Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Y tế toàn dân áp dụng tại Nhật

Image
Bệnh viện Ðại Học Tokyo. (Hình: Getty Images)
L.S. Nguyễn Quang Trung

Hiện nay tại Nhật, hệ thống y tế cho toàn dân được thực hiện chỉ tốn một nửa số tiền so sánh với hệ thống y tế tại Hoa kỳ, nhưng kết quả lại có phần tốt đẹp hơn. Làm thế nào mà một hệ thống y tế như vậy được thực hiện?

Cái hay của hệ thống y tế tại Nhật

Dân Nhật trung bình đi khám bác sĩ 10 lần trở lên trong một năm, gấp 4 lần hơn dân Hoa Kỳ. Họ có thể chọn lựa bác sĩ căn bản (primary doctor) hay chuyên ngành (specialist). Ðặc biệt hơn là hầu hết họ có thể đến gặp bác sĩ ngay trong ngày. Nhờ vậy dân Nhật sống lâu hơn hết và có số tử vong trẻ em thấp nhất.

Ðể có thể cung cấp y tế cho tất cả mọi người, chính phủ Nhật đã kiểm soát chặt chẽ tiền chi phí cho y tế. Cứ 2 năm chính phủ lại đặt lại giá cả để trả cho tiền khám bệnh, thuốc men và cấm ngặt những giá cả cao hơn.

Vì thế cho nên các bác sĩ tại Nhật thua kém các bác sĩ tại Hoa kỳ rất xa về tiền kiếm được hàng năm. Tiền chi phí quản trị cũng rất thấp vì các công ty bảo hiểm không có quyền đặt ra tiêu chuẩn trả tiền khám bệnh. Các công ty này bị ngăn không được kiếm lợi (profit) khi cung cấp dịch vụ y tế.

Dân Nhật theo thói quen lại thích ở lại nhà thương để được chăm sóc lâu hơn. Thí dụ một sản phụ rất thông thường ở lại nhà thương sau khi sanh từ 5, 6 ngày trở lên. Trong khi tại Hoa kỳ, một người mẹ vừa sinh con xong chỉ vỏn vẹn 1 hay 2 ngày sau là phải xuất viện. Ngay cả những trường hợp khám bệnh thường tình họ cũng ở lại nhà thương để “dưỡng bệnh”. Ðể đối phó với tình trạng này, số giường bệnh của các nhà thương trên toàn quốc nhiều 3 lần hơn tại Hoa kỳ cho từng một người dân.

Tuy vậy, số tiền mỗi một người dân Nhật phải đóng bảo hiểm hàng năm lại ít hơn tại Hoa Kỳ rất nhiều. Những người nào đi làm tại Nhật thì phải trả khoảng $2,000 một năm cộng thêm tiền công ty cung cấp bằng số tiền phải đóng là $2,000 để có được bảo hiểm. Trong khi đó, trung bình người đi làm tại Hoa kỳ phải đóng trên $3,300 một năm và công ty của họ phải trả thêm từ $10,000 trở lên để mua bảo hiểm cho nhân viên.

Những người làm tự túc (self-employed) hay không có việc làm thì chỉ trả khoảng $1,600 một năm. Nhưng họ phải trả 30% tiền cước phí (co-payment) với điều kiện không quá $850 trong vòng một tháng. Nếu hơn con số trên thì chỉ phải trả 1% tiền phụ trội.

Ðể ngừa các bệnh trầm trọng hơn, dịch vụ khám bệnh hàng năm được khuyến khích và cung cấp đều đặng cho trẻ em như trong mùa cúm hay cho phụ nữ để tránh ung thư.

Dân Nhật cũng nhận thức là hệ thống y tế tốt không chưa đủ để cho họ được khỏe mạnh nếu không chú ý về ăn uống và đời sống hàng ngày. Hiện nay, chính phủ Nhật còn bắt ai bị bệnh nặng cân phải đi gặp các vị cố vấn về y tế để thay đổi đời sống của họ.

Các điều lo âu chưa giải quyết được.

Với một hệ thống y tế tốt, dân Nhật sống lâu hơn nên đến năm 2050 sẽ có 40% dân số trên 65 tuổi. Với tuổi già, các bệnh trầm trọng sẽ tốn tiền hơn để chữa trị. Số người bị bệnh quên lãng (Alzheimer) hay ung thư gia tăng rất nhanh. Theo như tổ chức nghiên cứu McKinsey & Co. thì nhu cầu y tế sẽ tăng gấp 3 lần trong vòng 25 năm tới.

Kinh tế của Nhật cũng không gia tăng hay có chiều hướng đi chậm dần nên số người đi làm ở lứa tuổi thành niên lại giảm đi, không tạo thêm được nguồn tiền mới cung cấp vào tổng số tiền chi phí về y tế. Chính phủ Nhật đang lo nếu không thay đổi kịp thời thì hệ thống y tế sẽ tốn gấp đôi trong vòng 10 năm nữa. Oái oăm, là ngân sách y tế lại chạy theo kịp đà chi phí của Hoa Kỳ, một điều mà họ không bao giờ muốn xảy ra.

Các bác sĩ chuyên ngành lại thường hay bỏ ngành chuyên môn sau khi đã làm cho các nhà thương một khoảng thời gian. Lý do tại các nhà thương họ phải làm từ 80 tiếng một tuần trở lên nhưng lương căn bản chỉ khoảng $100,000 một năm. Sau khi rời nhà thương các bác sĩ chuyên ngành chỉ cần cung cấp dịch vụ khám bệnh tổng quát tại phòng mạch riêng của họ cũng có thể kiếm gấp đôi số tiền kể trên. Kết quả, là số bác sĩ chuyên ngành như sản phụ khoa, gây mê hay cấp cứu càng lúc càng giảm đi không đủ để lo cho số bệnh nhân tại các bệnh viện.

Chính phủ Nhật lại cũng không thể kiểm soát thời gian dân Nhật muốn ở lại “dưỡng bệnh” tại các nhà thương khiến cho số lượng giường mặc dầu rất nhiều vẫn không cung cấp đủ. Một trường hợp thảm thương đã xảy ra năm ngoái là một sản phụ bị mất sau khi 7 nhà thương không cho nhập viện mặc dầu đã nói là bị đau đầu. Người phụ nữ này chết vì máu chảy trong đầu nhưng không được chẩn bệnh kịp thời sau khi vừa sanh con xong.

Các nhà thương Nhật thường chỉ tính khoảng $10 một đêm để ở lại nhưng không có dịch vụ 24 tiếng chăm sóc như tại Hoa Kỳ. Hiện nay, khoảng 50% các nhà thương đều bị thiếu hụt tiền thu vào.

Một trong những tính chất đặc biệt của nước Nhật giúp cho việc thực thi y tế toàn dân thành công là đất nước Nhật được xem như một sắc tộc không như tại Hoa kỳ là đa sắc tộc. Bên cạnh đó, chính quyền Nhật từ hơn 50 năm qua đều do một đảng cầm quyền nên không có chính trị đối lập như tại Hoa Kỳ với tính cách lưỡng đảng. Dĩ nhiên, mỗi một đất nước có ưu điểm và khuyết điểm để thực thi chính sách theo nhu cầu của toàn dân. Người Hoa Kỳ có câu “cỏ nhà hàng xóm thường xanh hơn cỏ nhà mình”, ý nói nhìn xem hoàn cảnh của người khác thì thấy tốt đẹp hơn của mình nhưng có thực hiện được không thì phải xem lại.

(Trích các tài liệu của McKinsey & Co, WashingtonPost, NPR)

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

TT. Thích Viên Định Không Cô Đơn
Vào Mùa Vu Lan 2006, TT. Thích Viên Định –Phó Viện Trưởng kiêm Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GH/PGVNTN) đã đưa ra một bài viết thật xúc động lòng người khi nói về cái chết oan khuất của Thượng Tọa Thích Thiện Minh (nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Xã Hội của GH/PGVNTN trước 1975) và những hành vi tra tấn dã man của công an đối với những vị sư bị vu oan trong vụ đánh cắp đồ cổ ở Bắc Giang.

Nay cũng đúng vào Mùa Vu Lan 2009, Thượng Tọa lại viết một bài nhan đề Điên Đảo trong đó phân tích rõ “Ai là thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền ” bởi vì hiện nay nhà cầm quyền CSVN thường dùng câu này (tạm dùng danh từ trong nước là cụm từ này) để bắt giữ, bỏ tù tất các các nhà đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, tự do tôn giáo và cả dân oan, thanh niêu/sinh viên yêu nước nữa. Dĩ nhiên, nhưng cũng cần phải nói ra cho rõ là TT. Thích Viên Định không hề lập Khối, lập Đảng, lập Nhóm hoặc lập một Diễn Đàn hoặc “cấu kết” các nhóm “phản động” ở hải ngọai mà Thượng Tọa chỉ đứng trên cương vị của một công dân, một tu sĩ thấy cảnh an nguy của đất nước, sự đau khổ của người dân mà nói.

Đã từ lâu lắm rồi, kể từ khi có hiến pháp ra đời cách đây hơn 200 năm, Hoa Kỳ đã điều hành quốc gia trên nguyên tắc “church and state separation” tức là giáo quyền và thế quyền tách biệt. Điều này có nghĩa là chính quyền (nhà nước) không được thiên vị hoặc bất công với một tôn giáo nào, không can dự vào chuyện của các giáo hội và ngược lại tôn giáo cũng không được chen lấn vào việc của chính quyền. Thế nhưng luật pháp Hoa Kỳ không cấm các tu sĩ hành xử quyền chính trị của một công dân. Do đó chúng ta thấy thỉnh thỏang các tu sĩ tham gia vào các diễn đàn công dân, xuống đường biểu tình chống phá thai , chống chiến tranh v.v… nhưng không được dùng nơi thờ phượng của mình là nơi xuất phát các chiến dịch chống phá chính quyền, lập đảng chính trị, kích động quần chúng v.v..Tôi nghĩ rằng đây cũng là nguyên tắc điều hành đất nước của cả thế giới văn minh tôn trọng dân chủ ngày nay.

Thế nhưng ở Việt Nam lại khác. Nhà cầm quyền CSVN luôn luôn dùng cụm từ “tôn giáo không được làm chính trị” để bịt miệng, không cho các tu sĩ được quyền hành xử quyền hạn của một công dân đã được long trọng ghi trong Điều 69 Chương V của Hiến Pháp 1992 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật.” Chính vì thế mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ - Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GH/PGVNTN đã phải minh định “Giáo Hội PG/VNTN và trong cương vị tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị.” (*) để chống lại lý luận sai trái nói trên.

Nguyên do nào khiến nhà cầm quyền CSVN làm vậy? Có rất nhiều nguyên do: Nào là độc tài đảng trị, tin theo một chủ nghĩa điên cuồng, quái gở và không tưởng v.v.. nhưng nguyên do chính, căn bệnh chính mà TT. Thích Viên Định đã giải phẫu là “Không do dân bầu, bất hợp pháp, nên nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn ở trong tình trạng bất an, lúc nào cũng cảm thấy có các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền.” (*) Sự chẩn bệnh này thật chính xác. Bất cứ một chính quyền độc tài nào cũng đều cảnh giác và sợ hãi người dân. Từ sợ hãi, cảnh giác nên phải có những biện pháp bịt miệng, bắt giữ, bỏ tù, thủ tiêu để giữ an tòan cho chế độ cho nên trở thành kẻ thù của người dân lúc nào không hay. Tức là từ nhận đinh sai trái mà tạo ra nghiệp chướng rồi nghiệp chướng lại tạo thêm nghiệp chướng.

Nhân bài viết này tôi cũng muốn thưa cùng quý ông trong Chính Trị Bộ đảng CSVN rằng quý ông mắc bệnh quáng gà rồi. Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, TT Thích Viên Định, TT. Thích Không Tánh, TT. Thích Thiện Minh, quý LM Nguyễn Văn Lý, LM Phan Văn Lợi, BS Nguyễn Đan Quế, Trần Khuê, TS Nguyễn Thanh Giang, BS Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Khắc Tòan, Lê Chí Quang, Nguyễn Phương Anh v.v.. và mới đây nhất là bốn nhà đấu tranh dân chủ bị quý vị bắt rồi buộc đọc bài nhận tội trước công an…tất cả những vị này không phải là thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền đâu. Mà họ là những người thật sự mong muốn đất nước này tiến lên. Họ quan tâm đến sự tòan vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc. Họ thật sự mong muốn người dân được sống trong một xã hội công bằng, nhân ái. Họ muốn dân tộc Việt Nam ngửng cao đầu trước thế giới. Họ là những người yêu nước. Xin dừng gọi họ là những kẻ phản động, xin dừng chĩa mũi dùi vào họ. Kẻ nào đã cướp đất, cướp biển, cướp đảo của Việt Nam , kẻ nào luôn nuôi tham vọng nô lệ hóa dân tộc Việt Nam ? Mà muốn nô lệ hóa dân tộc Việt Nam thì họ phải nô lệ hóa quý vị trước. Bởi vì khi chính quyền đã quỳ gối thì nước mất và tòan dân biến thành nô lệ. Xin quý vị nhìn vào gương Tây Tạng thì rõ. Xin qúy vị nhìn cho kỹ xem ai là thế lực thù địch của dân tộc trong lúc này. Nếu nhìn không rõ xin quý vị đọc đọan văn sau đây của TT. Thích Viên Định “Tòan dân, già trẻ, lớn bé ai cũng biết cái thế lực thù địch với Tổ Quốc và dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay chính là Bắc phương! Việt Nam đang bị Hán hóa! Họa mất nước đã bắt đầu!” (*)



Bàn luận về chuyện của đất nước nghĩa là bàn tới chính trị. Trong sách Đại Học của Khổng Tử, chính trị là Đạo Chính của người quân tử - là lo cái cuộc sống của muôn dân. Trong các quốc gia dân chủ - thảo luận, bàn cãi về chuyện của quốc gia là trách nhiệm và vinh dự của công dân. Nhưng trong chế độ cộng sản thì từ chết tới bị thương. Không biết rồi đây công an thành phố có cho mời Thượng Tọa lên để “làm việc” rồi sau đó bắt giữ luôn hay không? Rồi lại cái màn lục sóat chùa để tịch thu vài máy điện thọai di động, vài tài liệu lưu trữ (đã cũ mèm và phổ biến tùm lum trên Internet) …là bằng chứng cấu kết với “các thế lực thù nghịch, nói xấu chính quyền nhân dân” theo Điều 88 Luật Hình Sự. Rồi truyền hình nhà nước sẽ lại cho chiếu một màn nhận tội với công an (chứ không phải với tòa án) để xin khoan hồng? Dù công an có làm thế. Dù thế nào đi nữa thì việc làm của Thượng Tọa trời biết, đất biết, thế giới biết, hải ngọai biết, âm thầm trí thức và người dân trong nước biết và lịch sử sẽ ghi chép. Xin Thương Tọa vững tâm trong tinh thần Bi-Trí- Dũng. Thượng Tọa không cô đơn và không bao giờ cô đơn. Kính chúc Thượng Tọa thân tâm thường an lạc.

