Tin Trong Nước
Bản tin đặc biệt :
Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu đô la Mỹ từ Trung Cộng
Theo nguồn tin cao cấp từ giới lãnh đạo đảng CSVN vừa được tiết lộ và kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì từ tháng 10/2008, nhà cầm quyền Trung Quốc qua mạng lưới ngân hàng ngoại vi của họ đã chuyển nạp vào hệ thống kinh doanh của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng cộng hơn 150 triệu đô la Mỹ. Phần lớn số tiền này nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Vẫn theo nguồn tin mà Radio Chân Trời Mới nhận được thì đây là món tiền để trao đổi với việc ông Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận và tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch khai thác Bô-xít Tây Nguyên tại 2 địa điểm hiện nay là Đắc Nông và Tân Rai, bất kể các phản đối từ công luận và thành phần chuyên gia công nghệ, quân sự Việt Nam.
Hiện nay, dữ kiện này đã lan đến một số nhỏ doanh nhân Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong nỗ lực chận đứng lan truyền và ngăn chặn sự phản đối của dư luận trong nước, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh “bắt khẩn cấp” một số người trong vài ngày qua. Hiện tượng “bắt khẩn cấp” này nhiều phần sẽ còn kéo dài trong những ngày trước mặt.
Radio Chân Trời Mới
Ngày16/6/2009
Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu đô la Mỹ từ Trung Cộng
Theo nguồn tin cao cấp từ giới lãnh đạo đảng CSVN vừa được tiết lộ và kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì từ tháng 10/2008, nhà cầm quyền Trung Quốc qua mạng lưới ngân hàng ngoại vi của họ đã chuyển nạp vào hệ thống kinh doanh của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng cộng hơn 150 triệu đô la Mỹ. Phần lớn số tiền này nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Vẫn theo nguồn tin mà Radio Chân Trời Mới nhận được thì đây là món tiền để trao đổi với việc ông Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận và tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch khai thác Bô-xít Tây Nguyên tại 2 địa điểm hiện nay là Đắc Nông và Tân Rai, bất kể các phản đối từ công luận và thành phần chuyên gia công nghệ, quân sự Việt Nam.
Hiện nay, dữ kiện này đã lan đến một số nhỏ doanh nhân Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong nỗ lực chận đứng lan truyền và ngăn chặn sự phản đối của dư luận trong nước, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh “bắt khẩn cấp” một số người trong vài ngày qua. Hiện tượng “bắt khẩn cấp” này nhiều phần sẽ còn kéo dài trong những ngày trước mặt.
Radio Chân Trời Mới
Ngày16/6/2009
.BS Nguyễn Ðan Quế:
'Hà Nội phải hổ thẹn khi bắt LS. Lê Công Ðịnh”
Tuesday, June 16, 2009
Bác sĩ Nguyễn Đan Quế Ðinh Quang Anh Thái (thực hiện)
Lời tòa soạn: Trưa Thứ Bảy 13 Tháng Sáu, Cục An ninh Ðiều Tra của Bộ Công An nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã bắt khẩn cấp Luật sư Lê Công Ðịnh. Lệnh bắt quy chụp Luật sư Ðịnh tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước và có hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”. Từ Sài Gòn, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, một người tranh đấu dân chủ nổi tiếng tại Việt Nam và từng bị chế độ giam tù trên 20 năm, đã cho biết quan điểm của mình về việc Luật sư Lê Công Định bị bắt qua điện thoại với nhà báo Đinh Quang Anh Thái.
***
Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế:
“Luật Sư Lê Công Ðịnh là người yêu nước. Ông đã từng bào chữa cho nhiều người đấu tranh dân chủ là Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, nhà báo Ðiếu Cầy Hoàng Hải... Luật Sư Ðịnh đã viết nhiều bài bày tỏ lòng thiết tha yêu nước, kêu gọi đa nguyên chính trị để phát triển đất nước.
Luật Sư Ðịnh còn cam đảm bác bỏ quan điểm của Thủ Tướng nhà nước Hà Nội Nguyễn Tấn Dũng khi ông Dũng nói rằng Việt Nam chưa cho phép có báo chí tư nhân. Luật Sư Ðịnh cũng lên tiếng về việc Bộ Chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam để mất quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng một phần lớn biển Ðông.
Ông còn mạnh mẽ phản đối kế hoạch khai thác bauxite tại cao nguyên Trung phần. Luật Sư Ðịnh cho rằng Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản đã sợ hãi, hèn nhát cúi đầu để cho Trung Quốc khai thác bauxite tại cao nguyên.
Ông cũng là người đang nỗ lực nghiên cứu một bản hiến pháp mới cho Việt Nam và một đường lối mới cho đất nước chúng ta. Theo tôi, ông là một luật sư giỏi và là người hết sức nhiệt thành với đất nước, với đồng bào mà bất cứ người nào có lương tri cũng kính trọng ông.
Tôi nghĩ rằng, giới lãnh đạo chế độ hiện nay hẳn phải hổ thẹn khi ra lệnh bắt giữ Luật Sư Ðịnh. Nếu họ không biết hổ thẹn thì họ không còn là người nữa. Hành động bắt giam Luật Sư Ðịnh cho thấy, Bộ Chính Trị Cộng Sản một lần nữa đã thách thức cả thế giới khi họ tiếp tục chà đạp nhân quyền và những quyền căn bản của người dân Việt Nam.
Bắt giữ Luật Sư Ðịnh, chế độ Hà Nội đã rõ ràng muốn tiêu diệt những người đang tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam. Người Việt trong và ngoài nước cần phải mạnh mẽ lên tiếng và phản đối đến cùng vụ bắt bớ ngang ngược này.
Chúng ta phải lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản thả vô điều kiện và tức khắc Luật Sư Lê Công Ðịnh.”
'Hà Nội phải hổ thẹn khi bắt LS. Lê Công Ðịnh”
Tuesday, June 16, 2009
Bác sĩ Nguyễn Đan Quế Ðinh Quang Anh Thái (thực hiện)
Lời tòa soạn: Trưa Thứ Bảy 13 Tháng Sáu, Cục An ninh Ðiều Tra của Bộ Công An nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã bắt khẩn cấp Luật sư Lê Công Ðịnh. Lệnh bắt quy chụp Luật sư Ðịnh tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước và có hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”. Từ Sài Gòn, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, một người tranh đấu dân chủ nổi tiếng tại Việt Nam và từng bị chế độ giam tù trên 20 năm, đã cho biết quan điểm của mình về việc Luật sư Lê Công Định bị bắt qua điện thoại với nhà báo Đinh Quang Anh Thái.
***
Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế:
“Luật Sư Lê Công Ðịnh là người yêu nước. Ông đã từng bào chữa cho nhiều người đấu tranh dân chủ là Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, nhà báo Ðiếu Cầy Hoàng Hải... Luật Sư Ðịnh đã viết nhiều bài bày tỏ lòng thiết tha yêu nước, kêu gọi đa nguyên chính trị để phát triển đất nước.
Luật Sư Ðịnh còn cam đảm bác bỏ quan điểm của Thủ Tướng nhà nước Hà Nội Nguyễn Tấn Dũng khi ông Dũng nói rằng Việt Nam chưa cho phép có báo chí tư nhân. Luật Sư Ðịnh cũng lên tiếng về việc Bộ Chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam để mất quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng một phần lớn biển Ðông.
Ông còn mạnh mẽ phản đối kế hoạch khai thác bauxite tại cao nguyên Trung phần. Luật Sư Ðịnh cho rằng Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản đã sợ hãi, hèn nhát cúi đầu để cho Trung Quốc khai thác bauxite tại cao nguyên.
Ông cũng là người đang nỗ lực nghiên cứu một bản hiến pháp mới cho Việt Nam và một đường lối mới cho đất nước chúng ta. Theo tôi, ông là một luật sư giỏi và là người hết sức nhiệt thành với đất nước, với đồng bào mà bất cứ người nào có lương tri cũng kính trọng ông.
Tôi nghĩ rằng, giới lãnh đạo chế độ hiện nay hẳn phải hổ thẹn khi ra lệnh bắt giữ Luật Sư Ðịnh. Nếu họ không biết hổ thẹn thì họ không còn là người nữa. Hành động bắt giam Luật Sư Ðịnh cho thấy, Bộ Chính Trị Cộng Sản một lần nữa đã thách thức cả thế giới khi họ tiếp tục chà đạp nhân quyền và những quyền căn bản của người dân Việt Nam.
Bắt giữ Luật Sư Ðịnh, chế độ Hà Nội đã rõ ràng muốn tiêu diệt những người đang tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam. Người Việt trong và ngoài nước cần phải mạnh mẽ lên tiếng và phản đối đến cùng vụ bắt bớ ngang ngược này.
Chúng ta phải lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản thả vô điều kiện và tức khắc Luật Sư Lê Công Ðịnh.”
Luật Sư Lê Công Ðịnh xác nhận đã hoạt động chống chính quyền cộng sản
Thursday, June 18, 2009

L.S Lê Công Ðịnh đọc bản tường trình, theo ghi chú tấm hình của báo Dân Trí ngày 18 Tháng Sáu 2009.

Thủ bút của L.S Lê Công Ðịnh, phổ biến trên web Dân Trí, liệu đây có thể là hậu quả của một vụ ép cung? HÀ NỘI (TH)- Trong cuộc họp báo tổ chức ở Hà Nội ngày 18 Tháng Sáu 2009, hai tướng chánh phó Tổng Cục An Ninh CSVN, Vũ Hải Triều và Hoàng Kông Tư, “công bố lời khai ban đầu” của L.S Lê Công Ðịnh, theo bản tin vắn tắt của tờ Tiền Phong và theo báo Dân Trí thì “Luật Sư Lê Công Ðịnh thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật, ân hận về việc làm của mình và xin được hưởng khoan hồng. Ông Ðịnh cũng nói tới việc mở ra hai blog để tuyên truyền việc chống nhà nước XHCN Việt Nam.”
Những tờ báo tường thuật cuộc họp báo nói trên mô tả ông Ðịnh như thành phần có liên quan đến các hoạt động của Việt Tân cũng như tham gia vào một số tổ chức chính trị và soạn thảo các tài liệu cho một số đảng phái chính trị từ “điều lệ đảng” đến “tân hiến pháp”.
Nội dung các bản tin tường thuật phần chính giống nhau theo sự mớm lời của công an mà xưa nay thường thấy những bài như thế trong mục đích đấu tố trên mặt báo những người sắp sửa đưa ra tòa hay cần chửi bới tuyên truyền, bôi xấu.
Báo VietnamNet hôm 18 Tháng Sáu cho công bố một đoạn video clip có tên là “Luật Sư Lê Công Ðịnh nhận tội”, trong đó quay cảnh Luật Sư Lê Công Ðịnh đọc bản tường trình nhưng nửa chừng thì bị cắt ngang và người ta không biết đoạn còn lại Luật Sư Ðịnh nói điều gì.
Theo bản tin Người Lao Ðộng thì ông Lê Công Ðịnh xác nhận đã đi Thái Lan dự các buổi “huấn luyện đấu tranh bất bạo động” do Ðảng Việt Tân tổ chức. Tờ báo của đảng Cộng Sản viết “Việt Tân là một tổ chức khủng bố” nhưng lại nói họ “đã huấn luyện cho một số người Việt về tranh đấu bất bạo động ở Việt Nam.” Hai hình ảnh “khủng bố” và “bất bạo động” hoàn toàn trái ngược.
Cũng theo tờ báo trên, ông Lê Công Ðịnh xác nhận ông có gặp các ông Nguyễn Sỹ Bình và Trần Huỳnh Duy Thức thảo luận các vấn đề kinh tế Việt Nam. Sau đó ông cùng họ chủ trương lập hai đảng lao Ðộng và Xã Hội để tạo lực lượng chống chính quyền Cộng Sản Việt Nam.
VNExpress viết, “Theo đó, cơ quan điều tra đã khởi tố bị can, tạm giam Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long để điều tra về tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam (điều 88 Bộ Luật Hình Sự). Liên quan vụ việc, 3 người khác đã bị tạm giữ hình sự là Lê Công Ðịnh và 2 phụ nữ.”
VNExpress không nói 2 phụ nữ đó là ai nhưng tờ Dân Trí nêu tên là Trần Thị Thu ở Hà Nội và Lê Thị Thu Thu ở tỉnh Tiền Giang.
Ông Ðịnh là người bị bắt sau cùng và người bị bắt đầu tiên là Trần Huỳnh Duy Thức vào ngày 24 Tháng Năm 2009.
Báo điện tử VietnamNet viết, “5 ngày sau khi bị bắt khẩn cấp theo điều 88 BLHS (từ 13 Tháng Sáu đến 17 Tháng Sáu 2009), Luật Sư Lê Công Ðịnh (mật danh chị Tư) đã viết tường trình xin hưởng khoan hồng. Tại trại tạm giam của cơ quan An Ninh Ðiều Tra - Bộ Công An, trong 2 bản tường trình của ông Ðịnh có viết, “mong được nhà nước xem xét cho tôi hưởng lượng khoan hồng”.
Cả 2 bản tường trình được viết tay, dài 8 trang giấy A4, đều ghi ngày 17 Tháng Sáu 2009 và ký tên Lê Công Ðịnh. Theo đó, ông Ðịnh tự “trình bày hành vi vi phạm pháp luật của tôi theo điều 88 BLHS của nước CHXHCN Việt Nam”.
Các bản tin tường thuật cuộc họp báo của hai tướng công an nói trên chỉ nhắc tới cáo buộc họ vi phạm điều 88 của Luật Hình Sự. Khi họp báo bắt ông Ðịnh ngày 13 Tháng Sáu 09, ông còn bị cáo buộc tội “âm lưu lật đổ nhà nước” mà tội này có thể bị tù đến 20 năm.
Bản tin VietnamNet mô tả các hoạt động của ông chỉ từ Tháng Hai 2009 đến nay:
“Từ ngày 1 Tháng Ba 2009 - 3 Tháng Ba 2009, ông Ðịnh đã tham gia khóa huấn luyện bất bạo động do tổ chức Việt Tân tổ chức tại Pattaya (Thái Lan) do 2 người Serbia trình bày. Trong đó, một người một người có tên Blado, người còn lại ông Ðịnh không nhớ tên.
Ông Ðịnh thừa nhận có biết Việt Tân là tổ chức khủng bố đã huấn luyện cho một số người Việt Nam về đấu tranh bất bạo động ở VN.
Ngoài ra, theo sự giới thiệu của Nguyễn Tiến Trung, ông Ðịnh đã tham gia tổ chức Ðảng Dân Chủ Việt Nam do Nguyễn Sỹ Bình (Chủ tịch Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng) đứng đầu với vai trò thành viên Ban Thường Vụ.
Vào ngày 26 Tháng Ba 2009, ông Ðịnh đã sang Phu-ket (Thái Lan) gặp Nguyễn Sỹ Bình và Trần Huỳnh Duy Thức (đối tượng đã bị bắt tạm giam, khởi tố trước đó) để bàn chủ trương thành lập thêm 2 đảng là Ðảng Lao Ðộng VN (do Ðịnh đứng đầu) và Ðảng Xã Hội VN (do Thức đứng đầu). Cả 2 lập 2 trang blog cùng tên để phục vụ tuyên truyền qua Internet.
Ông Lê Công Ðịnh đã viết một bản tuyên cáo về việc thành lập Ðảng Lao Ðộng VN, tuy nhiên, “do lỗi kỹ thuật và chưa hoàn thiện và chưa công bố được thì tôi bị bắt”.
Trong quá trình tham gia Ðảng Dân Chủ VN, chính ông Ðịnh đã góp ý chỉnh sửa một số văn phong, thuật ngữ của bản Ðiều lệ Ðảng Dân Chủ VN. Ông Ðịnh cũng được Nguyễn Sỹ Bình chuyển cho một bản “Tân Hiến Pháp” nhằm mục đích soạn thảo một bản Hiến Pháp của Ðảng Dân Chủ VN.
Trở lại với chuyến sang Pattaya vào đầu Tháng Ba 2009, theo ông Ðịnh trình bày, từ đầu năm 2007, ông có quen một người tên Donna Liebeman, tự xưng là nhà nghiên cứu VN, từng nhiều lần mời luật sư này sang Hồng Kông hoặc Thái Lan để “nghiên cứu xã hội học”, nhưng ông đã từ chối.
Qua nhiều lần trao đổi qua điện thoại năm 2008, tới Tháng Hai 2009, vì tò mò “muốn biết rõ về công việc nghiên cứu của cô này”, ông Lê Công Ðịnh quyết định nhận lời sang Pattaya và tối ngày 29 Tháng Hai 2009.
Ðón ông Ðịnh tại Pattaya lại là một người quen “cũ” của Ðịnh tên Phương An. Tới lúc đó ông Ðịnh mới biết Phương An cũng chính là Donna Liebeman.
Sáng 1 Tháng Ba 2009, Phương An cùng chồng tên Châu đưa ông Ðịnh tới một phòng hội nghị tổ chức một buổi huấn luyện về phương pháp đấu tranh lật đổ bất bạo động theo kinh nghiệm của Serbia đã nói ở trên.
Có việc phải đi Bangkok, ông Ðịnh trở lại Pattaya vào ngày 3 Tháng Ba 2009, tiếp tục tham dự khóa học với chừng 10 người Việt Nam tham dự, mà ông Ðịnh cho biết “tất cả họ đều không dùng tên thật và tôi không biết họ trước đó”. Tại cuộc họp này, ông Ðịnh được biết một người tên Vinh, “do Lê Quốc Quân, người của tổ chức phản động Việt Tân giới thiệu”.
VietnamNet còn viết thêm là “Theo tài liệu của cơ quan An Ninh Việt Nam, các lớp học này đều do các chuyên gia lật đổ bất bạo động người Serbia giảng dạy. Ðây là những “bậc thầy” của tổ chức ACNC - Trung tâm quốc tế về đấu tranh lật đổ bất bạo động, từng đạo diễn cuộc “cách mạng Màu” khiến hàng loạt nước thuộc khối XHCN Ðông Âu sụp đổ trước đây”.
Theo sự phân tích của một luật sư thì các hoạt động của Lê Công Ðịnh có thể bị kết tội là “phạm pháp” vì luật pháp của cộng sản Việt Nam cấm việc lập đảng chính trị. Do đó, ông Lê Công Ðịnh là một luật sư phải công nhận là mình đã làm sai luật pháp của chế độ độc tài này. Khi công nhận mình làm trái với luật lệ đang thi hành thì việc xin hệ thống pháp lý đó “khoan hồng” để giảm án cũng là một hậu quả tự nhiên.
Trong một bài viết mới của mình, tác giả Vũ Quí Hạo Nhiên tại Quận Cam, California nhận định về hai chữ “khoan hồng” như sau:
“Một sự việc vừa xảy ra cho một nhà tranh đấu nhân quyền trong nước đáng đặt lên câu hỏi: Chúng ta có quá bưng hiến cho cộng sản một món vũ khí để cộng sản quá dễ dàng sử dụng bắn ngược lại chúng ta?
Trong vụ Luật Sư Lê Công Ðịnh, vừa tối hôm trước có tin Luật sư Ðịnh đã ‘nhận tội’ và xin ‘khoan hồng,’ là sáng hôm sau đã có những người vin vào đó để mỉa mai rằng ông đầu hàng này nọ.
Khi Luật Sư Lê Công Ðịnh nhận rằng mình đã vi phạm Ðiều 88, ‘chống nhà nước xã hội chủ nghĩa’ (ai trong chúng ta mà chẳng chống nhà nước cộng sản, chẳng vi phạm điều 88?) và xin khoan hồng, chúng ta thất vọng. Vì chúng ta mất một người anh hùng hiên ngang dũng cảm như trong truyện tranh vậy.
Thế nào là ‘khoan hồng’? Ðối với một người trong tù, ‘khoan hồng’ đơn giản là hai chữ thủ tục để được ra tù. Như những vị sĩ quan từng ở tù cải tạo, ai cũng phải làm một tờ đơn xin ra trại, trong đó cũng có hai chữ ‘khoan hồng,’ ai cũng ký, mà không ai là người đầu hàng.
Tôi nhớ có câu chuyện đọc được trên web: Tác giả bị đi tù cải tạo, tôi nhớ là bị đưa ra bắc, giam ở Hà Nam Ninh. Ðến lúc được tha, cầm tờ giấy ra trại, cũng phải nghe một bài ‘Cách Mạng khoan hồng’ xong mới được đi.
Ðến cổng trại, nhìn thấy bức hình Hồ Chí Minh, ông buột miệng nói lầm bầm, ‘Thôi ở lại, ta đi.’ Ngờ đâu gác trại trông thấy, liền gọi ông lại. Bạn tù khác được về hết, ông còn phải ở lại để bị hỏi cung - ‘Anh nói gì với Bác đấy?’
Ông khôn ngoan giữ rịt lấy đúng một câu trả lời, đại ý tôi nhớ là, ‘Tôi sung sướng hồ hởi được cách mạng khoan hồng nên một chào cám ơn Bác.’ Cuối cùng dù không tin ông nhưng quản trại cũng phải cho ông về.
Ðó nên là bài học cho chúng ta. Hai chữ ‘khoan hồng’ là của cộng sản bịa ra để dùng cho mục đích tuyên truyền, thì chúng ta cũng nên chiếm lấy hai chữ ‘khoan hồng’ đó để dán ngược lại mặt bọn chúng, phục vụ cho mục đích của chúng ta.
Không thể để cho hai chữ ‘khoan hồng’ chia năm xẻ bảy chúng ta được. Nếu cứ mỗi lần chúng tung ra hai chữ ‘khoan hồng’ là chúng ta lại mỉa mai lẫn nhau, thì một năm phía cộng sản ném chữ ‘khoan hồng’ ra khoảng chục lần thì chúng ta xâu xé nhau đến mức nào?”
Thursday, June 18, 2009

