Bình Luận Thời Sự
Nguyễn Tấn Dũng bịt miệng cả nước
Tuesday, August 11, 2009
Ngô Nhân Dụng Hôm qua có một bản tin đưa ra trên mạng lưới, đọc qua thấy là một tin đùa cợt. Bản tin nói rằng ông bộ trưởng Bộ Văn Phòng Chính Phủ gửi một cái thông báo “nội bộ” về “tin đồn 150 triệu đô la” dính đến ông Nguyễn Tấn Dũng. Ðọc xong thì thấy đây chắc là anh chị em nào muốn đùa chơi. Vì theo lời lẽ trong thông báo nội bộ này, một là, hai là... cho tới năm là, bao nhiêu điều biện hộ cho ông Nguyễn Tấn Dũng, không có một chỗ nào xác định rằng “Ông Nguyễn Tấn Dũng không nhận 150 triệu đô la nào để cho khai thác bô xít ở Việt Nam cả.”
Người viết bản tin đùa cợt trên cốt ý nhắc nhở bà con đến cái tin đồn ông Dũng và vụ 150 triệu đô la mà thôi. Nhiều người đem cái tin trên chuyển đi khắp nơi cho bạn bè, lối xóm đọc, cho thấy người ta tin rằng đây là tin có thật. Hoặc ít nhất, họ tin rằng vụ 150 triệu là có thật! Nếu bây giờ các ông trong nhà nước Nguyễn Tấn Dũng mắc bẫy, viết một bản thông báo mới để phủ nhận tin đồn trên, thì mới thật là khôi hài. Thí dụ, ông bộ trưởng văn phòng chính phủ có thể viết rằng rằng trong mấy ngày qua ông không hề viết bản một “thông báo nội bộ” nào với nội dung bác bỏ tin đồn ông Nguyễn Tấn Dũng được hối lộ 150 triệu đô la cả. Do đó, ông xác nhận các tin đồn mới đưa ra nói rằng ông đã ra thông cáo phủ nhận tin đồn 150 triệu đô la là hoàn toàn bịa đặt của những kẻ xấu! Liệu chuyện khôi hài này có thể xẩy ra được không? Có thể lắm. Chính quyền Nguyễn Tấn Dũng có khả năng làm nhiều chuyện còn buồn cười hơn nữa, nhiều chuyện có thể gọi là “cực kỳ hài hước!”
Thí dụ, khi người ta hỏi ông yêu thích cái gì nhất, thì thay vì nói như người bình thường rằng mình yêu vợ, yêu con, yêu đảng, yêu nước, vân vân, ông Nguyễn Tấn Dũng lại tuyên bố rất hùng hổ rằng ông chỉ yêu có “sự thật” thôi! Ngầm hiểu rằng ông yêu cái gọi là “sự thật” hơn cả yêu vợ, yêu con, yêu tổ tiên, yêu đảng, vân vân.
Nhưng sau khi nói xong câu đó, Nguyễn Tấn Dũng lập tức ra lệnh bắt mấy anh nhà báo đưa ra tòa! Mấy ông ký giả nghe lời ông thủ tướng hăm hở đi tìm sự thật trong những vụ tham nhũng tầy trời, đùng một cái bị tóm, ngẩn người ra không biết tại sao!
Tiếp theo, một quan lớn làm việc thông tin trong chính quyền ra lệnh báo chí phải đi đúng lề bên phải, không được đi qua bên trái. Lúc đó mới hiểu có những “sự thật” ở cả hai bên đường nhưng đảng và nhà nước chỉ cho phép ngó vô những “sự thật lề bên phải” mà thôi! Nhưng trên đường có người đi ngược, người đi xuôi, bố ai biết lề đường bên nào mới thật là lề bên phải? Cách tốt nhất là nhắm mắt không nhìn, không nghe, không nói một “sự thật” nào nữa! Cái óc hài hước của ông Nguyễn Tấn Dũng đã phát triển lên hàng “cao cấp” khi ông ký một cái quyết định số 97, áp dụng kể từ ngày 15 Tháng Chín, 2009, tức là tuần sau. Nội dung quyết định này nhằm lập hàng rào cản ngăn cấm không cho người dân tự do “phản biện.” Ðặc biệt là những người trong các tổ chức khoa học và công nghệ, họ không được nhân danh tổ chức của mình mà công bố các ý kiến “phản biện” đối với những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước Cộng Sản. Vậy người dân Việt Nam nghe các đường lối, chính sách của đảng rồi muốn “phản biện” thì họ phải làm gì, cho đúng khẩu hiệu “Ðảng lắng nghe Dân”? Theo quyết định số 97 thì ai muốn “phản biện” cái gì thì hãy đem các ý kiến đó nộp cho các cơ quan nhà nước! Ðọc bản tin trên phải bật buồn cười. Tuy nhiên, đây không phải là một bản tin đùa cợt như câu chuyện 150 triệu đô la. Vì tin tức này được đăng trên tạp chí Pháp Luật xuất bản ở Sài Gòn, với những bài phỏng vấn và ý kiến bình luận kèm theo. Tức là cái quyết định số 97 của ông Nguyễn Tấn Dũng là có thật. Và nội dung của quyết định này đúng như báo Pháp Luật đã đưa ra, là có thật.
Một điểm hài hước đầu tiên là cách dùng hai chữ “phản biện.” Ðó là hai chữ gốc cũng từ Trung Quốc đưa qua, mặc dù không dính dáng gì tới chuyện khai thác Bô xít cả. Hai chữ này có nghĩa rất rộng, cho nên cũng trở thành trừu tượng. Thế nào là phản biện các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước? Theo lối bình dân thì ta nói là “góp ý kiến với,” hoặc mạnh hơn, nói là “phản đối,” hoặc là “bắt bẻ,” hay “phản bác,” vân vân. Một người góp ý kiến với các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trong đó hoàn toàn ủng hộ nhưng chỉ có một điều coi là sai, cũng là “phản biện.” Tại sao phải dùng một từ trừu tượng, có nghĩa rất rộng như vậy, khi muốn ký một cái quyết định ra lệnh dân chúng phải “phản biện đúng lề đường bên phải?” Không phải vì các ông nhà nước thích chữ Hán, không phải họ tin tưởng rằng “Chữ Hán còn thì người Hán còn.” Nhưng dùng những chữ Hán với nghĩa rộng rãi để viết một quyết định thì sau này các ông dễ xoay xở, lúc nào muốn gọi cái gì là “phản biện,” theo luật phải cấm, hay là không phải “phản biện,” không bị cấm, cũng được hết! Xưa nay ở cái nước “Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa” này nhà nước vốn đã có quyền cấm gì thì cấm, cho gì thì cho, phải bầy đặt rắc rối như vậy làm gì không biết!
Ví thử bây giờ chúng ta dịch hai chữ “phản biện” là “đóng góp ý kiến,” thì tính hài hước của cái quyết định 97 mà Nguyễn Tấn Dũng mới ký càng rõ rệt hơn.
Cái ông thủ tướng tự xưng mình là người yêu sự thật ra lệnh cho dân rằng ai muốn “góp ý kiến với những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước” thì phải đưa ý kiến của họ cho các “cơ quan có thẩm quyền” mà thôi.
Như vậy thì giữa hai thằng dân đi ngoài đường, không ai được “phản biện” với nhau bất cứ điều gì về những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước cả! Thí dụ có một thằng dân nghe báo nghe đài loan tin một công ty Trung Quốc đang đưa hàng ngàn công nhân người Trung Quốc vào nước ta khai thác bô xít, và ông thủ tướng tuyên bố chính sách bô xít là đường lối, chủ trương lớn của đảng và nhà nước, thằng dân thắc mắc về nhà hỏi vợ: “Bô xít là cái gì, má thằng nhỏ có biết không?” Làm như vậy là vi phạm quyết định số 97! Bởi vì má thằng nhỏ không phải là “cơ quan có thẩm quyền” để nói chuyện bô xít, bô xịt gì hết! Mà không cứ chuyện bô xít, bất cứ cái gì được “đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước” đụng vào đều bị cấm hết! Không được góp ý kiến nào với ai cả, ngoài việc bẩm báo với đảng và nhà nước! Ðó là mục tiêu của quyết định số 97! Nhưng quyết định 97 của Nguyễn Tấn Dũng không nhắm vào những thằng dân bình thường, mà nhắm vào giới trí thức, trong đó có các nhà khoa học và kỹ thuật gia ở trong nước! Cho nên trong quyết định có cả những đoạn dài nói riêng về những người này. Gần đây đã có phong trào bàn tán về việc khai thác bô xít. Hàng vạn người đã góp ý kiến với nhau, đã thảo luận công khai trên mạng lưới. Trong đó có những nhà văn, nhà nghiên cứu, các khoa học gia, và cả những cựu tướng lãnh. Lại có một phong trào bàn tán về chủ quyền đất nước ở biển Ðông. Các ông hòa thượng, các ngài linh mục, giám mục, các sử gia cũng đem ra bàn tán và bầy tỏ ý kiến công khai. Những hoạt động đó đều có thể gọi là “phản biện” được cả.
Bây giờ quyết định số 97 cấm hết. Ai muốn “phản biện” từ nay phải làm đơn nộp cho các “cơ quan có thẩm quyền” cứu xét. Cái ông thủ tướng “yêu sự thật” này muốn bắt mọi người dân chỉ được đi tìm sự thật trong các “cơ quan có thẩm quyền.” Bên ngoài “cơ quan có thẩm quyền” thì không có sự thật nào cả! Có khác gì bịt mồm bịt miệng cả nước, không cho ai nói hay không? Cho nên, đọc qua nội dung cái quyết định số 97, ai cũng phải bật cười. Chỉ có ông Nguyễn Tấn Dũng chắc không cười, cho nên ông ta mới ký!
Nhưng một cái quyết định như vầy nó sẽ gây ra những hậu quả lớn, rất lớn, không thể lường trước được.
Ví dụ bây giờ ông bí thư xã ra lệnh xung công ruộng đất của bà con để cho Hàn Quốc làm sân cù, cho các đồng chí lớn và các nhà tư bản đỏ tập chơi golf với người ngoại quốc. Nếu các nông dân muốn góp ý kiến phản đối thì sao? Theo quyết định số 97, bà con được tự do phản biện, nhưng chỉ được phản biện với “cơ quan có thẩm quyền” mà thôi. Các nhà khoa học công nghệ cũng vậy. Hãy đi tìm những “cơ quan có thẩm quyền” mà phản biện. Và cái “cơ quan có thẩm quyền” ở đây chính là ông bí thư! Trong một bài trước, chúng tôi kể chuyện các công nhân ở tỉnh Cát Lâm bên Trung Quốc đã giết chết một giám đốc xí nghiệp. Con người ta ai cũng muốn làm ăn sinh sống bình thường, không ai muốn giết người cả. Cùng quẫn lắm mới đi phạm tội giết người. Cùng quẫn, là vì nói không được, vì không được nói. Cả một xã hội bị bịt mồm, bịt miệng, báo chí không có tự do, Quốc Hội là Quốc Hội gật, đi tới đâu cũng phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Những nỗi phẫn uất không biết “phản biện” vào đâu, tích tụ lại bao nhiêu năm làm sao giải tỏa được? Phẫn uất quá, những con người hiền lương bỗng nhiên trở thành một bọn sát nhân. Ông Nguyễn Tấn Dũng nên suy nghĩ về hiện tượng đó mà rút lại cái quyết định bịt mồm bịt miệng này đi.
Tuesday, August 11, 2009
Ngô Nhân Dụng Hôm qua có một bản tin đưa ra trên mạng lưới, đọc qua thấy là một tin đùa cợt. Bản tin nói rằng ông bộ trưởng Bộ Văn Phòng Chính Phủ gửi một cái thông báo “nội bộ” về “tin đồn 150 triệu đô la” dính đến ông Nguyễn Tấn Dũng. Ðọc xong thì thấy đây chắc là anh chị em nào muốn đùa chơi. Vì theo lời lẽ trong thông báo nội bộ này, một là, hai là... cho tới năm là, bao nhiêu điều biện hộ cho ông Nguyễn Tấn Dũng, không có một chỗ nào xác định rằng “Ông Nguyễn Tấn Dũng không nhận 150 triệu đô la nào để cho khai thác bô xít ở Việt Nam cả.”
Người viết bản tin đùa cợt trên cốt ý nhắc nhở bà con đến cái tin đồn ông Dũng và vụ 150 triệu đô la mà thôi. Nhiều người đem cái tin trên chuyển đi khắp nơi cho bạn bè, lối xóm đọc, cho thấy người ta tin rằng đây là tin có thật. Hoặc ít nhất, họ tin rằng vụ 150 triệu là có thật! Nếu bây giờ các ông trong nhà nước Nguyễn Tấn Dũng mắc bẫy, viết một bản thông báo mới để phủ nhận tin đồn trên, thì mới thật là khôi hài. Thí dụ, ông bộ trưởng văn phòng chính phủ có thể viết rằng rằng trong mấy ngày qua ông không hề viết bản một “thông báo nội bộ” nào với nội dung bác bỏ tin đồn ông Nguyễn Tấn Dũng được hối lộ 150 triệu đô la cả. Do đó, ông xác nhận các tin đồn mới đưa ra nói rằng ông đã ra thông cáo phủ nhận tin đồn 150 triệu đô la là hoàn toàn bịa đặt của những kẻ xấu! Liệu chuyện khôi hài này có thể xẩy ra được không? Có thể lắm. Chính quyền Nguyễn Tấn Dũng có khả năng làm nhiều chuyện còn buồn cười hơn nữa, nhiều chuyện có thể gọi là “cực kỳ hài hước!”
Thí dụ, khi người ta hỏi ông yêu thích cái gì nhất, thì thay vì nói như người bình thường rằng mình yêu vợ, yêu con, yêu đảng, yêu nước, vân vân, ông Nguyễn Tấn Dũng lại tuyên bố rất hùng hổ rằng ông chỉ yêu có “sự thật” thôi! Ngầm hiểu rằng ông yêu cái gọi là “sự thật” hơn cả yêu vợ, yêu con, yêu tổ tiên, yêu đảng, vân vân.
Nhưng sau khi nói xong câu đó, Nguyễn Tấn Dũng lập tức ra lệnh bắt mấy anh nhà báo đưa ra tòa! Mấy ông ký giả nghe lời ông thủ tướng hăm hở đi tìm sự thật trong những vụ tham nhũng tầy trời, đùng một cái bị tóm, ngẩn người ra không biết tại sao!
Tiếp theo, một quan lớn làm việc thông tin trong chính quyền ra lệnh báo chí phải đi đúng lề bên phải, không được đi qua bên trái. Lúc đó mới hiểu có những “sự thật” ở cả hai bên đường nhưng đảng và nhà nước chỉ cho phép ngó vô những “sự thật lề bên phải” mà thôi! Nhưng trên đường có người đi ngược, người đi xuôi, bố ai biết lề đường bên nào mới thật là lề bên phải? Cách tốt nhất là nhắm mắt không nhìn, không nghe, không nói một “sự thật” nào nữa! Cái óc hài hước của ông Nguyễn Tấn Dũng đã phát triển lên hàng “cao cấp” khi ông ký một cái quyết định số 97, áp dụng kể từ ngày 15 Tháng Chín, 2009, tức là tuần sau. Nội dung quyết định này nhằm lập hàng rào cản ngăn cấm không cho người dân tự do “phản biện.” Ðặc biệt là những người trong các tổ chức khoa học và công nghệ, họ không được nhân danh tổ chức của mình mà công bố các ý kiến “phản biện” đối với những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước Cộng Sản. Vậy người dân Việt Nam nghe các đường lối, chính sách của đảng rồi muốn “phản biện” thì họ phải làm gì, cho đúng khẩu hiệu “Ðảng lắng nghe Dân”? Theo quyết định số 97 thì ai muốn “phản biện” cái gì thì hãy đem các ý kiến đó nộp cho các cơ quan nhà nước! Ðọc bản tin trên phải bật buồn cười. Tuy nhiên, đây không phải là một bản tin đùa cợt như câu chuyện 150 triệu đô la. Vì tin tức này được đăng trên tạp chí Pháp Luật xuất bản ở Sài Gòn, với những bài phỏng vấn và ý kiến bình luận kèm theo. Tức là cái quyết định số 97 của ông Nguyễn Tấn Dũng là có thật. Và nội dung của quyết định này đúng như báo Pháp Luật đã đưa ra, là có thật.
Một điểm hài hước đầu tiên là cách dùng hai chữ “phản biện.” Ðó là hai chữ gốc cũng từ Trung Quốc đưa qua, mặc dù không dính dáng gì tới chuyện khai thác Bô xít cả. Hai chữ này có nghĩa rất rộng, cho nên cũng trở thành trừu tượng. Thế nào là phản biện các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước? Theo lối bình dân thì ta nói là “góp ý kiến với,” hoặc mạnh hơn, nói là “phản đối,” hoặc là “bắt bẻ,” hay “phản bác,” vân vân. Một người góp ý kiến với các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trong đó hoàn toàn ủng hộ nhưng chỉ có một điều coi là sai, cũng là “phản biện.” Tại sao phải dùng một từ trừu tượng, có nghĩa rất rộng như vậy, khi muốn ký một cái quyết định ra lệnh dân chúng phải “phản biện đúng lề đường bên phải?” Không phải vì các ông nhà nước thích chữ Hán, không phải họ tin tưởng rằng “Chữ Hán còn thì người Hán còn.” Nhưng dùng những chữ Hán với nghĩa rộng rãi để viết một quyết định thì sau này các ông dễ xoay xở, lúc nào muốn gọi cái gì là “phản biện,” theo luật phải cấm, hay là không phải “phản biện,” không bị cấm, cũng được hết! Xưa nay ở cái nước “Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa” này nhà nước vốn đã có quyền cấm gì thì cấm, cho gì thì cho, phải bầy đặt rắc rối như vậy làm gì không biết!
Ví thử bây giờ chúng ta dịch hai chữ “phản biện” là “đóng góp ý kiến,” thì tính hài hước của cái quyết định 97 mà Nguyễn Tấn Dũng mới ký càng rõ rệt hơn.
Cái ông thủ tướng tự xưng mình là người yêu sự thật ra lệnh cho dân rằng ai muốn “góp ý kiến với những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước” thì phải đưa ý kiến của họ cho các “cơ quan có thẩm quyền” mà thôi.
Như vậy thì giữa hai thằng dân đi ngoài đường, không ai được “phản biện” với nhau bất cứ điều gì về những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước cả! Thí dụ có một thằng dân nghe báo nghe đài loan tin một công ty Trung Quốc đang đưa hàng ngàn công nhân người Trung Quốc vào nước ta khai thác bô xít, và ông thủ tướng tuyên bố chính sách bô xít là đường lối, chủ trương lớn của đảng và nhà nước, thằng dân thắc mắc về nhà hỏi vợ: “Bô xít là cái gì, má thằng nhỏ có biết không?” Làm như vậy là vi phạm quyết định số 97! Bởi vì má thằng nhỏ không phải là “cơ quan có thẩm quyền” để nói chuyện bô xít, bô xịt gì hết! Mà không cứ chuyện bô xít, bất cứ cái gì được “đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước” đụng vào đều bị cấm hết! Không được góp ý kiến nào với ai cả, ngoài việc bẩm báo với đảng và nhà nước! Ðó là mục tiêu của quyết định số 97! Nhưng quyết định 97 của Nguyễn Tấn Dũng không nhắm vào những thằng dân bình thường, mà nhắm vào giới trí thức, trong đó có các nhà khoa học và kỹ thuật gia ở trong nước! Cho nên trong quyết định có cả những đoạn dài nói riêng về những người này. Gần đây đã có phong trào bàn tán về việc khai thác bô xít. Hàng vạn người đã góp ý kiến với nhau, đã thảo luận công khai trên mạng lưới. Trong đó có những nhà văn, nhà nghiên cứu, các khoa học gia, và cả những cựu tướng lãnh. Lại có một phong trào bàn tán về chủ quyền đất nước ở biển Ðông. Các ông hòa thượng, các ngài linh mục, giám mục, các sử gia cũng đem ra bàn tán và bầy tỏ ý kiến công khai. Những hoạt động đó đều có thể gọi là “phản biện” được cả.
Bây giờ quyết định số 97 cấm hết. Ai muốn “phản biện” từ nay phải làm đơn nộp cho các “cơ quan có thẩm quyền” cứu xét. Cái ông thủ tướng “yêu sự thật” này muốn bắt mọi người dân chỉ được đi tìm sự thật trong các “cơ quan có thẩm quyền.” Bên ngoài “cơ quan có thẩm quyền” thì không có sự thật nào cả! Có khác gì bịt mồm bịt miệng cả nước, không cho ai nói hay không? Cho nên, đọc qua nội dung cái quyết định số 97, ai cũng phải bật cười. Chỉ có ông Nguyễn Tấn Dũng chắc không cười, cho nên ông ta mới ký!
Nhưng một cái quyết định như vầy nó sẽ gây ra những hậu quả lớn, rất lớn, không thể lường trước được.
Ví dụ bây giờ ông bí thư xã ra lệnh xung công ruộng đất của bà con để cho Hàn Quốc làm sân cù, cho các đồng chí lớn và các nhà tư bản đỏ tập chơi golf với người ngoại quốc. Nếu các nông dân muốn góp ý kiến phản đối thì sao? Theo quyết định số 97, bà con được tự do phản biện, nhưng chỉ được phản biện với “cơ quan có thẩm quyền” mà thôi. Các nhà khoa học công nghệ cũng vậy. Hãy đi tìm những “cơ quan có thẩm quyền” mà phản biện. Và cái “cơ quan có thẩm quyền” ở đây chính là ông bí thư! Trong một bài trước, chúng tôi kể chuyện các công nhân ở tỉnh Cát Lâm bên Trung Quốc đã giết chết một giám đốc xí nghiệp. Con người ta ai cũng muốn làm ăn sinh sống bình thường, không ai muốn giết người cả. Cùng quẫn lắm mới đi phạm tội giết người. Cùng quẫn, là vì nói không được, vì không được nói. Cả một xã hội bị bịt mồm, bịt miệng, báo chí không có tự do, Quốc Hội là Quốc Hội gật, đi tới đâu cũng phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Những nỗi phẫn uất không biết “phản biện” vào đâu, tích tụ lại bao nhiêu năm làm sao giải tỏa được? Phẫn uất quá, những con người hiền lương bỗng nhiên trở thành một bọn sát nhân. Ông Nguyễn Tấn Dũng nên suy nghĩ về hiện tượng đó mà rút lại cái quyết định bịt mồm bịt miệng này đi.
Vén lên màn bí mật tại Việt Nam: quặng bauxite hay quặng phóng xạ?
Tác Giả Mai Thanh Truyết
Đăng ngày hôm nay Chính trị Việt Nam
Trong hiện tại, chúng ta có thể nói một cách chính xác và không sợ phản biện là những người lính Tàu dưới dạng công nhân đang hiện diện đầy rẫy trên quê hương Việt Nam của chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, giống như mọi quốc gia trên thế giới như Tây Tạng, Tân Cương, Phi Châu…những nơi có dấu chân Trung Cộng (TC) khai thác các công trình quặng mỏ hay những công ty sản xuất khác tại những nơi nầy.
Cộng sản Việt Nam cũng như Trung Cộng (TC) cũng không thể nào chối cải được nhận định trên. Tại Việt Nam, người Trung hoa dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ, nói chuyện với nhau bằng tiếng Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh cãi, họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có gì nhục nhã cho bằng hiện tượng nầy xảy ra ngay chính trên mãnh đất quê hương của mình mà cán bộ hay công an cố tình làm ngơ trước những nghịch cảnh trên.
Những khu biệt lập nầy có thể nói rằng do TC hoàn toàn quản lý mọi sinh hoạt, không có người “lạ” nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén mãng đến được, mặc dù những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lý.
Cho đến hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, tạo nên một luồn sóng phẩn uất trong lòng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để công nhân TC hiếp đáp mãi mãi được.
