Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quốc Hội Phải Chịu Trách Nhiệm
Trước Lịch Sử Nếu Cho Khai Thác Bauxite


Song Hoài
Lần đầu tiên trong hơn 60 năm hình thành cái gọi là quốc hội cộng sản Việt Nam, 496 dân biểu quốc hội Khóa 12 đang họp kỳ 5 tại Hà Nội từ ngày 20/5 đến 20/6 sẽ có cơ hội biện minh mình không phải là gia nô cho đảng trong vụ bauxite Tây Nguyên, không phải suy nghỉ, nói, và làm theo lệnh đảng nửa, mà quốc hội đích thị là cơ quan quyền lực cao nhất nước theo điều 83 hiến pháp nước cộng hòa xã nghỉa Việt Nam đã minh định.

Thật là hài hước nếu suy luận như trên vì từ 92-95% dân biểu quốc hội chính là đảng viên cộng sản Việt Nam. Nhìn trên báo điện tử trong nước đăng hình chụp các "dân biểu" ngồi hàng ghế đầu họp quốc hội là Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, và Nông Đức Mạnh, tức là các xếp chúa của nội các, của nhà nước, và của đảng quỷ, hình chụp họ đang để tay vào cái nút, chuẩn bị bấm OK với tư thế hăng hái vote cho bauxite, rất là khẩn trương mau lên. Còn dân biểu Lê Hồng Anh, kiêm bộ trưởng bộ công an, kiêm ủy viên bộ chính trị, thì bận rộn nhất kỳ họp này, ngồi đây chỉ để làm vì, bởi vì còn phải suy nghỉ đối phó với dân biểu nào dám phản biện bauxite, cũng như cho vào sổ bìa đen cả hơn 2,000 trí thức và khoa học gia dám ký tên chống chống bauxite, phải bắt người nào trước, người nào sau, bắt nóng hay nguội đây... Vì họ chống bauxite tức là chống đảng. Không hiểu số phận dành cho trên 2,000 người ký vào bản kiến nghị do ba ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng đại diện, đòi nhà nước ngưng khai thác bauxite sẽ như thế nào ? Có một lập luận cho rằng, những vị này thật can đảm, và vì nhiệt tình không muốn lưởi gươm Damocles treo trên đầu Tây Nguyên rớt xuống tàn sát cả miền trung làm thành chứng bệnh ung thư bauxite, nên hăng hái ký vào bản kiến nghị này, lại cho cả địa chỉ, số phone, email của mình nửa. Cũng có một lập luận khác cho rằng có thể đây là cái bẩy rập giăng ra để bắt trọn ổ những người dám chống đối, giống hệt như đảng đã rỉ tai tung tin kháng chiến rồi gài bẩy bắt những người trong nước ghi tên gia nhập "Mặt Trận" năm nào.

Trong các phiên họp, chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng ngồi tuốt luốt phía trên chủ tọa các cuộc họp thì đang lo sốt vó sợ bị bay chức, vì đã tuyên bố láo lếu với cữ tri Hà Nội rằng "dự án khai thác bauxite dưới 600 triệu đô la, và hiện nay... chưa đâu vào đâu, nên không cần đưa ra trước quốc hội" Câu tuyên bố ấu trỉ này đã khiến cho một số các dân biểu cấp tiến như Dương Trung Quốc, Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Minh Thuyết có cơ hội phản pháo dữ dội làm cho Ủy ban an ninh quốc phòng quốc hội không còn cách nào khác hơn là phải đòi Nguyên Tấn Dũng phải nộp bản tường trình trong vòng một tuần. Điều này khiến cho đảng và nhà nước chẳng dấu nhẹm được, bèn phải đưa ra quốc hội một bản tường trình không chuẩn bị trước, và bị dân biểu Nguyễn Minh Thuyết cho là chỉ lo đối phó với công luận phản đối chứ không phải tường trình chi tiết cụ thể về bauxite".

Tổng hợp hàng trăm hàng trăm ý kiến phản biện bauxite, có thể tạm tóm tắt như sau:
1- Khai thác bauxite hiện nay chẳng những không có lời mà còn lổ vốn nửa, muốn có lời phải chừng ..15 năm nửa, vì giá nhôm đang xuống thấp, chi phí quá cao, không có nguồn điện, nguồn nước để lọc quặng. Lại còn phải làm 270 Km đường xe lửa tốn hết 3.1 tỷ đô la, tuyến xe lửa này chạy ngoằn ngoèo trên cao nguyên ra đến tận biển Phan Thiết chỉ với một mục đích duy nhất để chở bauxite thô...về Tàu. Không lẽ tàu chở bauxite về mẫu quốc, lúc trở qua không chở gì à? Chuyến trở lại, thì tàu hàng của mẩu quốc sẽ chất đầy nhưng thứ thượng vàng hạ cám rẻ như bèo mà quốc tế chê bỏ vì kém phẩm chất. Những thứ hàng hóa này sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam qua cảng Phan Thiết, sẻ giết hàng hóa nội địa cho đến khi Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào hàng hóa Trung cộng. Vô trách nhiệm như Bộ công thương còn tuyên bố khai thác bauxite "năm ăn năm thua" hay 50/50 tức là...làm đại đến đâu hay đến đó, lời lổ tính sau. Chưa thấy ai mà vô trách nhiệm và...ngu như vậy.

2- Giao cho công ty Chalieco Tàu cộng khai thác bau xite tức là giao cho... thầy chạy, vì kỷ thuật kém và ô nhiễm trầm trọng, nên Tàu cộng đã phải đóng cửa trên 100 mỏ bauxite tại mẫu quốc tĩnh Quãng Tây. Tương lai bùn đỏ tràn ngập Tây Nguyên, quả bom đỏ hàng trằm tỷ tấn sẽ đổ ập xuống các tỉnh thuộc Tây Nguyên, ô nhiễm nguồn nước là không tránh khỏi, không chỉ dân miền trung, mà cả các tỉnh phía nam thấp hơn như Đồng Nai cũng gánh chịu hậu quả khó lường.

3- Tây Nguyên là yếu huyệt của nước ta, dầu cho có lợi khi khai thác bất cứ loại khoáng sản hay loại nông nghiệp gì, cũng không thể để cho bất cứ một nước nào vào đây để dòm ngó và lập lực lượng đối kháng sau này. Tàu cộng là kẻ thù truyền kiếp của nước ta, không thể nào không đề phòng, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã trải qua kinh nghiệm của 7 cuộc xâm lăng từ phương bắc vào Việt Nam (đời Hán, Tống, Đường, Nguyên Mông, Minh, Thanh, và Trung cộng 1979), bọn chúng sẽ lợi dụng sự có mặt ở Tây Nguyên để vẽ bản đồ, rồi lập đạo quân thứ 5 (tức là kiều bào Trung cộng ở nước ngoài), hiện nay đã có những làng người Tàu ở Tây Nguyên, giặc đã vào đến tận cửa (Enemies at the gate).

4- Trước ngày họp quốc hội 20/5/2009, Chủ nhiệm văn phòng quốc hội, Trần Đình Đàn đã tuyên bố " Quốc hội hoàn toàn chấp thuận khai thác bauxite". Nhiều người tưởng tuyên bố này của quốc hội bắn tiếng để lấy lòng đảng, rằng mọi việc đã quyết định theo lệnh đảng, họp chỉ là hình thức. Thật ra đây là lời răn đe mạnh mẽ mà đảng qua quốc hội gửi đến các dân biểu không đồng thuận, rằng chớ nên trái ý đảng mà thiệt thân, hảy xem các vụ thủ tiêu, lột chức đối với những phần tử đối lập của Tổng cục 2 (bộ phận thanh trừng do đảng cộng sản lập riêng để diệt trừ mọi chống đối đảng) mà liệu hồn. Dự án bauxite thật ra là lớn nhất từ trước đến nay, cũng như bị chống đối dữ dội nhất từ trước đến nay, và làm đảng hiện nguyên hình là tay sai của Tàu cộng.

5- Tài nguyên là của quốc gia, chưa có điều kiện tốt khai thác thì vẫn còn đó, nếu nóng vội khai thác vô điều kiện, thì càng làm rỏ hơn đảng đang bị áp lực của Tàu cộng hoặc đã ăn hối lộ của nhà thầu nước ngoài, nếu mà hủy hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại rất lớn cho nhà thầu, cho nên đảng sẽ giả vờ nhượng bộ những người phản biện, và hứa khai thác trong sự kiểm soát mọi công đoạn tại một thí điểm Nhân Cơ trước. Bộ Tàu cộng chịu khai thác kiểu rùa bò như thế à?

6-Nhà cầm đồ cộng sản đã báo cáo nhà thầu Trung quốc trúng thầu bauxite với giá thầu thấp nhất gần 300 triệu đô la, thế mà ông Chủ tịch ủy ban khai thác bauxite Nhân Cơ tại Lâm Đồng nói là đảng biếu không cho Trung quốc chứ đâu có đấu thầu gì. Trên thế giới chưa có nước nào trống đánh xuôi kèn thổi ngược như ở Việt Nam hiện nay. Chẳng lẽ đàn em dám giỡn mặt với nhà binh à? Không sợ công an nửa đem đến gõ cửa dẫn đi hay sao? Có lẽ các dân biểu phản biện hay các nhà tranh đấu nên đòi đảng phải photocopy cái bản hợp đồng đã ký khai thác bauxite với Tàu cộng và đưa lên internet hoặc báo chí cho dân biết. Tàu cộng thì đã làm rùm beng việc trúng thầu bauxite này rồi, đảng mà...phản biện thì coi chừng cái chổ đội mũ. Nếu không có bản hợp đồng thì rõ ràng là biếu không cho Tàu cộng như các nhà báo ngoại quốc đã loan tin.

7- Việc công ty AlOA của Hoa Kỳ đột nhiên thôi không ký hợp đồng khai thác bauxite Dăk Nông cho thấy Mỹ đã biết việc khai thác bauxite đang bị dân chúng Việt Nam chống đối dữ quá, lạng quạng là tiêu luôn công ty vì không đủ bồi thường thiệt hại. AlOA đã rút lui vì có hai lý do: Một là AlOA biết hậu quả xấu của môi trường bauxite nếu khai thác trên vùng cao như Tây Nguyên, lúc đó thế nào đồng bào nạn nhân bauxite cũng sẻ thưa kiện một lúc hàng chục ngàn nạn nhân, còn hơn cả vụ chất độc da cam hàng ngàn lần, hai nửa là giá nhôm xuống thật thấp, kinh doanh không có lời, ngu sao mà khai thác. Còn nạn nhân bauxite Tàu cộng thì ai dám khiếu kiện một khi cộng đảng không bật đèn xanh như vụ chất độc da cam. Các nhà tranh đấu nên dựa vào điều 7 này mà khai thác thêm.

