Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Phản ứng trong-ngoài nước về việc
LS Lê Công Định nhận “vi phạm pháp luật "




Trong khi nhiều tổ chức, quốc gia trên thế giới vẫn còn dồn dập những lời yêu cầu Việt Nam lập tức thả tự do cho LS Lê Công Định, thì hôm nay dư luận lại thêm một lần xôn xao trước tin LS Lê Công Định đã nhận “vi phạm luật pháp VN và xin được hưởng khoan hồng”.Những giới quan tâm trong và ngoài nước đã phản ứng như thế nào trước biến chuyển này?
Nhiều bất ngờ
Người ta cho rằng trong tất cả những vụ bắt bớ người bất đồng chính kiến tại VN gần đây,
dường như chưa sự kiện nào gây được nhiều quan tâm rộng rãi và xâu xa như trường hợp của luật sư Lê Công Định, một luật sư nổi tiếng và được xem như hàng đầu của VN, từng nhận bào chữa cho nhiều bị can liên quan đến việc đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ trong nước như LS Nguyễn Văn Đài và LS Lê Thị Công Nhân.

Chỉ vài ngày sau khi LS Lê Công Định bị khẩn bắt với tội danh mà báo chí VN cho là những hoạt động “nhằm lật đổ chính quyền” nhà nước Việt Nam đã đón nhận rất nhiều phản ứng ồ ạt và mãnh liệt không lường trước được của nhiều giới trong và ngoài nước.

Trong khi trong nước thì dồn dập xuất hiện những bài viết dẫn chứng và mô tả một người có tài, rất thành công trong sự nghiệp, can đảm và yêu nước, thì cùng lúc đó thì nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế hàng loạt lên án hành vi chà đạp nhân quyền, đàn áp tiếng nói người bất đồng chính kiến của nhà cầm quyền VN.


Cách đây 2 ngày Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã lên tiếng yêu cầu VN trả tự do cho LS Lê Công Định, và ngay sau đó theo đó, bà dân biểu liên bang Lorretta Sanchez đã ra một thông cáo báo chí với một nội dung tương tự.

Tôi thấy rằng những việc làm trên của tôi vi phạm pháp luật VN, tôi rất ân hận với những hành vi sai trái của mình, và tôi mong được nhà nước xem xét khoan hồng.

Lời khai nhận của LS Lê Công Định được báo chí trong nước đăng tải


Cái tin LS Lê Công Định đã "thừa nhận hành vi phạm tội." được công an Việt Nam công bố trong một cuộc họp báo vào chiều ngày 18/06/2009, và một số báo chí trong nước nhanh chóng loan tin, gồm cả video clip và bản tường trình viết tay đã gây shock cho nhiều giới. Nhiều người đã nghe đi nghe lại phát biểu của LS Lê Công Định trong đoạn video clip do báo điện tử dantri.com đăng tải.

ấn luyện “đấu tranh bất bạo động” do tổ chức Việt Tân tổ chức, tôi thống nhất thành lập một blog mang tên “Đảng Lao Động Việt Nam” do tôi phụ trách, và blog kia mang tên “Đảng Xã Hội Việt Nam” do anh Thức phụ trách. Và chúng tôi đã bàn về việc viết chung một cuốn sách mang tên là “con đường Việt Nam” để tìm giải pháp cải cách tình hình xã hội, kinh tế và pháp luật cho VN.


Tôi cũng đã góp ý chỉnh sửa một số văn phong, cho bản điều lệ của đảng Dân Chủ Việt Nam. Tôi thấy rằng những việc làm trên của tôi vi phạm pháp luật VN, tôi rất ân hận với những hành vi sai trái của mình, và tôi mong được nhà nước xem xét khoan hồng.”

Phản ứng của dư luậnNgay sau khi nghe tin này, bà dân biểu liên bang Lorretta Sanchez phát biểu:

“Như chúng ta cũng biết, chính quyền VN đăng tải những loại tin này trên các báo chí và cơ quan truyền thông do nhà nước làm chủ, do đó rất khó để cho chúng ta nhận định chính xác chuyện gì đã xẩy ra cho ông Lê Công Định.

Nhưng chúng ta cũng đã từng thấy những trường hợp của các người tù khác đã bị ép buộc phải ký nhận những bản thú tội, khi nhà nước loan báo rằng họ đã nhận tội, cho nên chúng ta phải chờ mới biết sự kiện này có nghĩa gì”.


Như chúng ta cũng biết, chính quyền VN đăng tải những loại tin này trên các báo chí và cơ quan truyền thông do nhà nước làm chủ, do đó rất khó để cho chúng ta nhận định chính xác chuyện gì đã xẩy ra cho ông Lê Công Định.

Dan biểu Lorretta Sanchez


Nhiều người trẻ trong nước thì cho rằng LS Lê Công Định đã bỏ cuộc quá sớm và nhanh chóng nhận tội. Nhưng anh Đông, một người trẻ sống tại TP Hồ Chí Minh trấn an bè bạn:

“Nếu mà anh Lê Công Định muốn nhận tội thì anh ấy đã nhận tội ngay từ đầu rồi. Chứ còn với những gì mà tôi biết về anh Lê Công Định anh không bao giờ dễ dàng chấp nhận cái việc nhận tội như vậy đâu. Đây là bản tường trình thôi, một cái bản tường trình, cho nên chúng ta đừng có quan trọng cái vấn đề này.

Lê Công Định sẽ được bàn thảo trong cái cuộc gặp giữa VN và liên minh Châu Âu, cho nên từ ngày hôm 13 đến bây giờ tức là 6 ngày liên tục họ phải làm sao để ép buộc LS LCD phải làm một cái bản nhận tội để họ có thể trả lời cho nên chúng ta đừng thất vọng về cái chuyện này.”

Giáo Sư Nguyễn Chính Kết có một cái nhìn khác về sự kiện mà ông gọi là sự đầu hàng sớm của LS Lê Công Định.

“Cái việc mà anh ta phải đầu hàng sớm qua như vậy, thì ta cần phải thông cảm cho cái hoàn cảnh của anh ta hơn là chúng ta thất vọng, mà trái lại chúng ta nên nâng đỡ anh ta tại vì một người như anh Lê Công Định thì cũng đã can đảm và yêu nước hơn là người bình thường rồi, nhưng vì cái sức chịu đựng của anh ta, tôi nghĩ là chưa được tập luyện cho nên anh ta đã đầu hàng sớm, cái chuyện đấy không có gì đáng trách, còn nhát mà không dám lên tiếng thì còn đáng trách hơn nữa.


Theo kinh nghiệm của tôi thì có lẽ nó cũng không hẳn là sẽ giúp cho anh ấy được an toàn, mà trái lại khi anh ấy nhận tội như thế này, thì có thể Cộng Sản sẽ dựa trên cái tội mà anh ấy nhận để kết án anh ta mạnh hơn.

GS Nguyễn Chính Kết


Cái việc mà nhận tội, theo quan niệm của tôi, theo kinh nghiệm của tôi thì có lẽ nó cũng không hẳn là sẽ giúp cho anh ấy được an toàn, mà trái lại khi anh ấy nhận tội như thế này, thì có thể Cộng Sản sẽ dựa trên cái tội mà anh ấy nhận để kết án anh ta mạnh hơn.”

Nhưng người ta băn khoăn là nếu LS Lê Công Định đã vi phạm luật pháp VN, thì đó có phải là một điều thực sự có tội hay không? Khi một luật sư muốn tìm hiểu những về phương pháp đấu tranh bất bạo động để cải tạo xã hội thì điều đó có phải là có tội hay không? Việc gì đã xẩy ra cho tự do ngôn luận?

Bà Lorretta Sanchez có nhận định:

“Chúng tôi sẽ phải làm việc với bà Hillary Clinton, với Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, và với các quốc gia khác để tiếp tục áp lực Việt Nam tôn trọng nhân quyền, và nếu chúng ta cần phải cấm vận VN thì tôi nghĩ dân chúng Mỹ sẽ ủng hộ việc đó.”

Nói chung dư luận rất quan tâm không những cho LS Lê Công Định, mà còn cho quyền tự do phát biểu bất đồng chính kiến và tự do ngôn luận tại Việt Nam.

(Hà Giang, thông tín viên RFA)

Bản văn do công an phổ biến, được cho là lời khai nhận của LS Lê Công Định. “Tôi đã tham gia khóa hu
Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ðấu tranh trong chế độ hay đấu tranh trên chế độ

Ngô Nhân Dụng

Trong mọi cuộc đấu tranh với các chế độ độc tài áp bức, những người tranh đấu thường chia làm hai khuynh hướng: Hoặc họ đấu tranh trong khuôn khổ chế độ hiện tại để cải thiện dần dần lề lối cai trị; hoặc họ đấu tranh trên nền tảng chế độ đó buộc nó phải đổi từ căn bản. Lằn ranh giữa hai chủ trương đó có khi không rõ rệt, nhưng cũng đủ để phân biệt khiến người ta có thể gắn cho mỗi nhóm một nhãn hiệu khác nhau.

Trong vụ Luật Sư Lê Công Ðịnh bị bắt rồi chúng ta thấy ông đã bước qua lằn ranh giữa hai chủ trương này. Từ một người vốn chấp nhận đấu tranh trong giới hạn của hệ thống cai trị hiện hành, ông đã vượt ra bên ngoài để đấu tranh trên chính chế độ đó - nếu những tin tức do giới chức công an Cộng Sản đưa ra là xác thực.

Từ căn bản, các luật sư đang hành nghề ở nước nào cũng hoạt động trong giới hạn của chế độ mà họ đang sống. Công việc của các luật sư ở bất cứ nơi nào cũng là sử dụng hệ thống luật pháp đang có sẵn chứ không phải là thay đổi các thứ luật lệ đó. Thay đổi luật lệ là công việc của các người đấu tranh chính trị, và của các đại biểu Quốc Hội, khi Quốc Hội đó có thực quyền. Các luật sư có thể biện hộ chứng tỏ rằng một hành động nào đó không vi phạm các điều luật đang thi hành trong xã hội; nhưng cũng có thể chứng minh rằng một điều luật nào đó là trái ngược với hiến pháp, tức là đạo luật cao nhất của một quốc gia. Trong cả hai trường hợp, người luật sư vẫn hành động bên trong khuôn khổ của chế độ.

Trước đây ông Lê Công Ðịnh đã đóng vai trò đó một cách xuất sắc, khi ông đứng ra biện hộ cho hai luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân ở tòa phúc thẩm mấy năm trước đây. Hai vị luật sư trẻ này cũng là những người chấp nhận tranh đấu bên trong khuôn khổ của chế độ. Và họ bị kết tội theo điều số 88 trong bộ luật hình sự mà ông Lê Công Ðịnh sắp bị truy tố vi phạm điều này.

Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân đã bị gán tội “tuyên truyền chống nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,” ghi trong điều 88. Nhưng bộ luật này không định nghĩa thế nào là “chống nhà nước...” cho nên tòa dưới đã nêu tội của họ là “Hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản, bôi nhọ Hồ Chủ Tịch và các vị lãnh đạo cao cấp của đảng...” Với hai lý do đó, họ kết tội hai người “chống nhà nước xã hội chủ nghĩa...” theo lời lẽ viết trong đạo luật.

Tại tòa phúc thẩm năm đó, Lê Công Ðịnh đặt vấn đề: Không thể “đồng hóa đảng Cộng Sản Việt Nam với nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nếu không sẽ trái với hiến pháp.” Ðây là lần đầu tiên một luật gia ở trong nước Việt Nam đã nêu lên sự kiện này. Nhưng khi dùng các lý luận này Lê Công Ðịnh vẫn đứng trong vòng giới hạn của luật pháp mà chế độ đang sử dụng.

Tòa án Cộng Sản khi đó buộc tội hai luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân vì họ đã “tiếp xúc và trao đổi thông tin về dân chủ và nhân quyền; “ và vì họ đã “Ủng hộ đa nguyên, đa đảng, kêu gọi thay thế đảng Cộng Sản.”

Ông Lê Công Ðịnh đã mỉa mai, “Bàn đến dân chủ và nhân quyền” không thể được coi là “chống nhà nước xã hội chủ nghĩa.” Trừ một trường hợp, ông nói tiếp, “trừ phi nhà nước đó chống lại dân chủ và nhân quyền!”

Ông Lê Công Ðịnh nhấn mạnh rằng các bị cáo chỉ làm công việc phê phán và lên án các hành động vi phạm quyền công dân và nhân quyền, những thứ quyền được ghi trong hiến pháp. Các hành động đó “không thể bị xem là ‘chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.’” Trái lại, ông tố cáo, “chỉ những hành động vi phạm quyền công dân và nhân quyền mới là chống hiến pháp;” và do đó, cũng “chống nhà nước.” Một lần nữa, gậy ông lại đập lưng ông! Trong vai trò luật sư biện hộ cho Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân, có thể nói Lê Công Ðịnh đã nói lên những sự thật, dùng những lý luận mà chế độ Cộng Sản độc tài không thể cãi được. Cuối cùng trong vụ án đó đảng Cộng Sản chỉ còn cách áp dụng khí cụ riêng của họ, là áp chế, bất chấp lẽ phải, bất chấp lý luận.

