QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Ngày Quân Lực 19/6 sống mãi trong lòng người Việt tha hương

* Đặng thiên Sơn
Trong thời kỳ chiến tranh Quốc - Cộng giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam, vai trò quân đội của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu nổi bật trên sân khấu chính trị miền Nam khi các tướng lãnh đứng ra làm cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Vào sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi dân chúng Sàigòn hay tin TT. Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết chết, thi thể hai người được đưa về trình diện Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng tại Bộ TTM. Thì tại Cục “R”, Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đứa con đẻ của Cộng Sản Bắc Việt mừng rỡ thốt lên: “Người Mỹ đã làm giùm chúng tôi điều mà 9 năm chúng tôi không làm được”. Và Nguyễn Hữu Thọ đã ví cuộc đảo chính và cái chết của TT. Diệm : “Chẳng khác nào quà tặng từ trên trời rơi xuống”.(Theo Richard M. Nixon, No More Vietnams, Arbor House NY, 1985, tr. 72).

Sau cuộc đảo chánh, Đại tướng Dương Văn Minh tạm thời lên nắm quyền. Nhưng chỉ hai tháng sau, tức ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh đã làm cuộc “chỉnh lý” hạ bệ Dương Văn Minh.

Do không hiểu biết sâu rộng về chính trị và không nắm vững khuynh hướng can thiệp vào Việt Nam của chính phủ Hoa Kỳ. Các tướng, tá thời đó cứ thay phiên nhau làm đảo chánh để tranh giành quyền lực. Nên đến ngày 20 tháng 2 năm 1965, các ông Lâm Văn Phát, Phạm Ngọc Thảo, Hùynh Văn Tồn lại đảo chánh để lật đổ Đại tướng Nguyễn Khánh. Nhưng, cuộc đảo chánh này đã bị tướng Nguyễn Chánh Thi -Tư Lệnh Quân Đoàn Giải Phóng Thủ Đô và tướng Nguyễn Cao Kỳ -Tư Lệnh Không Quân dẹp tan. Sau cuộc đảo chánh, tướng Nguyễn Khánh bị áp lực phải lưu vong sang Pháp. Tình hình chính trị miền Nam càng ngày càng tồi tệ.

Lợi dụng tình trạng chia rẽ trong Nam, Cộng Sản Hà Nội gia tăng các hoạt động quân sự. Bọn chúng giết người bất chấp thủ đoạn. Chúng pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư, trường học, chợ búa, nhà thương, gây cảnh chết choc, nhà tan cửa nát cho người dân vô tội. Mặt khác CSHN lại liên tiếp mở những trận đánh cấp Tiểu đoàn, Trung Đoàn, Sư Đoàn tại khắp chiến trường miền Nam.

Đến tháng 5 năm 1965, trước tình hình chiến sự do CSBV chủ động ngày càng gia tăng được sự yểm trợ tối đa của CS Nga, CS Tàu. Quốc Trưởng Phan khắc Sữu và Thủ tướng Phan Huy Quát đành phải bàn giao chính quyền lại cho quân đội để chấm dứt vai trò lãnh đạo quốc gia trong thời chinh chiến của giới dân sự.

Lúc ấy, tướng Nguyễn Văn Thiệu đang là Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Tổng thư ký Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng được đề cử vào chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Trong khi đó tướng Nguyễn Cao Kỳ được đề cử làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Nội Các Chiến Tranh của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ ra đời. Và ngày 19/6 đặc biệt này còn được chọn là Ngày Quân Lực để đánh dấu sự trưởng thành của quân đội VNCH với những quân, binh chủng thuộc Hải- Lục- Không quân. Và những đơn vị Tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân trong nhiệm vụ Bảo Quốc – An Dân trên khắp 4 vùng chiến thuật.

Từ ngày thành lập, QLVNCH với những chiến thắng lẫy lừng như: Quảng Trị, Bình Long, Đức cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Kontum, Pleime, Darkto Tân Cảnh, Charlie, Gio Linh, Hạ Lào, Snoul, Komponcham, Damber, Kratier v.v… Quân Lực VNCH đã làm bạt vía quân thù CSBV, đã khiếu dư luận quốc tế nễ trọng.

Những chiến tích lẫy lừng vừa kể đã nói lên kỷ thuật tác chiến, tinh thần chiến đấu cao và kỷ luật nghiêm minh của một quân lực tinh nhuệ. Nhưng đau đớn thay vào lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân lực hào hùng này đã bị bức tử qua lệnh đầu hành của đại tướng Dương Văn Minh. Vị tướng mà vào ngày 1/11/1963, đã dưa QLVNCH vào vai trò lịch sử.

Hơn 30 năm qua, kể từ ngày miền Nam VN lọt vào tay bạo quyền Việt Cộng. Tại hải ngoại, Việt Cộng đã tìm đủ mọi cách bép méo sự thật về cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa của quân, dân miền Nam Việt Nam trong vài trò tiền đồn thế giới, nhưng trò bỉ ổi của chúng đã bị thất bại hoàn toàn.

Bọn Việt Cộng càng xuyên tạc về sự hy sinh của người chiến sĩ VNCH trong cuộc chiến Quốc- Cộng thì cờ vàng ba sọc đỏ, quân kỳ của các đơn vị trong QLVNCH lại càng được giương cao khắp thế giới, chính nghĩa quốc gia của người tỵ nạn càng sáng ngời.

Ba mươi bốn năm qua, mặc dù phải đương đầu với cuộc sống hàng ngày. Nhưng, hàng năm ở đâu có người chiến sĩ VNCH, có người Việt tỵ nạn CS, là nơi đó Ngày Quân Lực 19/6 được tổ chức trọng thể. Hiện tượng hàng năm Ngày Quân Lực 19/6, quốc kỳ VNCH, quân kỳ của quân binh chủng QLVNCH tung bay trong gió giữa lòng các thành phố hải ngoại, là một sự kiện đã làm CSVN nhức nhối, điên đầu

Năm nay, tại thành phố San Jose, thủ đô chính trị của người Việt tỵ nạn cộng sản. Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19/6 được Ban Đại Diện CĐVN/ BCL , Tập Thể Chiến Sĩ VNCH vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, Hội CTNCT, Liên Hội Cựu Sĩ Quan Trừ Bị QLVNCH và nhiều hội đoàn quân đội, đoàn thể cùng nhau tổ chức trọng thể tại tiền đình quận hạt Santa Clara số 500 W.Hedding vào lúc 11 giờ sáng ngày 21 tháng 6 năm 2009. Với sự phối hợp và chuẩn bị chu đáo, chắc chắn Ngày Quân Lực 19/6/09, sẽ đem lại ý nghĩa đặc biệt trước hành động Cộng Sản VN cắt đất, dâng biển và đang “ngậm miệng” để cho Tàu Cộng thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam qua vụ khai thác Bauxite tại Tây Nguyên.

Trong không khí người Việt quốc gia tỵ nạn CS tại hải ngoại hân hoan chào mừng Ngày Quân Lực 19/6/2009. Mọi người đều ý thức ngày này không phải chỉ để vinh danh, tưởng nhớ đến sự hy sinh của những chiến sĩ đã nằm xuống, mà còn là ngày người Việt quốc gia tại hải ngoại đoàn kết để góp sức vào sự nghiệp đấu tranh của toàn dân trong nước là : Tiêu diệt bọn Việt Cộng bán nước, hại dân tại quê nhà.

Đặng thiên Sơn
19/6/09 (ĐĐ1/Trinh Sát/ Nhảy Dù QLVNCH)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Cảm khái
Thơ Cao Tần

Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ
Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu
Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ
Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?

Trong ví ta này một thẻ căn cước
Hình chụp ngây ngô rất mực cù lần
Da xám ngoét như bị đời nhúng nước
Má hóp vào như cả tháng không ăn

Mười tám tuổi thành công dân nước Việt
Tên chụp hình làm ta xấu như ma
Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết
Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà!

Hai mươi tuổi ta đi làm chiến sĩ
Bước giày đinh lạng quạng một đời trai
Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý
Nhưng thằng này yêu nước chẳng thua ai...

Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu
Tên chụp hình như một lão tiên tri
Triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác
Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly

Nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ
Chợt nhớ câu thơ: “Gẫy cánh Đại Bàng...”
Ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ
Muôn anh hùng phút chốc hóa lang thang

Quanh mình xôn xao chuyện thay Quốc tịch
Ngậm ngùi bày dăm giấy cũ coi chơi
Thời cũ ố vàng, rách rời mấy mảnh
Xót xa đau như mình bỗng qua đời.

Hỡi kẻ trong hình mặt xanh, mày xám
Ngươi sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư
Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ

Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Ôi trong trí những anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ

Image
Image

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Mùa Hè Đỏ Lửa - Người ở Lại Charlie
Vĩnh Hiếu
Phi Đoàn 215 Thần Tượng
Lời người viết:

Vùng cao nguyên bỗng dưng sôi động, những cánh chim sắt của phi đoàn Thần Tượng bất chợt bị cuốn lốc trong cơn bão của trận chiến bất ngờ. Những ngày hành quân liên tục trên những địa danh xa lạ chưa từng biết đến của vùng rừng núi địa đầu giới tuyến đã gây nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng một người trai thời loạn. Tôi xin ghi lại đây một vài hình ảnh, kỷ niệm của những tháng ngày dài rong ruổi trên chiến trường đẫm máu, cũng như những phi vụ kinh hoàng mà những người chiến sĩ Không Quân đã âm thầm lặng lẽ ra đi không ai nhắc nhở.
Một chút gì để nhớ đến những cánh chim Thần Tượng gãy cánh trên vòm trời Tây Nguyên: Tr/u Phạm Thành Rinh, Th/u Võ Diện, Trung úy Nguyễn Tường Vân, Tr/u Trần văn Long cùng các mê vô xạ thủ Linh, Thông, Lan, Phiệt…
***