Đào Văn Bình
California ngày 10/9/09)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Chuyện Kinh Khủng Của Di Sản HCM:
Hiệu trưởng bán trinh học trò !

Mấy ngày nay, cả thị trấn Việt Lâm (huyện Vị Xuyên, Hà Giang) bàng hoàng trước thông tin có tới hàng chục em học sinh cấp 2 đã bị... chính hiệu trưởng trường mình đưa vào đường dây bán trinh. Sự việc kéo dài đã lâu và chỉ bị bại lộ bởi... một viên thuốc.
Ngày 7/9/2009, Công an huyện Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang) đã ra lệnh bắt tạm giam ông Sầm Đức Xương, Hiệu trưởng Trường THPT Việt Vinh (huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang) vì tội tham gia đường dây mua bán trinh trẻ vị thành niên. Theo nguồn tin ban đầu, ông Sầm Đức Xương đã tham gia đường dây mua dâm bán trẻ vị thành niên là các học sinh cấp 2, cấp 3, học trò của chính mình trong một thời gian khá dài.



Ngay sau khi nhận được đơn tố cáo, Công an huyện Vị Xuyên đã tiến hành xác minh vụ việc. Ngày 7/9, Công an tỉnh Hà Giang đã ra lệnh bắt tạm giam Hiệu trưởng Sầm Đức Xương tại nhà riêng (thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên).

Cũng trong ngày 7/9, ông Sầm Đức Xương đã bị kỷ luật khai trừ đảng tại trường THPT Việt Vinh (nơi ông Xương đang công tác).

Lộ mặt vì một... viên thuốc

Gia đình em N.T.K (học sinh lớp 8C, trường PTCS Thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên) là người đầu tiên dũng cảm đứng lên tố cáo hành vi con em mình bị hại.

Sau khi nhận được thông tin, phóng viên VietNamNet tìm đường tới nhà em học sinh bị hại.

Căn nhà cấp bốn của người bác ruột cháu K. nằm khuất nẻo sau con đường đất ngoằn ngoèo. Từ khi biết chuyện, bố mẹ K. đã dè chừng cảnh giác, tránh tiếp xúc với tất cả người lạ mặt. Ông Nguyễn Văn Hải, bác ruột cháu K. là người duy nhất trong gia đình tỉnh táo và cương quyết đứng lên viết đơn tố cáo vụ việc đứa cháu ruột mình bị hại.

Em trai tôi nghi ngờ, đó là thuốc kích dục hoặc thuốc tránh thai, nên bảo mẹ cháu mang ra hiệu thuốc (cạnh KM 26, Quốc lộ 2) để hỏi. Chủ hiệu thuốc cho biết, đấy là thuốc tránh thai khẩn cấp. Đến lúc ấy, nhà tôi (vợ ông Hải – PV) và mẹ cháu K. mới kéo cháu ra một góc, tỉ tê hỏi chuyện, cháu mới nói ra sự thật. Đau đớn và xót xa quá...” - ông Hải tâm sự.
Image
Một phụ huynh có con bị cưỡng bức đang xót xa kể lại sự việc. Ảnh: K.T
“Hôm đó là thứ 4, ngày 26/8, cháu K. về nhà với vẻ mệt mỏi, thất thần khác với mọi ngày. Em trai tôi (bố cháu K.) gặng hỏi, nhưng cháu im lặng không nói gì. Một lúc sau, mẹ của cháu thấy trong cặp cháu có một vỉ thuốc còn sót lại một viên, một viên đã bị bóc ra. Gặng hỏi mãi, cháu K. mới nói đó là thuốc của một chị đưa cho dặn về nhà uống và đã bóc ra uống một viên.


Theo cung cấp của ông Hải với VietNamNet, chiều 26/8, sau khi tan học, cháu K được một bạn học cùng trường tên T. (học trên một lớp, cùng trường PTCS Thị trấn Việt Lâm) rủ: “Đi xem mặt người yêu với chị!”.

Sau đó, T. đưa cháu K. lên một chiếc xe hơi do một người khác đưa xuống khách sạn Tân Bình (huyện Bắc Quang). Tại đây, K. được đưa lên phòng 104. Trong lúc ngồi đợi, một trong số người này gọi điện cho một người đàn ông xuống phòng 106 rồi đẩy cháu K. vào đó...

Sau khi sự việc đã xảy ra, mấy người này đưa cho cháu K. hai viên thuốc dặn mang về uống, chia làm hai lần.

Sáng 27/8, cháu K. đi học về nhà đưa cho mẹ một mẩu giấy của một người bạn cùng lớp (tên N.) có nội dung: “Mẹ cậu có hỏi về chuyện ấy của chúng mình và về viên thuốc thì đừng nói gì nhé!”. Nét chữ học trò còn nguệch ngoạc, chưa thẳng dòng. Mẹ cháu tra hỏi, K. sợ hãi kể hết mọi chuyện. Cháu cho biết, cháu bị đe doạ, nếu tiết lộ sẽ bị đánh.

Đau đớn và xót xa, sau nhiều ngày suy nghĩ, ngày 3/9, ông Hải đã thay mặt em mình viết đơn tố cáo gửi công an thị trấn Việt Lâm và báo cáo sự việc tới giáo viên chủ nhiệm của cháu K. (cô Mai Thị Hà) và ban giám hiệu trường.

Hai má mì tuổi học trò

Đêm phố núi ồn ào bởi tiếng mưa đêm. Thế nhưng, trong căn nhà cấp 4 của ông Hải, không khí như chùng xuống. Khuôn mặt đăm chiêu và đen sạm sau bao ngày mất ngủ, ông Hải ngồi trầm ngâm tư lự. Ông xót xa: “Cháu tôi mới 13 tuổi thôi...”.

Câu chuyện giữa đêm của chúng tôi chỉ có ông vợ chồng ông Hải, anh Lưu (bố cháu K.) và mấy người địa phương dẫn đường. Chị Hương (mẹ cháu K.) và K đang ở nhà, cách đó vài trăm mét.

K. là con lớn của vợ chồng anh chị Lưu - Hương. Hai vợ chồng trước làm công nhân ở nông trường, nay đã nghỉ, sớm tối cùi cụi với nương chè, nương ngô. Anh cho biết: “Cháu K. năm nay mới 13 tuổi, nó sinh năm 1996, vừa mới bước vào năm học mới được chưa đầy tuần lễ. So với chúng bạn, cháu lớn hơn hẳn về ngoại hình (cháu đã cao tới 1m60), nhưng nhận thức chậm hơn. Chính vì thế, cháu mới ngờ nghệch không biết đấy là viên thuốc gì và mới để mẹ cháu biết. Chứ nếu cháu khôn ngoan, giấu nhẹm đi thì có lẽ, chúng tôi cũng không biết được...”.

Sau ngày viết đơn tố cáo lên ban giám hiệu nhà trường, buổi trưa ngày hôm sau (4/9/2009), đã quá giờ tan trường mà chưa thấy con về, anh chị Hải lo lắng lên trường tìm con. Tới nơi, anh chị thấy cháu K. cùng các cháu khác (cháu N., cháu T., cháu H.) đang ngồi viết bản tường trình...

3 hôm sau (ngày 7/9), ông Hiệu trưởng trường THPT Việt Vinh (huyện Bắc Quang) Sầm Đức Xương đã bị Công an huyện Vị Xuyên ra lệnh bắt tạm giam. Được biết, khi nhà trường (trường PTCS Thị trấn Việt Lâm) yêu cầu viết bản tường trình, các cháu mới khai ra người đàn ông đã hãm hại các cháu là một thầy giáo có tên... Sầm Đức Xương!

Trong lá đơn viết tay trên tờ giấy học sinh và trong quá trình cung cấp, trao đổi thông tin với VietNamNet, gia đình em K. khẳng định đã gửi viên thuốc còn lại và mẩu giấy viết tay (do người bạn tên N đã viết cho cháu K. hôm 27/9) cho Công an huyện Vị Xuyên làm tang chứng.

Sau lá đơn tố cáo của gia đình cháu K., gia đình cháu N. (cùng học lớp 8C với K, người viết mẩu giấy trên cho K.) cũng đã làm đơn tố cáo việc con em mình bị xâm hại. Vụ việc vỡ lở, cả thị trấn Việt Lâm (huyện Vị Xuyên) bàng hoàng và phẫn nộ, bởi theo thông tin ban đầu, hàng chục học sinh cấp 2 đã trở thành nạn nhân của người thầy vô luân.

Trước khi Sầm Đức Xương bị Công an huyện Vị Xuyên bắt giữ, hai học sinh có tên Nguyễn Thị Thuý và Hằng (vừa tốt nghiệp cấp 3 vào tháng 6/2009, trường THPT Việt Lâm, huyện Vị Xuyên) đã bị bắt.

Theo lời khai trong bản tường trình của các học sinh cấp 2 trường THCS thị trấn Việt Lâm, hai học sinh này đã rủ rê, đưa các em lên xe ô tô tới nhà nghỉ rồi đẩy các em vào phòng có người đàn ông lạ mặt đã chờ sẵn. Ông Sầm Đức Xương chỉ bị bắt khi hai em Thuý và Hằng khai nhận tại Công an huyện Vị Xuyên về danh tính “người đàn ông lạ mặt”.

Cũng qua bản tường trình và lời khai của các em học sinh nói trên, hàng chục em học sinh cấp 2 trường THCS Thị trấn Việt Lâm - những nạn nhân của một đường dây mua - bán, cưỡng hiếp trinh trẻ vị thành niên bắt đầu hé lộ...
Bạo Quyền CSVN Bao Biện: "Trường hợp xảy ra ở Hà Giang nhưng đừng khái quát là cả ngành như thế. Người có tội lỗi thì phải xử cho đúng. Công an không bắt thì lương tâm của ngành cũng bắt", Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho biết như vậy sau khi nhận được thông tin về vụ một hiệu trưởng bán trinh học trò tại Hà Giang được VietNamNet phản ánh.

Hiệu trưởng Trường THPT Việt Vinh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã đang tâm đưa hàng chục em học sinh cấp 2 của trường mình vào đường dây bán trinh. Sự việc kéo dài đã lâu và ngày 7/9/2009, Công an huyện Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang) đã ra lệnh bắt tạm giam ông hiệu trưởng Sầm Đức Xương.
Image
Ngôi trường nơi có hàng chục nữ sinh bị cưỡng bức. Ảnh: K.T

Ngay trong ngày 7/9, ông Sầm Đức Xương cũng đã bị kỷ luật khai trừ đảng tại Trường THPT Việt Vinh.


Chánh văn phòng Bộ GD-ĐT Trần Quang Quý cho biết, đây là việc đáng tiếc của một người thầy giáo đã làm tổn thương đến ngành. Hiện nay, công an đã vào cuộc và ông Xương sẽ bị xử lý theo đúng pháp luật.

Đồng thời, theo ông Quý, Bộ đã yêu cầu Sở GD-ĐT Hà Giang gửi ngay một văn bản nhắc nhở toàn ngành thực hiện việc nâng cao đạo đức nhà giáo, quát triệt mạnh mẽ đến từng thầy cô giáo. Sở GD-ĐT Hà Giang cũng đã đình chỉ công tác của ông Xương và tạm thời để một hiệu phó lên điều hành hoạt động của nhà trường.

Đối với nhà trường, cần nhanh chóng ổn định tổ chức dạy và học. Kết hợp với các ban ngành đoàn thể động viên những học sinh, dù tổn thất nặng nề về tinh thần, nhưng cố gắng tiếp tục học tập.

Đây là trường hợp cá biệt nhưng cũng là bài học cho toàn ngành giáo dục. Trước khi vào năm học mới, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã có nhắc nhở trong Chỉ thị năm học về việc thực hiện đạo đức nhà giáo và đến nay việc xảy ra với một hiệu trưởng là điều đau xót của ngành, ông Quý nói.

Bảo Anh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Kinh tế Mỹ chưa thật sáng sủa

Ngô Nhân Dụng

Tháng trước, mục này đã trình bày những tia hy vọng về sự phục hồi của kinh tế Hoa Kỳ, với một điều dè dặt: Thất nghiệp sẽ còn lên cho tới đầu năm 2010. Các số thống kê của Sở Kiểm Tra Dân Số (US Census Bureau) trong tuần này cho thấy mối lo đó vẫn còn nguyên.

