Bình Luận Thời Sự
Hà văn Thịnh với Bài «Chủ trương lớn của đảng ta!
Hà văn Thịnh hiện là giảng viên Sử của Đại Học Huế. Ngoài việc rao giảng lịch sử đảng Cộng sản trong giảng đường cho các em sinh viên thấm nhuần công lao trời biển của đảng ta và « Ơn Bác, ơn đảng » ra, ông còn ký hợp đồng viết bình luận cho báo Lao Động.
Ngày 19/01/09 ông viết một bài về vụ khai thác bô xít trên Tây Nguyên nhan đề «Gánh nặng của thế hệ hôm nay» đăng trên báo Lao Động cùng ngày. Nội dung là lên án việc khai thác tài nguyên bừa bãi, của đảng không cần biết đến hệ lụy về môi trường sống. Có đoạn rất cứng: (trích)
« Có tài nguyên thiên nhiên là tốt, cần lắm. Nhưng, có những đất nước không có tài nguyên vẫn giàu có như thường – bài học từ Nhật Bản là một dẫn chứng điển hình. Nếu chúng ta cứ vắt thật nhanh, bòn thật nhiều « của để dành » cho con cháu, thì mai này lịch sử sẽ ra sao ? Dù muốn hay không, chúng ta buộc phải thừa nhận rằng chưa bao giờ tài nguyên của đất nước bị khai thác một cách vội vã đến như thế và, chưa đủ tinh thần trách nhiệm đến như thế.
Phải giải quyết xong « bài toán » chất thải từ việc khai thác các loại quặng trước khi khai thác nó, đó là nguyên tắc. Phải tính toán sao cho tài nguyên của đất nước được chia đều cho nhiều thế hệ là bổn phận của người đi trước. Đây không là chuyện hôm nay, mà là lợi ích dài lâu. Nếu không vì lợi ích dài lâu, đất nước ta sẽ không phát triển bền vững. »
Sau đó ông cùng nhiều người ký tên trong bản kiến nghị gửi lên đảng để phản đối việc khai thác bô xít.
Thật ra bài báo cũng không có gì đáng nói. Nội dung không có gì mới mẻ hơn và không bằng nhiều bài báo khác của các nhà khoa học hay hai bức thư của tướng Giáp, đã phân tích tỉ mỉ vấn đề thảm họa môi trường, hiệu quả kinh tế, an ninh lãnh thổ v.v…đầy đủ hơn, giá trị hơn nhiều.
Điều đáng nói ở đây là bài viết tiếp theo ngày 27/4 cũng của ông giảng viên sử Hà văn Thịnh, sự việc lại quay ngoắc lại bài trước 180 độ, khiến cho nhiều người đọc phải bất ngờ đến độ sững sờ.
Có người gọi ông là con thò lò hai mặt. Có kẻ kêu ông là con kỳ nhông, một loài bò sát có khả năng đổi màu da rất nhanh ở môi trường thích nghi như ở cát thì màu trắng, ở bụi rậm thì màu xanh.
Số là, sau khi bài báo ngày 19/1 đăng ít lâu thì ngày 24/4 Bộ Chính trị ra Thông báo số 245 TB/TƯ có « Kết luận của Bộ Chính trị về bô xít » về việc quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 thì ngày 27/4 ông Hà văn Thịnh lập tức viết ngay bài « Sáng tỏ sự cân bằng đúng » để ca tụng « Chủ trương lớn của đảng ta » là đúng đắn và cần thiết, có nội dung trái ngược hẳn lại bài trước.
Xin trích vài điểm trong 5 điểm ông đã chỉ ra và khen nức nở đảng ta là vô cùng anh minh, sáng suốt trong việc «đường ta ta cứ đi mặc chó cứ sủa» trong việc «cõng» Trung Quốc vào Tây Nguyên để chúng tha hồ làm vương, làm tướng trong việc khai thác bô xít:
…
« Thứ hai, ‘ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội’ là sự cân bằng đúng và đủ cho cả hai mặt lợi ích và bền vững. Cách nhìn nhận vấn đề như thế thể hiện sự tỉnh táo cần thiết trong giải pháp trước mắt và cả giải pháp chiến lược lâu dài.
…
Thứ năm, qua vấn đề bô xít, phải rút ra những bài học sâu sắc về sự hiểu biết và dư luận. Đa số người dân không hiểu tường tận sự thật của vấn đề nên dễ bị lợi dụng và bị kích động, đưa một chuyện riêng về kinh tế thành nguy cơ về chính trị, an ninh. Trong khi đó BCT đã khẳng định ‘không sử dụng lao động phổ thông nước ngoài’, tức là đã nhìn thấy bằng tầm nhìn xa một cách rõ ràng. Mặt khác, một vấn đề ở đây là ‘dân biết, dân làm, dân kiểm tra’.
Trách nhiệm của giới trí thức là rất lớn trong việc đánh giá, xem xét các lợi ích cục bộ và lợi ích tổng thể, kịp thời và chính xác trong việc tham mưu cho Đảng và Nhà nước trước những nhiệm vụ cấp bách, liên quan đến sự nghiệp của dân tộc, tương lai của đất nước. Đảng lắng nghe và thấu hiểu ý kiến trí thức, nhưng không có nghĩa bỏ qua viêc một số người lợi dụng điều đó để xuyên tạc chống phá. »
Sau bài báo «tắc kè đổi màu da », dư luận trong nước rất bất bình về cái ông giảng viên khoa sử Hà văn Thịnh này. Đã có nhiều bài viết phản bác ông rất nặng ký. Nhưng tình trạng càng tệ hại hơn khi ông viết thêm một tâm thư gửi cho những người cùng ông ký kiến nghị phản đối. Vì bức thư này, ông Thầy sử Hà văn Thịnh lại càng bị phạng thêm nhiều quả búa tối tăm mặt mũi vì đã để lộ ra cái hèn của một anh nhà giáo, cam tâm uốn gối, khom lưng làm văn nô, bồi bút quá ư lộ liễu và trơ trẽn.
Xin đan cử hai bài phản bác làm điển hình, các tác giả vừa trích ý thư của ông vừa bình:
1/ Ông V.Quốc Uy trong bài 2 viết: «Chữ ký của một kỳ nhông»
và «Đừng xóa tên ông Thịnh »,
ông Quốc Uy đánh giá:« Trong bài ‘Chữ ký của một kỳ nhông’ tôi đã phác họa chân dung hai ông Hà văn Thịnh trái ngược nhau, một CHÍNH một TÀ, có vẻ trắng đen phân biệt, nên khó tin là một người. Nhưng sau khi đọc ‘Thư ông Hà văn Thịnh’ gửi những người đã gửi kiến nghị’ thì tôi lại tưởng tượng chân dung ông Hà văn Thịnh sinh động hơn. Sự đời không phải chỉ có CHÍNH hay TÀ, mà còn có ‘cải TÀ qui CHÍNH’, ‘cải CHÍNH qui TÀ’, có khi lại ‘TÀ CHÍNH luân phiên’.
Thiên hạ bình phẩm. Người thì cảm động trước ‘lời thú tội’ thành thực của ông Thịnh, chỉ thương chung cho cái kiếp nhà báo, nhà văn Xã hội Chủ nghĩa. Ngược lại, có người càng mất cảm tình với ông Thịnh hơn, vì ông đã lôi cả đám cùng nhúng chàm vào để làm nhòe đi cái trách nhiệm và tư cách cá nhân. Người ta nhại :
Bút nô là tại ‘hướng đình’
Cả làng nô bút, đâu mình Hà Văn… ?
Phải ghi nhận công của ông Hà văn Thịnh trong bức thư này là đã nói toẹt ra (một cách hơi Chí Phèo) về cái ‘hướng đình’ (định hướng) đã làm cho ‘cả làng toét mắt’. Tôi thấy nên cám ơn ông vì với bức thư ấy ông đã cung cấp những sự thực của một ‘người trong chăn’, để nhắc nhở cả làng phải mau mau xoay lại cái ‘hướng đình’ (nếu không thì chẳng những toét mắt mà còn mù cả lũ cho mà xem).
Xin trích mấy câu của ông Thịnh để ghi lại cái công ấy :
« Nói là bồi bút cũng phải, không sai đâu. Thế nhưng, cần phải lật ngược vấn đề rằng có ai ăn lương hiện nay mà đã không từng một lần ‘bồi bút’? CNXH khoa học sai nhiều như thế, ai nói?
Còn nói dối? Không có một nhà giáo dạy KHXH nhân văn nào không nói dối để nhận lương!
Xin các quí vị hiểu biết lịch sử đúng như nó cần phải được hiểu như thế! »
… Nhưng có lẽ ông Thịnh không đến nỗi yên tâm làm công cụ như những người khác, không hỗn hào như thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang, dám văng vào mặt những trí thức mà chính những người lãnh đạo cấp cao cũng phải kính nể những lời khiếm nhã như ‘xuyên tạc sự thật’ - nhằm dụng ý xấu – hoàn toàn mang tính bịa đặt và kích động’. Ông Hà văn Thịnh, không biết do bị bạn bè phê phán, hay do sự day dứt của một người đứng trên bục giảng mà trong giây phút nào đó ông đã không chịu nỗi cái thân phận bồi bút, khiến ông quên cả giữ gìn mà tố cáo ra những điều cần phải tố cáo?Cuộc vật lộn giữa vị giảng viên đại học với tên bồi bút dối trá thường không phải một lần là đã phân thắng bại, nhưng bạn bè và sinh viên cổ vũ cho ai, đâu là vinh đâu là nhục thì người thầy giáo chắc phải cảm nhận được. Nhiều bài nhắc đến tên ông Hà văn Thịnh, vì đó không chỉ là tên một người mà còn là một hiện tượng : Hiện tượng Hà văn Thịnh, đầy kịch tính.
Những người như ông Thịnh không ít. Nhưng nhiều, mà vị nào cũng thấy cô đơn. « Chính quyền cho tôi vào sổ đen, còn người trung nghĩa gạt tên mình ra. Đời thật là bi kịch », ông tâm sự rất thật như thế.
2/ Blogger Linh - Tác giả Linh viết trong blog của mình như sau:
(trích) « Ông Hà văn Thịnh viết bức thư nhằm giải bày sự việc ông viết hai bài báo trên báo Lao Động về beauxite có tinh thần trái ngược hẵn nhau vào ngày 19/1 và ngày 27/4. Đọc cứ như hề :
‘Tôi như một kẻ tội đồ. Đảng không tin tôi. Những người chính trực trên đất nước này cũng thế. Có thể, ‘cách đi’ của nhà báo nhọc nhằn, đau đớn đã làm cho tôi không biết cách né tránh hay dùng bút danh. Nhưng đó là số phận. Tôi chấp nhận. Tôi đã lường trước chuyện này lúc toà báo yêu tôi viết khi tôi mới thấy tên mình trong danh sách (ký tên phản đối khai thác beauxite Tây Nguyên) trước đó vài giờ ’.
Muốn kéo cả nhân loại xuống bùn để không phải chịu trách nhiệm cá nhân, ông cho rằng toàn giới nhà giáo (dạy KHXH nhân văn) đều nói dối như ông, toàn giới ăn lương đều từng làm bồi bút như ông.
Và ông thắc mắc với nhũng người phản đối sự tráo trở bất nhất của ông trong hai bài viết trước và sau khi có kết luận của Bộ Chính trị ‘ Hơn nũa, tại sao quí vị không đánh thẳng vào các VIP đi mà lại cứ nhè vào một kẻ phải viết báo để kiếm sống, để mong mỏi chút thay đổi nhạt mờ?’.
… Trong bài 27/4, ông hết lời ca ngợi Bộ Chính trị nào là có chủ trương từ lâu, cân nhắc suy xét kỹ càng, nào là biết tiếp thu ý kiến người dân, nào là có tầm nhìn xa một cách rõ ràng. Thế nhưng trong bài trần tình với những người cùng ký tên vào đơn phản đối việc khai thác beauxite, ông lại viết như thể xoa đầu Bộ Chính trị ‘Lời để kết thúc, tôi muốn nói rằng BCT đã ra thông báo như thế là đã biết sai rồi’.
Vậy là ‘chủ trương đúng đắn’ của BCT là đúng hay sai đây? Hay ông Thịnh là người có biệt tài ngửi gió? Còn ‘thơm’ hay ‘thối’ thì là tùy hướng gió?
Và tác giả Blog Linh kết thúc bài viết dài của mình bằng một câu rất ngắn nhưng cũng rất nặng ký :
« Xem ra ông Thịnh có thể có chữ ‘sĩ’ nhưng ắt là không có chữ ‘sỉ’. Hà văn Thịnh hay Hà Phù Thịnh?
* * *
Kẻ sĩ của một nước mà hèn thì quốc gia ấy ắt sẽ phải suy vong. Nhà nước độc tài đảng trị cộng sản Việt Nam đang đi vào vết xe đổ, bắt sĩ phu trong nước thành kẻ hèn để dễ bề cai trị thì con đường bại vong, mất nước đã thấy sờ sờ ngay trước mắt.
Suốt hơn 60 năm dưới gọng kềm sắt máu của đảng cộng sản Việt Nam giới sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ… đều bi o ép, bắt buộc dưới mọi hình thức từ bạo lực đến khủng bố, hăm dọa, bao vây kinh tế, bóp bao tử, trù dập… phải phục vụ tuyên truyền, bẻ cong sự thật, làm lệch lịch sử có lợi cho chúng thì chuyện kẻ sĩ bị hèn không phải là chuyện lạ và đáng trách. Không hèn hôm nay thì ngày mai buộc phải hèn chỉ vì để sống còn.
Kẻ sĩ Bắc Hà, ở trong giai đoạn đảng đang say máu ‘giết lầm hơn bỏ sót’, như cá nằm trên thớt, những ai không cúi đầu nghe theo lệnh đảng như Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần, Phan Khôi…được mấy ai ?
Tuy nhiên điều đáng hổ thẹn ở đây là có người, con số không phải là ít, lại hãnh diện cam tâm khom lưng làm văn nô, bồi bút cho ác quyền mà lương tâm và lương tri không một mảy may ‘bức xúc’ và ‘trăn trở’ với những dòng chữ nhơ nhớp của mình viết ra.
Loại người này luôn luôn chực chờ, rình mò cơ hội để sẵn sàng lập công dâng đảng, bất chấp thủ đoạn cốt chỉ được nhận cái vết… nhơ một thời làm lính văn nghệ cho đảng như Tô Hải đã vạch ra.
Cái đám lính văn nghệ cho đảng hiện nay rất đa số, đa năng, đa hiệu. Ngoài nghiệp vụ của người làm báo là thông tin ra chúng còn làm tài khôn của chó săn, cầm đèn chạy trước ô tô, chiếm luôn quyền hạn của lập pháp, hành pháp và tư pháp nữa. Bài viết của chúng luôn có đủ ba nhiệm vụ: vu cáo, kết tội và hung hăng ra án phạt trong khi đối tượng đang còn trong tình trạng điều tra.
Cứ xem các bài báo của những Xuân Quang (báo Nhân Dân), Như Phong (báo Công An), Anh Quang (báo Hà Nội Mới), Hà văn Thịnh (Báo Lao Động), Thái Nam, Phạm Gia Minh, Nguyễn Ngọc Trân, Thi Nga…và còn nhiều kẻ phải bịt mặt để viết bài vu khống, mạ lỵ, hạ nhục, bôi bẩn đối tượng, ký tên hai chữ tắt P.V để khỏi xấu hổ với chữ nghĩa bẩn thỉu của mình thì đủ biết chúng là loại gì.
Tóm lại, dù chúng có lấy bút danh, bút hiệu gì gì đi nữa để trốn tránh dư luận thì tự thâm tâm chúng cũng là những thứ văn nô, bồi bút, chó săn tệ mạt, hèn nhát.
Một ngày nào đó ‘đảng không tin tôi nữa’ như Hà Văn Thịnh than thở thì rồi chúng cũng sẽ cùng nhau đấm ngực và khóc rống lên, ca bài ca con cá rằng ‘Đời là bi kịch’.
Hãy ngẫm xem hai trường hợp điển hình vừa nêu trong bài, một nhạc sĩ Tô Hải và một giảng viên sử Hà văn Thịnh, ai là kẻ bi, ai là kẻ hài của một kiếp văn nô, bồi bút ?
Nguyễn Thanh Ty 17/5/09
Hà văn Thịnh hiện là giảng viên Sử của Đại Học Huế. Ngoài việc rao giảng lịch sử đảng Cộng sản trong giảng đường cho các em sinh viên thấm nhuần công lao trời biển của đảng ta và « Ơn Bác, ơn đảng » ra, ông còn ký hợp đồng viết bình luận cho báo Lao Động.
Ngày 19/01/09 ông viết một bài về vụ khai thác bô xít trên Tây Nguyên nhan đề «Gánh nặng của thế hệ hôm nay» đăng trên báo Lao Động cùng ngày. Nội dung là lên án việc khai thác tài nguyên bừa bãi, của đảng không cần biết đến hệ lụy về môi trường sống. Có đoạn rất cứng: (trích)
« Có tài nguyên thiên nhiên là tốt, cần lắm. Nhưng, có những đất nước không có tài nguyên vẫn giàu có như thường – bài học từ Nhật Bản là một dẫn chứng điển hình. Nếu chúng ta cứ vắt thật nhanh, bòn thật nhiều « của để dành » cho con cháu, thì mai này lịch sử sẽ ra sao ? Dù muốn hay không, chúng ta buộc phải thừa nhận rằng chưa bao giờ tài nguyên của đất nước bị khai thác một cách vội vã đến như thế và, chưa đủ tinh thần trách nhiệm đến như thế.
Phải giải quyết xong « bài toán » chất thải từ việc khai thác các loại quặng trước khi khai thác nó, đó là nguyên tắc. Phải tính toán sao cho tài nguyên của đất nước được chia đều cho nhiều thế hệ là bổn phận của người đi trước. Đây không là chuyện hôm nay, mà là lợi ích dài lâu. Nếu không vì lợi ích dài lâu, đất nước ta sẽ không phát triển bền vững. »
Sau đó ông cùng nhiều người ký tên trong bản kiến nghị gửi lên đảng để phản đối việc khai thác bô xít.
Thật ra bài báo cũng không có gì đáng nói. Nội dung không có gì mới mẻ hơn và không bằng nhiều bài báo khác của các nhà khoa học hay hai bức thư của tướng Giáp, đã phân tích tỉ mỉ vấn đề thảm họa môi trường, hiệu quả kinh tế, an ninh lãnh thổ v.v…đầy đủ hơn, giá trị hơn nhiều.
Điều đáng nói ở đây là bài viết tiếp theo ngày 27/4 cũng của ông giảng viên sử Hà văn Thịnh, sự việc lại quay ngoắc lại bài trước 180 độ, khiến cho nhiều người đọc phải bất ngờ đến độ sững sờ.
Có người gọi ông là con thò lò hai mặt. Có kẻ kêu ông là con kỳ nhông, một loài bò sát có khả năng đổi màu da rất nhanh ở môi trường thích nghi như ở cát thì màu trắng, ở bụi rậm thì màu xanh.
Số là, sau khi bài báo ngày 19/1 đăng ít lâu thì ngày 24/4 Bộ Chính trị ra Thông báo số 245 TB/TƯ có « Kết luận của Bộ Chính trị về bô xít » về việc quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 thì ngày 27/4 ông Hà văn Thịnh lập tức viết ngay bài « Sáng tỏ sự cân bằng đúng » để ca tụng « Chủ trương lớn của đảng ta » là đúng đắn và cần thiết, có nội dung trái ngược hẳn lại bài trước.
Xin trích vài điểm trong 5 điểm ông đã chỉ ra và khen nức nở đảng ta là vô cùng anh minh, sáng suốt trong việc «đường ta ta cứ đi mặc chó cứ sủa» trong việc «cõng» Trung Quốc vào Tây Nguyên để chúng tha hồ làm vương, làm tướng trong việc khai thác bô xít:
…
« Thứ hai, ‘ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội’ là sự cân bằng đúng và đủ cho cả hai mặt lợi ích và bền vững. Cách nhìn nhận vấn đề như thế thể hiện sự tỉnh táo cần thiết trong giải pháp trước mắt và cả giải pháp chiến lược lâu dài.
…
Thứ năm, qua vấn đề bô xít, phải rút ra những bài học sâu sắc về sự hiểu biết và dư luận. Đa số người dân không hiểu tường tận sự thật của vấn đề nên dễ bị lợi dụng và bị kích động, đưa một chuyện riêng về kinh tế thành nguy cơ về chính trị, an ninh. Trong khi đó BCT đã khẳng định ‘không sử dụng lao động phổ thông nước ngoài’, tức là đã nhìn thấy bằng tầm nhìn xa một cách rõ ràng. Mặt khác, một vấn đề ở đây là ‘dân biết, dân làm, dân kiểm tra’.
Trách nhiệm của giới trí thức là rất lớn trong việc đánh giá, xem xét các lợi ích cục bộ và lợi ích tổng thể, kịp thời và chính xác trong việc tham mưu cho Đảng và Nhà nước trước những nhiệm vụ cấp bách, liên quan đến sự nghiệp của dân tộc, tương lai của đất nước. Đảng lắng nghe và thấu hiểu ý kiến trí thức, nhưng không có nghĩa bỏ qua viêc một số người lợi dụng điều đó để xuyên tạc chống phá. »
Sau bài báo «tắc kè đổi màu da », dư luận trong nước rất bất bình về cái ông giảng viên khoa sử Hà văn Thịnh này. Đã có nhiều bài viết phản bác ông rất nặng ký. Nhưng tình trạng càng tệ hại hơn khi ông viết thêm một tâm thư gửi cho những người cùng ông ký kiến nghị phản đối. Vì bức thư này, ông Thầy sử Hà văn Thịnh lại càng bị phạng thêm nhiều quả búa tối tăm mặt mũi vì đã để lộ ra cái hèn của một anh nhà giáo, cam tâm uốn gối, khom lưng làm văn nô, bồi bút quá ư lộ liễu và trơ trẽn.
Xin đan cử hai bài phản bác làm điển hình, các tác giả vừa trích ý thư của ông vừa bình:
1/ Ông V.Quốc Uy trong bài 2 viết: «Chữ ký của một kỳ nhông»
và «Đừng xóa tên ông Thịnh »,
ông Quốc Uy đánh giá:« Trong bài ‘Chữ ký của một kỳ nhông’ tôi đã phác họa chân dung hai ông Hà văn Thịnh trái ngược nhau, một CHÍNH một TÀ, có vẻ trắng đen phân biệt, nên khó tin là một người. Nhưng sau khi đọc ‘Thư ông Hà văn Thịnh’ gửi những người đã gửi kiến nghị’ thì tôi lại tưởng tượng chân dung ông Hà văn Thịnh sinh động hơn. Sự đời không phải chỉ có CHÍNH hay TÀ, mà còn có ‘cải TÀ qui CHÍNH’, ‘cải CHÍNH qui TÀ’, có khi lại ‘TÀ CHÍNH luân phiên’.
Thiên hạ bình phẩm. Người thì cảm động trước ‘lời thú tội’ thành thực của ông Thịnh, chỉ thương chung cho cái kiếp nhà báo, nhà văn Xã hội Chủ nghĩa. Ngược lại, có người càng mất cảm tình với ông Thịnh hơn, vì ông đã lôi cả đám cùng nhúng chàm vào để làm nhòe đi cái trách nhiệm và tư cách cá nhân. Người ta nhại :
Bút nô là tại ‘hướng đình’
Cả làng nô bút, đâu mình Hà Văn… ?
Phải ghi nhận công của ông Hà văn Thịnh trong bức thư này là đã nói toẹt ra (một cách hơi Chí Phèo) về cái ‘hướng đình’ (định hướng) đã làm cho ‘cả làng toét mắt’. Tôi thấy nên cám ơn ông vì với bức thư ấy ông đã cung cấp những sự thực của một ‘người trong chăn’, để nhắc nhở cả làng phải mau mau xoay lại cái ‘hướng đình’ (nếu không thì chẳng những toét mắt mà còn mù cả lũ cho mà xem).
Xin trích mấy câu của ông Thịnh để ghi lại cái công ấy :
« Nói là bồi bút cũng phải, không sai đâu. Thế nhưng, cần phải lật ngược vấn đề rằng có ai ăn lương hiện nay mà đã không từng một lần ‘bồi bút’? CNXH khoa học sai nhiều như thế, ai nói?
Còn nói dối? Không có một nhà giáo dạy KHXH nhân văn nào không nói dối để nhận lương!
Xin các quí vị hiểu biết lịch sử đúng như nó cần phải được hiểu như thế! »
… Nhưng có lẽ ông Thịnh không đến nỗi yên tâm làm công cụ như những người khác, không hỗn hào như thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang, dám văng vào mặt những trí thức mà chính những người lãnh đạo cấp cao cũng phải kính nể những lời khiếm nhã như ‘xuyên tạc sự thật’ - nhằm dụng ý xấu – hoàn toàn mang tính bịa đặt và kích động’. Ông Hà văn Thịnh, không biết do bị bạn bè phê phán, hay do sự day dứt của một người đứng trên bục giảng mà trong giây phút nào đó ông đã không chịu nỗi cái thân phận bồi bút, khiến ông quên cả giữ gìn mà tố cáo ra những điều cần phải tố cáo?Cuộc vật lộn giữa vị giảng viên đại học với tên bồi bút dối trá thường không phải một lần là đã phân thắng bại, nhưng bạn bè và sinh viên cổ vũ cho ai, đâu là vinh đâu là nhục thì người thầy giáo chắc phải cảm nhận được. Nhiều bài nhắc đến tên ông Hà văn Thịnh, vì đó không chỉ là tên một người mà còn là một hiện tượng : Hiện tượng Hà văn Thịnh, đầy kịch tính.
Những người như ông Thịnh không ít. Nhưng nhiều, mà vị nào cũng thấy cô đơn. « Chính quyền cho tôi vào sổ đen, còn người trung nghĩa gạt tên mình ra. Đời thật là bi kịch », ông tâm sự rất thật như thế.
2/ Blogger Linh - Tác giả Linh viết trong blog của mình như sau:
(trích) « Ông Hà văn Thịnh viết bức thư nhằm giải bày sự việc ông viết hai bài báo trên báo Lao Động về beauxite có tinh thần trái ngược hẵn nhau vào ngày 19/1 và ngày 27/4. Đọc cứ như hề :
‘Tôi như một kẻ tội đồ. Đảng không tin tôi. Những người chính trực trên đất nước này cũng thế. Có thể, ‘cách đi’ của nhà báo nhọc nhằn, đau đớn đã làm cho tôi không biết cách né tránh hay dùng bút danh. Nhưng đó là số phận. Tôi chấp nhận. Tôi đã lường trước chuyện này lúc toà báo yêu tôi viết khi tôi mới thấy tên mình trong danh sách (ký tên phản đối khai thác beauxite Tây Nguyên) trước đó vài giờ ’.
Muốn kéo cả nhân loại xuống bùn để không phải chịu trách nhiệm cá nhân, ông cho rằng toàn giới nhà giáo (dạy KHXH nhân văn) đều nói dối như ông, toàn giới ăn lương đều từng làm bồi bút như ông.
Và ông thắc mắc với nhũng người phản đối sự tráo trở bất nhất của ông trong hai bài viết trước và sau khi có kết luận của Bộ Chính trị ‘ Hơn nũa, tại sao quí vị không đánh thẳng vào các VIP đi mà lại cứ nhè vào một kẻ phải viết báo để kiếm sống, để mong mỏi chút thay đổi nhạt mờ?’.
… Trong bài 27/4, ông hết lời ca ngợi Bộ Chính trị nào là có chủ trương từ lâu, cân nhắc suy xét kỹ càng, nào là biết tiếp thu ý kiến người dân, nào là có tầm nhìn xa một cách rõ ràng. Thế nhưng trong bài trần tình với những người cùng ký tên vào đơn phản đối việc khai thác beauxite, ông lại viết như thể xoa đầu Bộ Chính trị ‘Lời để kết thúc, tôi muốn nói rằng BCT đã ra thông báo như thế là đã biết sai rồi’.
Vậy là ‘chủ trương đúng đắn’ của BCT là đúng hay sai đây? Hay ông Thịnh là người có biệt tài ngửi gió? Còn ‘thơm’ hay ‘thối’ thì là tùy hướng gió?
Và tác giả Blog Linh kết thúc bài viết dài của mình bằng một câu rất ngắn nhưng cũng rất nặng ký :
« Xem ra ông Thịnh có thể có chữ ‘sĩ’ nhưng ắt là không có chữ ‘sỉ’. Hà văn Thịnh hay Hà Phù Thịnh?
* * *
Kẻ sĩ của một nước mà hèn thì quốc gia ấy ắt sẽ phải suy vong. Nhà nước độc tài đảng trị cộng sản Việt Nam đang đi vào vết xe đổ, bắt sĩ phu trong nước thành kẻ hèn để dễ bề cai trị thì con đường bại vong, mất nước đã thấy sờ sờ ngay trước mắt.
Suốt hơn 60 năm dưới gọng kềm sắt máu của đảng cộng sản Việt Nam giới sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ… đều bi o ép, bắt buộc dưới mọi hình thức từ bạo lực đến khủng bố, hăm dọa, bao vây kinh tế, bóp bao tử, trù dập… phải phục vụ tuyên truyền, bẻ cong sự thật, làm lệch lịch sử có lợi cho chúng thì chuyện kẻ sĩ bị hèn không phải là chuyện lạ và đáng trách. Không hèn hôm nay thì ngày mai buộc phải hèn chỉ vì để sống còn.
Kẻ sĩ Bắc Hà, ở trong giai đoạn đảng đang say máu ‘giết lầm hơn bỏ sót’, như cá nằm trên thớt, những ai không cúi đầu nghe theo lệnh đảng như Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần, Phan Khôi…được mấy ai ?
Tuy nhiên điều đáng hổ thẹn ở đây là có người, con số không phải là ít, lại hãnh diện cam tâm khom lưng làm văn nô, bồi bút cho ác quyền mà lương tâm và lương tri không một mảy may ‘bức xúc’ và ‘trăn trở’ với những dòng chữ nhơ nhớp của mình viết ra.
Loại người này luôn luôn chực chờ, rình mò cơ hội để sẵn sàng lập công dâng đảng, bất chấp thủ đoạn cốt chỉ được nhận cái vết… nhơ một thời làm lính văn nghệ cho đảng như Tô Hải đã vạch ra.
Cái đám lính văn nghệ cho đảng hiện nay rất đa số, đa năng, đa hiệu. Ngoài nghiệp vụ của người làm báo là thông tin ra chúng còn làm tài khôn của chó săn, cầm đèn chạy trước ô tô, chiếm luôn quyền hạn của lập pháp, hành pháp và tư pháp nữa. Bài viết của chúng luôn có đủ ba nhiệm vụ: vu cáo, kết tội và hung hăng ra án phạt trong khi đối tượng đang còn trong tình trạng điều tra.
Cứ xem các bài báo của những Xuân Quang (báo Nhân Dân), Như Phong (báo Công An), Anh Quang (báo Hà Nội Mới), Hà văn Thịnh (Báo Lao Động), Thái Nam, Phạm Gia Minh, Nguyễn Ngọc Trân, Thi Nga…và còn nhiều kẻ phải bịt mặt để viết bài vu khống, mạ lỵ, hạ nhục, bôi bẩn đối tượng, ký tên hai chữ tắt P.V để khỏi xấu hổ với chữ nghĩa bẩn thỉu của mình thì đủ biết chúng là loại gì.
Tóm lại, dù chúng có lấy bút danh, bút hiệu gì gì đi nữa để trốn tránh dư luận thì tự thâm tâm chúng cũng là những thứ văn nô, bồi bút, chó săn tệ mạt, hèn nhát.
Một ngày nào đó ‘đảng không tin tôi nữa’ như Hà Văn Thịnh than thở thì rồi chúng cũng sẽ cùng nhau đấm ngực và khóc rống lên, ca bài ca con cá rằng ‘Đời là bi kịch’.
Hãy ngẫm xem hai trường hợp điển hình vừa nêu trong bài, một nhạc sĩ Tô Hải và một giảng viên sử Hà văn Thịnh, ai là kẻ bi, ai là kẻ hài của một kiếp văn nô, bồi bút ?
Nguyễn Thanh Ty 17/5/09
Tô Hải có hèn không?
Ngô Nhân Dụng Tôi đã đọc hết cuốn hồi ký của Nhạc sĩ Tô Hải. Hơi tiếc, vì ông viết ngắn quá; chỉ có hơn 500 trang giấy in. Vừa đọc vừa tiếc. Vì có lúc đang theo ông qua những đoạn đường, trong bụng chờ sắp được nghe ông kể tiếp một chuyện đang nói nửa chừng, thì ông lại nhảy sang chuyện khác. Tiếc, và trách tác giả không để thêm thời giờ kể rõ ngọn ngành cho người đọc biết thêm. Nhưng khi nghe Tô Hải giải thích trong cuộc phỏng vấn với Ðinh Quang Anh Thái (sắp đăng trên báo này) thì hiểu tại sao. Tô Hải không có ý kể câu chuyện cuộc đời mình. Ông bảo, trong cuốn sách này, “tôi chủ ý chỉ viết về cái hèn của tôi thôi.”