Ngày 12 tháng 4 năm 72
Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie
Anh! Vâng, chính anh là loài chim quý
Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý
Một lần dậy cánh bay
Người để cho người nước mắt trên tay…
Một buổi chiều miền Tây nguyên, một buổi chiều sau một ngày sôi động chiến tranh của “Mùa hè đỏ lửa”. Bầu không khí bắt đầu quyện đục sương đêm hòa lẫn khói rừng âm ỉ cháy, phảng phất khen khét đâu đây mùi thuốc súng… Ánh nắng vàng nhạt còn vương vấn trải dài trên những triền núi xa xa…
Hai chiếc trực thăng võ trang của Phi đoàn Thần Tượng trên đường về căn cứ Cù Hanh sau một ngày nhào lộn trên chiến trường nóng bỏng. Trong cockpit Th/u Nguyễn Thanh Hùng im lặng cầm cần lái, đôi mắt đăm chiêu trên khuôn mặt thể hiện một nét mệt mỏi. Ngồi bên cạnh, tôi uể oải dựa ngửa đầu vào lưng ghế bay nhìn xuống Quốc lộ 14 chạy lùi dưới chân. Đây là con đường huyết mạch nối liền Kontum và thị trấn Pleiku chạy giữa vùng núi rừng xanh thẳm. Dọc theo hai bên đường được khai quang trống trải để đề phòng những cuộc phục kích của Việt Cộng, những người Thượng lưng đeo chiếc gù đầy củi đang lầm lủi bước nhanh cố tranh thủ với bóng đêm đang chầm chập tới. Một vài người ngững đầu lên đưa tay vẫy chào hai con tàu đang lướt qua trên đầu. Phía bên trái ngọn núi Chu Pao đứng sừng sững nhìn xuống QL 14 như một vọng canh chiến lược thiên nhiên, nơi đây sẽ khởi chiến những trận đánh đẫm máu của ta và địch trong những ngày sắp tới để dành chủ quyền kiểm soát con đường huyết mạch này. Xa xa một đoàn xe “công voa” nhà binh mở đèn pha chạy nối đuôi nhau chạy ngược về hướng Kontum. Con đường xa lạ này giờ đây nó đã trở thành một hình ảnh vô cùng quen thuộc với những con chim sắt ngày ngày tung cánh lao đi vào vùng lửa đạn.
Sau phi vụ tiếp tế đẫm máu mở màn tại Tiền đồn Sáu, kế cận phi trường Phượng Hoàng, Tân Cảnh, phi đoàn 215 Thần Tượng đã được lệnh tăng phái lên Pleiku để yểm trợ cho mặt trận vùng cao nguyên. Nguyên phi đội được chỉ định ở trong một trong những barracks của Mỹ để lại trong phi trường cạnh một sân cỏ rộng, ở đó đậu tạm những chiếc trực thăng của biệt đội trong giai đoạn hành quân. Trong linh cảm, tất cả nhân viên phi hành đều biết rằng sẽ phải đối đầu với một trận chiến khốc liệt và có thể kéo dài. Phi trường Cù Hanh càng ngày càng bận rộn theo mức leo thang của chiến cuộc, sự sinh hoạt tại căn cứ mang một màu sắc nghiêm trọng khẩn trương hơn. Đứng trên tầng hai của biệt đội nằm trên một vùng đất khá cao, tôi có thể quan sát mọi sự hoạt động của phi trường vào mổi buổi sáng sớm. Trên những con đường những chiếc xe pick-up màu xanh chạy vội vã chở đầy phi công; những người lính Không quân hối hả trên những chiếc xe gắn máy phóng đến phần sở cho kịp giờ; những hàng gánh rong bán thức ăn sáng rộn rịp ở những góc đường. Ngoài phi đạo máy bay sắp hàng để chuẩn bị cất cánh lên vùng, những chiếc khu trục thô kệch nặng nề, đeo đầy bom tiếng máy rú lên như con thú dữ, những chiếc máy bay quan sát mảnh mai như con hạc trắng nhẹ nhàng cất cánh lên không trung, mấy chiếc vận tải C-123, C-130 to lớn đậu trên “Tarmac” kế những “hangar” khổng lồ, cửa cargo sau đuôi tàu mở rộng, những kiện hàng nằm ngổn ngang. Tại mấy ụ đậu trực thăng, tiếng quay máy o..o…o… của những động cơ bán phản lực cùng tiếng chém gió “phần phật” của những chiếc tàu đang lơ lững trên “taxiway” càng làm cho không khí thêm sôi động.
Vào những giờ ăn tại câu lạc bộ của Không Đoàn đầy người đủ mọi thành phần của các binh chủng. Hoa tiêu trong những bộ đồ bay tác chiến đủ kiểu, từ bộ đồ nomex hai mảnh của những hoa tiêu trực thăng, đội nón rằng ri như lính Lôi hổ, đến những phi công khu trục với bộ đồ bay cam, xám hay kaki, cùng những người không phi hành ngồi tụm năm tụm ba trên bàn, trên khuôn mặt mọi người thể hiện lên nét khẩn trương phản ảnh một cuộc chiến đang đi vào giai đoạn quyết liệt.
Từ đầu năm 72 đến trung tuần tháng 3, địch đã đủ thời giờ dàn trận và bố trí ở những mặt trận mà chúng đã chọn, và đến bây giờ là giai đoạn tổng công kích. Quân đội VNCH bị ở trong thế cờ thụ động, dò dẩm nghe ngóng hoạt động của địch. Không lực của Đồng Minh cũng như Việt Nam liên tục ngày đêm oanh tạc những điểm tập trung của địch để tiêu hủy tiềm năng của Cộng Quân trước khi chúng thực sự tổng tấn công. Riêng về hoạt động của các phi đoàn trực thăng đa số là tiếp tế cũng như đổ toán Lôi Hổ để thám sát, dò tìm tin tức sau phòng tuyến của địch. Những phi vụ bay gần vùng biên giới thường đem lại cho phi hành đoàn những cảm giác căng thẳng nếu không nói là lo ngại vì sự hiểm nghèo của nó.
Những phi vụ trong thời gian biệt phái tôi đã trải qua những kinh nghiệm vui buồn khó quên trong cuộc đời bay bổng. Nhớ lại một phi vụ thi hành khi sương mù đang còn lãng đãng trên đầu ngọn cây, hai chiếc gunship trong đội hình tác chiến, hướng về vùng biên giới, bay trên mặt rừng cây trùng điệp, tinh thần tập trung né tránh những bãi cỏ trống hay rừng thưa, bỗng dưng trước mặt một tàng cây đại thụ nổi bật nhô cao lên xuất hiện trước mũi con tàu, loáng thoáng dưới tàng cây rậm năm bảy bóng đen di động làm lung lay cành lá, giật mình tôi kéo ngược bật cần lái né tránh, con tàu bay vút lên cao… Tim đập thình thịch tôi la:
- “Trời đất…., Việt cộng…, tụi mày thấy không…mẹ… làm tao giật cả mình…”. Người hoa tiêu phụ quay nhìn tôi khuôn mặt lộ vẽ rất ngạc nhiên, buộc miệng:
- “Việt Cộng ở đâu ông, khỉ đó, một đàn khỉ đu trên cây tôi thấy rõ ràng”. Tôi cắt lời:
- “Bạn nói cái gì? Tao thấy năm bảy đứa bận đồ đen đang rình mà bạn nói là khỉ”. Không đồng ý với người hoa tiêu phụ tôi quay ra phía sau hỏi hai anh mê vô xạ thủ:
- “Tụi mày thấy gì? Tao thấy rỏ ràng lố nhố mấy thằng bận áo đen đang đeo trên cành cao. Bố chúng nó! Làm tao hết hồn…” Mấy anh xạ thủ sau nhe miệng cười:
- “Ông giật cần lái làm tụi tui hết hồn thì đúng hơn, một bầy khỉ đó ông à, tụi này thấy rõ ràng mà”.
Vì địa thế mặt rừng dày đặc vùng cao nguyên địch thường cho những khinh binh leo lên cây cao hay làm những chòi nhỏ trên đọt cây để quan sát sự di chuyển cũng như những hoạt động của máy bay và đôi lúc chúng cũng dùng súng trường để bắn sẻ vào những chiếc trực thăng bay ở độ thấp. Đến đây thì tôi mới biết rằng mình lầm, hồn vía trở lại.
Trong một chuyến bay thả toán khác, sau khi thi hành xong phi vụ yểm trợ để thả một toán Lôi Hổ kế cạnh con đường mòn Hồ Chí Minh, trên đường trở về, trên mặt vùng rừng già dày đặc thình lình trước mặt mũi con tàu một bãi cỏ xanh rộng hiện ra, ngay góc rừng một khẩu phòng không được ngụy trang bằng những cành lá dây leo, nấp sát bìa cây cao, nòng súng đen ngòm to chỉa thẳng lên trời. Mặc dù đã xông pha trận mạc qua nhiều năm tôi vẫn không làm sao tránh được cái cảm giác bị giật mình làm tim đập mạnh khi gặp một yếu tố bất ngờ. Đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một khẩu súng cao xạ cở lớn trong khoảng cách quá gần. Phản ứng đầu tiên tức thì tôi quẹo gắt phía bên phải để né bãi cỏ trống. Địch và chúng tôi đều bất ngờ đụng độ, hai bên không có thì giờ để phản ứng. Đó cũng là một đều may mắn cho phi hành đoàn. Tôi cho con tàu bay hướng về phía Nam . Hình ảnh khẩu phòng không nằm ở góc rừng như đang ngạo nghễ thách đố… Trước đây không lâu anh Phạm Thành Rinh, một người bạn chí thân của tôi cùng chung phi đội võ trang 215, và hoa tiêu phó Võ Diện đã bị bắn nổ tung trên bầu trời mịt mờ khói lửa của Võ Định, Tân cảnh. Rinh đã cùng phi hành đoàn thảng thốt ra đi, không kịp nói một lời trên tần số. Tôi đã mất một người bạn, một nghệ sĩ với cây đàn… Giọng hát ngọt ngào trầm ấm anh thường trình diễn trong những buổi dạ vũ của PĐ còn văng vẵng bên tai:
Em đến bên tôi một chiều khi nắng qua rồi… Nắng ngừng bên chiếc cầu biên giới…
Xa xa tiếng đàn trầm vô tư… Đâu đây dáng huyền bền duyên mơ…
Bên cầu biên giới… Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi…

Anh Rinh đã vĩnh viễn ra đi, thân xác anh đã trở thành cát bụi trên vùng trời biên giới, anh không còn hiện hửu để “lặng nghe dòng đời từ từ trôi…”. Anh và tôi chỉ có hai người được chọn về với phi đoàn 215 trong tất cả các bạn cùng khóa. Anh ra đi vì khẩu phòng không oan nghiệt. Hình ảnh đau thương trở lại trong tâm trí, máu huyết trong người tôi sôi sục, tôi muốn quay trở lại ngay để trút lên đầu địch những hận thù chất chứa. Nhìn lại khả năng và vũ khí giới hạn trong tay, trực diện đối đầu với khẩu phòng không này quả là một sự điên rồ. Những sách vở kiến thức học ở trường bay chưa bao giờ dạy chúng tôi những chiến thuật, chiến lược để đối phó với hoàn cảnh này. Trực thăng vận quá mới mẽ đối với chiến tranh Việt Nam . Những hoa tiêu trực thăng của VN chỉ được dạy kỹ thuật bay bỗng, ngoài ra họ phải tự học hỏi lấy qua những kinh nghiệm bản thân để đối phó với mặt trận càng ngày càng leo thang.
Khẩu cao xạ phòng không vẩn đang chờ đợi. Tôi chợt nhớ trong sách lược của Khổng Minh đã có nhiều mưu kế để hạ kẻ thù và một phương thức tôi chợt nghĩ đến là chiến thuật “Dương Đông kích Tây”. Nếu tôi cho chiếc gun số hai bay vòng vòng sát đầu ngọn cây phía Bắc của địch, tiếng động cơ ồn ào cùng tiếng chém gió “phành phạch” của chiếc trực thăng sẽ gây sự chú ý của tên xạ thủ phòng không và sẽ quay hướng nòng súng phía Bắc chờ đợi. Bay nhanh sát trên đầu ngọn cây từ hướng Nam lên, tôi sẽ bất ngờ đột kích. Khẩu cao xạ nặng nề sẽ không kịp quay họng súng về hướng Nam để kịp tác xạ. Nếu sự suy luận của tôi đúng, tôi chỉ cần vài ba giây ngắn ngủi đó để hoàn tất sứ mạng,
Tôi liều lĩnh thực hành ý định. Hai chiếc gunships chúng tôi chia tay nhau, chiếc số hai thi hành nhiệm vụ “dương Bắc”, tôi ở lại chờ đợi sứ mạng “kích Nam”. Không đầy một hai phút sau chiếc gun số hai báo cho biết đã đến vùng. Thời cơ đã điểm, không một giây chậm trể, tôi lao con tàu về hướng khẩu phòng không. Chiếc tàu cắm đầu chúi mũi lướt vùn vụt trên đầu mặt rừng già gợn sóng nhấp nhô như mặt biển xanh. Chỉ còn cách bãi cỏ một khoảng ngắn, tôi kéo ngược cần lái, con tàu tức khắc ngóc đầu lên cao như con rắn hổ phùng mang trợn má trước khi mổ vào đầu địch. Xoẹt… Xoẹt… Xoẹt… Mười bốn trái rockets vội vã thi nhau rời con tàu lao thẳng tới dàn phòng không ẩn hiện trong đám cây góc rừng. Những tiếng nổ ầm vang dội núi đồi, bụi mù xen lẫn cành lá bay tung tóe khắp nơi. Tai nghe loáng thoáng tiếng cóc cóc đâu đó cũa những khẩu AK-47, tôi không còn thì giờ để nhìn thành quả, một tay đè mạnh cần cao độ, tay kia bẻ ngoặc cần lái, chiếc trực thăng tức thời nghiêng mình lài xuống về phía bờ cây cao. Trước sự ngở ngàng của địch quân con tàu chỉ xuất hiện năm ba giây rồi vụt biến mất dạng trên mặt rừng mênh mông, theo sau chiếc Hổ hai sát nhập lại nối đuôi nhau như hai con rắn độc hạ thủ xong lủi vào bụi cây rậm… Trên đường trở về căn cứ, tôi hình dung một nụ cười mãn nguyện đang nở trên môi của Rinh nơi chín suối…
- Mãnh Hổ, Charlie… Hai bạn ở đang ở đâu, cho biết vị trí. Tiếng nói của Th/T Phạm Bính, phi đoàn trưởng của phi đoàn 215 đột ngột vang trong tần số VHF.
Ngạc nhiên khi nghe vị phi đoàn trưởng gọi tôi trong giờ phút này, tôi trả lời:
- Charlie đây Hổ… còn chừng mười phút nữa đáp Pleiku…
- Tôi vừa nhận được tin tức mới nhất, Căn cứ hỏa lực Charlie đang bị tấn công nguy kịch, tình trạng rất nguy ngập, quân bạn đang cần sự yểm trợ của tất cả những phi cơ nào đang có mặt trên vùng. Hai Hổ quay lại vùng Võ Định, hiện tôi đang có mặt tại đây với bộ chỉ huy Dù, hai bạn lúc nào đến cho tôi biết, sẽ có chỉ thị.
Vừa nghe Charlie dứt lời trên tần số Th/u Hùng quay sang nhìn tôi xong buột miệng:
- Trời đất.., trể quá rồi tới đó là quá tối thấy đường đâu mà đánh. Trước thái độ của Hùng, tôi biết anh đã quá mệt mỏi sau một ngày dài, nhưng không có một sự lựa chọn, tôi trả lời C@C:
- Hổ nghe năm…, quay lại Võ Định. Nói xong tôi ra dấu tay cho Hùng quay đầu con tầu trở lại hướng Bắc, sau lưng chiếc Hổ Hai bám sát. Quay nhìn bên ngoài, bầu trời mập mờ không còn bao lâu nữa thì tối hẳn. Lòng dấy lên một niềm e ngại, chưa bao giờ tôi thực sự tham dự một trận đánh đêm trong vùng rừng núi cao nguyên này cả. Tuy nhiên theo chỉ thị của cấp trên, tôi phải tuân lệnh. Tôi vỗ về người hoa tiêu bạn:
- Ráng tí đi Hùng, có lẽ mình sẽ đánh vài “pass” rồi về thôi.
Trong phi đoàn anh hoa tiêu phụ của tôi có biệt danh là “Hùng kiềng”, chân anh hơi cong cong, anh có tướng đi khệnh khạng như “cao bồi” cởi ngựa. Anh tánh bộc trực có gì nói nấy, lại có tội hơi lè phè. Tôi còn nhớ một buổi sáng đang mơ màng nằm ngủ trong phòng bỗng nghe vẳng vẳng tiếng đồng hồ báo thức của ai reo dai dẳng, liên tục. Tôi ngồi dậy bước ra khỏi gường, ngang phòng Hùng thuê cách tôi một căn, tiếng reo vang rền, tôi đẩy nhẹ vào cửa không khóa… Hùng đang nằm ngữa mình trần trùng trục mồ hôi đổ nhễ nhại, hả miệng gáy o…o… Hoa tiêu phụ có bổn phận phải có mặt trước để check tàu, trưởng phi cơ sẽ ra sau. Chiếc đồng hồ điện báo thức réo rắt từ sáu giờ sáng đến quá chín giờ mà anh vẩn còn chìm đắm trong giấc ngũ say.
Hùng là một hoa tiêu phụ bay với tôi rất nhiều phi vụ và đã chia sẽ với tôi nhiều giây phút đáng nhớ. Một lần trên đường bay ra Phù cát, giao tay lái cho Hùng xong tôi ngồi dựa ngữa vào lưng ghế, mắt nhắm lại nghỉ mệt. Trong tiếng máy nổ đều đặn, con tàu rung nhẹ dần đưa tôi vào “chốn lãng du”… Đang phiêu diêu nơi “chốn tang bồng” con tàu chợt rung động mạnh, tôi hé mở mắt ra nhìn: tất cả xung quanh con tàu bao phủ một màu mây trắng xóa, không biết đâu là trời đất… Mơ mơ màng màng, tôi tự hỏi, “Tàu bị lọt vô mây…, ai đang cầm lái đây?… Vertigo? “. Những tư tưởng mơ hồ loáng thoáng trong đầu như tia điện làm tôi tỉnh hẳn người. Hốt hoảng tôi ngồi phắt dậy, tay chụp vội cần lái la to, “Ê…, ê…, chết…, chết… chết….” vừa chưa nói hết câu, đột nhiên bầu trời trở lại trong sáng, dưới chân mặt biển xanh ngát một màu. Con tàu vừa bay xuyên qua một đám mây nhỏ. Sượng sùng tôi trả cần lái lại cho Hùng… Cũng nên biết trực thăng thường bay VFR (Visual Flight Rules), chun vô mây là điều bất khả kháng.
Cuộc đời hoa tiêu trực thăng gian khổ, năm tháng đương đầu với những giờ bay dài đăng đẳng. Một ngày ngồi trên chiếc ghế bay bảy tám tiếng là chuyện thường khi hợp đoàn phải di chuyển cả tiểu đoàn bạn vào vùng hành quân. Ngồi trên ghế chai cả mông, mồ hôi đổ ướt đít đến mọc mụn.
Một lần khác trên thung lũng “Buôn Mì Gà” vào buổi trưa hè nắng gắt, hai chiếc guns bay vòng trên trời chờ hợp đoàn trở về bốc thêm quân, Hùng cầm cần lái tôi ngửa đầu vào lưng ghế nghỉ rồi ngủ thiếp đi. Bay vòng chờ trên cao, mỗi khi con tàu hướng về phía mặt trời, ánh nắng dọi thẳng vào mặt nóng như thiêu đốt, bỗng dưng đưa tôi vào một cơn ác mộng, mơ thấy con tàu đang bị bốc cháy dữ dội, lửa ngọn lan tràn đến cockpit hốt hoảng tôi ngồi nhổm dậy la làng: “Cháy… cháy…. cháy…”. Mở mắt ra, tim đập thình thịch tôi ngơ ngác nhìn khoang tàu, mọi sự vẫn bình thường, bên ghế trái “Hùng kiềng” đang im lặng miệng phì phèo điếu thuốc lá trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, rồi bật cười lớn… Biết là hố, tôi lấy tay áo quẹt lau mồ hôi đổ hột trên mặt, sửa lại thế ngồi, xong lui cui móc điếu thuốc lá châm hút, nhìn ra ngoài trời xanh, mây trắng không nói một lời…
- Sao ông thầy, mình cần load thêm đạn không? Tiếng nói của Hội xạ thủ hỏi tôi.
- À… thôi có lẽ còn chừng đó xài đủ rồi, để coi tình trạng như thế nào đã. Chắc không lâu đâu, đánh vài vòng rồi về, tối rồi.
Phía sau tàu Hội xạ thủ đang ngồi bệt trên sàn lúi húi sửa khẩu súng bị kẹt, chiếc áo bay phập phồng gió lộng trong khoang tàu mở cửa. Anh Song mê vô ngồi trên thùng đạn đang ưu tư nhìn vào khoảng không. Một niềm cảm xúc dấy lên trong lòng thương cho những người bạn đồng hành gần gủi qua bao nhiêu năm chung chia tất cã những vui buồn khổ cực. Trong những giây phút mạng sống như chỉ mành treo chuông trên mặt trận họ cũng hứng chịu không khác gì hoa tiêu, nhưng họ đã không được đề cao hay tưởng thưởng tương xứng với những gì họ đã đóng góp. Phi đội trực thăng võ trang trong phi đoàn chỉ là một nhóm nhỏ, rất thân tình gần gủi với nhau, anh em biết tánh tình từng người một. Tr/s Song xạ thủ theo đạo Phật, theo tôi biết anh kỵ sát sanh, một con kiến anh cũng không muốn giết vậy mà tôi không hiểu tại sao anh lại xin vào phi đội trực thăng võ trang. Trong một phi vụ phía Bắc Gia Nghĩa, đang bay quan sát bãi đáp ở độ cao vài trăm bộ, bất chợt một tên VC từ bụi cây giữa bãi cỏ trống phóng như cắt hướng về bìa rừng. Tôi hét lớn:
- “Song, Song… bắn… bắn….” Hàng ngàn viên đạn tuông ra từ nòng súng cày lên mặt đất tung tóe xung quanh tên VC. Đạn vẫn tuôn ra như mưa Bấc, tên VC vẫn chạy mãi đến gần bìa rừng. Tay kềm con tàu, theo dỏi diễn tiến qua khung cửa, tôi điên “tiết vịt” lên lắc mạnh cần lái, con tàu chao đảo. Tôi hét:
- “Hội…, Hội… Hội… qua bên này bắn đi… nhanh lên…, coi chừng nó chạy mất… bắn như con c…”. Nhưng đã quá muộn tên VC đã biến mất dạng dưới những tàng cây rừng rậm rạp…Tôi lầm bầm một mình trong intercom:
- “Mẹ… sợ sát sanh mà đòi đi bay guns…”
- Hổ tới đâu rồi, báo cáo… Giọng nói của Th/T Bính nghe trên tần số.
- Chừng vài phút sẽ đến Võ Định, OK, tôi thấy Charlie rồi….
Cao trên thung lũng đậm màu đêm xuống bên con sông Pokor uốn khúc phía Tây QL 14, chiếc trực thăng C@C như một chấm đen trong bầu trời sẩm tối . Phía Đông là căn cứ chỉ huy Võ Định của Lữ Đoàn 2 Dù nằm sát con lộ, phía Tây là rặng núi Ridge cao mờ mờ ẩn hiện.
- Hổ “hold” chờ phía Đông đồi Charlie, bạn sẽ cùng bốn chiếc gunships của phi đoàn 235 và 229 vào yểm trợ, chừng vài phút nữa họ sẽ có mặt….

