới quê trong bộ cánh mới với quần ống loa, áo sơ mi cao cổ như cao bồi Mỹ, giày cao gót lêu khêu trên đường làng, mặt phấn son tri trét, người sực nức dầu thơm tân thời thay cho mùi chanh, mùi bưởi mà cô thường dùng khi xưa. Tiếng hỏi câu chào người quen cũ cũng kiểu cách hơn xưa vì nói năng lắm chữ mù mờ tối nghĩa... , ai thấy chướng mắt mặc ai. Riêng cô rất tự hào về sự 'tỉnh hoá' của mình. Sao lại có thể tự hào về sự diêm dúa trang phục, lai căng ngôn ngữ... Đó là nhận xét của giáo sư xã hội học, khoa học nhân văn. Cô sen chỉ thấy mình hơn bạn bè trang lứa trong xóm cũ, đã là vui rồi. Không tự hào sao được. (Chuyến này về quê, thể nào chả có vài chị em trong xóm nhờ mình dắt lên thành để có cơ hội đổi thay như mình.) Nửa thế kỷ sau, người dân quê không còn chạy giặc súng đạn thì chạy giặc đói nghèo. Lại trỗi lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn còn thê thảm bội phần.

Trong hoàn cảnh xã hội, đất nước có 90% dân số làm nghề nông. Bỗng chiến tranh lan tràn và ngày càng khốc liệt đã xô đẩy những phận đời nông dân lên thành thị làm trò cười cho thiên hạ trong sự rẻ khinh từ khi chữ 'sến' với chức năng danh từ, chỉ một thành phần xã hội đã bị miệng đời lợi dụng dùng chữ 'sến' để miệt thị, khinh khi người khác thì vô hình chung từ ngữ 'sến' đã bị biến thành tĩnh từ miệt thị, chỉ tính cách thấp kém. Dù con người bị xã hội xếp vào thành phần 'sến', mà nguyên gốc là 'sen', không hề đáng khinh như những kẻ rởm đời, có địa vị trong xã hội không chừng! Những người trưởng giả học làm sang thì xã hội nào, thời nào cũng có. Những người thiếu căn bản ngữ pháp tiếng Việt, xài từ ngữ tùy tiện làm cho tiếng Việt trở nên tối nghĩa; sự nhập nhằng danh từ và tĩnh từ ở ngôn ngữ nói trong nước ngày càng phổ biến sau 75.

Trở lại vấn đề, Chúng ta đi mang theo quê hương - có 'sến' theo cùng! Ra hải ngoại, 'sến' vẫn sống hùng sống mạnh ở chợ, hãng xưởng... Lãng mạn không đúng nơi thành lãng nhách, bị gọi là... sến. Tóm lại, sến hay không là chuyện (việc) xảy ra có phù hợp với thời gian, không gian thích hợp cho chuyện (việc) hay không. Sến không mang ý nghĩa rẻ khinh, như người ta vẫn thường nghĩ về nó. Ở môi trường, không gian, thời nào, con người ứng xử tương hợp thì không 'sến'. Trong một vài trường hợp đặc biệt, 'sến' bước ra khỏi một cá nhân. Ví dụ, mọi người đi đám ma đều mặc đồ đen, nhưng lại có một vài người mặc áo đỏ thì bị số đông coi là sến. Không ai quan tâm tìm hiểu đến thiểu số áo đỏ muốn có một kỷ niệm cuối cùng với người quá vãng : vì họ đã cùng người quá vãng mặc áo đỏ trong một dịp đặc biệt nào đó mà bây giờ nhóm áo đỏ của họ vừa mất đi một người bạn. Họ mặc áo đỏ để tiễn đưa người bạn trong nhóm áo đỏ, lần cuối. Tự thân những cái áo màu đỏ không làm cho không khí tang lễ kém phần trang nghiêm, thậm chí mang nhiều ấn tượng về kỷ niệm nhưng chính sự miệt thị thiếu suy xét của đám đông làm cho tang lễ ồn ào.

Xét cho cùng, 'sến' là sản phẩm đặc biệt đã đượïc đẻ ra từ tác dụng trộn lẫn xã hội, từ nông thôn lên đến thành thị, thành từ ngữ chỉ định một tầng lớp người lao động.

Nhạc sến

Với những trình bày ở trên, tóm lại “ sến” là một tầng lớp ra đời trong xã hội chiến tranh leo thang. Sự hình thành giai tầng mới trong xã hội luôn kèm theo những đóng góp và nhu cầu hưởng thụ. Nhu cầu về âm nhạc của thành phần lao động ngày càng lớn trong xã hội phát triển càng đòi hỏi tiếng hát lời ca phù hợp: 'Nắng có hồng bằng đôi môi em, mưa có buồn bằng đôi mắt em. Vai em gầy guộc nhỏ. Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh...TCS', lời nhạc xa vời, trừu tượng, khó hiểu như thế này thì làm sao đáp ứng được tâm hồn mộc mạc, đơn sơ của người dân quê trôi dạt lên thành. Người lao động không 'cảm' nổi 'mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao....TCS' Với lối đảo ngữ bí nhiệm trong ca từ của nhạc Trịnh thì người bình dân chào thua. Trái tim đơn sơ nhưng giàu tình tự quê hương và tình người mộc mạc, người nhà quê chỉ tiếp thu những ngôn từ thường dùng, thường ngày trong đời sống tay làm hàm nhai của họ. Những tâm hồn đơn sơ cũng không độc ác được như '... mưa bên chồng có làm em khóc, có làm em nhớ những khi mình mặn nồng... VTA' Dòng nhạc này không thể thuận nhĩ người bình dân, vì cô gánh nước mướn với anh xích lô, hay với anh chạy xe ba gác thấy không thực tế. Họ chỉ hiểu được sự đơn giản như chuyện kể, kể có vần điệu như lục bát, ca dao và ăn khớp với điệu Bolero. Là âm nhạc.

Những người hiền lương, tâm tư đơn giản, tâm hồn chất phác thật thà, họ có đầy đủ những rung cảm trước tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương. Họ thích được nghe, được hát những giai điệu âm thanh, ý nghĩa lời nhạc sát thực với đời mình hơn. 'Thức trọn đêm nay để nhớ thương em, anh nghe tình yêu nhắc nhở êm đềm - nhớ từng nụ cười ánh mắt, tóc em thơm giấc ngủ diệu hiền...'; ' ước gì mình đừng ngăn cách, ước gì nhà mình chung vách, hai đứa mình thức trắng đêm nay...' Người con gái trong tình yêu không trọn vẹn này cũng đau khổ lắm chứ, biết bao kỷ niệm rã rời về tình yêu cũ nhưng không ủy mị, ngoại tình tư tưởng đến khóc thầm như TTKH 'Tôi vẫn đi bên cạnh một người/ Ái ân nhạt nhẽo của chồng tôi/ Mà từng thu chết từng thu chết/ Vẫn thấy trong tim một bóng người.' Cô nhà quê thành thật tỏ bày hơn 'tại anh đó nên duyên mình dở dang, em nào mộng mơ quyền quý cao sang...' Hai nỗi đau dang dở của hai thành phần xã hội cùng dở dang chuyện tình như nhau, nhưng cách thế nào nhân bản hơn? (Xin nhường lời cho những nhà phê bình âm nhạc, nghệ thuật). Trong phạm vi bài viết nhỏ này chỉ đơn phương diễn tả từ cảm nghĩ cá nhân người viết. Chắc không cần màu mè như những nhà ‘trí ngủ’, không nghe không phải là không thích mà sợ người khác nghe mình nghêu ngao một lời nhạc sến thì bị chê bai nên a dua theo những người vọng ngoại, nghe nhạc cổ điển tây phương của Mozart, Beethoven. Đọc 'Cuốn theo chiều gió - Gone with the wind'; 'Doctor Zhivago' để thể hiện ta đây! Thôi thì thời thượng của những chàng tóc dài, quần ống loa. Đối tác của họ là những nường váy ngắn, tóc tém... điên loạn theo phong trào hippy với âm nhạc ngoại quốc Francois Hardy, Sylvie, Vartan, Johny Halliday, Christophe, Art Sulivan... Nhạc do lính Mỹ đưa đến với The Beattle, Lobo, The Three Dogsnight, Bee Gees... Thế hệ đàn anh đàn chị, có bao nhiêu phần trăm thực sự đủ trình độ để cảm thụ văn hoá tây phương qua văn chương, âm nhạc? Bao nhiêu phần trăm vịt nghe sấm, cóc ngồi đáy giếng nhưng không dám thoát ra khỏi phong trào, xu thế thời đại mình cũng chỉ vì sợ mang tiếng 'sến'.

