Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Chuyện vàng-bạc Sài gòn thời nay!
Nguyễn Thị Lan Anh


Đối với nhà hóa học, vàng là một kim loại màu vàng, có khả năng dẫn điện, dẫn nhiệt, chống hao mòn tốt, được sử dụng từ lâu trong y khoa, trong các ngành công nghiệp. Bằng nhiều phương pháp khác nhau, người ta có thể luyện vàng, chế tác vàng, biến đổi vàng.
Đối với nhà văn, nhà đạo đức học, tôn giáo học, xã hội học, tội phạm học vàng ít chiếm được thiện cảm, mà ngược lại, bị coi là gốc rễ của dục vọng, tội ác, sự băng hoại đạo đức, luân lý. Chỉ trong con mắt nhà kinh tế, nhà chính trị, nhà cầm quyền, vàng mới được coi là số một La mã. Người ta trữ vàng làm phương tiện bình ổn kinh tế, duy trì quyền lực quốc gia. Những động thái tung vàng ra, nhập vàng về, lúc đó, không tùy thuộc ý chí cá nhân mà mang tính chiến lược, chiến thuật hẳn hòi.
Đối với cá nhân, nhất là phụ nữ, bất kể ở đâu, thời nào, chủng tộc nào, việc sở hữu vàng, đeo vàng, cũng được ưa thích như nhau. Vàng được tặng vào dịp quan trọng (sinh nhật, thi đậu, đính ước, cưới gả), được trao truyền lúc lâm chung (của gia bảo), được thách đố để chứng tỏ gia thế, giá trị (thách cưới). Người khá giả, giàu sang tiếp cận với vàng sớm hơn, nhiều hơn kẻ trung lưu. Kẻ trung lưu lại hơn kẻ nghèo. Và kẻ nghèo lại hơn kẻ mạt.

Đôi điều về vàng

Dưới con mắt người kinh doanh vàng, không phải vàng nào cũng giống vàng nào. Có vàng nguyên chất, có vàng pha. Vàng nguyên chất là vàng ròng, Việt Nam gọi là vàng mười tuổi, nói tắt là vàng mười. Thế giới không dùng khái niệm ‘tuổi’, cũng không theo thang bậc 10, mà dùng đơn vị Karat (ký hiệu là K) với thang bậc 24 để chỉ độ tinh khiết. Vàng mười của ta, chính là vàng 24K theo cách gọi của thế giới. Trên thực tế, Việt Nam chưa có chuẩn chung cho vàng mười mà mỗi nhà chế tác vàng lại có chuẩn riêng, tùy theo lương tâm. Lương tâm cao nhất cũng chỉ đạt 9,999 nghĩa là trong một lượng vàng 37,5gr, sẽ pha 1% tạp chất. Vàng đó vẫn được gọi là vàng mười . Ngoài ra còn có vàng 9,5 tuổi, vàng 9 tuổi. Nghĩa là trong một lượng vàng, sẽ pha 5% hoặc 10% tạp chất.
Image
Hình trái: Giao dịch mua bán trong tiệm vàng Sài Gòn. Hình phải: Tiệm bán đồ bạc trên đường Nhiêu Tâm. Hình:NTLAnh.
Vàng 24K (loại 9 tuổi, 9,5 tuổi, 9,9 tuổi) dân gian gọi là vàng ta, vàng y. Thách cưới, để của hồi môn, mua bán trên thị trường thực và thị trường ảo hiện nay, chính là loại vàng này. Vì vàng 24K quá mềm, khó chế tác mẫu nữ trang phức tạp, nên người thợ vàng pha thêm một số hợp kim khác như bạc, đồng (hợp chất pha thêm này tiếng chuyên môn gọi là ‘hội’) cho vàng cứng hơn, thành ra vàng 21K (tỷ lệ hội là 12,5%), vàng18K (tỷ lệ hội là 25%), vàng 14K (tỷ lệ hội là 41,7%), vàng 10K (tỷ lệ hội là 58,4%), vàng 9K (tỷ lệ hội là 62,5%).
Người Ý thích vàng 9K, 10K. Người Mỹ thích vàng 14K. Người Pháp thích vàng 18K. Người Canada thích vàng 21K. Người Việt thích vàng 24K lẫn vàng 18K. Có điều, ở Việt Nam vàng 18K (còn gọi là vàng tây, vàng 7 tuổi rưỡi) không bao giờ đủ tuổi. Tiếng là 7,5 tuổi, nhưng chỉ đạt 6.5, 6.7 tuổi là cao. Người mua không có cách nào để nhận biết điều này, người bán, dĩ nhiên không dại gì khai thật. Vì thế, để đỡ bị thiệt thòi do cân gian, ép giá, ép tuổi vàng người mua nào cũng biết lệ ‘mua ở tiệm nào thì đến tiệm đó bán lại’.
Vàng có mầu vàng, nhưng ‘vàng trắng’ cũng gọi vàng. Vàng trắng là tiếng chỉ chung Platium (bạch kim) và một hợp kim khác – white gold – gồm vàng+ bạc+ nikel (hoặc Pladium). Tuy đều gọi vàng trắng nhưng bạch kim đắt hơn do hiếm hơn white gold nhiều. Hơn chục năm trở lại đây, giới trẻ Việt Nam, do ảnh hưởng văn hóa tiêu dùng Hàn Quốc, Châu Âu, Mỹ, đã chuyển mạnh từ việc tiêu dùng vàng 24K,18K sang white gold. Chuyện ‘đeo vàng đỏ tay’ một thời là chỉ dấu của đẳng cấp giàu sang quyền quí, bây giờ bị chê ‘quê một cục’.

Nữ trang mùa cưới 2009

Mùa cưới năm nay, khi vàng lên giá kỷ lục, nhiều đôi uyên ương gặp khó khăn khi muốn mua nữ trang cho ‘ngày ấy’. Đời người có một lần, đi mượn đi thuê hay dùng đồ giả thấy không nỡ. Nhưng mua thì oải quá. Đôi bông một chỉ, sợi dây chuyền 1 chỉ, chưa tính cặp nhẫn cưới đã hết mấy triệu đồng’. Đó là tâm sự của Tâm, chàng trai 25 tuổi, làm nghề sửa xe gắn máy. Để giải tỏa vấn nạn này, mùa cưới năm nay, các tiệm vàng quảng cáo nhiều mẫu nữ trang đẹp mà rẻ. Anh Phúc, chủ tiệm vàng chợ Ông Tạ trưng ra một chiếc kiềng vàng chạm rồng phụng thật bề thế. Nhìn bằng mắt, chiếc kiềng phải nặng cả lượng vàng nhưng cầm lên thấy khá nhẹ. Anh cho biết, ‘cái kiềng rỗng ruột, đánh khéo thì ngó xôm vậy, nhưng hết có năm chỉ. Còn cái lắc, sợi dây chuyền thay vì làm tròn thì làm dẹp xuống, to ra, đôi bông thay vì cẩn hột lớn thì cẩn hột nhỏ rồi thêm hột tấm chung quanh. Bộ nữ trang được đánh theo thủ thuật này, đặt cạnh bộ nữ trang ăn chắc mặc bền cổ truyền, trông không thua kém mà giá lại chỉ bằng phân nửa nên các thượng đế ‘yếu địa’rất ưa thích.

Chị Nhung, chủ tiệm vàng đường Nguyễn Trãi giới thiệu bộ nữ trang cưới bằng vàng trắng gồm đôi bông nhận hột xoàn 3.6 ly, cặp nhẫn nạm hột tấm, sợi dây chuyền đính hột 3.6 ly. Tại sao là 3.6 ly mà không là số khác? Chị Nhung giải thích 3.6 ly nghĩa là 3+6 =9. Tâm lý người Việt Nam, rất chuộng số 9 này vì cho là số hên. Từ 3.6 ly trở xuống khỏi lấy giấy kiểm định chất lượng hột. Từ 4.5 ly, 5.4 ly tới 6.3 ly, 7.2 ly mới phải có ‘giấy khai sanh’. Giá hột 3.6 ly độ 5.5 triệu, hột 4.5 ly 18 triệu, hột 5.4 ly 54 triệu. Khi có nhu cầu bán lại, kim cương chỉ bị trừ 5% giá trị, vàng trắng bị trừ tới 20%, trong khi vàng 24K, 18K chẳng những không bị trừ (đúng ra là bị trừ tiền công nhưng không đáng kể) mà còn lời kha khá, theo thời giá hiện tại. Đó chính là lý do vì sao bọn cướp giật đường phố khi ra tay hay nhắm vào nữ trang bằng vàng hơn nữ trang bằng vàng trắng (vàng mềm hơn, giật dễ đứt hơn, bán cao giá hơn).

Dịch vụ đổi tiền

Không chỉ mua bán vàng và đá quý, nhiều tiệm vàng làm thêm dịch vụ mua bán ngoại tệ, chủ yếu là đô la Mỹ. Ngoài những tiệm vàng có đăng ký chức năng thu đổi, treo bảng cho biết mình là ‘chân rết’ của ngân hàng nào, còn rất nhiều tiệm vàng ‘đổi chui’. Giá hiện nay, một trăm đôla Mỹ ‘ăn’ 1.830.000 đồng tiền Việt, cao hơn 1.000 đồng so với ngân hàng. Vì vậy, người dân có nhu cầu mua bán đôla Mỹ thường tìm tới tiệm vàng. Nhân đây kẻ viết bài kêu giùm bà con ‘bên đó’, nếu chi viện cho thân nhân ở Việt Nam xin đừng gửi những tờ tiền cũ kỹ, bạc mầu, ‘đổ lông’ thậm chí tưa rìa, mất góc mà tội nghiệp. Nhiều lần chứng kiến các cụ già đi đổi tiền, lập cập mãi mới mở được túi áo cài kim băng, lấy tờ trăm đô la quý hóa ‘con tui nó nhờ người bạn chuyển giùm’ bị chủ tiệm trừ 10.000 đồng vì ‘tiền bạc mầu quá’, kẻ viết bài không khỏi cám cảnh.

Nguy hiểm tiềm tàng

Dưới mắt nhiều người, chủ tiệm vàng rất giàu có, thủ đoạn. Người ta thèm muốn sự giàu có mà ít để ý những hiểm họa treo trên đầu họ. Chuyện tiệm vàng Kim Lý quận 5 bị cướp gần nửa tỷ đồng giữa ban ngày chưa tìm ra thủ phạm thì đến tiệm vàng Tân Kim Hiếu suýt mất 400 cây vàng; tiệm vàng Phượng Sử mất 1 tỷ 2 khi cho nhân viên ôm tiền mặt tới đổi 70.000 đôla tại một căn nhà đường Lê Văn Sỹ; tiệm Kim Ngân lúc 8 giờ rưỡi tối, bị một tên cướp đập tủ kính lấy 26 cây vàng… Tất cả các vụ cướp đều có chung đặc điểm là bất ngờ, chớp nhoáng khiến người trong cuộc không kịp trở tay, nhất là khi bọn cướp hầu hết đều có ‘hàng nóng’, bước vào là bắn ngay. Thời điểm ra tay thường vào buổi trưa buổi tối vắng người. Địa điểm có thể sát biên giới Tây Ninh, An Giang (để dễ trốn qua Campuchia) hoặc ngay trung tâm Sài Gòn sầm uất (để dễ trà trộn vào đám đông).