Những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhứt tại thành phố Algiers, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc vì sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên mãnh đất quê hương của người bản xứ.
Trờ lại Việt Nam, riêng tại hai vùng hiện đang là điểm nóng ở Việt Nam; đó là Tân Rai ở Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nấy hiện đang được TC phát động kế hoạch khai thác quặng mỏ bauxite từ hơn một năm nay dưới sự đồng thuận của CS VN. Sau khi không thể bưng bít được từ hơn 6 tháng nay, cs VIỆT NAM đã phải bạch hoá công bố hai công trình trên mặc dù đã ký kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như ở hải ngoại cảnh báo về hiểm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy.
Nhưng trầm trọng hơn cả là trong việc nhường bước cho TC khai thác, cs VIỆT NAM để lộ ra tinh thần quốc tế vô sản (?) (mà bây giờ đã biến thành tinh thần quốc tế hữu sản chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một tiến trình then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC.
Ngay từ giờ phút nầy (8/2009), đã có sự hiện diện của trên 570 công nhân TC ở Tân Rai và trên 300 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban nhân dân ở hai tỉnh trên công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều.
Có nhiều câu hỏi được đặt ra cho tình trạng nhân sự TC ở hai địa điểm trên là, tại sao họ có mặt hơn một năm qua mà vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị mặt bằng cho cơ xưởng, giải quyết các vụ đuổi nhà, chiếm cứ các vườn trồng cây công nghiệp của dân như trà, cà phê, cao su v.v…mà chỉ lo xây dựng láng trại và nhà ở cho công nhân và chuyên viên cùng những dịch vụ sinh hoạt khác như giải trí riêng biệt và cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài bằng hàng rào được thiết lập chung quanh? Đây là một tiến độ công trình rất chậm so với số lượng nhân công hiện có và thời gian thi công. Và điều nầy đang làm ngạc nhiên cho những nhà quan sát có kinh nghiệm về hoạt động công trường.
Từ đó, câu hỏi khác được đặt ra là, họ có thực tâm đến đây để khai thác quặng mỏ bauxite hay không?
Hay là họ có những dự tính thâm độc nào khác mà việc khai thác quặng mỏ bauxite chỉ là Diện để chứng minh sự có mặt của họ, và trọng tâm chính của họ là Điểm, là khai thác một công trình bí mật nào khác?
Để trả lời và khơi mở một số nghi vấn trên, cũng như qua đề tựa của bài viết, người viết xin lần lượt tạo dựng ra nhiều giả thuyết qua các thông tin có được để từ đó chứng minh sự hiện diện và hành động của TC trên mãnh đất quê hương Việt Nam.
Việc khai thác quặng mỏ Uranium
Cao nguyên Trung phần Việt Nam là một phần của cao nguyên Bolloven. Nơi sau nầy là một vùng đất bazan, chuyển hoá từ phún xuất thạch của núi lửa hàng triệu năm qua. Do đó, hàm lượng phóng xạ của vùng đất nầy rất cao so với các vùng đất tự nhiên khác. Và xắc xuất có quặng mỏ Uranium cũng rất cao.
Để có khái niệm về việc khai thác quặng mỏ Uranium, sau đây là quy trình sơ lược dựa theo các nguyên tắc căn bản đang được sử dụng trên thế giới. Thông thường quặng Uranium có được là do sự phối hợp của hai chất đồng vị (isotope) Uranium: Uranium 235 và Uranium 238. U 238 được xem như là đồng vị nặng vì có 3 electron nhiều hơn U 235 . Chính U 235 mới đích thực là tác nhân tạo ra nguồn năng lượng cho nhân loại và thông thường có trữ lượng trong hỗn hợp quặng mỏ là 0,7% mà thôi.
Việc khai thác gồm:
- Quặng Uranium trong thiên nhiên cần phải được tách rời hai đồng vị 238 và 235;
- Sau đó Uranium 235 sẽ được tinh luyện hay làm giàu (enrich) để đạt được nồng độ Uranium cần thiết để ứng dụng trong nhiều mục tiêu khác nhau.
Việc tinh luyện Uranium gồm 3 phương pháp: ly tâm, khuếch tác vật lý, và dùng tia laser. Các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên hay Iran vẫn còn đang áp dụng phương pháp cổ điển là ly tâm. Trong lúc đó, ở các quốc gia phát triển khác như Hoa Kỳ và Tây Âu, hai phương pháp sau được dùng đến vì có hiệu quả và năng suất cao hơn. Muốn chế tạo ra bom nguyên tử, ít nhứt, nồng độ của Uranium cần phải đạt được là 80%. Đối với các nồng độ thấp hơn, tuỳ thuộc vào những ứng dụng khác nhau trong việc dùng trong các nhà máy phát điện nguyên tử hay các hệ thống an toàn trong một số dịch vụ thật chính xác trong quy trình sản xuất mà con người không đủ khả năng để điều chỉnh bằng tay hay mắt được.
Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc
Đây là một trung tâm nghiên cứu về nguyên tử và phóng xạ được người Pháp xây dựng từ giữa thập niên 50 ở thế kỷ trước. Hiện nay, Trung Tâm vẫn còn hoạt động. CS VIỆT NAM dùng Trung tâm nầy để sản xuất các dụng cụ, hệ thống sensor để kiểm soát hay vận hành những khu vực hiểm yếu trong các công nghệ mhư khai thác mỏ than, hay các thiết bị kiểm soát trên tàu bè, cũng như trong các lãnh vực kiểm soát các valve an toàn về áp suất hay nhiệt độ, hoặc điều chỉnh một cách chính xác việc thay đổi điều kiện trong các quy trình sản xuất. Quan trọng hơn cả là việc ứng dụng vào các valve an toàn khi có vấn đề cấp bách trong vận hành để hạn chế hay tránh tai nạn.
Hiện tại, Việt Nam đang nhập cảng nguyên liệu phóng xạ từ nước ngoài.
Câu hỏi được đặt ra nơi đây là, tại sao người Pháp cho lắp đặt Trung Tâm nầy tại Đà Lạt vào thời điểm trên, trong khi quốc lộ 20 nối liền Sài Gòn và Đà Lạt chỉ là một con lộ thô sơ, chưa được tráng nhựa đẩy đủ?
Phải có điều gì bí ẩn khiến cho họ thành lập Trung Tâm nầy?
Để trả lời hai câu hỏi trên, phải chăng là họ muốn xây dựng Trung Tâm gần nơi vùng có phóng xạ để nghiên cứu, thăm dò, và khai thác nguồn nguyên liệu phóng xạ tại chỗ?
Ngược dòng lịch sử, trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngủi của Nhật Bổn vào thế chiến thứ hai, họ cũng đã gởi nhiều phái đoàn địa chất để thăm dò vùng nầy. Và trong thời gian chiến tranh Mỹ-Việt, nhiều phái đoàn nghiên cứu của Hoa Kỳ cũng đi lại thường xuyên trên vùng Bolloven nầy.
Nhưng tất cả đều được giữ bí mật. Không có một báo cáo khoa học nào công bố về vấn đề trên hay cho biết vùng đất nghiên cứu có chứa nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium hay không?
Giả thuyết về sự hiện diện của TC trong vùng Cao nguyên Trung phần
Ngày 21 tháng 4 năm 2009, tại Công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto, Canada, Ông Chủ tịch Tổng Giám Đốc John Lynch đã công bố bản tin sau khi họp với đối tác là Việt Nam rằng, Công ty đã đồng ý trên nguyên tắc về việc chia sẻ, khai triển và khai thác quặng mỏ Uranium ở Việt Nam. Quả thật đây là một chỉ dấu cho thấy giả thuyết có nguồn nguyên liệu phóng xạ ở cao nguyên Trung phần Việt Nam là có thật. Chính nhờ đó mới có những giao kết thăm dò và khai thác giữa Việt Nam với các đối tác khác. Và TC, đã nắm bắt cũng như biết nguồn nguyên liệu nầy, vì vậy cho nên mới thực hiện dự án khai thác quặng mỏ bauxite để đánh lạc hướng thế giới thêm một lần nữa.
Theo ước tính sơ khởi của công ty NWT thì cao nguyên có trữ lượng là 210 ngàn tấn quặng uranium oxide (U3O8) với nồng độ trung bình là 0,06%. Và ở một tài liệu khác cho biết hàm lượng quặng mỏ uranium oxide ở mỏ than Nông Sơn, Quảng Ngãi là 8.000 tấn quặng và có cùng một nồng độ trung bình với uranium oxide ở Cao nguyên.
Qua hai thông tin trên, một lần nữa có thể cho chúng ta có một kết luận một cách xác tín là với mức độ quan trọng về nguồn nguyên liệu nầy khiến cho nhiều quốc gia như Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ đã biết trước nhưng không công bố mà thôi vì điều kiện an ninh của Việt Nam trong thời chiến lúc bấy giờ không cho phép.
Ngày hôm nay, TC đã biết và thay vì đến Việt Nam để khai thác nguồn nguyên liệu quý giá về phương diện quốc phòng nầy, họ đã đánh lận con đen để nói tráo qua việc khai thác quặng mỏ Bauxite.
Với hàm lượng uranium oxide kể trên, có thể ly trích và khai thác được hàng trăm Kg Uranium có nồng độc cao có thể ứng dụng vào trong kỹ nghệ quốc phòng và quân sự.
Thêm nữa có hai chi tiết sau đây để củng cố giả thuyết về việc TC đang bí mật chuẩn bị việc khai thác quặng mỏ Uranium:
- Mỏ than Nông Sơn đã được VNCH khai thác từ năm 1961, và vẫn được vận hành từ đó đến nay, và hoàn toàn không có tai nạn nào xảy ra ở TQ. TC với tư cách nào và với lý do gì đã đem trên 200 chuyên viên vào nơi đây từ 6 tháng qua?
- Một phần cao nguyên Bolloven nằm trên địa phận Lào đã được TC thuê mướn trong vòng 50 năm?
Hai chỉ dấu sau nầy chính là cái chìa khóa để mở toang cánh cửa bí mật giữa cs VN và TC trong việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
Việc khai thác nầy chỉ là Diện để che mắt thế giới, và Điểm chính là việc tìm kiếm, khai thác, ly trích và tinh luyện chất phóng xạ Uranium để làm tăng lợi khí “cường quốc” của Hán tộc.
Và đây mới là điểm then chốt của tham vọng quyền lực của TC với sự đồng thuận của đảng cộng sản Việt Nam.
Ảnh hưởng của việc khai thác quặng mỏ Uranium
Đứng về mặt môi trường, quy trình khai thác quặng mỏ Uranium tương đối phát thải phế thải ít hơn và dễ bảo quản cũng như kiểm soát hơn việc khai thác bauxite. Tuy hai công trình đều đem đến sự hủy diệt thảm thực vật ở miền Cao nguyên nầy, nhưng đứng về hiệu quả kinh tế, phát triển quốc gia, cũng như quốc phòng, việc khai thác Uranium chiếm nhiều ưu thế hơn cả. Lý do là trong vòng 10 năm nữa Việt Nam sẽ đưa vào hoạt động hai nhà máy phát điện nguyên tử tại Ninh Thuận, cho nên việc khai thác Uranium nầy có thể là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, và Việt Nam có được tính chủ động không tùy thuộc vào nước ngoài để có thể bị áp lực của các quốc gia cung cấp nguyên liệu phóng xạ trên.
Thêm một điểm cần lưu ý là, nếu Việt Nam chủ động và làm chủ được nguồn nguyện liệu quan trọng và hiếm quý nầy, vị trí của Việt Nam trên thương trường quốc tế sẽ được bảo đảm cũng như tư thế chính trị cũng sẽ được nâng cao vì nguyên liệu nầy sẽ là một yếu tố quyết định trong các mặc cả trong nhiều lãnh vực nhứt là quốc phòng đối với những quốc gia khác trên thế giới.
Thay lời kết
Qua những nhận định vừa nêu trên, giả thuyết về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên Trung phần và ở Nông Sơn có tính xác tín rất cao. Và giả thuyết nầy lại là một lý giải cho sự hiện diện của những người lính dưới dạng công nhân ở hai nơi nầy.
Nếu suy nghĩ trên trở thành hiện thực, người Việt quốc gia ở quốc nội và hải ngoại phải làm gì trước những diễn biến đang xảy ra trên quê hương?
Một điều không thể chối cải được là tiến trình Hán hóa Việt Nam của TC đã thể hiện rất rõ ràng. Đây là một tiến trình tiệm tiến giống như trường hợp của Tân Cương và Tây Tạng.
Ngay sau khi chiếm đóng Trung Hoa lục địa, và nhứt là lợi dụng tình trạng còn lõng lẽo của Hội Quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc thời bấy giờ (1949), Mao Trạch Đông vội vàng chiếm đóng quốc gia Tây Turkistan và đổi tên thành Tân Cương, cũng như chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Tiếp theo sau, chính sách Hán hóa bắt đầu thực hiện bằng cách cho người Hán nhập cư vào hai nơi nầy để rồi lần lần đồng hóa bằng những cuộc hôn nhân dị chủng. Hồ Cẩm Đào, ngày nay vẫn tiếp tục chương trình trên và kết quả hiện tại là dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương mình, và dân Tân Cương chỉ còn chiếm 42% trên tổng số tại nơi đây.
Qua hai diễn biến lịch sử kể trên, Việt Nam chắc chắn sẽ nằm trong “tầm bắn” của TC trong chính sách nầy trong một tương lai không xa.
Hẳn chúng ta còn nhớ, vào những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, hai món hàng dầu hỏa và quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên đã được chính quyền thời bấy giờ mặc cả với nhiều quốc gia đối trọng khác nhau ngõ hầu cứu vãn miền Nam, nhưng bị thất bại. Và ngày hôm nay, nguy cơ nguồn nguyên liệu quốc phòng nầy sẽ lọt vào tay TC rất cao.
Chính vì thế, một trong những việc làm cấp bách hôm nay là phải cảnh báo cho thế giới biết rõ âm mưu của TC về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên và Nông Sơn, để từ đó mượn áp lực chính trị và kinh tế của thế giới để đình chỉ việc khai thác trên.
Nếu không, TC, một khi làm chủ được nguồn nguyên liệu nầy sẽ mọc “thêm râu thêm cánh” và ngang nhiên tung hoành như đi vào chỗ không người. Tinh thần Hán tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng của TC càng được đẩy mạnh thêm lên qua quyển Tân Biên Sử mới của TC mà biên giới gồm thâu cả vùng Đông Nam Á, Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nam Bắc Hàn v.v…
Bằng bất cứ giá nào, người Việt khắp nơi sẽ không để nguồn nguyên liệu nầy lọt vào tay TC. Nếu không, Việt Nam sẽ biến thành một vùng tranh chấp quốc tế và thảm họa sẽ khó lường trong tương lai một khi đã có tranh chấp.
Việc liên kết với các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nầy để tạo hậu thuẫn trong các cuộc tranh chấp với TC là một trong những điều kiện tối cần thiết trong lúc nầy. Cũng cần phải nói thêm là việc kết đoàn với Ấn Độ, một đối lực ngang ngữa với TC cũng là việc nên làm. Ấn Độ cũng vừa có một quyết định sáng suốt trước hiễm hoại TC là chấm dứt hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu khí xuyên qua Ấn Độ, Miến Điện và Vân Nam (TQ). Đây là bước ngăn chặn có hiệu quả nhứt trước sự bành trướng của TC.
Sư kết đoàn giữa quốc nội và hải ngoại, giữa Việt Nam và quốc tế rất cần thiết trong lúc nầy vì chính đảng Cộng sản Việt Nam đã bất lực một khi để sự việc kể trên xảy ra cho đất nước trong lúc họ có khả ngăn chặn từ lúc đầu.
Lịch sử Việt Nam sẽ không quên tội ác kể trên!
08/2009
Ghi chú: Tin giờ chót, Theo báo Thanh Niên ngày 6/8/2009, Ông Trần Xuân Hương, Bộ trưởng Bộ Môi trường & Tài nguyên vừa công bố ngày 4 tháng 8 là Việt Nam quyết định thăm dò và khai thác quặng mỏ Uranium ở Nông Sơn, ước lượng có trữ lượng 8.000 tấn quặng uranium oxide U3O8. Việc khai thác nầy chia làm hai đợt cho đến 2020. Đối với một số địa điểm khác, ông cũng có nêu tên tỉnh Lâm Đồng nhưng không nói cụ thể như trường hợp Nông Sơn cũng như tên Đắk Nông cũng không được nhắc tới. Phải chăng đây là hai vị trí cấm kỵ vì còn nằm dưới chiêu bài khai thác quặng mỏ bauxite của TC?
Và ông cũng cho biết là đã ký Biên bản ghi nhớ (Memorandum of Understanding) với Ấn Độ trong việc nghiên cứu và định hướng về công nghệ áp dụng cho việc khai thác quặng mỏ Uranium trên.
Tác Giả Mai Thanh Truyết
Đăng ngày hôm nay Chính trị Việt Nam
Trong hiện tại, chúng ta có thể nói một cách chính xác và không sợ phản biện là những người lính Tàu dưới dạng công nhân đang hiện diện đầy rẫy trên quê hương Việt Nam của chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, giống như mọi quốc gia trên thế giới như Tây Tạng, Tân Cương, Phi Châu…những nơi có dấu chân Trung Cộng (TC) khai thác các công trình quặng mỏ hay những công ty sản xuất khác tại những nơi nầy.
Cộng sản Việt Nam cũng như Trung Cộng (TC) cũng không thể nào chối cải được nhận định trên. Tại Việt Nam, người Trung hoa dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ, nói chuyện với nhau bằng tiếng Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh cãi, họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có gì nhục nhã cho bằng hiện tượng nầy xảy ra ngay chính trên mãnh đất quê hương của mình mà cán bộ hay công an cố tình làm ngơ trước những nghịch cảnh trên.
Những khu biệt lập nầy có thể nói rằng do TC hoàn toàn quản lý mọi sinh hoạt, không có người “lạ” nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén mãng đến được, mặc dù những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lý.
Cho đến hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, tạo nên một luồn sóng phẩn uất trong lòng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để công nhân TC hiếp đáp mãi mãi được.
Những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhứt tại thành phố Algiers, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc vì sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên mãnh đất quê hương của người bản xứ.
Trờ lại Việt Nam, riêng tại hai vùng hiện đang là điểm nóng ở Việt Nam; đó là Tân Rai ở Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nấy hiện đang được TC phát động kế hoạch khai thác quặng mỏ bauxite từ hơn một năm nay dưới sự đồng thuận của CS VN. Sau khi không thể bưng bít được từ hơn 6 tháng nay, cs VIỆT NAM đã phải bạch hoá công bố hai công trình trên mặc dù đã ký kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như ở hải ngoại cảnh báo về hiểm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy.
Nhưng trầm trọng hơn cả là trong việc nhường bước cho TC khai thác, cs VIỆT NAM để lộ ra tinh thần quốc tế vô sản (?) (mà bây giờ đã biến thành tinh thần quốc tế hữu sản chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một tiến trình then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC.
Ngay từ giờ phút nầy (8/2009), đã có sự hiện diện của trên 570 công nhân TC ở Tân Rai và trên 300 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban nhân dân ở hai tỉnh trên công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều.
Có nhiều câu hỏi được đặt ra cho tình trạng nhân sự TC ở hai địa điểm trên là, tại sao họ có mặt hơn một năm qua mà vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị mặt bằng cho cơ xưởng, giải quyết các vụ đuổi nhà, chiếm cứ các vườn trồng cây công nghiệp của dân như trà, cà phê, cao su v.v…mà chỉ lo xây dựng láng trại và nhà ở cho công nhân và chuyên viên cùng những dịch vụ sinh hoạt khác như giải trí riêng biệt và cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài bằng hàng rào được thiết lập chung quanh? Đây là một tiến độ công trình rất chậm so với số lượng nhân công hiện có và thời gian thi công. Và điều nầy đang làm ngạc nhiên cho những nhà quan sát có kinh nghiệm về hoạt động công trường.
Từ đó, câu hỏi khác được đặt ra là, họ có thực tâm đến đây để khai thác quặng mỏ bauxite hay không?
Hay là họ có những dự tính thâm độc nào khác mà việc khai thác quặng mỏ bauxite chỉ là Diện để chứng minh sự có mặt của họ, và trọng tâm chính của họ là Điểm, là khai thác một công trình bí mật nào khác?
Để trả lời và khơi mở một số nghi vấn trên, cũng như qua đề tựa của bài viết, người viết xin lần lượt tạo dựng ra nhiều giả thuyết qua các thông tin có được để từ đó chứng minh sự hiện diện và hành động của TC trên mãnh đất quê hương Việt Nam.
Việc khai thác quặng mỏ Uranium
Cao nguyên Trung phần Việt Nam là một phần của cao nguyên Bolloven. Nơi sau nầy là một vùng đất bazan, chuyển hoá từ phún xuất thạch của núi lửa hàng triệu năm qua. Do đó, hàm lượng phóng xạ của vùng đất nầy rất cao so với các vùng đất tự nhiên khác. Và xắc xuất có quặng mỏ Uranium cũng rất cao.
Để có khái niệm về việc khai thác quặng mỏ Uranium, sau đây là quy trình sơ lược dựa theo các nguyên tắc căn bản đang được sử dụng trên thế giới. Thông thường quặng Uranium có được là do sự phối hợp của hai chất đồng vị (isotope) Uranium: Uranium 235 và Uranium 238. U 238 được xem như là đồng vị nặng vì có 3 electron nhiều hơn U 235 . Chính U 235 mới đích thực là tác nhân tạo ra nguồn năng lượng cho nhân loại và thông thường có trữ lượng trong hỗn hợp quặng mỏ là 0,7% mà thôi.
Việc khai thác gồm:
- Quặng Uranium trong thiên nhiên cần phải được tách rời hai đồng vị 238 và 235;
- Sau đó Uranium 235 sẽ được tinh luyện hay làm giàu (enrich) để đạt được nồng độ Uranium cần thiết để ứng dụng trong nhiều mục tiêu khác nhau.
Việc tinh luyện Uranium gồm 3 phương pháp: ly tâm, khuếch tác vật lý, và dùng tia laser. Các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên hay Iran vẫn còn đang áp dụng phương pháp cổ điển là ly tâm. Trong lúc đó, ở các quốc gia phát triển khác như Hoa Kỳ và Tây Âu, hai phương pháp sau được dùng đến vì có hiệu quả và năng suất cao hơn. Muốn chế tạo ra bom nguyên tử, ít nhứt, nồng độ của Uranium cần phải đạt được là 80%. Đối với các nồng độ thấp hơn, tuỳ thuộc vào những ứng dụng khác nhau trong việc dùng trong các nhà máy phát điện nguyên tử hay các hệ thống an toàn trong một số dịch vụ thật chính xác trong quy trình sản xuất mà con người không đủ khả năng để điều chỉnh bằng tay hay mắt được.
Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc
Đây là một trung tâm nghiên cứu về nguyên tử và phóng xạ được người Pháp xây dựng từ giữa thập niên 50 ở thế kỷ trước. Hiện nay, Trung Tâm vẫn còn hoạt động. CS VIỆT NAM dùng Trung tâm nầy để sản xuất các dụng cụ, hệ thống sensor để kiểm soát hay vận hành những khu vực hiểm yếu trong các công nghệ mhư khai thác mỏ than, hay các thiết bị kiểm soát trên tàu bè, cũng như trong các lãnh vực kiểm soát các valve an toàn về áp suất hay nhiệt độ, hoặc điều chỉnh một cách chính xác việc thay đổi điều kiện trong các quy trình sản xuất. Quan trọng hơn cả là việc ứng dụng vào các valve an toàn khi có vấn đề cấp bách trong vận hành để hạn chế hay tránh tai nạn.
Hiện tại, Việt Nam đang nhập cảng nguyên liệu phóng xạ từ nước ngoài.