Nhưng Lê Công Ðịnh vẫn lên tiếng trong vòng kẽm gai mà chế độ cho phép, đóng vai tranh đấu từ bên trong một cách xuất sắc. Những lời nói của ông được giới thanh niên ở trong nước và bên ngoài nghe và hưởng ứng. Khi đọc bản tin cho biết Luật Sư Lê Công Ðịnh đã chấp nhận những lời tố cáo của công an nói rằng ông đã tiếp xúc và hoạt động chung với những tổ chức tranh đấu dân chủ ở bên ngoài đang vận động lật đổ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, nhiều người có thể nghi ngờ. Vì trong vai trò tranh đấu trong lòng chế độ, ông đã đạt những kết quả đáng kể. Và ông vẫn được an toàn, tiếp tục cuộc sống của một người thuộc giới trung lưu khá giả trong cái xã hội Việt Nam rất trọng kim tiền hiện nay. Ông lại được xã hội chung quanh công nhận khả năng cống hiến của mình trong việc đòi hỏi cải thiện xã hội. Trong một bài đăng trên báo Tuổi Trẻ vào Tháng Hai năm 2006, ông Nguyễn Văn Tiến Hùng đã giới thiệu Lê Công Ðịnh như một luật sư có hiểu biết sâu xa về luật pháp, đã du học ở Mỹ, ở Pháp và có tham vọng cải thiện hệ thống phát luật Việt Nam. Ông muốn hệ thống tư pháp không chỉ dựa trên các đạo luật thành văn theo lối dân luật Napoleon mà còn phải sử dụng các án lệ theo truyền thống Anglo-Saxon. Và “Anh truy đến cùng nguyên nhân tại sao luật chưa ra đời đã trở nên lạc hậu.” Những tham vọng đó có thể được thực hiện ngay trong lòng chế độ, một cách bền bỉ có thể đem lại ích lợi chung cho xã hội chung quanh.

Nhưng nếu những lời tố cáo và xác nhận trên đúng sự thật, thì ông Lê Công Ðịnh đã chấp nhận thay đổi vai trò và tính chất cuộc tranh đấu của mình. Không còn đứng bên trong chế độ mà lên tiếng đòi cải thiện dần dần nữa. Bắt đầu vận động thay đổi chế độ đó từ căn bản. Nếu những điều công an trưng ra là sự thật, và nếu quả thật ông Lê Công Ðịnh không thể chối cãi được đã xác nhận mình làm những việc đó, thì cả hai việc ông làm, là dự tính thành lập một đảng chính trị mới, và soạn thảo dự án hiến pháp mới, đều nhắm thay đổi chế độ Cộng Sản hiện nay bằng một chế độ tự do dân chủ hơn. Ðó là đấu tranh trên chế độ.

Nếu một người ở tuổi ngoài 40, đã có vợ, có con, có trách nhiệm với gia đình, mà chấp nhận bước qua cầu, sang bên kia “sông Rubicon” đi vào một con đường nhiều rủi ro và nguy hiểm, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào?

Có thể người đó đã nhận thấy phương pháp đấu tranh trong lòng chế độ hoàn toàn vô ích. Phải thay đổi toàn diện, thay đổi tận gốc rễ.

Chúng ta không biết sự thật ra sao, có những thao thức, biến chuyển như thế nào trong lòng người luật sư trẻ đó. Nhưng chúng ta có thể biết một điều là tâm lý của người dân xã hội Việt Nam đang trải qua một giai đoạn sôi động, không còn dè dặt như trước nữa. Ðặc biệt là trong giới thanh niên, trong giới kinh doanh và các nhà trí thức.

Một người bạn trẻ của tôi, ngoài 40 tuổi, mỗi năm đi về Việt Nam ba bốn lần vì công việc làm ăn, mới từ trong nước ra tuần trước, đã cho tôi biết cảm giác như vậy. Xưa nay anh không để ý tới chính trị, và mỗi lần về nước cũng không nghe những người quen biết và làm việc với anh bàn chuyện chính trị. Nhưng lần vừa rồi thì khác. Trong không khí có những dấu hiệu bất thường. Người ta bàn chuyện chính trị, phê phán chính quyền một cách công khai và sôi nổi, khác hẳn những năm trước. Vụ Bô Xít. Vụ Biển Ðông. Chính sách kinh tế bất lực và tham ô. Từ PMU 18 đến Huỳnh Ngọc Sỹ. Từ Nông Ðức Mạnh đến Nguyễn Tấn Dũng sang Tầu. Ðặc biệt, những nhà kinh doanh từ miền Bắc vào Nam, trước đây vẫn lảng tránh hoặc có thái độ bênh vực chế độ một cách nhẹ nhàng, theo lối “không vạch áo cho người xem lưng.” Họ đã thay đổi. Chính họ gợi ra những sự kiện, những đề tài để công kích chế độ, hình như để chứng tỏ họ không nằm trong nhóm chỉ huy con tầu đang thủng đáy sắp chìm, là đảng Cộng Sản Việt Nam.

Một người bạn của Lê Công Ðịnh đã bị bắt tháng trước là Trần Huỳnh Duy Thức, một doanh nhân thành đạt trong ngành truyền thông. Ông cũng bị buộc tội hợp tác với Lê Công Ðịnh chống nhà nước Cộng Sản Việt Nam, mà theo nhiều người quan sát ở trong nước thì Trần Huỳnh Duy Thức là một người vẫn đứng đằng sau Lê Công Ðịnh trong thời gian qua. Họ cũng tham dự trong một khuynh hướng của chính các đảng viên Cộng Sản muốn thay đổi đảng của họ bằng cách vận động từ bên ngoài đảng. Khi Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản quyết định bắt và truy tố hai người, mục tiêu sau cùng họ muốn là trừ khử khuynh hướng “nổi loạn” ngay trong nội bộ. Họ có tiêu diệt được mầm mống nổi loạn này hay không, chúng ta chờ rồi sẽ thấy.

Cho nên hành động của cá nhân các ông Lê Công Ðịnh và Trần Huỳnh Duy Thức không quan trọng bằng một hiện tượng xã hội lớn hơn, trong đó hai người này có mặt. Ðó là một phong trào đang dâng lên muốn thay đổi toàn diện chế độ chính trị ở Việt Nam. Một nhà kinh doanh thành công trong hệ thống kinh tế của chế độ, và một luật sư thành công trong khi hoạt động trong vòng luật lệ của chế độ đó, cả hai đã phải bước qua ranh giới giữa hai phương pháp đấu tranh. Họ không còn đứng bên trong đòi thay đổi từ từ, mà chấp nhận đứng ra ngoài để tấn công ngay trên những nền tảng của chế độ đã nuôi dưỡng sự thành công của họ.

Ðây không còn là những hành động cá nhân nữa. Cả xã hội Việt Nam đang thay đổi. Nhiều người khác, giới sinh viên, giới trí thức, cả những người trung lưu đang được quyền hưởng thụ, họ đang băn khoăn không biết nên tiếp tục đứng bên trong hay phải bước ra ngoài vòng cương tỏa. Nỗi băn khoăn này sẽ đưa tới những lựa chọn và hành động trong thời gian sắp tới. Chúng ta đã biết trường hợp một đảng viên Cộng Sản là nhạc sĩ Tô Hải. Ông cùng các đảng viên khác đã thấy những ý muốn thay đổi đảng của mình từ bên trong là vô ích, là tuyệt vọng. Tô Hải can đảm viết cuốn hồi ký tự lên án mình, nhưng cũng là lên án cả chế độ đã nuôi dưỡng ông. Tại sao?

Có một lý do thúc đẩy những người còn lương tâm phải bước qua làn ranh giới, là lòng kinh tởm mạnh hơn đức kiên nhẫn chịu đựng. Mọi người trong xã hội đang phải “bịt mũi” chấp nhận sống dưới cái chế độ thối nát đó, mỗi người có thể tự biện hộ với những lý do lớn hay nhỏ về sự chịu đựng này. Nhưng sẽ đến lúc một số người không thể bịt mũi mãi được nữa, và họ càng ngày càng đông. Cảnh thối tha ở chung quanh đã hiển nhiên và trâng tráo tới mức người ta chỉ còn thái độ khinh bỉ và kinh tởm. Ðó là lúc những người tranh đấu bên trong chế độ cũng phải đổi chiến lược. Từ nay phải tìm cách thay đổi chế độ đó từ gốc rễ.

Chú thích: Rubicon là dòng sông mà Julius Cesar đã bước qua, khi quyết định đem quân trở từ xứ Gaule về La Mã dẹp yên những rối loạn trong Thượng Viện, thay vì tiếp tục chờ ở bên ngoài (năm 49 trước Công Nguyên). Khi đã qua sông, không quay lại được nữa.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nhà văn Vũ Thư Hiên: "Tại sao lại là Lê Công Định?"

Image
Nhà văn Vũ Thư Hiên (Hình: Ðinh Quát/Người Việt)
Nhà văn Vũ Thư Hiên, “Thiên triều, chỗ dựa duy nhất mà những tên Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc hiện đại hiến dâng cả linh hồn và thể xác liệu có cứu chúng khỏi mạt lộ?”

LTS: Tin Luật Sư Lê Công Ðịnh bị bắt ngày 13 Tháng Sáu tại Sài Gòn vẫn tiếp tục gây phẫn uất đối với dư luận trong và ngoài nước. Chính phủ Hoa Kỳ cùng một số tổ chức nhân quyền trên thế giới đã lên tiếng yêu cầu giới lãnh đạo Cộng Sản Hà Nội trả tự do tức khắc và vô điều kiện Luật Sư Lê Công Ðịnh. Nhà văn Vũ Thư Hiên hiện sống tại Paris, qua cuộc điện đàm ngắn với phóng viên Ðinh Quang Anh Thái của nhật báo Người Việt, đã cho biết cảm tưởng của ông về việc nhà cầm quyền Hà Nội bắt giam Luật Sư Lê Công Ðịnh.

Tin Luật Sư Lê Công Ðịnh bị bắt không làm tôi ngạc nhiên.

Trong cơn bấn loạn trước phản ứng dữ dội chưa từng thấy về vụ bô-xít Tây Nguyên, Ðảng Cộng Sản tất sẽ phải làm một việc gì đó để chống đỡ, hơn là những lời dối gạt và phỉnh nịnh chẳng được ai tin trên diễn đàn Quốc Hội.

Vụ phản đối bô-xít chỉ là cái cớ cho sự nổ bùng của toàn xã hội chống lại nhà cầm quyền làm tay sai cho ngoại bang. Việc bắt Ðiếu Cày (Hoàng Hải) rồi chụp lên đầu anh cái tội danh nực cười là trốn thuế trước đây, cũng như bắt nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, công nhân Phạm Thanh Nghiên... chỉ vì họ dám biểu lộ lòng yêu nước bằng biểu tình, tọa kháng chứng tỏ sự luống cuống tìm ra lối thoát của nhà cầm quyền độc tài.

Và bây giờ, đến lượt Lê Công Ðịnh. Anh là sự lựa chọn của kẻ cùng đường.

Câu hỏi được đặt ra là: tại sao Lê Công Ðịnh?

Anh có nguy hiểm đến nỗi phải “bắt khẩn cấp” như hệ thống truyền thông chính thống đưa tin cũng khẩn cấp như thế, với lời buộc tội “lợi dụng vấn đề bô-xít Tây Nguyên, Trường Sa - Hoàng Sa để kích động tư tưởng chống đối Ðảng, Nhà nước” không?

Hoàn toàn không. Chẳng có gì là khẩn cấp hết.

Lời buộc tội này phải dành cho ông Tướng Võ Nguyên Giáp mới đúng. Hoặc cho những người chủ trương viết kiến nghị phản đối khai thác bô-xít thu hút hàng vạn người ký tên thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội.

Lê Công Ðịnh là một luật sư nổi tiếng, nổi tiếng cả về thái độ ôn hòa trong mối bất hòa với thể chế chính trị hiện hành. Bắt Lê Công Ðịnh chứ không phải ai khác (trong số những người còn nguy hiểm hơn) đảng Cộng Sản tính rằng do Lê Công Ðịnh trong thực tế không tham gia vào tổ chức nào (mà họ biết rõ hơn ai), lại không phải là nhân vật nổi bật trong phong trào đấu tranh cho dân chủ, thì việc làm của họ sẽ đạt được mục đích mà không gây nên phản ứng mạnh. Nhất là họ tin rằng những tin đồn đủ loại được họ rỉ rả tung ra sau đó sẽ được những người mê truyện trinh thám đón nhận như những hồi trong tiểu thuyết Kim Dung. Thế nhưng sự đời lại không diễn ra như những bộ óc đất tưởng tượng. Một làn sóng phản đối bùng lên cả ở trong nước, cả ở hải ngoại. Truyền thông quốc tế, các tổ chức quốc tế, thậm chí cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng lên tiếng bênh vực quyền được tự do phát biểu quan điểm chính trị của công dân Lê Công Ðịnh.

