Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Sex,
dưới mắt nhìn của người viết nữ Việt Nam.



Trịnh Thanh Thủy

Có quá nhiều người nghĩ rằng bất cứ truyện viết nào dính líu đến tình dục là khiêu dâm. Điều này xa với sự thật. Một câu chuyện có tình dục trong đó, có thể gợi tình nhưng không có nghĩa là nó thuộc loại khiêu dâm.

Văn chương tiểu thuyết từ lâu đã được chấp nhận là một thể loại truyện chính yếu đi sâu vào cuộc thám hiểm kinh nghiệm sống con người một cách nghiêm túc. Một trong những kinh nghiệm sống của con người là tình dục. Viết về tình dục là đề cập đến một khía cạnh nhân bản nhất của đời sống. Henry Fielding and Jonathan Swift đã không gặp trở ngại khi viết về tình dục một cách trực tiếp. Tuy nhiên nó đã mở ra những cuộc tranh luận quanh vấn đề các nhà quý tộc kiểu cách thời Victoria đã sử dụng văn chương như một phương tiện để đề cập tới tình dục một cách an toàn và gián tiếp.. Thời đó là giai đoạn Phục sinh, các nhà văn đã dùng những chi tiết tình dục để đạt mục đích mô tả những cá tính nhân vật của mình. Trong tác phẩm Falstaff của Robert Nye, nhân vật dâm dục Falstaff được miêu tả một cách rất chính xác với thứ ngôn ngữ thân xác. Sau đó tình dục đã được lãng mạn hoá (romantic sex) trở thành lành mạnh trong khuôn khổ tình yêu và hôn nhân để xác định chỗ đứng của nó chống lại giai cấp quý tộc lẫn giai cấp công nhân. Đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 thì tình dục đi đôi với tư tưởng giải phóng con người và giữa thế kỷ thì thành giải phóng phụ nữ. Tính tự nhiên và quyết định của tình dục nằm trong lối suy nghĩ “giải phóng” này..
Hélène Cixous, một tiểu thuyết gia kiêm nhà phê bình nữ, trong bài tiểu luận Le rire de la Méduse (1975) đã nhắc nhở phụ nữ viết. Viết chính là tiếng nói của phụ nữ, tiếng nói được xem như cất lên từ dục tính chứ không phải từ văn hoá, tiếng nói để tạo ra cuộc đời, lạc thú chứ không phải để tích tụ.

Viết về tình dục, mở được cánh cửa nội tâm con người. Nó bày được những trạng thái tâm, sinh lý thường nhật. Phụ nữ viết về sex để diễn đạt những cảm quan của mình. Họ cũng có trí tưởng tượng như nam giới nhưng xã hội đã dạy họ rằng phụ nữ chỉ được quyền làm cái này, tránh làm cái kia, hoặc làm như thế mới là người phụ nữ tốt. Viết về ngôn ngữ thân xác giúp cho phụ nữ giải tỏa những uẩn ức đó. Đồng thời nó cũng là một kinh nghiệm sống trong vô vàn những kinh nghiệm sống khác mà người viết đưa vào tác phẩm của họ. Hơn thế nó là một hình thức nghiệm sinh, một hành trình qua đó con người tìm ra căn cước tình dục mà cũng là căn cước con người đích thực của mình. Ngoài ra, nó còn phô bày được hiện thực xã hội, khía cạnh của đời sống thực thường được ẩn giấu sau màng lưới thanh lọc của quy luật văn chương hay xã hội.
Quy luật văn chương hay xã hội này được thiết lập trên đặc quyền nam tính, nhất là trong một xã hội hay cộng đồng văn chương hẹp hòi và nhiều đố kỵ. Nó trói tay, buộc chân người viết nữ nói chung mà còn vây hãm người phụ nữ Việt Nam trong những giáo điều khe khắt nói riêng.
Người phụ nữ Việt Nam đã viết gì? Người viết nữ Việt Nam khi đặt bút viết, thường quanh quẩn trong môi trường gia đình và con cái. Họ viết về tình yêu, khát vọng, đam mê, ước mơ, qua giọng văn nhỏ nhẹ, tế nhị, dịu dàng, thùy mị và khiêm nhường.
Có một số người viết nữ có khuynh hướng bung thoát khỏi tầm ngắm. Họ muốn bứt phá bức tường thành kiến xã hội, tả và viết về tình dục như một biểu trưng của nữ quyền. Đồng thời họ cũng là mục tiêu cho nhiều phát đạn từ nhiều phía bắn vào.

Hình ảnh một người phụ nữ phản kháng lại thành kiến xã hội có thể là một hình ảnh cực kỳ xấu xa dưới mắt nhìn của nam giới và xã hội. Người phụ nữ viết về tình dục còn phải đối đầu với bạn bè, người thân, gia đình lúc nào cũng có những bất đồng ý kiến. Họ sẽ được gắn nhãn hiệu “một người nữ dữ dằn, mất tính dịu dàng, thùy mị, biết phục tùng của người phụ nữ Việt Nam”, không kể đến việc viết về tình dục sẽ bị gán thêm danh hiệu “con đĩ dâm ô” vì quan niệm “văn là người”.
Họ bị xem thường và hạ phẩm giá ngang hàng với tình dục vì từ lâu xã hội vẫn quan niệm tình dục là thấp hèn, đồi trụy, dâm ô, là bản năng loài thú. Người viết về tình dục tức một người dâm ô đáng khinh miệt!!!

Trong xã hội ngày nay, nhiều người đã có quan niệm cởi mở về tình dục. Nhiều người viết nam đã nhắc nhở và đề cập tới sex nhiều hơn trong tác phẩm của mình mà độc giả xem như đó là chuyện tự nhiên, quen mắt. Nhưng đối với người viết nữ Việt Nam thì không. Họ vẫn bị lên án viết tục tĩu. Nhưng tục tĩu là gì? Có phải những cảm xúc xuất phát từ dục tính? Ngôn ngữ của thân xác? Ước vọng của con người?

Người đọc Việt Nam có thói quen, tất cả những gì dính dáng bộ phận sinh dục hay hành động tính dục đều cho là dâm ô, tục tĩu. Định kiến xã hội có thói quen cảm nhận những từ ngữ thân xác là thô tục, trơ trẽn, sống sượng và hung bạo. Hơn nữa, mô thức đạo đức xã hội phong kiến đã khống chế tư duy của người Việt Nam một thời gian dài, từ ảnh hưởng Khổng, Mạnh, Phật giáo tới tinh thần thanh giáo trung cổ của Công giáo Việt Nam, đến tinh thần thanh giáo của chủ nghĩa xã hội, người Việt Nan vẫn còn đặt nặng luân lý xã hội, đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa, v.v… trên bình diện nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng.
Người viết nữ chạm đến tình dục như một thách thức lại rào cản luân lý, đạo đức, xã hội. Do đó họ nghiễm nhiên bị lên án.
Trong kho tàng văn học Việt Nam thời xưa, người viết nữ đề cập đến tình dục nhiều nhất là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Bà dùng thơ ca để phản kháng mãnh liệt sự đối xử bất công của xã hội đã chèn ép, đánh giá thấp thân phận người phụ nữ qua bản thân của chính bà. Ngày nay những tác phẩm văn chương của bà được xã hội chấp nhận, ca tụng nhưng dĩ nhiên vào thời của bà, bà ắt chịu nhiều dè bỉu và phê bình gay gắt.

Là một phụ nữ học giỏi, có tài thơ văn nhưng duyên phận long đong, Hồ Xuân Hương phải làm lẽ ông Tri Phủ Vĩnh Tường luống tuổi. Sau ông mất sớm, bà phải gá nghĩa cùng ông Cai Tổng Cóc nhưng không lâu ông cũng qua đời.
Trong bài thơ “Lấy chồng chung”, bà nói lên được nỗi đắng cay chua xót của người phụ nữ lấy chung một chồng qua quan niệm đa thê, “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Năm thì mười họa hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không.
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết đường nào nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

Những người phụ nữ chịu đựng cảnh bị ức chế tình dục trong việc phải chia sẻ một người chồng ở xã hội Việt Nam thời xưa rất nhiều. Chuyện ái ân đối với họ như một ân huệ “lúc có, lúc không”. Khi được cho, thì “cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm (hỏng)”, thường xảy ra. Sống một thời gian ngắn với hai ông chồng già lắm vợ, bà Hồ Xuân Hương luôn lâm vào tình trạng nói trên. Trong bài thơ “Đánh cờ”, bà cũng bị hụt hẫng, tạo nên trạng thái uẩn ức tình dục ở người phụ nữ:

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
đét đồn lên bày cuộc cờ người
… … …
chàng lừa thiếp đang khi bất ý
đem tốt đầu dú dí vô cung
thiếp đang mắc nước xe lồng
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu

Rốt cuộc bà cũng chẳng hưởng được gì. Sự bất công thối nát của xã hội phong kiến, khát vọng tình yêu và uẩn ức tình dục đã đẩy nữ sĩ Hồ Xuân Hương vào con đường cầm viết mà là một cây viết tình dục nữ như một duyên kiếp.

Trước thập niên 75, nhà văn nữ Lệ Hằng trong tác phẩm Mắt tím đã cho nhân vật nữ, vợ bé của một ông lớn nhiều tuổi, nói lên nỗi lòng của người phụ nữ với sự bất mãn tình dục:

“…Tôi nhắm mắt lại cảm giác đốt cháy sao nguôi tàn. Da thịt thôi đã hết sôi. Ái ân khi đầy khi vơi khi nồng nàn, khi giá băng. Tôi bực bội khó chịu vì Thụy không chờ nổi tôi đi hết đường. Nửa vời khó chịu quá, tôi mặc Thụy nằm thờ quay mặt đi.
Da thịt tôi buồn bực như lá chưa xanh đã héo, như quả chưa chín đã khô, như người chưa lớn đã vội già. Tôi muốn Thụy biến đi chỗ khác mà ngủ mà ngáy. Tôi muốn được một mình. Bây giờ tôi hiểu tại sao đàn bà ngoại tình. Thà không có chồng thà đừng ân ái. Thứ ân ái nửa vời là thứ ái ân đàn bà thù nhất…”
(Lệ Hằng, Mắt tím)

Ngày nay với sự tiến hoá của xã hội, chế độ “một vợ, một chồng” tuy giành được phần nào công bằng cho người nữ nhưng sự xem thường và ít coi trọng cảm xúc người phụ nữ vẫn xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.
Kỹ thuật điện toán đã nối cầu giao lưu giữa người và người. Phụ nữ không còn mặc cảm thân phận dưới khung trời ảo. Họ tranh luận, tự tin, cởi mở, nói điều muốn nói, bày tỏ cảm nhận của mình bạo dạn và rõ ràng hơn, nhất là trong lãnh vực tình dục. Họ tự hào đã vượt qua thành kiến xã hội. Họ dễ dàng chấp nhận thế giới ảo như một sinh hoạt xã giao thường nhật. Thế giới ảo làm thay đổi tư duy, cách cư xử của người phụ nữ nói chung và người phụ nữ trẻ nói riêng. Nữ giới bây giờ đọc và viết nhiều hơn ngày trước
(Trịnh Thanh Thủy, “Phụ nữ viết”)

Gần đây, Lê Thị Thấm Vân, một cây viết nữ cấp tiến, đã kể lại câu chuyện của một nhân vật nữ, có người yêu bị bất lực nên rơi vào tình trạng uẩn ức tình dục. Để bù đắp tình trạng khiếm khuyết, phụ nữ này đã sống với nhiều người đàn ông và đắm chìm trong tình dục với bản năng của loài thú. Qua tiếng nói người đàn bà này, chúng ta thấy được sự phản kháng mãnh liệt thành kiến hủ lậu “trai năm thê, bảy thiếp” và sự bùng vỡ của tiếng nói bấy lâu bị bắt buộc phải nín lặng trong văn chương:

“...Mình ớn mình, sợ mình. Không lẽ cứ sống cái đời lăng quăng quanh mấy thằng đàn ông con trai mãi vầy sao?
Tối qua mình nằm nghĩ thật tình như vầy: đàn ông khỏe mạnh trẻ trung to con cỡ như thằng Mễ, một ngày ra ba lần là hết xí quách, đi chân nam đá chân xiêu, mắt nhìn gà hóa chó. Còn con mụ đàn bà, như tụi điếm, làm tình một ngày cả tá thằng đàn ông chẳng sao cả, vẫn ca vọng cổ, cải lương rất ư mùi mẫn, vẫn gánh nước đi khơi khơi... Đúng ra đàn bà có thể lấy một lúc nhiều chồng được, chứ tại sao một ông mà có hàng lố bà vợ được??? (Trai năm thê bẩy thiếp). Một bà có thể làm thỏa mãn ba thằng đàn ông trong cùng một lúc. Còn đàn ông là no way! Không cách chi làm thỏa mãn được mụ vợ thứ ba chứ đừng nói chi đến mụ vợ thứ bẩy!!! (Gái chính chuyên một chồng). Chắc vậy mà đàn ông hay sợ quê, tự thấy mình bị lép vế, yếu kém thua đàn bà nên ưa toác họng ưỡn ngực thằng nào cũng mạnh mồm cho ta đây mạnh khỏe, sức lực dồi dào macho, đêm bảy ngày ba, loe ngoe chưa tính. Dóc tổ mẹ. Toàn một lũ nói cho đã miệng. Thằng nào cũng nhiều đào, nhiều em, nhiều vợ... Cả một lũ nằm mơ. Thôi thì cho tụi nó ước ao sống tận cùng với những giấc mơ, nhưng trong thực tế tụi nó tự biết là đéo chẳng bao giờ đạt được.
Ừ, mình nghĩ con người cũng lạ lùng. “
(Lê Thị Thấm Vân, Âm vọng)
Từ xưa, văn chương là địa bàn của nam giới. Erica Jong có nói “Phụ nữ chọn nghề văn thường là để tạo dựng chỗ đứng trong một xã hội do đàn ông cai quản”.