Khi bị cướp hỏi thăm, các nạn nhân đều trình báo nhưng tỷ lệ phá án thành công của cảnh sát rất thấp khiến họ phải ‘tự cứu trước khi trời cứu’ bằng cách thuê bảo vệ, hạn chế giao dịch các phi vụ lớn ngoài tiệm vàng, lắp đặt hệ thống camera quan sát, hệ thống báo trộm, làm hộp điện (cho bọn cướp khỏi kéo cầu dao ngắt điện khi đột nhập vào tiệm), thay mặt kính thường bằng kính không bể, gắn nẹp inox mài bén trên mặt quầy (phòng khi kính bị đập bể, tên cướp cho tay xuống quơ vàng sẽ bị nẹp cứa đứt thịt), bên dưới quầy có khoang trống để chủ tiệm hụp xuống tránh đạn, nếu chẳng may Anh Tuấn, chủ tiệm Kim Khánh đã dẫn kẻ viết bài đi coi hệ thống chống trộm cướp trong tiệm mình và giải thích công dụng từng thứ. Theo anh các nhà vàng Sài Gòn hầu hết đều cha truyền con nối, nghĩa là những khó khăn nguy hiểm của nghề đều biết, những cách thức đánh hàng, chuyển tiền, huy động vàng đều không phải tay mơ nhưng phải tới khi ra nước ngoài coi tận mắt lưới sắt, cửa kính ngăn người mua người bán, hệ thống theo dõi từ xa, dàn bảo vệ chuyên nghiệp của các tiệm vàng bên đó mới biết cách ‘pháo đài hóa’ bài bản.

Một con phố tập trung nhiều tiệm vàng ‘pháo đài hóa’ có tiếng ở Sài Gòn là đường Nhiêu Tâm, dài chưa tới ba trăm mét, một đầu nối với đường Trần Hưng Đạo, đầu kia trổ ra mặt sau chợ Hòa Bình. Hai dãy phố hơi cũ kỹ nằm đối diện nhau chỉ bán một mặt hàng duy nhất – đồ thợ bạc. Nói tới đường Nhiêu Tâm, dân làm vàng Sài Gòn-Chợ Lớn không ai không biết. Người mới ra nghề, cần sắm trọn bộ đèn khò, dũa, kìm, kẹp, đồ nấu vàng…chỉ cần có vài triệu đồng, tới tiệm bán đồ thợ bạc ở đường Nhiêu Tâm là mua được đủ hết. Người cần đúc vàng, phân kim, mua bán vàng cũng tới đường Nhiêu Tâm. Con đường này, tuy không gắn biển ‘vô phận sự miễn vào’ nhưng ngoài dân làm vàng, giao dịch vàng, người lạ gần như ít lai vãng. Trong vai đứng coi xe, chờ người nhà vào mua mấy món đồ nghề, kẻ viết bài liên tục hứng chịu ánh nhìn dò xét của mấy tay bảo vệ tiệm vàng, bất giác không rét mà run!

Người đi cùng kẻ viết bài tới đường Nhiêu Tâm là chú Tư Tốt, thợ bạc đã giải nghệ. Chú bảo học thợ bạc chí ít hai năm mới ra nghề. Nhưng nếu không phải là chỗ quen biết, hoặc họ hàng của chủ tiệm vàng thì không dễ kiếm được việc làm trong tiệm, chỉ lãnh làm đồ gia công, đồ bỏ mối với giá rẻ mạt, mà cũng phập phù khi có khi không.. Đánh dây chuyền, lắc tay dễ nhất. Khó hơn tới cẩn hột. Khó nhất là chạm. Thời bây giờ có máy, công việc nhanh, sản phẩm đều, đẹp hơn hồi xưa, nhưng không độc đáo không có hồn, có tình bằng hồi xưa. Cuộc đời thợ bạc gắn với bộ bàn ghế nhỏ như bàn học trò, ngồi khòm lưng tỉ mỉ cặm cụi, một loáng là hết đời. Dính vô vàng như bị ma ám. Thấy vàng rồi là không cầm lòng đậu.

Đầu tư vàng

Câu nói của chú Tư Tốt ‘Dính vô vàng như bị ma ám. Thấy vàng rồi là không cầm lòng đậu’ cũng là tiếng lòng của giới kinh doanh vàng trên thị trường ảo. Với số tiền ký quĩ rất thấp, hầu như sàn giao dịch vàng nào ở Sài Gòn cũng đầy nhà đầu tư nghiệp dư tới thử thời vận với vài lượng vàng tiên khởi. Người ta thi nhau đoán tương lai của vàng, đường đi của vàng để đặt lệnh mua bán hết sức sôi nổi. Những người không tin thị trường vàng ảo – vốn còn thiếu hệ thống quy định chặt chẽ, thiếu nhạc trưởng chỉ huy đồng nhất – thì tìm tới hai công ty vàng bạc đá quý lớn nhất thành phố là PNJ (Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận) và SJC (Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn) mua những miếng vàng có trọng lượng 1 chỉ (3,7gam), 2 chỉ (7,5gam), 5 chỉ (18,75gam), 1 lượng (37,5gam) để ‘thủ trong mình’. ‘Thủ sĩ’ Nguyễn Trung, bạn kẻ viết bài, khoe nhờ bám sát thời sự, khéo tính toán nên trong tuần qua, khi vàng Sài Gòn lên đến mức kỷ lục, ông xuất bán ngay một chục lượng, mỗi lượng lời 600.000 đồng, mười lượng 6.000.000 đồng, ngon ơ. Từ thắng lợi này, ông đưa ra lời khuyên ‘có tiền, đừng gửi ngân hàng, lãi suất chưa tới 1% một tháng, cũng đừng mua đôla dự trữ vì vàng lên là đôla xuống, trữ chỉ lỗ. Tốt nhất mua vàng, chờ lên giá, bán kiếm lời. Rồi lại mua, lại bán. Cứ thế mà quay vòng’.

Không dám bước vào vòng quay của vàng, kẻ viết bài chỉ đứng ngoài quan sát và ghi lại. Tuy không phải là lời vàng ý ngọc gì, nhưng cũng mong được bạn đọc thưởng lãm, để người viết khỏi ngậm ngùi ‘Vàng trôi không tiếc, tiếc công viết về vàng’. [NTLA]

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

HÃY VIẾT BẰNG NHỮNG CHỮ HOA ĐẸP NHẤT
Cận Ảnh Nhân
Thứ bảy, ngày 12 tháng chín 2009, trời lành lạnh như đã bắt đầu sang thu, nhưng mặt trời hình như cũng biết rằng, ngày hôm nay có gì đó cần quan tâm, nên cũng cố gắng xua đuổi những đám mây vần vũ những tia nắng ấm áp chiếu xuống cảng Hamburg. Gần đến trưa, thì khu vực đê của hải cảng Hamburg đã ngập kín người, tóc đen có, tóc vàng có. Họ đổ về từ nhiều nẻo đường của nước Đức: Từ München, từ Bá Linh, từ Reutlingen, Bergkamen, Bochum, Hannover … và dĩ nhiên từ Hamburg, trên tay họ là hai lá cờ phất phới, một cờ Đức, một cờ vàng ba sọc đỏ. Rạng rỡ, vui vẻ. Không phải chỉ vì họ được gặp lại những người thân quen và cũng không phải chỉ vì những con tàu to lớn bỏ neo nằm sừng sững trên hải cảng dưới ánh nắng tuyệt đẹp của ngày đầu thu. Họ đến để cùng biểu lộ niềm tri ân đối với chính quyền và nhân dân Đức, và đặc biệt là đối với Ủy Ban Cap Anamur, mà người sáng lập là tiến sĩ Rupert Neudeck.

Sáng kiến "một con tàu cho Việt Nam" của Ủy Ban Cap Anamur với chuyến khởi hành đầu tiên từ hải cảng Kobe của Nhật Bản ngày 09 tháng tám 1979, đã cứu được tổng cộng 11.300 thuyền nhân Việt Nam trên biển Đông, trong đó có 287 người trên Cap Anamur I, ngày 26.07.1982, và 375 người, Cap Anamur II, ngày 05.09.1986 đã được đưa trực tiếp về hải cảng Hamburg. Ngoài ra, cả ba con tàu đi cứu người vượt biển đều có cảng mẹ tại Hamburg. Những nỗi đau thương của thuyền nhân tỵ nạn cộng sản trên biển Đông do bão tố, hải tặc, đói khát… đã tạo nên một làn sóng ủng hộ mạnh mẽ của dân Đức. Theo lời ông Neudeck thì cho đến thời gian cuối cùng của dự án "một con tàu cho Việt Nam" vào năm 1986, tổng số tiền ủng hộ đã lên đến 29 triệu Đức Mã, tức là khoảng 15 triệu Euro. Đây quả nhiên là một số tiền khổng lồ. Nhưng nếu ta biết rằng, cho mỗi ngày hải hành, con tàu Cap Anamur đã phải tốn trên 10.000 Euro tiền xăng nhớt, lương thực, thuốc men, thuỷ thủ đoàn, bãi đậu và tiền thuê tàu, thì con số 15 triệu thực ra cũng là con số cần thiết.

Hôm nay, sau 30 năm, những con người được cứu ngày trước tụ họp lại để nói lời tri ân bằng một biểu tượng, được xây trên khu vực đê của hải cảng Hamburg, do sáng kiến của các thành viên Hội Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg. Một cuốn sách bằng đồng đúc, 80x60x15cm, viết bằng ba thứ tiếng Đức, Anh và Việt, ngỏ lời tri ân và ghi lại con số người Việt đã được cứu vớt khi trốn chạy tai họa cộng sản tại Việt Nam. Cuốn sách nằm trên một trụ đá hoa cương đen cao 130 cm trong một khu đất biệt lập rộng 50 mét vuông, được trồng cây rất thanh lịch và hai con sư tử đẽo từ đá hoa cương trắng đứng canh gác hai bên tượng đài, làm nổi bật nét Á Châu. Phía sau, ban tổ chức treo ba lá đại kỳ: Cờ vàng ba sọc đỏ, cờ Đức đen đỏ vàng và cờ tiểu bang Hamburg nền đỏ và hình cổng thành Hamburg màu trắng. Bên dưới là tấm biển lớn nền vàng: "Danke Deutschland, Cap Anamur" (tri ân nước Đức, tri ân Cap Anamur). Hình ảnh ba lá đại kỳ bay trong gió trên một hải cảng tiếng tăm của thế giới tạo nên một cảm giác thật lạ lùng Hồn thiêng sông núi như phảng phất trong hơi nắng của quê hương thứ hai, nhưng thân cận như quê hương thứ nhất. Sự có mặt của các chính khách cấp liên bang và tiểu bang, cộng thêm một số các cựu giới chức của Đức đã tạo nên không khí của một ngày hội lớn mang tầm vóc quốc gia. Các chính khách liên bang là ông Wolfgang Schaeuble, bộ trưởng bộ nội vụ liên bang, ông Müntefering, chủ tịch đảng Dân Chủ Xã Hội Đức (SPD), ông Vaatz, phó chủ tịch nhóm dân biểu hạ viện liên bang của liên đảng Thiên Chúa Giáo Đức CDU/CSU. Các chính khách tiểu bang gồm có: bà Karin von Welck, bộ trưởng văn hoá thể thao và truyền thông của bang Hamburg; ông tiến sĩ Philipp Roesler, bộ trưởng bộ kinh tế lao động và giao thông của bang Niedersachsen, một bộ trưởng trẻ nhất của CHLB Đức từ trước đến nay, là người gốc Việt, được một gia đình Đức nhận làm con nuôi từ một nhà trẻ tại Nam Việt Nam khi ông mới ba tuổi; ông Barmberger, bộ trưởng tư pháp của bang Rheinland Pfalz; ông tiến sĩ Albrecht, nguyên thống đốc của bang Niedersachsen, người đã khởi xướng việc nhận người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản vào nước Đức; ông Ulrich Klose, nguyên thống đốc của bang Hamburg; ông Freimut Duve, cựu thượng nghị sĩ, đặc trách khối Tự Do Ngôn Luận các quốc gia Âu Châu; ông tiến sĩ Rupert Neudeck, người sáng lập Ủy Ban Cap Anamur và Grünhelme e.V.; ông Harry Voss, chủ tàu Cap Anamur (em trai của cố chủ tàu Cap Anamur) và ông Aiman A. Mazyek,tổng thư ký hội đồng trung ương Hồi Giáo tại CHLB Đức (FDP), cũng như nhiều giới chức, thân hữu quan trọng Việt Đức và các giới truyền thông Việt Đức trong và ngoài nước.
Image Trong bài diễn văn ông bộ trưởng liên bang Schaeuble đã khẳng định: "… sự có mặt của người Việt tại CHLB Đức đã làm phong phú hóa cho nước Đức…" và"… là một thí dụ điển hình cho thấy rằng, đa nguyên và hội nhập không phải là mối đe dọa, mà là một cơ hội tốt…". Ông cũng khẳng định: "Tự do chỉ thật sự có giá trị, khi nó đứng vững được trong tình người" (Die Freiheit ist nur etwas wert, wenn sie sich in der Humanität bewährt. ).