Tôi cho con tàu bay vòng về phía Đông dãy núi trọc nhìn xuống cụm đồi phòng thủ của đồn Charlie hình yên ngựa. Từ cao tôi có thể thấy những trái đại pháo liên tục rớt trên mặt đất của đồn, nổ tóe lửa trong ánh hoàng hôn mờ ảo, trông lập lòe chớp lóe như pháo bông. Căn cứ hỏa lực này giờ hầu như đã thành bình địa, những công sự phòng thủ bị pháo nát, hòa lẫn với đất cát không nhận ra hình hài.
Tại căn cứ này, địch đã dùng chiến thuật công đồn đả viện, tiền pháo hậu xung. Chúng tiêu hao tất cả những tiềm lực chiến đấu của quân bạn bằng những trái đạn đại pháo, những trái đạn nổ chậm chui xuống đất rồi nổ tung phá nát hầm sâu. Một mặt chúng ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất là trực thăng bằng những khẩu phòng không bố trí xung quanh đỉnh núi hay những trái pháo đã được điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp.
Trong bóng chiều tà, từ đỉnh đồi Charlie nhìn thẳng xuống tới chân núi phía Đông tôi vẫn còn nhận rỏ một khoảng đất cỏ cháy xém, ngay chính giữa là một khối sắt co dúm đen đủi, kế bên là một khúc đuôi trực thăng còn nguyên nằm lật ngược. Tất cả đó là những gì còn sót lại của một con chim sắt thuộc phi đoàn Thần Tượng đã gãy cánh cách đây mấy ngày. Hình ảnh còn mới mẽ của phi hành đoàn thân yêu đã ra đi trong bất ngờ, trong thảng thốt như một cuốn phim kinh hoàng bừng sống lại trước mắt tôi…
Mười giờ sáng hôm đó, năm phi hành đoàn Thần Tượng đáp tại bộ chỉ huy Dù ở căn cứ Vỏ Định, sát phía Đông QL 14. Chiếc Charlie do Th/t Khưu Văn Phát, phi đoàn phó, cầm lái. Vì Lữ đoàn Dù chỉ đóng quân tại những căn cứ cố định trên những tiền đồn cao điểm nên những phi vụ thường là tản thương hoặc tiếp tế. Năm chiếc tầu đã tắt máy, tôi bước xuống đi lững thững vào bộ chỉ huy dọc theo hàng rào kẻm gai con đường đất đỏ quanh co. Những chiếc lều dã chiến màu xanh cứt ngựa thật lớn, trên nóc đầy những cột “ăn ten” chĩa thẳng lên trời, không xa đó đặt vài khẩu trọng pháo thỉnh thoảng nổ đì đùng… Vòng vo một khoảng nửa thì tôi đến căn trại của bộ chỉ huy Lữ Đoàn II Dù. Tôi bước vào lều, Th/T Phát đã có mặt với một vài vị sĩ quan bạn ngồi kế bên một cái bàn dài trải những tấm bản đồ xanh lơ. Kế đó Trung Tá Đặng Duy Lạc, một hoa tiêu A-37, Không đoàn Trưởng KD62/CT tại Nha Trang, đang nói chuyện với một sĩ quan cấp tá Dù. Sự hiện diện của Tr/T Lạc làm cho tôi rất ngạc nhiên. Tôi vừa đưa tay chào theo cung cách nhà binh vừa bước đến gần bên Th/T Phát kéo chiếc ghế trống ra ngồi, xong tôi ghé sát vào tai Th/T Phát hỏi nhỏ:
- “Ông Tr/T Lạc làm gì ở đây vậy?”.
- “À, ổng chỉ lên thăm và ủng hộ tinh thần anh em thôi, chiều ông về lại Nha Trang rồi”. Th/t Phát trả lời xong nói tiếp:
- “Ngồi tí rồi mình đi, sáng hôm nay chỉ có hai phi vụ tiếp tế cho Charlie. Bạn còn nhớ vụ tôi bị bắn ở Tiền đồn Sáu không? Phòng không đây nặng hơn nhiều, Hổ cẩn thận”.
- “Thầy quá may đó, nhìn chiếc tàu bị bắn, tôi không hiểu sao Thầy về kịp đáp Phượng Hoàng an toàn được”. Tôi đáp lời.
Nhớ hình ảnh chiếc trực thăng khi đem về căn cứ, viên đạn 12 ly 7 xuyên qua sàn tầu, đâm lủng bình xăng đi thẳng lên làm một lổ lớn trên trần tàu rồi bay thẳng lên trời, may viên đạn trúng tàu không phải là đạn lửa không thì con tàu sẽ nổ tan xác pháo. Tôi cảm thấy cuộc đời bay bổng của hoa tiêu trực thăng thật mong manh, mạng sống như chỉ mành treo chuông, trong những trận chiến sôi động này, tương lai chỉ đếm từng ngày một.
Ngồi nói chuyện đôi ba câu xong, tôi đứng dậy bước khỏi lều hút thuốc lá. Trong ánh nắng chói chan, tôi để tầm mắt về hướng Tây, dãy núi Rocket Ridge đứng sừng sững bất động dưới bầu trời xanh. Đã mấy ngày nay tin tức cho biết Cộng Quân đang áp đảo căn cứ trên đỉnh núi, cố tình muốn dứt nọc trước khi tổng tấn công vào vùng Tân Cảnh, dưới trách nhiệm của Sư Đoàn 22 bộ binh. Những viên đạn đại pháo 130 ly, những trái hỏa tiễn 122 ly cùng với những súng cối 82 ly ngày đêm không ngưng nghỉ rót vào những căn cứ hỏa lực.
- “Lẹ đi, tao đá cái chết mẹ bây giờ!”. Đang đứng dựa gốc cột dưới căn lều dã chiến bộ chỉ huy, tôi quay lại thấy một anh Tr/s Dù, đầu đội nón “bê-rê” đỏ đi kế bên một thằng bé cở mười sáu tuổi mười bảy tuổi, bận bộ đồ màu xanh cứt ngựa của lính chính quy Cộng Sản, tóc tai bơ phờ, mặt mày ngơ ngáo. Thấy tôi anh ngừng lại chào, tôi hỏi:
- “Anh đem nó đi đâu vậy?”.
- “Dạ, tôi đưa nó đi cầu”, xong anh nói tiếp:
- “Nó vừa mới bị bắt sống tối hôm qua đó, nó thuộc Sư Đoàn Thép, bộ chỉ huy cho chở về đây lấy tin tức. Tụi nó hết người rồi phải lấy toàn con nít hỉ mủi chưa sạch. Sư đoàn Thép bây giờ toàn thứ này nhiều lắm”.
Nhìn khuông mặt non choẹt tái mét vì đã chui rúc trong rừng sâu nước độc, mỏng manh trong bộ quân phục xốc xếch, chân mang đôi dép quai râu, tôi thấy tội nghiệp cho những đứa trẻ “sinh Bắc tử Nam”. Anh lính Dù đứng một lát xong dục:
- “Đi mày”.
Gật đầu chào rồi bước ra chổ bãi đậu, tôi lửng thửng đi ngang qua hai chiếc trực thăng chở tiếp tế, mấy phi hành đoàn đang tập tụ trong khoang tàu binh xập xám chờ phi vụ.
- “Ê…, bao lâu nữa thì đi?” Tr/u Vân bay chiếc số một đang ngồi trong khoang tàu hỏi vọng ra.
- “Sắp sửa rồi, chuẩn bị đi”. Tôi vừa bước gần Vân thấy có Th/u Long đứng kế bên, tôi hỏi một câu nửa chơi nửa thiệt:
- “Sao Long, giải được bùa chưa?” Anh không trả lời chỉ nhếch mép cười. Nghe mấy người bạn kể lại vì tội dụ dỗ một cô gái Thượng ở Ba Mê Thuột, anh đã bị thư một cái dằm vào chân, mỗi đêm đều bị nhức nhối. Tôi nghe anh em nói tưởng họ đùa, nhưng khi gặp anh Long hỏi thì anh xác nhận chuyện đó có thật. Mỗi lần trong phi đoàn có phi vụ nào đi Ba Mê Thuột anh đều xin theo để gặp thầy pháp giải bùa chửa bệnh.
Từ ngày mặt trận bùng nổ, tôi bắt đầu cảm nhận rằng trong không khí chiến tranh càng leo thang, tâm tư anh em phi hành đoàn bắt đầu mang một nổi e dè, lo lắng. Tối hôm qua, ở tại biệt đội, trong khi anh em tụ tập bàn tán xôn xao về tin của một chiếc tàu của phi đoàn bạn bị bắn nổ trên không trung. Tr/u Vân vừa mới lên từ Nha Trang, ngồi trong phòng tại biệt đội, anh tâm sự với một người bạn thân rằng vợ anh mới sanh, tiền bạc chẳng có nhiều, mặt trận càng ngày càng sôi động làm anh rất quan tâm… Trước khi đi ngủ anh móc tất cả trong túi lấy ra được mấy ngàn đồng, cùng với cái đồng hồ rồi bỏ tất cả trong hộc tủ, nhờ người bạn nếu anh có mệnh hệ gì thì giao lại cho vợ anh. Nghe câu chuyện tôi linh cảm như là một điềm xấu có thể xảy ra cho Tr/u Vân.
Từ căn lều bộ chỉ huy, Trung tá Lạc bận bộ đồ bay màu xám, chiếc nón lưỡi trai đen trên đầu với hai nhành dương liễu trắng trông rất phong độ đi song đôi với Th/T Phát, phía sau Tr/T Nhảy Dù đầu đội nón sắt tay cầm bản đồ và mấy người tùy tùng, tất cả đang tiến ra bải đậu. Âm thanh o…o… quay máy của Charlie khởi đầu cho phi vụ tiếp tế. Hai chiếc trực thăng vừa quay máy, vừa nhận hàng của một chiếc xe cam nhông đậu kế bên hông. Những thùng bằng gổ thông chứa đạn dược, C-Ration (khẩu phần ăn của nhà binh) cùng với những ống sắt đựng đại bác dùng để chứa nước được chất đầy trên bong tàu. Đợi tất cả cất cánh trước cho rộng chổ, tôi từ từ nương con tàu nặng nề súng đạn rời khỏi bải, vượt qua hàng rào kẽm gai và những cây “ăn ten” cao nghệu. Nhìn xuống, những căn lều lúp xúp của trung tâm hành quân Dù Võ Định vây quanh bởi hàng chục vòng kẽm gai nhỏ dần dưới ánh nắng mai gay gắt…
Bay chừng năm bảy phút, tất cả hợp đoàn đã đến vùng, rặng núi Rocket Ridge nằm im lìm dưới bầu trời trong xanh. Chiếc C@C bay vòng trên cao độ nhìn xuống, căn cứ Charlie gồm ba cứ điểm phòng ngự từ Nam lên Bắc, điểm thấp nhất đồi 960 cũng là bãi đậu trực thăng làm nơi tiếp tế, rồi tới đồi 1020, cao nhất phía Bắc là đỉnh Charlie, 1050. Tất cả tạo thành một địa thế từ xa nhìn giống như hình yên ngựa. Tại cụm phòng ngự này đã bị Cộng quân mở hàng loạt trận địa pháo 130 ly, 122 ly và hỏa tiễn đủ loại, chúng cố dứt điểm căn cứ này với mọi giá. Tại cao điểm này chúng có thể kiểm soát tất cả những di chuyển cũng như hoạt động dưới thung lủng sông Pokor cũng như QL 14 chạy dài tới thị xã Tân Cảnh, mục tiêu trọng yếu đầu tiên trước khi tiến chiếm Komtum. Trước đó mấy ngày căn cứ hỏa lực Yankee phía Bắc Charlie đã bị thất thủ.
Vòng vây địch siết chặt, áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, sau những trận mưa pháo dữ dội, địch quân xung phong ào ạt vào căn cứ, sau bao lần đều bị đẩy lui bởi sức kháng cự mãnh liệt của những chiến sĩ Dù và sự yểm trợ của phi pháo. Sự kiên nhẫn của địch quân có giới hạn, chúng trở thành như điên cuồng lao đầu vào trước những mủi súng của quân ta, xác của những tên Cộng quân nằm la liệt ngoài những hàng rào phòng thủ, tan nát cháy đen vì đạn pháo binh cũng như bom napal của những chiếc máy bay khu trục. Tình trạng đạn dược lương thực nước uống cạn dần đến mức tối thiểu, nếu không được tiếp tế trong ngày hôm nay, Tiểu Đoàn 11 của Tr/T Nguyển Đình Bảo sẽ không còn phương tiện để chống trã sức tấn công liên tục của địch.