Nhà văn nam đề cập tới tình dục khác nhà văn nữ. Họ không có khuynh hướng tả miên man và kéo dài một phân cảnh. Họ thích chớp nhoáng và đạt mục tiêu mau lẹ. Họ tập trung trên diễn tiến sinh vật lý. Phụ nữ thì nghiêng về cảm xúc sinh lý hơn:
“Tôi ngước mặt lên đón nước, bộ ngực thanh tân chưa hề ai đụng tay vào lồ lộ ngẩng cao… Bỗng chàng đặt hai tay lên người tôi, xoa nhè nhẹ. Tôi run rẩy, kích động. Một cảm giác rạo rực chưa bao giờ biết trong đời con gái bỗng làm tôi suýt khóc. Dưới nước mà tôi nghe lửa cháy rực người. Tôi nhắm mắt lại, mở mắt ra, quýnh quáng chẳng biết phải làm sao. Tôi lụp chụp ghì hai bàn tay chàng, nhẩn nha cắn những ngón tay thô bạo gợi tình. Từ cổ họng phát ra tiếng kêu rên là lạ.”
(Miêng, Đồng thiếp)

Viết về Sex là một trò đu dây đầy cám dỗ dành cho những cây bút nhiều năng lực và bản lãnh. Người viết non tay dễ dàng cho những dòng chữ mình viết rơi xuống sự khiêu dâm thấp kém. Ngược lại, với người viết cao tay, có thể soi rọi và làm thăng hoa những ẩn ức bí mật chìm sâu trong thế giới tâm linh, bản năng khuất lấp thân phận con người.
Truyện ngắn “Ám thị” của Phạm Thị Hoài tả cảnh nhân vật nữ là một người đàn bà được chồng cưng chiều cho người về đấm bóp để trị bệnh đau nhức. Hoài đã tung hoành ngòi viết của mình trong ghetto sex cấm kỵ mà người đọc không mảy may cảm thấy bà đang đụng chạm đến “Taboo” tình dục:

“Thày ngồi chắc chắn phía sau, đỡ tôi bằng hai đầu gối, cằm tì nhẹ trên gáy tôi, tay vòng qua nách ra trước, ôm quanh hai vai, khoá lại. Thày thúc nhẹ. Lưng tôi kêu rất đẹp. Tôi uốn người ra sau như cánh cung, chân chơi vơi không chạm chiếu, đầu ngả xuống ngực thày. Thày nghiêng xuống, má ấp má tôi một thoáng, miệng kề miệng tôi trong tích tắc. Tay nhẹ nhàng buông vai, hứng lấy hai bầu ngực. Ngực tôi từ cương dễ sợ, hai núm vểnh lên thật đáng xấu hổ…
Tay ấy vê ngón tay tôi, vuốt mu bàn chân tôi, không quên một ly… Tay ấy mười con mắt. Bây giờ tay ấy ôm ngang eo tôi, lùa trên bụng tôi, toả xuống ngang hông, chập chờn, thăm dò. Rồi quả quyết chườm quanh rốn. Rồi xoa, mỗi vòng một rộng, tay này đuổi tay kia, một quành xuống bụng dưới và một lội qua vùng ngực. Rồi ngọt ngào miết dọc những dẻ xương sườn. Rồi miết đi miết lại từ cổ xuống ức, lách giữa hai bầu ngực…”
(Phạm Thị Hoài, “Ám thị”)

Phái nam dựng truyện, cấu tạo người phụ nữ theo mắt nhìn và quan điểm cá nhân của họ.. Khi đề cập đến tình dục cũng vậy, họ viết, nói, nghĩ thay cho phái nữ. Nhân vật nữ được uốn nắn theo ý người viết và được đưa công thức “rên, thở, sướng khoái, xúc cảm” toàn theo chủ ý người viết. Pat Califia đã nói trong cuốn Leatherdyke của bà “Tôi rất chán khi phải đọc những tiểu thuyết viết dối trá, không thật về đời sống tình dục của chúng tôi”.
Trong tiểu thuyết Bếp lửa viết vào thập niên trước 1975, Thanh Tâm Tuyền đã cho nhân vật nữ tên Hạnh tư duy theo lối suy nghĩ của một người đàn ông Việt Nam:

“...đã thổi vào máu Hạnh sự say đắm nhiệt tình trong yêu đương. Sau mỗi lần như thế khi lấy lại bình thường, Hạnh có vẻ ngượng ngùng. Có một lần nằm cạnh tôi, Hạnh nắm tay tôi để lên ngực nàng và hỏi: “Anh có khinh em không?”
(Thanh Tâm Tuyền, Bếp lửa)

Người phụ nữ trong tiểu thuyết của ông mang một tâm trạng người con gái Việt Nam lúc nào cũng sợ nhân vật nam khinh khi vì đã trót lỡ cho người nam chiếm đoạt và ăn nằm với mình dù đã ân ái biết bao lần, dù đã nhiệt tình say đắm. Sự xem thường, coi rẻ người đàn bà đã hiến thân, lỡ cho đi cái quý nhất đời mình đã ăn sâu vào nhân vật nam cũng là hoá thân của tác giả nên tác giả đã cho Hạnh tư duy theo chiều hướng suy nghĩ của mình và khoác cho Hạnh cái tâm trạng mặc cảm mãi mãi bị ám ảnh. Vô hình chung, tác giả ngầm nhắc nhở người phụ nữ lúc nào cũng phải trở về vị trí của mình, cái thân phận “nằm dưới”...

Trùng Dương của thập niên 70, trong Chung cư, đã cho Diệu, nhân vật nữ của mình hành động, tư duy như một người nữ vì chính họ là phụ nữ. Cái tôi của người phụ nữ trong tình dục được thể hiện qua hành động “đòi nằm trên”:
Diệu bảo: “Em lên anh nhé?”
(Trùng Dương, Chung cư)

Lê Thị Thấm Vân xác định rõ ràng hơn vị thế bình đẳng của người nữ trong việc chăn gối. Nhân vật của Thấm Vân không chịu khuất phục trước định mệnh và bản năng và sống đến tận cùng cảm giác đời mình. Lần làm tình thứ nhất, cô nhớ, ở phòng trọ nhà người bạn đi nghỉ hè, cô ra dấu bảo anh đổi tư thế, với vẻ trìu mến của con mèo hoang, cô ngồi lên người anh. Làn sóng bụng anh nhấp nhô theo nhịp nhẩy hai bầu vú cô. Cô nhớ mãi đôi mắt anh không giấu được sự kinh ngạc. Đó là dấu hiệu mang dấu ấn tự quyết mà sau này liên hệ hai người quấn chặt bởi bao khoảng trống im lặng giằng co phức tạp. Và rồi tiếp những lần sau, nhiều năm sau, đôi ba lần cô vừa làm tình vừa khóc dữ dội trên người anh. Cô không cần giấu mặt, nước mắt rơi vãi thấm qua làn da cả hai. Chỉ với riêng anh, vài lần hiếm hoi để đời. Không cả với chồng, sau này. Trong tự điển đời em, em luôn cố gắng bôi xóa hai từ ngữ định mệnh và bản năng.
(Lê Thị Thấm Vân, Âm vọng)

Trong xã hội Việt Nam hiếp dâm không được xem là tội trọng. Trong văn học, nó được đơn giản hoá như một tai nạn, một sự kiện hay được người viết hoá phép, biến thể thành sự đồng thuận, và hơn thế nữa kẻ bị hiếp dâm lại tìm được thống khoái trong khi bị hiếp.
Chúng ta có thể tìm thấy điều này nhan nhản trong các tác phẩm như “Chí Phèo” của Nam Cao, Giông tố của Vũ Trọng Phụng hay trong cuốn Tình cao thượng xuất bản tại Sài Gòn năm 1968 của Nguyễn Mạnh Côn.
Nguyễn Mạnh Côn là một nhà văn miền Nam rất cấp tiến. Nhân vật nữ là thiếu nữ tên Ngọc còn rất trẻ bị một bọn du thủ, du thực bắt cóc, thay phiên nhau hãm hiếp, nhưng:

“…Trong lúc đi lại với em, em không thấy ghê tởm... Nó đi lại thật mạnh, thật lâu. Có lúc em đê mê, cuống quýt, hình như em đã rên rỉ, đã bảo nó hôn em đi, hình như em có rướn người, ghì chặt lấy nó...” (tr. 69)
... thế mới biết Tư Giỏn đã làm cho em mệt, sự mệt mỏi dấu hiệu của sự thoả mãn toàn thân... (tr. 89)


Trong xã hội Tây Âu ngày nay, hiếp dâm là một trọng tội. Tội hình gia trọng thứ nhì sau giết người bằng vũ khí. Nạn nhân hứng chịu những vết thương bạo hành trên cả hai phương diện sinh lý và tâm lý. Có người nổi điên hoặc bị ám ảnh suốt cuộc đời. Chưa kể chuyện bị người yêu, bạn bè hay xã hội ruồng bỏ, xa lánh. Ngọc là một thiếu nữ rất trẻ, có thể chưa có kinh nghiệm về tình dục, bị bắt cóc và hãm hiếp tập thể như vậy, không đau đớn, băng huyết hay phát điên thì thôi lại còn rên rỉ, thoả mãn, đáp ứng cuồng nhiệt.
Không có một vở kịch bi hài nào hơn đoạn viết này. Tôi không muốn đi sâu vào việc phân tích kỹ thuật viết của tác giả mà chỉ muốn đề cập đến sự kiện hiếp dâm của đám du đãng đã được tác giả che đậy và làm trắng án bằng cử chỉ biểu đồng tình.

Trong bài viết"SC trước bàn thờ” đăng trên diễn đàn talawas, ông Kiệt Tấn đã thể hiện cái tinh thần “hiếp dâm, thô bạo” phụ nữ trong lối viết “…Mà một khi đã nứng cặc rồi thì phải đụ, đàn bà không chịu đụ thì hiếp dâm, hiếp dâm không được thì đi chơi đĩ…”
Sự tấn công tình dục của nhân vật nam trong truyện ngắn “Chéo áo con bạn vàng” của Kiệt Tấn đã cho chúng ta thấy rõ quyền thống trị, chiếm hữu phái nữ (dưới tuổi vị thành niên) trong truyện của ông.
Đây là một trích đoạn của Kiệt Tấn, diễn tả cảnh một nhân vật nam sau khi hẹn hò gặp gỡ người yêu tuổi 15, 16 của mình nơi mả đá.

"…Tôi mân mê chút hông còn để trống cho đỡ ghiền. Sóng tình dường đã xiêu xiêu, xem trong âu yếm có chiều lả lơi. Tôi mân mê lần xuống thấp, ướm thử. Co giãn, nới được, không thắt gút như mọi bận. Tim tôi đập mạnh. Tôi luồn tay. Nàng chận giữ tay tôi lại, đè cứng. Tôi vói tay kia gỡ tay nàng ra rồi bàn tay nọ tiến lên, sát trên làn da mịn màng. Đầu tôi bừng bừng. Bàn tay tôi nâng lên, dỡ ra, mắt liếc nhìn như tia chớp… cỏ non lơ thơ nằm êm xuôi trên gò trinh nữ, xuôi xuôi một chiều, dễ thương vô cùng, mơn mởn tuyệt diệu, dễ thương như tóc măn đầu đời trên mỏ ác của đứa trẻ sơ sinh vừa được mẹ hiền vuốt cho tóc nằm xuôi xuống… Tim tôi đứng sững chết cứng theo tia nhìn mướt trên gò trinh nữ… nàng vùng vẫy, tôi cố sức rấn bàn tay xuống. Hoa thốt kêu “Đừng anh! Đau.”
Tôi đã trở nên người điếc.. ...Nàng kéo ra, vùng vẫy thảng thốt. Đừng anh! Dằn co. Đừng anh… Đừng anh! Tội nghiệp em! Tôi chưa kịp nghe… Anh Tội nghiệp em! Đầu nàng lúc lắc, tóc lất phất phủ vào mặt tôi… Tội nghiệp em! Có tiếng nghẹn nấc. Tiếng Hoa nấc khóc…
Tôi thở dài. Tôi nâng mặt Hoa lên, nước mắt nàng còn nhỏ giọt. Tôi hỏi em có giận anh không? Nàng lắc đầu…. “

Người con gái còn vị thành niên tuổi 15 bị chính người yêu của mình hiếp dâm, chống cự mãnh liệt, chỉ biết rấm rứt khóc lúc tàn cuộc và cuối cùng được tác giả cho phép nhân vật nam được tha thứ bằng hành động lắc đầu của người tình. Thế là tội hình gia trọng được trắng án. Trong xã hội có biết bao nhiêu người thiếu nữ Việt Nam bị hiếp dâm bằng chính người yêu của mình trong bóng tối mà không biết kêu than hay có thể kháng cự lại. Xong việc nói ra thì xấu hổ, ngậm đắng nuốt cay mà im lặng rồi gánh chịu hậu quả của hành động bạo hành bằng một cái bầu phải mang cùng bao nhiêu thống khổ của tai tiếng xã hội.
Chỉ những người phụ nữ có cùng một cảm xúc, một cõi tư duy mới thông cảm, mới nói lên được nỗi chua xót, thống khổ, xót xa đau đớn của nạn nhân bị bạo hành. Sự đồng cảm giúp nhà văn nữ viết về đề tài nhạy cảm này thật và sống hơn. Như nữ sĩ Eve Ensler đã ghi lại kinh nghiệm đau thương của một phụ nữ Bosnian, người đã bị hiếp dâm trong số 70.000 phụ nữ bị hiếp dâm trong cuộc chiến Bosnia. Như Thấm Vân kể lại cho chúng ta nghe, một cảnh hiếp dâm:

“...Cả cái may-ô trắng, hắn nhét tọng vào mồm má.... Má cố giẫy giụa dưới cánh tay hắn. Bóng tối đặc lềnh dù trời sáng trưng.
Cánh tay hắn nặng hơn toàn thân má. Nó là khối Uy Quyền. Hắn nhấc bổng người má, tấn mạnh vào tường, nghe một tiếng to đùng. Má ngất nửa thân dưới. Hắn khóa tréo hai tay má ra đằng sau. Tấm thân hắn là lò lửa. Con trâu điên biết chính xác hành động Muốn gì. Cái may-ô hắn tọng trong mồm làm má nghẹt thở. Má thấy mình đang bị ai thẩy xuống vực thẳm từ đỉnh trời. Hàng trăm triệu vòng tròn xoay tít trong tròng mắt. Sức Mạnh quả là khủng khiếp, thịt dần thịt. Hắn như cọp say máu, xé toạc má bởi cơn điên loạn, tọng cái vật gì cứng như khúc củi khô vào háng má, sâu thấu tận đỉnh óc. Đớn đau má hét, Không Được. Nước mắt chảy.. Cơn đau bùng lên theo từng cái thốc người của hắn, mạnh bạo và liên tục. Mớ tóc dài của má hắn xoắn ghì trọn mấy vòng tay. Hắn nhai nát hai đầu vú má. Hơi thở hắn như sấm rầm. Má cố cắn cào cấu, nhưng Không Được. Hai chân má dẫy đành đạch, cũng Không Được. Má không thể bám chặt một Vật Thể hay một Ý Niệm nào cả. Ôi! cái Quyền Năng của kẻ có Sức Mạnh. Má Vỡ Tan Tành.
Giờ đây, mỗi khi đi tiểu hay đi cầu, là Võ Thị Gái nghĩ ngay đến khúc củi dài, khô, cứng, đầu nhọn hoắc thọc sâu vào lỗ-đít-lỗ-đi-tiểu-Ôi-đớn-đau-đến-dường-nào...”
(Lê Thị Thấm Vân, Bóng gẫy của thần tích)


Không ai viết về tình dục phụ nữ thật và đúng hơn người phụ nữ hoặc ngược lại. Giả dụ khi bạn là nam giới muốn viết về một cặp trai gái yêu nhau, qua cái giai đoạn tán tỉnh, thân mật, nắm chân, nắm tay thì cũng phải tới giai đoạn làm tình, né đâu được vì nó hiện thực mà. Bạn muốn diễn đạt cái cảm xúc sinh lý của nhân vật nữ, bạn tả làm sao? Không lẽ lấy kinh nghiệm bản thân mình ra mà tả. Chắc chắn trăm phần trăm là bạn tả sai. Vì bạn có phải là người nữ đâu? Xúc cảm và các tiến trình sinh lý của người nam và người nữ khác nhau hoàn toàn. Bạn sẽ bảo, dẹp đi, tả cái cảnh dâm dật ấy làm gì. Hoặc bạn sẽ lờ phắt người nữ, chỉ tả hành động của người nam, hay né tránh nhẹ nhàng bằng vài lời đối thoại sơ sơ và khép tấm màn nhung, cho họ hiểu ngầm và tưởng tượng?
Nhu cầu thưởng thức của người đọc bây giờ đâu đơn giản như vậy. Tôi không muốn nói là bạn cần phải viết theo thị hiếu của người đọc nhưng trình độ thưởng thức của người đọc ngày càng phức tạp, thông minh và đa dạng. Người đọc ngày xưa có thể thụ động, ngồi yên xem bạn viết gì thì viết và cứ đọc, nhưng ngày nay họ cần đọc những gì thật hơn là những tưởng tượng hời hợt hay dối trá. Nếu bảo tiểu thuyết là tưởng tượng nhưng đâu phải tất cả những gì trong tiểu thuyết của bạn đều là hư cấu, hư cấu thường dựa trên sự thật mà tưởng tượng thêm.
Đó là một trong những lý do tại sao người phụ nữ cần tham gia vào văn học trên khía cạnh tình dục bằng chính ngòi bút của mình.
Như tôi đã nói ở trên, tình dục chỉ là một khía cạnh của đời sống. Viết về tình dục là viết về một khía cạnh nhân bản của đời sống con người và là lựa chọn riêng của người viết. Người viết nữ Việt Nam chọn viết về tình dục là chọn con đường chông gai nhiều tai tiếng và sóng gió so với những con đường thênh thang khác. Tôi nhận thấy cái giá họ phải trả cho công việc mà họ yêu mến này thật quá đắt. Vì vậy nên độc giả và những tác giả trước khi tham gia tranh luận nên tìm đọc tác phẩm các nhà văn nữ thay vì chỉ đọc vài trích dẫn qua mấy bài viết của Nguyễn Văn Lục, Thế Uyên… rồi mạnh mẽ đánh giá. Vì những trích dẫn và ngay cả bài viết của một tác giả không ít thì nhiều làm gì không có thành kiến hay thiên vị riêng. Chỉ có tác phẩm mới là tiếng nói thật, nói lên được những gì người viết muốn nói.