Rốt cuộc, chẳng được tích sự gì những cái mũ “Lê Công Ðịnh móc nối với Nguyễn Sỹ Bình, đối tượng cầm đầu tổ chức phản động lưu vong ‘Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng’ tại Mỹ và ‘Ðảng Dân Chủ Việt Nam’, Lê Công Ðịnh muốn lập hai đảng đối lập có tên ‘Ðảng Lao Ðộng’ và ‘Ðảng Xã Hội’ để tập hợp lực lượng, đánh từ ngoài vào trong để gây rối loạn lớn ở Việt Nam.” Chưa hết, lại còn tội “lợi dụng việc bào chữa cho số đối tượng chống đối (Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải), Luật Sư Ðịnh đã thông qua các luận cứ bào chữa để thực hiện ý đồ biến các phiên tòa thành diễn đàn tuyên truyền chống chế độ, xuyên tạc Hiến Pháp, pháp luật, lên án chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.” nữa. Cứ như thể là luật sư thì ở tòa án chỉ có việc rống lên “bài ca dâng Ðảng” là đủ. Vui thật.

Tôi chưa từng gặp Lê Công Ðịnh. Tôi chỉ quen anh qua thư từ trao đổi trên Internet. Chừng ấy cũng đủ để tôi không tin những lời nhảm nhí nọ. Nó cũng đại khái như công an nói rằng Lê Công Ðịnh cấu kết với những tên cầm đầu các nhóm phản động Viễn Tượng (Ðoàn Viết Hoạt), Họp Mặt Dân Chủ (Phạm Nam Ðịnh). Hai người này, tôi biết, họ chẳng hề cầm đầu cái gì hết.

Vậy tại sao lại Lê Công Ðịnh?

Những người cầm đầu đảng Cộng Sản cảm thấy mối nguy hiểm lớn lên quá nhanh, nó lừng lững hiện hình trong những bài viết đánh vào “vai trò lãnh đạo của đảng” trên trang web bauxitvietnam (đã không còn chỉ nói riêng chuyện bô-xít nữa) và trên các blogs, với việc Luật Sư Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Nguyễn Tấn Dũng, nhất là mối nguy hiểm tiềm tàng đang tăng lên ngay trong hàng ngũ đảng (vụ Thiếu Tướng Công An lê Văn Cương ở Viện Chiến Lược và Khoa Học của Bộ Công An cũng chống khai thác bô-xít), nên họ phải làm gấp một động tác trấn áp nào đó để răn đe làn sóng bất bình đang lan rộng trong dân chúng. Và vô số chuyện khác nữa.

Cái “khối thống nhất không gì lay chuyển nổi” mà Ðảng Cộng Sản thường khoe khoang đang rạn nứt nghiêm trọng.

Và từ những vết rạn ấy, như những tổ mối ở chân đê, có Trời biết, cái thành trì độc tài nọ sẽ sập lúc nào? Và Thiên Triều, chỗ dựa duy nhất mà những tên Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc hiện đại hiến dâng cả linh hồn và thể xác liệu có cứu chúng khỏi mạt lộ?

Tôi không có lời khuyên nào cho đảng Cộng Sản như bạn tôi, nhà văn Châu Diên, khuyên họ hãy thả ngay Lê Công Ðịnh, được đang trên trang web Diễn đàn.

Với kẻ đã quẫn trí, chẳng có lời khuyên nào lọt tai.

Một biến động xã hội sẽ cho nó lời khuyên hữu ích.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Đừng Nghe Những Gì Công Sản Nói, Mà Hãy Xem Kỹ Những gì Cộng Sản Làm!”

(Nhân biến cố CSVN bắt giữ khẩn cấp Luật Sư Lê Công Định)
Trong tất cả những phản ứng của người Việt, trong nước và hải ngoại, của cá nhân và tổ chức ngoại quốc trên khắp thế giới, những người có kinh nghiệm trải qua đời sống dưới chế độ Cộng Sản ở Việt Nam đều dè bỉu và tâm đắc với câu nói như trên, do một sình viên Việt Nam sinh sống hiện nay tại Đức phát biểu.

Câu nói này không có gì mới lạ, vì đã từng được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói ra trong kinh nghiệm đấu tranh với Cộng sản Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.

Nói với những người không có lương tri và đạo đức, thì bạo lực vãn là trên hết, bạo lực dưới mọi hình thức, miễn là đạt mục tiêu CS mong muốn! Và không có đạo đức, vì mọi phương tiện đưa đến mục đích mong muốn đều tốt!!!

Trong ứng phó với bạo lực, thì thường bạo lực mạnh hơn sẽ thằng bạo lực yếu hơn. Nhưng bạo lực chỉ kéo theo bạo lực mà con người có lương tri nhân bản không muốn chấp nhận, và không dám làm. Đến nay, người ta vẫn tin chỉ có nhu nhuyễn mới thắng cường bạo và cải hóa con người thật sâu thẳm.

Hiện nay, toàn thể thế giới, nhất là khối Liên Minh Âu châu và Hoa Kỳ - vì chưa từng sống dưới chế độ Cộng Sản và trải qua những kinh nghiệm cụ thể với mưu mô tráo trở xảo trá và lừa dối của Cộng Sản như ở Việt Nam – đã và đang bị Cộng Sản Việt Nam lừa bịp, tuyên truyền dối trá và đã từng phạm nhiều sai lầm liên tục nghiêm trọng trong cách ứng xử đối ngoại với CSVN.

Từ những cuộc đàm phán - chỉ kể một số hội đàm quan trọng - Thế giớt đang bị CSVN mê hoặc! Ta chứng kiến biết bao cảnh lừa dối:

từ đàm phán bí mật đến công khai tại Genève (1954), tại Bắc Kinh (1972) và tại Paris (1973); trong quá trình bình thường hóa của thế giới với Việt Nam. Chẳng hạn tạo điều kiện cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc (1977) rồi gia nhập APEC (1988), UNHCR đàm phán với Việt Nam nhằm chấm dứt phong trào vượt biên (1988-1989), và đàm phán cho Việt Nam gia nhập ASEAN (1995), bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (1995), tạo điều kiện cho Việt Nam hồi sinh sau khi đã sắp kiệt quệ tan rã, và mới đây đàm phán rút Việt Nam ra khỏi các nước CPC (2006) và cho Việt Nam gia nhập tổ chức WTO (2007), thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (2007).

Nhưng từ cuộc phản kháng bất bạo động, ôn hòa, để đấu tranh dân chủ lẻ tẻ, nhen nhúm từ thời Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt (1976) và nhiều nhà đấu tranh dân chủ khác, phong trào 8406, thì các phong trào dân chủ đã lớn mạnh dần kéo theo đông đảo các tầng lớp quấn chúng tham gia đến nay.

Chính quyền chuyên chính CSVN bắt giữ khần cấp và áp lực Luật Sư Lê Công Định phải khẩn trương đọc những lời lẽ thú nhận tội trong lúc bị bắt giam ở thế bị kìm kẹt đe dọa như “cá nằm trên thớt”, thì chẳng ai lạ gì thủ đoạn đậc ác của Cộng Sản độc tài Việt Nam.

Một con người can đảm, khảng khái và có chí khí, trí thức, nhân cách, và lương tri như Luật Sư Lê Công Định chắc chắn không tuyên bố những điều thu hoạch chống lại lương tâm ngay thẳng trong sáng của mình trong hoàn cảnh có tự do!

Việc CSVN công bố vội vàng mau chóng mẩu radio clip về lời nhận tội của Luật Sư Lê Công Định và có giới báo chí toa rập khiến công luận thế giới không thể tin được đó là sự thật. Biến cố này là một kich bản đã diễn ra trong biến cố CSVN ứng xử gian dối với vụ Tòa Khâm Sứ và giáo xứ Thái Hà và với cá nhân TGM Ngô Quang Kiệt tại Hà Nội, từng có sự tạo rập hèn hạ của hệ thống truyền thông do nhà nước CSVN nắm toàn quyền lèo lái và sắp đặt.

Ở đây công luận Việt Nam và thế giới lại chứng kiến một toan tính gian dối của CSVN đối phó với công luận quốc tế chống lại việc Việt Nam bắt giữ khẩn cấp Luật Sư Lê Công Định. Chớ chi việc này giúp mở mắt những ai còn u mê và lầm tưởng và tiếp tục ban nhiều ân huệ tưởng thưởng cho sự lừa dối tưởng chừng như thành công của CSVN!

Đúng là “Đừng nghe những gì CSVN nói, mà hãy xem kỹ những gì CSVN làm!”

Đỗ Hữu Nghiêm

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Giang Sơn Việt Nam còn gì dưới sự cai trị của CSVN ?

Bản tin mới nhất từ VietNamNet cho biết bọn công nhân Tàu cộng đang làm việc tại nhà máy xi măng Nghi Sơn, Thanh Hóa nhào vào người Việt Nam hành hung, bao nhiêu vụ xảy ra trước mắt người cầm quyền địa phương, nhưng nhóm công nhân Tàu vẫn bình chân như vại. Sau khi lấn chiếm biển Đông không cho ngư dân ra khơi đánh cá, rồi đến xâm lấn đến vùng Tây Nguyên đào mới quặng mỏ Bô-xít, về nguồn nước sông bọn Tàu cũng không để yên qua việc chặn dòng sông Mêkông làm đập thủy điện ở nơi thượng nguồn và bây giờ công nhân Tàu ngang nhiên hành hạ người dân địa phương tại Nghi Sơn. Khu nhà ở của đám người Tàu làm việc tại Nghi Sơn được tách biệt ra hẳn khu dân cư người Việt, ra vào đều được kiểm soát nghiêm ngặt. Tờ báo cho biết vì „giữa người dân địa phương và lao động Trung Quốc ở đây từng xảy ra nhiều vụ xô xát, gây mất trật tự“.

Theo tin đưa ngày 22/6/2009 như sau:

Vợ chồng anh Nguyễn Văn Len và chị Lê Thị Nghị ở thôn Bắc Hải (Hải Thượng) kể lại như sau: Đúng vào đêm chung kết bóng đá AFF Cup, đội tuyển Việt Nam thắng đội tuyển Thái Lan, một lao động Trung Quốc say rượu vào quán nhà anh mua thuốc lá.

Do bất đồng ngôn ngữ nên người lao động Trung Quốc này đã đập bàn ghế, xé bao thuốc lá rồi quát tháo vợ anh. Vừa lúc đó anh Len về nhà, thấy thái độ ngang ngược của lao động Trung Quốc nên đã túm tay vị khách ngang ngược này đẩy ra khỏi quán. Bất ngờ anh Len bị vị khách này quay lại túm tóc đánh ngay tại quán của mình.

Sự việc trở nên phức tạp hơn khi anh Len và người nhà chống trả lại thì vị khách này chạy về khu tập trung kéo thêm 40 lao động là người Trung Quốc đến. Sau đó, gần 200 lao động Trung Quốc tay cầm ống nước, gậy gộc đánh xe tải từ công trường ra lấy đèn rọi vào nhà anh Len đập phá, đánh bị thương nhiều người trong gia đình anh. Thậm chí hàng xóm qua can ngăn cũng bị rượt đánh.

Người bị đánh trọng thương nặng nhất là anh Nguyễn Văn Đen, em trai của anh Len. Hôm đó, vừa đi xe ôm chở khách về, nghe tin nhà anh trai bị lao động Trung Quốc đập phá, anh Đen đi xe máy đến thì bị 5 đến 6 lao động Trung Quốc xông tới đánh tới tấp, đập nát xe, mũ bảo hiểm, khiến anh bị gãy tay, chân và phải khâu 16 mũi trên trán, đầu.

Trước đó, người dân xã Hải Thượng còn bàn tán về việc công nhân Trung Quốc vào nhà hàng Đồng Thúy, thôn Bắc Hải ôm tivi ngang nhiên bước ra trước sự bất lực của chủ quán. Ông Hoàng Văn Chung, Trưởng công an xã Hải Thượng cho biết: “Chúng tôi chỉ nghe người dân kể lại sau khi ngồi uống cafe ở nhà hàng về, vì mất điện thoại, công nhân Trung Quốc quay lại quán tìm nhưng không thấy đâu nên đã ôm tivi của nhà hàng đi…”.

Những tình tiết coi pháp luật của Việt Nam không bằng cái đinh chẳng khác nào thời VN thuộc quyền đô hộ của Tàu, báo chí cho biết thêm các tin sốt dẻo như sau về việc:

Tuỳ tiện bắt giữ người, tuỳ tiện đánh người và tuỳ tiện bao vây công an VN

- Tuỳ tiện bắt giữ người: Vào tháng 11/2008, một đối tượng là dân địa phương trèo tường vào ăn trộm trong khu nhà ở của công nhân Trung Quốc thì bị bắt. Công nhân Trung Quốc không những không giao người cho công an địa phương mà còn tự ý trói đối tượng và treo lên qua đêm, sáng hôm sau mới chịu thả ra.