Từ ngày Cộng Sản khởi động cuộc chiến tại miền Nam , chiến thuật trực thăng vận đã được đem ra áp dụng lần đầu tiên trong lịch sữ chiến tranh thế giới. Trực thăng vận đã hoạt động rất hửu hiệu trong chiến trường du kích chiến. Nhưng chiến tranh càng ngày càng leo thang, địch quân được tăng cường và trang bị thêm nhiều vũ khí tối tân hạng nặng, đặc biệt nhất là vũ khí phòng không. Trực thăng với tốc độ chậm dể bị phương hại và đã trở thành những mục tiêu dễ dàng cho những loại súng cở lớn từ 12 ly 7, 37 ly và đặt biệt là những hỏa tiễn cầm tay như SA-7. Sự tổn thất chiến trường của ngành trực thăng càng ngày càng lên cao. Mấy ngày hôm nay những phi vụ tiếp tế đã gặp nhiều khó khăn trở ngại vì rừng phòng không và những trái đạn pháo kích chính xác địch đã điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp trực thăng, tôi cảm thấy bất lực trước hỏa lực cũng như khả năng của chiếc trực thăng võ trang này để bảo vệ hửu hiệu cho những người bạn đồng hành.
Chiếc tàu tiếp tế số một của Tr/u Vân bắt đầu vào “final”. Triền núi trơ trụi vì đạn pháo bao ngày qua từ màu xanh cỏ ủa đã trở thành màu đất đỏ lồi lõm những hố đạn pháo. Ba điểm phòng thủ đồi Charlie đã xơ xác hoang tàn gần như thành bình địa. Trong cái im lặng của sự chờ đợi nghe ngóng của địch, tôi cảm tưởng như tất cả những trái đại pháo đang chờ con tàu mong manh nay đi vào ổ phục kích. Tôi cho chiếc guns Hổ một bọc sau đuôi cánh trái, chiếc Hổ hai bên cánh phải. Từ sau lưng trên cao nhìn xuống tôi theo dỏi chiếc trực thăng của Tr/u Vân chậm chạp hạ cao độ rồi từ từ đáp xuống trên vòng tròn nhỏ của bãi trực thăng, bụi đỏ bốc lên dưới sức gió của cánh quạt. Từ vị thế trên cao phía sau tôi nhìn xuyên qua cánh quạt trực thăng những người lính trên tàu đạp vội vã những thùng đồ xuống bãi… Bỗng trên bãi đáp không xa hai ba trái pháo nổ bung khói đen cùng bụi đỏ bốc lên đồng thời những tiếng súng nổ vang rền lên từ triền núi kế cận. Con tàu chậm chạp từ từ quay đầu lại chuẩn bị cất cánh, đồng thời trên tần số tôi nghe tiếng của Tr/u Vân đứt đoạn:
- “Charlie…, Charl…lie, ground…fi..ire…, ground..fi..ire…tầu…trúng đạn…”. Từ những mỏm núi trọc mênh mông, những viên đạn pháo không biết nơi xuất phát, những viên đạn phòng không từ nhưng hang hóc của những ngọn đồi kế cận bắn tới tấp hướng tàu của Tr/u Vân. Phản ứng tự nhiên, tôi cắm đầu con tàu phóng những trái rockets rải rác trên triền núi. Những trái hỏa tiễn nổ lốm đốm trên sườn núi, tung lên những đám bụi đỏ, yếu ớt vô hiệu quả trước kẻ thù đang ẩn nấp sâu trong hang hố đâu đó.
Sau khi tác xạ xong tôi quay vòng lại nhìn tàu của Tr/u Vân vừa lên cao. Trên tần số tiếng la hốt hoảng của Th/tá Phát đang bay chiếc C@C:
- “Lead, lead… tàu bạn đang bốc khói nghe không trả lời ?”. Tôi nhìn theo chiếc lead đang lấy cao độ khỏi triền núi, làn khói đen bốc lên từ buồng máy. Phi hành đoàn vẫn im lặng. Không khí căng thẳng đến tột độ.
- “Lead, lead… tàu bạn bị cháy… đáp ngay… đáp ngay… dưới chân bạn có bãi đáp trống trên triền đồi dưới thấp.” Giọng nói của Th/tá Phát đồn dập. Từ xa, cùng cao độ tôi thấy con tàu của Tr/u Vân lửa bắt đầu ngún lên thành ngọn bao trùm buồng máy. Lửa lan dần đến giửa thân tàu, hai người xạ thủ đang chồm về phía trước phòng lái… Tôi phụ họa:
- “Đáp… đáp… tàu cháy.., tàu cháy…. đáp dưới chân đồi.., nghe không Vân”. Cố đem chiếc gunship đến gần cặp sát con tàu đang bốc lửa mỗi lúc mỗi cao, khoang tàu mịt mù khói đen thấp thoáng hai anh mê vô xạ thủ chồm về phía cockpit để tránh sức nóng.
- “Đáp… đáp ngay… đáp xuống triền núi có Hổ cover đây…. nghe rỏ trả lời”. Nhưng con tàu không còn liên lạc được với thế giới bên ngoài, nó đang trở thành một khối lửa cuồn cuộn rơi như hòn đá cuội, chạm triền núi vỡ bùng lên…. Tất cả chỉ còn là một đống sắt cháy ngùn ngụt… Trong cơn hốt hoảng phi hành đoàn chỉ muốn bay xa khỏi tầm sát hại của địch mà không ước lượng được tình trạng thiệt hại của con tàu đến khi quá trể. Tôi cho con tàu lượn thấp xuống nhìn trong tuyệt vọng. Hai chiếc guns bay vòng tròn trên chiếc tàu bị nạn và sau đó được lệnh rời vùng, tôi ngoái đầu nhìn đám cháy vẩn mịt mù một lần cuối rồi chuyển hướng bay, nước mắt lưng tròng.
- Mãnh Hổ, đây Charlie… Bốn chiếc guns của hai phi đoàn bạn đã đến vùng, bạn dẩn năm chiếc vào mục tiêu.
Tôi ngước đầu nhìn, từ xa bốn chấm đen từng cặp một đang bay đến trên nền trời sẫm tối.
- Charlie, đây Hổ. Cho biết vị trí tác xạ chính xác. Tôi hỏi.
- Hổ đây Charlie. Hiện tại địch đã tràn ngập khắp mọi nơi, hai cao điểm thấp đã bị địch chiếm, chỉ còn đỉnh đồi Charlie đang còn giao tranh cận chiến. Bạn tự do oanh kích ngay trên căn cứ Charlie, nghe rỏ trả lời… Tiếng Th/tá Bính vừa dứt trên tần số, tôi bàng hoàng không tin những gì mình vừa nghe được:
- Charlie đây Hổ, Th/tá muốn tôi đánh ngay vào đỉnh đồi?…
- Đúng năm…
Tiếng nói rõ ràng và khẳng định của C@C không còn làm tôi nghi ngờ gì nửa. Lần đầu tiên chứng kiến sự thất thủ của quân bạn ngay trước mắt. Căn cứ được đóng và bảo vệ bởi một lực lượng tinh hoa và kinh nghiệm nhất của QLVN/CH, đã từng chiến thắng bao nhiêu mặt trận, đã làm cho địch nhiều phen kinh hoàng khiếp đảm, giờ đây đang bó tay trước những đợt tấn công thí mạng của đối phương. Với sự hiểu biết hạn chế của một hoa tiêu trực thăng võ trang, tôi thường tự hỏi về chiến thuật của bộ chỉ huy khi để một đơn vị tác chiến như Nhảy dù sở trường trong việc tấn công và chủ động trong chiến trường phải đóng trụ tại một cao điểm. Thụ động chờ đợi địch là sở đoản của binh chủng Nhảy Dù, họ được huấn luyện để tấn công, không phải để giữ đồn. Trong giờ phút này không thấy bóng dáng của một chiếc khu trục trên bầu trời, chắc không cần thiết nữa. Quân bạn có lẽ đã dùng hết tất cả mọi khả năng yểm trợ, sáu chiếc trực thăng võ trang bây giờ chỉ còn là những vớt vát cuối cùng cố gây cho sự tổn thức tối đa cho địch trước khi chúng hoàn thành mục đích của chúng.
Lấy tần số của Charlie, tôi liên lạc được với bốn chiếc guns của phi đoàn bạn và tất cả sáu chiếc guns theo nhau đi vào vùng. Bầu trời đã tối lắm rồi, triền núi của ngọn Rocket Ridge mờ ẩn hiện sau nền trời đen xám. Từ trên cao độ tôi tiến gần vào mục tiêu, chổ trủng thấp yên ngựa bãi đáp trực thăng cao điểm 960 là một trong ba cao điểm quen thuộc của cụm đồi Charlie, nơi mà Tr/U Vân và phi hành đoàn đã bị bắn, và lên theo triền dốc và phía Bắc và trăm bộ là cao điểm thứ hai 1020 đã bị địch chiếm, chỉ còn lại cứ điểm cao nhất 1050 Charlie do Tr/T Nguyễn Đình Bảo chỉ huy là đang còn giao tranh. Bay đến gần đỉnh núi cao vô tri giác đó tôi như đã cảm nhận được những trái lựu đạn đang chuyền tay nhau nổ tung trên những giao thông hào bể nát, những viên đạn súng trường bắn thật gần, những người lính Dù đang vật lộn với kẻ thù đông đảo, cố chiến đấu đến hơi thở cuối cùng…
Bây giờ sự chính xác của những trái rockets của sáu chiếc gunships không còn cần thiết nữa, tại bãi chiến trường này mảnh đất nhỏ hẹp nào cũng là mục tiêu. Sau khi thông báo cho những chiếc guns đang theo sau, tôi cho con tàu cở ngàn bộ trên đỉnh cao điểm cắm đầu xuống mục tiêu, những trái hỏa tiễn cháy bùng nối đuôi lao xuống đỉnh núi, theo sau những vệt lửa dài chạm đất nổ tung tóe lửa, khẩu minigun quay vù tuông nhưng viên đạn lửa nối đuôi nhau tạo một đường đỏ dài uốn éo trong ánh sáng mờ ảo. Theo sau những chiếc guns tuần tự phóng những trái rockets xuống đỉnh núi, những đốm lửa tóe lên bởi những trái rockets trong bóng đêm chập choạng như đánh thức rừng phòng không của địch. Chung quanh đỉnh đồi bỗng lấp lánh chấp chóa ánh sáng rực rỡ như cây Noel trong đêm Giáng Sinh, một rừng tên lửa đỏ lao về hướng những chiếc trực thăng đang cắm đầu xạ kích. Tôi la lớn trong tần số:
- “Phòng không… phòng không… Break… Break… Break….” Nói xong tôi kéo ngược con tàu lên cao, những viên đạng lửa bay vút hướng lên bầu trời đen như những vì sao xẹt. Không cần thiết phải có sự chính xác nửa, tôi thông báo cho tất cả hợp đoàn guns xử dụng tất những đạn dược, rockets còn lại một lần cuối trước khi rời vùng. Từ khoảng cách khá an toàn xa tầm bắn của những khẩu phòng không, tôi kéo con tàu nhổng đầu lên phóng những trái rockets bắn vòng cầu như đạn pháo binh, những trái hỏa tiển biến mất vào khoảng không gian mù mịt rồi rơi rớt rải rác trên đỉnh đồi tóe lửa. Những mũi súng cao xạ của địch tức thì phản ứng, từ triền núi lấp lánh ánh lửa phòng không, những viên đạn đỏ như mưa rào bay ngược về hướng những con tàu ẩn hiện trong bóng tối.
Tất cả đều vô nghĩa. Trận đánh đã ngã ngũ. Những con chim sắt đang cố gắng thi hành phi vụ cuối cùng trong vô vọng. Ngọn đồi mang tên Charlie không còn nữa, chỉ còn lại là dư âm của những trận đánh kinh hoàng trong ngày tháng qua. Những người lính dù đã anh dũng chiến đấu tới giây phút cuối cùng với vị chỉ huy anh hùng của họ, Tr/tá Nguyễn đình Bảo.
- Hổ đây Charlie, các bạn có thể trở về căn cứ. Thông báo cho tất cả biết trong vòng mười lăm phút nữa sẽ có phi vụ B-52 đến trải thảm bom. Các bạn hảy mau rời vùng.
Tiếng nói của Th/tá Phạm Bính lạnh lùng trên tần số.
Tôi quay đầu con tàu quay rời vùng giao tranh, những đốm lửa lập lòe trên ngọn đồi Charlie đang chìm dần vào bóng tối. Tr/u Nguyễn Tường Vân, Th/u Trần Văn Long và phi hành đoàn cùng tất cả những chiến sĩ Dù đã ở lại Charlie, mải mải… Xa xa, thành phố Pleiku đã lên đèn, một vùng ánh sáng lấp lánh, nhạt nhòa ẩn hiện, không biết vì đêm đen hay vì dòng lệ đã trào dâng lên khóe mắt?
Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đă bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!
Văng vẳng đâu đây âm thanh ì ầm rung chuyển bầu khí quyển của từ thảm bom của những chiếc pháo đài bay B-52 vang vọng…