Câu hỏi được đặt ra nơi đây là, tại sao người Pháp cho lắp đặt Trung Tâm nầy tại Đà Lạt vào thời điểm trên, trong khi quốc lộ 20 nối liền Sài Gòn và Đà Lạt chỉ là một con lộ thô sơ, chưa được tráng nhựa đẩy đủ?
Phải có điều gì bí ẩn khiến cho họ thành lập Trung Tâm nầy?
Để trả lời hai câu hỏi trên, phải chăng là họ muốn xây dựng Trung Tâm gần nơi vùng có phóng xạ để nghiên cứu, thăm dò, và khai thác nguồn nguyên liệu phóng xạ tại chỗ?
Ngược dòng lịch sử, trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngủi của Nhật Bổn vào thế chiến thứ hai, họ cũng đã gởi nhiều phái đoàn địa chất để thăm dò vùng nầy. Và trong thời gian chiến tranh Mỹ-Việt, nhiều phái đoàn nghiên cứu của Hoa Kỳ cũng đi lại thường xuyên trên vùng Bolloven nầy.
Nhưng tất cả đều được giữ bí mật. Không có một báo cáo khoa học nào công bố về vấn đề trên hay cho biết vùng đất nghiên cứu có chứa nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium hay không?
Giả thuyết về sự hiện diện của TC trong vùng Cao nguyên Trung phần
Ngày 21 tháng 4 năm 2009, tại Công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto, Canada, Ông Chủ tịch Tổng Giám Đốc John Lynch đã công bố bản tin sau khi họp với đối tác là Việt Nam rằng, Công ty đã đồng ý trên nguyên tắc về việc chia sẻ, khai triển và khai thác quặng mỏ Uranium ở Việt Nam. Quả thật đây là một chỉ dấu cho thấy giả thuyết có nguồn nguyên liệu phóng xạ ở cao nguyên Trung phần Việt Nam là có thật. Chính nhờ đó mới có những giao kết thăm dò và khai thác giữa Việt Nam với các đối tác khác. Và TC, đã nắm bắt cũng như biết nguồn nguyên liệu nầy, vì vậy cho nên mới thực hiện dự án khai thác quặng mỏ bauxite để đánh lạc hướng thế giới thêm một lần nữa.
Theo ước tính sơ khởi của công ty NWT thì cao nguyên có trữ lượng là 210 ngàn tấn quặng uranium oxide (U3O8) với nồng độ trung bình là 0,06%. Và ở một tài liệu khác cho biết hàm lượng quặng mỏ uranium oxide ở mỏ than Nông Sơn, Quảng Ngãi là 8.000 tấn quặng và có cùng một nồng độ trung bình với uranium oxide ở Cao nguyên.
Qua hai thông tin trên, một lần nữa có thể cho chúng ta có một kết luận một cách xác tín là với mức độ quan trọng về nguồn nguyên liệu nầy khiến cho nhiều quốc gia như Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ đã biết trước nhưng không công bố mà thôi vì điều kiện an ninh của Việt Nam trong thời chiến lúc bấy giờ không cho phép.
Ngày hôm nay, TC đã biết và thay vì đến Việt Nam để khai thác nguồn nguyên liệu quý giá về phương diện quốc phòng nầy, họ đã đánh lận con đen để nói tráo qua việc khai thác quặng mỏ Bauxite.
Với hàm lượng uranium oxide kể trên, có thể ly trích và khai thác được hàng trăm Kg Uranium có nồng độc cao có thể ứng dụng vào trong kỹ nghệ quốc phòng và quân sự.
Thêm nữa có hai chi tiết sau đây để củng cố giả thuyết về việc TC đang bí mật chuẩn bị việc khai thác quặng mỏ Uranium:
- Mỏ than Nông Sơn đã được VNCH khai thác từ năm 1961, và vẫn được vận hành từ đó đến nay, và hoàn toàn không có tai nạn nào xảy ra ở TQ. TC với tư cách nào và với lý do gì đã đem trên 200 chuyên viên vào nơi đây từ 6 tháng qua?
- Một phần cao nguyên Bolloven nằm trên địa phận Lào đã được TC thuê mướn trong vòng 50 năm?
Hai chỉ dấu sau nầy chính là cái chìa khóa để mở toang cánh cửa bí mật giữa cs VN và TC trong việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
Việc khai thác nầy chỉ là Diện để che mắt thế giới, và Điểm chính là việc tìm kiếm, khai thác, ly trích và tinh luyện chất phóng xạ Uranium để làm tăng lợi khí “cường quốc” của Hán tộc.
Và đây mới là điểm then chốt của tham vọng quyền lực của TC với sự đồng thuận của đảng cộng sản Việt Nam.
Ảnh hưởng của việc khai thác quặng mỏ Uranium
Đứng về mặt môi trường, quy trình khai thác quặng mỏ Uranium tương đối phát thải phế thải ít hơn và dễ bảo quản cũng như kiểm soát hơn việc khai thác bauxite. Tuy hai công trình đều đem đến sự hủy diệt thảm thực vật ở miền Cao nguyên nầy, nhưng đứng về hiệu quả kinh tế, phát triển quốc gia, cũng như quốc phòng, việc khai thác Uranium chiếm nhiều ưu thế hơn cả. Lý do là trong vòng 10 năm nữa Việt Nam sẽ đưa vào hoạt động hai nhà máy phát điện nguyên tử tại Ninh Thuận, cho nên việc khai thác Uranium nầy có thể là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, và Việt Nam có được tính chủ động không tùy thuộc vào nước ngoài để có thể bị áp lực của các quốc gia cung cấp nguyên liệu phóng xạ trên.
Thêm một điểm cần lưu ý là, nếu Việt Nam chủ động và làm chủ được nguồn nguyện liệu quan trọng và hiếm quý nầy, vị trí của Việt Nam trên thương trường quốc tế sẽ được bảo đảm cũng như tư thế chính trị cũng sẽ được nâng cao vì nguyên liệu nầy sẽ là một yếu tố quyết định trong các mặc cả trong nhiều lãnh vực nhứt là quốc phòng đối với những quốc gia khác trên thế giới.
Thay lời kết
Qua những nhận định vừa nêu trên, giả thuyết về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên Trung phần và ở Nông Sơn có tính xác tín rất cao. Và giả thuyết nầy lại là một lý giải cho sự hiện diện của những người lính dưới dạng công nhân ở hai nơi nầy.
Nếu suy nghĩ trên trở thành hiện thực, người Việt quốc gia ở quốc nội và hải ngoại phải làm gì trước những diễn biến đang xảy ra trên quê hương?
Một điều không thể chối cải được là tiến trình Hán hóa Việt Nam của TC đã thể hiện rất rõ ràng. Đây là một tiến trình tiệm tiến giống như trường hợp của Tân Cương và Tây Tạng.
Ngay sau khi chiếm đóng Trung Hoa lục địa, và nhứt là lợi dụng tình trạng còn lõng lẽo của Hội Quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc thời bấy giờ (1949), Mao Trạch Đông vội vàng chiếm đóng quốc gia Tây Turkistan và đổi tên thành Tân Cương, cũng như chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Tiếp theo sau, chính sách Hán hóa bắt đầu thực hiện bằng cách cho người Hán nhập cư vào hai nơi nầy để rồi lần lần đồng hóa bằng những cuộc hôn nhân dị chủng. Hồ Cẩm Đào, ngày nay vẫn tiếp tục chương trình trên và kết quả hiện tại là dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương mình, và dân Tân Cương chỉ còn chiếm 42% trên tổng số tại nơi đây.
Qua hai diễn biến lịch sử kể trên, Việt Nam chắc chắn sẽ nằm trong “tầm bắn” của TC trong chính sách nầy trong một tương lai không xa.
Hẳn chúng ta còn nhớ, vào những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, hai món hàng dầu hỏa và quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên đã được chính quyền thời bấy giờ mặc cả với nhiều quốc gia đối trọng khác nhau ngõ hầu cứu vãn miền Nam, nhưng bị thất bại. Và ngày hôm nay, nguy cơ nguồn nguyên liệu quốc phòng nầy sẽ lọt vào tay TC rất cao.
Chính vì thế, một trong những việc làm cấp bách hôm nay là phải cảnh báo cho thế giới biết rõ âm mưu của TC về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên và Nông Sơn, để từ đó mượn áp lực chính trị và kinh tế của thế giới để đình chỉ việc khai thác trên.
Nếu không, TC, một khi làm chủ được nguồn nguyên liệu nầy sẽ mọc “thêm râu thêm cánh” và ngang nhiên tung hoành như đi vào chỗ không người. Tinh thần Hán tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng của TC càng được đẩy mạnh thêm lên qua quyển Tân Biên Sử mới của TC mà biên giới gồm thâu cả vùng Đông Nam Á, Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nam Bắc Hàn v.v…
Bằng bất cứ giá nào, người Việt khắp nơi sẽ không để nguồn nguyên liệu nầy lọt vào tay TC. Nếu không, Việt Nam sẽ biến thành một vùng tranh chấp quốc tế và thảm họa sẽ khó lường trong tương lai một khi đã có tranh chấp.
Việc liên kết với các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nầy để tạo hậu thuẫn trong các cuộc tranh chấp với TC là một trong những điều kiện tối cần thiết trong lúc nầy. Cũng cần phải nói thêm là việc kết đoàn với Ấn Độ, một đối lực ngang ngữa với TC cũng là việc nên làm. Ấn Độ cũng vừa có một quyết định sáng suốt trước hiễm hoại TC là chấm dứt hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu khí xuyên qua Ấn Độ, Miến Điện và Vân Nam (TQ). Đây là bước ngăn chặn có hiệu quả nhứt trước sự bành trướng của TC.
Sư kết đoàn giữa quốc nội và hải ngoại, giữa Việt Nam và quốc tế rất cần thiết trong lúc nầy vì chính đảng Cộng sản Việt Nam đã bất lực một khi để sự việc kể trên xảy ra cho đất nước trong lúc họ có khả ngăn chặn từ lúc đầu.
Lịch sử Việt Nam sẽ không quên tội ác kể trên!
08/2009
Ghi chú: Tin giờ chót, Theo báo Thanh Niên ngày 6/8/2009, Ông Trần Xuân Hương, Bộ trưởng Bộ Môi trường & Tài nguyên vừa công bố ngày 4 tháng 8 là Việt Nam quyết định thăm dò và khai thác quặng mỏ Uranium ở Nông Sơn, ước lượng có trữ lượng 8.000 tấn quặng uranium oxide U3O8. Việc khai thác nầy chia làm hai đợt cho đến 2020. Đối với một số địa điểm khác, ông cũng có nêu tên tỉnh Lâm Đồng nhưng không nói cụ thể như trường hợp Nông Sơn cũng như tên Đắk Nông cũng không được nhắc tới. Phải chăng đây là hai vị trí cấm kỵ vì còn nằm dưới chiêu bài khai thác quặng mỏ bauxite của TC?
Và ông cũng cho biết là đã ký Biên bản ghi nhớ (Memorandum of Understanding) với Ấn Độ trong việc nghiên cứu và định hướng về công nghệ áp dụng cho việc khai thác quặng mỏ Uranium trên.
RƯỢU TA BÌNH TÂY
Nguyễn Hồng Dũng
Nhìn lại lịch sử Việt Nam suốt chiều dài mấy ngàn năm, chúng ta không khỏi tự hào đến các chiến tích lẫy lừng của các triều đại chống ngoại xâm, đặc biệt là Trần triều với ba lần chiến thắng Nguyên Mông. Để giải thích sự chiến thắng oanh liệt này, ngoài tài lãnh đạo mưu trí và anh minh của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và sự hợp nhất của toàn thể nhân dân quyết giành lấy sự tự chủ, độc lập, thì vấn đề văn hoá “dân tộc tính” vẫn được xem là điểm đặc thù quan trọng góp phần hình thành chiến thắng vang dội này.
Dân tộc tính đã bất biến khi quân Pháp vào Việt Nam gần thế kỷ, quân Tàu gần một kỷ nguyên hòng biến Việt Nam thành tiểu quốc thuộc địa; rốt cuộc họ đã thất bại trong kế hoạch xâm lược.
Ngược lại, Việt Nam có khả năng rút tỉa những tinh hoa văn hóa, văn học, nghệ thuật và cả nền kỹ nghệ công nghiệp, chữ viết cũng như văn phong thành một thứ gia tài riêng cho dân tộc Việt Nam. Chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ là một điển hình cụ thể. Các học thuyết, chủ thuyết, triết học, tôn giáo nói chung trên toàn thế giới đã có dịp truyền thừa hay xâm nhập vào đất nước Việt Nam tưởng chừng như biến dạng để phù hợp với phong linh địa thủy. Văn hoá Việt nam đã từng lấy những tinh tuý của Phật, Lão và Khổng giáo để hình thành một chất liệu chung cho phẩm chất đạo hạnh của cả một dân tộc qua nhiều thế kỷ để phát triển và hướng thiện.
Quốc nạn một chín bảy lăm, người Việt bỏ nước ra đi với đôi bàn tay trắng để rồi hình thành những cộng đồng Việt rãi rác khắp quả địa cầu, đặc trưng văn hóa Việt trong những con người ly hương lại có cơ hội trỗi dậy mãnh liệt để cân bằng cuộc sống tâm linh chen lấn với những nền văn hóa đa quốc gia vây quanh khiến chúng ta có khuynh hướng tập trung xiển dương những tinh tuý hầu “mang chuông đi đánh xứ người” phải cho vang vọng đó đây. Văn hóa là chất keo nối kết nhiều thế hệ trong gia đình, tưởng chừng như không có nó, đời sống sao vô vị và nghèo nàn làm sao!.
Văn hóa thể hiện trong cung cách ăn mặc nghiêm trang, lời nói và cử chỉ lễ độ, đối xử và ứng phó có tôn ti, trật tự. Lễ hội gia đình có giao tình thắm thiết, tộc họ được nề nếp lưu phong, quan hôn tang tế được trân trọng đúng phép…tất cả là một kho tàng của cuộc sống cần đựơc khai thác, vì chính nó đã giúp nhiều tầng lớp thanh niên Việt Nam tại các xứ sở tiên tiến thành công trong mọi lãnh vực nhân văn, khoa học, chính trị, kinh tế kể cả tôn giáo.
Trong nghị trường dòng chính của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, tuổi trẻ Việt Nam đã chiếm nhiều địa vị quan trọng từ cấp bậc như cố vấn nguyên thủ quốc gia, Thứ trưởng, Giám đốc Nha, Cục Liên bang đến các dân cử Tiểu bang, địa phương hay các nhà khoa học, giáo sư đại học, công trình sư đến các doanh nhân Việt Nam, phần lớn đạt được địa vị quan trọng đó là nhờ kiến thức căn bản về học thuật nhưng đáng kể nhất bắt nguồn từ yếu tố cá nhân đã được hấp thụ và thừa hưởng nền văn hóa dân tộc trong tư cách, phong thái, ngôn từ và tự trọng. Những lớp người này đã vận dụng nét tinh hoa của văn hóa “hiệp chủng” phối hợp hài hòa với tinh tuý văn hóa dân tộc Việt Nam nên trong vườn thượng uyển, bông hoa Việt vẫn có chổ xứng đáng để tỏa hương sắc dịu dàng đầy quyến rũ.
Nhìn lại quê nhà, Cộng sản Việt Nam đã thất bại trong công cuộc xây dựng đất nước, phần lớn sự đổ vỡ và phá sản nội tại do từ những đập phá và tiêu diệt nền văn hóa ngàn đời của tổ tiên dân tộc. Đơn cử tại Quảng Ngãi, nơi có đình Văn Thánh và nhiều Văn Chỉ, Văn Từ để thờ phụng những bậc Tiên Hiền, những vị anh hùng có công đầu trong việc khai mở vùng đất mới khi thành lập tỉnh Quảng Ngãi đến ngày hôm nay, làm tấm gương cho thế hệ hậu duệ noi theo…vậy mà đành đoạn phá bỏ để biến thành "nghĩa trang liệt sĩ" xã ấp. Chúng ta nghiêng mình trước sự hy sinh tính mạng của tất cả những chiến sĩ, nhưng không vì thế mà bôi xóa một nơi thờ tự có tính cách giáo dục và truyền thừa văn hoá như các Văn Miếu, Văn Chỉ địa phương.
Xây dựng đất nước Việt Nam trên căn bản vật chất như đường sá, cầu cống, gia cư, phố thị là việc làm cơ giới hóa chớp nhoáng trong khoảng thời gian giới hạn hữu định và không khó lắm; tuy nhiên xây dựng con người có văn hóa trong giai đoạn hiện nay tại quê nhà, cho lớp trẻ có tấm lòng bao dung, độ lượng, lễ phép, thành thật, trung hiếu và biết sống cho tương lai của người khác là một việc thiên nan vạn giải. Không cần thiết đổ lỗi cho ai, bàn tay chúng ta quá ngắn không vươn tới tận sông Trà núi Ấn, chưa có dịp lượm một viên gạch kê lại cho ngay ngắn Văn Chỉ tôn miếu chư Tiên Hiền, Tổ Phụ; thì nơi đây, đất khách quê người, chúng ta có đủ đôi tay để lôi kéo lớp thanh niên đi đúng con đường mà quí bậc trưởng thượng đã đi, con đường có nghĩa tình sông nước quê hương, cuộc sống cuộn trong nền văn hoá dân tộc để rồi một ngày mai không xa, lớp trẻ đó có cơ hội phục hoạt những gì mà hoài bảo còn đang ươm mầm.
Văn hóa luôn là cái đẹp của cuộc sống thường nhật tiến dần đến văn minh cho cá nhân, xã hội và nhân loại, đem đến sự hòa ái, bình an và thịnh vượng. Dĩ nhiên nó không ngừng phát triển như cây tre, nhành trúc luôn hấp thụ đất nước, mặt trời, không khí để lưu thông và thăng hoa. Cốt lõi của văn hóa là tính nhân bản, là tính chất thiêng liêng chỉ có ở con người, vì vậy dù là sống bất cứ nơi đâu, một khi trong cốt lõi vẫn un đúc tính khí văn hóa Lạc Hồng thì thời gian và không gian chẳng tách khỏi lịch sử, và sự truyền thừa văn hóa là chất liệu luân lưu trong mạch sống của từng bụi tre, khóm trúc. Do đó, ý thức về nền văn hóa để thể nhập trong cuộc sống không chỉ là cái đẹp mà còn là nhu cầu thiết yếu căn bản trong cuộc đời hoàn thiện. Bảo tồn và phát huy văn hóa Việt tại Hải ngoại là nhiệm vụ cấp thiết của các bậc trưởng thượng và là một thử thách lớn đối với thế hệ chuyển tiếp, nhưng khi biết vận dụng văn hoá dân tộc trong cuộc sống đầy thách thức này thì chính là gấm thêm hoa, biến ước mơ tâm linh thành hành hoạt cụ thể dẫn đến sự thành công trong lãnh vực ý thức và nghiệp thức hiện thời.
Nguyễn Hồng Dũng
Nguyễn Hồng Dũng
Nhìn lại lịch sử Việt Nam suốt chiều dài mấy ngàn năm, chúng ta không khỏi tự hào đến các chiến tích lẫy lừng của các triều đại chống ngoại xâm, đặc biệt là Trần triều với ba lần chiến thắng Nguyên Mông. Để giải thích sự chiến thắng oanh liệt này, ngoài tài lãnh đạo mưu trí và anh minh của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và sự hợp nhất của toàn thể nhân dân quyết giành lấy sự tự chủ, độc lập, thì vấn đề văn hoá “dân tộc tính” vẫn được xem là điểm đặc thù quan trọng góp phần hình thành chiến thắng vang dội này.
Dân tộc tính đã bất biến khi quân Pháp vào Việt Nam gần thế kỷ, quân Tàu gần một kỷ nguyên hòng biến Việt Nam thành tiểu quốc thuộc địa; rốt cuộc họ đã thất bại trong kế hoạch xâm lược.
Ngược lại, Việt Nam có khả năng rút tỉa những tinh hoa văn hóa, văn học, nghệ thuật và cả nền kỹ nghệ công nghiệp, chữ viết cũng như văn phong thành một thứ gia tài riêng cho dân tộc Việt Nam. Chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ là một điển hình cụ thể. Các học thuyết, chủ thuyết, triết học, tôn giáo nói chung trên toàn thế giới đã có dịp truyền thừa hay xâm nhập vào đất nước Việt Nam tưởng chừng như biến dạng để phù hợp với phong linh địa thủy. Văn hoá Việt nam đã từng lấy những tinh tuý của Phật, Lão và Khổng giáo để hình thành một chất liệu chung cho phẩm chất đạo hạnh của cả một dân tộc qua nhiều thế kỷ để phát triển và hướng thiện.
Quốc nạn một chín bảy lăm, người Việt bỏ nước ra đi với đôi bàn tay trắng để rồi hình thành những cộng đồng Việt rãi rác khắp quả địa cầu, đặc trưng văn hóa Việt trong những con người ly hương lại có cơ hội trỗi dậy mãnh liệt để cân bằng cuộc sống tâm linh chen lấn với những nền văn hóa đa quốc gia vây quanh khiến chúng ta có khuynh hướng tập trung xiển dương những tinh tuý hầu “mang chuông đi đánh xứ người” phải cho vang vọng đó đây. Văn hóa là chất keo nối kết nhiều thế hệ trong gia đình, tưởng chừng như không có nó, đời sống sao vô vị và nghèo nàn làm sao!.
Văn hóa thể hiện trong cung cách ăn mặc nghiêm trang, lời nói và cử chỉ lễ độ, đối xử và ứng phó có tôn ti, trật tự. Lễ hội gia đình có giao tình thắm thiết, tộc họ được nề nếp lưu phong, quan hôn tang tế được trân trọng đúng phép…tất cả là một kho tàng của cuộc sống cần đựơc khai thác, vì chính nó đã giúp nhiều tầng lớp thanh niên Việt Nam tại các xứ sở tiên tiến thành công trong mọi lãnh vực nhân văn, khoa học, chính trị, kinh tế kể cả tôn giáo.
Trong nghị trường dòng chính của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, tuổi trẻ Việt Nam đã chiếm nhiều địa vị quan trọng từ cấp bậc như cố vấn nguyên thủ quốc gia, Thứ trưởng, Giám đốc Nha, Cục Liên bang đến các dân cử Tiểu bang, địa phương hay các nhà khoa học, giáo sư đại học, công trình sư đến các doanh nhân Việt Nam, phần lớn đạt được địa vị quan trọng đó là nhờ kiến thức căn bản về học thuật nhưng đáng kể nhất bắt nguồn từ yếu tố cá nhân đã được hấp thụ và thừa hưởng nền văn hóa dân tộc trong tư cách, phong thái, ngôn từ và tự trọng. Những lớp người này đã vận dụng nét tinh hoa của văn hóa “hiệp chủng” phối hợp hài hòa với tinh tuý văn hóa dân tộc Việt Nam nên trong vườn thượng uyển, bông hoa Việt vẫn có chổ xứng đáng để tỏa hương sắc dịu dàng đầy quyến rũ.
Nhìn lại quê nhà, Cộng sản Việt Nam đã thất bại trong công cuộc xây dựng đất nước, phần lớn sự đổ vỡ và phá sản nội tại do từ những đập phá và tiêu diệt nền văn hóa ngàn đời của tổ tiên dân tộc. Đơn cử tại Quảng Ngãi, nơi có đình Văn Thánh và nhiều Văn Chỉ, Văn Từ để thờ phụng những bậc Tiên Hiền, những vị anh hùng có công đầu trong việc khai mở vùng đất mới khi thành lập tỉnh Quảng Ngãi đến ngày hôm nay, làm tấm gương cho thế hệ hậu duệ noi theo…vậy mà đành đoạn phá bỏ để biến thành "nghĩa trang liệt sĩ" xã ấp. Chúng ta nghiêng mình trước sự hy sinh tính mạng của tất cả những chiến sĩ, nhưng không vì thế mà bôi xóa một nơi thờ tự có tính cách giáo dục và truyền thừa văn hoá như các Văn Miếu, Văn Chỉ địa phương.