- Tuỳ tiện bao vây công an VN: Vào ngày 24/4/2009, nhà thầu Trung Quốc bắt được 2 đối tượng là dân địa phương trộm cắp sắt. Khi công an xã Hải Thượng và công an đồn Nghi Sơn đến nhận người để điều tra thì họ không giao người mà đòi giữ lại xử lý riêng. Chưa hết, nhóm công nhân Trung Quốc còn tổ chức bao vây xe ô tô của đồn công an Nghi Sơn một tiếng đồng hồ rồi mới cho đi.

-Tuỳ tiện đánh người: Mới đây nhất, vào ngày 26/4/2009, khoảng 30 công nhân Trung Quốc đã kéo đến ban điều hành nhà thầu Hà Nội đánh một công nhân của nhà thầu này và yêu cầu bồi thường do va chạm giữa 2 người với nhau trong quá trình thi công.

- Việc công nhân Trung Quốc nhậu say, đập phá hàng quán ở khu dân cư sát nhà máy xi măng Nghi Sơn cũng không phải chuyện hiếm qua bà Hiệp, một chủ quán ăn ở gần đó cho biết: “Thời gian này còn đỡ, chứ trước đây lao động Trung Quốc vào ăn nhậu say không trả tiền rồi đập phá dọa nạt chủ quán xảy ra thường xuyên. Thậm chí, tối đến con gái trong làng còn không dám ra đường vì sợ lao động Trung Quốc say xỉn đuổi bắt dọa nạt…”.

Giang Sơn VN, chủ quyền VN và người dân VN đang bị chà đạp bởi bọn bành trướng Bắc Kinh, thế nhưng 15 tên đầu sỏ Hà Nội vẫn miệng câm như hến và có thể còn „hèn“ hơn thế nữa qua sự cung phụng cúi đầu hầu hạ giặc Tàu: nào là tiếp đón các quan Tàu tại Hà Nội trong tình „thân mật“, nào là bang giao „hữu nghị“ nhằm thăng tiến cả hai quốc gia.

Tổ quốc VN còn gì dưới con mắt của người cộng sản VN ngoài sự đê hèn của kẻ bán nước, trong khi đó họ thẳng tay chèn ép và bắt bớ những người yêu nước, những người muốn ngẩng đầu chống lại bọn xâm lăng, điển hình vụ bắt khẩn cấp Ls Lê Công Định.

Người Việt Nam hãy học câu nói của nhà lãnh tụ đối lập Iran, ông Mir Hossein Mussawi được phổ biến trong các trang mạng Internet, kêu gọi người dân Iran nhận thức quyền lợi cao quý của toàn dân: „Đây là quyền lợi của đồng bào, hãy biểu tình chống gian lận và dối trá! Tuy nhiên đồng bào hãy tiếp tục tự chế.“ ("Es ist euer Recht, gegen Lügen und Betrug zu protestieren, aber ihr solltet immer Zurückhaltung üben").

Lời kêu gọi khẩn cấp này cũng đúng cho người dân Việt Nam vì nguồn gốc cộng sản là dối trá và lừa đảo. Qua 2 ví dụ cụ thể người dân có thể hiểu rõ ràng đường lối của csVN:

- Dối trá- "vấn nạn" của ngành giáo dục, một tựa đề được báo VietNamNet đưa lên công khai ngay trong hệ thống giáo dục truyền thống của csVN (http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtind ... index.aspx)

- Video: Trưởng ban Thanh tra mất người chỉ đạo, nhận chỉ thị và lật lọng, trong cuộc tiếp xúc của linh mục và giáo dân với Đoàn thanh tra ở UBND Quận Đống Đa 16.6.2009 (http://dcctvn.net/news.php?id=4050)

Người csVN và đảng csVN đang đánh mất lòng yêu quê hương và tổ quốc VN.
Người csVN và đảng csVN đang đánh mất giang sơn và chủ quyền VN.


Hà Long
http://vietcatholic.net/News800/default.aspx

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Chuyện một người mù sáng suốt

Tuesday, June 23, 2009
Ngô Nhân Dụng

Hiện nay, người lịch sự không dùng chữ “người mù” mà phải viết là “người khiếm thị.” Sửa lối nói, vì những người mắt sáng muốn tỏ lòng kính trọng đối với những đồng loại không may mắn, mất khả năng nhìn bằng đôi mắt.

Nhưng xin quý vị cho phép chúng tôi dùng tên gọi khiếm nhã cũ, khi kể lại một câu “chuyện người mù” thời xưa, thời xã hội chưa tiến bộ như bây giờ. Thời đó người ta chỉ gọi người không trông thấy được là “người mù.” Có người nói như vậy còn tỏ vẻ khinh bỉ, rẻ rúng những “người mù;” mà không thấy áy náy, không ngượng ngùng nữa. Ngày nay xã hội văn minh hơn, chúng ta tránh những tiếng nói hạ phẩm giá người khác, nhất là những người không được may mắn như mình. Chúng ta chỉ dùng những chữ như “điếc” hay “mù” khi nói đến khuyết tật, nhưng khi nói về con người thì dùng những từ nhẹ nhàng, tôn kính hơn. Phải nói loài người bây giờ đã tiến bộ hơn trong cách đối xử với nhau, và chúng ta nên hãnh diện về sự tiến bộ đó.

Có tác giả kể chuyện một người mù, tôi đọc thời niên thiếu, bây giờ đã quên tên người viết, tôi đã lục tìm bằng các phương tiện rất mới nhưng vẫn không tìm ra tung tích. (Quý vị có thấy nguyên bản ở đâu làm ơn chỉ cho chúng tôi được đọc lại.)

Câu chuyện đó để lại một ấn tượng rất mạnh cho nên tới giờ tôi vẫn chưa quên. Vì đó là chuyện khích động giai cấp cần lao hãy vùng lên tranh đấu đòi quyền lợi cho mình.

Chuyện kể về một chuyến xe lửa chở thợ khai mỏ trên đường đi làm, rồi từ hầm mỏ trở về nhà. Những người lao động này phải ra đi từ sáng sớm, trước khi mặt trời mọc; và lúc họ trên đường trở về nhà với thân thể mệt nhoài thì trời cũng đã tối đen. Nhưng trong toa xe lửa không có đèn, không bao giờ có đèn. Và mọi người ai cũng chấp nhận như thế, coi đó là một điều tự nhiên. Khi tìm được một chỗ ngồi hay chỗ đứng trong toa xe là họ cũng bắt đầu ngủ gật hay là ngủ gục, còn ai quan tâm đến đèn đóm làm gì?

Cho đến một hôm, có một người mù cũng đáp chuyến xe lửa tối đen đó, chen chúc giữa đám phu mỏ. Bỗng anh mù đánh rớt một vật gì đó, một đồng xu chẳng hạn, và anh ta cúi xuống rờ mò tìm kiếm. Tìm mãi không ra, anh ta nói nhờ những người chung quanh kiếm giùm. Không ai tìm ra. Anh mù than phiền rằng mọi người không tử tế, có đôi mắt sáng mà không chịu tìm giúp một người mù như anh. Mọi người bèn giải thích là trong toa xe lửa tối đen, không ai thấy gì cả. Anh mù ngạc nhiên: Trong xe không có đèn à? Tại sao họ không thắp đèn? Sao vô lý vậy? Các anh để cho bọn chủ nhân họ bóc lột, họ bạc đãi các anh như vậy mãi mà cứ cam chịu hay sao?

Cuối cùng, mọi người đồng ý rằng các công nhân có quyền đòi hỏi mỗi toa xe phải thắp ít nhất một ngọn đèn bão, chẳng tốn kém bao nhiêu nhưng sẽ sống dễ chịu hơn. Họ cử người đại diện đến xin các ông chủ, bị các ông chủ nhân từ chối. Họ tổ chức đình công, nhiều cuộc tranh chấp diễn ra. Trước sự đoàn kết của các công nhân, các chủ nhân phải nhượng bộ.

Câu chuyện thật lý thú, chuyện một người mù chỉ cho những người mắt sáng thấy họ có quyền được sống trong ánh sáng. Nói theo lối các anh chị em Mác xít, người mù này “giác ngộ quyền lợi” trước những người sáng mắt.

Trong xã hội nào cũng vậy, người ta sống trong một nề nếp quen rồi, không biết rằng đáng lẽ mình không nên sống như thế, hoặc không bắt buộc phải sống như thế. Thí dụ có một bọn trẻ không được giáo dục, sống chung mà không có thói quen nói năng lễ độ với nhau. Ðến khi gặp một người biết nói năng, thưa gửi với các em đó một cách lễ độ, các em thấy là hay, từ đó bắt chước. Một thời gian sau, mọi người đều biết thưa gửi, biết xin lỗi, biết cảm ơn lẫn nhau, cả xã hội sống lịch sự hơn. Từ đó, nghe ai nói năng cục cằn thô lỗ thì mọi người đều cảm thấy khó chịu.

Có những xã hội người ta coi việc xin xỏ, lạy lục, hối lộ quan chức nhà nước là chuyện bình thường. Hoặc coi những ông lớn, những ông có chức có quyền tất nhiên phải được hưởng mọi ưu tiên hơn mình, đó là chuyện tự nhiên. Coi báo, đài phải tuân theo mệnh lệnh nhà nước cũng là chuyện tự nhiên, trời sinh ra như vậy.

Hãy làm thí nghiệm cho những người này được thử sống trong một xã hội tự do. Cho họ thấy ở một nước dân chủ người dân đến công sở không phải lo hối lộ, khi chờ đợi thì một quan chức nhà nước cũng phải xếp hàng như mình, ai đến trước đứng hàng trước, đến sau đứng sau. Và thấy người ta được tự do sử dụng các phương tiện báo chí, phát biểu ý kiến riêng mà không sợ ai hết. Cho sống như vậy một thời gian, họ sẽ quen đi, khi trở về xứ sở cũ họ sẽ thấy lối sống trong sợ sệt, lối sống bất bình đẳng và thiếu tự do là không thể chấp nhận được. Khi đó những người này có thể trở thành “những anh mù sáng suốt” chỉ cho mọi người quyền được sống trong ánh sáng.

Trong mọi xã hội còn chậm tiến, cần phải có những người “sáng suốt hơn” như anh mù trong câu chuyện ngụ ngôn trên, đứng ra bảo cho người chung quanh là cái lối họ sống như cũ làm họ mất nhân phẩm! Con người không thể sống như vậy! Cần phải thay đổi! Rồi phải có những người có can đảm đứng lên đòi thay đổi, quyết tâm đòi thay đổi, không sợ khó, không sợ chết. Những người thấy trước, biết trước người khác; cùng những người can đảm tranh đấu cho người khác được hưởng những quyền lợi đáng được hưởng, chúng ta rất cần.

Ngay trong các xã hội tiến bộ rồi người ta cũng cần những “anh mù” như trong câu chuyện ngụ ngôn trên đây, những người nhìn rõ các vấn đề chung để cùng tìm cách giải quyết. Trong các xã hội tự do dân chủ thì những người đi trước đó có quyền kêu gọi các đồng loại của mình, nếu có ý kiến khác nhau thì sẽ có dịp tranh luận.

Còn trong những xã hội độc tài đảng trị thì họ cấm bàn, vì giai cấp cầm quyền chỉ muốn ai ở đâu ở đó, trên bảo dưới nghe. Các chính quyền độc tài coi dân như trẻ con, họ là cha mẹ, cha mẹ cho con cái gì thì được cái đó, không được đòi hỏi.

Chúng tôi nhớ lại câu chuyện về người mù trên đây vì mới đọc một bài báo với câu hỏi là “Dân Chủ cho ai?” được trích đăng lại trên nhật báo Người Việt gần đây. Ðại ý bài này nói rằng đa số đồng bào chúng ta sống ở Việt Nam không cần sống trong chế độ tự do dân chủ; do đó tranh đấu Dân Chủ là làm một việc không cần thiết.

Cái ông, bà nào viết bài đó rõ ràng là người dễ tính. Ông/bà ta coi 80 triệu con người sống thỏa mãn với chế độ độc tài chuyên chế của đảng Cộng Sản; cứ tiếp tục sống trong cảnh nghèo khó, bất công và mất tự do như vậy mà không người Việt nào cảm thấy hổ thẹn với lân bang.

Xã hội nào cũng có những người dễ tính như vậy, nhất là những người đang được hưởng thụ nhờ cơ cấu xã hội đó.

Nhưng thế nào cũng cần phải có những “người mù sáng suốt” hơn người khác, như trong câu chuyện trên đây. Nếu không thì người chung quanh cứ chịu sống trong cảnh tăm tối mãi mà không biết là mình thiếu thốn, là mình bị khinh rẻ, bị sỉ nhục.