Trở lại với Nhạc dân tộc thì những nhạc sĩ bất tử như Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn, Từ công Phụng đã có những đóng góp không thể chối cãi cho âm nhạc Việt Nam cận đại nhưng ở dòng nhạc thính phòng, thế giới âm thanh, giai điệu trưởng giả trong âm nhạc nói chung. 'Sao mắt nhung không nuối tiếc khát khao đợi chờ.. .NTM'. Đôi khi bí nhiệm triết học mang màu sắc tôn giáo như 'Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô; với mặt trời lẻ loi... TCS'. Thì cũng có những kẻ 'Ôi, lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ bước chân giang hồ. Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia bến bờ, đời người như gió qua...' cảm thụ được.

Với những nhạc sĩ ‘chuyên trị nhạc sến’ như Trúc Phương, Mạnh Phát, Duy Khánh, Châu Kỳ, Lam Phương... Họ phải nói là các tiền bối đã kết hợp thành công tân nhạc với giai điệu ngũ cung của đàn tranh, độc huyền cầm. (Nói theo Trúc Hồ là bác Bằng (Anh Bằng) hay dùng quãng sáu của vọng cổ để viết tân nhạc). Từ đó, âm nhạc Việt Nam cận đại có một dòng nhạc phong phú, giàu chất quê hương, tình tự dân tộc và tình cảm lứa đôi mà từ bến xe ra cầu đò đều nghe được. Nếu là con cháu miền Nam thì thể nào trong sâu xa tâm hồn chả lắng đọng một câu hò, khúc hát, câu ca dao đậm đà phong thổ... 'Từ bên này sông Tiền, qua bên kia sông Hậu, mang theo cây độc huyền, với điệu Lục Vân Tiên...' Bây giờ biền biệt chân trời góc bể, 'Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ trông về quê mẹ ruột đau chín chiều...' nhớ thuở nào còn rù rì với ngoại xấp nhỏ... 'Má ơi, con lấy thợ bào/ khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng sâu'. Chê anh bác sĩ cù lần, thầy cãi ba đía, sĩ phu ưa hit and run... Sợ 'Gió đưa cây cải về trời/ rau răm ở lại chịu lời đắng cay' Người thiếu nữ của ba mươi năm trước, nhìn vô nhà thấy ông thợ mộc già ngồi ho khụ khụ... con cháu đầy nhà, sui gia đầy ải. Mở máy nghe mấy câu nhạc mùi cũng đúng tâm trạng lắm chớ! Nhạc sến vẫn còn tác dụng ở hải ngoại chứ sao không!

Người Nam phần dễ cảm nhận tình tự quê hương, tiếng lòng người sáng tác trong Nhạc sến hơn, vì chân chất như chính lòng mình. Xét về nghệ thuật trong Nhạc sến cũng không phải là dễ, vì triết lý bình dân và tính nghệ thuật dân gian qua Nhạc sến đã trình bày đầy đủ tâm thức phức tạp của giai điệu miền Nam - từ lòng người đôn hậu đến phong thổ hữu tình. Nghe Dạ Cổ Hoài Lang với tiếng hát Hương Lan thì có thua gì nhạc giao hưởng phương tây mà Mozart, Chopin đã để lại cho đời. Nghe triết lý trong Nhạc sến mà nghĩ kỹ thì sến chỗ nào? Nhạc sến hay mình sến? 'Đường thương yêu (đau) đầy ải nhân gian, ai chưa qua chưa phải là người. Trong thói đời, cười ra nước mắt! Xưa trắng tay gọi nhau bằng hữu, giờ giàu sang quên kẻ tâm giao...' Có thể tóm lại là nội dung câu 'Giàu đổi bạn, sang đổi vợ' triết lý xã hội đã sống thọ được ngàn năm trong văn chương truyền khẩu thì tính triết lý đâu phải nhỏ. Khoác cho tiền nhân chiếc áo sến, oan thay!

Giai điệu quê hương trong Nhạc sến chẳng thua bất cứ một dòng nhạc quê hương nào trên thế giới.'Chiều nhìn ra đầu ngõ, bâng khuâng lòng tưởng nhớ dáng xinh xinh một người. Được nghỉ dăm ngày phép, hết hai hôm làm quen, em mới cho mình biết tên...'; 'Tôi ở ngoại ô, một căn nhà nhỏ... gần kề cuối xóm, có cô bạn thân sớm hôm lo sách đèn...'. Thơ mộng quá! Hữu tình quá chứ?! Đến 'Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê. Anh làm thơ vu quy, khách qua đường lắng nghe, chuyện tình ta đã ghi...' mang vần điệu dân ca nhuần nhuyễn. Thể loại này trong Nhạc sến Việt Nam nhiều đến không tài nào nhớ hết.'Một bước xa rời muôn kiếp ly tan, một cánh thiệp hồng khiến người sang ngang. - Mười hai bến nước thênh thang, từ nay đôi nẻo quan san - Khóc cho đời bạc trắng lửa hồng...' Vần điệu dễ dàng như thơ lục bát, người Việt nào cũng có thể làm thơ lục bát, nhưng lục bát hay thì hiếm lắm! Nhà thơ 'Bất tri tam bách dư niên hậu/ thiên hạ hà nhân khấp Tố Như' để lại tác phẩm 'Kiều' với nhiều câu lục bát trứ danh, trở thành thành ngữ trong giao tiếp xã hội 'mày râu nhẫn nhụi áo quần bảnh bao' là biết ngay loại đàn ông trăng hoa, chải chuốt, Sở Khanh; 'Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ' đã đạt tới chân lý của lòng người... Thì người viết Nhạc Sến đậm đà tình tự cũng cống hiến cho đời triết lý khó chối cãi... 'Đừng trách người ơi! Cuộc sống nổi trôi...' trên dòng vô định của kiếp nhân sinh.

Nhạc sến được viết ra thì phải có những sến nương, sến tử chuyên chở, cõng vác mới tới người nghe được. Vua sến Chế Linh như nhận xét của một sến tử ở địa phương làm rung rinh chai rượu trên bàn tiệc. Ông nói: 'Nghe ông Chế nhả chữ nhỏ trong câu thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ thì thánh cũng không bắt chước được kiểu phát âm tiếng Việt giọng Khờ-Me, nghe khờ căm luôn linh hồn'. Những sến nương cất lên tiếng hát là làm mềm nhũn trái tim người lính mà bài viết sẽ đề cập sau. Tuy nhạc sến không kén người hát người nghe nên đâu cũng có giai điệu mộc mạc, bình dân dễ hiểu của nhạc sến theo chân người bình dân. Mấy người thương binh với xị rượu đế, cây đàn thùng, cặp muỗng ăn hột vịt lộn và một chiều mưa. Họ hát 'Mình, ba đứa hôm nay gặp nhau.. . nâng ly cà phê, ngát mùi hương ngọt ngào. Chiều, thu về gió lạnh hoàng hôn, thấy tâm tư dạt dào...' ,ai nghe mà không nghẹn ngào thì không phải người Việt Nam. Vậy, nhạc sến dở chỗ nào mà chê?! Nhạc Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công sơn, Từ Công Phụng... đi vào lòng người bằng triết lý hiện sinh, đôi khi siêu thực thì nhạc sến đi vào lòng người bằng tâm tình chia sẻ. Với lối kể lể tâm tư về những chuyện tình ngang trái, những quê cũ mịt mờ trong khói lửa chiến tranh; quê hương diệu vợi trong kiếp sống tha phương thì ai không nức nở cõi lòng cũng không phải người Việt Nam luôn.