Như vậy thì hiểu được, vì tên cuốn sách đầy đủ là “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn,” như những lời thú tội về cái hèn của mình, một cái hèn đeo mãi trên một con người, kéo dài hơn nửa thế kỷ. Ðến năm gần tuổi 70, con người đó mới chợt thấy phải kể lại mình đã sống hèn như thế nào, và bắt đầu thú nhận.
Một điều cảm động, là tác giả muốn thú tội với thân phụ của ông trước hết. Vì trước khi ông bỏ nhà đi rồi gia nhập đảng Cộng Sản vào năm 17 tuổi, cụ thân sinh đã bảo thẳng người con trai lớn đó là đã “bị Cộng Sản nó lừa.” Không những thế, cụ còn dọa mai mốt có trốn cộng Sản chạy về nhà thì cụ sẽ đuổi đi, không nhận làm con nữa. Cả cuộc đời hai lần Tô Hải mong được gặp lại cha mẹ và các em, một lần năm 1954 khi trở về Hà Nội, và lần sau năm 1975 khi tìm vào Sài Gòn.
Cuối cùng thì ông chỉ gặp lại cụ thân sinh trên những trang giấy của cuốn hồi ký này. Ông đã kể lại một đời sống cam tâm chịu hèn không phải của riêng ông mà còn bao nhiêu những người trí thức bị trói buộc trong guồng máy “chuyên chính vô sản” nên họ đành phải làm tay sai cho đảng Cộng Sản.
Cuốn hồi ký kể biết bao nhiêu câu chuyện như một bức bích họa cho thấy tấm thảm kịch đổ lên đầu dân tộc Việt Nam trong thế kỷ trước, nó hủy hoại nền tảng đạo lý trong xã hội và làm tê liệt lương tâm của từng cá nhân.
Tai họa đó là do cách cai quản con người đã được Stalin sáng chế và Mao Trạch Ðông biên cải cho thích hợp với văn hóa phong tục Á Ðông, rồi được Hồ Chí Minh hết lòng áp dụng nước ta. Ðó là một guồng máy kiềm thúc, cai quản, ràng buộc đó đã biến hàng triệu con người trở thành những tên hèn, ngay cả những người đóng vai kiểm soát những người khác.
Có một đoạn chúng ta không thể nào quên, là năm 1956 khi Tô Hải đi “liều mạng” trở về Thanh Hóa tìm “cứu đứa con trai.” Hai vợ chồng ông đều phải đi làm công tác văn nghệ với quân đội trong thời kháng chiến cho đến sau khi hòa bình, cho nên họ đã gửi đứa con thứ hai này cho ông bà ngoại nuôi. Ông kể,
“Gia đình vợ tôi chẳng có một tấc đất nào, nhưng bị đẩy lên... (hàng) địa chủ.”
Trong thời gian cải cách ruộng đất đó, các cố vấn đã chỉ thị mỗi làng phải có mấy phần trăm là địa chủ, mấy phần trăm là phú nông, bao nhiêu là trung nông, vân vân, đúng như tỷ số theo thống kê từ bên Trung Quốc đã làm. Nếu một làng không đủ người đúng tiêu chuẩn vào mỗi hạng thì những người ở hạng dưới được “đôn lên” hạng trên.
Nhưng thân phụ bà Tô Hải là cụ Nguyễn Ðăng Quỳ vốn không phải là địa chủ, cũng không phải người ở vùng quê Thanh Nghệ này. Ông đã đi theo Nam Bộ Kháng Chiến chống Pháp. Sau đó ông đã bỏ tất cả gia sản ở miền Nam đưa gia đình chạy ra Bắc, sống ở thành phố Vinh.
Tô Hải kể, “Khi Vinh bị tiêu thổ kháng chiến, ông mua mua một mảnh vườn sát chân núi Diễn Châu.”
Nhưng Ðội Cải Cách đã “lôi ông già ra đấu,” họ tra hỏi ông tại sao mua đất, làm vườn ở nơi không phải quê quán mình, “Có phải để bóc lột nông dân hay không?” Họ đặt ra những lời kết tội bịa đặt khác, mà tác giả viết, “Tất cả lý lẽ đưa ra chỉ nhằm mục đích chiếm bằng hết những gì có thể chiếm: Giường tủ, bàn ghế, quần áo, mâm đồng, chậu thau, bát đĩa, ấm chén,... Phải kiếm cho ra một cớ gì để trấn lột công khai. Tôi thì chụp cho (ông cụ) cái mũ ‘kẻ thù giai cấp’ là xong.”
Sau khi bị cướp mất hết, từ cái quần cho đến cái bát đã mẻ, cả gia đình cụ Nguyễn Ðăng Quỳ bị giam tại chỗ ở chân núi, chỉ còn cách sống bằng ăn rau, lá kiếm được trên núi, trong cánh đồng. Hình phạt này là cách bắt những người bị tố chết đói hoặc tự tử. Nhiều người đã tự tử.
Gia đình ông cụ có hai con trai và một con rể (tức Tô Hải) đi bộ đội đánh nhau với Pháp. Khi cụ ông bị đem đấu tố thì Tô Hải và một người con trai của cụ đều biết nhưng không ai dám về thăm bố. Họ phải “dứt khoát với kẻ thù giai cấp” để bảo toàn mạng sống của chính họ và gia đình nho nhỏ của họ.
Nhưng vợ chồng Tô Hải còn đứa con bé gửi ông bà ngoại, đứa bé cũng đang nằm trong “vòng vây của những ông bà nông dân.” Họ phải cứu lấy con! Tô Hải may mắn nhờ một người bạn cũ giúp, ông này là một cán bộ lớn thuộc Ðoàn Ủy Cải Cách Ruộng Ðất. Người bạn nhân danh chức vụ đó viết một tấm giấy ra lệnh tên địa chủ Nguyễn Ðăng Quỳ phải trả cho “Ông bộ đội Tô Ðình Hải” đứa con trai của ông đã gửi ở nhà tên địa chủ dù không có họ hàng thân thích gì hết.
Tô Hải kể, “Sáng sớm chưa rõ mặt người, tôi thấy bố vợ tôi mặt mày sưng vù, răng cửa rụng gần hết vì bị đánh, mang tới trụ sở một thằng bé, không, một cái xác trẻ con gầy guộc xám ngoét. Ðó là thằng con yêu quý của tôi. Nó chỉ còn thở thoi thóp sau bảy ngày chỉ sống nhờ những lá rau lang, mà ông bà ngoại ngắt về từ mấy luống khoai trồng trước nhà, mớm cho.... Tôi cắn răng ôm lấy con, không kịp nói một lời an ủi bố vợ. Vì các ông bà nông dân đã đuổi quầy quậy ngay sau khi ông trao trả cháu ngoại...”
Cảnh ông ngoại trả cháu cho bố nó mà không được dặn dò, thăm hỏi một câu; người con rể không dám nói một lời cảm ơn bố vợ; đó là hình ảnh người đọc không thể nào quên được.
Cả xã hội Việt Nam đã phải sống với nhau như vậy trong những năm “long trời lở đất” khi Hồ Chí Minh quyết tâm theo đường lối cách mạng của Mao Chủ Tịch. Chính Tô Hải đã soạn một bản nhạc ca tụng Hồ Chí Minh lấy nền dựa trên giai điệu của bài Ðông Phương Hồng mà bên Trung Quốc dùng để ca ngợi Mao Trạch Ðông!
Liệu ai trong chúng ta có can đảm hành động khác với Tô Hải trong khung cảnh đó? Có ai nhất định phải sống ngay thẳng, sống có đạo nghĩa, không chịu sống hèn hạ từ bỏ cả cha mình hay không? Không biết được. Người không sống trong guồng máy kìm kẹp tàn bạo của Stalin thì không thể biết mình sẽ ứng xử như thế nào cho xứng đáng làm người. Người bạn giúp Tô Hải tấm giấy giới thiệu cho đi “đòi con” chính anh ta sau này cũng bị khai trừ khỏi đảng Cộng Sản, và “khai trừ khỏi... mặt đất” khi bị thất sủng.
Nhưng chúng ta có thể biết chắc là nhạc sĩ Tô Hải không hèn. Ông đã dành hàng chục năm cuối của cuộc đời kể tội chính mình. Ông nằm trên giường bệnh nhưng vẫn vào mạng lưới Internet, trở thành người giữ blog lớn tuổi nhất Việt Nam, nêu gương sáng cho lớp thanh niên. Thông điệp ông gửi cho giới trẻ, cho đồng bào, cho cả những người từng là đồng chí của ông còn trong đảng Cộng Sản, là: Chúng ta không được phép sống hèn nữa. Thế giới đã thay đổi. Phải trở lại làm người!
Phải can đảm phi thường thì một người ở tuổi 83 mới làm được công việc đó. Nhất là trong lúc guồng máy di sản của Stalin và Hồ Chí Minh tuy đã xộc xệch sắp tàn nhưng vẫn còn ngự trị trên đất nước chúng ta. Tô Hải đã thú tội với thân sinh ông. Với nhạc phụ ông. Bao giờ thì những người trong cả guồng máy kìm kẹp trên cũng biết ăn năn thú tội?
Ngô Nhân Dụng Tôi đã đọc hết cuốn hồi ký của Nhạc sĩ Tô Hải. Hơi tiếc, vì ông viết ngắn quá; chỉ có hơn 500 trang giấy in. Vừa đọc vừa tiếc. Vì có lúc đang theo ông qua những đoạn đường, trong bụng chờ sắp được nghe ông kể tiếp một chuyện đang nói nửa chừng, thì ông lại nhảy sang chuyện khác. Tiếc, và trách tác giả không để thêm thời giờ kể rõ ngọn ngành cho người đọc biết thêm. Nhưng khi nghe Tô Hải giải thích trong cuộc phỏng vấn với Ðinh Quang Anh Thái (sắp đăng trên báo này) thì hiểu tại sao. Tô Hải không có ý kể câu chuyện cuộc đời mình. Ông bảo, trong cuốn sách này, “tôi chủ ý chỉ viết về cái hèn của tôi thôi.”
Như vậy thì hiểu được, vì tên cuốn sách đầy đủ là “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn,” như những lời thú tội về cái hèn của mình, một cái hèn đeo mãi trên một con người, kéo dài hơn nửa thế kỷ. Ðến năm gần tuổi 70, con người đó mới chợt thấy phải kể lại mình đã sống hèn như thế nào, và bắt đầu thú nhận.
Một điều cảm động, là tác giả muốn thú tội với thân phụ của ông trước hết. Vì trước khi ông bỏ nhà đi rồi gia nhập đảng Cộng Sản vào năm 17 tuổi, cụ thân sinh đã bảo thẳng người con trai lớn đó là đã “bị Cộng Sản nó lừa.” Không những thế, cụ còn dọa mai mốt có trốn cộng Sản chạy về nhà thì cụ sẽ đuổi đi, không nhận làm con nữa. Cả cuộc đời hai lần Tô Hải mong được gặp lại cha mẹ và các em, một lần năm 1954 khi trở về Hà Nội, và lần sau năm 1975 khi tìm vào Sài Gòn.
Cuối cùng thì ông chỉ gặp lại cụ thân sinh trên những trang giấy của cuốn hồi ký này. Ông đã kể lại một đời sống cam tâm chịu hèn không phải của riêng ông mà còn bao nhiêu những người trí thức bị trói buộc trong guồng máy “chuyên chính vô sản” nên họ đành phải làm tay sai cho đảng Cộng Sản.
Cuốn hồi ký kể biết bao nhiêu câu chuyện như một bức bích họa cho thấy tấm thảm kịch đổ lên đầu dân tộc Việt Nam trong thế kỷ trước, nó hủy hoại nền tảng đạo lý trong xã hội và làm tê liệt lương tâm của từng cá nhân.
Tai họa đó là do cách cai quản con người đã được Stalin sáng chế và Mao Trạch Ðông biên cải cho thích hợp với văn hóa phong tục Á Ðông, rồi được Hồ Chí Minh hết lòng áp dụng nước ta. Ðó là một guồng máy kiềm thúc, cai quản, ràng buộc đó đã biến hàng triệu con người trở thành những tên hèn, ngay cả những người đóng vai kiểm soát những người khác.
Có một đoạn chúng ta không thể nào quên, là năm 1956 khi Tô Hải đi “liều mạng” trở về Thanh Hóa tìm “cứu đứa con trai.” Hai vợ chồng ông đều phải đi làm công tác văn nghệ với quân đội trong thời kháng chiến cho đến sau khi hòa bình, cho nên họ đã gửi đứa con thứ hai này cho ông bà ngoại nuôi. Ông kể,
“Gia đình vợ tôi chẳng có một tấc đất nào, nhưng bị đẩy lên... (hàng) địa chủ.”
Trong thời gian cải cách ruộng đất đó, các cố vấn đã chỉ thị mỗi làng phải có mấy phần trăm là địa chủ, mấy phần trăm là phú nông, bao nhiêu là trung nông, vân vân, đúng như tỷ số theo thống kê từ bên Trung Quốc đã làm. Nếu một làng không đủ người đúng tiêu chuẩn vào mỗi hạng thì những người ở hạng dưới được “đôn lên” hạng trên.
Nhưng thân phụ bà Tô Hải là cụ Nguyễn Ðăng Quỳ vốn không phải là địa chủ, cũng không phải người ở vùng quê Thanh Nghệ này. Ông đã đi theo Nam Bộ Kháng Chiến chống Pháp. Sau đó ông đã bỏ tất cả gia sản ở miền Nam đưa gia đình chạy ra Bắc, sống ở thành phố Vinh.
Tô Hải kể, “Khi Vinh bị tiêu thổ kháng chiến, ông mua mua một mảnh vườn sát chân núi Diễn Châu.”
Nhưng Ðội Cải Cách đã “lôi ông già ra đấu,” họ tra hỏi ông tại sao mua đất, làm vườn ở nơi không phải quê quán mình, “Có phải để bóc lột nông dân hay không?” Họ đặt ra những lời kết tội bịa đặt khác, mà tác giả viết, “Tất cả lý lẽ đưa ra chỉ nhằm mục đích chiếm bằng hết những gì có thể chiếm: Giường tủ, bàn ghế, quần áo, mâm đồng, chậu thau, bát đĩa, ấm chén,... Phải kiếm cho ra một cớ gì để trấn lột công khai. Tôi thì chụp cho (ông cụ) cái mũ ‘kẻ thù giai cấp’ là xong.”
Sau khi bị cướp mất hết, từ cái quần cho đến cái bát đã mẻ, cả gia đình cụ Nguyễn Ðăng Quỳ bị giam tại chỗ ở chân núi, chỉ còn cách sống bằng ăn rau, lá kiếm được trên núi, trong cánh đồng. Hình phạt này là cách bắt những người bị tố chết đói hoặc tự tử. Nhiều người đã tự tử.
Gia đình ông cụ có hai con trai và một con rể (tức Tô Hải) đi bộ đội đánh nhau với Pháp. Khi cụ ông bị đem đấu tố thì Tô Hải và một người con trai của cụ đều biết nhưng không ai dám về thăm bố. Họ phải “dứt khoát với kẻ thù giai cấp” để bảo toàn mạng sống của chính họ và gia đình nho nhỏ của họ.
Nhưng vợ chồng Tô Hải còn đứa con bé gửi ông bà ngoại, đứa bé cũng đang nằm trong “vòng vây của những ông bà nông dân.” Họ phải cứu lấy con! Tô Hải may mắn nhờ một người bạn cũ giúp, ông này là một cán bộ lớn thuộc Ðoàn Ủy Cải Cách Ruộng Ðất. Người bạn nhân danh chức vụ đó viết một tấm giấy ra lệnh tên địa chủ Nguyễn Ðăng Quỳ phải trả cho “Ông bộ đội Tô Ðình Hải” đứa con trai của ông đã gửi ở nhà tên địa chủ dù không có họ hàng thân thích gì hết.
Tô Hải kể, “Sáng sớm chưa rõ mặt người, tôi thấy bố vợ tôi mặt mày sưng vù, răng cửa rụng gần hết vì bị đánh, mang tới trụ sở một thằng bé, không, một cái xác trẻ con gầy guộc xám ngoét. Ðó là thằng con yêu quý của tôi. Nó chỉ còn thở thoi thóp sau bảy ngày chỉ sống nhờ những lá rau lang, mà ông bà ngoại ngắt về từ mấy luống khoai trồng trước nhà, mớm cho.... Tôi cắn răng ôm lấy con, không kịp nói một lời an ủi bố vợ. Vì các ông bà nông dân đã đuổi quầy quậy ngay sau khi ông trao trả cháu ngoại...”
Cảnh ông ngoại trả cháu cho bố nó mà không được dặn dò, thăm hỏi một câu; người con rể không dám nói một lời cảm ơn bố vợ; đó là hình ảnh người đọc không thể nào quên được.
Cả xã hội Việt Nam đã phải sống với nhau như vậy trong những năm “long trời lở đất” khi Hồ Chí Minh quyết tâm theo đường lối cách mạng của Mao Chủ Tịch. Chính Tô Hải đã soạn một bản nhạc ca tụng Hồ Chí Minh lấy nền dựa trên giai điệu của bài Ðông Phương Hồng mà bên Trung Quốc dùng để ca ngợi Mao Trạch Ðông!
Liệu ai trong chúng ta có can đảm hành động khác với Tô Hải trong khung cảnh đó? Có ai nhất định phải sống ngay thẳng, sống có đạo nghĩa, không chịu sống hèn hạ từ bỏ cả cha mình hay không? Không biết được. Người không sống trong guồng máy kìm kẹp tàn bạo của Stalin thì không thể biết mình sẽ ứng xử như thế nào cho xứng đáng làm người. Người bạn giúp Tô Hải tấm giấy giới thiệu cho đi “đòi con” chính anh ta sau này cũng bị khai trừ khỏi đảng Cộng Sản, và “khai trừ khỏi... mặt đất” khi bị thất sủng.
Nhưng chúng ta có thể biết chắc là nhạc sĩ Tô Hải không hèn. Ông đã dành hàng chục năm cuối của cuộc đời kể tội chính mình. Ông nằm trên giường bệnh nhưng vẫn vào mạng lưới Internet, trở thành người giữ blog lớn tuổi nhất Việt Nam, nêu gương sáng cho lớp thanh niên. Thông điệp ông gửi cho giới trẻ, cho đồng bào, cho cả những người từng là đồng chí của ông còn trong đảng Cộng Sản, là: Chúng ta không được phép sống hèn nữa. Thế giới đã thay đổi. Phải trở lại làm người!
Phải can đảm phi thường thì một người ở tuổi 83 mới làm được công việc đó. Nhất là trong lúc guồng máy di sản của Stalin và Hồ Chí Minh tuy đã xộc xệch sắp tàn nhưng vẫn còn ngự trị trên đất nước chúng ta. Tô Hải đã thú tội với thân sinh ông. Với nhạc phụ ông. Bao giờ thì những người trong cả guồng máy kìm kẹp trên cũng biết ăn năn thú tội?

CÂU CHUYỆN NÓI VỚI NHAU Trong nỗi buồn Quê hương mất dần vùng đất biên giới phía Bắc, vùng biển và hải đảo Hoàng sa và Trường sa , gần đây chủ quyền quản lý và khai thác tài nguyên từ núi rừng cao nguyên cũng đã bị xâm phạm và đe dọa nhiều điều.
Người nông dân, công nhân Tây nguyên đang thất nghiệp đứng nhìn hàng ngàn công nhân Tàu cộng đang cướp cơm cướp việc xây dựng các công trình cho việc khai thác Bô-xít, chẳng những chúng đã cướp cơm gạo hai bữa hàng ngày mà còn đe dọa gieo rắc bao nhiêu tai họa cho đất Nước mai sau. Trên rừng đã vậy, đồng bào ven biển thì khá gì hơn ? hàng trăm tàu thuyền của ngư dân trong thời gian qua đã phải uất hận neo tàu tại bến, không dám ra khơi mặc dầu đang trong mùa thả lưới vì họ lo sợ trước lệnh cấm ngư dân ta đến khai thác vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa trong sơ đồ lưỡi bò màu đỏ mà chúng tự nhận là lãnh hải của chúng trong khi từ ngàn xưa Ông Cha chúng ta làm nghề biển đã bám sống từ vùng biển này, là vùng biển kinh tế chung cùng một vùng Trời của quê hương.
Đứng trước đại nạn hủy diệt môi trường sống và nguy cơ mất Nước Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ đã cất cao lời báo nguy và kêu gọi mọi tầng lớp cùng hiệp lực cứu nguy đất nưóc. Tiếng vang vọng đã lan rộng khắp nơi, đánh động lương tâm mọi giới từ trong ra ngoài Nước. Kết quả như thế nào thì tùy theo cảm nhận của mỗi người và còn tùy vào vận Nước, điều cần nói là tất cả những Tổ chức Đoàn thể, Tôn Giáo và mọi giới từ trong đến ngoài Nước đã đồng tình lên tiếng ủng hộ.
Sự việc rõ như ban ngày nhưng nào có được yên ổn để đồng tâm hiệp lực cùng tiến về một hướng cho đại cuộc chung. Vẫn với những con người có bản tánh cực đoan dị biệt, vẫn cái thói đời ganh ghét bất cứ ai hơn họ. Cho dù họ nhận là kẻ có học nhưng không thấy hạnh, họ khoe có tài nhưng chẳng có đức. Qua bao nhiêu giai đoạn thăng trầm hiểm nguy chẳng thấy họ đóng góp được một kế sách gì thực tế, một thành tích gì cụ thể, mà họ chỉ rình thời cơ đánh lén để phá bỉnh và chuyên đánh giặc mồm, lý luận vu vơ, hàm hồ quyết đoán, lời lẽ kiêu ngạo xấc xược nhằm chụp mũ một cách ngơ ngốc nên chẳng triệt hạ được ai chớ nói chi đến Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ.
Phụ họa với thành phần nầy là một nhóm người tuy khác lối nhưng cùng một mục đích là tìm cách triệt hạ và thủ tiêu con đường đấu tranh giải trừ Pháp Nạn và Quốc Nạn do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo mà ỏ Hải ngoại tiêu biểu là là Chư Tôn Giáo Phẩm Văn Phòng II Viện Hoá Đạo . Lặp đi lặp lại, Họ không từ nan một phương tiện nào nhằm đặt đều nói xấu và vu vạ đối tượng bất kể là ai. Thấy không có tác dụng với đồng bào Phật Tử sáng suốt, đi Chùa và chọn Chùa theo tiếng gọi của lương tâm, mỗi ngày đến tu học tại Chùa Điều Ngự mỗi đông; cùng đường họ chuyển hướng tuyên truyền nhắm vào Cơ sở mới Chùa Điều Ngự là Chùa của Cọng sãn để đồng hóa cá mè một lứa với một số cơ sở Chùa Viện có Quí Thầy đã về hoặc có ý định về thỏa hiệp cầu an hoặc Quí Thầy chuyên đón Tăng Ni được đào tạo dưới mái trường XHCN ra Hải ngoại chuyên giúp vui hò hát và thuyết giảng toàn những lời ru ngũ Phật Tử hãy quên quá khứ, xoá bỏ hận thù,không làm chính trị, an tịnh tu tập để giải thoát? Nghĩa là mũ ni che tai !.
Nghe qua có vẽ phải đạo, thuận đường tu ! nhưng nghĩ theo Chánh Pháp thì đó là cách dẫn dắt người Phật Tử nhẹ dạ vào con đường tu mù, tu để hưởng thụ an nhàn cá nhân chớ không phải tu để cứu khổ độ sanh. Tu giữ hạnh Từ bi mà quên mất Trí tuệ và Dũng cảm để nhận biết và hành dộng theo đúng Chánh Pháp.
Đạo như thật của Phật và Chính nghĩa Quốc Gia vẫn sáng ngời trong lòng người Phật Tử tỵ nạn Cộng sãn chân chính , Vì vậy cho dù thuyết phục lôi kéo, mạ lỵ, bôi bẩn hay vu vạ đến đâu thì con đường đấu tranh cho tự do dân chủ, cho nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ XLTV. Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo lãnh Đạo và ở Hải ngọai là Văn Phòng II Viện Hoá Đạo vẫn giữ đường lối sáng ngời với thời gian không thể dập tắt. Một tỷ tư người Trung Cộng với đũ ma chước không thể che khuất và dập tắt được tiếng nói của sáu triệu dân Tây Tạng trong hơn 50 năm qua, nói chi đến con số hai ba trăm phô khoe lòe loẹt.
Chân lý và thực chất sẽ tồn tại mãi mãi.
WESTMINSTER, 8/06/09
Thanh Trúc
Dân tộc Kinh là gì?
Nước Việt Nam chỉ có dân tộc Việt thuần nhất về văn hóa, ngôn ngữ và phong tục tập quán, chiếm đa số (87%) trong 54 dân tộc. Nước Việt Nam không có dân tộc Kinh.
· Dân tộc Kinh là dân tộc thiểu số (khoảng 15 ngàn người) trong 56 dân tộc của Trung Quốc.
Đọc những tài liệu liên quan đền dân tộc Việt Nam phổ biến trên internet gần đây, chúng ta đều không khỏi ngạc nhiên về một nhóm từ mới dùng để chỉ dân tộc Việt: Dân tộc Kinh.
Vậy dân tộc Kinh là gì? Tại sao dân tộc Việt lại biến thành dân tộc Kinh?
Trước hết, chúng ta hãy nêu ra một vài dẫn chứng về sự đổi thay lạ lùng này:
1- . Bài của Quốc Việt – biên soạn theo tài liệu nước ngoài – (nguồn www.temvn.net) :
“DÂN TỘC KINH TẠI TRUNG QUỐC
Dân tộc Kinh (the Kinhs - the Jings – The Gins) là dân tộc chiếm đa số trong cộng đồng 56 dân tộc Việt Nam (thực ra là 54 – tác giả viết lầm) với hơn 70 triệu người. Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, dân tộc Kinh chỉ là một dân tộc thiểu số trong cộng đồng 56 dân tộc. “
2- Bài của Thanh Trúc, phóng viên RFA:
“Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em, trong đó lớn nhất là dân tộc Kinh ở các tỉnh thành khắp ba miền đất nước”.
3- Tài liệu của trang Web Chim Viet Canh Nam về 54 dân tộc Việt cũng gọi dân tộc Việt là dân tộc Kinh.
: http://chimviet. free.fr/dangnet/ 54dantoc/ dtv00001. htm
Tìm hiều nguồn gốc danh từ “Kinh” và “Thượng”.
Trước năm 1975, tại miền Nam chúng ta thường hay nói “Kinh Thượng một nhà” để chỉ tình đoàn kết giữa đồng bào sống ở miền suôi (miền đồng bằng, kinh thành, kinh đô) với đồng bào sống ờ cao nguyên (thượng du, mạn ngược). Người Kinh mà người Thượng thường hay gọi để chỉ những người dân sống dưới đồng bằng, kinh thành, kinh đô… bao gồm người Việt, người Hoa, người Chàm, người Khơ Me…Ngược lại, những người dưới đồng bằng gọi người dân sống ở cao nguyên là người Thượng bao gồm nhiều dân tộc thiểu số như Thổ, Mán, H’Mông, BaNa, Gia Rai, Ê Đê…
Nghĩa ngữ nhóm từ “người sinh sống tại một địa phương” trong tiếng Việt được hiểu là “người địa phương đó”. Thí dụ những người sinh sống tại Hà Nội, ta gọi là “người Hà Nội”. Nếu ai sinh sống tại Sài Gòn, ta gọi là “người Sài Gòn”…”
Như vậy, nhóm từ “người sinh sống tại một địa phương” không có nghĩa là một dân tộc của nước Việt Nam, nói cách khác, nước ta không hề có dân tộc Hà Nội, dân tộc Sài gòn, dân tộc Kinh, dân tộc Thượng, mà chỉ có người Hà Nội, người Sài gòn, người Kinh (gồm nhiều dân tộc), người Thượng (gồm nhiều dân tộc)…
Ngoài ra, ngày nay, người Việt di dân lên sinh sống ở cao nguyên ở rất đông. Thí dụ ở Tây Nguyên, số người thuộc dân tộc Việt đã chiếm đa số với khoảng 4 triệu người so với những sắc tộc thiểu số khác sinh sống tại đây (dưới 20% dân số Tây Nguyên – theo Nguyên Ngọc http://www.viet- studies.info/ kinhte/NguyenNgo c_TayNguyen. pdf ). Vì tình trạng chiến tranh trước đây, số người sinh trưởng tại cao nguyên mà ta gọi là người Thượng, nay đã di cư xuống ở miền đồng bằng khá đông.
Định nghĩa “Dân tộc là gì?”
Tham khảo nguồn tài liệu trên internet, ta tạm thời chấp nhận những định nghĩa sau đây:
Dân tộc là:
Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách.
Thí dụ: Dân tộc Việt, Dân tộc Nga.
Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc.
Thí dụ: Việt Nam là một nước có nhiều 'dân tộc'.
Đoàn kết các 'dân tộc' để cứu nước.
(Hồ Ngọc Đức, Free Vietnamese Dictionary Project (chi tiết)
Lấy từ “http://vi.wiktionar y.org/wiki/ d%C3%A2n_ t%E1%BB%99c)
Nguồn gốc dân tộc Việt:
Có nhiều giả thuyết. Ta tạm thời chấp nhận: “ Dân tộc Việt có nguồn gốc là dân tộc Lạc Việt, cùng chủng tộc với nhóm dân Bách Việt sinh sống tại Lĩnh Nam (phía nam dẫy núi Ngũ Lĩnh và Động Đình hồ) của nước Trung Hoa thời xưa. Xin nhớ: trước thời nhà Tần xâm lăng Bách Việt, miền Lĩnh Nam không thuộc về nước Tàu. Tất nhiên dân Bách Việt bao gồm nhiều tộc Việt cũng không phải là người Tàu và nước Nam Việt sau đó cũng không phải là nước Tàu . Nếu Nam Việt là nước Tàu hay thuộc về nước Tàu thì hà tất nhà Hán phải sai Lộ Bác Đức đem quân đi xâm lăng nước Nam Việt?”:
http://www.hungsuvi et.us/vanhoa/ Timhieunguongocd antocViet. html
Dân tộc Kinh là dân tộc thiếu số của 56 dân tộc Trung Quốc
Nước Việt Nam chỉ có người Kinh (khác với người Thượng) sống dưới đồng bằng mà không có dân tộc Kinh. Nhưng nước Tàu có dân tộc Kinh là một dân tộc thiểu số với khoảng 15 ngàn người trong số 56 dân tộc Trung Hoa. Đây là những người Việt đã di cư từ vùng Đồ Sơn thuộc Việt Nam sang 3 đảo nhỏ Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm thuộc tỉnh Quảng Tây, gần biên giới Hoa Việt vì “chẳng may” 3 đảo này lại thuộc về Trung Quốc:
“Giáo-Sư Nguyễn Văn Canh nói về việc “Trung-Hoa đòi nhượng đất” và “Pháp cắt dất” như sau: Ðiều 3 Hiệp ước Thiên tân có nói rằng " ở nơi nào nếu cần, có thể điều chỉnh lại chi tiết cho đúng để đưa đến một biên giới thực sự cho Bắc kỳ". Phía Trung Hoa vin vào đó, giải thích dấu hiệu này như là giúp đưa đến những sắp xếp sâu rộng, coi như bồi thuờng về đất đai đối với những nhượng bộ chính trị mà Trung Hoa đã ưng thuận ở nơi khác. Lý hồng Chương giải thích cho Đô đốc Rieuner :"Nước Pháp đã được quá nhiều khi chiếm được Bắc Kỳ, một xứ chư hầu của Trung Hoa từ 600 năm nay... Điều này làm tôi rất đỗi ưu tư; cần có một đền bù dưới hình thức nhường một ít đất ở vùng biên giới của Annam đối với tôi như thế là đủ"
“Công ước phân định biên giới trong tình trạng này đã chấp thuận nhượng một phần lãnh thổ Việt nam cho Trung Hoa ở nơi có tranh chấp giữa hai Ủy Ban. Có 2 địa điểm tranh chấp chính được nhượng choTrung Hoa: (1) trên biên giới Vân Nam, là tổng Tụ long, hòan toàn thuộc về đất của Vương quốc Annam và chừng 3/4 đất đai của tổng này bằng 750 cây số vuông được nhượng cho Trung Hoa và (2) thuộc tỉnh Quảng Đông là mũi Packlung và "khu vực người Việt nằm trong lãnh thổ Trung Hoa (Vũ Hữu San - Hải Giới Việt Hoa – http://vuhuusan. 110mb.com/ haigioi.htm)
Tàu muốn gì trong việc gọi dân tộc Việt là “dân tộc Kinh”?