8- Ngưng không khai thác bauxite và kiên nhẫn chờ đợi một hai chục năm nửa, khi kỷ thuật khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường tốt hơn, lúc đó khai thác cũng chưa muộn, và các thế hệ tương lai sau bauxite sẽ biết tới "cuộc cách mạng bauxite" tại Việt Nam như một chiến thắng của tinh thần đoàn kết chống tội ác của tập đoàn cộng sản Trung-Việt.

Trong bài viết: "Đại biểu quốc hội hay đảng biểu quốc hội" đã đăng về cuộc bầu cử quốc hội Khoá 11 năm 2007, thì hầu hết dân biểu quốc hội Việt Nam là gia nô của đảng, đảng rềnh rang cho phép cá nhân tự do ứng cử, có 283 người ghi tên ứng cử, cuối cùng mặt trận tổ quốc hay còn được gọi nôm na là mặt trận tổ kén đánh rớt hết chỉ còn có 30 người được... tự do ứng cử dân biểu đấu với 846 người của đảng đưa ra. Kết quả thì ai cũng biết trước là tất cả lãnh đạo đảng và bí thư tỉnh ủy (tức là quan đầu tỉnh) đều đậu dân biểu quốc hội, các xếp đã ngồi chung với đàn em để bàn bạc việc nước. Thông thường thì xếp bấm nút trước, và đàn em thì coi kết quả mà bấm theo, hể mà xếp ấn nút YES thì đàn em cũng YES, hể mà xếp NO thì đàn em cũng NO. Trong cuộc bầu cử độc diễn quốc hội này, các dân biểu đã trở thành "đảng biểu dân bầu" tức là đảng ra lệnh cho dân bầu cho đảng, hay gọi văn minh hơn một chút thì "quốc hội tức là đảng". Duy nhất ở các nước cộng sản thì đảng viên kiêm nhà nước, kiêm luôn quốc hội cho tiện việc lãnh đạo tất cả theo nguyên tắc "đảng lãnh đạo, nhà nước quãn lý, nhân dân làm chủ". Cho nên trông mong việc quốc hội phản biện bauxite thật khó như lên trời.

Trong khóa họp kỳ 5 này, đảng đang cho phép trình diễn dân chủ tại quốc hội để xả xú báp làn sóng chống đối bauxite, và giống hệt như yêu cầu cho tự do ứng cử dân biểu, ai cũng biết trước kết quả vụ bauxite mà quốc hội "đảng biểu dân bầu" này "cũng vẫn sẽ" OK cho khai thác bauxite với 03 khuyến cáo " a- Khai thác từ từ tại một thí điểm Nhân Cơ trước. b- Khai thác đến đâu, lấp bùn đỏ đến đó dưới sự kiểm soát của quốc hội. C- Hoàn thổ tức là trồng rừng lại trên vùng đã khai thác bauxite". Chúng ta hảy tưởng tượng Tàu cộng có chịu đợi vài ba năm nửa khi những cây cối mọc được trên đất hoàn thổ rồi mới khai thác tiếp không? Cái kẻ hở mà không thấy ai nhắc đến là chổ này. Còn hợp đồng đã ký với Chalieco đâu có nói khai thác từ từ đâu, đã ủi trống nhiều ngàn hecta và xây dựng các nhà máy tại 4 địa điểm khai thác rồi mà. Còn cái việc hoàn thổ và trồng lại rừng nó mới mơ hồ làm sao. Cây nào sống được trong đất có chứa chất sút NaOH đây? Qua internet, chúng ta đã thấy hàng đống hình ảnh các vùng khai thác bauxite trên thế giới đã biến thành sa mạc đỏ, có nơi nào cây cối lên xanh um đâu? Tại Tây Nguyên, mưa lớn trên cao nguyên nước chảy xiết như là lụt lội, bờ che nào ngăn nổi bùn đỏ trôi xuống vùng thấp?

Bauxite Tây Nguyên là cơ hội chót để quốc hội Việt Nam chứng tỏ mình là cơ quan quyền lực cao nhất nước, không phải là gia nô của đảng, vì vận mệnh dân tộc, vì tương lai của các thế hệ nối tiếp, vì thiên chức của người đại diện do dân trực tiếp bầu ra để giúp nước, dân biểu Việt nam hảy lột xác trở về với dân tộc bằng cách biểu quyết NO BAUXITE, nếu không chức dân biểu sẽ trở thành "dân diễu", và mổi khi nhắc đến sẽ khiến cho quý vị ăn không no, ngủ không ngon với những hồn ma bauxite đêm đêm hiện về đòi mạng.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thưởng ngoạn Alaska


Vừa bơi thuyền vừa ngắm dải băng hà, thư giãn trong căn nhà gỗ và tận hưởng không khí trong lành của núi rừng Alaska, Mỹ.


Image

Chèo thuyền trên vịnh Thomas, phía xa là dải băng hà Baird.

Image
Dòng sông Cascade Creek ở rừng quốc gia Tongass. Khu vực này ở Alaska có lượng mưa hơn 2500 mm mỗi năm.

Image
Những con thuyền nhỏ và linh động như thế này là phương tiện di chuyển
hữu hiệu ở Inside Passage của Alaska.

Image
Làng chài ở thị trấn Petersburg với những ngôi nhà nhỏ bằng gỗ
soi bóng
xuống mặt nước ở đảo Mitkoff ở vùng Inside Passage của Alaska.

Image
Trong khi Inside Passage ở phía đông nam của Alaska nổi tiếng với tuyến đường thủy,
vẫn có những con đường mòn như thế này men theo bìa rừng ở vùng nông thôn, nơi người dân sống thưa thớt.

Image
Một ngôi nhà nhỏ ở bìa rừng,
nơi bạn có thể trú ngụ với giá 35 USD mỗi đêm và từ đó đi leo núi, ngắm thác nước, bơi thuyền.

Image
Thư giãn cùng bạn bè bên trong Cascade Creek Cabin.

Image
Màn sương trắng mờ bao trùm lên núi rừng Alaska.

Ngọc Sơn (theo NYT)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

10 cách để vượt qua một cuộc chia tay

Tác giả: Khuyết danh
Mặc dù bạn không giữ lại bất kỳ quan hệ nào đối với người tình cũ, nhưng điều quan trọng là vẫn giữ trong bạn một trạng thái tình cảm và mối quan hệ tương lai tốt đẹp để bạn có thể vượt qua được sự chia tay nếu có thể. Dưới đây là một số đề nghị khi bạn quá gần rừng không thể nhận ra cây.

1, Không nên "trả đũa". Ngay cả khi bạn tình của bạn đã lừa dối bạn, việc bỏ thời gian để hy vọng trả thù chỉ hạ gục ý chí cá nhân của bạn thôi.

2, Không nên lưu giữ những thứ làm ghi nhớ. Kể cả những gì trên mạng. Ví dụ, hãy xóa tất cả những gì thuộc về người đó trong danh mục những người tri kỷ của bạn.

3, Không nên tìm cớ để liên lạc hay gặp lại người tình cũ của bạn. Ðiều này bao gồm việc không nên mang trả những vật cá nhân vì đó có thể là cái cớ để bạn gặp lại người tình cũ.

4. Ðừng sợ cô đơn. Hãy bỏ thời gian để hiểu được những gì đã xảy ra và từ đó tăng thêm nghị lực về tình cảm.

5. Ðừng sống trở về quá khứ. Hãy bỏ thời gian để hiểu rằng những gì đã xảy ra thì không phải là một sự ám ảnh hay day dứt trong quá khứ.

6, Ðừng cố gắng quan hệ với một người khác trong thời gian bạn còn trong tình trạng phản ứng. Nếu như bạn quan hệ với người khác quá sớm sau khi chia tay thì bạn sẽ phải đối mặt với một mớ các vấn đề tình cảm trong quan hệ mới này.

7, Cất đi tất cả, không vứt bỏ. Hãy cất đi những hình ảnh, vật kỷ niệm từ khi bạn còn đang yêu nhau. Không nên vứt bỏ trừ khi đó là một cuộc chia tay thật tồi tệ. Sau này bạn sẽ muốn giữ lại vài thứ.

8, Hãy ghi nhận việc hẹn hò với người mình yêu. Liệu bạn vẫn thực sự hẹn hò với người mà mình hoàn toàn không ưa thích, người đó không quan tâm đến sở thích và phong cách sống của bạn. Chuyên viên phân tích về các hình thức hẹn hò của các đôi tình nhân đánh giá mối quan hệ của bạn và mách bảo cho bạn biết được điều gì làm cho bạn cảm thấy thực sự hạnh phúc.

9, Hãy tha thứ cho chính mình. Bạn đã nói hay làm điều gì mà sau này cảm thấy ân hận. Rất dễ dàng tự trách mình. Bạn không thể đi ngược để thay đổi quá khứ, nhưng bạn có thể học hỏi được từ những lỗi lầm đó và tha thứ cho chính mình.

10, Tha thứ cho người tình của mình. Tha thứ là sự lựa chọn, không phải tình cảm. Tha thứ không có nghĩa là quên hết và sống lại với người tình của mình. Ðôi khi tha thứ là ra quyết định cắt bỏ những tổn thất và bỏ đi.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Lãnh Thổ Việt Nam: SOS ! SOS !

Vũ Quốc Nam

Image
Trái địa cầu với bản đồ nguyên thủy Việt Nam.
“Phải có can đảm và có đủ lòng yêu nước để quay lưng lại phương Bắc, và tìm đường ra biển”.

Câu văn vỏn vẹn 21 chữ này chính là chủ điểm của bài viết 6050 chữ “Hãy can đảm định hướng đi ra biển” của Nguyễn Văn Lục (NVL), đăng trên Đàn Chim Việt Online ngày 27 và 28 tháng 3 năm 2009. Có thể nói bài viết lòng vòng dài lê thê này làm công việc dọn đường trước cho CS Việt Nam để bình thường hóa việc CS Việt Nam đã dâng cho Trung Cộng (TC) không những ải Nam Quan, thác Bản Dốc, mà còn tất cả những tỉnh thành của Việt Nam giáp giới với Trung Hoa nữa.