Cơn suy thoái kinh tế đã tác động nặng nề trên đời sống dân Mỹ: Lợi tức các gia đình trung lưu giảm sút, số người mất bảo hiểm y tế tăng lên và số người bị xếp vào loại “nghèo” cao hơn. Nhiều người chịu ảnh hưởng vì kinh tế suy yếu hơn người khác; đặc biệt là giới trẻ ở miền Nam California là lớp người kém may mắn nhất vì nhà cửa của họ xuống giá và luật lệ khiến họ phải đóng thuế nhà đất cao hơn các cụ già!

Trước hết là dân Mỹ trung bình kiếm được ít tiền hơn. Mức lợi tức đứng giữa (median, trung số) của dân Mỹ hiện nay là 50,303 đô la mỗi gia đình trong một năm. Có 50% dân Mỹ ở trên và 50% ở dưới mức lợi tức đứng giữa này. Nhìn số 50 ngàn nghĩ là cao, nhưng mức lợi tức trung số này đã giảm bớt 3.6% so với năm trước, và đây là tỷ lệ giảm sút nặng nề nhất trong 40 năm qua. Khi trừ đi hậu quả của lạm phát làm giá trị của đồng đô la giảm bớt, thì lợi tức mức giữa của người Mỹ hiện nay thấp nhất kể từ năm 1997. Nói chung, các gia đình trung lưu Mỹ đã tụt lùi 10 năm, trở về lợi tức cũ.

Số tiền kiếm được của dân Mỹ không giảm đồng đều. Mầu da khác nhau, phụ nữ thiệt thòi hơn nam giới, và tuổi trẻ bị thua tuổi già.

Lợi tức xuống nặng nhất là những người thuộc gốc Tây Ban Nha (Hispanics), nặng hạng nhì là người gốc Á Châu. Người Hispanics thấy lợi tức năm 2008 giảm bớt 5.6% so với năm trước, còn người gốc Á Châu bị mất 4.4%. Trong khi đó người da trắng cũng bị giảm 2.6% và người gốc Phi Châu giảm 2.8%. Khi kinh tế xuống thì những người làm các dịch vụ, những việc vặt, việc phụ bị mất việc trước, đặc biệt là trong các ngành dịch vụ như tiệm ăn, tô móng tay và làm đẹp, lau nhà, cắt cỏ, vân vân. Phần lớn đó là người gốc Á Châu và La tinh.

Lợi tức trung số của đàn ông làm việc toàn thời gian bị giảm 1%, xuống 46,367 đô la; còn phụ nữ mất gần gấp đôi, giảm 1.9% xuống 35,745 đô la. Chỉ có một nhóm người thấy lợi tức tăng thêm là quý vị trên 65 tuổi, tăng được 1.2%. Các tiểu bang cũng chịu ảnh hưởng khác nhau. Lợi tức các gia đình xuống tệ nhất là ở vùng công nghiệp West Virginia, giảm hơn 13%. Những tiểu bang New Mexico, Goegia, Minnesota bị giảm từ 8.5% đến 9%; còn California may mắn hơn chỉ giảm 1.5%.

Một hiện tượng đáng chú ý là kể từ khi kinh tế suy thoái vào cuối năm 2007 thì tình trạng chênh lệch giầu nghèo ở Mỹ vẫn thế. Bình thường khi kinh tế xuống thì khoảng cách chênh lệch giầu nghèo cũng bớt, nhưng trong năm qua điều đó không xẩy ra. Cán cân lợi tức đã nghiêng về phía những người giầu từ năm 2001, đến khi kinh tế suy thoái vẫn không đổi. Một phần năm các gia đình khá giả nhất chiếm một nửa số lợi tức cả nước trong năm 2008; và 21.5% tổng số lợi tức được trả cho 5% dân Mỹ, những người lợi tức cao nhất. Ðây là điều đáng ngạc nhiên vì trong năm 2007 số 5% giầu nhất đó chỉ chiếm 21.2% tổng số lợi tức mà thôi.

Khi kinh tế phồn thịnh, người lao động có cơ hội thăng tiến vì khi có nhiều công việc làm thì mỗi người có thể chạy đi làm 2 hoặc 3 việc, tăng lợi tức và mức sống gia đình. Nhưng từ khi kinh tế xuống, số việc làm giảm bớt thì kiếm ra việc cũng khó, vì vậy nhiều gia đình lao động rơi trở lại cảnh nghèo.

Số gia đình Mỹ được xếp vào tình trạng “nghèo khó” đã tăng 13.2% trong năm qua, tỷ lệ tăng cao nhất kể từ năm 1997. Ở Mỹ, được xếp vào loại nghèo (poverty) nếu một gia đình 4 người có lợi tức từ 22,000 đô la một năm trở xuống. Trong năm 2008 nước Mỹ đã có thêm 2.6 triệu người rơi vào loại “nghèo”. Phần lớn những người “mới nghèo” đó là dân lao động mất việc, không phải đã về hưu hoặc sống nhờ trợ cấp xã hội. Trong lớp tuổi từ 18 đến 64 có 11.7% được xếp loại “nghèo” so với tỷ lệ 10.9% năm 2007. Nhưng tỷ lệ nghèo gia tăng nhiều nhất trong lớp trẻ em, tăng từ 18% lên 19%. Ở thành phố New York số người lãnh phiếu mua thực phẩm (food stamps) đã tăng 22% lên 1.6 triệu người. Số người “rất nghèo” (tức là lợi tức chỉ bằng 11,000 đô la một năm cho gia đình 4 người hoặc thấp hơn) đã tăng thêm một triệu rưỡi, lên 17 triệu người Mỹ.

Vì nhiều người mất việc làm cho nên cũng mất bảo hiểm y tế, trong năm 2008 có thêm 700,000 người Mỹ mất bảo hiểm y tế so với năm 2007. Tuy nhiên tỷ lệ những người không có bảo hiểm y tế không tăng vì trong cùng thời gian đó nhiều người khác đủ điều kiện tham gia các chương trình y tế của chính phủ như Medicaid, MediCal.

Một đặc điểm của tiểu bang California là ảnh hưởng của kinh tế suy thoái đè nặng trên những người trẻ; theo một cuộc nghiên cứu của mấy giáo sư Ðại học Nam California (USC). Trong khi trị giá ngôi nhà họ mua gần đây đã sụt giảm thì số thuế nhà họ phải đóng lại cao hơn số trung bình. Một lý do là luật thuế khóa do Ðề án số 13 (Proposition 13) từ năm 1978 tính thuế dựa trên giá mua nhà, khiến những người mới mua nhà phải chịu thuế quá cao so với những người đã mua nhà trước đây 5, 7 năm. Giới trẻ ở lớp tuổi 30, 40 và những người mới mua nhà ở California phải đóng thuế thổ trạch có khi gấp 10 lần, 20 lần người hàng xóm già đã mua nhà nhiều thập niên trước.

Bài nghiên cứu tại Ðại học USC nhận xét trong năm 2007 những người lớn tuổi mua nhà từ trước năm 1978 chỉ trả trung bình 1,571 đô la thuế một năm, thấp hơn số trung bình toàn quốc là 1,994 đô la. Trong khi đó giá trị ngôi nhà họ ở tăng lên thành gần 590,000 đô la, so với trị giá 240,000 trung bình khắp nước Mỹ. Những cư dân cố cựu được hưởng như vậy, còn những người mới mua nhà gần đây thì ngôi nhà họ ở có thể mất đến 40% giá trị trong kỳ kinh tế suy thoái hiện nay. Có thể nói những người từ 35 đến 45 tuổi đang đóng thuế để những người 55 đến 65 tuổi được thụ hưởng những tiện ích do đồng thuế đóng góp mang lại cho dân tiểu bang.

Mặc dù Ðề án 13 khiến giới trẻ và những cư dân mới chịu thiệt thòi như vậy, nhưng số người được lợi nhờ đóng thuế nhà thấp do đề án đó mang lại sẽ không bao giờ chấp nhận ý kiến bãi bỏ các điều khoản gây bất công trong đó (Ðể minh bạch với quý vị độc giả, xin khai người viết bài này cũng được hưởng thuế nhà tương đối thấp chỉ bằng nửa nhà hàng xóm, nhờ có Ðề án số 13). Trong tình trạng kinh tế suy thoái, tình trạng bất công về thuế khóa cảng nổi bật lên, nhất là khi thị trường địa ốc xuống dốc.

Cơn suy thoái kinh tế ở Mỹ từ năm 2007 bắt nguồn từ cơn khủng hoảng trong thị trường cho vay mua nhà. Hiện nay tình trạng giá nhà thấp vẫn chưa có hy vọng qua khỏi trong tương lai gần, khiến cho ít người tin tưởng là giá nhà sắp có cơ hội đi lên. Một dấu hiệu đáng lo ngại nhất là thị trường nhân dụng còn ngưng trệ. Ðây là đám may đen trên bầu trời kinh tế Mỹ chưa cho các tia sáng lạc quan xuất hiện. Hiện nay nước Mỹ có gần 15 triệu người “thất nghiệp” tức là đang tìm việc làm mà chưa có, chưa kể nhiều người khác ngưng tìm việc thì không nằm trong số thống kê. Tỷ lệ thất nghiệp 9.7% chắc sẽ tăng tới 10% từ nay đến năm 2010, vì số việc làm mới rất hiếm.

Theo thống kê của Bộ Lao Ðộng Mỹ thì Tháng Bẩy vừa qua cả nước Mỹ chỉ có 2.4 triệu công việc mở ra để tuyển người (job openings). Ðây là con số thấp nhất kể từ năm 2000. So với lúc cực thịnh vào giữa năm 2007, có tới 4.8 triệu công việc tìm người làm thì thị trường nhân dụng đã giảm một nửa. Theo cuốn sách báo cáo kinh tế của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, gồm 12 chi nhánh ngân hàng trung ương Mỹ thì thị trường nhân dụng còn rất yếu.

Nhật báo Wall Street tham khảo ý kiến ban giám đốc các công ty, xí nghiệp và thấy mọi người đều dè dặt, chờ khi nào tình trạng kinh tế thực sự sáng sủa mới bắt đầu tuyển nhân viên mới. Trong khi chờ đợi, dù số thương vụ có tăng họ cũng chỉ yêu cầu các nhân viên cũ làm nhiều hơn hoặc thêm giờ phụ trội. Một hậu quả là “sản năng lao động” của người Mỹ làm việc đã tăng rất cao trong quý thứ nhì năm nay, nghĩa là cũng một giờ trả lương mà nhân viên Mỹ làm việc giỏi hơn trước! Sản năng đã tăng 6.6% một năm, tỷ lệ cao nhất trong 6 năm qua. Bình thường, khi kinh tế xuống thế nào năng suất lao động cũng tăng, vì không có cách nào khác!

Theo nhật báo Wall Street, điều khiến các nhà nghiên cứu kinh tế lo ngại là thị trường nhân dụng yếu sẽ ảnh hưởng xấu đến số tiền dân chúng tiêu pha, mà đó là 2 phần 3 tổng cộng của cả nền kinh tế Mỹ. Trong quý thứ ba năm nay số tiêu thụ đã tăng 2% so với cùng thời gian trước, nhưng con số đó không biết có giữ vững được không. Các công ty nghiên cứu tiên đoán rằng quý thứ tư số tiêu sẽ yếu hơn, sau khi các biện pháp trợ cấp để mua xe hơi chấm dứt và thị trường địa ốc chưa phấn khởi được. Vì vậy, trong năm 2009 Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Mỹ sẽ thay đổi với một tỷ lệ số âm: trừ 2.5%, không đến nỗi quá nặng nhưng vẫn đi xuống.

Ðã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm hay chưa? Có tia sáng le lói nhờ chương trình kích thích kinh tế của chính phủ; và số tiền gần 800 tỷ đó sẽ giữ cho tia sáng đó còn le lói trong ít nhất một năm nữa. Nhưng muốn ra khỏi con đường hầm kinh tế suy thoái thì chưa biết còn phải chờ bao lâu. Ngày hôm qua một bài nghiên cứu của Ðại học Chicago mới công bố cho biết chỉ số niềm tin của giới tiêu thụ đã tăng lên thành 70.2 điểm trong Tháng Chín, cao hơn số 65.7 trong Tháng Tám. Chỉ số tiên đoán kinh tế của đại học này cũng tăng thêm. Sang năm 2010, nhiều nhà kinh tế tiên đoán tổng sản lượng sẽ tăng được khoảng 2.7%. Nếu được như vậy là đáng mừng lắm rồi!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Thượng nghị sĩ Úc Gary Humphries
tỏ thái độ với VC Nông Đức Mạnh: đeo cà vạt hình cờ vàng ba sọc đỏ