Trịnh Thanh Thủy

Ref. link:
http://www.talawas. org/talaDB/ showFile. php?res=4321&rb=0508

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Hãy đề phòng HIV ở Gas Station.
Bạn hãy nhìn kỹ tay cầm đổ xăng trước khi bơm xăng.
Please đọc và chuyển đi cho mọi người lái xe.
Tôi là Captain Abraham Sands của JacksonVille police, Florida.
Được sự cho phép của Tiểu Bang Florida và Địa phương viết email này để báo động cho người lái xe về một sự kiện nguy hiểm đã xảy ra tại một số tiểu bang. Một người hay có thể nhiều người đã gắn ống kim chích thuốc ở dưới tay cầm bơm xăng! những kim này bị nhiểm virus HIV. Chỉ trong tỉnh Jacksonville đã có 17 lần xảy ra trong 5 tháng cho người đổ xăng bị đâm vào tay và tối thiểu 12 tiểu bang khác cũng xảy ra tương tợ, có thể họ bắt
chước khi nghe được tin tức trên truyên thông báo chí. Cho tới nay chưa ai bị bắt hay bắt gặp kẻ gian là tối ưu tiên. Trong 17 người bị kim chích hiện có 8 người nhiểm HIV, những người còn lại có thể vài năm tới mới lộ ra.
Rõ ràng tai nạn xảy ra cho người đổ xăng và bị chích khi cầm bơm xăng có gắn kim độc.
Hãy nhìn kỹ bơm xăng từ trên xuống dưới trước khi bơm.(Ghi thêm : nhớ rửa tay sạch khi đi chợ,bơm xăng hay ăn tiệm.....). Nếu bạn thấy kim ở bơm xăng, lập tức báo cho Cảnh sát địa phương để họ tìm kiếm bằng cớ.
Làm ơn để ý theo dỏi kẻ gian và forward email này đến các người thân của bạn.

Rose Lambert (ký tên)

Important to know HIV at pump gas station. Warning: Look at the gas pump handle BEFORE you pump your gas. Please
read and forward to anyone you know who drives a car.

My name is Captain Abraham Sands of the Jacksonville , Florida , Police
Department. I have been asked by state and local authorities to write this email in order to get the word out to car drivers of a very dangerous prank that is occurring in numerous states. Some person or persons have been affixing hypodermic needles to the underside of gas pump handles! These needles appear to be infected with HIV positive blood.
In the Jacksonville area alone, there have been 17 cases of people being stuck by these needles over the past five (5) months. We have verified
reports of at least 12 others in various states around the country. It is
believed that these may be copycat incidents due to someone reading about
the crimes or seeing them reported on television..

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

ĂN GẠO NHẬP CẢNG TỪ Á CHÂU CŨNG HỒI HỘP LẮM

Ăn gạo nhập từ Á Châu cũng hồi hộp lắm vì không biết bên đó để bảo quản gạo người ta có phun xịt cái gì vô không? Dư lượng của các loại hoá chất, nông dược pesticides có nhiều không, có nằm trong mức quy định không?

Vài năm trước đây có tin gạo Jasmine Thái Lan bán tại hải ngoại bị nhiễm cadmium ở một mức độ cao, gạo Việt Nam xuất cảng sang Nhật Bản bị nhiễm nông dược Acetamiprid, gạo Trung Quốc nhiễm methamidophos.

Gạo cũng có thể bị nhiễm độc tố aflatoxin của nấm Aspergillus, v.v...Tất cả đều có hại cho sức khỏe và có thể gây ung thư.

Tuy hiểm nguy trước mắt đã quá rỏ ràng như vậy nhưng hầu như đa số người mình tại hải ngoại vẫn có thói quen thích ăn gạo nhập cảng từ Á Châu vì cho rằng cơm dẻo và ngon hơn gạo Mỹ.

Cho dù có mua gạo Mỹ đi nữa nhưng bạn có biết chắc vậy không? Hay đây cũng chỉ là gạo nhập từ Á Châu và được vô bao tại Hoa Kỳ.

CƠM VÀ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG TYPE II

Cơm gạo là chất bột đường (glucide, carbohydrate) sau khi ăn được chuyển ra thành glucose để vào trong máu. Tùy theo loại gạo mà đường huyết glycemia tăng nhanh hay chậm. Mỗi một loại gạo có một chỉ số đường huyết glycemic index GI khác nhau.

Gạo tinh chế và các loại gạo nào có hàm lượng amylose thấp thì có GI cao.

GI càng cao thì đường huyết càng tăng nhanh. GI từ 72 trở lên được xem là cao.

Gạo trắng hạt dài (72), gạo tấm broken rice (86), Instant rice (90), nếp (98)

- Vậy nếu chúng ta đang có vấn đề bị chao đảo đường huyết thì nên chọn những loại thực phẩm nào có chỉ số đường huyết GI thấp mà dùng để đường huyết tăng chậm.

Ví dụ: Gạo Basmati (50), Brown rice (56).

- Tránh ăn quá nhiều chất bột đường có GI cao trên 72 chẳng hạn như cơm trắng hạt dài, gạo chín nhanh, cơm tấm, xôi nếp, khoai tây đút lò, bánh mì baguette, carotte nấu chín

* Nếu đang trong giai đoạn tiền tiểu đường(prediabetes) hay đang bị tiểu đường type II thì nên bớt ăn cơm là tốt nhất.

Thay thế gạo trắng hạt dài có GI cao, bằng những loại gạo có GI thấp như gạo Ấn độ Moolgiri, Basmati, Maharani, hoặc gạo Doongara (Clever rice) của Úc Châu chẳng hạn..

Đã có nhiều khảo cứu cho biết là gạo trắng hạt dài (long grain), loại mà chúng ta thường ăn hằng ngày là một trong nhiều nguyên nhân làm tăng đường huyết rất nhanh...

KẾT LUẬN

Đối với người Việt Nam, lúa gạo là nguồn lương thực vô cùng quý báu. Cơm gạo đã nuôi sống dân tộc mình từ cả ngàn năm nay rồi. Lúc còn thơ ấu, Ông bà thường hay dạy chúng ta phải biết trân quí hạt gạo hạt cơm. Có được hạt gạo cũng phải trần ai lai khổ lắm, người nông dân phải thức khuya dậy sớm, vất vã dầm mưa dãi nắng, lam lũ khổ cực trong công việc đồng áng.

“Nhất sĩ, nhì nông, hết gạo chạy rong, nhất nông nhì sĩ” là câu mình thường nghe nói về tầm quan trọng của nông nghiệp trong đời sống và xã hội Việt Nam ngày xưa. Ngày nay thì khác hẳng rồi.

Lúa gạo đôi khi cũng được sử dụng như một loại vũ khí chiến lược và chánh trị trong nhiều giai đoạn lịch sử vừa qua. Kiểm soát lúa gạo là nắm cái bao tử của đối phương và của người dân. “Khi đói, bộ óc tuột xuống cái bao tử nên người ta chỉ nghĩ tới cái ăn” (Lâm Chương).

Hầu như mỗi ngày ai ai cũng đều ăn cơm hết, nhưng ít khi nào chúng ta than thở ngán cơm.

Nếu có dịp đổi món đi ăn phở cũng tốt thôi, nhưng nếu bắt mình phải ăn phở thường xuyên mỗi ngày thì chắc chịu không thấu. Cuối cùng rồi cũng phải trở về với cơm mà thôi.

Phở chỉ là món ăn chơi còn cơm mới là món ăn thiệt suốt đời.

Cái lạ là phở và cơm cũng đều từ gạo mà ra cả, nhưng cơm là cơm còn phở là phở.

Cơm mới, cơm cũ, cơm nóng, cơm nguội, cơm khô, cơm nhão, cơm khét cũng đều là cơm cả. Thôi hãy ráng ăn đi...

Còn ăn cơm được là còn sức khỏe đó, bạn nên mừng đi. Đến lúc biếng cơm, chỉ còn biết húp cháo không thôi thì đây là dấu hiệu báo trước ngày về có lẽ chẳng còn bao lâu đâu.

Trong thời buổi suy thoái kinh tế và gạo châu củi quế ngày nay thì chuyện chạy gạo cho đủ ăn cũng là vấn đề nan giải của rất nhiều gia đình bên nhà. Kẻ thì ăn không hết, người thì không có mà ăn...

Nhưng dù sống ở đâu cũng vậy, điều quan trọng nhứt là nếu còn nhớ đến cơm thì mình vẫn còn là con người Việt Nam.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Một vài hình ảnh về Vua Hàm Nghi
và đám cưới và một câu chuyện kỳ lạ của ngài
Nhân đây, mời các bạn đến thăm viếng mộ Vua Hàm Nghi + gia đình và thắp lại mot nén huong lòng !
Từ đầu năm 2008, Nhà nước, chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế và cộng đồng Nguyễn Phước tộc (trong và ngoài nước) đã có những động thái tích cực để đưa di hài vua Hàm Nghi về Huế. Vị vua yêu nước, mang tinh thần dân tộc quật cường đang sắp sửa về lại cố hương sau 120 năm biệt xứ chốn lưu đày.

Cuộc nổi dậy kháng Pháp bất thành, kinh đô Huế bị thất thủ ngày 23-5 năm Ất Dậu (1885). Vua Hàm Nghi theo phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết chạy ra Tân Sở và ban chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu và toàn thể dân chúng nổi dậy chống Pháp.

Sau ba năm kháng chiến ở rừng sâu, đêm 2-11-1888, giữa lúc trời mưa lạnh, vua Hàm Nghi bị tên Trương Quang Ngọc phản bội bắt đem nộp cho Pháp. Không thể mua chuộc được ông vua trẻ lúc ấy chỉ mới 18 tuổi, thực dân Pháp đã đưa vua xuống tàu La Comète vào Sài Gòn, rồi đưa qua tàu Biên Hòa, lưu đày biệt xứ sang Algeria. Trước đó, thực dân Pháp đã yêu cầu viên toàn quyền Algeria đối xử tử tế với toan tính có thể đưa Hàm Nghi trở lại ngai vàng một lần nữa...

Ngày 13-1-1889, tàu Biên Hòa cập bến thủ đô Alger của Algeria. Tại đây, nhà vua được chính quyền tiếp đón đàng hoàng và được nhiều học sinh người Việt tìm đến viếng chào. Nhà vua được cấp Villa des Pins (biệt thự Hiên Tùng) sang trọng, nằm gần Alger. Ông cũng được viên toàn quyền Pháp tại Algeria là Tirman tiếp kiến và mời cơm thân mật tại gia đình.

Không chịu khuất phục

Mười ngày đầu, cựu hoàng tạm trú tại L'hotel de la Régence (Toà nhiếp chính). Sau đó, ông được chuyển về ở Villa des Pins (Biết thự Rừng thông) cách Alger 5 cây số.

Vua Hàm Nghi ở tại Algeria nhưng thái độ bất hợp tác của vua tỏ rõ ngay từ đầu. Thời gian khởi nghĩa nhà vua thường nói rằng mình thà chết trong rừng hơn là trở về làm vua mà bị người Pháp kiềm tỏa. Ngay trước thời điểm lên tàu đi xa, có cơ hội về thăm gia đình, thăm người mẹ đang đau nặng, nhưng nhà vua cự tuyệt: “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ chi đến cha mẹ, anh chị em nữa!”.

Ngày 24-1, Toàn quyền Tirman tiếp kiến và mời cựu hoàng ăn cơm gia đình. Ít ngày sau, qua Toàn quyền Tirman, cựu hoàng nhận được tin thân mẫu là Bà Phan Thị Nhàn (vợ thứ của Ngài Hồng Cai, Hoàng Tử thứ 26 của vua Thiệu Trị) - đã từ trần vào ngày 21-1-1889 tại Huế. Thân phụ mất (1876) lúc cựu hoàng mới 5, 6 tuổi. Đến nay lại được tin thân mẫu qua đời, cựu hoàng đau khổ vô cùng.

Gần mười tháng tiếp đó, cựu hoàng không chịu học tiếng Pháp. Ông cho rằng tiếng Pháp là thứ tiếng của dân tộc đã cướp nước Việt Nam, không học làm gì. Mọi việc giao thiệp đều qua thông ngôn Trần Bình Thanh. Nhưng dần dần ông thấy người Pháp ở Algérie không phải là loại người Pháp thực dân ở xứ An Nam, không những họ không thù hận ông mà trái lại họ còn quý mến và giúp đỡ ông. Đến tháng 11-1889, cựu hoàng chịu học tiếng Pháp với giáo sư Néopol.

Sau mấy năm học tập, cựu hoàng nói và viết tiếng Pháp giống như một người Pháp. Tuy nhiên, ông luôn nói tiếng Việt và ăn cơm Việt Nam do những người bên Việt Nam cử qua phục vụ. Cựu hoàng giao du quen thuộc với nhiều trí thức nổi tiếng Pháp. Năm 1899, cựu hoàng được qua thăm Pháp. Trong những ngày tham quan thủ đô Paris, cựu hoàng được xem triển lãm tranh của Gauguin (1848-1903), về sau vẽ tranh, cựu hoàng đã chịu ảnh hưởng của phong cách Gauguin.

Người dân Alger thì quen gọi vua Hàm Nghi với cái tên thân thiện là “ông hoàng An Nam” (Prince d'Annam), bởi nhà vua luôn nói tiếng Việt, đầu búi tó, đội khăn vành, vận áo dài đen, quần trắng, ăn các món ăn của người Việt do người Việt nấu... Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân: “Về sau khi tiếp xúc với nhiều người, gặp nhiều người Pháp tốt, nhà vua nhận ra không phải người Pháp nào cũng là kẻ thù và ông mới chịu theo học tiếng Pháp đến mức thông thạo”. Nhà vua cũng thường vẽ tranh, chụp ảnh như là những thú vui tao nhã trong đời sống của mình.

Khi đã tiếp cận, học hỏi nhiều điều từ văn hóa, văn minh Pháp, có người ca ngợi lịch sử nước Pháp trước mặt ông, nhà vua không bàn cãi mà chỉ đáp lời: “Lịch sử nước Pháp rất hấp dẫn tôi nhưng lịch sử nước tôi cũng hấp dẫn tôi không kém!”...

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân kết luận: “Vua Hàm Nghi giao du quen thuộc với nhiều trí thức nói tiếng Pháp; nhiều quan chức cao cấp của Pháp rất trọng nể tinh thần yêu nước và phong cách sống phương Đông của ông”. Ông Tôn Thất Hanh, nguyên chủ tịch hội đồng Nguyễn Phước tộc, nói: “Vua Hàm Nghi là biểu tượng của sự chống đối đối với thực dân Pháp từ trẻ đến già, với cái tâm thật trong sáng!”.

Tác giả Bửu Diên - Hoàng Oanh, trong đặc san tưởng niệm Ba vị hoàng đế cách mạng Hàm Nghi - Thành Thái - Duy Tân do hội đồng hoàng tộc Nguyễn Phước hải ngoại ấn hành năm 2004, nhận xét: “Cuộc đời sóng gió, lòng yêu nước và đức độ của vua Hàm Nghi đã cảm hóa được nhiều người bạn ngoại quốc”, thông qua nhắc lại tường thuật của cô Blanche - con gái vị đại tá tư lệnh Alger thời bấy giờ đã viết về vua Hàm Nghi: “Nếu Người bằng lòng trở lại ngôi báu thì người Pháp chúng tôi rất vui mừng vì Người đã được dân chúng và sĩ phu sùng bái.. Lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương, yêu đồng bào của Người lớn hơn cả chiếc ngai vàng. Tôi yêu mến tổ quốc của tôi nên tôi rất quí trọng những người yêu tổ quốc của họ!”.

Một gia đình Việt giữa xứ người

Theo nghiên cứu của ông Nguyễn Đắc Xuân, vào đầu thế kỷ 20, thông qua một người Pháp, vua Hàm Nghi viết thư về Huế yêu cầu gửi hai người cháu là Bửu Thùy và Bửu Phong, con của công tử Ưng Uyển, anh cùng cha khác mẹ với mình, sang Alger ở cùng.