Để tạo ấn tượng là người chống cộng quyết liệt NVL đã cực lực đả kích CS Việt Nam lệ thuộc sâu đậm vào TC từ nửa thế kỷ trước, và đã để cho TC mở những thông lộ chiến lược giữa TQ và Việt Nam. Tiếp theo, NVL đã nại ra một số lý cớ để chứng minh dù Việt Nam ngày nay muốn lấy lại những vùng lãnh thổ của Việt Nam mà TC đang chiếm đóng, Việt Nam cũng không đủ sức để có thể đảo ngược được tình thế, dù bằng giải pháp quân sự hay ngoại giao.

Về quân sự, so với TC, Việt Nam thua kém xa, rất xa từ quân đội tới quân khí, không thể nào đủ sức để chống cự lại TC. Ngoài ra, TC còn một lợi thế khác nữa, đó là số người Hoa đông đảo sinh sống ngay tại Việt Nam . (Mà số người này đã gia tăng nhanh chóng do chính sách cho người Tầu tự do ra vào VN không cần chiếu khan). Bình thường, đám người Hoa này là một đạo quân tình báo; khi xảy ra chiến sự, họ là đạo quân xung kích của TC đã hiện diện ngay trên đất nước Việt Nam .

Về giải pháp ngoại giao, “chỉ còn con đường ngoại giao, nếu Việt Nam ở thế mạnh”. Nhưng so với TC, Việt Nam , cũng hoàn toàn ở vào thế yếu, rất yếu, dù rằng Việt Nam đã được vào Liên Hiệp Quốc.

Vì thế, theo lập luận của NVL, hay đúng hơn, theo lập luận của CS Việt Nam, “Việt Nam không còn lối thoát nào khác hơn là hướng ra biển...điều tối quan trọng liên quan đến sinh mạng đất nước lại là vấn đề địa lý-chính trị (geopolitics), bắt buộc Việt Nam không nên bám vào đất. Nhất là mỏm đất 6 tỉnh dính liền biên giới với Tầu Cộng sản.”
Image
Trái địa cầu do Trung Quốc sản xuất gần đây với bản đồ Việt Nam bị cắt xén.
Chính CS Việt Nam từ Hồ Chí Minh trước kia, tới Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh ngày nay, vì tham vọng mù quáng về quyền lực và quyền lợi phe đảng và cá nhân, bất kể quyền lợi dân tộc và tổ quốc, đã âm thầm, nhường đất, nhượng biển cho TC để nhận được sự bảo hộ của TC, nên mới dẫn đến hiện trạng của đất nước như ngày hôm nay.

Để xoa dịu những xót xa phản ứng của quần chúng đối với tình trạng lãnh thổ đã mất, và, cũng có thể, do TC hối thúc để hợp thức hóa việc xâm lấn đất đai Việt Nam thành đất đai của họ, CS biến thái qua lời của NVL, đã khẳng định: “Việt Nam phải giàu lên từ biển, mạnh lên từ biển. Trời đã ưu đãi cho đất nước Việt Nam một bề dài là biển mà ta chưa tận dụng hết”. Và “biển với kinh tế hải sản”, “biển với du lịch”, “biển với giao thương hàng hải”, “biển với kinh tế khoáng sản”, “biển sẽ là tiềm năng, nguồn hy vọng của Việt Nam”... Những lời này chẳng qua chỉ như trò dỗ trẻ “phần đất bị mất chẳng ăn thua gì, hãy quên nó đi, tài nguyên trải ra của biển mới là chủ yếu của tương lai”.

Và, cũng chính CS Việt Nam đã âm thầm nhượng cho TC một số tỉnh biên giới phía Bắc, nên không phải vì ngẫu nhiên, hoặc vì lầm lẫn, trên bản đồ quả địa cầu thế giới do TC sản xuất, TC đã vẽ bản đồ nước Việt Nam mất hẳn một phần lãnh thổ từ điểm cực Tây Bắc xuống tới điểm cực Đông Nam miền Bắc. Bờ biển Việt Nam không còn là hình chữ S, mà đã trở thành hình chữ J. Thông báo của TQ mới đây cấm ngư dân VN đi đánh cá từ vĩ độ 12 trở lên có ý nghĩa gì nếu không phải là khẳng định cho rõ vùng lãnh hải VN mà Hà Nội đã bí mật nhượng cho từ gần một thập niên nay?

Sáu tỉnh miền bắc dính liền với biên giới Trung Hoa mà VC, qua bài viết của NVL, kể như là bỏ qua đi. Biển đông từ vĩ độ 12 trở lên là TQ kiểm soát, qua các hiệp ước VC âm thầm ký kết với TC, khẳng định bởi thông cáo cấm ngư dân VN đánh cá mới đây; Khai thác bauxite ở cao nguyên Trung phần hiện nay là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Bản đồ trên trái cầu thế giới do TC sản xuất vẽ Việt Nam bờ biển hình chữ J, phần lớn miền Bắc là thuộc Tầu.

Trước những sự kiện như thế, thì từ Hồ chí Minh trở xuống những lãnh đạo CSVN biến thái ngày hôm nay phải gọi là gì? Những kẻ phản quốc, những kẻ bán nước, hay những kẻ tay sai ngoại bang, trước kia là Liên sô Trung quốc, bây giờ là mọi loại tài phiệt lớn nhỏ? Duyệt lại hết mọi điều như thế, mới thấy rằng những lời kêu gọi toàn dân bỏ sang bên mọi khác biệt chính trị để đoàn kết sau đảng và nhà nước chống bành trướng chỉ là quỷ luận, nếu không là ngu xuẩn. Tiếng Việt có một chữ rất chính xác cho những người “đoàn kết” với lãnh đạo tay sai ngoại bang để gọi là cứu nước, là Việt gian.

Vũ Quốc Nam (6/10/2009)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bush nhảy dù ở tuổi 85

Cựu tổng thống H.W.Bush kỷ niệm sinh nhật lần thứ 85 của mình bằng cách chơi trò nhảy dù mạo hiểm trên bờ biển Maine.

Image
Bush nhảy dù vì hai lý do: tận hưởng cảm giác rơi tự do thú vị,
và chứng tỏ rằng người cao tuổi vẫn có thể năng động và làm những điều mạo hiểm. Ảnh: AP.
Vị tổng thống thứ 41 của nước Mỹ đã thực hiện một cú nhảy từ độ cao 3.200 m hôm qua, với một thành viên của nhóm nhảy dù Golden Knights trong quân đội Mỹ. Ông hạ cánh tại vùng đất ở Kennebunkport, nơi ông có ngôi nhà nghỉ hè nhìn ra biển.

"Vậy là chúng ta đã làm được. Hôm nay là một ngày thật tuyệt khi được ở trên không", ông Bush nói sau khi tháo chiếc áo bảo hộ.

Ông cho biết mình rất thích thú với trò này và dự định sẽ làm lại một lần nữa khi tròn 90 tuổi.

Khi còn là tổng thống, Bush tham gia rất nhiều trò thể thao như đi bộ, đánh golf, câu cá và chơi tennis. Ông cho biết mình đã chậm chạp đi nhiều nhưng không hề có ý định ngừng vận động.

"Không phải cứ là ông già thì phải ngồi lỳ một chỗ trong góc nhà. Hãy ra ngoài và làm điều gì đó. Hãy hưởng thụ cuộc sống này", Bush nói.

Tất cả 5 đứa con của cựu tổng thống, trong đó có vị tổng thống thứ 43 - George W. Bush, cùng các cháu nội ngoại đều có mặt và chứng kiến.

Lần nhảy dù gần đây nhất của ông Bush là vào tháng 11/2007 sau khi khai trương lại thư viện mang tên ông tại Đại học Texas A&M. Ông có cú nhảy dù đầu tiên khi còn là một phi công hải quân khi máy bay của ông bị bắn hạ trên Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Ông cũng nhảy dù để kỷ niệm ngày sinh lần thứ 75 và 80 và trong hai sự kiện khác.


Diệu Minh (theo Telegraph)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Cám ơn Sao Mai với những hình ảnh sinh hoạt của một số anh em cựu học sinh Hồ Ngọc Cẩn đang họp bàn
về việc phối hợp tổ chức đêm giao lưu văn nghệ của các cựu học sinh Hồ Ngọc Cẩn vừa qua tại Sài Gòn !
Hy vọng sẽ nhận tiếp bài tường trình cũng như hình ảnh của đêm giao lưu từ Sao Mai !

Thân mến
Một vài hình ảnh hôm nay về
" Hồ Ngọc Cẩn Một Thời Để Nhớ "


Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Tôi thấy và nghe được gì ở Sài Gòn



Ðây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại một cách trung thực..
Tôi thấy bộ mặt Sàigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Ðổi mới với những nhà hàng "vĩ đại" trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm "thư giãn" sang trọng, quý phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh.
Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ - 600US$ đến 1000US$ /tháng.. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử "đỏ", các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để "thư giãn", uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US $ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể.Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi.... " lắc" suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó... Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt.. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại.Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi xỉ vô duyên , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường...

Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi..Và hệ thống cống rãnh lạc hậu.. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến.. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loãng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ.. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Ðảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu.. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói.. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc.. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.

Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng "tiếm công vi tư" lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ.... bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê.. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng.. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy.Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trãi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhản ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao Đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hòa cũ... trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Ðạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao.. buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày.

Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an.Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Ðộ phản ảnh còn rõ rệt hơn: "... Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Ðảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Ðảng chống tham nhũng thì Ðảng chống lại Ðảng sao?"("Nhật ký Rồng rắn" của Trần Ðộ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu *** ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng "khẩu trang", găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay.. trên đường phố.

Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ... đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình)... những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán.. hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn.. chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ lòng..còn những trẻ khác - mắt láo liên trông chừng công an, tay chìa chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày -..những em bé gái đang hì hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở "Ðồi cát bay" Phan Thiết. Hỏi "sao em không đi học"? - trả lời: "Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn.".. Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không còn chút máu, chờ suốt buổi sáng... trước tiếng quát tháo ầm ĩ.. vẫn chưa tới phiên mình vào bệnh viện chữa trị cho con.. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẩy chờ bán máu mình để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần trung Ðạo đã mô tả..Lại nghe một bệnh nhân dứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt mình, than thở : " Ở đây là vậy đó ông ơi! Chửa bệnh phải có tiền - trước nhứt phải qua cửa - lọt qua cửa thì còn nhiều khâu - khâu nào cũng phải chìa tiền. Muốn sống - phải có tiền. Chết cũng phải có tiền.