Xây dựng đất nước Việt Nam trên căn bản vật chất như đường sá, cầu cống, gia cư, phố thị là việc làm cơ giới hóa chớp nhoáng trong khoảng thời gian giới hạn hữu định và không khó lắm; tuy nhiên xây dựng con người có văn hóa trong giai đoạn hiện nay tại quê nhà, cho lớp trẻ có tấm lòng bao dung, độ lượng, lễ phép, thành thật, trung hiếu và biết sống cho tương lai của người khác là một việc thiên nan vạn giải. Không cần thiết đổ lỗi cho ai, bàn tay chúng ta quá ngắn không vươn tới tận sông Trà núi Ấn, chưa có dịp lượm một viên gạch kê lại cho ngay ngắn Văn Chỉ tôn miếu chư Tiên Hiền, Tổ Phụ; thì nơi đây, đất khách quê người, chúng ta có đủ đôi tay để lôi kéo lớp thanh niên đi đúng con đường mà quí bậc trưởng thượng đã đi, con đường có nghĩa tình sông nước quê hương, cuộc sống cuộn trong nền văn hoá dân tộc để rồi một ngày mai không xa, lớp trẻ đó có cơ hội phục hoạt những gì mà hoài bảo còn đang ươm mầm.
Văn hóa luôn là cái đẹp của cuộc sống thường nhật tiến dần đến văn minh cho cá nhân, xã hội và nhân loại, đem đến sự hòa ái, bình an và thịnh vượng. Dĩ nhiên nó không ngừng phát triển như cây tre, nhành trúc luôn hấp thụ đất nước, mặt trời, không khí để lưu thông và thăng hoa. Cốt lõi của văn hóa là tính nhân bản, là tính chất thiêng liêng chỉ có ở con người, vì vậy dù là sống bất cứ nơi đâu, một khi trong cốt lõi vẫn un đúc tính khí văn hóa Lạc Hồng thì thời gian và không gian chẳng tách khỏi lịch sử, và sự truyền thừa văn hóa là chất liệu luân lưu trong mạch sống của từng bụi tre, khóm trúc. Do đó, ý thức về nền văn hóa để thể nhập trong cuộc sống không chỉ là cái đẹp mà còn là nhu cầu thiết yếu căn bản trong cuộc đời hoàn thiện. Bảo tồn và phát huy văn hóa Việt tại Hải ngoại là nhiệm vụ cấp thiết của các bậc trưởng thượng và là một thử thách lớn đối với thế hệ chuyển tiếp, nhưng khi biết vận dụng văn hoá dân tộc trong cuộc sống đầy thách thức này thì chính là gấm thêm hoa, biến ước mơ tâm linh thành hành hoạt cụ thể dẫn đến sự thành công trong lãnh vực ý thức và nghiệp thức hiện thời.
Nguyễn Hồng Dũng
Có quyết tâm thì chống được tham nhũng
Thursday, August 13, 2009
Ngô Nhân Dụng
Báo chí trong nước mới loan tin về một bản báo cáo do Tòa Ðại Sứ Ðan Mạch ở Hà Nội mới công bố tuần này. Các chuyên gia của Bộ Ngoại Giao Ðan Mạch nghiên cứu về tình trạng phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã đưa ra những câu hỏi về nhận định của Bộ Xây dựng chính phủ Việt Nam rút kinh nghiệm “hai năm thực hiện phòng chống tham nhũng (2006-2008)” trong đó họ kết luận rằng “mức độ tham nhũng và lãng phí đã giảm hẳn.”
Câu hỏi là: Khi thấy số trường hợp tham nhũng bị phát hiện giảm đi thì Bộ Xây Dựng coi là “mức độ tham nhũng đã giảm;” nhưng phải tự hỏi lý do vì sao số các vụ tham nhũng lại giảm. Hoặc là số người tham nhũng và số tiền tham nhũng giảm đi nhờ có các biện pháp phòng ngừa mới. Hoặc là khả năng khám phá và tố cáo các vụ ăn cắp của các cơ quan chịu trách nhiệm chống tham nhũng đã giảm bớt. Cũng giống như khi thấy hàn thử biểu đo nhiệt độ của một bệnh nhân giảm xuống thì có thể vì một trong hai lý do: Bệnh sốt đã thuyên giảm thật; hoặc cái nhiệt kế nó bị “tê liệt” rồi!
Bộ Xây Dựng ở Hà Nội từng nổi danh về những vụ khám phá cột xi măng bê tông cốt bằng tre; nhưng những người đầu tiên khám phá ra cái tài “xây dựng hiện đại” này là các trẻ em đi ăn trộm. Các em đào, đẽo cột bê tông để lấy sắt đem bán mà không thấy sắt chỉ thấy tre! Một vụ các quan chức trong Bộ Xây Dựng bị đưa ra tòa vì tham nhũng chỉ xẩy ra sau khi một người bị bắt vì đi đánh bạc thua vài triệu đô la. Nếu không có các cảnh sát bắt bạc thì cũng không có việc “phát hiện” này. Rồi tới vụ đường đại lộ xuyên thành phố Sài Gòn bị phát hiện cũng là do mấy ông cảnh sát Nhật Bản đi bắt các người quản lý công ty Nhật về tội hối lộ các quan chức Việt Nam.
Như vậy thì nếu trong những năm 2006-2008 số thống kê những vụ tham nhũng giảm đi không phải chỉ vì các quan chức bỗng tu tâm sửa tính hay luật lệ nghiêm minh hơn; mà có thể vì người ta không có dịp “phát hiện” tham nhũng nữa. Mà điều này cũng dễ hiểu. Sau khi các nhà báo bị bắt bỏ tù vì tội đi điều tra tham nhũng rồi, còn ai có “nhã hứng” đi tìm tòi nữa làm chi?
Bản nghiên cứu của các chuyên gia Ðan Mạch nêu lên một số nguyên nhân khiến công việc tìm tòi và khám phá: “(1)do các cơ quan chức năng không đủ thẩm quyền; (2) do các luật và quy định vênh nhau, không có hướng dẫn và chỉ thị cụ thể, rõ ràng; (3) không có cơ chế khuyến khích cho những người làm tốt; và (4) không có cơ chế giải trình cũng như không có cơ quan kiểm tra và hệ thống giám sát độc lập.” Cả một bản báo cáo 4 không trên đây tóm tắt lại, là do người ta không thật tình muốn chống tham nhũng! Nếu thật tình thì người ngu đến mấy cũng phải biết: (1) trao cho các cơ quan lo chống tham nhũng đầy đủ thẩm quyền để làm việc; (2) đặt các quy luật rõ ràng để họ làm việc; (3) tưởng thưởng những người tố cáo tham nhũng thay vì bỏ tù người ta và (4) đặt đường dây tố cáo tham nhũng độc lập với những cơ quan làm công việc dễ tham nhũng, và đặt ra những cơ quan điều tra, truy tố độc lập.
Khi nói đến việc chống tham nhũng, nhiều người thường nhún vai tỏ ý tuyệt vọng, nói rằng công việc này khó lắm, phức tạp lắm, chính quyền nào cũng chịu thua những cái vòi bạch tuộc tham nhũng.
Nhưng lý do quan trọng nhất vẫn là thiếu quyết tâm. Một chính quyền quyết tâm chống tham nhũng thì sớm hay muộn cũng tìm ra cách chống tham nhũng.
Xin kể một câu chuyện cũng khó khăn tương tự như việc chống tham nhũng để chúng ta thấy không nên nản lòng. Ðó là kinh nghiệm chống cướp bóc, trấn lột trong hệ thống đường xe điện ngầm ở New York vào đầu thập niên 1990. Không cần đặt ra thêm luật lệ, không cần cổ động rùm beng, chỉ cần quyết tâm, một vấn đề nhức nhối kéo dài mấy chục năm cuối cùng có phương pháp giải quyết.
Ðường xe điện ngầm trong thành phố New York nổi tiếng nhiều tội phạm khiến nhiều người không dám sử dụng, nhất là vào ban đêm. Tội ác tràn lan như một thứ bệnh truyền nhiễm, người ta cũng thấy tuyệt vọng, nghĩ rằng không có cách nào bài trừ được. Năm 1984 có một vụ án mạng cả thế giới đều nghe tin, là vụ Bernhard Goetz bắn chết mấy thanh niên da đen trong đường xe điện ngầm khi mấy cậu này vây quanh anh ta rồi thản nhiên bảo anh ta đưa tiền, giữa ban ngày và trong một toa xe có nhiều hành khách khác. Goetz hỏi lại: Các anh muốn gì? Trả lời: Năm đô la! Goetz rút khẩu súng trong túi ra bắn từng người một, rồi tới trạm sau thì thản nhiên đi ra khỏi xe, lên đường. Mấy ngày sau, báo chí khắp nơi đã loan tin, Goetz ra trình diện cảnh sát.
Năm 1990 cơ quan Chuyên Chở New York bổ William Bratton làm cảnh sát trưởng cho cả hệ thống đường xe điện ngầm. Bratton là người tin ở lý thuyết “Cửa Sổ Hư” (Broken Windows) của các nhà nghiên cứu về tội phạm. Thuyết này cho là những căn nhà vô chủ, cửa sổ bị phá vỡ không ai sửa sang, là một nguyên nhân chính tạo nên những khu phố đầy tội phạm. Những trẻ em thiếu giáo dục sẽ tới vẽ bậy lên tường, phá thêm những cửa sổ khác, rồi các tay giang hồ sẽ tìm cách vào trong nhà đó, dùng làm sào huyệt và nơi giải trí, trao đổi,buôn bán ma túy, và tổ chức những tội ác khác. Muốn ngăn ngừa chuyện này, thành phố thấy nơi nào có cửa sổ vỡ kính phải tới sửa ngay, để không cho tội ác nẩy mầm.
Bratton giải quyết vấn đề tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York bằng cách tấn công một trọng điểm làm gương. Ðó là bắt phạt những người đi xe điện ngầm lậu, không mua vé. Mỗi ngày có khoảng 170,000 người đi lậu trong hệ thống đường xe điện ngầm New York! Có khi một đám thiếu niên nhẩy hàng rào bước vào, cười nói, nhởn nhơ đi trên chỗ chờ xe điện, thế là mấy người lớn cũng bắt chước! Bratton tin rằng đa số những tay gây tội phạm cũng là những tay nhẩy hàng rào, đi xe không trả tiền. Nhưng lý do quan trọng hơn là hình ảnh những thanh thiếu niên nhẩy rào đi xe lậu là một “dấu hiệu xấu” giống như cảnh những khung cửa sổ kính bị bể; khiến cho người ta có cảm tưởng là quanh đây là một nơi vô pháp luật, ai muốn làm gì thì làm. Chiến thuật của Bratton cũng rút từ kinh nghiệm của cơ quan Chuyên Chở New York trong một chiến dịch bài trừ nạn viết bậy trên tường và trên thành, cửa các toa xe. Họ quyết tâm hễ thấy một hình, một chữ viết hay vẽ bậy nào là xóa bỏ ngay, không để cho ai thấy rồi bắt chước. Trong vòng 5 năm, cả hệ thống đường xe điện ngầm New York đã hết cảnh viết, vẽ bậy (graffiti).
Tại sao ban giám đốc cơ quan Chuyên Chở không bài trừ nạn đi xe lậu này từ trước? Vì họ thấy vấn đề nặng nề quá, mối lợi nhỏ mà công sức bỏ ra lớn không bõ, nên thà chịu bó tay. Mỗi vé xe điện lúc đó chỉ có 1.25 đô la. Sở cảnh sát thấy không đáng công đi bắt mấy cậu bé con, mất công đưa về sở hỏi cung, làm tờ trình, tất cả mất một buổi; rồi sau đó lại chờ ngày truy tố mấy chú bé ra tòa, để đòi hơn một đô la!
Bratton đã chọn một trạm có những hành khách nhảy hàng rào nhiều nhất, đặt 10 cảnh sát viên tại đó, thấy cậu nào đi lậu bắt ngay tại chỗ, còng tay, cho đứng xếp hàng chờ đợi cho bàn dân thiên hạ ngó. Thay vì đưa các người vi phạm về sở cảnh sát, Bratton cho lập luôn một văn phòng lưu động trong trạm xe điện, làm việc tại chỗ, mỗi trường hợp chỉ mất một tiếng đồng hồ.
Riêng khung cảnh trên đã là một tín hiệu cho tất cả mọi người thấy “quyết tâm” làm việc của cảnh sát. Nhưng Bratton còn ra lệnh các cảnh sát viên phải khám xét và truy tầm lý lịch các tay đi xe lậu, nhờ thế khám phá ra nhiều tay có đem súng trong túi hoặc đã từng bị bắt về những tội nho nhỏ.
Sau một thời gian, số người đi xe điện lậu giảm, và nhiều kẻ gian không dám mang vũ khí vào trong hệ thống xe điện ngầm. Cùng lúc đó, cảnh sát xe điện đi bắt những người say rượu hoặc ngủ trong hầm xe điện, hoặc có những hành động lỗ mãng. Trong 5 năm trời Bratton đã chứng tỏ cho công chúng thấy, và những kẻ gian phải thấy là cảnh sát trong đường xe điện New York nhất định bài trừ những tội phạm dù nhỏ nhặt nhất; và họ làm việc hữu hiệu. Từ đó số tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York giảm hẳn. Năm 1994, ông thị trưởng mới của New York mời Bratton làm cảnh sát trưởng thành phố. Năm năm sau, số tội phạm trong thành phố này cũng giảm bớt, ông thị trưởng nổi tiếng, có lúc nhiều triển vọng ứng cử làm tổng thống Mỹ. Ngày nay, dân New York sống trong trật tự, an ninh hơn trước, nhờ những người quyết tâm giải quyết một vấn đề tưởng như nan giải.
Một câu chuyện trên cho thấy có những vấn đề xã hội tưởng như là nan giải, nhưng vẫn giải quyết được nếu người ta có quyết tâm. Cảnh sát New York không cần thêm những đạo luật bài trừ tội phạm mới nào. Không cần thêm quyền hành hoặc ngân sách lớn lao nào. Ðiều quan trọng nhất là quyết tâm.
Cho nên nếu đồng bào Việt Nam mình muốn bài trừ tham nhũng thì cũng cần một hành động quyết tâm. Phải thay đổi cái cơ chế gây nên đại họa tham nhũng này. Cơ chế đó là độc quyền chính trị của một đảng bịt miệng toàn dân không cho nói.
Thursday, August 13, 2009
Ngô Nhân Dụng
Báo chí trong nước mới loan tin về một bản báo cáo do Tòa Ðại Sứ Ðan Mạch ở Hà Nội mới công bố tuần này. Các chuyên gia của Bộ Ngoại Giao Ðan Mạch nghiên cứu về tình trạng phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã đưa ra những câu hỏi về nhận định của Bộ Xây dựng chính phủ Việt Nam rút kinh nghiệm “hai năm thực hiện phòng chống tham nhũng (2006-2008)” trong đó họ kết luận rằng “mức độ tham nhũng và lãng phí đã giảm hẳn.”
Câu hỏi là: Khi thấy số trường hợp tham nhũng bị phát hiện giảm đi thì Bộ Xây Dựng coi là “mức độ tham nhũng đã giảm;” nhưng phải tự hỏi lý do vì sao số các vụ tham nhũng lại giảm. Hoặc là số người tham nhũng và số tiền tham nhũng giảm đi nhờ có các biện pháp phòng ngừa mới. Hoặc là khả năng khám phá và tố cáo các vụ ăn cắp của các cơ quan chịu trách nhiệm chống tham nhũng đã giảm bớt. Cũng giống như khi thấy hàn thử biểu đo nhiệt độ của một bệnh nhân giảm xuống thì có thể vì một trong hai lý do: Bệnh sốt đã thuyên giảm thật; hoặc cái nhiệt kế nó bị “tê liệt” rồi!
Bộ Xây Dựng ở Hà Nội từng nổi danh về những vụ khám phá cột xi măng bê tông cốt bằng tre; nhưng những người đầu tiên khám phá ra cái tài “xây dựng hiện đại” này là các trẻ em đi ăn trộm. Các em đào, đẽo cột bê tông để lấy sắt đem bán mà không thấy sắt chỉ thấy tre! Một vụ các quan chức trong Bộ Xây Dựng bị đưa ra tòa vì tham nhũng chỉ xẩy ra sau khi một người bị bắt vì đi đánh bạc thua vài triệu đô la. Nếu không có các cảnh sát bắt bạc thì cũng không có việc “phát hiện” này. Rồi tới vụ đường đại lộ xuyên thành phố Sài Gòn bị phát hiện cũng là do mấy ông cảnh sát Nhật Bản đi bắt các người quản lý công ty Nhật về tội hối lộ các quan chức Việt Nam.
Như vậy thì nếu trong những năm 2006-2008 số thống kê những vụ tham nhũng giảm đi không phải chỉ vì các quan chức bỗng tu tâm sửa tính hay luật lệ nghiêm minh hơn; mà có thể vì người ta không có dịp “phát hiện” tham nhũng nữa. Mà điều này cũng dễ hiểu. Sau khi các nhà báo bị bắt bỏ tù vì tội đi điều tra tham nhũng rồi, còn ai có “nhã hứng” đi tìm tòi nữa làm chi?
Bản nghiên cứu của các chuyên gia Ðan Mạch nêu lên một số nguyên nhân khiến công việc tìm tòi và khám phá: “(1)do các cơ quan chức năng không đủ thẩm quyền; (2) do các luật và quy định vênh nhau, không có hướng dẫn và chỉ thị cụ thể, rõ ràng; (3) không có cơ chế khuyến khích cho những người làm tốt; và (4) không có cơ chế giải trình cũng như không có cơ quan kiểm tra và hệ thống giám sát độc lập.” Cả một bản báo cáo 4 không trên đây tóm tắt lại, là do người ta không thật tình muốn chống tham nhũng! Nếu thật tình thì người ngu đến mấy cũng phải biết: (1) trao cho các cơ quan lo chống tham nhũng đầy đủ thẩm quyền để làm việc; (2) đặt các quy luật rõ ràng để họ làm việc; (3) tưởng thưởng những người tố cáo tham nhũng thay vì bỏ tù người ta và (4) đặt đường dây tố cáo tham nhũng độc lập với những cơ quan làm công việc dễ tham nhũng, và đặt ra những cơ quan điều tra, truy tố độc lập.
Khi nói đến việc chống tham nhũng, nhiều người thường nhún vai tỏ ý tuyệt vọng, nói rằng công việc này khó lắm, phức tạp lắm, chính quyền nào cũng chịu thua những cái vòi bạch tuộc tham nhũng.
Nhưng lý do quan trọng nhất vẫn là thiếu quyết tâm. Một chính quyền quyết tâm chống tham nhũng thì sớm hay muộn cũng tìm ra cách chống tham nhũng.
Xin kể một câu chuyện cũng khó khăn tương tự như việc chống tham nhũng để chúng ta thấy không nên nản lòng. Ðó là kinh nghiệm chống cướp bóc, trấn lột trong hệ thống đường xe điện ngầm ở New York vào đầu thập niên 1990. Không cần đặt ra thêm luật lệ, không cần cổ động rùm beng, chỉ cần quyết tâm, một vấn đề nhức nhối kéo dài mấy chục năm cuối cùng có phương pháp giải quyết.
Ðường xe điện ngầm trong thành phố New York nổi tiếng nhiều tội phạm khiến nhiều người không dám sử dụng, nhất là vào ban đêm. Tội ác tràn lan như một thứ bệnh truyền nhiễm, người ta cũng thấy tuyệt vọng, nghĩ rằng không có cách nào bài trừ được. Năm 1984 có một vụ án mạng cả thế giới đều nghe tin, là vụ Bernhard Goetz bắn chết mấy thanh niên da đen trong đường xe điện ngầm khi mấy cậu này vây quanh anh ta rồi thản nhiên bảo anh ta đưa tiền, giữa ban ngày và trong một toa xe có nhiều hành khách khác. Goetz hỏi lại: Các anh muốn gì? Trả lời: Năm đô la! Goetz rút khẩu súng trong túi ra bắn từng người một, rồi tới trạm sau thì thản nhiên đi ra khỏi xe, lên đường. Mấy ngày sau, báo chí khắp nơi đã loan tin, Goetz ra trình diện cảnh sát.
Năm 1990 cơ quan Chuyên Chở New York bổ William Bratton làm cảnh sát trưởng cho cả hệ thống đường xe điện ngầm. Bratton là người tin ở lý thuyết “Cửa Sổ Hư” (Broken Windows) của các nhà nghiên cứu về tội phạm. Thuyết này cho là những căn nhà vô chủ, cửa sổ bị phá vỡ không ai sửa sang, là một nguyên nhân chính tạo nên những khu phố đầy tội phạm. Những trẻ em thiếu giáo dục sẽ tới vẽ bậy lên tường, phá thêm những cửa sổ khác, rồi các tay giang hồ sẽ tìm cách vào trong nhà đó, dùng làm sào huyệt và nơi giải trí, trao đổi,buôn bán ma túy, và tổ chức những tội ác khác. Muốn ngăn ngừa chuyện này, thành phố thấy nơi nào có cửa sổ vỡ kính phải tới sửa ngay, để không cho tội ác nẩy mầm.
Bratton giải quyết vấn đề tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York bằng cách tấn công một trọng điểm làm gương. Ðó là bắt phạt những người đi xe điện ngầm lậu, không mua vé. Mỗi ngày có khoảng 170,000 người đi lậu trong hệ thống đường xe điện ngầm New York! Có khi một đám thiếu niên nhẩy hàng rào bước vào, cười nói, nhởn nhơ đi trên chỗ chờ xe điện, thế là mấy người lớn cũng bắt chước! Bratton tin rằng đa số những tay gây tội phạm cũng là những tay nhẩy hàng rào, đi xe không trả tiền. Nhưng lý do quan trọng hơn là hình ảnh những thanh thiếu niên nhẩy rào đi xe lậu là một “dấu hiệu xấu” giống như cảnh những khung cửa sổ kính bị bể; khiến cho người ta có cảm tưởng là quanh đây là một nơi vô pháp luật, ai muốn làm gì thì làm. Chiến thuật của Bratton cũng rút từ kinh nghiệm của cơ quan Chuyên Chở New York trong một chiến dịch bài trừ nạn viết bậy trên tường và trên thành, cửa các toa xe. Họ quyết tâm hễ thấy một hình, một chữ viết hay vẽ bậy nào là xóa bỏ ngay, không để cho ai thấy rồi bắt chước. Trong vòng 5 năm, cả hệ thống đường xe điện ngầm New York đã hết cảnh viết, vẽ bậy (graffiti).
Tại sao ban giám đốc cơ quan Chuyên Chở không bài trừ nạn đi xe lậu này từ trước? Vì họ thấy vấn đề nặng nề quá, mối lợi nhỏ mà công sức bỏ ra lớn không bõ, nên thà chịu bó tay. Mỗi vé xe điện lúc đó chỉ có 1.25 đô la. Sở cảnh sát thấy không đáng công đi bắt mấy cậu bé con, mất công đưa về sở hỏi cung, làm tờ trình, tất cả mất một buổi; rồi sau đó lại chờ ngày truy tố mấy chú bé ra tòa, để đòi hơn một đô la!
Bratton đã chọn một trạm có những hành khách nhảy hàng rào nhiều nhất, đặt 10 cảnh sát viên tại đó, thấy cậu nào đi lậu bắt ngay tại chỗ, còng tay, cho đứng xếp hàng chờ đợi cho bàn dân thiên hạ ngó. Thay vì đưa các người vi phạm về sở cảnh sát, Bratton cho lập luôn một văn phòng lưu động trong trạm xe điện, làm việc tại chỗ, mỗi trường hợp chỉ mất một tiếng đồng hồ.
Riêng khung cảnh trên đã là một tín hiệu cho tất cả mọi người thấy “quyết tâm” làm việc của cảnh sát. Nhưng Bratton còn ra lệnh các cảnh sát viên phải khám xét và truy tầm lý lịch các tay đi xe lậu, nhờ thế khám phá ra nhiều tay có đem súng trong túi hoặc đã từng bị bắt về những tội nho nhỏ.