Vậy thì từ mấy thế kỷ nay, cả thế giới loài người đã tranh đấu đòi tự do dân chủ, họ đòi Dân Chủ cho ai nhỉ? Cho tất cả chúng ta, cho cả ông hay bà nào viết bài báo đặt câu hỏi đó. Sống tự do là lối sống tôn trọng và bảo vệ giá trị con người, tất cả mọi người. Ðó là sự tiến bộ của nhân loại, phải mất hàng trăm năm, bao nhiêu người đổ máu mới đạt được sự tiến bộ đó. Từ nô lệ bước tới tự do, văn minh nhân loại được xây dựng dần dần như vậy. Cũng giống như lối nói năng lễ phép, tránh không dùng những chữ “người mù,” hay “người điếc” mà sử dụng các tiếng thanh nhã và kính cẩn hơn. Ðó cũng là một nếp sống văn minh mọi người cùng bảo nhau phải sống. Nói năng lễ độ là niềm hãnh diện của loài người, cũng như mọi người hãnh diện khi được sống tự do. Chúng ta chọn sống theo lối đẹp đẽ văn minh; không tiếp tục sống trong bất công, sợ hãi, mất phẩm giá người khác và của mình.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Dân Chủ cho tất cả mọi người

Ngô Nhân Dụng
Rất nhiều độc giả báo Người Việt nổi giận sau khi đọc bài “Dân Chủ Cho Ai?” Bài này trích từ một mạng lưới trong nước. Vì tác giả bài đó viết rằng hiện nay từ người trí thức đến các nông dân Việt Nam không ai cần tranh đấu cho tự do dân chủ cả. Sống dưới chế độ Cộng Sản độc tài bây giờ là sướng lắm rồi!

Chắc mạng lưới X-Cafe đăng bài đó lên cũng có ý muốn cho độc giả suy nghĩ và thảo luận, cho nên ngay sau đó họ đã đăng bức thư trả lời giản dị rằng: Dân Chủ Cho Tui! Nhật báo Người Việt sẽ đăng luôn thư trả lời này.

Nhưng đây là một câu hỏi đáng suy nghĩ và bàn bạc. Thật sự, khi đòi hỏi xã hội phải sống dân chủ, chúng ta muốn cho ai hưởng tự do dân chủ? Khi dự cuộc chơi dân chủ thì người ta phải có quyền bàn bạc, quyền quyết định bằng lá phiếu, ý kiến nào được nhiều phiếu thì thắng thế, đó là những thủ tục bình thường của trận đá banh này. Vậy trong chế độ Cộng Sản họ cũng nói đến dân chủ thì có ai được sống theo những quy tắc, những thủ tục của cuộc chơi dân chủ hay không?.

Một vị độc giả Người Việt viết rằng khi đảng Cộng Sản nói đến dân chủ, thực ra họ chỉ giành những quyền dân chủ cho người trong đảng của họ mà thôi. Người ngoài, tức là toàn thể dân chúng ngoài đảng, không ai được hưởng những đặc quyền đó!

Nhưng nói như vậy cũng lầm nữa. Vì ngay trong nội bộ đảng Cộng Sản, ở Liên Xô đời trước cho đến ở Trung Quốc và Việt Nam bây giờ, họ có cho các đảng viên được thi hành các quyền dân chủ trong nội bộ đâu? Chỉ trong các đảng chính trị tại các nước tự do dân chủ thì các người vào đảng mới được đối xử theo các quy tắc dân chủ.

Trong các đảng Cộng Sản, chỉ có các lãnh tụ được quyền bàn luận và bỏ phiếu với nhau thôi, và họ gọi đó là lối Dân Chủ Tập Trung! Nói Dân Chủ Tập Trung nghe nó cũng kỳ cục như nói Ăn Cơm Bo Bo vậy. Ngay trước khi họp đại hội đảng Cộng Sản, việc chọn người nào được tham dự đại hội là do các lãnh tụ quyết định. Trước khi họp là Bộ Chính Trị đã “bố trí” mọi việc, đến khi họp các đại biểu chỉ có việc gật đầu mà thôi. Cái lối xếp đặt đó chắc chắn không phải là lối sống dân chủ.

Năm 1927 một người sáng lập đảng Cộng Sản Ý là Ignazio Silone đi dự Ban Chấp Hành Trung ương Cộng Sản Quốc Tế. Ðọc chương trình họp thấy có một nghị quyết lên án một bài do Leon Trotsky viết, Silone yêu cầu được coi tài liệu xem Trotsky viết những cái gì. Stalin là tổng thư ký Ban Chấp Hành Trung Ương giải thích rằng tài liệu này không nên phổ biến vì “nhạy cảm” quá. Ignazio Silone từ chối không chịu bàn. Một đồng chí Cộng Sản Bulgarie giải thích cho Silone biết là Stalin đang chống Trotsky. Ngày hôm sau họp ban chấp hành, khi nghị quyết được đưa ra, Silone vẫn đòi phải được coi bản văn của Trotsky rồi mới biểu quyết. Stalin bèn rút lại, không đem bàn chuyện đó nữa.

Sau khi họp ở Mát-Cơ-Va xong, trên đường về, tới Berlin thì Ignazio Silone cầm một tờ báo của đảng Cộng Sản ở đó, thấy tường thuật rằng hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Cộng Sản Quốc Tế đã biểu quyết đồng thanh cực lực phản bác bài của Leon Trotsky!

Ðó là lối sinh hoạt dân chủ kiểu Cộng Sản! Hai năm sau Ignazio Silone đã xin tạm rời khỏi Ban Chấp Hành Cộng Sản Quốc Tế, và năm 1931 thì bị trục xuất khỏi đảng.

Cộng Sản chỉ là một trong nhiều chế độ độc tài, như các chế độ phát xít, quân phiệt, tư bản quả đầu, dân chủ giả hiệu; họ cùng theo lề lối xếp đặt trước, trên bảo dưới nghe như vậy. Cho nên họ ghế những người tự do dân chủ.

Nhưng bước tiến tự nhiên của loại người là phải sống tự do dân chủ. Theo báo cáo của ủy hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, trong 25 năm từ năm 1980 có 81 quốc gia đã tiến bước trên đường dân chủ hóa đáng kể, trong đó có 33 nước đổi từ chế độ quân phiệt sang chế độ dân chủ. Trong thế giới hiện nay, có 140 quốc gia trong số khoảng 200 nước đã có bầu cử tương đối tự do, và 81 quốc gia trong số đó thực sự có tự do, tức là khoảng 60 phần trăm nhân loại.

Tổ chức Freedom House đã làm một danh sách các quốc gia theo chế độ tự do dân chủ, chia làm hai loại: Tự Do Thật và Hơi Tự Do. Ngoài ra là những nước Không Có Tự Do. Có 89 quốc gia được coi là Tự Do Thật, người dân trong các nước đó có đủ các quyền tự do dân sự, tự do chính trị. Có 58 nước được xếp hạng có tự do nhưng chưa đầy đủ. Việt Nam và Trung Quốc đều thuộc loại thứ ba, thiếu tự do, còn đứng cuối sổ là những xứ Cuba, Bắc Hàn, Miến Ðiện.

Vậy khi loài người cứ tiến lên dần dần đến chế độ Dân Chủ thì người ta nhắm cho ai được hưởng và được hưởng cái gì?

Có thể nói ngay: Các nước tự do dân chủ có đời sống kinh tế cao hơn, vì các khả năng của dân chúng được tự do phát huy và sử dụng hữu hiệu hơn. Ở Âu Châu, sau Ðại Chiến Thứ Hai các nước Ðông Âu theo chế độ Cộng Sản độc tài, trình độ kinh tế phát triển thua kém các nước phía Tây sống tự do dân chủ. Chỉ so sánh Ðông Ðức với Tây Ðức là thấy ngay: Cùng một dân tộc, cùng một văn hóa, lịch sử, chỉ khác nhau về chế độ chính trị độc tài hay tự do. Nhưng ngày trong các nước Tây Âu cũng có những xứ độc tài là Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha. Sau khi nhà độc tài Antonio Salazar (1932 - 1968) chết, năm 1976 Bồ Ðào Nha đã lập một bản Hiến Pháp mới theo chế độ dân chủ đại nghị. Tướng Franco ở Tây Ban Nha chết năm 1975, ba năm sau nước này cũng thay đổi, các đảng phái phát triển trong chế độ quân chủ lập hiến, và họ sống thật sự trong chế độ tự do. Từ khi dân chủ hóa, đời sống kinh tế hai quốc gia này đã tiến triển để theo kịp các nước khác ở Tây Âu.

Chúng ta thường nghe những người muốn bảo vệ chế độ độc tài nói rằng họ không cần tự do dân chủ, cứ độc tài mà kinh tế phát triển là tốt rồi. Nhưng phải biết rằng trên đời sống lâu dài của một quốc gia thì chính nhờ có dân chủ tự do mà kinh tế nhiều nước phát triển mạnh hơn. Các chế độ độc tài đều có những chướng ngại cản trở không cho sinh hoạt kinh tế tự do phát triển. Một thí dụ là tình trạng phí phạm tài nguyên quốc gia, tài nguyên thiên nhiên và sức người không được sử dụng đúng hiệu quả. Như nạn ăn cắp của công, nạn tham nhũng cản trở người kinh doanh; hoặc chế độ chỉ dùng người trung thành với cấp trên mà không cần biết khả năng, phát triển tài báo cáo láo mà không phát huy tài năng thật; đó đều là những chướng ngại không cho kinh tế tiến bộ.

Cho nên có thể nói việc tranh đấu thiết lập một chế độ tự do dân chủ là cho “tất cả mọi người” được hưởng, nhờ kinh tế phát triển cao hơn. Một nước theo kinh tế thị trường cũng không thể phát huy đầy đủ những khả năng của xã hội nếu không bảo vệ được đạo công bằng, tinh thần “trọng pháp,” hệ thống thủ tục, luật lệ bảo vệ quyền tư hữu. Những chế độ độc tài thường không thực hiện được những quy tắc đó vì tinh thần phe đảng.

Nhưng cuộc sống tự do dân chủ không phải chỉ có mục đích giúp mọi người sống trong nền kinh tế khá giả hơn. Ðiều quan trọng hơn nữa là người ta sống có nhân phẩm cao hơn, từng người một. Như một vị góp ý kiến “Dân Chủ Cho Tui” trên mạng lưới X-Cafe trong nước viết, “Chỉ có loài vật mới có thể thỏa mãn khi được ăn no, rồi ngủ kĩ, sống chết mặc bay, vật lo thân vật. Con người thì ai chẳng có ước mơ được sống vui vẻ và hạnh phúc, được tự do tư tưởng, được nói lên những gì mình nghĩ, mình thấy đúng?”. Ðây là một ước mơ của mọi người Việt Nam, nếu không tôn trọng khát vọng đó thì coi thường dân Việt Nam quá!

Còn một lý do nữa khiến chúng ta phải chấm dứt những chế độ độc tài, là lối sống tự do dân chủ sẽ bảo vệ đạo lý cho cả xã hội, cả dân tộc. Một lý do khiến phong tục, đạo lý trong các nước độc tài bị suy đồi là người ta không được khuyến khích sống lương thiện. Trái lại, các chế độ độc tài chỉ làm gương xấu, bằng cách sống dối trá từ trên xuống dưới.

Nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn, giải Nobel năm 1970, viết, “Chúng ta đừng quên rằng bạo lực không bao giờ đứng một mình, nó không bao giờ tồn tại được nếu đứng một mình. Nó phải liên kết với dối trá.” ... “Bạo lực tìm thấy chỗ trú ẩn duy nhất của nó là gian dối. Sự dối trá tìm được bạo lực là chỗ nâng đỡ duy nhất. Bất cứ kẻ nào coi bạo lực là phương tiện thì cũng đều lấy gian dối làm quy tắc sống.”

Khi người dân một nước tập sống chung với nhau trong sự giả trá, sống cả một đời như vậy, thằng nào nói dối giỏi nhất thì thăng tiến nhất, cứ như thế người ta sẽ mất thói quen sống lương thiện.

Cho nên một chế độ độc tài đầu độc cả xã hội. Một nhà văn châu Mỹ La tinh, Mario Vargas Llosa, cũng nói, “Chế độ độc tài làm nhiễm độc tất cả những thứ mà nó nắm trong tay; từ các định chế chính trị cho tới mối tương quan giữa cha và con.”

Những ai đã sống qua trong một chế độ độc tài thì hiểu được những điều mà Solzhenitsyn hay Llaso nói tới. Chế độ độc tài là một thứ chất độc. Nó xâm nhập cơ thể và đầu óc mọi người dân sống trong đó. Thử hít thở không khí tự do, chúng ta sẽ cảm thấy khi sống trong chế độ độc tài tinh thần bị nhiễm độc như thế nào.