Bộ mặt Sàigòn "đổi mới" bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền.. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa.. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt.. choáng váng, cho là "Việt Nam bây giờ tiến bộ quá". Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US $ năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730 US $) chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan : 2550 US $ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$.Tân gia Ba 24840US$.(The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngũ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ?

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng "đánh Tây, đuổi Mỹ" - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn.. và các khu phố sầm uất nhứt.. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Ðắc, Phạm thị Trước.. hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ..

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ.Những công Ty dịch vụ có tầm cỡ, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại..chủ nhân cũng là người Bắc XHCN.Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Ðó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp - nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.

Thông thường - những của cải nầy phải được sung vào công quỹ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Ðọc Ðất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Ðiều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem " bán non" những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá..đều bị "û giải phóng" ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Ðuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung( chủ nhà chịu không nổi... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào "mua" nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên "xẻ dọc Trường Sơn" bằng máu, nước mắt và xác chết... vào xâm chiếm miền Nam . Chiêu bài là "giải phóng" nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Ðô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực.. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc.(Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì?Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình - các ông tự gọi mình đi.

Ðến thời "mở cửa" - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt.. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong..đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diễn hình : Một bệnh viện gần chợ "û cua" Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo.. đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên.. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời "Bắc thuộc" - "Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. - Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.."

Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Ðể được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Ðường sá có tu sửa phần nào..Ðường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xã Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. "Cầu tre lắt lẻo", cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái Bè, Cái Răng ) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất..xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Ðường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc.. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất..hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Ðào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương...

Dưới sông - từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá.. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài... Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa.. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời : "Ði lấy Ðại Hàn, Ðài Loan hết rồi ông ơi!" Tôi hỏi thêm : "Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập.. các cô gái nầy không sợ sao ông? - "Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Ðại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may." Câu chuyện gái Việt lấy chồng Ðại Hàn, Ðài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Ðinh Hợi - trong bài: "Nỗi đau từ những con số"- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Ðài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng tờ báo nầy: "Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang "bày hàng" để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình " Và cũng tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết : "Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển.Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng.Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm".

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong.. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: "Ðó là những người con gái đi lấy chồng Ðài Loan và Ðại Hàn. Hàng bên trong là những người đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa". Tôi nhìn kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ.. khoảng chừng 18 đến 20.... đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Ðây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức "môi giới hôn nhân lậu"- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục.. các cô gái làm điếm.. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ.. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhản xảy ra hằng tuần-thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11... Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu... hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Ðài Loan, Ðại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại...(Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Ðài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì.. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh.. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu..lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa...bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng.. đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng... Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào.. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẫn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến... khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Ðại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS ( sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ.. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng.. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo..

NGHÈO...

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Ðại Hàn và Ðài Loan... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ÐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ÐBSCL năm 1998: ÐBSC: 37%. ÐBSH: 29%. Năm 2002: ÐBSCL: 13 %. ÐBSH: 9%.(Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn ).

Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bằng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ÐBSCL vẫn nghèo hơn ÐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Ðó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát.. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc... Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp.. cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời.- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới.. ở sông Long Hồ. Ðời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép.. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Ðời ông nội - nghèo! Ðời cha nghèo! Ðời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu.Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo.

Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền..trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : "Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? "

MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ÐÔ CỘNG SẢN

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Ðối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt.. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể.. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Ðảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẫn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh! ( 19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ). Như vậy có gọi là phát triển không?

KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã "giải phóng" dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. "Giải phóng" miền ÐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ."Giải phóng"quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển..."Giải phóng" phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm "vợ nô lệ", đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan...

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam )

- 32 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L''expresse ngày 29-8-2002: "Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó "

- 32 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản lên tiếng cảnh cáo: "Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu".

Bài viết của: Nguyễn Văn Trấn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Sự Im Lặng Của Biển


Tôi sinh ra ở miền núi nhưng hai mươi năm qua, số phận lại đẩy về miền biển. Thành phố tôi đang sống là thành phố biển. Ngôi trường tôi học trước đây cũng nhìn ra biển và văn phòng tôi đang làm việc hiện nay được xây trên mặt vịnh Boston, bên kia là Đại Tây Dương bát ngát.

Thời gian dài trôi qua, cuộc sống tạm quen dần nhưng ngày mới về đây thật là khó chịu. Nhất là những ngày mưa bão, biển đổi thành màu đen sậm, xa xa một chiếc ghe đánh cá đang về trễ, tăng thêm phần ảm đạm. Biển vừa làm cho tôi sợ hãi khi liên tưởng đến những ngày còn lênh đênh hơn hai mươi năm trước, nhưng đồng thời cũng vừa có một sức hút vô hình khiến nhiều khi tôi đã đứng hàng giờ đăm đăm nhìn ra biển.

Các triết gia thường nói trong mỗi phút giây chúng ta đang sống đều có bóng dáng của quá khứ và dấu hiệu của tương lai. Tôi nghĩ họ nói đúng. Đối với một người Việt Nam tỵ nạn, quá khứ và tương lai không chỉ là bóng dáng và dấu hiệu thôi, hơn thế nữa, là hai cuộc đời cùng sống, cùng tồn tại, cùng níu kéo nhau, xô đẩy nhau vô cùng mãnh liệt. Một giọt mưa rơi, một chiếc lá rụng ngoài hiên, một tiếng sóng vỗ vào bờ đá cũng làm chúng ta choàng thức dậy, lắng nghe như tiếng có chân ai đang bước. Từ tâm cảm đó, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần đã viết trong bài Từ Tiếng Hát Tiếp Nối của anh:'Bàn chân đi, lòng vẫn mong về'. Dù sao, các văn nghệ sĩ vẫn là người may mắn vì ít ra họ có cơ hội để làm vơi bớt đi nỗi u uất trong lòng qua thi ca nhạc họa; bao nhiêu đồng bào khác không có năng khiếu văn chương, âm nhạc, phải âm thầm chịu đựng. Nếu cuộc sống ở hải ngoại không phải quần quật áo cơm, đầu tắt mặt tối, nhiều người Việt có thể đã chết vì khủng hoảng tinh thần.

Những ngày còn ở Việt Nam, khi nghe bài thơ của nhà thơ Du Tử Lê (tôi chỉ nhớ mỗi câu đầu): 'Ra biển chiều nay thấy màu máu đỏ', được đọc trên đài VOA hay BBC gì đó, mô tả cảnh vượt biên thật hãi hùng. Hẳn nhiên tôi không nghĩ vượt biên sẽ nhẹ nhàng như ngồi trên chiếc du thuyền nhưng tôi cũng không cảm nhận được mức độ của kinh hoàng cho đến khi chính mình ngồi trên thành ghe mong manh vừa chết máy và đang bồng bền trên biển tháng 6 năm 1981. Thời gian chầm chậm trôi qua. Một giờ rồi hai giờ. Tiếng cầu kinh đã dừng lại trên những vành môi khô. Lời niệm Phật đã ngưng trong những thân xác mệt mỏi. Đất trời đều im lặng. Không ai nói với nhau một lời nào. Trống vắng. Trống vắng ngay cả trong suy nghĩ của con người. Nhớ thương, hờn giận đều biết mất. Tất cả như đang dọn mình để bước vào một cuộc đời khác. Không ai tuyệt vọng bởi vì chẳng còn ai hy vọng. Và như thế cho đến khi tiếng máy ghe lại nổ, cuộc hải hành tiếp tục.

Biển mang tôi về lại bãi cát trắng và hàng dương liễu, nơi tôi đứng thẩn thờ nhìn chiếc trực thăng bay xa, bay xa, mang theo người thân yêu nhất của tôi. Biển mang tôi về lại phường Cổ Mân, Quận Ba, Đà Nẵng, nơi tôi sống những ngày đầu tiên không gia đình với người anh họ và chị dâu họ khắt khe, khó tính. Không ai biết và sẽ không bao giờ ai biết, trên những đồi cát trắng dọc bờ biển Sơn Chà, từng có một thằng bé mỗi chiều âm thầm đứng nhìn về phía biển để chờ đợi một tin vui. Tin vui đó đã không bao giờ đến với nó. Nếu mai mốt trở về tôi nhất định sẽ đi tìm thằng bé. Tôi nhớ rất rõ thân hình ốm tong teo của nó khi đứng chờ những chuyến xe Mỹ chở hàng để xin quá giang qua Đà Nẵng. Tôi nhớ rất rõ chiếc áo sờn vai thằng bé mặc trong mùa đông, chiếc chiếu rách, chiếc giường tre nơi nó ngủ. Và tôi cũng nhớ nó, một thằng bé can đảm, nửa đêm thức dậy ra đi, dù chưa biết sẽ đi đâu. Trên cồn cát trắng kia, sau ba mươi năm, vẫn còn in dấu chân của nó như đã hằn sâu trong ký ức con người.

Tôi từng được dạy rằng tôi là chủ nhân của chính mình chứ không ai khác và ý chí của tôi quyết định cho hành động của tôi chứ không từ đâu khác. Học và hiểu thường không quá khó khăn nhưng thực tế không phải bao giờ cũng dễ dàng như thế. Tôi đi qua cuộc đời này như một chiếc lá vàng khi chưa đủ tuổi để xanh. Tôi bay trong giông bão và bay qua nhiều biển cả mênh mông, bao nhiêu lần đã tưởng chừng rơi rụng và mục nát trong một góc chân tường nào đó.

Những chiều mưa bên Đại Tây Dương, tôi cũng bàng hoàng nhớ lại Thái Bình Dương, nhớ lại ngày trên biển, nhớ Manila, Palawan, nhớ đến những người không may mắn như tôi. Dọc bờ biển đó, nơi tôi lắng nghe tâm sự của những em bé, câu chuyện về những đồng bào bất hạnh, sự chịu đựng của những người sống sót, để rồi những tháng năm sau, tôi ghi lại trong Em Bé Việt Nam Và Viên Sỏi, Người Lính Già Vừa Chết, Thưa Mẹ Chúng Con Đi và những bài thơ khác.

Trong những người Việt Nam bất hạnh đó có người anh tôi đã mang ơn, người đã giúp tôi cơ hội vượt biên. Những dòng chữ này như nén hương để tưởng nhớ về anh.