Sinh ra cùng nhạc sến ở Sài Gòn, sống với nhạc sến từ khung cửa sổ nhà hàng xóm vọng sang cùng hương chanh, hương bưởi, chép nhạc sến vô Lưu bút học trò của bạn bè, nghe nhạc sến trên đường tha phương cầu thực, viết về nhạc sến ở nơi cách xa quê hương nửa trái địa cầu. Phải chăng là chữ 'Duyên': 'Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ'. Nghe Tuấn Vũ hát như kể lại đời mình thì sao không mủi lòng xa nhà khi gió xuân lầy bẩy chồi non... 'Khi tôi sinh ra tôi đã mang kiếp con nhà nghèo - Qua bao nhiêu năm không đổi thay lớn lên vẫn nghèo...' Không làm bác sĩ cũng đoán ra được bệnh 'Viêm màng túi mãn tính' thì đúng quá với Việt kiều viết báo rồi, còn gì mà thắc mắc. Tự trong lòng hát ra thì sao ngăn được...'Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn - Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành...' Nghe an ủi dễ tè! Hổng thèm hát ngu ngơ 'dài tay em mấy thuở mắt xanh xao...'; 'ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau...'

Trong đời sống hàng ngày ở hải ngoại, một người chê nhạc sến nên coi ca nhạc cứ dành cái remote control để pass qua tiết mục của mấy ông Vũ... Vũ... Một người khác cũng dành cái remote control để pass qua mấy bà Khánh... Khánh... Thử hỏi ai đúng ai sai?! Không có đúng sai gì sất trong âm nhạc vì người hát và người nghe phải cùng 'tần số' thì mới 'kết' nhau. Còn một tần số...phi âm nhạc là cứ đè em nào ít vải coi tới cho đáng tiền mua đĩa. Tạo điều kiện cho những trung tâm thiếu đứng đắn, chỉ tuyển lựa ca sĩ không sợ lạnh. Có lẽ vậy nên nhạc sĩ 'Tôi đưa em sang sông-Nhật Ngân' ngồi ở vị trí Ban giám khảo trong cuộc thi tuyển lựa tài năng của trung tâm Thúy Nga năm 2007 đã phát biểu sau khi thí sinh Quỳnh Vi hát. 'Nghe Quỳnh Vi hát thì những ca sĩ đã có tên tuổi phải tự coi lại mình'. Phải chăng, ông nhắc nhở những lực sĩ cơ bắp, những kiều nữ gợi cảm và cả trung tâm hãy trả lại cho sân khấu ca nhạc tính truyền thống của nó để tôn trọng khán giả và chất giọng tương xứng để tôn trọng tác giả bài hát. Phía khán giả cũng đừng đòi hỏi, yêu cầu quá đáng - những Eva nảy lửa đăng đàn để trình bày nhiều thứ khác hơn giọng hát.

Như vậy, 'sến' đã hình thành và phát triển không ngừng nghỉ với mọi lĩnh vực khác của xã hội. Sến đến từ đâu? Đi về đâu? Số phận của 'sến' ở hải ngoại, có gì khác trong nước? 'Sến' đến tự nhiên theo nhịp điệu cuộc sống. Đi về tương lai rạng rỡ hơn lên so với những lãnh vực khác của xã hội vì xã hội văn minh theo đà phát triển khinh xuất của khoa học kỹ thuật thì bỏ lại sau lưng thật nhiều người dở khóc dở cười.

Ra hải ngoại, chỉ tiếc cho bộ môn Cải lương bị xếp đồng hạng với nhạc sến từ trong nước. Cải lương ở hải ngoại không thịnh hành mấy vì khán giả của bộ môn này đã mai một nhiều. Trong một chương trình ca nhạc do bất cứ trung tâm nào thực hiện ở hải ngoại đều có một màn ca cổ để đáp ứng cho những người già. Khi những người già hiện tại không còn nữa, màn vọng vổ hay tân cổ giao duyên trong một chương trình ca nhạc còn không? Thật đáng tiếc khi Cải lương cũng là một bộ môn nghệ thuật như tất cả những bộ môn nghệ thuật khác, việc xây dựng nhân vật trong Cải lương cũng không khác gì nhân vật trong văn học - có đầy đủ tính thời đại từ ngôn ngữ ứng xử tới hành vi, đạo đức... Nói chung, người còn quan niệm coi Cải lương là lạc hậu, không đáng quan tâm vì nay quan niệm ấy là một sai lầm và đang mỗi lúc chiếm tỷ lệ ít dần đi của người thưởng ngoạn bây giơ,ø từ trong nước ra nước ngoài./.

Phan (Trích Your Friendly Internet Cafe)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Không dấu vết
Những buổi sáng ngồi cà phê ở quán quen, đôi khi tôi bị mất cảm giác về thời gian. Như thể mình đang ngồi trong ngày hôm qua, hôm kia.


Quán vẫn cũ, những bức vách đã tróc lở vôi, và rêu bắt đầu ửng lên một màu xanh, như bộ râu quai nón của một chàng trai vừa cạo qua ngày. Người vẫn cũ, từ cô bé phục vụ tóc nâu đang hỏi anh ơi uống gì nhưng có vẻ chẳng chờ đợi câu trả lời vì đã thuộc lòng sở thích của từng người. Anh bán báo dạo không cần hỏi cũng giúi đúng tờ báo vào tay từng người. Chị bán vé số lượn lờ chờ một cái gật đầu. Bà cụ bán bánh phồng nếp đứng nấn ná vô vọng đợi niềm thương nhớ tuổi thơ, thương nhớ quê mùa của một ai trong đám đông này.

Và mấy anh quen quen ngồi kia là công chức làm việc trong những cơ quan đặt trên con đường này, tôi biết tên từng người, biết cả chuyên môn gì, chức vụ gì, dù chưa lần nào chào nhau. Quán nhỏ, nhìn mặt riết rồi quen, không muốn biết cũng biết, không muốn nghe lóm cũng buộc phải nghe. Nhưng sáng nào câu chuyện tình cờ nghe được từ mấy anh cũng xoay quanh chuyện… nhậu bữa qua. Nó ít nhiều xua tan cái không khí đờ đẫn lười nhác trên dáng họ, nhưng dự báo một sự trống rỗng kỳ dị. Họ hỏi nhau tối qua nhậu ở đâu, với ai, mấy giờ về. Đề tài rộng hơn là món ăn tối qua, loại rượu (hoặc bia) tối qua, chuyện phiếm tối qua, cả… vui buồn của những bà vợ tối qua, và cảm giác cơ thể sáng nay khi đã qua giấc say mèm…

Ngồi một mình chờ bạn tới, tôi hay ước phải chi mấy anh đó nói chuyện về một cuốn sách hay, một bài báo hay vừa đọc, một tin nóng vừa phát trên tivi… để tôi kéo ghế qua ngồi hóng hớt, góp chuyện cho đỡ buồn. Tiếc là cuộc gặp tưởng chừng giản dị đó chưa từng xảy ra. Những trang báo lật nhanh trong tiếng muỗng chạm đáy ly leng keng, nhưng vẻ mặt họ không chút gì quan tâm phiên chất vấn ở Quốc hội sáng nay, chiếc máy bay mất tích, trái đất đang nóng dần lên, băng sẽ tan, châu thổ này sắp ngập trong nước biển… Cũng chưa bao giờ tôi nhìn thấy họ cầm cuốn sách trên tay, có thể họ đọc sách ở nhà, hay trong văn phòng, nhưng sáng nay gặp bạn bè thì họ chỉ khoe, hôm qua đánh trận ở Phượng Vĩ, say quá trời, gọi cho ông mà không được. À, trưa qua có thằng bạn dưới huyện lên xách theo mấy con rắn nước, quần nhau tơi bời, ngủ luôn. Câu chuyện cứ cuốn theo vậy vậy vậy vậy. Và tôi buồn mình ên.