Ông bộ trưởng gốc Việt Roesler trong bài nói chuyện đã cho biết rằng, ông đã bị những ngăn cản chính trị để đến tham dự lễ khánh thành tượng đài này. Nhưng ông phát biểu:"… người làm chính trị thường phải có lý khi hành xử. Nhưng có lúc họ phải làm điều đúng. Và vì thế mà tôi vẫn đến đây, trong tư cách chính trị!" Chuyện gì đã xảy ra?

Sau khi những người khởi xướng dự án xây tượng đài tại cảng Hamburg gửi thư đến chính quyền Hamburg vào cuối năm 2006, thì họ đã bị từ chối với lý do là trên cảng Hamburg đã có hai tấm bảng đồng của người Do Thái, tưởng niệm cuộc chạy trốn Đức Quốc Xã của người Do Thái thời đệ nhị thế chiến. Hai tấm bảng này có tương quan trực tiếp đến lịch sử của nước Đức. Việc dựng một tượng đài liên quan đến người tỵ nạn ở những vùng không thuộc nước Đức trên khu vực này, có thể bị hiểu lầm là (người ta) tìm cách tương đối hóa việc tiêu diệt người Do Thái dưới thời Đức Quốc Xã, nghĩa là làm cho nó không còn là độc nhất vô nhị, mà "chỉ là" một tội ác như bao tội ác khác! Nhờ sự lên tiếng của mạnh mẽ của ông Neudeck, các vị cố vấn Đức và giới truyền thông nên cuối cùng chính quyền Hamburg đã chấp thuận. Sau những so đo, kèn cựa về hình thức, kích thước của tượng đài, cuối cùng kết quả được chấp thuận là cuốn sách đồng nằm trên trục đá như đã diễn tả phía trên.
Image Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đây. Ngay sau khi cuốn sách đồng vừa được một nhà đúc đồng dưới miền Nam nước Đức hoàn thành và gửi về Hamburg, thì Ban Đại Diện của Hội Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg cũng nhận được thư của văn phòng thống đốc bang Hamburg mời đến để gặp gỡ. Họ muốn điều gì? Họ yêu cầu gạch bỏ chữ "cộng sản" trên cuốn sách! Nghĩa là chỉ có chữ "tỵ nạn". Và thay vào chữ "người tỵ nạn" là chữ "người"; bỏ chữ tỵ nạn! Nói cách khác, theo ý họ thì trên tấm bia ngàn năm trơ gan cùng tuế nguyệt và với sự chứng kiến của hàng triệu triệu con mắt khách thập phương, sẽ ghi rằng: có một nhóm người Việt (11.300 người!), không hiểu vì lý do gì lang thang trên biển Đông và được tàu Cap Anamur của Đức cứu về!

Tại sao chính quyền Hamburg lại muốn như thế, khi cho đến thời điểm này, họ biết rằng, tượng đài kia, khác với hai tấm bảng đồng ghi bản án tội ác đối với người Do Thái, sẽ là một huy chương danh dự to lớn cho dân tộc Đức và cho Hamburg? Khó hiểu. Nhưng sau những qua lại gay gắt, thì ta biết "ai trồng khoai đất này": Bộ Ngoại Giao của nước CHXHCN Việt Nam tại CHLB Đức – và theo suy đoán của nhiều người thì cũng có sự tham gia của Bộ Ngoại Giao Trung Cộng - đã làm áp lực ngoại giao để bắt buộc phủ thống đốc Hamburg phải tìm cách "tương đối hóa" cái tượng đài khó chịu này!

Thế nhưng họ đã lầm to. Trong lá thư gửi thống đốc tiểu bang Hamburg Ole von Beust ông Vaatz, phó chủ tịch nhóm dân biểu hạ viện liên bang của liên đảng Thiên Chúa Giáo Đức CDU/CSU, một chính trị gia gốc Đông Đức cũ, một người đã từng nếm mùi thiên đường "Xã Hội Chủ Nghĩa", đã viết như sau: "Ich bitte Sie, diesen dreisten Zensurversuch Ihrer Behörde zurückzunehmen. Ich halte es für unerträglich, wenn in der Stadt Hamburg weltweit bekannt für Freiheitsliebe, Toleranz und Menschenwürde - ein Klima der Katzbuckelei vor menschenverachtenden Ideologien einziehen sollte, in der man Täter und ihre Verbrechen nicht mehr beim Namen nennen darf". (Tôi đề nghị ông nên rút lại việc tìm cách kiểm duyệt trơ tráo do các cơ quan của ông. Tôi thấy đây là một điều không thể chấp nhận được, khi ngay tại Hamburg, một thành phố nổi tiếng thế giới về tinh thần yêu mến tự do, bao dung và nhân quyền, lại xuất hiện một bầu khí của sự khom mình như một con mèo nhỏ trước những học thuyết phản nhân tính, để rồi người ta không còn được phép nhắc đến tên của thủ phạm và những tội ác của chúng).
Image Và khi cấp trên giáng xuống một đòn chí tử như thế, thì hẳn nhiên phủ thống đốc không còn dám "khôn nhà dại chợ" nữa, và chấp thuận cho Hội Tượng Đài Tỵ Nạn giữ nguyên văn bản cũ. Tưởng cũng nên nói thêm để hiểu rõ hơn mức độ cưỡng ép ngoại giao đến độ nào: Phủ thống đốc Hamburg đã ngỏ lời sẵn sàng trả hết mọi chi phí đúc lại cuốn sách đồng, và còn sẵn sàng đứng ra để lo chuyện đó nếu vì lý do thời gian cấp bách không thể giải quyết kịp cho đến ngày khánh thành. Khi đó còn đúng 5 tuần lễ!

Nhưng chuyện chưa dừng lại ở đây. Sau khi thử sức tại Hamburg không xong, "Đảng và nhà nước ta trong tinh thần duy ý chí" lại mò mẫm đi tìm một con đường khác. Hai ngày trước khánh thành, Hội Tượng Đài Hamburg nhận được điện thoại của văn phòng bộ trưởng kinh tế bang Niedersachsen, hỏi cặn kẽ về nội dung viết trên bảng đồng; và dĩ nhiên không phản ứng gì sau khi biết rõ tự sự.

Ngày 12.09.2009, tiến sĩ Philipp bộ trưởng kinh tế, lao động và giao thông của bang Niedersachsen xuất hiện tại lễ khánh thành như đã hứa. Và ông tuyên bố: "… tôi đã bị sức ép từ nhiều phía, kể cả phía chính trị, yêu cầu không đến tham dự lễ khánh thành này…". Nhưng ông đã làm điều đúng, như ông tuyên bố thẳng thừng, mặc dù ông biết rằng có thể sẽ gặp những khó khăn chính trị. Khó khăn ấy là gì? Thời gian tới, ông bộ trưởng dự định sẽ cùng một phái đoàn kinh tế sang thăm Việt Nam, để thương thảo một đề tài gì đó về tương quan kinh tế giữa Việt Nam và bang Niedersachsen. Và nhà cầm quyền Việt Nam đã nhỏ nhẹ khuyên ông là tốt hơn không nên đến Hamburg, vì nó có thể ảnh hưởng đến chuyến đi của ông!

Bắt chước theo lề lối bên Mã Lai và Indonesia, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam biết rằng, họ không thể ngăn cản con dân Việt ở nước Đức làm điều đúng, nhưng tìm mọi cách để "tương đối hóa" việc làm này. Và như lời giải thích phía trên thì quả nhiên, sự cố gắng của họ cũng không phải là không có lý do. Nghe rất giản dị, nhưng hậu quả thì khôn lường! Có điều họ lại nhầm lẫn: đây không phải là một xứ sở độc tài. Những chính trị gia Đức không phải là những đảng biểu, nghị gật. Họ làm chính trị bằng tâm huyết, trí tuệ và bằng lương tâm trong sáng. Thêm vào đó, những người cộng sản đã sai khi đánh giá đối thủ: họ chỉ nhìn thấy sợi dây cũ nát là đám "Việt Kiều phản động", nhưng không thấy được rằng, cuối sợi dây là con trâu mộng to tướng! Sự có mặt của các đại diện cấp cao nhất của chính quyền liên bang đã xác minh điều này.

Ông bộ trưởng liên bang, ông chủ tịch đảng cầm quyền SPD và một lô các bộ trưởng cùng rất nhiều quan khách Đức đã cùng nghiêm trang với 1.200 người Việt hướng về hai đại kỳ để cất cao bài Quốc Ca Đức và Quốc Ca của Việt Nam Cộng Hòa ("quốc ca của một Việt Nam dân chủ" như theo bài tường trình của tờ nhật báo lớn nhất nước "die Welt"). Nhiều người đã rơi lệ vì cảm động. Tất cả đã bồi hồi cất cao lời "…Công dân ơi mau hiến thân dưới cờ! Công dân ơi mau làm cho cõi bờ thoát cơn tàn phá! Vẻ vang nòi giống xứng danh giòng giống Lạc Hồng". Cõi bờ đang bị tàn phá thật sự bởi một nhóm người nhân danh một chủ thuyết không tưởng, nhưng vô lương, kêu gọi đoàn kết dân tộc, nhưng đang dâng đất nước cho ngoại bang, coi đất nước là của riêng, coi dân mình là đầy tớ. Bài Quốc Ca hôm nay nghe giống như một lời hiệu triệu, vang lên giữa cái mênh mông của sóng nước với ánh nắng chan hòa, giữa một bầu trời tự do. Không cảm động sao được?

Ông Vaatz đã cho rằng, sự ra đi trốn chạy cộng sản của người Việt Tỵ Nạn những năm đầu thập niên 80 đã là khởi điểm cho sự sụp đổ của bức tường Bá Linh ô nhục và dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ các nước cộng sản tại Âu Châu vào đầu thập niên sau. Ông đã cám ơn người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trong vai trò lịch sử này!

Còn chúng ta, những người Việt tỵ nạn, chúng ta nghĩ gì? 30 năm trời là một thời gian khá dài cho một lời "tri ân". Nhưng dù sao, trễ vẫn hơn không! Khi được tin về dự án xây dựng một tượng đài tỵ nạn tri ân Cap Anamur và nước Đức tại Hamburg, hầu hết đều đã rất vui mừng. Sự ủng hộ vật chất và tinh thần từ khắp nước Đức và từ Mỹ, Úc đã chứng minh điều đó. Từ các cụ cao niên ở München (Munich) đã cặm cụi đứng ra tổ chức tiệc, văn nghệ, nấu nướng buôn bán, để lấy tiền gửi về Hamburg, cho đến các tổ chức bạn, từ tôn giáo đến văn hóa, đều tìm cách để quyên tiền cho quỹ tượng đài.