Là người Việt, chúng ta ai cũng biết các triều đại người Tàu luôn luôn dạy con cháu của họ rằng: “nước Việt Nam chỉ là một quận huyện của họ và người Việt Nam cũng xuất phát từ người Tàu mà ra. Họ rất ghét Triệu Đà và nước Nam Việt vì ông vua có nguồn gốc phương bắc này dám chống lại Thiên Triều (thực ra xưa kia Triệu Đà là người nước Triệu, bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt để sát nhập vào nước Tàu), nhất là thừa tướng Lữ Gia người Nam Việt đã dám công khai chống lại quân tướng nhà Tây Hán. Từ khi nhà Hán sai Lộ Bác Đức tiêu diệt xong nước Nam Việt vào năm 111 trước Công Nguyên, các triều đại Trung Hoa tiếp theo không bao giờ gọi dân tộc ta là người Việt cả, và không hề chấp nhận những tên gọi nước ta như “Đại Cồ Việt”, “Đại Việt”, Việt Nam”…do vua nước ta đặt ra. Họ chỉ gọi dân tộc Việt là “Giao Chỉ” sau đó (đời Đường) đổi thành “An Nam” và phong cho những vị vua nước ta là “Giao Chỉ Quận Vương” hoặc “An Nam Quốc Vương”. Thực dân Pháp cũng vậy, chúng toa rập với Tàu gọi người Việt là An Nam (Anamite).
Ngày nay, kể từ khi cố vấn Tàu thành công trong việc khuất phục được đảng CS Việt Nam cầm quyền cai trị nước ta, họ luôn luôn tìm cách đồng hóa nước ta , hết bằng phương tiện quân sự (chiến tranh biên giới 1979, chiến tranh Biển Đông -1987?), đến phương tiện “diễn biến hoà bình” (hiệp ước biên giới đất liền và biển, dự án Bauxite, chi ếm c ứ Hoàng Sa, Trường Sa…). Rồi thừa thắng xông lên, cán bộ Việt gốc Tàu đang xâm nhập vào lãnh vực văn hóa và lịch sử Việt Nam . Hàng loạt những sự thay đổi về Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam như dời lại thời kỳ Bắc Thuộc gần 100 năm (từ -111 thành -207) (?), dùng nhiều từ Hán như “lễ tân”, “công hàm”, “hộ chiếu”, “tham quan”…(ngược hẳn với thời gian trước chiến tranh 1979, lúc đó dùng từ Việt quá lố như “máy bay lên thẳng”, lính thủy đánh bộ “, “Xưởng đẻ”, …).
Chủ trương biến “dân tộc Việt” thành “dân tộc Kinh” - một dân tộc thiểu số trong 56 dân tộc Trung Hoa, phải chăng đây cũng là “điểm” trong kế hoạch đồng hóa Việt Nam thành quận huyện của Tàu, và dân tộc Việt Nam thành dân tộc thiểu số của Tàu?
Chúng ta cần tỉnh táo trước âm mưu đen tối của kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Lịch sử đã chứng minh nước Tàu dù mạnh, dù giàu đến mấy cũng không thề khuất phục nổi dân tộc Việt tuy nhỏ bé kém thế hơn, nhưng tinh thần quật cường bầt khuất lúc nào cũng mạnh hơn.
Chúng ta hãy noi gương bất khuất của danh tướng Trần Bình Trọng:
“Thà làm Quỷ nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc”
Vương Sinh
· Dân tộc Kinh là dân tộc thiểu số (khoảng 15 ngàn người) trong 56 dân tộc của Trung Quốc.
Đọc những tài liệu liên quan đền dân tộc Việt Nam phổ biến trên internet gần đây, chúng ta đều không khỏi ngạc nhiên về một nhóm từ mới dùng để chỉ dân tộc Việt: Dân tộc Kinh.
Vậy dân tộc Kinh là gì? Tại sao dân tộc Việt lại biến thành dân tộc Kinh?
Trước hết, chúng ta hãy nêu ra một vài dẫn chứng về sự đổi thay lạ lùng này:
1- . Bài của Quốc Việt – biên soạn theo tài liệu nước ngoài – (nguồn www.temvn.net) :
“DÂN TỘC KINH TẠI TRUNG QUỐC
Dân tộc Kinh (the Kinhs - the Jings – The Gins) là dân tộc chiếm đa số trong cộng đồng 56 dân tộc Việt Nam (thực ra là 54 – tác giả viết lầm) với hơn 70 triệu người. Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, dân tộc Kinh chỉ là một dân tộc thiểu số trong cộng đồng 56 dân tộc. “
2- Bài của Thanh Trúc, phóng viên RFA:
“Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em, trong đó lớn nhất là dân tộc Kinh ở các tỉnh thành khắp ba miền đất nước”.
3- Tài liệu của trang Web Chim Viet Canh Nam về 54 dân tộc Việt cũng gọi dân tộc Việt là dân tộc Kinh.
: http://chimviet. free.fr/dangnet/ 54dantoc/ dtv00001. htm
Tìm hiều nguồn gốc danh từ “Kinh” và “Thượng”.
Trước năm 1975, tại miền Nam chúng ta thường hay nói “Kinh Thượng một nhà” để chỉ tình đoàn kết giữa đồng bào sống ở miền suôi (miền đồng bằng, kinh thành, kinh đô) với đồng bào sống ờ cao nguyên (thượng du, mạn ngược). Người Kinh mà người Thượng thường hay gọi để chỉ những người dân sống dưới đồng bằng, kinh thành, kinh đô… bao gồm người Việt, người Hoa, người Chàm, người Khơ Me…Ngược lại, những người dưới đồng bằng gọi người dân sống ở cao nguyên là người Thượng bao gồm nhiều dân tộc thiểu số như Thổ, Mán, H’Mông, BaNa, Gia Rai, Ê Đê…
Nghĩa ngữ nhóm từ “người sinh sống tại một địa phương” trong tiếng Việt được hiểu là “người địa phương đó”. Thí dụ những người sinh sống tại Hà Nội, ta gọi là “người Hà Nội”. Nếu ai sinh sống tại Sài Gòn, ta gọi là “người Sài Gòn”…”
Như vậy, nhóm từ “người sinh sống tại một địa phương” không có nghĩa là một dân tộc của nước Việt Nam, nói cách khác, nước ta không hề có dân tộc Hà Nội, dân tộc Sài gòn, dân tộc Kinh, dân tộc Thượng, mà chỉ có người Hà Nội, người Sài gòn, người Kinh (gồm nhiều dân tộc), người Thượng (gồm nhiều dân tộc)…
Ngoài ra, ngày nay, người Việt di dân lên sinh sống ở cao nguyên ở rất đông. Thí dụ ở Tây Nguyên, số người thuộc dân tộc Việt đã chiếm đa số với khoảng 4 triệu người so với những sắc tộc thiểu số khác sinh sống tại đây (dưới 20% dân số Tây Nguyên – theo Nguyên Ngọc http://www.viet- studies.info/ kinhte/NguyenNgo c_TayNguyen. pdf ). Vì tình trạng chiến tranh trước đây, số người sinh trưởng tại cao nguyên mà ta gọi là người Thượng, nay đã di cư xuống ở miền đồng bằng khá đông.
Định nghĩa “Dân tộc là gì?”
Tham khảo nguồn tài liệu trên internet, ta tạm thời chấp nhận những định nghĩa sau đây:
Dân tộc là:
Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách.
Thí dụ: Dân tộc Việt, Dân tộc Nga.
Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc.
Thí dụ: Việt Nam là một nước có nhiều 'dân tộc'.
Đoàn kết các 'dân tộc' để cứu nước.
(Hồ Ngọc Đức, Free Vietnamese Dictionary Project (chi tiết)
Lấy từ “http://vi.wiktionar y.org/wiki/ d%C3%A2n_ t%E1%BB%99c)
Nguồn gốc dân tộc Việt:
Có nhiều giả thuyết. Ta tạm thời chấp nhận: “ Dân tộc Việt có nguồn gốc là dân tộc Lạc Việt, cùng chủng tộc với nhóm dân Bách Việt sinh sống tại Lĩnh Nam (phía nam dẫy núi Ngũ Lĩnh và Động Đình hồ) của nước Trung Hoa thời xưa. Xin nhớ: trước thời nhà Tần xâm lăng Bách Việt, miền Lĩnh Nam không thuộc về nước Tàu. Tất nhiên dân Bách Việt bao gồm nhiều tộc Việt cũng không phải là người Tàu và nước Nam Việt sau đó cũng không phải là nước Tàu . Nếu Nam Việt là nước Tàu hay thuộc về nước Tàu thì hà tất nhà Hán phải sai Lộ Bác Đức đem quân đi xâm lăng nước Nam Việt?”:
http://www.hungsuvi et.us/vanhoa/ Timhieunguongocd antocViet. html
Dân tộc Kinh là dân tộc thiếu số của 56 dân tộc Trung Quốc
Nước Việt Nam chỉ có người Kinh (khác với người Thượng) sống dưới đồng bằng mà không có dân tộc Kinh. Nhưng nước Tàu có dân tộc Kinh là một dân tộc thiểu số với khoảng 15 ngàn người trong số 56 dân tộc Trung Hoa. Đây là những người Việt đã di cư từ vùng Đồ Sơn thuộc Việt Nam sang 3 đảo nhỏ Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm thuộc tỉnh Quảng Tây, gần biên giới Hoa Việt vì “chẳng may” 3 đảo này lại thuộc về Trung Quốc:
“Giáo-Sư Nguyễn Văn Canh nói về việc “Trung-Hoa đòi nhượng đất” và “Pháp cắt dất” như sau: Ðiều 3 Hiệp ước Thiên tân có nói rằng " ở nơi nào nếu cần, có thể điều chỉnh lại chi tiết cho đúng để đưa đến một biên giới thực sự cho Bắc kỳ". Phía Trung Hoa vin vào đó, giải thích dấu hiệu này như là giúp đưa đến những sắp xếp sâu rộng, coi như bồi thuờng về đất đai đối với những nhượng bộ chính trị mà Trung Hoa đã ưng thuận ở nơi khác. Lý hồng Chương giải thích cho Đô đốc Rieuner :"Nước Pháp đã được quá nhiều khi chiếm được Bắc Kỳ, một xứ chư hầu của Trung Hoa từ 600 năm nay... Điều này làm tôi rất đỗi ưu tư; cần có một đền bù dưới hình thức nhường một ít đất ở vùng biên giới của Annam đối với tôi như thế là đủ"
“Công ước phân định biên giới trong tình trạng này đã chấp thuận nhượng một phần lãnh thổ Việt nam cho Trung Hoa ở nơi có tranh chấp giữa hai Ủy Ban. Có 2 địa điểm tranh chấp chính được nhượng choTrung Hoa: (1) trên biên giới Vân Nam, là tổng Tụ long, hòan toàn thuộc về đất của Vương quốc Annam và chừng 3/4 đất đai của tổng này bằng 750 cây số vuông được nhượng cho Trung Hoa và (2) thuộc tỉnh Quảng Đông là mũi Packlung và "khu vực người Việt nằm trong lãnh thổ Trung Hoa (Vũ Hữu San - Hải Giới Việt Hoa – http://vuhuusan. 110mb.com/ haigioi.htm)
Tàu muốn gì trong việc gọi dân tộc Việt là “dân tộc Kinh”?
Là người Việt, chúng ta ai cũng biết các triều đại người Tàu luôn luôn dạy con cháu của họ rằng: “nước Việt Nam chỉ là một quận huyện của họ và người Việt Nam cũng xuất phát từ người Tàu mà ra. Họ rất ghét Triệu Đà và nước Nam Việt vì ông vua có nguồn gốc phương bắc này dám chống lại Thiên Triều (thực ra xưa kia Triệu Đà là người nước Triệu, bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt để sát nhập vào nước Tàu), nhất là thừa tướng Lữ Gia người Nam Việt đã dám công khai chống lại quân tướng nhà Tây Hán. Từ khi nhà Hán sai Lộ Bác Đức tiêu diệt xong nước Nam Việt vào năm 111 trước Công Nguyên, các triều đại Trung Hoa tiếp theo không bao giờ gọi dân tộc ta là người Việt cả, và không hề chấp nhận những tên gọi nước ta như “Đại Cồ Việt”, “Đại Việt”, Việt Nam”…do vua nước ta đặt ra. Họ chỉ gọi dân tộc Việt là “Giao Chỉ” sau đó (đời Đường) đổi thành “An Nam” và phong cho những vị vua nước ta là “Giao Chỉ Quận Vương” hoặc “An Nam Quốc Vương”. Thực dân Pháp cũng vậy, chúng toa rập với Tàu gọi người Việt là An Nam (Anamite).
Ngày nay, kể từ khi cố vấn Tàu thành công trong việc khuất phục được đảng CS Việt Nam cầm quyền cai trị nước ta, họ luôn luôn tìm cách đồng hóa nước ta , hết bằng phương tiện quân sự (chiến tranh biên giới 1979, chiến tranh Biển Đông -1987?), đến phương tiện “diễn biến hoà bình” (hiệp ước biên giới đất liền và biển, dự án Bauxite, chi ếm c ứ Hoàng Sa, Trường Sa…). Rồi thừa thắng xông lên, cán bộ Việt gốc Tàu đang xâm nhập vào lãnh vực văn hóa và lịch sử Việt Nam . Hàng loạt những sự thay đổi về Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam như dời lại thời kỳ Bắc Thuộc gần 100 năm (từ -111 thành -207) (?), dùng nhiều từ Hán như “lễ tân”, “công hàm”, “hộ chiếu”, “tham quan”…(ngược hẳn với thời gian trước chiến tranh 1979, lúc đó dùng từ Việt quá lố như “máy bay lên thẳng”, lính thủy đánh bộ “, “Xưởng đẻ”, …).
Chủ trương biến “dân tộc Việt” thành “dân tộc Kinh” - một dân tộc thiểu số trong 56 dân tộc Trung Hoa, phải chăng đây cũng là “điểm” trong kế hoạch đồng hóa Việt Nam thành quận huyện của Tàu, và dân tộc Việt Nam thành dân tộc thiểu số của Tàu?
Chúng ta cần tỉnh táo trước âm mưu đen tối của kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Lịch sử đã chứng minh nước Tàu dù mạnh, dù giàu đến mấy cũng không thề khuất phục nổi dân tộc Việt tuy nhỏ bé kém thế hơn, nhưng tinh thần quật cường bầt khuất lúc nào cũng mạnh hơn.
Chúng ta hãy noi gương bất khuất của danh tướng Trần Bình Trọng:
“Thà làm Quỷ nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc”
Vương Sinh
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn Xuất Thần Nhập Cuộc
Vấn đề gọi là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước” về vụ mà nhà nước cộng sản Việt Nam đã hợp đồng với Trung Cộng trong việc khai thác bauxite Tây nguyên là một vấn đề nóng bỏng trong suốt mấy tháng gần đây từ trong nước đến hải ngoại.
Về phiá Giáo hội Công giáo có thể nói Thái Hà là nơi thắp sáng niềm tin về việc đòi Công lý và sự thật cho Việt nam, và cũng là nơi đã đốt lên ngọn lửa để báo động về mối nguy cơ khi nhà nước chấp nhận để Trung Cộng thực hiện việc khai thác bauxite Tây nguyên. Trước tình hình đen tối của đất nước do sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Các nhà chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam, vì mối lợi cá nhân, bè phái, họ vẫn khư khư cho rằng việc khai thác bauxite là chủ trương nhất quán của đảng đã có từ đại hội IX đến đại hội X và cho đến nay. Trước hiện trạng bi đát này, linh mục Nguyẽn Văn Khải chỉ còn biết mong đợi và phó thác vào tình yêu của Chúa, nên chỉ biết cầu xin để Chúa thương đoái hoài đến đất nước và dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, ngài đã tổ chức buổi cầu nguyện vào tối 25 tháng 4 tại Thái Hà, để cầu cho các nhà lãnh đạo Việt nam, đủ can đảm từ bỏ kế hoạch khai thác bauxite.
Khi hay tin Quốc Hội Việt nam họp vào những ngày hạ tuần tháng 5, tối ngày 31 tháng 5 vừa qua, cha Nguyễn Văn Khải cũng đã tổ chức buổi cầu nguyện cho các đại biểu Quốc hội ý thức được trách nhiệm của họ khi mang sứ mạng đại diện nhân dân. Xin cho tất cả các đại biểu khi ngồi thảo luận với nhau, có đủ lý trí và sự sáng suốt để cùng can đảm nhất trí đóng góp ý kiến với nhà nước nên chấm dứt việc khai thác bauxite. Song song với Thái Hà, linh mục Lê Quang Uy DCCT, ngày 24 tháng 4 cũng đã phổ biến bài viết: “Hãy Cứu Lấy Tây Nguyên Khỏi Thảm Hoạ Bauxite Đỏ”. Khi baì viết này được phổ biến thì có đến hàng ngàn người đủ mọi thành phần từ trong nước đến hải ngoại đã ghi tên đồng tình ủng hộ lời kêu gọi này, danh sách hiện nay đã có trên bảy ngàn người cùng hưởng ứng ủng hộ lời kêu gọi cứu nguy Tây nguyên..
Ngày 31 tháng 5 năm 2009 là ngày Giáo Hội Công giáo long trọng mừng lễ kính Đức Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Từ Giáo phận Sài Gòn , Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn đã gởi cho toàn thể dân Chúa thuộc Giáo phận ngài cai quản : “Lá Thư Mục Tử “. Đọc lá thư mục tử của Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn thấy có liên quan đến thời sự nóng bỏng, nên người viết đã dùng tựa đề : Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn xuất thần nhập cuộc”. Khi đọc Lá thư mục tử này, tôi lại liên tưởng đến một đoạn văn mà linh mục Lê Quang Uy đã viết trong bài hãy cứu lấy Tây nguyên khỏi thảm họa bauxite đỏ, linh mục Lê Quang Uy viết: “Lúc này đây, tuy đã chậm trễ lắm rồi, chúng tôi vẫn muốn kêu to lên với phía Công Giáo chúng ta, với các vị Giám Mục,các Linh Mục, các Tu Sĩ các Dòng và nhất là anh chị em Giáo dân thân yêu của mọi miền đất nước. Chúng ta là người Công Giáo, chúng ta không thể cứ mãi ở bên lề cuộc sống quê huơng trong sự e ngại, do dự. Chúng ta không thể cứ mãi chờ đợi lẫn nhau mà không ai dám quyết định một việc gì thiết thực và can đảm. Chẳng lẻ chỉ vì sợ bóng sợ vía một cái gì đấy mà chúng ta lại không sợ điều đáng phải sợ hơn cả, đó là tiếng lương tâm, tiếng nói của Chúa Thánh Thần…”( hết trích)
“Tiếng nói lương tâm, tiếng nói của Chúa Thánh Thần trong bài viết của linh mục Lê Quang Uy như một lời mời gọi Giáo hội lên đường và hãy sống phúc âm giữa lòng dân tộc và quả đúng ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống thì Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn đã nhập cuộc theo đúng nghĩa sống phúc âm giữa lòng dân tộc.
Lá thư mục tử có 11 tiết mục được đánh số từ 1 đến số 11. Tiết mục 1 là lời mở đầu được viết như một lời tuyên bố khá minh bạch, minh bạch ở chỗ là Hồng y cho biết đây là trách nhiệm và bổn phận của vị chủ chăn, ngài viết: “Những thông tin trong thời gian gần đây nhắc nhở cho tôi bổn phận giáo dục kitô giáo là giúp mọi thành viên trong gia đình ý thức trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống của mình và cũng là của mọi người anh em đồng bào và đồng loại”.
Vâng, ngài đã khẳng định rõ ràng là phải tạo ý thức cho đoàn chiên, tức cho mọi thành viên trong gia đình giáo phận ý thức trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường sống cho mình và cho đồng bào cũng như đồng loại. Ước gì mọi Giáo phận đều cùng đóng góp như thế, thì tuyệt vời làm sao.
Phần nội dung của lá thư mục tử được chia làm 3 điểm chính rõ ràng như : Ghi nhận sự kiện-(tiết 2 và 3). Nguyên tắc hướng dẫn-( tiết 4, 5, 6 và 7)- Những gợi ý hành động cụ thể.( tiết 8, 9, và 10).
*Ghi nhận sự kiện: Sự kiện xẩy ra được ghi nhận khá bi đát và quan trọng, đó là việc nhà máy sản xuất công ty Vedan gây ô nhiểm nặng cho dòng sông Thị Vải và sự kiện khai thác bauxite. Đề cập đến vấn đề khai thác bauxite, Ngài nói: mới đây nhiều nhân sĩ trí thức trong cũng như ngoài nước lại lên tiếng cảnh báo về việc khai thác bôxít tại Tây nguyên…Mối quan ngại này rất đáng quan tâm và Quốc hội đã quyết định đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự…”.Khi Đức Hồng y viết thư mục tử này thì cũng có nhiều tin tức cho hay: vài vị đại biểu tại cuộc họp Quốc hội cũng lên tiếng phân tích có vẻ xôm tụ lắm, cho nên ngài cũng muốn nhắn gởi các vị đại biểu của dân khi họp Quốc hội, với nhiệm vụ là người đại diện dân cũng phải lên tiếng đóng góp để ngăn chận việc khai thác bauxite. Thế nhưng, lời nhắn này đã đi vào hư không vì các đại biểu này là của đảng chứ không phải của nhân dân. Sự kiện kế tiếp là việc ô nhiểm mội trường đã đế mức báo động, ngài viết ở tiết 3:”…khi thăm nhiều tỉnh thành trong nước, tôi đều thấy tình trạng ô nhiểm môi trươờg tác hại đến sức khoẻ của cộng đồng, huỷ diệt môi sinh, gây hậu quả nghiêm trọng cho nhiều người …” Làm sao mà có thể làm ngơ được trước hiện trạng tồi tệ của một đất nước mà mạnh ai nấy sống dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.
Nguyên tắc hướng dẫn: Đây là những lý lẻ được Đức Hồng Y đưa ra để chứng minh rất cụ thể, nhằm phản đối việc ông Nguyễn Tấn Dũng đã lạm dụng quyền hành để phủ đầu sự chống đối khai thác bauxite của quần chúng với lý luận rằng: việc khai thác nằm trong mục đích phát triển kinh tế. Nguyên tắc hướng dẫn được trình bày qua các tiết số 4, 5, 6, và 7 rất rõ ràng. Tiết 4 nói rõ: “ Môi trường thiên nhiên là quà tặng của Đấng Tạo Hoá và là tài nguyên dành cho hết mọi người. Không ai trong chúng ta tạo dựng nên môi trường thiên nhiên…” Đây là điều xác quyết để cho đảng cộng sản Việt Nam biết rõ ngọn nguồn của sự việc mà hành động trong việc khai thác bauxite. Căn cứ vào luận cứ khai thác bauxite là vấn đề phát triển kinh tế, nên Đức Hồng y đã đưa ra 3 nguyên tắc hướng dẫn kế tiếp ở tiết 5, 6 và 7. Tóm gọn như sau:
“ Vì môi trường là tài nguyên dành cho hết mọi người,
nên không thể nhân danh phát triển kinh tế và tích luỷ lợi nhuận cho một thiểu số mà huỷ hoại môi trường của đại đa số nhất là của người nghèo…
trong phát triển kinh tế phải quan tâm đế sự toàn vẹn và chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên. Các tài nguyên thiên nhiên không phải là nguồn nguyên liệu vô hạn, thậm chí có một số tài nguyên không thể tái tạo được.
trong tiến trình phát triển kinh tế, cần phải quan tâm đến quyền lợi của người dân bản địa…”
Nguyên tắc hướng dẫn là lời cảnh báo cho Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam biết để từ đó mà hành động sao cho xứng hợp với lẻ sống con người. Đừng vì quyền lợi bè nhóm hay lợi nhuận của một thiểu số mà chà đạp lên quyền sống của đa số người dân, nhất là của đồng bào nghèo khổ nơi Tây nguyên.
Những gợi ý hành động cụ thể: Sau phần nguyên tắc hướng dẫn, Đức Hồng y đã đi vào cụ thể để xử sự trước sự kiện mà nhà nước cứ việc khai thác bauxite, không chịu lắng nghe tiếng kêu cứu của nhân dân. Đọc phần những gợi ý hành động cụ thể , tôi thấy Đức Hồng y đã đưa ra một đường hướng rõ ràng cho người Kitô hữu, ngài viết:
..bổn phận của người kitô hữu là cầu nguyện cho nhà cầm quyền cũng như giới hữu trách được khôn ngoan sáng suốt trong việc đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến phúc lợi của người dân và rủi ro của môi trường thiên nhiên…
bổn phận người kitô hữu còn là tôn trọng, gìn giữ và bảo vệ môi trường…
là người công giáo…anh chị em hãy chân thành và thẳng thắn góp ý với gới hữu trách biết yêu dân yêu nước… đặc biệt trong những vấn đề có tầm quan trọng đối với vận mệnh của đất nước và phúc lợi của nhân dân…”
Tóm lại những gợi ý hành động cụ thể mà Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã nêu trong thư mục tử, đối với người công giáo thì rất ư là thiết thực, nhất là trong giai đoạn cấp bách này,” lúc này đây, tuy đã chậm trễ lắm rồi…”, đúng như lời của linh mục Lê Quang Uy trong bài lên tiếng “hãy cứu lấy Tây nguyên khỏi thaả hoạ bauxite đỏ, và cũng đúng với tinh thần Thái Hà bất khuất đang đốt lên ngọn lửa hy vọng.
Chậm còn hơn không, hãy theo tiếng gọi của vị mục tử mà thực hiện những hành động cụ thể, đó là việc cầu nguyện.
Người người cầu nguyện, nhà nhà cầu nguyện, từ cộng đoàn này đến cộng đoàn nọ, từ giáo phận này đến giáo phận khác, cùng nhau cầu nguyện cho nhà cầm quyền cũng như giới hữu trách được khôn ngoan và sáng suốt trong việc đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến phúc lợi của người dân và rủi ro của môi trường thiên nhiên. Song song với việc cầu nguyện là biết tôn trọng và gìn giữ bảo vệ môi trường. Điều quan trọng là lên tiếng thẳng thắn để góp ý với nhà cầm quyền trong việc xây dựng đất nước.
Môi trường thiên nhiên mà Đấng Tạo Hoá đã ban tặng cho con người, là tài nguyên của mọi người chứ không phải của riêng ai, đất nước là của cả dân tộc chứ không phải của riêng đảng cộng sản Việt Nam.
Ước gì những gợi ý hành động cụ thể của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong Lá Thư Mục Tử được toàn thể dân Chúa không phải chỉ trong phạm vi gia đình Giáo phận Sài Gòn mà còn được cả nước hưởng ứng.
Từ hải ngoại ước gì mọi người cùng hiệp thông cầu nguyện xin cho Công lý và sự thật sớm đến với quê hương Việt Nam.
Nguyễn An Quý
Về phiá Giáo hội Công giáo có thể nói Thái Hà là nơi thắp sáng niềm tin về việc đòi Công lý và sự thật cho Việt nam, và cũng là nơi đã đốt lên ngọn lửa để báo động về mối nguy cơ khi nhà nước chấp nhận để Trung Cộng thực hiện việc khai thác bauxite Tây nguyên. Trước tình hình đen tối của đất nước do sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Các nhà chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam, vì mối lợi cá nhân, bè phái, họ vẫn khư khư cho rằng việc khai thác bauxite là chủ trương nhất quán của đảng đã có từ đại hội IX đến đại hội X và cho đến nay. Trước hiện trạng bi đát này, linh mục Nguyẽn Văn Khải chỉ còn biết mong đợi và phó thác vào tình yêu của Chúa, nên chỉ biết cầu xin để Chúa thương đoái hoài đến đất nước và dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, ngài đã tổ chức buổi cầu nguyện vào tối 25 tháng 4 tại Thái Hà, để cầu cho các nhà lãnh đạo Việt nam, đủ can đảm từ bỏ kế hoạch khai thác bauxite.
Khi hay tin Quốc Hội Việt nam họp vào những ngày hạ tuần tháng 5, tối ngày 31 tháng 5 vừa qua, cha Nguyễn Văn Khải cũng đã tổ chức buổi cầu nguyện cho các đại biểu Quốc hội ý thức được trách nhiệm của họ khi mang sứ mạng đại diện nhân dân. Xin cho tất cả các đại biểu khi ngồi thảo luận với nhau, có đủ lý trí và sự sáng suốt để cùng can đảm nhất trí đóng góp ý kiến với nhà nước nên chấm dứt việc khai thác bauxite. Song song với Thái Hà, linh mục Lê Quang Uy DCCT, ngày 24 tháng 4 cũng đã phổ biến bài viết: “Hãy Cứu Lấy Tây Nguyên Khỏi Thảm Hoạ Bauxite Đỏ”. Khi baì viết này được phổ biến thì có đến hàng ngàn người đủ mọi thành phần từ trong nước đến hải ngoại đã ghi tên đồng tình ủng hộ lời kêu gọi này, danh sách hiện nay đã có trên bảy ngàn người cùng hưởng ứng ủng hộ lời kêu gọi cứu nguy Tây nguyên..
Ngày 31 tháng 5 năm 2009 là ngày Giáo Hội Công giáo long trọng mừng lễ kính Đức Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Từ Giáo phận Sài Gòn , Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn đã gởi cho toàn thể dân Chúa thuộc Giáo phận ngài cai quản : “Lá Thư Mục Tử “. Đọc lá thư mục tử của Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn thấy có liên quan đến thời sự nóng bỏng, nên người viết đã dùng tựa đề : Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn xuất thần nhập cuộc”. Khi đọc Lá thư mục tử này, tôi lại liên tưởng đến một đoạn văn mà linh mục Lê Quang Uy đã viết trong bài hãy cứu lấy Tây nguyên khỏi thảm họa bauxite đỏ, linh mục Lê Quang Uy viết: “Lúc này đây, tuy đã chậm trễ lắm rồi, chúng tôi vẫn muốn kêu to lên với phía Công Giáo chúng ta, với các vị Giám Mục,các Linh Mục, các Tu Sĩ các Dòng và nhất là anh chị em Giáo dân thân yêu của mọi miền đất nước. Chúng ta là người Công Giáo, chúng ta không thể cứ mãi ở bên lề cuộc sống quê huơng trong sự e ngại, do dự. Chúng ta không thể cứ mãi chờ đợi lẫn nhau mà không ai dám quyết định một việc gì thiết thực và can đảm. Chẳng lẻ chỉ vì sợ bóng sợ vía một cái gì đấy mà chúng ta lại không sợ điều đáng phải sợ hơn cả, đó là tiếng lương tâm, tiếng nói của Chúa Thánh Thần…”( hết trích)
“Tiếng nói lương tâm, tiếng nói của Chúa Thánh Thần trong bài viết của linh mục Lê Quang Uy như một lời mời gọi Giáo hội lên đường và hãy sống phúc âm giữa lòng dân tộc và quả đúng ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống thì Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn đã nhập cuộc theo đúng nghĩa sống phúc âm giữa lòng dân tộc.
Lá thư mục tử có 11 tiết mục được đánh số từ 1 đến số 11. Tiết mục 1 là lời mở đầu được viết như một lời tuyên bố khá minh bạch, minh bạch ở chỗ là Hồng y cho biết đây là trách nhiệm và bổn phận của vị chủ chăn, ngài viết: “Những thông tin trong thời gian gần đây nhắc nhở cho tôi bổn phận giáo dục kitô giáo là giúp mọi thành viên trong gia đình ý thức trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống của mình và cũng là của mọi người anh em đồng bào và đồng loại”.
Vâng, ngài đã khẳng định rõ ràng là phải tạo ý thức cho đoàn chiên, tức cho mọi thành viên trong gia đình giáo phận ý thức trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường sống cho mình và cho đồng bào cũng như đồng loại. Ước gì mọi Giáo phận đều cùng đóng góp như thế, thì tuyệt vời làm sao.
Phần nội dung của lá thư mục tử được chia làm 3 điểm chính rõ ràng như : Ghi nhận sự kiện-(tiết 2 và 3). Nguyên tắc hướng dẫn-( tiết 4, 5, 6 và 7)- Những gợi ý hành động cụ thể.( tiết 8, 9, và 10).
*Ghi nhận sự kiện: Sự kiện xẩy ra được ghi nhận khá bi đát và quan trọng, đó là việc nhà máy sản xuất công ty Vedan gây ô nhiểm nặng cho dòng sông Thị Vải và sự kiện khai thác bauxite. Đề cập đến vấn đề khai thác bauxite, Ngài nói: mới đây nhiều nhân sĩ trí thức trong cũng như ngoài nước lại lên tiếng cảnh báo về việc khai thác bôxít tại Tây nguyên…Mối quan ngại này rất đáng quan tâm và Quốc hội đã quyết định đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự…”.Khi Đức Hồng y viết thư mục tử này thì cũng có nhiều tin tức cho hay: vài vị đại biểu tại cuộc họp Quốc hội cũng lên tiếng phân tích có vẻ xôm tụ lắm, cho nên ngài cũng muốn nhắn gởi các vị đại biểu của dân khi họp Quốc hội, với nhiệm vụ là người đại diện dân cũng phải lên tiếng đóng góp để ngăn chận việc khai thác bauxite. Thế nhưng, lời nhắn này đã đi vào hư không vì các đại biểu này là của đảng chứ không phải của nhân dân. Sự kiện kế tiếp là việc ô nhiểm mội trường đã đế mức báo động, ngài viết ở tiết 3:”…khi thăm nhiều tỉnh thành trong nước, tôi đều thấy tình trạng ô nhiểm môi trươờg tác hại đến sức khoẻ của cộng đồng, huỷ diệt môi sinh, gây hậu quả nghiêm trọng cho nhiều người …” Làm sao mà có thể làm ngơ được trước hiện trạng tồi tệ của một đất nước mà mạnh ai nấy sống dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.