Image
Canberra - Tin từ Úc cho hay một thượng nghị sĩ đảng Tự Do là ông Gary Humphries đã hứa là ông sẽ đeo cà vạt có hình cờ vàng ba sọc đỏ như một biểu tượng của sự phản kháng đối với tình trạng phi nhân quyền và tự do tôn giáo tại VN khi ông tham dự yến tiệc tại tòa nhà quốc hội do thủ tướng Úc Kevin Rudd dành khoản đãi bí thư VC là Nông Đức Mạnh vào tối thứ Hai. Ông tuyên bố :”Cuộc viếng thăm của một tổng bí thư đảng CSVN là một cơ hội rất tốt cho chính phủ Úc bày tỏ quan điểm của mình với chính phủ VN. Và những sự việc như không cung cấp những tổ chức sinh hoạt dân chủ, không trả tự do cho các nhà đối kháng, không cho giáo hội Phật Giáo VN hoạt động là những chuyện không thể chấp nhận được “.
Được biết ông Gary Humphries cũng là một viên chức chính phủ đã có cơ hội đến “tiếp đón” Nông Đức Mạnh tại sân bay của căn cứ RAAF Fairbairn hôm Chủ Nhật. Ông kể lại cuộc “tiếp đón” thú vị này như sau:”Tôi đã gặp ông tổng bí thư này khi ông ta vừa bước xuống máy bay. Phải nói rằng ông rất chú ý đến chiếc cà vạt tôi đeo lúc ấy, y như chiếc cà vạt tôi đang đeo bây giờ đây này (cờ vàng ba sọc đỏ). Ông ta nhìn chiếc cà vạt, rồi nhìn tôi. Tôi nghĩ ông ta có vẻ ngờ vực về chiếc cà vạt này”.
Ông Humphries cũng nói ông tin tưởng rằng VN một trong số ít những chế độ CS còn sót lại sẽ phải có ngày trở thành 1 quốc gia dân chủ mà thôi. Đứng nói chuyện với khỏang 200 người tụ tập trong cơn mưa trước tiền đình quốc hội, ông nói :” Thưa quý ông bà, tôi rất tin tưởng rằng tiến trình này sẽ dẫn đến sự hủy diệt của chế độ (CS) tại VN”

http://www.thegioinguoiviet.net/showthr ... #post21994
***

Senator to protest Vietnamese visit

STEPHEN JOHNSON

September 7, 2009 - 3:09PM

A Liberal senator has promised to wear a south Vietnamese freedom tie in parliament in protest at a communist party official’s visit to Australia.
Prime Minister Kevin Rudd will host an official dinner at Parliament House on Monday night, which includes the general secretary of the central committee of the Communist Party of Vietnam, Nong Duc Manh.
Addressing a rally of about 200 people in the rain outside Parliament House, Senator Gary Humphries promised to wear a yellow south Vietnamese freedom tie in parliament on Monday.
The former ACT chief minister said Australia needed to protest at Vietnam’s lack of democratic and religious freedoms.
“The arrival of the general secretary of the Communist Party of Vietnam is a very important opportunity for the Australian government to make a very important point to the government of Vietnam,” he said.
“And that is its failure to provide democratic institutions to its people, its failure to free dissidents from its jails, its failure to provide freedom to the Buddhist church of Vietnam are all unacceptable.”
Senator Humphries was among the official party at the RAAF Fairbairn base in Canberra which met with Mr Nong on Sunday.
“And I met the general secretary when he got off his plane and I have to say he was very interested in the tie I was wearing, the same tie I’m wearing today.
“He looked at the tie and he looked at me. I think he was a bit dubious about my tie.”
Vietnamese Community of Australia federal president Phong Nguyen, who led the rally, said the Australian government had brought disrespect and shame by allowing a Vietnamese communist party official to visit.
“This house is a parliament of elected representatives yet our prime minister, our government, has lowered themselves to the level of giving a state visit to a person who is not elected, not represented ... by the people of Vietnam,” he said.
On more optimistic note, Senator Humphries said Vietnam, one of less than half a dozen communist nations, would one day become a democracy.
“I’m very confident ladies and gentlemen, very confident, that this process will one day lead to the destruction of this regime in Vietnam,” he said.
© 2009 AAP

http://news.theage.com.au/breaking-news ... -fdu8.html
***

Vietnamese official’s visit sparks protest in Australia

Linda Mottram, Canberra
Last Updated: 7 hours 46 minutes ago

A small group of demonstrators have protested outside the Australian Parliament against the visit of Vietnam’s Communist Party chief, Nong Duc Manh.
Senior Australian ministers are holding talks with their Vietnamese counterparts in the capital Canberra.
Protesters say the presence of Vietnam’s Communist Party General Secretary as delegation leader is unacceptable.
The President of Australia’s Vietnamese community, Phong Nguyen, says dialogue between the two governments should not happen through a party leader.
“They are not government. They are not representing. They have never been voted in by the people of Vietnam,” he said.
The demonstrators also condemned alleged human rights violations in Vietnam.
Protestors called on Australian MPs to boycott an official dinner for the delegation, which includes Vietnam’s ministers for foreign affairs, planning and investment.

http://www.radioaustralianews.net.au/st ... tm?desktop

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ðiều kiện tạo tín nghĩa

Ngô Nhân Dụng

Trong bài trước, mục này đã nhắc đến một “phép lạ xã hội” ở mấy nước Á Ðông theo truyền thống Khổng Giáo, trong mắt nhìn của một ký giả Mỹ. Khi kinh tế suy yếu, không có cảnh tội phạm tăng và gia đình tan vỡ trong các xã hội đó, như thường xảy ra ở nhiều nước phương Tây. Nhưng đối với người dân các nước Á Ðông này thì họ sống phép lạ đó hàng ngày. Họ sống thuận thảo với nhau vì chia sẻ những niềm tin vào các quy tắc đạo lý, như tin rằng ai cũng tôn trọng tín nghĩa, tất cả đã “ký một hợp đồng chung sống” như vậy.

Trong xã hội nào mọi người cũng sống với những hợp đồng ngầm hiểu. Những người lái xe trên xa lộ ở Mỹ bắt buộc phải tin rằng hơn 99% những người lái xe khác đều tôn trọng luật đi đường. Nếu không thì cả hệ thống xa lộ thành rừng rú! Sống trong xã hội Á Ðông với truyền tống Nho Giáo cũng có những hợp đồng hiểu ngầm dài hạn loại đó. Ra đường gặp ai là có thể tin đến 99% rằng người đó cũng được cha mẹ dạy các quy tắc Lễ Nghĩa Liêm Sỉ giống như mình. Căn bản của lối sống có Tín Nghĩa là lòng kính trọng người khác, quan tâm đến sự an vui của họ, lo giữ mối liên hệ với người khác được thuận thảo. Tại sao các nước Á Ðông giữ được những bản hợp đồng Tín Nghĩa suốt đời này sang đời khác? Nói theo lối kinh tế học thì lý do là không ai muốn phá vỡ bản hợp đồng tín nghĩa vì nếu nó bị phá bỏ đi chính mình sẽ bị thiệt thòi, đời sống mỗi người sẽ “tốn kém” hơn!

Sau khi nghe kể chuyện ở thành phố Tokyo, 26 triệu người và tại nhiều thị xã nhỏ ở Mỹ người ta có thể bỏ xe đạp ngoài đường mà không lo phải khóa, có độc giả đã viết thư nhắc nhở rằng hồi xưa ở nước ta cũng vậy. Một vị cho biết năm 1954 ở Sài Gòn ông đã sống như thế. Ðêm không khóa cửa, xe đạp dựng trước nhà cũng không khóa. Một vị độc giả khác kể chuyện năm 1959 ông dựng cái xe đạp ngoài bờ sông Sài Gòn đứng hóng mát; sau đó có một người rủ lên xe hơi đi uống bia. Ông đi tới 11 giờ khuya, trở lại Bến Bạch Ðằng thấy cái xe không khóa vẫn dựng đó không mất. Cái phép lạ xã hội mà nhà báo Mỹ thán phục, ngày xưa ở Việt Nam cũng xảy ra.Chắc lối sống của dân Sài Gòn hồi 1954, 59 cũng không khác gì đời sống ở Tokyo ngày nay. Nếu như dân ta giữ được nếp sống đó cho tới bây giờ thì cuộc sống mọi người chắc vui vẻ hơn, nhàn nhã hơn, và nghĩ đến tương lai con cháu cũng sẽ yên tâm hơn nhiều.

Làm sao để xã hội giữ được những quy tắc sống có Tín Nghĩa? Làm cách nào mọi người nhìn thấy nhau là hãy tin cậy trước khi nghi ngờ, nghe ai nói gì thì trước hết hãy coi đó là lời nói thật? Chúng ta có thể thiết lập lại bản hợp đồng xã hội lấy Tín Nghĩa làm tiêu chuẩn sống?

Có lẽ chúng ta sẽ tránh không lên giọng hô hào phục hồi môn đạo đức trong trường học, dù đó là một việc bắt buộc phải làm. Vì dạy thêm một số quy tắc đạo đức cho trẻ em mà khi ra ngoài xã hội các em thấy mọi người (có khi cả cha mẹ các em) không sống theo các quy tắc đạo đức, thì cũng không ích lợi lắm. Hô hào trên báo, đài cả ngày cũng chưa chắc có hiệu quả.

Nên tìm ra những giải pháp thực tế. Mà khi nói đến chuyện thực tế thì có một cách là tính toán theo lối kinh tế học. Theo lối nhìn kinh tế học thì phương cách tốt nhất để một người khác có thể tin mình là làm sao người ta thấy nếu mình không làm đúng lời mình nói, đúng lời hứa hẹn, thì sẽ bị thiệt hại rất lớn. Tức là có hai con đường: Giữ lời hứa có thể bị thiệt, nhưng còn có thể không bị thiệt. Ngược lại, nếu không giữ lời thì sẽ bị thiệt hại rất nhiều, với xác suất 100%! Nếu mọi người trong một xã hội đều thấy như vậy thì hầu hết, nếu không nói là tất cả, sẽ cố giữ Tín Nghĩa, và xã hội sẽ thay đổi.

Quy tắc này đã được sử dụng trong đời sống: Khi chúng ta đi vay nợ, ngân hàng yêu cầu phải có vật cầm thế “làm tin.” Nếu mình không trả nợ, sẽ mất mát nhiều hơn! Vua nước Tần muốn nước Triệu tin lời giao ước của mình thì cho một hoàng tử sang ở nước Triệu làm “con tin.” Hành động đó cũng không khác gì mình cầm thế cái nhà cho ngân hàng khi vay nợ.

Vua nước Triệu có thể lầm, nếu vua Tần thực lòng không coi tính mạng đứa con mình ra gì cả; hoặc ông ta sẵn sàng hy sinh con để mưu đồ một sự nghiệp lớn hơn. Tại sao vua Triệu có thể bị lừa? Vì trong vụ giao dịch giữa Tần và Triệu, không có những tiêu chuẩn định giá khách quan để xem giá trị tính mạng ông hoàng tử đối với vua Tần cao hay thấp. Bây giờ khác. Các ngân hàng thường tìm được giá thị trường của một ngôi nhà, họ chỉ cho vay khi giá trị đó cao hơn món nợ rất nhiều; cho nên ít khi họ lầm. Thị trường là nơi cung cấp những tin tức khách quan, khác với tình cha con của vua Tần mà chỉ ông ấy biết. Trừ khi chính các ngân hàng cũng làm bậy vì họ bỏ qua những quy tắc tín dụng! Chuyện đó mới xẩy ra ở Mỹ, không phải lỗi ở thị trường mà lỗi của ngân hàng.Trong cả hai trường hợp, đưa hoàng tử đi làm con tin hoặc cầm thế nhà để vay nợ, người ta đều thấy nếu một người không giữ đúng lời hứa thì hắn ta sẽ chịu một sự thiệt hại lớn, còn nếu giữ lời hứa thì sẽ đỡ hơn. Ðó là một cách bảo đảm người hứa hẹn sẽ giữ lời. Có một cách bảo đảm cho người ta phải giữ lời hứa trong xã hội bây giờ là ai không giữ lời sẽ bị ra tòa án. Tòa án là một định chế để trừng phạt những người không làm đúng hợp đồng. Nhưng đó phải là những hợp đồng công khai và minh bạch.

Dmitry Karamazov, nhân vật của Dostoievsky kể chuyện một viên trung tá trong quân đội Nga hoàng, có trách nhiệm quản trị ngân quỹ cả đơn vị lục quân. Sau mỗi lần thanh tra tài chánh đến khám sổ sách, đếm tiền, viên trung tá này lại đem một món tiền lớn trao cho Trifonov, một thương gia. Sau khi dùng tiền vốn này buôn bán, Trifonov sẽ đem trả lại vốn và lãi, cộng thêm những món quà hậu hĩnh. Cả hai cùng có lợi, mà ngân quỹ vẫn không bị mất đồng nào. Cho tới bữa viên sĩ quan tài chánh bị đổi đi. Ông ta đến Trifonov đòi lại 4,500 rúp trả vào quỹ. Nhà buôn này chối biến, “Tôi vay nợ ông đồng nào đâu, mà ông đâu có tiền, làm sao tôi vay tiền của ông được nhỉ?”

Dmitry Karamazov nhận xét rằng viên trung tá đã quá tin tưởng vào Trifonov. Niềm tin này dựa trên giả thiết là Trifonov phải giữ lời hứa, phải tôn trọng bản hợp đồng ngầm hiểu giữa hai bên, bản hợp đồng đó tạo ra một người thì tin và người kia thì được tin tưởng. Nhưng họ có ký kết một bản hợp đồng nào hay không? Nghĩa là người này có thể kiện người kia ra tòa nếu hắn không tôn trọng hợp công hay không? Trong trường hợp này rõ ràng là không. Không ai dám ký một bản hợp đồng viết rằng “Chúng tôi thỏa thuận cùng nhau rút bớt tiền viện trợ của Nhật Bản để cùng nhau đi cá độ bóng đá!”

Khả năng có thể ký hợp đồng mà bản hợp đồng có hiệu lực thi hành, đó là một nền tảng tạo ra lòng tin tưởng lẫn nhau. Cuối thời Chiến quốc và thời Tam quốc, việc thi hành hợp đồng là do người ta tự làm lấy. Vũ lực là cách họ quen dùng để thi hành các bản hợp đồng. Giống như các đảng Mafia bây giờ vẫn áp dụng. Vì họ không thể ký những hợp đồng cùng đi ắn cướp hoặc giết người. Theo lối mafia, ai không làm đúng hợp đồng thì cho một lưỡi đao!