Vợ ông Ưng Uyển, là con gái của đại thần Nguyễn Hữu Độ, không đồng ý. Đến năm 1904, khi đã 33 tuổi, vua cưới vợ là cô Marcelle Laloe, con gái ngài luật sư chánh án tòa thượng thẩm Alger. Ngài Laloe góa vợ, có một con gái duy nhất, là người rất được trọng vọng đối với dân bản xứ, có lẽ thông cảm với hoàn cảnh của vị vua nước Nam đang lưu vong nên đã gả con gái cho.
Image
Ngày cưới, vua Hàm Nghi vẫn phục sức kiểu Việt với áo dài, khăn đóng, búi tóc cổ truyền, đi trên chiếc xe song mã rước vị hôn thê đến nhà thờ làm lễ.
Những bức ảnh tư liệu cho thấy hàng nghìn người đã theo dõi lễ cưới của vị vua An Nam, và đây trở thành một sự kiện văn hóa của người dân trong vùng..
Image Vợ theo Thiên Chúa giáo, vua Hàm Nghi tuy không theo đạo nhưng rất tôn trọng vợ, thỉnh thoảng có đến nhà thờ, và hai người sống với nhau rất hạnh phúc cho đến cuối đời.
Image
Nhà vua có ba người con, con đầu lòng là hoàng nữ Như Mai sinh năm 1905, năm 1908 có thêm cô con gái kế là Như Lý và đến năm 1910 sinh con trai út Minh Đức.

Ý thức về sự đày ải suốt cuộc đời, biệt thự Hiên Tùng được vua đổi tên thành biệt thự Gia Long, trong đó xây một cổ lâu theo kiểu kiến trúc Việt truyền thống, biến thành nơi để thờ phụng, tế tự dòng tộc nhà Nguyễn. Ông thường bảo: “Các con chưa thể được làm người dân Việt Nam tốt thì hãy là những người Pháp tốt”.

Cách sống và cách dạy con dựa trên tinh thần Việt của nhà vua đã tác động tích cực nên các con ông đều trở thành người rất có tư cách. Con gái đầu Như Mai năm 1925 đã đỗ đầu kỹ sư nông học tại Trường canh nông Quốc gia Grignon, là người phụ nữ đầu tiên đỗ đầu trường này.

Bà không lập gia đình mà đem tri thức giúp dân nghèo cải tạo nông nghiệp tỉnh Dordogne, biến vùng đất nghèo trở nên giàu có.. “Bà chúa nước Nam” theo cách gọi của dân địa phương đã dựng được một lâu đài lớn tại làng Thonac, về sau biến một phần đất trở thành nghĩa trang gia đình, nơi đặt di hài vua Hàm Nghi hiện nay.

Người con gái kế Như Lý đang học đại học ngành dược đã bỏ học đi lấy chồng là một nhà quí tộc thành công trong nghề nông, sinh được ba người con, hiện đang sinh sống tại Pháp. Phần hoàng thân Minh Đức, cũng như bao nhiêu thanh niên Pháp, phải đi lính trong Thế chiến thứ 2. Theo tác giả Nguyễn Xuân Thọ, sau thế chiến hoàng thân ở trong quân đội Pháp với cấp thiếu tá.

Sau khi Đức thua trận, ông được lệnh đưa đi Việt Nam trong hàng ngũ quân Pháp, nhưng ông thẳng thừng từ chối. Ông Jean De Latour Dejean - một đại sứ làm việc cho Bộ Ngoại giao Pháp, từng là sĩ quan, bạn thân và là đồng đội với ông Minh Đức lúc ấy - kể câu chuyện hoàng thân tuyên bố với Chính phủ Pháp rằng ông không thể cầm súng bắn lại đồng bào ông. Nếu Chính phủ Pháp muốn đưa ông ra tòa án binh thì cứ đưa. Ông không chịu đi qua Việt Nam để đánh giặc cho Pháp, chống lại Việt Nam.

Đã gần ngày về với quê nhà

Nhiều sử liệu cho rằng vua Hàm Nghi mất vào ngày 4-1-1943; tuy nhiên ông Nguyễn Đắc Xuân dẫn theo lời bà Như Lý cho rằng vua mất vào ngày 14-1-1944, tại biệt thự Gia Long và an táng ngay tại đây. Đến năm 1962, khi Algeria độc lập thì biệt thự Gia Long được trả về cho Algeria và ba năm sau di hài nhà vua được chuyển về cải táng ở khu lăng mộ tại làng Thonac, trong khu vực lâu đài của trưởng nữ Như Mai ở tỉnh Dordogne.
Image Ông Xuân cho biết khu lăng mộ hiện có năm hài cốt gồm: vua Hàm Nghi, bà Marcelle Laloe - vợ vua (mất năm 1974), bà quản gia (mất 1941), ông Minh Đức (mất 1990) và bà Như Mai (mất 2000). Theo ông Xuân, nếu đưa về Huế nên thiết kế một khu lăng mộ riêng cho phong trào Cần Vương và cải táng vua Hàm Nghi và gia đình, cùng việc bố trí các chí sĩ trong phong trào Cần Vương như: Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm... để vừa trở thành điểm tưởng niệm, tham quan học hỏi...

Đến nay tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bước đầu thống nhất phương án chọn địa điểm đặt nơi yên nghỉ vĩnh hằng cho vua Hàm Nghi tại vùng đồi Thủy Xuân - TP Huế. Đó là một khu đất nằm kề các khu lăng những người thân của vua gồm lăng người cha Kiên Thái vương và hai vua anh là Đồng Khánh và Kiến Phúc (nằm trong khu vực lăng Tự Đức)...

(trích đăng từ Báo Người Lao Động số Xuân 2004 của Tác giả Nguyễn Đắc Xuân)
Vua Hàm Nghi và câu chuyện cổ tích kỳ lạ

Vũ Thanh (dịch từ bài của GS.TS. N.L.Nikulin gửi trước khi mất)
Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước Việt Nam, mà còn đi vào văn học, tiểu thuyết nước ngoài như một câu chuyện cổ tích thần kỳ.

Hàm Nghi - Vị vua tài năng có một số phận không bình thường

Khi có dịp đến thăm Huế, tôi đã lang thang rất lâu khắp Kinh đô, khắp các cung điện, đền miếu, lăng tẩm kỳ bí.
Ở đây tôi được thưởng ngoạn một nền kiến trúc phức tạp, tinh tế, đẹp mê hồn, ngắm nhìn phong cảnh Huế tuyệt vời từ cửa Ngọ Môn, hít thở thật sâu bầu không khí kỳ lạ của cố đô được hòa quyện bởi hơi mát của biển và dòng sông Hương huyền diệu..
Lòng đầy xúc động, tôi đứng trước ngai vàng triều Nguyễn, ngẫm xem những ai đã từng ngồi trên chiếc ngai vàng này, và đặc biệt tôi nghĩ về một người trong số họ, một con người rất đỗi tài năng và có một số phận không bình thường.

Tên tuổi ông không chỉ gắn liền với những sự kiện lớn lao trong lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam chống lại ách thống trị của thực dân Pháp, mà còn là sự khởi đầu cho nền hội họa hiện đại Việt Nam.
Tên tuổi ông cũng gắn liền với một trong những cuộc tiếp xúc trực tiếp sớm nhất trong lịch sử quan hệ văn hóa Việt - Nga và đó cũng là một trang tuyệt vời trong lịch sử văn hóa nhân loại nói chung.

Nguyên mẫu của một tác phẩm

Có thể nói, từ nửa cuối thế kỷ XVIII, các nhà văn Nga đã bắt đầu quan tâm ngày càng nhiều đến các quốc gia phương Đông và nền văn hóa của họ. Chính vì vậy mà suốt thế kỷ XIX, nền văn hóa Nga, ở mức độ nào đó, đã trở nên giàu có màu sắc thẩm mỹ hơn nhờ nắm bắt được một cách nghệ thuật thực tại của các nước phương Đông, cùng với nền văn hóa và nghệ thuật của họ, trong đó có Việt Nam, mặc dù sự tiếp xúc với Việt Nam là rất ít. Nhưng các nhà văn Nga vẫn luôn quan tâm đến nỗi đau tinh thần của nhân dân Việt Nam với một tình cảm chân thành.
Tôi đã được xem một tác phẩm của nền văn học Nga, in năm 1903, viết về vấn đề này. Nguyên mẫu của tác phẩm là một nhân vật lịch sử. Người ta còn lưu giữ được chân dung thật của ông. Tấm ảnh cũ chụp một người trong trang phục truyền thống của các nho sĩ Việt Nam, đầu đội khăn xếp, nét mặt suy tư toát lên vẻ đẹp tinh thần. Đó là một khuôn mặt thông minh, tài ba, có tâm hồn và đầy trách nhiệm.
Image
Vua Hàm Nghi thời trẻ
Trong giai đoạn lịch sử hết sức cam go, khi đất nước Việt Nam của ông đang nằm dưới ách thống trị của bọn thực dân, năm 1884 ông lên ngôi vua khi mới 13 tuổi, trước ông, chỉ trong một thời gian ngắn, đã có hai ông vua trẻ bị truất quyền. Có tư tưởng phản kháng chính quyền thực dân, nhà vua lập tức trở thành người đứng đầu phong trào khởi nghĩa Cần Vương yêu nước.
Bọn thực dân tìm cách sát hại ông. Khi ông trốn vào vùng rừng núi chúng đã truy lùng ông ráo riết. Cho tới năm 1888 nhà vua bị bắt do có kẻ phản bội.

Chúng đưa ông đi đày ở tận Bắc Phi - Angiêri. Và tại đây, theo nhà Việt Nam học người Nga V.V. Remartruc, mùa xuân năm 1902, trên đường về Nga, nữ văn sĩ Tachiana Lvôpna Sepkina-Kupernhic đã gặp vị vua Việt Nam đang bị lưu đày - Hàm Nghi. Các tài liệu lịch sử hiện còn lưu trữ cũng đã xác định điều này.
Nữ văn sĩ 28 tuổi này, đến thời điểm đó rất được công chúng của đất nước mình ái mộ với tư cách là một cây bút hấp dẫn, có học vấn. Bà có một tình yêu tha thiết với sân khấu và văn học. Bà tán đồng những tư tưởng tự do, dân chủ của thời đại mình. Tachiana Lvôpna có tư chất nghệ sĩ, đầy sức sống, rất tài năng, nổi bật bởi sự cần mẫn phi thường, thông thạo nhiều ngôn ngữ châu Âu..
Thiếu bà khó có thể hình dung được lịch sử sân khấu Nga nửa đầu thế kỷ XX. Sân khấu là vận mệnh của bà. Cụ cố của bà là nghệ sĩ Nga vĩ đại M.C. Sepkin. Từ thời thơ ấu Tachiana Lvôpna đã hít thở bầu không khí của nhà hát. 18 tuổi bà đã là tác giả vở kịch "Bức tranh mùa hè" được dàn dựng ở Maxcơva trên sân khấu của Nhà hát Malưi danh tiếng vào năm 1892. Sau đó tiếp tục là những vở kịch khác của bà. Từ 1894 cho đến cuối đời nữ văn sĩ đã dịch ra tiếng Nga nhiều vở kịch của các nhà viết kịch phương Tây như Sêcxpia, Lôpơ đơ Vega, Môlie, Gônđôni, P.B. Seriđan và nhiều tác giả khác.

Bà có cuốn du ký hai tập mang tên "Những bức thư từ phương xa" (1903-1913) viết về những chuyện kỳ lạ ở nước ngoài. Nguyên mẫu của nhân vật trong một truyện ký ở tập I là vua Hàm Nghi. Truyện có nhan đề Hoàng tử Ly Tdong (mà không phải Hàm Nghi), người mà trong các thư từ trao đổi, Tachiana Lvôpna và những người quen của bà gọi là Hoàng tử An Nam, hoặc theo kiểu Pháp: Prince d’ Annam.

Câu chuyện cổ tích thần kỳ
Image Trong phần đầu tác phẩm của mình, Sepkina-Kupernhic đã phủ lên nhân vật một bức màn cổ tích lãng mạn, đôi chỗ bà phải lược bỏ những chi tiết có thật. Đối với nữ văn sĩ thì chân dung tâm lý của nhân vật là quan trọng hơn; từ đây để bảo vệ họ, tên thật được thay thế bằng những cái tên hư cấu như trong trường hợp Hàm Nghi. Sự thay đổi tên tuổi còn có thể giải thích bằng lý do tránh sự kiểm duyệt.
Có thể thấy rõ rằng - khi đối chiếu các sự kiện trong cuộc đời Hàm Nghi và nhân vật trong truyện ký của Tachiana Lvôpna như: nơi tù đày, biệt thự cách không xa thành phố Angiê, tài năng nghệ sĩ, sự quan tâm đến học thuyết Nho giáo v.v..., và rằng trong tác phẩm của bà còn lưu giữ rất nhiều diện mạo tinh thần và vóc dáng thực sự của Hàm Nghi - truyện ký đã dựa trên cơ sở tài liệu thuần túy và nhân vật hoàn toàn đồng nhất với Hàm Nghi.

Nữ văn sĩ đã vẽ nên bức tranh với những đặc điểm của đất nước Việt Nam. Đó là một bức tranh kỳ lạ về một đất nước thuộc vùng văn hóa Viễn Đông. Bà đã nhiều lần nhấn mạnh đến nét nhỏ nhắn, duyên dáng của những con người từ đất nước “phương Đông xa xôi” - những đặc điểm đập ngay vào mắt người nước ngoài từ cái nhìn đầu tiên khi làm quen với những người Việt Nam có văn hóa. Vị hoàng tử “được dạy dỗ bởi những bậc hiền triết của đất nước mình”, “theo đạo Nho và tôn thờ những giáo lý của nó".
Nhân vật truyền thống của truyện cổ tích thần kỳ thường là các hoàng tử, thế tử, mà không phải là vua, càng không phải là những ông vua bị hạ bệ.

Theo tinh thần của truyện cổ tích, việc xâm lược của bọn thực dân trên đất nước của hoàng tử đã được kể lại: “Vào một buổi sáng bất hạnh xuất hiện những người phương Tây cùng với vũ khí sáng lòa và những viên đạn thảm khốc, chúng đem lại sự hủy hoại.” (Sepkina-Kupernhic, tr.392).
Tiếp theo, tính cổ tích của truyện bị vi phạm bởi việc kể lại một cách chân xác những sự kiện lịch sử có thực: “Chàng bị bọn thực dân bắt và bị đưa đi đày. Theo sự lựa chọn của những ông chủ mới của đất nước chàng - trên ngai vàng của cha ông chàng đang ngự trị những bóng ma câm lặng, - còn chàng thì bị giữ làm con tin vĩnh viễn, suốt cuộc đời.” (Sepkina-Kupernhic, tr.392). Nếu đó đúng là truyện cổ tích thì có lẽ đây sẽ là một câu chuyện cổ tích thật khủng khiếp. Buộc phải dời khỏi quê hương mình, hoàng tử bị đưa đi đày ở Bắc Phi: “Ở đó là Tổ quốc chàng; còn ở đây là bậc thang để đi đến nấm mồ.” (Sepkina-Kupernhic, tr.396).
Image
Cuộc sống trong hoàng cung Huế xưa (Ảnh nguồn: belleindochine. free..fr)


Câu chuyện cổ tích của Tachiana Sepkina-Kupernhic kết thúc bằng những tình tiết chân thực : “Dáng dấp nhỏ bé của hoàng tử (chàng xuất hiện giữa chúng tôi, giữa những bạn bè chung) trong bộ trang phục nửa Âu nửa Á, ngay lập tức đã lôi cuốn sự chú ý của tôi. Chiếc khăn xếp màu trắng trùm trên mái tóc đuôi sam, chiếc áo dài màu đen với ống tay áo rộng buông xuôi được lót bằng lụa tơ tằm màu xanh tươi (màu xanh của quê hương chàng); nước da vàng ngăm đen mang sắc màu của chiếc ngà voi lâu năm; còn rất buồn và rất thông minh là đôi mắt đen hơi xếch lên phía thái dương; tay và chân chàng nhỏ nhắn - Tất cả điều đó khiến tôi nghĩ về một bức tượng quý giá, được chạm trổ bằng bàn tay tài hoa của một nghệ sĩ phương Đông” (Sepkina-Kupernhic, tr. 394).

Tất nhiên, chiếc khăn xếp màu trắng là màu quốc tang. Hàm Nghi không dùng để che mái tóc đuôi sam, mà che búi tóc truyền thống mà các nhà nho Việt Nam thường để. Nhưng toàn bộ chi tiết của quần áo và vẻ ngoài, rõ ràng, được tái hiện lại từ một người có tài quan sát.