L.S Lê Công Ðịnh đọc bản tường trình, theo ghi chú tấm hình của báo Dân Trí ngày 18 Tháng Sáu 2009.

Thủ bút của L.S Lê Công Ðịnh, phổ biến trên web Dân Trí, liệu đây có thể là hậu quả của một vụ ép cung? HÀ NỘI (TH)- Trong cuộc họp báo tổ chức ở Hà Nội ngày 18 Tháng Sáu 2009, hai tướng chánh phó Tổng Cục An Ninh CSVN, Vũ Hải Triều và Hoàng Kông Tư, “công bố lời khai ban đầu” của L.S Lê Công Ðịnh, theo bản tin vắn tắt của tờ Tiền Phong và theo báo Dân Trí thì “Luật Sư Lê Công Ðịnh thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật, ân hận về việc làm của mình và xin được hưởng khoan hồng. Ông Ðịnh cũng nói tới việc mở ra hai blog để tuyên truyền việc chống nhà nước XHCN Việt Nam.”
Những tờ báo tường thuật cuộc họp báo nói trên mô tả ông Ðịnh như thành phần có liên quan đến các hoạt động của Việt Tân cũng như tham gia vào một số tổ chức chính trị và soạn thảo các tài liệu cho một số đảng phái chính trị từ “điều lệ đảng” đến “tân hiến pháp”.
Nội dung các bản tin tường thuật phần chính giống nhau theo sự mớm lời của công an mà xưa nay thường thấy những bài như thế trong mục đích đấu tố trên mặt báo những người sắp sửa đưa ra tòa hay cần chửi bới tuyên truyền, bôi xấu.
Báo VietnamNet hôm 18 Tháng Sáu cho công bố một đoạn video clip có tên là “Luật Sư Lê Công Ðịnh nhận tội”, trong đó quay cảnh Luật Sư Lê Công Ðịnh đọc bản tường trình nhưng nửa chừng thì bị cắt ngang và người ta không biết đoạn còn lại Luật Sư Ðịnh nói điều gì.
Theo bản tin Người Lao Ðộng thì ông Lê Công Ðịnh xác nhận đã đi Thái Lan dự các buổi “huấn luyện đấu tranh bất bạo động” do Ðảng Việt Tân tổ chức. Tờ báo của đảng Cộng Sản viết “Việt Tân là một tổ chức khủng bố” nhưng lại nói họ “đã huấn luyện cho một số người Việt về tranh đấu bất bạo động ở Việt Nam.” Hai hình ảnh “khủng bố” và “bất bạo động” hoàn toàn trái ngược.
Cũng theo tờ báo trên, ông Lê Công Ðịnh xác nhận ông có gặp các ông Nguyễn Sỹ Bình và Trần Huỳnh Duy Thức thảo luận các vấn đề kinh tế Việt Nam. Sau đó ông cùng họ chủ trương lập hai đảng lao Ðộng và Xã Hội để tạo lực lượng chống chính quyền Cộng Sản Việt Nam.
VNExpress viết, “Theo đó, cơ quan điều tra đã khởi tố bị can, tạm giam Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long để điều tra về tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam (điều 88 Bộ Luật Hình Sự). Liên quan vụ việc, 3 người khác đã bị tạm giữ hình sự là Lê Công Ðịnh và 2 phụ nữ.”
VNExpress không nói 2 phụ nữ đó là ai nhưng tờ Dân Trí nêu tên là Trần Thị Thu ở Hà Nội và Lê Thị Thu Thu ở tỉnh Tiền Giang.
Ông Ðịnh là người bị bắt sau cùng và người bị bắt đầu tiên là Trần Huỳnh Duy Thức vào ngày 24 Tháng Năm 2009.
Báo điện tử VietnamNet viết, “5 ngày sau khi bị bắt khẩn cấp theo điều 88 BLHS (từ 13 Tháng Sáu đến 17 Tháng Sáu 2009), Luật Sư Lê Công Ðịnh (mật danh chị Tư) đã viết tường trình xin hưởng khoan hồng. Tại trại tạm giam của cơ quan An Ninh Ðiều Tra - Bộ Công An, trong 2 bản tường trình của ông Ðịnh có viết, “mong được nhà nước xem xét cho tôi hưởng lượng khoan hồng”.
Cả 2 bản tường trình được viết tay, dài 8 trang giấy A4, đều ghi ngày 17 Tháng Sáu 2009 và ký tên Lê Công Ðịnh. Theo đó, ông Ðịnh tự “trình bày hành vi vi phạm pháp luật của tôi theo điều 88 BLHS của nước CHXHCN Việt Nam”.
Các bản tin tường thuật cuộc họp báo của hai tướng công an nói trên chỉ nhắc tới cáo buộc họ vi phạm điều 88 của Luật Hình Sự. Khi họp báo bắt ông Ðịnh ngày 13 Tháng Sáu 09, ông còn bị cáo buộc tội “âm lưu lật đổ nhà nước” mà tội này có thể bị tù đến 20 năm.
Bản tin VietnamNet mô tả các hoạt động của ông chỉ từ Tháng Hai 2009 đến nay:
“Từ ngày 1 Tháng Ba 2009 - 3 Tháng Ba 2009, ông Ðịnh đã tham gia khóa huấn luyện bất bạo động do tổ chức Việt Tân tổ chức tại Pattaya (Thái Lan) do 2 người Serbia trình bày. Trong đó, một người một người có tên Blado, người còn lại ông Ðịnh không nhớ tên.
Ông Ðịnh thừa nhận có biết Việt Tân là tổ chức khủng bố đã huấn luyện cho một số người Việt Nam về đấu tranh bất bạo động ở VN.
Ngoài ra, theo sự giới thiệu của Nguyễn Tiến Trung, ông Ðịnh đã tham gia tổ chức Ðảng Dân Chủ Việt Nam do Nguyễn Sỹ Bình (Chủ tịch Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng) đứng đầu với vai trò thành viên Ban Thường Vụ.
Vào ngày 26 Tháng Ba 2009, ông Ðịnh đã sang Phu-ket (Thái Lan) gặp Nguyễn Sỹ Bình và Trần Huỳnh Duy Thức (đối tượng đã bị bắt tạm giam, khởi tố trước đó) để bàn chủ trương thành lập thêm 2 đảng là Ðảng Lao Ðộng VN (do Ðịnh đứng đầu) và Ðảng Xã Hội VN (do Thức đứng đầu). Cả 2 lập 2 trang blog cùng tên để phục vụ tuyên truyền qua Internet.
Ông Lê Công Ðịnh đã viết một bản tuyên cáo về việc thành lập Ðảng Lao Ðộng VN, tuy nhiên, “do lỗi kỹ thuật và chưa hoàn thiện và chưa công bố được thì tôi bị bắt”.
Trong quá trình tham gia Ðảng Dân Chủ VN, chính ông Ðịnh đã góp ý chỉnh sửa một số văn phong, thuật ngữ của bản Ðiều lệ Ðảng Dân Chủ VN. Ông Ðịnh cũng được Nguyễn Sỹ Bình chuyển cho một bản “Tân Hiến Pháp” nhằm mục đích soạn thảo một bản Hiến Pháp của Ðảng Dân Chủ VN.
Trở lại với chuyến sang Pattaya vào đầu Tháng Ba 2009, theo ông Ðịnh trình bày, từ đầu năm 2007, ông có quen một người tên Donna Liebeman, tự xưng là nhà nghiên cứu VN, từng nhiều lần mời luật sư này sang Hồng Kông hoặc Thái Lan để “nghiên cứu xã hội học”, nhưng ông đã từ chối.
Qua nhiều lần trao đổi qua điện thoại năm 2008, tới Tháng Hai 2009, vì tò mò “muốn biết rõ về công việc nghiên cứu của cô này”, ông Lê Công Ðịnh quyết định nhận lời sang Pattaya và tối ngày 29 Tháng Hai 2009.
Ðón ông Ðịnh tại Pattaya lại là một người quen “cũ” của Ðịnh tên Phương An. Tới lúc đó ông Ðịnh mới biết Phương An cũng chính là Donna Liebeman.
Sáng 1 Tháng Ba 2009, Phương An cùng chồng tên Châu đưa ông Ðịnh tới một phòng hội nghị tổ chức một buổi huấn luyện về phương pháp đấu tranh lật đổ bất bạo động theo kinh nghiệm của Serbia đã nói ở trên.
Có việc phải đi Bangkok, ông Ðịnh trở lại Pattaya vào ngày 3 Tháng Ba 2009, tiếp tục tham dự khóa học với chừng 10 người Việt Nam tham dự, mà ông Ðịnh cho biết “tất cả họ đều không dùng tên thật và tôi không biết họ trước đó”. Tại cuộc họp này, ông Ðịnh được biết một người tên Vinh, “do Lê Quốc Quân, người của tổ chức phản động Việt Tân giới thiệu”.
VietnamNet còn viết thêm là “Theo tài liệu của cơ quan An Ninh Việt Nam, các lớp học này đều do các chuyên gia lật đổ bất bạo động người Serbia giảng dạy. Ðây là những “bậc thầy” của tổ chức ACNC - Trung tâm quốc tế về đấu tranh lật đổ bất bạo động, từng đạo diễn cuộc “cách mạng Màu” khiến hàng loạt nước thuộc khối XHCN Ðông Âu sụp đổ trước đây”.
Theo sự phân tích của một luật sư thì các hoạt động của Lê Công Ðịnh có thể bị kết tội là “phạm pháp” vì luật pháp của cộng sản Việt Nam cấm việc lập đảng chính trị. Do đó, ông Lê Công Ðịnh là một luật sư phải công nhận là mình đã làm sai luật pháp của chế độ độc tài này. Khi công nhận mình làm trái với luật lệ đang thi hành thì việc xin hệ thống pháp lý đó “khoan hồng” để giảm án cũng là một hậu quả tự nhiên.
Trong một bài viết mới của mình, tác giả Vũ Quí Hạo Nhiên tại Quận Cam, California nhận định về hai chữ “khoan hồng” như sau:
“Một sự việc vừa xảy ra cho một nhà tranh đấu nhân quyền trong nước đáng đặt lên câu hỏi: Chúng ta có quá bưng hiến cho cộng sản một món vũ khí để cộng sản quá dễ dàng sử dụng bắn ngược lại chúng ta?
Trong vụ Luật Sư Lê Công Ðịnh, vừa tối hôm trước có tin Luật sư Ðịnh đã ‘nhận tội’ và xin ‘khoan hồng,’ là sáng hôm sau đã có những người vin vào đó để mỉa mai rằng ông đầu hàng này nọ.
Khi Luật Sư Lê Công Ðịnh nhận rằng mình đã vi phạm Ðiều 88, ‘chống nhà nước xã hội chủ nghĩa’ (ai trong chúng ta mà chẳng chống nhà nước cộng sản, chẳng vi phạm điều 88?) và xin khoan hồng, chúng ta thất vọng. Vì chúng ta mất một người anh hùng hiên ngang dũng cảm như trong truyện tranh vậy.
Thế nào là ‘khoan hồng’? Ðối với một người trong tù, ‘khoan hồng’ đơn giản là hai chữ thủ tục để được ra tù. Như những vị sĩ quan từng ở tù cải tạo, ai cũng phải làm một tờ đơn xin ra trại, trong đó cũng có hai chữ ‘khoan hồng,’ ai cũng ký, mà không ai là người đầu hàng.
Tôi nhớ có câu chuyện đọc được trên web: Tác giả bị đi tù cải tạo, tôi nhớ là bị đưa ra bắc, giam ở Hà Nam Ninh. Ðến lúc được tha, cầm tờ giấy ra trại, cũng phải nghe một bài ‘Cách Mạng khoan hồng’ xong mới được đi.
Ðến cổng trại, nhìn thấy bức hình Hồ Chí Minh, ông buột miệng nói lầm bầm, ‘Thôi ở lại, ta đi.’ Ngờ đâu gác trại trông thấy, liền gọi ông lại. Bạn tù khác được về hết, ông còn phải ở lại để bị hỏi cung - ‘Anh nói gì với Bác đấy?’
Ông khôn ngoan giữ rịt lấy đúng một câu trả lời, đại ý tôi nhớ là, ‘Tôi sung sướng hồ hởi được cách mạng khoan hồng nên một chào cám ơn Bác.’ Cuối cùng dù không tin ông nhưng quản trại cũng phải cho ông về.
Ðó nên là bài học cho chúng ta. Hai chữ ‘khoan hồng’ là của cộng sản bịa ra để dùng cho mục đích tuyên truyền, thì chúng ta cũng nên chiếm lấy hai chữ ‘khoan hồng’ đó để dán ngược lại mặt bọn chúng, phục vụ cho mục đích của chúng ta.
Không thể để cho hai chữ ‘khoan hồng’ chia năm xẻ bảy chúng ta được. Nếu cứ mỗi lần chúng tung ra hai chữ ‘khoan hồng’ là chúng ta lại mỉa mai lẫn nhau, thì một năm phía cộng sản ném chữ ‘khoan hồng’ ra khoảng chục lần thì chúng ta xâu xé nhau đến mức nào?”
Nhiều người nuốt gan cóc để chữa bệnh ung thư
Saturday, June 20, 2009