Tôi vẫn nhớ ngày anh đưa chiếc ghe về, tôi hỏi anh sẽ dùng nó làm gì. Anh đáp gọn 'vượt biên'. Tôi cười không tin anh nói thật, khi nhìn chiếc ghe quá nhỏ, nhưng cũng chẳng nói gì thêm. Chuyện tàu bè không phải là việc của tôi, biết hay không cũng chẳng ích gì. Anh mướn người sửa lại. Cắt nửa trên của chiếc ghe và đóng thêm một lớp ván bên ngoài. Sửa mũi và lái cao hơn. Anh mua một chiếc máy nhỏ ở đường Bến Chương Dương đem về gắn vào. Tháng sau tôi trở lại sông, chiếc ghe cũ đã thành chiếc tàu có chiều dài mười mét và chiều ngang chỉ một mét rưỡi. Tuy nhỏ nhưng có dáng dấp một chiếc tàu đánh cá hơn là chiếc ghe đi sông trước đây. Anh bảo tôi vì bụng của tàu vốn là một chiếc ghe nên chỉ có thể nối cao đến thế là cùng. Tôi được mấy người thợ đóng ghe đưa đi một vòng quanh sông. Ngồi trên sàn nghe nhìn nước sông Nhà Bè màu vàng đục, một cảm giác bất an chợt dâng lên trong lòng khi nghĩ đến ngày nào đó sẽ ra biển với chiếc ghe vỏn vẹn mười mét này. Anh dặn tôi đừng sợ, sẽ đi biển được. Anh bảo tôi xuống tàu sống với anh tài công và đóng vai thủy thủ. Tôi lại cười vì tôi không rành bơi lội và cũng chưa hề làm nghề buôn bán trên sông, trên biển bao giờ. Anh nghiêm giọng 'Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra trên bờ thì chú mày cũng có thể đi thoát được.' Tôi biết anh sắp xếp như thế vì lo cho tôi nhưng một phần khác để tôi khỏi có cơ hội kéo đám bạn bè của tôi theo. Dù đồng ý hay không, tôi cũng không có chọn lựa nào khác. Tiền bạc và công sức đều là của anh. Anh xem tôi như một đứa em nhỏ. Mỗi chiều khi anh ở ngoài sông về, chúng tôi thường hẹn nhau trong một quán rượu. Anh em chúng tôi mướn chỗ để trò chuyện hơn là nhậu nhẹt vì cả hai đều không biết uống rượu. Hoàn cảnh của anh rất giống tôi. Anh cũng lớn lên từ Đà Nẵng chiến tranh và nghèo khó. Anh vào Sài Gòn học và học chung trường đại học với tôi, khác nhau ở chỗ, khi anh lên bậc cao học tôi còn là sinh viên năm thứ nhất.

Chuyến đi khá bất ngờ. Anh chỉ cho tôi đủ thời gian để về chào mẹ tôi. Anh không cho biết chính xác ngày giờ vì ngại tôi sẽ dắt theo bè bạn. Anh biết tính tôi. Tôi hứa hẹn với nhiều người. Một phần tôi chẳng tốn kém gì, phần khác vì tánh tôi hay chìu lòng bạn. Những đứa được tôi hứa dắt theo đều bị bỏ lại. Điều này đã gây ra nhiều giận hờn đáng tiếc giữa chúng tôi ,cho tới tận ngày nay. Ngày đi tôi đóng vai thủy thủ thật. Anh hẹn mọi người tại một con lạch nhỏ ngoài bìa làng Chu Hải. Tôi theo ghe đến Chu Hải và ngủ đêm lại trong con lạch để chờ khách vượt biên. Trời gần sáng nhưng không thấy ai đến cả. Chúng tôi thức dậy nhìn ra sông. Nước rút hết. Con lạch khô như một con đường làng hẹp. Chiếc ghe vượt biên của chúng tôi nằm chênh vênh bên bờ lạch. Chiếc bánh lái nhỏ như chiếc quạt để bàn đang phơi mình trên cạn. Nhìn bánh lái, ôi thầm tự hỏi, với món đồ chơi trẻ em này làm sao chẻ nổi sóng biển Đông. Mãi đến sáu giờ sáng, nước bắt đầu dâng lên và khách vượt biên không biết từ đâu cũng dần dần xuất hiện. Mọi người lo ngại nhìn chiếc ghe nhỏ nhoi trong lúc mặt trời sắp mọc. Công an và du kích có thể đến bất cứ lúc nào. Nhiều người lo sợ bỏ về. Anh tài công lẽ ra phải lái chiếc ghe cũng bỏ cuộc. Nhưng nhiều người khác, trong đó có tôi, quyết chí ra đi. Một người khách tự động nhận trách nhiệm lái chiếc tàu. Và như thế, chúng tôi đi. Chiếc ghe nhỏ trôi bồng bềnh trên biển Đông hai ngày hai đêm. Mệt mỏi nhiều hơn là đói khát. Cuối cùng sau bốn chục giờ và một lần máy chết, tưởng như sẽ chết, chúng tôi được một tàu hải quân Mỹ vớt.

Tôi nhận thư anh trong thời gian tạm trú ở đảo Palawan. Anh đang lo đóng một chiếc ghe khác, lớn hơn và chắc chắn hơn nhiều so với chiếc ghe bầu sửa lại mà tôi đã đi. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở đảo, nếu không kịp, hứa sẽ tìm nhau dù ở nơi nào. Trong lá thư cuối cùng, anh báo tin đang chuẩn bị ra đi. Anh ra đi thật nhưng không bao giờ đến. Bà con anh ở Đà Nẵng và khách vượt biên gần cả trăm người cùng đi với anh cũng không bao giờ đến. Anh đã chết như hàng trăm ngàn đồng bào khác đã chết trên biển Đông. Tôi mang ơn anh nhiều lắm. Không có sự giúp đỡ của anh, hôm nay có thể tôi còn lang thang một nơi nào đó ở Việt Nam. Tôi đặt tên đứa con gái út của tôi cùng tên với con gái duy nhất của anh để kỷ niệm cho tình anh em tuy ngắn ngủi nhưng đầy biến cố của chúng tôi.

Bao nhiêu người Việt đã chết trên biển khơi như anh. Theo ước lượng của nhiều cơ quan thiện nguyện quốc tế, khoảng nửa triệu người đã chết trong gió bão, trong đói khát, trong bàn tay hải tặc từ sau 1975. Thật ra, con số đó cũng chỉ là con số tượng trưng, cần đó để điền vào khoảng trống của một bảng thống kê. Tôi tin, không ai biết và sẽ không bao giờ biết được bao nhiêu người Việt Nam đã chết trên biển Đông từ sau muà bão lửa 1975.

Thỉnh thoảng chúng ta vẫn đọc những lời kêu gọi, những giải sáng tác văn thơ, tự truyện, khuyến khích đồng hương còn sống sót, viết lại, kể lại cuộc đời tỵ nạn, kinh nghiệm vượt biên như những bài học lưu truyền cho hậu thế. Vâng, đó là những cố gắng tốt nhưng ai sẽ là người cầm bút viết ra đây. Tôi và một số bà con khác đã kể lại vì chuyến đi của chúng tôi tuy hồi hộp nhưng không gây nhiều thiệt thòi, mất mát. Trong lúc những câu chuyện cần được nghe, những bài học cần được kể lại, sẽ không bao giờ được kể. Làm sao tả được cảnh những người phụ nữ Việt Nam nằm trần truồng trên sàn ghe như những con cá vừa được kéo lên, đang chờ mổ bụng, ướp đá? Làm sao tả được tâm trạng của người chồng bị trói chặt, nhìn người vợ mang thai bị hải tặp hiếp dâm trước mắt? Làm sao tả được tiếng kêu của em bé lên sáu, lên năm khi nhìn xác mẹ mình bị ném xuống biển sâu? Làm sao tả được cảnh người thoi thóp phải ăn thịt người vừa chết để kéo dài sự sống, trên chiếc ghe chết máy lênh đênh nhiều tháng trời trên biển Đông? Không, những câu chuyện vượt biên bi thảm là những viên đá nghìn cân đè nặng lên số phận của đồng bào bất hạnh và sẽ muôn đời ở lại trong lòng biển.

Bên trong chiếc cửa kính dày của văn phòng làm việc, vào những ngày dông bão, những ngọn sóng lớn đánh vào bờ đá, tung bọt cao đến tận chân tường, gió thổi mạnh đến nỗi xé nát những tấm bảng quảng cáo cắm dọc bến tàu. Những lần như thế, tôi ngồi tưởng tượng đến những điều kỳ lạ có thể đang xảy ra trong vùng nước phía bên kia. Tôi cảm giác như có một xác chết đang trôi, một bàn tay vừa nhô lên mặt nước, một tia máu vừa phọt ra từ miệng cá. Tôi cố lắng tai nghe nhưng không nghe gì cả. Lớp kiếng cách âm dày đã ngăn giữa căn phòng ấm áp nơi tôi làm việc và dông bão phía bên kia như ngăn cách giữa hiện tại no đủ và quá khứ đầy thiếu thốn của tôi.

Nhưng nếu không có lớp kính dày kia liệu tôi có nghe được gì không? Vẫn có thể là không. Cuộc sống xứ người đã cuốn tôi đi xa, xa đến mức nhiều khi không còn biết mình là ai nữa. Tôi vẫn đọc mỗi ngày bao nhiêu tin buồn về đất nước, tôi đã thấy mỗi ngày bao nhiêu cảnh bất công đè nặng lên số phận đồng bào.

Nhưng, ngoài trừ những bài thơ, bài văn viết khi nhàn rỗi, tôi vẫn dửng dưng nhìn bàn tay của những em bé Việt Nam năm sáu tuổi đang vẫy mời những khách mua dâm ở Campuchia, và tôi vẫn lạnh lùng nhìn giọt nước mắt của những cô gái Việt Nam đang chảy trên đường phố Đài Loan. Phải chăng con đập áo cơm đã ngăn đôi dòng sông lý tưởng thời tuổi trẻ của tôi? Phải chăng hàng rào danh lợi đã che khuất đi khả năng để biết lắng nghe tiếng kêu gào thống thiết của quê hương và cả tiếng gọi của chính trái tim mình? Có thể cả hai. Biển, vì thế, vẫn lặng yên, câm nín như nỗi đau của đồng bào tôi và đất nước tôi.