Thế nhưng, bên cạnh những sự nhiệt thành trong sáng đó, thì lại xuất hiện "những ý kiến khác". Có hai thái độ hầu như hoàn toàn trái nghịch đã xảy ra: Nhóm thứ nhất tìm cách để tránh né, vì cho rằng đó là "một việc làm chính trị, không nên nhúng tay vào". Và khuyên người khác không nên tham gia. Những người thuộc thành phần này là những người có tiếng nói trong cộng đồng. Họ là những nhà lãnh đạo tôn giáo, là những người ít nhiều hoạt động tích cực trong cộng đồng. Và họ cũng là những người đã chịu ơn cứu tử của con tàu Cap Anamur, giờ đây cũng đang được sống trong tự do và no ấm trên quê hương thứ hai.

Cái thái độ thứ hai thì trái ngược hẳn. Họ đòi hỏi Hội Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg phải thêm vào tên hội hai chữ cộng sản chẳng đẹp đẽ gì. Họ đặt vấn đề với thành viên này, thành viên kia trong Hội, họ chụp mũ cho người này bất xứng, người kia thân cộng. Rồi họ bảo rằng họ sẽ không thèm đến tham dự vì "ông Neudeck cấm treo cờ, ông Neudeck không cho hát Quốc Ca!" Rồi họ tung ra đủ thứ tin đồn thất thiệt, gây hoang mang không ít trong cộng đồng. Trong khi những người có trách nhiệm ngày đêm phải suy nghĩ nhiều chuyện khác nhau, phải bỏ thời giờ, tiền bạc để đi đây đi đó vận động, và có lần đã suýt mất mạng dọc đường, thì họ ngồi phê phán bâng quơ: "Tại sao khi làm chuyện này các anh không hỏi ý kiến cộng đồng?" Họ định nghĩa "cộng đồng" là họ, nên khi không được ai hỏi tới thì họ thấy phiền hà. Dễ hiểu. Họ đòi hỏi phải làm cái này, phải làm thế kia, mặc dù họ chẳng biết người ta làm gì cả!

Đến đây, người viết lại nhớ đến dụ ngôn người Samariter nhân lành, mà ông Neudeck kể lại trong cuốn sách mới xuất bản của ông "Zwei Leben für die Menschlichkeit" (hai cuộc đời cho nhân đạo). Ông viết rằng: "Một người đàn ông cùng vợ và hai con, một nhỏ một lớn, trên đường đi từ Giêrusalem đến Giêrichô. Đứa nhỏ nằm trên lưng anh thở hổn hển, lừ đừ mệt mỏi. Và họ sa vào tay bọn hải tặc.
Những tên cướp lột trần người vợ, hãm hiếp bà trước mặt chồng và hai con, rồi để bà nằm đó dở sống dở chết. Chúng đánh trọng thương người chồng, rồi bỏ đi. Tình cờ có một thầy tư tế cũng đi qua con đường đó; ông nhìn thấy họ, nhưng vẫn tiếp tục đi. Và rồi cũng một luật sĩ đi ngang đó, ông nhìn nạn nhân, nhưng rồi cũng bỏ đi.
Có một người Samariter cùng với vợ cũng đi trên tuyến đường ấy. Khi họ nhìn thấy người đàn bà máu me bê bết và người chồng bị đánh, liền động lòng thương gia đình này. Họ chăm sóc cho người đàn đà bị hãm hiếp, băng bó vết thương và đưa người đàn bà lên lưng lừa, những người khác cùng khập khễnh theo về quán trọ. Ở đây họ đã lo lắng cho gia đình này có nơi nghỉ đêm và không phải trả đồng nào cả. Hôm sau, người Samariter đưa ba quan tiền cho chủ quán và nói với ông: Hãy chăm sóc cho gia đình này chu đáo và nếu phí tổn nhiều hơn ba quan tiền thì khi trở về tôi sẽ trả đủ cho ông…". [1]

Một câu chuyện thật đẹp. Người Samariter sau khi giúp người kia đã lại lao đầu trở về với cuộc sống thường nhật, và có khi cũng không còn biết tên của những người mà ông đã cứu giúp.

Thế nhưng, nếu câu chuyện đó xảy ra nơi người Việt thì nó có thể sẽ tiếp diễn như sau: "Khi người Samariter trở về nhà và thuật lại câu chuyện tại Giêricho cho bạn bè chòm xóm. Thì lập tức có những tiếng bàn tán ngày càng ồn ào. Người thì cất tiếng chỉ trích: "Tại sao ông lại đi giúp những người kia? Chúng nó là Đông Âu, chúng nó là Việt Cộng!" Một người khác có vẻ trí thức hơn giơ tay điềm đạm nói: "Tại sao khi làm việc đó ông không hỏi ý kiến cộng đồng?". Kẻ khác có vẻ hung hăng hơn, lên giọng mạt sát: "Khi ông giúp chúng nó mà ông không treo cờ là ông khinh tổ quốc!" vân vân và vân vân. Những lời qua tiếng lại làm nhức đầu chòm xóm. Trong sự phẫn nộ, mọi người quên mất không hỏi xem, ý kiến của người Samariter ra sao. Người Samariter thầm nghĩ: "Làm việc thiện thực ra cũng không đơn giản!"…"

Ông bộ trưởng liên bang đã có lý khi nhấn mạnh: "Tự do chỉ thật sự có giá trị, khi nó đứng vững được trong tình người/ Die Freiheit ist nur etwas wert, wenn sie sich in der Humanität bewährt.". Ông hiểu rõ chân lý lấy từ câu truyện trên. Hai nhóm người vừa được nhắc đến đã không có khả năng để nhìn thấy mục tiêu chính của công việc, đó là sự cố gắng "viết bằng những chữ hoa đẹp nhất" một lời tri ân.

Nắng đã giảm màu, trời đang kéo mây vần vũ, nhưng vẫn còn rất nhiều người vây quanh tượng đài để chờ chụp một tấm hình làm kỷ niệm. Những tấm hình đẹp rồi sẽ phai. Dư âm của ngày lễ rồi sẽ mất. Tượng đài Tỵ nạn rồi cũng sẽ chỉ còn là một miếng đồng nằm chơ vơ trong sương gió không ai ngó ngàng tới. Nhưng món nợ ân tình sẽ mãi theo ta đến trọn đời.

"Hãy trang trọng viết bằng những chữ hoa đẹp nhất trên trang đầu quyển sách đời ta hai chữ Biết Ơn!" Câu nói thật giản dị, nhưng âm vang như một mệnh lệnh. Khi con người đánh mất lòng biết ơn, thì khi đó có thể người ta cũng đang quên mất tình người. Tượng Đài Tỵ Nạn tại Hamburg chắc chắn chưa phải là "những chữ hoa đẹp nhất", nhưng nó nhắc nhở đến khả năng thần kỳ của tình người trong sáng, không tính toán. Cám ơn Trời. Cám ơn người. Cám ơn sự tri ân.

Hamburg những ngày đầu thu 2009
Cận Ảnh Nhân

[1] Zwei Leben für die Menschlichkeit, Christel und Rupert Neudeck, Gütersloher Verlagshaus, S. 38-39, 1. Auflage 2009.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

CÁC KIỂU CẦU HÔN TRÊN THẾ GIỚI
* PHÁP : khi cầu hôn, đàn ông Pháp quỳ một chân xuống đất, tay phải cầm mũ, tay trái xoè ra, còn mặt thì ngước lên. thực ra đấu là tư thế xuất phát của vận dộng viên chạy nước rút, để nếu cô gái không bằng lòng, chàng trai sẽ co cẳng chạy.

Đàn ông Pháp không hỏi " em có lấy anh không ?" mà hỏi " em có muốn làu bàu anh không ?"là phụ nữ hiểu, vì nước Pháp nhiều rượu vangnên ông chồng nào cũng say và bà vợ nào cũng làu bàu.

* ANH : đàn ông Anh khi cầu hôn thì nghiêng mình tay phải đặt lên trái tim, tay trái đặt lên ví tiền, ý muốn nói sẵn sàng mổ cà 2 thứ đó.Vì hôn nhân cũng bí hiểm như sương mù, mà bước Anh nổi tiếng nhiều sươmg mù, nên đàn ông Anh chỉ cần hỏi " em có muốn 2 ta cùng mờ ảo không ?" là cô gái hiểu ngay .

* TÂY BAN NHA : đất nước này nổi danh với đấu bò, và bất cứ cái gì cũng được so sánh với nó, hôn nhân cũng chẳng ngoại lệ.
Đàn ông Tây Ban nha cầu hôn bằng cách húc đầu vào cửa nhà cô gái. Nếu cổng mở ra có nghỉa là họ thành công, còn nếu không thì sưng đầu, cho nên bạn đừng ngạc nhiên khi đến Tây ban nha thấy nhiều chàng trai đội mũ xuống ngày đêm với mục đích che cái đầu sưng.

* AI CẬP : Ai cập là xứ sở sa mạc. và sa mạc nổi tiếng nhất là lạc đà. Khi cầu hôn , đán ông Ai cập hơi khom mình xuống, ý nói sẵn sàng làm lạc đà cho vợ suốt đời.
Chàng trai Ai cập chỉ việc hỏi cô gái : Em có muốn vào kim tự tháp với anh không ?" thì nàng hiểu đó là lời cầu hôn. Nếu cô gái đầng ý nàng gật đầu. Nếu chưa đồng ý nàng chỉ việc trả lời " em chưa muốn thành xác ướp anh ạ " chàng trai sẽ hiểu và rút lui.

* NHẬT BẢN : đất nước này nổi tiếng vì hoa anh đào nên các chàng trai Nhật khi cầu hôn ai cũng trèo lên cây và hỏi" em có muốn leo cây suốt đời với anh không ?"nếu cô gái đồng ý họ sẽ leo lên cây, còn nếu không đồng ý họ sẽ ù té chạy và chảng trai buông mình rơi từ trên cây xuống đất. Cũng may là cây anh đào không caonên chàng trai chỉ khập khễnh là cùng. Do đó nếu có dịp tới Nhật thấy 1 chàng trai chống nạng thì khách khứa hiểu ngay chàng trai đó chưa vợ.

* UC : nước Úc nhiều cá sấu. và ai cũng cho rằng đó là 1 con vật hùng mạnh oai vệ.
Đàn ông Úc muốn cầu hôn chỉ cânhòi cô gái " em có cần 1 cá sấu trong nhà không ?", nếu cô gái gật đầu là thành công. Nếu cô gái trả lời: em chỉ thích răng cá sấu thôi "là nàng đang suy nghĩ, còn nếu đáp " em còn thích cá voi hơn " là nàng dứt khoát từ chối.

* MỸ : các cô gái Mỹ vẫn thích phim cao bồi. Khi cầu hôn, đàn ông Mỹ phóng ngựa qua cửa sônhả nàng và bắn súng lên trời ( nếu không có ngựa thì phóng xe hơi ). còn súng chả ai không có, nhiều chàng trai có cả đại bác. Nếu bằng lòng , cô gái sẽ đu dây nhảy ra. Còn nếu không bẳng longthì họ bắn lại, nên vào mùa cưới ở Mỹ, khắp nơi đều nghe tiếng súng vang rền !!

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tường trình Chuyến Đi Thăm Linh mục Nguyễn Văn Lý
tại Trại tù Ba Sao, Hà Nam


HUẾ - Sau lần thăm nuôi linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý trở về, chị ruột ngài, bà Nguyễn Thị Hiểu, đã cho Tòa Tổng Giám Mục Huế biết những thông tin về sức khỏe không được tốt của ngài. Hai Đức Cha và các Cha trong Giáo Phận đã cầu nguyện nhiều cho ngài luôn được mọi sự bình an.
Tòa Tổng Giám Mục Huế đã cử hai linh mục đại diện Giáo Phận, là linh mục Gioan Baotixita Lê Quang Quý, Quản xứ Nhà thờ Trí Bưu, kiêm Hạt Trưởng Hạt Quảng Trị, và linh mục Bênêđictô Lê Quang Viên, Quản Lý Nhà Chung, đi thăm linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý vào ngày 17 tháng 9 năm 2009.