Sau một thời gian, số người đi xe điện lậu giảm, và nhiều kẻ gian không dám mang vũ khí vào trong hệ thống xe điện ngầm. Cùng lúc đó, cảnh sát xe điện đi bắt những người say rượu hoặc ngủ trong hầm xe điện, hoặc có những hành động lỗ mãng. Trong 5 năm trời Bratton đã chứng tỏ cho công chúng thấy, và những kẻ gian phải thấy là cảnh sát trong đường xe điện New York nhất định bài trừ những tội phạm dù nhỏ nhặt nhất; và họ làm việc hữu hiệu. Từ đó số tội phạm trong hệ thống xe điện ngầm New York giảm hẳn. Năm 1994, ông thị trưởng mới của New York mời Bratton làm cảnh sát trưởng thành phố. Năm năm sau, số tội phạm trong thành phố này cũng giảm bớt, ông thị trưởng nổi tiếng, có lúc nhiều triển vọng ứng cử làm tổng thống Mỹ. Ngày nay, dân New York sống trong trật tự, an ninh hơn trước, nhờ những người quyết tâm giải quyết một vấn đề tưởng như nan giải.
Một câu chuyện trên cho thấy có những vấn đề xã hội tưởng như là nan giải, nhưng vẫn giải quyết được nếu người ta có quyết tâm. Cảnh sát New York không cần thêm những đạo luật bài trừ tội phạm mới nào. Không cần thêm quyền hành hoặc ngân sách lớn lao nào. Ðiều quan trọng nhất là quyết tâm.
Cho nên nếu đồng bào Việt Nam mình muốn bài trừ tham nhũng thì cũng cần một hành động quyết tâm. Phải thay đổi cái cơ chế gây nên đại họa tham nhũng này. Cơ chế đó là độc quyền chính trị của một đảng bịt miệng toàn dân không cho nói.
Xin Hảy Giữ Vững Niềm Tin
Xuân Khê Cuộc chiến đấu của của chúng ta chống lại bạo quyền CSVN còn tồn tại bên quê nhà đã trải qua biết bao nhiêu gian nan và khó khăn phức tạp.
Trở lực chính trong mục tiêu chống Cộng để đưa tổ quốc thân yêu VN thoát khỏi bàn tay thống trị của tập đoàn CS; và sau này là họa mất nước từ móng vuốt của bè lũ CS Bắc kinh thì có những thế lực tay sai phò tá cho nguỵ quyền CS Ba đình.
Những thế lực phản bội này họ vì quyền lợi kinh tế cá nhân và gia đình nhắm mắt đi theo lời kêu gọi của đảng CSVN, bắt tay nắm chân hòng được đảng ban phát cho những ân huệ đặc biệt.
Tại hải ngoại những thế lực phản bội này nguy hiểm hơn bao giờ hết bởi vì chúng ở trong ngay hàng ngũ chúng ta, nắm được một số cộng đồng và biết rõ lai lịch thân thế từng cá nhân từng cộng đồng chống Cộng.
Tệ hại hơn nữa chúng sẵn sàng hiến kế dâng mưu sẵn sàng có những thủ đoạn "triệt tiêu" chúng ta cho kỳ được. Những thành phần tệ bạc này còn nguy hiểm hơn nữa vì chúng không những "đi hàng hai" mà trong thực tế chúng đang "ở hàng hai" có nghĩa là chúng có hai quốc tịch nên từ đó chúng có quyền lợi về tư pháp cũng như chính trị tại quốc gia chúng đang cư ngụ.
Thế lực nguỵ Hán Hà nội sẵn sàng thừa mứa tiền bạc cùng mọi phương tiện khác để cung cấp cho thành phần phản bội này hành động.
Quê hương VN càng ngày càng lún sâu vào "bãi lầy" của họa mất nước. Đồng bào VN chúng ta càng lúc càng bị vùi dập trong "cơn đói" của quốc nạn mất dân chủ tự do dưới bàn tay sắt của bẻ lũ bán nước CSVN. Đau lòng thay, càng ngày càng có nhiều thành phần từng mang danh nghĩa chống Cộng đã hèn nhác quỳ gối trước sức cám dổ của tiền tài danh lợi Đỏ. Chúng đi đi về vế VN làm lợi và củng cố cho chế độ phản dân hại nước. Chúng đã quỳ gối và chịu cúi đầu nhục nhả dưới ngọn cờ máu CSVN.
Trong lòng những hạng người phản bội này không còn là niềm đau quê hương, tự ái dân tộc. Họ sẵn sàng xưng tụng CS, nâng ly chúc mừng Đảng ngoảnh mặt làm lơ với bao triệu lời kêu gào thống thiết của đồng bào VN, nạn nhân của chế độ hà khắc CSVN hiện tại.
Nói sao hết những phẩn nộ của chúng ta đối với những con người phản bội.
Nhưng chúng đã lầm, vì những quyền lợi vật chất tầm thường đang làm mờ lý trí của chúng nên chúng không có khả năng nhận biết thời thế đang xoay vần. Sự chuyển biến lịch sử của VN tự khắc nó phải đến khi sức chịu đựng của toàn dân VN đã đến giới hạn cuối cùng. Cộng hưởng với đà chuyển biến quốc tế đang có chiều hướng đẩy lùi bước chân bành trướng Tàu cộng để chận đứng mưu đồ bành trướng quốc tế của Bắc kinh.
Hiện tại và sắp tới Hoa kỳ sẽ không thể để Tàu cộng múa gậy vườn hoang được. Khối EU cũng đang có những kế sách chung chận đà xâm lăng kinh tế của Tàu cộng. Nga và Ấn độ sẽ dần dà chận đứng sự bành trưóng của Tàu về hướng Tây. ASEAN –Hoa kỳ phải trở lại để chận đường tiến của Tàu cộng về hướng đông nam Á và cứu Biển Đông . Úc Châu cũng sẽ tham gia vào chiến lược chận đường tiến của Tàu cộng về hướng nam bán cầu.
Dã tâm của Tàu cộng là nuôi dưỡng, hậu thuẫn những tên độc tài, quân phiệt như Bắc hàn và Miến điện quá lộ liễu và trắng trợn cùng sự ngang ngược của Tàu ỷ mạnh hiếp yếu trên trường quốc tế như vụ Hoàng sa Trường sa, khống chế biển Đông cùng những sự kiện áp chế VN và giết người, bắt người đòi tiền chuộc, cùng các hành vi khủng bố khác trên Biển Đông làm thế giới hết sức bất bình.
Thế giới đã nhìn ra chiến lược “xâm lăng kinh tế” trên bình diện quốc tế và thế giới đang bước vào chuyện phòng thủ Bắc kinh. Nưóc Mỹ cũng đã thấm đòn về sự “lấn sân“ kinh tế của Tàu cộng vào thị trưòng nưóc Mỹ làm khốn đốn và mất quân bình cho họ; và nước Mỹ đã và đang hành động cùng những thay đổi chiến lược vừa kinh tế vừa quân sự vì đó là điều bắt buộc cho Mỹ đó là tại sao Mỹ phải lên tiếng mạnh tại WTO. Đặc biệt nhất Mỹ đang xúc tiến chiến lược lấy lại thế thượng phong tại Thái bình dưong cùng Đông nam Á. Và phải chăng hiện nay nươc cờ “Kissinger” non 40 năm trước đã “đáo hạn” và thế giới bưóc qua giai đoạn khác?
Nhưng VN sẽ nhờ vào chuyển biến mới mẻ sắp tới này trong đó có nội dung thế giới tự do không thể để khối ASEAN rơi vào tay Tàu Cộng. Bắc hàn cũng đang có dấu hiệu “trở cờ” với Bắc kinh vì không chịu sự áp chế của Hán triều mà hành động thả 2 ký giả Mỹ vừa qua làm Bắc kinh khó chịu. Hà nội phải năn nỉ với ông chủ Hán triều xin vơt vát chút nào uy tín vơi dân “đòi hỏi Bắc kinh phải trả vô điều kiện” ! Bắc kinh đợt này vừa thả 25 ngư phủ VN vì chúng biết "già néo đứt dây" với CSVN.
Nội tình CSVN đang có dấu hiệu rạn nứt lớn nhất là sau vụ Bauxit và tiếp đến là vụ án “tổng cục 2” lúc này. Phe Võ nguyên Giáp một thời theo đường lối của Mao nhờ thế nên biết rõ dã tâm của Tàu qua vụ Bauxit và “vụ án tổng cục 2“ là định nghĩa nôm na là một tập đoàn thối nát trong cung đình Hà nội, nó có tính mafia của cơ quan mật vụ CSVN, chúng đấu đá giết nhau thôi chứ không liên hệ đến lợi ích dân tộc VN chúng ta.
Bắc kinh mỗi khi "co vòi" thì đảng CSVN sẽ hết chỗ dựa. Chúng sẽ bị triệt tiêu bởi sự đối kháng toàn dân tộc Việt đang âm ỉ cháy mọi nẻo đường đất nước, tổng hợp với phong trào dân chủ và dân trí mở rộng qua quá trình mở rộng giao tiếp với thế giới bên ngoài nhất là sự thông tin mà người dân VN đã nhận được.
Sức mạnh Công an tay sai CSVN nó đàn áp dân Viêt chúng ta mỗi khi sau lưng chúng sẵn có một tập đoàn thối nát CSVN dùng tiền bạc lương bỗng yểm trơ. Tuy vậy chúng tự biết chúng phi nghĩa và thối nát. Sự mục ruỗng của chế độ nó đang đứng trên lớp sơn giả tạo bên ngoài nó sẽ sup bất cứ lúc nào. Bơi thế tuy đàn áp dân nhưng bọn Công an mật vụ này mắt chúng ngó láo liên, nếu chủ chúng chạy là chúng săn sàng vứt dùi cui roi điện chạy ngay.
Quân đội “nhân dân“ VN, tập thể này tự biết hai chữ “nhân dân“ không còn ý nghĩa nữa khi quê hương đất nước VN đang bị bức ép ký nhượng bởi Đảng Cộng. Dân VN bị Tàu cộng giết hại họ cũng bị khóa họng im re và nhất là họ biết họ đang cầm súng không phãi giữ nước an dân mà đê bảo vệ cho ngai vàng điện ngọc, gia tài của cải cho tập đoàn tham quan bạo chúa CSVN đứng đầu là 15 tên đầu đảng tại Chinh trị bộ Cung Ba đình, mấy chục tên trong uỷ viên trung ươg Đảng, mấy chục tên đầu tỉnh cùng hàng vạn tên cá bộ gộc đỏ hiên nay. Như thế, khi “công an nhân dân, quân đội nhân dân” tự trong lòng chúng biết là phi nghĩa rồi thì làm sao khi có đột biến chúng lại sẵn sàng hi sinh bảo vệ cho đảng chúng được ?
Mấy triệu đảng viên CSVN họ thừa biết cái thẻ đảng 'để giữ nồi cơm" gia đình họ thôi. Họ dư sưc hiểu tội lỗi và cái vỏ giả dối của đảng CSVN đang chờ ngày phán xét của dân tộc Việt.
Để giải nguy, vào tháng 11/09 tới CSVN sẽ triệu tập một “hội nghị Diên Hồng Đỏ” hòng tưởng thưởng và chiêu dụ thêm nữa những thành phần phản bội hải ngoại như vưà nói ở trên. Những con “thò lò” sẽ xuất đầu lộ diện trong cái thế “giương giuơng tự đắc“ rằng bọn chúng đang “thắng”. Những “trí giả yêu nước” hải ngoại cũng trong cơ hội này cũng xuất hiện “rầm rộ” chờ đảng CSVN ban “ơn mưa móc”. Chúng đâu biết rằng CSVN đang trên đà nguy khốn vì sự rệu rã ngay từ trong bộ máy cai trị cùng sự óan ghét căm hờn của dân tộc VN. Đây là cơ hội quý báu cho toàn dân VN nhận ra chân tướng của bè lũ độc hại ăn theo và tự nguyện làm tay sai cho CSVN.
Chúng ta hãy giữ vững niềm tin, trong tương lai mới VN dĩ nhiên không có chỗ đứng của lớp người phản bội mỗi khi mặt nạ của họ đã rơi rồi. Hồn thiêng sông núi Việt nam, chí hùng bất khuất VN sẽ sống lại trong khúc quanh lịch sử sắp tới đây. Tia sáng phục hưng đang ló dạng cuối đường hầm, nhưng dưới tình hình mới và vận hội mới bọn giá aó túi cơm, bè đảng phản bội không thể nào có chỗ đứng nào trong lòng dân Việt được.
Xuân Khê (15/8/09)
Print Comment Email
N.Q: Tam Tòa, Công Lý và Hòa
Xuân Khê Cuộc chiến đấu của của chúng ta chống lại bạo quyền CSVN còn tồn tại bên quê nhà đã trải qua biết bao nhiêu gian nan và khó khăn phức tạp.
Trở lực chính trong mục tiêu chống Cộng để đưa tổ quốc thân yêu VN thoát khỏi bàn tay thống trị của tập đoàn CS; và sau này là họa mất nước từ móng vuốt của bè lũ CS Bắc kinh thì có những thế lực tay sai phò tá cho nguỵ quyền CS Ba đình.
Những thế lực phản bội này họ vì quyền lợi kinh tế cá nhân và gia đình nhắm mắt đi theo lời kêu gọi của đảng CSVN, bắt tay nắm chân hòng được đảng ban phát cho những ân huệ đặc biệt.
Tại hải ngoại những thế lực phản bội này nguy hiểm hơn bao giờ hết bởi vì chúng ở trong ngay hàng ngũ chúng ta, nắm được một số cộng đồng và biết rõ lai lịch thân thế từng cá nhân từng cộng đồng chống Cộng.
Tệ hại hơn nữa chúng sẵn sàng hiến kế dâng mưu sẵn sàng có những thủ đoạn "triệt tiêu" chúng ta cho kỳ được. Những thành phần tệ bạc này còn nguy hiểm hơn nữa vì chúng không những "đi hàng hai" mà trong thực tế chúng đang "ở hàng hai" có nghĩa là chúng có hai quốc tịch nên từ đó chúng có quyền lợi về tư pháp cũng như chính trị tại quốc gia chúng đang cư ngụ.
Thế lực nguỵ Hán Hà nội sẵn sàng thừa mứa tiền bạc cùng mọi phương tiện khác để cung cấp cho thành phần phản bội này hành động.
Quê hương VN càng ngày càng lún sâu vào "bãi lầy" của họa mất nước. Đồng bào VN chúng ta càng lúc càng bị vùi dập trong "cơn đói" của quốc nạn mất dân chủ tự do dưới bàn tay sắt của bẻ lũ bán nước CSVN. Đau lòng thay, càng ngày càng có nhiều thành phần từng mang danh nghĩa chống Cộng đã hèn nhác quỳ gối trước sức cám dổ của tiền tài danh lợi Đỏ. Chúng đi đi về vế VN làm lợi và củng cố cho chế độ phản dân hại nước. Chúng đã quỳ gối và chịu cúi đầu nhục nhả dưới ngọn cờ máu CSVN.
Trong lòng những hạng người phản bội này không còn là niềm đau quê hương, tự ái dân tộc. Họ sẵn sàng xưng tụng CS, nâng ly chúc mừng Đảng ngoảnh mặt làm lơ với bao triệu lời kêu gào thống thiết của đồng bào VN, nạn nhân của chế độ hà khắc CSVN hiện tại.
Nói sao hết những phẩn nộ của chúng ta đối với những con người phản bội.
Nhưng chúng đã lầm, vì những quyền lợi vật chất tầm thường đang làm mờ lý trí của chúng nên chúng không có khả năng nhận biết thời thế đang xoay vần. Sự chuyển biến lịch sử của VN tự khắc nó phải đến khi sức chịu đựng của toàn dân VN đã đến giới hạn cuối cùng. Cộng hưởng với đà chuyển biến quốc tế đang có chiều hướng đẩy lùi bước chân bành trướng Tàu cộng để chận đứng mưu đồ bành trướng quốc tế của Bắc kinh.
Hiện tại và sắp tới Hoa kỳ sẽ không thể để Tàu cộng múa gậy vườn hoang được. Khối EU cũng đang có những kế sách chung chận đà xâm lăng kinh tế của Tàu cộng. Nga và Ấn độ sẽ dần dà chận đứng sự bành trưóng của Tàu về hướng Tây. ASEAN –Hoa kỳ phải trở lại để chận đường tiến của Tàu cộng về hướng đông nam Á và cứu Biển Đông . Úc Châu cũng sẽ tham gia vào chiến lược chận đường tiến của Tàu cộng về hướng nam bán cầu.
Dã tâm của Tàu cộng là nuôi dưỡng, hậu thuẫn những tên độc tài, quân phiệt như Bắc hàn và Miến điện quá lộ liễu và trắng trợn cùng sự ngang ngược của Tàu ỷ mạnh hiếp yếu trên trường quốc tế như vụ Hoàng sa Trường sa, khống chế biển Đông cùng những sự kiện áp chế VN và giết người, bắt người đòi tiền chuộc, cùng các hành vi khủng bố khác trên Biển Đông làm thế giới hết sức bất bình.
Thế giới đã nhìn ra chiến lược “xâm lăng kinh tế” trên bình diện quốc tế và thế giới đang bước vào chuyện phòng thủ Bắc kinh. Nưóc Mỹ cũng đã thấm đòn về sự “lấn sân“ kinh tế của Tàu cộng vào thị trưòng nưóc Mỹ làm khốn đốn và mất quân bình cho họ; và nước Mỹ đã và đang hành động cùng những thay đổi chiến lược vừa kinh tế vừa quân sự vì đó là điều bắt buộc cho Mỹ đó là tại sao Mỹ phải lên tiếng mạnh tại WTO. Đặc biệt nhất Mỹ đang xúc tiến chiến lược lấy lại thế thượng phong tại Thái bình dưong cùng Đông nam Á. Và phải chăng hiện nay nươc cờ “Kissinger” non 40 năm trước đã “đáo hạn” và thế giới bưóc qua giai đoạn khác?
Nhưng VN sẽ nhờ vào chuyển biến mới mẻ sắp tới này trong đó có nội dung thế giới tự do không thể để khối ASEAN rơi vào tay Tàu Cộng. Bắc hàn cũng đang có dấu hiệu “trở cờ” với Bắc kinh vì không chịu sự áp chế của Hán triều mà hành động thả 2 ký giả Mỹ vừa qua làm Bắc kinh khó chịu. Hà nội phải năn nỉ với ông chủ Hán triều xin vơt vát chút nào uy tín vơi dân “đòi hỏi Bắc kinh phải trả vô điều kiện” ! Bắc kinh đợt này vừa thả 25 ngư phủ VN vì chúng biết "già néo đứt dây" với CSVN.
Nội tình CSVN đang có dấu hiệu rạn nứt lớn nhất là sau vụ Bauxit và tiếp đến là vụ án “tổng cục 2” lúc này. Phe Võ nguyên Giáp một thời theo đường lối của Mao nhờ thế nên biết rõ dã tâm của Tàu qua vụ Bauxit và “vụ án tổng cục 2“ là định nghĩa nôm na là một tập đoàn thối nát trong cung đình Hà nội, nó có tính mafia của cơ quan mật vụ CSVN, chúng đấu đá giết nhau thôi chứ không liên hệ đến lợi ích dân tộc VN chúng ta.
Bắc kinh mỗi khi "co vòi" thì đảng CSVN sẽ hết chỗ dựa. Chúng sẽ bị triệt tiêu bởi sự đối kháng toàn dân tộc Việt đang âm ỉ cháy mọi nẻo đường đất nước, tổng hợp với phong trào dân chủ và dân trí mở rộng qua quá trình mở rộng giao tiếp với thế giới bên ngoài nhất là sự thông tin mà người dân VN đã nhận được.
Sức mạnh Công an tay sai CSVN nó đàn áp dân Viêt chúng ta mỗi khi sau lưng chúng sẵn có một tập đoàn thối nát CSVN dùng tiền bạc lương bỗng yểm trơ. Tuy vậy chúng tự biết chúng phi nghĩa và thối nát. Sự mục ruỗng của chế độ nó đang đứng trên lớp sơn giả tạo bên ngoài nó sẽ sup bất cứ lúc nào. Bơi thế tuy đàn áp dân nhưng bọn Công an mật vụ này mắt chúng ngó láo liên, nếu chủ chúng chạy là chúng săn sàng vứt dùi cui roi điện chạy ngay.
Quân đội “nhân dân“ VN, tập thể này tự biết hai chữ “nhân dân“ không còn ý nghĩa nữa khi quê hương đất nước VN đang bị bức ép ký nhượng bởi Đảng Cộng. Dân VN bị Tàu cộng giết hại họ cũng bị khóa họng im re và nhất là họ biết họ đang cầm súng không phãi giữ nước an dân mà đê bảo vệ cho ngai vàng điện ngọc, gia tài của cải cho tập đoàn tham quan bạo chúa CSVN đứng đầu là 15 tên đầu đảng tại Chinh trị bộ Cung Ba đình, mấy chục tên trong uỷ viên trung ươg Đảng, mấy chục tên đầu tỉnh cùng hàng vạn tên cá bộ gộc đỏ hiên nay. Như thế, khi “công an nhân dân, quân đội nhân dân” tự trong lòng chúng biết là phi nghĩa rồi thì làm sao khi có đột biến chúng lại sẵn sàng hi sinh bảo vệ cho đảng chúng được ?
Mấy triệu đảng viên CSVN họ thừa biết cái thẻ đảng 'để giữ nồi cơm" gia đình họ thôi. Họ dư sưc hiểu tội lỗi và cái vỏ giả dối của đảng CSVN đang chờ ngày phán xét của dân tộc Việt.
Để giải nguy, vào tháng 11/09 tới CSVN sẽ triệu tập một “hội nghị Diên Hồng Đỏ” hòng tưởng thưởng và chiêu dụ thêm nữa những thành phần phản bội hải ngoại như vưà nói ở trên. Những con “thò lò” sẽ xuất đầu lộ diện trong cái thế “giương giuơng tự đắc“ rằng bọn chúng đang “thắng”. Những “trí giả yêu nước” hải ngoại cũng trong cơ hội này cũng xuất hiện “rầm rộ” chờ đảng CSVN ban “ơn mưa móc”. Chúng đâu biết rằng CSVN đang trên đà nguy khốn vì sự rệu rã ngay từ trong bộ máy cai trị cùng sự óan ghét căm hờn của dân tộc VN. Đây là cơ hội quý báu cho toàn dân VN nhận ra chân tướng của bè lũ độc hại ăn theo và tự nguyện làm tay sai cho CSVN.
Chúng ta hãy giữ vững niềm tin, trong tương lai mới VN dĩ nhiên không có chỗ đứng của lớp người phản bội mỗi khi mặt nạ của họ đã rơi rồi. Hồn thiêng sông núi Việt nam, chí hùng bất khuất VN sẽ sống lại trong khúc quanh lịch sử sắp tới đây. Tia sáng phục hưng đang ló dạng cuối đường hầm, nhưng dưới tình hình mới và vận hội mới bọn giá aó túi cơm, bè đảng phản bội không thể nào có chỗ đứng nào trong lòng dân Việt được.
Xuân Khê (15/8/09)
Print Comment Email
N.Q: Tam Tòa, Công Lý và Hòa
Tôn giáo không tự do vì xã hội không tự do
Ngô Nhân Dụng Tôn giáo chỉ tự do khi nào cả xã hội được sống tự do. Ðây là một sự thật mà người ta hay quên khi nói đến vấn đề tôn giáo trong các nước độc tài. Ở các nước còn sống dưới những đảng độc quyền, độc đoán, có những vụ xúc phạm tới quyền sinh hoạt tín ngưỡng của người dân; mà không nhất thiết vì những lãnh tụ độc tài muốn cấm cản một tôn giáo nào đó. Họ chỉ không cho phép người dân được hưởng những quyền tự do căn bản để sống xứng đáng làm người. Vì thế có những sinh hoạt tín ngưỡng bị cấm cản.