Quá nhiều bạn bè, quá nhiều người quen của tôi đã gởi một phần đời vào những tiệc tùng gọi mời giăng giăng trong thành phố. Nhưng chiếu rượu, quán rượu hoặc quá hời hợt hoặc quá bận bịu, nên đã để đời họ trôi đi, không tăm tích.

Những khi ngó tờ lịch chói chang ngày mới, tôi thường tự hỏi, ngày này năm trước, mình ở đâu, làm gì? Bằng cách đó tôi biết đoạn đời đã qua mình sống như thế nào. Nhưng một năm ròng rã, dồn đếm lại thì chỉ vài ba ngày là nỗi nhớ còn níu lại được. Ừa, ngày này năm trước mình ở Trường Sơn, ruột réo sôi ngồi ngắm bướm bay, ước bướm là… gà để chụp một con đốt lửa nướng ăn cho bớt đói. Ngày này năm trước mình đọc trang cuối cùng cuốn Suối nguồn của Ayn Rand. Ngày này năm trước, người bạn viết già đã nói mình nghe bài học về sự kính trọng chữ nghĩa. Ngày này năm trước, mình trồng cây bằng lăng trước sân nhà… Hàng trăm ngày còn lại, tôi đã không có câu trả lời, bởi nó đã tẻ nhạt trôi đi cùng những công việc nhàm chán, những quán xá những la cà…

Nên những khi ngồi quán, tôi nhìn quanh và nghĩ, ngày này năm trước, những người kia làm gì, ở đâu. Từ những chuyện vãn rời rạc vẳng lại, không hiểu sao tôi nghĩ họ có rất ít câu trả lời…

Đành đổ lỗi cho cái không khí buồn tẻ của tỉnh lẻ, cái nhàm chán của đời công chức, cái vồn vã quyến rũ của những quán rượu… đã làm vụn đi, làm phai lạt những người ta.

Nguyễn Ngọc Tư

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Nghiêng
Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng... Thấy dáng còng còng của người già, thấy cả cái vênh váo của những cô gái trẻ, thấy ánh mắt hiền hoà của bác trung niên...

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng. Đã bao giờ bạn thử nhìn mọi thứ như thế chưa? Đôi khi, nhìn nghiêng cũng thú vị ra trò! Cứ thử xem bạn nhé !

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng...

Sẽ thấy những hàng cây thêm dài ra bất tận, sẽ thấy con đường cong queo như một đường chì vẽ vội, sẽ thấy cái cột điện với những dây nối chằng chịt như quấn them vào nhau, và sẽ thấy bờ đê dài bỗng nhiên bé tẹo…

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng...

Những nhạt nhẽo trở nên yên bình, những xa lạ bỗng thành bình thường , và tiếng cười đôi khi lanh lảnh, cũng thật thà hơn những gì cần biết ..

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng…

Thấy ánh mắt đang cụp xuống suy tư, thấy vầng trán loà xoà tóc che vì thức đêm lắm mụn, thấy lỗ mũi hênh hếch xinh xinh đang sụt sịt khóc.

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng…

Thấy dáng còng còng của người già, thấy cả cái vênh váo của những cô gái trẻ, thấy ánh mắt hiền hoà của bác trung niên...

Nhìn cuộc sống theo một góc nghiêng…

Thấy những nỗi buồn của mình va vào nhau sóng sánh, thấy niềm vui cứ dài mãi rồi nhạt nhoà hơn, thấy bình yên như một cây cột điện nằm ngang… Thấy gió vèo qua tai nhưng không táp lên mặt, thấy tóc bay và váy lượn tưng bừng...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Lý Do Nàng Bỏ Nhà "Theo Trai" Bạn sẽ ra sao nếu một ngày nào đó, nàng bỏ bạn để chạy theo một người khác? Liệu có phải lỗi từ phía bạn?

Dưới đây là một số nguyên nhân khiến nàng không còn coi bạn là "một nửa" nữa:

“Chuyện ấy” chưa đủ

Nếu bạn chỉ miệt mài với công việc mà không quan tâm đến nhu cầu về chuyện ái ân của nàng, đến một ngày nào đó, nàng sẽ tự đi tìm ở nơi khác mà không phải là bạn. Nhu cầu quan hệ trong cuộc sống vợ chồng là hết sức quan trọng, bởi vậy vì bất cứ lý do gì thì cuộc sống của hai người cũng không thể thiếu những nụ hôn, những cử chỉ âu yếm và “chuyện ấy”.

Nàng là gái không chung thủy

Khi mọi chuyện êm đẹp thì chẳng có vấn đề gì nhưng khi bạn đương đầu với một số khó khăn trong cuộc sống thì nàng lẳng lặng bỏ đi. Chẳng hạn như gặp khó khăn trong công việc, gia đình có chuyện không may hoặc khủng hoảng tinh thần. Trong trường hợp này, bạn hãy để cho nàng tự rời xa bạn nhé. Vì không sớm thì muộn nàng cũng cao chạy xa bay mà thôi.

Bạn đã từng phản bội

Nếu bạn đã từng bỏ rơi nàng thì hãy đề phòng trường hợp ngược lại cũng có thể xảy ra với bạn. Lúc cơm lành canh ngọt thì chẳng hề gì nhưng khi có mâu thuẫn, những vết thương ngày xưa vẫn còn rỉ máu trong nàng. Bởi vậy, bạn cần lấy lại lòng tin với nàng. Ở đây những lời xin lỗi khó có thể xóa được những gì đã đổ vỡ mà quan trọng là cách mà bạn ứng xử với nàng như thế nào. Hành động bao giờ cũng có ý nghĩa nhiều hơn lời nói mà.

Hai người thiếu sự thân thiện

Bạn có rất nhiều thứ, nhà cửa, xe hơi, địa vị… Nhìn ngoài ai cũng bảo đó là một cặp đôi hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu mối quan hệ giữa bạn và nàng thiếu đi sự thân thiện, gần gũi thì đó là dấu hiệu chẳng lành. Không phải chỉ riêng “chuyện ấy” gắn kết hai người lại với nhau mà còn là cách ứng xử, những cử chỉ âu yếm, cách giao tiếp. Nếu không tìm thấy sự vỗ về, khi cần nàng hoàn toàn có thể đi tìm một chỗ dựa tinh thần khác. Để tăng cường sự bền vững của mối quan hệ, bạn và nàng nên bố trí những khoảnh khắc đẹp bên nhau. Bạn chăm sóc nàng và thỉnh thoảng mang đến cho nàng những điều bất ngờ để mối quan hệ của hai người đỡ nhàm chán.

Nàng không được chú ý

Phụ nữ đảm nhiệm rất nhiều chức năng như vừa làm vợ, vừa làm mẹ, vừa làm người nội trợ… Nhưng khi nàng có cảm giác như mình đóng vai trò là một người ở hơn là người vợ, họ sẽ tủi thân và thấy mình thiệt thòi. Nếu bạn chỉ chăm chú vào công việc và các hoạt động giải trí mà quên mất nàng, rất có thể nàng sẽ đi tìm một nơi khác mà ở đó vai trò của nàng được chú trọng nhiều hơn. Bởi vậy, bạn hãy biết cảm ơn nàng đúng lúc và chia sẻ công việc nhà với nàng khi có thể.