Trước khi gặp linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, hai linh mục đại diện Giáo Phận đã gặp Ban Giám Đốc Trại tù và Bộ Công An, và đã trao đổi những điều như sau:

1/ Tòa Tổng Giám Mục yêu cầu Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù cho linh mục Nguyễn Văn Lý đi bệnh viện khám và chữa bệnh.

Về đề nghị nầy, Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù đồng ý theo yêu cầu của Tòa Tổng Giám Mục Huế, là để linh mục Nguyễn Văn Lý được đi chữa bệnh bên ngoài Trại tù với điều kiện linh mục Nguyễn Văn Lý yêu cầu.

2/ Tòa Tổng Giám Mục Huế yêu cầu Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù xem xét để linh mục Nguyễn Văn Lý sớm trở về với Giáo Phận Huế.

Về đề nghị nầy, Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù chưa có ý kiến.

3/ Tòa Tổng Giám Mục Huế đề nghị Trại tù hãy tạo mọi điều kiện để linh mục Nguyễn Văn Lý được làm phận vụ của một linh mục và tạo điều kiện cho gia đình của ngài được phép thường xuyên thăm nuôi.

Về đề nghị nầy, Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù chấp thuận.

Sau khi hai linh mục đại diện đã trao đổi với Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù xong, linh mục Nguyễn Văn Lý được mời lên để nói chuyện.

Trước mặt đại diện Bộ Công An và Ban Giám Đốc Trại tù, hai linh mục của Toà Tổng Giám Mục Huế nói lại ba điều đã đề nghị trên đây để cho linh mục Nguyễn Văn Lý nghe và xin ngài cho ý kiến.

Linh mục Nguyễn Văn Lý rất vui vẻ khi được hai linh mục đại diện Tòa Tổng Giám Mục Huế ra thăm với tình anh em linh mục. Ngài nhờ hai linh mục đại diện chuyển những lời sau đây đến hai Đức Cha và các Cha:

“Con rất vui sướng khi được Hai Đức Cha và các Cha Giáo phận Huế lo lắng và cầu nguyện cho con rất nhiều, đặc biệt là hình ảnh của Hai Đức Cha đã yêu thương con, hình ảnh mà con thấy rõ như hôm nay, là khi nghe tin con đau chưa biết thật hư thế nào, hai Đức Cha đã thu xếp gởi hai cha đến đây và còn gởi quà cho con nữa. Xin hai Đức Cha và quý Cha trong Giáo phận nhà tiếp tục cầu nguyện cho con. Mỗi ngày, trong khi con dâng lễ, hình ảnh hai Đức Cha và quý Cha cũng như mọi người trên Đất Nước Việt Nam, luôn hiện diện trong tâm trí con. Con xin dâng lên Thiên Chúa tất cả mọi ưu tư của Giáo Phận vì Thiên Chúa là tình yêu”.

Trong cuộc nói chuyện, linh mục Nguyễn Văn Lý còn cho hai linh mục đại diện biết thêm vài suy tư của ngài như sau:

“Con xin cám ơn Tòa Tổng Giám Mục Huế đã đề nghị những ý kiến với Trại và vị đại diện Bộ Công An để con được khám và chữa bệnh ở bên ngoài Trại. Đối với con, con chưa thấy có nhu cầu vì con vẫn chưa đến nỗi gì, trong lúc bên cạnh con, biết bao anh em khác cũng đang đau ốm, nhưng không được săn sóc cách đặc biệt như con. Con được Trại cử một bác sĩ giỏi để khám bệnh và phát thuốc cho con mỗi ngày. Trong thâm tâm, con thấy cũng áy náy vì làm phiền Trại và bác sĩ hơi nhiều. Nên con có đề nghị với Trại rằng từ nay, xin bác sĩ khám bệnh cho con mỗi tuần một lần là đủ rồi, để thì giờ lo cho các anh em khác”.

“Mỗi ngày, con được Trại cấp thuốc tai biến để uống. Thế là từ nay, thứ thuốc này sẽ gắn liền với cuộc đời của con như hình với bóng. Còn loại thuốc bổ não mà Trại cấp cho con uống, thì không hạp lắm vì đôi lúc con cảm thấy khó chịu, nên con đã tâm sự với bác sĩ để xin thay loại thuốc này. Trại đã đồng ý, thế là con xin gia đình mỗi lần thăm, thì đem thuốc ra cho con uống, vì uống nhiều thuốc tây quá, cũng không tốt. Hơn nữa, con cũng muốn cho gia đình con có tinh thần chia sẻ bớt gánh nặng cho Trại vì Trại không chỉ có một mình con, mà còn có nhiều anh em khác nữa. Con biết rằng con chỉ là hạt cát nhỏ của vũ trụ bao la này, một cơn gió thoảng qua, cũng làm nó biến đi, nhưng sao Chúa lại thương con như thế! Biết bao người hiền lành đạo đức, nhưng họ cũng bệnh tật đau yếu rồi chết, nên con xem những ngày trong tù là những ngày tháng con tĩnh tâm để nhận ra tình Chúa vẫn yêu con”.

“Con cũng nói cho hai cha biết sự việc con bị tai biến xảy ra như thế nào”.

“Lần thứ nhất, vào ngày 13/5/2009, con đi lui đi tới trong phòng để lần hạt, thì con thấy máu đen rơi vãi dưới nền nhà, nhưng không biết do đâu, vì mình có bị thương tích gì đâu mà chảy máu. Tìm mãi thì máu bẩm đó xuất ra từ dưới bìu. ... Con gọi bác sĩ đến thì bác sĩ đã cho con uống thuốc và xức thuốc để cầm máu, và con thấy mình vẫn không sao. Lần này, con có viết thư gởi về gia đình để nói sự việc như vậy, nhưng không rõ vì sao mà gia đình lại không nhận được tin do con gởi”.

“Lần thứ hai, vào ngày 25/5/2009, con lại bị nặng hơn bởi vì ngày hôm đó, con nhận được tờ báo Nhân Dân, nội dung trong đó có mục nói láo trắng trợn về con như sau: nói con có những hành vi xấu, chống đối Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa khi ra tước Tòa án vì con đã đạp đổ vành móng ngựa, vung tay chống trả lại người thi hành công vụ..., nhưng lúc đó, sức đâu mà con chống cự, khi con bị người ta giữ chặt và cách con hai mét, làm sao mà con đạp đổ vành móng ngựa được. Bức xúc vì những lời nói xuyên tạc trên tờ báo nầy, con đã bị choáng ngợp, rồi bị té ngửa, chảy máu một chút sau đầu do bị rách da. Sau đó, con thấy tay chân mình hơi bị cứng đi, nhưng các bác sĩ cũng đã kịp thời để chữa trị cho con. Ngày 14/7/2009, con viết một lá thư xin gia đình ra thăm con vào dịp đầu tháng 8/2009, mặc dù chữ viết của con lần này không được đẹp lắm vì căn bệnh tai biến. Con nói thế để hai cha biết rõ sự việc”.

“Hai cha biết không, mặc dù ở trong Trại, nhưng con biết cũng khá nhiều tin tức bên ngoài, như chuyện ở giáo xứ Loan Lý, chuyện ở Tam Tòa và nhiều chuyện khác nữa. Con nói vậy để hai cha biết rằng con luôn hiệp thông và cầu nguyện cho Giáo Phận nhà”.

Khi hai linh mục hỏi thăm đời sống của ngài thế nào ở trong Trại tù, thì linh mục Nguyễn Văn Lý nói:

“Con cho hai cha biết sơ qua, là giờ giấc ngủ thì tự do, lúc nào mệt là ngủ thôi, sáng thức dậy, làm xong phận vụ của mình, là coi ti vi và đọc báo, trồng cây cảnh chơi trong vườn, rồi đem chưng trong phòng cho có màu xanh. Chỗ ở thì phòng ốc cũng khá lắm, được lót men và có phòng vệ sinh tắm rửa đàng hoàng. Ăn uống thì đôi lúc cũng không có giờ giấc cho lắm vì vừa ăn, vừa xem ti vi, vừa đọc báo, nên đôi lúc, con cũng làm khổ bác sĩ đôi chút”.

Trước khi kết thúc buổi gặp mặt, linh mục Lê Quang Quý giải tội cho linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hai linh mục đại diện Toà Tổng Giám Mục Huế chia tay linh mục Nguyễn Văn Lý, sau một giờ thăm viếng.

Tường trình từ Huế, ngày 20 tháng 9 năm 2009
Linh mục Gioan Baotixita Lê Quang Quý, Quản Xứ Trí Bưu, Hạt Trưởng Hạt Quảng Trị
Linh mục Bênêđictô Lê Quang Viên, Quản Lý Nhà chung
LM GB Lê Quang Quý

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Tạ Lỗi Trường Sơn

Đỗ Trung Quân, tác giả bài thơ nổi tiếng Quê Hương vừa công bố bài Tạ lỗi Trường Sơn vi ết t ừ năm 27 tuổ i (1982). Đã 27 năm qua rồ i đế n nay mớ i dám công khai, đủ biết cái "tự do ngôn luậ n" của nhà nước XHCN nó " ưu việ t" như th ế nào !

Đã 34 năm trôi qua. Hòa bình cũng dài ngang bằng cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử. Chưa có cuộc chiến nào ám ảnh một dân tộc cho bằng cuộc chiến tranh này, nó thay đổi hình thái xã hội, thay đổi số phận con người.

Công bố bài thơ viết năm 27 tuổi, bảy năm sau hòa bình (1982) - nay nhìn lại, tôi cũng không hiểu điều gì đã dẫn dắt cho những dòng chữ này. Khi làm xong nghĩa vụ một thanh niên thời hậu chiến, người có lý lịch may mắn không vướng phải chuyện lính tráng dù thế hệ tôi sau “mùa hè đỏ lửa 1972” hầu hết cũng đã “yên vị” khói hương trên bàn thờ gia đình.

Còn nhớ những năm của thập niên 80, giáo sư Nguyễn Khắc Viện viết một bài đanh thép trên báo Sài Gòn Giải Phóng “Sen hay Bùn” về danh xưng khi nào thì gọi là thành phố Hồ Chí Minh, khi nào thì gọi là Sài Gòn? và ông khẳng định cái tốt thì gọi tp HCM, cái tệ nạn, cái xấu, cái "tồn đọng" thì gọi là Sài Gòn.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đã đối thoại bằng một bài báo khác (tất nhiên ông không thể đăng bài phản biện ấy trên báo SGGP như trong một xã hội bình thường), ông nhắc rằng hiện tại sau 10 năm giải phóng, thành phố vẫn còn một tờ báo lớn tiếng nói chính thức của “Đảng bộ và nhân dân thành phố” tờ Sài Gòn Giải Phóng (nó vẫn còn đến tận hôm nay), còn một nhà máy thuốc lá Sài Gòn, còn một đội bóng danh tiếng mang tên Cảng Sài Gòn (nay đã không còn)… Bài thơ này, có lẽ là cái nhìn đau đớn đầu tiên của một người trẻ tuổi vừa từ chiến trường K trở về với bao nhiêu hoài bão sau khi chứng kiến những hy sinh cao đẹp của một thế hệ thanh niên Sài Gòn, những con người thành phố tuổi chỉ mới đôi mươi…

Hai mươi bảy tuổi và một bài thơ dài nhất của đời mình...

Image

TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN
(1982)

1.

Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Các anh từ Bắc vào Nam
Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
Các anh đến
Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác
Của xì ke, gái điếm, cao bồi
Của tình dục, ăn chơi
“Hiện sinh - buồn nôn - phi lý!!!”