Một bệnh nhân ở tỉnh Quảng Bình đang biểu diễn nuốt 20 bộ gan cóc để chữa bệnh ung thư. Hình: NTNN
HÀ NỘI - Ăn nhầm một chút xíu là đủ toi mạng, nhưng nhiều người ở Việt Nam đang nuốt hàng chục bộ gan cóc, mật cóc hay cả da cóc mà không chết. Không những vậy, họ còn thấy hết được bệnh ung thư mà bệnh viện trả về cho đợi chết, một điều chưa hề được nói đến trong y học.
Theo một số báo ở trong nước, hiện chuyện nuốt sống gan, trứng cóc để chữa bệnh đang được loan truyền tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam như một diễn biến đáng chú ý.
Hàng năm, thỉnh thoảng người ta lại thấy báo chí ở Việt Nam loan tin một gia đình hay một số người nghèo chết vì ngộ độc cháo cóc, hay các món ăn khác làm bằng thịt cóc. Chỉ cần dính một chút mật cóc, da cóc, trứng cóc, mỡ cóc là đủ chết vì độc tố cực mạnh trong các phần này của con cóc.
Trước đây, người ta thấy có những người chuyên làm món ruốc cóc để bán như một món ăn và để chữa một số chứng bệnh, nhưng chỉ làm toàn bằng thịt cóc và các bộ phận có độc tố cao của con cóc đều được loại bỏ.
Một số bệnh nhân ung thư ở những ngày cuối đời thuộc các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình và cả người ở Hải Phòng, đã không thấy chết mà còn thấy các triệu chứng của bệnh ung thư giảm dần đến khỏi bệnh nhờ chữa bệnh bằng một phương thuốc chưa bao giờ được nói đến trước đây.
Chuyện bắt đầu bằng việc ăn mật và gan cóc để tự tử của ông Mai Xuân Khởi ở xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình.
Theo bài viết trên tờ Nông Thôn Ngày Nay 4 Tháng Sáu 2009, ông Khởi, 54 tuổi, “Vì không thể chịu đựng được những cơn đau của bệnh ung thư gan giai đoạn cuối” nên đã ăn gan và mật cóc với mong muốn một cái chết nhanh và không đau đớn.
“Ðiều kỳ lạ ông Khởi không chết mà bệnh tình còn thuyên giảm rõ rệt,” báo NTNN kể như vậy và nói “Hiện nay ở Quảng Bình nhiều người đang tự chữa bệnh ung thư bằng cách ăn gan, mật cóc như ông Khởi.”
Tờ báo này kể tiếp rằng “Ngày 31 Tháng Năm, chúng tôi tìm đến nhà anh Nguyễn Thanh Lân (37 tuổi, ở thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch), người đã ăn mật, gan và da cóc được hơn một tuần nay.”
Ông Nguyễn Thanh Lâm - chú ruột anh Lân đang làm thịt cóc ở giếng kể: Ðầu năm nay, thấy đau ở bụng, anh Lân đi khám và phát hiện một khối u ở bụng. Gia đình đưa anh đi bệnh viện K., bác sĩ cho biết bệnh ung thư gan đã đến thời kỳ di căn. Trở về nhà trong thất vọng, gia đình cũng chỉ biết nhìn anh Lân vật vã trong những cơn đau xé lòng. Tình cờ, có người mách câu chuyện của ông Khởi ở Quảng Sơn, gia đình anh Lân đã tìm gặp ông Khởi.
Ông Khởi cho biết mỗi ngày ông ăn từ 15-20 bộ gan, mật và da cóc. Khoảng 4 tháng sau ông quay lại bệnh viện siêu âm, kết quả thật không ngờ, khối u trong người ông đã nhỏ đi rất nhiều. Theo lời ông Khởi, kể từ khi ăn cóc sống, ông thấy người khá hẳn lên, không còn đau, bụng không chướng to thêm. Bây giờ, hàng ngày ông Khởi có thể làm việc đồng áng bình thường, nhưng ông cũng không quên khuyến cáo gia đình anh Lân, chỉ nên sử dụng “phương thuốc” khi đã “không cần sống” nữa.
Ngày 22 Tháng Năm, anh Lân đã nuốt 3 cái mật cóc trong sự nín thở của cả gia đình (người bình thường chỉ nuốt 1 cái mật cóc là tử vong). Và thật không ngờ, cũng như ông Khởi, anh Lân đã không chết do chất kịch độc của cóc mà còn không thấy đau bụng nữa. Một tuần trôi qua, anh Lân đã nuốt tổng cộng 150 bộ gan, mật cóc, trung bình mỗi ngày nuốt 20 bộ.
Từ chỗ nằm liệt giường, chờ chết, anh Lân đỡ dần sau mỗi ngày và bây giờ đã ra khỏi giường để trò chuyện với chúng tôi. Cũng đã đến giờ “uống thuốc”, ông Lâm đưa 20 bộ mật, gan cóc vừa mới mổ cho anh Lân và trước sự chứng kiến của chúng tôi, anh Lân đã lần lượt nuốt hết. Anh Lân cho biết, bây giờ bụng anh đã không còn chướng thêm, những con đau đã hết.
Thận trọng hơn anh Lân, chị Hồ Thị Hồng, một bệnh nhân ung thư vú ở phường Bắc Lý (Ðồng Hới) lại dùng biện pháp đốt cháy toàn bộ con cóc thành than sau đó mới dùng. Chị Hồng cho biết, sau khi đi “tia” 3 lần chị mới bắt đầu biết và dùng tới “thuốc cóc”. Thường thì những người đã từng chạy hóa chất, nước da thường rất xấu, người mệt mỏi nhưng chị thì không cảm thấy như vậy nhờ uống “thuốc cóc”.
Theo ông Khởi, hiện có rất nhiều người bệnh ung thư tìm đến hỏi ông về “phương thuốc”, tuy nhiên ông chỉ kể câu chuyện của bản thân ông mà không dám khuyên họ dùng. Ông Khởi cũng mong muốn các nhà khoa học nên vào cuộc để “lý giải” vấn đề trên.
Theo tờ Tiền Phong ngày 20 Tháng Sáu 2009 “tại Thanh Hóa cũng xuất hiện nhiều người bị bệnh ung thư lấy gan, mật cóc nuốt với mong muốn kéo dài sự sống.”
Cụ thể như trường hợp Lê Duy Chiến (39 tuổi), quê xã Hoằng Anh, huyện Hoằng Hóa.
Ðược biết, anh Chiến bị ung thư gan giai đoạn cuối, sau khi đọc thông tin trên báo chí, gia đình anh tìm bắt và mua rất nhiều cóc làm thịt lấy gan, mật cóc cho anh Chiến nuốt dần.
Ðến nay, anh Chiến nuốt gan, mật cóc được chín ngày, trung bình một ngày nuốt từ 15 đến 20 bộ, chia làm hai lần trước mỗi bữa ăn. Anh Chiến nói: “Sau khi nuốt mật, gan cóc thì bệnh trong người tôi có vẻ thuyên giảm. Các cơn sốt, ho giảm dần”.
Anh Ðỗ Mạnh Tiến, ở thị trấn Tào Xuyên, huyện Hoằng Hóa, bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối cũng nuốt mật, gan cóc sau khi đọc thông tin trên báo chí. Ngành y tế Thanh Hóa khuyến cáo những người bị ung thư không nên nuốt mật, gan cóc vì chưa có cơ sở khoa học để chứng minh những thành phần trên có thể trị được bệnh, trong khi nó là thành phần có nhiều độc tố.”
Theo bản tin tờ CAND, “hai anh em Bùi Văn Thám, Bùi Văn Kỳ, trú thôn Cao Hải, Tân Niên, Vĩnh Bảo, Hải Phòng đã vào tận Quảng Bình đến một số gia đình đã dùng gan, mật cóc chữa bệnh để tìm hiểu. Sau khi trở lại Hải Phòng, các anh đã sử dụng gan, mật cóc chữa bệnh cho bố đẻ của mình.”
Ðiện thoại cho phóng viên, anh Bùi Văn Thám vui mừng cho biết: Bố anh (cụ Bùi Văn Thỏa, 71 tuổi) từ đầu năm đã phát bệnh và đưa đi nhiều bệnh viện để khám, kết luận bị ung thư phổi di căn sang ruột. Hằng ngày, cụ đau nhiều, cứ 4-5 giờ đồng hồ là phải tiêm, cho uống thuốc giảm đau. 13giờ 30 ngày 10 Tháng Sáu, anh Thám làm một con cóc lấy bộ gan, mật cho bố uống. Sau khoảng 2 giờ đồng hồ, cụ Thỏa nói có cảm giác nóng trong vùng ổ bụng và cứ lâng lâng như được uống thuốc ngủ và cơn đau giảm. Sau 7 giờ đồng hồ thì anh Thám mới phải dùng thuốc giảm đau cho cụ.
Vào sáng 11 Tháng Sáu, cụ Thỏa được các con cho nuốt 2 bộ gan, mật, riêng 2 bộ da thì cho vào lò vi sóng đốt thành than nghiền ra cho uống. Theo anh Thám cho biết thì sau khi cho nuốt gan, mật và uống da đã đốt, cụ Thỏa giảm đau nên không còn phải tiêm thuốc giảm đau.
Ngoài ra, còn có anh H.T.V. ở T.P. Ðồng Hới bị ung thư đã di căn khắp cơ thể, hai ngày qua gia đình bệnh nhân đã cho anh V. ăn mật, gan cóc sống để chữa bệnh và đã cắt được cơn đau...
Saturday, June 20, 2009