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

QUẢNG TRỊ
TỪ ÐẠI LỘ KINH HOÀNG ÐẾN CHIẾN THẮNG QUẢNG TRỊ

- Giao Chỉ San Jose -

Tối hôm nay, tôi ngồi trên lầu 2 của văn phòng Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose. Trời đã về khuya, giữa công viên Kelly Park hết sức vắng lặng, tôi có dịp đọc thư của các nơi gửi về về đóng góp ý kiến qua bộ phim DVD “ Chân dung người lính VNCH” mới phát hành.

Anh Lê công Viên viết rằng : Cháu đã mua và gửi cho bố cháu là cựu quân nhân miền Nam, Ông cụ rất thích. Năm nay cháu 39 tuổi, còn đọc và nói được tiếng Việt nhưng xin yêu cầu các bác, các chú khi viết về lịch sử chiến tranh Việt Nam đừng viết tắt các tên quân sự. Xin đừng viết nhiều chi tiết chúng cháu không hiểu. Ngay cả các bài viết bằng Anh ngữ trên tài liệu Mỹ cũng có nhiều chữ không hiểu hết. Xin viết rõ ràng và đơn giản để thế hệ sau có thể hiểu được.”

Ðó là 1 thông điệp hết sức quý giá chúng tôi xin ghi nhận. Thêm vào đó, cuối tuần qua, chúng tôi có đón tiếp các em học sinh tiểu học vào thăm Bảo Tàng.
Giáo sư Hoa Kỳ phụ trách chia 30 em làm 3 toán đi cùng các phụ huynh và các thầy cô giáo.
Ông trưởng phái đoàn cho biết trong số các em nhỏ từ 8 đến 12 tuổi có cả vài em Việt Nam. Ngoài ra cũng có hơn 10 em nữ sinh trung học của một trường công giáo tháp tùng.
Mỗi toán luân phiên sẽ có 20 phút. Tiếp đón 3 toán kể cả thuyết trình, hướng dẫn và hỏi đáp ba lần phải giới hạn hoàn tất trong 1 giờ.
Các em hoàn toàn không biết gì về Việt Nam, về thuyền nhân, về chiến tranh, về quân lực Việt Nam Công Hòa.

Thưa quý vị độc giả thân mến của tôi, nếu quý vị có 20 phút để chỉ cho 1 em nhỏ Hoa Kỳ hoặc là 1 em bé Việt Nam 10 tuổi sinh tại nước Mỹ, thì quý vị sẽ nói cho em những chuyện gì, cho em coi những hình ảnh gì. Các em nhỏ này là khách hàng tiêu biểu của chúng tôi. Có thể vài năm sau sẽ trở lại thăm Museum. Có thể suốt đời các em chỉ đến với Viện Bảo Tàng có 1 lần.
Ðó là niềm suy tư khắc khoải của những người muốn kể lại cho thế hệ tương lai những câu chuyện từ quá khứ. Hoa kỳ có phim Alamo nói về 200 chiến binh anh dũng hy sinh trong trận chiến thời kỳ tiền nhân mở nước. Chúng tôi sẽ làm phim Quảng Trị để gửi cho

con cháu của dân tỵ nạn Việt Nam. Câu chuyện nhắc đến hôm nay sẽ là đề tài cho đoạn phim tài liệu với tựa đề dành cho 1 trận đánh khốc liệt và điển hình trong chiến tranh Việt Nam. Chuyện xảy ra vào năm 1972, cách đây 37 năm. Nơi xảy ra là chiến trường miền Trung, vùng đấÔt nước chia đôi. Ngày xưa thời Trịnh Nguyễn chia cắt bằng con sông Gianh. Sau đó hai miền Quốc Cộng chia đôi bằng sông Bến Hải. Tuy nhiên, lịch sử của chuyện phim này phải bắt đầu vào tháng 4 năm 1954, cách đây 55 năm. Có 300 thanh niên Hà Nội được gọi vào thụ huấn trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt. Trong đó có 3 người được xếp vào đại đội 6. Anh Trần quốc Lịch trung đội 21, Anh Ngô văn Ðịnh trung đội 22 và anh Phạm văn Chung, trung đội 24. Tháng 10-1954 các anh sinh viên sỹ quan quỳ xuống vũ đình trường khi đứng lên trở thành tân thiếu úy đưa về các đơn vi nhảy dù và thủy quân lục chiến.

18 năm sau, 1972 cả 3 tình cờ có mặt tại chiến trường hỏa tuyến vùng I. Ba người chỉ huy 3 lữ đoàn. Ðại tá Ngô văn Ðịnh chỉ huy lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến có mặt tại chiến trường năm 1971 trước khi trận mùa hè đỏ lửa bắt đầu. Tháng 4-72 ông đã trải qua các trận trì hoãn chiến hết sức ác liệt khi lữ đoàn lui binh từ Ái Tử, Ðông Hà về đến bờ nam sông Mỹ Chánh.

Tháng 4-1972 Ðại tá Phạm văn Chung chỉ huy lữ đoàn 369 vừa từ giã chiến trường đường số 9 từ sau trậạn Hạ Lào đang về làm tổng trừợ bị cho Saigon thì lại có lệnh cấp tốc trở ra tiếp ứng cho chiến trường Quảng Trị.
Tháng 5-1972 Ðại tá Trần quốc Lịch, lữ đoàn trưởng lữ đoàn II nhẩy dù được lệnh tăng cường cho Vùng I trong giai đoạn miền Nam phản công. Từ mặt trận Kotum, Tân Cảnh với những đau thương chất ngất bỏ lại đồi Charlie, lữ đoàn băng bó vết thương cho tiểu đoàn 11 rồi lại cùng nhau tất tả lên đường.

Trải qua 18 năm chinh chiến, từ 1954 đến 1972 trong các cuộc hành quân khắp 4 vùng chiến thuật, anh em cựu sinh viên Ðà Lạt gặp nhau nhiều lần nhưng đôi khi cũng không còn nhớ đến chuyện ai là bạn cùng khóa. Cho đến ngày nay, 55 năm hội ngộ, cả ba anh em, sau những năm tù đày hay lưu vong mà vẫn còn sống, đã có dịp bắt tay nhau trong tuổi cao niên, nhớ lại những kỷ niệm hành quân thủa nào ở miền tuyến đầu đất nước.
Và cả ba cùng cảm nhận được những giây phút tình cờ của lịch sử. Vào cái năm 72 tàn khốc ở Quảng trị, cả 3 vị lữ đoàn trưởng của tổng trừ bị, từ Dù đến Thủy quân lục chiến đều không ngờ rằng khi vào đời năm 1954, ba anh sinh viên sỹ quan trẻ của đại đội 6 SVSQ khóa Cương Quyết Ðà Lạt sau này sẽ tao ngộ trên 1 chiến trường nổi danh nhất trong quân sử Việt Nam Cộng Hòa. Và tháng 7 năm nay 2009, anh em lại có dịp ngồi bên nhau. Tuổi đời ai cũng trên 75, ngồi cạnh ông thầy đại đội trưởng Nguyễn thọ Lập 92 tuổi từ Missouri qua thăm.
Anh em cùng ngồi để nhớ đến hàng ngàn chiến binh Việt Nam Cộng Hòa thương vong trong chiến dịch 72. Trải qua các chiến trường từ vùng I, qua cao nguyên và duyên hải vùng II vào đến miền đông của vùng III. Nhân danh các tử sĩ anh hùng nằm xuống miền đất Quảng. Nhân danh những đứa bé thơ vô tội nằm chết khô bên xác mẹ trên đại lộ kinh hoàng, chúng tôi sẽ tìm cách dựng lại bộ phim về trận Quảng Trị. Trong cuốn phim tài liệu này, tính cách nhân bản của người lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ được chú trọng. Những tình cờ của lịch sử sẽ được đề cập đến,

Cuộc đời của 3 thanh niên Hà Nội sau 18 năm đi lính Cộng Hòa tao ngộ trên hỏa tuyến sẽ được ghi nhận là chuyện hy hữu của dòng đời.

Vào những ngày tháng oan nghiệt kể từ đầu năm 72 cho đến giây phút cờ bay trên cổ thành Quảng Trị, ba người sinh viên sỹ quan trẻ của trường Ðà Lạt năm 1954 đang ở đâu và đã làm gì. Ðó là đề tài chính của chuyện phim.
Trung ương đảng Hà nội quyết định trận đánh mùa hè khởi sự vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, đại quân cộng sản đánh thẳng qua sông Bến Hải. Cùng một lúc địch từ Hạ Lào đánh Kontum, Tân Cảnh trên cao nguyên. Từ Cam Bốt đánh qua Bình Long, An Lộc ở miền Ðông Nam phần.
Ngay từ giờ phút đó lữ đoàn thủy quân lục chiến của Ngô văn Ðịnh đã có mặt để chịu đựng những đợt pháo đầu.
Ðại tá một đời mũ xanh của Việt Nam Cộng Hòa đã viết ký sự 4 năm hành quân với lữ đoàn 258 TQLC. Bốn năm gian khổ của chiến trường từ 1971 đến 1974 có trận mùa hè 72 là cuộc thư hùng kinh hoàng nhất.
Ông viết về chuyện người vợ đem đứa con gái 3 tuổi ra thăm chồng đã có dịp ăn 1 tô mỳ đầu tiên và cuối cùng tại thị trấn Ðông Hà. Trong 1 bài ký sự khác, tác giả viết về trận đánh vào Quảng trị với những giây phút hết sức giao động và ngậm ngùi. Là người trực tiếp tham dự trận phản công, ông chỉ huy lữ đoàn tiến quân từ phòng tuyến Mỹ Chánh lên đến Cổ thành. Người tiểu đoàn trưởng can trường đứng bên ông khi lá cờ bay trên thành phố thân yêu đã hy sinh vào tháng tư oan nghiệt năm 1975.
Trong khi đó đại tá Phạm văn Chung đã có thiên bút ký dành cho lữ đoàn TQLC 369 bên bờ sông Mỹ Chánh.
Cũng từ Saigon đem quân trở lại miền trung, đại tá Phạm văn Chung nhận công tác bảo vệ mặt trận cận sơn phía tây quốc lộ số 1 từ Mỹ Chánh lên Quảng Trị.
Khi đại quân của cộng sản phá vỡ phòng tuyến phía bắc Quảng Trị cho đến khi sư đoàn 3 tan hàng thì chỉ còn các đơn vị thủy quân lục chiến lui binh với các trận trì hoản chiến đáng ghi vào lịch sử.
Sau các trận thư hùng đẫm máu ở đông và tây cùa quốc lộ 1, cả 2 lữ đoàn TQLC của Ngô Văn Ðịnh và Phạm văn Chung đều chấp nhận thương vong, bảo toàn lực lượng.
Cho đến tháng 5-1972 thì lữ đoàn 369 của đại tá Phạm văn Chung đã hoàn toàn giữ vững phòng tuyến sông Mỹ Chánh. Kế hoạch tấn công 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên của cộng sản mới hoàn tất được nửa đường.
Niềm vui nhỏ và đầy tình người của ông Phạm văn Chung khi có tin vợ sanh con trai ngày 24 tháng 4-1972 tại Sai Gon.
Vào thời kỳ 72 phía Hoa kỳ các đơn vị đã triệt thoái về nước, chỉ còn lại cố vấn.