* Trần Trung Đạo

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bà Năm xóm chợ Bà Chiểu

(Kính tặng quý vị cao niên gốc Việt đang sống, hay đã ra đi vĩnh viễn, nơi xứ người, không may mắn rơi vào hoàn cảnh giống như thế này.)

Phan Ðức Minh
Mấy hôm nay, bà Năm mất cả ăn, cả ngủ vì chỉ còn 1 ngày nữa thôi, sáng mai là bà lên máy bay sang Mỹ đoàn tụ gia đình, sống với đứa con gái lớn đã sang sinh sống ở Mỹ dễ chừng hơn 2 chục năm rồi.

Lâu lâu nó vẫn gửi thư cho bà và gửi tiền nữa. Với số tiền 5, 6 trăm đô la mỗi lần nó gửi về, đem đổi ra tiền Việt Nam gần cả chục triệu lận. Bà ngồi mà ăn, cúng vô chùa, giúp đỡ bà con, chòm xóm, kẻ nhiều người ít, cũng không cách nào cho hết. Bà già rồi, sống với đứa con gái út, hàng ngày chỉ có việc ăn 2,3 bữa rồi đi chùa, đi thăm bà con, bè bạn. Về nhà thì mở Ti Vi, coi băng video cải lương, phim hài, phim chưởng và đủ thứ trên đời. Cuộc sống của bà nghĩ thật sung sướng. Bao nhiêu người già cả ở quanh cái chợ Bà Chiểu, quận Bình Thạnh nơi đất Sài Gòn này, ước mơ có được một phần cuộc sống của bà mà đâu có được. Họ phải đầu tắt, mặt tối, chạy xuôi chạy ngược, buôn bán tảo tần nơi lề đường, hè phố, bị công an rượt đuổi chạy có cờợ để kiếm miếng ăn cho no cái bụng thôi mà cũng không nổi.

Bà Năm có đứa con gái vượt biển rồi đi Mỹ mà cuộc đời sướng như thế đó. Người ta bảo “Bà Năm ăn ở phúc đức lắm mới được đứa con gái như thế. Chớ biết bao nhiêu người, sinh con đẻ cái, gái trai cả bầy mà có làm nên cơm cháo gì đâu?”.

Cuộc đời của bà quả là sướng như tiên ở Sài Gòn rồi còn chi nữa. Bảo đứa con gái út viết thư cho chị nó, bà cứ bảo nó viết cái tên Sài Gòn, vừa quen, vừa gọn,vừa dễ nghe, chớ đâu lại có cái tên dài lòng thòng thành phố Hồ Chí Minh, nghe mệt thấy mồ.

Mỗi khi nhận được thư của đứa con gái từ Mỹ gửi về Sài Gòn cho bà, có lúc kèm theo vài tấm ảnh theo thói quen từ hồi có... “loại thư Việt Kiều gửi về quê”, bà lại dúi vào tay người đưa thư mấy ngàn bạc cho người ta vui vẻ, lương tiền nhà nước làm chi đủ sống. Chu cha! Ðất Mỹ đẹp quá trời! Con Nguyệt, con gái Bà, nói nó ở thành phố San Diego, tiểu bang Ca-li, một thành phố đẹp lắm. Coi những tấm ảnh, bà thấy thành phố San Diego quả là đẹp thật. Nhà cửa, đồ đạc, xe cộ của con gái bà sao mà đẹp chi lạ! Hai đứa con trai của nó trong ảnh còn đẹp hơn cả mấy đứa trẻ trong những bức tranh Tầu ôm quả đào tiên nữa lận. Con Nguyệt nó bảo làm thủ tục bảo lãnh cho bà sang Mỹ ở với nó. Nó bảo bà già rồi, sang Mỹ khỏi có phải làm ăn chi hết, rồi ít lâu sau thành dân Mỹ, lại có tiền chính phủ nuôi, chỉ ở nhà chơi với cháu thôi. Bà muốn coi cải lương hả? - Băng Video phim Việt Nam, phim Tầu, phim chưởng Hồng Kông nhiều vô số kể. Chẳng thiếu thứ gì. Nó mua, nó thuê về nhà cả thùng lận. Bà tha hồ mà coi. Bà muốn đi Chùa hả? - Nó lái xe Mỹ, xe Nhật êm ru bà rù, chở bà đi chùa Việt Nam, chùa Tầu, chỉ nháy mắt là tới nơi, chớ đâu có phải đi bộ mỏi cả giò, đổ mồ hôi hột hay đi xích lô chạy loạn quà loạng quạng, cứ như muốn ủi vào xe lam, xe đạp, xe Honda, ô tô con, ô tô mẹ, chạy tưới hạt sen, lộn xộn xà ngầu kinh khủng, muốn chết quá!

Mấy năm trước, khi ông cụ còn sống mà ai nói tới chuyện kéo ông đi Mỹ sống với con gái là ông chửi toáng cả lên, “Không có đi đâu cả! Ở quê nhà với bà con, chòm xóm bạn bè, mồ mả tổ tiên không sướng hơn hay sao? Tiền bạc nó gửi về, ngồi mà ăn đến chết cũng không hết. Già cả rồi, sang đó làm nên cái giống chi mà làm?”

Thế nhưng từ ngày ông cụ mất đi, bà cụ thấy buồn buồn làm sao ấy. Thiếu người bầu bạn. Ðôi khi có cằn nhằn gấu ó với nhau về cái chuyện “Ði hay ở” thật đấy, nhưng lúc này bà Năm mới cảm thấy cô đơn, cô đơn thực sự. Người già có cái tình yêu thương cũng như nỗi cô đơn của người già. Thế là càng ngày bà càng cảm thấy cần phải đi Mỹ để sống với đứa con gái mà bà từng mang nặng, đẻ đau, rồi còn gian nan về những phen chạy giặc, chiến tranh nữa chớ. Bà phải đi Mỹ để sống với hai đứa cháu ngoại trong ảnh thật dễ thương. Lắm lúc bà ngồi một mình mà nước mắt rưng rưng, Bà thương đứa con gái hiếu thảo và hai đứa cháu ngoại quá chừng chừng.

Sáng nay, bà gọi con Lan, đứa con gái út, dậy thật sớm để kịp ra phi trường Tân Sơn Nhất. Máy bay cất cánh lúc 7 giờ sáng nhưng xe đón từ lúc 5 giờ. Bà Năm có 2 đứa con gái, con Nguyệt là lớn, vượt biển đi Mỹ đã hơn 2 chục năm. Con Lan là thứ nhì mà cũng là út, lúc ấy còn bé tí ti. Bây giờ con Lan đã lớn tướng rồi, đã vào đại học và theo mấy khóa tiếng Anh.Chị nó bảo, “Sang Mỹ, con Lan sẽ vào đại học, tha hồ mà học.” Con Lan đang ở cái tuổi mới lớn, nó còn thích đi Mỹ hơn cả bà Năm nữa, tuy rằng đi Mỹ thì nó phải xa vô số bạn bè, thân thiết, đã từng gắn bó với nhau trong những tháng ngày khốn khổ, gian nan, kinh hoàng nữa chớ. Nó nghĩ lại mới ngày nào đó, vậy mà chị nó đi Mỹ cũng đã hơn 2 chục năm, mau dễ sợ! Nó tính trong đầu: sang Mỹ chịu khó mất vài năm thì cũng lấy xong cái B.S. hay B.A. chi đó như chị nó nói. Học thêm vài năm cũng lấy được cái bằng Master cho nó hách, rồi đi làm. Thế là sẽ có vô số tiền. Nó sẽ đáp máy bay từ Mỹ về Sài Gòn. Lúc đó là đi thẳng cái một, khỏi có quá cảnh xứ này, nước nọ lôi thôi. Bạn bè của nó kéo cả băng, cả đoàn đi đón. Vui ơi là vui! Nó sẽ cho tiền những đứa bạn nào nghèo khó, chồng con vất vả đầu hôm sớm mai. Nó sẽ lôi hết bạn bè cũ cùng học lớp 12 với nó ở Sài Gòn, thuê vài cái xe đi chơi khắp mọi chỗ kêu bằng danh lam, thắng cảnh, quay video, chụp ảnh, đi ăn nhà hàng chết bỏ cho bõ ghét những ngày con nít chẳng dám đi đâu hay làm cái gì.

Có tiếng xe pim! pim! ở ngoài cổng. Người ta tới đón mẹ con bà Năm ra phi trường. Bà con, bạn bè lối xóm bu lại, nước mắt ngắn dài, kẻ ở người đi. Ối! Cảnh biệt ly sao mà buồn thế! Mẹ con bà Năm với mấy cái va-li bự chảng, hai cái xách tay nho nhỏ đã lên xe. Một số bà con thân thiết cũng leo lên xe để tiễn mẹ con bà Năm tới tận phi trường. Một số bà con ở lại, vẫy tay từ biệt khi cái xe 12 chỗ ngồi đã từ từ lăn bánh.

Bà Năm cố nhìn lại cái xóm cũ đã gắn bó, sống chết với bà từ bao nhiêu năm nay. Những dẫy nhà hai bên đường phố chạy thụt lui lại phía sau cùng những bóng cây, cột đèn, thân thương quá đỗi. Vài chiếc xích-lô đưa khách sớm, dăm cái xe đạp, vài chiếc honda rồ máy chạy ào ào tự nhiên bà Năm thấy nhớ, thấy thương Sài Gòn quá đi mất thôi. Vậy mà bà nỡ bỏ nó để đi xa, chẳng biết bao giờ mới trở lại nơi này.

Bác tài xế bấm còi pim! pim! khi tới chỗ ngã tư đông người lộn xộn làm con Lan giật mình khi còn đang ngủ gà, ngủ gật vì sáng nay nó phải dậy sớm.

Xe qua cổng phi trường, vòng qua vòng lại rồi đậu phía trước một ngôi nhà đông nghẹt những người.