Nguyên tắc hướng dẫn: Đây là những lý lẻ được Đức Hồng Y đưa ra để chứng minh rất cụ thể, nhằm phản đối việc ông Nguyễn Tấn Dũng đã lạm dụng quyền hành để phủ đầu sự chống đối khai thác bauxite của quần chúng với lý luận rằng: việc khai thác nằm trong mục đích phát triển kinh tế. Nguyên tắc hướng dẫn được trình bày qua các tiết số 4, 5, 6, và 7 rất rõ ràng. Tiết 4 nói rõ: “ Môi trường thiên nhiên là quà tặng của Đấng Tạo Hoá và là tài nguyên dành cho hết mọi người. Không ai trong chúng ta tạo dựng nên môi trường thiên nhiên…” Đây là điều xác quyết để cho đảng cộng sản Việt Nam biết rõ ngọn nguồn của sự việc mà hành động trong việc khai thác bauxite. Căn cứ vào luận cứ khai thác bauxite là vấn đề phát triển kinh tế, nên Đức Hồng y đã đưa ra 3 nguyên tắc hướng dẫn kế tiếp ở tiết 5, 6 và 7. Tóm gọn như sau:
“ Vì môi trường là tài nguyên dành cho hết mọi người,
nên không thể nhân danh phát triển kinh tế và tích luỷ lợi nhuận cho một thiểu số mà huỷ hoại môi trường của đại đa số nhất là của người nghèo…
trong phát triển kinh tế phải quan tâm đế sự toàn vẹn và chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên. Các tài nguyên thiên nhiên không phải là nguồn nguyên liệu vô hạn, thậm chí có một số tài nguyên không thể tái tạo được.
trong tiến trình phát triển kinh tế, cần phải quan tâm đến quyền lợi của người dân bản địa…”
Nguyên tắc hướng dẫn là lời cảnh báo cho Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam biết để từ đó mà hành động sao cho xứng hợp với lẻ sống con người. Đừng vì quyền lợi bè nhóm hay lợi nhuận của một thiểu số mà chà đạp lên quyền sống của đa số người dân, nhất là của đồng bào nghèo khổ nơi Tây nguyên.
Những gợi ý hành động cụ thể: Sau phần nguyên tắc hướng dẫn, Đức Hồng y đã đi vào cụ thể để xử sự trước sự kiện mà nhà nước cứ việc khai thác bauxite, không chịu lắng nghe tiếng kêu cứu của nhân dân. Đọc phần những gợi ý hành động cụ thể , tôi thấy Đức Hồng y đã đưa ra một đường hướng rõ ràng cho người Kitô hữu, ngài viết:
..bổn phận của người kitô hữu là cầu nguyện cho nhà cầm quyền cũng như giới hữu trách được khôn ngoan sáng suốt trong việc đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến phúc lợi của người dân và rủi ro của môi trường thiên nhiên…
bổn phận người kitô hữu còn là tôn trọng, gìn giữ và bảo vệ môi trường…
là người công giáo…anh chị em hãy chân thành và thẳng thắn góp ý với gới hữu trách biết yêu dân yêu nước… đặc biệt trong những vấn đề có tầm quan trọng đối với vận mệnh của đất nước và phúc lợi của nhân dân…”
Tóm lại những gợi ý hành động cụ thể mà Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã nêu trong thư mục tử, đối với người công giáo thì rất ư là thiết thực, nhất là trong giai đoạn cấp bách này,” lúc này đây, tuy đã chậm trễ lắm rồi…”, đúng như lời của linh mục Lê Quang Uy trong bài lên tiếng “hãy cứu lấy Tây nguyên khỏi thaả hoạ bauxite đỏ, và cũng đúng với tinh thần Thái Hà bất khuất đang đốt lên ngọn lửa hy vọng.
Chậm còn hơn không, hãy theo tiếng gọi của vị mục tử mà thực hiện những hành động cụ thể, đó là việc cầu nguyện.
Người người cầu nguyện, nhà nhà cầu nguyện, từ cộng đoàn này đến cộng đoàn nọ, từ giáo phận này đến giáo phận khác, cùng nhau cầu nguyện cho nhà cầm quyền cũng như giới hữu trách được khôn ngoan và sáng suốt trong việc đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến phúc lợi của người dân và rủi ro của môi trường thiên nhiên. Song song với việc cầu nguyện là biết tôn trọng và gìn giữ bảo vệ môi trường. Điều quan trọng là lên tiếng thẳng thắn để góp ý với nhà cầm quyền trong việc xây dựng đất nước.
Môi trường thiên nhiên mà Đấng Tạo Hoá đã ban tặng cho con người, là tài nguyên của mọi người chứ không phải của riêng ai, đất nước là của cả dân tộc chứ không phải của riêng đảng cộng sản Việt Nam.
Ước gì những gợi ý hành động cụ thể của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong Lá Thư Mục Tử được toàn thể dân Chúa không phải chỉ trong phạm vi gia đình Giáo phận Sài Gòn mà còn được cả nước hưởng ứng.
Từ hải ngoại ước gì mọi người cùng hiệp thông cầu nguyện xin cho Công lý và sự thật sớm đến với quê hương Việt Nam.
Nguyễn An Quý
Súc vật hóa con người
Ngô Nhân Dụng Trong Hồi Ký của Một Thằng Hèn, nhạc sĩ Tô Hải tố cáo “Âm mưu súc vật hóa con người được tiến hành rất có tổ chức” của đảng Cộng Sản ở Việt Nam, “là tội lớn thứ hai sau tội giết người.” Vì nó biến đổi hệ thống giá trị của nhiều thế hệ người Việt khiến cho bây giờ họ thấy “không có gì quý hơn đồng tiền!”. (trang 398)
Vì không được cơ hội bảo vệ phẩm giá con người cho nên, Tô Hải kể, “Cha con, vợ chồng sẵn sàng kiện cáo, tranh cướp, thậm chí đâm chém nhau” chỉ vì muốn giành nhau một mối lợi. Ông nêu thí dụ một nhà thơ nổi tiếng đã kiện con trai của mình để giành lại một mảnh vườn trước căn phòng của một thi sĩ bạn thân đã chết.
Nền tảng đạo đức của nước ta bắt đầu bị phá từ thời cải cách ruộng đất, bây giờ thuật lại nhạc sĩ vẫn còn thấy xấu hổ. Phương pháp đấu tố của Mao Trạch Ðông không chỉ nhắm giết người mà còn có mục đích hủy hoại những quy tắc đạo lý cổ truyền: “Thử hỏi trước kia ở đất nước ta có thời đại nào làng xóm giết nhau, cha bị con đấu tố, vợ chỉ mặt chồng giữa sân đình gọi là ‘thằng kia!’ rồi đưa ra đầu làng bắn bỏ hay không?”( trang 235)
Vì sợ hãi guồng máy độc tài cho nên, Tô Hải thú nhận, “Tất cả chúng tôi đều sống giả, sống bằng cái đầu và trái tim của người khác... chính tôi, một nạn nhân đồng thời cũng là một tội đồ... là kẻ cố bám lấy cuộc sống, cố nuốt mọi cục phân thối hoắc... mà vẫn làm ra vẻ tươi cười.” (235)
Nhà văn Solzhenitsyn từng nhận xét là một chế độ độc tài cần hai thứ khí cụ: áp bức và dối trá, có cái này phải có cái kia, thiếu một cái không được. Người nào đã chọn cai trị dân theo lối độc tài thì hệ quả tất nhiên là người đó phải dùng cả hai khí cụ: Phải khủng bố, áp bức dân. Và phải dựng lên một bộ máy dối trá, che đậy, lừa bịp cả thế giới.
Ðấu tố, giết người, là nhưng phương cách tiêu diệt những thành phần khó kiểm soát, đồng thời cũng đe dọa những người khác. Nếu không dụ dỗ được thì ép buộc các văn nghệ sĩ phải “làm ra vẻ tươi cười” đóng vai trò “cung văn,” “minh họa,” đó là guồng máy dối trá giúp bảo vệ chế độ.
Chế độ Cộng Sản ở Việt Nam không sáng chế ra những phương pháp cai trị đó. Chính họ đã học được từ các bậc thầy Mao Trạch Ðông, Stalin và Lenin. Người học trò giỏi của những “đại sư quốc tế” này là Hồ Chí Minh. Ai cũng biết Hồ Chí Minh vẫn đề cao Stalin và Mao Trạch Ðông như các vị thánh sống. Ông Hồ nói, theo Nguyễn Văn Trấn kể lại, “Bác cháu chúng ta có thể nhầm chứ đồng chí Stalin không thể nào nhầm được.” Ông cũng nói, “Những điều gì cần viết đã có Chủ Tịch Mao Trạch Ðông viết cả rồi, tôi không cần viết sách nữa.”
Nhưng các bài học quan trọng nhất giúp Hồ Chí Minh thành công trong việc chiếm chính quyền ở nước ta không phải do sách vở dạy mà do kinh nghiệm sống của chính ông. Ông Hồ đã có mặt ở Liên Bang Xô Viết trong những năm chế độ này thi hành các chính sách đàn áp tàn bạo cũng như những vụ xử án dối trá chưa bao giờ thấy trong lịch sử.
Bài học lớn mà Hồ Chí Minh học được ở cả Liên Xô lẫn Trung Quốc là trong lúc thời thế tao loạn thì kẻ nào tàn ác nhất cuối cùng sẽ thắng. Bá thuật sẽ thắng vương đạo. Ðạo đức, nhân nghĩa, chỉ để nói, để tuyên truyền mà thôi; nếu lấy nhân nghĩa ra dùng thì cũng chỉ nên dùng trong thời bình. Còn trong thời loạn, ai dám giết nhiều người kẻ đó sẽ làm chúa thiên hạ. Hồ Chí Minh đã là một Tào Tháo của nước Việt Nam, lại được Stalin đào luyện những bá thuật quốc tế mới do Lenin truyền dạy nữa.
Nhóm Bôn Sơ Vích và Lenin đã thắng trong cuộc nội chiến Nga 1917 - 1920 vì họ dám giết người tàn bạo nhất so với các phe khác. Chế độ Cộng Sản mà Lenin dựng lên đã tồn tại được cũng vì sau khi cướp quyền được rồi họ vẫn dám giết hết những người có ý kiến chống đối. Nếu quá tay giết cả những người không chống mình cũng không sao! Ðó là quy tắc luân lý mới của Lenin nhưng cũng là một quy tắc xử sự của Tào Tháo: Thà mình phụ người còn hơn người phụ mình! Stalin theo đúng chính sách đó để củng cố quyền hành cá nhân, bằng cách tiêu diệt ngay các đồng chí cũ có thể cạnh tranh với mình. Hồ Chí Minh có mặt ở nước Nga trong những năm khủng bố nặng nề đó, ông đã nhập tâm. Và sau này ông lại học được thêm các phương pháp của Mao Trạch Ðông, ông đủ thông minh để thấy Mao còn hay hơn Xít vì thường giết người mà không cần dùng đến đội hành quyết. Ðem người ta ra đấu tố, bỏ đói cho tới chết; dùng “quần chúng nhân dân” làm quan tòa buộc tội, xử tử hình; cùng lúc đó dùng đội ngũ văn công ca ngợi tội ác của mình; đó là những phương pháp Mao Trạch Ðông đã dùng rồi được Hồ Chí Minh áp dụng một cách trung thành.
Người ta thường chú ý đến những tội ác của Stalin mà không chú ý đến thời Lenin sống ngắn ngủi. Trong cuốn sử The War of the World, Niall Ferguson chép một bức thư mà Lenin gửi cho các người lãnh đạo Bôn Sơ Vích ở Penza, ngày 11 Tháng Tám năm 1918, ra lệnh họ phải giết những “phú nông” (kulak) để thực hiện việc cướp thóc lúa nuôi Hồng quân,
“Các đồng chí! Bọn kulak nổi lên phải bị đè bẹp không thương xót... Phải hành động để làm gương cho chúng thấy. 1) Treo cổ (tôi nhấn mạnh, treo cổ để mọi người phải trông thấy) ít nhất 100 tên kulak hút máu người. 2) Công bố tên họ chúng nó. 3) Lấy hết thóc lúa của chúng nó... Phải làm sao để trong vòng 100 dặm chung quanh mọi người đều phải thấy, phải biết chuyện, phải run sợ, và kêu lên với nhau: Họ đang đi giết bọn kulak và họ sẽ đi giết hết bọn kulak...
Tái Bút: “Hãy dùng các đồng chí cứng rắn nhất!” (trang 150)
Không lãnh tụ nào trong cuộc nội chiến ở Nga dám ra lệnh cho phe mình giết nhiều người như đám Bôn Sơ Vích dám làm. Ferguson tính là không kể các người chết vì chiến tranh, “trong những năm từ 1918 đến 1920 có 300,000 vụ hành quyết vì lý do chính trị. Không phải chỉ có những người thuộc các nhóm đối nghịch bị giết mà cả những người Bôn Sơ Vích cũ dám cả gan phản đối đám lãnh tụ mới.” (trang 152)
Dưới thời Lenin, trại lao động tập trung đầu tiên đã được lập ra, đến năm 1920 đã có mấy trăm trại tập trung, làm mẫu cho những trại giam sau này mà Stalin và Hitler bắt chước. Chính tổ chức mật vụ (Cheka) nảy ra sáng kiến “cải tạo” các tù nhân bằng lao động khổ sai. Trại Solovetsky lập ra năm 1923, sang năm 1924 được chính thức gọi là trại cải tạo. Với sáng kiến của Naftaly Aronovich Frenkel, một tù nhân người gốc Do Thái được tuyển để đóng vai cai tù, trại này có chính sách cho những người tù khỏe mạnh ăn no, còn người yếu cho chết đói không sao. Theo Ferguson thì dưới thời Stalin có ít nhất 18 triệu người, đàn ông, đàn bà, và trẻ con đã đi qua các cổng trại tập trung cải tạo (Mao Trạch Ðông có sáng kiến gọi là Lao Cải: Cải tạo con người bằng công việc lao động). Nhưng con số những người đã bị công cuộc tập thể hóa nông nghiệp của Stalin buộc vào đường cùng phải chết đói còn cao hơn nữa.
Ðối với các vị Chúa Ðỏ thì những cái chết đó không có gì đáng kể. Một cán bộ của Stalin giải thích cho cấp dưới nghe về cuộc đấu tranh giữa đảng Cộng Sản và các nông dân không chịu vào tập thể, “Năm nay là một năm đấu sức giữa chúng ta với chúng nó coi bên nào mạnh hơn. Phải qua một trận đói chúng mới biết ai làm chủ. Hàng triệu người đã chết, nhưng chương trình tập thể hóa nông nghiệp sẽ tồn tại mãi mãi. Chúng ta đã thắng!” (trang 204)
Hồ Chí Minh đã chứng kiến những cảnh đó khi tới Nga lần đầu để được đào luyện trong trường cán bộ quốc tế của Stalin, với vai trò đem chủ nghĩa Cộng Sản gieo rắc khắp nơi trên thế giới. Không phải Lenin hay Stalin nói, mà chính Trotsky đã nói câu này, “Con đường dẫn tới Paris và London đi qua Afghanistan, vùng Punjab và Bengal (Ấn Ðộ).” Dù Stalin đã giết Trotsky nhưng ông ta vẫn theo tấm bản đồ bành trướng đó. Trong số các cán bộ được Stalin đào tạo, hai người thành công nhất là Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn và Hồ Chí Minh ở Việt Nam.
Cho nên chúng ta không ngạc nhiên nếu Hồ Chí Minh đã sử dụng tất cả các phương pháp dùng bạo lực và dối trá mà Stalin đã thử dùng rất có hiệu quả trong việc cướp quyền hành và củng cố quyền hành. Các phương pháp khủng bố bằng bạo lực ở nước ta có thể nói đã giảm bớt cường độ so với các gì Stalin đã làm, vì văn hóa phong tục Việt Nam khác với tác phong của người Nga. Về bạo lực, chính Mao Trạch Ðông mới là khuôn mẫu mà Hồ Chí Minh đã noi theo. Nhưng về mặt dối trá thì giữa Mao và Stalin không khác gì nhau. Việc sử dụng các văn nghệ sĩ vào việc đánh bóng chế độ, ca ngợi lãnh tụ đã được Stalin dùng trước, sau đến Hitler và Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh đã áp dụng giống hệt ở Việt Nam.
Chính những hành động đó là cái Nhạc sĩ Tô Hải gọi là “súc vật hóa con người.”
Khi một chế độ độc tài chỉ dùng bạo lực để giết chóc, đe dọa dân, khủng bố dân, thì họ độc ác nhưng vẫn chưa phi nhân.
Có những chế độ không những độc ác mà còn tìm cách hạ thấp nhân phẩm của mọi người dưới quyền, khiến cho họ trở thành hèn hạ, mất tư cách. Ðó mới là biến con người thành “súc vật” thật sự. Tất nhiên, muốn làm cho tất cả mọi người trở thành hèn hạ, đê tiện thì trước đó phải dùng đến các biện pháp tàn ác để đe dọa. Nhưng cái tội biến con người thành những kẻ hèn hạ, mất cả khái niệm về nhân phẩm còn kinh khủng hơn nữa. Tô Hải cho cái tội “súc vật hóa con người” đứng hàng thứ hai sau tội giết người. Có thể đổi lại cũng được. Tội giết người không nặng bằng, nếu vẫn để cho các nạn nhân ngẩng đầu lên chết xứng đáng làm người. Còn hơn bắt người ta sống như súc vật.
Ngô Nhân Dụng Trong Hồi Ký của Một Thằng Hèn, nhạc sĩ Tô Hải tố cáo “Âm mưu súc vật hóa con người được tiến hành rất có tổ chức” của đảng Cộng Sản ở Việt Nam, “là tội lớn thứ hai sau tội giết người.” Vì nó biến đổi hệ thống giá trị của nhiều thế hệ người Việt khiến cho bây giờ họ thấy “không có gì quý hơn đồng tiền!”. (trang 398)
Vì không được cơ hội bảo vệ phẩm giá con người cho nên, Tô Hải kể, “Cha con, vợ chồng sẵn sàng kiện cáo, tranh cướp, thậm chí đâm chém nhau” chỉ vì muốn giành nhau một mối lợi. Ông nêu thí dụ một nhà thơ nổi tiếng đã kiện con trai của mình để giành lại một mảnh vườn trước căn phòng của một thi sĩ bạn thân đã chết.
Nền tảng đạo đức của nước ta bắt đầu bị phá từ thời cải cách ruộng đất, bây giờ thuật lại nhạc sĩ vẫn còn thấy xấu hổ. Phương pháp đấu tố của Mao Trạch Ðông không chỉ nhắm giết người mà còn có mục đích hủy hoại những quy tắc đạo lý cổ truyền: “Thử hỏi trước kia ở đất nước ta có thời đại nào làng xóm giết nhau, cha bị con đấu tố, vợ chỉ mặt chồng giữa sân đình gọi là ‘thằng kia!’ rồi đưa ra đầu làng bắn bỏ hay không?”( trang 235)
Vì sợ hãi guồng máy độc tài cho nên, Tô Hải thú nhận, “Tất cả chúng tôi đều sống giả, sống bằng cái đầu và trái tim của người khác... chính tôi, một nạn nhân đồng thời cũng là một tội đồ... là kẻ cố bám lấy cuộc sống, cố nuốt mọi cục phân thối hoắc... mà vẫn làm ra vẻ tươi cười.” (235)
Nhà văn Solzhenitsyn từng nhận xét là một chế độ độc tài cần hai thứ khí cụ: áp bức và dối trá, có cái này phải có cái kia, thiếu một cái không được. Người nào đã chọn cai trị dân theo lối độc tài thì hệ quả tất nhiên là người đó phải dùng cả hai khí cụ: Phải khủng bố, áp bức dân. Và phải dựng lên một bộ máy dối trá, che đậy, lừa bịp cả thế giới.
Ðấu tố, giết người, là nhưng phương cách tiêu diệt những thành phần khó kiểm soát, đồng thời cũng đe dọa những người khác. Nếu không dụ dỗ được thì ép buộc các văn nghệ sĩ phải “làm ra vẻ tươi cười” đóng vai trò “cung văn,” “minh họa,” đó là guồng máy dối trá giúp bảo vệ chế độ.
Chế độ Cộng Sản ở Việt Nam không sáng chế ra những phương pháp cai trị đó. Chính họ đã học được từ các bậc thầy Mao Trạch Ðông, Stalin và Lenin. Người học trò giỏi của những “đại sư quốc tế” này là Hồ Chí Minh. Ai cũng biết Hồ Chí Minh vẫn đề cao Stalin và Mao Trạch Ðông như các vị thánh sống. Ông Hồ nói, theo Nguyễn Văn Trấn kể lại, “Bác cháu chúng ta có thể nhầm chứ đồng chí Stalin không thể nào nhầm được.” Ông cũng nói, “Những điều gì cần viết đã có Chủ Tịch Mao Trạch Ðông viết cả rồi, tôi không cần viết sách nữa.”
Nhưng các bài học quan trọng nhất giúp Hồ Chí Minh thành công trong việc chiếm chính quyền ở nước ta không phải do sách vở dạy mà do kinh nghiệm sống của chính ông. Ông Hồ đã có mặt ở Liên Bang Xô Viết trong những năm chế độ này thi hành các chính sách đàn áp tàn bạo cũng như những vụ xử án dối trá chưa bao giờ thấy trong lịch sử.
Bài học lớn mà Hồ Chí Minh học được ở cả Liên Xô lẫn Trung Quốc là trong lúc thời thế tao loạn thì kẻ nào tàn ác nhất cuối cùng sẽ thắng. Bá thuật sẽ thắng vương đạo. Ðạo đức, nhân nghĩa, chỉ để nói, để tuyên truyền mà thôi; nếu lấy nhân nghĩa ra dùng thì cũng chỉ nên dùng trong thời bình. Còn trong thời loạn, ai dám giết nhiều người kẻ đó sẽ làm chúa thiên hạ. Hồ Chí Minh đã là một Tào Tháo của nước Việt Nam, lại được Stalin đào luyện những bá thuật quốc tế mới do Lenin truyền dạy nữa.
Nhóm Bôn Sơ Vích và Lenin đã thắng trong cuộc nội chiến Nga 1917 - 1920 vì họ dám giết người tàn bạo nhất so với các phe khác. Chế độ Cộng Sản mà Lenin dựng lên đã tồn tại được cũng vì sau khi cướp quyền được rồi họ vẫn dám giết hết những người có ý kiến chống đối. Nếu quá tay giết cả những người không chống mình cũng không sao! Ðó là quy tắc luân lý mới của Lenin nhưng cũng là một quy tắc xử sự của Tào Tháo: Thà mình phụ người còn hơn người phụ mình! Stalin theo đúng chính sách đó để củng cố quyền hành cá nhân, bằng cách tiêu diệt ngay các đồng chí cũ có thể cạnh tranh với mình. Hồ Chí Minh có mặt ở nước Nga trong những năm khủng bố nặng nề đó, ông đã nhập tâm. Và sau này ông lại học được thêm các phương pháp của Mao Trạch Ðông, ông đủ thông minh để thấy Mao còn hay hơn Xít vì thường giết người mà không cần dùng đến đội hành quyết. Ðem người ta ra đấu tố, bỏ đói cho tới chết; dùng “quần chúng nhân dân” làm quan tòa buộc tội, xử tử hình; cùng lúc đó dùng đội ngũ văn công ca ngợi tội ác của mình; đó là những phương pháp Mao Trạch Ðông đã dùng rồi được Hồ Chí Minh áp dụng một cách trung thành.
Người ta thường chú ý đến những tội ác của Stalin mà không chú ý đến thời Lenin sống ngắn ngủi. Trong cuốn sử The War of the World, Niall Ferguson chép một bức thư mà Lenin gửi cho các người lãnh đạo Bôn Sơ Vích ở Penza, ngày 11 Tháng Tám năm 1918, ra lệnh họ phải giết những “phú nông” (kulak) để thực hiện việc cướp thóc lúa nuôi Hồng quân,
“Các đồng chí! Bọn kulak nổi lên phải bị đè bẹp không thương xót... Phải hành động để làm gương cho chúng thấy. 1) Treo cổ (tôi nhấn mạnh, treo cổ để mọi người phải trông thấy) ít nhất 100 tên kulak hút máu người. 2) Công bố tên họ chúng nó. 3) Lấy hết thóc lúa của chúng nó... Phải làm sao để trong vòng 100 dặm chung quanh mọi người đều phải thấy, phải biết chuyện, phải run sợ, và kêu lên với nhau: Họ đang đi giết bọn kulak và họ sẽ đi giết hết bọn kulak...
Tái Bút: “Hãy dùng các đồng chí cứng rắn nhất!” (trang 150)
Không lãnh tụ nào trong cuộc nội chiến ở Nga dám ra lệnh cho phe mình giết nhiều người như đám Bôn Sơ Vích dám làm. Ferguson tính là không kể các người chết vì chiến tranh, “trong những năm từ 1918 đến 1920 có 300,000 vụ hành quyết vì lý do chính trị. Không phải chỉ có những người thuộc các nhóm đối nghịch bị giết mà cả những người Bôn Sơ Vích cũ dám cả gan phản đối đám lãnh tụ mới.” (trang 152)
Dưới thời Lenin, trại lao động tập trung đầu tiên đã được lập ra, đến năm 1920 đã có mấy trăm trại tập trung, làm mẫu cho những trại giam sau này mà Stalin và Hitler bắt chước. Chính tổ chức mật vụ (Cheka) nảy ra sáng kiến “cải tạo” các tù nhân bằng lao động khổ sai. Trại Solovetsky lập ra năm 1923, sang năm 1924 được chính thức gọi là trại cải tạo. Với sáng kiến của Naftaly Aronovich Frenkel, một tù nhân người gốc Do Thái được tuyển để đóng vai cai tù, trại này có chính sách cho những người tù khỏe mạnh ăn no, còn người yếu cho chết đói không sao. Theo Ferguson thì dưới thời Stalin có ít nhất 18 triệu người, đàn ông, đàn bà, và trẻ con đã đi qua các cổng trại tập trung cải tạo (Mao Trạch Ðông có sáng kiến gọi là Lao Cải: Cải tạo con người bằng công việc lao động). Nhưng con số những người đã bị công cuộc tập thể hóa nông nghiệp của Stalin buộc vào đường cùng phải chết đói còn cao hơn nữa.
Ðối với các vị Chúa Ðỏ thì những cái chết đó không có gì đáng kể. Một cán bộ của Stalin giải thích cho cấp dưới nghe về cuộc đấu tranh giữa đảng Cộng Sản và các nông dân không chịu vào tập thể, “Năm nay là một năm đấu sức giữa chúng ta với chúng nó coi bên nào mạnh hơn. Phải qua một trận đói chúng mới biết ai làm chủ. Hàng triệu người đã chết, nhưng chương trình tập thể hóa nông nghiệp sẽ tồn tại mãi mãi. Chúng ta đã thắng!” (trang 204)
Hồ Chí Minh đã chứng kiến những cảnh đó khi tới Nga lần đầu để được đào luyện trong trường cán bộ quốc tế của Stalin, với vai trò đem chủ nghĩa Cộng Sản gieo rắc khắp nơi trên thế giới. Không phải Lenin hay Stalin nói, mà chính Trotsky đã nói câu này, “Con đường dẫn tới Paris và London đi qua Afghanistan, vùng Punjab và Bengal (Ấn Ðộ).” Dù Stalin đã giết Trotsky nhưng ông ta vẫn theo tấm bản đồ bành trướng đó. Trong số các cán bộ được Stalin đào tạo, hai người thành công nhất là Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn và Hồ Chí Minh ở Việt Nam.
Cho nên chúng ta không ngạc nhiên nếu Hồ Chí Minh đã sử dụng tất cả các phương pháp dùng bạo lực và dối trá mà Stalin đã thử dùng rất có hiệu quả trong việc cướp quyền hành và củng cố quyền hành. Các phương pháp khủng bố bằng bạo lực ở nước ta có thể nói đã giảm bớt cường độ so với các gì Stalin đã làm, vì văn hóa phong tục Việt Nam khác với tác phong của người Nga. Về bạo lực, chính Mao Trạch Ðông mới là khuôn mẫu mà Hồ Chí Minh đã noi theo. Nhưng về mặt dối trá thì giữa Mao và Stalin không khác gì nhau. Việc sử dụng các văn nghệ sĩ vào việc đánh bóng chế độ, ca ngợi lãnh tụ đã được Stalin dùng trước, sau đến Hitler và Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh đã áp dụng giống hệt ở Việt Nam.
Chính những hành động đó là cái Nhạc sĩ Tô Hải gọi là “súc vật hóa con người.”
Khi một chế độ độc tài chỉ dùng bạo lực để giết chóc, đe dọa dân, khủng bố dân, thì họ độc ác nhưng vẫn chưa phi nhân.
Có những chế độ không những độc ác mà còn tìm cách hạ thấp nhân phẩm của mọi người dưới quyền, khiến cho họ trở thành hèn hạ, mất tư cách. Ðó mới là biến con người thành “súc vật” thật sự. Tất nhiên, muốn làm cho tất cả mọi người trở thành hèn hạ, đê tiện thì trước đó phải dùng đến các biện pháp tàn ác để đe dọa. Nhưng cái tội biến con người thành những kẻ hèn hạ, mất cả khái niệm về nhân phẩm còn kinh khủng hơn nữa. Tô Hải cho cái tội “súc vật hóa con người” đứng hàng thứ hai sau tội giết người. Có thể đổi lại cũng được. Tội giết người không nặng bằng, nếu vẫn để cho các nạn nhân ngẩng đầu lên chết xứng đáng làm người. Còn hơn bắt người ta sống như súc vật.
Iran bầu tổng thống
Ngô Nhân Dụng Khi hỏi những người sống ở Mỹ về chế độ chính trị nước Iran như thế nào, chắc hẳn chúng ta sẽ chỉ nghe những câu trả lời tiêu cực. Ðó là một nước độc tài do các giáo sĩ Hồi Giáo cai trị, dân chúng không được tự do, phụ nữ ra đường phải quàng khăn che mặt, cảnh sát kiểm tục buộc mọi người theo đúng các quy tắc đạo đức cổ hủ, những người chỉ trích chính quyền sẽ bị bắt giam, vân vân.
Cuộc tranh cử tổng thống ở Iran trong mấy tháng vừa qua cho chúng ta thấy một hình ảnh khác. Dân Iran được tự do bỏ phiếu chọn người nắm quyền hành pháp. Tuy danh sách ứng cử viên hơn 400 người phải qua tay các giáo sĩ trong Hội Ðồng Lãnh Ðạo Tối Cao để họ lọc lựa chỉ còn bốn người, nhưng dân chúng Iran đã tham gia vào cuộc tranh cử với tinh thần hăng hái và con số cao ít khi thấy ở những quốc gia tự do dân chủ đã trưởng thành. Một cuộc tranh cử gay go thực sự diễn ra, những tiếng nói đối lập với ông tổng thống đương quyền được hàng trăm ngàn dân chúng tụ họp cất lên không e sợ. Ngày hôm qua các cử tri Iran đã bị bỏ phiếu với một tỷ lệ cao kỷ lục.
Kết quả cuộc bỏ phiếu chưa được công bố chính thức, nhưng chúng ta có thể thấy rõ một điều này: Người dân nước Iran thiết tha muốn thực hiện quyền dân chủ. Mặc dù có cơ cấu chế độ còn những hạn chế, không hoàn toàn tự do như ở các nước Tây phương, nhưng khi được phép bày tỏ ý kiến và bỏ phiếu tự do thì người dân Iran đã nắm ngay lấy các cơ hội đó.
Nhưng dân Ba Tư ở nước Iran không phải là một chủng tộc có gì đặc biệt trong thế giới loài người. Họ cũng là những con người như chúng ta, nhưng họ có một nền văn minh cổ kính có thể so sánh với các nền văn minh Trung Hoa, Ấn Ðộ. Khi được tham dự “cuộc chơi dân chủ,” người Iran đã dự hết mình. Mà dân chúng bất cứ quốc gia nào cũng vậy, khi có quyền tham dự vào “cuộc chơi dân chủ,” thì ở đâu người ta cũng sẵn sàng, không sợ hãi. Luật chơi dân chủ được thí nghiệm ở các nước Âu Châu và Mỹ Châu trước, nhưng các luật chơi đó không phải chỉ áp dụng được tại các dân tộc Tây phương. Cũng giống như trò chơi đá bóng, các quy luật về bóng đá ở Anh Quốc đặt ra trước rồi các nước khác bổ túc thêm. Nhưng khi đã có quả banh và biết luật chơi rồi thì khắp thế giới loài người ai cũng tham dự trò đá banh được.