Tới thời gian của cuộc gặp gỡ này, vua Hàm Nghi đã thông thạo tiếng Pháp. Khi đến Angiêri, trong lúc bị cưỡng bức đi đày, thời gian đầu ông đã định sống thu mình lại, chính xác hơn là cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Cách sống này không chỉ là thái độ cực đoan của tuổi trẻ mà trước hết là của sự khó chịu với những gì liên quan tới thực dân, tới “bọn Tây”.

Cùng với điều đó, Hàm Nghi còn giữ lại cho mình nhiều thói quen như khi còn sống trong cung đình Huế. Nữ văn sĩ Nga đã dẫn ra tình tiết sau: bên cạnh hoàng tử luôn có hai người trẻ tuổi từ các gia đình trí thức Việt Nam, họ tự nguyện theo ông trong cảnh tù đày.
“Họ đi lại nhẹ nhàng dường như không có tiếng động trên những chiếc đế giày màu trắng. Còn khi hoàng tử quay về phía họ hỏi bằng tiếng mẹ đẻ, họ trả lời rì rầm chỉ đủ để nghe, giống như tiếng của những chiếc chén trà Trung Hoa nhỏ nhắn chạm nhau và ngân vang trên khay nước..” (Sepkina-Kupernhic, tr. 400). Ở đây, nữ văn sĩ đã ghi nhận cung cách tinh tế, lịch thiệp, tôn kính của giới quý tộc Việt Nam với nhà vua, mặc dù họ đang ở tại nơi tù đày của bọn thực dân.
Rõ ràng, lúc đầu vua Hàm Nghi đã chối từ việc học tiếng Pháp, tiếng của “bọn Tây”. Nhưng ông nhanh chóng thay đổi quan điểm của mình. Ông quan tâm đến văn hóa châu Âu, say mê âm nhạc, và điều cơ bản nhất - ông hết sức yêu thích hội họa. Hơn nữa, hội họa trở thành niềm ham thích của ông, nuôi dưỡng cuộc đời ông, thành nghề nghiệp của ông.

Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử của cuộc đấu tranh vì tự do chống lại chủ nghĩa thực dân, mà còn cả trong lịch sử nền nghệ thuật Việt Nam. Không đâu ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ, một cựu hoàng lại có được một vai trò tương tự như vậy trong lịch sử nền văn hoá của dân tộc mình.

Vua Hàm Nghi - một hoạ sĩ

Dáng dấp lạ lẫm, gợi cảm cùng với sự trang nhã của hoàng tử và sự bí ẩn của chàng đã tạo nên mối thiện cảm lớn lao trong lòng nữ văn sĩ Nga. Và bà cùng với bạn bè của mình đã trở thành khách mời tại nhà ông, nơi mà bên cạnh những bản thảo và nhạc cụ (cả Đông và Tây), bên cạnh các bản nhạc (mà giữa chúng có cả các tác phẩm của nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga Mikhain Ivanôvich Glinka), thì thu hút sự chú ý của khách lại là những bức tranh do chính hoàng tử vẽ, chúng chứng tỏ cho khách thấy tài năng nghệ thuật của ông.

Ở đó còn có chiếc giá vẽ cùng với bản thảo dang dở. Trong biệt thự của hoàng tử, nữ văn sĩ Nga còn nhìn thấy “ những vật quý giá và thiêng liêng như: Những tấm lụa quý treo tường, cùng với những câu danh ngôn của Khổng phu tử được dát bằng vàng trên lụa, những nhạc cụ của đất nước chàng, những cuộn bản thảo, mực và bút trên bàn viết, những chiếc chiếu cói trên nền nhà. Ở một chỗ khác trong nhà là cây đàn dương cầm, chiếc viôlông, những bản nhạc, giữa chúng tôi tìm thấy Glinka của chúng ta, và giá vẽ cùng với bản thảo dang dở. Trên những chiếc bàn khắp nơi là phác thảo của hoàng tử, tranh của chàng, chúng cho tôi biết rằng trong thân hình nhỏ bé như chiếc ngà voi kia ẩn giấu tâm hồn của một nghệ sĩ lớn. ” (Sepkina-Kupernhic, tr.398). Qua nhận xét này của nữ văn sĩ - một người có tầm hiểu biết nghệ thuật sâu rộng, đã biểu lộ niềm kính trọng lớn lao đối với Hàm Nghi.

Vua Hàm Nghi vẽ gì trong những bức tranh đầu tiên của mình? Nữ văn sĩ đã thông báo ngắn gọn điều đó: “ Khu vườn của chàng... Những cửa vòm kiểu La Mã ở Tamgađa, cảnh hoàng hôn trên biển..., cảnh điêu tàn của Kôxntantina và cánh rừng cọ El-Kantari, mái vòm trắng của nhà mộ Marabi, những trẻ em da đen - tất cả đều sống động, hiện lên trên nền vải. ” (Sepkina-Kupernhic, tr. 398). Rõ ràng, nhà vua đã vẽ mẫu thực tất cả những gì ông có thể quan sát được trực tiếp.

Hình chụp một cuốn sách về Vua Bảo Đại bằng tiếng Pháp

Nữ văn sĩ đã viết một đoạn cần thiết để lồng vào thiên truyện ký của mình, nói về bi kịch sâu kín của hoàng tử và đất nước thân yêu, cùng với khát vọng về tự do, về nền độc lập trước bọn thực dân của chàng. Trong số những người tới làm khách, có một người dường như muốn tỏ sự quan tâm tới chàng: “ Thật là có lỗi, nếu như không triển lãm những tác phẩm của mình ở Pariss, thưa hoàng tử ? - Một phụ nữ xinh đẹp người Pháp có mặt ở đó hỏi một cách nông nổi. Hoàng tử hơi tái mặt, chàng tỏ ra hào hiệp, lịch sự nhưng vẫn trả lời một cách dứt khoát: - Tôi lại cho rằng, sẽ là có lỗi nếu triển lãm những bức tranh của mình ở Pariss! ”( Sepkina-Kupernhic, tr.399).

Ý thức tự hào và lòng tự trọng về đất nước thân yêu bị xúc phạm được biểu hiện trong câu trả lời tế nhị và giàu ý nghĩa của hoàng tử. “ Và ý nghĩa chân chính của câu trả lời này đã thức tỉnh tôi! ” - nữ văn sĩ kết luận. Hoàng tử đã có thể cởi mở với nữ văn sĩ hơn là với những người Pháp về những quan điểm chính trị của mình với niềm xúc động khi nhớ về Tổ quốc.

Vua Hàm Nghi và ước mơ về nước Nga không thành hiện thực

“ Nhưng rõ ràng rằng, chàng không muốn và không có thói quen nói chuyện với những kẻ xâm lược đất nước mình và cái gì đang rung động trong trái tim chàng, đang muốn tìm kiếm lối thoát, chàng có thể dễ dàng cởi mở với một người sinh ra ở đất nước Nga xa xôi. Chàng tin rằng, sự động chạm của bàn tay tôi sẽ không thể làm đau chàng, và lần đầu tiên thật bất ngờ, chàng đã bắt đầu nói với tôi về chính Tổ quốc mình .” (Sepkina-Kupernhic, tr. 402). Nữ văn sĩ đã thấy cần phải nhấn mạnh: “ Và cuộc nói chuyện của chúng tôi đã bắt đầu: đó là cuộc đối thoại giữa hai người khác nhau, hai nền văn minh, hai chủng tộc .” (Sepkina-Kupernhic, tr. 401).

Ở nhà văn Nga biểu lộ tư tưởng về sự bất thường của cuộc toạ đàm này, về ý nghĩa to lớn của sự hiểu biết lẫn nhau giữa các chủng tộc, các nền văn minh và các dân tộc. Giữa nữ văn sĩ Nga và Hàm Nghi đã hình thành một tình bạn, một sự tin cậy lẫn nhau. Có thể nói rằng, những miền khác biệt của bầu trời văn hoá đã gặp gỡ nhau...

Cuộc đàm đạo đầy xúc động của hoàng tử với nữ văn sĩ Nga về Việt Nam - đất nước đang bị bọn thực dân nô dịch, niềm tin và mối thiện cảm của ông đối với bà (cuối cùng vào năm 1902 ông đã viết cho bà) - là những tình tiết quý báu trong lịch sử quan hệ văn hoá Nga - Việt. Hoàng tử còn cho bà biết rằng, ông đang viết bằng tiếng mẹ đẻ một cuốn sách bàn về học thuyết Nho giáo, “ Chàng không nói với ai về điều đó, nhưng điều đó tạo nên mục đích cuộc đời chàng ”.

Ngai vàng trong điện Thái Hoà, Huế

Chàng kể về Kinh đô của mình, “ về ngôi báu đang bị kẻ không có quyền được ngồi trên đó chiếm đoạt ”, kể từ đó chàng “ đã bị tước mất quyền, thậm chí quyền được ngắm nhìn bầu trời thân yêu của mình ” (Sepkina-Kupernhic, tr. 402). Như vậy là, vào năm 1902, nữ văn sĩ Nga Tachiana Sepkina-Kupernhic đã đàm đạo ở Angiêri với cựu hoàng Hàm Nghi về cố đô Huế của Việt Nam.

Vẫn còn có một chi tiết quan trọng: Hàm Nghi không chỉ biết về nước Nga, nghĩ về nó mà còn mơ ước được đến thăm mảnh đất này:

“ Sau đó chàng nói:

- Tôi mong muốn được nhìn thấy những bông tuyết và những miền thảo nguyên của đất nước bạn...

- Hãy đến chỗ chúng tôi! - Tôi bật ra lời mà không hề suy nghĩ.

Hoàng tử cúi thấp đầu.

Lát sau chàng ngẩng lên nhìn tôi và mắt chàng đẫm lệ.

- Tôi là một con chim bất hạnh bởi sợi dây đang buộc chặt chân mình. Chàng khẽ khàng thốt lên cùng với nụ cười thường lệ, nhưng lúc này nụ cười ấy đã trở nên đau đớn.” (Sepkina-Kupernhic, tr. 403).

Nước Nga - Ước mơ không thành hiện thực của Vua Hàm Nghi

Sepkina-Kupernhic đã cảm thấy và truyền đạt lại được toàn bộ tấn bi kịch sâu lắng trong lòng vua Hàm Nghi, những khát vọng cao cả và mối lo âu tới số phận của đất nước Việt Nam thân yêu của ông, nỗi buồn của nhà vua về cố đô Huế, truyền đạt lại cho chúng ta ngày nay mối quan tâm của Người tới nền triết học Nho giáo, tới âm nhạc (phương Đông và phương Tây), kể về tài năng nghệ thuật khác thường của nhà vua và sự quan tâm của Người tới nước Nga xa xôi…

Hàm Nghi không đạt được nguyện vọng là đến thăm nước Nga, không nhìn thấy những bông tuyết Nga. Nhưng tâm nguyện của ông, vào đầu thế kỷ XX - hầu như đã một trăm năm trước chúng ta - mơ ước được đến nước Nga, vẫn không hề bị quên lãng, bởi nữ văn sĩ Nga T.L. Sepkina-Kupernhic đã kể lại điều đó cho tất cả mọi người.

Bà đã thể hiện sự yêu thích thực lòng tài năng hội hoạ của Hàm Nghi qua những bức tranh đầu tiên của nhà vua- hoạ sĩ. Cần phải lưu ý bạn đọc rằng, giai đoạn này, nền hội hoạ hiện đại của Việt Nam còn chưa hình thành, nó mới chỉ thực sự đang nảy sinh. Về những bức tranh được sáng tác trong thời gian trên, tôi mới chỉ được biết có một bức. Đó là tác phẩm “Bình văn” của hoạ sĩ Lê Văn Miến, ra đời năm 1898 và được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội.
Image
"Bình văn" (1898) - Tranh: Lê Văn Miến
Vua Hàm Nghi là một trong những hoạ sĩ đầu tiên của Việt Nam bắt đầu vẽ theo truyền thống châu Âu - với thể loại tranh sơn dầu, bằng sự tính toán theo phép phối cảnh. Hàm Nghi cần phải được coi là người mở đầu cho nền hội hoạ mới của Việt Nam . Và điều rõ ràng là ông đã trở thành một hoạ sĩ chuyên nghiệp.

Tất nhiên, đối với lịch sử hội hoạ Việt Nam, điều lý thú đặc biệt là những câu chuyện được kể về những bức tranh của vua Hàm Nghi, mặc dù đó chỉ là một vài bức. Quan trọng hơn, việc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo của ông rõ ràng đã làm giàu có thêm nền văn hoá Việt Nam.

Nhưng ở đâu có thể còn đang lưu giữ những bức tranh của vua Hàm Nghi? Điều cần lưu ý thứ nhất là, bởi ông có thời gian sống rất lâu ở Bắc Phi, mất năm 1944 cũng tại đó và được mai táng trong khu vườn biệt thự Gia Long của mình ở ngoại vi trước đây của thành phố El-Biar (ngày nay nằm trong phạm vi của Thủ đô Angiêri - thành phố Angiê), thì việc trước hết là phải tìm kiếm ở chính nơi này.

Tiếp theo, không còn nghi ngờ gì nữa, khả năng rất lớn là những bức tranh của vua Hàm Nghi hiện đang còn ở Pháp. Đó là điều cần lưu ý thứ hai. Điều thứ ba, chúng tôi quan tâm đến một sự kiện đáng lưu ý trong cuộc đời Hàm Nghi từ tài liệu được lưu trữ. Năm 1902 ông đã đến Pariss. Mục đích của chuyến đi là để cưới con gái của Laloer - một quan chức lớn của nước Pháp.

Chúng tôi sẽ dẫn ra đây bức thư được gửi từ Paris của nữ văn sĩ Nga Maria Vxevôlôđôpna Krextôpxkaia cho bạn gái của bà là M. Theixa. Bức thư nói về chính M.V. Krextôpxkaia, người đã có mặt vào đầu năm 1902 tại Angiêri cùng với T.L. Sepkina-Kupernhic; cha bà chính là nhà văn Nga nổi tiếng Vxevôlôđ Vlađimirôvich Krextôpxki, tác giả của cuốn tiểu thuyết được nhiều người biết đến Những vùng hẻo lánh ở Pêterburg , ông đã có mặt ở Sài Gòn vào năm 1880 và đã viết tặng thành phố Việt Nam này một ký sự tuyệt vời.

Bức thư viết cho M. Theixa đề ngày 19 tháng Sáu năm 1902: “ Hoàng tử An Nam đã có mặt được một vài ngày ở Paris, tôi đã gặp chàng và ngay lập tức chàng đã hỏi thăm tin tức của cô bạn gái chưa chồng Tachiana (Sepkina-Kupernhic) . Chàng nói: Tôi gần đây không hề nhận được tin tức của Tachiana, và muốn biết khi nào nàng sẽ tới Paris. Thời gian vừa rồi Tachiana có ở Maxcơva không nhỉ, tôi đã gửi thư đến đó, không hiểu nàng có nhận được không? Chúng tôi tập trung nhóm các bạn trẻ quen biết Hoàng tử An Nam để có mặt trong tiệc cưới của chàng sẽ tổ chức vào ngày 9 tháng Bảy ”.

Có đúng thế chăng, bức thư này mang đầy ý nghĩa? Hàm Nghi đã đi từ Angiêri đến Paris và đã gặp một người phụ nữ Nga, và ngay lập tức hỏi thăm tin tức về người bạn gái yêu quý của mình, nữ văn sĩ Nga Tachiana.

Còn nữa, vua Hàm Nghi đã trở thành trung tâm chú ý của những người phụ nữ Nga. Mọi chuyện thật sự đã xảy ra ở Paris, chứ không phải ở Maxcơva hay ở Peterburg. Ngoài ra, từ bức thư chúng ta còn biết rõ rằng: trong đám cưới của cựu vương Việt Nam vào ngày 9 tháng Bảy năm 1902 có mặt một phụ nữ Nga. Có thể ở đó còn có mặt những người Nga khác nữa.

Cũng cần biết rằng, cuộc hôn nhân của Hàm Nghi với con gái của Laloer đã cho ra đời hai người con gái. Cả hai đều là những người thành đạt và sống ở châu Âu. Chắc rằng con cháu họ vẫn còn gìn giữ những bức tranh của hoạ sĩ Hàm Nghi.

Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử của cuộc đấu tranh vì tự do chống lại chủ nghĩa thực dân, mà còn cả trong lịch sử nền nghệ thuật Việt Nam. Không đâu ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ, một cựu hoàng lại có được một vai trò tương tự như vậy trong lịch sử nền văn hoá của dân tộc minh.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Phía Sau Bước Chân Người Mẫu

Nguyễn Sinh
Từ giấc mộng… thiên đường
Đầu thập niên 1990 thế kỷ trước, nghề người mẫu bỗng rộ lên tại Việt Nam, Tương tự như vậy, so với các nghệ sĩ trong làng trình diễn, con đường để trở thành người mẫu ở Việt Nam xem ra cũng quá dễ dàng. Không cần bằng cấp, không nhất thiết phải lao tâm khổ lực, chỉ cần một vóc dáng tạm coi được và một chút tham vọng là có thể trở thành người mẫu. Con đường để đến với nghề người mẫu ở Việt Nam phần lớn còn thông qua các cuộc thi sắc đẹp. Không phải ngẫu nhiên trong một vài năm gần đây, các cuộc thi người đẹp được tổ chức rầm rộ. Ngoại trừ một số ít cuộc thi người đẹp được tổ chức nghiêm túc với mục đích tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, còn lại rất nhiều cuộc thi chỉ để lại những tai tiếng và sự bất ổn.

Đặt chân tham dự tại bất kỳ một cuộc thi người đẹp nào, dù có đoạt giải hay không, dù đẹp ít, đẹp nhiều, các cô gái ấy đều trở thành mục tiêu săn đón của nhiều đối tượng: các ông chủ doanh nghiệp, những tay săn lùng gương mặt mới cho đến một số đại gia lắm tiền nhiều của… Nếu đoạt giải cao, cô nàng sau đó chắc chắn sẽ được mời tham gia trình diễn ở những chương trình lớn hơn. Mà dù không đoạt giải cũng chẳng sao cả vì còn rất nhiều “công việc khác” đang cần sự có mặt của các người đẹp. Chính vì thế, rất nhiều thiếu nữ dự thi các cuộc thi người đẹp với mục đích để tìm kiếm cơ hội đổi đời.

Cũng trên 10 năm về trước, với nhu cầu phát triển của ngành thời trang Việt Nam, Nhà Văn hoá Thanh niên là đơn vị đầu tiên mạnh dạn thành lập Câu lạc bộ thời trang Hoa học đường, tập hợp sự tham gia của một số học sinh, sinh viên yêu thích thời trang. Dù chưa có nhiều kinh nghiệm, nhưng câu lạc bộ cũng cố gắng mời một số giảng viên để tự đào tạo, huấn luyện tương đối bài bản cho các người mẫu. Từ câu lạc bộ này, một số người mẫu đã tự rèn luyện, tìm cho mình một phong cách riêng, trưởng thành và đi theo con đường chuyên nghiệp, ít nhiều có đóng góp với sự phát triển của ngành thời trang nói chung. Sau khi CLB Thời trang Hoa học đường ra đời, lập tức hàng loạt các trung tâm đào tạo người mẫu, các nhà văn hoá, lớp đào tạo người mẫu cấp tốc… bung ra khắp các quận, huyện đến tỉnh, thành phố. Một số công ty cũng tuyển chọn và đào tạo người mẫu như Elite, Professional, Look, Babi… Do đó việc quản lý, thẩm định chuyên môn, đánh giá nhân cách của người mẫu là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên–như đã nói –do cho đến nay chúng ta vẫn chưa hề có cơ sở đào tạo chính quy, chưa thành lập hiệp hội người mẫu... Khâu quản lý còn khá sơ sài, hình thức ở các chương trình biểu diễn thời trang, thậm chí một tấm giấy chứng nhận về hoạt động chuyên môn của người mẫu cũng chưa thể thực hiện một cách rốt ráo. Thậm chí những danh hiệu “người mẫu này”, “siêu mẫu kia” đều là những danh hiệu… tự phong. Khi các cơ quan quản lý nhà nước buông lỏng thì các cá nhân, tổ chức đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội, lén lút hành nghề. Hiện nay, tại thành phố Saigon chẳng hạn, có rất nhiều cơ sở, nhiều điểm trưng biển tuyển chọn và đào tạo, cung ứng người mẫu cho những nơi có nhu cầu mà xem ra chẳng ai có ý kiến gì.

Phía sau những bước chân người mẫu
Thế nhưng, trong thực tế hiện nay, số người mẫu có sắc và có nghề chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một số mang danh người mẫu sau khi xuất hiện một vài lần trên các tạp chí, nguyệt san thời trang, mỹ phẩm, người đẹp. Các tờ báo này vừa câu khách vừa săn tìm người đẹp qua các cuộc thi qua ảnh… Những người mẫu hạng “bèo” này không có nhiều cơ hội trong các chương trình biểu diễn chuyên nghiệp nhưng lại là mối ruột của các tổ chức, cá nhân làm môi giới người mẫu. Hiện nay, việc trình diễn thời trang còn bị nhiều nơi lạm dụng, vô hình trung biến nó trở thành một loại hình giải trí trong các chương trình ca nhạc, trong các chương trình hội chợ giới thiệu sản phẩm và cả ở các nhà hàng, quán bar. Trung bình một tháng, mỗi người mẫu “đắt sô” thường có từ 15 – 20 sô diễn trong các chương trình giới thiệu sản phẩm, hội chợ, hội nghị khách hàng (events). Theo lời của một doanh nghiệp, những sô diễn thời trang này thực chất là “entertainment” (giải trí) đúng nghĩa. Hầu hết, các doanh nghiệp thích chiêu đãi khách hàng của mình bằng một sô diễn thời trang khoảng 15 – 20 phút với sự có mặt của nhiều em “váy ngắn chân dài” càng đẹp càng tốt. Một vị giám đốc cho biết, không chỉ khách Tây mà cả khách… miền quê lắm tiền đều thích có mặt người đẹp trong các giao dịch. Mức “cát-xê” bình quân mức một sô diễn của các chương trình ở phía Nam dành cho người mẫu chưa có tên tuổi thường ở mức trên dưới 300.000 đồng, người mẫu hạng A, B: 500.000 - 1 triệu đồng và siêu mẫu cao hơn, có thể 3 - 4 triệu đồng… Nhìn chung, thu nhập bình quân người mẫu hạng A, B khoảng 7 - 10 triệu đồng/tháng.

Bởi ngoài những show thời trang, những người mẫu tên tuổi còn thường xuyên được mời làm mẫu để chụp hình. Người mẫu TTH được trả 700 USD cho 2 giờ chụp hình, còn HNH là 1.000 USD… Đa số người mẫu cũng có xu hướng hay chọn hình thức đầu quân cho một công ty tổ chức biểu diễn nào đó để có sô diễn liên tục, dĩ nhiên cát-xê phải “nộp lại” cho công ty 30%-40%. Chỉ khi đã thực sự có tên tuổi, người mẫu mới có thể tách ra hoạt động độc lập…Tuy vậy đang có một thực tế là dù chuyên hay không chuyên thì rõ ràng vẫn có đến 99,9% người mẫu đều có điểm chung: thích ăn diện xa hoa với xe tay ga loại “xịn” (từ A-cồng, SH, Dylan …trở lên hay “xế hộp” càng oách, điện thoại di động đời mới (có người từ 2 – 3 cái), khoác những bộ cánh đắt tiền, sực nức nước hoa hảo hạng, luôn kè kè bên cạnh là “bầu”, vệ sĩ hoặc em út theo “gác-đờ-co” cho ra vẻ VIP, ghé toàn những nơi sang trọng và luôn “vô cảm” trước dư luận, thậm chí có nhiều người mẫu không bao giờ thèm tiếp xúc với báo chí. Như đã nói, trừ một số “tiểu thư khê các”, giàu “từ trong trứng giàu ra” bước vào thế giới người mẫu đối với họ như là một sự tự khẳng định mình, phần còn lại của thế giới người mẫu xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau trong xã hội.

Một số trước kia là những cô gái chân lấm tay bùn, dạng “khách ở quê ra”, ban đầu tìm lên thành phố học thi, học nghề, sử dụng tiền gia đình gửi lên để ăn diện, sắm điện thoại, xe đời mới, lâu dần nghe lời bạn bè rủ rê, “cò” rỉ tai thế là thử thời vận vào nghề người mẫu. Để có tiền “lột xác” thành những “nàng tiên” dưới ánh đèn màu, nhiều chàng trai cô gái phải vay nóng, vay nguội của thế giới ngầm đến khi không còn khả năng chi trả, không ít cô phải tận dụng “vốn tự có” và sa chân vào bẫy nhện lúc nào không hay. Vẫn trong thời buổi “sống cùng quảng cáo” như hiện nay, vai trò người mẫu không thể thiếu, hàng loạt cuộc thi người đẹp trong và ngoài nước ồ ạt nối tiếp nhau như hoa hậu thế giới, hoa hậu Trái Đất, hoa hậu du lịch, hoa khôi thời trang, người mẫu nam, vẻ đẹp vĩnh hằng, người phụ nữ thanh lịch, hoa hậu mỹ phẩm, người đẹp sản phẩm, hoa hậu tiếp thị, người đẹp qua ảnh… chính là những thỏi nam châm đầy công lực châm hút các chàng trai, cô gái trẻ lao vào nghề người mẫu. Được chưng diện, được lên bìa các báo, tạp chí, được phỏng vấn và xuất hiện trên truyền hình, trên các băng-rôn, được ngún nguẩy trên sân khấu trước ánh đèn flash và bên dưới bao cặp mắt ngưỡng mộ lẫn… hau háu sự thèm khát nhìn lên là những gì mà họ hay mơ đến. Có khá nhiều chuyện buồn cười cũng quanh “thế giới người mẫu” (cả ở những đối tượng chỉ mới …ngấp nghé ở ngưỡng cửa “thế giới người mẫu”) vì khi chúng tôi tìm gặp và thử hỏi tại sao muốn trở thành người mẫu, hầu hết câu trả lời của các cô hay các anh đều có chung mẫu số: “Em muốn đem lại cái đẹp cho đời” hoặc “Em muốn cái đẹp không là của riêng ai mà phải là của chung (!?) mọi người cùng được hưởng”. Cò

Một bầu show lâu năm tiết lộ: “Có một số các người mẫu cố tạo ra cho mình nhiều scandal càng mau nổi tiếng!”. Nhiều người mẫu bỗng giàu lên một cách đáng ngờ. Có người mẫu giã từ căn nhà cấp 3 trong căn hẻm nhỏ đường Nguyễn Đình Chiểu, Saigon tậu căn biệt thự kiểu Tây gần dinh Thống Nhất, hay lái xe hơi đời mới BMW, luôn “bay qua bay lại” giữa Mỹ và Việt Nam vèo vèo. Thế nhưng khi người viết hỏi cô đang học gì, thời gian bao lâu và ở bang nào, trường nào, cô ta cứ ấp a ấp úng như ngậm hột thị: “Em học… đủ thứ, nhiều quá nên không nhớ hết, em muốn giữ bí mật khi nào tốt nghiệp xong xuôi sẽ chính thức công bố cho báo chí biết” (?)

Người mẫu Việt Nam và những “hiện tượng lạ”
Nói là “hiện tượng lạ” chứ thực ra đây là những điều mà bất cứ ai có dịp chiêm ngưỡng, tiếp xúc cùng thế giới người mẫu đều dễ dàng nhận thấy ngay. Trước nhất như “hiện tượng gợi cảm” khi có nhiều cô người mẫu của chúng ta cứ cho đó là sự “gợi cảm”, “quyến rũ”, “nữ tính” và đang có sự cạnh tranh thật sự trong giới về điều này. Chỉ tội cho người xem lắm khi phải đỏ mặt vì ranh giới quá mong manh giữa gợi cảm và gợi… dục. Ví dụ, trên sàn diễn, người ta vẫn thấy thường xuyên thấy người mẫu H cắn môi, đánh lưỡi theo kiểu mời gọi, TT, TM thì hay cong môi, chúm môi như gửi đi những cái hôn bỏng cháy, NT rập khuôn với những động tác xoa bàn tay trên vùng ngực trắng ngần đầy khêu gợi. BL, UL ưỡn người trông thật khiêu khích… Như một căn bệnh truyền nhiễm, những động tác này ngày càng phổ biến ở khắp các người mẫu khi biểu diễn như một sự so tài. Khuynh hướng khêu gợi còn đi cả vào việc chụp ảnh thời trang đăng báo. Các kiểu tạo dáng của người mẫu ngày càng táo bạo về tư thế, hở hang trong trang phục. Một nhà thiết kế trẻ đã dở khóc dở mếu vì xót của, bởi sau khi tốn tiền triệu thuê người mẫu chụp ảnh bộ sưu tập mới để gửi cho tạp chí thời trang đăng thì nơi này từ chối với lý do đồ quá hở. Anh này mãi phân bua: “Đồ tôi làm không hở, nhưng do các cô người mẫu cứ tự ý kéo áo, cột áo cao quá rốn mà chụp…”.

Không chỉ trong lúc diễn, trang phục sinh hoạt đời thường của nhiều người mẫu đang trong khuynh hướng quần thật trễ lưng, áo thật trễ ngực. Ôm cực sát, càng mỏng, càng hở rốn hở bụng càng… tốt. Những “model” này xuất hiện khá phổ biến ở nơi công cộng khiến người khác “ai ai cũng phải ngước nhìn”, nhưng sau đó lắc đầu bởi không biết các cô muốn biểu lộ điều gì và nhận xét về các cô thế nào với thứ quần áo sắp tuột mất khỏi cơ thể đó? Cũng thế, khi nhắc đến “tai nạn” mới đây của một nhóm người mẫu khi phải diễn mẫu thời trang nhưng không thèmmặc… “nội y”, theo đúng ý đồ của nhà thiết kế. Một người mẫu tâm sự: “Đã làm nghề này, hiếm người mẫu nào dám lên tiếng phản đối một mẫu trang phục không hợp thuần phong mỹ tục, do sợ bị cô lập trong giới, mang tiếng “chảnh” và không ai mời diễn nữa. Lắm khi sắp bước ra sàn diễn, tôi mới biết mình được (hoặc bị) chỉ định mặc mẫu đồ nào, nếu đồ quá hở hay mỏng thì xem như mình xui xẻo bữa đó. Công luận dễ lên án, chỉ trích mấy người mẫu vì mấy vụ lùm xùm trong làng thời trang mới đây, nhưng có mấy ai công tâm hiểu được là người mẫu bị chi phối rất nhiều bởi ý tưởng của nhà thiết kế, chuyên viên tạo mẫu tóc, người tổ chức show diễn… Cho nên, người mẫu nào muốn làm nghề lâu bền phải thích ứng bằng cách… tuân phục ý tưởng của người khác, tránh thể hiện cá tính của mình”.

Và những mối quan hệ khác…
Trở lại cùng giới doanh nghiệp, đặc biệt là các “đại gia” hiện đang có một lối sống được coi là thời thượng, là “biểu tượng của sự thành đạt”: tiền bạc, quyền lực và gái đẹp. Một số “đại gia” khi ngồi bàn nhậu thường khoe khoang đã từng cặp bồ được với siêu mẫu này, đã từng “qua đêm” cùng với người đẹp “hoa khôi” nọ. Có đại gia còn lớn tiếng tuyên bố không thèm “cặp kè” với cô nào… quá một tháng, dù đó là…người mẫu hàng… top. Quen biết với các người đẹp càng nổi tiếng thì đại gia kia càng chứng tỏ được quyền lực, tiền bạc cũng như uy tín của mình. Vì thế, người ta không ngạc nhiên khi trong các cuộc thi sắc đẹp có rất nhiều đại gia tranh nhau vung tiền vận động hậu trường cho “gà nhà” của mình. Một cô gái lành, con nhà nghèo có chút sắc vóc và muốn đổi đời được các đại gia “phát hiện” bỏ tiền chịu mọi chi phí sắm sửa quần áo, thuê người trang điểm, chạy chọt sao cho cô có thể vào được vòng thi cuối cùng. Dĩ nhiên, đại gia sẽ có nhiều lời hứa hẹn ngọt ngào, hấp dẫn, nhưng tất cả đều được thoả thuận điều kiện từ trước: sau cuộc thi, cô phải là người “của riêng” đại gia ấy trong một thời gian nhất định nào đó.