Một bệnh nhân ở tỉnh Quảng Bình đang biểu diễn nuốt 20 bộ gan cóc để chữa bệnh ung thư. Hình: NTNN
HÀ NỘI - Ăn nhầm một chút xíu là đủ toi mạng, nhưng nhiều người ở Việt Nam đang nuốt hàng chục bộ gan cóc, mật cóc hay cả da cóc mà không chết. Không những vậy, họ còn thấy hết được bệnh ung thư mà bệnh viện trả về cho đợi chết, một điều chưa hề được nói đến trong y học.
Theo một số báo ở trong nước, hiện chuyện nuốt sống gan, trứng cóc để chữa bệnh đang được loan truyền tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam như một diễn biến đáng chú ý.
Hàng năm, thỉnh thoảng người ta lại thấy báo chí ở Việt Nam loan tin một gia đình hay một số người nghèo chết vì ngộ độc cháo cóc, hay các món ăn khác làm bằng thịt cóc. Chỉ cần dính một chút mật cóc, da cóc, trứng cóc, mỡ cóc là đủ chết vì độc tố cực mạnh trong các phần này của con cóc.
Trước đây, người ta thấy có những người chuyên làm món ruốc cóc để bán như một món ăn và để chữa một số chứng bệnh, nhưng chỉ làm toàn bằng thịt cóc và các bộ phận có độc tố cao của con cóc đều được loại bỏ.
Một số bệnh nhân ung thư ở những ngày cuối đời thuộc các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình và cả người ở Hải Phòng, đã không thấy chết mà còn thấy các triệu chứng của bệnh ung thư giảm dần đến khỏi bệnh nhờ chữa bệnh bằng một phương thuốc chưa bao giờ được nói đến trước đây.
Chuyện bắt đầu bằng việc ăn mật và gan cóc để tự tử của ông Mai Xuân Khởi ở xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình.
Theo bài viết trên tờ Nông Thôn Ngày Nay 4 Tháng Sáu 2009, ông Khởi, 54 tuổi, “Vì không thể chịu đựng được những cơn đau của bệnh ung thư gan giai đoạn cuối” nên đã ăn gan và mật cóc với mong muốn một cái chết nhanh và không đau đớn.
“Ðiều kỳ lạ ông Khởi không chết mà bệnh tình còn thuyên giảm rõ rệt,” báo NTNN kể như vậy và nói “Hiện nay ở Quảng Bình nhiều người đang tự chữa bệnh ung thư bằng cách ăn gan, mật cóc như ông Khởi.”
Tờ báo này kể tiếp rằng “Ngày 31 Tháng Năm, chúng tôi tìm đến nhà anh Nguyễn Thanh Lân (37 tuổi, ở thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch), người đã ăn mật, gan và da cóc được hơn một tuần nay.”
Ông Nguyễn Thanh Lâm - chú ruột anh Lân đang làm thịt cóc ở giếng kể: Ðầu năm nay, thấy đau ở bụng, anh Lân đi khám và phát hiện một khối u ở bụng. Gia đình đưa anh đi bệnh viện K., bác sĩ cho biết bệnh ung thư gan đã đến thời kỳ di căn. Trở về nhà trong thất vọng, gia đình cũng chỉ biết nhìn anh Lân vật vã trong những cơn đau xé lòng. Tình cờ, có người mách câu chuyện của ông Khởi ở Quảng Sơn, gia đình anh Lân đã tìm gặp ông Khởi.
Ông Khởi cho biết mỗi ngày ông ăn từ 15-20 bộ gan, mật và da cóc. Khoảng 4 tháng sau ông quay lại bệnh viện siêu âm, kết quả thật không ngờ, khối u trong người ông đã nhỏ đi rất nhiều. Theo lời ông Khởi, kể từ khi ăn cóc sống, ông thấy người khá hẳn lên, không còn đau, bụng không chướng to thêm. Bây giờ, hàng ngày ông Khởi có thể làm việc đồng áng bình thường, nhưng ông cũng không quên khuyến cáo gia đình anh Lân, chỉ nên sử dụng “phương thuốc” khi đã “không cần sống” nữa.
Ngày 22 Tháng Năm, anh Lân đã nuốt 3 cái mật cóc trong sự nín thở của cả gia đình (người bình thường chỉ nuốt 1 cái mật cóc là tử vong). Và thật không ngờ, cũng như ông Khởi, anh Lân đã không chết do chất kịch độc của cóc mà còn không thấy đau bụng nữa. Một tuần trôi qua, anh Lân đã nuốt tổng cộng 150 bộ gan, mật cóc, trung bình mỗi ngày nuốt 20 bộ.
Từ chỗ nằm liệt giường, chờ chết, anh Lân đỡ dần sau mỗi ngày và bây giờ đã ra khỏi giường để trò chuyện với chúng tôi. Cũng đã đến giờ “uống thuốc”, ông Lâm đưa 20 bộ mật, gan cóc vừa mới mổ cho anh Lân và trước sự chứng kiến của chúng tôi, anh Lân đã lần lượt nuốt hết. Anh Lân cho biết, bây giờ bụng anh đã không còn chướng thêm, những con đau đã hết.
Thận trọng hơn anh Lân, chị Hồ Thị Hồng, một bệnh nhân ung thư vú ở phường Bắc Lý (Ðồng Hới) lại dùng biện pháp đốt cháy toàn bộ con cóc thành than sau đó mới dùng. Chị Hồng cho biết, sau khi đi “tia” 3 lần chị mới bắt đầu biết và dùng tới “thuốc cóc”. Thường thì những người đã từng chạy hóa chất, nước da thường rất xấu, người mệt mỏi nhưng chị thì không cảm thấy như vậy nhờ uống “thuốc cóc”.
Theo ông Khởi, hiện có rất nhiều người bệnh ung thư tìm đến hỏi ông về “phương thuốc”, tuy nhiên ông chỉ kể câu chuyện của bản thân ông mà không dám khuyên họ dùng. Ông Khởi cũng mong muốn các nhà khoa học nên vào cuộc để “lý giải” vấn đề trên.
Theo tờ Tiền Phong ngày 20 Tháng Sáu 2009 “tại Thanh Hóa cũng xuất hiện nhiều người bị bệnh ung thư lấy gan, mật cóc nuốt với mong muốn kéo dài sự sống.”
Cụ thể như trường hợp Lê Duy Chiến (39 tuổi), quê xã Hoằng Anh, huyện Hoằng Hóa.
Ðược biết, anh Chiến bị ung thư gan giai đoạn cuối, sau khi đọc thông tin trên báo chí, gia đình anh tìm bắt và mua rất nhiều cóc làm thịt lấy gan, mật cóc cho anh Chiến nuốt dần.
Ðến nay, anh Chiến nuốt gan, mật cóc được chín ngày, trung bình một ngày nuốt từ 15 đến 20 bộ, chia làm hai lần trước mỗi bữa ăn. Anh Chiến nói: “Sau khi nuốt mật, gan cóc thì bệnh trong người tôi có vẻ thuyên giảm. Các cơn sốt, ho giảm dần”.
Anh Ðỗ Mạnh Tiến, ở thị trấn Tào Xuyên, huyện Hoằng Hóa, bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối cũng nuốt mật, gan cóc sau khi đọc thông tin trên báo chí. Ngành y tế Thanh Hóa khuyến cáo những người bị ung thư không nên nuốt mật, gan cóc vì chưa có cơ sở khoa học để chứng minh những thành phần trên có thể trị được bệnh, trong khi nó là thành phần có nhiều độc tố.”
Theo bản tin tờ CAND, “hai anh em Bùi Văn Thám, Bùi Văn Kỳ, trú thôn Cao Hải, Tân Niên, Vĩnh Bảo, Hải Phòng đã vào tận Quảng Bình đến một số gia đình đã dùng gan, mật cóc chữa bệnh để tìm hiểu. Sau khi trở lại Hải Phòng, các anh đã sử dụng gan, mật cóc chữa bệnh cho bố đẻ của mình.”
Ðiện thoại cho phóng viên, anh Bùi Văn Thám vui mừng cho biết: Bố anh (cụ Bùi Văn Thỏa, 71 tuổi) từ đầu năm đã phát bệnh và đưa đi nhiều bệnh viện để khám, kết luận bị ung thư phổi di căn sang ruột. Hằng ngày, cụ đau nhiều, cứ 4-5 giờ đồng hồ là phải tiêm, cho uống thuốc giảm đau. 13giờ 30 ngày 10 Tháng Sáu, anh Thám làm một con cóc lấy bộ gan, mật cho bố uống. Sau khoảng 2 giờ đồng hồ, cụ Thỏa nói có cảm giác nóng trong vùng ổ bụng và cứ lâng lâng như được uống thuốc ngủ và cơn đau giảm. Sau 7 giờ đồng hồ thì anh Thám mới phải dùng thuốc giảm đau cho cụ.
Vào sáng 11 Tháng Sáu, cụ Thỏa được các con cho nuốt 2 bộ gan, mật, riêng 2 bộ da thì cho vào lò vi sóng đốt thành than nghiền ra cho uống. Theo anh Thám cho biết thì sau khi cho nuốt gan, mật và uống da đã đốt, cụ Thỏa giảm đau nên không còn phải tiêm thuốc giảm đau.
Ngoài ra, còn có anh H.T.V. ở T.P. Ðồng Hới bị ung thư đã di căn khắp cơ thể, hai ngày qua gia đình bệnh nhân đã cho anh V. ăn mật, gan cóc sống để chữa bệnh và đã cắt được cơn đau...
Chuyện vỉa hè: Dân Chủ Cho Ai?
Sunday, June 21, 2009
Akavn (Thành viên X-cafe) Lời Tòa Soạn: Vụ công an CSVN bắt Luật Sư Lê Công Ðịnh tại Sài Gòn hôm 13 Tháng Sáu gây xôn xao dư luận cả trong lần ngoài nước, đặc biệt là đối với những người yêu chuộng tự do và dân chủ. Nhiều quốc gia, tổ chức và cá nhân ngay sau đó đã lên tiếng phản đối nhà cầm quyền Việt Nam và đòi trả tự do ngay lập tức cho Lê Công Ðịnh. Tuy nhiên, tại Việt Nam có một tầng lớp “trí thức” chấp nhận cúi đầu trước bạo quyền chỉ vì “miếng cơm manh áo”, khiến cho một trí thức và cũng là thành viên của diễn đàn X-Cafe phải thốt lên rằng “chúng ta đang làm dân chủ cho ai?”
***
Tôi là một trí thức sống giữa lòng Hà Nội, mắt thấy, tai nghe tất cả những diễn biến chính trị đặc biệt là vụ bắt Luật Sư Ðịnh vừa rồi.
Bài viết này không phải để ca ngợi hay phản đối bên nào. Viết chỉ để nói lên một thực trạng, và giãi bày một vài thắc mắc.
Khi anh Ðịnh bị bắt, tôi lên tiếng bênh vực anh trên blog cá nhân, sau đó có tranh luận với một số bạn bè thân thiết, những người bình thường vẫn coi nhau như anh em trong cuộc sống.
Họ nói rằng những người như họ không cần cái dân chủ mà anh Ðịnh đang đấu tranh. Cái họ cần là yên ổn để làm ăn!
Ðó là những người bạn tôi, họ cũng là trí thức, và tôi hiểu, họ chính là đại diện cho tầng lớp trí thức đông đảo nhất tại Hà Nội.
Một người nói, chúng mày đấu tranh giành dân chủ để làm gì? Cho ai? Cho nhân dân à? Thế thì trong đó không có tao, tao không cần chúng mày đấu tranh gì cho tao hết.
Một người khác nói, trong đó cũng không có tao!
Và nếu có hỏi ngươi thứ ba, thứ tư, chắc chắn họ cũng trả lời như vậy!
Vậy ta đấu tranh dân chủ cho ai?
1. Cho người nông dân nghèo khổ? Người ngư dân lam lũ? Họ có biết dân chủ là cái gì đâu? Họ chỉ cần cho tiền, cho thóc gạo, mì tôm là họ sướng. Bảo đấu tranh dân chủ cho họ họ có cám ơn không hay còn chửi chúng ta là phản động!
2. Cho tầng lớp trí thức? Báo chí? Những con người được học hành có hiểu biết nhưng bị bóp nghẹt tư tưởng, không có tự do ngôn luận? Thì đấy, họ trả lời là họ đâu có cần, với họ sống và tuân thủ đúng pháp luật đấy là tự do, là dân chủ. Cái họ cần là môi trường ổn định để họ kiếm tiền, nuôi vợ, nuôi con.
3. Vậy chẳng nhẽ cho chính chúng ta, những con người với một nỗi “khát” dân chủ cháy bỏng? Vậy ra chúng ta làm dân chủ vì mục đích cá nhân hay sao?
Vậy dân chủ là dành cho ai?
Nhưng mà đấy, đó là thực trạng của cuộc sống xung quanh tôi. Nó giống như một cái ao bèo phẳng lặng và anh Ðịnh chỉ như một cục đá ném xuống cái tõm. Những lá bèo còn chửi “tổ sư thằng nào ném đá” làm mất giấc ngủ bình yên.
Sunday, June 21, 2009
Akavn (Thành viên X-cafe) Lời Tòa Soạn: Vụ công an CSVN bắt Luật Sư Lê Công Ðịnh tại Sài Gòn hôm 13 Tháng Sáu gây xôn xao dư luận cả trong lần ngoài nước, đặc biệt là đối với những người yêu chuộng tự do và dân chủ. Nhiều quốc gia, tổ chức và cá nhân ngay sau đó đã lên tiếng phản đối nhà cầm quyền Việt Nam và đòi trả tự do ngay lập tức cho Lê Công Ðịnh. Tuy nhiên, tại Việt Nam có một tầng lớp “trí thức” chấp nhận cúi đầu trước bạo quyền chỉ vì “miếng cơm manh áo”, khiến cho một trí thức và cũng là thành viên của diễn đàn X-Cafe phải thốt lên rằng “chúng ta đang làm dân chủ cho ai?”
***
Tôi là một trí thức sống giữa lòng Hà Nội, mắt thấy, tai nghe tất cả những diễn biến chính trị đặc biệt là vụ bắt Luật Sư Ðịnh vừa rồi.
Bài viết này không phải để ca ngợi hay phản đối bên nào. Viết chỉ để nói lên một thực trạng, và giãi bày một vài thắc mắc.
Khi anh Ðịnh bị bắt, tôi lên tiếng bênh vực anh trên blog cá nhân, sau đó có tranh luận với một số bạn bè thân thiết, những người bình thường vẫn coi nhau như anh em trong cuộc sống.
Họ nói rằng những người như họ không cần cái dân chủ mà anh Ðịnh đang đấu tranh. Cái họ cần là yên ổn để làm ăn!
Ðó là những người bạn tôi, họ cũng là trí thức, và tôi hiểu, họ chính là đại diện cho tầng lớp trí thức đông đảo nhất tại Hà Nội.
Một người nói, chúng mày đấu tranh giành dân chủ để làm gì? Cho ai? Cho nhân dân à? Thế thì trong đó không có tao, tao không cần chúng mày đấu tranh gì cho tao hết.
Một người khác nói, trong đó cũng không có tao!
Và nếu có hỏi ngươi thứ ba, thứ tư, chắc chắn họ cũng trả lời như vậy!
Vậy ta đấu tranh dân chủ cho ai?
1. Cho người nông dân nghèo khổ? Người ngư dân lam lũ? Họ có biết dân chủ là cái gì đâu? Họ chỉ cần cho tiền, cho thóc gạo, mì tôm là họ sướng. Bảo đấu tranh dân chủ cho họ họ có cám ơn không hay còn chửi chúng ta là phản động!
2. Cho tầng lớp trí thức? Báo chí? Những con người được học hành có hiểu biết nhưng bị bóp nghẹt tư tưởng, không có tự do ngôn luận? Thì đấy, họ trả lời là họ đâu có cần, với họ sống và tuân thủ đúng pháp luật đấy là tự do, là dân chủ. Cái họ cần là môi trường ổn định để họ kiếm tiền, nuôi vợ, nuôi con.
3. Vậy chẳng nhẽ cho chính chúng ta, những con người với một nỗi “khát” dân chủ cháy bỏng? Vậy ra chúng ta làm dân chủ vì mục đích cá nhân hay sao?
Vậy dân chủ là dành cho ai?
Nhưng mà đấy, đó là thực trạng của cuộc sống xung quanh tôi. Nó giống như một cái ao bèo phẳng lặng và anh Ðịnh chỉ như một cục đá ném xuống cái tõm. Những lá bèo còn chửi “tổ sư thằng nào ném đá” làm mất giấc ngủ bình yên.
Liên Âu phản đối CSVN bắt giam LS Lê Công Ðịnh
Monday, June 22, 2009

Luật Sư Lê Công Ðịnh (Hình: AP). HÀ NỘI (TH).- Liên Âu ra thông cáo báo chí cho hay họ đã phản đối CSVN về việc bắt giam và vu cho Luật Sư Lê Công Ðịnh tội “tuyên truyền chống nhà nước CSVN”.
“Trưởng sứ bộ Liên Âu ở Việt Nam bày tỏ sự quan tâm sâu xa về việc bắt giữ ông Lê Công Ðịnh và việc ngăn cấm ông cái quyền tự do diễn đạt một cách ôn hòa”.
Bản thông cáo báo chí của trưởng sứ bộ Liên Âu phổ biến ngày 22 Tháng Sáu 2009 cho hay như vậy từ đại sứ quán Cộng Hòa Czech, nước đang làm chủ tịch luân phiên Hội Ðồng Âu Châu. Các sứ quán các nước trong khối Liên Âu cũng đã phản ứng phẫn nộ về việc bắt giữ L.S Ðịnh khi họ có cuộc đối thoại nhân quyền với chế độ Hà Nội ngày 16 Tháng Sáu 09.
“Họ rất âu lo về các điều kiện, theo đó, ông đã bị giam giữ mà không được tham vấn của một luật sư, cũng như thấy phát bản tin trên đài truyền hình và báo chí kèm theo đoạn video 3 phút nói rằng ông Ðịnh đọc lời thú tội”. Bản thông cáo báo chí viết.
Bản thông cáo báo chí của EU cho hay họ thường xuyên có các đối thoại về nhân quyền với Việt Nam. Họ hoan nghênh những cải thiện đáng kể về tình trạng kinh tế và xã hội của người dân. Nhưng vẫn còn những quan ngại nghiêm trọng qua những diễn biến xảy ra gần đây trong lãnh vực quyền dân sự và chính trị, đặc biệt là quyền tự do diễn đạt. EU tin chắc rằng sự tự do thông tin và chia sẻ các ý tưởng (khác nhau) là cốt lõi cho sự phát triển lâu dài và bền vững cho xã hội Việt Nam”.
Cuối cùng, bản thông cáo viết, “Trưởng sứ bộ EU lập lại lời kêu gọi nhà cầm quyền CSVN trả tự do nhanh chóng cho ông Ðịnh và tất cả những người đã bị bỏ tù chỉ vì thực hành sự tự do diễn đạt một cách ôn hòa”.
Các ngày 15 và ngày 16 Tháng Sáu 09 vừa qua, tòa đại sứ Mỹ rồi Bộ Ngoại Giao Mỹ đã lên tiếng đả kích mạnh mẽ chế độ Hà Nội bắt giam L.S Lê Công Ðịnh hôm 13 Tháng Sáu 09.
Ngày 15 Tháng Sáu 09, hệ thống truyền hình CSVN chiếu đoạn video 3 phút và một số báo viết tường thuật cuộc họp báo của 2 tướng công an Vũ Hải Triều và Hoàng Kông Tư có kèm theo video clip này. Trong đó, ông Ðịnh đọc một phần của bản thú tội là đã chống lại nhà nước và vi phạm pháp luật CSVN.
Ông Ðịnh, cũng như tất cả các vụ án khác, đều không được tiếp cận một luật sư để bênh vực cho ông ngay từ đầu. Người ta chỉ thấy công an CSVN đã dàn dựng để mọi người nhìn ông như một tội phạm. Tuy nhiên theo thông lệ luật pháp quốc tế, những gì gọi là “nhìn nhận tội lỗi” bằng lời nói hay bằng chữ viết khi đang trong vòng tay uy hiếp của công an đều được coi là vô giá trị. Những lời nói hay chữ viết đó đều xảy ra do áp lực của công an. Nhìn vào đoạn chữ viết tay phổ biến trên báo như chứng cứ “thú tội”, người ta thấy rõ có đoạn do công An đánh dấu bằng màu mực khác, cho hiểu đoạn quan trọng đó ông Ðịnh bắt buộc phải đọc, không được thiếu sót.
Nhiều người từng ở tù CSVN cho hay bản “thú tội” hay “xin khoan hồng” mà bị cáo, bị can viết trên giấy hay đọc đều là văn bản do công an CSVN đọc từng câu từng chữ, không được phép khác đi hay tự ý soạn thảo.
Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế như Ân Xá Quốc Tế, Hội Ký Giả Không Biên Giới, Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền, Văn Bút Quốc Tế đều mạnh mẽ đả kích chế độ Hà Nội. Hiệp Hội Luật Sư Quốc Tế với 30,000 hội viên trên thế giới, Hiệp Hội Luật Sư Ðông Nam Á cũng đã bày tỏ sự phẫn nộ về việc bắt luật sư nhân quyền Lê Công Ðịnh.
Phản ứng lại với dư luận quốc tế, chế độ Hà nội vẫn nói rằng không bỏ hay sửa đổi điều 88 của Luật Hình Sự dù cả thế giới thấy điều khoản này đi ngược với chính bản Hiến Pháp của chế độ và ngược với Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà chế độ Hà Nội đã đặt bút cam kết tuân theo.
Báo chí CSVN tường thuật cuộc họp báo của 2 tướng công an nói trên nói LS Ðịnh đã “tham dự khóa huấn luyện” về lật đổ chế độ CSVN ở Thái Lan do Việt Tân tổ chức, cũng như liên quan đến đảng Nhân Dân Hành Ðộng và Ðảng Dân Chủ và một số tổ chức vận động dân chủ hóa ở hải ngoại.
Tổ chức Việt Tân đã phản bác rằng họ không hề tổ chức huấn luyện ở Thái Lan. Những người liên quan với các tổ chức khác cũng phản bác lại sự vu khống của Hà Nội.
Ngày 18 Tháng Sáu 09, hãng thông tấn chính thức CSVN nói Tổng Cục An Ninh của chế độ đã mời phó đại sứ Mỹ đến để được trình bày cho thấy các tài liệu chứng minh L.S Ðịnh “vi phạm pháp luật” và chỉ trích Mỹ “can thiệp vào nội bộ Việt Nam”. Nhưng bản tin này không cho thấy phản ứng của bà Virginia Palmer ra sao, bà nói gì không ai biết, ngoài luận điệu thông tin một chiều để tuyên truyền.
Những diễn biến người ta thấy qua video hay qua các bản tin báo chí CSVN về việc bắt giam L.S Ðịnh cho thấy nhà cầm quyền Hà nội hoàn toàn vi phạm luật lệ về nguyên tắc tố tụng hình sự. Khi bào chữa cho hai Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân trong phiên tòa phúc thẩm 27 Tháng Mười Một 2007, L.S Lê công Ðịnh đã minh chứng rõ trong phiên xử như vậy. Ðến nay, chính ông lại là nạn nhân.
*Trang web kêu gọi trả tự do cho LS Lê Công Định: www.freelecongdinh.com
Monday, June 22, 2009