Nàng thiếu tình cảm

Phụ nữ thường rất hay suy nghĩ và tủi thân. Bởi vậy, họ không chỉ cần sự hỗ trợ về mặt thể chất mà còn cả về mặt tinh thần. Khi nàng không còn cảm thấy bạn là chỗ dựa về mặt tinh thần, sự đổ vỡ là điều khó tránh khỏi. Để nàng mãi luôn bên bạn, sự chia sẻ và yêu thương của bạn với nàng là luôn cần thiết. Bởi vậy hãy tìm cách để cùng giao tiếp và tâm sự với nhau khi có thể nhé.

“Chuyện ấy” nhàm chán

Quan hệ tình dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống vợ chồng. Nếu lần nào cũng diễn ra giống nhau và mọi thứ lặp đi lặp lại y như cũ thì đó cũng có thể là nguyên nhân khiến nàng bỏ bạn đấy. Bởi vậy, để “đổi gió” cho chuyện phòng the, bạn hãy tìm hiểu qua sách báo những kiến thức mới trong chuyện ái ân. Bên cạnh đó, hãy dẫn nàng đi xem phim, hãy hôn nàng chẳng vì lý do gì… để thêm gia vị cho cuộc sống hôn nhân.

Nàng từng là kẻ phản bội

Nếu nàng đã từng bỏ bạn, rất có thể nàng sẽ có suy nghĩ "bỏ lần nữa có sao đâu". Ngựa quen đường cũ và nàng lại lao vào chuyện ngoại tình. Lúc này những biện pháp cứng rắn của bạn là hết sức cần thiết.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tuỳ bút: Phở.. và phở gà.

Image
Đĩa rau sống, ớt xanh và chanh hiện nay thường thấy bày ra ăn với Phở.

Image
Tô phở tái nạm nhỏ hiện nay thường thấy

Bút Xuân.
Ngày xưa, đời vua Hùng Vương thứ sáu, nhờ thần hiện lên chỉ dẫn mà hoàng tử thứ mười tám Lang Lèo (tên chữ gọi Tiết Liêu) - mồ côi mẹ - chế tác ra được bánh dày và bánh chưng, tượng trưng trời và đất (trời tròn, đất vuông) dâng lên vua cha và được truyền ngôi. Kể từ đó, bánh chưng bánh dày gắn bó với tộc Việt như bóng với hình xuyên suốt chiều dài bốn nghìn năm lịch sử. Bánh chưng bánh dày chính là một trong những nét đặc trưng và truyền thống của Văn hóa Việt.

Điều ấy chứng tỏ trong việc biến chế thức ăn, người đầu bếp phải đem cả cái tinh thần của mình vào và phải thông minh một chút món ăn mới ngon.
Để tạ lại tâm tình người sáng chế cũng như nấu nướng, thực khách cũng phải dùng cả cái tinh thần của mình mà thưởng thức thì mới cảm nhận hết được mùi vị thơm ngon đặc biệt của mỗi món ngon. Bởi vậy cổ nhân chê những hạng người phàm phu tục tử, chỉ ăn cốt lấy no, lấy xong, chứ tuyệt nhiên không thưởng thức được cái phần đặc biệt, phần sâu sắc của món ngon. “Thực bất tri kì vị” để chỉ những hạng người ấy. Ca dao cũng có câu:

Vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu
Rượu ngon uống vội, chè tầu một hơi!

Phàm thức ăn để nuôi sống con người, bất kể là thức ăn của nước nào, giống người nào đều qui về ba chất liệu chính: bột, thịt và rau. Bột như cơm, bánh, khoai, các thứ đã nghiền thành bột; thịt như bò, gà, heo, trừu, tôm, cá và rau là các thứ hoa quả như cà chua, cà tím, dưa, rau các lọai.

Ngoài bánh chưng bánh dày, hôm nay chúng ta đề cập tới một món ăn độc đáo và truyền thống khác: phở. Vâng, phở. Phở rất giản dị nhưng hội đủ ba chất dinh dưỡng cần thiết vừa nói: bột, thịt và rau.

Làm nền cho tô phở là bánh phở trắng phau từ bột gạo đã xay nhuyễn, đem tráng trên nồi hơi thành ra một thứ bánh mềm mại, không dày quá, không mỏng quá, trước khi ăn đem xắt mỏng ra xong lại cho vào súc trong nước nóng khoảng vài chục giây rồi mới đổ ra tô để bánh được nóng và mềm lúc ăn. Thịt thái để riêng từng thứ: Tái là thịt bò tươi còn rịn máu mầu hồng, thịt tái lấy ở cái thăn (filet) con bò nên rất mềm, rất ngọt. Phụ thêm cho đúng khẩu vị khách ăn là chín, nạm, vè, gầu, gân, sụn, sách...,tất cả rải đều trên mặt tô phở. Hành hoa, hành tây và ngò (mùi) đã xắt nhỏ rắc vào, thêm chút tiêu, rồi dùng muôi lớn chan nước dùng đang sôi liu riu nhưng thật nóng lên thịt và bánh, xong bưng ngay cho khách thưởng thức, để riêng vài lát ớt đỏ và vài miếng chanh cắt xéo.

Khách ăn Nam kỳ thì thêm đĩa giá, trụng nước sôi hay để sống; giống như thói quen khi ăn hủ tiếu. Còn khách Bắc kỳ là một đĩa rau diếp xanh tươi cùng với ngò gai, húng quế, húng lủi hay húng cây để thưởng thức cho tô phở thêm đậm đà. Khách Bắc ngày nay nhiều người cũng thích phở có giá trụng và hành trần. Từ ngày di cư vô Nam năm 1954, giá sống với rau “muốn” (không có ‘g’ đấy cô thư kí), rau ôm khắng khít keo sơn, tưởng không gì gắn bó hơn. Tương đỏ đã có từ lâu lắm, người Tầu gọi là “lạp chí chương” có thể thay cho mấy lát ớt. Từ ba chục năm nay, bát phở lại có thêm tương đen, thứ “hoisin sauce” của người Hoa, có chất ngọt. Tuy nhiên những gia vị này là “nhân tâm tùy sở thích”.. Nước béo cũng vậy. Có người đòi cho được vài miếng mỡ nhừ nổi trên mặt thùng nước phở, thêm vài muỗng nước béo ngậy dội vào vài cọng hành hoa tươi xanh. Có người lại dặn đi dặn lại, “nước trong đấy nhé!” Thực là bá nhân bá tánh, “bá nhân bá khẩu”; nhưng các bác bán phở chuyên ngành bao giờ cũng “rất nhũn như con chi chi”, các bác chiều được “tất tần tật”, chẳng làm ai thất vọng.

Lại có những bác phu xích lô, ba bánh, kiếm đồng bạc khó khăn, coi bữa phở như một đại tiệc: Thế nào bác ta cũng phải thủ vào túi áo một nửa xị đế và một khúc bánh mì. Ực một ngụm rượu, đưa cay bằng gắp bánh phở với chút thịt, phải ăn từ từ để ngẫm nghĩ cái ngon, cái thơm, cái bùi, cái béo. Bẻ miếng bánh mì chấm vào nước phở ăn cho đủ no, vì tiền đâu mà gọi tô nữa. Ăn xong, bác bèn lấy làm vô cùng mãn nguyện, xe lăn bánh ào ào!

Trong ba thứ để làm thành tô phở ngon, thứ nào cũng quan trọng: bánh, thịt và nước dùng.