Còn trong xã hội văn minh thì niềm tin giữa mọi người dựa trên pháp luật. Muốn người ta tin thì phải làm sao người ta thấy họ có thể kiện mình ra tòa, như Thomas Schelling từng diễn giải: Một người dễ được tin tưởng vì hắn có thể bị kiện! Ở các quốc gia Á Châu (ngoài Việt Nam và Trung Quốc), người dân bớt thói quen hối lộ quan chức chính vì người ta biết các quan chức cũng có thể bị kiện ra tòa. Các quan chức cũng biết họ có thể kiện ông thủ tướng, ông tổng thống ra tòa. Một người có thể bị kiện ra tòa thì dễ được người khác tin tưởng hơn. Nếu tất cả đều phải sống theo quy tắc đó thì chúng ta có thể tạo nên niềm tin cho cả nước. Thí dụ, niềm tin vào guồng máy công chức trong sạch.

Một xã hội sống trong Tín Nghĩa thì chắc chắn phải coi chuyện tham nhũng là chuyện bất thường. Những người hối lộ và ăn hối lộ đều “xé bản hợp đồng” mà mọi người đã thỏa thuận ngầm với nhau. Cũng giống như nếu có người lái xe ra đường mà bất chấp luật lệ. Nếu nhiều người cứ ngang nhiên lái như thế mãi thì coi như cả thành phố hay cả nước không có luật lái xe. Bản hợp đồng bị xé, mạnh ai nấy sống. Nạn tham nhũng là thứ làm tiêu hao đạo lý của một xã hội rất tai hại, chưa kể những thiệt hại vì kinh tế không tiến được đúng mức. Vì khi bản hợp đồng đạo lý của xã hội bị xé rồi, rất khó tái lập. Phá nó rất dễ, xây dựng thì rất khó.

Những người cầm quyền ở Nhật Bản, Nam Hàn hay Ðài Loan đều hứa hẹn với dân chúng là họ không chấp nhận cho quan lại tham nhũng. Các quan chức nước họ cũng đều hứa hẹn với cấp trên như thế. Bất cứ chính quyền nào cũng có thể đều hứa hẹn như vậy, nhưng làm sao cho dân tin?

Một yếu tố giúp cho nạn tham nhũng ở các nước này giảm bớt là vì người ta biết có những tòa án xử tội người tham nhũng rất nặng. Trước khi xé bản hợp đồng với xã hội mà ăn hối lộ, nếu biết trước là mình có thể bị thiệt hại rất nặng nếu bị bắt, thì thế nào người ta cũng ngần ngại không đòi đút lót nữa. Xác suất bị bắt càng lớn thì càng bớt tham nhũng. Ở Mỹ khó lòng hối lộ một cảnh sát viên, vì lương một anh cảnh sát mới ở Los Angeles, chỉ cần tốt nghiệp trung học, cũng trên 50,000 đô la một năm, bảo hiểm y tế tốt, hưu bổng đầy đủ. Nếu bị ra tòa rồi mất công việc đó thì sẽ thiệt hại vô cùng. Và nhờ báo chí được tự do, những việc tham nhũng, hối lộ rất dễ bị khui ra, xác suất bị truy tố rất cao. Nếu một hệ thống để cho xác suất bị bắt thấp, mà sự trừng phạt cũng nhẹ, thì chắc chắn sẽ sinh ra tham nhũng, hối lộ.

Làm sao để cho xác suất tội tham nhũng bị khui ra càng cao càng tốt, đó là một cách giảm bớt tham nhũng. Muốn vậy thì ngoài guồng máy tư pháp chính thức, cần phải có nhiều bộ máy tư nhân tham dự việc tố giác tội tham nhũng. Xã hội công dân càng phát triển thì càng nhiều người để làm công việc đó. Có nhiều người sẵn sàng làm công việc đó, vì có lợi cho họ. Ðó là các nhà báo. Ai điều tra ra những vụ tham nhũng và loan tin sẽ được nhiều người đọc, nhiều người kính trọng. Chính họ sẽ tự nguyện đi tìm ra những tin tức đó.Cho nên có hai điều kiện để xã hội sống có tín nghĩa hơn: Báo chí tự do và hệ thống tư pháp nghiêm minh. Ðó là những bảo đảm cho guồng máy hành chánh trong sạch hơn. Chính áp lực tinh thần của xã hội chung quanh là yếu tố tối cần thiết giúp nạn tham nhũng bớt đi. Khi mọi người cùng nghĩ rằng sống ngay thẳng, lương thiện là chuyện tự nhiên, ăn hối lộ, đút tiền là việc bất thường, thì phép lạ xã hội không còn là phép lạ nữa.

phuongduc151
Posts: 2
Joined: Wed Dec 10, 2008 6:10 am

Post by phuongduc151 »

Ma Quân Là Gì ?
Ai Là Ma Tăng ?



Ma, theo ngôn ngữ nhà Phật, được bắt nguồn bằng từ tiếng Phạn: "Màra".

Tự Điển Minh Thông giải thích "Ma Ba Tuần, Ba Tuần Du, Ba Tỳ - Pàpiyàn, Màra Pàpìmàn - The evil one, the murderer who wants to kill all goodness"..

Ma Ba Tuần, Trung Hoa dịch là Ác giả là người ác, Sát giả là kẻ giết hại pháp thân huệ mạng của người thiện, kẻ lúc nào cũng theo phá những người thực hành điều lành, tu tập chánh pháp."

Đấy là định nghĩa Ma theo kinh điển.. Còn Ma ở cõi đời thường thì như thế nào đây?

Ở đời người ta thường hay nghĩ rằng Ma vốn chẳng phải là con người, mà là một loại chúng sinh có nhiều phép thuật mà con người bình thường không sao có được.

Có lẽ rằng con người vào thưở xa xưa tâm tính đơn thuần chơn chất cho nên khi nhắc đến Ma Quỷ thì người ta nghĩ ngay đến những chúng sinh hình thù quái dị gớm ghiếc, tóc tai bù xù, nanh xanh mỏ đỏ, đằng vân giá võ, độn thổ thăng thiên, ban ngày dưới ánh sáng mặt trời thì biến đâu không thấy nhưng ban đêm thì hiện nguyên hình bắt đầu đi hút máu ăn gan con người để sinh tồn.. Người ta ít tưởng tượng ra một chúng sinh mang vóc dáng con người, bề ngoài coi đạo mạo trang nghiêm mà thực chất lại là một loài ma quỷ. Ở vào thời đại văn minh nhân loại tiến bộ vượt bực như hiện nay, người ta lại càng không tin rằng cõi thế gian này có quỷ có ma.

Nhớ hồi còn nhỏ, hay nghe ông bà kể chuyện đời xưa, kể chuyện sấm giảng, nói rằng các bậc hiền thánh thường hay nói thế gian thời mạt pháp con người sống chung với ma quỷ, người thì ít mà ma quỷ thì nhiều, ma quỷ đi đầy đường phố, tác oai tác quái chẳng coi ai ra gì, nghe ông bà nói vậy ta cứ nghĩ đó là chuyện cổ tích hoang đường, không phải là chuyện của thời hiện đại phi thuyền đã lên tới hỏa tinh.

Ôi! Vậy mà! Cái chữ vậy mà đáng ghét. Nếu đúng như tự điển đã diễn dịch, và chỉ nói đến ý nghĩa, tính chất của sự kiện mà không xét đến hình thức thì ...than ôi, đây mới chính là thời điểm...ma quỷ lộng hành, không phải chỉ một hay hai trường hợp mà là ...vô số, vô số..

Chúng chức trọng quyền cao, chúng ăn ngon mặc đẹp, chúng cửa rộng nhà sang, chúng xa hoa phung phí. Chúng hèn mạt thối tha, Chúng vong ơn bội nghĩa, chúng quỷ quyệt gian manh, chúng ác ôn tàn bạo. Chúng độc ác bất nhân, chúng lọc lừa xảo trá. Chúng ngu dốt tối tăm, chúng tham lam ích kỷ, ..

Trên thì chúng khiếp nhược với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, lén lút dâng đất bán biển cho Tàu cộng, chúng vốn vô gia đình vô tổ quốc mà, nào ải Nam Quan, nào Thác Bản Giốc, từng nấm đất xương máu của tiền nhân, nào chúng có coi ra gì, chúng chỉ chăm chăm cho cái hầu bao và chiếc ghế quyền lực, chúng nhắm mắt bịt tai trước những tấm lòng yêu nước của con dân. Dưới thì chúng ăn cướp trắng trợn, ăn cướp từng tất đất của chính cả những người xưa kia đã thắt lưng buộc bụng bao che nuôi chúng, những má Năm, má Bẩy, để dành cho chúng từng viên thuốc từng tán đường, vậy hỏi không phải là vong ân bội nghĩa hay sao? Chúng nhai xương hút máu dân lành, ăn cướp của bất cứ thành phần nào trong xã hội, miễn không phải là anh em dòng họ của chúng, người dân cầm đơn đi khiếu kiện, đi từ Nam ra Bắc, có người khiếu kiện từ 20 năm, gõ cửa nào cũng họa hoằng lắm mới nghe được lời hứa từ bọn tay sai bộ hạ, hầu hết chỉ có bọn công an hùng hổ, hung bạo, ra tay đánh đập người dân tàn nhẫn, coi con dân như rác rưởi, con dân mất hết mọi thứ, không còn gì để mất nữa nên cái mạng cũng không cần, quá ức lòng, lột trần ra thách đố với bọn công an, bộ mặt nhà nước không biết phải dấu đi đâu cho hết nỗi nhục này, ông bà cô bác nào chưa tin thì mời về số 110 Cầu Giấy, Hà Nội, hoặc là mời vào đây http://www.youtube. com/watch? v=Nq_H0lBfdrk .

Chúng trâng tráo láo khoét trước ống kính quốc tế, cả thế giới ai cũng đều biết đất nước Việt Nam nhân quyền bị chà đạp tang thương, thế mà chúng mặt trơ trán bóng tuyên bố rằng Việt Nam không có chuyện vi phạm nhân quyền. Kể từ khi chủ nghĩa đỏ tràn lan từ Âu sang Á, hàng trăm triệu người đã bị chúng sát hại. Chúng tuyên truyền dối trá để kêu gọi người ta đi theo chúng, những ai hiền lành chất phát không thấy rõ âm mưu thâm độc của chúng bị chúng lừa gạt đều có một kết cuộc thảm thương, còn những ai biết rõ các nguy hiểm của cái chủ nghĩa mà chúng theo đuổi, không theo chúng hoặc tố giác chúng thì chúng sử dụng bạo lực áp bức, bắt bớ giết chóc.v.v... Chúng từng sát hại cầm tù không biết bao nhiêu chư vị tu sĩ chân chính, khả kính, cầm tù vì các ngài không theo chúng để trở thành một bọn ma tăng, ma linh mục, ma mục sư v.v.., chúng theo dõi, trù dập, bắt bớ, giam cầm các nhà hoạt động dân chủ tranh đấu cho cái quyền căn bản nhất của nhân loại là quyền làm người, chúng ủi sập chùa chiền miếu mạo, chúng lôi kéo con người từ bỏ các giá trị tâm linh truyền thống nên đạo đức xã hội bị băng hoại trầm trọng, chúng thống trị đất nước bằng bạo lực nên dù không chút pháp thuật nhưng chúng vẫn có đủ đòn phép kinh người, chúng là hiện thân của một thứ âm binh mà trong quyển "Hành Trình Về Phương Đông", ( Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ) một tiến sĩ người Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1856 và tốt nghiệp năm 1864 với bằng Tiến sĩ Vật lý tại đại học Oxford, Anh Quốc, đã nghiên cứu sâu xa về cõi vô hình đã nói rằng

"vào thời kỳ chót của nền văn minh Ai cập, tất cả các ngôi mộ cổ là nơi giam giữ các động lực vô hình để canh giữ, duy trì ảnh hưởng tà môn đã bị các nhà thám hiểm khám phá và khai quật, điều này khiến cho các âm binh vượt thoát ra ngoài, khi được tháo củi xổ lồng, chúng sẽ mang nền tà giáo cổ Ai cập trở lại thế kỷ này. Dĩ nhiên, dưới một hình thức nào nó hợp thời hơn. Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ đầu thai trở lại, hoặc nhập xác để tác oai, tác quái, tái tạo một xã hội tối tăm, sa đoạ, đi ngược trào lưu tiến hoá của thượng đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ tôn giáo ma quái này.. Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích của cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại, sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống. Dù thế nào họ cũng không thể bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới, thay thế các chân lý cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ thượng đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau gì họ cũng phải chết và trước khi chết, họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong quá khứ… "

Đấy, đấy, rõ ràng những tên tội đồ Kark Mark, Lenin, Stalin, Mao, Hồ của nhân loại chính là những âm binh trong các ngôi mộ cổ Ai Cập ngày xưa đầu thai trở lại trong cùng một thời kỳ đã tác oai tác quái làm cho thế giới đảo điên. Nhìn xem, chỉ có các nước cộng sản mới có việc ướp xác lãnh tụ để lộng hòm kính kiếm tiền. Tóm lại, họ là một thứ âm binh quỷ quái mà ta có thể vắn tắt gọi chung bọn chúng là Ma Quân, và cái bọn lâu la đầu trâu mặt ngựa, lòng tong cá chốt đi theo làm tay sai cho chúng có những tay đầu tròn áo vuông, nhập nhằng đem giáo điều quỷ đỏ gán ghép vào giáo lý Phật môn, buôn thần bán thánh, là bọn công an đầu trọc, là những ma tăng, ma đầu, ma linh mục, ma mục sư v.v... mà những người con dân đất Việt, đồng bào Phật tử chúng ta cần phải vạch mặt chỉ tên, cần phải vung gươm trí tuệ lên mà chém, phải chém cho tuyệt nọc của loài quỷ đỏ, để giành lại quyền làm người, quyền tự quyết dân tộc, và hơn thế nữa là quyền được tự do theo đuổi, tu tập trong tinh thần hài hòa, trong khung cảnh xã hội an bình, không thể có chuyện biến cải hay thay đổi chúng, không có chuyện hòa hợp hòa giải với chúng, trừ khi chúng thực sự thức tỉnh, vứt bỏ đi cái chủ nghĩa tà ma dị đạo bất nhân, biết cúi đầu nhận lỗi, biết thành tâm sám hối với dân tộc, thì họa chăng lúc đó mới được sự khoan hồng tha thứ của dân tộc. Chỉ khi nào không còn bóng dáng của Ma Quân trên đất nước Viêt Nam thân yêu của chúng ta nữa thì mới mong Phật Giáo được hưng thịnh, được trường tồn, được đồng hành cùng dân tộc, thì việc tu tập của chúng ta mới có ý nghĩa, mới mong thành tựu.