Trên 10 cuốn sách đã được tác giả Mỹ và cố vấn viết về trận 72 mà họ gọi là trận chiến mùa Phục Sinh (Easter Offensive). Việc thất thủ căn cứ Carroll của trung đoàn 56 thuộc sư đoàn 3 bộ binh. Các đơn vị Việt Nam tan hàng ở mặt trận miền bắc Quảng Trị. Sư đoàn 3 rời bỏ Cổ thành. Các lữ đoàn thủy quân lục chiến lui binh trên các phòng tuyến từ Gio Linh đến sông Thạch Hãn. Câu chuyện phá cầu Ðông Hà, rút bỏ thị xã, và sau cùng là hình ảnh cộng sản tàn sát dân chúng di tản trên quốc lộ số 1 ở đoạn đường sau này được gọi là Ðại lộ kinh hoàng. Tác phẩm mới nhất của Richard Botkin vừa phát hành với tựa đề Ride The Thunder (Cưỡi lưng sấm xét) viết về chuyện phá cây cầu Ðông Hà thành công để kịp thời chặn đường tiến quân của cộng sản.
Rồi đến một ngày đáng ghi nhớ của lữ đoàn 369 là buổi trưa 5/5/72 trung tướng Ngô quang Trưởng thăm phòng tuyến sông Mỹ Chánh. Lúc đó tại đây là ranh giới hành quân cuối cùng của miền Nam. Bên kia Mỹ Chánh là toàn thể tỉnh Quảng Trị trong tay địch. Vị tân tư lệnh vùng 1 hỏi ông lữ đoàn trưởng đang ở ải địa đầu : “Mình giữ được không, Chung ?.” “Mình giữ được, trung tướng.” Ông Phạm văn Chung trả lời.
Sau hơn 1 tháng, với sức mạnh quân số tương đương 8 sư đoàn gồm cả bộ binh, thiết giáp, phòng không, pháo binh, đặc công và địa phương, Bắc quân chiếm đóng hoàn toàn Quảng Trị. Trận 72 nằm trong chiến dịch được cộng sản đặt tên là Nguyễn Huệ. Ðịch khích lệ bộ đội bằng khẩu hiệu: “ Khí thế hơn Mậu Thân, ra quân như Nguyễn Huệ”.
Tư lệnh Bắc quân tại mặt trận miền Trung là tướng Lê Trọng Tấn.
Trong chiến trận 72, nếu lữ đoàn 369 TQLC không giữ được phòng tuyến sông Mỹ Chánh thì chắc chắn mặt trận Thừa thiên, Huế sẽ tan vỡ.

Tài liệu của Hà Nội ghi lại, giai đoạn đầu dự trù sẽ đánh thẳng từ Bến Hải đến đèo Hải Vân. Cũng trong tài liệu này, cộng sản công nhận đánh đến Mỹ Chánh họ đã hoàn toàn mất sức. Hà Nội chuẩn bị một năm, và đã thành công giai đoạn đầu.
Phần hai của chiến dịch Quảng Trị từ tháng 5-72 cho đến giữa tháng 9-72 là giai đoạn Việt Nam Cộng Hòa phản công. Phía địch bắt đầu trì hoãn chiến và sau cùng rút vào phòng ngự Cổ thành Ðinh công Tráng. Trung tướng Ngô quang Trưởng tân tư lệnh vùng I được xử dụng quân số tương đương với 4 sư đoàn gồm tổng trừ bị, bộ binh, thiết giáp, pháo binh, không quân, hải quân để phản công. Công cuộc chuẩn bị, tái trang bị và bổ sung phải hoàn tất trong trung tuần tháng 6-72. Từ bên Pháp, hội nghị đàm phán Paris ngóng chờ tin chiến sự từng ngày. Sau cùng, ngày 28 tháng 6-1972 từ phòng tuyến Mỹ Chánh, binh sĩ miền Nam vượt sông bắc tiến. Nhẩy dù phía cận sơn, Thủy quân lục chiến bên duyên hải. Bên dù có lữ đoàn II của Trần quốc Lịch với 5 tiểu đoàn tác chiến đi trong đội hình của sư đoàn mũ đỏ gồm cả lữ đoàn I và III. Bên TQLC có lữ đoàn 258 của Ngô văn Ðịnh với 5 tiểu đoàn tác chiến đi trong đội hình của sư đoàn mũ xanh gồm cả lữ đoàn 369 và 147. Bên nào cũng có pháo binh và thiết giáp yểm trợ. Với 18 cây số tiến về thị xã Quảng trị. Chưa bao giờ có cuộc tấn công quy mô diện địa lớn lao như thế với 2 sư đoàn tổng trừ bị cùng tiến vào mục tiêu cổ thành nhỏ bé nhưng mỗi cây số là một trận thương vong đẫm máu

Ðứng từ phòng tuyến Mỹ Chánh vào cuối tháng 4-72, với khói lửa mù mịt chân trời, đại tá Phạm văn Chung quan sát trận pháo kích dữ dội của cộng sản trên quốc lộ làm con đường chạy giặc trở thành đại lộ kinh hoàng. Bây giờ đầu tháng 7-72 đến lượt đại tá Trần quốc Lịch tiến quân trên con đường đau thương đó, còn đầy những xác người, phần lớn là thường dân, đàn bà trẻ con. Khi đến ngoại ô thị xã, cả hai cánh quân Dù và TQLC song song đã dẹp hết mọi ổ kháng cự. Sư đoàn Dù được lệnh quay ngang ra hướng biển để đánh vào châu thành. Một đơn vị đã lọt vào Cổ thành nhưng rồi lại bị đánh bật ra. Ngày 27-7-1972, sư đoàn TQLC được lệnh thay thế sư đoàn nhảy dù đánh vào cổ thành Ðinh công Tráng. Trận đánh kéo dài 48 ngày và tính chất kinh hoàng của trận dứt điểm đã được đại tá Ngô văn Ðịnh tổng kết với 3.500 thủy quân lục chiến hy sinh và hàng chục ngàn bị thương.

Phía bên địch tổng kết thương vong của toàn thể chiến dịch mùa hè 72 trên 100 ngàn bộ đội và riêng tại hỏa tuyến trong năm 1972 địch chết lên đến 30 ngàn quân.
Tài liệu của cộng sản qua cuốn chiến sử tựa đề “Nghệ thuật toàn thắng” phổ biến năm 2005 đa ờghi lại các mốc thời gian như sau:
Giai đoạn tiến công từ 30 tháng 3-72 đến 27 tháng 6-72.
Giai đoạn phòng ngự từ 1 tháng 9-72 đến 31 tháng 1-73.

Riêng thời gian cuộc chiến ác liệt nhất, chiến sử cộng sản xác định từ ngày 28 tháng 6-72 đến 30 tháng 8-72 là thời kỳ ngăn chặn kéo dài 2 tháng. Tiếp theo là giai đoạn 16 ngày phòng ngự cuối cùng trong tuyệt vọng tại cổ thành từ 1 đến 16 tháng 9-72. Ðịch cũng ghi nhận ngày 13 tháng 9-72, tiểu đoàn 6 của lữ đoàn 258 lọt vào khu đông nam, tiếạp theo tiểu đoàn 3 của lữ đoàn 147 lọt vào phía đông bắc. Cùng thời gian này cộng sản đưa thêm tiểu đoàn 8 địa phương vào tăng cường và bắt đầu đưa thêm trung đoàn 18 vượt sông vào ngày cuối nhưng không thành công vì quân Sài Gòn đã chiếm đóng hoàn toàn trận địa.

Một nhà thơ của miền Bắc đã từng viết ra những lời than thở là hàng hàng lớp lớp người đi, sao chẳng có ai trở lại.
Thơ rằng:

2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30.

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
.....
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
(Che Lan Vien)
Và đây là một trích đoạn của nhà thơ khác:

Thôi thì chinh chiến không ai muốn
Vẫn phải sôi gan giặc đến nhà
Vận trời- máu chỉ loang chừng ấy
Rừng đào linh hiển vẫn ra hoa
Ðá núi nghìn năm nằm thở khói
Lau trắng nghìn năm lau trắng thêm
Cớ gì sông núi hao gầy mãi
Ai nhớ và ai đang muốn quên?


Bây giờ, gần 40 năm sau, vẫn còn ở hai bên chiến tuyến, hai bên bờ Thái bình Dương, hỏi rằng ai đã quên, ai còn nhớ: Quảng Trị?
Với những nét sơ lược về trận Quảng Trị, chúng tôi xin mời quý vị chờ đón phim “Từ đại lộ kinh hoàng đến chiến thắng Quảng trị “ sẽ được thực hiện nay mai sau đợt phim “Chân dung người lính Việt Nam Cộng Hòa” đã phát hành.
Trận Quảng trị chắc chắn không phải chỉ có 3 vị chỉ huy lữ đoàn xuất thân khóa Cương Quyết Ðà Lạt 1954 mà còn hàng trăm ngàn quân dân chính miền Nam đã góp phần xương máu.
Việc đưa ra 3 chiến hữu của một thời huynh đệ 55 năm trước chỉ đơn thuần có tính cách biểu tượng đặc thù.
Ðể tô điểm thêm về tài liệu và nêu cao tính cách nhân bản của bộ phim, xin quý vị nếu có hình ảnh và các tin tức về trận Quảng Trị vui lòng cung cấp cho chúng tôi. Ai là người đã tham dự trận đánh vào cổ thành, ngày nay còn sống trên đất tự do. Ai là người đã đi qua đại lộ kinh hoàng giữa cơn bão lửa. Ai là người ký giả đã đặt tên cho con đường đau thương đó. Nhạc sĩ nào sáng tác ra bản cờ bay bất hủ dành cho ngày dựng cờ 16 tháng 9-72 trên cổ thành Quảng Trị.
Xin liên lạc về văn phòng IRCC, Inc.địa chỉ : 1445 Koll Circle, #110
San Jose, CA. 95112. Ðiện thoại : ( 408 )3929923

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Tưởng niệm

Khóa 69A có gần 200 người, từ ngày ra trường phục vụ trên 4 vùng chiến thuật. Họ đã cùng bao thanh niên thời chiến góp phần xương máu cho quê hương...

40 Năm đã đi qua theo vận nước thăng trầm, những người SVSQ/Khóa 69A còn sống, một phần bị lưu đày ngay trên Quê Hương, một phần lưu đày biệt xứ. 40 năm tất cả đều phai mờ, theo định luật của thời gian. Những người Khóa 69A ngày xưa, nay tóc cũng đã nhuốm bụi, phai màu. Nhưng với quê hương Việt Nam, với những người chiến hữu đã nằm xuống, chuyện như mới ngày hôm qua, đêm đêm trong tâm tư vẫn còn nghe tiếng loa vang nơi quân trường, nhớ những trận chiến long trời, lở đất, bạn bè từng lớp lớp rụng rơi. Bốn mươi năm, ai còn ai mất, ai hạnh phúc, ai khổ đau.

Từ khắp nơi trên xứ Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu và Việt Nam tề tựu về dưới chân Tượng Ðài Việt Mỹ (Orange County).

Cùng nhau làm lễ tưởng niệm đến những người con yêu của dân tộc Việt đã hy sinh vì đại nghĩa.

Trong một buổi lễ tưởng niệm cho tất cả quân, dân, cán chính và đồng minh đã ngã xuống cho sự bình an của đất nước, cho tự do của VNCH yêu thương.

Ðúng 10 giờ 30 nghi lễ bắt đầu.

Cựu 69A- Vũ Ðức Lương - hùng dũng và uy nghi tiến đến bàn thờ Tổ Quốc và đọc lời tưởng niệm các chiến sĩ VNCH và đồng minh đã hy sinh:


Họ là những anh hùng không tên tuổi, không được ghi trong sử sách, tuy bảng gỗ bia đá chẳng đề tên.

Nhưng máu họ đã thắm vào lòng đất.

Những người chiến sĩ vô danh khi hy sinh thân xác,

Không thân nhân,

Không bạn bè tiễn đưa,

Nguyện cầu hồn thiêng sông núi xin hãy bảo bọc và an ủi họ.


Sau đó Khóa 69A và gia đình khoảng trên 100 người tiến vào địa điểm hành lễ.

Các anh mặc quân phục Ðại Lễ và phi hành đứng hai bên dàn chào cho các quan khách.

Sự hiện diện của các sĩ quan cao trong Quân Chủng Không Quân như Ðại Tá Huỳnh Văn Hiến, Nguyên KÐT/KÐ 53 CT/SÐ 5 KQ, Trung Tá Trương Văn Vinh Cựu PÐT-213 (1970-1971) Cựu Không Ðoàn Phó KÐ 51/CT (1972-1973) Nguyên Trưởng Khối ÐTTT/BTLKQ (Ðặc trách Trực Thăng/Bộ Tư Lệnh Không Quân), Các chiến hữu Phi Ðoàn 821- Tinh Long, KQ Nguyễn Thanh Tòng, Ðại Diện Phi Ðoàn 524 Thiên Lôi, KQ Ðinh Văn Tơ, Ðại Diện Phi Ðoàn 249 Mãnh Long, KQ Phạm Hữu Lộc Ðại Diện Cựu SVSQ/KQ Khóa 69B, KQ Phú, Ðại Diện Cựu SVSQ/KQ Khóa 4/69 SVSQKQ và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù cùng các cựu học sinh trung học Tân An, các chiến hữu, Thân hữu và các phu nhân của Khóa 69A.

Nghi Lễ Chào Quốc Quân Kỳ và Quân Kỳ Rũ được đặt dưới sự chủ tọa bởi Ðại Tá Nguyễn Hồng Tuyền, cựu Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn Khóa Sinh/TTHLKQ, Cựu Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Yểm Cứ, Không Ðoàn 84 Chiến Thuật, Nguyên là Căn Cứ Trưởng Căn Cứ 60 Chiến Thuật - Phù Cát.