Trong làng thời trang, đến nay, nhiều người vẫn không lý giải được vì sao một đạo diễn tài năng chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng tên tuổi anh ta luôn đi liền với tên của các nàng hoa hậu. Chỉ trong vòng 10 năm, một mình anh ta đã “ẵm gọn” không những một mà tới hai nàng hoa hậu của hai cuộc thi hoa hậu toàn quốc. Sau một thời gian “già nhân ngãi, non vợ chồng” cả hai nàng đều phải “bỏ của chạy lấy người”. Không tiền, ít tài nhưng anh ta có một quyền lực đặc biệt: đạo diễn lèo lái các chương trình thi hoa hậu. Có biết bao cuộc thi người đẹp mà kết quả đã được ngã giá từ đêm trước, mà tiền ứng trước không gì khác hơn là “vốn tự có của các người đẹp!

Như đã nói, một cách khác mà các đại gia vẫn thường sử dụng để chiếm được người đẹp, đó là đồng tiền. H – một đại gia mới ngoài 30 tuổi nhưng nổi tiếng trong giới buôn bán bất động sản ỡ Saigon thường tự hào không ít người mẫu nổi tiếng thành phố đã “từng qua đêm” với anh ta. Việc có trong tay một người đẹp đối với H không có gì khó khăn với bí quyết là làm “chủ chi” thật bạo. Thú vui của H là thay người đẹp như thay… xe hơi. Trong giới người mẫu vẫn thường đem chuyện của hai người mẫu V và C ra kể như một câu chuyện tiếu lâm. Phải chi khá tốn kém, H mới “mua” được V. Trong một lần đi chơi, V dẫn theo cô bạn thân là C đi cùng, không ngờ những lần sau đó không còn thấy H cặp kè cùng V mà thay vào đó là C. Hay câu chuyện của một đại gia trong làng buôn bán xe hơi khác có gương mặt, dáng vẻ còm nhom như “dân ken” mà cũng “cặp” được với một cô “hoa khôi” trẻ trung xinh đẹp V., thậm chí còn đưa cô ta vào khách sạn để…làm tình và bí mật quay video phát tán trên mạng cho bàn dân thiên hạ xem chơi (?).

Nói chung, cái giá để tiếp cận người mẫu thông thường tăng dần theo giá trị những món quà. Trong số đó “bèo” nhất là điện thoại đời mới, sau đó là nhẫn kim cương, xe tay ga. Với những em thuộc hàng “top” thì giá trị quà tặng lên tới hàng: xe hơi và đất đai, nhà cửa. Tuy nhiên các đại gia cũng thuộc hàng mưu lược với nhiều toan tính. Khi các em còn cao giá thì được cung phụng chẳng khác gì bà hoàng, được săn đón ngày đêm. Nhưng khi đã “no xôi chán chè” các em cần phải được cho ra đi thật nhanh. Người mẫu V nọ từng nhận được món quà là chiếc xe hơi đời mới trị giá hàng chục ngàn USD của một “cây si” từ đất Hà thành vào Saigon ăn chơi. Thế nhưng sau khi đường ai nấy đi, cô này lại đau khổ khôn cùng khi biết đây là một chiếc xe… mua trả góp. Câu chuyện về một hoa hậu có giá 2.000 USD/đêm cũng là đề tài được các đại gia hay xúm nhau bàn tán trên các bàn nhậu. Trong một lần khai trương một showroom, một đại gia đã bao hẳn 4 cô hoa hậu tổ chức một đêm dạ tiệc tại một miền biển xa thành phố. Cái giá cho đêm đó chắc chắn sẽ khiến cho những người nghèo chỉ nghe qua thôi cũng đủ té ngữa chết giấc…Không chỉ có người mẫu nữ, giới người mẫu nam cũng có không ít chuyện. H – một cựu người mẫu nam trước đây, có hẳn một album hình nude để giao dịch. Anh ta sẵn sàng đi khách, mà chủ yếu là khách nam giới. Trong quá trình đi khách ấy, H kiếm được “tấm chồng” là một anh chàng người nước ngoài. Họ thuê nhà sống chung với nhau và sự đi khách của H không còn thường xuyên. Mức giá hiện nay của các nam người mẫu hàng “vơ-đét” là 300-500 USD/ngày đêm. Nếu đi dài ngày, số tiền cũng tăng lên theo thời gian. Hiện tượng này như một căn bệnh truyền nhiễm đang lan rộng và có ảnh hưởng sâu vào giới thời trang với đối tượng là các người mẫu nam, các nhà thiết kế thời trang nam và cả các nam chuyên viên trang điểm. Có không ít “đại gia” rất thích một số nam thiết kế thời trang trẻ – thường được gọi là những “baby boy”. Ban đầu, họ dụ dỗ bằng những hứa hẹn hấp dẫn về nghề nghiệp, tài trợ để xây dựng những nhãn hiệu riêng. Dần dần, đưa những chàng trai trẻ vào đường dây ăn chơi của riêng mình.

NGUYỄN SINH

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Những câu nói bất hủ


Những người đứng đầu một tổ chức, một phong trào, hay một đoàn thể thường phát biểu những câu nói trong những tình huống đặc biệt. Tùy theo tình hình biến chuyển, họ đã nói và để lại cho hậu thế những câu nói bất hủ. Câu nói đầy tâm huyết phát xuất từ trái tim sẵn sàng dâng hiến cho đại cuộc. Vì xuất phát từ một tấm lòng quả cảm, từ trái tim đầy nhiệt huyết, những câu nói này trở thành một khẩu hiệu, một châm ngôn hướng dẫn mọi hành động trong giai đoạn đó. Những câu nói bất hủ này không những ảnh hưởng trực diện vào mọi sinh hoạt ngay lúc đó mà còn gây ảnh hưởng lớn lao cho mọi người trong nhiều thế hệ sau này, đặc biệt cho những người tranh đấu với cùng một mục đích. Nó trở thành một đòn bẩy bật tung trái đất như Archimedes đã nói1, một chất xúc tác như Jim Costa từng phát biểu2, một nguồn sinh lực dồi dào cho những người đã bắt đầu thấm mệt trong cuộc đấu tranh dai dẳng như Đức Lạtma chia sẻ3.

Trần Thủ Độ là Thái sư (1227) dưới triều vua Trần Thái Tông. Tuy ông giữ một chức vụ cao trọng nhất trong triều đình nhưng lại nức tiếng thẳng thắn và nghiêm minh trong việc tôn trọng luật nước. Là một tướng tài, ông giúp nhà Trần giữ vững biên cương, đánh quân Chiêm thành và Chân lạp thường xuyên quấy nhiễu. Nhưng đặc biệt phía bắc hàng vạn vó ngựa quân Mông cổ rầm rập tung bụi mịt mù sa mạc, tràn xuống đánh Kim, diệt Tây Hạ, chiếm Triều Tiên, chuẩn bị xâm lược Tống và các nước phía nam khiến triều đình rất lo ngại.

Tháng 1 năm 1258, quân Mông Cổ, sau khi tiêu diệt nước Đại Lý (Vân Nam), đã tiến vào lưu vực sông Hồng. Thiết Mộc Chân (Thành Cát Tư Hãn) tuy đã chết nhưng quân Mông vẫn là một đội quân hùng mạnh, bách chiến bách thắng. Vó ngựa quân Mông tung hoành khắp vùng sa mạc và rong ruổi mãi đến tận châu Âu với những chiến thắng vẻ vang. Vì thế quân Đại Việt ban đầu bị đánh lui, vua Thái Tông phải bỏ Thăng Long rút xuống phía nam. Vua muốn nhờ Tống giúp chận đứng quân Mông nên hỏi Thái sư Trần Thủ Độ. Ông trả lời một câu bất hủ, “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!” Vào lúc thế giặc mạnh như nước lũ, câu trả lời vững chải đầy tự tin của ông đã giữ vững được tinh thần quyết thắng của quân dân Đại Việt. Không đầy một tháng sau, quân ta phản công và đẩy lui được đại binh Mông cổ buộc chúng phải rút chạy về nước.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng là một vị tướng tài dưới triều vua Trần Thánh Tông. Ông ba lần (1258, 1285, và 1287) đánh tan quân Nguyên Mông từ phương bắc lăm le muốn thôn tính nước Nam. Hốt tất Liệt lúc bấy giờ không những là chúa tể trên cánh đồng cỏ mà còn là một hung thần đối với các nước Hồi giáo ở Trung Á, nước Nga và các nước lân cận. Lãnh thổ của quân Nguyên trải dài từ vùng Viễn Đông, kể cả Triều Tiên (Đại hàn bây giờ) đến tận Mac-tư-khoa, Muhi (Hungary), Tehran (Iran), Damascus (Syrie); từ Bắc Á xuống sâu đến biên giới Ấn độ và Miến điện. Hốt tất Liệt đánh bại dễ dàng nhà Nam Tống và Bắc Tống chiếm trọn nước Tàu. Thế mà khi tràn quân xuống phía Nam, đạo quân Mông bách chiến bách thắng lại chuốc lấy thảm bại. Với khí thế của quân Mông, vua Thánh Tông có ý định hàng giặc và Trần Hưng Đạo dõng dạc tuyên bố, “Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã!” Chờ cho địch cạn lương, mỏi mệt, và hàng ngũ rối loạn, Hưng Đạo Vương mới cho quân phản công bằng mưu kế lợi dụng thủy triều cắm cọc nhọn trên sông Bạch đằng đâm thủng thuyền bè quân địch và đại thắng. Nhờ câu nói bất hủ đầy bất khuất của Trần Hưng Đạo, từ vua đến tôi đều quyết chí một lòng và đó là lý do quân Đại Việt thắng trận vẻ vang.

Một trong những tướng tài của Hưng Đạo Vương là Trần bình Trọng bị quân Nguyên bắt sống cũng thốt lên một câu nói bất hủ khi giặc Nguyên dụ hàng, “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc.” Thời vua Thánh Tông được tiếng là thịnh trị vì có quá nhiều nhân tài ra giúp nước. Uy vũ bất năng khuất. Những vị tướng với lòng dũng cảm không hề run sợ trước sức mạnh của đoàn quân phương bắc như Trần bình Trọng thì chuyện giặc Nguyên thảm bại đến ba lần cũng là điều dễ hiểu.

Nguyễn thái Học, người sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1927. Câu nói bất hủ của ông chất chứa một chút chua chát: “Không thành công cũng thành nhân”. Và ông đã “thành nhân” khi bị Pháp xử trảm ngày 17 tháng 6, 1930 khi cuộc khởi nghĩa chống Pháp tại Yên Bái thất bại. Tuy thất bại nhưng ông đã để lại một tấm gương sáng cho những nhà ái quốc sau này, dứt khoát đánh đuổi bọn thực dân Pháp, đưa dân tộc thoát khỏi vòng đô hộ.

Lênin, ông tổ cộng sản cũng có một câu nói bất hủ, “Vô sản các nước, đoàn kết lại!” Khi đám lãnh tụ các nước thuộc địa nghèo nàn lạc hậu vớ được câu nói này và lấy nó làm phương châm hành động thì tương lai kinh tế của những quốc gia này bỗng trở nên “vô sản” thật. Không những đám lãnh tụ cộng sản thành công khi vô sản đại đa số dân chúng nhưng họ còn phá sản hoàn toàn những giá trị tinh thần truyền thống ở mỗi quốc gia, làm mất hẳn vẻ đẹp đặc thù của mỗi dân tộc, theo đúng giấc mơ “đại đồng” hão huyền, không tưởng. Ôi! Chỉ vì một câu nói mà hơn nửa nhân loại trong suốt 73 năm (1917 – 1990) sống trong nghèo đói triền miên, đau khổ trầm luân với một hoàn cảnh đầy nghiệt ngã. Chưa kể đến con số 100 triệu người phải lót thân trên con đường “cách mạng” cuồng vọng của đám lãnh tụ cộng sản.

Martin Luther King, một mục sư cổ võ cho quyền bình đẳng của các sắc dân thiểu số, đã mở đầu bài diễn văn hùng hồn vào ngày 28 tháng 8, 1963 bằng câu nói bất hủ: “Tôi có một giấc mơ… tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng…” Bài diễn văn của mục sư King không những đã gây ảnh hưởng lớn lao trên khắp nước Mỹ mà còn là nguồn cảm hứng cho tất cả mọi nỗ lực tranh đấu quyền bình đẳng cho những nhà hoạt động nhân quyền sau này. Giấc mơ của mục sư King đã trở thành hiện thực khi chính quyền Hoa kỳ chấp thuận thông qua Civil Rights Act (Đạo luật Quyền Dân sự) vào ngày 2 tháng 7, 1964, mở đầu một trang sử mới tôn trọng quyền của những người da màu trong lịch sử Hoa kỳ.

Tổng thống Nguyễn văn Thiệu cũng để lại cho dân miền Nam một câu nói bất hủ, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm!” Câu nói để đời này gói trọn những kinh nghiệm xương máu về cộng sản của vị tổng thống thứ hai của nền cộng hòa miền Nam non trẻ. Thế mà có mấy ai để ý đến câu nói bất hủ của ông. Sự thật về câu nói của ông chỉ được phơi bày trần truồng sau năm 1975 và mãi đến bây giờ vẫn còn giá trị khi chủ nghĩa cộng sản còn trơ trẽn rơi rớt lại trên mảnh đất Việt khốn khổ. Ngày nào nhà nước cộng sản còn áp đặt một thứ quyền hành quái đản lên đồng bào, câu nói của ông vẫn là một minh chứng hùng hồn cho sự tàn bạo vô luân của một chính quyền thối nát không bút nào tả nổi. Cho dù sau này chế độ cộng sản có chết mất xác đâu đó trong nền văn minh thăng hoa của nhân loại, câu nói bất hủ của ông vẫn giúp những nhà sử học viết thay cho dòng kết khi viết lại những trang sử bi thương của dân tộc Việt sống dưới ách cộng sản từ năm 1930.

Tổng thống Hoa kỳ Ronald Reagan khi đứng trước bức tường ô nhục Bá linh vào ngày 12 tháng 6, 1987 đã thách thức Tổng Bí thư Liên sô Gorbachev bằng câu nói bất hủ, “Hỡi ông Gorbachev, hãy đập đổ bức tường này!” Hơn hai năm sau, ngày 9 tháng 11, 1989 nhà nước cộng sản Đông Đức cho phép dân chúng thăm viếng Đông Bá linh và Tây Đức. Dân chúng đã dùng búa đập nát bức tường ô nhục, đánh dấu bước sụp đổ đầu tiên của chế độ cộng sản tại Âu châu.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng thốt lên một câu nói bất hủ khi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nga sô Brezhnev lăm le định đưa Hồng quân sang Ba lan để dẹp tan Công đoàn Đoàn kết, “Nếu Liên sô tiến quân sang Ba lan, tôi sẽ cởi áo giáo hoàng và trở về Ba lan để chiến đấu bảo vệ quê hương tôi.” Nhờ câu nói đanh thép của vị Giáo hoàng dũng cảm, Brezhnev đã từ bỏ ý định xâm lăng.

Giáo phận Vinh (bao gồm Nghệ an, Hà tĩnh, và Quảng bình) được Đức cha Phaolô Maria Cao đình Thuyên cai quản từ năm 2000. Xảy ra vụ chiếm đất bất hợp pháp của chính quyền cộng sản tại Thái Hà vào tháng 9 năm 2008, toàn thể Hội đồng Giám mục Việt nam lên tiếng hiệp thông, bênh vực cho Đức Tổng Giám mục Hà nội Ngô quang Kiệt và phản đối nhà nước đã dùng luật rừng để chiếm đoạt tài sản của giáo hội. Các giám mục ở các giáo phận trên toàn lãnh thổ cũng lên tiếng hiệp thông và phản đối bằng cách gửi văn thơ đến Nhà Chung Hà nội và Ủy ban Tôn giáo nhà nước. Có những giám mục khác tích cực hơn, thân chinh đến nơi để hiệp thông cầu nguyện với giáo dân Thái Hà. Trong số các giám mục này có sự hiện diện của Đức cha Cao đình Thuyên, lúc ấy 81 tuổi, không ngại đường xa đã cùng với linh mục đoàn của giáo phận Vinh đến hiệp dâng thánh lễ. Bao vây Thái Hà là những dãy hàng rào chắn và lực lượng cảnh sát cơ động vũ trang với nét mặt lạnh lùng, Đức cha Thuyên đã tuyên bố một câu bất hủ, “Việc của Thái Hà là việc của Vinh.” Có lẽ không một câu nói nào tỏ tình hiệp thông vững mạnh như thế. Một ông cụ đã quá bát tuần lại có thể thốt được một câu hùng hồn đến thế trong một hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng thì quả thật tuyệt vời. Câu nói bất hủ của ngài thể hiện được tinh thần huynh đệ, nói lên mầu nhiệm chi thể của Đức Kitô, chia sẻ nỗi đau của giáo dân Thái Hà đang bị áp bức quá bất công. Mọi giáo dân dù bất cứ ở đâu đều là một phần của Hội thánh trong nhiệm thể của Đức Giêsu và chân lý đó đã thể hiện qua câu nói bất hủ của Đức cha Cao đình Thuyên.