Hỡi quý ông bà cô bác anh chị em Phật tử,
hãy cầm gươm, hãy mạnh dạn lên!

10 tội ác nặng nề nhất của cộng sản Việt Nam 01- Bán nước cho Tàu cộng là tội lớn nhất - Hoàng Sa- Trường Sa, Thác Bản Giốc- Ải Nam Quan v.v..

02- Đào mồ cuốc mả, san bằng các nghĩa trang, phỉ báng tổ tiên là loài khỉ vượn, ca ngợi thuyết tiến hóa của Darwin . Lừa đảo quốc tế, bôi nhọ danh dự dân tộc Việt Nam .

03- Âm mưu tiêu diệt tôn giáo, giết hại, giam cầm quản chế các bậc tu hành. Sát hại HT Thiện Minh, giam giữ HT Quảng Độ, HT Huyền Quang, Cha Lý. Đem tượng sa tăng đặt chung với tượng Phật và quốc tổ Hùng Vương.

04- Giam cầm, bắt bớ trù dập, đày đọa các nhà đấu tranh dân chủ.

05- Đưa đất nước, xã hội Việt Nam đi vào chỗ thụt lùi, đạo đức băng hoại. ma túy, hút xách, đĩ điếm tràn lan.

06- Tham nhũng tài nguyên quốc gia. Ăn cướp trắng trợn, Buôn dân qua các hình thức xuất khẩu lao động, cô dâu xứ người, bán trẻ em làm nô lệ tình dục

07- Ngu đần hóa thế hệ trẻ, hệ thống giáo dục khập khiển, hàng trăm ngàn trẻ em bỏ học.

08 -Thảm sát vô số dân lành, vụ Cải Cách Ruộng Đất và Tết Mậu Thân, thủ tiêu, ám sát, pháo kích vào nhà dân vô tội.

09- Hành hạ, đày đọa dân quân cán chính các cấp VNCH bằng hình thức trại tù cải tạo.

10- Bênh vực Tàu cộng, hành hạ đánh đập dân lành, giam cầm, bắt bớ các nhà đấu tranh dân chủ.


Hãy xem kỹ diện mạo của những tên tội đồ bán nước, dâng Ải Nam Quan cho Trung cộng Xem hình ảnh ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung cộng bắt bớ đã lạy lục chúng nhục nhã thế nào, nhà cầm quyền CSVN câm như hến.. QÚA NHỤC NHÃ!!!
Các lực lượng quân sự Trung cộng chiếm đóng Hoàng Sa hiện nay Báo Phụ Nữ TP HCM: Một sự nhầm lẫn vô tình hay cố ý ? Ca tụng Hải Quân Việt Nam lại đăng hình của Hải Quân Trung cộng Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu USD từ Trung Cộng/Nhà nghỉ mát của con gái Nguyễn Tấn Dũng ở bãi bể Nha Trang CSVN nợ thế giới bao nhiêu??? China Town tại Lạng Sơn - 1000 năm đô hộ đã quay lại CSVN Giao Trứng Cho "Ác" Trung cộng Sơn hà nguy biến : Hồ sơ xác định lãnh hải của CSVN đệ nạp LHQ đã cho thấy "CSVN đầu hàng Ðại Hán" - LS Nguyễn Hữu Thống Giã từ Việt Nam, bài viết của một nhân viên y tế thiện nguyện Hoa Kỳ nói về nạn tham nhũng, đòi hối lộ với ngay cả người ngoại quốc vào làm việc thiện nguyện trong xã hội Việt Nam. Trần Trúc Lâm chuyển ngữ Sơn hà nguy biến: Thông điệp của kẻ cướp Phóng sự đặc biệt:"Hình ảnh công trường khai thac Bauxite Nhân Cơ" Công nhân hay lính Trung cộng ngụy trang tại Tây Nguyên? Video, hình ảnh quay lén khu khai thac bauxit ở Lâm Đồng Bạch thư Trường Sa, Hoàng Sa - GS Nguyễn Văn Canh Xuất cảng lao động bóc lột trẻ em ngay trên đất Mỹ Vài chuyện thật xảy ra trong 9 năm kháng chiến 45-65 - Hứa Hòanh Thỏa Hiệp Án 14/09/1949: Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng phái quôc gia - Hứa Hòanh Phía sau một bức hình - Ðời đời nhớ ơn liệt sĩ Trung quốc, sự thật ra sao? Tại sao phải nhớ ơn Tàu cộng??? Báo Hà Nội Mới vô liêm sĩ ca tụng tướng Tàu cộng chỉ huy tấn công Việt Nam 1979 30 năm cuộc chiến Việt Trung 1979- 2009, cuộc thảm sát Tổng Giúp Quy hoạch khai thác bauxite ở Ðắc Nông, những bí ẩn được phanh phui Ô nhục không bút mực nào tả xiết!!! Chuyện chung quanh các nghĩa trang liệt sĩ Trung - Việt Việt Nam lâm nguy - Những vấn đề chung quanh việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Tây Nguyên Vịnh Bắc Bộ đã thuộc toàn quyền kiểm soát của Tàu cộng. Biển Việt Nam sắp ...mất Nước Việt hình chữ S - Vũ Hữu San Nhà thờ họ của Nguyễn Tấn Dũng tại Kiên Giang, Feb 08, 2009. Tết thăm nhà Lê Khả Phiêu - xem tài sản và cung cách ...trưởng giả học làm sang của bọn lãnh đạo CSVN ăn cướp của người dân như thế nào với ngôi nhà trị giá 5 triệu USD cùng nhiều cổ vật có một không hai - Jan 29, 2009. Nhận định về tội ác của Phạm Văn Đồng do con cháu, người dân Mộ Đức, quê hương Phạm Văn Đồng. Hà Nội phải trả lời cho người dân Việt Nam về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Sep 12, 2008 Sinh viên, học sinh Việt Nam biểu tình phản đối Trung cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa mà nhà cầm quyền cộng sản sau đó đã bắt bớ, trù dập thẳng tay.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ðiều lo nhất về Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng
Có bẩy triệu người Việt Nam đã vào mạng lưới của nhóm trí thức chống việc các công ty Trung Quốc khai thác bô xít (bauxite). Người Việt ở trong và ngoài nước đều lo lắng về vụ này. Không biết đến lúc nào những người chủ trương mạng lưới đó sẽ bị bắt, như các ông Ðiếu Cầy và Người Buôn Gió.

Người Việt Nam cũng lo lắng về chủ trương bành trướng của Trung Quốc ở biển Ðông. Tờ Tuổi Trẻ tại Sài Gòn mới thuật lại cuộc chiến đấu của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chống quân Trung Quốc chiếm Hoàng Sa vào Tháng Chín năm 1974. Trên các mạng lưới đang truyền nhau những tin tức về việc Trung Quốc phát triển hải quân và so sánh lực lượng giữa nước này với nước Mỹ ở vùng Á Ðông.

Các hiện tượng trên cho thấy hai mối lo lớn của người Việt trước mối đe dọa của nước láng giềng phía Bắc. Một là Trung Quốc đang củng cố sức mạnh quân sự, họ có thể tái diễn những cuộc xâm lăng Việt Nam như vào thế kỷ 15 và 18 hay chăng? Hai là một “diễn biến hòa bình,” đang biến nước Việt Nam thành mảnh đất cho người Trung Quốc khai thác mà không cần phải xâm chiếm. Họ chỉ cần nắm đầu được một đảng độc tài là có thể sai bảo cả công an lẫn quân đội để dẹp tan những đám dân Việt phản đối.

Nhưng thực sự đâu là mối lo lâu dài và lớn nhất của dân tộc Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Bắc Kinh?

Một người bạn tôi mới trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tầu có một nhận định khác. Theo anh, những vụ Hoàng Sa, Trường Sa và Bô xít chỉ là chuyện trước mắt và ngắn hạn. Mối lo dài hạn cần chú ý là trong lúc người Trung Hoa đang quyết tâm tiến tới trên con đường cải tổ để bước vào thế kỷ 21 thì người Việt Nam vẫn bị lúng túng không thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu còn rơi rớt từ thế kỷ 19. Cứ như vậy thì trong một hai thế hệ nữa người mình sẽ trở thành lệ thuộc, nếu không phải là “nô lệ” cho người Trung Hoa; dù họ không đem quân chiếm nước mình, dù mình vẫn còn tên nước Việt Nam, vẫn có một chính phủ người Việt cai trị dân Việt. Trung Quốc sẽ làm chủ, người Việt làm công, và điều đáng buồn là cả thế giới coi đó là chuyện tự nhiên không cần can thiệp. Vì trong thế cạnh tranh sinh tồn hiện nay, dân tộc nào yếu thì sẽ đóng vai làm công cho dân tộc mạnh.

Tại sao có thể xẩy ra tình trạng đó? Anh Trần là người quốc tịch Mỹ, công ty anh đang đầu tư ở Trung Quốc làm một sản phẩm mới, sản phẩm này đang thông dụng rồi sẽ tràn ngập khắp thế giới trong vài chục năm nữa, chúng tôi xin phép không nói rõ hơn để khỏi làm phiền cho bản thân anh. Những cuộc gặp gỡ với quan chức và cán bộ quản lý kinh doanh ở Trung Quốc làm cho một người Việt như anh phải thấy sợ. Người Trung Quốc họ làm việc ào ào, mở rộng cửa đón tư bản nước ngoài để tiếp nhận các kỹ thuật mới, học cách tấn công các thị trường mới. Anh Trần so sánh giới quan chức, cán bộ Trung Quốc khác những người ở Việt Nam: Họ có ăn nhưng cũng có làm việc. Trong khi ở nước mình thì không lo công việc mà chỉ biết ăn. Công ty của anh đã thăm dò việc đầu tư ở Việt Nam mấy năm trước đây; nhưng phải bỏ ý định đó vì cả guồng máy cai trị từ trên xuống dưới vẫn coi người ngoài quốc đến nước mình đầu tư là đến “xin ân huệ” chứ không phải đem đến cho dân mình kỹ thuật mới, mở mang cho nước mình những ngành hoạt động mới. Có lẽ họ coi thường đồng bào người Việt mà chỉ biết kính trọng các ông chủ ngoại quốc. Nhưng họ vẫn giữ một thói quen: Chỉ lo bòn rút cho bản thân mình, không cần đến công việc.

Ở Trung Quốc thì khác. Từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, họ chiều đãi các công ty ngoại quốc đến đầu tư. Họ sẵn sàng cung cấp đất để mở cơ xưởng mà không lấy tiền thuê đất trong nhiều năm. Họ sẵn sàng góp một phần vốn nhỏ hơn 50% và người ngoại quốc đầu tư có quyền mua lại số cổ phần đó trong tương lai. Nghĩa là nếu công việc thất bại thì người ngoại quốc chỉ mất ít, là phần vốn đã bỏ vô dưới 100%; mà nếu thành công thì vẫn có hy vọng hưởng nhiều hơn bằng cách mua lại các cổ phần của người Trung Quốc. Một viên chức trẻ tuổi ở Bắc Kinh nói thẳng rằng anh ta có một quỹ đầu tư hàng tỷ Mỹ kim, lấy trong số ngoại tệ dự trữ hơn 2,000 tỷ của ngân hàng trung ương; và anh ta có quyền chi vào các dự án đầu tư với người nước ngoài.

Họ có tham nhũng hay không? Anh Trần thấy chắc là phải có. Thế nào họ cũng chấm mút khi được quyền sử dụng những món tiền lớn như vậy. Cứ xem cách ăn ở, giao dịch của họ thì biết. Nhưng có một điều là họ có làm, làm việc thực sự, một dự án nhà máy được hai bên đồng ý và chấp thuận rồi, ba tháng sau nhà máy đã được khánh thành. Họ chạy hối hả, và họ biết rõ đang muốn gì: Sản xuất đến xuất cảng. Du nhập kỹ thuật mới, phương pháp quản lý mới, phương pháp mới để chinh phục thị trường thế giới như các công ty Mỹ đang làm. Sang năm 2010 hội chợ Thượng Hải sẽ trưng bầy những sản phẩm mới cho cả thế giới thấy, trong đó sẽ có những sản phẩm của công ty anh Trần đang làm.