Như vậy thì không có lý do gì mà không tranh đấu cho đồng bào Việt Nam chúng ta được hưởng thêm nhiều quyền tự do dân chủ. Những người nói ngược lại chẳng qua là vì họ đang được hưởng những ưu quyền trong chế độ hiện nay, không muốn mất. Nhưng những ưu quyền đó không có gì bền chặt cả. Quyền hành sẽ có lúc bị mất, tài sản có lúc cũng mất. Ðời mình chưa mất thì đời con cái cũng có thể mất. Vì khi xã hội không có tự do, không tôn trọng luật pháp công bằng, người dân không được tự do phát biểu, không được tự do chọn người cai trị, thì không có gì bảo vệ quyền sống cho người nào cả. Cho nên chính những người đang đặt câu hỏi “Dân Chủ Cho Ai?” cũng nên tự trả lời mình: “Dân Chủ Cho Chính Tui!” Và nên bắt đầu tranh đấu cho tất cả mọi người Việt Nam được hưởng các quyền tự do dân chủ.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Những đạo luật trên 40 tuổi

Ngô Nhân Dụng

Sau khi nước Mỹ đã bầu một ông tổng thống gốc Phi Châu, thì người Mỹ còn phải quan tâm đến vấn đề kỳ thị chủng tộc nữa hay không? Hai vụ xử án trong vòng một tuần cho thấy người ta vẫn quan tâm.

Tối Cao Pháp Viện Mỹ đưa ra hai phán quyết liên hệ tới Ðạo Luật Dân quyền (The Civil Rights Act) và Luật Quyền Bỏ Phiếu (The Voting Rights Act); cho thấy các vấn đề dân quyền, kỳ thị chủng tộc, sẽ còn đeo đẳng rất lâu.

Ðạo Luật Dân Quyền năm 1964 và Luật Quyền Bỏ Phiếu năm 1965 là những thành tựu sau nhiều thế hệ tranh đấu để ngăn chặn những hành động có thể coi là kỳ thị người da đen và các nhóm thiểu số khác.

Trong phán quyết ngày Thứ Hai 29 Tháng Sáu tuần này, Tối Cao Pháp Viện đã bác bỏ quyết định của các tòa án cấp dưới. Với tỷ số 5 trên 4, Tòa Tối Cao tuyên bố thành phố New Haven, Connecticutt đã vi phạm Ðạo Luật Dân Quyền khi xóa bỏ kết quả một kỳ thi thăng cấp của các lính cứu hỏa; mặc dù thành phố hành động như vậy cũng chỉ vì không muốn vi phạm đạo luật trên.

Năm 2003, Sở Cứu Hỏa New Haven tổ chức kỳ thi cho 118 người, để chọn 15 người được lên làm sĩ quan. Có một kỳ khảo hạch thi viết với các câu hỏi trắc nghiệm (người Việt Nam thường gọi là a, b, c, khoanh), và một kỳ thi vấn đáp. Chỉ có 59 người thi đậu kỳ khảo hạch, và thành phố đã chọn 19 người điểm cao nhất, trong đó có 17 người da trắng và 2 người gốc La tinh. Khi thấy không có người da đen nào đậu, luật sư của thành phố đã cảnh cáo là họ có thể bị kiện, bị tố giác cuộc thi này không công bằng. Một lý do thường nêu lên trong những vụ kiện như vậy là các câu hỏi không khách quan, trung lập, nghĩa là người da trắng có thể trả lời dễ hơn người da đen và thiểu số.

Thành phố New Haven lo bị kiện, đưa vấn đề ra cho Hội Ðồng Công Vụ duyệt xét kết quả cuộc thi, xem kỳ thi có thể bị coi là thiên vị hay không. Hội đồng này bỏ phiếu 2 thuận, 2 chống; vì lý do đó, thành phố hủy bỏ kết quả cuộc thi.

Những người được điểm cao nhất đã phản đối bị đối xử bất công, và ông Frank Ricci thay mặt họ đứng tên thưa kiện. Ông là người bị tật và đã bỏ công học rất kỹ cuốn cẩm nang của thành phố để chuẩn bị kỳ thi, ai cũng thấy là ông bị đối xử bất công chỉ vì thành phố lo bị kiện.

Thành phố New Haven đã tránh không muốn bị các lính cứu hỏa người da đen kiện. Trong quá khứ, nhiều người da đen đã kiện các công ty, xí nghiệp hay các tổ chức khác nếu thấy các quy tắc trong việc tuyển mộ và thăng thưởng nghiêng về phía người da trắng. Trong một kỳ thi, nhiều thí sinh có thể trả lời một số câu hỏi dễ dàng hơn các thí sinh khác, nếu trong các câu hỏi đó có những điều liên quan tới nếp sống hàng ngày, văn hóa, phong tục quen thuộc đối với họ; trong khi đó nhiều người khác không có cơ hội quen thuộc sẽ bị thiệt. Khi mới qua Canada tôi đã dự một cuộc thi trắc nghiệm vào đại học. Khi gặp những câu hỏi về toán và lý luận nhưng dùng thí dụ chơi Bóng Chầy (baseball) thì tôi chịu thua, vì tôi chưa bao giờ biết trò chơi đó người ta chơi như thế nào. Một câu hỏi nữa liên hệ tới các công đoàn ở Mỹ, tôi cũng bỏ trắng vì chưa biết ở đây có những công đoàn nào, tên là gì. Nhưng tổ chức soạn đề thi không chịu trách nhiệm gì hết, vì chính tôi đã chấp nhận dự thi dù không sửa soạn đầy đủ. Trong xã hội Mỹ có những từ ngữ hoặc vật dụng quen thuộc với người da trắng mà đa số người da đen không biết; cho nên mối quan tâm này là đúng. Nhưng cuộc thi của Sở Cứu Hỏa New Haven chỉ hỏi những câu hỏi về kỹ thuật trong nghề cứu hỏa, và những người soạn đề thi đã tham khảo nhiều người thuộc chủng tộc khác nhau. Ðó là một lý do khiến 5 vị trong Tối Cao Pháp Viện Mỹ thấy mối lo bị kiện của thành phố này là không đủ vững.

Khi vụ kiện của các lính cứu hỏa không được thăng thưởng dù đã “thi đậu” ra trước tòa, các tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều chấp nhận quyết định của thành phố New Haven, cho nên họ kiện lên tới Tối Cao Pháp Viện.

Trong ba vị thẩm phán tòa phúc thẩm có bà Sonia Sotomayor, người đã được Tổng Thống Barack Obama đề cử vào Tối Cao Pháp Viện, thay thế Thẩm Phán Souter đang từ chức. Trong phán quyết với tỷ số ngang ngửa 5 trên 4, ông Souter thuộc phe thiểu số đồng ý với phán quyết của tòa dưới. Bà Sotomayor đã xử 4,000 vụ án trước đây, nhưng vụ án này sẽ theo bà ra trước Thượng Viện Mỹ trong cuộc thẩm vấn để thông qua việc bổ nhiệm bà.

Thành phố New Haven có 43% người da trắng và 37% là người da đen, theo cuộc điều tra dân số năm 2000. Trong số lính cứu hỏa của thành phố thì chỉ có 27 người da đen, chưa tới một phần tư, và trong quá khứ Sở Cứu Hỏa đã bị mang tiếng là nơi người da đen bị kỳ thị. Quyết định của thành phố có thể vì mối lo bị kiện là có thật, và khi xẩy ra sẽ rất tốn tiền! Nhưng cũng có thể vì các nghị viên lo mất phiếu của người da đen. Ba trong số 5 vị thẩm phán tối cao có khuynh hướng bảo thủ đã viết một bản ý kiến nêu lên vấn đề này, nhưng Chánh Án John Roberts và Thẩm Phán Kennedy không đồng ý ký vào ý kiến đó. Ông Kennedy viết phán quyết đã nhấn mạnh rằng việc thành phố New Haven xóa bỏ kết quả cuộc thi vì không có người da đen nào đậu rõ ràng là quyết định dựa trên chủng tộc của những người đã thi đậu; do đó đã vi phạm đạo luật Dân Quyền.

Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã xử rất nhiều vụ liên can tới Ðạo Luật Dân Quyền và các án lệ đó sẽ soi sáng cho các tòa án cấp dưới. Năm 1978 Tòa Tối Cao đã phán (cũng với tỷ số 5-4) các trường cao đẳng và đại học có quyền coi chủng tộc là một tiêu chuẩn chọn sinh viên, để bù vào sự thiệt thòi của các sinh viên người da đen vì họ lớn lên trong cảnh nghèo nàn và sống ở những khu thiếu trường tốt. Năm 1980, tòa đã phán (tỷ số 6-3) rằng Quốc Hội Mỹ có quyền dành riêng một số tiền trong ngân khoản xây dựng cho các xí nghiệp của người thiểu số, mà không vi hiến. Lý do cũng vì để đền bù cho những bất công khiến người da đen hay người thiểu số đã phải chịu thiệt thòi trước đó. Năm 1986, tòa đã phán (tỷ số 6-3) rằng thành phố Cleveland có quyền ấn định thăng cấp cho lính cứu hỏa theo tỷ số một người trắng lên chức thì phải có một người da đen, để bù lại cho tỷ số người da mầu lên cấp cao có sự cân bằng.

Những vụ án đó cho thấy vấn đề áp dụng Ðạo Luật Dân Quyền rất phức tạp. Chúng ta không nên hiểu lầm rằng trong vụ án vừa qua các quan tòa cấp dưới bảo vệ những người lính cứu hỏa da đen, còn tòa tối cao không bảo vệ họ. Thực ra, vấn đề chính ở đây là thành phố New Haven có thi hành đúng Ðạo Luật Dân Quyền hay không. Theo ý của 5 vị thẩm phán tối cao quyết định, thành phố chỉ có thể xóa bỏ kết quả cuộc thi nếu có “chứng cớ mạnh mẽ cho thấy cuộc thi không công bằng.”

Ðây sẽ là một kết luận khiến nhiều công ty, xí nghiệp và cơ quan hành chánh phải suy nghĩ trong tương lai khi tuyển mộ và thăng thưởng nhân viên. Họ có thể bị kiện từ hai phía, những người thấy có chứng cớ mạnh mẽ là cuộc thi có vẻ thiên vị, và những người thấy không thấy thiên vị đều có động cơ để thưa kiện cả!

Một tuần trước vụ Sở Cứu Hỏa ở New Haven, Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã xét một vụ án khác liên hệ đến Ðạo Luật Quyền Bỏ Phiếu. Ðạo luật này cấm tất cả những hành động có thể ngăn cản việc người dân đi bỏ phiếu, mà trước đó nhiều tiểu bang miền Nam vẫn đưa ra gây khó khăn cho người Mỹ da đen. Ðể đề phòng tệ nạn này tiếp diễn, Ðiều số 5 đạo luật bắt buộc các đơn vị bầu cử muốn thay đổi các quy luật bỏ phiếu phải được Bộ Tư Pháp liên bang cho phép, nếu đó là nơi trước đây đã xẩy ra các hành động kỳ thị chủng tộc. Ðiều khoản này có tính cách tạm thời, nhưng đã được triển hạn nhiều lần, cho tới năm 2031 mới phải duyệt lại.

Một đơn vị bầu cử trong tiểu bang Texas, trước đây không hề có nạn kỳ thị mầu da trong các cuộc bỏ phiếu, đã xin được miễn áp dụng Ðiều 5 trên, và yêu cầu này bị tòa án cấp dưới bác bỏ. Khi vụ án lên Tối Cao Pháp Viện, 8 trong số 9 thẩm phán tối cao đã bác bỏ quyết định của tòa dưới, tức là đồng ý cho đơn vị bầu cử trên được miễn. Tuy nhiên phán quyết của tòa đã tránh hoàn toàn không đề cập tới điểm cốt yếu của Ðiều 5 Ðạo Luật Quyền Bỏ Phiếu, là muốn thay đổi việc bầu bán phải xin phép. Như vậy thì nhiều đơn vị bầu cử ở miền Nam muốn thay đổi địa chỉ phòng phiếu cũng phải xin Bộ Tư Pháp chấp thuận. Chánh Án Tối Cao John Roberts chỉ đề cập tới vấn đề này, khi ông nói rằng chính phủ liên bang chỉ có quyền can thiệp vào việc tổ chức bỏ phiếu nếu có lý do vì những nhu cầu đang có, chứ không nên dựa trên những nhu cầu trong quá khứ.

Vì quả thật nước Mỹ đã thay đổi rất nhiều trong vấn đề chủng tộc. Trước đây nhiều nơi người khác mầu da không được kết hôn. Một đạo luật “Bảo vệ Hôn nhân” năm 1924 ở tiểu bang Virginia (miền Nam) chỉ bị xóa sổ khi bị đưa ra Tối Cao Pháp Viện Mỹ vào năm 1967! Bây giờ khung cảnh đã khác hẳn, tâm lý khác hẳn. Những luật lệ đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của những người da mầu có còn cần thiết nữa hay không?

Người bảo có, người bảo không; và cuộc bàn cãi sẽ còn kéo dài rất lâu.