Ngày 20/7/2009, một lần nữa, chính quyền cộng sản lại đàn áp giáo dân Quảng bình cũng chỉ vì miếng đất nhà thờ Tam Tòa tại thành phố Đồng hới. Một bên không có nơi thờ phượng đã bao nhiêu năm nên phải tạm dựng một chiếc lán nhỏ trên nền đất của ngôi nhà thờ đã bị sụp đổ vì chiến tranh, một bên dùng quyền hành chiếm đoạt mảnh đất của giáo dân Tam Tòa bằng cách ngang nhiên trưng dụng để làm chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ. Lý do Tỉnh ủy Quảng bình đưa ra không hợp lý vì tại sao không trưng dụng ngay từ sau ngày 30 tháng 4, 1975; ngày cộng sản cưỡng chiếm thành công miền Nam mà phải đợi mãi đến năm 1997 – sau khi thị xã Đồng hới được nâng lên cấp thành phố – mới có quyết định như trên. Lý do nữa không hợp hiến vì bất cứ chỗ nào trên đất Bắc muốn biến thành chứng tích tội ác đều phải có quyết định từ trung ương; đằng này Tỉnh ủy Quảng bình đơn phương ra quyết định.

Đừng nói đến chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ vì nhà nước cộng sản “có công” đánh đuổi Mỹ nhưng không bao lâu lại trải thảm đỏ mời họ vào. Đuổi cửa sau nhưng lại mời vào cửa trước. Đừng nói đến chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ vì những tờ đôla xanh vẫn nằm đầy trong tủ sắt của đám cán bộ nắm quyền sinh sát trong tay, đặc biệt đám cán bộ và công an tỉnh Quảng bình. Mà nếu thật sự muốn biến mảnh đất Tam Tòa thành chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ thì một tấm bia cũng đủ nhắc nhở những thế hệ sau này, cần gì phải chiếm trọn mảnh đất chỉ còn trơ lại bức tường rêu phong lỗ chỗ dấu đạn bom. Những nơi khác trên khắp đất Bắc hứng chịu bom Mỹ cũng có những tấm bia như thế để tưởng niệm, để nhắc nhở. Thế thì lý do gì mà Tỉnh ủy Quảng bình nhất định phải chiếm cho bằng được toàn bộ khu đất của nhà thờ Tam Tòa?

Lý do duy nhất mà ai cũng biết là vì khu đất nhà thờ Tam Tòa đột nhiên có giá trị kinh tế nhảy vọt. Từ ngày thị trấn Đồng hới được trung ương nâng lên cấp thành phố, dân cư đổ về làm ăn buôn bán sầm uất, đường sá được nới rộng, và mảnh đất nhà thờ Tam Tòa nằm ngay trung tâm thành phố, nhìn ra sông Nhật Lệ trông thật thơ mộng bỗng trở nên có giá, rất có giá. Với giá nhà đất tăng vùn vụt đến độ chóng mặt ở những nơi thị tứ vì nhu cầu làm ăn buôn bán, miếng đất này phải tính đến hàng ngàn cây vàng, vài triệu đô la là chuyện thường. Giống như miếng đất Tòa Khâm sứ cũng nằm ngay trung tâm thành phố Hà nội, giá cả mảnh đất là miếng mồi ngon mà đám cán bộ nhà nước không thể nào bỏ qua. Vì thế họ mới dùng mọi thủ đoạn đê tiện để cướp đoạt trắng trợn.

Mộ t trong những thủ đoạn đê tiện là dùng đám công an ở các nơi khác được bí mật điều về mặc thường phục để chận đánh giáo dân. Tỉnh ủy tỉnh Quảng bình gọi đám người này là “nhân dân tự phát”. Không những giáo dân chân yếu tay mềm bị đánh, đám “nhân dân tự phát” này còn dám đánh trọng thương luôn cả hai vị linh mục với những lời lẽ hạ cấp. Đang ung dung thăm hỏi giáo dân Vinh ở Hoa kỳ, Đức cha Cao đình Thuyên đành phải bỏ dở chuyến đi và trở về với đàn chiên đang bị bầy sói vây hãm. Thật chưa bao giờ con dân Vinh lại nức lòng mừng đón vị cha già trở về như vậy. Chỉ còn mấy ngày nữa là đến ngày mừng lễ Quan Thầy (Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời) của giáo phận Vinh nên vị cha già đã mời gọi toàn thể giáo dân thuộc hai tỉnh Hà tĩnh và Nghệ an về Tòa Giám mục để cầu nguyện, chỉ riêng giáo dân Quảng bình vì đường sá xa xôi nên mừng lễ tại chỗ. Cuối lễ, trong phần nhắn nhủ hơn 200 nghìn con chiên, Đức cha Thuyên có nhắc lại một câu nói bất hủ của một linh mục Vinh khi ngài ở hải ngoại gọi về để thăm hỏi, “Đức cha cứ an tâm tiếp tục thăm hỏi giáo dân ở nước ngoài, bên này chúng con không phải có một Đức cha Thuyên nhưng có đến 500 nghìn Đức cha Thuyên.” Khi vị linh mục nói đến 500 nghìn Đức cha Thuyên, ngài muốn nói đến sự đoàn kết, đồng lòng nhất trí của toàn thể giáo dân Vinh về vụ Tam Tòa. Tuy nghe vậy nhưng Đức cha Thuyên vẫn thấy sự có mặt của ngài tại quê nhà trong giây phút đau thương này là cần thiết. Và ngài đã lập lại câu nói bất hủ của vị linh mục nào đó (ngài không nêu danh tánh) như một khẳng định về lập trường của ngài và 500 nghìn giáo dân Vinh qua sự hiệp thông cầu nguyện, đối thoại, tha thứ, và tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa Thánh Linh.

Rồi từ đây, với lời cầu nguyện của 500 nghìn Đức cha Thuyên ở giáo phận Vinh sẽ như hương thơm tỏa lan trước nhan thánh Chúa. Cũng từ đây, với ánh sáng tình yêu của 500 nghìn Đức cha Thuyên sẽ đẩy lui được bóng đêm hận thù. Và cuối cùng, với 500 nghìn Đức cha Thuyên một lòng một ý sẽ tranh đấu công lý cho một Tam Tòa đang trên đà hồi sinh.

Chú thích

1 “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy tung trái đất này.” Archimedes (287 BC – 212 BC).

2 “Phong trào dòi hỏi dân quyền gặt hái được nhiều thắng lợi nhưng Rosa Park (người đàn bà da đen từ chối nhường chỗ cho người da trắng trên xe bus) luôn được tưởng nhớ như một chất xúc tác trong công cuộc đấu tranh đòi hỏi dân quyền.” Jim Costa (1952 – ), Dân biểu bang California.

3 “Bất cứ điều gì anh cảm thấy khó thực hiện nhất, thì hãy làm với tất cả con tim của anh.” Dalai Lama (1935 – ),Đại đức, vị lãnh đạo tinh thần của Tibet.


Sơn Nghị VietCatholic News

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tại sao chúng ta khóc?

Image
Nước mắt có thể làm suy yếu những hành vi hung dữ, giúp xây dựng và củng cố mối quan hệ cá nhân -
Ảnh: photobucket. com

- Chúng ta rơi nước mắt khi đau đớn, nhưng mục đích của việc khóc là gì? Một nhà khoa học mới đây đưa ra lý thuyết mới cho rằng việc khóc thể hiện sự tiến hóa: những giọt nước mắt có thể báo hiệu khả năng phòng vệ cơ thể của bạn bị suy yếu.
"Khóc là một hành vi phát triển cao. Phân tích của tôi cho thấy do tầm nhìn bị nhòe mờ, khả năng phòng vệ của cơ thể bị suy yếu và những giọt nước mắt xuất hiện như dấu hiệu cầu cứu - khóc để nhờ sự giúp đỡ. Thậm chí việc chảy nước mắt thể hiện một hay nhiều sự gắn kết tương hỗ” - ông Oren Hasson, một nhà sinh vật học tiến hóa thuộc ĐH Tel Aviv (Israel) trình bày trên tạp chí Evolutionary Psychology ngày 28-8.

Khóc là cảm xúc chỉ có ở con người. Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu cho rằng khóc giúp giải phóng các chất gây căng thẳng ra khỏi cơ thể hoặc chỉ đơn giản làm chúng ta cảm thấy tốt hơn, hoặc để trẻ sơ sinh “thông báo” sức khỏe chúng có vấn đề.

Theo ông Hasson, khóc có thể giúp xây dựng và củng cố mối quan hệ cá nhân. Ví dụ, "bạn có thể tỏ ra mình quy phục một kẻ tấn công, từ đó khơi gợi lòng nhân từ của đối phương, hoặc bạn có thể thu hút sự thông cảm từ những người khác và đạt được sự hỗ trợ mang tính chiến lược của họ".

Ngoài ra, bằng cách chia sẻ nước mắt với những người khác, "nếu bạn có thể nhận được sự tương tác về khả năng bảo vệ của cơ thể bị suy yếu, có nghĩa chúng ta có thể tạo ra một sự cam kết rằng chúng ta đang thật sự là những người bạn chia sẻ cùng cảm xúc", ông Hasson nói.

"Đây là hành vi nghiêm túc của con người. Tất nhiên hiệu quả của hành vi mang tính tiến hóa này luôn phụ thuộc vào những người có thể cảm thông khi bạn khóc, và có thể sẽ không có hiệu quả ở những nơi như nơi làm việc, lúc đó cảm xúc nên được giấu đi" - ông Hasson nói thêm.

Theo nhà tâm lý học về tiến hóa David Buss thuộc ĐH Texas, quan điểm mới của ông Hasson "cung cấp những giả thuyết mang tính hợp lý nhất về chức năng đã tiến hóa của nước mắt và việc khóc. Những người khác thì suy đoán về chức năng có thể có của nước mắt, nhưng khái niệm khóc báo hiệu khả năng phòng vệ cơ thể con người bị suy yếu là rất độc đáo”.

T.TOÀN (Theo LiveScience)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nhạc Sĩ Phạm Duy Nằm Bệnh Viện

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Biểu tình trước Tòa Đại Sứ Trung Cộng ở Washington DC 29-8-2009

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hành trình ánh sáng của cậu bé mồ côi

Mười tháng trước đây, Triệu Dương Tường là một cậu bé mồ côi mù lòa. Hệt như truyện cổ tích,
những bàn tay nhân ái đã nối nhịp hành trình tìm lại ánh sáng kỳ diệu cho cậu, từ Việt Nam sang đến xứ sở kangaroo.

Image
Bé Tường và hai nhân vật chính trong số hàng trăm người góp sức vào hành trình tìm lại ánh sáng của cậu:
bác sĩ Michael Coote và mẹ nuôi Thiên Kim - Ảnh: TR.N.


Lúc Tường đang là bào thai trong bụng mẹ ở Sóc Trăng, cha của Tường bỏ mẹ cậu ra đi. Đến khi Tường sinh ra mới được một tháng tuoi, mẹ cậu qua đời vì hậu sản. Đến chín tháng tuổi, Tường (bấy giờ chỉ còn bà ngoại cưu mang) bị sốt rất cao và gây đau mắt. Gia đình nghèo thiếu tiền chạy chữa, nên bệnh mắt của Tường cứ nặng dần. Bóng tối vây quanh, cậu bé thành người mù lòa.

Tháng 11-2008, chị Trương Thiên Kim, một người gốc Việt làm nghề tư vấn thẩm định môi trường ở Melbourne (Úc), trở về quê hương Việt Nam làm công tác thiện nguyện đã gặp Triệu Dương Tường trong một chuyến tổ chức khám và chữa bệnh mắt miễn phí cho người nghèo ở Sóc Trăng. “Lúc ấy Tường chỉ nặng 9kg, suy dinh dưỡng nặng và ghẻ lo toàn thân. Hai con ngươi tím bầm lồi ra ngoài khiến gương mặt cậu trở nên dị dạng” - chị Kim kể. Thương tâm trước hoàn cảnh mồ côi của Tường, chị Kim đưa cậu lên TP.HCM khám bệnh cũng như bắt đầu tìm mọi cách chạy chữa cho cậu.

Trở về Úc, chị Kim đi gõ cửa gần chục bệnh viện, hội đoàn, phòng mạch tư... ở Melbourne nhưng đều nhận những cái lắc đầu chào thua vì không ai dám tin đôi mắt hỏng nặng của Tường có thể chữa được.

Tình người không biên giới

Hành trình chữa bệnh của cậu bé mồ côi đến từ Việt Nam cũng gây quan tâm dư luận Úc khi được nữ phóng viên Belinda Norlan tường thuật nhiều kỳ liền trên tuần báo Star cũng như thông tin trên tờ The Leader. Nhiếp ảnh gia John Banigan ở vùng Yarraville đã gửi vào quỹ giúp đỡ Tường 2.000 đôla sau khi đọc câu chuyện. Xúc động nhất là có một phụ nữ Úc tên Maureen bị bệnh sắp qua đời bày tỏ nguyện vọng sẵn sàng hiến tặng đôi mắt lành lặn của mình thay thế cho Tường nếu bác sĩ cần.

Thế rồi vị cứu tinh xuất hiện. Một trong những bác sĩ chuyên khoa mắt xuất sắc nhất nước Úc, ông Michael Coote ở Bệnh viện Royal Victorian Eye&Ear, sau khi xem hồ sơ và hình ảnh bệnh trạng Tường đã đồng ý giúp đỡ và yêu cầu đưa Tường sang Úc trong thời gian nhanh nhất có thể, cùng lời nói: “Tôi chỉ cố gắng hết sức mình”.

Ngày 9-2-2009, Triệu Dương Tường cùng bà ngoại (đi theo chăm sóc) được đưa sang Melbourne và một tuần sau cậu lên bàn mổ. Cậu đã trải qua ba lần mổ tính đến tháng 5-2009. Toàn bộ êkip tám y bác sĩ mổ cho Tường đều không nhận tiền thù lao (khoảng 8.000 đôla Úc) vì tình thương dành cho cậu bé bất hạnh.

Cộng đồng người Việt càng không đứng ngoài cuộc. Viện phí tổng cộng hơn 10.000 đôla do hàng trăm người Việt sinh sống ở Melbourne đóng góp tại các nơi công cộng ở Footscray (vùng tập trung nhiều người gốc Việt sinh sống nhất ở Melbourne). Một cửa hiệu bán thuốc người Việt nhận cung cấp toàn bộ thuốc men hằng tháng cho Tường.

Giờ đây Tường đã biết tự buớc vô phòng vệ sinh, bắt đầu phân biệt sáng tối, biết lái xe đạp loại dành cho trẻ em, biết bắt chước chị Kim - người mà giờ đây cậu gọi bằng mẹ nuôi - tập thể dục. Tường hiện cân nặng 14kg, ghẻ lở trên người lành hẳn. Cuối tháng 7-2009, Tường được đưa đi nhổ 11 cái chân răng sâu hoàn toàn để cho răng mới mọc lên. Tiếp xúc với Tường, ai cũng khen ngợi cậu bé nói chuyện thông minh và có trí nhớ rất tốt.

Bây giờ mỗi lần Tường vô bệnh viện khám định kỳ là cậu bé luôn miệng reo vang: “Hello đốc tờ Mai-cô” (Chào bác sĩ Michael), tự động ngồi ngay ngắn và đưa mắt cho bác sĩ khám. Khám xong Tường lại liến thoắng: “Thank you đốc tờ. I love you!” (Cảm ơn bác sĩ, con yêu bác sĩ).


Trung Nghĩa ( Melbourne )

Post Reply