Nước dùng nấu công phu, rất tốn thời gian. Trước hết là xương bò, gồm xương cổ và xương ống đã cưa nhỏ ra đem tẩy sạch (có tiệm tẩy bằng rượu) sau khi ngâm vài giờ trong nước ấm. Những người sợ mỡ ngày nay không thích dùng xương ống vì xương ống cho chất tủy, nhiều cholesterol. Sau đó cho xương vào thùng phở lớn mà ninh lửa liu riu, sôi nhẹ nhẹ vì nếu lửa lớn sôi sùng sục sẽ làm thùng nước dùng đục ngầu, hỏng nồi nước. Vừa ninh như thế vừa phải vớt bọt kĩ cho trong nước, nêm gia vị và gừng để có mùi phở và muối cho vừa miệng. Có hàng phở nói ,nồi nước dùng ninh phải 10 tiếng mới đủ. Lúc đó, lớp mỡ tự động nổi lên trên mặt nồi nước bao lấy mặt như cái vung làm nước phở sôi liu riu mà vẫn thật nóng, không cẩn thận bỏng lưỡi. Những điều này, người viết học hỏi từ các bác bán phở “thân tín” từ hồi còn để chỏm chứ thực tình chưa được đi bán phở bao giờ!

Thịt và bánh ngon nhưng nước dùng không ngon, phở không ngon. Nước dùng ngon, thịt ngon nhưng bánh nát hay cứng quá, phở không ngon. Nước dùng và bánh ngon nhưng thịt dai nhách, nhạt nhẽo, tô phở cũng không ngon. Tất cả đều ngon nhưng phở nguội ngắt, không ngon. Như vậy, bốn yếu tố vừa kể là quan thiết nhất cho một tô phở ngon, một tô phở có phẩm chất cao.
Ăn phở phải ăn thật nóng, càng nóng càng tốt và chính cái nóng làm tăng thêm mùi vị phở vốn đã nồng nàn. Còn chỗ ngồi để ăn và người cùng ăn phở không quan trọng cho lắm, như Tản Đà tiên sinh bàn về món ăn. Phở không cần phải nhà lầu hai, ba tầng mà một góc bàn với bát đũa sạch sẽ, thơm tho là được. Ăn phở cũng không giống như uống rượu thuốc, nhậu thịt rừng, cứ lai rai ba sợi chén chú chén anh từ trưa đến tối. Phở phải ăn nóng, mỗi người một tô, ăn xong nói chuyện cũng chẳng sao!

Về cách nêm gia vị, lại cũng không thể dùng mì chính ở Bắc, bột ngọt trong Nam đánh lừa vị giác thực khách. Bột ngọt (monosodium glutamate) ăn nhiều hại thần kinh và làm cao máu, vì nó chính là một lọai sodium. Ăn xong tô phở buổi trưa, sau mười phút có thể biết ngay là phở đã nêm nhiều bột ngọt: Hai thái dương giật giật như cao máu, thị giác kém, phía ót và đỉnh đầu nhức nhức, người như say say suốt cả buổi chiều.. Khốn nỗi có những quán ăn, vì muốn được khách đã dùng cả bột ngọt nêm vào nước mắm chấm cho thêm đậm đà! Còn nước phở thì khỏi nói!
Nếu bây giờ có một cuộc thi món ăn đặc trưng của dân tộc trên trường quốc tế, mỗi quốc gia đưa ra một món truyền thống tiêu biểu đắc ý nhất thì riêng Việt Nam ta, Bút Xuân xin đề nghị món phở bò.

Quả vây, phở phổ thông đến nỗi hầu như cả nước không có ai là người chưa ăn phở. Nếu thực sự có nhóm người chưa từng ăn phở bao giờ thì tỉ lệ cũng rất thấp so với nhiều triệu người đã từng ít nhất một lần ăn phở : phở bò hoặc phở gà.

Chỉ có điều, chưa ai xác định được phở xuất hiện ở nước ta từ bao giờ và tại sao lại đặt tên cho nó là phở, một danh từ rất bình dân học vụ? Một vài người nại ra món súp của người Pháp có tên là “pot au feu” (pô-tô-phơ), món thịt bò hầm người Pháp hay dùng. Thời Pháp đô hộ nước ta, dĩ nhiên đã có “pot au feu” và khi người Việt đầu tiên ninh thịt bò theo lối pô-tô-phơ, thử cho bánh tráng vào ăn thấy ngon, liền nhái theo chữ “feu” thêm dấu cho đậm đà mà đọc là phở. Đây chỉ là giả thuyết, không có gì vững chắc.

Mỗi món ăn, theo chiều dài lịch sử của chính nó, là những thử nghiệm các chất liệu qua nhiều người và xuyên suốt nhiều thời gian. Không phải tự nhiên ta có món bún bò Huế thơm ngon, cay se,ø ăn hòai mà không chán như hiện nay. Mì Quảng, hủ tiếu, bún thang, bún ốc, tiết canh vịt v.v...cũng theo trình tự khả tín đó, thứ lâu thứ mau, tất cả đã được nấu, nêm, nếm, so sánh, suy nghĩ rất nhiều, kể cả phải đổ đi hàng lọat để chúng thành những món ăn hợp khẩu vị chúng ta ngày nay, lâu không ăn là nhớ, ăn là ăn hoài không chán, bởi cha mẹ đã cho ăn từ hồi còn nhỏ, những mùi vị ấy đã được bộ óc xếp vào trong bộ nhớ lâu dài (long term memory) sau đó chỉ thóang ngửi thấy ở mũi hay tan trên lưỡi là biết liền đích thị ‘bồ tèo’.

Trường phái ấn tượng và siêu thực phán rằng, phở cũng phải qua những giai đọan “gay go” để hình thành như các món ăn khác: Có thể đầu tiên người ta thử nghiệm “pô-tô-phơ” với bột nghệ, thấy ăn không ngon lắm. Rồi bột quế chi, bột thảo quả, bột riềng, nhiều thứ khác kể cả mắm tôm, mắm ruốc, mắm cáy, mắm rươi... Thử mà! Đâu đã biết thứ gia vị nào, chất liệu nào hợp, thứ nào không?

Thực ra, chẳng cần phải nhái pô-tô-phơ mà chúng ta mới có phở. Quí bạn đọc nghĩ coi, ngày xưa, xa lắc xa lơ, cứ mùa Xuân làng vào đám cúng đình, hội Xuân, cả làng, cả tổng ăn chung với nhau một bữa đại tiệc, khắp lượt đàn ông, đàn bà, con nít nên phải ngả trâu, vật bò mới đủ. Thịt thà lạng ra, lóc ra ăn rồi, thế xương làm gì? Của đâu đổ đi? Thế là mấy tay hỏa đầu quân lấy nồi ba mươi hay những cái vạc thật lớn thường dùng để nấu cơm cho binh sĩ, bỏ xương vào ninh cho thật nhừ, tra nước mắm và muối cho vừa miệng. Thế là có một món canh rất ngon, chan vào cơm, người lớn trẻ nít thưởng thức hết mình.

Tiết Xuân còn lạnh, vài cụ Đông y sĩ lại nảy ra ý kiến là cho thêm ít lát gừng cho ấm bụng. Gừng hồi xưa là một vị thuốc thiên nhiên, dùng nhiều trong dân gian. Đau bụng, đầy bụng dùng gừng; tiêu chảy, lạnh bụng dùng gừng; nhức đầu, sổ mũi dùng gừng; mà cảm gió, kinh phong cho đến say rượu, say thuốc, mỏi lưng, đau khớp cũng dùng gừng giã dập ra chưng với rượu trắng thoa bóp trên thái dương, trên cổ, khắp người đồng thời uống một li nước gừng thật nóng. Có người không ăn được tỏi, riềng hay hành nhưng gừng ai cũng thích và coi là thứ nên thuốc. Xương bò hầm nhừ có mùi vị gừng, chắc không có ai chê. Dần dà, người ta không ăn với cơm nữa mà cho bánh tráng vào thử xem sao. Thấy ngon và lạ hơn ăn với cơm; rồi một cụ đông y sĩ nào đó biết rõ dược tính và mùi vị của hồi hương (cánh hồi hình ngôi sao), liền đề nghị cho ít bột hồi vào món thịt bò hầm mà thành ra món phở ngày nay. Dĩ nhiên các tiểu tiết như tái, chín, gầu v.v...thêm hành ngò, húng quế hoặc ngoài gừng và cánh hồi còn có thảo quả, quế chi v.v...là do những người đi sau thêm thắt, sáng kiến mãi ra cho hoàn bị.