Hai mẹ con bà Năm đã lọt vào trong căn phòng “cách ly” để lại bên ngoài số bà con, bạn bè thân thiết với bao nhiêu nỗi niềm thương nhớ đến độ xót xa. Thoát được cái cảnh lo sợ bị rạch túi, mất giấy tờ, tiền bạc như thiên hạ vẫn đồn đại, bà Năm thấy an tâm đỡ khổ. Bà Năm đã già, lẩm cẩm, may mà có con Lan đi theo chớ không dám chết quá. Bà có biết trời trăng, mây nước gì đâu. Hết nạp giấy tờ, kêu tên, rồi nạp tiền đủ thứ linh tinh. Ðến chỗ mấy ông, mấy bà công an áo vàng, cầu vai đỏ chóe, bà hơi run khi thấy họ lục xét, bới tung đồ đạc của mấy người đi trước. Con Lan hích hích cùi chỏ rồi thò tay bấm bà “Má để con!”. Con nhỏ này nó học ở đâu mà bữa nay nó lanh như quạ, dấm dúi tiền bạc cho đám công an bằng những cái phong bì “có nhân” ở bên trong. Kẹt quá, nó dúi đại cả mớ tiền Hồ vào tay bọn công an tỉnh bơ, chẳng còn coi ai ra gì cả. Công việc đi qua nhanh như gió. Cuối cùng một lão công an, mặt lạnh như tiền, hất hàm hỏi, “Bà và cô có đem theo đô la không? - Thưa không! - Thế còn giữ tiền Việt Nam không?” Con Lan lại hích hích cái cùi chỏ vào ba sườn mẹ nó. Bà Năm lôi trong người ra cái phong bì to bự đựng mớ tiền Hồ còn lại, đưa cho lão công an, miệng líu ríu, “Còn lại mấy trăm ngàn, xin biếu đồng chí uống cà phê.” Lão công an phì cười khi nhét cái phong bì vào ngăn kéo bàn gần đó nhanh như người ta làm xiệc. Lão ta cười chắc là vì lão ta có đồng chí đồng chóe gì với bà Năm bao giờ đâu

Hành khách lên xe, ra chỗ máy bay đậu. Ngồi trong máy bay rồi, con Lan buộc dây lưng an toàn cho Mẹ. Sau một hồi gầm gừ, lắc lư, chiếc máy bay Hàng Không Việt Nam từ từ cất cánh. Bà Năm nhăn mặt vì khó chịu, nôn nao trong người. Ngồi cạnh cửa kính máy bay, bà Năm thấy phố xá, đồng ruộng quanh vùng Sài Gòn lu mờ, xa dần rồi mất hẳn. Chung quanh chỉ còn là mây trắng xóa, mịt mờ.

Nỗi buồn xa xứ ở đâu tự nhiên kéo đến. Hai hàng nước mắt chạy quanh. Con Lan giương tròn đôi mắt nhìn Mẹ nhưng chắc là nó không làm sao hiểu nổi. Máy bay dừng lại ở Thái Lan để chuyển sang máy bay quốc tế, nghe nói bự lắm. Con Lan lúc này lanh lẹ, dễ thương vô cùng. Nó thương mẹ nó. Nó lo cho bà đủ chuyện trong chuyến đi nửa vòng trái đất đầu tiên và chắc cũng là cuối cùng của đời bà. Mới ăn có một bữa trên máy bay với một bữa ở khách sạn để chờ chuyển máy bay mà bà Năm đã thấy nhớ món cá lóc nấu canh chua, cá nục kho khô, nhất là đĩa giá sống. Con Lan cứ ăn tỉnh bơ, ào ào hết sạch. Con gái 17 bẻ gẫy sừng bò còn được, huống hồ năm nay nó đã lớn tướng, dư sức lấy chồng được rồi. Bà lẩm cẩm lo nghĩ vẩn vơ, “Nếu cứ ăn uống hoài kiểu này chắc chết quá!” Mà không, con gái bà nó bảo ở bên Mỹ đồ ăn không thiếu cái chi cả. Chợ Mỹ, chợ Tầu, chợ Việt Nam có đủ hết. Tha hồ mà làm bún bò giò heo, bún cá, phở, mì, bánh canh, bánh xèo, chả giò, bánh cuốn tự nhiên bà Năm lại thấy lên tinh thần.

Người ta hướng dẫn mẹ con bà Năm lên cái máy bay to chi lạ. Nghe nói nó chở cả mấy trăm con người và vô số đồ đạc, va-li, thùng, xách, linh tinh. Dễ sợ thật! Bà thấy hành khách đông vô số kể, ngồi trông từa tựa như cái rạp cải lương ở gần chợ Bà Chiểu thân quen của bà. Mấy cái màn ảnh chiếu phim cả ngày cả đêm, họa hoằn mới cho chúng nó giải lao nghỉ xả hơi một lúc. Cứ độ 2 tiếng đồng hồ, mấy cô tiếp viên lại đẩy cái xe đi quanh, dọn ăn, dọn uống cho khách. Bà nghe nói ở Mỹ cả chục triệu người béo phị, đi không nổi. Chắc tại họ ăn uống lu bù tối ngày sáng đêm như thế này chăng. Bà ăn đâu có nổi, chỉ có con Lan là cứ tỉnh bơ như sáo sậu, hết coi phim lại ăn, lại uống. Bà bảo con Lan, “Con ăn nhiều thế, mai mốt béo phị ra thì ai nó thèm lấy!” Con Lan phì cười, “Má đừng có lo! Con biết hết trơn rồi.”

Máy bay bay miết, bay hoài, dễ chừng cả ngày lẫn đêm chi đó. Bà Năm thấy cái lối sống ở trên máy bay và chắc cả ở Mỹ nữa nó không đơn giản như ở quê nhà, nơi gần chợ Bà Chiểu. Cái chi cũng máy với móc, lộn xà lộn xộn, không biết đâu mà rờ cả.

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Mỹ. Con Lan bảo là phi trường quốc tế Los Angeles. Bà Năm mệt mỏi nhừ tử cả người, đứng lên muốn hết nổi.

Con gái bà, con Nguyệt sẽ lái xe từ San Diego lên đón mẹ con bà ngay tại nơi này. Người đâu mà đông thế? Người ta ăn mặc thật là kỳ cục. Cả đời, bây giờ bà mới thấy người ta ăn mặc chẳng giống dân Sài Gòn của bà tí nào. Ðàn ông, con trai thì lắm người mặc áo để phanh cả bộ ngực lông lá tùm lum. Có người ăn mặc đồ lớn như dân Sài Gòn đi ăn cưới, có người chỉ mặc có mỗi chiếc áo “may-ô ba lỗ”, có người cởi trần trùng trục đi lại tự nhiên, thoải mái. Ðàn bà con gái cũng mặc quần, mặc váy như mấy cô, mấy bà hạng sang ở sài Gòn, nhưng có nhiều người lại mặc váy, quần cụt, ngắn cũn cỡn trông chẳng giống ai. Ở chỗ đông người thế này mà đàn bà con gái chi lạ, cứ như ở trần, ở trên thì vú vê to nung núc, rùng rà rùng rình, để ra cả đống cho người ta coi, ở dưới cứ như là để ra ngoài hết trơn, cái quần, cái váy ngắn tí teo, lại còn xẻ rạch lên một khúc nữa... Trông dễ sợ quá! Bà Năm không biết con gái mình, con Nguyệt nó có ăn mặc như thế này không? Nếu nó lại bắt bà phải ăn mặc như thế nữa thì không biết rồi ra làm sao? Liệu bà sống nổi hay không tự nhiên bà chặt lưỡi kệ nó tới đâu thì tới, đã đến đất Mỹ thì cũng như đã leo lên lưng cọp rồi, tụt xuống đâu còn được nữa. Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem đất Mỹ xoay vần tới đâu.

Sau khi làm thủ tục giấy tờ này nọ, mẹ con bà đẩy xe hành lý ra phía ngoài. Còn đang ngơ ngác thì con gái bà, con Nguyệt, đã la lên, “Má! Má Con đây nè! Con gái Bà lúc này nó cao, nó to con, nó đẹp như “đầm” ấy, bà nhận ra không nổi. Nó chỉ người đàn ông đứng bên cạnh “Ðây là chồng con. Ðây là hai đứa cháu ngoại của Má! Và đây là bạn bè của con” Con Lan đứng sau lưng bà, bây giờ mới đến phiên người ta ôm lấy nó cứng ngắc, hỏi thăm rối rít tít mù, làm cho nó đỏ bừng cả mặt, cả tai.

Mấy cái xe Mỹ, xe Nhật bóng láng đưa mẹ con bà Năm về nhà con gái. Bà thấy cái chi cũng lạ. Nhà to và đẹp quá, nhưng không bầy đồ đạc tùm lum tà la như nhà của bà ở gần chợ Bà Chiểu. Con rể và con gái bà chắc hẳn giầu lắm. Hai đứa cháu ngoại thì cứ nhìn bà mà nói với nhau bằng thứ tiếng gì bà không hiểu. Chắc là tiếng Mỹ! Vợ chồng con Nguyệt nói với bà thì bằng tiếng Việt, còn khi chúng nó nói chuyện với nhau lại bằng tiếng Mỹ chi đó, làm bà chẳng hiểu chi hết trơn.

Gặp mấy ngày nghỉ cuối tuần, bà con bạn bè người Việt ở gần, nghe tin bà Năm sang Mỹ, cũng kéo tới thăm. Bà cũng thấy vui vui một chút. Cơm nước bày ra đầy cả bàn, nhưng bà ăn sao nó dở ẹt, không bằng món cá bống kho tiêu, cá lóc nấu canh chua của bà ở Sài Gòn. Chúng nó lấy xe chở mẹ con bà đi chơi tùm lum đủ chỗ, đẹp mắt và to lớn, vĩ đại vô cùng. Sạch sẽ nữa chớ, không có tạp nhạp, lộn xộn, dơ dáy như cái xóm cũ của bà.

Mấy ngày đầu đoàn tụ qua đi. Vợ chồng con Nguyệt đi làm, hai đứa cháu ngoại được đưa đến trường học con nít. Chỉ còn bà với con Lan ở nhà, cái nhà rộng thinh rộng thang, phòng dưới nhà, phòng trên lầu, đủ kiểu. Chẳng bù với cái nhà của bà gần Chợ Bà Chiểu, chỉ có một cái phòng để ngủ, một phòng cho khách ngồi chơi, còn lại là nhà bếp với bộ bàn ghế ăn cơm và linh tinh đủ thứ.