Họ coi anh Trần là người Mỹ, và nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên lúc đầu khi anh tự giới thiệu là gốc người Việt Nam. Họ tỏ ra lễ phép với anh, nhưng không ngần ngại cho thấy là họ coi thường người Việt Nam. Ðây là một điều đau lòng, nhưng anh phải nói thật: Người Trung Hoa vẫn còn nhắc đến vụ đảng Cộng Sản Việt Nam “vô ơn bạc nghĩa” khi sau năm 1975 quay theo Nga để chống Tầu. Họ nhắc lại sự kiện này như để giải thích thái độ của họ: Khinh thường người Việt Nam! Chúng ta có thể thấy trong những mạng lưới bên Tầu khi họ công khai phổ biến những tài liệu chứng tỏ nếu không có quân đội Tầu giúp thì người Việt Nam không chống nổi Pháp mà cũng không đánh nổi Mỹ! Họ không ngần ngại sẵn sàng nói những lời miệt thị tất cả giới lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, dù trước mặt một người Việt như anh Trần họ vẫn tỏ ra lịch sự, tôn kính. Ngay bây giờ, nhiều người Trung Hoa ở lục địa nói thẳng, các công ty Trung Quốc vẫn còn chú ý đến thị trường Việt Nam một chút. Vì họ coi đó là một nơi để “đổ rác,” tức là những sản phẩm thiếu tiêu chuẩn không được thị trường thế giới chấp nhận. Chính người Trung Hoa có tiền cũng không muốn mua những sản phẩm tiêu chuẩn thấp đó. Các xí nghiệp Trung Quốc sẵn sàng bán đổ bán tháo (dumping) những món hàng này sang Việt Nam, vì nếu không cũng vứt bỏ đi. Vì vậy, bán giá nào cũng được; mà người Việt Nam thấy rẻ thì vẫn ham mua. Nhưng đối với Trung Quốc, Việt Nam không đáng quan tâm. Họ lo chinh phục cả thế giới, và chỉ tôn trọng những nước có lực, có tiền!

Nhưng điều anh Trần lo lắng muốn chia sẻ với chúng tôi khi anh trở về Mỹ sau nhiều chuyến đi Tầu lo công việc, là người Trung Hoa họ quyết tâm tiến bộ thật, trong khi nước mình vẫn lúng lúng vì cả guồng máy cai trị tham nhũng và bất lực. Anh nhắc lại nhiều lần: Chúng nó cũng ăn, nhưng chúng nó có làm việc thật. Quan chức Việt Nam thì chỉ lo ăn mà không cần làm! Trong vài chục năm nữa, trong nửa thế kỷ nữa, người Tầu sẽ tiến xa, khoảng cách phát triển giữa hai dân tộc sẽ càng ngày càng rộng. Và lúc đó mình sẽ hoàn toàn đóng vai một nước phụ thuộc, nếu không nói là lệ thuộc, biến thành một thị trường và người làm công cho cường quốc kinh tế lớn nhất nhì thế giới ở ngay bên láng giềng!

Hiện nay người Việt chúng ta coi việc khai thác Bô xít ở Tây nguyên là một cuộc xâm lăng kinh tế đe dọa chủ quyền đất nước. Nhưng đối với người Trung Hoa ở lục địa thì đó cũng chỉ là một dự án nhỏ trong hàng ngàn dự án đầu tư để khai thác tài nguyên khắp thế giới, từ Á Châu sang Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh. Họ cũng sang Congo, sang Sudan khai thác quặng mỏ. Họ đầu tư vào dầu khí ở các nước Trung Á, ở Canada. Các công ty Trung Quốc đang đi mua cổ phần của các công ty tiên tiến nhất từ Âu Châu sang Mỹ Châu, dù chỉ một phần nhỏ. Một vụ nổi tiếng là dự án của Chinalco tính bỏ ra 19 tỷ rưỡi để tăng gấp đôi phần hùn trong công ty Rio Tinto ở Úc lên 18%, đã bàn cãi cả năm và mới bị Úc gạt bỏ vào Tháng Sáu vừa qua. Trung Quốc là thị trường lớn nhất mua quặng mỏ của Úc. Nhưng chính phủ Úc vẫn không cảm thấy sợ sệt lo làm vui lòng chính quyền Trung Quốc.

Ông thủ tướng Úc nói tiếng Tầu thông thạo, nhưng không ngần ngại tỏ ra bất cần trước những áp lực của Bắc Kinh. Trước khi ông Nguyễn Minh Triết sang Úc, một người đã được dân Úc tiếp đón là bà Rebiya Kadeer, một người gốc Uighur đang sống ở Mỹ và đang bị bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh mô tả là người thúc đẩy dân Uighur ở Tân Cương nổi loạn. Ðầu Tháng Tám, khi nghe tin dân Úc sắp mời bà Kadeer sang dự một liên hoan phim ảnh tại Melbourne trong đó chiếu một cuốn phim về cuộc đời tranh đấu của bà, Ngoại Trưởng Trung Quốc Hà Á Phi đã bãi bỏ một chuyến viếng thăm để tỏ ý phản đối. Chính phủ Tầu còn làm áp lực với ban tổ chức yêu cầu họ ngưng chiếu cuốn phim đó. Họ cũng làm áp lực lên thị trưởng thành phố Melbourne, đòi bãi bỏ việc kết nghĩa giữa thành phố này với Thiên Tân. Và họ làm áp lực cả với câu lạc bộ Báo chí Quốc gia tại thủ đô Canberra không muốn họ mời bà Kadeer đến diễn thuyết. Nhưng tất cả các áp lực đó đều vô hiệu. Và bên cạnh những la lối ồn ào đó, các bộ trưởng hai nước vẫn ký một hợp đồng, công ty PetroChina Trung Quốc mua 41 tỷ Mỹ kim khí đốt của công ty Exxon Mobil tại Úc. Dân Úc chống, cứ chống. Chính phủ Trung Quốc không bằng lòng thì rán chịu.

Trong lúc chính quyền Úc bình tĩnh và cứng rắn đối với Trung Quốc như vậy, thì ở Việt Nam những ai bầy tỏ ý kiến chống đối việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa trước sau đều bị đàn áp. Ðàn áp để làm gì? Có phải vì công an bắt người Việt Nam không được mặc áo phông viết chữ bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa mà chính quyền Bắc Kinh tử tế hơn với nước Việt Nam, với đảng Cộng Sản Việt Nam hay không?

Mà trong lúc chính quyền Cộng Sản chỉ lo đàn áp dân như thế, người Trung Hoa họ vẫn tiến tới. Thế giới sẽ không thèm quan tâm đến chủ quyền của Việt Nam trên những vùng đất và biển đã bị chiếm. Vì nước nào lo quyền lợi của nước đó, không ai lo giúp chuyện người ngoài, dân tộc nào cố giữ lấy chủ quyền của mình. Bây giờ người Trung Quốc đã bắt đầu sang Việt Nam đóng vai ông chủ ở Cao Bằng, Lạng Sơn; cho người Việt đóng vai làm công và chạy việc. Anh Trần lo sẽ có ngày chính người Trung Quốc cũng không thèm đóng vai ông chủ nhỏ ở Việt Nam nữa. Vì họ còn lo đầu tư ở những nơi sinh lợi hơn và lo đi chinh phục các thị trường khắp thế giới.

Vậy thì người Việt Nam chúng ta phải làm gì? Ðây là một câu hỏi để mọi người Việt cùng suy nghĩ và thảo luận. Bởi vì dân Việt Nam không phải là dân hèn. Hãy coi mối lo lắng của anh Trần là tiếng chuông báo động.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tự hào dân tộc! Người Việt thường tự hào mình là một dân tộc có trên “Bốn Ngàn Năm Văn Hiến”. Nhưng, hỏi văn hiến là gì? Thì hầu như nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ không tránh khỏi sự lúng túng khi giải thích về hai chữ này. Vì vậy, ý niệm về văn hiến chỉ là sáo ngữ và trở thành một thứ thông điệp là “nói để mà nói”. Người ta lúng túng có hai lý do. Thứ nhứt, vì không chịu tìm hiểu. Thứ hai, vì ý nghĩa của nó quá bao la, bát ngát. Vậy văn hiến là gì, nội dung ra sao?
Nếu văn hóa và văn minh có nguồn gốc từ phương Tây. Thì tại phương Đông khái niệm về văn hiến được nhắc nhở đến tại Trung Hoa và Việt Nam. Riêng ở Việt Nam, hai chữ văn hiến thường được nói đến từ khi xuất hiện trong bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vào năm 1428 qua hai câu:

Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Theo Chu Hy đời Tống, Trung Hoa giải thích thì văn là “điển tịch dã”. Còn hiến là “hiền dã”. Tức văn chỉ về “khuôn phép, trước tác, sách vở”. Còn hiến chỉ về những “nhân vật hiền tài”. Như vậy, văn hiến là văn hoá, sáng tạo và số lượng hiền tài của đất nước.
Nội dung của văn hiến biểu hiện trong đời sống con người qua các phương diện Văn hóa, Xã hội, Chính trị, Kinh tế. Những biểu hiện này thay đổi liên tục hết thế hệ này tới thế hệ kia theo từng thời kỳ mạnh, yếu của đất nước đã tạo nên lịch sử.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
( Bình Ngô Đạo Cáo của Nguyễn Trãi)

Một cá nhân không hiểu lịch sử dân tộc mình sẽ ngại ngùng, bở ngở trước các dân tộc khác khi được hỏi tới. Điều này, có thể đưa đến sự chối bỏ nguồn gốc và dẫn tới một quyết định mù quáng. Tại hải ngoại có nhiều người ra đường không dám nhận mình là người VN. Ngược lại, đã không hỗ thẹn tự nhận mình là người Tàu, người Nhật, người Đại hàn. Trong khi lịch sử dựng nước, giữ nước của các dân tộc vừa kể không có gì hay ho đáng để tự hào hơn Việt Nam.

Muốn tự hào về dân tộc, người ta phải hiểu được những thứ đáng để tự hào. Phải trang bị cho mình sự hiểu biết về lịch sử. Muốn được như vậy, thì phải hiểu kiến thức mỗi cá nhân không ai cho, không ai biếu, không ai tặng mà người ta phải tự mình tìm đến nó.

Là người Việt Nam khi hiểu được ý nghĩa các hoa văn khắc hình chim, gà, hươu và con người trên mặt Trống Đồng Ngọc Lũ sau thế kỷ thứ 4 trước Tây lịch tiêu biểu cho sinh hoạt 4 mùa của muôn loài, là một quyển Âm Lịch kỳ diệu thì chúng ta mới hảnh diện được về văn hóa dân tộc.

Nếu biết thành Cổ Loa xây vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch đời vua An Vương Dương có 9 vòng xoáy trôn ốc từ trong ra ngoài với các hào, lũy kiên cố về mặt quân sự là tuyến phòng thủ chống ngoại xâm, về mặt xã hội là nơi cư trú của người dân và về mặt văn hóa là trình độ sáng tạo của con người. Thì thành Cổ Loa xứng đáng là một kiến trúc độc đáo của nhân loại. Bởi vì, đem so sánh với Kim Tự Tháp của Ai Cập xây vào năm 2770 trước Tây lịch tuy có nền kiến trúc văn minh cổ đại, nhưng chỉ là mồ chôn của các vua chúa. Hay Vạn Lý Trường Thành đời nhà Thương do Tần Thủy Hoàng xây vào thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch là một công trình, nhưng chỉ là con đường dài ngoằn ngoèo băng qua các đỉnh đồi.

Phải thấy lý tưởng chiến đấu của Hai Bà Trưng, mới tự hào dân tộc VN đã có người phụ nữ lãnh đạo đất nước đầu tiên trên thế giới vào năm 40 sau Tây lịch. Đem so với nữ hoàng Ai cập Cleopastra nối ngôi vua cha vào năm 51 trước Tây lịch hay đời nhà Đường năm 690 có Võ Tắc Thiên, đời Mãn Thanh năm 1835 có Từ Hy Thái Hậu. Và đối với lịch sử cận đại Anh quốc có nữ hoàng Elizabeth Alexandra Mary, có thủ tướng Margaret Hilda Thatcher; Phi luật Tân có tổng thống Maria Cojuangco Aquino, TT. Macapagal Arroyo và Đức quốc có bà thủ tướng Angela Merkel. Thì những người đàn bà vừa kể, không ai thể hiện được tinh thần quốc gia dân tộc với bốn chữ “ Nợ nước, tình nhà”.

Khi nhận ra được trận thủy chiến của Ngô Quyền vào năm 938 và Trần Hưng Đạo vào năm 1288 trên sông Bạch Đằng với quân Nam Hán, quân Nguyên bằng tầm vong, cọc sắt là sự phối hợp và vận dụng thủy triều một cách khoa học có một không hai của nhân loại, và vào năm 1786 chỉ trong vòng bảy ngày vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Mãn Thanh đông gấp mấy chục lần ra khỏi bờ cõi, mới tự hào mình là dân Việt Nam.

Những chiến công và tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc của tiền nhân vừa kể. So với những trận đánh với vủ khí cận đại khi người Anh ca tụng tướng Bernard Montgomery, người Mỹ ca tụng tướng George Smith Patton, người Pháp ca tụng tướng Charles De Gaude thời đệ nhị thế chiến về “Trận chiến huyền thoại Normandy 1944”,thì những người này vẫn không sánh bằng.

Nhìn lại dân tộc VN, với hơn 1.000 năm bị Tàu đô hộ và 100 năm bị thực dân Pháp cai trị, nhưng bản sắc dân tộc vẫn còn. Chúng ta không mất gốc, không bị đồng hóa và còn xuất sắc hơn nữa là đã có được một tiếng nói riêng độc đáo. Đặc thù này so với các dân tộc Nam Mỹ như: Mễ, Ba Tây, Á Căn Đình v.v... họ chỉ bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đô hộ chưa đầy 100 năm đã mất gốc, tiếng nói không còn. Vậy thì tại sao chúng ta không tự hào về dân tộc của mình?

Người Việt tỵ nạn cộng sản nếu không hiểu rõ lịch sử lá cờ vàng ba sọc đỏ, là sự chuyển hóa nối tiếp của lá cờ dân tộc với “quẻ càng” có nền vàng từ năm 1802 đời nhà Nguyễn, chớ không phải là quốc kỳ của thời đệ nhứt, đệ nhị VNCH. Thì làm sao đủ thuyết phục người nghe, khi muốn triệt hạ lá cờ nền đỏ sao vàng của đảng CSVN bán nước xuất hiện năm 1930, đang áp đặt lên dân tộc Việt Nam.