Nước Iran có ông Tổng Thống Mahmoud Ahmadi-Nejad bị cả nước Mỹ ghét vì ông ta luôn miệng chỉ trích Mỹ. Ông ta đặc biệt ghét nước Israel, mà người Israel cũng ghét ông ta. Tất cả các cường quốc đều muốn ngăn cản không cho Iran làm bom nguyên tử, tuy giới lãnh đạo nước này cam kết họ chỉ tinh luyện Uranium để làm lò nguyên tử chứ không làm bom nhưng không ai tin. Và người Iran thì coi họ có quyền khai thác năng lượng nguyên tử hòa bình, thế giới bên ngoài không được ngăn cản. Những điều này có thể giải thích tại sao Iran bị thế giới cô lập, và nhìn từ bên ngoài người ta chỉ thấy nước Iran là một nơi đầy tăm tối.
Nhưng chúng ta vẫn thấy một điểm sáng trong xã hội Iran. Ðó là sự tham gia hăng hái của người dân vào diễn trình dân chủ hóa chứng tỏ dù chưa đạt tới định chế dân chủ hoàn toàn, người ta vẫn tiến tới trên đường dân chủ hóa. Ðối với mọi dân tộc, mọi thời đại, bất cứ một bước tiến bộ nào trên con đường dân chủ hóa đều đáng mừng.
Tại Iran hiện nay, các giáo sĩ Hồi Giáo cao cấp vẫn nắm quyền quyết định đường lối quốc gia, cho nên quyền hành của vị tổng thống bị giới hạn. Tuy nhiên, các giáo sĩ tối cao không can thiệp trực tiếp vào các chính sách kinh tế của chính phủ. Trong cuộc tranh cử tại Iran, trên các vấn đề kinh tế cũng như việc ngoại giao chúng ta thấy giữa hai ứng cử viên chính có những ý kiến đối nghịch rõ rệt. Và các người ủng hộ họ bày tỏ sự đồng tình với ứng cử viên của mình một cách hăng hái, tập họp hàng trăm ngàn người, không khác gì cuộc bầu cử năm ngoái ở Mỹ. Không những thế, ban vận động của ứng cử viên đối lập đã thú nhận họ chịu ảnh hưởng của cuộc tranh cử năm ngoái ở Mỹ, và họ đã nghiên cứu những phương pháp vận động của ứng cử viên Barack Obama để sử dụng ở Iran. Họ đã dùng Internet, với các mạng lưới nối kết và thông tin để vận động giới trẻ.
Có 3 ứng cử viên chính muốn giành chức vụ tổng thống với ông Ahmadi-Nejad, nhưng người đối lập mạnh nhất là ông Hossein Moussavi, 67 tuổi, cựu thủ tướng Iran vào thập niên 1980, trong những năm Saddam Hussein đưa quân Iraq tấn công Iran rồi bị chặn lại. Moussavi vốn là một kiến trúc sư và một họa sĩ, đã được hai vị cựu tổng thống ủng hộ, nhưng Ahmadi-Nejad được lợi thế là mới cầm quyền 4 năm, trong thời gian đó ông đã chinh phục một số thành phần cử tri bằng các chương trình trợ cấp của chính phủ; mà hiện nay ông không bị các giáo sĩ lãnh đạo tối cao bài bác, tức là vẫn chấp nhận. Trong cuộc bỏ phiếu ngày hôm qua ông tổng thống chiếm được đa số ở nông thôn, còn phe đối lập được đa số ở các thành phố lớn. Tình trạng này cũng tương tự như ở Thái Lan trước đây, khi ông cựu Thủ Tướng Thaksin chinh phục được nông thôn còn phe đối lập được giới trí thức và doanh nhân thành thị ủng hộ.
Tổng Thống Ahmadi-Nejad đã dùng tiền thu nhập quốc gia tăng lên nhờ giá dầu lửa cao để thi hành các chương trình xã hội cho các vùng quê và giới lao động nghèo ở thành phố. Ông đã chinh phục được lòng người. Nhưng ngay từ năm 2005 khi ông Ahmadi-Nejad mới đắc cử, những tiếng nói đối lập vẫn được tự do phát biểu. Nhiều lần ông xuất hiện ở trường đại học trong lúc sinh viên tổ chức biểu tình phản đối. Có sinh viên hô lớn tố cáo ông tổng thống là độc tài, ngay trong lúc ông đang nói. Họ còn đốt hình nộm của ông trong cuộc biểu tình. Các hành động đó đều được báo chí đối lập đăng, được chiếu trên truyền hình. Ðiều đó cho thấy xứ Iran còn cởi mở, tự do hơn nhiều nước khác, nhất là các xứ Cộng Sản từ Trung Quốc đến Việt Nam.
Ứng cử viên đối lập Moussavi tố cáo chính sách chi tiêu vào trợ cấp xã hội của ông Ahmadi-Nejad đã đưa tới tình trạng lạm phát cao đến 24% một năm, vật giá leo thang, nhất là giá thực phẩm tăng, chỉ làm khổ dân nghèo. Phe đối lập cũng nêu lên tỷ số thất nghiệp quá cao, hơn 12%, và đời sống của người dân vẫn thấp vì chính phủ không biết sử dụng tài nguyên nhờ dầu lửa vào những dự án ích lợi nhất. Khi giá dầu lửa xuống, từ 147 đô la năm ngoái xuống tới 40 đô la, và nay khoảng 70 đô la một thùng, thì ngân sách thiếu hụt. Mặc dù Iran là nước có số dự trữ dầu lửa lớn thứ ba trên thế giới nhưng nước này vẫn phải nhập cảng xăng vì không phát triển được các nhà máy lọc dầu.
Một lý do khiến Iran không có nhà máy lọc dầu cũng vì chính sách ngoại giao của ông Ahmadi-Nejad gây thù nghịch với các nước Tây phương khiến họ áp dụng biện pháp cấm vận.
Ứng cử viên Moussavi đã tấn công đương kim tổng thống trên mặt này, tố cáo ông Ahmadi-Nejad gây thù hận với Mỹ và các nước Tây phương một cách vô ích, chỉ để thỏa mãn tính tự cao và thích nói khoa trương của ông ta. Ông Moussavi cũng hứa nếu đắc cử sẽ thay đổi chính sách ngoại giao đó, sẽ đối thoại với các nước láng giềng cũng như Tây phương. Riêng đối với dân Iran, ông còn hứa sẽ công nhận thêm nhiều quyền tự do báo chí, tự do hội họp.
Những ý kiến đối nghịch về cách cai trị quốc gia của hai ứng cử viên chính này cho thấy người dân Iran được thấy có những đường lối cai trị khác nhau, chứ không phải chỉ chọn giữa hai cá nhân. Ðó là một dấu hiệu của tự do dân chủ, mặc dù chưa đầy đủ. Nhưng dấu hiệu quan trọng nhất trong cuộc tranh cử vừa qua là sự tham dự hăng hái của người dân, đặc biệt là các thanh niên.
Một người đóng vai “chiến lược gia” trong ban vận động của ông Moussavi là Mohamad Jalaeipour, một thanh niên 26 tuổi, đang làm luận án tiến sĩ về xã hội học. Anh nói với phóng viên nhật báo Wall Street rằng năm ngoái anh đã mê man theo dõi trên truyền hình cuộc vận động tranh cử ở Mỹ. Lúc đó anh đã nghĩ cách làm sao áp dụng được những phương pháp tranh cử như vậy ở nước anh. Tháng Ba vừa qua anh đến với ban vận động của ông Moussavi với một đề nghị 30 điểm, mà anh thú nhận đã học từ khi xem cuộc vận động của ứng cử viên Obama. Do đề nghị của chàng sinh viên 26 tuổi này mà ông Moussavi đã để cho bà vợ tham dự cuộc tranh cử của mình. Có lúc bà đi vận động một mình, có lúc đi với chồng, và có lúc họ còn nắm tay nhau trước công chúng, một điều mới mẻ đối với người Iran! Bắt chước phương pháp vận động ở Mỹ, ông Moussavi đã để cho các người trẻ mở chiến dịch ghi danh cử tri mới, khuyến khích họ đi bầu. Trong dân số Iran 60% là những người dưới 30 tuổi. Họ đã tham dự nhiều cuộc biểu tình hàng trăm ngàn người ở thủ đô Teheran và các thành phố để đả đảo ông tổng thống và ủng hộ ứng cử viên đối lập.
Kết quả cuộc bỏ phiếu, được công bố trong ngày Thứ Bảy, chắc sẽ làm những thanh niên trên thất vọng. Ông Ahmadi-Nejad có thể chiếm được đa số phiếu ở nông thôn để tiếp tục làm tổng thống 4 năm nữa.
Ở bên ngoài nước Iran, chúng ta phải cảm phục tinh thần hăng hái của các cử tri xứ này khi họ đi bỏ phiếu dưới trời nắng với nhiệt độ lên tới 45 độ C, 113 độ F, nhất là những phụ nữ mặc áo choàng đen từ đầu xuống chân! Dân Iran sống ở nước ngoài cũng có quyền bỏ phiếu, và ngay tại tiểu bang California này hôm qua nhiều người Iran đã thi hành quyền công dân của họ.
Iran đã là một nước tự do dân chủ thật sự hay chưa? Chưa thể coi là dân chủ thật khi các vị giáo sĩ vẫn nắm quyền tối cao. Nhưng Dân Chủ là một tòa nhà phải xây từng bước một, không phải là thứ nhà tiền chế. Chính người dân một nước phải tự xây dựng chế độ tự do dân chủ cho mình. Phải đòi hỏi quyền dân chủ, từng bước một. Giống như xây nền tảng cho ngôi nhà Dân Chủ. Ðòi được quyền nào phải sử dụng ngay quyền đó. Dân Iran chứng tỏ họ đã có ý thức dân chủ rất cao khi họ hăng hái tham dự một cuộc tranh cử không có hành vi bạo động nào đáng kể. Và họ rủ nhau đi bỏ phiếu với tỷ số gần 80%. Nếu dân Việt Nam có quyền bầu cử thật, được tự do chọn những người lãnh đạo thật, chắc chắn đồng bào chúng ta cũng thể hiện tinh thần tham gia cao như vậy.
Ngô Nhân Dụng Khi hỏi những người sống ở Mỹ về chế độ chính trị nước Iran như thế nào, chắc hẳn chúng ta sẽ chỉ nghe những câu trả lời tiêu cực. Ðó là một nước độc tài do các giáo sĩ Hồi Giáo cai trị, dân chúng không được tự do, phụ nữ ra đường phải quàng khăn che mặt, cảnh sát kiểm tục buộc mọi người theo đúng các quy tắc đạo đức cổ hủ, những người chỉ trích chính quyền sẽ bị bắt giam, vân vân.
Cuộc tranh cử tổng thống ở Iran trong mấy tháng vừa qua cho chúng ta thấy một hình ảnh khác. Dân Iran được tự do bỏ phiếu chọn người nắm quyền hành pháp. Tuy danh sách ứng cử viên hơn 400 người phải qua tay các giáo sĩ trong Hội Ðồng Lãnh Ðạo Tối Cao để họ lọc lựa chỉ còn bốn người, nhưng dân chúng Iran đã tham gia vào cuộc tranh cử với tinh thần hăng hái và con số cao ít khi thấy ở những quốc gia tự do dân chủ đã trưởng thành. Một cuộc tranh cử gay go thực sự diễn ra, những tiếng nói đối lập với ông tổng thống đương quyền được hàng trăm ngàn dân chúng tụ họp cất lên không e sợ. Ngày hôm qua các cử tri Iran đã bị bỏ phiếu với một tỷ lệ cao kỷ lục.
Kết quả cuộc bỏ phiếu chưa được công bố chính thức, nhưng chúng ta có thể thấy rõ một điều này: Người dân nước Iran thiết tha muốn thực hiện quyền dân chủ. Mặc dù có cơ cấu chế độ còn những hạn chế, không hoàn toàn tự do như ở các nước Tây phương, nhưng khi được phép bày tỏ ý kiến và bỏ phiếu tự do thì người dân Iran đã nắm ngay lấy các cơ hội đó.
Nhưng dân Ba Tư ở nước Iran không phải là một chủng tộc có gì đặc biệt trong thế giới loài người. Họ cũng là những con người như chúng ta, nhưng họ có một nền văn minh cổ kính có thể so sánh với các nền văn minh Trung Hoa, Ấn Ðộ. Khi được tham dự “cuộc chơi dân chủ,” người Iran đã dự hết mình. Mà dân chúng bất cứ quốc gia nào cũng vậy, khi có quyền tham dự vào “cuộc chơi dân chủ,” thì ở đâu người ta cũng sẵn sàng, không sợ hãi. Luật chơi dân chủ được thí nghiệm ở các nước Âu Châu và Mỹ Châu trước, nhưng các luật chơi đó không phải chỉ áp dụng được tại các dân tộc Tây phương. Cũng giống như trò chơi đá bóng, các quy luật về bóng đá ở Anh Quốc đặt ra trước rồi các nước khác bổ túc thêm. Nhưng khi đã có quả banh và biết luật chơi rồi thì khắp thế giới loài người ai cũng tham dự trò đá banh được.
Nước Iran có ông Tổng Thống Mahmoud Ahmadi-Nejad bị cả nước Mỹ ghét vì ông ta luôn miệng chỉ trích Mỹ. Ông ta đặc biệt ghét nước Israel, mà người Israel cũng ghét ông ta. Tất cả các cường quốc đều muốn ngăn cản không cho Iran làm bom nguyên tử, tuy giới lãnh đạo nước này cam kết họ chỉ tinh luyện Uranium để làm lò nguyên tử chứ không làm bom nhưng không ai tin. Và người Iran thì coi họ có quyền khai thác năng lượng nguyên tử hòa bình, thế giới bên ngoài không được ngăn cản. Những điều này có thể giải thích tại sao Iran bị thế giới cô lập, và nhìn từ bên ngoài người ta chỉ thấy nước Iran là một nơi đầy tăm tối.
Nhưng chúng ta vẫn thấy một điểm sáng trong xã hội Iran. Ðó là sự tham gia hăng hái của người dân vào diễn trình dân chủ hóa chứng tỏ dù chưa đạt tới định chế dân chủ hoàn toàn, người ta vẫn tiến tới trên đường dân chủ hóa. Ðối với mọi dân tộc, mọi thời đại, bất cứ một bước tiến bộ nào trên con đường dân chủ hóa đều đáng mừng.
Tại Iran hiện nay, các giáo sĩ Hồi Giáo cao cấp vẫn nắm quyền quyết định đường lối quốc gia, cho nên quyền hành của vị tổng thống bị giới hạn. Tuy nhiên, các giáo sĩ tối cao không can thiệp trực tiếp vào các chính sách kinh tế của chính phủ. Trong cuộc tranh cử tại Iran, trên các vấn đề kinh tế cũng như việc ngoại giao chúng ta thấy giữa hai ứng cử viên chính có những ý kiến đối nghịch rõ rệt. Và các người ủng hộ họ bày tỏ sự đồng tình với ứng cử viên của mình một cách hăng hái, tập họp hàng trăm ngàn người, không khác gì cuộc bầu cử năm ngoái ở Mỹ. Không những thế, ban vận động của ứng cử viên đối lập đã thú nhận họ chịu ảnh hưởng của cuộc tranh cử năm ngoái ở Mỹ, và họ đã nghiên cứu những phương pháp vận động của ứng cử viên Barack Obama để sử dụng ở Iran. Họ đã dùng Internet, với các mạng lưới nối kết và thông tin để vận động giới trẻ.
Có 3 ứng cử viên chính muốn giành chức vụ tổng thống với ông Ahmadi-Nejad, nhưng người đối lập mạnh nhất là ông Hossein Moussavi, 67 tuổi, cựu thủ tướng Iran vào thập niên 1980, trong những năm Saddam Hussein đưa quân Iraq tấn công Iran rồi bị chặn lại. Moussavi vốn là một kiến trúc sư và một họa sĩ, đã được hai vị cựu tổng thống ủng hộ, nhưng Ahmadi-Nejad được lợi thế là mới cầm quyền 4 năm, trong thời gian đó ông đã chinh phục một số thành phần cử tri bằng các chương trình trợ cấp của chính phủ; mà hiện nay ông không bị các giáo sĩ lãnh đạo tối cao bài bác, tức là vẫn chấp nhận. Trong cuộc bỏ phiếu ngày hôm qua ông tổng thống chiếm được đa số ở nông thôn, còn phe đối lập được đa số ở các thành phố lớn. Tình trạng này cũng tương tự như ở Thái Lan trước đây, khi ông cựu Thủ Tướng Thaksin chinh phục được nông thôn còn phe đối lập được giới trí thức và doanh nhân thành thị ủng hộ.
Tổng Thống Ahmadi-Nejad đã dùng tiền thu nhập quốc gia tăng lên nhờ giá dầu lửa cao để thi hành các chương trình xã hội cho các vùng quê và giới lao động nghèo ở thành phố. Ông đã chinh phục được lòng người. Nhưng ngay từ năm 2005 khi ông Ahmadi-Nejad mới đắc cử, những tiếng nói đối lập vẫn được tự do phát biểu. Nhiều lần ông xuất hiện ở trường đại học trong lúc sinh viên tổ chức biểu tình phản đối. Có sinh viên hô lớn tố cáo ông tổng thống là độc tài, ngay trong lúc ông đang nói. Họ còn đốt hình nộm của ông trong cuộc biểu tình. Các hành động đó đều được báo chí đối lập đăng, được chiếu trên truyền hình. Ðiều đó cho thấy xứ Iran còn cởi mở, tự do hơn nhiều nước khác, nhất là các xứ Cộng Sản từ Trung Quốc đến Việt Nam.
Ứng cử viên đối lập Moussavi tố cáo chính sách chi tiêu vào trợ cấp xã hội của ông Ahmadi-Nejad đã đưa tới tình trạng lạm phát cao đến 24% một năm, vật giá leo thang, nhất là giá thực phẩm tăng, chỉ làm khổ dân nghèo. Phe đối lập cũng nêu lên tỷ số thất nghiệp quá cao, hơn 12%, và đời sống của người dân vẫn thấp vì chính phủ không biết sử dụng tài nguyên nhờ dầu lửa vào những dự án ích lợi nhất. Khi giá dầu lửa xuống, từ 147 đô la năm ngoái xuống tới 40 đô la, và nay khoảng 70 đô la một thùng, thì ngân sách thiếu hụt. Mặc dù Iran là nước có số dự trữ dầu lửa lớn thứ ba trên thế giới nhưng nước này vẫn phải nhập cảng xăng vì không phát triển được các nhà máy lọc dầu.
Một lý do khiến Iran không có nhà máy lọc dầu cũng vì chính sách ngoại giao của ông Ahmadi-Nejad gây thù nghịch với các nước Tây phương khiến họ áp dụng biện pháp cấm vận.
Ứng cử viên Moussavi đã tấn công đương kim tổng thống trên mặt này, tố cáo ông Ahmadi-Nejad gây thù hận với Mỹ và các nước Tây phương một cách vô ích, chỉ để thỏa mãn tính tự cao và thích nói khoa trương của ông ta. Ông Moussavi cũng hứa nếu đắc cử sẽ thay đổi chính sách ngoại giao đó, sẽ đối thoại với các nước láng giềng cũng như Tây phương. Riêng đối với dân Iran, ông còn hứa sẽ công nhận thêm nhiều quyền tự do báo chí, tự do hội họp.
Những ý kiến đối nghịch về cách cai trị quốc gia của hai ứng cử viên chính này cho thấy người dân Iran được thấy có những đường lối cai trị khác nhau, chứ không phải chỉ chọn giữa hai cá nhân. Ðó là một dấu hiệu của tự do dân chủ, mặc dù chưa đầy đủ. Nhưng dấu hiệu quan trọng nhất trong cuộc tranh cử vừa qua là sự tham dự hăng hái của người dân, đặc biệt là các thanh niên.
Một người đóng vai “chiến lược gia” trong ban vận động của ông Moussavi là Mohamad Jalaeipour, một thanh niên 26 tuổi, đang làm luận án tiến sĩ về xã hội học. Anh nói với phóng viên nhật báo Wall Street rằng năm ngoái anh đã mê man theo dõi trên truyền hình cuộc vận động tranh cử ở Mỹ. Lúc đó anh đã nghĩ cách làm sao áp dụng được những phương pháp tranh cử như vậy ở nước anh. Tháng Ba vừa qua anh đến với ban vận động của ông Moussavi với một đề nghị 30 điểm, mà anh thú nhận đã học từ khi xem cuộc vận động của ứng cử viên Obama. Do đề nghị của chàng sinh viên 26 tuổi này mà ông Moussavi đã để cho bà vợ tham dự cuộc tranh cử của mình. Có lúc bà đi vận động một mình, có lúc đi với chồng, và có lúc họ còn nắm tay nhau trước công chúng, một điều mới mẻ đối với người Iran! Bắt chước phương pháp vận động ở Mỹ, ông Moussavi đã để cho các người trẻ mở chiến dịch ghi danh cử tri mới, khuyến khích họ đi bầu. Trong dân số Iran 60% là những người dưới 30 tuổi. Họ đã tham dự nhiều cuộc biểu tình hàng trăm ngàn người ở thủ đô Teheran và các thành phố để đả đảo ông tổng thống và ủng hộ ứng cử viên đối lập.
Kết quả cuộc bỏ phiếu, được công bố trong ngày Thứ Bảy, chắc sẽ làm những thanh niên trên thất vọng. Ông Ahmadi-Nejad có thể chiếm được đa số phiếu ở nông thôn để tiếp tục làm tổng thống 4 năm nữa.
Ở bên ngoài nước Iran, chúng ta phải cảm phục tinh thần hăng hái của các cử tri xứ này khi họ đi bỏ phiếu dưới trời nắng với nhiệt độ lên tới 45 độ C, 113 độ F, nhất là những phụ nữ mặc áo choàng đen từ đầu xuống chân! Dân Iran sống ở nước ngoài cũng có quyền bỏ phiếu, và ngay tại tiểu bang California này hôm qua nhiều người Iran đã thi hành quyền công dân của họ.
Iran đã là một nước tự do dân chủ thật sự hay chưa? Chưa thể coi là dân chủ thật khi các vị giáo sĩ vẫn nắm quyền tối cao. Nhưng Dân Chủ là một tòa nhà phải xây từng bước một, không phải là thứ nhà tiền chế. Chính người dân một nước phải tự xây dựng chế độ tự do dân chủ cho mình. Phải đòi hỏi quyền dân chủ, từng bước một. Giống như xây nền tảng cho ngôi nhà Dân Chủ. Ðòi được quyền nào phải sử dụng ngay quyền đó. Dân Iran chứng tỏ họ đã có ý thức dân chủ rất cao khi họ hăng hái tham dự một cuộc tranh cử không có hành vi bạo động nào đáng kể. Và họ rủ nhau đi bỏ phiếu với tỷ số gần 80%. Nếu dân Việt Nam có quyền bầu cử thật, được tự do chọn những người lãnh đạo thật, chắc chắn đồng bào chúng ta cũng thể hiện tinh thần tham gia cao như vậy.
Bị sa vào lưới Công An!
Lữ Giang
Trong tuần qua, có hai sự kiện đáng quan tâm đã xẩy ra ở trong nước, đó là vụ Luật sư Lê Công Định bị bắt khẩn cấp và vụ Luật sư Cù Huy Hà Vũ nộp đơn ở Toà Án Nhân Dân Hà Nội kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vì cho rằng quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1.11.2007 "phê duyệt quy hoạch, phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015” của Thú Tướng Dũng là một quyết định vi phạm luật pháp.
Tuần này chúng tôi xin đề cập đến vụ Luật sư Lê Công Định bị bắt vì vụ này khẩn cấp hơn.
BẢN TIN CỦA BÁO THANH NIÊN
Luật Sư Lê Công Định là một luật sư đã tạo được nhiều danh tiếng ở trong và ngoài nước, nên tin ông bị bắt đã gây nhiều phản ứng ở quốc nội cũng như quốc tế.
Có rất nhiều bản tin ở trong và ngoài nước nói về trường hợp ông bị bắt, nhưng chúng tôi thấy bản tin của báo Thanh Niên online đã nói lên khá đầy đủ thông báo của nhà cầm quyền về lý do ông bị bắt, nên trước hết chúng tôi xin đăng lại nguyên văn bản tin này trước khi có một vài nhận định.
Báo Thanh Niên online ngày 13.6.2009 đã cho biết như sau:
“Trưa qua 13.6, Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an đã thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với luật sư Lê Công Định về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) theo điều 88 Bộ luật Hình sự.
“Cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra tiến hành khám xét đối với luật sư Lê Công Định để thu giữ tài liệu. Đến tối cùng ngày việc khám xét vẫn chưa kết thúc. Lê Công Định không phản ứng gì khi bị bắt và chấp hành mọi yêu cầu, ký vào các tài liệu bị thu giữ.
“Cùng ngày, tại Hà Nội và TP.HCM, Tổng cục An ninh - Bộ Công an đã tiến hành họp báo về vụ bắt giữ. Tại cuộc họp báo ở TP.HCM, lúc 17 giờ, thiếu tướng Hoàng Công Tư, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an cho biết:
“Luật sư Lê Công Định bị bắt theo điều 88 Bộ luật Hình sự vì đã có những hành vi câu kết với những người cầm đầu phản động nước ngoài chống Nhà nước CHXHCNVN. Từ năm 2006 đến nay, Lê Công Định đã biên soạn rất nhiều tài liệu gửi cho các trang web BBC, RFA và các trang web của "Phong trào dân chủ VN", "Việt Tân"; "Chân trời mới"; "Thông luận", tập san "Tự do dân chủ"... do những kẻ phản động lưu vong lập ra. Các tài liệu này nhằm xuyên tạc chống phá đường lối, chính sách kinh tế - xã hội, vu khống bôi nhọ lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo của chính quyền và tập trung vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; gây chia rẽ, mất lòng tin trong các tầng lớp nhân dân.
“Ngoài ra, lợi dụng việc bào chữa cho một số người như Nguyễn Quốc Quân (tự xưng là Ủy viên Trung ương Đảng Việt Tân), Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải tại các phiên tòa, Lê Công Định đã thông qua các luận chứng bào chữa để thực hiện ý đồ chống phá, xuyên tạc Hiến pháp và pháp luật của nước CHXHCNVN.
“Lê Công Định còn có quan hệ rất chặt chẽ với một số người cầm đầu, cốt cán của các tổ chức phản động lưu vong người Việt, như Hà Đông Xuyến (cầm đầu tổ chức Việt Tân - tổ chức mà cơ quan an ninh đã thông báo cho các cơ quan nước ngoài biết đây là phản động khủng bố cùng với tổ chức của Nguyễn Hữu Chánh).
“Bên cạnh đó, Lê Công Định là thành viên chủ chốt trong nhóm chống đối do Nguyễn Sỹ Bình (cầm đầu "Đảng Nhân Dân Hành Động" ở Mỹ) chỉ đạo, hoạt động với mục tiêu lật đổ chế độ. Lê Công Định thường xuyên liên lạc với Nguyễn Sỹ Bình bàn thảo về mục tiêu, kế hoạch hoạt động và là người đứng ra tổ chức tập hợp lực lượng nhằm thành lập "Đảng dân chủ" và "Đảng lao động Việt Nam"; câu kết với bọn phản động lưu vong được sự ủng hộ của một số thế lực phản động quốc tế bàn cách lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam.
“Tháng 3.2009, Lê Công Định sang Phuket (Thái Lan) gặp Nguyễn Sỹ Bình, Trần Huỳnh Duy Thức họp bàn, đánh giá những vấn đề kinh tế, chính trị của Việt Nam và đề ra kế hoạch hoạt động chuẩn bị cho thời điểm xảy ra "biến động chính trị" lật đổ chính quyền Việt Nam vào năm 2010. Các đối tượng này lấy bí danh chihai: Nguyễn Sỹ Bình, chiba: Trần Huỳnh Duy Thức, chitu: Lê Công Định để tránh bị phát hiện.
“Để chuẩn bị cho kế hoạch lật đổ, Lê Công Định cùng với một số kẻ chống đối khác soạn thảo tài liệu "Tân hiến pháp" nhằm thay thế Hiến pháp nước CHXHCNVN.
“Trả lời các phóng viên tại cuộc họp báo, thiếu tướng Hoàng Công Tư cho biết việc bắt khẩn cấp Lê Công Định được tiến hành theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra đã có đầy đủ căn cứ. Thiếu tướng cho biết thêm, ngày 24.5, Trần Huỳnh Duy Thức - Tổng giám đốc Công ty cổ phần internet Một Kết Nối (OCI) đã bị bắt giữ. Cơ quan An ninh điều tra cũng đã khởi tố Thức về hành vi tuyên truyền chống phá Nhà nước và trộm cước viễn thông.”
Tóm lại, theo nhà cầm quyền, Luật Sư Lê Quốc Định bị bắt khẩn cấp vì các lý do chính sau đây:
1.- Biên soạn rất nhiều tài liệu gửi cho các trang web BBC, RFA và các trang web của "Phong trào dân chủ VN", "Việt Tân"; "Chân trời mới"; "Thông luận", tập san "Tự do dân chủ"... do những kẻ phản động lưu vong lập ra.
2.- Có quan hệ rất chặt chẽ với một số người cầm đầu, cốt cán của các tổ chức phản động lưu vong người Việt, như Hà Đông Xuyến (cầm đầu tổ chức Việt Tân...).
3.- Là thành viên chủ chốt trong nhóm chống đối do Nguyễn Sỹ Bình (cầm đầu "Đảng nhân dân hành động" ở Mỹ) chỉ đạo, hoạt động với mục tiêu lật đổ chế độ.
VÀI DÒNG VỀ LÝ LỊCH
Báo Thanh Niên cho biết đại khái lý lịch của Luật sư Lê Công Định như sau:
Lê Công Định có bí danh Nguyên Kha, Paul. Sinh ngày 1.10.1968.
Năm 1989 tốt nghiệp Đại học Luật, 1990 - 1991: Chuyên viên Phòng Công chứng số 1 TP.HCM, 1991 - 1993: Nhân viên Văn phòng Đoàn luật sư TP.HCM, 1993-1994: Chuyên viên pháp lý Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 1994 - 1998: Luật sư tập sự chi nhánh Công ty luật Coudert Brothers TP.HCM, 1998 - 2000: Du học thạc sĩ luật tại Mỹ, tháng 6.2000 - 11.2000: Luật sư Văn phòng luật sư Thắng & Associates.
Thời điểm bị bắt đang làm việc tại Công ty luật TNHH một thành viên Lê Công Định (37 Tôn Đức Thắng, Q.1).
Lê Công Định từng đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ Nhiệm Đoàn Luật Sư TP.HCM, được nhiều người biết đến từ khi tham gia vụ kiện chống bán phá giá. Năm 2004, kết hôn với Hoa hậu Việt Nam 1998 Nguyễn Thị Ngọc Khánh.
MỘT THỜI ĐƯỢC CA TỤNG
Vào đầu năm 2006, các báo trong nước đã đăng một loạt bài dưới đầu đề “Vào cạnh tranh toàn cầu...”, nói về các du học sinh đã chọn lựa con đường quay trở về Tổ quốc từ một nền giáo dục phát triển ở một quốc gia giàu có và hiện đại nào đó... để làm thay đổi đất nước và đưa đất nước đi lên. Loạt bài này do Nguyễn Văn Tiến Hùng viết. Trong số các du học sinh này, Luật sư Lê Công Định cũng đã từng được ca tụng. Chúng ta hãy nghe báo Tuổi Trẻ online ngày 25.2.2006 nói về Luật sư Lê Công Định trong mục “Ra đi và mang về.... (Kỳ 7)”:
1.- Từ tầng hầm của Phòng Chưởng Khế Sài Gòn
Năm 1989, Định mới ra trường, vào làm việc ở Phòng Công chứng số 1. Ngoài công việc phụ tá cho công chứng viên, Định biết tiếng Pháp nên được giao thêm việc thống kê sắp xếp kho tài liệu dưới tầng hầm của tòa nhà 89 Nguyễn Du. Đó vốn là trụ sở của Phòng Chưởng Khế Sài Gòn trước 1975.
Sáng công tác chuyên môn, chiều làm trong kho tư liệu. Vừa làm vừa tò mò đọc xem thời trước người ta hành xử công việc pháp lý như thế nào. Càng đọc, Định càng sửng sốt khi những kiến thức của một cử nhân luật như mình lại không hiểu hết một văn bản pháp lý của nền hành chính cũ. Trong đầu Định một ý nghĩ lớn dần: trước đây VN từng có một nền văn minh pháp lý rất chuẩn mực.
