Bình Luận Thời Sự
Tôn giáo chính trị hóa: Vì chính trị muốn kiểm soát tôn giáo
Ngô Nhân Dụng
Ở một nước bình thường khi người dân bị cướp đất thì họ phải làm gì? Họ đưa đơn kiện ra trước tòa cho pháp luật khu xử. Bình thường, những người bị cướp đất không họp nhau lại để ngồi thiền hay dâng lễ và cầu nguyện.
Ở Việt Nam, dân giáo xứ Thái Hà đã thắp nến cầu nguyện khi muốn đòi lại đất đai của Nhà Chung bị chính quyền chiếm giao cho người khác khai thác. Tín hữu Công Giáo khắp nơi đã cầu nguyện để đòi cho giáo dân Tam Tòa được quyền dựng Thánh Giá lại trên khu đất nhà thờ cũ. Bởi vì ở Việt Nam người dân không được phép sống bình thường. Các tăng ni trẻ ở tu viện Bát Nhã ngồi xuống niệm Phật và thiền định khi bị đuổi ra khỏi những ngôi nhà mà chính vì có mặt họ nên đồng bào Phật tử khắp thế giới mới góp công góp của tạo mãi đất rồi xây dựng lên các tu viện, thiền đường. Cũng bởi vì ở Việt Nam người dân không được phép sống bình thường. Mươi ngày nữa, gần 400 tăng ni này sẽ bị công an đến bắt từng người rời khỏi các thiền đường trở về quê quán, mà sau đó họ có thể bị cấm không được đi tu chung một chỗ nữa. Họ sẽ tiếp tục thiền định và cầu nguyện cho một ngày dân Việt Nam được sống cuộc đời bình thường. Và sẽ đến lúc mọi người Việt Nam tỉnh ra, thấy mình đang sống thiếu tự do.
Người ta phản ứng trước những hành động đàn áp, bất công bằng cách cầu nguyện thay vì đi thưa kiện; vì ở nước Việt Nam người dân thường không tin nơi tòa án và luật lệ. Không thể đi kiện vì biết trước thế nào tòa án cũng đứng về phe kẻ mạnh, những kẻ có tiền và có quyền. Nhất là khi những kẻ chiếm đoạt đất đai và cấm đoán tu hành ở nơi mình cư trú chính là nhà nước Cộng Sản với bộ máy cán bộ tôn giáo của họ. Vì thế, các tín hữu Công Giáo và các tăng ni Phật Giáo chỉ còn một cách phản ứng là dùng niềm tin thiêng liêng của họ để đối phó với bạo lực. Sinh hoạt tôn giáo đã biến thành hành động chính trị. Chính vì guồng máy cai trị đã can thiệp vào đời sống tôn giáo.
Các đảng Cộng Sản xưa nay đều can thiệp vào tôn giáo, vì từ đầu thế kỷ 20 chủ nghĩa Cộng Sản đã được Lenin, Stalin biến thành một thứ tín ngưỡng thế tục với tham vọng thay thế các tôn giáo. Trong cuốn lịch sử triết học Tây phương của ông, Bertrand Russell (một người không có thiện cảm với các tôn giáo) đã mô tả Ðệ Tam Quốc Tế như một tổ chức giáo hội, với tòa thánh (Ðiện Kremlin), với giáo điều (chủ nghĩa Marx-Lenin), các vị thánh để thờ (Marx, Engels, sau này thêm những Kim Nhật Thành, Lê Văn Tám,...), một giáo chủ (Stalin) và hàng giáo sĩ thừa sai (cán bộ cộng sản), họ cũng hứa hẹn một thiên đường (tiến tới chủ nghĩa xã hội), và đe dọa tín đồ bằng những ác quỷ và địa ngục (thế giới tư bản). Niềm tin thế tục cộng sản đã sụp đổ trước bức tường Berlin, vì lý do, như Ernest Gellner mô tả, “Khi các đồng chí cốt cán (nomenklaura) không đem nhau ra xử bắn nữa mà bắt đầu đút tiền mua chuộc nhau, thì niềm tin biến mất.”
Khi tín ngưỡng cộng sản sụp đổ hàng loạt ở Nga và Ðông Âu, không một “tín đồ” nào thấy tiếc rẻ, trừ ở những xứ mà họ còn cố đấm ăn xôi được, như ở Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn. Nhưng dù còn bám được quyền lực, họ không những đã mất niềm tin mà còn mang trong lòng một mối hận vì mặc cảm đối thua kém mọi tôn giáo khác. Vì vậy, họ tiếp tục duy trì những xiềng xích đã trói buộc các tôn giáo khác, những định chế, luật lệ do ông Stalin dựng lên vẫn còn được giữ lại. Ðồng bào Công Giáo ở Thái Hà, ở Tam Tòa, các tăng ni ở tu viện Bát Nhã là nạn nhân của guồng máy cai quản đó.
Ông Trương Hải Cường trong Trung Tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo thuộc Ðại Học Hà Nội mới giải thích những xung đột giữa nhà nước cộng sản và giáo dân Thái Hà, Tam Tòa bằng hai nguyên nhân. Ông gọi tên là những “di sản của lịch sử và hệ lụy tâm lý, mặc cảm.” Nguyên nhân lịch sử nào? Ðó chính là sự kiện đảng Cộng Sản cướp được chính quyền ở nước ta. Và hệ lụy tâm lý nào? Ðó chính là do tham vọng của đảng Cộng Sản muốn thay thế các tôn giáo bằng một niềm tin thế tục của họ, nhưng hoàn toàn thất bại.
Một di sản của lịch sử là cơ quan nhà nước mang tên “Ban Tôn Giáo Chính phủ.” Khi Hòa Thượng Nhất Hạnh gặp ông Nguyễn Minh Triết năm trước, đưa đề nghị giải tán Ban Tôn Giáo Chính Phủ, nhà sư đã giải thích rằng trên thế giới không có chính phủ nào can thiệp vào các sinh hoạt tôn giáo như vậy. Tại sao nhà nước phải có một bộ phận quản lý các tôn giáo, nếu không phải vì đảng cầm quyền muốn kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội công dân?
Mà gần đây họ can thiệp một cách lộ liễu, qua một văn thư ra lệnh cho Giáo Hội Phật giáo Việt Nam phải đuổi gần 400 vị tăng ni ra khỏi tu viện Bát Nhã. Giáo hội này do đảng Cộng Sản lập ra để kiểm soát từ trên xuống dưới. Gần đây họ đã ra lệnh cách chức Thầy Lê Mạnh Thát không cho làm viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Vạn Hạnh. Ông Lê Mạnh Thát đã phải cởi áo nhà tu dù ông vẫn tiếp tục giữ thanh quy, giới luật của một tỳ kheo, chỉ mong được yên ổn làm công việc nghiên cứu lịch sử Phật Giáo và lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhưng ông vẫn không được đảng Cộng Sản cho ngồi yên làm việc.
Ðến việc ra lệnh cho giáo hội Phật Giáo giải tán tăng đoàn ở Bát Nhã thì sự can thiệp của Ban Tôn Giáo Chính Phủ là một hành động sỉ nhục cho cả ban lãnh đạo của giáo hội đó. Hành động này sẽ để lại một vết nhơ trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.
Tại sao một cơ quan thuộc chính phủ lại có quyền ra lệnh cho một tổ chức giáo hội làm những việc trong phạm vi thuần túy sinh hoạt tôn gió của họ? Ðó chính là một thứ “di sản lịch sử” mà ông Trương Hải Cường không thể không biết: Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn giữ di sản của chế độ Stalin, coi đảng có quyền kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt động của người dân bị trị. Ðối với một đảng Cộng Sản, việc chiếm đất nhà thờ, đất nhà chùa không đủ chứng tỏ uy quyền của họ. Họ còn muốn kiểm soát việc tuyển sinh của các nhà dòng, các tu viện, kiểm soát việc cho các linh mục nào được thụ phong, và kiểm soát cả những pháp môn mà người theo đạo Phật được tu học.
Văn thư của Ban Tôn Giáo Chính Phủ gửi giáo hội Phật Giáo Việt Nam không những là một mệnh lệnh bảo những người lãnh đạo giáo hội này phải giải tán các tăng ni ở Bát Nhã, ấn định ngày giờ rõ rệt, mà còn lên mặt dạy dỗ giáo hội này rằng pháp môn tu tập của tăng ni Bát Nhã là “bất hợp pháp” nữa!
Trong đạo Phật, hay trong bất cứ tôn giáo nào, thế nào là một pháp môn bất hợp pháp? Chỉ có những người lãnh đạo các tôn giáo đó có quyền phán xét một đường lối tu trì là có phù hợp với giáo lý của mình hay không. Mà trong đạo Phật, với “tám vạn bốn ngàn” pháp môn, và mỗi thời đại đều mở ra những cánh cửa mới phù hợp với căn cơ của chúng sinh đang sống. Một dòng tu Công Giáo, Tin Lành, hay một pháp môn Phật Giáo chỉ có thể gọi là “bất hợp pháp” nếu theo pháp môn đó sẽ làm những hành động vi phạm luật pháp thế tục đang thi hành. Các tăng ni Bát Nhã có bị “đuổi nhà” vì luật hộ khẩu lỗi thời tước đoạt quyền công dân và quyền làm người, nhưng cũng không ai có quyền lên án họ đang theo một pháp môn “bất hợp pháp” được! Nhất là lời phê phán đó lại phát xuất từ một cái ban lập ra để cai quản các tôn giáo mà không biết, không hiểu gì về tôn giáo cả!
Ban Tôn Giáo Chính Phủ Hà Nội có quyền bắt buộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phải giải tán một dòng tu hay không? Nếu có những nữ tu Công Giáo chỉ sống khổ hạnh, lo việc cầu kinh và làm việc từ thiện, mà bị chính quyền ghét, thì họ có quyền phán là dòng tu đó “bất hợp pháp” rồi ra lệnh giải tán hay không? Liệu Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam có im lặng và răm rắp tuân lệnh hay không?
Ðây là một thử thách của những vị lãnh đạo giáo hội Phật Giáo Việt Nam, xem họ có răm rắp tuân lệnh của chính quyền hay không. Những người lãnh đạo giáo hội này, ở trung ương và ở tỉnh Lâm Ðồng, sẽ chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc và lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam chưa bao giờ có một chính quyền nào lại ra lệnh cho các chùa phải theo một pháp môn nào hoặc phải bác bỏ một pháp môn khác. Nếu chuyện này xảy ra trong thế kỷ 21 thì những người lãnh đạo các tự viện và các tổ chức Phật Giáo ở Việt Nam phải lên tiếng phản đối. Nếu không, họ có lỗi với các Phật tử và có lỗi với tất cả đồng bào có tín ngưỡng, vì đã đồng lõa với một chế độ muốn chính trị hóa cả các sinh hoạt tín ngưỡng để bảo vệ quyền hành độc tài tham nhũng.
Ngô Nhân Dụng
Ở một nước bình thường khi người dân bị cướp đất thì họ phải làm gì? Họ đưa đơn kiện ra trước tòa cho pháp luật khu xử. Bình thường, những người bị cướp đất không họp nhau lại để ngồi thiền hay dâng lễ và cầu nguyện.
Ở Việt Nam, dân giáo xứ Thái Hà đã thắp nến cầu nguyện khi muốn đòi lại đất đai của Nhà Chung bị chính quyền chiếm giao cho người khác khai thác. Tín hữu Công Giáo khắp nơi đã cầu nguyện để đòi cho giáo dân Tam Tòa được quyền dựng Thánh Giá lại trên khu đất nhà thờ cũ. Bởi vì ở Việt Nam người dân không được phép sống bình thường. Các tăng ni trẻ ở tu viện Bát Nhã ngồi xuống niệm Phật và thiền định khi bị đuổi ra khỏi những ngôi nhà mà chính vì có mặt họ nên đồng bào Phật tử khắp thế giới mới góp công góp của tạo mãi đất rồi xây dựng lên các tu viện, thiền đường. Cũng bởi vì ở Việt Nam người dân không được phép sống bình thường. Mươi ngày nữa, gần 400 tăng ni này sẽ bị công an đến bắt từng người rời khỏi các thiền đường trở về quê quán, mà sau đó họ có thể bị cấm không được đi tu chung một chỗ nữa. Họ sẽ tiếp tục thiền định và cầu nguyện cho một ngày dân Việt Nam được sống cuộc đời bình thường. Và sẽ đến lúc mọi người Việt Nam tỉnh ra, thấy mình đang sống thiếu tự do.
Người ta phản ứng trước những hành động đàn áp, bất công bằng cách cầu nguyện thay vì đi thưa kiện; vì ở nước Việt Nam người dân thường không tin nơi tòa án và luật lệ. Không thể đi kiện vì biết trước thế nào tòa án cũng đứng về phe kẻ mạnh, những kẻ có tiền và có quyền. Nhất là khi những kẻ chiếm đoạt đất đai và cấm đoán tu hành ở nơi mình cư trú chính là nhà nước Cộng Sản với bộ máy cán bộ tôn giáo của họ. Vì thế, các tín hữu Công Giáo và các tăng ni Phật Giáo chỉ còn một cách phản ứng là dùng niềm tin thiêng liêng của họ để đối phó với bạo lực. Sinh hoạt tôn giáo đã biến thành hành động chính trị. Chính vì guồng máy cai trị đã can thiệp vào đời sống tôn giáo.
Các đảng Cộng Sản xưa nay đều can thiệp vào tôn giáo, vì từ đầu thế kỷ 20 chủ nghĩa Cộng Sản đã được Lenin, Stalin biến thành một thứ tín ngưỡng thế tục với tham vọng thay thế các tôn giáo. Trong cuốn lịch sử triết học Tây phương của ông, Bertrand Russell (một người không có thiện cảm với các tôn giáo) đã mô tả Ðệ Tam Quốc Tế như một tổ chức giáo hội, với tòa thánh (Ðiện Kremlin), với giáo điều (chủ nghĩa Marx-Lenin), các vị thánh để thờ (Marx, Engels, sau này thêm những Kim Nhật Thành, Lê Văn Tám,...), một giáo chủ (Stalin) và hàng giáo sĩ thừa sai (cán bộ cộng sản), họ cũng hứa hẹn một thiên đường (tiến tới chủ nghĩa xã hội), và đe dọa tín đồ bằng những ác quỷ và địa ngục (thế giới tư bản). Niềm tin thế tục cộng sản đã sụp đổ trước bức tường Berlin, vì lý do, như Ernest Gellner mô tả, “Khi các đồng chí cốt cán (nomenklaura) không đem nhau ra xử bắn nữa mà bắt đầu đút tiền mua chuộc nhau, thì niềm tin biến mất.”
Khi tín ngưỡng cộng sản sụp đổ hàng loạt ở Nga và Ðông Âu, không một “tín đồ” nào thấy tiếc rẻ, trừ ở những xứ mà họ còn cố đấm ăn xôi được, như ở Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn. Nhưng dù còn bám được quyền lực, họ không những đã mất niềm tin mà còn mang trong lòng một mối hận vì mặc cảm đối thua kém mọi tôn giáo khác. Vì vậy, họ tiếp tục duy trì những xiềng xích đã trói buộc các tôn giáo khác, những định chế, luật lệ do ông Stalin dựng lên vẫn còn được giữ lại. Ðồng bào Công Giáo ở Thái Hà, ở Tam Tòa, các tăng ni ở tu viện Bát Nhã là nạn nhân của guồng máy cai quản đó.
Ông Trương Hải Cường trong Trung Tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo thuộc Ðại Học Hà Nội mới giải thích những xung đột giữa nhà nước cộng sản và giáo dân Thái Hà, Tam Tòa bằng hai nguyên nhân. Ông gọi tên là những “di sản của lịch sử và hệ lụy tâm lý, mặc cảm.” Nguyên nhân lịch sử nào? Ðó chính là sự kiện đảng Cộng Sản cướp được chính quyền ở nước ta. Và hệ lụy tâm lý nào? Ðó chính là do tham vọng của đảng Cộng Sản muốn thay thế các tôn giáo bằng một niềm tin thế tục của họ, nhưng hoàn toàn thất bại.
Một di sản của lịch sử là cơ quan nhà nước mang tên “Ban Tôn Giáo Chính phủ.” Khi Hòa Thượng Nhất Hạnh gặp ông Nguyễn Minh Triết năm trước, đưa đề nghị giải tán Ban Tôn Giáo Chính Phủ, nhà sư đã giải thích rằng trên thế giới không có chính phủ nào can thiệp vào các sinh hoạt tôn giáo như vậy. Tại sao nhà nước phải có một bộ phận quản lý các tôn giáo, nếu không phải vì đảng cầm quyền muốn kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội công dân?
Mà gần đây họ can thiệp một cách lộ liễu, qua một văn thư ra lệnh cho Giáo Hội Phật giáo Việt Nam phải đuổi gần 400 vị tăng ni ra khỏi tu viện Bát Nhã. Giáo hội này do đảng Cộng Sản lập ra để kiểm soát từ trên xuống dưới. Gần đây họ đã ra lệnh cách chức Thầy Lê Mạnh Thát không cho làm viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Vạn Hạnh. Ông Lê Mạnh Thát đã phải cởi áo nhà tu dù ông vẫn tiếp tục giữ thanh quy, giới luật của một tỳ kheo, chỉ mong được yên ổn làm công việc nghiên cứu lịch sử Phật Giáo và lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhưng ông vẫn không được đảng Cộng Sản cho ngồi yên làm việc.
Ðến việc ra lệnh cho giáo hội Phật Giáo giải tán tăng đoàn ở Bát Nhã thì sự can thiệp của Ban Tôn Giáo Chính Phủ là một hành động sỉ nhục cho cả ban lãnh đạo của giáo hội đó. Hành động này sẽ để lại một vết nhơ trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.
Tại sao một cơ quan thuộc chính phủ lại có quyền ra lệnh cho một tổ chức giáo hội làm những việc trong phạm vi thuần túy sinh hoạt tôn gió của họ? Ðó chính là một thứ “di sản lịch sử” mà ông Trương Hải Cường không thể không biết: Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn giữ di sản của chế độ Stalin, coi đảng có quyền kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt động của người dân bị trị. Ðối với một đảng Cộng Sản, việc chiếm đất nhà thờ, đất nhà chùa không đủ chứng tỏ uy quyền của họ. Họ còn muốn kiểm soát việc tuyển sinh của các nhà dòng, các tu viện, kiểm soát việc cho các linh mục nào được thụ phong, và kiểm soát cả những pháp môn mà người theo đạo Phật được tu học.
Văn thư của Ban Tôn Giáo Chính Phủ gửi giáo hội Phật Giáo Việt Nam không những là một mệnh lệnh bảo những người lãnh đạo giáo hội này phải giải tán các tăng ni ở Bát Nhã, ấn định ngày giờ rõ rệt, mà còn lên mặt dạy dỗ giáo hội này rằng pháp môn tu tập của tăng ni Bát Nhã là “bất hợp pháp” nữa!
Trong đạo Phật, hay trong bất cứ tôn giáo nào, thế nào là một pháp môn bất hợp pháp? Chỉ có những người lãnh đạo các tôn giáo đó có quyền phán xét một đường lối tu trì là có phù hợp với giáo lý của mình hay không. Mà trong đạo Phật, với “tám vạn bốn ngàn” pháp môn, và mỗi thời đại đều mở ra những cánh cửa mới phù hợp với căn cơ của chúng sinh đang sống. Một dòng tu Công Giáo, Tin Lành, hay một pháp môn Phật Giáo chỉ có thể gọi là “bất hợp pháp” nếu theo pháp môn đó sẽ làm những hành động vi phạm luật pháp thế tục đang thi hành. Các tăng ni Bát Nhã có bị “đuổi nhà” vì luật hộ khẩu lỗi thời tước đoạt quyền công dân và quyền làm người, nhưng cũng không ai có quyền lên án họ đang theo một pháp môn “bất hợp pháp” được! Nhất là lời phê phán đó lại phát xuất từ một cái ban lập ra để cai quản các tôn giáo mà không biết, không hiểu gì về tôn giáo cả!
Ban Tôn Giáo Chính Phủ Hà Nội có quyền bắt buộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phải giải tán một dòng tu hay không? Nếu có những nữ tu Công Giáo chỉ sống khổ hạnh, lo việc cầu kinh và làm việc từ thiện, mà bị chính quyền ghét, thì họ có quyền phán là dòng tu đó “bất hợp pháp” rồi ra lệnh giải tán hay không? Liệu Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam có im lặng và răm rắp tuân lệnh hay không?
Ðây là một thử thách của những vị lãnh đạo giáo hội Phật Giáo Việt Nam, xem họ có răm rắp tuân lệnh của chính quyền hay không. Những người lãnh đạo giáo hội này, ở trung ương và ở tỉnh Lâm Ðồng, sẽ chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc và lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam chưa bao giờ có một chính quyền nào lại ra lệnh cho các chùa phải theo một pháp môn nào hoặc phải bác bỏ một pháp môn khác. Nếu chuyện này xảy ra trong thế kỷ 21 thì những người lãnh đạo các tự viện và các tổ chức Phật Giáo ở Việt Nam phải lên tiếng phản đối. Nếu không, họ có lỗi với các Phật tử và có lỗi với tất cả đồng bào có tín ngưỡng, vì đã đồng lõa với một chế độ muốn chính trị hóa cả các sinh hoạt tín ngưỡng để bảo vệ quyền hành độc tài tham nhũng.
Cải tổ y tế trong mùa Hè nóng hổi!
Ngô Nhân Dụng
Một vị độc giả Người Việt mới viết thư đặt câu hỏi về chương trình cải tổ y tế đang được bàn luận sôi nổi ở Mỹ. Câu hỏi giản dị, “Chúng tôi cũng muốn biết thuế má tại sao có bên chống và bên ủng hộ?” Câu hỏi này quá phức tạp, cần được trình bày nhiều lần mới đủ.
Nhiều người Mỹ ủng hộ một kế hoạch cải tổ y tế vì thấy nó cần thiết để hệ thống y tế đạt hiệu năng cao hơn và giảm bớt tình trạng 46 triệu người không có bảo hiểm y tế. Một số người chống những kế hoạch đang được đem bàn, vì quyền lợi hoặc vì nguyên tắc; số người chống tăng lên bắt đầu từ những tháng mùa Hè, khi những chi tiết trong các kế hoạch cải tổ mà họ không đồng ý được đặt ra cho các đại biểu Quốc Hội. Cuộc tranh cãi ồn ào và gay go đáng gọi là một mùa Hè nóng hổi!
Những người chống gần đây gồm hai nhóm khác nhau và có lúc đối nghịch với nhau. Một bên là những người chống cải tổ, nhắm vào ý định lập chương trình bảo hiểm y tế công cộng do chính phủ phụ trách. Phần lớn nhóm này là những người có khuynh hướng bảo thủ, ở cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Bên kia có những người thuộc phe cấp tiến nhất trong đảng Dân Chủ, họ bắt đầu phản đối khi nghe tin Tòa Bạch Ốc có vẻ muốn bỏ qua chương trình y tế công cộng. Vì số người chống đối từ hai phía cộng lại cho nên số người Mỹ ủng hộ Tổng Thống Obama đã giảm xuống chỉ còn 57%, so với 69% vào Tháng Tư. Số người tin ông Obama sẽ quyết định con đường đúng cho quốc gia còn giảm hơn nữa, chỉ còn 49% so với 60% trước đây. Và số người Mỹ ủng hộ kế hoạch cải tổ y tế của ông Obama đã giảm xuống rõ rệt sau khi bị tấn công mạnh mẽ từ cả hai phía.
Cuộc thảo luận về cải tổ y tế đã bắt đầu từ mùa Xuân nhưng được hâm nóng lên trong mùa Hè này, càng ngày càng nóng hổi. Vì đây là một vấn đề rất phức tạp với nhiều chi tiết mà người dân bình thường không ai có thể nắm vững dễ dàng, cho nên có rất nhiều “tin thất thiệt” được thổi phồng lên để kích thích dư luận. Những tin đồn sai sự thật nói nhiều lần sẽ được nhiều người tin, cũng giống như bà mẹ Thầy Tăng Tử nghe người ta nói, “Tăng Sâm giết người” nhiều lần cũng tưởng thật. Hơn nữa, chiến thuật từ đầu của Tổng Thống Obama là đứng ngoài những cuộc tranh luận, phó mặc cho các đại biểu Quốc Hội bàn với nhau về chi tiết, vì ông Obama không muốn vấp ngã như ông bà Clinton trước đây; cho nên những người loan tin thất thiệt có cơ hội lấp vào chỗ trống với những chi tiết không đúng sự thật. Họ chiếm diễn đàn khi liên tục tấn công các đại biểu Quốc Hội trong những cuộc gặp gỡ cử tri. Mùa Hè hầu hết người Mỹ nghỉ ngơi, trong nước không có biến cố nào quan trọng; cho nên báo chí, ti vi ở Mỹ đua nhau loan báo và chiếu hình bất cứ “tin giật gân” nào, ai gây ồn ào nhất đều được lên đài truyền hình! Riêng bức hình bà Michelle Obama mặc quần cụt cũng được giới truyền thông Mỹ và thế giới chú ý đặc biệt, mặc dù trước đây đã có nhiều bức hình bà ăn mặc như vậy. Có đài ti vi đã mời các “chuyên gia” tới thảo luận xem việc bà tổng thống mặc quần cụt ra trước công chúng sẽ ảnh hưởng thế nào đến uy tín chính trị của ông chồng!
Phe chống đối kế hoạch cải tổ y tế đã huy động được những người chịu đi dự tất cả các cuộc tiếp xúc giữa cử tri và các đại biểu Quốc Hội, mỗi lần họ lập lại những câu hỏi tấn công kế hoạch cải tổ y tế như cũ, tạo một hình ảnh “cử tri phẫn nộ” lôi kéo dư luận về phía mình. Và dư luận đã bị ảnh hưởng rõ rệt khiến uy tín của ông Obama bị giảm sút rõ ràng. Một bản tin của hãng thông tấn AP đã vạch ra những điều “thất thiệt” trong số tin tức mà dư luận hiểu lầm về kế hoạch cải tổ y tế. Sau đây là những thí dụ mà AP nêu ra:
Có 45% dân Mỹ nghĩ rằng với kế hoạch cải tổ y tế, chính phủ Mỹ có quyền quyết định nên tiếp tục chữa bệnh cho những người già, hay là nên để cho họ chết đi - 50% không nghĩ như vậy.
Sự thật là không một dự luật nào ở Quốc Hội cho chính phủ Mỹ quyền quyết định đó. Chỉ có một dự luật tại Hạ Viện cho phép các cụ thuộc chương trình y tế cho người về hưu Medicare nếu muốn tham khảo ý kiến các bác sĩ về quyết định rút các dụng cụ trợ sinh hay không, về di chúc cho con cháu trong việc này, thì Medicare sẽ trả tiền cho những bác sĩ làm công việc tham khảo đó. Nếu các cụ không muốn hỏi ý kiến thì các bác sĩ không cho ý kiến, chính phủ khỏi phải trả tiền. Ngược lại, dự luật trên còn cấm không trả thù lao các bác sĩ làm cố vấn cho hành động tử tử hay giúp người bệnh tự tử. Nhưng lãnh tụ Cộng Hòa John Boehner ở Hạ Viện đã đe dọa rằng dự luật này có thể đưa tới con đường là chính phủ khuyến khích việc ngưng chữa bệnh để mặc cho người già chết đi (euthanasia). Ông Boehner chỉ nói “có thể;” nhưng phe chống đối biến ý kiến đó thành chắc chắn. Nhiều cử tri đã chất vấn đại biểu Quốc Hội về vấn đề này, coi như đó là một sự thật. Một dân biểu đã giải thích rằng không ai dám làm việc đó vì luật lệ ở nước Mỹ coi hành động euthanasia là phạm tội hình; nhưng đến một cuộc gặp gỡ cử tri sau, người đặt câu hỏi đó lại tới và hỏi lần nữa! Ðó là chiến thuật “Tăng Sâm giết người” được sử dụng lại.
Một ý kiến chống đối khác cũng nhấn mạnh vào mối lo của những người hưởng Medicare là các dịch vụ y tế của họ sẽ bị cắt. Trong các dự luật có tìm cách giảm chi phí y tế toàn quốc bằng cách cắt bớt các món chi tiêu trong Medicare, nhưng họ nhắm tới việc giảm tiền trả thù lao cho các bác sĩ và bệnh viện và tránh lạm dụng. Nhưng nhiều người già đã lo lắng, có 50,000 cụ già đã rút khỏi hội các người về hưu AARP, lập ra một hội mới chống cải tổ y tế. Nhưng hội AARP, với 40 triệu hội viên trong nước Mỹ, vẫn ủng hộ kế hoạch cải tổ y tế. Hội AARP cho biết năm 2003 cũng có 70,000 hội viên rút ra khi hội này ủng hộ kế hoạch của Tổng Thống Gorges W. Bush để chính phủ trả tiền thuốc cho người hưởng Medicare.