Nhưng ở Mỹ mỗi lần tranh luận như vậy, tòa án sẽ là nơi đưa ra câu trả lời cuối cùng. Tinh thần thượng tôn pháp luật giúp mọi người sống bình an, dù nhiều người không đồng ý với tòa án. Muốn thay đổi xã hội, người ta phải thay đổi luật lệ. Cho tới khi đổi luật, mọi người phải chấp nhận ý kiến của tòa án. Tòa án bỏ phiếu, dù với tỷ lệ 5 vị đồng ý, 4 vị chống, nhưng theo luật chơi dân chủ thì đa số vẫn có quyền quyết định.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Giới trẻ Việt Nam không thể chậm chân

Ngô Nhân Dụng
Ngày 1 Tháng Bảy ở Bắc Kinh có một cuộc biểu tình phản kháng biến thành một bữa tiệc ăn mừng. Ðáng lẽ ra hôm đó là ngày chính phủ Bắc Kinh bắt đầu áp dụng lệnh bắt buộc các nhà sản xuất máy vi tính PC phải gài một nhu liệu mới vào máy để giúp nhà nước Cộng Sản kiểm duyệt tất cả các mạng lưới mà người dùng máy muốn vào. Nhưng trước sự phản kháng của người dân Trung Quốc dùng Internet cũng như dư luận ngoại quốc, một ngày trước khi mệnh lệnh trên có hiệu lực, Bộ Công nghiệp và Kỹ Thuật Thông Tin tuyên bố “hoãn” không áp dụng.

Họa sĩ Ai Weiwei (Ai Vị Vị) là một người làm blog (blogger) rất hoạt động. Ông đã hăng hái cổ động giới dùng blog ở trong nước cùng lên tiếng phản đối cái khí cụ kiểm duyệt toàn diện trên. Nếu để yên, nhà nước sẽ dùng vũ khí mới của họ để theo dõi, kiểm duyệt từng cái máy PC!

Bộ nhu liệu mang tên Lục Bá (Ðê mầu Xanh) mà Bắc Kinh bắt các nhà sản xuất PC phải cài vào trong máy được mô tả là nhằm bảo vệ trẻ em, ngăn chặn các mạng lưới mạng khích dâm. Ai cũng đồng ý đây là một việc cần làm và nhiều quốc gia khác đã làm. Trên thế giới có bán nhiều nhu liệu loại này, phần lớn để giúp các phụ huynh kiểm soát việc con em sử dụng Internet. Nếu chính phủ Trung Quốc muốn đạt mục đích giáo dục đó, họ có thể khuyến cáo dân chúng sử dụng các nhu liệu sẵn có. Không có lý do nào khiến nhà nước phải bắt mỗi cái máy đều mang sẵn một nhu liệu loại này, do nhà nước đặt một công ty trong nước sản xuất.

Cho nên ai cũng thấy chính quyền Trung Quốc chỉ nhắm mục đích kiểm soát các mạng lưới, không cho dân Trung Hoa được tự do sử dụng phương tiện truyền thông này.

Nhưng người Trung Hoa bây giờ không sợ chính quyền như trước nữa. Cho nên cả nước đã dội lên một phong trào phản kháng. Tuy bên ngoài không ai nghe thấy nhưng trên các mạng lưới rất mọi người góp ý kiến ồn ào, náo nhiệt! Hiện nay có khoảng hai trăm triệu người Trung Hoa dùng Internet, số “công dân mạng” (netizen) sắp sửa lên cao hơn con số ở Hoa Kỳ. Và họ nói rất mạnh!

Trong Han Han blog có người viết, “Ai cũng biết nhà nước lúc nào cũng lấy cớ bảo vệ thiếu nhi để kiểm soát văn hóa!” Một blogger viết đặt thẳng câu hỏi cho nhà nước, “Các ông đã chối bỏ không cho các 'công dân mạng' quyền tự do ngôn luận! Các ông và những cơ quan thông tin của Ðảng Cộng Sản đã âm mưu làm mờ tối và bóp méo sự thật!” Một người khác lên án, “Chúng tôi sẽ coi các ông là Kẻ thù Số Một của Internet!” Một blogger còn dám cất lời đe dọa, “Ðể bảo vệ tự do Internet, để Internet tiến triển thêm, và để bảo vệ quyền tự do của chính chúng tôi, chúng tôi sẽ tấn công phá bộ máy kiểm duyệt của các ông một cách có hệ thống để cho các ông biết guồng máy kiểm duyệt của các ông nó yếu như thế nào!”

Mấy dòng trích từ các blog mà phóng viên nhật báo Financial Times ở Bắc Kinh giới thiệu cho thấy sự phẫn nộ của các bloggers Trung Quốc trước âm mưu kiểm duyệt thông tin thô bạo của chính quyền. Nhiều bloggers đã chính thức xuất hiện, do lời mời của họa sĩ Ai Weiwei, hẹn gặp nhau tại một quán ăn có vườn rộng ở phía Ðông thành phố Bắc Kinh đúng ngày 1 Tháng Bảy. Những người làm blog, bloggers, đã chuẩn bị một cuộc họp mặt phản kháng, với những chiếc áo thung T-shirt viết khẩu hiệu đả đảo nhu liệu “Lục Bá;” có nhiều chiếc áo viết chữ Anh, Green Dam. Hơn 200 người đã tới, gồm các nhà văn, nghệ sĩ, nhà báo, sinh viên, phần lớn đều làm blog riêng. Nhưng thay vì biểu tình phản đối thì họ lại uống bia ăn mừng khi chính quyền Trung Quốc “hoãn” việc áp dụng biện pháp kiểm duyệt trên.

Ai Vị Vị là một họa sĩ nổi tiếng ở Bắc Kinh, gần đây ông đã dùng blog của ông làm một diễn đàn tranh đấu cho các quyền tự do của các công dân Trung Hoa, và được giới trẻ khắp nước hưởng ứng. Sau khi trận động đất ở Tứ Xuyên xảy ra, nhiều mạng lưới cùng tố cáo nạn tham nhũng khiến các trường học xây trong vùng này bị sụp đổ trong khi nhà tư nhân được an toàn, chỉ vì bị nhà thầu đồng lõa với các cán bộ địa phương “rút ruột,” theo lối nói của người Việt Nam. Ai Vị Vị dùng blog của ông làm nơi nhận và phổ biến những thông tin về số học sinh tử nạn tại các làng bị động đất nặng, công bố cả nước biết.

Trong bữa tiệc mừng chiến thắng, Ai Vị Vị tuyên bố đây là “một chiến thắng của công luận” đối với chính quyền: “Chính quyền đã rút được một bài học. Là họ không thể đối xử với các công dân theo lối đó được nữa!”

Chúng ta có thể đặt một dấu hỏi sau lời tuyên bố trên. Vì khó đo lường trước được những hành động của một chế độ độc tài toàn trị.

Trong các chế độ độc tài hữu phái bình thường, như đã thấy ở Phi Luật Tân hay Nam Hàn trong các thập niên 1970-1980, những người cầm quyền còn giữ một mức độ liêm sỉ tối thiểu cho nên họ chịu áp lực của dư luận dân chúng. Vì trên căn bản họ vẫn tôn trọng các quy tắc như tự do ngôn luận, tự do bầu cử, vân vân, ngay cả khi họ tìm cách ngăn cản không cho dân được hưởng các quyền này.

Các chế độ độc tài Cộng Sản thì khác. Vì họ là những người chiếm chính quyền nhân danh một lý tưởng mộng mơ, chính thức chủ trương độc tài chuyên chế để thực hiện thứ “tôn giáo mới” của họ. Vì thế họ có thể đàn áp dân một cách thô bạo không cần theo các quy tắc về liêm sỉ tối thiểu. Vì họ cứ lấy chủ nghĩa Cộng Sản làm cứu cánh để tự biện minh cho mọi hành động tàn ác. Trong nửa cuối thế kỷ 20 có hai chính quyền độc tài nhẫn tâm dùng xe tăng giết hàng ngàn người dân trong tay không vũ khí. Ðó là Hồng Quân Nga ở Hungary năm 1956 và Hồng Quân Trung Quốc năm 1989 ở Thiên An Môn.

Cho nên không thể lạc quan quá đáng về “chiến thắng” của các bloggers ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, những người như ông Ai Vị Vị có lý do để vẫn lạc quan. Vì con số những người vào Internet ở Trung Quốc đã lên rất cao. Lực lượng đáng kể đó gồm những người thuộc thành phần trẻ, có học, lợi tức thuộc tầng lớp trung lưu, và sống ở các đô thị lớn. Có thể nói họ là thành phần ưu tú trong đời sống kinh tế, xã hội ở Trung Quốc hiện nay. Trước đây 15 năm Pháp Luân Công đã là một phong trào quần chúng lớn ở Trung Quốc, khiến cho đảng Cộng Sản phải tìm cách cấm đoán, Việc đặt phong trào này ra ngoài luật pháp cho thấy đảng Cộng Sản Trung Quốc lo sợ như thế nào. Nhưng khi đó số người theo Pháp Luân Ðại Pháp chỉ khoảng vài chục triệu người.

Hiện nay số người dùng Internet lên cao gấp mười con số trên. Họ không có một lãnh tụ và không có những tín điều chung như Pháp Luân Công; nhưng họ có những quyền lợi kinh tế cũng như tinh thần ngày càng lớn và gắn bó với nhau. Ðảng Cộng Sản không thể bỏ qua họ được.

Cơ quan chính thức của Cộng Sản Trung Quốc là Nhân Dân Nhật Báo mới thú nhận như vậy. Tờ báo này mới viết, “Trong thời đại Internet, bất cứ người nào cũng có tiềm năng trở thành một kênh thông tin. Tình trạng giống như ai cũng có sẵn một cái máy khuếch âm (microphone) đặt trước mặt (để lên tiếng khi muốn).”

Lời thú nhận trên báo Nhân Dân ở Bắc Kinh có thể cũng là một lời đe dọa; vì ai cũng biết Cộng Sản Trung Quốc không thể nào chấp nhận cảnh mỗi người dân trên mạng có một chiếc micro trước mặt! Ðó là lý do họ muốn đặt cái Ðê Xanh, Lục Bá, vào trong từng máy PC! Và trong tương lai chắc họ sẽ tìm cách thực hiện được điều đó lần nữa. Việc hoãn thi hành quyết định này một phần cũng vì Bắc Kinh bị các chính phủ và các công ty sản xuất máy PC trên thế giới phản đối.

Nhưng cuộc cách mạng thông tin vẫn lừng lững tiến tới trên khắp thế giới. Và đó là một vũ khí đang được sử dụng tận tình trong phong trào đòi dân chủ hóa. Khi dân Iran biểu tình hàng trăm ngàn người chống bầu cử gian lận, những thông báo tin tức được truyền qua Internet. Khi nhà nước Teheran cắt Internet, dân dùng Facebook, dùng Twitter để liên lạc với nhau qua máy điện thoại cầm tay. Có lúc công ty điều hành Twitter ở Mỹ định ngưng hoạt động một buổi để điều chỉnh và cải thiện cả hệ thống, chính phủ Obama đã can thiệp yêu cầu họ tạm ngưng việc bảo trì này, để khỏi cản trở việc thông tin của người dân Iran đang tổ chức biểu tình.

Cả thế giới đang dùng các khí cụ truyền thông mới để cải thiện đời sống xã hội, đặc biệt là trong các nước độc tài, nơi nhà nước chiếm giữ độc quyền thông tin. Giới thanh niên trí thức sử dụng các dụng cụ mới đó tranh đấu ngay cho quyền tự do của chính họ.

Tại các nước Á Rập, giới trí thức phản kháng chế độ độc tài cũng sử dụng Internet để đẩy mạnh phong trào đòi tự do dân chủ. Một xứ bảo thủ nhất như Á Rập Sau Ði cũng có những người tranh đấu dùng Internet và cyberspace. Một nữ ký giả ở xứ này bị cha đánh đập sau khi cô dự một buổi họp về dân quyền, cô đã tới một ký túc xá của phụ nữ xin tạm trú và cô bị họ từ chối. Nhưng sau khi cô dùng Facebook loan tin này, tin tức truyền đi, các mạng lưới bàn tán, và nhà trọ trên đã phải mời cô trở lại ngay!

Một blogger ở Ai Cập là ông Wael Abbas đã dùng Internet phổ biến tin tức về các nạn nhân bị cảnh sát tra tấn, theo dõi tin tức những người bị bắt và phổ biến khắp nước. Vào Tháng Tư vừa qua ông Abbas bị bắt vì một ông cảnh sát hàng xóm tố là hành hung ông ta. Ông Abbas đã dùng Twitter, với giới hạn mỗi lần chỉ gửi được 144 chữ qua điện thoại di động, để báo tin thường xuyên cho bạn bè biết mình đang bị cảnh sát hỏi cung như thế nào. Ông báo trước có thể sẽ có người đứng ra làm chứng gian để công an buộc tội ông. Số người theo dõi tin này lan rộng rất nhanh, đi khắp thế giới. Trong khi các bloggers khác ở Ai Cập tụ tập trước Sở Công Tố nơi Abbas bị hỏi cung để theo dõi tin tức thì có những điện văn hỏi thăm ông Abbas từ những nơi xa xôi, như Argentina và Trung Quốc!