Khi chính quyền Miến Ðiện tấn công các ngôi chùa, bắt giữ chư tăng, các chính phủ Tây Phương lên tiếng phản đối đã nhấn mạnh đến tội xúc phạm quyền tự do tôn giáo. Nhưng sự thật là các tăng sĩ và Phật tử Miến Ðiện đã bị đàn áp vì họ tham gia vào một phong trào phản đối tăng thuế, đặc biệt là tăng thuế nhiên liệu. Ðó là một phong trào bộc phát trong dân chúng Miến Ðiện, dù có các nhà tu hành tham dự hay không. Các tăng sĩ và chùa chiền đã trở thành giới lãnh đạo và trung tâm hoạt động của phong trào này, vì dân Miến Ðiện tin tưởng nơi các tu sĩ và chùa chiền là nơi có thể tụ họp và trốn tránh. Khi chính quyền Miến Ðiện đã bắt giữ các tu sĩ lãnh đạo rồi, họ lại cho phép các nhà sư còn lại tiếp tục ở trong chùa, các Phật tử được tự do đi lễ. Những người Tây phương không thể kết tội nhóm quân phiệt Miến là xâm phạm tự do tôn giáo nữa. Nhưng tất cả mọi người dân Miến Ðiện vẫn sống trong chế độ độc tài tăm tối như cũ.
Một thí dụ hiển nhiên khác là chính sách cấm đoán và đàn áp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Họ giam lỏng Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ trong Thanh Minh Thiền Viện cũng như nhiều vị lãnh đạo khác trong giáo hội, họ không được tới một tự viện nào khác để giảng Phật pháp. Họ không cho phép vị trụ trì nào được đề tên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trên tên chùa, cấm các sinh hoạt từ thiện, giáo dục, văn hoá nhân danh giáo hội Thống Nhất.
Tương tự như trường hợp Giáo Hội Thống Nhất là Phật Giáo Hoà Hảo. Từ khi cộng sản chiếm được miền Nam Việt Nam, họ đã cấm không cho các tín đồ Hoà Hảo được sinh hoạt tập thể ngoài phạm vi mà nhà nước cho phép, các cơ sở truyền thống của giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo đã bị chiếm cứ, các tổ chức bị quốc doanh hoá, và các nhà lãnh đạo bị bắt giam hoặc bị tàn sát.
Tất cả những hành động đàn áp và cấm đoán trên vi phạm các quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội. Khi chính phủ Georges W. Bush bỏ chính quyền cộng sản Việt Nam ra khỏi danh sách những nước phải chú ý đặc biệt vì xâm phạm tự do tín ngưỡng, họ quên rằng con người không thể có tín ngưỡng tự do nếu không được tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội.
Một điều trong đạo luật về tôn giáo ở Việt Nam cấm không cho sinh hoạt tôn giáo tại tư gia đã xâm phạm quyền tự do hội họp, và đó là một điều luật cấm tôn giáo hoạt động một cách trắng trợn không chối cãi được. Vì một một vị tăng hay ni đến nhà cầu siêu cho một đám tang có thể bị coi là sinh hoạt tôn giáo trong tư gia. Một cố vấn gia đình mục vụ tiếp những cặp vợ chồng sắp cưới để cùng cầu nguyện với nhau cũng có thể bị ghép vào tội đó. Không có luật nào cấm các đảng viên cộng sản họp chi bộ ở nhà riêng, nhưng nếu một vị mục sư đến nhà nào giảng Kinh Thánh thì có thể bị cấm nếu công an khu vực không được hối lộ.
Những hành động xâm phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam gần đây phần lớn đều bắt nguồn từ những điều cấm đoán ngoài phạm vi tôn giáo. Sở dĩ các giáo dân Vinh bị công an tấn công là vì họ muốn sử dụng khu đất của giáo phận mà bị cấm cản. Lần đầu tiên Linh Mục Nguyễn Văn Lý vị chính quyền tấn công cũng vì cộng sản muốn chiếm đất của địa phận giáo xứ. Khi Linh Mục Lý phản đối, công an bắt đầu cấm đoán và ngăn cản các giáo dân không được tới nhà thờ. Những người lên tiếng bênh vực giáo dân cũng bị ghép vào tội chống nhà nước cộng sản.
Chính vì thấy tôn giáo không thể có tự do nếu xã hội không được tự do, cho nên Linh Mục Nguyễn Văn Lý và các nhà trí thức dân chủ đã cùng nhau lập Khối 8406 để tranh đấu cho tất cả mọi người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do tối thiểu, không phân biệt người theo đạo nào hoặc có tín ngưỡng hay không. Tôn giáo sống trong xã hội loài người. Khi con người không được sống tự do thì mọi tôn giáo đều có thể bị xúc phạm bất cứ lúc nào; giống như có những dây thòng lọng buộc sẵn quanh cổ.
Ðiển hình nhất là vụ gần 400 tăng ni đang bị đàn áp tại tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Ðồng. Theo tin AFP đăng trên báo Người Việt ngày hôm qua, phát ngôn viên chính quyền cộng sản mới xác định rằng ngày 2 Tháng Chín này các tu sĩ trẻ tuổi này sẽ bị trục xuất khỏi tu viện. Lý do ông ta nêu ra là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Lâm Ðồng đuổi họ vì những buổi giảng Phật pháp của họ không được giáo hội đó cho phép; do đó bị coi là bất hợp pháp. Như vậy có phải là chính quyền cộng sản đã vi phạm tự do tín ngưỡng hay không? Hiển nhiên là họ đã trà đạp trên quyền tự do sinh hoạt tôn giáo, vì họ đang sử dụng những điều cấm đoán khác mà luật pháp các nước cộng sản luôn luôn áp dụng.
Từ khi có những tăng ni tu tập theo Pháp môn Làng Mai, mỗi tháng họ đã thu hút hàng ngàn Phật tử từ khắp các tỉnh về tu học những cuối tuần, sống trong chánh niệm, hành trì giới luật. Ðó là truyền thống Thọ Bát Quan Trai trong Phật Giáo, Nam tông cũng như Bắc tông đều theo. Bây giờ, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tuyên bố đó là những hoạt động bất hợp pháp, chẳng khác nào họ nói giáo lý của Ðức Phật là bất hợp pháp! Mai mốt các vị tăng ni trở về quê quán tiếp tục hành trì phép tu theo Phật của mình thì có bị coi là bất hợp pháp nữa hay không?
Trong lịch sử nước ta, truyền thống Phật Giáo vẫn công nhận có hàng muôn ngàn phương pháp tu tập - 84,000 pháp môn là một con số làm thí dụ. Ngay dưới triều nhà Nguyễn, khi sắc phong chức tăng thống thì vị tăng thống cũng chỉ là một người được coi là đạo cao đức trọng để làm gương cho cả nước chứ không phải là người cai quản và quyết định mọi hoạt động Phật giáo trong nước. Mọi người đều có quyền cạo đầu đi tu, chọn nơi dựng thảo am hành trị đạo Phật, nhận các đệ tử xuất gia hoặc tại gia.
Từ hai thế kỷ trước, tại Việt Nam đã nổi lên những nhà tu độc lập nổi tiếng như Ðức Phật Thầy Tây An. Một người đạo hạnh được nhân dân suy tôn vừa là Thầy, vừa là Phật, mà không cần có giấy phép của một chính quyền nào hay một giáo hội nào. Chính trong truyền thống đó chúng ta có những ông sư Vãi Bán Khoai, và sang thế kỷ 20 có Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ. Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã có những vị tu sĩ độc lập như vậy, cho nên chúng ta có ông Ðạo Dừa được bao nhiêu người ngưỡng mộ và giúp cho bao nhiêu người hướng về điều thiện. Ông Ðạo Dừa phản đối chiến tranh, kêu gọi hoà bình, nhưng không một chính phủ nào ở miền Nam khép ông vào tội chủ hòa làm ngã lòng binh sĩ để gây phiền phức cho ông; mỗi ngày vẫn có những người đến chiêm bái ông trên chiếc thuyền đậu ở Cồn Phụng mà khong ai bị công an theo dõi.
Truyền thống tự do đó đã bị dập tắt dưới chế độ Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản không cần làm một điều luật nào cấm tôn giáo. Họ chỉ cần thi hành những điều cấm đoán đối với các quyền tự do căn bản của con người là đủ xúc phạm tất cả các tôn giáo, bất cứ luc nào họ muốn. Trước đây các vị tu sĩ trẻ này được yên tâm tu học, nay chỉ vì ông thầy họ chống Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng nên họ bị đuổi!
Hành động trục xuất các tăng ni trẻ ra khỏi Tu Viện Bát Nhã sẽ khiến tất cả mọi người Việt Nam khác ý thức được rằng khi một người dân bị tước bỏ những quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội thì mọi người đều có thể bị đàn áp bất cứ lúc nào. Bốn trăm vị tăng ni trẻ tuổi này đã chứng tỏ đạo hạnh nghiêm trang trong suốt thời gian qua, họ được mọi người dân trong vùng kính trọng, kể cả nhiều tăng ni trong giới lãnh đạo hội Phật Giáo được nhà nước kiểm soát. Chính các vị tăng ni này sẽ nhìn ra rằng khi cái thòng lọng xiết lại trên cổ 400 tu sĩ trẻ tuổi ở Bát Nhã thì chính họ, những người vẫn tuân phục đảng và nhà nước Cộng Sản, chính họ cũng đang bị buộc những thòng lọng giống như vậy. Ngày xưa thân phụ cố văn sĩ Phùng Gia Lộc hỏi con: Bọn nhà văn chúng mày là giống gì mà lúc người ta cởi trói, lúc người ta trói lại vậy? Bây giờ sẽ có người hỏi các vị tăng ni trong giáo hội nhà nước như vậy!
Nhìn tấm gương Bát Nhã, tất cả mọi người dân Việt Nam, nhất là giới trí thức trẻ, cũng phải thấy họ đang bị những sợ dây thòng lọng tròng vào cổ. Ðó là một nỗi nhục mà người dân Việt phải chịu đựng từ bao nhiêu năm nay. Bây giờ, các tu sĩ ở Bát Nhã sẽ là minh chứng cho ai cũng ý thức được mối nhục đó. Mọi người Việt Nam sẽ hiểu ra rằng vấn đề ở tu viện Bát Nhã không phải là vấn đề tôn giáo mà là vấn đề tự do. Mà đó là những quyền tự do tối thiểu của công dân những nước độc lập. Tại sao các tu sĩ ở tu viện Bát Nhã bị đuổi đi vì không có hộ khẩu, còn những công nhân Trung Quốc đang sang Việt Nam làm việc, những thương gia Trung Quốc đang xâm nhập qua biên giới, không ai bị xét hộ khẩu bao giờ cả? Khi nào toàn thể mọi người Việt Nam ý thức được những nỗi nhục này, đó là do vụ đàn áp ở tu viện Bát Nhã.
Nếu khôn ngoan, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không đàn áp quá đáng nữa. Vì 400 vị tăng ni này khi bị đuổi về quê quán là 400 vị sứ giả của lối sống Phật Giáo có thể giúp bao nhiêu người bớt khổ đau, nhưng họ cũng là những nạn nhân biểu tựơng của một chế độ khống chế mọi quyền tự do căn bản mà mọi công dân Việt Nam có quyền nhưng không được hưởng! Khi mọi người dân đã nhìn thấy như vậy thì đất nước sẽ thay đổi!
Ngô Nhân Dụng Tôn giáo chỉ tự do khi nào cả xã hội được sống tự do. Ðây là một sự thật mà người ta hay quên khi nói đến vấn đề tôn giáo trong các nước độc tài. Ở các nước còn sống dưới những đảng độc quyền, độc đoán, có những vụ xúc phạm tới quyền sinh hoạt tín ngưỡng của người dân; mà không nhất thiết vì những lãnh tụ độc tài muốn cấm cản một tôn giáo nào đó. Họ chỉ không cho phép người dân được hưởng những quyền tự do căn bản để sống xứng đáng làm người. Vì thế có những sinh hoạt tín ngưỡng bị cấm cản.
Khi chính quyền Miến Ðiện tấn công các ngôi chùa, bắt giữ chư tăng, các chính phủ Tây Phương lên tiếng phản đối đã nhấn mạnh đến tội xúc phạm quyền tự do tôn giáo. Nhưng sự thật là các tăng sĩ và Phật tử Miến Ðiện đã bị đàn áp vì họ tham gia vào một phong trào phản đối tăng thuế, đặc biệt là tăng thuế nhiên liệu. Ðó là một phong trào bộc phát trong dân chúng Miến Ðiện, dù có các nhà tu hành tham dự hay không. Các tăng sĩ và chùa chiền đã trở thành giới lãnh đạo và trung tâm hoạt động của phong trào này, vì dân Miến Ðiện tin tưởng nơi các tu sĩ và chùa chiền là nơi có thể tụ họp và trốn tránh. Khi chính quyền Miến Ðiện đã bắt giữ các tu sĩ lãnh đạo rồi, họ lại cho phép các nhà sư còn lại tiếp tục ở trong chùa, các Phật tử được tự do đi lễ. Những người Tây phương không thể kết tội nhóm quân phiệt Miến là xâm phạm tự do tôn giáo nữa. Nhưng tất cả mọi người dân Miến Ðiện vẫn sống trong chế độ độc tài tăm tối như cũ.
Một thí dụ hiển nhiên khác là chính sách cấm đoán và đàn áp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Họ giam lỏng Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ trong Thanh Minh Thiền Viện cũng như nhiều vị lãnh đạo khác trong giáo hội, họ không được tới một tự viện nào khác để giảng Phật pháp. Họ không cho phép vị trụ trì nào được đề tên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trên tên chùa, cấm các sinh hoạt từ thiện, giáo dục, văn hoá nhân danh giáo hội Thống Nhất.
Tương tự như trường hợp Giáo Hội Thống Nhất là Phật Giáo Hoà Hảo. Từ khi cộng sản chiếm được miền Nam Việt Nam, họ đã cấm không cho các tín đồ Hoà Hảo được sinh hoạt tập thể ngoài phạm vi mà nhà nước cho phép, các cơ sở truyền thống của giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo đã bị chiếm cứ, các tổ chức bị quốc doanh hoá, và các nhà lãnh đạo bị bắt giam hoặc bị tàn sát.
Tất cả những hành động đàn áp và cấm đoán trên vi phạm các quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội. Khi chính phủ Georges W. Bush bỏ chính quyền cộng sản Việt Nam ra khỏi danh sách những nước phải chú ý đặc biệt vì xâm phạm tự do tín ngưỡng, họ quên rằng con người không thể có tín ngưỡng tự do nếu không được tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội.
Một điều trong đạo luật về tôn giáo ở Việt Nam cấm không cho sinh hoạt tôn giáo tại tư gia đã xâm phạm quyền tự do hội họp, và đó là một điều luật cấm tôn giáo hoạt động một cách trắng trợn không chối cãi được. Vì một một vị tăng hay ni đến nhà cầu siêu cho một đám tang có thể bị coi là sinh hoạt tôn giáo trong tư gia. Một cố vấn gia đình mục vụ tiếp những cặp vợ chồng sắp cưới để cùng cầu nguyện với nhau cũng có thể bị ghép vào tội đó. Không có luật nào cấm các đảng viên cộng sản họp chi bộ ở nhà riêng, nhưng nếu một vị mục sư đến nhà nào giảng Kinh Thánh thì có thể bị cấm nếu công an khu vực không được hối lộ.
Những hành động xâm phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam gần đây phần lớn đều bắt nguồn từ những điều cấm đoán ngoài phạm vi tôn giáo. Sở dĩ các giáo dân Vinh bị công an tấn công là vì họ muốn sử dụng khu đất của giáo phận mà bị cấm cản. Lần đầu tiên Linh Mục Nguyễn Văn Lý vị chính quyền tấn công cũng vì cộng sản muốn chiếm đất của địa phận giáo xứ. Khi Linh Mục Lý phản đối, công an bắt đầu cấm đoán và ngăn cản các giáo dân không được tới nhà thờ. Những người lên tiếng bênh vực giáo dân cũng bị ghép vào tội chống nhà nước cộng sản.
Chính vì thấy tôn giáo không thể có tự do nếu xã hội không được tự do, cho nên Linh Mục Nguyễn Văn Lý và các nhà trí thức dân chủ đã cùng nhau lập Khối 8406 để tranh đấu cho tất cả mọi người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do tối thiểu, không phân biệt người theo đạo nào hoặc có tín ngưỡng hay không. Tôn giáo sống trong xã hội loài người. Khi con người không được sống tự do thì mọi tôn giáo đều có thể bị xúc phạm bất cứ lúc nào; giống như có những dây thòng lọng buộc sẵn quanh cổ.
Ðiển hình nhất là vụ gần 400 tăng ni đang bị đàn áp tại tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Ðồng. Theo tin AFP đăng trên báo Người Việt ngày hôm qua, phát ngôn viên chính quyền cộng sản mới xác định rằng ngày 2 Tháng Chín này các tu sĩ trẻ tuổi này sẽ bị trục xuất khỏi tu viện. Lý do ông ta nêu ra là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Lâm Ðồng đuổi họ vì những buổi giảng Phật pháp của họ không được giáo hội đó cho phép; do đó bị coi là bất hợp pháp. Như vậy có phải là chính quyền cộng sản đã vi phạm tự do tín ngưỡng hay không? Hiển nhiên là họ đã trà đạp trên quyền tự do sinh hoạt tôn giáo, vì họ đang sử dụng những điều cấm đoán khác mà luật pháp các nước cộng sản luôn luôn áp dụng.
Từ khi có những tăng ni tu tập theo Pháp môn Làng Mai, mỗi tháng họ đã thu hút hàng ngàn Phật tử từ khắp các tỉnh về tu học những cuối tuần, sống trong chánh niệm, hành trì giới luật. Ðó là truyền thống Thọ Bát Quan Trai trong Phật Giáo, Nam tông cũng như Bắc tông đều theo. Bây giờ, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tuyên bố đó là những hoạt động bất hợp pháp, chẳng khác nào họ nói giáo lý của Ðức Phật là bất hợp pháp! Mai mốt các vị tăng ni trở về quê quán tiếp tục hành trì phép tu theo Phật của mình thì có bị coi là bất hợp pháp nữa hay không?
Trong lịch sử nước ta, truyền thống Phật Giáo vẫn công nhận có hàng muôn ngàn phương pháp tu tập - 84,000 pháp môn là một con số làm thí dụ. Ngay dưới triều nhà Nguyễn, khi sắc phong chức tăng thống thì vị tăng thống cũng chỉ là một người được coi là đạo cao đức trọng để làm gương cho cả nước chứ không phải là người cai quản và quyết định mọi hoạt động Phật giáo trong nước. Mọi người đều có quyền cạo đầu đi tu, chọn nơi dựng thảo am hành trị đạo Phật, nhận các đệ tử xuất gia hoặc tại gia.
Từ hai thế kỷ trước, tại Việt Nam đã nổi lên những nhà tu độc lập nổi tiếng như Ðức Phật Thầy Tây An. Một người đạo hạnh được nhân dân suy tôn vừa là Thầy, vừa là Phật, mà không cần có giấy phép của một chính quyền nào hay một giáo hội nào. Chính trong truyền thống đó chúng ta có những ông sư Vãi Bán Khoai, và sang thế kỷ 20 có Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ. Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã có những vị tu sĩ độc lập như vậy, cho nên chúng ta có ông Ðạo Dừa được bao nhiêu người ngưỡng mộ và giúp cho bao nhiêu người hướng về điều thiện. Ông Ðạo Dừa phản đối chiến tranh, kêu gọi hoà bình, nhưng không một chính phủ nào ở miền Nam khép ông vào tội chủ hòa làm ngã lòng binh sĩ để gây phiền phức cho ông; mỗi ngày vẫn có những người đến chiêm bái ông trên chiếc thuyền đậu ở Cồn Phụng mà khong ai bị công an theo dõi.
Truyền thống tự do đó đã bị dập tắt dưới chế độ Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản không cần làm một điều luật nào cấm tôn giáo. Họ chỉ cần thi hành những điều cấm đoán đối với các quyền tự do căn bản của con người là đủ xúc phạm tất cả các tôn giáo, bất cứ luc nào họ muốn. Trước đây các vị tu sĩ trẻ này được yên tâm tu học, nay chỉ vì ông thầy họ chống Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng nên họ bị đuổi!
Hành động trục xuất các tăng ni trẻ ra khỏi Tu Viện Bát Nhã sẽ khiến tất cả mọi người Việt Nam khác ý thức được rằng khi một người dân bị tước bỏ những quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội thì mọi người đều có thể bị đàn áp bất cứ lúc nào. Bốn trăm vị tăng ni trẻ tuổi này đã chứng tỏ đạo hạnh nghiêm trang trong suốt thời gian qua, họ được mọi người dân trong vùng kính trọng, kể cả nhiều tăng ni trong giới lãnh đạo hội Phật Giáo được nhà nước kiểm soát. Chính các vị tăng ni này sẽ nhìn ra rằng khi cái thòng lọng xiết lại trên cổ 400 tu sĩ trẻ tuổi ở Bát Nhã thì chính họ, những người vẫn tuân phục đảng và nhà nước Cộng Sản, chính họ cũng đang bị buộc những thòng lọng giống như vậy. Ngày xưa thân phụ cố văn sĩ Phùng Gia Lộc hỏi con: Bọn nhà văn chúng mày là giống gì mà lúc người ta cởi trói, lúc người ta trói lại vậy? Bây giờ sẽ có người hỏi các vị tăng ni trong giáo hội nhà nước như vậy!
Nhìn tấm gương Bát Nhã, tất cả mọi người dân Việt Nam, nhất là giới trí thức trẻ, cũng phải thấy họ đang bị những sợ dây thòng lọng tròng vào cổ. Ðó là một nỗi nhục mà người dân Việt phải chịu đựng từ bao nhiêu năm nay. Bây giờ, các tu sĩ ở Bát Nhã sẽ là minh chứng cho ai cũng ý thức được mối nhục đó. Mọi người Việt Nam sẽ hiểu ra rằng vấn đề ở tu viện Bát Nhã không phải là vấn đề tôn giáo mà là vấn đề tự do. Mà đó là những quyền tự do tối thiểu của công dân những nước độc lập. Tại sao các tu sĩ ở tu viện Bát Nhã bị đuổi đi vì không có hộ khẩu, còn những công nhân Trung Quốc đang sang Việt Nam làm việc, những thương gia Trung Quốc đang xâm nhập qua biên giới, không ai bị xét hộ khẩu bao giờ cả? Khi nào toàn thể mọi người Việt Nam ý thức được những nỗi nhục này, đó là do vụ đàn áp ở tu viện Bát Nhã.
Nếu khôn ngoan, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không đàn áp quá đáng nữa. Vì 400 vị tăng ni này khi bị đuổi về quê quán là 400 vị sứ giả của lối sống Phật Giáo có thể giúp bao nhiêu người bớt khổ đau, nhưng họ cũng là những nạn nhân biểu tựơng của một chế độ khống chế mọi quyền tự do căn bản mà mọi công dân Việt Nam có quyền nhưng không được hưởng! Khi mọi người dân đã nhìn thấy như vậy thì đất nước sẽ thay đổi!
Không ngạc nhiên khi nghe CSVN không ủng hộ
kêu gọi phóng thích bà Suu Kyi của ASEAN
Trong lúc cả thế giới, trong đó có các quốc gia vùng Đông Nam Á, lên tiếng chỉ trích chính quyền quân phiệt Miến Điện đã xử bà Aung San Suu Kyi 18 tháng quản thúc tại gia, thì dư luận thế giới cũng muốn nghe quan điểm của chính quyền CSVN – một quốc gia độc tài và độc đảng, cũng đã và đang nhốt tù nhiều nhà đấu tranh cho dân chủ. Trong chương trình phát thanh Phố Đêm, chúng tôi đã dự đoán là CSVN sẽ không phản đối phán quyết của nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện. Ngày hôm nay, tin VOA đã đưa rằng CSVN không ủng hộ lời kêu gọi phóng thích bà Aung San Suu Kyi. CSVN không thể nào vừa nhốt tù các nhà đấu tranh dân chủ lại vừa kêu gọi nước khác trả tự do cho người đấu tranh vì dân chủ. Quyết định đó của CSVN không làm ngạc nhiên nhiều người. Bản tin của đài VOA về vấn đề này như sau:
VOA - Việt Nam không ủng hộ lời kêu gọi trả tự do cho lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi của các nước khác trong Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á – ASEAN.