Một tin thất thiệt khác cũng được nhiều người (55%) tin, nói rằng luật cải tổ y tế sẽ cung cấp dịch vụ y tế cho những di dân bất hợp pháp. Nhiều người (50%) cũng nghe rồi tin rằng luật cải tổ y tế sẽ lấy công quỹ trả tiền cho những vụ phá thai. Sự thật là không một dự luật nào ở Quốc Hội chủ trương chữa trị cho các di dân bất hợp pháp. Và không một dự luật nào cho phép dùng công quỹ do người dân đóng thuế vào việc phá thai, mà phải lấy tiền từ phần đóng góp của người tham dự chương trình bảo hiểm y tế công cộng hay bảo hiểm tư. Hiện nay luật lệ ở Mỹ đã cấm không được lấy công quỹ trả tiền phá thai, Tổng Thống Obama mới nhắc lại rằng ông nhất quyết giữ nguyên các luật lệ đó.
Những tin thất thiệt sẽ được nhiều người gạt bỏ sau khi họ biết sự thật, nhưng thế nào cũng còn nhiều người vẫn ghi nhớ mãi mãi vì họ từ chối nghe những lời cải chính. Vì ở nước Mỹ hay nước nào cũng vậy, có những người không muốn thay đổi ý kiến. Từ năm 2002 đã có một phần ba các người theo đảng Dân Chủ tin rằng chính phủ Gorges W. Bush đã biết trước vụ tấn công ngày 11 Tháng Chín, năm 2001 mà không ngăn, để lấy cớ tấn công Iraq sau này. Dù có những người bất chấp sự thật như vậy, nhưng năm 2004 ông Bush vẫn được tái cử vẻ vang. Tương tự như vậy, có một phần ba người theo đảng Cộng Hòa tin rằng Tổng Thống Obama không sinh trong nước Mỹ, tức là đáng lẽ không được phép ứng cử tổng thống! Ông Rush Limbaugh, một nhà bình luận bảo thủ trên radio đã nói từ đầu rằng ông ước mong tất cả mọi kế hoạch của ông Obama sẽ thất bại. Mỗi ngày có vài chục triệu người vẫn lắng nghe say sưa các ý kiến của ông, vì họ được nghe đúng những lời họ muốn nghe.
Cuộc thảo luận nào trong một quốc gia cũng có những người đi quá sự thật khi muốn bảo vệ lập trường của mình. Có người sẽ “cho lương tâm đi nghỉ hè” để dùng tới các thủ đoạn xuyên tạc. Ðó là điều không thể tránh được trong một xã hội tự do! Nhưng cuối cùng những người ôn hòa và trung dung sẽ đóng vai trò quyết định qua những cuộc bầu cử.
Có những sự thật phải được nhấn mạnh, là hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ hiện nay không có hiệu năng (chi quá nhiều và kết quả không khá hơn các nước tiên tiến khác). Ngoài ra có 46 triệu người không có bảo hiểm y tế, chính họ cũng góp phần làm cho hệ thống tốn kém hơn.
Chi phí về y tế chiếm 16% tổng sản lượng nội địa (GDP) ở Mỹ, trong đó 8% do các chương trình của chính phủ có sẵn, như Medicare và Medicaid (ở California gọi là MediCal). Tại các nước tiên tiến thuộc nhóm OECD tổng số chi phí chỉ chiếm gần 9% GDP, phần lớn qua các chương trình y tế công cộng. Theo bảng thống kê của OECD “Health Data 2009” thì trong năm 2007 nước Mỹ chi 7,300 đô la về y tế cho mỗi đầu người. Những nước giầu nhất trong nhóm OECD chỉ chi tiêu trung bình 3,000 đô la. Những người Mỹ có tiền mua loại bảo hiểm y tế “thượng hảo hạng” được hưởng các dịch vụ tối tân đắt tiền nhất, các công ty dược phẩm và viện nghiên cứu ở Mỹ tìm ra những phương pháp chữa trị mới giỏi nhất. Nhưng đa số người Mỹ không được hưởng những dịch vụ đắt tiền này khi công ty bảo hiểm của họ từ chối.
Kết quả của một hệ thống bảo hiểm y tế tốt hay không có thể được đo lường bằng vài chỉ số trong toàn quốc, thí dụ tuổi thọ trung bình (life expectancy) và số trẻ sơ sinh chết yểu (infant mortality). Theo bảng sắp hạng của cơ quan Tình Báo Trung Ương (CIA) cho năm 2009 thì tuổi thọ trung bình của dân Mỹ là 78.67 năm đứng hàng thứ 50 trong số hơn 200 nước. Tại Nhật Bản là 82 tuổi, tại Úc là hơn 81 tuổi (thứ 7), Canada cũng vậy (thứ
, tại Ðức là hơn 79 tuổi (thứ 32), Anh Quốc cũng hơn 79 tuổi (thứ 36). Tuổi thọ trung bình ở Việt Nam được CIA ước tính là 71.
Tỷ lệ trẻ em yểu tử tại Mỹ là 6.26 trong số 1,000 trẻ ra đời, tại các nước tiên tiến khác đều thấp hơn. Tại Nhật Bản là 2.79, ở Pháp là 3.33, Ðức là 4, Anh Quốc là 4.85, Canada là 5. Tệ nhất là ở Angola cứ 1,000 trẻ ra đời có 180 em chết yểu, Việt Nam có gần 23 em, đứng hàng thứ 128 trong số 224 quốc gia.
Tại sao một nước giầu mạnh nhất như nước Mỹ, chi tiêu về y tế nhiều gấp đôi các nước giầu khác nhưng kết quả lại thấp hơn?
Ðó là câu hỏi mà các kế hoạch cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế phải tìm cách giải quyết. Nước Mỹ không thể trì hoãn việc thay đổi hệ thống bảo hiểm y tế, dù quốc hội có chấp nhận chương trình bảo hiểm công cộng của Tổng Thống Obama hay không.
Ngô Nhân Dụng
Một vị độc giả Người Việt mới viết thư đặt câu hỏi về chương trình cải tổ y tế đang được bàn luận sôi nổi ở Mỹ. Câu hỏi giản dị, “Chúng tôi cũng muốn biết thuế má tại sao có bên chống và bên ủng hộ?” Câu hỏi này quá phức tạp, cần được trình bày nhiều lần mới đủ.
Nhiều người Mỹ ủng hộ một kế hoạch cải tổ y tế vì thấy nó cần thiết để hệ thống y tế đạt hiệu năng cao hơn và giảm bớt tình trạng 46 triệu người không có bảo hiểm y tế. Một số người chống những kế hoạch đang được đem bàn, vì quyền lợi hoặc vì nguyên tắc; số người chống tăng lên bắt đầu từ những tháng mùa Hè, khi những chi tiết trong các kế hoạch cải tổ mà họ không đồng ý được đặt ra cho các đại biểu Quốc Hội. Cuộc tranh cãi ồn ào và gay go đáng gọi là một mùa Hè nóng hổi!
Những người chống gần đây gồm hai nhóm khác nhau và có lúc đối nghịch với nhau. Một bên là những người chống cải tổ, nhắm vào ý định lập chương trình bảo hiểm y tế công cộng do chính phủ phụ trách. Phần lớn nhóm này là những người có khuynh hướng bảo thủ, ở cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Bên kia có những người thuộc phe cấp tiến nhất trong đảng Dân Chủ, họ bắt đầu phản đối khi nghe tin Tòa Bạch Ốc có vẻ muốn bỏ qua chương trình y tế công cộng. Vì số người chống đối từ hai phía cộng lại cho nên số người Mỹ ủng hộ Tổng Thống Obama đã giảm xuống chỉ còn 57%, so với 69% vào Tháng Tư. Số người tin ông Obama sẽ quyết định con đường đúng cho quốc gia còn giảm hơn nữa, chỉ còn 49% so với 60% trước đây. Và số người Mỹ ủng hộ kế hoạch cải tổ y tế của ông Obama đã giảm xuống rõ rệt sau khi bị tấn công mạnh mẽ từ cả hai phía.
Cuộc thảo luận về cải tổ y tế đã bắt đầu từ mùa Xuân nhưng được hâm nóng lên trong mùa Hè này, càng ngày càng nóng hổi. Vì đây là một vấn đề rất phức tạp với nhiều chi tiết mà người dân bình thường không ai có thể nắm vững dễ dàng, cho nên có rất nhiều “tin thất thiệt” được thổi phồng lên để kích thích dư luận. Những tin đồn sai sự thật nói nhiều lần sẽ được nhiều người tin, cũng giống như bà mẹ Thầy Tăng Tử nghe người ta nói, “Tăng Sâm giết người” nhiều lần cũng tưởng thật. Hơn nữa, chiến thuật từ đầu của Tổng Thống Obama là đứng ngoài những cuộc tranh luận, phó mặc cho các đại biểu Quốc Hội bàn với nhau về chi tiết, vì ông Obama không muốn vấp ngã như ông bà Clinton trước đây; cho nên những người loan tin thất thiệt có cơ hội lấp vào chỗ trống với những chi tiết không đúng sự thật. Họ chiếm diễn đàn khi liên tục tấn công các đại biểu Quốc Hội trong những cuộc gặp gỡ cử tri. Mùa Hè hầu hết người Mỹ nghỉ ngơi, trong nước không có biến cố nào quan trọng; cho nên báo chí, ti vi ở Mỹ đua nhau loan báo và chiếu hình bất cứ “tin giật gân” nào, ai gây ồn ào nhất đều được lên đài truyền hình! Riêng bức hình bà Michelle Obama mặc quần cụt cũng được giới truyền thông Mỹ và thế giới chú ý đặc biệt, mặc dù trước đây đã có nhiều bức hình bà ăn mặc như vậy. Có đài ti vi đã mời các “chuyên gia” tới thảo luận xem việc bà tổng thống mặc quần cụt ra trước công chúng sẽ ảnh hưởng thế nào đến uy tín chính trị của ông chồng!
Phe chống đối kế hoạch cải tổ y tế đã huy động được những người chịu đi dự tất cả các cuộc tiếp xúc giữa cử tri và các đại biểu Quốc Hội, mỗi lần họ lập lại những câu hỏi tấn công kế hoạch cải tổ y tế như cũ, tạo một hình ảnh “cử tri phẫn nộ” lôi kéo dư luận về phía mình. Và dư luận đã bị ảnh hưởng rõ rệt khiến uy tín của ông Obama bị giảm sút rõ ràng. Một bản tin của hãng thông tấn AP đã vạch ra những điều “thất thiệt” trong số tin tức mà dư luận hiểu lầm về kế hoạch cải tổ y tế. Sau đây là những thí dụ mà AP nêu ra:
Có 45% dân Mỹ nghĩ rằng với kế hoạch cải tổ y tế, chính phủ Mỹ có quyền quyết định nên tiếp tục chữa bệnh cho những người già, hay là nên để cho họ chết đi - 50% không nghĩ như vậy.
Sự thật là không một dự luật nào ở Quốc Hội cho chính phủ Mỹ quyền quyết định đó. Chỉ có một dự luật tại Hạ Viện cho phép các cụ thuộc chương trình y tế cho người về hưu Medicare nếu muốn tham khảo ý kiến các bác sĩ về quyết định rút các dụng cụ trợ sinh hay không, về di chúc cho con cháu trong việc này, thì Medicare sẽ trả tiền cho những bác sĩ làm công việc tham khảo đó. Nếu các cụ không muốn hỏi ý kiến thì các bác sĩ không cho ý kiến, chính phủ khỏi phải trả tiền. Ngược lại, dự luật trên còn cấm không trả thù lao các bác sĩ làm cố vấn cho hành động tử tử hay giúp người bệnh tự tử. Nhưng lãnh tụ Cộng Hòa John Boehner ở Hạ Viện đã đe dọa rằng dự luật này có thể đưa tới con đường là chính phủ khuyến khích việc ngưng chữa bệnh để mặc cho người già chết đi (euthanasia). Ông Boehner chỉ nói “có thể;” nhưng phe chống đối biến ý kiến đó thành chắc chắn. Nhiều cử tri đã chất vấn đại biểu Quốc Hội về vấn đề này, coi như đó là một sự thật. Một dân biểu đã giải thích rằng không ai dám làm việc đó vì luật lệ ở nước Mỹ coi hành động euthanasia là phạm tội hình; nhưng đến một cuộc gặp gỡ cử tri sau, người đặt câu hỏi đó lại tới và hỏi lần nữa! Ðó là chiến thuật “Tăng Sâm giết người” được sử dụng lại.
Một ý kiến chống đối khác cũng nhấn mạnh vào mối lo của những người hưởng Medicare là các dịch vụ y tế của họ sẽ bị cắt. Trong các dự luật có tìm cách giảm chi phí y tế toàn quốc bằng cách cắt bớt các món chi tiêu trong Medicare, nhưng họ nhắm tới việc giảm tiền trả thù lao cho các bác sĩ và bệnh viện và tránh lạm dụng. Nhưng nhiều người già đã lo lắng, có 50,000 cụ già đã rút khỏi hội các người về hưu AARP, lập ra một hội mới chống cải tổ y tế. Nhưng hội AARP, với 40 triệu hội viên trong nước Mỹ, vẫn ủng hộ kế hoạch cải tổ y tế. Hội AARP cho biết năm 2003 cũng có 70,000 hội viên rút ra khi hội này ủng hộ kế hoạch của Tổng Thống Gorges W. Bush để chính phủ trả tiền thuốc cho người hưởng Medicare.
Một tin thất thiệt khác cũng được nhiều người (55%) tin, nói rằng luật cải tổ y tế sẽ cung cấp dịch vụ y tế cho những di dân bất hợp pháp. Nhiều người (50%) cũng nghe rồi tin rằng luật cải tổ y tế sẽ lấy công quỹ trả tiền cho những vụ phá thai. Sự thật là không một dự luật nào ở Quốc Hội chủ trương chữa trị cho các di dân bất hợp pháp. Và không một dự luật nào cho phép dùng công quỹ do người dân đóng thuế vào việc phá thai, mà phải lấy tiền từ phần đóng góp của người tham dự chương trình bảo hiểm y tế công cộng hay bảo hiểm tư. Hiện nay luật lệ ở Mỹ đã cấm không được lấy công quỹ trả tiền phá thai, Tổng Thống Obama mới nhắc lại rằng ông nhất quyết giữ nguyên các luật lệ đó.
Những tin thất thiệt sẽ được nhiều người gạt bỏ sau khi họ biết sự thật, nhưng thế nào cũng còn nhiều người vẫn ghi nhớ mãi mãi vì họ từ chối nghe những lời cải chính. Vì ở nước Mỹ hay nước nào cũng vậy, có những người không muốn thay đổi ý kiến. Từ năm 2002 đã có một phần ba các người theo đảng Dân Chủ tin rằng chính phủ Gorges W. Bush đã biết trước vụ tấn công ngày 11 Tháng Chín, năm 2001 mà không ngăn, để lấy cớ tấn công Iraq sau này. Dù có những người bất chấp sự thật như vậy, nhưng năm 2004 ông Bush vẫn được tái cử vẻ vang. Tương tự như vậy, có một phần ba người theo đảng Cộng Hòa tin rằng Tổng Thống Obama không sinh trong nước Mỹ, tức là đáng lẽ không được phép ứng cử tổng thống! Ông Rush Limbaugh, một nhà bình luận bảo thủ trên radio đã nói từ đầu rằng ông ước mong tất cả mọi kế hoạch của ông Obama sẽ thất bại. Mỗi ngày có vài chục triệu người vẫn lắng nghe say sưa các ý kiến của ông, vì họ được nghe đúng những lời họ muốn nghe.
Cuộc thảo luận nào trong một quốc gia cũng có những người đi quá sự thật khi muốn bảo vệ lập trường của mình. Có người sẽ “cho lương tâm đi nghỉ hè” để dùng tới các thủ đoạn xuyên tạc. Ðó là điều không thể tránh được trong một xã hội tự do! Nhưng cuối cùng những người ôn hòa và trung dung sẽ đóng vai trò quyết định qua những cuộc bầu cử.
Có những sự thật phải được nhấn mạnh, là hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ hiện nay không có hiệu năng (chi quá nhiều và kết quả không khá hơn các nước tiên tiến khác). Ngoài ra có 46 triệu người không có bảo hiểm y tế, chính họ cũng góp phần làm cho hệ thống tốn kém hơn.
Chi phí về y tế chiếm 16% tổng sản lượng nội địa (GDP) ở Mỹ, trong đó 8% do các chương trình của chính phủ có sẵn, như Medicare và Medicaid (ở California gọi là MediCal). Tại các nước tiên tiến thuộc nhóm OECD tổng số chi phí chỉ chiếm gần 9% GDP, phần lớn qua các chương trình y tế công cộng. Theo bảng thống kê của OECD “Health Data 2009” thì trong năm 2007 nước Mỹ chi 7,300 đô la về y tế cho mỗi đầu người. Những nước giầu nhất trong nhóm OECD chỉ chi tiêu trung bình 3,000 đô la. Những người Mỹ có tiền mua loại bảo hiểm y tế “thượng hảo hạng” được hưởng các dịch vụ tối tân đắt tiền nhất, các công ty dược phẩm và viện nghiên cứu ở Mỹ tìm ra những phương pháp chữa trị mới giỏi nhất. Nhưng đa số người Mỹ không được hưởng những dịch vụ đắt tiền này khi công ty bảo hiểm của họ từ chối.
Kết quả của một hệ thống bảo hiểm y tế tốt hay không có thể được đo lường bằng vài chỉ số trong toàn quốc, thí dụ tuổi thọ trung bình (life expectancy) và số trẻ sơ sinh chết yểu (infant mortality). Theo bảng sắp hạng của cơ quan Tình Báo Trung Ương (CIA) cho năm 2009 thì tuổi thọ trung bình của dân Mỹ là 78.67 năm đứng hàng thứ 50 trong số hơn 200 nước. Tại Nhật Bản là 82 tuổi, tại Úc là hơn 81 tuổi (thứ 7), Canada cũng vậy (thứ
Tỷ lệ trẻ em yểu tử tại Mỹ là 6.26 trong số 1,000 trẻ ra đời, tại các nước tiên tiến khác đều thấp hơn. Tại Nhật Bản là 2.79, ở Pháp là 3.33, Ðức là 4, Anh Quốc là 4.85, Canada là 5. Tệ nhất là ở Angola cứ 1,000 trẻ ra đời có 180 em chết yểu, Việt Nam có gần 23 em, đứng hàng thứ 128 trong số 224 quốc gia.
Tại sao một nước giầu mạnh nhất như nước Mỹ, chi tiêu về y tế nhiều gấp đôi các nước giầu khác nhưng kết quả lại thấp hơn?
Ðó là câu hỏi mà các kế hoạch cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế phải tìm cách giải quyết. Nước Mỹ không thể trì hoãn việc thay đổi hệ thống bảo hiểm y tế, dù quốc hội có chấp nhận chương trình bảo hiểm công cộng của Tổng Thống Obama hay không.
Lời Chúc Mừng Của Một Thường Dân
“Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Phương Nga làm người phát ngôn mới của cơ quan này, thay thế cho ông Lê Dũng, được luân chuyển công tác khác. Bà Nguyễn Phương Nga, sinh năm 1963, đã từng theo học ngành báo chí quốc tế tại Nga từ năm 1982-1987. Bà về công tác tại Bộ Ngoại giao từ đầu năm 1989 và hiện giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao.”
“Tại cuộc họp báo với tư cách là người phát ngôn của bộ Ngoại giao Việt Nam vào chiều ngày hôm nay 20/8, bà Nguyễn Phương Nga hi vọng nhận được sự ủng hộ, hợp tác của các cơ quan báo chí Việt Nam, các hãng thông tấn nước ngoài tại Việt Nam và các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam như đối với người tiền nhiệm của bà.”
Tôi thực vô cùng lấy làm tiếc là sẽ không có cơ hội để “ủng hộ” hay “hợp tác” với người phát ngôn mới của bộ Ngoại giao Việt Nam, như bà Nguyễn Phương Nga hy vọng. Lý do (giản dị) chỉ vì tôi không phải là một thành viên của các cơ quan báo hay các hãng thông tấn trong và ngoài Việt Nam. Tôi cũng không làm việc cho bất cứ cơ quan đại diện ngoại giao nào ráo.
Với tư cách là một công dân lão hạng, một người lớn tuổi hơn bà Nga và đã chứng kiến cung cách làm việc của những vị phát ngôn viên tiền nhiệm, tôi cũng xin được gửi lời chúc mừng bà Nga ở chức vụ mới. Và nhân dịp này cũng xin mạn phép được chia sẻ với bà vài câu chuyện (nhỏ) có liên quan đến công tác mà bà sắp đảm đương, vào những ngày tháng tới.
Tôi nghe kể lại là bà Phan Thúy Thanh, khi còn tại chức, nuôi một con két tuyệt đẹp và nói rất sõi. Có hôm, chả may, nó xổ lồng bay mất. Bà ấy nhờ báo đăng tin để tìm lại con vật qúi. Báo chưa in xong, đã thấy có người đến gõ cửa.
Hỏi: Sao anh biết là con vẹt này của tôi.
Đáp: Nó chối leo lẻo suốt ngày nên nhà cháu biết ngay là của bà chứ còn ai vào đây nữa.
Sau đó bà Phan Thúy Thanh rao bán con két để lấy tiền tiêu, bù vào số lương hưu hơi (bị) thấp. Có người mua được, thích lắm, hí hửng mang về giao ngay cho vợ rồi tiếp tục đi làm. Chiều về, đương sự hấp tấp hỏi ngay:
- Con két mua ban sáng đâu rồi.
- Ở trong lò chứ đâu.
- Ối Giời, con két mua cả ngàn đô la mà đem nướng à.
- Vẹt gì mà giá cả ngàn đô?
- Nó nói sõi lắm, và nói được mấy thứ tiếng cơ đấy.
- Thế mà ban nẫy gạn hỏi mãi nó vẫn cứ chối đây đẩy nên ai mà biết!
Dù con con két đã lìa đời và bà Thanh đã hết thời nhưng truyền thống nói dối và chối thì vẫn được kế tục bởi người kế nhiệm. Ngay sau khi nhận chức, khi bị chất vấn con số thương vong của người Thượng tại Tây Nguyên - sau cuộc nổi dậy, vào hôm Lễ Phục Sinh 10 tháng 4 năm 2004 - ông Lê Dũng, Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao của nước CHXHCNVN đã nói rằng:
“Hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”
Theo truyền thống ở ta, cứ “cực lực bác bỏ” - nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt - như thế là kể như … xong chuyện, và hết chuyện. Khỏi phải nói nhiều.
Riêng chuyện đổ máu ở Tây Nguyên (hồi đó) ngó bộ khó xong. Bởi vậy, mấy bữa sau, ông Phạm Thế Duyệt - Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc - trong một cuộc phỏng vấn dành cho vietnam.let (vào ngày 17 tháng 4 năm 2004) đành phải nhận rằng:
“Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau” thôi. Ít xịt hà!
Ý Yàng ơi, coi kìa: Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, lũ lượt kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang, rồi “ném đá vào nhau” và ” ẩu đả lẫn nhau” cho … tới chết luôn - vậy cà? Nói (đại) như vậy mà nói được sao? Thằng chả, rõ ràng, nói láo!
Con két của bà Thanh đã lìa đời. Bà ấy thì cũng đã hết thời. Ông Phạm Thế Duyệt cũng như ông Lê Dũng cũng không còn tại vị. Kẻ phải đứng mũi chịu sào bây giờ chỉ có mỗi bà Nguyễn Phương Nga thôi. Trước cảnh “hoa lạc giữa rừng gươm,” tôi càng nghĩ lại càng ái ngại. Một lần nữa, ước mong bà Tân Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao gặp ít sự cố hơn, và nhiều may mắn hơn, trong những ngày tháng tới.
Thường Dân Tưởng Năng Tiến
“Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Phương Nga làm người phát ngôn mới của cơ quan này, thay thế cho ông Lê Dũng, được luân chuyển công tác khác. Bà Nguyễn Phương Nga, sinh năm 1963, đã từng theo học ngành báo chí quốc tế tại Nga từ năm 1982-1987. Bà về công tác tại Bộ Ngoại giao từ đầu năm 1989 và hiện giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao.”
“Tại cuộc họp báo với tư cách là người phát ngôn của bộ Ngoại giao Việt Nam vào chiều ngày hôm nay 20/8, bà Nguyễn Phương Nga hi vọng nhận được sự ủng hộ, hợp tác của các cơ quan báo chí Việt Nam, các hãng thông tấn nước ngoài tại Việt Nam và các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam như đối với người tiền nhiệm của bà.”
Tôi thực vô cùng lấy làm tiếc là sẽ không có cơ hội để “ủng hộ” hay “hợp tác” với người phát ngôn mới của bộ Ngoại giao Việt Nam, như bà Nguyễn Phương Nga hy vọng. Lý do (giản dị) chỉ vì tôi không phải là một thành viên của các cơ quan báo hay các hãng thông tấn trong và ngoài Việt Nam. Tôi cũng không làm việc cho bất cứ cơ quan đại diện ngoại giao nào ráo.
Với tư cách là một công dân lão hạng, một người lớn tuổi hơn bà Nga và đã chứng kiến cung cách làm việc của những vị phát ngôn viên tiền nhiệm, tôi cũng xin được gửi lời chúc mừng bà Nga ở chức vụ mới. Và nhân dịp này cũng xin mạn phép được chia sẻ với bà vài câu chuyện (nhỏ) có liên quan đến công tác mà bà sắp đảm đương, vào những ngày tháng tới.
Tôi nghe kể lại là bà Phan Thúy Thanh, khi còn tại chức, nuôi một con két tuyệt đẹp và nói rất sõi. Có hôm, chả may, nó xổ lồng bay mất. Bà ấy nhờ báo đăng tin để tìm lại con vật qúi. Báo chưa in xong, đã thấy có người đến gõ cửa.
Hỏi: Sao anh biết là con vẹt này của tôi.
Đáp: Nó chối leo lẻo suốt ngày nên nhà cháu biết ngay là của bà chứ còn ai vào đây nữa.
Sau đó bà Phan Thúy Thanh rao bán con két để lấy tiền tiêu, bù vào số lương hưu hơi (bị) thấp. Có người mua được, thích lắm, hí hửng mang về giao ngay cho vợ rồi tiếp tục đi làm. Chiều về, đương sự hấp tấp hỏi ngay:
- Con két mua ban sáng đâu rồi.
- Ở trong lò chứ đâu.
- Ối Giời, con két mua cả ngàn đô la mà đem nướng à.
- Vẹt gì mà giá cả ngàn đô?
- Nó nói sõi lắm, và nói được mấy thứ tiếng cơ đấy.
- Thế mà ban nẫy gạn hỏi mãi nó vẫn cứ chối đây đẩy nên ai mà biết!
Dù con con két đã lìa đời và bà Thanh đã hết thời nhưng truyền thống nói dối và chối thì vẫn được kế tục bởi người kế nhiệm. Ngay sau khi nhận chức, khi bị chất vấn con số thương vong của người Thượng tại Tây Nguyên - sau cuộc nổi dậy, vào hôm Lễ Phục Sinh 10 tháng 4 năm 2004 - ông Lê Dũng, Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao của nước CHXHCNVN đã nói rằng:
“Hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”
Theo truyền thống ở ta, cứ “cực lực bác bỏ” - nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt - như thế là kể như … xong chuyện, và hết chuyện. Khỏi phải nói nhiều.
Riêng chuyện đổ máu ở Tây Nguyên (hồi đó) ngó bộ khó xong. Bởi vậy, mấy bữa sau, ông Phạm Thế Duyệt - Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc - trong một cuộc phỏng vấn dành cho vietnam.let (vào ngày 17 tháng 4 năm 2004) đành phải nhận rằng:
“Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau” thôi. Ít xịt hà!
Ý Yàng ơi, coi kìa: Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, lũ lượt kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang, rồi “ném đá vào nhau” và ” ẩu đả lẫn nhau” cho … tới chết luôn - vậy cà? Nói (đại) như vậy mà nói được sao? Thằng chả, rõ ràng, nói láo!
Con két của bà Thanh đã lìa đời. Bà ấy thì cũng đã hết thời. Ông Phạm Thế Duyệt cũng như ông Lê Dũng cũng không còn tại vị. Kẻ phải đứng mũi chịu sào bây giờ chỉ có mỗi bà Nguyễn Phương Nga thôi. Trước cảnh “hoa lạc giữa rừng gươm,” tôi càng nghĩ lại càng ái ngại. Một lần nữa, ước mong bà Tân Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao gặp ít sự cố hơn, và nhiều may mắn hơn, trong những ngày tháng tới.
Thường Dân Tưởng Năng Tiến
Nhận Tội Yêu Nước
Trần Khải Nhận tội và xin khoan hồng... Bốn nhà hoạt động dân chủ quốc nội lên truyền hình nhà nước Hà Nội tuyên bố những lời nhận tội và xin khoan hồng. Có phải đây là đời thực, hay chỉ là một phim bộ của Công An CSVN dàn dựng? Nhưng tội đây là tội gì, có phải là nhận Tội Yêu Nước? Như dường là thế.
Lại thêm một tình cờ về mặt thời điểm, có vẻ như phim bộ "bốn nhà dân chủ nhận tội và khoan hồng" cố ý chiếu đi chiếu lại để cho Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, một người được biết là nói được tiếng Việt, và phu nhân là bà Hồng Lê Webb xem đầy đủ 4 đoạn phim này.