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ
Các anh bảo Sài Gòn là trang sách “hư vô”
Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
Ngòi bút các anh thay súng
Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi
Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
Là thiêu thân ủy mị, yếu hèn
Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.

Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
Có anh thợ điện ra đi không về
Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ
Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa
Đi từ tuổi hai mươi
Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

Có ai hỏi những hàng dương xanh
Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước
Tội nghiệp nhưng đêm Sài Gòn đốt đuốc
Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng
Áo chùng đen đẫm máu
Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo
Những vị giáo sư trên bục giảng đường
Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

Sài Gòn của tôi - của chúng ta.
Có tiếng cười
Và tiếng khóc

3.

Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện
Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hy sinh…

4.

Và khi ấy
Thì chính “các anh”
Những người nhân danh Hà Nội
Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
Chửi đã đời
Chửi hả hê
Chửi vào tên những làng quê ghi trong lý lịch của chính mình
Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt
Những bà mẹ làm ra hạt lúa
Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

Bây giờ
Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
Các anh
Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu
Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô
Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh, ti-vi, cassette, radio…

Bia ôm và gái
Các anh ngông nghênh tuyên ngôn “khôn & dại”
Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
Các anh cũng chạy đứt hơi
Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

Sài Gòn 1982 lẽ nào…
Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.

Tội nghiệp em
Tội nghiệp anh
Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
Những ai đang cố tẩy rửa “lý lịch đen”
Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6.

Xin ngả nón chào các ngài
“Quan toà trong sạch”
Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi
Bình thản đổi thay lốt cũ
Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
Hồn nhiên xanh muôn thưở
Để yên cho xương rồng, gai góc
Chân thật nở hoa

Này đây!
Xin đổi chỗ không kỳ kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

Bây giờ…
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào “thượng đế”
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn?

Đỗ Trung Quân (1982)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »


Phự nữ Anh tốn nhiều Tiền mua sắm



Báo cáo mới đây chỉ ra rằng hầu hết phụ nữ thấy hạnh phúc nhất khi lượn lờ hết cửa hàng này sang cửa hàng khác và mua cái gì đó. Hơn 30% trong số họ không thể chịu nổi nếu không tiêu tiền, kể cả khi khả năng tài chính có hạn.

Joanna Leah, Giám đốc Tổ chức Ipswich Building Society, nơi thực hiện nghiên cứu, nhận xét trên tờ Dailymail: "Chất adrenaline là xúc tác thúc đẩy nỗi thèm khát được chi tiền. Mua sắm mang lại cho phụ nữ khoái cảm trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là cứ 10 cô thì có đến 4 người không thể kiểm soát hầu bao và cứ vung tay quá trán".


Chất adrenalin được xem là xúc tác khiến phụ nữ bị thôi thúc phải đi mua sắm. Ảnh: trendsupdates.com

5 trong số 10 phụ nữ Anh tham gia khảo sát khẳng định họ "buộc phải" tiêu tiền hằng ngày, dù chỉ là mua những thứ không cần thiết. Trong danh sách 10 món lặt vặt hay được chọn nhất, đồ ăn vặt, socola và bánh kẹo tại siêu thị chiếm ba vị trí đầu bảng. Phụ kiện, mỹ phẩm, sản phẩm cho nhà tắm như dầu gội và dầu xả cũng được lòng các cô. Ngay cả khi không có con cái, phụ nữ cũng khó cưỡng trước đồ chơi hay quần áo xinh xắn dành cho trẻ con.

Hơn một nửa số phụ nữ được hỏi, khoảng 53%, cho biết họ thường không hoạch định trước sẽ mua thứ gì, miễn là được rút ví ra. Nghiên cứu này thực hiện trên khoảng 5.350 phụ nữ khắp nước Anh. Dẫn nghiên cứu của Ipswich Building Society, Dailymail nhận định có thể 50% phụ nữ Anh, tương đương hơn 15 triệu người, mắc chứng nghiện mua sắm.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Hội Chứng "Ngồi Lê Đôi Mách"

“Kinds words can be short and easy to speak, but their echoes are truly endless”-
Mother Teresa
Sách Thần Y Hoang Đường Cổ Bản có ghi vắn tắt về Hội chứng như sau:” Đây là chứng bệnh của người ướt miệng, mỏng môi, lưỡi không xương. Khi hớt lẻo thì mắt la mày lét, ngó trước ngó sau với nhiều tà ý; xì xào to nhỏ vào tai người nghe. Khi dối trá tới cao độ thì tim đập nhanh, hơi thở rộn ràng, cặp mắt láo liên gian dối. Dối riết thành kinh niên, bất trị. Trưởng Lão Danh Y đề nghị phương thuốc “Á Khẩu Liệt Dương Hoàn” hoặc “Mặc y dối mãi thành điên cho rồi”.

Con người đang sống vào thời đại với kỹ thuật truyền thông nhanh và mạnh nhưng sự giao tế giữa người với người có vẻ ít phần tình cảm. Bi kịch xã hội dường như khuyến khích những lời nói làm tổn thương người khác. Trên diễn đàn công luận, những mẩu chuyện tào lao không có xuất xứ được nhiều người để ý. Đến nỗi một cựu Giám Đốc Báo chí Bạch Cung phải lên tiếng rằng “Không ai tin lời nói của phát ngôn viên chính thức nhưng mọi người đều tin nguồn tin đưa ra từ kẻ không tên”.

Có ý kiến cho rằng gossip không những đã trở thành một sinh hoạt của con người mà lại còn là một món hàng có giá. Truyền thanh, báo chí, truyền hình và ngay cả trên internet đã có biết bao nhiêu gossip đủ loại, thực giả về mọi người, từ những danh nhân tới người không tên tuổi. Và ai cùng tò mò muốn nghe, muốn đọc. Rồi tự do “mao tôn cương”. Với các cụ ta thì “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Ngày nay thì trước khi bàn chuyện doanh thương, quốc gia đại sự, thiên hạ có mươi phút mách lẻo chuyện người.

Giám Đốc Irvin Kassof của tổ chức Words Can Heal cho hay Mách Lẻo làm tổn thương cả triệu người Mỹ mỗi tuần lễ. Tổ chức này hiện đang quảng bá một chiến dịch để giảm lạm dụng ngôn từ, cải thiện dân chủ, tạo sự tương kính giữa người với người và mang lại uy tín cho đất nước.

Theo kết quả thăm dò ý kiến của Luntz/Lazlo cho tổ chức Words Can Heal ngày 17-21 tháng 8 năm 2001 thì: 117 triệu người Mỹ nghe hoặc chia sẻ gossip về người khác ít nhất một hoặc hai lần trong tuần; 51 triệu nhận là nói điều không hay sau lưng người khác một-hai /tuần; 63 triệu người cho hay người khác nói xấu về mình một-hai lần /tuần; 68% nói gossip là một vấn nạn tại trường học; 79% tại nơi làm việc; 80% trong chính trường; 84% trong tin tức truyền thông.

Đọc lại Luân Lý Giáo Khoa Thư của Việt Nam xuất bản trên nửa thế kỷ trước, thấy câu chuyện đáng suy gẫm sau đây: “Anh Nhị nghỉ học một ngày. Hôm sau đến trường nói dối thầy rằng: “Hôm qua con sốt, không đi học được”. Nghiêm ngồi ở cuối lớp, muốn làm cho Nhị phải phạt, đứng dậy mách rằng:” Thưa thầy, anh Nhị nói dối đấy ạ, hôm qua con trông thấy anh ấy đi câu với một người nữa ở ngoài bờ sông.” Thầy giáo ngoảnh lại mắng Nghiêm rằng:

“Tao có hỏi mày đâu, mà mày nói? Thằng Nhị nói dối, có tội đã đành, nhưng mày mách lẻo như thế thì mày là đứa vô hạnh”.

Cả lớp nhìn Nghiêm ra dáng khinh bỉ lắm. Nghiêm thẹn đỏ mặt, cúi gầm đầu xuống”.

Tác giả kết luận: “Đứa trẻ hay mách lẻo làm cho anh em bạn phải phạt là đứa trẻ bụng dạ hèn mạt, làm điều đáng khinh bỉ. Ta không nên mách lẻo”.

Đó là bài học đời xưa, bên ta.

Mới đây, bên Mỹ, đọc trong tạp chí The Opral Magazine, thấy người nghệ sĩ tài danh Opral Winfrey có tâm sự rằng:

“ Bản thân tôi đã biết những lời nói tiêu cực đó có hại như thế nào. Ngay từ khi mới vào nghề, các báo lá cải đã bắt đầu tung ra vô số điều không thực về tôi. Tôi choáng váng và cảm thấy bị ngộ nhận quá nhiều. Và tôi đã hoang phí nhiều sức lực để lo nghĩ rằng không hiểu mọi người có tin ở những điều mách lẻo đó không.

Tại sao họ lại có thể in những lời lẽ vu vơ như vậy nhỉ? Tôi phải tự chiến đấu lắm mới không kêu từng người để phân trần và bào chữa. Đó là trước khi tôi ý thức được điều mà bây giờ tôi hiểu. Khi kẻ nào đó tung tin thất thiệt về bạn, xin hãy quên nó đi, đừng sa vào cạm bẫy. Dù dưới hình thức một tin đồn lan truyền mọi nơi hoặc một bàn tán phàn nàn của bạn bè, lời thêu dệt đều phản ảnh sự bất an của người khởi sự loan tin. Khi nói xấu sau lưng một người nào đó là họ muốn tỏ rằng họ mạnh nhưng thực ra thì họ yếu kém, không giá trị, không có can đảm nói sự thực.

Mách lẻo cũng nói lên cho bản thân đương sự và cho người khác biết họ là người không đáng tin cậy. Gossip có nghĩa là đã không có can đảm nói thẳng với người mà họ muốn thảo luận mà quay ra mách lẻo để hạ giá trị người ta, điều mà Jules Feiffer gọi là đã phạm một tội sát nhân nhẹ.

Nói rõ ra, mách lẻo là một vụ giết người do một kẻ hèn nhát thực hiện. Chúng ta sống trong một nếp sống đầy những điều thêu dệt. Hôm nay anh ta mặc quần áo mầu gì; cô đó hẹn hò với kép nào; ai mới đây được nhắc nhở vì quá lăng nhăng tình ái.

Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu ta tạo ra một gia đình, một quan hệ bạn bè, một đời sống không mách lẻo chen vào?! Chúng ta sẽ rất ngạc thấy rằng ta sẽ có biết bao nhiêu thì giờ để làm nhiều việc ích lợi, quan trọng khác thay vì làm hại người ta. Sẽ có tràn đầy gia đình ta với những chân tình mà bạn bè muốn tới và ở lại với ta mấy ngày. Và ta cũng nhớ rằng nếu lời nói có thể hủy hoại thì cũng có sức mạnh hàn gắn”.

Và Opral đã làm theo lời khuyên của người bạn Maya Angelou: “Tôi tin là những lời nói xấu đều có một sức mạnh và nếu bạn để chúng xâm nhập vào gia đình bạn, trong tâm trí bạn, trong đời sống bạn, chúng sẽ thao túng bạn. Những lời nói tiêu cực đó sẽ ngấm vào đồ đạc bàn ghế nhà bạn rồi vào da thịt bạn. Chúng là những liều thuốc độc”

Vậy mách lẻo là gì mà ác hại thế nhỉ?!

Theo tự điển Việt Nam, Mách là nói cho người khác biết điều gì; Lẻo có nghĩa nhanh mồm miệng nhưng không thật. Mách lẻo là nói hoặc bàn tán chuyện riêng tư của người khác với người này người nọ, gây nghi kị mất đoàn kết.