Hôm thứ Sáu hãng thông tấn Đức trích thuật báo chí Việt Nam cho hay Việt Nam không chỉ trích quyết định của Miến Điện tiếp tục quản thúc tại gia trong vòng 18 tháng đối với bà Aung San Suu Kyi.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng nói rằng theo quan điểm của Việt Nam phiên tòa xét xử bà Aung San Suu Kyi là 'công việc nội bộ của Miến Điện'.
Hôm thứ Tư, chính phủ Thái Lan đã kêu gọi Miến Điện trả tự do cho bà Suu Kyi ngay lập tức và cho phép bà được tham gia vào các cuộc bầu cử. Một số các nước thành viên khác của ASEAN cũng đồng tình với tuyên bố này của Thái Lan.
Tuy nhiên, Việt Nam lại không đồng tình với tuyên bố này, và ông Dũng nói rằng Việt Nam luôn ủng hộ Miến Điện và hy vọng Miến Điện sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình dân chủ như chính phủ đã đề ra.
Miến Điện gia nhập ASEAN vào năm 1997 và kể từ đó họ luôn gây nên những tình huống khó xử cho hiệp hội.
Miến Điện cũng là một nước có thành tích nhân quyền tồi tệ nhất thế giới. Việc chính quyền quân nhân nước này không chấp nhận trả tự do cho bà Suu Kyi, khôi nguyên giải Nobel Hòa bình năm 1991, đã bị quốc tế lên án và chỉ trích gay gắt.
Bà Suu Kyi là lãnh đạo của đảng Liên minh Toàn quốc Đấu tranh cho Dân chủ, đảng của bà đã thắng trong các cuộc bầu cử năm 1990 nhưng quân đội không hề để cho họ lên nắm quyền.
Bà bị chính quyền quân nhân coi là một thế lực chính trị có khả năng hủy họai lộ trình tiến tới điều mà họ gọi là 'một nền dân chủ thịnh vượng và có kỷ cương'.
(Theo VOA)
kêu gọi phóng thích bà Suu Kyi của ASEAN
Trong lúc cả thế giới, trong đó có các quốc gia vùng Đông Nam Á, lên tiếng chỉ trích chính quyền quân phiệt Miến Điện đã xử bà Aung San Suu Kyi 18 tháng quản thúc tại gia, thì dư luận thế giới cũng muốn nghe quan điểm của chính quyền CSVN – một quốc gia độc tài và độc đảng, cũng đã và đang nhốt tù nhiều nhà đấu tranh cho dân chủ. Trong chương trình phát thanh Phố Đêm, chúng tôi đã dự đoán là CSVN sẽ không phản đối phán quyết của nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện. Ngày hôm nay, tin VOA đã đưa rằng CSVN không ủng hộ lời kêu gọi phóng thích bà Aung San Suu Kyi. CSVN không thể nào vừa nhốt tù các nhà đấu tranh dân chủ lại vừa kêu gọi nước khác trả tự do cho người đấu tranh vì dân chủ. Quyết định đó của CSVN không làm ngạc nhiên nhiều người. Bản tin của đài VOA về vấn đề này như sau:
VOA - Việt Nam không ủng hộ lời kêu gọi trả tự do cho lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi của các nước khác trong Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á – ASEAN.
Hôm thứ Sáu hãng thông tấn Đức trích thuật báo chí Việt Nam cho hay Việt Nam không chỉ trích quyết định của Miến Điện tiếp tục quản thúc tại gia trong vòng 18 tháng đối với bà Aung San Suu Kyi.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng nói rằng theo quan điểm của Việt Nam phiên tòa xét xử bà Aung San Suu Kyi là 'công việc nội bộ của Miến Điện'.
Hôm thứ Tư, chính phủ Thái Lan đã kêu gọi Miến Điện trả tự do cho bà Suu Kyi ngay lập tức và cho phép bà được tham gia vào các cuộc bầu cử. Một số các nước thành viên khác của ASEAN cũng đồng tình với tuyên bố này của Thái Lan.
Tuy nhiên, Việt Nam lại không đồng tình với tuyên bố này, và ông Dũng nói rằng Việt Nam luôn ủng hộ Miến Điện và hy vọng Miến Điện sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình dân chủ như chính phủ đã đề ra.
Miến Điện gia nhập ASEAN vào năm 1997 và kể từ đó họ luôn gây nên những tình huống khó xử cho hiệp hội.
Miến Điện cũng là một nước có thành tích nhân quyền tồi tệ nhất thế giới. Việc chính quyền quân nhân nước này không chấp nhận trả tự do cho bà Suu Kyi, khôi nguyên giải Nobel Hòa bình năm 1991, đã bị quốc tế lên án và chỉ trích gay gắt.
Bà Suu Kyi là lãnh đạo của đảng Liên minh Toàn quốc Đấu tranh cho Dân chủ, đảng của bà đã thắng trong các cuộc bầu cử năm 1990 nhưng quân đội không hề để cho họ lên nắm quyền.
Bà bị chính quyền quân nhân coi là một thế lực chính trị có khả năng hủy họai lộ trình tiến tới điều mà họ gọi là 'một nền dân chủ thịnh vượng và có kỷ cương'.
(Theo VOA)
Đảng trị sinh bất công
Ngô Nhân Dụng Chỉ số thị trường chứng khoán Thượng Hải đã tăng thêm 90% trong hơn bẩy tháng kể từ đầu năm 2009. Một số người Trung Hoa bỗng nhiên thấy tài sản mình tăng lên gần gấp đôi, trong khi cả nền kinh tế chỉ đăng 8% một năm. Tại sao có những người làm giầu nhanh hơn người khác?
Ở những nước tự do dân chủ với kinh tế thị trường đích thực thì nhiều người làm giàu nhờ có kỹ năng giỏi hơn, hoặc khi làm ăn dám chấp nhận rủi ro lớn hơn thiên hạ. Những người Trung Quốc làm giầu nhanh chóng có phải vì họ tài giỏi hơn, hoặc họ dám chấp nhận may rủi nhiều hơn người khác hay không? Không nhất thiết như vậy. Họ khá giả được phần lớn nhờ chính sách của nhà nước.
Trong quý thứ hai năm 2009 chính phủ Bắc Kinh bắt đầu bơm tiền “kích thích kinh tế” cho các ngân hàng của nhà nước. Các ngân hàng đem cho các xí nghiệp của nhà nước vay. Những xí nghiệp này đem một phần đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhưng không dùng hết. Theo lối họ quen “du di” tùy tiện, ban giám đốc các xí nghiệp đem tiền dư đi đầu tư vào địa ốc và mua cổ phiếu. Tự nhiên giá nhà cửa và giá cổ phiếu tăng vụt lên. Tháng trước, đảng Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu lo sẽ làm hai trái bong bóng địa ốc và cổ phần cùng phồng lên rồi sẽ vỡ, ra lệnh tốp bớt lại. Họ bảo các ngân hàng nhà nước giảm tốc độ cho vay. Vì thế trong một tháng qua chỉ số chứng khoán ở Thượng Hải đã tụt mất 16%.
Khác với các nước dân chủ tự do, nhà nước Cộng Sản nắm trong tay nhiều “khí cụ” có thể giúp cho một số người giầu nhanh lên, hoặc bắt họ đi chậm lại. Ở các nước Âu Mỹ chính phủ có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế; nhưng giữ tiêu chuẩn công bằng: Mỗi quyết định thường gây ảnh hưởng đồng đều trên tất cả mọi người. Khi nào chính phủ muốn giúp đỡ hoặc kích thích cho riêng một lãnh vực nào đó, thì cả nước được bàn bạc, thảo luận xem các hành động đó có ích lợi chung cho cả quốc gia hay không. Thí dụ, khi chính phủ George W. Bush quyết định dùng 700 tỷ cứu nguy các ngân hàng, hoặc khi chính phủ Obama muốn đem gần 800 tỷ kích thích nền kinh tế đang suy thoái, hoặc khi quyết định cứu nguy các công ty sản xuất xe hơi, cả ba lần đó Quốc Hội đã tranh luận gắt gao, trên báo chí có các chuyên gia bàn tán các mặt tốt và xấu. Sau khi thiên hạ bàn tán rồi, Quốc Hội biểu quyết và chịu trách nhiệm về quyết định đó với các cử tri, trong mùa bầu cử năm tới.
Ở các nước Cộng Sản thì khác. Ðảng Cộng Sản có quyền chọn một nhóm người nào đó trong xã hội để nâng lên hay hạ xuống mà không cần dân góp ý kiến. Những người được chọn hưởng lợi ích qua các quyết định của đảng thường là những đảng viên cao hoặc trung cấp và các tay làm ăn chung với họ. Ðiều này thể hiện rõ rệt nhất trong các chính sách đầu tư, thuế khóa, và định hướng nền kinh tế quốc gia.
Thí dụ, ai cũng biết rằng “tỷ lệ tiết kiệm” của dân Trung Hoa cao hơn nhiều quốc gia khác, chắc chắn là cao hơn dân Mỹ. Nhưng dân Mỹ được tự do quyết định mình tiêu xài bao nhiêu, tiết kiệm bao nhiêu - và họ thường chi tiêu rất nhiều, có lúc nhiều hơn cả số tiền kiếm được. Chính phủ Mỹ có cách ảnh hưởng trên tỷ lệ tiết kiệm của dân. Một thí dụ là tăng thuế tiêu thụ, tức là bắt dân tiêu thụ bớt đi và đưa tiền cho chính phủ trả nợ, đó là một cách “cưỡng bức tiết kiệm.” Tăng lãi suất cũng là buộc mọi người phải tiết kiệm vì đi vay tiền chi tiêu phải chịu lãi cao quá. Gần đây, tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ đã tăng lên tới 5%, sau những năm tỷ lệ này chỉ suýt soát số không, zero!
Còn tất cả hơn một tỷ người dân Trung Quốc nói chung đã tăng tỷ lệ tiết kiệm từ 21% vào năm 1998 lên tới 24% vào năm 2008. Cứ tạo ra được 100 đồng thì tiết kiệm 24 đồng. Có phải dân Trung Hoa không thích mua quạt máy, tủ lạnh và sắm quần áo mới hay không? Lý do chính là do “định hướng xã hội chủ nghĩa” của đảng Cộng Sản.
Một nguyên nhân khiến dân Trung Hoa phải để dành tiền nhiều hơn là vì chính sách kinh tế của nhà nước Cộng Sản đã xóa bỏ hệ thống an sinh xã hội, gồm cả dịch vụ y tế lẫn giáo dục và tiền hưu bổng. Trước kia các công nhân đi làm cho doanh nghiệp nhà nước hoặc nông dân trong công xã được xí nghiệp hoặc công xã chu cấp những khoản đó. Từ khi đảng Cộng Sản đổi mới, công nhân các xí nghiệp được cải tổ, giải tư, hoặc đóng cửa, nông dân các làng đều mất những quyền lợi này mà đảng không tạo ra những mạng lưới an toàn khác để thay thế. Kết quả là hàng trăm triệu gia đình phải tự lo trả tiền lấy khi chữa bệnh, đóng tiền cho con cái đi học và tự lo lấy thân khi về hưu. Vì vậy, họ phải tiết kiệm để phòng khi ốm đau, già lão. Không tiết kiệm nhiều không được!
Nhưng mối lo lắng cho tương lại chỉ là một nguyên nhân khiến con số tỷ lệ tiết kiệm ở Trung Quốc cao hơn các nước khác. Nguyên nhân quan trọng không kém là do tình trạng lợi tức quốc dân phân bố không đồng đều, do chính sách của đảng Cộng Sản gây nên. Một cuộc nghiên cứu của Louis Kuijs (Ngân Hàng Thế Giới ) và Tao Wang (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) từ năm 2005 đã cho thấy chính sách phát triển của đảng Cộng Sản Trung Quốc là một nguyên nhân gây nên khoảng cách giầu nghèo mỗi ngày một rộng. Chính quyền Trung Quốc chú trọng đến bành trướng các xí nghiệp nhà nước trong những ngành công nghiệp nặng, qua việc đầu tư ào ạt vào máy móc tối tân (capital intensive) thay vì giúp phát triển các ngành dịch vụ dùng lao động nhiều hơn máy móc (labor intensive). Chủ trương đó đã khiến cho sản năng của lãnh vực nông thôn không tiến được như một vài lãnh vực công nghiệp ở đô thị, và khi sản năng tiến chậm thì lợi tức và lương bổng cũng phải thấp hơn, đào xâu thêm cái hố phân biệt giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị.
Tại sao giầu nghèo chênh lệch lại ảnh hưởng khiến tỷ lệ tiết kiệm trong nước tăng lên? Những người nghèo chiếm đa số họ phải chi tiêu nhiều hơn khi lối sống thay đổi, cả xã hội đua nhau hướng về tiêu thụ, do đó họ có thể giảm tỷ lệ tiết kiệm hoặc tăng rất ít; còn những người giầu, dư tiền nên để dành cho tương lai thuộc thiểu số nhưng tiết kiệm gấp bội làm lệch cán cân cả nước. Thí dụ, đại đa số 90% dân Trung Hoa với lợi tức thấp vẫn giữ tỷ lệ tiết kiệm ở mức 21% như cũ, nhưng 10% còn lại giầu có đã nâng tỷ lệ tiết kiệm từ 21% lên thành 51%, thì khi làm tính cộng số trung bình ta sẽ thấy tỷ lệ tiết kiệm của các gia đình tăng từ 21% lên 24% trong mười năm.
Nhưng chính sách phát triển thiên về thành thị của đảng Cộng Sản Trung Quốc chỉ giải thích được một phần lý do tại sao lợi tức chênh lệch. Một nguyên nhân trực tiếp là trong cái bánh “Tổng Sản Lượng Nội Ðịa” (GDP) đem chia cho toàn dân, phần bánh các gia đình được hưởng đã giảm đi, khi so sánh tương đối với phần chia cho các xí nghiệp. Nghĩa là đảng Cộng Sản đã chia phần nhiều hơn cho các “ông chủ” dù đó là tư nhân hay quốc doanh.
Các xí nghiệp ở Trung Quốc được ưu đãi khi đi vay các ngân hàng của nhà nước, với lãi suất thấp. Trong khi đó, các ngân hàng này trả tiền lãi cho các người dân để dành tiền với một lãi suất rất thấp; nhưng đại đa số không có lựa chọn nào khác nên vẫn phải gửi. Chính sách của đảng Cộng Sản là lấy tiền tiết kiệm của dân với giá rẻ, đưa cho ngân hàng để cho các doanh nghiệp nhà nước vay bằng tiền lời thấp. Các xí nghiệp đó sinh ra lời sẽ dồn vào túi các ông lớn, còn số tiền đem trả lại cho công quỹ (giống như tiền lời chia cho chủ nhân các xí nghiệp) gần như bằng số không.
Tại sao các doanh nghiệp nhà nước lại được ưu đãi như vậy? Vì đó là nơi đảng Cộng Sản chia chác các chức vụ cho đồng đảng, trung ương có các xí nghiệp trung ương, mỗi tỉnh, huyện, vân vân, có doanh nghiệp của họ. Cả hệ thống ngân hàng lập ra để “bồi dưỡng” các loại cán bộ kinh tế đó.
Trên đây chỉ là một khía cạnh trong chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Trung Quốc cố ý gây nên cảnh chênh lệch giầu nghèo. Một mặt khác của chủ trương Cộng Sản là lấy hoạt động đầu tư vào cơ xưởng, nhà cửa, thiết bị làm động cơ phát triển chứ không lấy tiêu thụ làm đầu máy. Nhìn con số tỷ lệ phát triển của Trung Quốc 10% hay 8% trong mấy năm qua, trong số đó phần lớn do tiền nhà nước đưa cho các xí nghiệp đầu tư qua hệ thống ngân hàng. Hiện nay trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của Trung Quốc cứ 100 đồng có 40 đồng là do đầu tư. Tỷ lệ tiêu thụ của tư nhân đã giảm đi, từ 49% GDP vào năm 1990 đã giảm xuống chỉ còn 35% vào năm 2008. Nghĩa là trong chiếc bánh kinh tế quốc dân, người dân bình thường trước kia được ăn gần một nửa, nay chỉ được ăn hơn một phần ba.
Chính sách bắt dân giảm tiêu thụ để dồn tiền cho các xí nghiệp đầu tư cũng là chính sách ưu đãi một tầng lớp cán bộ kinh tế và những người làm ăn, chia chác với họ. Vì mỗi công trình xây cất, mỗi dịp mua máy móc, thiết bị là những cơ hội ăn hối lộ. Trong vài năm nữa, tổng số tiền đầu tư của cả nước Trung Hoa sẽ cao bằng tổng số đầu tư trong kinh tế nước Mỹ. Nhưng tổng số tiêu thụ của 1.3 tỷ người Trung Hoa chỉ lớn bằng một phần sáu của 300 triệu dân chúng Mỹ. Tại Mỹ, phần bánh chia cho người tiêu thụ là 70% của Tổng Sản Lượng Toàn Quốc, tại các nước Á Châu khác cũng lên tới từ 50% đến 60%; trong khi người dân Trung Quốc chỉ được hưởng 35% cái bánh mà sức lao động của họ tạo nên.
Tình trạng bất công đó có thể thay đổi được nếu người dân Trung Hoa có quyền thảo luận chính sách kinh tế của nhà nước, và khi họ có quyền bỏ phiếu để thay đổi những người nắm quyền. Ở Trung Quốc thì còn lâu, vì đảng Cộng Sản nhất định bảo vệ độc quyền chính trị để duy trì tình trạng phân chia không đồng đều này. Chính chế độ độc tài đảng trị đã sinh ra cảnh xã hội bất công.
Ngô Nhân Dụng Chỉ số thị trường chứng khoán Thượng Hải đã tăng thêm 90% trong hơn bẩy tháng kể từ đầu năm 2009. Một số người Trung Hoa bỗng nhiên thấy tài sản mình tăng lên gần gấp đôi, trong khi cả nền kinh tế chỉ đăng 8% một năm. Tại sao có những người làm giầu nhanh hơn người khác?
Ở những nước tự do dân chủ với kinh tế thị trường đích thực thì nhiều người làm giàu nhờ có kỹ năng giỏi hơn, hoặc khi làm ăn dám chấp nhận rủi ro lớn hơn thiên hạ. Những người Trung Quốc làm giầu nhanh chóng có phải vì họ tài giỏi hơn, hoặc họ dám chấp nhận may rủi nhiều hơn người khác hay không? Không nhất thiết như vậy. Họ khá giả được phần lớn nhờ chính sách của nhà nước.
Trong quý thứ hai năm 2009 chính phủ Bắc Kinh bắt đầu bơm tiền “kích thích kinh tế” cho các ngân hàng của nhà nước. Các ngân hàng đem cho các xí nghiệp của nhà nước vay. Những xí nghiệp này đem một phần đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhưng không dùng hết. Theo lối họ quen “du di” tùy tiện, ban giám đốc các xí nghiệp đem tiền dư đi đầu tư vào địa ốc và mua cổ phiếu. Tự nhiên giá nhà cửa và giá cổ phiếu tăng vụt lên. Tháng trước, đảng Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu lo sẽ làm hai trái bong bóng địa ốc và cổ phần cùng phồng lên rồi sẽ vỡ, ra lệnh tốp bớt lại. Họ bảo các ngân hàng nhà nước giảm tốc độ cho vay. Vì thế trong một tháng qua chỉ số chứng khoán ở Thượng Hải đã tụt mất 16%.
Khác với các nước dân chủ tự do, nhà nước Cộng Sản nắm trong tay nhiều “khí cụ” có thể giúp cho một số người giầu nhanh lên, hoặc bắt họ đi chậm lại. Ở các nước Âu Mỹ chính phủ có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế; nhưng giữ tiêu chuẩn công bằng: Mỗi quyết định thường gây ảnh hưởng đồng đều trên tất cả mọi người. Khi nào chính phủ muốn giúp đỡ hoặc kích thích cho riêng một lãnh vực nào đó, thì cả nước được bàn bạc, thảo luận xem các hành động đó có ích lợi chung cho cả quốc gia hay không. Thí dụ, khi chính phủ George W. Bush quyết định dùng 700 tỷ cứu nguy các ngân hàng, hoặc khi chính phủ Obama muốn đem gần 800 tỷ kích thích nền kinh tế đang suy thoái, hoặc khi quyết định cứu nguy các công ty sản xuất xe hơi, cả ba lần đó Quốc Hội đã tranh luận gắt gao, trên báo chí có các chuyên gia bàn tán các mặt tốt và xấu. Sau khi thiên hạ bàn tán rồi, Quốc Hội biểu quyết và chịu trách nhiệm về quyết định đó với các cử tri, trong mùa bầu cử năm tới.
Ở các nước Cộng Sản thì khác. Ðảng Cộng Sản có quyền chọn một nhóm người nào đó trong xã hội để nâng lên hay hạ xuống mà không cần dân góp ý kiến. Những người được chọn hưởng lợi ích qua các quyết định của đảng thường là những đảng viên cao hoặc trung cấp và các tay làm ăn chung với họ. Ðiều này thể hiện rõ rệt nhất trong các chính sách đầu tư, thuế khóa, và định hướng nền kinh tế quốc gia.
Thí dụ, ai cũng biết rằng “tỷ lệ tiết kiệm” của dân Trung Hoa cao hơn nhiều quốc gia khác, chắc chắn là cao hơn dân Mỹ. Nhưng dân Mỹ được tự do quyết định mình tiêu xài bao nhiêu, tiết kiệm bao nhiêu - và họ thường chi tiêu rất nhiều, có lúc nhiều hơn cả số tiền kiếm được. Chính phủ Mỹ có cách ảnh hưởng trên tỷ lệ tiết kiệm của dân. Một thí dụ là tăng thuế tiêu thụ, tức là bắt dân tiêu thụ bớt đi và đưa tiền cho chính phủ trả nợ, đó là một cách “cưỡng bức tiết kiệm.” Tăng lãi suất cũng là buộc mọi người phải tiết kiệm vì đi vay tiền chi tiêu phải chịu lãi cao quá. Gần đây, tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ đã tăng lên tới 5%, sau những năm tỷ lệ này chỉ suýt soát số không, zero!
Còn tất cả hơn một tỷ người dân Trung Quốc nói chung đã tăng tỷ lệ tiết kiệm từ 21% vào năm 1998 lên tới 24% vào năm 2008. Cứ tạo ra được 100 đồng thì tiết kiệm 24 đồng. Có phải dân Trung Hoa không thích mua quạt máy, tủ lạnh và sắm quần áo mới hay không? Lý do chính là do “định hướng xã hội chủ nghĩa” của đảng Cộng Sản.
Một nguyên nhân khiến dân Trung Hoa phải để dành tiền nhiều hơn là vì chính sách kinh tế của nhà nước Cộng Sản đã xóa bỏ hệ thống an sinh xã hội, gồm cả dịch vụ y tế lẫn giáo dục và tiền hưu bổng. Trước kia các công nhân đi làm cho doanh nghiệp nhà nước hoặc nông dân trong công xã được xí nghiệp hoặc công xã chu cấp những khoản đó. Từ khi đảng Cộng Sản đổi mới, công nhân các xí nghiệp được cải tổ, giải tư, hoặc đóng cửa, nông dân các làng đều mất những quyền lợi này mà đảng không tạo ra những mạng lưới an toàn khác để thay thế. Kết quả là hàng trăm triệu gia đình phải tự lo trả tiền lấy khi chữa bệnh, đóng tiền cho con cái đi học và tự lo lấy thân khi về hưu. Vì vậy, họ phải tiết kiệm để phòng khi ốm đau, già lão. Không tiết kiệm nhiều không được!