Theo đúng truyền thống của Quân Chủng Không Quân “Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè” một danh sách 36 Không Quân thuộc khóa 69A đã được viết làm hai cột trên bảng Tưởng Niệm Vị Quốc Vong Thân đặt giữa hai cây nến lung linh, với hoa quả và một lư hương.


Khói hương nghi ngút.

Lúc bấy giờ:

Trên dãy Trường Sơn núi non trùng điệp

Trong lòng rừng thẳm vắng lặng âm u

Bên bờ kinh lạch đìu hiu lau sậy

Giữa cánh đồng xanh gió lộng tứ bề

Phút chốc:

Những đứa con yêu Tổ Quốc

Những chiến binh một đời kiêu dũng

Những phi công trẻ của Khóa 69 A

Ðã trở nên người thiên cổ

Gánh sơn hà hai vai mang nặng

Sao nửa đường gãy cánh từ đây

Mộng làm trai Nam Bắc Ðông Tây

Chưa thỏa chí đã ngàn thu ôm hận

Lòng đất mẹ ngủ vùi thân bách chiến

Núi sông cha thắm đượm máu kiêu hùng

Ðã đành:

Trai thời loạn sá gì thân huyết nhục

Nguyện một lòng đi trả nợ núi sông

Nhưng lúc:

Bầy quỷ dữ vẫn còn chưa quét sạch

Cõi san hà còn động cuộc đao binh

Thì:

Chốn tuyền đài làm sao yên nghỉ được

Cõi dương gian đồng đội thương nhớ quay cuồng

lại còn:

Người thân kẻ thuộc

Ơn cù lao dưỡng dục

Tình huynh đệ nghĩa vợ chồng

Bao tình cảm sao nỡ dứt cho đành.

Hôm nay

giữa đất khách, quê người lưu lạc

Những tâm hồn bạt gió muôn phương

Ðã tụ về đây

Trước:

Quốc kỳ tỏa rợn hồn thiêng sông núi

Quân kỳ thắm đẫm máu xương đồng đội

Với:

Ngọn lửa thiêng xanh ngời niềm chính khí

Hỡi anh hồn liệt vị

Hỡi khí hùng Khóa 69 A

Ðã từng tung cánh đại bàng rợp bóng trời Nam

Giương vuốt mãnh hổ xông pha đất Bắc

Ðã vào Bình Long

Ðã đến An Lộc

Cổ thành cờ bay kiêu dũng

Thành nội trăm họ reo vui

Khắp nẻo chiến trường từ Nam Quan đến mũi Cà Mau

Hãy linh thiêng hiển hiện về đây chứng giám

Cho:

Tâm thành của chiến binh nước Việt

Tâm thành của toàn Khóa 69A

Vọng nén hương lòng tưởng niệm

Chiến sĩ trận vong

Anh hùng nước Việt, vị quốc vong thân


Sau phần Tưởng Niệm Khóa 69A và các đơn vị lần lượt đặt tràng hoa thương tiếc.

Kế đến KQ Trần Văn Phong, Trưởng Khóa 69A đã đọc:

“Cuộc chiến đã qua đi hơn 34 năm nhưng những câu chuyện về các anh hùng tử sĩ của QLVNCH vẫn bất diệt trong tâm khảm của hàng chục triệu người dân VN.

Ðể Tưởng Niệm anh hùng Tử Sĩ đã hy sinh vì lý tưởng tự do. Chúng tôi Cựu SVSQ KQ Khóa 69A mượn nơi đây để truy điệu các anh linh của các anh hùng tử sĩ đã ngã xuống tại chiến trường cho sự bình an của đất nước cho tự do của VNCH yêu thương.

Những người con yêu của dân tộc Việt đã hy sinh vì đại nghĩa trong cuộc chiến VN.

Ðã dành trọn tuổi trẻ và dũng khí của người trai trong thời binh lửa cho công cuộc bảo vệ tổ quốc với tất cả danh dự và trách nhiệm.

Và tại nơi an nghĩ ngàn thu đã có những anh hùng tử sĩ đã từng tham dự những cuộc hành quân đã đi vào chiến sử. Những chiến công của người lính VNCH mãi mãi sáng ngời trong sử sách, rạng rỡ đến ngàn thu, những trang chiến sử được viết bằng dũng cảm và bằng máu thịt của những người chiến binh anh hùng.

Những phi công can trường và dũng cảm trận mạc. Những người con thân yêu của Tổ Quốc với một lòng Bảo Quốc Trấn Không đã xứng đáng là những Phượng Hoàng của Không trung, những đường bay sấm sét, những lằn đạn chính xác, những quả bom kinh hoàng nổ tung vào đầu địch đã làm cho bao người sinh Bắc phải tử Nam.

Các chiến sĩ KQ hào hùng đã xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Ngăn chận làn sóng đỏ. Quyết tâm không nhường một tất đất, tất sông.

Trong suốt cuộc chiến đầy cam go và máu lửa. Cuộc chiến đã qua đi nhưng những câu chuyện về anh hùng những vì sao khói lửa vẫn rạng ngời trong chiến sự VNCH.

Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các chiến sĩ oai hùng của Quân Lực VNCH đã đổ bao xương máu bảo vệ ngọn cờ Vàng chính nghĩa.

Xin dâng lên bó hương để tưởng nhớ những tất cả các anh đã vĩnh viễn ở lại với chiến trường đã hy sinh dũng liệt cho tự do dân tộc, cho sự an bình của đồng bào và cho Danh Dự của Quân Lực VNCH.

Xin dâng lên nén hương lòng tưởng niệm đến với các bạn 69A. Hình ảnh vĩnh hằng của các bạn sẽ mãi mãi và mãi mãi trong trái tim của tất cả anh em SVSQ KQ Khóa 69A.”

Lần lượt là diễn văn của các hội đoàn tham dự.

Ðã tham dự nhiều buổi họp mặt, nhưng tôi chưa thấy lần nào mà được tổ chức quy mô như vậy.

Sáng Thứ Bảy ở Tượng Ðài Chiến Sĩ lúc Rước Quốc quân kỳ, tiếng hô của Sĩ Quan Nghi lễ vang vang làm ai cũng nhớ những buổi chào cờ, hay cơ bản thao diễn ở TTHL Nha Trang ngày trước. Buổi lễ rất long trọng, có cả đài truyền hình đến quay phim và một toán LLÐB áo quần ngụy trang với xe jeep quân sự tham gia.

Nếu so sánh với Ngày Quân Lực 21/6/09 quả là một hy sinh rất cảm động của các Không Quân khóa 69A. Số Không Quân mặc quân phục phi hành và đại lễ mầu trắng cũng rất đông và nhiều hơn cả những Không Quân trong ngày Quân Lực.

Buổi Lễ Tưởng Niệm chấm dứt lúc 12 giờ trưa và anh em hẹn gặp nhau trong buổi tiệc họp mặt tại nhà hàng Emerald Bay. Ðúng 7 giờ tối hơn 350 Không Quân và thân hữu từ nhiều tiểu bang xa Vancouver, Toronto (Canada); Florida, Texas, Virginia v.v... Úc Châu, và Việt Nam cùng với Không Quân địa phương đã có một ngày vui với buổi tiệc và văn nghệ cây nhà lá vườn thật đặc sắc mang chủ đề Tìm Về Bên Nhau.

Lính Già KQ

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những Người Trai Oai Hùng Đã Tàn Nhưng Không Phế
“Sau ngày 30 tháng 4, 1975 gia đình tôi sống khổ sở vì không có công ăn việc làm. Chúng tôi trở nên những kẻ nghèo đói trong xã hội mới. Chúng tôi đành phải sống tạm trong khu nghĩa địa, hằng ngày tôi lê đi bán vé số nuôi mấy đứa con dại. Sống giữa đám mồ mã ẩm thấp, hai vợ chồng bị mắc bịnh lao. Con nhỏ đau ốm èo uột.

Vừa rồi đứa con nhỏ 6 tuổi do suy dinh dưỡng bị lao màng bụng, viêm bàng quang với thận rỉ máu phải đi điều trị ở bịnh viện nhi đồng. Thế là bao nhiêu vật dụng trong gia đình phải đem đi bán để lo cho nó. Nhưng vì không đủ tiền cho nên vợ tôi phải ôm con trốn về. Chưa được bao lâu bệnh tình của nó trở nên nguy kịch cho nên lại phải đưa vào bệnh viện cấp cứu ở trung tâm lao Phạm Ngọc Thạch. Nhưng không còn kịp nữa.

Cháu đã qua đời. Nửa đêm đem xác con về nhưng chúng tôi kiệt quệ không có tiền mua đất mướn người để chôn cho cháu. Người hàng xóm thương tình cho ván đóng hòm rồi lén lút chôn cháu ở ven hông vườn nhà. Bây giờ tôi không còn đủ sức để đi bán dạo nữa. Đành phó mặc số phận cho vợ con. Vợ tôi cũng mang bịnh như tôi nhưng bà cũng phải dắt con đi bán vé số để kiếm sống cho gia đình. Bây giờ chỉ biết cầm cự được ngày nào hay ngày đó”.
Image Đó là tình hình bi đát của gia đình thương phế binh Nguyễn Văn Hổ, hiện cư ngụ tại huyện Châu Thành, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Trước 75, anh phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Trong một cuộc hành quân nhằm giải vây cho một đơn vị bạn đang bị bao vây ở mật khu Tống Lê Chân anh bị thương, bị trúng đạn vào đầu. Tuy may mắn không chết nhưng anh bị liệt nửa thân người. Ngày 30/1/75 anh được giải ngũ vĩnh viễn với mức độ tàn phế 90% nhưng chưa kịp được hưởng trợ cấp thương binh của chính phủ Sài Gòn thì nước mất và nhà anh tan.

Một trường hợp khác là TPB Đào Ngọc Khanh trước thuộc tiểu đoàn 8 TQLC. Anh bị thương ngày 31/3/73 tại tiền đồn Quảng Trị. Anh bị bắt làm tù binh và bị đưa đi tù ở miền Bắc. Được trả về sau ngày 30/3/75 với một chân trái còn lại, trôi nổi theo cuộc sống với những nghề thấp hèn nhất của xã hội là bán nhang và bán vé số.

Trong số những hoàn cảnh đau xót nhất xảy ra sau ngày 30 tháng Tư 1975 tại Sài Gòn là các TPB của quân lực VNCH bị đuổi ra khỏi bệnh viện Cộng Hòa dù cho những vết thương chiến tranh của họ vẫn đang còn rỉ máu. Từng đoàn thương binh, nối gót dắt dìu ra cổng. Người sáng mắt dẫn đường kẻ mù loà, người bị thương nhẹ cõng người bị thương nặng. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi, nước mắt quanh tròng những nạn nhân bị bỏ rơi, không thượng cấp, không đồng đội và cũng không còn hậu phương. Một số sau đó chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị.

Trong đoàn người bất hạnh đó có TPB Nguyễn Đơn. Anh trước là thiếu uý Trung Đội trưởng Địa Phương Quân, bị thương ngày 2/4/1975 tại chi khu Tam Bình. Anh bị cụt 2 chân trên đầu gối và mức độ tàn phế là 100%. Anh may mắn được sống còn nhưng hiện đang sống thiếu thốn, sống khốn khổ và sống trong một hoàn cảnh khắc nghiệt cùng cha mẹ già đã hơn 80 tuổi và đứa em gái 45 tuổi bị bịnh câm điếc bẩm sinh.

Đó là ba trường hợp thương tâm trong hàng trăm ngàn "mảnh đời rách nát" còn lại ở VN mà tôi biết được qua hội Tình Thương Foundation. Thương Phế Binh QLVNCH, các anh là ai? Trường hợp thứ nhất, TPB Nguyễn Văn Hổ sanh năm 1955. Trường hợp thứ hai, TPB Đào Ngọc Khanh sanh năm 1953 và trường hợp thứ ba TPB Nguyễn Đơn sanh năm 1954. Có nghĩa là lúc các anh bị thương và lúc nước mất nhà tan các anh chỉ đang ở độ tuổi đôi mươi. Các anh là những thanh niên lớn lên trong giai đoạn lịch sử nghiệt ngã, oan khiêng đang bị họa Cộng Sản xâm lược âm mưu thôn tính toàn vẹn lãnh thổ nên các anh đã phải lên đường thi hành bổn phận người trai thời chiến. Các anh chiến đấu vì lý tưởng, các anh chiến đấu để gìn giữ từng tấc đất của thôn xóm, của quê hương.

Các anh là những người thanh niên tuổi trẻ tạm gác bút nghiêng, rời sân trường để bước vào quân trường cho tới khi các anh thề một lòng Vị Quốc Vong Thân. Khoác lên mình bộ đồ trận, mang lên lưng mình ba lô hành quân nặng nề nặng tình quê hương và đội lên đầu mình chiếc nón sắc xanh tròn, xanh như tuổi xanh của các anh và căng tròn như tấm lòng sắc son của các anh đối với dân tộc. Các anh đã trở thành người lính thực thụ. Các anh trưởng thành cùng với vận nước. Các anh bước đi tay bồng súng và chân mang giày trận làm kinh kha đi chống giặc giữ quê hương. Các anh đã đi qua và dẫm nát những địa danh như Kontum, Pleime, Ashau, Ia-Drang, ... Anh đã dự những trận chiến oai hùng từ Đồng Xoài, Ấp Bắc, Bình Giã đến Tống Lê Chân, Bình Long, An Lộc để giữ cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại, để giữ cho người dân được sống no ấm ở hậu phương.

Nhưng lịch sử đã sang trang tháng 4 năm 75. Hình tượng người lính VNCH bị giật đỗ rơi xuống vỡ tan trên đường phố, nhưng từ đó các anh anh thực sự đứng lên oai hùng trong trái tim người dân miền Nam. Từ ngày Sàigòn bị cưỡng chiếm và từ khi những bộ đội CS chập chững, ngỡ ngàng và ngốc nghếch bước chân vào thành phố người dân mới thật sự hiểu được giá trị của người lính quốc gia. Hai mươi năm chiến tranh với hàng trăm ngàn sinh mạng người lính cùng vài trăm ngàn thương binh đã để lại những phần thân thể của họ trên những chiến trường khốc liệt của miền Nam.