Trong khi trải thảm đỏ tiếp đón Thượng Nghị Sĩ liên bang Hoa Kỳ Jim Webb, nhà nước CSVN không quên bêu rếu phong trào dân chủ quốc nội bằng cách đưa lên truyền hình và chiếu đi chiếu lại nhiều lần các đoạn phim được mô tả là "lời ân hận và xin khoan hồng" của 4 nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, Trần Huỳnh Duy Thức, Luật sư Lê Công Định.
Bản tin thông tấn nhà nước VietnamNet với nhan đề "Thượng nghị sỹ Mỹ: Cần duy trì cân bằng ở Biển Đông" ghi nhận về buổi họp báo chiều Thứ Tư 19-8-2009 tại Hà Nội, trong đó Thượng nghị sỹ Jim Webb, Chủ tịch tiểu ban Đông Á thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, nói rằng cần sự cân bằng sức mạnh các quốc gia ở Biển Đông.
Tại sao như thế? Tại sao lại trình diễn màn nhận tội và khoan hồng thô bạo như thế? Không để cho luật pháp giaỉ quyết được hay sao?
Hình như chuyện như thế này cũng không có gì mới, tuy là hơi kỳ kỳ... Dù vậy, chúng ta chỉ nên ghi nhận sự kiện, và khoan đưa ra các kết luận trong khi những dữ kiện cần thiết chưa tìm được. Hãy nhớ rằng ông Hồ Chí Minh cũng đã từng nhận tội sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất và rồi cũng xin khoan hồng. Cũng nên nhớ rằng ông Hồ Chí Minh cũng từng nhìn nhận đã lấy bút danh Trần Dân Tiên và T. Lan để tự đánh bóng cho ông, nhưng ông không xem đó là tội, và do vậy, không xin khoan hồng mà lại còn tự hào, xem như có thêm 2 bút danh trong tổng cộng hơn cả trăm bút danh. Phải chi Ban Tuyên Giaó Trung Ương làm một cuốn phim lấy tên là "Bác Hồ Giả Gái" để kể về chuyện khi chọn bút danh nữ phóng viên T. Lan để viết cuốn về cuộc đời của ông.
"Bác Hồ Giả Gái" không phải là tội, tất nhiên, chỉ có các xã hội Hồi Giáo mới thấy là tối kỵ. Như thế, khi ông Hồ nín thở qua sông, giả làm trò tự ca ngợi mình, tự nâng mình lên cao, cho là tới lúc cần phải như thế, thì tại sao chúng ta có thể dị ứng, khi các nhà dân chủ cũng phải nín thở qua sông, tự làm mặt dày thú tội vì cũng cho là tới lúc đành phải làm như thế? Giả gái, giả làm tội nhân... có gì mà kỳ.
Sự dè dặt trước tình hình bốn nhà dân chủ "nhận tội và xin khoan hồng" cũng thấy được nơi phản ứng của giới trẻ. Như trường hợp cháng trai Lê Trung Thành, người từng đơn thân độc mã bay từ Đàì Loan sang Bangkok năm ngoái để biểu tình chống Đuốc Thế Vận nhằm giương cao biểu ngữ đòi đảo Trường Sa và Hoàng Sa, trên blog Blacky đã viết một Đơn Xin Thú Tội đề ngày 20-8-2009, trong đó viết về 3 tội lớn của chính mình, trích đoạn nơi đây về tội thứ ba:
"Khi xem đoạn băng hình thú tội của Nguyễn Tiến Trung , Trần Huỳnh Duy Thức , Trần Anh Kim, Lê Công Định , lòng tôi nóng như lửa đốt , nhưng ngay sau đó là cảm giác ăn năn day dứt vì thấy chính mình mới là kẻ có tội:
(...)
TỘI THỨ BA LÀ : khi thấy người anh em của mình lao vào chốn lao tù để đấu tranh dành tự do dân chủ, đáng lý ra với tình nghĩa giửa người với người thì tôi phải xuống đường giương cao biểu ngữ ĐÒI TRẢ TỰ DO CHO NGƯỜI ANH EM, TRẢ TỰ DO CHO DÂN TỘC , thì tôi lại hèn nhát đóng cửa ngồi trong nhà chửi đổng cho bốn bức tường nghe. Khi xem họ thú tội trên truyền hình chưa rõ đầu đuôi nội tình câu chuyện ra sao mà tôi đã dám chê họ là hèn nhát trong khi mình thì chẳng làm được gì. Tôi đã mất hết tính người khi đồng loại mình bị đem ra làm trò hề còn mình cười khẩy chê bai, tôi đã tự cho mình cái thẩm quyền yêu cầu người này phải nên nói như thế này, người kia phải nên nói như thế kia trong khi chính mình còn chưa sống cho ra con người ... Tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho lương tâm mình được sống." (hết trích)
Nói như thế cũng là hơi nóng. Một thái độ tương tự cũng thấy của một người trẻ hải ngoại, nhưng dè dặt hơn, trầm lắng hơn. Cô Lily Hiếu Nguyễn, phụ tá của Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez, trong dịp tình cờ gặp người viết hôm Thứ Năm, khi được hỏi, đã nói rằng các đoạn phim đó không có giá trị pháp lý gì hết, theo các công ước quốc tế. Bởi vì bốn nhà dân chủ không có luật sư nào được tiếp cận, và do vậy, lời khai không thể xem là chứng cớ kết tội.
Trong dịp gặp này, cô Lily Hiếu Nguyễn cũng nói rằng Dân Biểu Loretta Sanchez lúc nào cũng quan tâm về cuộc chiến tự do dân chủ cho Việt Nam, và rằng bản tin bà Sanchez suy tính ứng cử Thống Đốc California chỉ là lời đồn vô căn cứ. Cô nói thêm rằng bốn nhà dân chủ trên hoàn toàn không có tội gì với đất nước quê hương, nhưng chỉ có thể xem là "có tội vì vi phạm Điều 88 Bộ Luật Hình Sự của CSVN," một bộ luật rất là sai trái vì diễn giải ra ai có tội cũng được.
Thực tế, tất cả chúng ta đều thấy rằng nhà nước CSVN hoàn toàn không có chứng cớ nào để kết tội bốn nhà hoạt động trên về âm mưu bạo loạn chống chính phủ, bởi vì các bài viết về dân chủ (của Nguyễn Tiến Trung và Trần Anh Kim), hay ngay cả việc đòi hồi phục lại hai đảng Xã Hội và Dân Chủ (như Lê Công Định và Trần Huỳnh Duy Thức mong muốn) vốn đã có trong lịch sử hình thành chế độ Hà Nội cũng không phải là tộị bạo loạn lật đổ chính phủ, mà chỉ có thể gọi là -- những người hoài cổ, nghĩa là những người mong muốn có một chế độ dân chủ đa nguyên hơn, và có đầy đủ ba đảng sinh hoạt y hệt như thời ông Hồ về thành. Tại sao muốn sống hoài cổ như thời ông Hồ về thành lạị bị xem là có tội?
Thêm nữa, tại sao chất vấn nhà cầm quyền Hà Nội về tôị nhượng bộ và làm mất các đảo Hoàng Sa, Trường Sa lại bị xem là có tội? Nếu nhận tội rằng đã kết án nhà nước làm mất đất, mất đảo cho Trung Quốc, thì phảỉ xem là có công lớn với dân tộc muôn đời chứ, dù là "có tội vi phạm Điều 88 Hình Sự"? Cách thức nhà cầm quyền ứng xử trong cuộc tranh chấp Biển Đông có thể gây tranh cãi bất đồng, nhưng khi Trần Huỳnh Duy Thức qua các blog đã kết tội nhà nước nhượng bộ cho Bắc Phương, thì làm sao lại ép anh Thức nhận tội được, và chính bản video clip "nhận tội" này lại càng cho thấy cái hung hiểm của ván cờ Biển Đông -- rằng vì sao CSVN lại bịt miệng những người quan tâm tới dân chủ, tự do, đa đảng và Biển Đông. Như thế, lời nhận tội của người dân chủ cũng thực ra là lời kết tội nhà nước bạo quyền này, bây giờ và sau này dưới mắt các sử gia. Hãy vào trang web Tranh Chấp Biển Đông (www.tranhchapbiendong.com) mà xem các bản đồ biển, đảo... có người Việt nào mà ngăn được cơn giận hay không? Thế thì, tại sao lại ép những người quan tâm tới lãnh thổ, lãnh hải phải nhận tội yêu nước?
Trong bài thơ dài nhan đề "Bài thu hoạch cho ngày 19 Tháng 8" của hai thi sĩ Đinh Tấn Lực & Lương Huy Lễ trên Blog Đinh Tấn Lực, có một đoạn như sau, trích:
"...định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với tương lai lâu dài
con đường quá độ tới xã hội chủ nghĩa
gắn liền với khó khăn miệt mài
chủ nghĩa gắn liền với ẩn số
giáo điều gắn liền với lưỡi gỗ
đất nước gắn liền với chất nổ
đảng viên gắn liền với tham ô
trung ương gắn liền với ma cô
dân gắn liền với hố
định hướng xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với màu sắc dân tộc
nô bộc chức quyền tha hồ chia lộc
còn đời đời dân tộc thì gắn liền với mọi sửa sai
núi xương vời vợi gắn liền với sông máu khơi ngòi
khi quyền lực gắn liền ngu tối
nghị quyết gắn liền đại hội
đói gay gắt gắn liền với nghèo tuyệt đối..." (hết trích)
Tới đây, chúng ta thấy ngay một câu hỏi, rằng vì sao Đảng và nhà nước CSVN chưa chịu lên truyền hình nhận tội về những "lưỡi gỗ, tham ô, ma cô, tha hồ chia lộc, sông máu khơi ngòi, ngu tối, đói gay gắt, nghèo tuyệt đối"?
Tại sao Đảng và nhà nước CSVN chưa thú nhận đã gây ra các tội tày trời vừa nói, để rồi sẽ xin người dân cả nước khoan hồng, mà lại bày trò thủ đoạn để ép bốn nhà hoạt động dân chủ phải lên truyền hình nhìn nhận là đã có tội chỉ vì Yêu Nước, Yêu Dân?
TRẦN KHẢI
Trần Khải Nhận tội và xin khoan hồng... Bốn nhà hoạt động dân chủ quốc nội lên truyền hình nhà nước Hà Nội tuyên bố những lời nhận tội và xin khoan hồng. Có phải đây là đời thực, hay chỉ là một phim bộ của Công An CSVN dàn dựng? Nhưng tội đây là tội gì, có phải là nhận Tội Yêu Nước? Như dường là thế.
Lại thêm một tình cờ về mặt thời điểm, có vẻ như phim bộ "bốn nhà dân chủ nhận tội và khoan hồng" cố ý chiếu đi chiếu lại để cho Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, một người được biết là nói được tiếng Việt, và phu nhân là bà Hồng Lê Webb xem đầy đủ 4 đoạn phim này.
Trong khi trải thảm đỏ tiếp đón Thượng Nghị Sĩ liên bang Hoa Kỳ Jim Webb, nhà nước CSVN không quên bêu rếu phong trào dân chủ quốc nội bằng cách đưa lên truyền hình và chiếu đi chiếu lại nhiều lần các đoạn phim được mô tả là "lời ân hận và xin khoan hồng" của 4 nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, Trần Huỳnh Duy Thức, Luật sư Lê Công Định.
Bản tin thông tấn nhà nước VietnamNet với nhan đề "Thượng nghị sỹ Mỹ: Cần duy trì cân bằng ở Biển Đông" ghi nhận về buổi họp báo chiều Thứ Tư 19-8-2009 tại Hà Nội, trong đó Thượng nghị sỹ Jim Webb, Chủ tịch tiểu ban Đông Á thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, nói rằng cần sự cân bằng sức mạnh các quốc gia ở Biển Đông.
Tại sao như thế? Tại sao lại trình diễn màn nhận tội và khoan hồng thô bạo như thế? Không để cho luật pháp giaỉ quyết được hay sao?
Hình như chuyện như thế này cũng không có gì mới, tuy là hơi kỳ kỳ... Dù vậy, chúng ta chỉ nên ghi nhận sự kiện, và khoan đưa ra các kết luận trong khi những dữ kiện cần thiết chưa tìm được. Hãy nhớ rằng ông Hồ Chí Minh cũng đã từng nhận tội sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất và rồi cũng xin khoan hồng. Cũng nên nhớ rằng ông Hồ Chí Minh cũng từng nhìn nhận đã lấy bút danh Trần Dân Tiên và T. Lan để tự đánh bóng cho ông, nhưng ông không xem đó là tội, và do vậy, không xin khoan hồng mà lại còn tự hào, xem như có thêm 2 bút danh trong tổng cộng hơn cả trăm bút danh. Phải chi Ban Tuyên Giaó Trung Ương làm một cuốn phim lấy tên là "Bác Hồ Giả Gái" để kể về chuyện khi chọn bút danh nữ phóng viên T. Lan để viết cuốn về cuộc đời của ông.
"Bác Hồ Giả Gái" không phải là tội, tất nhiên, chỉ có các xã hội Hồi Giáo mới thấy là tối kỵ. Như thế, khi ông Hồ nín thở qua sông, giả làm trò tự ca ngợi mình, tự nâng mình lên cao, cho là tới lúc cần phải như thế, thì tại sao chúng ta có thể dị ứng, khi các nhà dân chủ cũng phải nín thở qua sông, tự làm mặt dày thú tội vì cũng cho là tới lúc đành phải làm như thế? Giả gái, giả làm tội nhân... có gì mà kỳ.
Sự dè dặt trước tình hình bốn nhà dân chủ "nhận tội và xin khoan hồng" cũng thấy được nơi phản ứng của giới trẻ. Như trường hợp cháng trai Lê Trung Thành, người từng đơn thân độc mã bay từ Đàì Loan sang Bangkok năm ngoái để biểu tình chống Đuốc Thế Vận nhằm giương cao biểu ngữ đòi đảo Trường Sa và Hoàng Sa, trên blog Blacky đã viết một Đơn Xin Thú Tội đề ngày 20-8-2009, trong đó viết về 3 tội lớn của chính mình, trích đoạn nơi đây về tội thứ ba:
"Khi xem đoạn băng hình thú tội của Nguyễn Tiến Trung , Trần Huỳnh Duy Thức , Trần Anh Kim, Lê Công Định , lòng tôi nóng như lửa đốt , nhưng ngay sau đó là cảm giác ăn năn day dứt vì thấy chính mình mới là kẻ có tội:
(...)
TỘI THỨ BA LÀ : khi thấy người anh em của mình lao vào chốn lao tù để đấu tranh dành tự do dân chủ, đáng lý ra với tình nghĩa giửa người với người thì tôi phải xuống đường giương cao biểu ngữ ĐÒI TRẢ TỰ DO CHO NGƯỜI ANH EM, TRẢ TỰ DO CHO DÂN TỘC , thì tôi lại hèn nhát đóng cửa ngồi trong nhà chửi đổng cho bốn bức tường nghe. Khi xem họ thú tội trên truyền hình chưa rõ đầu đuôi nội tình câu chuyện ra sao mà tôi đã dám chê họ là hèn nhát trong khi mình thì chẳng làm được gì. Tôi đã mất hết tính người khi đồng loại mình bị đem ra làm trò hề còn mình cười khẩy chê bai, tôi đã tự cho mình cái thẩm quyền yêu cầu người này phải nên nói như thế này, người kia phải nên nói như thế kia trong khi chính mình còn chưa sống cho ra con người ... Tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho lương tâm mình được sống." (hết trích)
Nói như thế cũng là hơi nóng. Một thái độ tương tự cũng thấy của một người trẻ hải ngoại, nhưng dè dặt hơn, trầm lắng hơn. Cô Lily Hiếu Nguyễn, phụ tá của Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez, trong dịp tình cờ gặp người viết hôm Thứ Năm, khi được hỏi, đã nói rằng các đoạn phim đó không có giá trị pháp lý gì hết, theo các công ước quốc tế. Bởi vì bốn nhà dân chủ không có luật sư nào được tiếp cận, và do vậy, lời khai không thể xem là chứng cớ kết tội.
Trong dịp gặp này, cô Lily Hiếu Nguyễn cũng nói rằng Dân Biểu Loretta Sanchez lúc nào cũng quan tâm về cuộc chiến tự do dân chủ cho Việt Nam, và rằng bản tin bà Sanchez suy tính ứng cử Thống Đốc California chỉ là lời đồn vô căn cứ. Cô nói thêm rằng bốn nhà dân chủ trên hoàn toàn không có tội gì với đất nước quê hương, nhưng chỉ có thể xem là "có tội vì vi phạm Điều 88 Bộ Luật Hình Sự của CSVN," một bộ luật rất là sai trái vì diễn giải ra ai có tội cũng được.
Thực tế, tất cả chúng ta đều thấy rằng nhà nước CSVN hoàn toàn không có chứng cớ nào để kết tội bốn nhà hoạt động trên về âm mưu bạo loạn chống chính phủ, bởi vì các bài viết về dân chủ (của Nguyễn Tiến Trung và Trần Anh Kim), hay ngay cả việc đòi hồi phục lại hai đảng Xã Hội và Dân Chủ (như Lê Công Định và Trần Huỳnh Duy Thức mong muốn) vốn đã có trong lịch sử hình thành chế độ Hà Nội cũng không phải là tộị bạo loạn lật đổ chính phủ, mà chỉ có thể gọi là -- những người hoài cổ, nghĩa là những người mong muốn có một chế độ dân chủ đa nguyên hơn, và có đầy đủ ba đảng sinh hoạt y hệt như thời ông Hồ về thành. Tại sao muốn sống hoài cổ như thời ông Hồ về thành lạị bị xem là có tội?
Thêm nữa, tại sao chất vấn nhà cầm quyền Hà Nội về tôị nhượng bộ và làm mất các đảo Hoàng Sa, Trường Sa lại bị xem là có tội? Nếu nhận tội rằng đã kết án nhà nước làm mất đất, mất đảo cho Trung Quốc, thì phảỉ xem là có công lớn với dân tộc muôn đời chứ, dù là "có tội vi phạm Điều 88 Hình Sự"? Cách thức nhà cầm quyền ứng xử trong cuộc tranh chấp Biển Đông có thể gây tranh cãi bất đồng, nhưng khi Trần Huỳnh Duy Thức qua các blog đã kết tội nhà nước nhượng bộ cho Bắc Phương, thì làm sao lại ép anh Thức nhận tội được, và chính bản video clip "nhận tội" này lại càng cho thấy cái hung hiểm của ván cờ Biển Đông -- rằng vì sao CSVN lại bịt miệng những người quan tâm tới dân chủ, tự do, đa đảng và Biển Đông. Như thế, lời nhận tội của người dân chủ cũng thực ra là lời kết tội nhà nước bạo quyền này, bây giờ và sau này dưới mắt các sử gia. Hãy vào trang web Tranh Chấp Biển Đông (www.tranhchapbiendong.com) mà xem các bản đồ biển, đảo... có người Việt nào mà ngăn được cơn giận hay không? Thế thì, tại sao lại ép những người quan tâm tới lãnh thổ, lãnh hải phải nhận tội yêu nước?
Trong bài thơ dài nhan đề "Bài thu hoạch cho ngày 19 Tháng 8" của hai thi sĩ Đinh Tấn Lực & Lương Huy Lễ trên Blog Đinh Tấn Lực, có một đoạn như sau, trích:
"...định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với tương lai lâu dài
con đường quá độ tới xã hội chủ nghĩa
gắn liền với khó khăn miệt mài
chủ nghĩa gắn liền với ẩn số
giáo điều gắn liền với lưỡi gỗ
đất nước gắn liền với chất nổ
đảng viên gắn liền với tham ô
trung ương gắn liền với ma cô
dân gắn liền với hố
định hướng xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với màu sắc dân tộc
nô bộc chức quyền tha hồ chia lộc
còn đời đời dân tộc thì gắn liền với mọi sửa sai
núi xương vời vợi gắn liền với sông máu khơi ngòi
khi quyền lực gắn liền ngu tối
nghị quyết gắn liền đại hội
đói gay gắt gắn liền với nghèo tuyệt đối..." (hết trích)
Tới đây, chúng ta thấy ngay một câu hỏi, rằng vì sao Đảng và nhà nước CSVN chưa chịu lên truyền hình nhận tội về những "lưỡi gỗ, tham ô, ma cô, tha hồ chia lộc, sông máu khơi ngòi, ngu tối, đói gay gắt, nghèo tuyệt đối"?
Tại sao Đảng và nhà nước CSVN chưa thú nhận đã gây ra các tội tày trời vừa nói, để rồi sẽ xin người dân cả nước khoan hồng, mà lại bày trò thủ đoạn để ép bốn nhà hoạt động dân chủ phải lên truyền hình nhìn nhận là đã có tội chỉ vì Yêu Nước, Yêu Dân?
TRẦN KHẢI
Cuộc tranh luận y tế công cộng
Ngô Nhân Dụng
Cuộc thảo luận về cải tổ hệ thống y tế ở Mỹ đang tới giai đoạn “tác động tình cảm.” Những người chống chương trình cải tổ đã thành công khi tấn công vào mối lo sợ lớn của nhiều tầng lớp dân chúng. Nói chung, đa số người Mỹ chống những kế hoạch gia tăng quyền hành của guồng máy chính phủ. Nói riêng, những người về hưu đang hưởng chương trình Medicare sợ mất các quyền lợi. Chính phủ Obama và đảng Dân Chủ đang bị nghi ngờ là khi cải tổ y tế họ sẽ tăng quyền cho nhà nước và cắt bớt các dịch vụ y tế cho người già hưởng Medicare. Trong thời gian tới họ sẽ phải lo giải thích để xóa tan những mối lo sợ này.
Chương trình bảo hiểm y tế công cộng là một vấn đề nóng hổi nhất vì nó rõ ràng gia tăng quyền hạn của nhà nước vào trong lãnh vực bảo hiểm y tế. Nước Mỹ có nên lập ra một cơ quan bảo hiểm y tế do chính phủ phụ trách hay không? Câu hỏi này sẽ được Quốc Hội giải đáp sau khi các đại biểu đi nghỉ Hè trở về. Những người ủng hộ và chống đều lên tiếng, mỗi bên nêu ra những lý do rất mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chúng ta không nên nghe những điều sai lạc mà coi đó là sự thật chỉ vì nó thuận tai, thỏa mãn những tình cảm của mình. Cho nên một bổn phận của nhà báo là viết ra những sự thật mặc dù nhiều người không muốn nghe.
Có rất nhiều hiểu lầm về chương trình bảo hiểm y tế công cộng mà một số dự luật trong Quốc Hội đang đề nghị. Một ký giả Người Việt khi phỏng vấn đã mở đầu bằng câu nói rằng “hiện nay hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ hoàn toàn do tư nhân phụ trách.” Lời xác định này sai. Vì hai chương trình Medicare và Medicaid (hay MediCal ở California) hoàn toàn do chính phủ đảm nhiệm, chiếm một nửa số tiền tiêu cho dịch vụ y tế trong nước Mỹ. Những người chống bảo hiểm y tế công cộng không ai muốn xóa bỏ hai chương trình trên, mà chỉ muốn chính phủ không thiết lập thêm một chương trình mới.
Những người chống đối chương trình “bảo hiểm y tế công cộng mới” đã tác động vào một niềm tin tưởng của đa số dân Mỹ là các cơ quan chính phủ thường chỉ phí phạm và thiếu hiệu năng. Người Mỹ đa số tin là chính phủ càng làm ít việc càng tốt, càng tiêu ít tiền càng đỡ hại. Ðây là một lý luận mạnh và đáng chú ý nhất trong cuộc bàn cãi hiện nay. Chúng ta không thể đoán trước được khi nào dân Mỹ chịu hy sinh niềm tin tưởng này để chấp nhận một chương trình mới tăng thêm quyền hạn của nhà nước. Lâu lâu dân Mỹ mới chịu “đánh cá” cho đặt ra thêm một cơ quan chính quyền mới, vì thấy nó cần thiết. Mỗi lần chính phủ Mỹ lập thêm một bộ mới, thí dụ Bộ Năng Lượng (1977), Bộ Giáo Dục (1979), Bộ An Ninh Quốc Nội (2003), hoặc những cơ quan mới như An Sinh Xã Hội (Social Securiry 1935), Medicare (1965) luôn luôn có những người chống lại và bàn cãi hàng chục năm trời chưa dứt.
Hiện nay dân Mỹ đang lo ngại vấn đề “chính phủ lớn” nhiều hơn trước. Người ta lo lắng sau khi chính phủ đã đưa ra những chương trình 700 tỷ trợ giúp các ngân hàng, bắt đầu từ thời Tổng Thống Gorges W. Bush; đến chương trình kích thích kinh tế gần 800 tỷ của chính phủ Obama, và càng lo ngại khi thấy kế hoạch cải tổ y tế sẽ tốn kém hàng ngàn tỷ đô la. Chính phủ đang chi nhiều tiền quá! Trong một cuộc nghiên cứu dư luận vào Tháng Sáu 2009 có 54% dân Mỹ tỏ ý chống chính phủ lớn và làm nhiều việc, chỉ có 41% ủng hộ, tỷ số này đã tăng lên so với năm ngoái chỉ có 50%/45%.
Với khuynh hướng dư luận như vậy, đề nghị hệ thống bảo hiểm công còn bị chống đối vì bị mô tả là bắt chước các hệ thống y tế ở Anh và Canada. Sự thật là các dự luật tại Quốc Hội Mỹ hiện nay không có ý định nào nhắm vào mục đích đó mà trái lại còn hạn chế rất ngặt việc người dân tham gia vào chương trình bảo hiểm của chính phủ nếu họ đang có bảo hiểm tư. Tuy nhiên, vẫn có 54% dân Mỹ tin rằng cải tổ y tế sẽ khiến cho chính phủ có thể kiểm soát toàn thể hệ thống dịch vụ y tế, chỉ có 39% nghĩ khác. Người ta rất dễ bị khích động với những tin tức sai lạc một chiều khi các tin đó nhắm đúng vào mối sợ chung. Có người đã đưa ra nhiều dữ kiện và tin tức sai đến nỗi chính phủ thuộc đảng Bảo Thủ ở Canada đã phải cải chính. Lãnh tụ cả hai đảng ở Anh Quốc cũng đều lên tiếng biện hộ cho chương trình y tế quốc gia của Anh (NHS) sau khi bị nhiều người Mỹ chỉ trích oan. Nhà bác học người Anh Stephen Hawking cũng bị lôi vào vòng chiến khi có nhà chính trị Mỹ nói rằng ông đã được bảo hiểm y tế tư chữa khỏi chứng bệnh thời trẻ, nếu không thì hệ thống NHS đã để cho ông chết rồi. Ông Hawking đã phải lên tiếng cải chính rằng chính hệ thống bảo hiểm công cộng ở Anh Quốc đã cứu sống ông để tiếp tục làm việc và sau này đoạt giải Nobel về Vật Lý học.
Thay vì chỉ trích các chương trình y tế ở Anh Quốc và Canada, hai nước có hệ thống kinh tế gần gũi nhất với nước Mỹ, người ta nên đặt ra câu hỏi là những hệ thống y tế ở hai nước đó có thích hợp với nước Mỹ hay không? Người ta có thể đưa ra rất nhiều lý luận để trả lời là không thích hợp, mà không cần nêu ra những khuyết điểm một chiều chỉ nhằm tìm các khuyết điểm. Vì không có hệ thống bảo hiểm y tế ở nước nào hoàn hảo.
Nhiều người công kích kế hoạch cải tổ y tế, nói rằng nó sẽ đưa tới tình trạng “hạn chế” (rationing) việc chữa trị. Trong thực tế, ngay những người có bảo hiểm tư ở Mỹ cũng nhiều khi phải chờ hãng bảo hiểm chấp thuận thì bác sĩ mới được dùng một số phương pháp chữa trị tốn tiền, mà nhiều lần họ từ chối, nghĩa là hạn chế việc chữa trị. Chỉ những người mua loại bảo hiểm thượng hạng đắt tiền nhất mới có hy vọng chữa trị bằng bất cứ phương pháp tốn kém nào không giới hạn.
Một điều chúng ta biết chắc là các hãng bảo hiểm tư không muốn bị một chương trình của chính phủ cạnh tranh. Chính phủ Obama đang phải “đi dây” vì họ đang được các công ty bảo hiểm tư ủng hộ trên nguyên tắc trong chương trình cải tổ y tế; mặt khác họ muốn tiến tới một chương trình bảo hiểm y tế công cạnh tranh với các công ty đó. Các hãng bảo hiểm tư đồng ý sẽ không từ chối bảo hiểm mới cho những người đang bị bệnh mà mất bảo hiểm cũ, chẳng hạn khi mất việc làm. Họ cũng tán đồng ý kiến làm sao để tất cả mọi người Mỹ đều có bảo hiểm y tế. Nếu được như vậy thì các hãng bảo hiểm sẽ có thêm mấy chục triệu thân chủ mới, trừ khi lại có một chương trình bảo hiểm của chính phủ lấy mất nhiều thân chủ cũ của họ!