Quả phở là món ăn đặc thù, ngoài Việt tộc không dân tộc nào có.

Về cái sự thử nghiệm món ăn, mới đây Bút Xuân đến thăm vài nhà người quen ở Little Saigon, Cali. thấy cả gia đình đang tíu tít ăn pizza chấm với mắm tôm chanh. Trẻ con, người lớn khen nức khen nở, rằng ngon hơn pizza ăn không nhiều. Gia chủ bảo tôi: “Ông thử miếng coi. Rất ngon! Không chừng ông bắt ghiền đó!”

Còn một gia đình khác lấy pizza cuốn bánh tráng, rau sống, rau thơm, chấm nước mắm chua ngọt hay mắm nêm đã pha. Cũng là thử cả đấy! Hễ ngon, hợp khẩu là cứ thế truyền đi khỏi cần quảng cáo, bởi nguyên tắc của ẩm thực là hợp khẩu vị. Không hợp khẩu vị thì nem công chả phượng, sơn hào hải vị cũng không bằng bát canh bầu nấu với tôm khô chan cơm!
Pizza chấm mắm tôm! Đúng là đông tây gặp nhau tay bắt mặt mừng, nên câu:”Đông là đông, tây là tây. Đông tây không bao giờ gặp nhau” của triết gia Ruyard còn phải xét lại.

Thử nấu rồi nếm, cho nhiều người nếm, ghi nhận lấy cái mùi vị của nó, xong lại nấu thứ khác, lại nếm, lại ghi nhớ. Qui trình này chỉ chấm dứt khi mọi người trong “ban nếm” đồng ý thịt bò hầm cho bánh tráng vào khi nó đã được ninh với gừng tươi và cánh hồi, cho một mùi vị đặc biệt thơm ngon lại ấm bụng không món nào trùng hợp. Sau đó thêm hành, ngò, húng quế, chanh, ớt cho tăng mùi vị. Và sau cùng, thịt không hoàn toàn chín mà có tái, có gầu, vè, sụn, sách, gân.. .ăn ngon hơn, bổ dưỡng hơn và thịt dòn hơn.

Cũng có những tiệm phở tự chế gia vị cho mình gồm tiểu hồi, đại hồi, quế chi, hạt ngò khô, tất cả nghiền nhỏ sau khi đã rang lên rồi mới bỏ vào nồi nước dùng. Lại cũng có loại gia vị chỉ dùng thảo quả (tò ho) mà không dùng cánh hồi. Tất cả những mùi vị hỗn hợp đó thích hợp với một số người là do người thích mùi này, kẻ thích mùi kia, không ai giống ai mà tạo ra. Nhưng mùi nào thì mùi, mùi phở phải thơm và hơi nồng một chút cho người ăn cái hương vị ấm áp lúc ăn bát phở, nhất là ăn về mùa lạnh, phở ấy mới được gọi là ngon.

Thời Pháp thuộc, khi nói đến phở là ai ai cũng nghĩ đến phở bò. Mãi sau này, khi dân Hà nội, Hải phòng và các thành phố tản cư đi những vùng thôn quê, vì không có thịt bò nên lấy gà thay thế mà thành ra món phở gà tự bấy đến nay.

Trong dân gian, người ta cũng thấy những câu tục ngữ, thành ngữ sau đây xuất hiện từ rất lâu đời:“Cái quần cháo lòng, cái áo nước súyt.” Nước súyt là nước luộc thịt hay lòng heo, ám chỉ quần áo tồi tàn.

“Hắn đội cái mũ phở”, cái mũ của anh bán phở. Đó là cái mũ phớt (feutre) cũ đội lụp sụp chỉ trông thấy nửa khuôn mặt, nhiều bác bán phở khi xưa thường đội..“Ông ta sợ quá chạy tóe phở”: chạy trối chết, chạy vắt giò lên cổ.

Ngày còn sinh thời thầy mẹ tôi, khi ở Hải phòng, khi ở Hà nội hay Nam định, thứ quà sáng gia đình tôi hay ăn là phở, bởi thầy tôi rất thích phở, có thể nói là ông ghiền phở. Khi rảnh rỗi, thứ bảy chủ nhật, cả gia đình kéo đến tiệm phở, hoặc ở phố hàng Buồm, phố hàng Cót hoặc ở gần ga hàng Cỏ. Khi không rảnh thì gọi những gánh phở đi qua hoặc mẹ tôi sai chị người làm đem cái liễn sứ có vung đậy đi mua phở về cho thầy tôi và tôi. Không phải gặp bất cứ gánh phở nào cũng mua mà chị người làm đã được dặn kĩ là gánh phở bác Sủng hay gánh phở mũ tây (bác bán phở quanh năm đội cái mũ trắng cũ xì) v.v...

Tôi nhớ lúc nhỏ khi bị bệnh ho cảm chẳng hạn, thầy tôi bảo mẹ tôi:“Đi mua cho nó bát phở thật nóng và nhiều hành, uống vài viên thuốc cảm rồi ăn phở, ngủ một đêm, sáng mai là hết.”
Quả vậy, bát phở nóng ăn tóat mồ hôi, ăn xong đã thấy có vẻ khỏi đến 50%, nhờ mấy viên thuốc hay nhờ phở hay nhờ cả hai? Nhưng lần nào bị cảm, phở cũng giúp tôi khỏe lại rất mau. Bữa nào không mua được phở, mẹ tôi nấu cháo thịt bò cho ăn, bỏ nhiều hành, rồi trùm chăn cho mồ hôi tóat ra. Cũng khỏi. Có khi, trước khi được thưởng thức bát phở, phải trùm chăn, xông cho mồ hôi tóat ra đầm đìa. Nồi nước xông hơi lớn để có hơi nhiều trong có hoa hương nhu, lá sả thơm phức. Nhưng chỉ ba thứ đó, phở hoặc cháo, và nồi nước xông là hiệu nghiệm với cảm mà thôi.

Có những người dùng phở để bồi bổ, sau khi bệnh nặng. Họ nói không có gì tốt bằng xương bò hầm lấy nước, thêm chút thịt tái hay chín, dúm bánh nữa là xong một bữa ăn, vừa bổ dưỡng, vừa ngon miệng lại có thể ăn hòai không chán! Những ông nhà văn, nhà báo -nói láo ăn tiền -thức khuya viết bài đưa tòa sọan cho kịp, cũng tự thưởng cho mình và bồi bổ bằng những tô phở tái buổi sáng sớm khi báo vừa phát hành.

Làm bất cứ món ăn nào cũng cần thời gian chuẩn bị và nấu nướng: Hủ tiếu, mì Quảng, mì nước trong Nam, hay hòanh thánh của người Tàu nấu không nhanh hơn nấu phở, có khi lại lích kích hơn. Mì, hòanh thánh, sủi cảo, síu mại là của người Hoa, và hủ tiếu Nam vang bắt nguồn từ Nam vang, hủ tiếu Mỹ tho bắt nguồn từ Mỹ tho (?), những thứ này cũng cần một nồi ninh xương heo lấy nước dùng. Mì và hủ tiếu dùng tôm và thịt heo, có lẽ kém thịt bò của phở về bổ dưỡng. Còn ở Bắc nấu nồi bún thang, bún xáo vịt, bún bung v.v...thời gian nấu ngắn hơn ninh nồi phở nhưng vất vả lích kích hơn vì cần nhiều nguyên liệu hơn phở.