Nhưng mối lo lắng cho tương lại chỉ là một nguyên nhân khiến con số tỷ lệ tiết kiệm ở Trung Quốc cao hơn các nước khác. Nguyên nhân quan trọng không kém là do tình trạng lợi tức quốc dân phân bố không đồng đều, do chính sách của đảng Cộng Sản gây nên. Một cuộc nghiên cứu của Louis Kuijs (Ngân Hàng Thế Giới ) và Tao Wang (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) từ năm 2005 đã cho thấy chính sách phát triển của đảng Cộng Sản Trung Quốc là một nguyên nhân gây nên khoảng cách giầu nghèo mỗi ngày một rộng. Chính quyền Trung Quốc chú trọng đến bành trướng các xí nghiệp nhà nước trong những ngành công nghiệp nặng, qua việc đầu tư ào ạt vào máy móc tối tân (capital intensive) thay vì giúp phát triển các ngành dịch vụ dùng lao động nhiều hơn máy móc (labor intensive). Chủ trương đó đã khiến cho sản năng của lãnh vực nông thôn không tiến được như một vài lãnh vực công nghiệp ở đô thị, và khi sản năng tiến chậm thì lợi tức và lương bổng cũng phải thấp hơn, đào xâu thêm cái hố phân biệt giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị.
Tại sao giầu nghèo chênh lệch lại ảnh hưởng khiến tỷ lệ tiết kiệm trong nước tăng lên? Những người nghèo chiếm đa số họ phải chi tiêu nhiều hơn khi lối sống thay đổi, cả xã hội đua nhau hướng về tiêu thụ, do đó họ có thể giảm tỷ lệ tiết kiệm hoặc tăng rất ít; còn những người giầu, dư tiền nên để dành cho tương lai thuộc thiểu số nhưng tiết kiệm gấp bội làm lệch cán cân cả nước. Thí dụ, đại đa số 90% dân Trung Hoa với lợi tức thấp vẫn giữ tỷ lệ tiết kiệm ở mức 21% như cũ, nhưng 10% còn lại giầu có đã nâng tỷ lệ tiết kiệm từ 21% lên thành 51%, thì khi làm tính cộng số trung bình ta sẽ thấy tỷ lệ tiết kiệm của các gia đình tăng từ 21% lên 24% trong mười năm.
Nhưng chính sách phát triển thiên về thành thị của đảng Cộng Sản Trung Quốc chỉ giải thích được một phần lý do tại sao lợi tức chênh lệch. Một nguyên nhân trực tiếp là trong cái bánh “Tổng Sản Lượng Nội Ðịa” (GDP) đem chia cho toàn dân, phần bánh các gia đình được hưởng đã giảm đi, khi so sánh tương đối với phần chia cho các xí nghiệp. Nghĩa là đảng Cộng Sản đã chia phần nhiều hơn cho các “ông chủ” dù đó là tư nhân hay quốc doanh.
Các xí nghiệp ở Trung Quốc được ưu đãi khi đi vay các ngân hàng của nhà nước, với lãi suất thấp. Trong khi đó, các ngân hàng này trả tiền lãi cho các người dân để dành tiền với một lãi suất rất thấp; nhưng đại đa số không có lựa chọn nào khác nên vẫn phải gửi. Chính sách của đảng Cộng Sản là lấy tiền tiết kiệm của dân với giá rẻ, đưa cho ngân hàng để cho các doanh nghiệp nhà nước vay bằng tiền lời thấp. Các xí nghiệp đó sinh ra lời sẽ dồn vào túi các ông lớn, còn số tiền đem trả lại cho công quỹ (giống như tiền lời chia cho chủ nhân các xí nghiệp) gần như bằng số không.
Tại sao các doanh nghiệp nhà nước lại được ưu đãi như vậy? Vì đó là nơi đảng Cộng Sản chia chác các chức vụ cho đồng đảng, trung ương có các xí nghiệp trung ương, mỗi tỉnh, huyện, vân vân, có doanh nghiệp của họ. Cả hệ thống ngân hàng lập ra để “bồi dưỡng” các loại cán bộ kinh tế đó.
Trên đây chỉ là một khía cạnh trong chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Trung Quốc cố ý gây nên cảnh chênh lệch giầu nghèo. Một mặt khác của chủ trương Cộng Sản là lấy hoạt động đầu tư vào cơ xưởng, nhà cửa, thiết bị làm động cơ phát triển chứ không lấy tiêu thụ làm đầu máy. Nhìn con số tỷ lệ phát triển của Trung Quốc 10% hay 8% trong mấy năm qua, trong số đó phần lớn do tiền nhà nước đưa cho các xí nghiệp đầu tư qua hệ thống ngân hàng. Hiện nay trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của Trung Quốc cứ 100 đồng có 40 đồng là do đầu tư. Tỷ lệ tiêu thụ của tư nhân đã giảm đi, từ 49% GDP vào năm 1990 đã giảm xuống chỉ còn 35% vào năm 2008. Nghĩa là trong chiếc bánh kinh tế quốc dân, người dân bình thường trước kia được ăn gần một nửa, nay chỉ được ăn hơn một phần ba.
Chính sách bắt dân giảm tiêu thụ để dồn tiền cho các xí nghiệp đầu tư cũng là chính sách ưu đãi một tầng lớp cán bộ kinh tế và những người làm ăn, chia chác với họ. Vì mỗi công trình xây cất, mỗi dịp mua máy móc, thiết bị là những cơ hội ăn hối lộ. Trong vài năm nữa, tổng số tiền đầu tư của cả nước Trung Hoa sẽ cao bằng tổng số đầu tư trong kinh tế nước Mỹ. Nhưng tổng số tiêu thụ của 1.3 tỷ người Trung Hoa chỉ lớn bằng một phần sáu của 300 triệu dân chúng Mỹ. Tại Mỹ, phần bánh chia cho người tiêu thụ là 70% của Tổng Sản Lượng Toàn Quốc, tại các nước Á Châu khác cũng lên tới từ 50% đến 60%; trong khi người dân Trung Quốc chỉ được hưởng 35% cái bánh mà sức lao động của họ tạo nên.
Tình trạng bất công đó có thể thay đổi được nếu người dân Trung Hoa có quyền thảo luận chính sách kinh tế của nhà nước, và khi họ có quyền bỏ phiếu để thay đổi những người nắm quyền. Ở Trung Quốc thì còn lâu, vì đảng Cộng Sản nhất định bảo vệ độc quyền chính trị để duy trì tình trạng phân chia không đồng đều này. Chính chế độ độc tài đảng trị đã sinh ra cảnh xã hội bất công.
Dương Đông Kích Tây (?)
Trần Khải Điểm nóng của vùng Châu Á như dường phải là Bắc Hàn, nơi đang thu hút nhiều năng lực thuyết phục và áp lực từ nhiều nước Châu Á khác và lân cận - như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Uc Châu -- vì nỗi lo vũ khí nguyên tử và cơn điên lãnh tụ độc đảng vương quyền của họ Kim. Nhưng có đúng là Bắc Hàn nằm ngoài ván cờ thế giới do Trung Quốc sắp xếp hay không? Hay các trò múa may của Chí Phèo họ Kim chỉ là một màn Dương Đông Kích Tây của thiên triều Bắc Kinh?
Bởi vì hư hư thực thực vẫn là nghề của Bắc Kinh. Điều đáng ngại mà chính phủ Hà Nội cần quan tâm là, vì sao Bắc Kinh lại dung dưỡng để cho Bắc Hàn làm nhiều nước vùng Thái Bình Dương mệt mỏi, mất năng lực và thời gian nhiều như thế. Thực tế, Trung Quốc ở một vị trí có thể đưa ra nhiều áp lực trên Bắc Hàn hơn bất kỳ nước nào khác. Chính Trung Quốc là phao cứu sinh kinh tế cho Bắc Hàn. Xuất cảng của Trung Quốc đưa vào cung cấp cho Bắc Hàn tới 70% lượng dầu sử dụng, tới 40% lương thực, và tới 80% tổng lượng hàng tiêu thụ.
Chính ngay ở trong năm ngoái, năm 2008, năm mà Bắc Hàn quậy nhất với các màn bắn phi đạn làm pháo bông, thì giao thương hai nước Trung Quốc và Bắc Hàn tăng 40% để tới 2.78 tỉ đô la. Tại sao Trung Quốc lại tặng thưởng thằng em Chí Phèo hậu hỉ như thế? Có phải vì Bắc Hàn đã chơi trò Chí Phèo một cách tuyệt hảo, để làm mệt mỏi và bận tay các cường quốc như Mỹ, Nhật, Nam Hàn, Uc Châu, và vân vân?
Như thế, nếu Bắc Hàn được Trung Quốc hà hơi tiếp sức để đóng vai Chí Phèo, có phải là kiểu như Trung Quốc thời xưa hà hơi tiếp sức Bắc Việt để dồn hết lực lượng tiến chiếm Nam Việt hay không? Nếu thực sự, không có âm mưu giúp Bắc Hàn tiến chiếm Nam Hàn, có phải đây là một trò Dương Đông Kích Tây để Trung Quốc sẽ chiếm dễ dàng hơn vùng Biển Đông của Việt Nam, nơi trên bản đồ gọi là South China Sea và là nơi Bắc Kinh đang đưa đoàn thủy binh "tàu lạ, tàu ma" quậy phá ngư dân Việt Nam?
Nếu thực sự có ván cờ Dương Đông Kích Tây như thế, Việt Nam cần đối phó ra sao? Nên tiếp tục nín thở qua sông như trước giờ? Hay thỉnh thoảng lại để ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Hà Nội, đưa ra các yêu cầu xin trả tự do cho ngư dân, hay đưa ra yêu cầu xin các nước khu vực xác minh giùm tàu lạ? Hay là Hà Nội nên chọc giận Bắc Kinh bằng cách mời Đức Đạt Lai Lạt Ma sang thăm Hà Nội trong dịp lễ mừng 1,000 năm Thăng Long vào năm tới? Tất nhiên, chiến tranh là điều không nên, càng tránh được càng tốt, nhưng chắc chắn rằng thái độ mềm yếu lâu nay đã không thành công, không ngăn cản được đàn anh Phương Bắc.
Đó là thế cờ rất khó xử, nếu không có thế lực toàn dân, kể cả thế lực Việt Kiều, Hà Nội sẽ không chắc cản được bước xâm lấn từ phía Bắc, mà tự bản thân chính phủ Hà Nội cũng sẽ gặp cơ nguy vỡ đôi. Không chỉ đơn giản là chuyện rạn nứt giữa phe thân Mỹ, với phe thân Tàu. Cũng không chỉ đơn giản là chuyện rạn nứt giữa phe pro-bauxite, và phe anti-bauxite Tây Nguyên. Hay là giữa độc đảng toàn trị, với đa nguyên đa đảng. Hoặc giữa giới tư bản đảng quyền, với giới trí thức trung lưu. Hay tương tự. Điều chung nhất, xuyên suốt, và quyết liệt nhất giữa những nỗi đau đớn mất đất, mất đảo rồi sẽ dẫn tới cơ hội đột khởi của những người muốn bảo vệ tổ quốc, những người không muốn mất thêm một chút đất, chút biển nào nữa. Khi đó, chế độ CSVN sẽ sụp đổ.
Thấy rõ như ban ngày rằng, Trung Quốc hỗ trợ cho đủ thứ chuyện ở Bắc Hàn, Miến Điện, Darfur, vân vân… chỉ là để cho Liên Hiệp Quốc và các cường quốc bận tay, bận miệng. Trong khi đó, Bắc Kinh chơi trò cường bạo với các nhà hoạt động nhân quyền trong nước, với Tây Tạng, với Tân Cương… và với Biển Đông của Việt Nam.
Tại sao Bắc Hàn đói gần chết, mà vẫn bắn đủ thứ phi đạn - mới nhất là bắn 4 phi đạn vào ngày 2-7-2009 và loạt 7 phi đạn loại Scud và Rodong vào ngày 4-7-2009, bất chấp nghị quyết LHQ? Và tại sao Trung Quốc trong Hội Đồng Bảo An LHQ vẫn lặng lẽ dung dưỡng đàn em Chí Phèo. Tại sao Bắc Hàn dám chơi bạo như thế, trong khi hàng chục ngàn quân Mỹ và hỏa lực Mỹ dày đặt đồn trú ở hai đảo Guam và Okinawa, không xa gì Bắc Hàn?
Thực ra, đó là thế trận Dương Đông Kích Tây của Bắc Kinh. Và lần này, là nhắm vào Biển Đông của Việt Nam. Nhìn lại thời điểm Bắc Hàn bắn hai loạt phi đạn vào hai ngày đầu tháng 7-2009, thì trước đó hơn một tuần lễ, một sĩ quan cấp Tướng của Trung Quốc, Tướng Zhang Li, khuyến cáo chính phủ Bắc Kinh hãy xây dựng "một phi trường và một hải cảng trên đảo Mischief Reef" trên quần đảo Trường Sa. Đảo Mischief Reef tên tiếng TQ là Meiji Jiao, tên tiếng Việt là đảo Vành Khăn - nơi này, Việt Nam và Phi Luật Tân cũng đang tranh chủ quyền.
Báo Pacific Daily News (www.guampdn.com), phát hành ở đảo Guam của Mỹ, khi kể về chi tiết này đã chú thích rằng Tướng Zhang Li là một thành viên của Uy Ban Thường Trực Hội Đồng Tham Vấn Chính Trị Nhân Dân Trung Quốc, nguyên là cựu Phó Tham Mưu Trưởng Quân Đội TQ.
Đối với nhiều nhà phân tích Hoa Kỳ, phi đạn Bắc Hàn chỉ là chuyện nhỏ, nhưng lời tuyên bố của ông Tướng Li khuyến cáo xây phi trường và hải cảng trên đảo Vành Khăn thì vang dội nhiều lần hơn.
Viện nghiên cứu Jamestown Foundation, có bản doanh tại Washington, trong phần phúc trình nhan đề "PLA General Advises Building Bases in the South China Sea" (Vị Tướng CSTQ Khuyến Cáo Xây Các Căn Cứ Giữa Biển Đông) đăng ở bản tin nội bộ về TQ ngày 24-6-2009 gọi đó là dấu hiệu TQ muốn dùng vũ lực giải quyết các tranh chấp lãnh hải.
Chuyện thấy rõ là không êm rồi. Thấy rõ, "tàu lạ" đụng chìm ghe ngư dân Việt chỉ là thêm một nước cờ khều nhẹ, trên toàn cuộc ván cờ Dương Đông Kích Tây do Trung Quốc dàn dựng ra.
Vấn đề của chính phủ Hà Nội hiện nay phải là lấy thế toàn dân đoàn kết để giữ gìn lãnh thổ, lãnh hải. Và nếu Hà Nội muốn nói chuyện với Việt Kiều, đặc biệt là với những người đang vận động cho dự luật nhân quyền thông qua trên quốc hội Mỹ, mà không chịu trả tự do cho các nhà dân chủ quốc nội và tìm các bước đi cởi mở hơn về nhân quyền và pháp trị thì chỉ là vô ích.
Dương Đông Kích Tây. Đó là thế cờ thấy rõ đã hiện ra ở Biển Đông.
Trần Khải Điểm nóng của vùng Châu Á như dường phải là Bắc Hàn, nơi đang thu hút nhiều năng lực thuyết phục và áp lực từ nhiều nước Châu Á khác và lân cận - như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Uc Châu -- vì nỗi lo vũ khí nguyên tử và cơn điên lãnh tụ độc đảng vương quyền của họ Kim. Nhưng có đúng là Bắc Hàn nằm ngoài ván cờ thế giới do Trung Quốc sắp xếp hay không? Hay các trò múa may của Chí Phèo họ Kim chỉ là một màn Dương Đông Kích Tây của thiên triều Bắc Kinh?
Bởi vì hư hư thực thực vẫn là nghề của Bắc Kinh. Điều đáng ngại mà chính phủ Hà Nội cần quan tâm là, vì sao Bắc Kinh lại dung dưỡng để cho Bắc Hàn làm nhiều nước vùng Thái Bình Dương mệt mỏi, mất năng lực và thời gian nhiều như thế. Thực tế, Trung Quốc ở một vị trí có thể đưa ra nhiều áp lực trên Bắc Hàn hơn bất kỳ nước nào khác. Chính Trung Quốc là phao cứu sinh kinh tế cho Bắc Hàn. Xuất cảng của Trung Quốc đưa vào cung cấp cho Bắc Hàn tới 70% lượng dầu sử dụng, tới 40% lương thực, và tới 80% tổng lượng hàng tiêu thụ.
Chính ngay ở trong năm ngoái, năm 2008, năm mà Bắc Hàn quậy nhất với các màn bắn phi đạn làm pháo bông, thì giao thương hai nước Trung Quốc và Bắc Hàn tăng 40% để tới 2.78 tỉ đô la. Tại sao Trung Quốc lại tặng thưởng thằng em Chí Phèo hậu hỉ như thế? Có phải vì Bắc Hàn đã chơi trò Chí Phèo một cách tuyệt hảo, để làm mệt mỏi và bận tay các cường quốc như Mỹ, Nhật, Nam Hàn, Uc Châu, và vân vân?
Như thế, nếu Bắc Hàn được Trung Quốc hà hơi tiếp sức để đóng vai Chí Phèo, có phải là kiểu như Trung Quốc thời xưa hà hơi tiếp sức Bắc Việt để dồn hết lực lượng tiến chiếm Nam Việt hay không? Nếu thực sự, không có âm mưu giúp Bắc Hàn tiến chiếm Nam Hàn, có phải đây là một trò Dương Đông Kích Tây để Trung Quốc sẽ chiếm dễ dàng hơn vùng Biển Đông của Việt Nam, nơi trên bản đồ gọi là South China Sea và là nơi Bắc Kinh đang đưa đoàn thủy binh "tàu lạ, tàu ma" quậy phá ngư dân Việt Nam?
Nếu thực sự có ván cờ Dương Đông Kích Tây như thế, Việt Nam cần đối phó ra sao? Nên tiếp tục nín thở qua sông như trước giờ? Hay thỉnh thoảng lại để ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Hà Nội, đưa ra các yêu cầu xin trả tự do cho ngư dân, hay đưa ra yêu cầu xin các nước khu vực xác minh giùm tàu lạ? Hay là Hà Nội nên chọc giận Bắc Kinh bằng cách mời Đức Đạt Lai Lạt Ma sang thăm Hà Nội trong dịp lễ mừng 1,000 năm Thăng Long vào năm tới? Tất nhiên, chiến tranh là điều không nên, càng tránh được càng tốt, nhưng chắc chắn rằng thái độ mềm yếu lâu nay đã không thành công, không ngăn cản được đàn anh Phương Bắc.
Đó là thế cờ rất khó xử, nếu không có thế lực toàn dân, kể cả thế lực Việt Kiều, Hà Nội sẽ không chắc cản được bước xâm lấn từ phía Bắc, mà tự bản thân chính phủ Hà Nội cũng sẽ gặp cơ nguy vỡ đôi. Không chỉ đơn giản là chuyện rạn nứt giữa phe thân Mỹ, với phe thân Tàu. Cũng không chỉ đơn giản là chuyện rạn nứt giữa phe pro-bauxite, và phe anti-bauxite Tây Nguyên. Hay là giữa độc đảng toàn trị, với đa nguyên đa đảng. Hoặc giữa giới tư bản đảng quyền, với giới trí thức trung lưu. Hay tương tự. Điều chung nhất, xuyên suốt, và quyết liệt nhất giữa những nỗi đau đớn mất đất, mất đảo rồi sẽ dẫn tới cơ hội đột khởi của những người muốn bảo vệ tổ quốc, những người không muốn mất thêm một chút đất, chút biển nào nữa. Khi đó, chế độ CSVN sẽ sụp đổ.
Thấy rõ như ban ngày rằng, Trung Quốc hỗ trợ cho đủ thứ chuyện ở Bắc Hàn, Miến Điện, Darfur, vân vân… chỉ là để cho Liên Hiệp Quốc và các cường quốc bận tay, bận miệng. Trong khi đó, Bắc Kinh chơi trò cường bạo với các nhà hoạt động nhân quyền trong nước, với Tây Tạng, với Tân Cương… và với Biển Đông của Việt Nam.
Tại sao Bắc Hàn đói gần chết, mà vẫn bắn đủ thứ phi đạn - mới nhất là bắn 4 phi đạn vào ngày 2-7-2009 và loạt 7 phi đạn loại Scud và Rodong vào ngày 4-7-2009, bất chấp nghị quyết LHQ? Và tại sao Trung Quốc trong Hội Đồng Bảo An LHQ vẫn lặng lẽ dung dưỡng đàn em Chí Phèo. Tại sao Bắc Hàn dám chơi bạo như thế, trong khi hàng chục ngàn quân Mỹ và hỏa lực Mỹ dày đặt đồn trú ở hai đảo Guam và Okinawa, không xa gì Bắc Hàn?
Thực ra, đó là thế trận Dương Đông Kích Tây của Bắc Kinh. Và lần này, là nhắm vào Biển Đông của Việt Nam. Nhìn lại thời điểm Bắc Hàn bắn hai loạt phi đạn vào hai ngày đầu tháng 7-2009, thì trước đó hơn một tuần lễ, một sĩ quan cấp Tướng của Trung Quốc, Tướng Zhang Li, khuyến cáo chính phủ Bắc Kinh hãy xây dựng "một phi trường và một hải cảng trên đảo Mischief Reef" trên quần đảo Trường Sa. Đảo Mischief Reef tên tiếng TQ là Meiji Jiao, tên tiếng Việt là đảo Vành Khăn - nơi này, Việt Nam và Phi Luật Tân cũng đang tranh chủ quyền.
Báo Pacific Daily News (www.guampdn.com), phát hành ở đảo Guam của Mỹ, khi kể về chi tiết này đã chú thích rằng Tướng Zhang Li là một thành viên của Uy Ban Thường Trực Hội Đồng Tham Vấn Chính Trị Nhân Dân Trung Quốc, nguyên là cựu Phó Tham Mưu Trưởng Quân Đội TQ.
Đối với nhiều nhà phân tích Hoa Kỳ, phi đạn Bắc Hàn chỉ là chuyện nhỏ, nhưng lời tuyên bố của ông Tướng Li khuyến cáo xây phi trường và hải cảng trên đảo Vành Khăn thì vang dội nhiều lần hơn.
Viện nghiên cứu Jamestown Foundation, có bản doanh tại Washington, trong phần phúc trình nhan đề "PLA General Advises Building Bases in the South China Sea" (Vị Tướng CSTQ Khuyến Cáo Xây Các Căn Cứ Giữa Biển Đông) đăng ở bản tin nội bộ về TQ ngày 24-6-2009 gọi đó là dấu hiệu TQ muốn dùng vũ lực giải quyết các tranh chấp lãnh hải.
Chuyện thấy rõ là không êm rồi. Thấy rõ, "tàu lạ" đụng chìm ghe ngư dân Việt chỉ là thêm một nước cờ khều nhẹ, trên toàn cuộc ván cờ Dương Đông Kích Tây do Trung Quốc dàn dựng ra.
Vấn đề của chính phủ Hà Nội hiện nay phải là lấy thế toàn dân đoàn kết để giữ gìn lãnh thổ, lãnh hải. Và nếu Hà Nội muốn nói chuyện với Việt Kiều, đặc biệt là với những người đang vận động cho dự luật nhân quyền thông qua trên quốc hội Mỹ, mà không chịu trả tự do cho các nhà dân chủ quốc nội và tìm các bước đi cởi mở hơn về nhân quyền và pháp trị thì chỉ là vô ích.
Dương Đông Kích Tây. Đó là thế cờ thấy rõ đã hiện ra ở Biển Đông.