Các hãng bảo hiểm tư nói rằng chính phủ không cần kiếm lời như doanh nghiệp tư, do đó sẽ giảm giá mua bảo hiểm và thu hút hết thân chủ, gây thiệt hại cho lợi nhuận của họ. Nói như vậy cũng giống như công kích việc chính phủ trợ cấp công ty xe buýt trong thành phố khiến các nhà bán xe bị thiệt hại vì bán được ít xe hơn. Ngược lại, những người ủng hộ chương trình y tế công cộng cho là khi bị cạnh tranh thì các hãng bảo hiểm tư sẽ phải cải thiện cách làm việc để hạ bớt chi phí vì hiện nay họ phí rất nhiều tiền vào việc hành chánh. Khi theo dõi ý kiến các đại biểu Quốc Hội, chúng ta nên biết họ có thể chống chương trình bảo hiểm công cộng vì áp lực của các công ty bảo hiểm tư.
Ở California không một công ty tư nào đủ mạnh để chiếm lãnh được thị trường; vì không hãng nào thu hút được hơn 24% số người mua bảo hiểm y tế. Ở các tiểu bang New York và Florida cũng vậy, công ty mạnh nhất cũng chỉ làm chủ 26%, và 30% thị trường. Nhưng trong nước Mỹ có 17 tiểu bang trong đó một công ty bảo hiểm y tế làm chủ trên 50% thị trường. Riêng trong 9 tiểu bang tỷ số tập trung còn cao trên 70%. Trong những tiểu bang đó thật khó bảo đảm là người tiêu thụ có khả năng tự do lựa chọn chương trình bảo hiểm tư cho mình nếu các công ty chủ nhân của họ đã chọn hãng bảo hiểm mạnh nhất.
Những đại biểu Quốc Hội thuộc các tiểu bang với một hãng bảo hiểm y tế chiếm lĩnh thị trường chắc chắn không muốn đi ngược lại quyền lợi của hãng bảo hiểm vì đến mùa tranh cử sang năm các công ty này có thể sẽ dồn hết sức ủng hộ cho đối thủ của họ, ngay trong cùng một đảng.
Max Baucus là một nghị sĩ rất mạnh, chủ tịch Ủy Ban Tài Chánh Thượng Viện thuộc đảng Dân Chủ nhưng ông không muốn có chương trình bảo hiểm y tế của chính phủ mà đảng ông chủ trương. Trong tiểu bang Montana của ông, công ty Blue Cross chiếm 75% thị trường những người mua bảo hiểm. Cũng như Nghị Sĩ Charles Grassley, Cộng Hòa, đã ngưng không bàn chuyện thỏa hiệp về bảo hiểm y tế với đảng Dân Chủ nữa. Tiểu bang Iowa mà ông đại diện có một hãng bảo hiểm y tế Wellmark chiếm 71% thị trường. Tại tiểu bang Maine của Nghị Sĩ Olympia Snowe có một công ty WellPoint chiếm 78% thị trường bảo hiểm. Bà Snowe đã thỏa hiệp với đảng Dân Chủ trong nhiều cuộc bỏ phiếu ở Thượng Viện nhưng khó thỏa hiệp trong vấn đề y tế. Với những ý kiến chống đối mạnh như vậy, chương trình bảo hiểm y tế công cộng khó đạt được đủ 60 phiếu ở Thượng Viện để khỏi bị ngăn cản. Ông Max Baucus đã đề nghị thay thế chương trình chính phủ bằng một hình thức “hợp tác xã” vô vị lợi nhưng do tư nhân phụ trách. Ngay ý kiến này cũng bị các công ty bảo hiểm tư chống lại.
Như trong bất cứ cuộc cải tổ nào, khó nói dứt khoát là tất cả mọi người sẽ chắc chắn sẽ được lợi hay bị thiệt hại ra sao. Hơn nữa, việc cải tổ y tế năm nay dù kết quả cuối cùng như thế nào cũng chỉ là một bước đầu trên con đường cải tổ mà nước Mỹ sẽ thực hiện. Vì ai cũng biết hệ thống y tế quá tốn kém cần thay đổi, ai cũng đồng ý nên cải tổ. Mọi người chỉ bất đồng ý kiến trong một số biện pháp cải tổ. Mỗi quyết định thay đổi trong xã hội đều dẫn tới những hậu quả một phần biết trước và nhiều phần không lường trước được. Ở một nước tự do dân chủ người dân có quyền nêu lên tất cả các mối nghi ngờ và đòi tranh luận. Ðó là một ưu điểm của chế độ dân chủ.
Ngô Nhân Dụng
Cuộc thảo luận về cải tổ hệ thống y tế ở Mỹ đang tới giai đoạn “tác động tình cảm.” Những người chống chương trình cải tổ đã thành công khi tấn công vào mối lo sợ lớn của nhiều tầng lớp dân chúng. Nói chung, đa số người Mỹ chống những kế hoạch gia tăng quyền hành của guồng máy chính phủ. Nói riêng, những người về hưu đang hưởng chương trình Medicare sợ mất các quyền lợi. Chính phủ Obama và đảng Dân Chủ đang bị nghi ngờ là khi cải tổ y tế họ sẽ tăng quyền cho nhà nước và cắt bớt các dịch vụ y tế cho người già hưởng Medicare. Trong thời gian tới họ sẽ phải lo giải thích để xóa tan những mối lo sợ này.
Chương trình bảo hiểm y tế công cộng là một vấn đề nóng hổi nhất vì nó rõ ràng gia tăng quyền hạn của nhà nước vào trong lãnh vực bảo hiểm y tế. Nước Mỹ có nên lập ra một cơ quan bảo hiểm y tế do chính phủ phụ trách hay không? Câu hỏi này sẽ được Quốc Hội giải đáp sau khi các đại biểu đi nghỉ Hè trở về. Những người ủng hộ và chống đều lên tiếng, mỗi bên nêu ra những lý do rất mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chúng ta không nên nghe những điều sai lạc mà coi đó là sự thật chỉ vì nó thuận tai, thỏa mãn những tình cảm của mình. Cho nên một bổn phận của nhà báo là viết ra những sự thật mặc dù nhiều người không muốn nghe.
Có rất nhiều hiểu lầm về chương trình bảo hiểm y tế công cộng mà một số dự luật trong Quốc Hội đang đề nghị. Một ký giả Người Việt khi phỏng vấn đã mở đầu bằng câu nói rằng “hiện nay hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ hoàn toàn do tư nhân phụ trách.” Lời xác định này sai. Vì hai chương trình Medicare và Medicaid (hay MediCal ở California) hoàn toàn do chính phủ đảm nhiệm, chiếm một nửa số tiền tiêu cho dịch vụ y tế trong nước Mỹ. Những người chống bảo hiểm y tế công cộng không ai muốn xóa bỏ hai chương trình trên, mà chỉ muốn chính phủ không thiết lập thêm một chương trình mới.
Những người chống đối chương trình “bảo hiểm y tế công cộng mới” đã tác động vào một niềm tin tưởng của đa số dân Mỹ là các cơ quan chính phủ thường chỉ phí phạm và thiếu hiệu năng. Người Mỹ đa số tin là chính phủ càng làm ít việc càng tốt, càng tiêu ít tiền càng đỡ hại. Ðây là một lý luận mạnh và đáng chú ý nhất trong cuộc bàn cãi hiện nay. Chúng ta không thể đoán trước được khi nào dân Mỹ chịu hy sinh niềm tin tưởng này để chấp nhận một chương trình mới tăng thêm quyền hạn của nhà nước. Lâu lâu dân Mỹ mới chịu “đánh cá” cho đặt ra thêm một cơ quan chính quyền mới, vì thấy nó cần thiết. Mỗi lần chính phủ Mỹ lập thêm một bộ mới, thí dụ Bộ Năng Lượng (1977), Bộ Giáo Dục (1979), Bộ An Ninh Quốc Nội (2003), hoặc những cơ quan mới như An Sinh Xã Hội (Social Securiry 1935), Medicare (1965) luôn luôn có những người chống lại và bàn cãi hàng chục năm trời chưa dứt.
Hiện nay dân Mỹ đang lo ngại vấn đề “chính phủ lớn” nhiều hơn trước. Người ta lo lắng sau khi chính phủ đã đưa ra những chương trình 700 tỷ trợ giúp các ngân hàng, bắt đầu từ thời Tổng Thống Gorges W. Bush; đến chương trình kích thích kinh tế gần 800 tỷ của chính phủ Obama, và càng lo ngại khi thấy kế hoạch cải tổ y tế sẽ tốn kém hàng ngàn tỷ đô la. Chính phủ đang chi nhiều tiền quá! Trong một cuộc nghiên cứu dư luận vào Tháng Sáu 2009 có 54% dân Mỹ tỏ ý chống chính phủ lớn và làm nhiều việc, chỉ có 41% ủng hộ, tỷ số này đã tăng lên so với năm ngoái chỉ có 50%/45%.
Với khuynh hướng dư luận như vậy, đề nghị hệ thống bảo hiểm công còn bị chống đối vì bị mô tả là bắt chước các hệ thống y tế ở Anh và Canada. Sự thật là các dự luật tại Quốc Hội Mỹ hiện nay không có ý định nào nhắm vào mục đích đó mà trái lại còn hạn chế rất ngặt việc người dân tham gia vào chương trình bảo hiểm của chính phủ nếu họ đang có bảo hiểm tư. Tuy nhiên, vẫn có 54% dân Mỹ tin rằng cải tổ y tế sẽ khiến cho chính phủ có thể kiểm soát toàn thể hệ thống dịch vụ y tế, chỉ có 39% nghĩ khác. Người ta rất dễ bị khích động với những tin tức sai lạc một chiều khi các tin đó nhắm đúng vào mối sợ chung. Có người đã đưa ra nhiều dữ kiện và tin tức sai đến nỗi chính phủ thuộc đảng Bảo Thủ ở Canada đã phải cải chính. Lãnh tụ cả hai đảng ở Anh Quốc cũng đều lên tiếng biện hộ cho chương trình y tế quốc gia của Anh (NHS) sau khi bị nhiều người Mỹ chỉ trích oan. Nhà bác học người Anh Stephen Hawking cũng bị lôi vào vòng chiến khi có nhà chính trị Mỹ nói rằng ông đã được bảo hiểm y tế tư chữa khỏi chứng bệnh thời trẻ, nếu không thì hệ thống NHS đã để cho ông chết rồi. Ông Hawking đã phải lên tiếng cải chính rằng chính hệ thống bảo hiểm công cộng ở Anh Quốc đã cứu sống ông để tiếp tục làm việc và sau này đoạt giải Nobel về Vật Lý học.
Thay vì chỉ trích các chương trình y tế ở Anh Quốc và Canada, hai nước có hệ thống kinh tế gần gũi nhất với nước Mỹ, người ta nên đặt ra câu hỏi là những hệ thống y tế ở hai nước đó có thích hợp với nước Mỹ hay không? Người ta có thể đưa ra rất nhiều lý luận để trả lời là không thích hợp, mà không cần nêu ra những khuyết điểm một chiều chỉ nhằm tìm các khuyết điểm. Vì không có hệ thống bảo hiểm y tế ở nước nào hoàn hảo.
Nhiều người công kích kế hoạch cải tổ y tế, nói rằng nó sẽ đưa tới tình trạng “hạn chế” (rationing) việc chữa trị. Trong thực tế, ngay những người có bảo hiểm tư ở Mỹ cũng nhiều khi phải chờ hãng bảo hiểm chấp thuận thì bác sĩ mới được dùng một số phương pháp chữa trị tốn tiền, mà nhiều lần họ từ chối, nghĩa là hạn chế việc chữa trị. Chỉ những người mua loại bảo hiểm thượng hạng đắt tiền nhất mới có hy vọng chữa trị bằng bất cứ phương pháp tốn kém nào không giới hạn.
Một điều chúng ta biết chắc là các hãng bảo hiểm tư không muốn bị một chương trình của chính phủ cạnh tranh. Chính phủ Obama đang phải “đi dây” vì họ đang được các công ty bảo hiểm tư ủng hộ trên nguyên tắc trong chương trình cải tổ y tế; mặt khác họ muốn tiến tới một chương trình bảo hiểm y tế công cạnh tranh với các công ty đó. Các hãng bảo hiểm tư đồng ý sẽ không từ chối bảo hiểm mới cho những người đang bị bệnh mà mất bảo hiểm cũ, chẳng hạn khi mất việc làm. Họ cũng tán đồng ý kiến làm sao để tất cả mọi người Mỹ đều có bảo hiểm y tế. Nếu được như vậy thì các hãng bảo hiểm sẽ có thêm mấy chục triệu thân chủ mới, trừ khi lại có một chương trình bảo hiểm của chính phủ lấy mất nhiều thân chủ cũ của họ!
Các hãng bảo hiểm tư nói rằng chính phủ không cần kiếm lời như doanh nghiệp tư, do đó sẽ giảm giá mua bảo hiểm và thu hút hết thân chủ, gây thiệt hại cho lợi nhuận của họ. Nói như vậy cũng giống như công kích việc chính phủ trợ cấp công ty xe buýt trong thành phố khiến các nhà bán xe bị thiệt hại vì bán được ít xe hơn. Ngược lại, những người ủng hộ chương trình y tế công cộng cho là khi bị cạnh tranh thì các hãng bảo hiểm tư sẽ phải cải thiện cách làm việc để hạ bớt chi phí vì hiện nay họ phí rất nhiều tiền vào việc hành chánh. Khi theo dõi ý kiến các đại biểu Quốc Hội, chúng ta nên biết họ có thể chống chương trình bảo hiểm công cộng vì áp lực của các công ty bảo hiểm tư.
Ở California không một công ty tư nào đủ mạnh để chiếm lãnh được thị trường; vì không hãng nào thu hút được hơn 24% số người mua bảo hiểm y tế. Ở các tiểu bang New York và Florida cũng vậy, công ty mạnh nhất cũng chỉ làm chủ 26%, và 30% thị trường. Nhưng trong nước Mỹ có 17 tiểu bang trong đó một công ty bảo hiểm y tế làm chủ trên 50% thị trường. Riêng trong 9 tiểu bang tỷ số tập trung còn cao trên 70%. Trong những tiểu bang đó thật khó bảo đảm là người tiêu thụ có khả năng tự do lựa chọn chương trình bảo hiểm tư cho mình nếu các công ty chủ nhân của họ đã chọn hãng bảo hiểm mạnh nhất.
Những đại biểu Quốc Hội thuộc các tiểu bang với một hãng bảo hiểm y tế chiếm lĩnh thị trường chắc chắn không muốn đi ngược lại quyền lợi của hãng bảo hiểm vì đến mùa tranh cử sang năm các công ty này có thể sẽ dồn hết sức ủng hộ cho đối thủ của họ, ngay trong cùng một đảng.
Max Baucus là một nghị sĩ rất mạnh, chủ tịch Ủy Ban Tài Chánh Thượng Viện thuộc đảng Dân Chủ nhưng ông không muốn có chương trình bảo hiểm y tế của chính phủ mà đảng ông chủ trương. Trong tiểu bang Montana của ông, công ty Blue Cross chiếm 75% thị trường những người mua bảo hiểm. Cũng như Nghị Sĩ Charles Grassley, Cộng Hòa, đã ngưng không bàn chuyện thỏa hiệp về bảo hiểm y tế với đảng Dân Chủ nữa. Tiểu bang Iowa mà ông đại diện có một hãng bảo hiểm y tế Wellmark chiếm 71% thị trường. Tại tiểu bang Maine của Nghị Sĩ Olympia Snowe có một công ty WellPoint chiếm 78% thị trường bảo hiểm. Bà Snowe đã thỏa hiệp với đảng Dân Chủ trong nhiều cuộc bỏ phiếu ở Thượng Viện nhưng khó thỏa hiệp trong vấn đề y tế. Với những ý kiến chống đối mạnh như vậy, chương trình bảo hiểm y tế công cộng khó đạt được đủ 60 phiếu ở Thượng Viện để khỏi bị ngăn cản. Ông Max Baucus đã đề nghị thay thế chương trình chính phủ bằng một hình thức “hợp tác xã” vô vị lợi nhưng do tư nhân phụ trách. Ngay ý kiến này cũng bị các công ty bảo hiểm tư chống lại.
Như trong bất cứ cuộc cải tổ nào, khó nói dứt khoát là tất cả mọi người sẽ chắc chắn sẽ được lợi hay bị thiệt hại ra sao. Hơn nữa, việc cải tổ y tế năm nay dù kết quả cuối cùng như thế nào cũng chỉ là một bước đầu trên con đường cải tổ mà nước Mỹ sẽ thực hiện. Vì ai cũng biết hệ thống y tế quá tốn kém cần thay đổi, ai cũng đồng ý nên cải tổ. Mọi người chỉ bất đồng ý kiến trong một số biện pháp cải tổ. Mỗi quyết định thay đổi trong xã hội đều dẫn tới những hậu quả một phần biết trước và nhiều phần không lường trước được. Ở một nước tự do dân chủ người dân có quyền nêu lên tất cả các mối nghi ngờ và đòi tranh luận. Ðó là một ưu điểm của chế độ dân chủ.
ÚC CHÂU: ĐỒNG HƯƠNG TẠI PERTH VÀ MELBOURNE
HÂN HOAN ĐÓN NHẬN PHIM "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH"
Melbourne, Úc, Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009: Hơn 700 đồng hương tại Melbourne, thuộc tiểu bang Victoria, Úc Châu đã tham dự buổi ra mắt phim "Sự Thật về Hồ Chí Minh" tổ chức vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8. Địa điểm tổ chức, nhà hàng Happy Receiption, với sức chứa hơn 600 chỗ, đã không còn một ghế trống. Hàng trăm người phải đứng ở cuối phòng và hành lang cửa vào.
Buổi ra mắt khai diễn lúc 2 giờ chiều với diễn văn khai mạc của Ông Nguyễn Khương Ninh, trưởng Ban Tổ Chức. Sau khi ngỏ lời chào mừng và cám ơn đồng hương tham dự, Ông Ninh tuyên bố "Cộng đồng người Việt Tị nạn Úc châu đã được Cộng đồng Việt Nam hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ rất thán phục chúng ta là một Cộng đồng đoàn kết và có tinh thần chống cộng rất mãnh liệt. Những thành tích như vụ dập tắt truyền hình Cộng sản VNTV4, làm thất bại những đoàn văn công cộng sản hùng hậu như Duyên dáng Việt Nam cũng vô duyên ra về..." Ông Ninh kết thúc phần phát biểu với nhân định "...trong hơn một tháng qua, với 14 địa điểm mà Phong trào đã ra mắt phim Sự thật Hồ Chí Minh đều được đồng bào tại những nơi đó nhiệt liệt ủng hộ cả về tinh thần cũng như tài chánh. Tuy tôi không dám lạc quan nghĩ rằng chúng ta sẽ yểm trợ Phong trào trong công tác này hơn những nơi ấy, nhưng ít ra cũng không thua kém. Chúng tôi mong rằng trước khi kết thúc buổi lễ, kết quả công bố tài chánh sẽ chứng minh điều này".
Tiếp đó, Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, kiêm chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Victoria, đã thay mặt các đồng hương chào mừng phái đoàn Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn gồm Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện Phong Trào, và Ông Trân Quốc Bảo, Chủ tịch Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam kiêm Trưởng Ban Điều Hành Phong Trào. Trong dịp này Ông Phong đã nhấn mạnh "Việc thực hiện những tài liệu sự thật về lịch sữ như cuốn DVD "Sự Thật về Hồ Chí Minh" như thế này không phải chỉ là một việc nên làm của những nhân chứng và nạn nhân mà là còn là một bổn phận thiêng liêng phải làm" và tuyên bố " Tập thể người Việt tỵ nạn của chúng ta có được cái cái may mắn có Lm Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo hy sinh đứng ra làm công việc vô cùng hệ trọng, thiết yếu và lịch sử này thay cho chúng ta. Chúng ta phải vui mừng trân quý và cổ suý những nỗ lực tuyệt vời như thế này thay vì “vạch lá tìm sâu” hoặc “bới lộng tìm vết”, thậm chí còn cáo buộc những người thực hiện như thể họ đã phạm một tội tày trời nào đó. " Ông Nguyễn Thế Phong đã kết luận "Ban chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Victoria, giống như tuyệt đại đa số đồng bào người Việt tỵ nạn hải ngoại đều trân quý và công nhận ý hướng chân chánh và mục đích chống Cộng rỏ ràng của cuốn phim tài liệu này."
Trong bài nói chuyện về chiến dịch "Tẩy Trừ Huyền thoại Giả Trá Hồ Chí Minh" và phim " Sự Thật về Hồ Chí Minh ", Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã trình bày lý do Phong Trào thực hiện cuốn phim và khẳng định " .. điều quan trọng hơn hết là trong chiếc hộp DVD này chứa đựng một nguyện vọng thiết tha và cấp bách của đổng bảo Việt nam 'Phải phá vỡ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh, là tảng đá cuối cùng để chế độ CSVN bám vào đó mà tồn tại.” Nói về những dự tính của Phong Trào trong tương lai, Linh Mục cũng cho biết "... phim Sự Thật về Hồ Chí Minh chỉ là bước khởi đầu của một tiến trình hành động cụ thể và quyết liệt" của Phong Trào và kêu gọi đồng bào hỗ trợ, tiếp tay trong thời gian tới khi kế hoạch này được công bố.
Sau phần trình chiếu đoạn phim ngắn trích dẫn một số chủ đề của cuốn phim, Ông Trần Quốc Bảo, trong vai trò Giám đốc Sản xuất, đã nói qua tiến trình thực hiện và kế hoạch quảng bá cuốn phim. Ông cho biết 2 bản phim tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim dự tính hoàn tất vào cuối tam cá nguyệt năm 2010 để "thế hệ con em người Việt hải ngoại không rành tiếng Việt, cũng như những người bạn ngoại quốc biết rõ sự thật về Hồ Chí Minh". Theo Ông, các bản phim này cũng sẽ được gửi đến các thư viện, các trường đại học các quốc gia trên thế giới để mọi người cùng xem. Trong phần trình bày về tài chính để thực hiện và quảng bá cuốn phim, Ông Trần Quốc Bảo cho biết Melbourne là một trong những điạ điểm có nhiều mạnh thường quân ứng trước tài chính để Phong Trào thực hiện cuốn phim. Hội trường đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh những nhà hảo tâm ẩn danh này.
Tiếp đó, nhà báo Long Quân, chủ nhiệm Tuần báo Nhân Quyền, đã ngỏ lời tán thưởng cuốn phim và hoan nghệnh những người đã bỏ công sức hoàn tất công trình. mà theo Ông rất có ý nghĩa và giá trị. Ông Long Quân cũng đã loan báo tự nguyện tặng số tiền 2000 úc kim mà trong năm 2008 Ông đã ứng trước cho Phong Trào để có phương tiện tài chính thực hiện cuốn phim.
Sau phần phát biểu cảm tưởng, đồng hương đã xếp hàng để tiếp nhận DVD phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do đích thân Linh mục Nguyễn Hữu Lễ ký tặng. Trong khi đó, Ban Tổ Chức đã trình chiếu danh sách các đồng hương tham dự đã ủng hộ tài chính, và thông báo, ngoài nhà báo Long Quân, một mạnh thường quân ẩn danh khác cũng đã tặng luôn số tiền 5000 úc kim mà Bà đã ứng trước cho Phong Trào vào tháng 9 năm 2008.
Buổi ra mắt phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do Ông Hoàng Chính Đan làm MC, đã kết thúc vào lúc 4 giờ 30 chiều, sau khi Lm Lễ tặng quà lưu niệm cảm tạ chủ nhân nhà hàng Happy Receiption đã cho Ban Tổ Chức sử dụng miễn phí nhà hàng. Ban Tổ Chức cũng công bố kết quả tài chính đóng góp của đồng hương, kể cả số ủng hộ của hai mạnh thường quân, tổng cộng được 23,466.10 úc kim.
Được biết vào ngày hôm trước, Thứ Bẩy, 22 tháng 8 năm 2009, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ và Ông Trần Quốc Bảo đã có mặt tại Perth, Tây Úc để tham dự buổi ra mắt phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Tây Úc bảo trợ tổ chức. Mặc dù chỉ chuẩn bị không đày 10 ngày, buổi ra mắt đã qui tụ hơn 200 đồng hương. Phát biểu trong phần chào mừng phái đoàn Phong Trào Sài Gòn, Ông Phạm Lê Hoàng Nam, chủ tịch Ban chấp Hành Cộng Đồng nêu nhận xét "cuốn phim Sự Thật về Hồ Chí Minh là muĩ tên bắn thẳng vào tim của con quái vật Cộng Sản Việt Nam, nên không ai ngạc nhiên trước những phản ứng lồng lộn của nó." Ông cũng kêu gọi đồng hương Tây Úc tích cực ủng hộ Phong Trào trong việc quảng bá cuốn phim "để làm tăng thêm mức độ hiệu quả của muĩ tên này". Đáp ứng lời kêu gọi này, đồng hương đã đóng góp yểm trợ Phong Trào 6,250 úc kim.
Theo tin của Phong Trào, tại Úc còn 2 buổi ra mắt, tại Sydney vào Thứ Bảy, 29 tháng 8, và Brsibane, vào Chủ Nhật, 30 tháng 8. Sau đó, phái đoàn Phong Trào sẽ bay qua Âu Châu để tổ chức các buổi ra mắt tại đây./.
Lưu Phong
Tường trình từ Melbourne, Úc Châu
HÂN HOAN ĐÓN NHẬN PHIM "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH"
Melbourne, Úc, Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009: Hơn 700 đồng hương tại Melbourne, thuộc tiểu bang Victoria, Úc Châu đã tham dự buổi ra mắt phim "Sự Thật về Hồ Chí Minh" tổ chức vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8. Địa điểm tổ chức, nhà hàng Happy Receiption, với sức chứa hơn 600 chỗ, đã không còn một ghế trống. Hàng trăm người phải đứng ở cuối phòng và hành lang cửa vào.
Buổi ra mắt khai diễn lúc 2 giờ chiều với diễn văn khai mạc của Ông Nguyễn Khương Ninh, trưởng Ban Tổ Chức. Sau khi ngỏ lời chào mừng và cám ơn đồng hương tham dự, Ông Ninh tuyên bố "Cộng đồng người Việt Tị nạn Úc châu đã được Cộng đồng Việt Nam hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ rất thán phục chúng ta là một Cộng đồng đoàn kết và có tinh thần chống cộng rất mãnh liệt. Những thành tích như vụ dập tắt truyền hình Cộng sản VNTV4, làm thất bại những đoàn văn công cộng sản hùng hậu như Duyên dáng Việt Nam cũng vô duyên ra về..." Ông Ninh kết thúc phần phát biểu với nhân định "...trong hơn một tháng qua, với 14 địa điểm mà Phong trào đã ra mắt phim Sự thật Hồ Chí Minh đều được đồng bào tại những nơi đó nhiệt liệt ủng hộ cả về tinh thần cũng như tài chánh. Tuy tôi không dám lạc quan nghĩ rằng chúng ta sẽ yểm trợ Phong trào trong công tác này hơn những nơi ấy, nhưng ít ra cũng không thua kém. Chúng tôi mong rằng trước khi kết thúc buổi lễ, kết quả công bố tài chánh sẽ chứng minh điều này".
Tiếp đó, Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu, kiêm chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Victoria, đã thay mặt các đồng hương chào mừng phái đoàn Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn gồm Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện Phong Trào, và Ông Trân Quốc Bảo, Chủ tịch Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam kiêm Trưởng Ban Điều Hành Phong Trào. Trong dịp này Ông Phong đã nhấn mạnh "Việc thực hiện những tài liệu sự thật về lịch sữ như cuốn DVD "Sự Thật về Hồ Chí Minh" như thế này không phải chỉ là một việc nên làm của những nhân chứng và nạn nhân mà là còn là một bổn phận thiêng liêng phải làm" và tuyên bố " Tập thể người Việt tỵ nạn của chúng ta có được cái cái may mắn có Lm Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo hy sinh đứng ra làm công việc vô cùng hệ trọng, thiết yếu và lịch sử này thay cho chúng ta. Chúng ta phải vui mừng trân quý và cổ suý những nỗ lực tuyệt vời như thế này thay vì “vạch lá tìm sâu” hoặc “bới lộng tìm vết”, thậm chí còn cáo buộc những người thực hiện như thể họ đã phạm một tội tày trời nào đó. " Ông Nguyễn Thế Phong đã kết luận "Ban chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Victoria, giống như tuyệt đại đa số đồng bào người Việt tỵ nạn hải ngoại đều trân quý và công nhận ý hướng chân chánh và mục đích chống Cộng rỏ ràng của cuốn phim tài liệu này."