Hy vọng giới trẻ Việt Nam, nhất là giới sinh viên, biết những chuyện trên và các tin tức khác để thấy rằng họ đang nắm trong tay một dụng cụ rất mạnh nếu họ muốn tranh đấu cho xã hội nước nhà tiến bộ hơn. Internet và các phương tiện truyền thông qua máy điện thoại sẽ thay đổi thế giới, chúng ta không nên đứng bên lề. Nước Việt Nam đã lỡ chậm chân trong nửa thế kỷ trước đây cho nên bị các nước Á Ðông qua mặt trong cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng tự do dân chủ. Thế hệ mới không nên để mình bị chậm chân lần nữa như các cha anh của mình! Ðứng ngoài lề lịch sử thì sẽ lại xấu hổ với con cháu sau này.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Có thể cứu California được không?

Ngô Nhân Dụng

California vẫn là một tiểu bang bất trị (ungovernable). Ngày 1 Tháng Bẩy, chính quyền hết tiền xài, phải gửi giấy xin nợ, từ các giáo chức đến những người lãnh tiền xã hội hoặc bồi hoàn tiền thuế đóng dư.

Ngân khố hết tiền vì các đại biểu Quốc Hội không thể đồng ý với nhau về ngân sách, khi tài khóa hết hạn. Cố gắng sau cùng là một ngân sách mới của các nghị sĩ đảng Dân Chủ, trong đó họ chịu cắt bớt nhiều tỷ đô la trong các khoản trợ cấp xã hội và giáo dục. Nhưng các đại biểu Cộng Hòa bất đồng ý kiến nên không thành. Vì theo luật tiểu bang thì các biểu quyết về ngân sách phải được 2 phần ba phiếu thuận mới thông qua. Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger và các đại biểu Cộng Hòa muốn nhân cơn khủng hoảng ngân sách này phải chấn chỉnh lại toàn thể hệ thống chi tiêu của tiểu bang. Vì trong vài chục năm qua tiểu bang này “sống trong mơ,” khi dư giả thì chi tiêu thong thả vượt trên mức thu nhập, khi kinh tế xuống thì hết tiền xài.

Từ năm 1992 đến nay, số thuế mà California thâu được tăng 167%, nhưng số chi tiêu đã tăng 189%. Tự nhiên, năm này hụt, năm sau lại hụt thêm. Nếu không thay đổi lối sống đó thì không bao giờ chấm dứt cảnh lâu lâu lại khủng hoảng ngân sách. Nhưng thay đổi như thế nào? Ðảng Dân Chủ không muốn cắt giảm các trợ cấp y tế và xã hội cho người nghèo, và bảo hiểm y tế cho một triệu trẻ em, coi đó là bổn phận mà nước này không thể bỏ qua được. Họ cũng không muốn cắt lương bổng công chức và giáo chức vì những nghiệp đoàn này vẫn ủng hộ đảng Dân Chủ. Ðảng Cộng Hòa theo triết lý không tăng thuế, và luôn nhấn mạnh rằng dân California phải chịu suất thuế cao nhất nước Mỹ. Ðảng Dân Chủ thường chiếm đa số ở hai viện Quốc Hội tiểu bang, nhưng không đủ 2 phần 3, nên khi hai đảng không thể thỏa hiệp với nhau thì không ngân sách nào được thông qua.

California quả thật chi tiêu rất rộng rãi. Tiểu bang trả lương cho nhân viên ngành giáo dục nhiều hơn lương của các tiểu bang khác, trung bình cao hơn 35%. California chi tiêu các khoản về xã hội cũng rộng rãi hơn, tính theo đầu người mỗi người dân California chi 70% nhiều hơn số trung bình của dân Mỹ ở nơi khác. Riêng khoản trợ cấp xã hội các tiểu bang khác mỗi người dân chỉ góp công quỹ bằng một phần ba dân California. Số công chức làm việc cho tiểu bang 235,000 người có thể về hưu sau 30 năm công vụ ở tuổi 55 và lãnh hưu bổng cao hơn một nửa tiền lương. Những nhân viên công lực như cảnh sát có thể về hưu lúc 50 tuổi và lãnh lương hưu bằng 90% lương làm việc. Tiểu bang chi tiêu rộng rãi, nhưng California cũng là nơi mức sinh hoạt đắt đỏ hơn mức trung bình toàn quốc. Ðó là một lý do để biện minh đối với những người không muốn thay đổi.

Các đại biểu Quốc Hội tiểu bang cũng được thù lao rộng rãi hơn nhiều so với các tiểu bang khác. Ngoài số lương trên một trăm ngàn, họ còn được công quỹ chi cho về xe hơi, tiền xăng, tiền bảo trì xe; và lương bổng cho nhân viên văn phòng của họ. Cho nên chính các đại biểu Quốc Hội đã đề nghị tự giảm các chi tiêu cho chính mình. Có một đề nghị là mỗi nhân viên văn phòng của các vị đại biểu sẽ chỉ được mua một đôi kính mỗi năm, thay vì hai đôi kính như trước đây (người không đeo kính thì có thể mua kính mát)!

California cũng là một tiểu bang chi tiêu rất nhiều cho các di dân mới tới, trong đó có những người tị nạn. Trung bình số chi cho di dân làm tốn thêm 1,000 đô la thuế cho mỗi người dân sở tại, vì các di dân mới thường lợi tức thấp, không đóng nhiều thuế.

Số thuế lợi tức mà chính phủ tiểu bang thu được nhắm phần lớn vào những người lợi tức cao, nhất là những người kiếm 100,000 đô la một năm trở lên. Còn những người lợi tức bậc trung và thấp thì đóng thuế tương đối thấp hơn nhiều tiểu bang khác. Thuế lợi tức chiếm 53% tổng số thu của tiểu bang, trong đó khoản thuế thu trên lợi tức đầu tư chiếm phần rất lớn. Khi kinh tế suy yếu, những nhà đầu tư không có lời nên không đóng thuế, những giới chỉ huy lãnh lương cao ở các xí nghiệp lớn cũng mất việc hay giảm lương; số tiền thu thuế của tiểu bang bị ảnh hưởng nặng nề. Các vụ khủng hoảng ngân sách ở California thường trùng hợp với các kỳ kinh tế Mỹ suy thoái.

Thuế xăng ở California cao bậc nhất trong toàn nước Mỹ, thuế bảng số xe cao nhất, thuế tiêu thụ cao; và thuế đánh trên lợi nhuận của các doanh nghiệp cao nhất trong số các tiểu bang miền Tây nước Mỹ. Chỉ có thuế nhà đất ở California là thấp hơn nhiều tiểu bang khác. Và đó là do Ðề án số 13 (Proposition 13) được chấp thuận trong một cuộc bỏ phiếu trực tiếp của tất cả các cử tri, cách đây trên 30 năm.

Ðề án 13 được thông qua khi dân chúng California nổi lên phong trào chống tăng thuế, đã hạn chế không cho chính phủ đánh thuế thổ trạch quá 2% trị giá căn nhà và đất. Nhưng đề án này cũng để lại những hậu quả khác là nguyên nhân gây nên cảnh bế tắc ngân sách trong Quốc Hội tiểu bang. Thí dụ muốn đánh thêm thuế, phải có 2 phần ba các đại biểu ở mỗi viện mới được thông qua, tức là cần 2 phần 3 số 40 nghị sĩ rồi lại cần 2 phần 3 số 80 dân biểu ủng hộ. Một di sản khác của Ðề án 13 là cảnh đánh thuế bất công. Những chủ nhà đã mua nhà từ vài chục năm sẽ đóng thuế dựa trên giá căn nhà lúc mua, dù đã được điều chỉnh vẫn thấp hơn giá trị các căn nhà mua gần đây. Vì thế hai ngôi nhà cạnh nhau, giống hệt nhau, nhưng số thuế thổ trạch cao thấp khác nhau rất xa. Ngoài ra, thuế thổ trạch ở California được đóng thẳng cho tiểu bang chứ không đóng cho các thị xã hoặc thành phố như các nơi khác. Vì thế ngân sách các trường học không do các thị xã cung cấp mà lãnh từ tiểu bang. Khi tiểu bang hết tiền thì tất cả các trường đều phải giảm chi tiêu. Từ nay đến sang năm riêng vùng Los Angeles sẽ có đến 2,500 giáo chức bị sa thải.

Chính phủ tiểu bang đang ký giấy nợ vì không có tiền trả lương cho công chức, giáo chức. Người lãnh trợ cấp xã hội cũng sẽ nhận được những giấy nợ (IOU, trong tiếng Anh) hứa đến Tháng Mười sẽ thanh toán. Các người cung cấp dịch vụ hay hàng hóa cho chính phủ cũng chỉ nhận được giấy nợ thay vì tiền mặt. Mọi người có thể đem các giấy nợ này đến cầm thế cho ngân hàng để lấy tiền chi tiêu, nhưng các ngân hàng sẽ chỉ nhận giấy nợ đó trong một vài tuần nữa thôi. Thực ra đối với các ngân hàng thì nhận các giấy nợ đó rồi đến Tháng Mười đi đòi chính phủ trả, với lãi suất 3.75% một năm cũng tốt, nhưng họ sợ lúc đó chính phủ lại khất nợ thêm lần nữa vì chưa có tiền!

Các ngân hàng không lo lắng bằng các người được trợ cấp y tế xã hội hay các bác sĩ chữa cho bệnh nhân trong chương trình Y tế Medi-Cal của tiểu bang. Theo hiến pháp thì nếu tiểu bang có tiền nhưng chưa đủ, họ không được ưu tiên. Ưu tiên hàng đầu là dùng tiền mặt trả lương cho ngành giáo dục và trả nợ các ngân hàng. Tiếp theo đến lượt trả lương công chức và những người lãnh hưu bổng trước thuộc ngành công chức (CalPERS) và giáo chức (CalSTRS). Sau cùng nếu còn tiền mới tới lượt trả cho những nhân viên săn sóc các cụ già hoặc người tàn tật tại gia; và các người làm dịch vụ y tế cho chương trình Medi-Cal.

Cơn khủng hoảng này là một cơ hội để dân chúng California thay đổi hệ thống cai trị khiến tiểu bang này mang tiếng “bất trị,” (ungovernable).

Nhiều người đề nghị phải có một hội nghị tu chính hiến pháp, nhưng sẽ khó tiến hành được. Một đề nghị nhẹ hơn là tu chính một số điều luật do Ðề án 13 tạo nên. Chẳng hạn, tiểu bang có thể trưng cầu ý kiến cử tri với một đề án mới nhằm bãi bỏ điều bắt buộc phải có đa số 2 phần 3 khi chấp nhận ngân sách. Có thể thay đổi cách tính thuế nhà đất, riêng cho những khu thương mại, kinh doanh sẽ được đánh thuế theo trị giá thị trường thay vì theo giá lúc mua.

Một đề nghị thay đổi thể thức bầu cử cũng có thể giúp cả hệ thống cai trị California thay đổi. Ðó là các cuộc bỏ phiếu sơ bộ tại tiểu bang được mở rộng để cho tất cả mọi công dân tham dự, thay vì dành riêng cho cử tri ghi danh trong mỗi đảng. Hiện nay, lối bỏ phiếu trong vòng mỗi đảng gây ra tình trạng những người có khuynh hướng cực tả khuynh loát trong nội bộ đảng Dân Chủ, trong số đó có thành viên tích cực nhất của các nghiệp đoàn; còn những người cực hữu đóng vai chủ động trong cuộc tuyển chọn của đảng Cộng Hòa. Các chính trị gia phải chiều ý các lớp cử tri đó mới hy vọng được chọn làm ứng cử viên của mỗi đảng. Khi vào Quốc Hội họ vẫn phải bảo vệ lập trường cực tả hay cực hữu của những người đã chọn mình. Nếu các cuộc bỏ phiếu sơ bộ được mở rộng thì hy vọng thành phần các chính trị gia ôn hòa của cả hai đảng sẽ tham gia trong Quốc Hội nhiều hơn. Như vậy thì hy vọng thỏa hiệp sẽ cao hơn, và tiểu bang có thể tránh được nhiều vụ khủng hoảng ngân sách như hiện nay.

California là một tiểu bang có hệ thống đại học tốt nhất trong số các đại học công lập ở nước Mỹ. Tiểu bang cũng có một hệ thống xa lộ và dẫn nước tốt bậc nhất. Nhưng California cũng là một tiểu bang chi tiêu quá rộng rãi so với số thu, đặc biệt là số thuế thu được lại tùy thuộc nguồn lợi tức thăng trầm quá lớn. Hệ thống an sinh xã hội của tiểu bang rất rộng rãi và dễ bị lợi dụng có thể được cải tổ để tiết kiệm hàng chục tỷ đô la mà vẫn giúp được những người lợi tức yếu và thiếu thốn. Như ông Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger mới nói trong ngày chính quyền bắt đầu ký giấy khất nợ: “Trong mấy chục năm qua, chúng ta đã hứa hẹn nhiều quá.” Bây giờ toàn thể các cử tri phải có một ý chí chính trị chung, là thay đổi toàn diện cung cách cai trị của các nhà chính trị trong chính quyền và Quốc Hội.[/align]

Post Reply