Luật Sư Lê Công Ðịnh (Hình: AP). HÀ NỘI (TH).- Liên Âu ra thông cáo báo chí cho hay họ đã phản đối CSVN về việc bắt giam và vu cho Luật Sư Lê Công Ðịnh tội “tuyên truyền chống nhà nước CSVN”.
“Trưởng sứ bộ Liên Âu ở Việt Nam bày tỏ sự quan tâm sâu xa về việc bắt giữ ông Lê Công Ðịnh và việc ngăn cấm ông cái quyền tự do diễn đạt một cách ôn hòa”.
Bản thông cáo báo chí của trưởng sứ bộ Liên Âu phổ biến ngày 22 Tháng Sáu 2009 cho hay như vậy từ đại sứ quán Cộng Hòa Czech, nước đang làm chủ tịch luân phiên Hội Ðồng Âu Châu. Các sứ quán các nước trong khối Liên Âu cũng đã phản ứng phẫn nộ về việc bắt giữ L.S Ðịnh khi họ có cuộc đối thoại nhân quyền với chế độ Hà Nội ngày 16 Tháng Sáu 09.
“Họ rất âu lo về các điều kiện, theo đó, ông đã bị giam giữ mà không được tham vấn của một luật sư, cũng như thấy phát bản tin trên đài truyền hình và báo chí kèm theo đoạn video 3 phút nói rằng ông Ðịnh đọc lời thú tội”. Bản thông cáo báo chí viết.
Bản thông cáo báo chí của EU cho hay họ thường xuyên có các đối thoại về nhân quyền với Việt Nam. Họ hoan nghênh những cải thiện đáng kể về tình trạng kinh tế và xã hội của người dân. Nhưng vẫn còn những quan ngại nghiêm trọng qua những diễn biến xảy ra gần đây trong lãnh vực quyền dân sự và chính trị, đặc biệt là quyền tự do diễn đạt. EU tin chắc rằng sự tự do thông tin và chia sẻ các ý tưởng (khác nhau) là cốt lõi cho sự phát triển lâu dài và bền vững cho xã hội Việt Nam”.
Cuối cùng, bản thông cáo viết, “Trưởng sứ bộ EU lập lại lời kêu gọi nhà cầm quyền CSVN trả tự do nhanh chóng cho ông Ðịnh và tất cả những người đã bị bỏ tù chỉ vì thực hành sự tự do diễn đạt một cách ôn hòa”.
Các ngày 15 và ngày 16 Tháng Sáu 09 vừa qua, tòa đại sứ Mỹ rồi Bộ Ngoại Giao Mỹ đã lên tiếng đả kích mạnh mẽ chế độ Hà Nội bắt giam L.S Lê Công Ðịnh hôm 13 Tháng Sáu 09.
Ngày 15 Tháng Sáu 09, hệ thống truyền hình CSVN chiếu đoạn video 3 phút và một số báo viết tường thuật cuộc họp báo của 2 tướng công an Vũ Hải Triều và Hoàng Kông Tư có kèm theo video clip này. Trong đó, ông Ðịnh đọc một phần của bản thú tội là đã chống lại nhà nước và vi phạm pháp luật CSVN.
Ông Ðịnh, cũng như tất cả các vụ án khác, đều không được tiếp cận một luật sư để bênh vực cho ông ngay từ đầu. Người ta chỉ thấy công an CSVN đã dàn dựng để mọi người nhìn ông như một tội phạm. Tuy nhiên theo thông lệ luật pháp quốc tế, những gì gọi là “nhìn nhận tội lỗi” bằng lời nói hay bằng chữ viết khi đang trong vòng tay uy hiếp của công an đều được coi là vô giá trị. Những lời nói hay chữ viết đó đều xảy ra do áp lực của công an. Nhìn vào đoạn chữ viết tay phổ biến trên báo như chứng cứ “thú tội”, người ta thấy rõ có đoạn do công An đánh dấu bằng màu mực khác, cho hiểu đoạn quan trọng đó ông Ðịnh bắt buộc phải đọc, không được thiếu sót.
Nhiều người từng ở tù CSVN cho hay bản “thú tội” hay “xin khoan hồng” mà bị cáo, bị can viết trên giấy hay đọc đều là văn bản do công an CSVN đọc từng câu từng chữ, không được phép khác đi hay tự ý soạn thảo.
Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế như Ân Xá Quốc Tế, Hội Ký Giả Không Biên Giới, Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền, Văn Bút Quốc Tế đều mạnh mẽ đả kích chế độ Hà Nội. Hiệp Hội Luật Sư Quốc Tế với 30,000 hội viên trên thế giới, Hiệp Hội Luật Sư Ðông Nam Á cũng đã bày tỏ sự phẫn nộ về việc bắt luật sư nhân quyền Lê Công Ðịnh.
Phản ứng lại với dư luận quốc tế, chế độ Hà nội vẫn nói rằng không bỏ hay sửa đổi điều 88 của Luật Hình Sự dù cả thế giới thấy điều khoản này đi ngược với chính bản Hiến Pháp của chế độ và ngược với Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà chế độ Hà Nội đã đặt bút cam kết tuân theo.
Báo chí CSVN tường thuật cuộc họp báo của 2 tướng công an nói trên nói LS Ðịnh đã “tham dự khóa huấn luyện” về lật đổ chế độ CSVN ở Thái Lan do Việt Tân tổ chức, cũng như liên quan đến đảng Nhân Dân Hành Ðộng và Ðảng Dân Chủ và một số tổ chức vận động dân chủ hóa ở hải ngoại.
Tổ chức Việt Tân đã phản bác rằng họ không hề tổ chức huấn luyện ở Thái Lan. Những người liên quan với các tổ chức khác cũng phản bác lại sự vu khống của Hà Nội.
Ngày 18 Tháng Sáu 09, hãng thông tấn chính thức CSVN nói Tổng Cục An Ninh của chế độ đã mời phó đại sứ Mỹ đến để được trình bày cho thấy các tài liệu chứng minh L.S Ðịnh “vi phạm pháp luật” và chỉ trích Mỹ “can thiệp vào nội bộ Việt Nam”. Nhưng bản tin này không cho thấy phản ứng của bà Virginia Palmer ra sao, bà nói gì không ai biết, ngoài luận điệu thông tin một chiều để tuyên truyền.
Những diễn biến người ta thấy qua video hay qua các bản tin báo chí CSVN về việc bắt giam L.S Ðịnh cho thấy nhà cầm quyền Hà nội hoàn toàn vi phạm luật lệ về nguyên tắc tố tụng hình sự. Khi bào chữa cho hai Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân trong phiên tòa phúc thẩm 27 Tháng Mười Một 2007, L.S Lê công Ðịnh đã minh chứng rõ trong phiên xử như vậy. Ðến nay, chính ông lại là nạn nhân.
*Trang web kêu gọi trả tự do cho LS Lê Công Định: www.freelecongdinh.com
Tử tù nhảy lầu tự tử tại tòa
Tuesday, June 23, 2009

Lê Nguyên Trẻ tại phiên tòa sơ thẩm hồi tháng 4, 2009. Hình: NLĐ SÀI GÒN 23-6 (TH) .- “Hôm nay, trong lúc ngồi chờ tới lượt được xét xử phúc thẩm xin giảm nhẹ án tử hình, Lê Nguyên Trẻ, 20 tuổi, bị cáo phạm tội giết người tàn bạo bất ngờ thoát khỏi cảnh sát, phi người lên vòm cửa sổ hành lang từ tầng hai định lao mình xuống sân tự tử”.
Bản tin báo điện tử VNExpress cho hay như vậy hôm Thứ Ba 23/6/2009 và viết tiếp rằng “Ngay lập tức, các cảnh sát tư pháp cũng bật dậy lao theo nhưng không tóm được người này.”
Nguồn tin nói vì “tay Trẻ vẫn bị còng chặt, hai chân mang dép lê, không có độ ma sát vào gờ tường nên cú 'phi thân' bị thất bại” và chỉ trong chốc lát, “đội ngũ cảnh sát, bảo vệ tòa... đã lôi được Lê Nguyên Trẻ ra khỏi thành cửa sổ và thay đổi biện pháp còng chân theo lệnh của chủ tọa”.
Theo nguồn tin “trong suốt thời gian diễn ra phiên xét xử, Trẻ đã được cảnh sát 'chăm sóc đặc biệt'. Các thẩm phán khuyên nhủ rằng dù tại phiên tòa này bị cáo không được giảm án nhưng Trẻ vẫn còn quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước xin tha tội chết.
Cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Trẻ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trả lời HĐXX về lý do xin giảm án, bị cáo này chỉ nói: 'thấy được kháng cáo thì cứ làm đơn xin giảm án thôi'.
Cuối cùng, Lê Nguyên Trẻ bị giữ nguyên bản án tử hình về các tội 'giết người' và 'cướp tài sản'.
VNExpress nói “Theo tòa, hành vi phạm tội của Trẻ là dã man, vô cùng nguy hiểm, coi thường tính mạng của người khác, phạm vào rất nhiều tội nghiêm trọng: 'giết nhiều người', 'giết người sau đó thực hiện một tội nghiêm trọng khác'... nên cần phải xử nghiêm mới có tính răn đe.”
Theo án sơ thẩm, do cần tiền tiêu xài, Lê Nguyên Trẻ nảy sinh ý định giết chị Nguyễn Thị Hiền (22 tuổi) thuê phòng trọ kế bên để cướp tài sản nên đã chuẩn bị dây, găng tay... chờ cơ hội ra tay.
Ngày 9/8/2008, Trẻ vờ đi ngang qua phòng Hiền thì thấy Hiền đang ngồi nói chuyện cùng một người bạn nên bỏ về. Chiều hôm đó, chờ mọi người trong khu nhà trọ đi làm hết, Trẻ tiếp tục lẻn sang phòng Hiền. Tại đây, Trẻ xuống tay sát hại tàn bạo bằng cách cắt cổ nạn nhân rồi xách dao xuống nhà vệ sinh thực hiện tội ác tương tự với cô gái còn lại.
Trước khi bỏ trốn, Trẻ đã lấy đi một số tài sản của các nạn nhân. Ba ngày sau, hung thủ trở về và nhờ người cô gọi công an đến bắt giữ mình.”
Tuesday, June 23, 2009

Lê Nguyên Trẻ tại phiên tòa sơ thẩm hồi tháng 4, 2009. Hình: NLĐ SÀI GÒN 23-6 (TH) .- “Hôm nay, trong lúc ngồi chờ tới lượt được xét xử phúc thẩm xin giảm nhẹ án tử hình, Lê Nguyên Trẻ, 20 tuổi, bị cáo phạm tội giết người tàn bạo bất ngờ thoát khỏi cảnh sát, phi người lên vòm cửa sổ hành lang từ tầng hai định lao mình xuống sân tự tử”.
Bản tin báo điện tử VNExpress cho hay như vậy hôm Thứ Ba 23/6/2009 và viết tiếp rằng “Ngay lập tức, các cảnh sát tư pháp cũng bật dậy lao theo nhưng không tóm được người này.”
Nguồn tin nói vì “tay Trẻ vẫn bị còng chặt, hai chân mang dép lê, không có độ ma sát vào gờ tường nên cú 'phi thân' bị thất bại” và chỉ trong chốc lát, “đội ngũ cảnh sát, bảo vệ tòa... đã lôi được Lê Nguyên Trẻ ra khỏi thành cửa sổ và thay đổi biện pháp còng chân theo lệnh của chủ tọa”.
Theo nguồn tin “trong suốt thời gian diễn ra phiên xét xử, Trẻ đã được cảnh sát 'chăm sóc đặc biệt'. Các thẩm phán khuyên nhủ rằng dù tại phiên tòa này bị cáo không được giảm án nhưng Trẻ vẫn còn quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước xin tha tội chết.
Cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Trẻ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trả lời HĐXX về lý do xin giảm án, bị cáo này chỉ nói: 'thấy được kháng cáo thì cứ làm đơn xin giảm án thôi'.
Cuối cùng, Lê Nguyên Trẻ bị giữ nguyên bản án tử hình về các tội 'giết người' và 'cướp tài sản'.
VNExpress nói “Theo tòa, hành vi phạm tội của Trẻ là dã man, vô cùng nguy hiểm, coi thường tính mạng của người khác, phạm vào rất nhiều tội nghiêm trọng: 'giết nhiều người', 'giết người sau đó thực hiện một tội nghiêm trọng khác'... nên cần phải xử nghiêm mới có tính răn đe.”
Theo án sơ thẩm, do cần tiền tiêu xài, Lê Nguyên Trẻ nảy sinh ý định giết chị Nguyễn Thị Hiền (22 tuổi) thuê phòng trọ kế bên để cướp tài sản nên đã chuẩn bị dây, găng tay... chờ cơ hội ra tay.
Ngày 9/8/2008, Trẻ vờ đi ngang qua phòng Hiền thì thấy Hiền đang ngồi nói chuyện cùng một người bạn nên bỏ về. Chiều hôm đó, chờ mọi người trong khu nhà trọ đi làm hết, Trẻ tiếp tục lẻn sang phòng Hiền. Tại đây, Trẻ xuống tay sát hại tàn bạo bằng cách cắt cổ nạn nhân rồi xách dao xuống nhà vệ sinh thực hiện tội ác tương tự với cô gái còn lại.
Trước khi bỏ trốn, Trẻ đã lấy đi một số tài sản của các nạn nhân. Ba ngày sau, hung thủ trở về và nhờ người cô gọi công an đến bắt giữ mình.”
Nhậu Quán Nghèo,
June Wed 24, 2009