Trong bài nói chuyện về chiến dịch "Tẩy Trừ Huyền thoại Giả Trá Hồ Chí Minh" và phim " Sự Thật về Hồ Chí Minh ", Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã trình bày lý do Phong Trào thực hiện cuốn phim và khẳng định " .. điều quan trọng hơn hết là trong chiếc hộp DVD này chứa đựng một nguyện vọng thiết tha và cấp bách của đổng bảo Việt nam 'Phải phá vỡ huyền thoại giả trá Hồ Chí Minh, là tảng đá cuối cùng để chế độ CSVN bám vào đó mà tồn tại.” Nói về những dự tính của Phong Trào trong tương lai, Linh Mục cũng cho biết "... phim Sự Thật về Hồ Chí Minh chỉ là bước khởi đầu của một tiến trình hành động cụ thể và quyết liệt" của Phong Trào và kêu gọi đồng bào hỗ trợ, tiếp tay trong thời gian tới khi kế hoạch này được công bố.
Sau phần trình chiếu đoạn phim ngắn trích dẫn một số chủ đề của cuốn phim, Ông Trần Quốc Bảo, trong vai trò Giám đốc Sản xuất, đã nói qua tiến trình thực hiện và kế hoạch quảng bá cuốn phim. Ông cho biết 2 bản phim tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim dự tính hoàn tất vào cuối tam cá nguyệt năm 2010 để "thế hệ con em người Việt hải ngoại không rành tiếng Việt, cũng như những người bạn ngoại quốc biết rõ sự thật về Hồ Chí Minh". Theo Ông, các bản phim này cũng sẽ được gửi đến các thư viện, các trường đại học các quốc gia trên thế giới để mọi người cùng xem. Trong phần trình bày về tài chính để thực hiện và quảng bá cuốn phim, Ông Trần Quốc Bảo cho biết Melbourne là một trong những điạ điểm có nhiều mạnh thường quân ứng trước tài chính để Phong Trào thực hiện cuốn phim. Hội trường đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh những nhà hảo tâm ẩn danh này.
Tiếp đó, nhà báo Long Quân, chủ nhiệm Tuần báo Nhân Quyền, đã ngỏ lời tán thưởng cuốn phim và hoan nghệnh những người đã bỏ công sức hoàn tất công trình. mà theo Ông rất có ý nghĩa và giá trị. Ông Long Quân cũng đã loan báo tự nguyện tặng số tiền 2000 úc kim mà trong năm 2008 Ông đã ứng trước cho Phong Trào để có phương tiện tài chính thực hiện cuốn phim.
Sau phần phát biểu cảm tưởng, đồng hương đã xếp hàng để tiếp nhận DVD phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do đích thân Linh mục Nguyễn Hữu Lễ ký tặng. Trong khi đó, Ban Tổ Chức đã trình chiếu danh sách các đồng hương tham dự đã ủng hộ tài chính, và thông báo, ngoài nhà báo Long Quân, một mạnh thường quân ẩn danh khác cũng đã tặng luôn số tiền 5000 úc kim mà Bà đã ứng trước cho Phong Trào vào tháng 9 năm 2008.
Buổi ra mắt phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do Ông Hoàng Chính Đan làm MC, đã kết thúc vào lúc 4 giờ 30 chiều, sau khi Lm Lễ tặng quà lưu niệm cảm tạ chủ nhân nhà hàng Happy Receiption đã cho Ban Tổ Chức sử dụng miễn phí nhà hàng. Ban Tổ Chức cũng công bố kết quả tài chính đóng góp của đồng hương, kể cả số ủng hộ của hai mạnh thường quân, tổng cộng được 23,466.10 úc kim.
Được biết vào ngày hôm trước, Thứ Bẩy, 22 tháng 8 năm 2009, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ và Ông Trần Quốc Bảo đã có mặt tại Perth, Tây Úc để tham dự buổi ra mắt phim Sự Thật về Hồ Chí Minh do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang Tây Úc bảo trợ tổ chức. Mặc dù chỉ chuẩn bị không đày 10 ngày, buổi ra mắt đã qui tụ hơn 200 đồng hương. Phát biểu trong phần chào mừng phái đoàn Phong Trào Sài Gòn, Ông Phạm Lê Hoàng Nam, chủ tịch Ban chấp Hành Cộng Đồng nêu nhận xét "cuốn phim Sự Thật về Hồ Chí Minh là muĩ tên bắn thẳng vào tim của con quái vật Cộng Sản Việt Nam, nên không ai ngạc nhiên trước những phản ứng lồng lộn của nó." Ông cũng kêu gọi đồng hương Tây Úc tích cực ủng hộ Phong Trào trong việc quảng bá cuốn phim "để làm tăng thêm mức độ hiệu quả của muĩ tên này". Đáp ứng lời kêu gọi này, đồng hương đã đóng góp yểm trợ Phong Trào 6,250 úc kim.
Theo tin của Phong Trào, tại Úc còn 2 buổi ra mắt, tại Sydney vào Thứ Bảy, 29 tháng 8, và Brsibane, vào Chủ Nhật, 30 tháng 8. Sau đó, phái đoàn Phong Trào sẽ bay qua Âu Châu để tổ chức các buổi ra mắt tại đây./.
Lưu Phong
Tường trình từ Melbourne, Úc Châu
Thư Gửi Sinh Viên Học Sinh
Hãy Cứ Đợi Đấy!
Ngày 20 tháng 8 năm 2009, nhà cầm quyền Hà nội cho ti-vi chiếu cảnh một số anh em dân chủ đã “ăn năn thú tội”. Bên cạnh anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, ông Trần Anh Kim còn có thêm Luật sư Lê Công Định, người trước đây đã xin “hưởng lượng khoan hồng”. Mục tiêu của lần này ngoài việc đánh đổ uy tín cá nhân của anh em dân chủ nói riêng và Phong trào Dân chủ Việt Nam nói chung, Bộ công an Hà nội còn muốn nhắm vào phía chính giới Hoa Kỳ.
Bản thú tội được anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức và Ông Trần Anh Kim viết ngày 13 tháng 8 năm 2009 nhưng mãi đến ngày 20 mới chính thức phát hình, tức là sau vài ngày khi Nghị sĩ Mỹ Jim Webb có mặt tại Việt Nam. Những lời “buộc” phát biểu của anh Nguyễn Tiến Trung và Luật sư Lê Công Định cho thấy nhóm lãnh đạo an ninh CS thân Bắc Kinh muốn gây ấn tượng trong nội bộ CSVN trước Đại hội đảng 11 là có yếu tố chỉ đạo đòi Dân chủ của “nước ngoài”, và gửi tín hiệu với Mỹ “đừng can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đừng đề cập đến vấn đề vi phạm nhân quyền”. Cảnh thú tội cũng nhằm khẳng định là những người này đã công khai nhận tội, vi phạm pháp luật Việt Nam và xin nhà nước khoan hồng. Vì vậy, Mỹ và dư luận quốc tế không còn lý do vững chắc để đặt vấn đề “nhân quyền” với Hà Nội. Không ai tin những anh em này lại thành khẩn “cúi đầu nhận tội”. Tuy nhiên trong cảnh “cá chậu chim lồng”, họ đã phải bước lùi, vừa trái với lý tưởng của họ, vừa đi ngược lại xu hướng của cuộc đấu tranh.
Những hiện tượng “thú tội” của Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, luật sư Lê Công Định, nếu có làm dư luận bức xúc và lo lắng cho tương lại Phong trào Dân chủ, thì dư luận cũng cần vững tin vào những kiên cường của số anh chị em dân chủ sắp bị Hà Nội đưa ra xét xử như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, anh Ngô Quỳnh, anh Phạm Văn Trội, chị Phạm Thanh Nghiên v.v.. hay nhiều người khác đã từng bị Hà Nội tuyên án tù như Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyễn, Trần Quốc Hiền, bác sĩ Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo, Trương Minh Đức, Nguyễn Phong, Đoàn Văn Diên, Nguyễn Tấn Hoàng v.v… Hãy nhớ rằng, họ đã và đang bị tù tội lâu nhất, chịu cảnh trấn áp dã man nhứt, nặng nề nhứt, khốc liệt nhứt, nhưng không ai trong số họ đã “cúi đầu nhận tội” hay “xin hưởng lượng khoan hồng”.
Nước Hàn Quốc vừa mất đi một vị anh hùng. Ông cựu Tổng thống Kim Đại Trọng, người đã dũng cảm đấu tranh chống lại chế độ độc tài Phác Chính Hy. Vì là nhà bất đồng chính kiến, ông từng bị chế độ cho công an, đặc vụ ám sát nhiều lần, từng bị tuyên án tử hình. Năm 1973, ngay tại Tokyo, đặc vụ Hàn Quốc đã bắt cóc Kim Đại Trọng đưa ra ngoài biển, chuẩn bị giết và ném xác xuống biển phi tang. Khi được mật báo, ông Don Gregg, trùm tình báo CIA tại Hàn Quốc đã quyết định phải khẩn cứu. Ông đã cho máy bay trực thăng bay vòng vòng trên chiếc tàu đang giam Kim Đại Trọng, làm to chuyện nhằm áp lực chính phủ quân phiệt. Nhờ sự can thiệp quyết liệt của Don Gregg, Phác Chính Hy đã miễn cưởng tha mạng của họ Kim.
Nhờ lòng can đãm và quyết liệt đấu tranh đến cùng, vì sự nghiệp Dân chủ và Tự do cho Hàn Quốc của Kim Đại Trọng, chế độ độc tài Phác Chính Hy đã phải sụp đổ. Nếu họ Phác giết Kim Đại Trọng, hay họ Kim “đầu hàng” chế độ độc tài, lịch sử đấu tranh Dân chủ của Hàn Quốc đã đi về đâu? Nhân dân Hàn Quốc đã cử lễ quốc táng cho Kim Đại Trọng và gương đấu tranh chống độc tài của ông xứng đáng cho Nhân dân Việt Nam cảm phục và học hỏi. Kim Đại Trọng có thể không làm nên “lịch sử” cho Hàn Quốc, nhưng “lịch sử” đấu tranh lật đổ chế độ độc tài Phác Chính Hy thì không thể thiếu vai trò của Kim Đại Trọng.
Chúng ta không đòi hỏi luật sư Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, ông Trần Anh Kim v.v…phải làm anh hùng. Không ai quyết định số phận của họ bằng chính họ. Cuộc đấu tranh vì Dân chủ cho Việt Nam vô cùng cam go, ngoài chế độ độc tài, toàn trị, còn phải liên tục tự đấu tranh trong chính chúng ta. Đây là cuộc đấu tranh tự nguyện, họ đã tự nguyện hy sinh, dấn thân và tự nguyện lùi bước, cho dù bị ép buộc, thì cuộc đấu tranh Dân chủ này không vì vậy mà gãy đổ, thoái trào.
Hãy cứ đợi đấy bạn ạ, vì thời gian sẽ trả lời. Lịch sử rất sòng phẳng, những kẻ có tội sẽ phải ra toà, hoặc toà án công luận hoặc toà án công lý. Hiện nay, kẻ có tội trước công luận không phải những anh em dân chủ bị ép “cúi đầu nhận tội” mà chính là nhà nước độc tài CSVN. Hãy cứ vững tin vào tương lai, vì đảng CSVN sẽ có ngày phải đối diện trước toà án công lý.
Ban Biên Tập Báo SVYN
Ngày 25 tháng 8 năm 2009
Ban biên tập – Điện thư: baosinhvienyeunuoc@gmail.com
http://baosinhvienyeunuoc.blogspot.com/
Ngày 20 tháng 8 năm 2009, nhà cầm quyền Hà nội cho ti-vi chiếu cảnh một số anh em dân chủ đã “ăn năn thú tội”. Bên cạnh anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, ông Trần Anh Kim còn có thêm Luật sư Lê Công Định, người trước đây đã xin “hưởng lượng khoan hồng”. Mục tiêu của lần này ngoài việc đánh đổ uy tín cá nhân của anh em dân chủ nói riêng và Phong trào Dân chủ Việt Nam nói chung, Bộ công an Hà nội còn muốn nhắm vào phía chính giới Hoa Kỳ.
Bản thú tội được anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức và Ông Trần Anh Kim viết ngày 13 tháng 8 năm 2009 nhưng mãi đến ngày 20 mới chính thức phát hình, tức là sau vài ngày khi Nghị sĩ Mỹ Jim Webb có mặt tại Việt Nam. Những lời “buộc” phát biểu của anh Nguyễn Tiến Trung và Luật sư Lê Công Định cho thấy nhóm lãnh đạo an ninh CS thân Bắc Kinh muốn gây ấn tượng trong nội bộ CSVN trước Đại hội đảng 11 là có yếu tố chỉ đạo đòi Dân chủ của “nước ngoài”, và gửi tín hiệu với Mỹ “đừng can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đừng đề cập đến vấn đề vi phạm nhân quyền”. Cảnh thú tội cũng nhằm khẳng định là những người này đã công khai nhận tội, vi phạm pháp luật Việt Nam và xin nhà nước khoan hồng. Vì vậy, Mỹ và dư luận quốc tế không còn lý do vững chắc để đặt vấn đề “nhân quyền” với Hà Nội. Không ai tin những anh em này lại thành khẩn “cúi đầu nhận tội”. Tuy nhiên trong cảnh “cá chậu chim lồng”, họ đã phải bước lùi, vừa trái với lý tưởng của họ, vừa đi ngược lại xu hướng của cuộc đấu tranh.
Những hiện tượng “thú tội” của Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, luật sư Lê Công Định, nếu có làm dư luận bức xúc và lo lắng cho tương lại Phong trào Dân chủ, thì dư luận cũng cần vững tin vào những kiên cường của số anh chị em dân chủ sắp bị Hà Nội đưa ra xét xử như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, anh Ngô Quỳnh, anh Phạm Văn Trội, chị Phạm Thanh Nghiên v.v.. hay nhiều người khác đã từng bị Hà Nội tuyên án tù như Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyễn, Trần Quốc Hiền, bác sĩ Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo, Trương Minh Đức, Nguyễn Phong, Đoàn Văn Diên, Nguyễn Tấn Hoàng v.v… Hãy nhớ rằng, họ đã và đang bị tù tội lâu nhất, chịu cảnh trấn áp dã man nhứt, nặng nề nhứt, khốc liệt nhứt, nhưng không ai trong số họ đã “cúi đầu nhận tội” hay “xin hưởng lượng khoan hồng”.
Nước Hàn Quốc vừa mất đi một vị anh hùng. Ông cựu Tổng thống Kim Đại Trọng, người đã dũng cảm đấu tranh chống lại chế độ độc tài Phác Chính Hy. Vì là nhà bất đồng chính kiến, ông từng bị chế độ cho công an, đặc vụ ám sát nhiều lần, từng bị tuyên án tử hình. Năm 1973, ngay tại Tokyo, đặc vụ Hàn Quốc đã bắt cóc Kim Đại Trọng đưa ra ngoài biển, chuẩn bị giết và ném xác xuống biển phi tang. Khi được mật báo, ông Don Gregg, trùm tình báo CIA tại Hàn Quốc đã quyết định phải khẩn cứu. Ông đã cho máy bay trực thăng bay vòng vòng trên chiếc tàu đang giam Kim Đại Trọng, làm to chuyện nhằm áp lực chính phủ quân phiệt. Nhờ sự can thiệp quyết liệt của Don Gregg, Phác Chính Hy đã miễn cưởng tha mạng của họ Kim.
Nhờ lòng can đãm và quyết liệt đấu tranh đến cùng, vì sự nghiệp Dân chủ và Tự do cho Hàn Quốc của Kim Đại Trọng, chế độ độc tài Phác Chính Hy đã phải sụp đổ. Nếu họ Phác giết Kim Đại Trọng, hay họ Kim “đầu hàng” chế độ độc tài, lịch sử đấu tranh Dân chủ của Hàn Quốc đã đi về đâu? Nhân dân Hàn Quốc đã cử lễ quốc táng cho Kim Đại Trọng và gương đấu tranh chống độc tài của ông xứng đáng cho Nhân dân Việt Nam cảm phục và học hỏi. Kim Đại Trọng có thể không làm nên “lịch sử” cho Hàn Quốc, nhưng “lịch sử” đấu tranh lật đổ chế độ độc tài Phác Chính Hy thì không thể thiếu vai trò của Kim Đại Trọng.
Chúng ta không đòi hỏi luật sư Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, anh Trần Huỳnh Duy Thức, ông Trần Anh Kim v.v…phải làm anh hùng. Không ai quyết định số phận của họ bằng chính họ. Cuộc đấu tranh vì Dân chủ cho Việt Nam vô cùng cam go, ngoài chế độ độc tài, toàn trị, còn phải liên tục tự đấu tranh trong chính chúng ta. Đây là cuộc đấu tranh tự nguyện, họ đã tự nguyện hy sinh, dấn thân và tự nguyện lùi bước, cho dù bị ép buộc, thì cuộc đấu tranh Dân chủ này không vì vậy mà gãy đổ, thoái trào.
Hãy cứ đợi đấy bạn ạ, vì thời gian sẽ trả lời. Lịch sử rất sòng phẳng, những kẻ có tội sẽ phải ra toà, hoặc toà án công luận hoặc toà án công lý. Hiện nay, kẻ có tội trước công luận không phải những anh em dân chủ bị ép “cúi đầu nhận tội” mà chính là nhà nước độc tài CSVN. Hãy cứ vững tin vào tương lai, vì đảng CSVN sẽ có ngày phải đối diện trước toà án công lý.
Ban Biên Tập Báo SVYN
Ngày 25 tháng 8 năm 2009
Ban biên tập – Điện thư: baosinhvienyeunuoc@gmail.com
http://baosinhvienyeunuoc.blogspot.com/
Dùng tiền dân củng cố đảng
Thursday, August 27, 2009
Ngô Nhân Dụng
Marx và Engels đã lên án đồng tiền, coi đó chỉ là một khí cụ để giai cấp thống trị tư bản bóc lột giai cấp vô sản bị trị. Cho đến thập niên 1970, nhiều người cộng sản ở Âu Châu vẫn còn nuôi giấc mộng loài người sẽ tiến tới một xã hội không cần đến tiền tệ. Khi đó, mọi người đều làm việc cho guồng máy sản xuất chung mà không cần lãnh lương. Mỗi khi ai có nhu cầu nào thì cứ việc tới các cửa hàng chung, lấy về nhà sử dụng (Un Monde sans Argent: Le Communisme; Paris, 1975).
Các đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam hiện nay trên lý thuyết vẫn theo chủ nghĩa Marx-Engels, nhưng họ học ngược lý thuyết của hai ông thầy. Bài học mà hai nhà tiên tri này dạy cho họ là: Ðồng tiền là một khí cụ để giai cấp thống trị bóc lột đám dân bị trị. Họ áp dụng ngay phương pháp này, để củng cố quyền lực và quyền lợi của quý ngài lãnh tụ đảng đang ngồi giữ các chức vụ trong guồng máy hành chánh và kinh tế.
Năm ngoái khi kinh tế thế giới rơi vào cơn khủng hoảng, chính phủ Bắc Kinh đã dùng 4,000 tỷ nhân dân tệ (khoảng 585 tỷ Mỹ kim, bằng 14% tổng sản lượng nội địa năm đó) gọi là để kích thích nhu cầu trong nền kinh tế, cũng giống như các kế hoạch kích thích ở các nước Âu Mỹ. Chương trình ở Trung Quốc bắt đầu từ Tháng Mười Một, năm 2008, đến nay đã đưa tới một hậu quả là nó làm trì hoãn việc cải tổ cơ cấu nền kinh tế, có khi còn quay chiều đi ngược lại. Vì số tiền trên được dùng nuôi nấng các doanh nghiệp nhà nuớc, tiêu tiền vào những việc phí phạm trong khi chèn ép các xí nghiệp tư nhân cho họ bị khó khăn hơn. Ở Trung Quốc thế nào thì Việt Nam chắc cũng không khác, vì ít khi thấy Hà Nội có sáng kiến nào khác với đường lối của Bắc Kinh. Chính các chuyên gia kinh tế ở Trung Quốc đã nêu lên nhưng hậu quả trên, chứ không phải do “các thế lực thù nghịch” nào cả.
Giáo Sư Vương Nhất Giang (Wang Yijiang) thuộc Viện Ðại Học Thương Mại Trường Giang (Cheung Kong), Bắc Kinh, nói rằng “Chương trình kích thích kinh tế đã khiến cho cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc càng mất cân bằng hơn.” Cảnh mất cân bằng trầm trọng hơn là số tiền kích thích được dồn cho các doanh nghiệp nhà nước, còn lãnh vực tư nhân bị bỏ rơi. Sau 30 năm cải cách kinh tế, đây là lần đầu tiên tỷ lệ hoạt động trong lãnh vực tư doanh giảm xuống thay vì tăng lên. Mà chính các xí nghiệp tư nhân cung cấp ba phần tư số công việc làm cho giới lao động Trung Quốc.
Ở các nước theo kinh tế thị trường, các ngân hàng chỉ cho vay khi thấy xí nghiệp xin vay có lời và dự án sử dụng tiền vay có triển vọng sinh lợi. Ở Trung Quốc thì ngược lại. Trong sáu tháng đầu năm 2009, các ngân hàng Trung Quốc đã đem một số tiền khổng lồ cho các xí nghiệp vay qua các món nợ mới: 7370 tỷ nhân dân tệ, gấp ba lần số nợ mới trong nửa đầu năm 2008, vượt cao hơn mục tiêu của cả năm. Ngân hàng NBP Paribas tính số nợ mới này lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa và nhận xét chưa có một hệ thống ngân hàng nước nào đã bơm nhiều tiền vào nền kinh tế như vậy.
Theo Royal Bank of Scotland thì các xí nghiệp vay được tiền rồi không dùng hết, đã đem 20% mua cổ phiếu và 30% dùng vào việc mua hoặc xây dựng nhà cửa mới, và các vụ đầu tư không sản xuất. Hai thị trường cổ phần và thị trường địa ốc lên cơn sốt báo động chính quyền Bắc Kinh, họ phải ra lệnh các ngân hàng “tốp” lại. Nhưng các quan chức lãnh đạo từ xí nghiệp đến ngân hàng đều đã có dịp bỏ túi rồi. Từ Tháng Mười Một năm ngoái đến đầu Tháng Bảy, giá chứng khoán đã tăng 64% trước khi tụt xuống 14% trong ba tuần lễ đầu Tháng Tám sau khi nghe tin lệnh ngưng cho vay.
Khi ngân hàng của đảng đem tiền cho các doanh nghiệp nhà nước do đảng kiểm soát, không những khiến cho các xí nghiệp tư nhân không thể cạnh tranh với xí nghiệp nhà nước; mà còn giúp các cán bộ có dịp tấn công bỏ tiền ra mua các xí nghiệp tư bị yếu để đưa chúng vào trong vòng kiềm tỏa của họ. Một vụ “tấn công” đang được cả nước Trung Hoa và giới kinh doanh nước ngoài chú ý là công ty Sắt Thép của tỉnh Sơn Ðông đang hiến giá mua công ty sắt thép tư Rizhao (Nhật Chiếu), đẩy người làm chủ nhiều cổ phần nhất của công ty tư này xuống hàng cổ đông thứ yếu.
Năm ngoái công ty Rizhao được ước tính trị giá 30 tỷ nguyên. Trong 6 tháng đầu năm nay Rizhao khai có lời 1.8 tỷ nguyên trong khi Sơn Ðông khai lỗ 1.3 tỷ. Nhưng nay Sơn Ðông đang đề nghị trả 16 tỷ nguyên để làm chủ 2 phần ba cổ phần trong Rizhao, phần còn lại để cho ông Ðỗ Song Hoa là chủ nhân đa số cũ, là người đã từng được xếp hạng giầu thứ nhì ở Trung Quốc. Ông Hoa đã tính kế “thoát xác” bằng cách chia một nửa quyền sở hữu cho một công ty ở Hồng Kông, do một thân nhân của ông Hồ Cẩm Ðào làm chủ; nhưng việc không xong.
Nếu cuộc tấn công này thành công, nội trong tuần tới sẽ biết, thì ông Ðỗ Song Hoa (Du ShuangHua) vẫn có thể coi là may mắn. Vì năm ngoái, người được mô tả là giầu nhất Trung Quốc đã biến mất một cách bí mật khiến các cổ phiếu của công ty Gome trên thị trường Hồng Kông phải ngưng mua bán, trước khi có tin của cảnh sát nói ông ta bị bắt về tội gian lận chứng khoán. Chủ nhân công ty Gome về điện khí và khí cụ điện tử là Hoàng Quang Dục (Huang GuangYu) có tội lớn nhất là đã làm ăn khá giả ngoài vòng kiểm soát của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Hiện tượng các doanh nghiệp nhà nước lấn bước và mua chiếm các xí nghiệp tư nhân được báo chí Trung Quốc gọi là “quốc tiến dân thoái,” (guo jin min tui). Chính phủ Bắc Kinh vẫn nói họ không hề có một chính sách bành trướng lãnh việc quốc doanh để lấn áp lãnh vực tư doanh. Nhưng nhân cơ hội kinh tế thế giới khủng hoảng và dùng các món tiền “kích thích” của nhà nước cộng sản, các xí nghiệp quốc doanh đang lấn chiếm quay ngược kim đồng hồ của chương trình tư nhân hóa đã thi hành từ thời Ðặng Tiểu Bình. Với số tiền khổng lồ mà các ngân hàng của đảng có thể đưa cho các xí nghiệp của đảng vay, các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp nhà nuớc được cơ hội “vùng lên.” Những nhà tư doanh, là “lực lượng sản xuất tiên tiến” theo lối nói của đảng Cộng Sản, đã được mời gia nhập hàng ngũ đảng viên sau khi họ sửa cương lĩnh; nhưng vẫn chưa làm hài lòng giai cấp thống trị. Vì đại đa số các cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc nằm trong nhưng “đại gia đình” của các lãnh tụ, họ chia nhau địa vị trong các xí nghiệp công lớn. Và họ biết chắc là họ không thể cạnh tranh với các xí nghiệp tư trên một sân banh bằng phẳng, dù các chủ nhân xí nghiệp tư đó có gia nhập đảng cộng sản cũng chẳng có lợi gì cho họ. Cho nên, nếu có dịp là họ dùng tiền của nhà nước, dùng quyền hành nhà nước trao cho, để làm nghiêng sân chơi về phía có lợi cho họ! Chương trình kích thích kinh tế là một cơ hội bằng vàng để “quốc tiến dân thoái.”
Nếu đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục con đường này, nền kinh tế cả nước sẽ bị níu kéo trở lại tình trạng kém hiệu năng; vì trong 30 năm qua các xí nghiệp tư là khu vực hoạt động mạnh nhất, tạo nên nhiều công việc làm cho dân nhất.
Một chuyên gia kinh tế cao cấp trong chính quyền Bắc Kinh cũng lên tiếng cảnh cáo việc sử dụng tiền kích thích kinh tế không đúng. Ông Dư Vĩnh Ðịnh (Yu YongDing), từng làm trong Ủy Ban Tiền Tệ của Ngân Hàng Nhân Dân (tức ngân hàng trung ương Trung Quốc) viết trên nhật báo Financial Times trong tuần này, báo động rằng chương trình kích thích kinh tế đang kéo dài tình trạng thiếu cân bằng trong cơ cấu kinh tế quốc gia. Sự phát triển trong các năm qua dựa quá nhiều trên số gia tăng đầu tư vào cơ sở sản xuất tạo nên cảnh dư thừa không dùng tới, nay chuyển sang hạ tầng cơ sở mà vẫn không được đưa vào lãnh vực tiêu thụ. Có 89% số tiền kích thích đem dùng trong các dự án hạ tầng cơ sở (xa lộ, thiết lộ, phi trường) mà chỉ có 8% được dùng kích thích tiêu thụ. Trong khi đó, số tiêu thụ ở Trung Quốc đã quá thấp so với các hoạt động kinh tế khác. Người dân tiêu thụ bị hy sinh cho các doanh nghiệp nhà nước dùng tiền đi vay vào các dự án không chắc có lời, mà không biết trong tương lai có thể trả nợ được hay không.
Ông Dư Vĩnh Ðịnh viết, “Tiền kích thích đã làm cho tình trạng dư thừa khả năng sản xuất đã nghiêm trọng càng trầm trọng hơn, trong khi tiền đem cho lại được dùng để thổi cho quả bong bóng chứng khoán phồng lên nguy hiểm.” Ông cho biết số tiền đầu tư vào cơ sở và thiết bị đã tăng 36% so với năm ngoái, và đưa tỷ lệ của hoạt động đầu tư lên 50% tổng số GDP. Trong khi đó, người dân Trung Hoa tạo ra được 100 đồng của cải thì chỉ được tiêu thụ 35 đồng, tỷ lệ thấp nhất trong số các nền kinh tế lớn, so với ở Mỹ là 70 đồng hay ở Ðức là 60 đồng.
Ở nước Mỹ, khi chính quyền Obama đưa ra chương trình kích thích kinh tế gần 800 tỷ Mỹ kim, nhiều đại biểu Quốc Hội đối lập đã chỉ trích rằng nhiều món tiền trong số đó được đem vào những hoạt động kích thích dân tiêu thụ mà chỉ nhắm thực hiện nhưng chính sách của đảng Dân Chủ, thí dụ như nghiên cứu nguồn năng lượng mới và bảo vệ môi trường. Nhưng có một chính phủ Mỹ nào dám dùng tiền của dân đóng thuế để kích thích riêng cho các cán bộ kinh tế của mình có thể làm giầu thêm. Vì một nước có báo chí tự do và Quốc Hội độc lập không cho phép chính quyền làm như vậy.