Cũng thời điểm đó, LS Triệu Quốc Mạnh tập hợp những nhân vật rất giỏi luật của Sài Gòn mở lớp luật ở ĐH Tổng hợp TP.HCM với tiêu chí dạy “theo tinh thần pháp lý thế giới”. “Tôi nghĩ mãi rồi quyết định bỏ việc để đi học tiếp”. Lúc qua trường luật xin xác nhận điểm để miễn một số môn, một thầy giáo cũ biết chuyện tròn mắt hỏi: “Mày có khùng không mà đi học cái lớp vớ vẩn?”.
Nhưng trong cái lớp học ấy, LS Triệu Quốc Mạnh có những bài giảng nổi tiếng về tinh thần pháp lý thế giới; thầy Võ Phúc Tùng (tiến sĩ luật bảo vệ luận án cuối tháng 4-1975) làm Định say mê với “khế ước và nghĩa vụ” theo chuẩn mực của Pháp. Thầy Lương Văn Lý dạy rất hay về công pháp quốc tế... Đó là những giáo sư giỏi nhất chuyện “hạ đo ván” sinh viên trong các kỳ thi.
Càng học, Định thấy hiểu rõ hơn những gì anh đọc trong căn hầm của phòng chưởng khế hồi xưa. Thầy Tùng tạo một ấn tượng lớn từ kiến thức uyên bác cho tới tư cách trong cuộc đời. Có thời điểm khó khăn, phải đi sửa đồng hồ kiếm sống nhưng ông vẫn vô tư: “Học tiến sĩ khó cỡ nào còn học được thì nhằm nhò gì những cái đơn giản này!”. Ông nhận Định làm học trò dạy tiếng Pháp.
Suốt tám năm trời, hai thầy trò cặm cụi ba buổi tối mỗi tuần. Mỗi buổi học xong hai giờ ngôn ngữ, thầy trò lại xoay qua bàn chuyện văn chương Pháp với Victor Hugo, Alexandre Dumas... Có bữa cúp điện, hai thầy trò đốt đèn dầu, mồ hôi nhễ nhại. Chính cái vốn tiếng Pháp dưới ánh đèn dầu này đã tạo điều kiện cho Định vào làm ở văn phòng luật Coudert Brothers. Vị LS đại diện văn phòng này ở Sài Gòn vì mê tiếng Pháp của anh mà nhận vào. Năm đó Định 26 tuổi. Rồi một bước ngoặt mới: suất học bổng đi Pháp...
2.- Đến Paris và Columbia
Trước những năm 1997, tôi nghiên cứu luật trong nước, thấy luật mình còn thiếu nhiều quá, muốn làm một điều gì đó nhưng kiến thức không có. Tôi thèm một chuyến đi du học Pháp. Nhưng hồi đó, những suất học bổng chỉ có cán bộ ngành tòa án hoặc người ngoài bộ mới được. Rồi năm 1997, lần đầu tiên người ta cho các đoàn LS dự tuyển các suất học bổng. Tôi bước chân ra khỏi đại sứ quán mà như bay trên mây với suất học bổng ngành luật của Trường đại học Tổng hợp Pantheon - Assas (Paris 2).
Vài tháng sau, một ngày đang lang thang ngao du ở châu Âu, có một tin vui không kém: tôi giành được học bổng Fulbright đi Mỹ. Thông tin này thay đổi nhiều thứ với tôi.
Sau vài tháng học ở Paris, tôi nhận ra đại học Pháp thời điểm đó vẫn là sự kéo dài của hệ thống thực dân cũ: trì trệ, bảo thủ. Năm 1998-1999 mà cả trường chỉ có hai máy photo, mượn một đống sách từ thư viện phải mất 3-4 giờ đồng hồ chờ đợi để photo. Giáo sư thì như một vị thánh trên giảng đường, bắt học thuộc lòng y như ở VN chứ không dạy về tư duy pháp lý.
Tôi tranh thủ học thêm một khóa triết của Trường đại học Sorbonre theo lời khuyên của thầy Tùng (“Phải biết căn bản triết học để hiểu nền luật pháp”), đến tháng 5-1999 tôi rời Paris, bỏ luôn những môn thi cuối cùng của bậc thạc sĩ (vào cuối tháng 6-1999) để sang Mỹ học cao học luật ở ĐH Tulane - Columbia”.
3.- “Tôi ủng hộ án lệ!”
Đó là câu đầu tiên và là sợi chỉ xuyên suốt câu chuyện của LS Định. Anh mang ra hai quyển Quyết định giám đốc thẩm của hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao năm 2003 -2004 (đó là những bản án ở cấp giám đốc thẩm sửa sai các vụ án khó ở tòa cấp dưới và được xem như một ví dụ về việc áp dụng các điều luật khi xét xử những vụ án tương tự như vậy) rồi nói một cách tự hào: “Đây là một bước rất nhỏ của án lệ tại VN!”.
Do những đặc thù của VN, án lệ là một quãng đường đầy khó khăn và nhiều tranh cãi. Trong một bài viết trên bản tin đoàn LS tháng 7-2003, LS Định thẳng thừng: “Phán quyết của tòa án hiện nay thường thiếu chiều sâu và sự uyên bác trong nhận định và phân tích các vấn đề pháp lý cụ thể. Một số thẩm phán đôi khi phải đưa ra những lời giáo huấn đạo đức không cần thiết cho các bị cáo hoặc các bên tranh chấp nhằm khỏa lấp những khuyết điểm đó”. Cứ thế, cái cách nói đôi khi gay gắt của chàng LS trẻ này khiến không ít người khó chịu.
Và sự “nổi tiếng” của LS Định lại là sự “khùng”. Không ít lần anh từng bị các quan chức một bộ nhắn gửi: “Thằng đó khùng hay sao mà tuyên bố này nọ hoài”. Đó là khi anh truy đến cùng các nguyên nhân khiến luật chưa ra đời đã trở nên lạc hậu: “Bộ luật dân sự của Napoléon xây dựng cách đây 200 năm; Bộ luật dân sự Đức xây dựng cách đây 100 năm - không hề được sửa bởi trước đó những bộ luật này đã kế thừa được hệ thống luật bất thành văn của hàng ngàn năm trước và quan tòa, khi xét xử, nếu thấy không phù hợp thực tế bèn giải thích theo thực tiễn để thay đổi tinh thần của nó”.
Đó là sửa luật theo án lệ. Tức nền tảng luật phải bắt nguồn từ cuộc sống và ở các nước, chỉ có quan tòa là người duy nhất giải thích luật, còn ở ta ai muốn giải thích cũng được cả. Nó làm cho luật pháp mất tính thống nhất và vị trí độc lập của quan tòa không cao. Chúng ta có quá nhiều luật nhưng nhiều khi “không xài được” hoặc vừa thông qua đã “chết” rồi vì thiếu tính thực tiễn. Tôi ủng hộ án lệ và chắc chắn luật về án lệ sẽ giải quyết được những điều mà trong thực tiễn chưa có.
Ở VN, người ta có thể trả lại đơn kiện và nói: luật chưa có, Quốc hội chưa ban hành, tôi không xử được. Nhưng ở nước ngoài, người ta sẽ kiện ngay quan tòa vì tội không ban phát công lý”.
4.- Tạm gác giấc mơ tiến sĩ
“Hồi xưa tôi mê luận án tiến sĩ và từng sưu tầm hàng trăm cái ở Paris, từng được chọn làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Tulane nhưng rồi về nước, một đam mê khác lấn dần vào công việc hằng ngày của tôi: gầy dựng một công ty luật mình thích, góp phần gầy dựng tinh thần thượng tôn pháp luật từ cộng đồng tới doanh nghiệp và cả chính quyền. Tham gia các vụ việc với chính quyền thành phố hoặc các công ty lớn của Nhà nước... tôi thấy vui nhất là ý thức các vị đã có những thay đổi rất rõ. Vụ VN Airlines, vụ Liên đoàn Bóng đá bị thua kiện và mất tiền ở nước ngoài… đã làm người ta giật mình.
Mới đây, trong một cuộc họp của UBND TP.HCM, tôi ngồi nghe ông Nguyễn Văn Đua chỉ đạo: “Làm gì thì làm, phải tuân thủ những qui định pháp lý, tránh để bị kiện” mà thấy mừng. Đã có những vụ mà chính quyền không thể đơn thuần ra quyết định hành chính, ví dụ thành phố “thuê lại quyền sử dụng” công viên 23-9 từ nhà đầu tư nước ngoài. Mà chuyện đó đâu đơn giản: họ cử LS, quăng sách luật ra bàn, cãi nhau tóe lửa...
Tôi nhớ lại LS Đặng Khải Minh, một Việt kiều nhưng tinh thần của ông thì hết sức VN, tìm mọi cách nâng đỡ và vun vén cho LS Việt, ông khuyên chúng tôi phải chuẩn bị hết mọi điều kiện để LS VN mình có thể sánh ngang với khu vực và thế giới khi tham gia cạnh tranh toàn cầu. Chúng tôi vừa làm vừa học, vừa đào tạo những LS trẻ để họ nâng tầm. Giờ đây chúng tôi có thể sang Singapore hay bất cứ quốc gia nào tham gia các vụ kiện, có thể tranh cãi từng từ ngữ với các LS, buộc họ sửa cả văn bản tiếng Anh hay đưa ra các ý kiến pháp lý trong các hợp đồng mua bán, tài trợ... tầm quốc tế cho khách hàng VN.
VN hiện tại chỉ có khoảng hai văn phòng luật đủ mạnh để làm chuyện đó. Tình trạng cạnh tranh cũng đang làm cho LS VN yếu thế thay vì phối hợp để nâng tầm trên trường quốc tế. Ước mơ lớn nhất của tôi là mở một trường đại học luật tư thục đào tạo kiến thức hiện đại và thực tế phục vụ cho phát triển. Nó sẽ hoạt động theo xu hướng như một trung tâm nghiên cứu sản sinh ra các học thuyết pháp lý - chuyện rất quen thuộc ở nước ngoài. Ta không làm mà khoanh tay nhìn là muộn lắm đó!...”.
Nhiều người đã ra đi và nhiều người đã trở về, với một hành trang đầy đặn và một khát vọng về các cuộc chơi lớn cùng bạn bè quốc tế. Mỗi người trong họ đi trên những con đường khác nhau để cùng gặp nhau trong một nỗ lực.
NHỮNG CHUYỆN LÀM NHỨC NHỐI
Ngoài những công việc nói trên, Luật sư Lê Công Định cũng cố gắng tranh đấu để đất nước ngày càng có dân chủ hơn, tự do hơn. Ông đã viết nhiều loại bài hay trả lời các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong nước cũng như ở hải ngoại về những vấn đề đáng quan tâm của đất, nước chẳng hạn như:
- “Vai trò xây dựng án lệ của toà án” (Bản tin Đoàn Luật sư Sài Gòn, Số 8, ngày 26.7.2003).
- “Tính minh bạch trong hoạt động của toà án” (Đặc san Nghề Luật, Trường Đào tạo các Chức danh Tư pháp, Số 7 năm 2004).
- “Trả lại hào khí Diên Hồng” (Báo Pháp Luật Sài Gòn ngày 5.3.2006, BBC ngày 11.3.2006). Trong bài này ông cũng viết rất thẳng thắn:
“Vì nhu nhược, chúng ta không dám phản kháng thói hạch sách, nhũng nhiễu của lớp quan lại mới, chấp nhận dùng tiền vượt qua trở ngại. Đến khi nhìn lại, quốc nạn tham nhũng và quan liêu đã lan tràn, bất trị...”
- “Tại sao không nên sợ đa nguyên” (BBC, 13.4.2006).
- “Bàn về ‘Chính danh’ trong thể chế pháp trị” (BBC, 4.7.2006).
- “Thế giới ảo và hiệu quả của chính phủ” (BBC, 5.2.2007).
- “Bài học Miến Điện” (BBC, 1.10.2007).
- “Phỏng vấn Luật sư Lê Công Định trước phiên xử “vụ Điếu Cày” (RFA, 10.9.2008).
- “Đất đai dưới áp lực của tiền và quyền tại Việt Nam” (RFA, 27.2.2009).
- “Chuẩn mực văn minh cần tôn trọng” (BBC 9.3.2009). Trong bài này ông viết:
“Gần đây những cuộc đột nhập văn phòng luật sư để tịch thu tài liệu và máy tính hoặc khám xét hành lý của các luật sư tại phi trường ở Việt Nam đã dấy lên mối quan ngại về sự công khai xâm phạm bí mật nghề nghiệp luật sư, một trong những chuẩn mực văn minh mà bất kỳ nhà nước pháp quyền nào trên thế giới cũng tôn trọng.”
- “Đọc sử để nhìn nhận hôm nay” (BBC, 2.5.2009), v.v.
Nhà cầm quyền nhận thấy những loạt bài nhức nhối như thế này không thề được tiếp tục cho phổ biến nên tìm cách ngăn chận.
BỊ SA VÀO LƯỚI
Điều 88 Bộ Luật Hình Sự quy định rằng sẽ bị phạt từ 3 đến 12 năm tù những ai tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, làm ra hay tàng trử các tài liệu chống chính quyền, v.v. Nhưng truy tố về những tội này thường gây nhiều tranh cãi vì nó thuộc về quyền tự do ngôn luận được quy định trong Hiến Pháp. Do đó, muốn bắt và truy tố một người nào theo điều 88, Công An thường phải gài cho người này có sự liên hệ tới một tổ chức bị coi là “phản động”, mặc dầu đôi khi tổ chức đó chỉ là một tổ chức chống cộng cò mồi hay được dùng làm cò mồi.
Một thí dụ cụ thể: Trong vụ án Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, theo bản Cáo Trạng số 28/CT-VKS-P2 ngày 23.4.2007 của Viện KSND TP Hà Nội, các bị cáo Đài và Nhân đã tàng trữ các tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc, bôi nhọ chế độ xã hội do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, vu cáo xuyên tạc chính sách của Nhà nước, v.v.
Nhưng nếu chỉ truy tố như thế thì quá yếu. Viện KSND phải chứng minh thêm rằng vào tháng 4/2006, Lê Thị Công Nhân đã ký tên ủng hộ cái gọi là "Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam 2006" và cùng Nguyễn Văn Đài tham gia Khối 8406. Vào tháng 9/2006, Lê Thị Công Nhân đã xin gia nhập vào cái gọi là "Đảng Thăng Tiến Việt Nam" (một đảng chống cộng cò mồi). Từ 2/9 đến 5/9/2006, Lê Thị Công Nhân vào Huế bàn việc quyết định tuyên bố công khai đảng này trên mạng Internet vào ngày 8.9.2006. Nguyễn Văn Đài còn bị tố cáo là kẻ trực tiếp soạn thảo điều lệ của tổ chức “Đảng Dân Chủ 21,” trong đó y không hề giấu diếm ý đồ muốn giành chính quyền ở Việt Nam.
Về trường hợp của Luật sư Lê Công Định, nhà cầm quyền nói rất rõ: "Lê Công Định là thành viên chủ chốt trong nhóm chống đối do Nguyễn Sỹ Bình (cầm đầu "Đảng Nhân Dân Hành Động" ở Mỹ) chỉ đạo, hoạt động với mục tiêu lật đổ chế độ.”
Về hoạt động đáng nghi ngờ của "Đảng Nhân Dân Hành Động" do Nguyễn Sỹ Bình lãnh đạo, chúng tôi đã cảnh giác quá nhiều lần, chỉ các nhà tranh đấu trong nước không biết đến “thành tích” của đảng này nên để vướng vào và bị liên lụy. Tháng 3/2009, Lê Công Định sang Phuket (Thái Lan) gặp Nguyễn Sỹ Bình là kể như trúng kế Công An rồi!
Các lãnh tụ của Khối 8406, Đảng Nhân Dân Hành Động, Đảng Dân Chủ 21... có thể ra tuyên ngôn tuyên cáo tố Cộng búa xua mà chẳng sao cả, nhưng các nhà đấu tranh ở trong nước mà để dính vào các tổ chức này là kể như bị sa vào lưới của Công An.
Một lần nữa, chúng tôi kêu gọi các nhà đấu tranh ở trong nước phải luôn cảnh giác, đừng nghe tuyên truyền hay dụ dổ mà dính vào các tổ chúc chống cộng cò mồi của Công An hay đang bị Công An dùng làm cò mồi.
Khi bắt những nhà đấu tranh chính trị nổi tiếng như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, v.v., nhà cầm quyền CSVN thừa biết hành động này sẽ phương hại cho uy tín của chế độ trước công luận quốc tế, nhưng họ vẫn làm để bảo đảm sự ổn định của chế độ. Tuy nhiên, những sự đối kháng không mệt mỏi đó, tuy chưa đem lại những kết quả cụ thể trước mắt, nhưng nó đang xói mòn dần chế độ và khơi dậy những ý thức về dân chủ, về nhân quyền, về công bằng xã hội, về phát triển đất nước... trong quần chúng. Vì thế, nó có năng lực thúc đầy chế độ phải có những thay đổi. Chính những nỗ lực này đang trở thành những viên gạch xây dựng dần nền dân chủ.
Lữ Giang
(16.6.2009)
Lữ Giang
Trong tuần qua, có hai sự kiện đáng quan tâm đã xẩy ra ở trong nước, đó là vụ Luật sư Lê Công Định bị bắt khẩn cấp và vụ Luật sư Cù Huy Hà Vũ nộp đơn ở Toà Án Nhân Dân Hà Nội kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vì cho rằng quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 1.11.2007 "phê duyệt quy hoạch, phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015” của Thú Tướng Dũng là một quyết định vi phạm luật pháp.
Tuần này chúng tôi xin đề cập đến vụ Luật sư Lê Công Định bị bắt vì vụ này khẩn cấp hơn.
BẢN TIN CỦA BÁO THANH NIÊN
Luật Sư Lê Công Định là một luật sư đã tạo được nhiều danh tiếng ở trong và ngoài nước, nên tin ông bị bắt đã gây nhiều phản ứng ở quốc nội cũng như quốc tế.
Có rất nhiều bản tin ở trong và ngoài nước nói về trường hợp ông bị bắt, nhưng chúng tôi thấy bản tin của báo Thanh Niên online đã nói lên khá đầy đủ thông báo của nhà cầm quyền về lý do ông bị bắt, nên trước hết chúng tôi xin đăng lại nguyên văn bản tin này trước khi có một vài nhận định.
Báo Thanh Niên online ngày 13.6.2009 đã cho biết như sau:
“Trưa qua 13.6, Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an đã thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với luật sư Lê Công Định về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) theo điều 88 Bộ luật Hình sự.
“Cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra tiến hành khám xét đối với luật sư Lê Công Định để thu giữ tài liệu. Đến tối cùng ngày việc khám xét vẫn chưa kết thúc. Lê Công Định không phản ứng gì khi bị bắt và chấp hành mọi yêu cầu, ký vào các tài liệu bị thu giữ.
“Cùng ngày, tại Hà Nội và TP.HCM, Tổng cục An ninh - Bộ Công an đã tiến hành họp báo về vụ bắt giữ. Tại cuộc họp báo ở TP.HCM, lúc 17 giờ, thiếu tướng Hoàng Công Tư, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an cho biết:
“Luật sư Lê Công Định bị bắt theo điều 88 Bộ luật Hình sự vì đã có những hành vi câu kết với những người cầm đầu phản động nước ngoài chống Nhà nước CHXHCNVN. Từ năm 2006 đến nay, Lê Công Định đã biên soạn rất nhiều tài liệu gửi cho các trang web BBC, RFA và các trang web của "Phong trào dân chủ VN", "Việt Tân"; "Chân trời mới"; "Thông luận", tập san "Tự do dân chủ"... do những kẻ phản động lưu vong lập ra. Các tài liệu này nhằm xuyên tạc chống phá đường lối, chính sách kinh tế - xã hội, vu khống bôi nhọ lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo của chính quyền và tập trung vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; gây chia rẽ, mất lòng tin trong các tầng lớp nhân dân.
“Ngoài ra, lợi dụng việc bào chữa cho một số người như Nguyễn Quốc Quân (tự xưng là Ủy viên Trung ương Đảng Việt Tân), Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải tại các phiên tòa, Lê Công Định đã thông qua các luận chứng bào chữa để thực hiện ý đồ chống phá, xuyên tạc Hiến pháp và pháp luật của nước CHXHCNVN.
“Lê Công Định còn có quan hệ rất chặt chẽ với một số người cầm đầu, cốt cán của các tổ chức phản động lưu vong người Việt, như Hà Đông Xuyến (cầm đầu tổ chức Việt Tân - tổ chức mà cơ quan an ninh đã thông báo cho các cơ quan nước ngoài biết đây là phản động khủng bố cùng với tổ chức của Nguyễn Hữu Chánh).
“Bên cạnh đó, Lê Công Định là thành viên chủ chốt trong nhóm chống đối do Nguyễn Sỹ Bình (cầm đầu "Đảng Nhân Dân Hành Động" ở Mỹ) chỉ đạo, hoạt động với mục tiêu lật đổ chế độ. Lê Công Định thường xuyên liên lạc với Nguyễn Sỹ Bình bàn thảo về mục tiêu, kế hoạch hoạt động và là người đứng ra tổ chức tập hợp lực lượng nhằm thành lập "Đảng dân chủ" và "Đảng lao động Việt Nam"; câu kết với bọn phản động lưu vong được sự ủng hộ của một số thế lực phản động quốc tế bàn cách lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam.
“Tháng 3.2009, Lê Công Định sang Phuket (Thái Lan) gặp Nguyễn Sỹ Bình, Trần Huỳnh Duy Thức họp bàn, đánh giá những vấn đề kinh tế, chính trị của Việt Nam và đề ra kế hoạch hoạt động chuẩn bị cho thời điểm xảy ra "biến động chính trị" lật đổ chính quyền Việt Nam vào năm 2010. Các đối tượng này lấy bí danh chihai: Nguyễn Sỹ Bình, chiba: Trần Huỳnh Duy Thức, chitu: Lê Công Định để tránh bị phát hiện.
“Để chuẩn bị cho kế hoạch lật đổ, Lê Công Định cùng với một số kẻ chống đối khác soạn thảo tài liệu "Tân hiến pháp" nhằm thay thế Hiến pháp nước CHXHCNVN.
“Trả lời các phóng viên tại cuộc họp báo, thiếu tướng Hoàng Công Tư cho biết việc bắt khẩn cấp Lê Công Định được tiến hành theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra đã có đầy đủ căn cứ. Thiếu tướng cho biết thêm, ngày 24.5, Trần Huỳnh Duy Thức - Tổng giám đốc Công ty cổ phần internet Một Kết Nối (OCI) đã bị bắt giữ. Cơ quan An ninh điều tra cũng đã khởi tố Thức về hành vi tuyên truyền chống phá Nhà nước và trộm cước viễn thông.”
Tóm lại, theo nhà cầm quyền, Luật Sư Lê Quốc Định bị bắt khẩn cấp vì các lý do chính sau đây:
1.- Biên soạn rất nhiều tài liệu gửi cho các trang web BBC, RFA và các trang web của "Phong trào dân chủ VN", "Việt Tân"; "Chân trời mới"; "Thông luận", tập san "Tự do dân chủ"... do những kẻ phản động lưu vong lập ra.
2.- Có quan hệ rất chặt chẽ với một số người cầm đầu, cốt cán của các tổ chức phản động lưu vong người Việt, như Hà Đông Xuyến (cầm đầu tổ chức Việt Tân...).
3.- Là thành viên chủ chốt trong nhóm chống đối do Nguyễn Sỹ Bình (cầm đầu "Đảng nhân dân hành động" ở Mỹ) chỉ đạo, hoạt động với mục tiêu lật đổ chế độ.
VÀI DÒNG VỀ LÝ LỊCH
Báo Thanh Niên cho biết đại khái lý lịch của Luật sư Lê Công Định như sau:
Lê Công Định có bí danh Nguyên Kha, Paul. Sinh ngày 1.10.1968.
Năm 1989 tốt nghiệp Đại học Luật, 1990 - 1991: Chuyên viên Phòng Công chứng số 1 TP.HCM, 1991 - 1993: Nhân viên Văn phòng Đoàn luật sư TP.HCM, 1993-1994: Chuyên viên pháp lý Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 1994 - 1998: Luật sư tập sự chi nhánh Công ty luật Coudert Brothers TP.HCM, 1998 - 2000: Du học thạc sĩ luật tại Mỹ, tháng 6.2000 - 11.2000: Luật sư Văn phòng luật sư Thắng & Associates.
Thời điểm bị bắt đang làm việc tại Công ty luật TNHH một thành viên Lê Công Định (37 Tôn Đức Thắng, Q.1).
Lê Công Định từng đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ Nhiệm Đoàn Luật Sư TP.HCM, được nhiều người biết đến từ khi tham gia vụ kiện chống bán phá giá. Năm 2004, kết hôn với Hoa hậu Việt Nam 1998 Nguyễn Thị Ngọc Khánh.
MỘT THỜI ĐƯỢC CA TỤNG
Vào đầu năm 2006, các báo trong nước đã đăng một loạt bài dưới đầu đề “Vào cạnh tranh toàn cầu...”, nói về các du học sinh đã chọn lựa con đường quay trở về Tổ quốc từ một nền giáo dục phát triển ở một quốc gia giàu có và hiện đại nào đó... để làm thay đổi đất nước và đưa đất nước đi lên. Loạt bài này do Nguyễn Văn Tiến Hùng viết. Trong số các du học sinh này, Luật sư Lê Công Định cũng đã từng được ca tụng. Chúng ta hãy nghe báo Tuổi Trẻ online ngày 25.2.2006 nói về Luật sư Lê Công Định trong mục “Ra đi và mang về.... (Kỳ 7)”:
1.- Từ tầng hầm của Phòng Chưởng Khế Sài Gòn
Năm 1989, Định mới ra trường, vào làm việc ở Phòng Công chứng số 1. Ngoài công việc phụ tá cho công chứng viên, Định biết tiếng Pháp nên được giao thêm việc thống kê sắp xếp kho tài liệu dưới tầng hầm của tòa nhà 89 Nguyễn Du. Đó vốn là trụ sở của Phòng Chưởng Khế Sài Gòn trước 1975.
Sáng công tác chuyên môn, chiều làm trong kho tư liệu. Vừa làm vừa tò mò đọc xem thời trước người ta hành xử công việc pháp lý như thế nào. Càng đọc, Định càng sửng sốt khi những kiến thức của một cử nhân luật như mình lại không hiểu hết một văn bản pháp lý của nền hành chính cũ. Trong đầu Định một ý nghĩ lớn dần: trước đây VN từng có một nền văn minh pháp lý rất chuẩn mực.
Cũng thời điểm đó, LS Triệu Quốc Mạnh tập hợp những nhân vật rất giỏi luật của Sài Gòn mở lớp luật ở ĐH Tổng hợp TP.HCM với tiêu chí dạy “theo tinh thần pháp lý thế giới”. “Tôi nghĩ mãi rồi quyết định bỏ việc để đi học tiếp”. Lúc qua trường luật xin xác nhận điểm để miễn một số môn, một thầy giáo cũ biết chuyện tròn mắt hỏi: “Mày có khùng không mà đi học cái lớp vớ vẩn?”.
Nhưng trong cái lớp học ấy, LS Triệu Quốc Mạnh có những bài giảng nổi tiếng về tinh thần pháp lý thế giới; thầy Võ Phúc Tùng (tiến sĩ luật bảo vệ luận án cuối tháng 4-1975) làm Định say mê với “khế ước và nghĩa vụ” theo chuẩn mực của Pháp. Thầy Lương Văn Lý dạy rất hay về công pháp quốc tế... Đó là những giáo sư giỏi nhất chuyện “hạ đo ván” sinh viên trong các kỳ thi.
Càng học, Định thấy hiểu rõ hơn những gì anh đọc trong căn hầm của phòng chưởng khế hồi xưa. Thầy Tùng tạo một ấn tượng lớn từ kiến thức uyên bác cho tới tư cách trong cuộc đời. Có thời điểm khó khăn, phải đi sửa đồng hồ kiếm sống nhưng ông vẫn vô tư: “Học tiến sĩ khó cỡ nào còn học được thì nhằm nhò gì những cái đơn giản này!”. Ông nhận Định làm học trò dạy tiếng Pháp.
Suốt tám năm trời, hai thầy trò cặm cụi ba buổi tối mỗi tuần. Mỗi buổi học xong hai giờ ngôn ngữ, thầy trò lại xoay qua bàn chuyện văn chương Pháp với Victor Hugo, Alexandre Dumas... Có bữa cúp điện, hai thầy trò đốt đèn dầu, mồ hôi nhễ nhại. Chính cái vốn tiếng Pháp dưới ánh đèn dầu này đã tạo điều kiện cho Định vào làm ở văn phòng luật Coudert Brothers. Vị LS đại diện văn phòng này ở Sài Gòn vì mê tiếng Pháp của anh mà nhận vào. Năm đó Định 26 tuổi. Rồi một bước ngoặt mới: suất học bổng đi Pháp...
2.- Đến Paris và Columbia
Trước những năm 1997, tôi nghiên cứu luật trong nước, thấy luật mình còn thiếu nhiều quá, muốn làm một điều gì đó nhưng kiến thức không có. Tôi thèm một chuyến đi du học Pháp. Nhưng hồi đó, những suất học bổng chỉ có cán bộ ngành tòa án hoặc người ngoài bộ mới được. Rồi năm 1997, lần đầu tiên người ta cho các đoàn LS dự tuyển các suất học bổng. Tôi bước chân ra khỏi đại sứ quán mà như bay trên mây với suất học bổng ngành luật của Trường đại học Tổng hợp Pantheon - Assas (Paris 2).
Vài tháng sau, một ngày đang lang thang ngao du ở châu Âu, có một tin vui không kém: tôi giành được học bổng Fulbright đi Mỹ. Thông tin này thay đổi nhiều thứ với tôi.
Sau vài tháng học ở Paris, tôi nhận ra đại học Pháp thời điểm đó vẫn là sự kéo dài của hệ thống thực dân cũ: trì trệ, bảo thủ. Năm 1998-1999 mà cả trường chỉ có hai máy photo, mượn một đống sách từ thư viện phải mất 3-4 giờ đồng hồ chờ đợi để photo. Giáo sư thì như một vị thánh trên giảng đường, bắt học thuộc lòng y như ở VN chứ không dạy về tư duy pháp lý.
Tôi tranh thủ học thêm một khóa triết của Trường đại học Sorbonre theo lời khuyên của thầy Tùng (“Phải biết căn bản triết học để hiểu nền luật pháp”), đến tháng 5-1999 tôi rời Paris, bỏ luôn những môn thi cuối cùng của bậc thạc sĩ (vào cuối tháng 6-1999) để sang Mỹ học cao học luật ở ĐH Tulane - Columbia”.
3.- “Tôi ủng hộ án lệ!”
Đó là câu đầu tiên và là sợi chỉ xuyên suốt câu chuyện của LS Định. Anh mang ra hai quyển Quyết định giám đốc thẩm của hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao năm 2003 -2004 (đó là những bản án ở cấp giám đốc thẩm sửa sai các vụ án khó ở tòa cấp dưới và được xem như một ví dụ về việc áp dụng các điều luật khi xét xử những vụ án tương tự như vậy) rồi nói một cách tự hào: “Đây là một bước rất nhỏ của án lệ tại VN!”.
Do những đặc thù của VN, án lệ là một quãng đường đầy khó khăn và nhiều tranh cãi. Trong một bài viết trên bản tin đoàn LS tháng 7-2003, LS Định thẳng thừng: “Phán quyết của tòa án hiện nay thường thiếu chiều sâu và sự uyên bác trong nhận định và phân tích các vấn đề pháp lý cụ thể. Một số thẩm phán đôi khi phải đưa ra những lời giáo huấn đạo đức không cần thiết cho các bị cáo hoặc các bên tranh chấp nhằm khỏa lấp những khuyết điểm đó”. Cứ thế, cái cách nói đôi khi gay gắt của chàng LS trẻ này khiến không ít người khó chịu.
Và sự “nổi tiếng” của LS Định lại là sự “khùng”. Không ít lần anh từng bị các quan chức một bộ nhắn gửi: “Thằng đó khùng hay sao mà tuyên bố này nọ hoài”. Đó là khi anh truy đến cùng các nguyên nhân khiến luật chưa ra đời đã trở nên lạc hậu: “Bộ luật dân sự của Napoléon xây dựng cách đây 200 năm; Bộ luật dân sự Đức xây dựng cách đây 100 năm - không hề được sửa bởi trước đó những bộ luật này đã kế thừa được hệ thống luật bất thành văn của hàng ngàn năm trước và quan tòa, khi xét xử, nếu thấy không phù hợp thực tế bèn giải thích theo thực tiễn để thay đổi tinh thần của nó”.