Những giờ phút cuối cùng, dầu biết nước sắp mất, chết chỉ uổng mạng nhưng họ vẫn hiên ngang chiến đấu ở những cứ điểm cuối cùng của miền Nam từ Khánh Dương, Phan Rang, Phan Thiết, Xuân Lộc, Long An, Tây Ninh, Củ Chi , Biên Hòa đến Sài Gòn. Tất cả là những chiến tích để đời và lưu danh thiên cổ trong dòng sử Việt. Ba mươi bốn năm qua rồi, chúng ta đã làm gì để tri ân người lính VNCH? Chúng ta, những người tỵ nạn tầm gửi, đã từng sống nhờ trên máu xương của người lính miền Nam.

Ba mươi bốn năm qua rồi, đã đến lúc chúng ta phải vinh danh người lính VNCH. Những ai còn sống sót tới ngày hôm nay, phải nhỏ một giọt nước mắt, dù muộn màng để cảm ơn họ. Chúng ta hãnh diện vì có được những anh hùng làm rạng danh nước Việt. Họ đáng được ca tụng và kính phục. Họ đã nằm xuống vì quê hương dân tộc. Họ đã để lại một phần thân thể hay cả thân xác trên quê hương vì chính nghĩa quốc gia tự do. Ngày nay, vẫn còn nhiều thương phế binh lê lết phần thân thể còn lại của mình trên khắp các nẻo đường đất nước. Nhìn thấy những hình hài không nguyên vẹn ấy, có phút giây nào chúng ta nghĩ tới và tự hỏi “Họ là ai” hay không?

Họ là những người lính tàn phế sau cuộc chiến nay phải sống những cuộc đời cơ cực, lang thang bên lề cuộc đời, rách nát và bơ vơ như một người xa lạ. Họ là những người lính oai hùng trong thời chiến và nay là người tù, người tàn phế trong thời bình. Họ “tàn nhưng không phế”. Những TPB bị bỏ lại sau cuộc chiến chẳng những bị bỏ rơi trong bệnh tật và nghèo đói cùng cực, không được giúp đỡ, mà trái lại họ còn bị bạo quyền CS hất hủi, trù dập, chà đạp lên danh dự và xua đuổi ra khỏi những sinh hoạt xã hội bình thường. Họ bị lưu đày trên chính quê hương họ.

Người CS đẩy họ xuống đáy trầm luân. Có ai trong chúng ta, có người chưa từng đóng góp gì cho chính nghĩa quốc gia, cảm thấy thẹn với mình khi đã đôi lần tỏ ra hãnh diện vì mình nói tiếng Anh lưu loát hơn họ, nhà to cửa rông, xe đẹp và con cái thành tài hơn họ? Có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh một bữa tiệc đắt tiền ở một nhà hàng danh tiếng, hy sinh một hai tấm vé vào cửa của một đại nhạc hội tưng bừng, hy sinh một buổi tiệc vui chơi cùng bè bạn, một buổi tiệc dạ vũ để bỏ tiền ra đóng góp một cách thiết thực hầu xoa dịu phần nào nỗi đau khổ và nhọc nhằn của người TPB bất hạnh?

Chúng ta người Việt hải ngoại là những người được may mắn hơn họ, được sống trong tự do và sung túc. Chúng ta đã mất nước, chúng ta đã mất cả nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Chúng ta đã mất mát nhiều thứ, gần như tất cả, nhưng những người thương binh như các anh còn mất mát nhiều hơn nữa, các anh đã mất một phần thân thể, mất tuổi trẻ, mất tình yêu và cả tình người. Trong cuộc đời này không có điều gì cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được sống. Vậy mà các anh đã hy sinh. Sự hy sinh của các anh là sự hy sinh chính đáng, cao quý và đáng kính trọng.

Chúng ta nên có ý thức trách nhiệm giúp đỡ những người TPB và gia đình của họ, bởi chính họ đã một thời vì lý tưởng Tự Do, vì chính nghĩa Quốc Gia và vì sự an bình của quê hương mà chiến đấu và hy sinh. Chúng ta không những không nên làm ngơ mà trái lại phải biết tri ân và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải được hưởng từ lâu. Chúng ta hãy đem lại cho những người Thương Phế Binh VNCH ở quê nhà một niềm tin, để họ biết rằng bên kia bờ đại dương, những bạn đồng ngũ, đồng bào và cả thế hệ sinh sau, đẻ muộn, vẫn luôn luôn nghĩ đến thân phận cùng sự hy sinh cao cả của họ. Chúng ta có bổn phận đóng góp một cách thiết thực hầu xoa dịu phần nào nỗi đau khổ và nhọc nhằn của người Thương Phế Binh VNCH bất hạnh.

Trần Việt Trình
10 tháng 8 năm 2009

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Góc chiến trường xưa: Những người vợ lính thời lửa binh

LTS: Trang CCB/NV nhận được bài viết này gửi đến nhưng tác giả lại không ghi tên nên rất mong tác giả khi đọc trang CCB kỳ này hãy liên lạc với email nghuy9@yahoo.com để bổ khuyết trong số báo tới.


Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của Cộng Sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường. Ðó là ‘Những người vợ lính’, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.

Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh đồng lầy. Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.


Chị Phạm Thị Thàng, nữ anh thư đất Gò Công


Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.

Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.

Ðêm 2 Tháng Mười 1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt Cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính Cộng. Ðây là một lực lượng chính qui Việt Cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng Cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những người “giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của Cộng Sản nữa không.

Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình. Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật Cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, Cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.

Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi. Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.

Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.

Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch. Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt Cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:

- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.

Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt Cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:

- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.

Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng. Nước mắt anh rơi lã chã trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nổ giòn giã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng: “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nổ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.

Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2 Tháng Mười 1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:

- Hãy bắn lên đầu chúng tôi! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt Cộng đông lắm. Bắn đi... bắn...

Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu giẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lỗ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ giòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì Thượng Úy Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.

Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân Cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt Cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này. Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên Cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt Cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính Cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt Cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30 Tháng Tư 1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh Cộng Sản trên đường phố.

Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Việt Cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt, quân Cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt Cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt Cộng nhào vào, chị rút chốt. Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngổn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.

Anh Hùng ẵm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẻo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lỗ nào là thảy lựu đạn vô cái lỗ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.

Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. “Người chị cao cả Phạm Thị Thàng”. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống Cộng Sản quốc tế và Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Hội H.O. cứu trợ thương phế binh và quả phụ VNCH bỏ phiếu:
Bà Hạnh Nhơn tiếp tục trọng trách hội trưởng

Sunday, August 16, 2009

Image

Bà Hạnh Nhơn xúc động cảm tạ mọi người đã tín nhiệm và hứa “Sức còn đến đâu quyết làm đến đó cùng anh chị em.” (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Nguyên huy/Người Việt
WESTMINSTER - Trong một cuộc bầu cử bằng phiếu kín của 16 anh chị em trong hội H.O. cứu trợ thương phế binh và quả phụ VNCH, bà Hạnh Nhơn tiếp tục được Hội Ðồng Quản Trị của hội tái tín nhiệm chức vị hội trưởng của hội.

Cuộc bỏ phiếu được tổ chức vào sáng Chủ Nhật, 16 Tháng Tám, 2009, tại trụ sở của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California.

Với ba ứng cử viên được đề cử là bà Thanh Thủy, ông Nguyễn Phán và bà Hạnh Nhơn, bà Hạnh Nhơn được tín nhiệm với 14/16 phiếu của Hội Ðồng Quản Trị Hội H.O. cứu trợ TPB và quả phụ VNCH.

Sau cuộc bầu cử, hội H.O. đã lại mời tất cả thân hữu đến tham dự trở lại với hội để lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng cho hội. Thân hữu là các hội trưởng các hội cựu quân nhân, đại diện của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại, tất cả bày tỏ lòng chân thành cảm ơn bà Hạnh Nhơn mà anh chị em cựu quân nhân đều đã coi như người chị cả trong tập thể những người lính cũ. Trong bao năm qua, theo lời những người tham dự, “Chị Hạnh Nhơn đã không nề hà công sức và tiền bạc của mình lăn vào công việc giúp cho thương phế binh và quả phụ VNCH ở bên nhà dù chị năm nay đã 83 tuổi.”

Chủ tịch Liên Hội Cựu chiến sĩ Nam California, Phan Tấn Ngưu phát biểu trong dịp này, rằng, “Trước khi có cuộc bầu cử này, chúng tôi có nhận được tin rằng chị Hạnh Nhơn xin anh em trong hội cử cho người khác thay thế vì chị đã lớn tuổi và quá mệt mỏi với công việc này nhiều năm qua. Chúng tôi thật lấy làm lo lắng vì sự rút lui của chị có thể làm đổ vỡ đến công việc cứu trợ TPB và quả phụ VNCH đang tiến triển được tốt đẹp. Chúng tôi, liên hội với hội H.O. cứu trợ TPB và quả phụ như anh em trong nhà từ bao lâu nay, nên công việc của hội H.O. cứu trợ cũng là công việc của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam Cali như từ trước đến nay.”

Cựu Không Quân Nguyễn Văn Ức, chủ tịch Hội Ðồng Giám Sát của Tập thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại cũng cho biết, “Tập thể đã nhiều lần tổ chức những buổi gây quĩ trong nội bộ cho anh em thương phế binh VNCH và đã từng sát cánh với chị Hạnh Nhơn và hội H.O. cứu trợ. Hình ảnh của chị Hạnh Nhơn là một hình ảnh làm cho ai cũng vui lòng và không nề hà đóng góp công sức cùng chị dù chị chưa yêu cầu. Chúng tôi sẽ tường trình kết quả tốt đẹp này với Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh và tập thể chiến sĩ VNCH hải ngoại.”

Nói với Người Việt, chị Hạnh Nhơn không giấu được xúc động, rằng “Muốn nghỉ quá, nhưng trước những tha thiết của anh chị em trong tập thể quân đội mình, tôi không thể phụ lòng mọi người. Thôi thì sức còn đến đâu thì cố gắng đến đó. Mong chúng ta cùng góp tay nhau xoa dịu được phần nào nỗi đau, mất mát của những người đồng ngũ của chúng ta.”

Số hồ sơ mà hội nhận được cho đến nay hơn 16 ngàn, hầu hết đã được giải quyết, chỉ còn độ vài ba ngàn ở những vùng xa xôi hẻo lánh là chưa liên lạc kịp.

Luật Sư Nguyễn Tôn Nguyên, cố vấn pháp luật của hội cho Người Việt biết, “Văn phòng kế toán trong văn phòng luật sư của chúng tôi lo giúp cho hội việc chi tiêu của hội. Mọi chi tiết đều rất minh bạch, quí vị có thể đến văn phòng chúng tôi nếu có điều gì cần tìm hiểu.” (N.H.)

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San Jose bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
Ðến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt.
Người lính già Việt Nam
Như con thú hoang lạc loài
Trên freeway nhộn nhịp
Một tiếng rên thảng thốt chảy trong mưa
Một chiếc lá cuốn đi theo cơn gió cuối mùa
Một tiếng nấc rã rời trong đêm vắng.

Vợ anh đâu?
Sao không về đây vuốt mắt
Con anh đâu?
Sao không đến vấn khăn tang
Anh ra đi như anh đến
Rất vội vàng
Chẳng còn ai trên đời để khóc.

Nhân loại văn minh có nhiều cách sống
Nhưng đồng bào tôi có những kiểu chết rất lạ đời
Người vợ mang thai
Ôm lấy chồng cùng nhảy xuống biển khơi
Ðể khỏi phải rơi vào tay giặc Thái
Cho sóng biển Ðông nghìn năm còn ru mãi
Một bài ca chung thủy vọng về Nam
Ðể mỗi sớm chiều khi thủy triều dâng
Tổ quốc sẽ được bồi thêm
Bằng máu anh thịt chị.

Có những bà mẹ nửa đêm thức dậy
Ði bán máu mình mua gạo nuôi con
Ðường về chưa tới đầu thôn
Bà gục chết không kịp nhìn mặt con lần cuối
Ðứa con út cũng chết dần trong cơn đói
Miệng còn thì thào hai tiếng “Mẹ ơi !”
Những giọt máu tươi đã giết chết hai người
Sẽ đọng lại trong nghìn trang lịch sử
Cho nước sông Hồng bao giờ cũng đỏ
Như màu máu Mẹ Việt Nam.

Ðêm qua thêm một đứa con
Vừa mới chết trên đường phố San Jose nhộn nhịp
Anh không chết ở Hạ Lào, Bình Long, Cửa Việt
Anh không chết ở Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn
Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn
Trên mộ bia anh thêm một dòng chữ Mỹ

Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
Và chết cũng nhầm nơi
Ðêm nay bên kia bờ trái đất xa xôi
Quê hương anh vẫn còn chìm trong lửa đỏ.

Tôi gởi anh đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
Chúng ta, hai chiếc lá chung cành
Bay phơ phất trước từng cơn bão tố
Ngủ đi anh bình yên nơi chín suối
Ðau thương nầy em sẽ viết thay anh.

Trần Trung Ðạo

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Cảm khái

Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ
Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu
Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ
Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?

Trong ví ta này một thẻ căn cước
Hình chụp ngây ngô rất mực cù lần
Da xám ngoét như bị đời nhúng nước
Má hóp vào như cả tháng không ăn

Mười tám tuổi thành công dân nước Việt
Tên chụp hình làm ta xấu như ma
Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết
Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà!

Hai mươi tuổi ta đi làm chiến sĩ
Bước giày đinh lạng quạng một đời trai
Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý
Nhưng thằng này yêu nước chẳng thua ai...

Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu
Tên chụp hình như một lão tiên tri
Triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác
Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly

Nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ
Chợt nhớ câu thơ: “Gẫy cánh Đại Bàng...”
Ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ
Muôn anh hùng phút chốc hóa lang thang

Quanh mình xôn xao chuyện thay Quốc tịch
Ngậm ngùi bày dăm giấy cũ coi chơi
Thời cũ ố vàng, rách rời mấy mảnh
Xót xa đau như mình bỗng qua đời.

Hỡi kẻ trong hình mặt xanh, mày xám
Ngươi sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư
Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ

Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Ôi trong trí những anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ


Cao Tần

Image
Image

Post Reply