Ở Trung Quốc thì rõ ràng nhưng số tiền do chính phủ đem kích thích kinh tế chỉ nhắm làm giầu cho các cán bộ quốc doanh. Ở Trung Quốc không ai đặt câu hỏi tại sao lại dùng tiền đóng thuế của dân như vậy. Vì không ai dám nói đó là tiền của dân. Nhiều người nghĩ đó là tiền của đảng Cộng Sản, họ muốn làm gì thì làm! Phải có các nhà kinh tế phân tích cho người dân thấy tiền đóng thuế của họ được đem dùng cho ai hưởng!
Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã làm đúng việc mà Marx và Engels kết tội giai cấp tư bản khi xưa. Là dùng tiền bóc lột của dân lao động để củng cố địa vị và quyền lợi giai cấp thống trị! Cộng Sản Việt Nam cũng đang theo từng bước chính sách của đảng đàn anh, nhưng chưa thấy trong nước có tờ báo nào dám nói lên nhưng lời cảnh cáo như các ông Dư Vĩnh Ðịnh và Vương Nhất Giang đã làm! Nếu Marx và Engels sống trong thời này chắc hẳn họ phải viết một bộ sách “Tư Bản Nhà Nước Ðộc Quyền” để hô hào người dân lao động đứng lên làm cách mạng!
Thursday, August 27, 2009
Ngô Nhân Dụng
Marx và Engels đã lên án đồng tiền, coi đó chỉ là một khí cụ để giai cấp thống trị tư bản bóc lột giai cấp vô sản bị trị. Cho đến thập niên 1970, nhiều người cộng sản ở Âu Châu vẫn còn nuôi giấc mộng loài người sẽ tiến tới một xã hội không cần đến tiền tệ. Khi đó, mọi người đều làm việc cho guồng máy sản xuất chung mà không cần lãnh lương. Mỗi khi ai có nhu cầu nào thì cứ việc tới các cửa hàng chung, lấy về nhà sử dụng (Un Monde sans Argent: Le Communisme; Paris, 1975).
Các đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam hiện nay trên lý thuyết vẫn theo chủ nghĩa Marx-Engels, nhưng họ học ngược lý thuyết của hai ông thầy. Bài học mà hai nhà tiên tri này dạy cho họ là: Ðồng tiền là một khí cụ để giai cấp thống trị bóc lột đám dân bị trị. Họ áp dụng ngay phương pháp này, để củng cố quyền lực và quyền lợi của quý ngài lãnh tụ đảng đang ngồi giữ các chức vụ trong guồng máy hành chánh và kinh tế.
Năm ngoái khi kinh tế thế giới rơi vào cơn khủng hoảng, chính phủ Bắc Kinh đã dùng 4,000 tỷ nhân dân tệ (khoảng 585 tỷ Mỹ kim, bằng 14% tổng sản lượng nội địa năm đó) gọi là để kích thích nhu cầu trong nền kinh tế, cũng giống như các kế hoạch kích thích ở các nước Âu Mỹ. Chương trình ở Trung Quốc bắt đầu từ Tháng Mười Một, năm 2008, đến nay đã đưa tới một hậu quả là nó làm trì hoãn việc cải tổ cơ cấu nền kinh tế, có khi còn quay chiều đi ngược lại. Vì số tiền trên được dùng nuôi nấng các doanh nghiệp nhà nuớc, tiêu tiền vào những việc phí phạm trong khi chèn ép các xí nghiệp tư nhân cho họ bị khó khăn hơn. Ở Trung Quốc thế nào thì Việt Nam chắc cũng không khác, vì ít khi thấy Hà Nội có sáng kiến nào khác với đường lối của Bắc Kinh. Chính các chuyên gia kinh tế ở Trung Quốc đã nêu lên nhưng hậu quả trên, chứ không phải do “các thế lực thù nghịch” nào cả.
Giáo Sư Vương Nhất Giang (Wang Yijiang) thuộc Viện Ðại Học Thương Mại Trường Giang (Cheung Kong), Bắc Kinh, nói rằng “Chương trình kích thích kinh tế đã khiến cho cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc càng mất cân bằng hơn.” Cảnh mất cân bằng trầm trọng hơn là số tiền kích thích được dồn cho các doanh nghiệp nhà nước, còn lãnh vực tư nhân bị bỏ rơi. Sau 30 năm cải cách kinh tế, đây là lần đầu tiên tỷ lệ hoạt động trong lãnh vực tư doanh giảm xuống thay vì tăng lên. Mà chính các xí nghiệp tư nhân cung cấp ba phần tư số công việc làm cho giới lao động Trung Quốc.
Ở các nước theo kinh tế thị trường, các ngân hàng chỉ cho vay khi thấy xí nghiệp xin vay có lời và dự án sử dụng tiền vay có triển vọng sinh lợi. Ở Trung Quốc thì ngược lại. Trong sáu tháng đầu năm 2009, các ngân hàng Trung Quốc đã đem một số tiền khổng lồ cho các xí nghiệp vay qua các món nợ mới: 7370 tỷ nhân dân tệ, gấp ba lần số nợ mới trong nửa đầu năm 2008, vượt cao hơn mục tiêu của cả năm. Ngân hàng NBP Paribas tính số nợ mới này lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa và nhận xét chưa có một hệ thống ngân hàng nước nào đã bơm nhiều tiền vào nền kinh tế như vậy.
Theo Royal Bank of Scotland thì các xí nghiệp vay được tiền rồi không dùng hết, đã đem 20% mua cổ phiếu và 30% dùng vào việc mua hoặc xây dựng nhà cửa mới, và các vụ đầu tư không sản xuất. Hai thị trường cổ phần và thị trường địa ốc lên cơn sốt báo động chính quyền Bắc Kinh, họ phải ra lệnh các ngân hàng “tốp” lại. Nhưng các quan chức lãnh đạo từ xí nghiệp đến ngân hàng đều đã có dịp bỏ túi rồi. Từ Tháng Mười Một năm ngoái đến đầu Tháng Bảy, giá chứng khoán đã tăng 64% trước khi tụt xuống 14% trong ba tuần lễ đầu Tháng Tám sau khi nghe tin lệnh ngưng cho vay.
Khi ngân hàng của đảng đem tiền cho các doanh nghiệp nhà nước do đảng kiểm soát, không những khiến cho các xí nghiệp tư nhân không thể cạnh tranh với xí nghiệp nhà nước; mà còn giúp các cán bộ có dịp tấn công bỏ tiền ra mua các xí nghiệp tư bị yếu để đưa chúng vào trong vòng kiềm tỏa của họ. Một vụ “tấn công” đang được cả nước Trung Hoa và giới kinh doanh nước ngoài chú ý là công ty Sắt Thép của tỉnh Sơn Ðông đang hiến giá mua công ty sắt thép tư Rizhao (Nhật Chiếu), đẩy người làm chủ nhiều cổ phần nhất của công ty tư này xuống hàng cổ đông thứ yếu.
Năm ngoái công ty Rizhao được ước tính trị giá 30 tỷ nguyên. Trong 6 tháng đầu năm nay Rizhao khai có lời 1.8 tỷ nguyên trong khi Sơn Ðông khai lỗ 1.3 tỷ. Nhưng nay Sơn Ðông đang đề nghị trả 16 tỷ nguyên để làm chủ 2 phần ba cổ phần trong Rizhao, phần còn lại để cho ông Ðỗ Song Hoa là chủ nhân đa số cũ, là người đã từng được xếp hạng giầu thứ nhì ở Trung Quốc. Ông Hoa đã tính kế “thoát xác” bằng cách chia một nửa quyền sở hữu cho một công ty ở Hồng Kông, do một thân nhân của ông Hồ Cẩm Ðào làm chủ; nhưng việc không xong.
Nếu cuộc tấn công này thành công, nội trong tuần tới sẽ biết, thì ông Ðỗ Song Hoa (Du ShuangHua) vẫn có thể coi là may mắn. Vì năm ngoái, người được mô tả là giầu nhất Trung Quốc đã biến mất một cách bí mật khiến các cổ phiếu của công ty Gome trên thị trường Hồng Kông phải ngưng mua bán, trước khi có tin của cảnh sát nói ông ta bị bắt về tội gian lận chứng khoán. Chủ nhân công ty Gome về điện khí và khí cụ điện tử là Hoàng Quang Dục (Huang GuangYu) có tội lớn nhất là đã làm ăn khá giả ngoài vòng kiểm soát của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Hiện tượng các doanh nghiệp nhà nước lấn bước và mua chiếm các xí nghiệp tư nhân được báo chí Trung Quốc gọi là “quốc tiến dân thoái,” (guo jin min tui). Chính phủ Bắc Kinh vẫn nói họ không hề có một chính sách bành trướng lãnh việc quốc doanh để lấn áp lãnh vực tư doanh. Nhưng nhân cơ hội kinh tế thế giới khủng hoảng và dùng các món tiền “kích thích” của nhà nước cộng sản, các xí nghiệp quốc doanh đang lấn chiếm quay ngược kim đồng hồ của chương trình tư nhân hóa đã thi hành từ thời Ðặng Tiểu Bình. Với số tiền khổng lồ mà các ngân hàng của đảng có thể đưa cho các xí nghiệp của đảng vay, các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp nhà nuớc được cơ hội “vùng lên.” Những nhà tư doanh, là “lực lượng sản xuất tiên tiến” theo lối nói của đảng Cộng Sản, đã được mời gia nhập hàng ngũ đảng viên sau khi họ sửa cương lĩnh; nhưng vẫn chưa làm hài lòng giai cấp thống trị. Vì đại đa số các cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc nằm trong nhưng “đại gia đình” của các lãnh tụ, họ chia nhau địa vị trong các xí nghiệp công lớn. Và họ biết chắc là họ không thể cạnh tranh với các xí nghiệp tư trên một sân banh bằng phẳng, dù các chủ nhân xí nghiệp tư đó có gia nhập đảng cộng sản cũng chẳng có lợi gì cho họ. Cho nên, nếu có dịp là họ dùng tiền của nhà nước, dùng quyền hành nhà nước trao cho, để làm nghiêng sân chơi về phía có lợi cho họ! Chương trình kích thích kinh tế là một cơ hội bằng vàng để “quốc tiến dân thoái.”
Nếu đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục con đường này, nền kinh tế cả nước sẽ bị níu kéo trở lại tình trạng kém hiệu năng; vì trong 30 năm qua các xí nghiệp tư là khu vực hoạt động mạnh nhất, tạo nên nhiều công việc làm cho dân nhất.
Một chuyên gia kinh tế cao cấp trong chính quyền Bắc Kinh cũng lên tiếng cảnh cáo việc sử dụng tiền kích thích kinh tế không đúng. Ông Dư Vĩnh Ðịnh (Yu YongDing), từng làm trong Ủy Ban Tiền Tệ của Ngân Hàng Nhân Dân (tức ngân hàng trung ương Trung Quốc) viết trên nhật báo Financial Times trong tuần này, báo động rằng chương trình kích thích kinh tế đang kéo dài tình trạng thiếu cân bằng trong cơ cấu kinh tế quốc gia. Sự phát triển trong các năm qua dựa quá nhiều trên số gia tăng đầu tư vào cơ sở sản xuất tạo nên cảnh dư thừa không dùng tới, nay chuyển sang hạ tầng cơ sở mà vẫn không được đưa vào lãnh vực tiêu thụ. Có 89% số tiền kích thích đem dùng trong các dự án hạ tầng cơ sở (xa lộ, thiết lộ, phi trường) mà chỉ có 8% được dùng kích thích tiêu thụ. Trong khi đó, số tiêu thụ ở Trung Quốc đã quá thấp so với các hoạt động kinh tế khác. Người dân tiêu thụ bị hy sinh cho các doanh nghiệp nhà nước dùng tiền đi vay vào các dự án không chắc có lời, mà không biết trong tương lai có thể trả nợ được hay không.
Ông Dư Vĩnh Ðịnh viết, “Tiền kích thích đã làm cho tình trạng dư thừa khả năng sản xuất đã nghiêm trọng càng trầm trọng hơn, trong khi tiền đem cho lại được dùng để thổi cho quả bong bóng chứng khoán phồng lên nguy hiểm.” Ông cho biết số tiền đầu tư vào cơ sở và thiết bị đã tăng 36% so với năm ngoái, và đưa tỷ lệ của hoạt động đầu tư lên 50% tổng số GDP. Trong khi đó, người dân Trung Hoa tạo ra được 100 đồng của cải thì chỉ được tiêu thụ 35 đồng, tỷ lệ thấp nhất trong số các nền kinh tế lớn, so với ở Mỹ là 70 đồng hay ở Ðức là 60 đồng.
Ở nước Mỹ, khi chính quyền Obama đưa ra chương trình kích thích kinh tế gần 800 tỷ Mỹ kim, nhiều đại biểu Quốc Hội đối lập đã chỉ trích rằng nhiều món tiền trong số đó được đem vào những hoạt động kích thích dân tiêu thụ mà chỉ nhắm thực hiện nhưng chính sách của đảng Dân Chủ, thí dụ như nghiên cứu nguồn năng lượng mới và bảo vệ môi trường. Nhưng có một chính phủ Mỹ nào dám dùng tiền của dân đóng thuế để kích thích riêng cho các cán bộ kinh tế của mình có thể làm giầu thêm. Vì một nước có báo chí tự do và Quốc Hội độc lập không cho phép chính quyền làm như vậy.
Ở Trung Quốc thì rõ ràng nhưng số tiền do chính phủ đem kích thích kinh tế chỉ nhắm làm giầu cho các cán bộ quốc doanh. Ở Trung Quốc không ai đặt câu hỏi tại sao lại dùng tiền đóng thuế của dân như vậy. Vì không ai dám nói đó là tiền của dân. Nhiều người nghĩ đó là tiền của đảng Cộng Sản, họ muốn làm gì thì làm! Phải có các nhà kinh tế phân tích cho người dân thấy tiền đóng thuế của họ được đem dùng cho ai hưởng!
Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã làm đúng việc mà Marx và Engels kết tội giai cấp tư bản khi xưa. Là dùng tiền bóc lột của dân lao động để củng cố địa vị và quyền lợi giai cấp thống trị! Cộng Sản Việt Nam cũng đang theo từng bước chính sách của đảng đàn anh, nhưng chưa thấy trong nước có tờ báo nào dám nói lên nhưng lời cảnh cáo như các ông Dư Vĩnh Ðịnh và Vương Nhất Giang đã làm! Nếu Marx và Engels sống trong thời này chắc hẳn họ phải viết một bộ sách “Tư Bản Nhà Nước Ðộc Quyền” để hô hào người dân lao động đứng lên làm cách mạng!
54 năm cầm quyền dân phát mệt
Friday, August 28, 2009
Ngô Nhân Dụng Ngày Chủ Nhật, 30 Tháng Chín, dân Nhật Bản sẽ đi bầu Hạ Viện. Và đảng Tự Do Dân Chủ (Tự Dân Ðảng) chắc sẽ thua, đảng Dân Chủ Nhật Bản có thể thắng lớn mặc dù mới ra đời được 11 năm nay. Ða số dân muốn bầu đảng Dân Chủ không nhất thiết vì họ tin chắc đảng đối lập sẽ thực hiện được tất cả các lời hứa hẹn, nhưng vì đảng Tự Dân đã nắm quyền quá lâu, cho thấy sinh lực hao mòn. Cũng giống như năm 2000 dân Mexico đã lật đổ đảng cầm quyền sau 70 năm từ khi độc lập, bầu cho một vị tổng thống dùng khẩu hiệu “liên minh thay đổi.” Ðây là một bài học cho nhưng dân tộc đã chịu sự cai trị của một đảng quá lâu ngày. Muốn thay đổi phải đòi cho dân được tự do bầu cử.
Dân chúng Nhật đã cảm thấy mệt mỏi với đảng Tự Do Dân Chủ sau khi họ cầm quyền từ năm 1955 đến nay, chỉ bị ngưng 11 tháng trong năm 1993 khi kinh tế trì trệ mà chính quyền thì lúng túng. Dân Nhật Bản cũng chán nản với nhưng vụ xì căng đan và tham nhũng trong giới cầm quyền, mặc dù nhưng vụ đó rất nhỏ so với Việt Nam hay Trung Quốc. Nhưng ở một nước người dân trọng liêm sỉ và nghĩa khí, bất cứ một vụ tham nhũng nhỏ nào cũng bị trừng phạt.
Cử tri Nhật Bản cũng mệt mỏi vì kinh tế trì trệ suốt 2 thập niên và hiện lâm vào tình trạng suy thoái nặng nề. Tỷ số thất nghiệp đã lên 5.7% trong Tháng Bẩy vừa qua, mức cao kỷ lục kể từ sau chiến tranh. Ðảng Dân Chủ tranh cử với khẩu hiệu “Thay đổi” mà trong lúc vận động nhiều khi họ không dùng chữ “kaeru” trong tiếng Nhật mà gọi là “chenji” phiên âm chữ “Change” trong tiếng Anh, khiến giới trẻ Nhật nhớ lại khẩu hiệu trong cuộc tranh cử năm ngoái ở Mỹ. Chương trình của đảng Dân Chủ nhắm vào giới trẻ, với nhưng đề nghị xóa bỏ nhiều truyền thống lâu đời trong xã hội Nhật Bản. Họ cũng hứa sẽ cho người tiêu thụ có thêm tiền để kinh tế Nhật khỏi bị lệ thuộc quá nhiều trên hoạt động xuất cảng. Và lời hứa được dân chúng hoan nghênh nhất là giảm bớt guồng máy hành chánh, mà lực lượng công chức xưa nay vẫn là một trong ba cột trụ của đảng Tự Do Dân Chủ.
Ðể chứng tỏ họ muốn thay đổi các chủ trương truyền thống của đảng Tự Dân đang cầm quyền, ông Yukio Hatoyama, lãnh tụ đảng và là vị thủ tướng tương lai, hứa trước sẽ không đi viếng đền Yasukuni, nơi thờ hai triệu người Nhật đã bỏ mình vì nước. Các vị thủ tướng Nhật trước đây đều đi lễ đền này mặc dù chính phủ các nước chung quanh đã cực lực phản đối vì trong đó thờ cả nhưng lãnh tụ Nhật Bản thời đại chiến trước, bị coi là những tội phạm chiến tranh. Ðương kim Thủ Tướng Taro Aso cũng đã bỏ việc đi lễ đền này. Ðảng Dân Chủ cũng sẽ xét lại mối bang giao với Mỹ, một cột trụ trong chính sách ngoại giao của Nhật Bản từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Một điểm nổi bật là quy chế các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật Bản, ngoài ra là việc Hải Quân Nhật giúp tiếp tế xăng cho hạm đội Mỹ ở Ấn Ðộ dương. Về chính sách quốc nội, đảng Dân Chủ hứa sẽ thay đổi luật để người phụ nữ Nhật Bản có thể giữ tên của mình sau khi kết hôn, mà không phải theo tên chồng. Nhiều phụ nữ trẻ muốn xây dựng một nghề nghiệp độc lập vẫn mong ước được “giải phóng” khỏi phong tục cổ truyền.
Về mặt xã hội, Ðảng Dân Chủ hứa sẽ trợ cấp mỗi trẻ em từ 15 tuổi trở xuống 26,000 Yen, khoảng 275 đô la một tháng để khuyến khích sinh con, đối phó với lo dân số đang giảm bớt. Hiện nay mỗi trẻ em ra đời đã được cấp 350,000 Yen. Dân số Nhật lên cao nhất, gần 128 triệu vào năm 2006, nay đã giảm xug còn 115 triệu, và cứ theo đà này sẽ xuống 100 triệu trong 40 năm nữa.
Ðảng Dân Chủ cũng hứa sẽ bãi bỏ học phí trong các trường trung học công lập, bãi bỏ tiền trả khi dùng xa lộ (toll), ngưng không tăng thuế tiêu thụ 5% mà chính phủ cũ tính thi hành, trợ cấp thêm cho nông dân, trợ cấp dậy nghề cho người thất nghiệp, vân vân. Tất cả là một cách “giảm thuế” cho dân có thêm tiền tiêu thụ. Ngoài ra, đảng Dân Chủ hứa sẽ không cho các xí nghiệp giữ lối thuê nhân viên làm bán thời gian quá nhiều. Chính sách nhân dụng này giúp các xí nghiệp Nhật cắt giảm chi phí khi kinh tế khó khăn nhưng phần lớn phụ nữ, thanh niên mới ra trường và người lớn tuổi phải hy sinh với công việc bấp bênh. Lương tối thiểu sẽ được tăng từ 739 Yen lên 800 Yen một giờ (gần 8 đô la rưỡi). Ðây là nhưng chủ trương bị giới chủ nhân phản đối nhưng sẽ thu hút được nhiều cử tri.
Kể từ cuộc cải tổ bầu cử năm 1994, cử tri Nhật sẽ bầu trực tiếp trong 300 đơn vị bầu cử, còn 180 ghế đại biểu Hạ Viện sẽ được chọn trong danh sách các đảng chính trị theo tỷ lệ số phiếu mà mỗi đảng thu được. Các cuộc nghiên cứu dư luận đều cho thấy đảng Dân Chủ sẽ chiếm được đa số trong Hạ Viện sắp tới. Nhật báo Asahi phỏng vấn hàng trăm ngàn cử tri đã tiên đoán đảng Dân Chủ sẽ chiếm được 321 trong số 480 ghế đại biểu ở Hạ Viện. Ðó là nơi sẽ quyết định các đạo luật, và nếu đủ 2 phần ba số phiếu thì đảng đa số có thể bác bỏ nhưng ý kiến thay đổi từ Thượng Viện.
Ðảng Tự Do Dân Chủ đã nắm chính quyền hơn nửa thế kỷ qua nhờ đã đưa nước Nhật ra khỏi thời hậu chiến bước vào một giai đoạn kinh tế phát triển nhanh và đều đặn trong ba thập niên. Chiến tranh lạnh cũng là một yếu tố giúp đảng Tự Dân ngồi vững vì cha ngoại giao của họ là liên kết chặt chẽ với Mỹ trước mối đe dọa của khối cộng sản mà hai nước láng giềng, Nga và Trung Quốc là những trung tâm bành trướng. Có ba thành phần giúp đảng Tự Dân bảo vệ được quyền hành, là các đại xí nghiệp, các ngân hàng và guồng máy công chức. Chính sách kinh tế của đảng là do các đại công ty và ngân hàng cùng các công chức ấn định; trong các cơ quan nhà nước giới công chức thâm niên đóng vai trò quan trọng hơn các chính trị gia khi soạn thảo chính sách quốc gia. Người công chức Nhật Bản thật sự là những người công bộc, thanh liêm, tận tụy, và họ là những cử tri trung thành của đảng Tự Dân. Nhiều cử tri Nhật Bản nghi ngờ đảng Dân Chủ sẽ khó thực hiện ý định giảm thiểu guồng máy công quyền, vì đây là một lực lượng bảo thủ có khả năng chống lại hoặc trì hoãn những đề nghị cải tổ.
Ðảng Tự Dân đã được dân tín nhiệm vì các chính sách kinh tế thành công. Chính sách đó đặt trọng tâm vào phục hồi công nghiệp và bành trướng ngành xuất cảng nên không chú trọng đến việc khuyến khích tiêu thụ. Sau khi bại trận, kinh tế Nhật đã phục hồi nhanh chóng nhưng guồng máy kinh tế nằm trong tay các ngân hàng, đại xí nghiệp và giới công chức quyết định trở nên cứng nhắc, khó thay đổi. Ðến cuối thập niên 1980 nền kinh tế Nhật đã vượt lên hàng thứ ba trên thế giới, nhưng lợi tức của các tập đoàn doanh nghiệp tăng lên nhanh hơn hẳn đồng lương của người dân. Chủ trương ưu đãi giới tư bản đưa tới tình trạng tiền lời của họ dư thừa, trong lúc tiền tiết kiệm của dân được trả với lãi suất nhỏ giọt. Vì chính sách tiền tệ nới lỏng, các doanh nghiệp đầu tư ra ngoại quốc, sau đó đã mất rất nhiều tiền. Ở trong nước, họ dùng tiền thặng dư đi mua chứng khoán và địa ốc, khi giá cả lên quá cao trái bong bóng nổ đưa tới cuộc khủng hoảng đầu thập niên 1990. Nhưng vì guồng máy điều khiển nền kinh tế quá cứng nhắc nên nhưng cuộc cải tổ tiến hành rất chậm chạp, khiến cho kinh tế Nhật Bản trì trệ từ đó tới nay.
Ðảng Dân Chủ tấn công chủ trương của đảng Tự Do Dân Chủ đương quyền trên chủ trương kinh tế căn bản. Họ đặt quyền lợi của dân trên quyền lợi các ngân hàng và xí nghiệp. Cho nên họ hứa hẹn sẽ thay đổi cơ cấu kinh tế, chú trọng tới người tiêu thụ nhiều hơn là lợi nhuận của giới tư bản. Ðó là nguyên nhân họ đưa ra các chính sách giảm thuế cho dân và giảm bớt guồng máy hành chánh.
Tuy nhiên, chương trình của đảng Dân Chủ sẽ tiêu tốn mỗi năm 16,800 tỷ Yen, tương đương với 179 tỷ đô la Mỹ, khi được thực hiện đầy đủ trong ba năm nữa. Ðây là một nỗi khó khăn khiến nhiều người không tin chương trình này sẽ thực hiện được đầy đủ. Hiện nay chính phủ Nhật Bản đang chịu một gánh nợ với tỷ lệ cao nhất thế giới; trong năm tới tổng số nợ của chính phủ sẽ lớn gần gấp đôi tổng sản lượng nội địa. Số nợ của chính phủ Mỹ bằng 80% GDP trong năm 2008 và năm nay chắc chắn sẽ lên, có thể lên 90%. Những món nợ của chính phủ Nhật đều nợ người trong nước nên không lo ngại nhiều như các nước nợ người ngoại quốc, nhưng khả năng vay nợ nào cũng có giới hạn.
Một điều hứa hẹn của đảng Dân Chủ được cử tri hoan nghênh là chấm dứt nhưng lãng phí của các chính quyền trước. Ðảng Tự Dân đã nổi tiếng về nhưng công trình xây dựng hạ tầng cơ sở hoàn toàn phí phạm, nhưng lại có lợi cho các đại biểu của đảng trong mùa tranh cử, vì củng cố được sự ủng hộ của các công ty xây cất mỗi địa phương cũng như giới công nhân xây dựng. Từ nhiều thập niên qua, các đại biểu đảng Tự Dân gần như bảo vệ được ghế ngồi của mình nhờ giới tư bản ủng hộ.Với những dự án mua chuộc cử tri địa phương như vậy, nhiều ghế đại biểu truyền từ đời cha sang đời con nhờ guồng máy tranh cử thông thạo và vững chắc trong từng đơn vị. Nếu đảng Dân Chủ đắc thắng, đó sẽ là nhờ nhưng cuộc cách mạng trong từng đơn vị bầu cử!
Guồng máy đó cũng chính là một lý do khiến đảng Tự Dân đã hao mòn sinh lực và không đủ cương quyết trong việc cải tổ hệ thống kinh tế, tài chánh theo nhu cầu quốc gia khi gặp cơn khủng hoảng. Quyền hành sinh nhũng lạm, nắm quyền càng lâu thì càng dễ sinh bạc nhược và hư hỏng.
Chính vì vậy mà dân chúng Nhật tỏ ra họ nóng lòng muốn thay đổi, mặc dù nhiều người còn nghi ngờ khả năng thực hiện được tất cả những lời hứa hẹn của đảng Dân Chủ. Một ưu điểm của đảng này là họ đưa ra nhiều ứng cử viên trẻ và nhiều phụ nữ tranh củ hơn đảng Tự Dân, một đảng của các bô lão. Nhiều chính khách lão thành của đảng Tự Dân lo sẽ thất cử. Một hình ảnh tiêu biểu cho nhưng người này là ông Shoichi Nakagawa, nguyên bộ trưởng tài chánh. Tháng Hai vừa qua, tại London, trong cuộc họp báo sau khi họp Khối G-20 ông đã nói níu lưỡi vì đêm hôm trước uống nhiều rượu quá. Trong cuộc tranh cử này, ông đã lên tiếng hứa với các cử tri là sẽ ngưng uống rượu - chắc ông sẽ chỉ ngưng nếu đắc cử. Người Nhật muốn thoát khỏi một guồng máy chính trị quá già nua, tự mãn và sơ cứng. Chỉ trong một chế độ dân chủ tự do người dân mới có khả năng thay đổi đảng cầm quyền như vậy.