Đó là sửa luật theo án lệ. Tức nền tảng luật phải bắt nguồn từ cuộc sống và ở các nước, chỉ có quan tòa là người duy nhất giải thích luật, còn ở ta ai muốn giải thích cũng được cả. Nó làm cho luật pháp mất tính thống nhất và vị trí độc lập của quan tòa không cao. Chúng ta có quá nhiều luật nhưng nhiều khi “không xài được” hoặc vừa thông qua đã “chết” rồi vì thiếu tính thực tiễn. Tôi ủng hộ án lệ và chắc chắn luật về án lệ sẽ giải quyết được những điều mà trong thực tiễn chưa có.
Ở VN, người ta có thể trả lại đơn kiện và nói: luật chưa có, Quốc hội chưa ban hành, tôi không xử được. Nhưng ở nước ngoài, người ta sẽ kiện ngay quan tòa vì tội không ban phát công lý”.
4.- Tạm gác giấc mơ tiến sĩ
“Hồi xưa tôi mê luận án tiến sĩ và từng sưu tầm hàng trăm cái ở Paris, từng được chọn làm nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Tulane nhưng rồi về nước, một đam mê khác lấn dần vào công việc hằng ngày của tôi: gầy dựng một công ty luật mình thích, góp phần gầy dựng tinh thần thượng tôn pháp luật từ cộng đồng tới doanh nghiệp và cả chính quyền. Tham gia các vụ việc với chính quyền thành phố hoặc các công ty lớn của Nhà nước... tôi thấy vui nhất là ý thức các vị đã có những thay đổi rất rõ. Vụ VN Airlines, vụ Liên đoàn Bóng đá bị thua kiện và mất tiền ở nước ngoài… đã làm người ta giật mình.
Mới đây, trong một cuộc họp của UBND TP.HCM, tôi ngồi nghe ông Nguyễn Văn Đua chỉ đạo: “Làm gì thì làm, phải tuân thủ những qui định pháp lý, tránh để bị kiện” mà thấy mừng. Đã có những vụ mà chính quyền không thể đơn thuần ra quyết định hành chính, ví dụ thành phố “thuê lại quyền sử dụng” công viên 23-9 từ nhà đầu tư nước ngoài. Mà chuyện đó đâu đơn giản: họ cử LS, quăng sách luật ra bàn, cãi nhau tóe lửa...
Tôi nhớ lại LS Đặng Khải Minh, một Việt kiều nhưng tinh thần của ông thì hết sức VN, tìm mọi cách nâng đỡ và vun vén cho LS Việt, ông khuyên chúng tôi phải chuẩn bị hết mọi điều kiện để LS VN mình có thể sánh ngang với khu vực và thế giới khi tham gia cạnh tranh toàn cầu. Chúng tôi vừa làm vừa học, vừa đào tạo những LS trẻ để họ nâng tầm. Giờ đây chúng tôi có thể sang Singapore hay bất cứ quốc gia nào tham gia các vụ kiện, có thể tranh cãi từng từ ngữ với các LS, buộc họ sửa cả văn bản tiếng Anh hay đưa ra các ý kiến pháp lý trong các hợp đồng mua bán, tài trợ... tầm quốc tế cho khách hàng VN.
VN hiện tại chỉ có khoảng hai văn phòng luật đủ mạnh để làm chuyện đó. Tình trạng cạnh tranh cũng đang làm cho LS VN yếu thế thay vì phối hợp để nâng tầm trên trường quốc tế. Ước mơ lớn nhất của tôi là mở một trường đại học luật tư thục đào tạo kiến thức hiện đại và thực tế phục vụ cho phát triển. Nó sẽ hoạt động theo xu hướng như một trung tâm nghiên cứu sản sinh ra các học thuyết pháp lý - chuyện rất quen thuộc ở nước ngoài. Ta không làm mà khoanh tay nhìn là muộn lắm đó!...”.
Nhiều người đã ra đi và nhiều người đã trở về, với một hành trang đầy đặn và một khát vọng về các cuộc chơi lớn cùng bạn bè quốc tế. Mỗi người trong họ đi trên những con đường khác nhau để cùng gặp nhau trong một nỗ lực.
NHỮNG CHUYỆN LÀM NHỨC NHỐI
Ngoài những công việc nói trên, Luật sư Lê Công Định cũng cố gắng tranh đấu để đất nước ngày càng có dân chủ hơn, tự do hơn. Ông đã viết nhiều loại bài hay trả lời các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong nước cũng như ở hải ngoại về những vấn đề đáng quan tâm của đất, nước chẳng hạn như:
- “Vai trò xây dựng án lệ của toà án” (Bản tin Đoàn Luật sư Sài Gòn, Số 8, ngày 26.7.2003).
- “Tính minh bạch trong hoạt động của toà án” (Đặc san Nghề Luật, Trường Đào tạo các Chức danh Tư pháp, Số 7 năm 2004).
- “Trả lại hào khí Diên Hồng” (Báo Pháp Luật Sài Gòn ngày 5.3.2006, BBC ngày 11.3.2006). Trong bài này ông cũng viết rất thẳng thắn:
“Vì nhu nhược, chúng ta không dám phản kháng thói hạch sách, nhũng nhiễu của lớp quan lại mới, chấp nhận dùng tiền vượt qua trở ngại. Đến khi nhìn lại, quốc nạn tham nhũng và quan liêu đã lan tràn, bất trị...”
- “Tại sao không nên sợ đa nguyên” (BBC, 13.4.2006).
- “Bàn về ‘Chính danh’ trong thể chế pháp trị” (BBC, 4.7.2006).
- “Thế giới ảo và hiệu quả của chính phủ” (BBC, 5.2.2007).
- “Bài học Miến Điện” (BBC, 1.10.2007).
- “Phỏng vấn Luật sư Lê Công Định trước phiên xử “vụ Điếu Cày” (RFA, 10.9.2008).
- “Đất đai dưới áp lực của tiền và quyền tại Việt Nam” (RFA, 27.2.2009).
- “Chuẩn mực văn minh cần tôn trọng” (BBC 9.3.2009). Trong bài này ông viết:
“Gần đây những cuộc đột nhập văn phòng luật sư để tịch thu tài liệu và máy tính hoặc khám xét hành lý của các luật sư tại phi trường ở Việt Nam đã dấy lên mối quan ngại về sự công khai xâm phạm bí mật nghề nghiệp luật sư, một trong những chuẩn mực văn minh mà bất kỳ nhà nước pháp quyền nào trên thế giới cũng tôn trọng.”
- “Đọc sử để nhìn nhận hôm nay” (BBC, 2.5.2009), v.v.
Nhà cầm quyền nhận thấy những loạt bài nhức nhối như thế này không thề được tiếp tục cho phổ biến nên tìm cách ngăn chận.
BỊ SA VÀO LƯỚI
Điều 88 Bộ Luật Hình Sự quy định rằng sẽ bị phạt từ 3 đến 12 năm tù những ai tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, làm ra hay tàng trử các tài liệu chống chính quyền, v.v. Nhưng truy tố về những tội này thường gây nhiều tranh cãi vì nó thuộc về quyền tự do ngôn luận được quy định trong Hiến Pháp. Do đó, muốn bắt và truy tố một người nào theo điều 88, Công An thường phải gài cho người này có sự liên hệ tới một tổ chức bị coi là “phản động”, mặc dầu đôi khi tổ chức đó chỉ là một tổ chức chống cộng cò mồi hay được dùng làm cò mồi.
Một thí dụ cụ thể: Trong vụ án Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, theo bản Cáo Trạng số 28/CT-VKS-P2 ngày 23.4.2007 của Viện KSND TP Hà Nội, các bị cáo Đài và Nhân đã tàng trữ các tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc, bôi nhọ chế độ xã hội do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, vu cáo xuyên tạc chính sách của Nhà nước, v.v.
Nhưng nếu chỉ truy tố như thế thì quá yếu. Viện KSND phải chứng minh thêm rằng vào tháng 4/2006, Lê Thị Công Nhân đã ký tên ủng hộ cái gọi là "Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam 2006" và cùng Nguyễn Văn Đài tham gia Khối 8406. Vào tháng 9/2006, Lê Thị Công Nhân đã xin gia nhập vào cái gọi là "Đảng Thăng Tiến Việt Nam" (một đảng chống cộng cò mồi). Từ 2/9 đến 5/9/2006, Lê Thị Công Nhân vào Huế bàn việc quyết định tuyên bố công khai đảng này trên mạng Internet vào ngày 8.9.2006. Nguyễn Văn Đài còn bị tố cáo là kẻ trực tiếp soạn thảo điều lệ của tổ chức “Đảng Dân Chủ 21,” trong đó y không hề giấu diếm ý đồ muốn giành chính quyền ở Việt Nam.
Về trường hợp của Luật sư Lê Công Định, nhà cầm quyền nói rất rõ: "Lê Công Định là thành viên chủ chốt trong nhóm chống đối do Nguyễn Sỹ Bình (cầm đầu "Đảng Nhân Dân Hành Động" ở Mỹ) chỉ đạo, hoạt động với mục tiêu lật đổ chế độ.”
Về hoạt động đáng nghi ngờ của "Đảng Nhân Dân Hành Động" do Nguyễn Sỹ Bình lãnh đạo, chúng tôi đã cảnh giác quá nhiều lần, chỉ các nhà tranh đấu trong nước không biết đến “thành tích” của đảng này nên để vướng vào và bị liên lụy. Tháng 3/2009, Lê Công Định sang Phuket (Thái Lan) gặp Nguyễn Sỹ Bình là kể như trúng kế Công An rồi!
Các lãnh tụ của Khối 8406, Đảng Nhân Dân Hành Động, Đảng Dân Chủ 21... có thể ra tuyên ngôn tuyên cáo tố Cộng búa xua mà chẳng sao cả, nhưng các nhà đấu tranh ở trong nước mà để dính vào các tổ chức này là kể như bị sa vào lưới của Công An.
Một lần nữa, chúng tôi kêu gọi các nhà đấu tranh ở trong nước phải luôn cảnh giác, đừng nghe tuyên truyền hay dụ dổ mà dính vào các tổ chúc chống cộng cò mồi của Công An hay đang bị Công An dùng làm cò mồi.
Khi bắt những nhà đấu tranh chính trị nổi tiếng như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, v.v., nhà cầm quyền CSVN thừa biết hành động này sẽ phương hại cho uy tín của chế độ trước công luận quốc tế, nhưng họ vẫn làm để bảo đảm sự ổn định của chế độ. Tuy nhiên, những sự đối kháng không mệt mỏi đó, tuy chưa đem lại những kết quả cụ thể trước mắt, nhưng nó đang xói mòn dần chế độ và khơi dậy những ý thức về dân chủ, về nhân quyền, về công bằng xã hội, về phát triển đất nước... trong quần chúng. Vì thế, nó có năng lực thúc đầy chế độ phải có những thay đổi. Chính những nỗ lực này đang trở thành những viên gạch xây dựng dần nền dân chủ.
Lữ Giang
(16.6.2009)
Làn sóng Dân Chủ mới
Ngô Nhân Dụng Cảnh tượng trên đường phố ở Teheran trong mấy ngày qua có thể giúp những người dân chủ ở Việt Nam thêm phấn khởi: Một làn sóng mới của dân chủ tự do đang bắt đầu trên thế giới, khởi động từ thủ đô nước Iran. Hàng trăm ngàn người xuống đường trong ngày Thứ Hai, trên một đại lộ dài gần 10 cây số đòi chính quyền chấm dứt trò gian lận bầu cử; cảnh tượng đó cho thấy người dân nước nào cũng thiết tha với quyền công dân của họ. Cả thế giới chứng kiến cảnh đó, và những cơn sóng dân chủ khác sẽ nối theo nhau dâng lên.
Cuối thế kỷ trước, cơn sóng dân chủ đã trào lên từ những cuộc biểu tình của dân chúng thủ đô Manilla, Phi Luật Tân vào năm 1986. Dân Manilla đã gửi một tín hiệu đi khắp nơi, tới những người dân nước khác cũng muốn đòi quyền lên tiếng và quyền tham dự vào việc quản trị đất nước họ. Sau đó, cơn sóng tự do dân chủ đã trào sang những nước Á Ðông như Nam Hàn, Ðài Loan (1987), Thái Lan (1990), Bagladesh, Mông Cổ (1990) có lúc lan vào cả lục địa Trung Hoa với những cuộc biểu tình chống tham nhũng ở Thiên An Môn rồi bị đàn áp (1989). Các nước ở Châu Mỹ La tinh cũng rúng động, Chile lật đổ chế độ độc tài quân phiệt (1988), và sau cùng bức tường Berlin sụp đổ (1989) kéo theo các chính quyền Cộng Sản Ðông Âu. Ngay cả việc chấm dứt chế độ kỳ thị “apartheid” ở Nam Phi (1990 - 1992) cũng diễn ra trong cơn sóng trào dân chủ hóa này. Cao trào dân chủ lại bùng lên một lần nữa vào cuối thập niên 1990, khi các nước Thái Lan, Indonesia, Nam Hàn, Ðài Loan, thay thế những chính quyền đã bất lực và tham nhũng bằng những khuôn mặt lãnh đạo mới.
Quá trình Dân Chủ hóa không phải là một vở kịch có bài bản viết sẵn và được đạo diễn nhịp nhàng. Mỗi đợt sóng dân chủ dâng lên đều có thể bị các thế lực thủ cựu chống cự, ngăn cản; có lúc cơn sóng dân chủ bị đẩy lui và cũng nhiều khi thoái trào. Nhưng chúng ta biết chắc là dù làn sóng dân chủ có bị đẩy lùi một bước thì sau đó sẽ dâng lên trở lại, vượt qua các chướng ngại, tiến thêm nhiều bước mới. Ðộng lực chính thúc đẩy cao trào dân chủ là sự chuyển động trong lòng người, cả khối dân chúng có ý thức; chứ không phải là do những người lãnh đạo, những tổ chức, hay sức phù trợ từ bên ngoài gây nên. Khi người dân ý thức nhu cầu lên tiếng và nhu cầu tham dự vào việc quản trị đất nước họ, thì họ sẽ xuống đường đòi tự do.
Ở Iran chúng ta đang chứng kiến hiện tượng đó. Chúng ta không đoán trước được kết quả sau cùng sẽ ra sao, không biết liệu chính quyền cũ có bị lật đổ không, chính quyền mới nếu được lên có thực sự phục vụ quyền lợi của đa số người dân hay không. Nhưng điều quan trọng trong cao trào tự do dân chủ không chỉ nằm trong việc thay đổi chính quyền, mà biểu hiện qua sự tham dự của người dân vào công việc chung, việc nước. Khi người dân thấy họ phải có quyền lên tiếng nói, phải giành lấy quyền tham dự, thì ý thức đó sẽ được nuôi dưỡng trong lòng người không thể nào xóa bỏ được. Ðã nhiều cuộc cách mạng bị phản bội trong suốt lịch sử loài người. Nhưng cuối cùng, những người dân bình thường sẽ sẽ thắng. Quan nhất thời, dân vạn đại; chính quyền nào cũng là tạm thời, chỉ có nhân dân tồn tại mãi mãi. Nếu nay mai Tổng Thống Ahmadi-Nejad vẫn ngồi lì đó và các cuộc biểu tình bị dẹp yên, thì ý thức tự do dân chủ của hàng triệu người dân Iran vẫn còn và có thể được nuôi dưỡng lâu dài chờ ngày thể hiện bằng hành động. Ngược lại, nếu ông Hossein Moussavi được lên làm tổng thống rồi phụ lòng dân chúng, thì đối với những người dân Iran đã nếm mùi dân chủ khi tham dự vào những cuộc biểu tình trong mấy ngày nay, mối khát vọng dân chủ vẫn còn là ngọn lửa nung nấu trong tâm can họ mãi mãi. Hiện tượng quan trọng nhất trong những cuộc biểu tình này là ước vọng được sống dân chủ đã thể hiện trong hành động xuống đường của người dân Iran.
Khái niệm Dân Chủ được thấy qua những hình ảnh mà báo chí tường thuật. Một khẩu hiệu được hô lên nhiều lần trong các cuộc biểu tình vừa qua là “Tiêu diệt kẻ độc tài!” Không cần nêu tên kẻ độc tài đó là ai. Một người biểu tình đã nói với phóng viên, “Chúng tôi không phải là đàn cừu! Họ không thể dối trá với chúng tôi mà nghĩ là chúng tôi sẽ im lặng mãi được!” Ðó là lời của một phụ nữ 30 tuổi, chủ tiệm sách ở trung tâm Teheran. Nói rõ hơn, một ông 64 tuổi phát biểu, “Họ đã sỉ nhục chúng tôi và sỉ nhục óc phán đoán của chúng tôi!”
Người dân Iran đòi dân chủ vì họ không chấp nhận bị sỉ nhục mãi. Họ thấy mình bị chính quyền nhục mạ khi bắt họ nghe những lời dối trá trâng tráo. Những người cầm quyền ở Iran tưởng rằng dân chúng không ai dám nghĩ tới ý tưởng phản kháng, khi thấy dân đã chịu đựng quen từ 30 năm nay. Nhưng bây giờ người dân không cam chịu im lặng trước sự sỉ nhục bằng dối trá. Họ ý thức rằng chỉ khi nào được tự do thì người dân mới biết sự thật.
Ðó là những khái niệm đơn giản đã thúc đẩy người dân đòi tự do dân chủ, ở Iran hay ở bất cứ nơi nào khác. Trong thời gian hàng trăm ngàn người xuống đường ở Teheran thì có những sinh viên đã tự động phát hành những bản tin để phản bác các tin tức dối trá do báo, đài của chính quyền đưa ra. Dân Chủ tức là phải có những tiếng nói đối nghịch cho mọi người biết và tự do phê phán.
Dân Iran là dòng dõi của những đế quốc Ba Tư đã bành trướng từ thế kỷ thứ Tám đến thế kỷ thứ Sáu trước kỷ nguyên Tây lịch. Các đại đế Darius và Xerxes đã mở đầu một đế quốc rộng lớn cả vùng Trung Ðông trong hai thế kỷ (550 - 330 trước Tây Lịch). Ðại đế Syrius đã làm rúng động Âu Châu. Sau khi họ cải đạo theo Hồi Giáo, người Ba Tư lại đóng vai trò các chuyên viên tổ chức hành chánh rồi chiếm quyền thống lĩnh đế quốc mới đó trong nhiều đời, từ thế kỷ thứ Chín đến hết thế kỷ thứ Mười. Một dân tộc như vậy không thể chịu nhục mãi mãi.
Khi nhìn vào cuộc đương đầu của ông tổng thống Iran và ứng cử viên đối lập, những nhà quan sát quốc tế có thể thấy đây là một màn kịch mà bên trong hậu trường còn đầy các diễn biến khác. Ðằng sau ông Tổng Thống Ahmadi-Nejad là “Lãnh tụ Tối cao” Ali Khamenei. Ðằng sau ông Hosein (hay Hussein) Moussavi là cựu Tổng Thống Ali Akbar Hashemi Rafsanjani. Ông Rafsanjani vẫn muốn giành chức vụ tối cao của ông Khamenei, từ hơn mười năm trước đây. Một cựu tổng thống khác, ông Mohamad Khatami đã ứng cử rồi rút lui để ủng hộ ông Moussavi cũng vì được Rafsanjani thúc đẩy. Rafsanjani hiện vẫn giữ chức chủ tịch hai cơ quan khác trong các định chế chính trị ở Iran, trong đó có Hội Ðồng Các Chuyên Gia Về Luật Hồi Giáo, hội đồng này nắm quyền bổ nhiệm và có quyền cách chức lãnh tụ Tối Cao của ông Khamenei.
Theo ông M. K. Bhadrakumar, một nhà ngoại giao Ấn Ðộ theo dõi tình hình Iran nhiều thập niên qua, thì hai nhân vật nổi bật trong cuộc tranh chấp hiện nay, Ahmadi-Nejad và Moussavi chỉ đóng trò trên sân khấu, được hai ông Khamenei và Rafsanjani giật dây. Hiện nay ông Khamenei đã chịu nhường một bước, yêu cầu Hội Ðồng Lãnh Ðạo duyệt xét lại kết quả cuộc bầu cử. Có thể coi là ông đã yếu đi và bị mất thể diện, vì ông đã tuyên bố khen ngợi sự đắc thắng của ông Ahmadi-Nejad ngay sau khi kết quả được công bố, trong đó đương kim tổng thống được 63% số phiếu và đối thủ Moussavi được 34%.
Việc công bố kết quả trên biến thành một hành động “sỉ nhục” đối với nhiều người dân Iran, vì có những điều bất thường không hiểu nổi. Trước khi các kết quả được công bố thì các đài truyền hình của nhà nước đã báo tin ông tổng thống thắng phiếu rồi và bắt đầu ca ngợi sự đắc thắng của ông ta! Tại ngay quê hương của ông Moussavi, ông Ahmadi-Nejad cũng thắng phiếu. Ông Moussavi thuộc sắc tộc nói tiếng Azeri, khác với tiếng Farsi của đa số người Iran; nhưng theo kết quả công bố thì ông Ahmadi-Nejad cũng thắng thế ở trong cả những vùng người nói tiếng Azeri sinh sống.
Bây giờ Lãnh Tụ Tối Cao Khamenei có thể mua thời giờ trong mấy tuần lễ chờ Hội Ðồng Lãnh Ðạo duyệt xét kết quả bầu cử ở một số địa phương. Sau đó họ có thể tuyên bố ông Ahmadi-Nejad vẫn được trên 50% số phiếu, không cần bầu vòng thứ nhì. Nhưng ông Khamenei đã bị yếu thế sau một nhượng bộ lần này, trong khi đó ông Fafsanjani ở thế công mạnh hơn khi ông huy động được nhiều giáo sĩ trong giới lãnh đạo tỏ ý nghi ngờ kết quả cuộc bỏ phiếu. Nếu số giáo sĩ theo ông đông đảo hơn ông Rafsanjani có thể lật đổ ông Khamenei, đưa ông Khatami lên thay, qua Hội Ðồng Các Chuyên Gia.
Tất cả những tấn tuồng và vận động hậu trường đó không có ý nghĩa gì đối với việc xây dựng một thể chế Dân Chủ. Iran có bản Hiến Pháp rất phức tạp và dành rất nhiều quyền cho giới giáo sĩ, mà trong Hồi Giáo đó là những học giả chuyên về “thánh luật” chứ không phải là những người đại diện cho đấng Tối Cao. Các vị giáo sĩ đang tranh giành quyền lực trong khuôn khổ bản Hiến Pháp đó. Nhưng chính khi họ giành nhau quyền thế và địa vị, họ đã làm cho cả “cơ chế thần quyền” bị lung lay. Ba mươi năm sau khi lật đổ vị Sa Hoàng bị coi là tay sai của nước Mỹ, cuộc cách mạng Hồi Giáo được dân Iran ủng hộ từ đầu, nay đã cho thấy có vết rạn nứt. Ðây là một cơ hội cho những người dân trung lưu có học, nhất là giới thanh niên, đứng lên đòi tự do dân chủ thật sự. Họ sẽ làm một cuộc cách mạng mới, giành lại quyền quyết định việc quốc gia cho đa số người dân, chứ không để độc quyền cho các học giả được đào tạo trong các đại học tôn giáo thao túng nữa. Quá trình này có thể kéo dài trong hàng chục năm.
Trong mấy ngày sắp tới sẽ còn những cuộc biểu tình do phe chính quyền và phe đối lập tổ chức, trong khi các đối thủ chính ở cấp cao nhất là Ayatollah Khameni và Ayatollah Rafsanjani vận động hậu trường. Nhưng đối với tương lai dân tộc Iran thì những màn tranh giành quyền lực đó không quan trọng. Ðiều quan trọng nhất là người dân đã đứng dậy đòi quyền được phát biểu tự do, quyền tham dự vào việc quốc gia, và quyền biết sự thật.
Các chính phủ Tây phương, từ Mỹ sang Âu châu đã khôn ngoan không đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp này. Vì chế độ độc tài ở Iran trong những năm qua đã lợi dụng tình cảm dân tộc của người dân, lấy chiêu bài chống Tây phương và khôi phục địa vị quốc gia để giữ chế độ độc tài, bắt dân phải cúi đầu vâng lời các lĩnh tụ. Các nước Tây phương không thể rơi vào cái bẫy “can thiệp” cho nên giữ thái độ bàng quan là phương cách tốt nhất.
Làn sóng Dân Chủ đang dâng lên ở Iran sẽ gây tiếng vang khắp thế giới, không phải trong lúc này mà còn trong hàng chục năm tới. Những quốc gia còn đang sống trong những chế độ Dân Chủ nửa vời sẽ ý thức rõ hơn họ phải tranh đấu đòi cho được tự do dân chủ đầy đủ. Các nước còn sống dưới ách độc tài sẽ thấy họ phải thức dậy và đứng lên. Ðó là lý do những người Dân Chủ ở Việt Nam theo dõi những diễn biến từ Iran sẽ thấy những điềm hy vọng. Một làn sóng dân chủ tự do mới có thể đang trào lên trên thế giới.
Ngô Nhân Dụng Cảnh tượng trên đường phố ở Teheran trong mấy ngày qua có thể giúp những người dân chủ ở Việt Nam thêm phấn khởi: Một làn sóng mới của dân chủ tự do đang bắt đầu trên thế giới, khởi động từ thủ đô nước Iran. Hàng trăm ngàn người xuống đường trong ngày Thứ Hai, trên một đại lộ dài gần 10 cây số đòi chính quyền chấm dứt trò gian lận bầu cử; cảnh tượng đó cho thấy người dân nước nào cũng thiết tha với quyền công dân của họ. Cả thế giới chứng kiến cảnh đó, và những cơn sóng dân chủ khác sẽ nối theo nhau dâng lên.
Cuối thế kỷ trước, cơn sóng dân chủ đã trào lên từ những cuộc biểu tình của dân chúng thủ đô Manilla, Phi Luật Tân vào năm 1986. Dân Manilla đã gửi một tín hiệu đi khắp nơi, tới những người dân nước khác cũng muốn đòi quyền lên tiếng và quyền tham dự vào việc quản trị đất nước họ. Sau đó, cơn sóng tự do dân chủ đã trào sang những nước Á Ðông như Nam Hàn, Ðài Loan (1987), Thái Lan (1990), Bagladesh, Mông Cổ (1990) có lúc lan vào cả lục địa Trung Hoa với những cuộc biểu tình chống tham nhũng ở Thiên An Môn rồi bị đàn áp (1989). Các nước ở Châu Mỹ La tinh cũng rúng động, Chile lật đổ chế độ độc tài quân phiệt (1988), và sau cùng bức tường Berlin sụp đổ (1989) kéo theo các chính quyền Cộng Sản Ðông Âu. Ngay cả việc chấm dứt chế độ kỳ thị “apartheid” ở Nam Phi (1990 - 1992) cũng diễn ra trong cơn sóng trào dân chủ hóa này. Cao trào dân chủ lại bùng lên một lần nữa vào cuối thập niên 1990, khi các nước Thái Lan, Indonesia, Nam Hàn, Ðài Loan, thay thế những chính quyền đã bất lực và tham nhũng bằng những khuôn mặt lãnh đạo mới.
Quá trình Dân Chủ hóa không phải là một vở kịch có bài bản viết sẵn và được đạo diễn nhịp nhàng. Mỗi đợt sóng dân chủ dâng lên đều có thể bị các thế lực thủ cựu chống cự, ngăn cản; có lúc cơn sóng dân chủ bị đẩy lui và cũng nhiều khi thoái trào. Nhưng chúng ta biết chắc là dù làn sóng dân chủ có bị đẩy lùi một bước thì sau đó sẽ dâng lên trở lại, vượt qua các chướng ngại, tiến thêm nhiều bước mới. Ðộng lực chính thúc đẩy cao trào dân chủ là sự chuyển động trong lòng người, cả khối dân chúng có ý thức; chứ không phải là do những người lãnh đạo, những tổ chức, hay sức phù trợ từ bên ngoài gây nên. Khi người dân ý thức nhu cầu lên tiếng và nhu cầu tham dự vào việc quản trị đất nước họ, thì họ sẽ xuống đường đòi tự do.
Ở Iran chúng ta đang chứng kiến hiện tượng đó. Chúng ta không đoán trước được kết quả sau cùng sẽ ra sao, không biết liệu chính quyền cũ có bị lật đổ không, chính quyền mới nếu được lên có thực sự phục vụ quyền lợi của đa số người dân hay không. Nhưng điều quan trọng trong cao trào tự do dân chủ không chỉ nằm trong việc thay đổi chính quyền, mà biểu hiện qua sự tham dự của người dân vào công việc chung, việc nước. Khi người dân thấy họ phải có quyền lên tiếng nói, phải giành lấy quyền tham dự, thì ý thức đó sẽ được nuôi dưỡng trong lòng người không thể nào xóa bỏ được. Ðã nhiều cuộc cách mạng bị phản bội trong suốt lịch sử loài người. Nhưng cuối cùng, những người dân bình thường sẽ sẽ thắng. Quan nhất thời, dân vạn đại; chính quyền nào cũng là tạm thời, chỉ có nhân dân tồn tại mãi mãi. Nếu nay mai Tổng Thống Ahmadi-Nejad vẫn ngồi lì đó và các cuộc biểu tình bị dẹp yên, thì ý thức tự do dân chủ của hàng triệu người dân Iran vẫn còn và có thể được nuôi dưỡng lâu dài chờ ngày thể hiện bằng hành động. Ngược lại, nếu ông Hossein Moussavi được lên làm tổng thống rồi phụ lòng dân chúng, thì đối với những người dân Iran đã nếm mùi dân chủ khi tham dự vào những cuộc biểu tình trong mấy ngày nay, mối khát vọng dân chủ vẫn còn là ngọn lửa nung nấu trong tâm can họ mãi mãi. Hiện tượng quan trọng nhất trong những cuộc biểu tình này là ước vọng được sống dân chủ đã thể hiện trong hành động xuống đường của người dân Iran.
Khái niệm Dân Chủ được thấy qua những hình ảnh mà báo chí tường thuật. Một khẩu hiệu được hô lên nhiều lần trong các cuộc biểu tình vừa qua là “Tiêu diệt kẻ độc tài!” Không cần nêu tên kẻ độc tài đó là ai. Một người biểu tình đã nói với phóng viên, “Chúng tôi không phải là đàn cừu! Họ không thể dối trá với chúng tôi mà nghĩ là chúng tôi sẽ im lặng mãi được!” Ðó là lời của một phụ nữ 30 tuổi, chủ tiệm sách ở trung tâm Teheran. Nói rõ hơn, một ông 64 tuổi phát biểu, “Họ đã sỉ nhục chúng tôi và sỉ nhục óc phán đoán của chúng tôi!”
Người dân Iran đòi dân chủ vì họ không chấp nhận bị sỉ nhục mãi. Họ thấy mình bị chính quyền nhục mạ khi bắt họ nghe những lời dối trá trâng tráo. Những người cầm quyền ở Iran tưởng rằng dân chúng không ai dám nghĩ tới ý tưởng phản kháng, khi thấy dân đã chịu đựng quen từ 30 năm nay. Nhưng bây giờ người dân không cam chịu im lặng trước sự sỉ nhục bằng dối trá. Họ ý thức rằng chỉ khi nào được tự do thì người dân mới biết sự thật.
Ðó là những khái niệm đơn giản đã thúc đẩy người dân đòi tự do dân chủ, ở Iran hay ở bất cứ nơi nào khác. Trong thời gian hàng trăm ngàn người xuống đường ở Teheran thì có những sinh viên đã tự động phát hành những bản tin để phản bác các tin tức dối trá do báo, đài của chính quyền đưa ra. Dân Chủ tức là phải có những tiếng nói đối nghịch cho mọi người biết và tự do phê phán.
Dân Iran là dòng dõi của những đế quốc Ba Tư đã bành trướng từ thế kỷ thứ Tám đến thế kỷ thứ Sáu trước kỷ nguyên Tây lịch. Các đại đế Darius và Xerxes đã mở đầu một đế quốc rộng lớn cả vùng Trung Ðông trong hai thế kỷ (550 - 330 trước Tây Lịch). Ðại đế Syrius đã làm rúng động Âu Châu. Sau khi họ cải đạo theo Hồi Giáo, người Ba Tư lại đóng vai trò các chuyên viên tổ chức hành chánh rồi chiếm quyền thống lĩnh đế quốc mới đó trong nhiều đời, từ thế kỷ thứ Chín đến hết thế kỷ thứ Mười. Một dân tộc như vậy không thể chịu nhục mãi mãi.
Khi nhìn vào cuộc đương đầu của ông tổng thống Iran và ứng cử viên đối lập, những nhà quan sát quốc tế có thể thấy đây là một màn kịch mà bên trong hậu trường còn đầy các diễn biến khác. Ðằng sau ông Tổng Thống Ahmadi-Nejad là “Lãnh tụ Tối cao” Ali Khamenei. Ðằng sau ông Hosein (hay Hussein) Moussavi là cựu Tổng Thống Ali Akbar Hashemi Rafsanjani. Ông Rafsanjani vẫn muốn giành chức vụ tối cao của ông Khamenei, từ hơn mười năm trước đây. Một cựu tổng thống khác, ông Mohamad Khatami đã ứng cử rồi rút lui để ủng hộ ông Moussavi cũng vì được Rafsanjani thúc đẩy. Rafsanjani hiện vẫn giữ chức chủ tịch hai cơ quan khác trong các định chế chính trị ở Iran, trong đó có Hội Ðồng Các Chuyên Gia Về Luật Hồi Giáo, hội đồng này nắm quyền bổ nhiệm và có quyền cách chức lãnh tụ Tối Cao của ông Khamenei.