Một thực khách thường xuyên của Quán Nghèo. Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt

Quán Nghèo chuẩn bị đón khách mỗi chiều. Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt

Dân nghèo Sài Gòn chỉ mong có được những bữa nhậu lai rai tươm tất để cùng nhau chia sẻ chuyện thế sự. Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt Phóng sự của Trần Tiến Dũng/Người Việt
Có những buổi chiều Sài Gòn ngột ngạt đến độ ai cũng muốn đi ra phố để hưởng chút gió dù là gió ngập đầy khói bụi. Trong một chiều ồn ào, T., một người bạn cũ thời thanh niên của tôi gọi điện “A lô, bạn mình có muốn làm lai rai không?” Tôi nghe mà trong đầu hình dung ly bia với cục nước đá tổ chảng. Giọng người bạn cũng mát lạnh không kém. “Bữa nay tao bao, không được giành trả tiền đấy nhé.” Ở trường hợp của tôi thì tiếng “ok” qua điện thoại là một thứ đồng thuận 101%.
Với cái điện thoại di động trong túi quần, người Sài Gòn ngày nay hẹn nhau tới bất cứ nơi đâu vẫn không sợ lạc nhau. Với dân nhậu, hiệu quả của cái điện thoại di động là vô cùng to lớn. Có thể nói dù quán nhậu có ở thiên đường hay địa ngục, một khi đã hẹn nhau thì chỉ có bà vợ dữ dằn mới có thể tạm thời gián đoạn những cơn say.
Quán Nghèo
Tin nhắn qua điện thoại của người bạn cho biết là chờ hắn ở góc đường 3 Tháng 2 (Trần Quốc Toản cũ) và Nguyễn Tri Phương. Theo kiến thức ăn nhậu thời kinh tế thị trường của tôi thì khu vực này không có quán nhậu nào ngon. Tôi hình dung là thằng bạn bợm nhậu này chắc là sẽ lôi tôi tới một quán mới khai trương nào đó. Ở Việt Nam, kinh tế càng suy thoái, đời sống càng nặng nề bởi bất công và tham nhũng thì quán nhậu cứ đua nhau mọc lên như nấm rừng sau cơn mưa. Có người nói quán nhậu ở Việt Nam là một quốc gia trong lòng một quốc gia. Vô quán nhậu là cách đến một “xã hội tự do dân chủ” nhanh nhất.
Tôi đứng chờ ở đúng chỗ được chỉ định qua điện thoại. Không lâu T. bạn tôi cũng phóng xe trờ tới. T. mặt vui như trúng số, nói. “Bữa nay tao mời mầy ăn nhà hàng Ðại La Thiên.” Tôi trừng mắt “Thôi đi cha nội, chưa vô ly nào mà đã xạo rồi.” T. cười nói “Bảo đảm bữa nay mầy được nhậu món Tàu chính hiệu do con cháu bếp trưởng nhà hàng Ðại La Thiên trước năm 1975 nấu.”
Cái tửu lầu mà T. nói nằm ở hẻm 343 đường Nguyễn Tri Phương. Muốn vô được tới quán phải đi qua một con hẻm nhỏ tới mức vừa đủ cho một chiếc xe gắn máy chạy một chiều, chỉ khi tới cửa quán, đường hẻm rộng hơn một chút. Thế nên để tránh chuyện hai chiếc xe đụng đầu nhau không nhúc nhích được thì người ta phải bóp kèn inh ỏi để chắc rằng ở phía đối diện không có ai khác giành quyền lưu thông. Dân nhậu gọi quán này là quán nghèo. Và tay chủ quán cũng thấy hãnh diện khi nên nghe theo dân bợm nhậu đặt tên cho quán là: “Quán Nghèo”.
Thực ra quán không có bảng hiệu. Vào mỗi dịp Tết, lễ cần phải nghỉ. Người chủ quán lấy miếng giấy học trò ra viết vài dòng: Quán Nghèo xin thông báo nghỉ Tết từ ngày... đến ngày. Cái thông báo rất lịch sự trên được dán ngay trên tường, ngay vách hẻm, thế là xong. Dân nhậu dù có lỡ đến, có “kêu khóc mấy” cũng phải chịu về nhà nhờ vợ làm mồi mà nhậu.
Quán Nghèo cũng có một thứ quy định bất thành văn khác về chuyện giờ giấc phục vụ. Chủ quán và khách hàng quen thường truyền khẩu nội qui sau đây: Ðể khỏi làm phiền hà hàng xóm, Quán Nghèo mở cửa lúc 4 giờ 30 chiều, dẹp quán lúc 11 giờ 30 tối. Theo nhiều người đáng tin cậy, Quán Nghèo này có cung cách văn hóa còn hơn cả các “địa chỉ” văn hóa được chính quyền dựng cổng chào “hẻm văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “nhà văn hóa”.
Dân nhậu đến Quán nghèo trễ một chút là có quyền đứng đợi. Tuy việc đứng đợi trong hẻm nhỏ có hơi lộn xộn nhưng hoàn toàn trong tư thế trật tự, ai đến trước, có bàn nào tính tiền sẽ được ưu tiên lấy bàn. Tuy chưa được mức xếp hàng văn minh như các điểm bán thức ăn nhanh ở Mỹ và cũng không phải ông chủ quán đủ quyền độc tài ra được một thứ pháp lệnh cho dân thèm ăn thèm nhậu, mà là do nề nếp lâu đời về ăn uống lịch sự của Sài Gòn Chợ Lớn xưa còn xót lại.
Quán Nghèo có chừng 5 cái bàn nhỏ được dân nhậu cho là thuộc hàng thượng hạng, kê ở ngay sát vách tường mấy căn nhà đối diện, khoảng 5 cái bàn khác thì kê ngay trong nhà chủ quán và một căn nhà thuê bên cạnh. Dân nhậu ngồi trong quán hay ngoài hẻm gì cũng nhìn ngắm được ánh đèn màu đỏ rực rỡ tỏa ra từ mấy cái bàn thờ của gia chủ. Chủ quán là người Hoa nên dù nghèo mấy đi nữa thì đèn màu và ảnh thờ, khói hương luôn luôn là thứ rực rỡ nhất.
Giai thoại
Dân nhậu đến tận ngày nay cũng còn đồn với nhau rằng, người chủ Quán Nghèo đầu tiên chính hiệu là một bếp trưởng danh tiếng của Chợ Lớn trước 1975. Sau biến cố 30 Tháng Tư, ông vẫn còn tiếp tục hành nghề ở một nhà hàng lớn. Nhưng thời đó những ai ăn sang mặc đẹp đều được xếp là ăn bám và bóc lột nên gia cảnh ông ngày càng sa sút. Người biết chuyện thì nói, thời đó ai cũng lo đi vượt biên, người có tiền do làm ăn chân chính cũng không dám đi ăn nhà hàng, sợ lắm. Rốt cuộc nhà hàng lớn cỡ như soái Kình Lâm, Ðại La Thiên, Bách Hỉ... chỉ có cán bộ to đi nhậu và kéo cán bộ nhỏ ăn theo.
Trước tình cảnh làm bếp trưởng không đủ sống, ông bèn lui về nhà kê bàn ra hẻm bán vài món nhậu đơn sơ gọi là để kiếm thêm tiền chợ. Thời đó người ta nói với nhau là thực đơn quán ông có hai loại mồi, phân biệt rõ như ban ngày và ban đêm. Loại mồi thứ nhất là các món nhậu được chế biến lại từ các phần thực phẩm thừa do thực khách ở nhà hàng ăn không hết. Loại mồi thứ hai là các món danh tiếng được đặt để ông đi chợ tự tay mua, tự tay nấu. Loại mồi này phải đặt trước, đưa tiền trước ông mới làm.
Nhưng rốt cuộc Quán Nghèo của ông sống được lại không do tài nấu nướng danh tiếng của ông mà do những thứ thực phẩm thừa còn gọi là món “xà bần” mà ông đem về từ nhà hàng. Một dân nhậu kỳ cựu nói, “thời đó ai cũng đói thấy mẹ, đồ thừa cặn cũng được, liếm láp chút mỡ dầu của nhà hàng là sướng điên người.” Một dân nhậu khác thì kể, “mấy năm khổ đó tôi chạy xích lô, tới tóp mỡ bánh, vỏ tôm, con ruốc loại ngày nay người ta làm thức ăn gia súc cũng thèm tới năm mơ. Bữa nào chạy xe trúng mánh ghé Quán Nghèo làm một dĩa ‘xà bần’ với vài xị rượu cây lý là sướng như tới thiên đường.”
Những món ăn thượng hạng giá bèo
Ôi! Cái thời ở Sài Gòn mà người lao động có được vài lạng mỡ heo là coi như thấy cả tương lai rạng rỡ trước mắt. Ôi! Cái thời mà chỉ cần hít được mùi khói dầu mỡ chiên xào là đủ để chán ghét giai cấp vô sản. Chính ở trong hoàn cảnh đó mà những ưu điểm về Quán Nghèo không cần quảng cáo dân nhậu kiết xác vẫn cứ rủ nhau mò đến.
Ngày nay Quán Nghèo không còn phục vụ món xà bần nữa. Con cháu ông đầu bếp xưa đã lên thực đơn những món ngon đúng kiểu nhà hàng thượng hạng nhưng giá lại rất bèo. Nếu bạn đi tới quán nghèo cùng 3 tay bợm nhậu khác, mỗi tay chỉ cần hùn nhau 50 ngàn đồng thì sẽ được ăn nhậu thỏa thê mấy món thượng hạng như sau: Thố pín tiềm thuốc bắc, gân bò tiềm thuốc bắc, cá chẽm xào xốt chua ngọt, giò heo xốt cà, óc heo chiên trứng, bánh mì 4 ổ, rượu bông cúc 4 xị, khăn lạnh, trà đá giải nhiệt. Có thể nói không chút cường điệu là món nào cũng được nấu rất ngon, trình bày món ăn rất tươm tất và vệ sinh.
Quán Nghèo ngày nay có thêm chuyện bán món nhậu cho người ta mang về nhà. Gọi là món nhậu nhưng thực ra nhiều gia đình lao động nghèo thường đến đây mua vài món ngon giá rẻ lại đúng kiểu nhà hàng về đãi nhau một bữa cơm chiều ngon miệng.
Theo nhiều thực khách quen thì Quán Nghèo từ xưa tới giờ vẫn vậy. Gần ba mươi năm rồi, vẫn những người chen vai nhau ngồi trong con hẻm chật chội mà nhậu, ngồi mà nói với nhau chuyện đời, chuyện thế sự. Và mỗi lần có ai nói, Sài Gòn ngày nay hội nhập thế giới rồi, nhà giàu nhiều quá. Ai giàu! Và khỏi cần phải la lớn mất vui lại thêm làm phiền hàng xóm, vì ai cũng biết chỉ cán bộ là giàu. Riêng dân nhậu Quán Nghèo, chiều chiều chỉ mong vô quán nghèo đủ tiền gọi vài món mồi tươm tất.
June Wed 24, 2009

Một thực khách thường xuyên của Quán Nghèo. Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt

Quán Nghèo chuẩn bị đón khách mỗi chiều. Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt

Dân nghèo Sài Gòn chỉ mong có được những bữa nhậu lai rai tươm tất để cùng nhau chia sẻ chuyện thế sự. Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt Phóng sự của Trần Tiến Dũng/Người Việt
Có những buổi chiều Sài Gòn ngột ngạt đến độ ai cũng muốn đi ra phố để hưởng chút gió dù là gió ngập đầy khói bụi. Trong một chiều ồn ào, T., một người bạn cũ thời thanh niên của tôi gọi điện “A lô, bạn mình có muốn làm lai rai không?” Tôi nghe mà trong đầu hình dung ly bia với cục nước đá tổ chảng. Giọng người bạn cũng mát lạnh không kém. “Bữa nay tao bao, không được giành trả tiền đấy nhé.” Ở trường hợp của tôi thì tiếng “ok” qua điện thoại là một thứ đồng thuận 101%.
Với cái điện thoại di động trong túi quần, người Sài Gòn ngày nay hẹn nhau tới bất cứ nơi đâu vẫn không sợ lạc nhau. Với dân nhậu, hiệu quả của cái điện thoại di động là vô cùng to lớn. Có thể nói dù quán nhậu có ở thiên đường hay địa ngục, một khi đã hẹn nhau thì chỉ có bà vợ dữ dằn mới có thể tạm thời gián đoạn những cơn say.
Quán Nghèo
Tin nhắn qua điện thoại của người bạn cho biết là chờ hắn ở góc đường 3 Tháng 2 (Trần Quốc Toản cũ) và Nguyễn Tri Phương. Theo kiến thức ăn nhậu thời kinh tế thị trường của tôi thì khu vực này không có quán nhậu nào ngon. Tôi hình dung là thằng bạn bợm nhậu này chắc là sẽ lôi tôi tới một quán mới khai trương nào đó. Ở Việt Nam, kinh tế càng suy thoái, đời sống càng nặng nề bởi bất công và tham nhũng thì quán nhậu cứ đua nhau mọc lên như nấm rừng sau cơn mưa. Có người nói quán nhậu ở Việt Nam là một quốc gia trong lòng một quốc gia. Vô quán nhậu là cách đến một “xã hội tự do dân chủ” nhanh nhất.
Tôi đứng chờ ở đúng chỗ được chỉ định qua điện thoại. Không lâu T. bạn tôi cũng phóng xe trờ tới. T. mặt vui như trúng số, nói. “Bữa nay tao mời mầy ăn nhà hàng Ðại La Thiên.” Tôi trừng mắt “Thôi đi cha nội, chưa vô ly nào mà đã xạo rồi.” T. cười nói “Bảo đảm bữa nay mầy được nhậu món Tàu chính hiệu do con cháu bếp trưởng nhà hàng Ðại La Thiên trước năm 1975 nấu.”
Cái tửu lầu mà T. nói nằm ở hẻm 343 đường Nguyễn Tri Phương. Muốn vô được tới quán phải đi qua một con hẻm nhỏ tới mức vừa đủ cho một chiếc xe gắn máy chạy một chiều, chỉ khi tới cửa quán, đường hẻm rộng hơn một chút. Thế nên để tránh chuyện hai chiếc xe đụng đầu nhau không nhúc nhích được thì người ta phải bóp kèn inh ỏi để chắc rằng ở phía đối diện không có ai khác giành quyền lưu thông. Dân nhậu gọi quán này là quán nghèo. Và tay chủ quán cũng thấy hãnh diện khi nên nghe theo dân bợm nhậu đặt tên cho quán là: “Quán Nghèo”.
Thực ra quán không có bảng hiệu. Vào mỗi dịp Tết, lễ cần phải nghỉ. Người chủ quán lấy miếng giấy học trò ra viết vài dòng: Quán Nghèo xin thông báo nghỉ Tết từ ngày... đến ngày. Cái thông báo rất lịch sự trên được dán ngay trên tường, ngay vách hẻm, thế là xong. Dân nhậu dù có lỡ đến, có “kêu khóc mấy” cũng phải chịu về nhà nhờ vợ làm mồi mà nhậu.
Quán Nghèo cũng có một thứ quy định bất thành văn khác về chuyện giờ giấc phục vụ. Chủ quán và khách hàng quen thường truyền khẩu nội qui sau đây: Ðể khỏi làm phiền hà hàng xóm, Quán Nghèo mở cửa lúc 4 giờ 30 chiều, dẹp quán lúc 11 giờ 30 tối. Theo nhiều người đáng tin cậy, Quán Nghèo này có cung cách văn hóa còn hơn cả các “địa chỉ” văn hóa được chính quyền dựng cổng chào “hẻm văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “nhà văn hóa”.
Dân nhậu đến Quán nghèo trễ một chút là có quyền đứng đợi. Tuy việc đứng đợi trong hẻm nhỏ có hơi lộn xộn nhưng hoàn toàn trong tư thế trật tự, ai đến trước, có bàn nào tính tiền sẽ được ưu tiên lấy bàn. Tuy chưa được mức xếp hàng văn minh như các điểm bán thức ăn nhanh ở Mỹ và cũng không phải ông chủ quán đủ quyền độc tài ra được một thứ pháp lệnh cho dân thèm ăn thèm nhậu, mà là do nề nếp lâu đời về ăn uống lịch sự của Sài Gòn Chợ Lớn xưa còn xót lại.
Quán Nghèo có chừng 5 cái bàn nhỏ được dân nhậu cho là thuộc hàng thượng hạng, kê ở ngay sát vách tường mấy căn nhà đối diện, khoảng 5 cái bàn khác thì kê ngay trong nhà chủ quán và một căn nhà thuê bên cạnh. Dân nhậu ngồi trong quán hay ngoài hẻm gì cũng nhìn ngắm được ánh đèn màu đỏ rực rỡ tỏa ra từ mấy cái bàn thờ của gia chủ. Chủ quán là người Hoa nên dù nghèo mấy đi nữa thì đèn màu và ảnh thờ, khói hương luôn luôn là thứ rực rỡ nhất.
Giai thoại
Dân nhậu đến tận ngày nay cũng còn đồn với nhau rằng, người chủ Quán Nghèo đầu tiên chính hiệu là một bếp trưởng danh tiếng của Chợ Lớn trước 1975. Sau biến cố 30 Tháng Tư, ông vẫn còn tiếp tục hành nghề ở một nhà hàng lớn. Nhưng thời đó những ai ăn sang mặc đẹp đều được xếp là ăn bám và bóc lột nên gia cảnh ông ngày càng sa sút. Người biết chuyện thì nói, thời đó ai cũng lo đi vượt biên, người có tiền do làm ăn chân chính cũng không dám đi ăn nhà hàng, sợ lắm. Rốt cuộc nhà hàng lớn cỡ như soái Kình Lâm, Ðại La Thiên, Bách Hỉ... chỉ có cán bộ to đi nhậu và kéo cán bộ nhỏ ăn theo.
Trước tình cảnh làm bếp trưởng không đủ sống, ông bèn lui về nhà kê bàn ra hẻm bán vài món nhậu đơn sơ gọi là để kiếm thêm tiền chợ. Thời đó người ta nói với nhau là thực đơn quán ông có hai loại mồi, phân biệt rõ như ban ngày và ban đêm. Loại mồi thứ nhất là các món nhậu được chế biến lại từ các phần thực phẩm thừa do thực khách ở nhà hàng ăn không hết. Loại mồi thứ hai là các món danh tiếng được đặt để ông đi chợ tự tay mua, tự tay nấu. Loại mồi này phải đặt trước, đưa tiền trước ông mới làm.
Nhưng rốt cuộc Quán Nghèo của ông sống được lại không do tài nấu nướng danh tiếng của ông mà do những thứ thực phẩm thừa còn gọi là món “xà bần” mà ông đem về từ nhà hàng. Một dân nhậu kỳ cựu nói, “thời đó ai cũng đói thấy mẹ, đồ thừa cặn cũng được, liếm láp chút mỡ dầu của nhà hàng là sướng điên người.” Một dân nhậu khác thì kể, “mấy năm khổ đó tôi chạy xích lô, tới tóp mỡ bánh, vỏ tôm, con ruốc loại ngày nay người ta làm thức ăn gia súc cũng thèm tới năm mơ. Bữa nào chạy xe trúng mánh ghé Quán Nghèo làm một dĩa ‘xà bần’ với vài xị rượu cây lý là sướng như tới thiên đường.”
Những món ăn thượng hạng giá bèo
Ôi! Cái thời ở Sài Gòn mà người lao động có được vài lạng mỡ heo là coi như thấy cả tương lai rạng rỡ trước mắt. Ôi! Cái thời mà chỉ cần hít được mùi khói dầu mỡ chiên xào là đủ để chán ghét giai cấp vô sản. Chính ở trong hoàn cảnh đó mà những ưu điểm về Quán Nghèo không cần quảng cáo dân nhậu kiết xác vẫn cứ rủ nhau mò đến.
Ngày nay Quán Nghèo không còn phục vụ món xà bần nữa. Con cháu ông đầu bếp xưa đã lên thực đơn những món ngon đúng kiểu nhà hàng thượng hạng nhưng giá lại rất bèo. Nếu bạn đi tới quán nghèo cùng 3 tay bợm nhậu khác, mỗi tay chỉ cần hùn nhau 50 ngàn đồng thì sẽ được ăn nhậu thỏa thê mấy món thượng hạng như sau: Thố pín tiềm thuốc bắc, gân bò tiềm thuốc bắc, cá chẽm xào xốt chua ngọt, giò heo xốt cà, óc heo chiên trứng, bánh mì 4 ổ, rượu bông cúc 4 xị, khăn lạnh, trà đá giải nhiệt. Có thể nói không chút cường điệu là món nào cũng được nấu rất ngon, trình bày món ăn rất tươm tất và vệ sinh.
Quán Nghèo ngày nay có thêm chuyện bán món nhậu cho người ta mang về nhà. Gọi là món nhậu nhưng thực ra nhiều gia đình lao động nghèo thường đến đây mua vài món ngon giá rẻ lại đúng kiểu nhà hàng về đãi nhau một bữa cơm chiều ngon miệng.
Theo nhiều thực khách quen thì Quán Nghèo từ xưa tới giờ vẫn vậy. Gần ba mươi năm rồi, vẫn những người chen vai nhau ngồi trong con hẻm chật chội mà nhậu, ngồi mà nói với nhau chuyện đời, chuyện thế sự. Và mỗi lần có ai nói, Sài Gòn ngày nay hội nhập thế giới rồi, nhà giàu nhiều quá. Ai giàu! Và khỏi cần phải la lớn mất vui lại thêm làm phiền hàng xóm, vì ai cũng biết chỉ cán bộ là giàu. Riêng dân nhậu Quán Nghèo, chiều chiều chỉ mong vô quán nghèo đủ tiền gọi vài món mồi tươm tất.
Sài Gòn kêu gọi dân chúng ‘học bơi’ để chống ngập
Tuesday, June 30, 2009

Hà Nội trong trận lụt lịch sử hồi Tháng Tư, 2008. Sài Gòn sẽ gặp cảnh tương tự khi xảy ra mưa và lũ lớn. Hình: Hoàng Ðình Nam/Getty Images SÀI GÒN - “Cơ quan chức năng tại Sài Gòn đang tính đến chuyện trang bị cho người dân kỹ năng bơi lội vì ngập lụt đô thị đến mức không thể kiểm soát được, sẽ trầm trọng hơn, có thể đe dọa đến mạng sống con người.” Bản tin của VietNamNet hôm 30 Tháng Sáu cho hay như vậy về biện pháp bảo toàn tính mạng của hơn 8 triệu dân Sài Gòn khi nạn ngập lụt luôn đe dọa thành phố lớn nhất Việt Nam này.
Bản tin cũng nói việc học bơi sẽ được “phát động” đến toàn bộ dân chúng, đặc biệt là học sinh, sinh viên, người thường xuyên tiếp xúc, hoạt động, hành nghề trên sông, biển để có thể tự cứu mình, cứu người khác bị nạn.
Tình trạng ngập lụt tại Sài Gòn đã trở thành vấn nạn cho đời sống người dân trong nhiều năm qua. Chỉ cần một trận mưa lớn hay nước sống Sài Gòn dâng cao là nhiều quận như Bình Thạnh, Quận 5, Quận 8, Tân Bình, Nhà Bè, Quận 7, Quận 4, Quận 6 đã ngập. Ngay cả Quận 1, trung tâm của Sài Gòn ngày nay cũng không thoát khỏi cảnh ngập lụt.
Hệ thống thoát nước quá cũ kỹ, dân số gia tăng, xây dựng bát nháo, vân vân, là những nguyên nhân chính khiến cho nhiều triệu người dân phải lội bì bõm vào mùa mưa.
VietNamNet cho hay, thành phố Sài Gòn đang có 4 dự án với chi phí hơn 4 tỷ đô la để chống ngập cho vùng nội thành. Tuy nhiên, theo thạc sĩ Hồ Long Phi thuộc Ðại Học Bách Khoa Sài Gòn thì nếu cả 4 dự án chống ngập lớn trên có hoàn thành trong 5 năm tới thì cũng chỉ giảm được 50% số điểm ngập.
“Sài Gòn phát triển về hướng biển Ðông, phần lớn diện tích quá thấp so với mực nước biển, nước biển dâng lên 0.5 mét nữa thì Sài Gòn chỉ còn là hai cái đảo, nếu không có biện pháp kiểm soát”- ông Phi nói với VietNamNet.
Báo này cho biết tại hội thảo khoa học quốc tế về “tác động của biến đổi khí hậu đối với ngập lụt đô thị năm 2009” ở Sài Gòn vào cuối tuần qua, nhiều chuyên gia chống ngập cũng thừa nhận: không kiểm soát ngập 100% được, kể cả ở các nước có trình độ chống ngập “siêu đẳng”.
Trong khi đó, không những Sài Gòn thường xuyên phải đối mặt với nước sông dâng cao, lượng mưa năm sau cao hơn năm trước mà theo tiến sĩ Dương Ngọc Hải, phó chủ tịch Viện Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam thì Sài Gòn là 1 trong 10 thành phố lớn trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề với hiện tượng nước biển dâng do biến đổi khí hậu.
Người ta cũng cảnh báo, nếu xảy ra lũ lớn thì phần lớn diện tích của quận 2, 7, 8, 9, huyện Nhà Bè... sẽ chìm sâu trong nước.
Tuesday, June 30, 2009

Hà Nội trong trận lụt lịch sử hồi Tháng Tư, 2008. Sài Gòn sẽ gặp cảnh tương tự khi xảy ra mưa và lũ lớn. Hình: Hoàng Ðình Nam/Getty Images SÀI GÒN - “Cơ quan chức năng tại Sài Gòn đang tính đến chuyện trang bị cho người dân kỹ năng bơi lội vì ngập lụt đô thị đến mức không thể kiểm soát được, sẽ trầm trọng hơn, có thể đe dọa đến mạng sống con người.” Bản tin của VietNamNet hôm 30 Tháng Sáu cho hay như vậy về biện pháp bảo toàn tính mạng của hơn 8 triệu dân Sài Gòn khi nạn ngập lụt luôn đe dọa thành phố lớn nhất Việt Nam này.
Bản tin cũng nói việc học bơi sẽ được “phát động” đến toàn bộ dân chúng, đặc biệt là học sinh, sinh viên, người thường xuyên tiếp xúc, hoạt động, hành nghề trên sông, biển để có thể tự cứu mình, cứu người khác bị nạn.
Tình trạng ngập lụt tại Sài Gòn đã trở thành vấn nạn cho đời sống người dân trong nhiều năm qua. Chỉ cần một trận mưa lớn hay nước sống Sài Gòn dâng cao là nhiều quận như Bình Thạnh, Quận 5, Quận 8, Tân Bình, Nhà Bè, Quận 7, Quận 4, Quận 6 đã ngập. Ngay cả Quận 1, trung tâm của Sài Gòn ngày nay cũng không thoát khỏi cảnh ngập lụt.
Hệ thống thoát nước quá cũ kỹ, dân số gia tăng, xây dựng bát nháo, vân vân, là những nguyên nhân chính khiến cho nhiều triệu người dân phải lội bì bõm vào mùa mưa.
VietNamNet cho hay, thành phố Sài Gòn đang có 4 dự án với chi phí hơn 4 tỷ đô la để chống ngập cho vùng nội thành. Tuy nhiên, theo thạc sĩ Hồ Long Phi thuộc Ðại Học Bách Khoa Sài Gòn thì nếu cả 4 dự án chống ngập lớn trên có hoàn thành trong 5 năm tới thì cũng chỉ giảm được 50% số điểm ngập.
“Sài Gòn phát triển về hướng biển Ðông, phần lớn diện tích quá thấp so với mực nước biển, nước biển dâng lên 0.5 mét nữa thì Sài Gòn chỉ còn là hai cái đảo, nếu không có biện pháp kiểm soát”- ông Phi nói với VietNamNet.
Báo này cho biết tại hội thảo khoa học quốc tế về “tác động của biến đổi khí hậu đối với ngập lụt đô thị năm 2009” ở Sài Gòn vào cuối tuần qua, nhiều chuyên gia chống ngập cũng thừa nhận: không kiểm soát ngập 100% được, kể cả ở các nước có trình độ chống ngập “siêu đẳng”.
Trong khi đó, không những Sài Gòn thường xuyên phải đối mặt với nước sông dâng cao, lượng mưa năm sau cao hơn năm trước mà theo tiến sĩ Dương Ngọc Hải, phó chủ tịch Viện Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam thì Sài Gòn là 1 trong 10 thành phố lớn trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề với hiện tượng nước biển dâng do biến đổi khí hậu.
Người ta cũng cảnh báo, nếu xảy ra lũ lớn thì phần lớn diện tích của quận 2, 7, 8, 9, huyện Nhà Bè... sẽ chìm sâu trong nước.
Những lắt léo trong luật quốc tịch của VN
với người Việt ở nước ngoài
Wednesday, July 01, 2009
Nguyên Đỗ, 9 tuổi, vừa nhập quốc tịch Hoa Kỳ tại Texas. Theo Bộ Tư Pháp VN, nếu em muốn giữ quốc tịch “gốc” thì phải làm “đơn xin giữ quốc tịch VN”. Hình: KN/Người Việt

Việt kiều về VN tại phi trường Tân Sơn Nhất. Bộ Tư Pháp VN ước tính, khoảng 70% người Việt đang định cư ở nước ngoài còn giữ quốc tịch Việt Nam. Hình: Getty Images