Friday, August 28, 2009
Ngô Nhân Dụng Ngày Chủ Nhật, 30 Tháng Chín, dân Nhật Bản sẽ đi bầu Hạ Viện. Và đảng Tự Do Dân Chủ (Tự Dân Ðảng) chắc sẽ thua, đảng Dân Chủ Nhật Bản có thể thắng lớn mặc dù mới ra đời được 11 năm nay. Ða số dân muốn bầu đảng Dân Chủ không nhất thiết vì họ tin chắc đảng đối lập sẽ thực hiện được tất cả các lời hứa hẹn, nhưng vì đảng Tự Dân đã nắm quyền quá lâu, cho thấy sinh lực hao mòn. Cũng giống như năm 2000 dân Mexico đã lật đổ đảng cầm quyền sau 70 năm từ khi độc lập, bầu cho một vị tổng thống dùng khẩu hiệu “liên minh thay đổi.” Ðây là một bài học cho nhưng dân tộc đã chịu sự cai trị của một đảng quá lâu ngày. Muốn thay đổi phải đòi cho dân được tự do bầu cử.
Dân chúng Nhật đã cảm thấy mệt mỏi với đảng Tự Do Dân Chủ sau khi họ cầm quyền từ năm 1955 đến nay, chỉ bị ngưng 11 tháng trong năm 1993 khi kinh tế trì trệ mà chính quyền thì lúng túng. Dân Nhật Bản cũng chán nản với nhưng vụ xì căng đan và tham nhũng trong giới cầm quyền, mặc dù nhưng vụ đó rất nhỏ so với Việt Nam hay Trung Quốc. Nhưng ở một nước người dân trọng liêm sỉ và nghĩa khí, bất cứ một vụ tham nhũng nhỏ nào cũng bị trừng phạt.
Cử tri Nhật Bản cũng mệt mỏi vì kinh tế trì trệ suốt 2 thập niên và hiện lâm vào tình trạng suy thoái nặng nề. Tỷ số thất nghiệp đã lên 5.7% trong Tháng Bẩy vừa qua, mức cao kỷ lục kể từ sau chiến tranh. Ðảng Dân Chủ tranh cử với khẩu hiệu “Thay đổi” mà trong lúc vận động nhiều khi họ không dùng chữ “kaeru” trong tiếng Nhật mà gọi là “chenji” phiên âm chữ “Change” trong tiếng Anh, khiến giới trẻ Nhật nhớ lại khẩu hiệu trong cuộc tranh cử năm ngoái ở Mỹ. Chương trình của đảng Dân Chủ nhắm vào giới trẻ, với nhưng đề nghị xóa bỏ nhiều truyền thống lâu đời trong xã hội Nhật Bản. Họ cũng hứa sẽ cho người tiêu thụ có thêm tiền để kinh tế Nhật khỏi bị lệ thuộc quá nhiều trên hoạt động xuất cảng. Và lời hứa được dân chúng hoan nghênh nhất là giảm bớt guồng máy hành chánh, mà lực lượng công chức xưa nay vẫn là một trong ba cột trụ của đảng Tự Do Dân Chủ.
Ðể chứng tỏ họ muốn thay đổi các chủ trương truyền thống của đảng Tự Dân đang cầm quyền, ông Yukio Hatoyama, lãnh tụ đảng và là vị thủ tướng tương lai, hứa trước sẽ không đi viếng đền Yasukuni, nơi thờ hai triệu người Nhật đã bỏ mình vì nước. Các vị thủ tướng Nhật trước đây đều đi lễ đền này mặc dù chính phủ các nước chung quanh đã cực lực phản đối vì trong đó thờ cả nhưng lãnh tụ Nhật Bản thời đại chiến trước, bị coi là những tội phạm chiến tranh. Ðương kim Thủ Tướng Taro Aso cũng đã bỏ việc đi lễ đền này. Ðảng Dân Chủ cũng sẽ xét lại mối bang giao với Mỹ, một cột trụ trong chính sách ngoại giao của Nhật Bản từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Một điểm nổi bật là quy chế các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật Bản, ngoài ra là việc Hải Quân Nhật giúp tiếp tế xăng cho hạm đội Mỹ ở Ấn Ðộ dương. Về chính sách quốc nội, đảng Dân Chủ hứa sẽ thay đổi luật để người phụ nữ Nhật Bản có thể giữ tên của mình sau khi kết hôn, mà không phải theo tên chồng. Nhiều phụ nữ trẻ muốn xây dựng một nghề nghiệp độc lập vẫn mong ước được “giải phóng” khỏi phong tục cổ truyền.
Về mặt xã hội, Ðảng Dân Chủ hứa sẽ trợ cấp mỗi trẻ em từ 15 tuổi trở xuống 26,000 Yen, khoảng 275 đô la một tháng để khuyến khích sinh con, đối phó với lo dân số đang giảm bớt. Hiện nay mỗi trẻ em ra đời đã được cấp 350,000 Yen. Dân số Nhật lên cao nhất, gần 128 triệu vào năm 2006, nay đã giảm xug còn 115 triệu, và cứ theo đà này sẽ xuống 100 triệu trong 40 năm nữa.
Ðảng Dân Chủ cũng hứa sẽ bãi bỏ học phí trong các trường trung học công lập, bãi bỏ tiền trả khi dùng xa lộ (toll), ngưng không tăng thuế tiêu thụ 5% mà chính phủ cũ tính thi hành, trợ cấp thêm cho nông dân, trợ cấp dậy nghề cho người thất nghiệp, vân vân. Tất cả là một cách “giảm thuế” cho dân có thêm tiền tiêu thụ. Ngoài ra, đảng Dân Chủ hứa sẽ không cho các xí nghiệp giữ lối thuê nhân viên làm bán thời gian quá nhiều. Chính sách nhân dụng này giúp các xí nghiệp Nhật cắt giảm chi phí khi kinh tế khó khăn nhưng phần lớn phụ nữ, thanh niên mới ra trường và người lớn tuổi phải hy sinh với công việc bấp bênh. Lương tối thiểu sẽ được tăng từ 739 Yen lên 800 Yen một giờ (gần 8 đô la rưỡi). Ðây là nhưng chủ trương bị giới chủ nhân phản đối nhưng sẽ thu hút được nhiều cử tri.
Kể từ cuộc cải tổ bầu cử năm 1994, cử tri Nhật sẽ bầu trực tiếp trong 300 đơn vị bầu cử, còn 180 ghế đại biểu Hạ Viện sẽ được chọn trong danh sách các đảng chính trị theo tỷ lệ số phiếu mà mỗi đảng thu được. Các cuộc nghiên cứu dư luận đều cho thấy đảng Dân Chủ sẽ chiếm được đa số trong Hạ Viện sắp tới. Nhật báo Asahi phỏng vấn hàng trăm ngàn cử tri đã tiên đoán đảng Dân Chủ sẽ chiếm được 321 trong số 480 ghế đại biểu ở Hạ Viện. Ðó là nơi sẽ quyết định các đạo luật, và nếu đủ 2 phần ba số phiếu thì đảng đa số có thể bác bỏ nhưng ý kiến thay đổi từ Thượng Viện.
Ðảng Tự Do Dân Chủ đã nắm chính quyền hơn nửa thế kỷ qua nhờ đã đưa nước Nhật ra khỏi thời hậu chiến bước vào một giai đoạn kinh tế phát triển nhanh và đều đặn trong ba thập niên. Chiến tranh lạnh cũng là một yếu tố giúp đảng Tự Dân ngồi vững vì cha ngoại giao của họ là liên kết chặt chẽ với Mỹ trước mối đe dọa của khối cộng sản mà hai nước láng giềng, Nga và Trung Quốc là những trung tâm bành trướng. Có ba thành phần giúp đảng Tự Dân bảo vệ được quyền hành, là các đại xí nghiệp, các ngân hàng và guồng máy công chức. Chính sách kinh tế của đảng là do các đại công ty và ngân hàng cùng các công chức ấn định; trong các cơ quan nhà nước giới công chức thâm niên đóng vai trò quan trọng hơn các chính trị gia khi soạn thảo chính sách quốc gia. Người công chức Nhật Bản thật sự là những người công bộc, thanh liêm, tận tụy, và họ là những cử tri trung thành của đảng Tự Dân. Nhiều cử tri Nhật Bản nghi ngờ đảng Dân Chủ sẽ khó thực hiện ý định giảm thiểu guồng máy công quyền, vì đây là một lực lượng bảo thủ có khả năng chống lại hoặc trì hoãn những đề nghị cải tổ.
Ðảng Tự Dân đã được dân tín nhiệm vì các chính sách kinh tế thành công. Chính sách đó đặt trọng tâm vào phục hồi công nghiệp và bành trướng ngành xuất cảng nên không chú trọng đến việc khuyến khích tiêu thụ. Sau khi bại trận, kinh tế Nhật đã phục hồi nhanh chóng nhưng guồng máy kinh tế nằm trong tay các ngân hàng, đại xí nghiệp và giới công chức quyết định trở nên cứng nhắc, khó thay đổi. Ðến cuối thập niên 1980 nền kinh tế Nhật đã vượt lên hàng thứ ba trên thế giới, nhưng lợi tức của các tập đoàn doanh nghiệp tăng lên nhanh hơn hẳn đồng lương của người dân. Chủ trương ưu đãi giới tư bản đưa tới tình trạng tiền lời của họ dư thừa, trong lúc tiền tiết kiệm của dân được trả với lãi suất nhỏ giọt. Vì chính sách tiền tệ nới lỏng, các doanh nghiệp đầu tư ra ngoại quốc, sau đó đã mất rất nhiều tiền. Ở trong nước, họ dùng tiền thặng dư đi mua chứng khoán và địa ốc, khi giá cả lên quá cao trái bong bóng nổ đưa tới cuộc khủng hoảng đầu thập niên 1990. Nhưng vì guồng máy điều khiển nền kinh tế quá cứng nhắc nên nhưng cuộc cải tổ tiến hành rất chậm chạp, khiến cho kinh tế Nhật Bản trì trệ từ đó tới nay.
Ðảng Dân Chủ tấn công chủ trương của đảng Tự Do Dân Chủ đương quyền trên chủ trương kinh tế căn bản. Họ đặt quyền lợi của dân trên quyền lợi các ngân hàng và xí nghiệp. Cho nên họ hứa hẹn sẽ thay đổi cơ cấu kinh tế, chú trọng tới người tiêu thụ nhiều hơn là lợi nhuận của giới tư bản. Ðó là nguyên nhân họ đưa ra các chính sách giảm thuế cho dân và giảm bớt guồng máy hành chánh.
Tuy nhiên, chương trình của đảng Dân Chủ sẽ tiêu tốn mỗi năm 16,800 tỷ Yen, tương đương với 179 tỷ đô la Mỹ, khi được thực hiện đầy đủ trong ba năm nữa. Ðây là một nỗi khó khăn khiến nhiều người không tin chương trình này sẽ thực hiện được đầy đủ. Hiện nay chính phủ Nhật Bản đang chịu một gánh nợ với tỷ lệ cao nhất thế giới; trong năm tới tổng số nợ của chính phủ sẽ lớn gần gấp đôi tổng sản lượng nội địa. Số nợ của chính phủ Mỹ bằng 80% GDP trong năm 2008 và năm nay chắc chắn sẽ lên, có thể lên 90%. Những món nợ của chính phủ Nhật đều nợ người trong nước nên không lo ngại nhiều như các nước nợ người ngoại quốc, nhưng khả năng vay nợ nào cũng có giới hạn.
Một điều hứa hẹn của đảng Dân Chủ được cử tri hoan nghênh là chấm dứt nhưng lãng phí của các chính quyền trước. Ðảng Tự Dân đã nổi tiếng về nhưng công trình xây dựng hạ tầng cơ sở hoàn toàn phí phạm, nhưng lại có lợi cho các đại biểu của đảng trong mùa tranh cử, vì củng cố được sự ủng hộ của các công ty xây cất mỗi địa phương cũng như giới công nhân xây dựng. Từ nhiều thập niên qua, các đại biểu đảng Tự Dân gần như bảo vệ được ghế ngồi của mình nhờ giới tư bản ủng hộ.Với những dự án mua chuộc cử tri địa phương như vậy, nhiều ghế đại biểu truyền từ đời cha sang đời con nhờ guồng máy tranh cử thông thạo và vững chắc trong từng đơn vị. Nếu đảng Dân Chủ đắc thắng, đó sẽ là nhờ nhưng cuộc cách mạng trong từng đơn vị bầu cử!
Guồng máy đó cũng chính là một lý do khiến đảng Tự Dân đã hao mòn sinh lực và không đủ cương quyết trong việc cải tổ hệ thống kinh tế, tài chánh theo nhu cầu quốc gia khi gặp cơn khủng hoảng. Quyền hành sinh nhũng lạm, nắm quyền càng lâu thì càng dễ sinh bạc nhược và hư hỏng.
Chính vì vậy mà dân chúng Nhật tỏ ra họ nóng lòng muốn thay đổi, mặc dù nhiều người còn nghi ngờ khả năng thực hiện được tất cả những lời hứa hẹn của đảng Dân Chủ. Một ưu điểm của đảng này là họ đưa ra nhiều ứng cử viên trẻ và nhiều phụ nữ tranh củ hơn đảng Tự Dân, một đảng của các bô lão. Nhiều chính khách lão thành của đảng Tự Dân lo sẽ thất cử. Một hình ảnh tiêu biểu cho nhưng người này là ông Shoichi Nakagawa, nguyên bộ trưởng tài chánh. Tháng Hai vừa qua, tại London, trong cuộc họp báo sau khi họp Khối G-20 ông đã nói níu lưỡi vì đêm hôm trước uống nhiều rượu quá. Trong cuộc tranh cử này, ông đã lên tiếng hứa với các cử tri là sẽ ngưng uống rượu - chắc ông sẽ chỉ ngưng nếu đắc cử. Người Nhật muốn thoát khỏi một guồng máy chính trị quá già nua, tự mãn và sơ cứng. Chỉ trong một chế độ dân chủ tự do người dân mới có khả năng thay đổi đảng cầm quyền như vậy.
NHỮNG ĐỐN ĐOÁN CHUNG QUANH CUỘC TIÊP XÚC GIỮA
THỦ TƯỚNG VC NGUYỄN TẤN DŨNG &
ĐỨC CHA NGUYỄN VĂN NHƠN, CHỦ TỊCH HĐGMVN 1.- Nguyên nhân có những đồn đoán:
Trong khi vấn đề Việt Cộng để cho Trung Cộng khai thác bâuxít ở Tân Rài, thuộc Cao Nguyên Trung Phần đang làm cho toàn dân lo sợ và phẫn uất. Một cuộc cách mạng của toàn dân chưa biết bùng nỗ lúc nào. Vì đây là kế hoạch xích hóa đất nước Việt Nam của Trung Cộng. Các thành phần trí thức, các cựu cán bộ, đảng viên Cộng Sản, thành phần quân đội VC mà tướng Võ Nguyên Giáp, dù bao năm qua, VC đã loại trừ ông, đã gắn cho ông những chức vụ để sỉ nhục ông, đã lấy con cháu ông làm phương tiện như con tin để ông ngậm miệng, và cũng để làm cho cái hào quang “Điện Biên Phủ” của ông bị lu mờ. Thế mà Võ Nguyên Giáp cũng đã mấy lần lên tiếng đề nghị VC dẹp bỏ, không cho Trung Cộng khai thác bâu xít ở Cao Nguyên Trung Phần, biết bao nhiêu nhà khoa học đưa ý kiến với những chứng cớ rõ ràng sự nguy hại cho môi trường sống của sinh vật cũng như thực vật, nhất là Cao Nguyên Trung Phần là cao điểm chiến thuật khống chế Đông Dương, ai chiếm được Cao Nguyên là bẻ đôi Việt Nam. Thế mà Việt Cộng đã cúi đầu để cho Trung Cộng khai thác với công nhân của chúng đem từ Hoa Lục sang. Phong trào chống đối Trung Cộng khai thác bâuxít Cao Nguyên làm cho Việt Cộng run sợ hơn bao giờ cả.
Trong khi vụ bảo vệ đất của giáo xứ Thái Hà vẫn còn âm ỉ cháy ngầm chưa biết sẽ bùng nổ lại bất cứ lúc nào. Nguy hiểm cho Việt Cộng là Thái Hà chẳng những nằm tại Thủ Đô, nơi có đầy đủ tai mắt ngoại quốc lại còn nằm sát những cơ quan đầu não Việt Cộng mà giáo dân Thái Hà có thể tập trung mấy ngàn, có thể lên đến hàng vạn khi giáo dân giáo phận Hà Nội hưởng ứng giúp Thái Hà. Trong quá khứ, các lực lượng này đã “tập dượt”. Vạn nhất cuộc diện Thái Hà bùng nổ, Việt Cộng không thể làm một Thiên An Môn tại Hà Nội khi mà giáo dân “cài răng lược” với các cơ sở đầu não VC. Vạn nhất mà cuộc diện này xảy ra, có tới 70, 80% quân đội Việt Cộng sẽ không bắn vào dân, mà giúp dân đòi hỏi VC phải thỏa mãn những đòi hỏi tối thiểu và chính đáng của người dân.
Nhưng trên hết và quan trọng hơn hết là đầu não của cuộc diện Thái Hà nói riêng và toàn quốc nói chung lại là Đức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt, cái đinh này VC đã cố gắng nhổ cho bằng được nhưng thất bại khi HĐGMVN đã trả lời VC: Đức TGM Ngô Quang Kiệt “không làm gì sai luật Giáo Hội CGVN”.
Gần đây, điểm nóng nhất là TAM TÒA. Tam Tòa 3 năm gần đây mới trực thuộc sự dẫn dắt của giáo phận Vinh, một giáo phần có nửa triệu giáo dân, mà Đức Cha giáo phận Cao Đình Thuyên tuyên bố giáo phận Vinh có những 500 ngàn Cao Đình Thuyên. Câu tuyên bố này có nhiều ý nghĩa, những ý nghĩa sau đây khiến Việt Cộng lo ngại: nửa triệu Cao Đình Thuyên có nghĩa là tất cả Công giáo Vinh đoàn kết nửa triệu người như một. Câu tuyên bố do vấn đề Tam Tòa mà có, có nghĩa là nửa triệu người sẽ đứng lên đòi hỏi Việt Cộng trả lại những gì chúng đã cướp đoạt, đã hành hạ, đàn áp … Tam Tòa phải trả lại cho Tam Tòa. Nửa triệu người này đoàn kết một lòng, trãi dài trên 3 tình Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình. Nếu Trung Cộng chiếm Cao Nguyên, tìm được xuống biển Nha Trang; bẻ đôi Việt Nam được thì Nghệ Tỉnh Bình nếu có cuộc đấu tranh bất bạo động xảy ra, Việt Cộng phải đối diện vấn đề sinh tử với Công Giáo. Nghệ Tỉnh Bình là những địa danh chiến lược trong lịch sử, thủ cũng như công rất nguy hiểm cho đối phương.
Việt Cộng khi đàn áp dã man giáo dân Tam Tòa, đánh đập một cách có dự mưu các linh mục và giáo dân các nơi khác đến, là chúng có âm mưu biến Tam Tòa thành Điện Biên Phủ để bao nhiêu giáo dân đến đó đều bị chận đường tiêu diệt dễ dàng, làm một trận thư hùng để cho Công Giáo Việt Nam cạch đến già. Giáo phận Vinh mạnh lắm, nhưng không thể “kéo quân” vào Tam Tòa, vì chỉ có độc đạo, dể dàng cho Việt Cộng phục kích tiêu diệt.
Việt Cộng đã lầm. Giáo phận Vinh không phải là quân Pháp, Đức cha Cao Đình Thuyên không phải là viên tướng chỉ huy Đông Dương hồi đó.
Cần gì phải kéo giáo dân vào Tam Tòa làm bia cho Việt Cộng bắn? Ở đâu đấu tranh tại đó, với chiến thuật bạo động, giáo phận Vinh cũng có thể cấm đường Việt Cộng liên lạc Bắc Nam vậy. Những địa danh Ba Làng, Quỳnh Lưu nằm trong 3 tỉnh Nghệ Tỉnh Bình, giáo dân giáo phận Vinh cũng là những kẻ bám trụ trong thời chiến và được mệnh danh là “Khu Tư”. Sự đánh đập dả man giáo sĩ và giáo dân của Việt Cộng, cô lập 100% giáo dân Tam Tòa là VC muốn dụ Công giáo vào một Điện Biên Phủ, nhưng “Điểm” của giáo phận Vinh (nếu cuộc đấu tranh xảy ra) không phải là Tam Tòa mà bất cứ đâu ở trong 3 tỉnh trực thuộc. Đức Giám Mục Cao Đình Thuyên là dân Nghệ Tỉnh, hòa hoãn, nhẫn nại trong khi VC gấp rút, nóng nảy. Rất nguy hiểm cho VC.
Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, một giám mục trẻ mà được HĐGM bầu làm chủ tịch. Trách nhiệm nặng nề, mọi quyết định đều phải đắn đo suy nghĩ, nhất là cầu nguyện, vì nếu có quyết định sai lầm sẽ đưa GHCGVN vào một cuộc chiến, có nhiều tử đạo nhưng về mặt dân tộc, sẽ là cơ hội làm giảm sức chống xâm lăng Trung Cộng.
HĐGMVN lại vừa qua La Mã hội họp với Đức Giáo Hoàng, viếng mộ Thánh Phê Rô về, chắc chắn Đức Cha Chủ Tịch biết nhiều chuyện, biết kết quả những “đề nghị” của VC mà Đức Cha Chủ Tịch chuyển cho Vatican hay do các ngunồ tin khác cung cấp, biết thái độ của ĐTGM Ngô Quang Kiệt ra sao v.v… “liệu HĐGMVN hay Vatican có đề cập đến vụ bức ép Đức Cha Kiệt từ chức hay không? V.v… và v.v…Nhiều chuyện lắm, nhưng những chuyện này không thể trao đổi bằng văn bản, bằng điện thoại. Hơn nữa, nếu VC có hứa gì đi nữa, mà hứa bằng miệng thì cũng dễ để cho gió bay. Do đó, mà cuộc gặp gở giữa Đức Cha Chủ Tịch Nguyễn Văn Nhơn với Nguyễn Tấn Dũng là một nhu cầu cần thiết. Người ta hỏi Nguyễn Tấn Dũng nhân cơ hội thị sát Tân Rài mà gặp Đức Cha Nhơn hay Tân Rài chỉ là cái cớ để có cuộc gặp gở với Đức Cha Nhơn?
2) Những lời đồn đoán:
Sau cuộc họp, cả 2 phía Công giáo và VC đều không có tuyên bố nào chính thức. Do đó, mặc sức cho VC “đồn đoán” mà cũng mặc sức cho Công Giáo và dân chúng ngoài Công giáo đồn đoán. Cái đồn đoán “ưu tiên một” là sự từ chức của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Đồn đoán thứ 2 là ai sẽ thay Đức Cha Kiệt, đồn đoán thứ 3 là vụ Tam Tòa. Còn nhiều đồn đoán khác nhưng cũng chỉ phụ thuộc vào 3 ưu tiên nói trên mà thôi.
a) Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt rời Việt Nam hay phải rời Hà Nội.
VC Hà nội đã minh thị yêu cầu HĐGMVN đưa Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội. Điều này nếu xảy ra thì VC đã có một thắng lợi lớn nhất từ trước đến nay. Bứng Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội cũng có nghĩa là “thuận ta thì sống, nghịch ta thì … đi”. Không chết cũng bị thương, cũng bị loại khỏi vòng chiến. Đức Tổng Kiệt đi rồi thì Đức Tổng mới làm được gì, nếu không nói là mọi sự phải “hòa giải, hòa hợp với VC, nói nôm na là VC bảo sao nghe vậy, nếu không thì … “đi”. Sự ra đi của Đức TGM Ngô Quang Kiệt cũng ảnh hưởng rất xấu cho Giao Phận Vinh.
Trên thực tế, chuyện của Công Giáo hôm nay chỉ là chuyện PHỤ, chuyện chính và cấp bách nhất là chuyện XÂM LĂNG CỦA TRUNG CỘNG. Dù muốn, dù không, người Công Giáo phải dùng nhân, vật, lực của mình để đóng góp với toàn dân trong cuộc đấu tranh này. Đó là điều bắt buộc. Và VC phải diệt cuộc đấu tranh của Công Giáo, một trong những mui nhọn đang tấn công chúng bằng chiến thuật bất bạo động.
Nhưng nếu một TGM Quốc Doanh - dĩ nhiên, bởi vì cớ không quốc doanh của ĐTGM Kiệt, ngài mới bị VC bứng đi – thay thế Đức Cha Kiệt thì tinh thần chiến đấu chống xâm lăng Tàu Cộng của dân tộc nói chung, Hà Nội nói riêng sút giảm rất nhiều!!! Về chiến lược chắc chắn sẽ có biện pháp (sẽ bàn sau) nhưng trước mắt là một sự sút giảm to lớn, có lợi cho Trung Cộng và tôi tớ của chúng. Đó là sự thật. Vậy thì “Điểm” của cuộc gặp gở này, nói thì không nói nhưng phải hiểu là vì nạn xâm lăng của Trung Cộng chính là Điểm.
Cũng vì ĐIỂM của cuộc gặp gỡ là cuộc xâm lăng của Trung Cộng nên người ta sợ, rất sợ Đức Cha Nhơn có thể mắc mưu VC Nguyễn Tấn Dũng. Nếu sự “măc mưu” xảy ra thì trách nhiệm trước Giáo Hội là việc PHỤ, trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, trách nhiệm chống Trung Cộng xích hóa Việt Nam là việc CHÍNH. Vì sự xích hóa lần này cũng đồng nghĩa với Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ thế giới, hay chỉ là một quận, một huyện của Trung Cộng.
- Ai có lợi, ai có hại?
Cộng Sản có lợi: Việc Cộng đã công khai yêu cầu HĐGMVN đưa Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội. HĐGMVN đã không chấp nhận. Trong 2 lần thăm viếng Việt Nam, Phái đoàn Tòa Thánh cũng nhận được đề nghị của VC đưa Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khiỏ Hà Nội, nhưng đã bị phái đoàn Tòa Thánh bác bỏ. Việt Cộng coi như “thua” Công Giáo. Ngày nào Đức TGM Kiệt còn hiện diện tại Hà Nội, ngày đó Thái Hà còn vững niềm tin, còn sẵn sàng hy sinh cho công lý và sự thật. Ngày đó Thái Hà còn là một niềm tin cho các giáo xứ khác trên toàn quốc. Do đó, sự ra đi của Đức TGM Ngô Quang Kiệt là một thắng lợi lớn cho Việt Cộng. “Sát nhất nhơn, vạn nhơn cụ”. Ảnh hưởng này rất lớn đối với các giám mục còn muốn mình không phải là chủ chăn thuê. Nói cách khác, Việt Cộng coi như đã khống chế toàn bộ HĐGMVN. Lâu nay, HĐGMVN đã im lặng trước những việc làm hại dân hại nước ai cũng thấy mà HĐGMVN đả im lặng, nay qua biến cố ĐTGM Ngô Quang Kiệt Hội Đồng vẫn im lặng, hoặc tiến thêm một bước nữa: “ủng hộ triệt để các chính sách lớn của đảng và Nhà Nước”, như vụ bâuxít chẳng hạn.
Sự ra đi của Đức TGM Ngô Quang Kiệt làm sụp đổ niềm tin và sự kính trọng của giáo sĩ và giáo dân, đối với HĐGMVN và có thể nói đối với Vatican . Họ vào nhà thờ không khác gì Phật tử vào chùa sư quốc doanh. Khó khăn nhất là phần vụ của các linh mục, người trung gian giữa Giám mục và giáo dân. Lịch sử sẽ viết thế nào về Giáo Hội Công Giáo trong giai đoạn này/ Hỏi tức là trả lời.
- Đánh đổi được gì?
Vì xảy ra trong một cuộc tiếp xúc, dù Nguyễn Tấn Dũng có hứa hẹn gì cũng chỉ là hứa miệng. Vả chăng, “Trên Chính Phủ còn có Đảng”. Nguyễn Tấn Dũng chỉ là cái đầu con rùa, vì lợi ích cho Đảng mà cái đầu thụt vào hay lòi ra. Do đó, lời VC hứa làm sao tin? Nhưng nếu VC “giữ lời hứa” thì đổi được gì? Bang giao với Tòa Thánh? Đức Giáo Hoàng sẽ được phép viếng Việt Nam ? Vatican trọn quyền phong chức giám mục, đào tạo, phong chức, thuyên chuyển linh mục không phải xin phép VC? Trả lại toàn bộ đất đai cho Giáo Hội Công Giáo?
Dù cho sự ra đi của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đánh đổi tất cả những quyền lợi này cũng không cân xứng với sự phá vỡ lòng tin của giáo dân, của dân chúng đối với HĐGM nói riêng và GHCG nói chung. Huống gì, Nguyễn Tấn Dũng chỉ hứa miệng suông.
b) Ai người thay thế?
Cũng do những lời đồn đoán thì có 2 vị hy vọng nhất được chọn thay thế chức vụ TGMHà Nội:
- Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn.