Theo ông M. K. Bhadrakumar, một nhà ngoại giao Ấn Ðộ theo dõi tình hình Iran nhiều thập niên qua, thì hai nhân vật nổi bật trong cuộc tranh chấp hiện nay, Ahmadi-Nejad và Moussavi chỉ đóng trò trên sân khấu, được hai ông Khamenei và Rafsanjani giật dây. Hiện nay ông Khamenei đã chịu nhường một bước, yêu cầu Hội Ðồng Lãnh Ðạo duyệt xét lại kết quả cuộc bầu cử. Có thể coi là ông đã yếu đi và bị mất thể diện, vì ông đã tuyên bố khen ngợi sự đắc thắng của ông Ahmadi-Nejad ngay sau khi kết quả được công bố, trong đó đương kim tổng thống được 63% số phiếu và đối thủ Moussavi được 34%.
Việc công bố kết quả trên biến thành một hành động “sỉ nhục” đối với nhiều người dân Iran, vì có những điều bất thường không hiểu nổi. Trước khi các kết quả được công bố thì các đài truyền hình của nhà nước đã báo tin ông tổng thống thắng phiếu rồi và bắt đầu ca ngợi sự đắc thắng của ông ta! Tại ngay quê hương của ông Moussavi, ông Ahmadi-Nejad cũng thắng phiếu. Ông Moussavi thuộc sắc tộc nói tiếng Azeri, khác với tiếng Farsi của đa số người Iran; nhưng theo kết quả công bố thì ông Ahmadi-Nejad cũng thắng thế ở trong cả những vùng người nói tiếng Azeri sinh sống.
Bây giờ Lãnh Tụ Tối Cao Khamenei có thể mua thời giờ trong mấy tuần lễ chờ Hội Ðồng Lãnh Ðạo duyệt xét kết quả bầu cử ở một số địa phương. Sau đó họ có thể tuyên bố ông Ahmadi-Nejad vẫn được trên 50% số phiếu, không cần bầu vòng thứ nhì. Nhưng ông Khamenei đã bị yếu thế sau một nhượng bộ lần này, trong khi đó ông Fafsanjani ở thế công mạnh hơn khi ông huy động được nhiều giáo sĩ trong giới lãnh đạo tỏ ý nghi ngờ kết quả cuộc bỏ phiếu. Nếu số giáo sĩ theo ông đông đảo hơn ông Rafsanjani có thể lật đổ ông Khamenei, đưa ông Khatami lên thay, qua Hội Ðồng Các Chuyên Gia.
Tất cả những tấn tuồng và vận động hậu trường đó không có ý nghĩa gì đối với việc xây dựng một thể chế Dân Chủ. Iran có bản Hiến Pháp rất phức tạp và dành rất nhiều quyền cho giới giáo sĩ, mà trong Hồi Giáo đó là những học giả chuyên về “thánh luật” chứ không phải là những người đại diện cho đấng Tối Cao. Các vị giáo sĩ đang tranh giành quyền lực trong khuôn khổ bản Hiến Pháp đó. Nhưng chính khi họ giành nhau quyền thế và địa vị, họ đã làm cho cả “cơ chế thần quyền” bị lung lay. Ba mươi năm sau khi lật đổ vị Sa Hoàng bị coi là tay sai của nước Mỹ, cuộc cách mạng Hồi Giáo được dân Iran ủng hộ từ đầu, nay đã cho thấy có vết rạn nứt. Ðây là một cơ hội cho những người dân trung lưu có học, nhất là giới thanh niên, đứng lên đòi tự do dân chủ thật sự. Họ sẽ làm một cuộc cách mạng mới, giành lại quyền quyết định việc quốc gia cho đa số người dân, chứ không để độc quyền cho các học giả được đào tạo trong các đại học tôn giáo thao túng nữa. Quá trình này có thể kéo dài trong hàng chục năm.
Trong mấy ngày sắp tới sẽ còn những cuộc biểu tình do phe chính quyền và phe đối lập tổ chức, trong khi các đối thủ chính ở cấp cao nhất là Ayatollah Khameni và Ayatollah Rafsanjani vận động hậu trường. Nhưng đối với tương lai dân tộc Iran thì những màn tranh giành quyền lực đó không quan trọng. Ðiều quan trọng nhất là người dân đã đứng dậy đòi quyền được phát biểu tự do, quyền tham dự vào việc quốc gia, và quyền biết sự thật.
Các chính phủ Tây phương, từ Mỹ sang Âu châu đã khôn ngoan không đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp này. Vì chế độ độc tài ở Iran trong những năm qua đã lợi dụng tình cảm dân tộc của người dân, lấy chiêu bài chống Tây phương và khôi phục địa vị quốc gia để giữ chế độ độc tài, bắt dân phải cúi đầu vâng lời các lĩnh tụ. Các nước Tây phương không thể rơi vào cái bẫy “can thiệp” cho nên giữ thái độ bàng quan là phương cách tốt nhất.
Làn sóng Dân Chủ đang dâng lên ở Iran sẽ gây tiếng vang khắp thế giới, không phải trong lúc này mà còn trong hàng chục năm tới. Những quốc gia còn đang sống trong những chế độ Dân Chủ nửa vời sẽ ý thức rõ hơn họ phải tranh đấu đòi cho được tự do dân chủ đầy đủ. Các nước còn sống dưới ách độc tài sẽ thấy họ phải thức dậy và đứng lên. Ðó là lý do những người Dân Chủ ở Việt Nam theo dõi những diễn biến từ Iran sẽ thấy những điềm hy vọng. Một làn sóng dân chủ tự do mới có thể đang trào lên trên thế giới.
Khi Trung Quốc ngự trị thế giới?
Ngô Nhân Dụng
Nhiều người Việt đọc cuốn sách mới của Martin Jacques sẽ thấy lo sợ. Nhưng không cần phải sợ. Cuốn sách mang tựa đề là “Khi Trung Quốc Ngự trị Thế giới.” Ông không đặt câu hỏi: Khi nào họ ngự trị? Ông quả quyết, “Khi...” làm như chuyện đó tất sẽ xẩy ra, không nghi ngờ gì nữa. Tên tiếng Anh là: “When China Rules the World”, với tựa nhỏ: “The Rise of the Middle Kingdom and the End of the Western World.”
Martin Jacques chỉ nhắc lại những sự thật mà nhiều người đã đồng ý: Thế giới đang thay đổi. Trung Quốc đang vươn lên. Mọi người cũng nghĩ như ông, là vai trò thống trị hoàn cầu của Tây phương đang từ từ chấm dứt. Có sử gia như Niall Ferguson thấy hiện tượng xuống dốc của Tây phương đã bắt đầu từ trước Thế Chiến Thứ Nhất, đầu thế kỷ 20. Trong những bài báo trên tờ The Guardian, Martin Jacques thường nhắc đến năm 1945 là điểm bắt đầu của khúc quanh đó, khi các thuộc địa vùng lên giành độc lập.
Nhưng sau khi thế giới dần dần thoát khỏi vòng ảnh hưởng của các nước Âu Châu và Mỹ rồi, thì trong thế kỷ 21 này sẽ có nước nào thay thế vai trò đó hay không? Martin Jacques quả quyết: Trung Quốc sẽ ngự trị.
Người Việt Nam đã có kinh nghiệm sống 1,000 năm trong cảnh bị Trung Quốc ngự trị, cho nên ai cũng phải suy nghĩ. Có thật Trung Quốc sắp làm bá chủ hoàn cầu hay không?
Trước hết, chúng ta phải công nhận tiềm năng của 1 tỷ 300 triệu người Trung Hoa có thật, và rất lớn. Các nhà kinh tế đều dự đoán rằng tới giữa thế kỷ 21 thì mỗi năm tổng số sản xuất do khối dân khổng lồ này tạo ra sẽ cao hơn cả nền kinh tế của 300 triệu dân Mỹ. Khi đó Tổng Sản lượng Nội Ðịa Trung Quốc đứng hàng đầu, Mỹ và Ấn Ðộ sẽ đứng hạng nhì và hạng ba. Cùng với sức mạnh kinh tế và dân số đông đảo, lực lượng quân sự của Trung Quốc có khả năng mạnh nhất.
Tuy nhiên, người Việt Nam cũng không cần phải run sợ trước những sức mạnh đó. Vai trò bá chủ là một hiện tượng lịch sử diễn ra thời Xuân Thu (722 - 479 trước Công Nguyên) và Chiến Quốc (479 - 221 trước CN). Khi đó những nước hùng mạnh nhất trong lục địa Trung Hoa đứng đầu các nước khác, còn thiên tử nhà Chu chỉ làm vì. Nhưng thời nay khác, và trong thế kỷ 21 này còn khác nữa. Coi như ngay bây giờ cường quốc mạnh nhất thế giới là nước Mỹ, cả về kinh tế lẫn quân sự đều vượt xa các nước đứng hạng nhì, hạng ba. Nhưng điều đó không có nghĩa là các nước khác, dù là những nước nhỏ và gần nước Mỹ đều phải cúi đầu “thần phục.”
Thế giới “đơn cực” với một siêu cường duy nhất đang dần dần thay đổi, mà đó là một điều tốt cho loài người. Tới giữa thế kỷ này chưa chắc Trung Quốc đã đạt được sức mạnh quân sự cao hơn Mỹ. Vì hiện nay khả năng kỹ thuật quân sự của Mỹ đã tiến xa muốn đuổi kịp phải tốn nhiều thời giờ và tiền bạc; mà số chi tiêu về quốc phòng của Mỹ trong một năm vẫn lớn hơn tổng số chi tiêu của tất cả các nước còn lại. Nhưng dù có lúc sức mạnh vũ lực của Trung Quốc và Mỹ ngang ngửa với nhau thì điều đó cũng không có nghĩa là các nước khác phải chịu khuất phục hai quốc gia đó. Chúng ta chỉ cần chứng kiến một nước nhỏ như Bắc Hàn vẫn có thể cứng đầu trước áp lực của cả Mỹ, Nga và Trung Quốc, thì thấy trong thời buổi này không còn nước nào có thể đóng vai bá chủ được. Vào giữa thế kỷ thứ 10 dân Việt Nam chắc chắn nghèo hơn và yếu hơn khối người Hán phương Bắc, so sánh còn còn yếu hơn lực lượng tương đối bây giờ. Nhưng chính lúc đó người Việt Nam đã vùng lên giành lại quyền tự chủ.
Tuy nhiên tác giả Martin Jacques cũng không nhấn mạnh tới sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc khi ông tiên đoán rằng nước này sẽ đóng vai trò thống ngự thế giới. Trong các bài viết trên báo cũng như trong cuốn sách mới của ông, ông đặt ra một hình ảnh mới, đó là vai trò thống ngự bằng văn hóa mà ông tin sẽ do Trung Quốc thủ vai chính. Ông viết, “Khi đóng vai trò thống ngự hoàn cầu, Trung Quốc chắc sẽ nhìn thế giới với một quan điểm có cấp bậc trên dưới (hierarchical view), căn cứ trên chủng tộc và văn hóa.”
Mặc dù đã từng làm chủ bút tạp chí Marxism Today (Chủ nghĩa Mác Ngày nay) cho đến khi tập san này đóng cửa năm 1991 (thật đúng lúc), Martin Jacques cũng từng dạy học ở Singapore nên ông có thể chịu ảnh hưởng của chính phủ nước này, như họ vẫn đề cao vai trò văn hóa trong truyền thống Hán tộc. Ông thấy truyền thống trọng “tinh thần gia trưởng” (paternalism) trong Khổng Giáo vẫn còn rất mạnh trong xã hội Trung Hoa. Họ sẽ khôi phục và đề cao các giá trị trong truyền thống đó, để đối chọi với nền văn minh Tây phương. Ðặc biệt là đối với những nước chung quanh, Martin Jacques cho là chính quyền Trung Quốc sẽ làm sống lại quy chế “thần phục” giống như các nước Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam đã chấp nhận trong thời gian trước thế kỷ 20.
Nhưng tiên đoán tương lai Trung Quốc theo lối đó có thể là một việc làm sỉ nhục chính người Trung Hoa. Liệu từ nay cho đến cuối thế kỷ 21, các thế hệ người Trung Hoa có chấp nhận sống theo lối “gia trưởng,” trên bảo dưới nghe như thời nhà Ðường, nhà Minh, nhà Thanh hay không?
Trong dịp kỷ niệm 20 năm biến cố Thiên An Môn vừa rồi, nhà tranh đấu dân quyền Vương Ðán đã phát biểu về tương lai nước ông. Ông khẳng định rằng không sớm thì muộn, Trung Quốc sẽ được dân chủ hóa. Ông tin tưởng là “thế hệ 89” của những thanh niên đã sống qua biến cố Thiên An Môn sẽ thay đổi đất nước họ, trong đó có “những thay đổi về ý thức hệ và về định chế.” Ông nêu lên bốn mục tiêu: Thịnh vượng, Ổn định, Tự do, và Công lý (Prosperity, Stability, Freedom, and Social Justice). Với bốn giá trị căn bản đó, ông tin là người Trung Hoa sẽ lập nền tảng cho một Ðệ Tam Cộng Hòa, tiếp theo hai định chế quốc gia chính trị mà Tôn Dật Tiên (1911) và Mao Trạch Ðông (1949) đã dựng lên.
Trong đầu óc thế hệ trẻ và trung niên ở Trung Quốc, lý tưởng vẫn là xây dựng một xã hội dân chủ tự do chứ không phải là một quốc gia theo tinh thần gia trưởng. Martin Jacques đã nhắc lại những lập luận của chính phủ Singapore khi họ biện minh cho chính sách kiểm soát xã hội một cách chặt chẽ. Họ cho là truyền thống văn hóa Á Ðông coi trọng tập thể hơn cá nhân, sử dụng quan hệ xã hội nhiều hơn dùng luật pháp, và coi tình trạng ổn định tốt hơn là tự do. Có hai điều mà những người lập luận như vậy đã quên hoặc cố ý bỏ qua. Một là không phải chỉ có nền văn minh Trung Quốc mới có đặc tính như thế. Ngay tại các nước Âu châu suốt cả ngàn năm trước khi có những cuộc cách mạng đòi quyền cho con người và quyền của người công dân thì hệ thống giá trị cũng tương tự như vậy. Mặt khác, ngay trong truyền thống Trung Hoa từ thời Xuân Thu đã có những trào lưu tư tưởng đề cao việc sử dụng luật pháp (Hàn Phi Tử) và đề cao tự do cá nhân (Lão, Trang, Dương Chu). Trong hơn hai ngàn năm sau đó, chính quyền quân chủ ở Trung Quốc đã lợi dụng Khổng Giáo làm tư tưởng chỉ đạo cho xã hội, nhưng họ áp dụng phương pháp cai trị của Pháp gia, và ngay trong giới Nho sĩ mọi người vẫn sống theo tư tưởng phóng khoáng của Lão, Trang. Ngay trong tư tưởng Khổng Giáo, Mạnh Tử là người đề cao dân quyền rõ rệt khi ông xác định rằng người dân quý hơn quốc gia còn ông vua thì không đáng kể (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Ông vua không đáng kể vì Mạnh Tử công nhận quyền của người dân khi họ nổi lên giết các ông vua Kiệt, Trụ. Chế độ quân chủ chuyên chế chỉ bắt đầu được các lý thuyết gia theo Nho Giáo biện hộ mạnh mẽ kể từ đời nhà Tống, từ thế kỷ 11, với hậu quả là ba bốn thế kỷ sau nền văn minh Trung Hoa bắt đầu suy sụp. Liệu người Trung Hoa có muốn trở lại với quá khứ đó hay không?
Có lẽ Martin Jacques đã coi thường phong trào đòi tự do dân chủ ở Trung Quốc vì hiện nay chế độ độc tài của đảng Cộng Sản còn rất mạnh. Nhưng ông quên rằng chính nhóm người thống trị nước Trung Hoa hiện nay đang theo một chủ nghĩa ngoại lai đầy sai lầm chứ không phải theo Khổng Mạnh. Họ dùng chiêu bài ý thức hệ Cộng Sản để làm bình phong bảo vệ địa vị và quyền lợi kinh tế của giai cấp thống trị. Ai cũng biết đó là một tấn tuồng giả mạo, dối trá. Có thể nào một tỷ người Trung Hoa chấp nhận hy sinh các quyền tự do căn bản của mình để đánh đổi lại được thấy quốc gia họ được đóng vai thống ngự thế giới hay không? Ðó có thể là một thủ đoạn mà chính quyền Cộng Sản đang sử dụng nhằm ru ngủ dân chúng. Nhưng chắc người Trung Hoa không dễ đánh lừa như vậy. Và chắc chắn không ai có thể đánh lừa họ lâu như như Martin Jacques tiên đoán.
Ðối với người Việt Nam thì trước mối đe dọa của “đế quốc văn hóa Trung Quốc” mà Martin Jacques tưởng tượng, chúng ta cần “giành độc lập” bằng cách xác định lại tất cả những gì trong văn hóa Việt Nam khác hẳn người Trung Hoa. Từ đạo luật Hồng Ðức vào thế kỷ 15, dân tộc Việt Nam đã làm công việc khẳng định đó. Phong tục và luật lệ Việt Nam tôn trọng quyền cá nhân hơn cách sống của người Trung Hoa dưới sự cai trị của nhà Minh, nhà Thanh. Tiêu biểu là phong tục Việt Nam tôn trọng quyền của phụ nữ hơn phong tục Trung Hoa. Trong các thế kỷ 19, 20 người Việt Nam đón nhận các trào lưu văn hóa thế giới một cách rộng rãi hơn đầu óc bảo thủ nặng nề ngự trị xã hội Trung Quốc. Trong khi tìm cách xác định hồn tính dân tộc Việt, chứng tỏ nền văn hiến Việt Nam không phải chỉ là một bản sao chép của văn minh Trung Quốc, người Việt ngay tự bây giờ phải xây dựng tự do dân chủ để cho thấy dân tộc ta có khả năng bước đi những bước trước người Trung Quốc. Khi những chính quyền Việt Nam được dân chúng bầu lên theo các thể thức tự do dân chủ, thì những người cầm đầu chính quyền đó có khả năng mạnh hơn để chống lại những áp lực từ nước láng giềng phía Bắc.
Nhưng niềm hy vọng lớn nhất của dân Việt Nam, và của thế giới, vẫn là tương lai một nước Trung Hoa dân chủ hóa. Chính cái “Ðế quốc Văn hóa” mà Martin Jacques tưởng tượng sẽ là một ảo ảnh. Loài người đang tiếp tục trao đổi các giá trị văn hóa cũng như các sản phẩm kinh tế. Cuối cùng, nền văn minh nhân loại ở bất cứ nơi nào cũng sẽ tôn trọng quyền làm người và quyền công dân trong mỗi quốc gia. Khi hơn một tỷ người Trung Hoa được sống trong tự do dân chủ và người Việt Nam cũng sống trong tự do dân chủ thì mọi người có thể sống chung trong hòa bình, mọi tranh chấp về lãnh thổ, về hải phận sẽ được giải quyết ôn hòa trong luật pháp quốc tế. Sẽ không còn cảnh chính quyền một nước phải quỵ lụy thần phục “thiên triều” nữa.
Ngô Nhân Dụng
Nhiều người Việt đọc cuốn sách mới của Martin Jacques sẽ thấy lo sợ. Nhưng không cần phải sợ. Cuốn sách mang tựa đề là “Khi Trung Quốc Ngự trị Thế giới.” Ông không đặt câu hỏi: Khi nào họ ngự trị? Ông quả quyết, “Khi...” làm như chuyện đó tất sẽ xẩy ra, không nghi ngờ gì nữa. Tên tiếng Anh là: “When China Rules the World”, với tựa nhỏ: “The Rise of the Middle Kingdom and the End of the Western World.”
Martin Jacques chỉ nhắc lại những sự thật mà nhiều người đã đồng ý: Thế giới đang thay đổi. Trung Quốc đang vươn lên. Mọi người cũng nghĩ như ông, là vai trò thống trị hoàn cầu của Tây phương đang từ từ chấm dứt. Có sử gia như Niall Ferguson thấy hiện tượng xuống dốc của Tây phương đã bắt đầu từ trước Thế Chiến Thứ Nhất, đầu thế kỷ 20. Trong những bài báo trên tờ The Guardian, Martin Jacques thường nhắc đến năm 1945 là điểm bắt đầu của khúc quanh đó, khi các thuộc địa vùng lên giành độc lập.
Nhưng sau khi thế giới dần dần thoát khỏi vòng ảnh hưởng của các nước Âu Châu và Mỹ rồi, thì trong thế kỷ 21 này sẽ có nước nào thay thế vai trò đó hay không? Martin Jacques quả quyết: Trung Quốc sẽ ngự trị.
Người Việt Nam đã có kinh nghiệm sống 1,000 năm trong cảnh bị Trung Quốc ngự trị, cho nên ai cũng phải suy nghĩ. Có thật Trung Quốc sắp làm bá chủ hoàn cầu hay không?
Trước hết, chúng ta phải công nhận tiềm năng của 1 tỷ 300 triệu người Trung Hoa có thật, và rất lớn. Các nhà kinh tế đều dự đoán rằng tới giữa thế kỷ 21 thì mỗi năm tổng số sản xuất do khối dân khổng lồ này tạo ra sẽ cao hơn cả nền kinh tế của 300 triệu dân Mỹ. Khi đó Tổng Sản lượng Nội Ðịa Trung Quốc đứng hàng đầu, Mỹ và Ấn Ðộ sẽ đứng hạng nhì và hạng ba. Cùng với sức mạnh kinh tế và dân số đông đảo, lực lượng quân sự của Trung Quốc có khả năng mạnh nhất.
Tuy nhiên, người Việt Nam cũng không cần phải run sợ trước những sức mạnh đó. Vai trò bá chủ là một hiện tượng lịch sử diễn ra thời Xuân Thu (722 - 479 trước Công Nguyên) và Chiến Quốc (479 - 221 trước CN). Khi đó những nước hùng mạnh nhất trong lục địa Trung Hoa đứng đầu các nước khác, còn thiên tử nhà Chu chỉ làm vì. Nhưng thời nay khác, và trong thế kỷ 21 này còn khác nữa. Coi như ngay bây giờ cường quốc mạnh nhất thế giới là nước Mỹ, cả về kinh tế lẫn quân sự đều vượt xa các nước đứng hạng nhì, hạng ba. Nhưng điều đó không có nghĩa là các nước khác, dù là những nước nhỏ và gần nước Mỹ đều phải cúi đầu “thần phục.”
Thế giới “đơn cực” với một siêu cường duy nhất đang dần dần thay đổi, mà đó là một điều tốt cho loài người. Tới giữa thế kỷ này chưa chắc Trung Quốc đã đạt được sức mạnh quân sự cao hơn Mỹ. Vì hiện nay khả năng kỹ thuật quân sự của Mỹ đã tiến xa muốn đuổi kịp phải tốn nhiều thời giờ và tiền bạc; mà số chi tiêu về quốc phòng của Mỹ trong một năm vẫn lớn hơn tổng số chi tiêu của tất cả các nước còn lại. Nhưng dù có lúc sức mạnh vũ lực của Trung Quốc và Mỹ ngang ngửa với nhau thì điều đó cũng không có nghĩa là các nước khác phải chịu khuất phục hai quốc gia đó. Chúng ta chỉ cần chứng kiến một nước nhỏ như Bắc Hàn vẫn có thể cứng đầu trước áp lực của cả Mỹ, Nga và Trung Quốc, thì thấy trong thời buổi này không còn nước nào có thể đóng vai bá chủ được. Vào giữa thế kỷ thứ 10 dân Việt Nam chắc chắn nghèo hơn và yếu hơn khối người Hán phương Bắc, so sánh còn còn yếu hơn lực lượng tương đối bây giờ. Nhưng chính lúc đó người Việt Nam đã vùng lên giành lại quyền tự chủ.
Tuy nhiên tác giả Martin Jacques cũng không nhấn mạnh tới sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc khi ông tiên đoán rằng nước này sẽ đóng vai trò thống ngự thế giới. Trong các bài viết trên báo cũng như trong cuốn sách mới của ông, ông đặt ra một hình ảnh mới, đó là vai trò thống ngự bằng văn hóa mà ông tin sẽ do Trung Quốc thủ vai chính. Ông viết, “Khi đóng vai trò thống ngự hoàn cầu, Trung Quốc chắc sẽ nhìn thế giới với một quan điểm có cấp bậc trên dưới (hierarchical view), căn cứ trên chủng tộc và văn hóa.”
Mặc dù đã từng làm chủ bút tạp chí Marxism Today (Chủ nghĩa Mác Ngày nay) cho đến khi tập san này đóng cửa năm 1991 (thật đúng lúc), Martin Jacques cũng từng dạy học ở Singapore nên ông có thể chịu ảnh hưởng của chính phủ nước này, như họ vẫn đề cao vai trò văn hóa trong truyền thống Hán tộc. Ông thấy truyền thống trọng “tinh thần gia trưởng” (paternalism) trong Khổng Giáo vẫn còn rất mạnh trong xã hội Trung Hoa. Họ sẽ khôi phục và đề cao các giá trị trong truyền thống đó, để đối chọi với nền văn minh Tây phương. Ðặc biệt là đối với những nước chung quanh, Martin Jacques cho là chính quyền Trung Quốc sẽ làm sống lại quy chế “thần phục” giống như các nước Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam đã chấp nhận trong thời gian trước thế kỷ 20.
Nhưng tiên đoán tương lai Trung Quốc theo lối đó có thể là một việc làm sỉ nhục chính người Trung Hoa. Liệu từ nay cho đến cuối thế kỷ 21, các thế hệ người Trung Hoa có chấp nhận sống theo lối “gia trưởng,” trên bảo dưới nghe như thời nhà Ðường, nhà Minh, nhà Thanh hay không?
Trong dịp kỷ niệm 20 năm biến cố Thiên An Môn vừa rồi, nhà tranh đấu dân quyền Vương Ðán đã phát biểu về tương lai nước ông. Ông khẳng định rằng không sớm thì muộn, Trung Quốc sẽ được dân chủ hóa. Ông tin tưởng là “thế hệ 89” của những thanh niên đã sống qua biến cố Thiên An Môn sẽ thay đổi đất nước họ, trong đó có “những thay đổi về ý thức hệ và về định chế.” Ông nêu lên bốn mục tiêu: Thịnh vượng, Ổn định, Tự do, và Công lý (Prosperity, Stability, Freedom, and Social Justice). Với bốn giá trị căn bản đó, ông tin là người Trung Hoa sẽ lập nền tảng cho một Ðệ Tam Cộng Hòa, tiếp theo hai định chế quốc gia chính trị mà Tôn Dật Tiên (1911) và Mao Trạch Ðông (1949) đã dựng lên.
Trong đầu óc thế hệ trẻ và trung niên ở Trung Quốc, lý tưởng vẫn là xây dựng một xã hội dân chủ tự do chứ không phải là một quốc gia theo tinh thần gia trưởng. Martin Jacques đã nhắc lại những lập luận của chính phủ Singapore khi họ biện minh cho chính sách kiểm soát xã hội một cách chặt chẽ. Họ cho là truyền thống văn hóa Á Ðông coi trọng tập thể hơn cá nhân, sử dụng quan hệ xã hội nhiều hơn dùng luật pháp, và coi tình trạng ổn định tốt hơn là tự do. Có hai điều mà những người lập luận như vậy đã quên hoặc cố ý bỏ qua. Một là không phải chỉ có nền văn minh Trung Quốc mới có đặc tính như thế. Ngay tại các nước Âu châu suốt cả ngàn năm trước khi có những cuộc cách mạng đòi quyền cho con người và quyền của người công dân thì hệ thống giá trị cũng tương tự như vậy. Mặt khác, ngay trong truyền thống Trung Hoa từ thời Xuân Thu đã có những trào lưu tư tưởng đề cao việc sử dụng luật pháp (Hàn Phi Tử) và đề cao tự do cá nhân (Lão, Trang, Dương Chu). Trong hơn hai ngàn năm sau đó, chính quyền quân chủ ở Trung Quốc đã lợi dụng Khổng Giáo làm tư tưởng chỉ đạo cho xã hội, nhưng họ áp dụng phương pháp cai trị của Pháp gia, và ngay trong giới Nho sĩ mọi người vẫn sống theo tư tưởng phóng khoáng của Lão, Trang. Ngay trong tư tưởng Khổng Giáo, Mạnh Tử là người đề cao dân quyền rõ rệt khi ông xác định rằng người dân quý hơn quốc gia còn ông vua thì không đáng kể (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Ông vua không đáng kể vì Mạnh Tử công nhận quyền của người dân khi họ nổi lên giết các ông vua Kiệt, Trụ. Chế độ quân chủ chuyên chế chỉ bắt đầu được các lý thuyết gia theo Nho Giáo biện hộ mạnh mẽ kể từ đời nhà Tống, từ thế kỷ 11, với hậu quả là ba bốn thế kỷ sau nền văn minh Trung Hoa bắt đầu suy sụp. Liệu người Trung Hoa có muốn trở lại với quá khứ đó hay không?
Có lẽ Martin Jacques đã coi thường phong trào đòi tự do dân chủ ở Trung Quốc vì hiện nay chế độ độc tài của đảng Cộng Sản còn rất mạnh. Nhưng ông quên rằng chính nhóm người thống trị nước Trung Hoa hiện nay đang theo một chủ nghĩa ngoại lai đầy sai lầm chứ không phải theo Khổng Mạnh. Họ dùng chiêu bài ý thức hệ Cộng Sản để làm bình phong bảo vệ địa vị và quyền lợi kinh tế của giai cấp thống trị. Ai cũng biết đó là một tấn tuồng giả mạo, dối trá. Có thể nào một tỷ người Trung Hoa chấp nhận hy sinh các quyền tự do căn bản của mình để đánh đổi lại được thấy quốc gia họ được đóng vai thống ngự thế giới hay không? Ðó có thể là một thủ đoạn mà chính quyền Cộng Sản đang sử dụng nhằm ru ngủ dân chúng. Nhưng chắc người Trung Hoa không dễ đánh lừa như vậy. Và chắc chắn không ai có thể đánh lừa họ lâu như như Martin Jacques tiên đoán.
Ðối với người Việt Nam thì trước mối đe dọa của “đế quốc văn hóa Trung Quốc” mà Martin Jacques tưởng tượng, chúng ta cần “giành độc lập” bằng cách xác định lại tất cả những gì trong văn hóa Việt Nam khác hẳn người Trung Hoa. Từ đạo luật Hồng Ðức vào thế kỷ 15, dân tộc Việt Nam đã làm công việc khẳng định đó. Phong tục và luật lệ Việt Nam tôn trọng quyền cá nhân hơn cách sống của người Trung Hoa dưới sự cai trị của nhà Minh, nhà Thanh. Tiêu biểu là phong tục Việt Nam tôn trọng quyền của phụ nữ hơn phong tục Trung Hoa. Trong các thế kỷ 19, 20 người Việt Nam đón nhận các trào lưu văn hóa thế giới một cách rộng rãi hơn đầu óc bảo thủ nặng nề ngự trị xã hội Trung Quốc. Trong khi tìm cách xác định hồn tính dân tộc Việt, chứng tỏ nền văn hiến Việt Nam không phải chỉ là một bản sao chép của văn minh Trung Quốc, người Việt ngay tự bây giờ phải xây dựng tự do dân chủ để cho thấy dân tộc ta có khả năng bước đi những bước trước người Trung Quốc. Khi những chính quyền Việt Nam được dân chúng bầu lên theo các thể thức tự do dân chủ, thì những người cầm đầu chính quyền đó có khả năng mạnh hơn để chống lại những áp lực từ nước láng giềng phía Bắc.
Nhưng niềm hy vọng lớn nhất của dân Việt Nam, và của thế giới, vẫn là tương lai một nước Trung Hoa dân chủ hóa. Chính cái “Ðế quốc Văn hóa” mà Martin Jacques tưởng tượng sẽ là một ảo ảnh. Loài người đang tiếp tục trao đổi các giá trị văn hóa cũng như các sản phẩm kinh tế. Cuối cùng, nền văn minh nhân loại ở bất cứ nơi nào cũng sẽ tôn trọng quyền làm người và quyền công dân trong mỗi quốc gia. Khi hơn một tỷ người Trung Hoa được sống trong tự do dân chủ và người Việt Nam cũng sống trong tự do dân chủ thì mọi người có thể sống chung trong hòa bình, mọi tranh chấp về lãnh thổ, về hải phận sẽ được giải quyết ôn hòa trong luật pháp quốc tế. Sẽ không còn cảnh chính quyền một nước phải quỵ lụy thần phục “thiên triều” nữa.