Người Mỹ không chấp nhận lá cờ “Con Voi Trắng” của đảng Cộng hoà hay “Con ngựa ” của đảng Dân chủ là quốc kỳ của mình. Họ chỉ công nhận lá cờ hiện nay có tiểu sử từ 13 ngôi sao (thirteen colonies) đến 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang kể từ ngày lập quốc vào năm 1776. Thì phải hiểu người Việt Nam tỵ nạn CS tại hải ngoại không chấp nhận lá cờ máu của đảng CSVN là điều đương nhiên.

Việt Cộng gian ác đang ngụy tạo lịch sử dân tộc. Chúng cho rằng vua Hùng có công dựng nước, nhưng người có công giữ nước là Hồ Chí Minh. Đây là một sự man trá trắng trợn không thể tha thứ được. Do đó, kiến tạo niềm tự hào để trả sự thật cho lịch sử là điều cần thiết đối với mọi thế hệ. Đặc biệt là thế hệ trẻ, những người đang trên đường thay thế cha, thay thế anh trong sự nghiệp xây dựng cộng đồng VN hải ngoại và chuẩn bị kiến tạo một nước Việt Nam độc lập, tự do không cộng sản tại quê nhà.

Với quá trình dựng nước và giữ nước qua bao thăng trầm, dân tộc Việt Nam vẫn trường tồn. Điều này, phải chăng đã cho thấy chúng ta nhờ có truyền thống “mấy ngàn năm văn hiến”? Nếu thừa nhận và coi đó là tài sản quí báu của cha, ông để lại thì đây không phải là điều chúng ta ngẫng mặt tự hào hay sao?

Đặng thiên Sơn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tại sao Việt Nam lo về Trung Quốc nhất?

Ngô Nhân Dụng

Giới trí thức Việt Nam đang lo ngăn cản không cho các công ty Trung Quốc mang người vào khai thác bô xít (bausite) làm nguy hại môi trường sống, biến các cư xá của công nhân Trung Quốc thành những làng tự trị sống ngoài luật pháp nước Việt Nam. Người Việt Nam nào cũng đau lòng trước cảnh Hải Quân Trung Quốc bắt đồng bào ngư dân ngay trong hải phận nước Việt đưa về giam giữ ngay ở Hoàng Sa mà họ đã chiếm của nước Việt Nam từ năm 1974.

Từ hai ngàn năm nay, người Việt vẫn lo tự vệ trước sức mạnh bành trướng của người Hán. Ðến bây giờ mối lo đó càng lớn hơn vì Trung Quốc đang nỗ lực thay đổi để trở thành một cường quốc kinh tế đứng hạng nhì thế giới, mà trong một thế hệ nữa, đến giữa thế kỷ này một tỷ dân Trung Hoa sẽ vượt qua Hoa Kỳ để đứng hạng nhất về tổng sản lượng quốc gia. Trước viễn anh đó người Việt Nam phải lo lắng.

Nhưng nhìn chung quanh, chúng ta phải tự hỏi tại sao các nước khác trong vùng Á Ðông cũng lo nhưng không ai mang mối lo lớn như nước mình? Hàn Quốc và Ðài Loan nằm sát bên Trung Quốc, như những con mèo nằm bên cạnh con cọp. Những quốc gia nhỏ khác trong vùng như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, nhỏ bé đến như Singapore, họ đều ý thức về vai trò đang lên của Trung Quốc và biết họ phải làm gì; nhưng không hoảng hốt trước sự bành trướng của cường quốc mới này. Tại sao vậy?

Hãy nhìn vào hai nước Á Ðông láng giềng của Trung Quốc, gần không khác gì Việt Nam. Hàn Quốc đến giờ vẫn còn bị chia đôi. Nước họ đã từng bị đế quốc Trung Hoa đặt làm An Ðông Ðô Hộ Phủ vào thời gian mà nhà Ðường gọi nước ta là An Nam, bây giờ trong nước họ không ai báo động nhau về sự bành trướng của Hán tộc! Tại sao Ðài Loan, hòn đảo vẫn bị coi là một tỉnh của Trung Quốc, họ không lo bị Trung Quốc lấn áp hay xâm chiếm mà còn mở rộng giao thương, trao đổi văn hóa, và mua thêm vũ khí của Mỹ để củng cố sức mạnh quân sự? Nước Việt Nam khác hai nước trên ở những điểm nào mà dân họ bình tĩnh, tự tin, còn dân mình thì lo sợ đến thế? Trả lời được câu hỏi này là biết được người Việt Nam phải làm gì để đứng vững trước mối đe dọa về sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Lý do thứ nhất là kinh tế. Ðài Loan và Nam Hàn đang là những cường quốc kinh tế trong khu vực Á Ðông. Sản lượng bình quân ở Nam Hàn trên 24,000 đô la một đầu người, Ðài Loan trên 30,000 đô la, còn Trung Quốc chỉ có hơn 5,000 (Việt Nam bằng một nửa Trung Quốc, và đây là lối tính PPP, dựa theo mãi lực tương đối của người dân chứ không theo lối chỉ tính bằng đô la Mỹ). Dù tới khi tổng sản lượng nội địa của Trung Quốc tăng gấp ba lớn bằng GDP của Mỹ thì một người dân trung bình ở nước Ðại Hán vẫn còn nghèo, chưa bằng một phần ba người dân hai nước nhỏ láng giềng. Dân giầu thì nước mạnh, nhất là trong thời “thế giới hậu cộng sản” và kinh tế toàn cầu hóa bây giờ.

Sau khi chiến tranh lạnh đã chấm dứt, những quốc gia nhỏ không phải mang mối lo bị một cường quốc nào xâm chiếm nữa. Mỹ không có tham vọng chiếm đóng Iraq lâu dài cũng như Nga không dám đem quân vào các nước Georgia và Ukraine trước kia từng thuộc lãnh thổ Liên Xô. Trung Quốc dù có tăng sức mạnh quân sự gấp trăm lần cũng vẫn chưa đuổi kịp Mỹ; mà từ năm 1950 họ vẫn chưa dám đem quân sang đánh các hòn đảo Kim Môn và Mã Tổ thì bây giờ họ càng phải dè dặt hơn.

Tuy Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn do những đảng tự gọi là cộng sản cai trị, nhưng chúng ta đang sống trong một “thế giới hậu cộng sản” vì chủ nghĩa Cộng Sản đã bị vứt bỏ từ hai chục năm nay rồi. Ngày nay vẫn còn những hội nghị về chủ nghĩa Mác xít trong đó người ta bàn về những lời Karl Marx phê bình xã hội tư bản chứ không phải để tìm đường thực hiện những viễn tượng mà ông vẽ ra để thay đổi các xã hội đó. Kinh tế tư bản, mang tên gọi khác là kinh tế thị trường, đang trở thành lối làm ăn duy nhất để tiến tới dân giầu, nước mạnh.

Nhưng trong “thế giới hậu cộng sản” này nền kinh tế của tất cả các nước đều liên hệ đến nhau. Tất cả các cường quốc đều muốn duy trì một tình trạng ổn định. Ðể yên tâm làm ăn. Mục tiêu của các quốc gia là nâng cao mức sống của người dân chứ không phải là thực hiện một chủ nghĩa hay một lý thuyết nào. Không hề có một “chủ nghĩa tư bản” như người cộng sản thường hô hoán. Kinh tế tư bản là một cách tổ chức xã hội cạnh tranh để sinh tồn theo luật tự nhiên; mà cơ cấu tổ chức tư bản đó sẵn sàng biến hóa theo nhu cầu từng giai đoạn, cũng là một luật tiến hóa tự nhiên. Sức mạnh của một quốc gia nằm trong lãnh vực kinh tế: Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.

Nhưng các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc về quân sự cũng như kinh tế, không ai muốn thế quân bình hiện có bị xáo trộn. Không một cường quốc nào sẵn lòng đi giúp một nước này chống nước khác nếu không phải vì muốn bảo vệ thế quân bình tương đối ổn định đó. Ý nghĩ kết thân với một nước này để chống lại nước khác hoàn toàn dựa trên địa lý chính trị là một ảo tưởng. Trái đất đã “bằng phẳng” hơn, núi, sông, biển cả không còn quyết định các mối tương quan quốc tế. Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, mỗi cường quốc kinh tế chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ và họ biết các quốc gia khác cũng như vậy. Các quốc gia liên kết với nhau qua những hiệp ước thương mại chứ không phải qua những liên minh quân sự như 50 năm trước nữa. Ý tưởng liên kết với một nước khác qua một chủ nghĩa, vì cùng một chế độ, một mô hình tổ chức xã hội, là một ý tưởng lạc hậu và nguy hiểm cho chính bản thân nước mình.

Các nước như Ðài Loan, Nam Hàn không lo lắng trước sự bành trướng quân sự và kinh tế của Trung Quốc vì họ đã đi trước lục địa Trung Hoa trên con đường tư bản hóa, dân họ giầu hơn nhờ thế nước họ vững chắc.

Nhưng một sức mạnh không thể chối cãi được là ở các nước trên dân chúng và chính quyền đều đồng ý phải làm sao cho dân giầu, nước mạnh thì mới đứng vững được trong cuộc chạy đua với một tỷ người Trung Hoa. Và họ biết phải làm gì để dân giầu, nước mạnh. Dân chúng nước họ có “đồng thuận” với nhau không? Có thể trả lời ngay là không! Chính sách tăng cường giao thương với Trung Quốc của chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan đang bị đảng đối lập và báo chí tự do chỉ trích, nêu rất nhiều lý do khác nhau. Tại Nam Hàn mỗi lần thay đổi tổng thống là lại xác định một chính sách mới đối với Bình Nhưỡng cũng như Bắc Kinh. Ðồng thuận là một từ ngữ đầy ảo tưởng và nguy hiểm. Các chế độ độc tài dùng khẩu hiệu này để ép buộc dân phải vâng lời chính quyền. Trong một xã hội tự do dân chủ người ta không cần “đồng thuận.” Mọi người luôn luôn bất đồng ý kiến, nhiều ý kiến khác nhau thì người dân càng có dịp so sánh và lựa chọn. Những cuộc tranh luận đó trông có vẻ lộn xộn, không “nhất trí” nhưng lại giúp quốc gia tránh được những nhầm lẫn lớn, khó sửa. Chỉ cần mọi người cùng theo những luật chơi minh bạch, công khai để quyết định những chính sách chung. Chính nhờ những luật chơi dân chủ mà một khi chính sách quốc gia đã được đa số đồng ý và dùng lá phiếu để lựa chọn rồi, cả nước trên dưới một lòng. Mặc dù lúc nào cũng vẫn có người không vẫn đồng ý và tiếp tục tìm cách chinh phục đa số theo ý kiến của mình.

Chính chế độ tự do dân chủ đã gây nên sức mạnh của Hàn Quốc và Ðài Loan. Các đảng chính trị ở hai nước đó vẫn “đấu đá” nhau thẳng tay để giành quyền lãnh đạo, nhưng các quyền tự do căn bản của người dân được tôn trọng và người dân nắm quyền lựa chọn tối hậu. Trong nước họ cũng có những người lợi dụng quyền thế làm tiền; cũng có những nhà kinh doanh tìm cách hối lộ cho được việc; nhưng nhờ báo chí tự do và bầu cử tự do cho nên trong xã hội có cả một mạng lưới ngăn ngừa tham nhũng tự nhiên. Ðiều đáng nể nhất là xã hội công dân ở các nước trên đã phát triển rất mạnh nhờ các công dân đều được tự do lập hội. Mỗi nhóm công dân có những nhu cầu và quyền lợi riêng được tự do hoạt động và phát triển mà không bị guồng máy nhà nước ngăn cản. Vừa rồi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến thăm Ðài Loan do lời mời của các Phật tử để cầu nguyện cho các nạn nhân bị bão, Bắc Kinh đã kịch liệt đả kích cuộc thăm viếng này. Chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan cũng chống vì không muốn làm mất lòng chính quyền cộng sản lục địa, nhưng vẫn phải chịu thua dân. Chỉ trong một nước tự do người ta mới thể hiện được đủ các quyền công dân như vậy.

Ðối với nước Việt Nam ta, điều đáng lo lắng nhất không phải là Trung Quốc tiến lên địa vị mạnh hơn; mà là lo nhất là nước Việt Nam đã chậm tiến lại càng ngày càng bị bỏ lại phía sau. Trong khi các nước khác trong vùng Á Ðông tiếp tục trên con đường tiến bộ về chính trị và kinh tế như vậy, thì chính quyền cộng sản ở Việt Nam còn đang đẩy lùi cả nước đi ngược dòng tiến hóa. Họ đang lo bắt bớ những bloggers, cấm đoán dân phát biểu ý kiến khác với đảng; cấm người dân Công Giáo ở Thái Hà, ở Tam Tòa không được sử dụng những miếng đất vốn thuộc nhà thờ của họ; cấm các thiền sinh ở Bát Nhã, Lâm Ðồng không được tu tập theo phương pháp của họ, cũng như cấm giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không được sinh hoạt tự do trở lại. Khi các chuyên gia và giới trí thức cũng phải tự giải tán một tổ chức chỉ nhằm mục đích nghiên cứu phát triển và bảo vệ môi trường thì các công dân khác làm sao góp phần xây dựng quốc gia?

Với một chính quyền lạc hậu như thế, dân tộc ta không lo lắng sao được? Cứ để cho một nhóm tham nhũng và bãt lực tiếp tục cầm đầu, nắm cổ mọi người mãi hay sao?

Post Reply