Khi một người tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ có nghĩa là đã tuyên thệ xin bỏ quốc tịch cũ. Hình: Getty Images
Gs. Hà Ngọc Cư – Viết riêng cho Người Việt
Lời tòa soạn: Theo thông báo của Bộ Tư Pháp Việt Nam, “Luật Quốc Tịch Việt Nam” kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009 sẽ có hiệu lực thi hành. Theo luật này, người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài “chưa mất quốc tịch Việt Nam phải “đăng ký” với cơ quan đại diện Việt Nam ở nơi định cư để giữ quốc tịch gốc. Thời hạn đăng ký sẽ kéo dài 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực.” Vẫn theo Bộ Tư pháp Việt Nam, “việc phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là giải pháp cụ thể để Nhà nước có thể xác định được những ai trong số hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn muốn giữ quốc tịch Việt Nam, qua đó xác định rõ tình trạng quốc tịch của họ, tạo điều kiện để làm tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân định cư ở nước ngoài.”
Tuy nhiên, để hiểu rõ điều luật này không phải là việc dễ dàng, vì trong đó có nhiều lắt léo, đặc biệt là với người Việt Nam có quốc tịch Hoa Kỳ. Bài viết dưới đây của Giáo sư Hà Ngọc Cư, hiện là Giám đốc điều hành cơ quan CISS chuyên lo về di dân và tị nạn tại Houston, Texas, sẽ cho thấy điều đó.
Người Việt
***
Luật Quốc Tịch mới của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009.
Có hai điều khoản quan trọng có ảnh hưởng lớn đến người Việt định cư ở nước ngoài.
- Người Việt đã có quốc tịch mới muốn giữ quốc tịch Việt Nam (VN) thì phải đăng ký trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1 tháng 7, 2009.
- Người nước ngoài khi nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.
Bây giờ xin bàn về những lắt léo của hai điều khoản này.
1. Nếu xin giữ quốc tịch Việt Nam thì hậu quả đối với quốc tịch mới của mình sẽ ra sao?
Vấn đề song tịch thay đổi theo luật lệ của từng quốc gia. Một số quốc gia như Pháp, Mexico, Ba Lan, Nga, Thụy Sĩ, Canada, Anh quốc,… cho phép công dân giữ quốc tịch của họ khi nhập quốc tịch mới. Một số quốc gia khác quy định rằng nếu công dân nhập quốc tịch một quốc gia khác thì đương nhiên mất quốc tịch của họ như Áo, Úc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hòa Lan, Phi Luật Tân, Trung Hoa…
Riêng trường hợp Hoa Kỳ thì Hiến Pháp Hoa Kỳ không công nhận song tịch mà cũng không cấm song tịch. Trong thực tế nếu khi nhập quốc tịch nước ngoài mà luật pháp nước đó không đòi hỏi mình phải từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ thì bạn vẫn còn quốc tịch Mỹ.
Vấn đề của người Việt đã có quốc tịch Mỹ đối với luật quốc tịch mới của VN là làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam có “nguy hiểm” về quốc tịch Mỹ của mình hay không?
Như đã nói ở trên, nếu trong đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam mà chính phủ Việt Nam không đòi hỏi mình phải bỏ quốc tịch Mỹ thì không đáng ngại. Nhưng ngoài việc xin giữ quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch Mỹ hay không còn có vấn đề đạo đức.
Khi tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ ta đã tuyên thệ xin bỏ quốc tịch cũ, bây giờ lại xin giữ quốc tịch cũ tức là đã bội thề, phạm vào chữ “TÍN”.
Luật quốc tịch mới của Việt Nam có luật “cứng” và luật “mềm”.
- Luật quốc tịch “cứng” quy định nguyên tắc một quốc tịch, tức là công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, nếu đã nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.
- Luật quốc tịch “mềm” lại cho phép những trường hợp ngoại lệ có thể có đồng thời quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài. Những trường hợp này được Chủ tịch nhà nước Việt Nam cho phép khi nhập quốc tịch.
Nếu “Việt Kiều” xin giữ quốc tịch Việt Nam thì họ được hưởng luật quốc tịch “cứng” hay luật quốc tịch “mềm”?
Nếu theo luật “cứng” thì khi xin giữ quốc tịch Việt Nam họ có bị nhà nước Việt Nam coi là mất quốc tịch nước ngoài không? Còn nếu theo luật quốc tịch “mềm” thì họ phải nộp đơn lên Chủ tịch nhà nước để giữ quốc tịch nước ngoài không?
Theo lời Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường trong buổi họp báo tại Văn phòng Chủ tịch nước ngày 4 tháng 12, 2008, thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho đến khi luật mới có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7, 2009 vẫn được coi là còn quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời hạn 5 năm, Việt kiều nào có nhu cầu thì làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Quá thời hạn đó sẽ mất quốc tịch Việt Nam song vẫn có thể xin trở lại quốc tịch Việt Nam, thậm chí họ vẫn giữ được quốc tịch nước ngoài khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam nếu có vợ, chồng, cha, mẹ con đã là công dân Việt Nam.”
Không ai hiểu nổi lời giải thích của ông Bộ Trưởng Tư Pháp.
Nếu tôi có cha mẹ, vợ hoặc chồng, con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ không mất quốc tịch nước ngoài nghĩa là được quyền song tịch (đối với Việt Nam). Nhưng nếu không có cha mẹ, hoặc vợ chồng, hoặc con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch nước ngoài không?
Vấn đề chủ yếu mà nhiều người Việt định cư ở nước ngoài quan tâm nhất sau ngày 1 tháng 7, 2009, khi Luật quốc tịch mới có hiệu lực thì chính phủ Việt Nam có còn coi họ là công dân Việt Nam để bắt họ phải thi hành những nghĩa vụ của công dân Việt Nam không. Một người muốn bỏ quốc tịch Việt Nam có cần phải làm đơn “Xin Thôi Quốc Tịch Việt Nam” như trước nữa không? Làm thế nào để chứng minh là mình đã “được” mất quốc tịch Việt Nam. Chính quyền Việt Nam có cấp “giấy chứng nhận” không?
Nếu Việt Nam tôn trọng nguyên tắc về lãnh thổ thì con cái “Việt kiều” sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có đương nhiên có quốc tịch Việt Nam không? Đối với luật quốc tịch của Hoa Kỳ thì con của một công dân Hoa Kỳ (bố hoặc mẹ) thì dù có sinh ra ở đâu vẫn có quốc tịch Mỹ (nguyên tắc về huyết thống). Như vậy con của người Mỹ gốc Việt sinh tại Việt Nam là song tịch một cách “hiển nhiên” kể từ lúc ra đời. Những đứa trẻ này vừa co khai sinh Việt Nam vừa có khai sinh Mỹ, như vậy sau này có phải làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam không?
Nếu luật quốc tịch của Việt Nam chấp nhận nguyên tắc huyết thống thì con cháu của Việt Kiều sinh ở nước ngoài có được coi là công dân Việt Nam hay không (vì mang huyết thống Việt Nam)? Nếu có thì họ có quyền xin “quyền tự động có quốc tịch Việt Nam” như trường hợp công dân Mỹ sinh con ở nước ngoài không?
2- Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam
Luật quốc tịch mới của Việt Nam đòi hỏi khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải xin thôi quốc tịch nước ngoài thì cũng không khác gì luật quốc tịch của nhiều quốc gia khác. Vấn đề là Việt Nam chấp nhận song tịch như thế nào mà thôi.
Đối với chính phủ Việt Nam thì công dân Việt Nam chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam nhưng đối với nhiều quốc gia khác thì mặc dầu bạn đã nhập tịch Việt Nam bạn vẫn không mất quốc tịch của nước họ mà không cần phải “đăng ký xin giữ quốc tịch cũ”, trừ trường hợp bạn không chính thức xin từ bỏ quốc tịch của họ.
Nhà nước Việt Nam nói công dân Việt Nam chỉ có quyền có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Điều đó không có nghĩa là luật này có thể áp đặt lên quyền công dân của các nước khác. Vì quyền có quốc tịch là chủ quyền của mỗi quốc gia. Khi xin nhập quốc tịch Mỹ bạn phải tuyên thệ từ bỏ các quốc tịch cũ, có nghĩa là đối với chính phủ Hoa Kỳ, bạn chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Hoa Kỳ.
Nhưng chính phủ các quốc gia mà bạn có quốc tịch cũ vẫn có quyền coi bạn còn là công dân của họ vì đó là thẩm quyền của họ nên chính phủ Hoa Kỳ không thể can thiệp vào việc này được.
Vì vậy, khi một công dân Hoa Kỳ xin nhập quốc tịch Việt Nam, mặc dầu chính phủ Việt Nam đã bắt họ từ bỏ quốc tịch cũ, nhưng chính phủ Hoa Kỳ vẫn có quyền coi người đó là công dân Hoa Kỳ.
Nếu công nhận song tịch thì Việt Nam nên thẳng thắn và minh bạch.
với người Việt ở nước ngoài
Wednesday, July 01, 2009
Nguyên Đỗ, 9 tuổi, vừa nhập quốc tịch Hoa Kỳ tại Texas. Theo Bộ Tư Pháp VN, nếu em muốn giữ quốc tịch “gốc” thì phải làm “đơn xin giữ quốc tịch VN”. Hình: KN/Người Việt

Việt kiều về VN tại phi trường Tân Sơn Nhất. Bộ Tư Pháp VN ước tính, khoảng 70% người Việt đang định cư ở nước ngoài còn giữ quốc tịch Việt Nam. Hình: Getty Images

Khi một người tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ có nghĩa là đã tuyên thệ xin bỏ quốc tịch cũ. Hình: Getty Images
Gs. Hà Ngọc Cư – Viết riêng cho Người Việt
Lời tòa soạn: Theo thông báo của Bộ Tư Pháp Việt Nam, “Luật Quốc Tịch Việt Nam” kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009 sẽ có hiệu lực thi hành. Theo luật này, người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài “chưa mất quốc tịch Việt Nam phải “đăng ký” với cơ quan đại diện Việt Nam ở nơi định cư để giữ quốc tịch gốc. Thời hạn đăng ký sẽ kéo dài 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực.” Vẫn theo Bộ Tư pháp Việt Nam, “việc phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là giải pháp cụ thể để Nhà nước có thể xác định được những ai trong số hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn muốn giữ quốc tịch Việt Nam, qua đó xác định rõ tình trạng quốc tịch của họ, tạo điều kiện để làm tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân định cư ở nước ngoài.”
Tuy nhiên, để hiểu rõ điều luật này không phải là việc dễ dàng, vì trong đó có nhiều lắt léo, đặc biệt là với người Việt Nam có quốc tịch Hoa Kỳ. Bài viết dưới đây của Giáo sư Hà Ngọc Cư, hiện là Giám đốc điều hành cơ quan CISS chuyên lo về di dân và tị nạn tại Houston, Texas, sẽ cho thấy điều đó.
Người Việt
***
Luật Quốc Tịch mới của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009.
Có hai điều khoản quan trọng có ảnh hưởng lớn đến người Việt định cư ở nước ngoài.
- Người Việt đã có quốc tịch mới muốn giữ quốc tịch Việt Nam (VN) thì phải đăng ký trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1 tháng 7, 2009.
- Người nước ngoài khi nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.
Bây giờ xin bàn về những lắt léo của hai điều khoản này.
1. Nếu xin giữ quốc tịch Việt Nam thì hậu quả đối với quốc tịch mới của mình sẽ ra sao?
Vấn đề song tịch thay đổi theo luật lệ của từng quốc gia. Một số quốc gia như Pháp, Mexico, Ba Lan, Nga, Thụy Sĩ, Canada, Anh quốc,… cho phép công dân giữ quốc tịch của họ khi nhập quốc tịch mới. Một số quốc gia khác quy định rằng nếu công dân nhập quốc tịch một quốc gia khác thì đương nhiên mất quốc tịch của họ như Áo, Úc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hòa Lan, Phi Luật Tân, Trung Hoa…
Riêng trường hợp Hoa Kỳ thì Hiến Pháp Hoa Kỳ không công nhận song tịch mà cũng không cấm song tịch. Trong thực tế nếu khi nhập quốc tịch nước ngoài mà luật pháp nước đó không đòi hỏi mình phải từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ thì bạn vẫn còn quốc tịch Mỹ.
Vấn đề của người Việt đã có quốc tịch Mỹ đối với luật quốc tịch mới của VN là làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam có “nguy hiểm” về quốc tịch Mỹ của mình hay không?
Như đã nói ở trên, nếu trong đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam mà chính phủ Việt Nam không đòi hỏi mình phải bỏ quốc tịch Mỹ thì không đáng ngại. Nhưng ngoài việc xin giữ quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch Mỹ hay không còn có vấn đề đạo đức.
Khi tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ ta đã tuyên thệ xin bỏ quốc tịch cũ, bây giờ lại xin giữ quốc tịch cũ tức là đã bội thề, phạm vào chữ “TÍN”.
Luật quốc tịch mới của Việt Nam có luật “cứng” và luật “mềm”.
- Luật quốc tịch “cứng” quy định nguyên tắc một quốc tịch, tức là công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, nếu đã nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.
- Luật quốc tịch “mềm” lại cho phép những trường hợp ngoại lệ có thể có đồng thời quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài. Những trường hợp này được Chủ tịch nhà nước Việt Nam cho phép khi nhập quốc tịch.
Nếu “Việt Kiều” xin giữ quốc tịch Việt Nam thì họ được hưởng luật quốc tịch “cứng” hay luật quốc tịch “mềm”?
Nếu theo luật “cứng” thì khi xin giữ quốc tịch Việt Nam họ có bị nhà nước Việt Nam coi là mất quốc tịch nước ngoài không? Còn nếu theo luật quốc tịch “mềm” thì họ phải nộp đơn lên Chủ tịch nhà nước để giữ quốc tịch nước ngoài không?
Theo lời Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường trong buổi họp báo tại Văn phòng Chủ tịch nước ngày 4 tháng 12, 2008, thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho đến khi luật mới có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7, 2009 vẫn được coi là còn quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời hạn 5 năm, Việt kiều nào có nhu cầu thì làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Quá thời hạn đó sẽ mất quốc tịch Việt Nam song vẫn có thể xin trở lại quốc tịch Việt Nam, thậm chí họ vẫn giữ được quốc tịch nước ngoài khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam nếu có vợ, chồng, cha, mẹ con đã là công dân Việt Nam.”
Không ai hiểu nổi lời giải thích của ông Bộ Trưởng Tư Pháp.
Nếu tôi có cha mẹ, vợ hoặc chồng, con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ không mất quốc tịch nước ngoài nghĩa là được quyền song tịch (đối với Việt Nam). Nhưng nếu không có cha mẹ, hoặc vợ chồng, hoặc con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch nước ngoài không?
Vấn đề chủ yếu mà nhiều người Việt định cư ở nước ngoài quan tâm nhất sau ngày 1 tháng 7, 2009, khi Luật quốc tịch mới có hiệu lực thì chính phủ Việt Nam có còn coi họ là công dân Việt Nam để bắt họ phải thi hành những nghĩa vụ của công dân Việt Nam không. Một người muốn bỏ quốc tịch Việt Nam có cần phải làm đơn “Xin Thôi Quốc Tịch Việt Nam” như trước nữa không? Làm thế nào để chứng minh là mình đã “được” mất quốc tịch Việt Nam. Chính quyền Việt Nam có cấp “giấy chứng nhận” không?
Nếu Việt Nam tôn trọng nguyên tắc về lãnh thổ thì con cái “Việt kiều” sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có đương nhiên có quốc tịch Việt Nam không? Đối với luật quốc tịch của Hoa Kỳ thì con của một công dân Hoa Kỳ (bố hoặc mẹ) thì dù có sinh ra ở đâu vẫn có quốc tịch Mỹ (nguyên tắc về huyết thống). Như vậy con của người Mỹ gốc Việt sinh tại Việt Nam là song tịch một cách “hiển nhiên” kể từ lúc ra đời. Những đứa trẻ này vừa co khai sinh Việt Nam vừa có khai sinh Mỹ, như vậy sau này có phải làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam không?
Nếu luật quốc tịch của Việt Nam chấp nhận nguyên tắc huyết thống thì con cháu của Việt Kiều sinh ở nước ngoài có được coi là công dân Việt Nam hay không (vì mang huyết thống Việt Nam)? Nếu có thì họ có quyền xin “quyền tự động có quốc tịch Việt Nam” như trường hợp công dân Mỹ sinh con ở nước ngoài không?
2- Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam
Luật quốc tịch mới của Việt Nam đòi hỏi khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải xin thôi quốc tịch nước ngoài thì cũng không khác gì luật quốc tịch của nhiều quốc gia khác. Vấn đề là Việt Nam chấp nhận song tịch như thế nào mà thôi.
Đối với chính phủ Việt Nam thì công dân Việt Nam chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam nhưng đối với nhiều quốc gia khác thì mặc dầu bạn đã nhập tịch Việt Nam bạn vẫn không mất quốc tịch của nước họ mà không cần phải “đăng ký xin giữ quốc tịch cũ”, trừ trường hợp bạn không chính thức xin từ bỏ quốc tịch của họ.
Nhà nước Việt Nam nói công dân Việt Nam chỉ có quyền có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Điều đó không có nghĩa là luật này có thể áp đặt lên quyền công dân của các nước khác. Vì quyền có quốc tịch là chủ quyền của mỗi quốc gia. Khi xin nhập quốc tịch Mỹ bạn phải tuyên thệ từ bỏ các quốc tịch cũ, có nghĩa là đối với chính phủ Hoa Kỳ, bạn chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Hoa Kỳ.
Nhưng chính phủ các quốc gia mà bạn có quốc tịch cũ vẫn có quyền coi bạn còn là công dân của họ vì đó là thẩm quyền của họ nên chính phủ Hoa Kỳ không thể can thiệp vào việc này được.
Vì vậy, khi một công dân Hoa Kỳ xin nhập quốc tịch Việt Nam, mặc dầu chính phủ Việt Nam đã bắt họ từ bỏ quốc tịch cũ, nhưng chính phủ Hoa Kỳ vẫn có quyền coi người đó là công dân Hoa Kỳ.
Nếu công nhận song tịch thì Việt Nam nên thẳng thắn và minh bạch.