Ý kiến chung cho mách lẻo là nói bất cứ điều tiêu cực, đúng hoặc sai của một người cho người khác nghe. Nhiều người nghĩ khi nói tốt về người nào đó thì cũng tốt đi.. Nói như vậy thì hợp pháp và không sao nhưng vẫn là ngồi lê mách lẻo và không đúng quy tắc xử thế.

Theo Lisa Kirk, người mách lẻo chuyên môn đưa chuyện người khác; kẻ vô duyên chỉ nói về mình; người lịch duyệt thì nói nhiều về bạn.

Jack Canfield, tác giả loạt sách The Chicken Soup for the Soul góp ý:“ Bằng cách nghĩ và nói tốt về người khác, mỗi chúng ta sẽ là vật xúc tác cho các cảm nghĩ tốt về mình, tăng niềm vui cho người và khích lệ sự hài hòa xã hội. Nhưng buồn thay, những lời tiêu cực về người khác, trước mặt hoặc sau lưng đều đưa tới sự băng hoại, sự mất vui, làm đau lòng mọi người. Dù lời hớt lẻo có là sự thực chăng nữa thì khi đi rêu rao, ta đã hạ phẩm giá của ta, của người và của tập thể”.

Cách ngôn Tây Ban Nha có câu “ Ai mách lẻo với bạn thì họ cũng mách lẻo về bạn”

Trong Thánh kinh ta học được: “Nói sai sự thực có chủ ý làm hại thanh danh của người khác là kẻ mách lẻo- Thượng Đế rất buồn lòng đối với kẻ nói xấu sau lưng người khác”.- Psalms 101:5.

Và “Biết điều riêng tư dù đúng hay sai của một người mà vội vàng kể cho người khác nghe là kẻ ngồi lê đôi mách”-Proverbs 11:13.

Ngũ Giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử với điều Bốn: Không Nói Dối, nói trái với sự thật để hại người, mưu cầu lợi cho mình. Người nói như thế là mất cả lòng nhân, không xứng đáng là một Phật tử.

Sao lại Ngồi Lê
Ấy vậy mà tại sao người ta hay lăng ba vi bộ đưa chuyện nhỉ?.

Các nhà tâm lý, xã hội học và biết bao nhiêu sách báo đã tìm hiểu về chứng tật này, để coi tại sao hay lan truyền, tại sao có người thích nghe. Có người nói nó như là một thứ dầu bôi trơn các thành phần trong xã hội khi mọi người giao tế với nhau; hoặc vì thế nhân đều bận bịu không có thì giờ gặp nhau thì cũng tò mò muốn biết xem người kia ra sao, có gì mới lạ không.

Nói chung mục đích kẻ mách lẻo thường là:
Để chứng tỏ mình là người giao thiệp rộng, thành thạo mọi sự việc;
Để nâng cao vai trò của mình, hoặc lôi cuốn chú ý về mình;
Để mua ảnh hưởng tạo cảm tình gắn bó với người khác;
Để tỏ tài dí dỏm của mình về chuyện tào lao của người khác;
Để che đậy sự thiếu khả năng nói chuyện của mình;
Để biểu lộ sự tức giận và trả thù đối với một người;
Để gieo rắc nghi kỵ giữa mọi người, hy vọng mang phần lợi cho minh
Để lòe lại khi bị thất thế, uy hiếp;
Để giấu giếm sự mình ghét người đó; vì họ điên khùng -Proverbs 10:18; vì họ không có việc gì để làm-Timothy 5:13

Như một bệnh kinh niên, mách lẻo cũng đưa tới nhiều hậu quả xấu, cho nạn nhân. Và cho kẻ đưa tin.

Trong mách lẻo có sự bội ước, loan truyền ý tưởng có hại tới danh dự của người khác có thể đưa tới tan vỡ hạnh phúc gia đình, sự nghiệp, việc học của nạn nhân. Khi ta ngồi lê đôi mách là ta đã lấy đi cái quyền đáng lẽ được nói sự thực của người đó.

“Con người thường rất thích nghe chuyện thêu dệt, với cái vị ngọt và hậu quả cay đắng của nó. Những lời gossip giống như miếng trái cây ngon ngọt, nó đi lần vào nội tâm xâu nhất của con người”- Proverbs 18.8.

Có người tự hỏi nếu đời không có gossip thì tẻ nhạt biết mấy, sẽ nói gì với nhau bây giờ. Có người coi chúng như một thứ giải trí, đưa đà câu chuyện làm ăn. Nhưng nhiều khi cũng gây khó khăn giao tế, vì nghe một người nói xấu về người khác thì mình lại tự hỏi bao giờ đến lượt mình bị thêu dệt đây?!. Thế là giao tế trở thành dè dặt hơn.

Câu chuyện một bà nọ truyền lan bịa đặt về một người đàn ông. Khi biết rằng mình đã làm hại thanh danh người đó, nữ nhân xin lỗi và hứa làm bất cứ điều gì để bù đắp. Ông ta đưa cho bà một túi lông gà, bảo ra góc phố tung lông trong gió. Làm xong, nữ nhân hỏi như vậy đã đủ để tạ tội chưa. Sẽ đủ nếu bà lượm lại được hết lông. Chúng bay tứ tán khắp nơi, làm sao lượm lại được. Thưa rằng: những lời bịa đặt của bà đã gây ra những thiệt hại không lấy lại được cho tôi. Chẳng khác gì những cái lông gà đã tung đi trong gió không sao nhặt lại được.

Muốn hóng chuyện người, hãy sẵn sàng khi ai đó mở đầu:
- Này bà có biết chuyện gì xẩy ra cho con Xuân không?!
- Mày có muốn nghe tin cuối cùng về vợ chồng con Bích không?
- Tao muốn hỏi ý kiến mày về vụ ông xếp lăng nhăng với cô Tình..
- Này, tớ chỉ nói cho cậu nghe thôi đấy nhé..

Mà không muốn nghe hoặc là nạn nhân thì cũng dễ thôi. Bản tính nhiều người là thích đưa chuyện. Nhưng nên nhớ rằng mọi sự việc đều có mặt trái mặt phải; rằng dù chỉ là một chi tiết nhỏ cũng đủ làm hại người khác; rằng mách lẻo thường bắt nguồn ở sự không cởi mở. Ai trong chúng ta chẳng có một số lỗi lầm lớn nhỏ nào đó. Nói cho nhau hay để thông cảm, rằng ta cũng chỉ là con người thì có thể giảm những soi mói, bâng quơ bóng gió về mình. Có người cho là cứ Gossip với God là thượng sách.

“Nếu thấy ai định nói lén về một người khác thì chẳng nên nghe” -Timothy 5:19.

Tác giả”Words That Hurt, Words That Heal” Rabbi Joseph Teluskin : “Gossip là một hình thức khủng bố bằng lời nói. Mà “ Hủy hoại thanh danh của ai là phạm một tội sát nhân”.

Cách hữu hiệu nhất để chứng tỏ điều đó là dối trá là đối diện với sự việc bằng việc làm của mình; chạy trốn có thể bị hiểu nhầm là điều đó có thực”.

Theo Mark Twain : “Cần hai người để làm tổn thương trái tim của ta: người lén lút nói xấu ta và người thuật lại hành động đó với ta”.

Nếu có người hỏi có biết X nói gì về mình không, thì hãy can đảm trả lời: không biết và cũng không muốn nghe kể lại. Làm được như vậy thì không những đời ta thanh thản hơn mà cũng cho kẻ đó hay ta không muốn nghe chuyện thị phi tào lao.

Cho đỡ bực mình.

Và chờ Thượng Đế phán xét.

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC M.D.
Texas -Hoa Kỳ

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng viết về Nguyễn thuỵ Long

Trong một bài viết cách đây không lâu trên tạp chí Văn [hải ngoại] về Trần Phong Giao, tôi có nhắc đến những cuốn sách bị ‘bức tử’ sau tháng Tư, 1975, khiến cho nhiều tủ sách gia đình trong thành phố trống trơn, trơ trọi. Gần hai mươi năm sau từ California, tôi bỗng nhận được cuốn Kẻ Tà Đạo [nxb Nguyễn Đình Vượng]. Cuốn sách của mình viết ra trước năm 1975, sau một thời gian gió bụi thất lạc bỗng một hôm trở lại tay mình ở một nơi rất xa quê hương. Cuốn sách bị nhầu nát, bìa rách, giấy đen... Thời gian tưởng đã mất, rốt cuộc hình như cũng tìm lại được. Người chuyển sách cho tôi là nhà văn Nguyễn Đạt vẫn còn ở Sài Gòn. Anh cho biết người gửi sách cho tôi là Nguyễn Thuỵ Long. «Anh Long đã tìm ra được cuốn sách này của anh ở chợ trời và Long gửi tặng anh.»

Tác giả Loan Mắt Nhung vẫn không quên tôi, mặc dù thời ở Sài Gòn trước năm 1975 chúng tôi thi thoảng lắm mới gặp nhau. Đôi khi ở toà soạn Văn số 38 đường Phạm Ngũ Lão, đôi khi ở quán Cái Chùa trên đường Tự Do… Thời gian đó, dù sống cùng thành phố, bọn tôi mỗi đứa vẫn chơi với một dúm bạn riêng cùng chia sẻ nhau một số suy nghĩ trong đời sống cũng như chuyện viết lách của nhóm. Tuy vậy, mỗi lần gặp Long, tôi vẫn thường hỏi anh về những cuốn sách mà anh đang viết và ngược lại Long cũng có những nhận định và suy nghĩ trong cách viết của bọn tôi. Hơn 20 năm sau, mặc dù chúng tôi không còn sống chung trong một thành phố, lạ thay, chúng tôi lại thường liên lạc nhau hơn.

Những bài viết của Nguyễn Thuỵ Long dành cho tuần báo Việt Mercury cũng như cho tạp chí Văn đưa chúng tôi lại gần nhau. Tôi biết anh có cuộc sống vất vả, gia đình lạnh lẽo, đời sống xã hội chua cay, nhưng lúc sau này anh vẫn viết và sống bằng chính ngòi bút của mình. Tôi đã gặp lại tác giả Loan Mắt Nhung, gặp lại những ngày tháng của Sài Gòn xưa, gặp lại những kỷ niệm hiếm hoi về một buổi sáng ngồi với nhau ở quán cà phê Cái Chùa hay buổi chiều ở nhà hàng Thanh Thế.


Bài thơ và thủ bút của Nguyễn Thụy Long viết từ tháng 8, 1975

Hồi đó chúng tôi còn quá trẻ, anh ít nói và tôi không phải là người nói nhiều. Có lần Long hỏi tôi, «sao ông cứ chạy trốn cuộc đời này hoài vậy?» Long muốn nói đến tập tùy bút Ý Nghĩ Trên Cỏ tôi vừa mới phát hành.

Nguyễn Thụy Long thở với hơi thở đời sống, đi trên kênh rạch, lội xuống bùn đen, đứng giữa tiếng động của sắt thép, của dao và búa, nhập vào bóng đen của mặt trái thành phố… Còn tôi, kẻ luôn bị ám ảnh bởi câu nói của Albert Camus trong cuốn Le Mythe de Sisyphe: «Il n’y a qu’un problème philosophique vraiment sérieux: c’est le suicide.»* Tôi đã nghĩ đến cái chết từ những ngày học [Triết] ở Đà lat, nghĩ đến cái chết khi ở Sài Gòn [lúc chiến tranh ăn ruỗng mục tuổi trẻ đất nước], nghĩ đến nó khi nằm ở nhà tù Rạch Giá, Kinh Làng Thứ Bảy, U Minh...Nghĩ đến nó khi bị bắt trong đêm ở một khu đầy mồ mả trên bờ biển Phan Thiết chờ giờ xuống ghe [vượt thoát quê hương]…Tôi hiểu tại sao chúng tôi không gần nhau, tôi hiểu tại sao Long nói tôi là người chạy trốn cuộc đời.