Từ khi Việt Cộng muốn Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra đi thì lời đồn đoán ở Đàlạt rằng Đức Cha Nhơn đương nhiên thay thế chỗ trống đó. Một giám mục còn trẻ mà được bầu làm Chủ Tịch HĐGM lại được Nguyễn Tấn Dũng đích thân đến thăm thì Đức Cha Nhơn được lòng cả 2 bên VC và Giáo Hội. Hơn n74a, sự ra đi của Đức Tổng Kiệt thế nào mà chẳng có ý kiến của Đức Cha Chủ tịch HĐGMVN? Do vậy, Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn bị nghi là ngườilý tưởng để ra Hà Nội. Nhưng theo lẽ thường, kẻ viết bài này không tin Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn có can đảm nhận lãnh “thập giá” (chứ không phải Thánh Giá) này. Dù muốn dù không, dù thật hay giả, sự ra đi của Đức Tổng Kiệt cũng có ý kiến của Đức Cha Nhơn, mà nay lại thay người mình muốn đổi đi thì trong hành chánh quốc gia cũng ít ai làm chuyện đó, huống gì trong Giáo Hội, đưa đồng môn đi để mình thay thế chắc Đức Cha Nhơn sẽ nghĩ lại. Mang tiếng lắm. Hơn nữa, làm TGM Hà Nội sau khi ĐứcTGM Kiệt ra đi là một chức vụ rất khó khăn đối với giáo dân và giáo sĩ Hà Nội. Muốn đưa Đức Tổng Kiệt về Hà Nội, Giáo Hội đã phải đưa ngài ra Lạng Sơn trước, sau đó làm Giám Quản Tổng Giáo Phận rồi mới lên chính thức. Dù cho VC có chiếu cố, Đức Cha Nhơn chắc chắn sẽ thoái thác vì quá trắng trợn. Sự trắng trợn này cũng do VC muốn, đó là hạ uy tín trước khi ban chức.
- Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể.
Ngài TGM Nguyễn Như Thể có công im lặng trong vụ Dòng Thiên An bị cướp đất, trong vụ linh mục Nguyễn Văn Lý và nhất là vụ ngài từ chức trào Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Tiêu chuẩn này đối với Việt Cộng như thật là lý tưởng. Hơn nữa, ở Huế người ta chuẩn bị tinh thần để đưa ngài ra Hà Nội lâu rồi, có người đã gọi ngài là Hồng Y. Nhưng cũng như trường hợp Đức Cha Nhơn, ra Hà Nội dù được nhận mủ Hồng Y cũng rất vất vả cho ngài hay bất kỳ ai vì dân gian sẽ đồn đoán rằng xũng y như Đảng, hạ đồng môn để mình được thay thế là chuyện ít người làm, Đức Tổng Thể có can đảm làm không?
Nhưng nói vậy mà không phải vậy, có khi:
-Không có ai thay.
Đây là điều khả tín, hy vọng nhất, vì các vị được đề nghị dù muốn dù không cũng thấy không ổn. Không ổn về uy tín, không ổn vì đồng môn, không ổn vì lịch sử Giáo Hội. Nhưng chắc chắn nhất là Việt Cộng chưa muốn, Việt Cộng cần thời gian để thử thách, hứa hẹn và để bất cứ Giám Mục nào cũng có thể lên TGM Hà Nội. Trống ngôi? Đã có Đức Cha Phụ Tá Laurent Chu Văn Minh đỡ tay thay việc. Tình trạng này làm kẻ viết bài này nhớ một kỷ niệm buồn: trong cuộc bầu cử Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa có tất cả 17 liên danh. Theo dư luận thì liên danh do cụ TVL. thụ ủy yếu nhất. Bà con đã gặp cụ và khuyên cụ nên rút lui “vì Mỹ đã sắp đặt xong rồi”. Cụ cương quyết tiếp tục và khẳng định sẽ thắng lợi, vì chính người Mỹ đã đến tiếp xúc và cho biết trong 17 liên danh, họ chỉ tín nhiệm liên danh cụ, bằng cớ là họ yễm trợ cụ đến 60 ngàn dollars. Rốt cuộc cụ cầm đèn đỏ.
- Vụ Bâuxít:
Cuộc tiếp xúc giữa Thủ tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng và Đức Cha Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục thế nào cũng đề cập đến vụ Bâuxít, và vì Nguyễn Tấn Dũng đãtuyên bố vụ bâuxit là kế hoạch lớn của Đảng thì trong cuộc tiếp xúc này Nguyễn Tấn Dũng chỉ có nước ca ngợi “thắng lợi” của bâuxịt và xin HĐGMVN ủng hộ. Ở vào vị thế của Đức Cha Nhơn lúc đó thì không ủng hộ cũng chỉ ậm à cho qua chuyện. Và thế là Nguyễn Tấn Dũng có quyền tuyên bố Đức Cha Chủ Tịch đã đồng ý!
Kết luận:
Đây là những sự đồn đoán, nghĩa là có cái trúng mà cũng có cái trật. Kẻ viết bài này muốn nhắc lại một câu của một giáo dân rằng: “Một ông già hơn 2 ngàn năm tuổi đừng để cho một đứa “con nít 70 tuổi” qua mặt. Giáo Hội Công Giáo chỉ tính từ Tân Ước đã có 2009 tuổi, không kể 60 tuổi tính nhầm. Không thể nào thua trí của một đảng Cộng Sản có 77 năm (1917-1990) hưởng thọ. Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một đứa con lai căng cha Nga mẹ Tàu. Nay lại đổi giới tinh qua Mỹ. Xin các bậc đừng để chúng qua mặt, vì chút danh phận. Ngoài ra, Hội Đồng Giám Mục mà Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn là Chủ tịch cũng nên nghĩ tới một điều quan trọng đối với Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt: Việt Cộng là vua thù dai, trả thù dai và không từ một thủ đoạn nào đối với kẻ thù cũng như với bạn. Xin các Đấng Bậc Bề Trên hãy nghĩ đến điều đó. Vì những gì xảy ra cho Đức TGM Ngô Quang Kiệt sau này, quý vị chịu trách nhiệm phần lớn. Riêng về Đức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt, như ngài đã tâm sự với thánh Phê Rô tại La Mã “Lạy thánh Phê Rô xin cho chúng con noi gương ngài, hiểu biết những yếu đuối của chúng con, hiểu biết tình yêu thương của Chúa hiểu biết sức mạnh của Chúa để chúng con phó thác, để Chúa thắt lưng và dẫn chúng con đến nơi nào Chúa muốn”. Vâng lời cho đến chết như Đức Giê Su, phó thác và ở chức vụ cố gắng làm tròn trách nhiệm: nên Thánh.
Xin đừng đổ trách nhiệm cho Vatican . Đành rằng “những Đức Ông cố vấn Việt Nam trong triều đình Vatican rất “sùng” Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam , nhưng tiếng nói của HĐGMVN Vatican không thể không quan tâm. Nói cách khác đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội như ý muốn của Việt Cộng hay không là do HĐGMVN mà Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn là Chủ tịch.
Những sự đồn đoán trên đây cũng là những gì mà một trong mấy triệu giáo dân Việt Nam trăn trở, thao thức, đau đớn phải viết ra.
Ước mong rằng những ĐỒN ĐOÁN này chỉ là ĐỒN ĐOÁN.
Ngày Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, 2009
Một giáo dân bất xứng
Micae Lê Văn Ấn
THỦ TƯỚNG VC NGUYỄN TẤN DŨNG &
ĐỨC CHA NGUYỄN VĂN NHƠN, CHỦ TỊCH HĐGMVN 1.- Nguyên nhân có những đồn đoán:
Trong khi vấn đề Việt Cộng để cho Trung Cộng khai thác bâuxít ở Tân Rài, thuộc Cao Nguyên Trung Phần đang làm cho toàn dân lo sợ và phẫn uất. Một cuộc cách mạng của toàn dân chưa biết bùng nỗ lúc nào. Vì đây là kế hoạch xích hóa đất nước Việt Nam của Trung Cộng. Các thành phần trí thức, các cựu cán bộ, đảng viên Cộng Sản, thành phần quân đội VC mà tướng Võ Nguyên Giáp, dù bao năm qua, VC đã loại trừ ông, đã gắn cho ông những chức vụ để sỉ nhục ông, đã lấy con cháu ông làm phương tiện như con tin để ông ngậm miệng, và cũng để làm cho cái hào quang “Điện Biên Phủ” của ông bị lu mờ. Thế mà Võ Nguyên Giáp cũng đã mấy lần lên tiếng đề nghị VC dẹp bỏ, không cho Trung Cộng khai thác bâu xít ở Cao Nguyên Trung Phần, biết bao nhiêu nhà khoa học đưa ý kiến với những chứng cớ rõ ràng sự nguy hại cho môi trường sống của sinh vật cũng như thực vật, nhất là Cao Nguyên Trung Phần là cao điểm chiến thuật khống chế Đông Dương, ai chiếm được Cao Nguyên là bẻ đôi Việt Nam. Thế mà Việt Cộng đã cúi đầu để cho Trung Cộng khai thác với công nhân của chúng đem từ Hoa Lục sang. Phong trào chống đối Trung Cộng khai thác bâuxít Cao Nguyên làm cho Việt Cộng run sợ hơn bao giờ cả.
Trong khi vụ bảo vệ đất của giáo xứ Thái Hà vẫn còn âm ỉ cháy ngầm chưa biết sẽ bùng nổ lại bất cứ lúc nào. Nguy hiểm cho Việt Cộng là Thái Hà chẳng những nằm tại Thủ Đô, nơi có đầy đủ tai mắt ngoại quốc lại còn nằm sát những cơ quan đầu não Việt Cộng mà giáo dân Thái Hà có thể tập trung mấy ngàn, có thể lên đến hàng vạn khi giáo dân giáo phận Hà Nội hưởng ứng giúp Thái Hà. Trong quá khứ, các lực lượng này đã “tập dượt”. Vạn nhất cuộc diện Thái Hà bùng nổ, Việt Cộng không thể làm một Thiên An Môn tại Hà Nội khi mà giáo dân “cài răng lược” với các cơ sở đầu não VC. Vạn nhất mà cuộc diện này xảy ra, có tới 70, 80% quân đội Việt Cộng sẽ không bắn vào dân, mà giúp dân đòi hỏi VC phải thỏa mãn những đòi hỏi tối thiểu và chính đáng của người dân.
Nhưng trên hết và quan trọng hơn hết là đầu não của cuộc diện Thái Hà nói riêng và toàn quốc nói chung lại là Đức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt, cái đinh này VC đã cố gắng nhổ cho bằng được nhưng thất bại khi HĐGMVN đã trả lời VC: Đức TGM Ngô Quang Kiệt “không làm gì sai luật Giáo Hội CGVN”.
Gần đây, điểm nóng nhất là TAM TÒA. Tam Tòa 3 năm gần đây mới trực thuộc sự dẫn dắt của giáo phận Vinh, một giáo phần có nửa triệu giáo dân, mà Đức Cha giáo phận Cao Đình Thuyên tuyên bố giáo phận Vinh có những 500 ngàn Cao Đình Thuyên. Câu tuyên bố này có nhiều ý nghĩa, những ý nghĩa sau đây khiến Việt Cộng lo ngại: nửa triệu Cao Đình Thuyên có nghĩa là tất cả Công giáo Vinh đoàn kết nửa triệu người như một. Câu tuyên bố do vấn đề Tam Tòa mà có, có nghĩa là nửa triệu người sẽ đứng lên đòi hỏi Việt Cộng trả lại những gì chúng đã cướp đoạt, đã hành hạ, đàn áp … Tam Tòa phải trả lại cho Tam Tòa. Nửa triệu người này đoàn kết một lòng, trãi dài trên 3 tình Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình. Nếu Trung Cộng chiếm Cao Nguyên, tìm được xuống biển Nha Trang; bẻ đôi Việt Nam được thì Nghệ Tỉnh Bình nếu có cuộc đấu tranh bất bạo động xảy ra, Việt Cộng phải đối diện vấn đề sinh tử với Công Giáo. Nghệ Tỉnh Bình là những địa danh chiến lược trong lịch sử, thủ cũng như công rất nguy hiểm cho đối phương.
Việt Cộng khi đàn áp dã man giáo dân Tam Tòa, đánh đập một cách có dự mưu các linh mục và giáo dân các nơi khác đến, là chúng có âm mưu biến Tam Tòa thành Điện Biên Phủ để bao nhiêu giáo dân đến đó đều bị chận đường tiêu diệt dễ dàng, làm một trận thư hùng để cho Công Giáo Việt Nam cạch đến già. Giáo phận Vinh mạnh lắm, nhưng không thể “kéo quân” vào Tam Tòa, vì chỉ có độc đạo, dể dàng cho Việt Cộng phục kích tiêu diệt.
Việt Cộng đã lầm. Giáo phận Vinh không phải là quân Pháp, Đức cha Cao Đình Thuyên không phải là viên tướng chỉ huy Đông Dương hồi đó.
Cần gì phải kéo giáo dân vào Tam Tòa làm bia cho Việt Cộng bắn? Ở đâu đấu tranh tại đó, với chiến thuật bạo động, giáo phận Vinh cũng có thể cấm đường Việt Cộng liên lạc Bắc Nam vậy. Những địa danh Ba Làng, Quỳnh Lưu nằm trong 3 tỉnh Nghệ Tỉnh Bình, giáo dân giáo phận Vinh cũng là những kẻ bám trụ trong thời chiến và được mệnh danh là “Khu Tư”. Sự đánh đập dả man giáo sĩ và giáo dân của Việt Cộng, cô lập 100% giáo dân Tam Tòa là VC muốn dụ Công giáo vào một Điện Biên Phủ, nhưng “Điểm” của giáo phận Vinh (nếu cuộc đấu tranh xảy ra) không phải là Tam Tòa mà bất cứ đâu ở trong 3 tỉnh trực thuộc. Đức Giám Mục Cao Đình Thuyên là dân Nghệ Tỉnh, hòa hoãn, nhẫn nại trong khi VC gấp rút, nóng nảy. Rất nguy hiểm cho VC.
Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, một giám mục trẻ mà được HĐGM bầu làm chủ tịch. Trách nhiệm nặng nề, mọi quyết định đều phải đắn đo suy nghĩ, nhất là cầu nguyện, vì nếu có quyết định sai lầm sẽ đưa GHCGVN vào một cuộc chiến, có nhiều tử đạo nhưng về mặt dân tộc, sẽ là cơ hội làm giảm sức chống xâm lăng Trung Cộng.
HĐGMVN lại vừa qua La Mã hội họp với Đức Giáo Hoàng, viếng mộ Thánh Phê Rô về, chắc chắn Đức Cha Chủ Tịch biết nhiều chuyện, biết kết quả những “đề nghị” của VC mà Đức Cha Chủ Tịch chuyển cho Vatican hay do các ngunồ tin khác cung cấp, biết thái độ của ĐTGM Ngô Quang Kiệt ra sao v.v… “liệu HĐGMVN hay Vatican có đề cập đến vụ bức ép Đức Cha Kiệt từ chức hay không? V.v… và v.v…Nhiều chuyện lắm, nhưng những chuyện này không thể trao đổi bằng văn bản, bằng điện thoại. Hơn nữa, nếu VC có hứa gì đi nữa, mà hứa bằng miệng thì cũng dễ để cho gió bay. Do đó, mà cuộc gặp gở giữa Đức Cha Chủ Tịch Nguyễn Văn Nhơn với Nguyễn Tấn Dũng là một nhu cầu cần thiết. Người ta hỏi Nguyễn Tấn Dũng nhân cơ hội thị sát Tân Rài mà gặp Đức Cha Nhơn hay Tân Rài chỉ là cái cớ để có cuộc gặp gở với Đức Cha Nhơn?
2) Những lời đồn đoán:
Sau cuộc họp, cả 2 phía Công giáo và VC đều không có tuyên bố nào chính thức. Do đó, mặc sức cho VC “đồn đoán” mà cũng mặc sức cho Công Giáo và dân chúng ngoài Công giáo đồn đoán. Cái đồn đoán “ưu tiên một” là sự từ chức của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Đồn đoán thứ 2 là ai sẽ thay Đức Cha Kiệt, đồn đoán thứ 3 là vụ Tam Tòa. Còn nhiều đồn đoán khác nhưng cũng chỉ phụ thuộc vào 3 ưu tiên nói trên mà thôi.
a) Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt rời Việt Nam hay phải rời Hà Nội.
VC Hà nội đã minh thị yêu cầu HĐGMVN đưa Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội. Điều này nếu xảy ra thì VC đã có một thắng lợi lớn nhất từ trước đến nay. Bứng Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội cũng có nghĩa là “thuận ta thì sống, nghịch ta thì … đi”. Không chết cũng bị thương, cũng bị loại khỏi vòng chiến. Đức Tổng Kiệt đi rồi thì Đức Tổng mới làm được gì, nếu không nói là mọi sự phải “hòa giải, hòa hợp với VC, nói nôm na là VC bảo sao nghe vậy, nếu không thì … “đi”. Sự ra đi của Đức TGM Ngô Quang Kiệt cũng ảnh hưởng rất xấu cho Giao Phận Vinh.
Trên thực tế, chuyện của Công Giáo hôm nay chỉ là chuyện PHỤ, chuyện chính và cấp bách nhất là chuyện XÂM LĂNG CỦA TRUNG CỘNG. Dù muốn, dù không, người Công Giáo phải dùng nhân, vật, lực của mình để đóng góp với toàn dân trong cuộc đấu tranh này. Đó là điều bắt buộc. Và VC phải diệt cuộc đấu tranh của Công Giáo, một trong những mui nhọn đang tấn công chúng bằng chiến thuật bất bạo động.
Nhưng nếu một TGM Quốc Doanh - dĩ nhiên, bởi vì cớ không quốc doanh của ĐTGM Kiệt, ngài mới bị VC bứng đi – thay thế Đức Cha Kiệt thì tinh thần chiến đấu chống xâm lăng Tàu Cộng của dân tộc nói chung, Hà Nội nói riêng sút giảm rất nhiều!!! Về chiến lược chắc chắn sẽ có biện pháp (sẽ bàn sau) nhưng trước mắt là một sự sút giảm to lớn, có lợi cho Trung Cộng và tôi tớ của chúng. Đó là sự thật. Vậy thì “Điểm” của cuộc gặp gở này, nói thì không nói nhưng phải hiểu là vì nạn xâm lăng của Trung Cộng chính là Điểm.
Cũng vì ĐIỂM của cuộc gặp gỡ là cuộc xâm lăng của Trung Cộng nên người ta sợ, rất sợ Đức Cha Nhơn có thể mắc mưu VC Nguyễn Tấn Dũng. Nếu sự “măc mưu” xảy ra thì trách nhiệm trước Giáo Hội là việc PHỤ, trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, trách nhiệm chống Trung Cộng xích hóa Việt Nam là việc CHÍNH. Vì sự xích hóa lần này cũng đồng nghĩa với Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ thế giới, hay chỉ là một quận, một huyện của Trung Cộng.
- Ai có lợi, ai có hại?
Cộng Sản có lợi: Việc Cộng đã công khai yêu cầu HĐGMVN đưa Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội. HĐGMVN đã không chấp nhận. Trong 2 lần thăm viếng Việt Nam, Phái đoàn Tòa Thánh cũng nhận được đề nghị của VC đưa Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khiỏ Hà Nội, nhưng đã bị phái đoàn Tòa Thánh bác bỏ. Việt Cộng coi như “thua” Công Giáo. Ngày nào Đức TGM Kiệt còn hiện diện tại Hà Nội, ngày đó Thái Hà còn vững niềm tin, còn sẵn sàng hy sinh cho công lý và sự thật. Ngày đó Thái Hà còn là một niềm tin cho các giáo xứ khác trên toàn quốc. Do đó, sự ra đi của Đức TGM Ngô Quang Kiệt là một thắng lợi lớn cho Việt Cộng. “Sát nhất nhơn, vạn nhơn cụ”. Ảnh hưởng này rất lớn đối với các giám mục còn muốn mình không phải là chủ chăn thuê. Nói cách khác, Việt Cộng coi như đã khống chế toàn bộ HĐGMVN. Lâu nay, HĐGMVN đã im lặng trước những việc làm hại dân hại nước ai cũng thấy mà HĐGMVN đả im lặng, nay qua biến cố ĐTGM Ngô Quang Kiệt Hội Đồng vẫn im lặng, hoặc tiến thêm một bước nữa: “ủng hộ triệt để các chính sách lớn của đảng và Nhà Nước”, như vụ bâuxít chẳng hạn.
Sự ra đi của Đức TGM Ngô Quang Kiệt làm sụp đổ niềm tin và sự kính trọng của giáo sĩ và giáo dân, đối với HĐGMVN và có thể nói đối với Vatican . Họ vào nhà thờ không khác gì Phật tử vào chùa sư quốc doanh. Khó khăn nhất là phần vụ của các linh mục, người trung gian giữa Giám mục và giáo dân. Lịch sử sẽ viết thế nào về Giáo Hội Công Giáo trong giai đoạn này/ Hỏi tức là trả lời.
- Đánh đổi được gì?
Vì xảy ra trong một cuộc tiếp xúc, dù Nguyễn Tấn Dũng có hứa hẹn gì cũng chỉ là hứa miệng. Vả chăng, “Trên Chính Phủ còn có Đảng”. Nguyễn Tấn Dũng chỉ là cái đầu con rùa, vì lợi ích cho Đảng mà cái đầu thụt vào hay lòi ra. Do đó, lời VC hứa làm sao tin? Nhưng nếu VC “giữ lời hứa” thì đổi được gì? Bang giao với Tòa Thánh? Đức Giáo Hoàng sẽ được phép viếng Việt Nam ? Vatican trọn quyền phong chức giám mục, đào tạo, phong chức, thuyên chuyển linh mục không phải xin phép VC? Trả lại toàn bộ đất đai cho Giáo Hội Công Giáo?
Dù cho sự ra đi của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đánh đổi tất cả những quyền lợi này cũng không cân xứng với sự phá vỡ lòng tin của giáo dân, của dân chúng đối với HĐGM nói riêng và GHCG nói chung. Huống gì, Nguyễn Tấn Dũng chỉ hứa miệng suông.
b) Ai người thay thế?
Cũng do những lời đồn đoán thì có 2 vị hy vọng nhất được chọn thay thế chức vụ TGMHà Nội:
- Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn.
Từ khi Việt Cộng muốn Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra đi thì lời đồn đoán ở Đàlạt rằng Đức Cha Nhơn đương nhiên thay thế chỗ trống đó. Một giám mục còn trẻ mà được bầu làm Chủ Tịch HĐGM lại được Nguyễn Tấn Dũng đích thân đến thăm thì Đức Cha Nhơn được lòng cả 2 bên VC và Giáo Hội. Hơn n74a, sự ra đi của Đức Tổng Kiệt thế nào mà chẳng có ý kiến của Đức Cha Chủ tịch HĐGMVN? Do vậy, Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn bị nghi là ngườilý tưởng để ra Hà Nội. Nhưng theo lẽ thường, kẻ viết bài này không tin Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn có can đảm nhận lãnh “thập giá” (chứ không phải Thánh Giá) này. Dù muốn dù không, dù thật hay giả, sự ra đi của Đức Tổng Kiệt cũng có ý kiến của Đức Cha Nhơn, mà nay lại thay người mình muốn đổi đi thì trong hành chánh quốc gia cũng ít ai làm chuyện đó, huống gì trong Giáo Hội, đưa đồng môn đi để mình thay thế chắc Đức Cha Nhơn sẽ nghĩ lại. Mang tiếng lắm. Hơn nữa, làm TGM Hà Nội sau khi ĐứcTGM Kiệt ra đi là một chức vụ rất khó khăn đối với giáo dân và giáo sĩ Hà Nội. Muốn đưa Đức Tổng Kiệt về Hà Nội, Giáo Hội đã phải đưa ngài ra Lạng Sơn trước, sau đó làm Giám Quản Tổng Giáo Phận rồi mới lên chính thức. Dù cho VC có chiếu cố, Đức Cha Nhơn chắc chắn sẽ thoái thác vì quá trắng trợn. Sự trắng trợn này cũng do VC muốn, đó là hạ uy tín trước khi ban chức.
- Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể.
Ngài TGM Nguyễn Như Thể có công im lặng trong vụ Dòng Thiên An bị cướp đất, trong vụ linh mục Nguyễn Văn Lý và nhất là vụ ngài từ chức trào Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Tiêu chuẩn này đối với Việt Cộng như thật là lý tưởng. Hơn nữa, ở Huế người ta chuẩn bị tinh thần để đưa ngài ra Hà Nội lâu rồi, có người đã gọi ngài là Hồng Y. Nhưng cũng như trường hợp Đức Cha Nhơn, ra Hà Nội dù được nhận mủ Hồng Y cũng rất vất vả cho ngài hay bất kỳ ai vì dân gian sẽ đồn đoán rằng xũng y như Đảng, hạ đồng môn để mình được thay thế là chuyện ít người làm, Đức Tổng Thể có can đảm làm không?
Nhưng nói vậy mà không phải vậy, có khi:
-Không có ai thay.
Đây là điều khả tín, hy vọng nhất, vì các vị được đề nghị dù muốn dù không cũng thấy không ổn. Không ổn về uy tín, không ổn vì đồng môn, không ổn vì lịch sử Giáo Hội. Nhưng chắc chắn nhất là Việt Cộng chưa muốn, Việt Cộng cần thời gian để thử thách, hứa hẹn và để bất cứ Giám Mục nào cũng có thể lên TGM Hà Nội. Trống ngôi? Đã có Đức Cha Phụ Tá Laurent Chu Văn Minh đỡ tay thay việc. Tình trạng này làm kẻ viết bài này nhớ một kỷ niệm buồn: trong cuộc bầu cử Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa có tất cả 17 liên danh. Theo dư luận thì liên danh do cụ TVL. thụ ủy yếu nhất. Bà con đã gặp cụ và khuyên cụ nên rút lui “vì Mỹ đã sắp đặt xong rồi”. Cụ cương quyết tiếp tục và khẳng định sẽ thắng lợi, vì chính người Mỹ đã đến tiếp xúc và cho biết trong 17 liên danh, họ chỉ tín nhiệm liên danh cụ, bằng cớ là họ yễm trợ cụ đến 60 ngàn dollars. Rốt cuộc cụ cầm đèn đỏ.
- Vụ Bâuxít:
Cuộc tiếp xúc giữa Thủ tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng và Đức Cha Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục thế nào cũng đề cập đến vụ Bâuxít, và vì Nguyễn Tấn Dũng đãtuyên bố vụ bâuxit là kế hoạch lớn của Đảng thì trong cuộc tiếp xúc này Nguyễn Tấn Dũng chỉ có nước ca ngợi “thắng lợi” của bâuxịt và xin HĐGMVN ủng hộ. Ở vào vị thế của Đức Cha Nhơn lúc đó thì không ủng hộ cũng chỉ ậm à cho qua chuyện. Và thế là Nguyễn Tấn Dũng có quyền tuyên bố Đức Cha Chủ Tịch đã đồng ý!
Kết luận:
Đây là những sự đồn đoán, nghĩa là có cái trúng mà cũng có cái trật. Kẻ viết bài này muốn nhắc lại một câu của một giáo dân rằng: “Một ông già hơn 2 ngàn năm tuổi đừng để cho một đứa “con nít 70 tuổi” qua mặt. Giáo Hội Công Giáo chỉ tính từ Tân Ước đã có 2009 tuổi, không kể 60 tuổi tính nhầm. Không thể nào thua trí của một đảng Cộng Sản có 77 năm (1917-1990) hưởng thọ. Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một đứa con lai căng cha Nga mẹ Tàu. Nay lại đổi giới tinh qua Mỹ. Xin các bậc đừng để chúng qua mặt, vì chút danh phận. Ngoài ra, Hội Đồng Giám Mục mà Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn là Chủ tịch cũng nên nghĩ tới một điều quan trọng đối với Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt: Việt Cộng là vua thù dai, trả thù dai và không từ một thủ đoạn nào đối với kẻ thù cũng như với bạn. Xin các Đấng Bậc Bề Trên hãy nghĩ đến điều đó. Vì những gì xảy ra cho Đức TGM Ngô Quang Kiệt sau này, quý vị chịu trách nhiệm phần lớn. Riêng về Đức Tổng Giám Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt, như ngài đã tâm sự với thánh Phê Rô tại La Mã “Lạy thánh Phê Rô xin cho chúng con noi gương ngài, hiểu biết những yếu đuối của chúng con, hiểu biết tình yêu thương của Chúa hiểu biết sức mạnh của Chúa để chúng con phó thác, để Chúa thắt lưng và dẫn chúng con đến nơi nào Chúa muốn”. Vâng lời cho đến chết như Đức Giê Su, phó thác và ở chức vụ cố gắng làm tròn trách nhiệm: nên Thánh.
Xin đừng đổ trách nhiệm cho Vatican . Đành rằng “những Đức Ông cố vấn Việt Nam trong triều đình Vatican rất “sùng” Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam , nhưng tiếng nói của HĐGMVN Vatican không thể không quan tâm. Nói cách khác đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội như ý muốn của Việt Cộng hay không là do HĐGMVN mà Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn là Chủ tịch.
Những sự đồn đoán trên đây cũng là những gì mà một trong mấy triệu giáo dân Việt Nam trăn trở, thao thức, đau đớn phải viết ra.
Ước mong rằng những ĐỒN ĐOÁN này chỉ là ĐỒN ĐOÁN.
Ngày Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, 2009
Một giáo dân bất xứng
Micae Lê Văn Ấn