Ấy vậy mà mới ở Mỹ chưa được một tháng, bà Năm đã lại thấy nhớ nhung luyến tiếc nếp sống của bà ở gần chợ Bà Chiểu. Ðến cái ngày con Lan được chị nó dẫn đi học ở cái trường nào đó xa lắm, phải đi bằng xe hơi, chớ không có đi bộ hay đi xe đạp được đâu. Thế là chỉ còn có một mình bà ở lại với ngôi nhà to lớn rộng thênh thang mà thôi. Lúc này, bà thấy quả thiệt là buồn, cái buồn miên man khó tả. Con Lan đã chỉ cho bà cách bật Ti Vi bằng cái bấm cầm tay. Bật máy lên thì bà chỉ thấy toàn là đánh lộn, la hét um sùm. Bật sang kênh khác thì lại bắn súng đùng đùng, máu me tùm lum. Bà ráng thử bật sang kênh khác nữa. Trời đất quỷ thần! Một lão đàn ông, một mụ đàn bà ôm nhau cứng ngắc, hôn hít cứ y như là cắn nhau vậy thôi. Rồi cả hai tụt quần, cởi áo, nhào lên giường vật lộn. Con mụ đàn bà chịu thua, nằm nhắm mắt, giật đùng đùng, kêu lí nhí, rên hừ hừ rồi bỗng nó vùng vẫy nhào lên trên, đè hung hãn, như người ta phi ngựa nước đại, trông mà phát khiếp, chi mà kỳ lạ! Chán quá, bà tắt máy chẳng buồn lắp phim, coi cải lương với lại chưởng Tầu. Hết đi ra lại đi vô, bà đâm ra cứ muốn ngủ gà, ngủ vịt. Mà nằm xuống thì đâu có ngủ được.

Bà từng nghe nói thành phố San Diego là nơi ấm áp mà sao mùa lạnh mới sang bà đã thấy lạnh chi mà lạnh dữ. Ở Sài Gòn, bà có thấy lạnh bao giờ đâu. Buổi sáng sớm và ban đêm, ở Mỹ, bà cứ phải mặc cả mớ quần áo, trông to bự trác như hình vẽ ông già Nô-en vậy. Có bữa con Lan mở Ti Vi, bà thấy cảnh động đất, mưa lụt, bão bùng, xe cộ tông nhau, người chết, nhà cửa tan tành. Ở Mỹ cái gì đối với bà cũng vĩ đại, to lớn, dễ sợ, kinh hoàng, dựng tóc gáy, nổi da gà. Nó không yên tĩnh, hiền lành như cái vùng đất chợ Bà Chiểu của bà.

Tối đến vợ chồng con Nguyệt mới đi làm về. Cả nhà chỉ gặp nhau vào lúc ăn cơm. Ăn xong, ai về phòng người nấy, hay vợ chồng con Nguyệt lại lấy xe đi đâu đến khuya. Bà Năm muốn chơi với hai đứa cháu ngoại. Khốn nỗi hai đứa nhỏ lại chỉ biết nói tiếng Mỹ mà thôi, Bà đâu có hiểu. Còn có con Lan thì nó lo học và làm bài túi bụi. Rảnh một tí, nó mở cái Ti Vi để coi ca nhạc mà kẻ đàn, người hát cứ như đánh vật với nhau, la hét um sùm. Hình như nó bảo nhạc rốc, nhạc riếc chi đó, nghe đến chóng cả mặt, đau cả đầu. Không thế thì nó lại ôm cái điện thoại nói chuyện với bạn với bè. Nói liên hồi, không biết mệt. Chuyện chi mà nhiều thế?

Bà Năm nhớ cái xóm chợ Bà Chiểu quá chừng, nhưng biết làm sao bây giờ? Con gái nó có thương bà và con Lan nên nó mới tốn công, tốn của, lo liệu đủ thứ cho bà sang Mỹ để bà được an nhàn, sung sướng lúc tuổi già cô đơn, cho con Lan có điều kiện học hành, khỏi phải lo đầu tắt mặt tối để kiếm miếng ăn như bạn bè của nó. Nó còn trẻ, ở Mỹ lâu rồi, làm sao nó hiểu được cái thứ sung sướng, hạnh phúc của bà, của 2 thế hệ khác nhau hoàn toàn. Ở chợ Bà Chiểu thì ra khỏi cửa là bà có thể xoay sở làm được những điều bà cần cho cái sống hàng ngày của một bà già bắt đầu lẩm cẩm. Tiền bạc con nó gửi về, dư thừa, bà muốn mua sắm những cái cần thiết cho bà, tự mình làm được hết. Ði thăm bạn già với nhau thì đi xích lô, xe ôm, đi bộ, thứ gì bà cũng có. Ở Mỹ thì vô số những thứ cao sang, đẹp đẽ, văn minh, tiến bộ, nhưng bà lại không tự mình xài được, cứ phải phụ thuộc vào con cái từ cái lớn đến cái nhỏ. Lắm lúc, ngồi một mình nghĩ lẩn thẩn, bà cứ ngỡ như mình đang bị giam lỏng trong một ngôi nhà đẹp đẽ, rộng mênh mông với những tiện nghi bao nhiêu người mơ ước, từ nơi này, nước nọ, liều mạng một sống hai chết nhào vô mà không chắc chi có được. Thật là trái ngược lạ lùng!

Bà Năm đau nặng phải vô nằm bệnh viện, lắm lúc mê man rồi lại tỉnh. Vợ chồng con Nguyệt chỉ biết thương bà, nhưng vẫn không hiểu đượcbà. Chỉ có con Lan về sau nó hiểu, nó hỏi, “Có phải ở đây má buồn, má không chuyện trò được với ai, nhất là với hai đứa cháu ngoại, má nhớ Quê Hương, bạn bè của má, má nhớ mồ mả tổ tiên, ông bà, cha mẹ, má nhớ chợ Bà Chiểu nên má đau, má bịnh phải không?” Bà Năm nắm lấy tay nó rồi gật đầu. Con Lan bỗng nhiên mím môi lại, nước mắt chảy hai hàng “Sao má không ở lại Việt Nam với chòm xóm, bạn bè, với chợ Bà Chiểu của má? Má không chịu đi Mỹ thì con đâu có đi! Con nhất định ở với má cho đến khi nào má không còn nữa, má đi với ba cơ mà!” Rồi nó ôm mặt khóc rưng rức xót thương cho mẹ, người đã suốt đời khổ cực vì chồng vì con, hình như chẳng có lúc nào để nghĩ đến chính mình Bỗng bà Năm tỉnh táo, vẫy tay cho vợ chồng con Nguyệt cùng tới gần. Bà nắm lấy tay 2 đứa con gái, nói trong hơi thở nghẹn ngào, “Má chấp nhận rời bỏ tất cả để ra đi vì má thấy thương con Nguyệt, nó muốn má được an nhàn, sung sướng lúc tuổi già, nhất là má thương con Lan, má hy sinh vì mong cho nó được ăn học nên người và có một cuộc sống tốt đẹp như chị nó ở đất nước văn minh, giầu có, vĩ đại như thế này. Má già rồi nên không quen, nhưng má chấp nhận má chỉ tiếc một điều là không được chết và nghỉ yên bên cạnh ba con.”

Nguyệt lúc này mới cảm thấy một nỗi xót xa thật to lớn. Nguyệt đã chịu một phần trách nhiệm trong cái chết của bà Năm. Vợ chồng Nguyệt đã không làm được một việc mà nhiều gia đình Việt Nam khác đã làm được. Ðó là vợ chồng Nguyệt không để ý hay không làm được cái việc: dạy cho 2 đứa con những khi ở nhà với cha mẹ, tập nói tiếng Việt. Nếu hai đứa con của Nguyệt nói được tiếng Việt như nhiều đứa trẻ gốc Việt Nam khác thì bà Năm đã có nhiều giờ phút khuây khỏa, vui chơi, chuyện trò với hai đứa cháu ngoại mà bà thương hết mình. Ðằng này, bà không làm sao gần gũi được với chúng nó. Khi bà và hai đứa cháu ngoại gần nhau, thay vì chuyện trò như nhiều gia đình gốc Việt Nam khác, thì lại chỉ biết nhìn nhau như những người xa lạ ở đâu đâu ấy. Nguyệt cũng úp mặt vào hai bàn tay để dấu đi những giọt nước mắt xót thương người mẹ già đã từ giã tất cả để đến nơi đây sống với mình. Nguyệt thương mẹ nhưng đã không hiểu được mẹ. Bây giờ thì mọi sự đã trễ mất rồi, không cách nào làm lại được nữa dù chỉ một lần... Nếu 2 đứa con của Nguyệt nói được tiếng Việt để bà cháu hủ hỉ với nhau thì...

Bà Năm không nói được nữa, bà đã vĩnh viễn ra đi để được sống với chồng bà bên kia thế giới, có lẽ gần gũi hơn với quê hương đất tổ, ở đó có nhiều bạn bè thân thiết và có cái chợ Bà Chiểu thân thương gắn bó với bà từ những ngày khốn khổ xa xưa...

San Diego, California
Phan Ðức Minh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những món ăn kỳ lạ nhất thế giới

Theo đánh giá của tờ Australia News, lòng lợn tiết canh ở Việt Nam được liệt vào một trong những món ăn lỳ lạ nhất thế giới.


Image
Lòng lợn tiết canh được coi là một trong những món ăn lạ trên thế giới.
Mặc dù, món ăn này có thể không tốt cho sức khỏe nhưng nó vẫn là món khoái khẩu với nhiều người Việt Nam.


Image
Ngày càng nhiều người Nhật khoái khẩu sự kết hợp kỳ lạ: bánh ngọt có ong vì cho rằng chúng thơm, có vị lạ.


Image
Nhà sản xuất bánh kẹo Annie Munoz ở Panama vừa giới thiệu loại kẹo mút côn trùng với hy vọng chiếm lĩnh thị trường Mỹ Latin.


Image
Dương vật và tinh hoàn bò đực - món ăn khoái khẩu của nhiều người ở La Paz, Peru khi cho rằng, đây là "thần dược" của đàn ông.


Image
Nhện rán là món ăn phổ biến ở Skun, tỉnh Kampong Cham, Campuchia.


Image
Mỳ dế rán - sự lựa chọn hàng đầu của nhiều dân nhậu Việt Nam.


Image
Lưỡi vịt - một món ăn nổi tiếng tại Hong Kong, Trung Quốc.


Image
Tại Bắc Kinh, Trung Quốc, nhiều người khoái cá ngựa nướng. Ở nhiều nơi khác, người ta lại ngâm rượu.


Image
Người dân Peru 'khoái' món chuột lang rán.

Post Reply