Giờ đây, Nguyễn Thụy Long đã ra đi. Anh đã sống hết cuộc đời anh, với khổ đau nhiều hơn hạnh phúc, với bóng tối nhiều hơn ánh sáng, với một hiện tại [cơ cực] hơn là một tương lai [ung dung tự tại]… Anh đã thoát ra khỏi bóng tối, khỏi khổ đau, khỏi hiện tại. Còn tôi? Người ở lại nói với người ra đi:

Chia tay bạn ta, vĩnh biệt Nguyễn Thụy Long. Hẹn gặp!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hài hước trong các phiên họp

Bộ trưởng ngáp chảy cả nước mắt trong phiên họp của quốc hội, cô bé con bịt chặt tai trong khi thủ tướng hăng hái phát biểu.


Dưới đây là một số hình ảnh hài hước trong các cuộc họp trên thế giới.

Image
Nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi tạm dừng bài phát biểu để uống nước.
Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Ali Abdussalam Treki ngán ngẩm ngồi chờ, ngày 23/ 9/2009.

Image
Phó tổng thống Mỹ Dick Cheney ngáp khi Thủ tướng Ấn độ Manmohan Singh phát biểu trước Hạ viện Mỹ tháng 7/2005.

Image
Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy ngán ngẩm tại phiên họp ở Tarbes, miền tây nam Pháp, tháng 3/2008.

Image
Cô bé trong nhóm hoạt náo viên của trường trung học Silver Creek ngáp dài
trong khi tổng thống Mỹ lúc đó George Bush đang phát biểu vào tháng 10/2006.

Image
Cô bé con bịt tai giữa lúc thủ tướng Anh hồi đó là Tony Blair phát biểu tại hội nghị Công đảng Anh tháng 2/2005.

Image
Tháng 3/2005, Bộ trưởng Tài chính Brazil Antonio Palocci (trái) tham gia cuộc họp báo trong khi người bên cạnh ông ngáp dài.

Image
Cựu bộ trưởng kinh tế Pháp Francis Mer (phía dưới) ngáp ngắn ngáp dài, còn thành viên đảng Xã hội Henri Emmanuelli
nhẫn nại lắng nghe trong phiên họp của Quốc hội Pháp tháng 10/2002.

Image
Gretchen Bolton (trái) ngáp ngon lành khi chồng bà John Bolton trả lời các câu hỏi của Ủy ban đối ngoại của Thượng viện Mỹ tháng 7/2006.

Image
Học viên Học viện Hải quân Mỹ tại bang Maryland gà gật trong lúc chờ tổng thống Mỹ lúc đó là George Bush
tới phát biểu về cuộc chiến ở Iraq năm 2005. Ông tới chậm tới hơn một tiếng.

Mai Trang (ảnh: Reuters)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Từ Công Phụng, phát ngôn nhân tình yêu của tuổi trẻ miền Nam

Du Tử Lê

Một trong những nét đặc thù của sinh hoạt tân nhạc miền Nam, 20 năm, theo tôi là sự xuất hiện, như những mảnh đất tân-bồi-nghệ-thuật của lớp nhạc sĩ trẻ, thuộc thế hệ thứ hai - Những người sinh trong khoảng 1940.

Ảnh hưởng từ những thành tựu văn chương mang ý nghĩa dứt khoát bước ra khỏi vạch phấn tiền chiến; nỗ lực đoạn tuyệt mọi diễn tả có tính khuôn sáo, đã khô cứng, đã cliché; lớp nhạc sĩ trẻ, thuộc thế hệ thứ hai, ở miền Nam, cũng cho thấy sự thành công huy hoắc của họ - Nhất là lãnh vực tình ca, với những ca từ mà, người thưởng ngoạn khó tìm thấy nơi những tình khúc thời tiền chiến.

Theo nhạc sĩ Cung Tiến, Việt Nam không có âm nhạc thuần túy, hiểu theo nghĩa nhạc không lời mà, chúng ta chỉ có những ca khúc. Cho nên ca từ của một ca khúc trở thành linh hồn, yếu tố quyết định giá trị, sự tồn tại của ca khúc ấy.

Nói về ảnh hưởng của thi ca đối với âm nhạc miền Nam 20 năm trước đây, một lần, đã lâu, nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang cũng đồng ý rằng, nhờ những đổi mới tích cực của thi ca mà ca từ của tân nhạc đã có những chuyển biến đáng kể.

Tôi vẫn nghĩ, nếu không có những cuộc “cách mạng” chữ nghĩa một cách táo bạo của một số thi sĩ ở cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, đưa thi ca miền Nam tới những biển trời chói chan cảm thức mới - Ðể sau đó, âm nhạc được chắp cánh, bay tới những biên cương tự do phơi phới; thì không ai có thể đoán biết, bao giờ tình ca miền Nam mới đoạn tuyệt được tàng cây, bóng lớn của tình khúc tiền chiến.

Một trong những thi sĩ có công làm cuộc cách mạng khá rốt ráo ở lãnh vực chữ nghĩa với thể so sánh và liên tưởng, theo tôi là Nguyên Sa.

Một Nguyên Sa, thơ tình, với những câu thơ như “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/như con mèo ngái ngủ trên tay anh/đôi mắt cá ươn sắp sửa xe mình/để anh giận sao chả là nước biển!...” trong bài “Nga”. Hoặc “...Nụ cười mềm như ánh nắng của cuộc chia ly/của một buổi sáng mai khi những người phu đổ rác bắt đầu đi/những thùng rác bắt đầu cọ vào nhau/với những tiếng kêu của một loài sắt lạnh/như những tiếng kêu của những chiếc đinh khô, những mình búa rắn..” trong bài “Paris”. (1)

Ngay cả câu thơ (như lời tiên tri về định mệnh chính mình), của nhà thơ Quách Thoại, trước khi mất: “Rưng rưng mùa hoa gạo/lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo”; (2) cùng một số nhà thơ khác, tất cả, cộng lại, đã làm thành những nhát rìu phá tung nhiều ngục tù ngôn ngữ sáo mòn từ tiền chiến.

Trước Nguyên Sa, tôi không thấy ai đem người yêu của mình so sánh với “chó/mèo”! Ðôi mắt của người yêu khi hờn dỗi, được ông ví von với “đôi mắt cá ươn”! Cũng trước ông, tôi chưa thấy ai đem những “người phu đổ rác,” “những thùng rác,” những “đinh”, những “búa” ra làm nhân chứng cho cuộc chia tay giữa hai người yêu nhau. Trước Quách Thoại, tôi cũng chưa thấy ai mang vào trong thơ họ, cụm từ “chết trần truồng không cơm áo”

Lý do? Rất dễ hiểu: Ðó là những hình ảnh không thơ. Không đẹp theo quan niệm thi ca cũ.

Một khi những hình ảnh được coi là không thơ, không đẹp vốn hiếm thấy xuất hiện trong dòng thơ tình thời tiền chiến; thì người ta sẽ càng khó tìm thấy chúng hơn nữa, trong những tình khúc cùng thời điểm.

Nhìn lại ca từ những tình khúc tiền chiến, ngay giai đoạn cực thịnh của phong trào lãng mạn, khi nói tới người nữ, người ta chỉ thấy những những mô tả chung chung, mờ nhạt, không cá tính. Vì thế, các nhạc sĩ thường bị “đụng hàng” khi so sánh người yêu của họ, một cách ước lệ như: “Em hay nàng” đẹp như tranh! “Em hay nàng” đẹp như thơ! Cụ thể hơn một chút thì, họ ví nhan sắc người nữ đẹp như trăng, như sao, như hoa tươi, như nắng sớmà Nghĩa là những so sánh, những ví von rất mơ hồ. Rất “huề vốn”!

Lại nữa, khi mô tả dung nhan người yêu, đa số các nhạc sĩ chú tâm vào vài điểm khôngà hiểm hóc, như tóc, môi, mắt. Do đó, chúng ta có hàng loạt tóc mây, tóc thề, tóc (dài như) suối. Về đôi mắt người nữ, thì chúng ta cũng có hàng loạt mắt buồn, mắt hồ thu, hay mắt mơ huyền. Còn môi thì chúng ta có môi tiên nữ, môi thắm, môi son, môi quyến rũ.

Làm như dung nhan hay thân thể phụ nữ, chỉ có mấy điểm đó đáng ca ngợi. Ngoại giả, những phần còn lại đều xấu! Phải quên đi! Không nên nhắc tới! Trong khi thực tế, từ lâu, đa số đã “đồng thuận” với nhau rằng: Nét đẹp, sự quyến rũ tự nhiên của bộ ngực, vòng eo, tay, chân, dáng đi của người phụ nữà là những gì ta không dễà“nhắm mắt. Bỏ qua!”

Tuy nhiên, ở thế hệ nhạc sĩ thứ hai của 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, lãnh vực tình khúc, những giới hạn hay, những úy kỵ kể trên, đã được vượt qua.

Lần đầu tiên, giới thưởng ngoạn gặp được trong tình ca của các nhạc sĩ lớp tân- bồi-âm-nhạc này, nhiều hình ảnh mới, lạ bất ngờ, như “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”, trong tình khúc Trịnh Công Sơn - Như “Em rơi vào đời tôi/tình yêu em khôn lớn trong dịu dàng” Hoặc “Dòng sông đang thì thầm trong tóc những khúc nhạc tình” trong các ca khúc nhan đề “Như Ngọn Buồn Rơi” và, “Tình Tự Mùa Xuân” của họ Từ.

Trước Trịnh Công Sơn, tôi không thấy nhạc sĩ nào nhân cách hóa “sỏi đá” để nói lên khao khát có nhau của đôi lứa. Trước Từ Công Phụng, tôi cũng chưa thấy một nhạc sĩ nào “vật thể hóa” người yêu khi ông dùng động tự “rơi” hoặc, nhân cách hóa dòng sông, để dòng sông có thể “thì thầm” trong tóc. Và, nếu tình khúc tiền chiến chỉ ghi nhận hình ảnh người nữ từ đầu tới cổ thì, qua một vài bài thơ phổ nhạc, ông cũng đã mang được nhiều phần khác của người nữ vào trong ca khúc của mình.

Một đặc điểm khác, tôi nghĩ, cũng nên ghi lại. Ðó là: Trước khi chúng ta có truyền hình vào cuối thập niên 1960, khởi đầu, đa số các nhạc sĩ thường nhờ tới các làn sóng phát thanh, để phổ biến sáng tác của mình. Nhưng một số nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ hai, như Từ Công Phụng, đã không chọn đi qua chiếc cầu gập ghềnh, gian nan này.

Nhiều tình khúc Từ Công Phụng được cất lên từ sân trường, các giảng đường đại học; trước khi chúng “xuống đường” bước về đại chúng. Lớp thính giả đầu tiên của Từ Công Phụng là thanh niên, sinh viên. Họ đón nhận ông, như đón nhận một phát ngôn nhân tình yêu gần gũi, đằm thắm nhất của họ. Họ cũng tìm thấy hình bóng, trái tim họ, trong cả những tình khúc chia, lìa, phụ rẫy nhất, của họ Từ.

(còn tiếp)


Chú thích:

(1) Nhà thơ Nguyên Sa sinh ngày 1 Tháng Ba, năm 1932 tại Hà Nội. Ông mất ngày 18 Tháng Tư, năm 1998, tại miền Nam California. Cả hai bài thơ được trích dẫn, đều nằm trong “Thơ Nguyên Sa” tập 1. Tổ hợp Gió, xuất bản lần thứ 6, Saigon, 1971.

(2) Nhà thơ Quách Thoại sinh năm 1929 tại Huế. Ông mất ngày 7 Tháng Mười Một, năm 1957 tại Saigòn.

Post Reply