Tóm lại, phở tương đối giản dị trong cách chuẩn bị và cách nấu nhưng lại đạt nhiều tiêu chuẩn về dinh dưỡng và lành mạnh hơn nhiều món ăn khác. Hơn nữa, nhờ có gừng và cánh hồi trong nước dùng, ăn phở mùa Đông sẽ cảm thấy ấm lên, chống chõi với cái lạnh bên ngòai được nhiều hơn; còn mùa Hè phở giúp tóat thêm mồ hôi cho sạch lỗ chân lông, một điều rất cần cho sức khỏe.

Khoảng năm 1950-54, trước trại Đồng Khánh phố Huế Hà nội, cách xa vọng lính Tây gác khỏang hơn trăm thước, có một xe phở không bảng hiệu gì cả, đứng bán ngay trên vỉa hè, dân ăn phở gọi là phở trại Đồng Khánh. Vợ chồng bác bán phở - bác Tí - với một cháu bé gái khỏang mười lăm tuổi và bà cụ già, mỗi ngày đều có mặt trước 5 giờ sáng. Tôi không hiểu giấc sáng sớm đó đã có những ai đến ăn nhưng khỏang 7 giờ tôi tới trước khi đến trường đã thấy cả ba, bốn chục người đang vây vòng trong vòng ngòai gánh phở mà vợ chồng bác Tí, bà cụ và con bé cháu phục vụ không kịp.

Bốn, năm tảng thịt lớn nào tái, chín, gầu, vè, nạm treo lủng lẳng ngay trước mặt bác Tí. Bác Tí chuyên thái, để riêng ra từng thứ trong những cái thố men trắng. Tay bác thái rất đều, không mỏng quá, không dày quá vì mỏng quá ăn lèo tèo không “đã”, dày quá phải nhai nhiều, đâm dai. Bác cũng thạo nhìn thớ thịt mà thái nên thịt không dai, không bị vụn. Những người “chuyên trị” thịt bò đều hiểu rằng thái thịt bò là một nghệ thuật. Tôi không nói ngoa đâu. Như thịt bê thui, miếng thịt thật ngon mà vào tay người không quen thái, cứ thái dọc thớ, nhai mỏi răng không đứt miếng thịt, phải nhếu nháo nuốt cho xong (để thử miếng khác may ra có khá hơn?); thành thử thịt bê non cũng bị mang tiếng là thịt bò già, bò kéo xe, bò gầy.Oan ơi Thị Kính!

Muốn ăn phở trại Đồng Khánh Hà Nội thời đó, thực khách phải tham gia vào việc dọn phở. Còn nếu đứng đó kêu phở suông, chỉ tay năm ngón ông chủ thầu thì đến tối cũng chưa thấy bát phở bưng ra cho mình. Có nghĩa là muốn ăn phải lăn vào bếp đấy các bạn à!

Đầu tiên anh đến cháu bé gái, chìa cái bát vừa lấy ở chồng bát sạch sẽ ra. Cháu gái trụng nắm bánh phở rồi đổ vào bát cho anh. Xong anh bưng bát đến trước mặt bác Tí, nói cho bác ta biết anh thích lọai thịt gì? Vè, gầu, sụn, gân, sách, chín nạm, tái? Bác bỏ thịt, thêm dúm hành ngò, hành tây xong anh lại bưng tô đến chỗ chan nước, xòe tiền ra cho bác gái đứng thu tiền và sau đó bà cụ chan nước vào tô cho anh. Anh bưng tô phở đến cái bàn để ở giữa rắc tiêu, lấy mấy lát ớt tươi xanh hay vài muỗng nhỏ tương ớt cùng vài ngọn húng quế, lấy muỗng đũa xong lựa chỗ nào bớt đông, đứng ăn tô phở vì không có bàn, có ghế gì cả. Ăn xong, anh mang tô, muỗng đến chỗ cháu bé đang rửa. Thế là xong!

Khỏang mười giờ, xe phở hết nhẵn, bác Tí bán khỏang bốn yến bánh mỗi ngày tức khỏang 500-600 tô, ngày nào như ngày ấy, ngày mưa như ngày nắng. Mưa, bác Tí căng tấm bạt nhà binh cột dây vào bốn thân cây me treo lên. Mưa to quá ,bác Tí trú nhờ ở hàng hiên căn nhà đối diện.

Có lần hết khách, tôi đứng nán lại hỏi bác Tí tại sao phở của bác thơm ngon và đậm đà, bí quyết nấu phở chắc là gia truyền chăng? Bác cười bảo, phở ngon cốt ở lựa thịt cậu à. Thịt nào ra thịt đó. Tái ra tái, chín ra chín, nạm ra nạm, gầu ra gầu. Hơn nữa, tôi ninh nồi xương bò rất công phu. Xương nhiều, tẩy rửa sạch sẽ rồi mới ninh, hớt bọt kĩ cho nước trong. Tôi cũng không dùng mì chính vì mì chính ăn lâu ngày có hại. Gia vị phở thì có gia truyền thực đấy để phở có mùi thơm đặc biệt mà không gây mùi bò. Gia vị ấy là một hợp chất đã nghiền thành boat, điều chế rất công phu. Nấu nồi phở là đặt cả vốn liếng hạt cải vào đo,ù chứ không phải chơi. Nấu dở, khách chỉ ăn một lần, lỗ lã vì phải đổ nước dùng, thịt, bánh đi; để đến hôm sau nó chua ra, đến mình không dám ăn thì bán cho ai?

Tôi lại hỏi:“Thế xương ninh nhiều như thế mỗi ngày đổ đi thì cũng tốn nhỉ.”

“Không cậu à, thứ xí quách này dân nhậu bình dân rất ưa. Hai ba nhóm phu xích lô, xe ba bánh, tài xế taxi chuyên thầu món này, dặn đều đều, mỗi ngày vài ba chậu lớn cũng không đủ bán. Tôi cũng gỡ lại được tiền củi, tiền gia vị.”

Sau tháng 9-1954, tôi không còn dịp đến thưởng thức phở bác Tí nữa. Cũng phải đến ba năm sau ngày 30-4-75, khi từ Tennessee về tái định cư ở California, tôi mới lại “dừng bước giang hồ” tại một tiệm phở ở quận Cam. Nhưng quả thực, tôi không tìm lại được cái hương vị ngào ngạt, đằm thắm và nồng nàn tô phở bác Tí ở Hànội khi xưa.

Hồi chiến tranh Việt - Pháp từ tháng 12-1946, gia đình tôi từ Hải phòng chạy ra các miền thôn quê tránh bom đạn. Tôi đã đi nhiều nơi như Kiến an, Thái Bình, Đống Năm, Vân Am, Nam Am, Quảng Yên, Hải dương, Nam định, Kim Sơn, Phát Diệm, Bùi Chu, núi Gôi, Ninh Bình, Điền hộ, Thanh hóa lên cả Cống Thần, Nhật tựu, Chợ Đại, Đồng quan v.v...Dù tản cư tiền bạc ngặt nghèo nhưng hễ mẹ cho vài đồng hoặc đi buôn chung với người chị họ có tí lời là tôi lại nghĩ đến phở mà không thứ gì khác.

Một lần hai chị em đang đói và mệt ở giữa khu phố Đống Năm, chợt nhìn thấy một cái bảng nhỏ đề chữ “Phở”, tôi bảo chị Hân, chị con ông bác họ:“Chị Hân ơi! Em mệt quá rồi mà lại đói nữa. Chị có thấy tiệm phở ở bên kia đường không?”Chị Hân theo ngón tay tôi chỉ, chị kéo tay tôi:“Chị cũng đói, đang nghĩ nên đi kiếm cái gì ăn. Phở là số một với chị.”
Ba cái bàn với ghế rất chững chạc nhưng nhìn cái quầy treo thịt chỉ thấy ba con gà da vàng như xát nghệ. Tôi hơi thất vọng bảo chị:“Có lẽ họ làm phở gà, chị”./.

Post Reply