Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
HÃY YÊU KHI CÒN CÓ THỂ
Ngày đẹp trời, một cặp vợ chồng khoảng 70 tuổi đến văn phòng luật sư. Họ muốn làm thủ tục ly hôn.
Lúc đầu vị luật sư vô cùng ngạc nhiên, nhưng sau khi nói chuyện với đôi vợ chồng già, ông đã hiểu ra câu chuyện…
Hơn 40 năm chung sống, cặp vợ chồng này luôn cãi nhau suốt cuộc hôn nhân của họ và dường như chẳng bao giờ đi đến quyết định đúng đắn.
Họ chịu đựng được như vậy đến tận bây giờ là vì những đứa con. Giờ con cái đã lớn, đã có gia đình riêng của chúng, đôi vợ chồng già không còn phải lo lắng điều gì. Họ muốn được tự do sau những năm tháng không hạnh phúc. Cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn.
Hoàn tất thủ tục ly hôn cho cặp vợ chồng này, với vị luật sư, là điều không hề dễ. Ông thực sự không hiểu vì sao, sau 40 năm chung sống, đến tuổi 70, đôi vợ chồng ấy vẫn muốn ly hôn.
Vừa ký các giấy tờ, người vợ già vừa nói với chồng: “Tôi thực sự yêu ông, nhưng tôi không thể chịu đựng hơn được nữa. Tôi xin lỗi”.
“Không sao mà, tôi hiểu…” - Ông chồng già đáp lời.
Nhìn cảnh này, ông luật sư đề nghị được mời hai vợ chồng ăn tối. Người vợ nghĩ: “Sao lại không? Dù ly hôn vẫn sẽ là bạn cơ mà”.
Bên bàn ăn, một không khí im lặng đến khó xử.
Món ăn mang ra đầu tiên là gà quay. Ngay lập tức người chồng gắp một miếng đùi gà cho vợ: “Bà ăn đi, đó là món bà thích mà”.
Nhìn cảnh này, vị luật sư nghĩ “vẫn còn cơ hội cho họ”. Nhưng người vợ đã cau mày đáp lại: “Vấn đề ở đấy đấy. Ông luôn đề cao mình quá và không bao giờ hiểu cảm giác của tôi. Ông không biết tôi ghét đùi gà thế nào à?”.
Nhưng người vợ không biết, bao nhiêu năm qua, người chồng luôn cố gắng để làm hài lòng bà. Bà không biết, đùi gà là món yêu thích của ông, cũng như ông không biết, bà chưa bao giờ nghĩ rằng ông hiểu bà. Ông không biết bà ghét đùi gà, mặc dù ông chỉ muốn dành những miếng ngon nhất, những điều tốt nhất cho bà thôi.
Đêm đó cả hai vợ chồng già đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, người chồng không thể chịu đựng được nữa, ông biết rằng ông vẫn còn yêu bà và không thể sống thiếu bà. Ông muốn bà quay trở lại. Ông muốn nói lời xin lỗi, muốn nói “tôi yêu bà”.
Ông nhấc điện thoại lên và bắt đầu bấm số của bà. Tiếng chuông không ngừng reo, ông càng không ngừng bấm máy.
Đầu bên kia, bà vợ cũng rất buồn. Bà không hiểu điều gì đã xảy ra sau tất cả những năm tháng sống cùng nhau đó. Ông ấy vẫn không hiểu bà. Bà vẫn rất yêu ông nhưng bà không thể chịu đựng cuộc sống như vậy nữa.
Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không trả lời dẫu biết rằng đó chính là ông. Bà nghĩ “Nói làm gì nữa khi mọi chuyện đã hết rồi. Mình đòi ly hôn mà, giờ đâm lao phải theo lao, nếu không mất mặt lắm”. Chuông điện thoại vẫn cứ reo và bà quyết định dứt dây nối ra khỏi điện thoại.
Bà đã không nhớ rằng ông bị đau tim…
Ngày hôm sau, bà nhận được tin ông mất. Như một người mất trí, bà lao thẳng đến căn hộ của ông, nhìn thấy thân thể ông trên chiếc đi văng, tay vẫn giữ chặt điện thoại. Ông bị nhồi máu cơ tim trong khi đang cố gắng gọi cho bà.
Bà đau đớn vô cùng. Một cảm giác mất mát quá lớn bao trùm lên tâm trí.
Bà phải làm rõ tất cả tài sản của ông. Khi bà nhìn vào ngăn kéo, bà thấy một hợp đồng bảo hiểm, được lập từ ngày họ cưới nhau, là của ông làm cho bà.
Kẹp vào trong đó, bà thấy có một mẩu giấy ghi rằng: “Gửi người vợ thân yêu nhất của tôi. Vào lúc bà đọc tờ giấy này, tôi chắc chắn không còn trên cõi đời này nữa. Tôi đã mua bảo hiểm cho bà. Chỉ có 100 đô thôi, nhưng tôi hy vọng nó có thể giúp tôi tiếp tục thực hiện lời hứa của mình khi chúng ta lấy nhau. Tôi đã không thể ở cạnh bà nữa. Tôi muốn số tiền này tiếp tục chăm sóc bà. Đó là cách mà tôi sẽ làm nếu như tôi còn sống. Tôi muốn bà hiểu rằng tôi sẽ luôn luôn ở bên cạnh bà. Yêu bà thật nhiều”.
Nước mắt bà tuôn chảy. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói lời xin lỗi, muốn nói “tôi yêu ông”. Nhưng ông đã không thể nghe được nữa.
Khi bạn yêu một ai đó, hãy cho họ biết, vì bạn không lường trước được ngày mai sẽ ra sao. Hãy học cách xây đắp hôn nhân hạnh phúc. Hãy học cách yêu nhau nhiều hơn, vì người bạn yêu thương chứ không vì bất kỳ điều gì khác.
Có bao giờ bạn bỗng giật mình khi nghĩ đến những gì mình đã lỡ bỏ qua ???
Tác giả Ngọc Nga (sưu tầm)
Ngày đẹp trời, một cặp vợ chồng khoảng 70 tuổi đến văn phòng luật sư. Họ muốn làm thủ tục ly hôn.
Lúc đầu vị luật sư vô cùng ngạc nhiên, nhưng sau khi nói chuyện với đôi vợ chồng già, ông đã hiểu ra câu chuyện…
Hơn 40 năm chung sống, cặp vợ chồng này luôn cãi nhau suốt cuộc hôn nhân của họ và dường như chẳng bao giờ đi đến quyết định đúng đắn.
Họ chịu đựng được như vậy đến tận bây giờ là vì những đứa con. Giờ con cái đã lớn, đã có gia đình riêng của chúng, đôi vợ chồng già không còn phải lo lắng điều gì. Họ muốn được tự do sau những năm tháng không hạnh phúc. Cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn.
Hoàn tất thủ tục ly hôn cho cặp vợ chồng này, với vị luật sư, là điều không hề dễ. Ông thực sự không hiểu vì sao, sau 40 năm chung sống, đến tuổi 70, đôi vợ chồng ấy vẫn muốn ly hôn.
Vừa ký các giấy tờ, người vợ già vừa nói với chồng: “Tôi thực sự yêu ông, nhưng tôi không thể chịu đựng hơn được nữa. Tôi xin lỗi”.
“Không sao mà, tôi hiểu…” - Ông chồng già đáp lời.
Nhìn cảnh này, ông luật sư đề nghị được mời hai vợ chồng ăn tối. Người vợ nghĩ: “Sao lại không? Dù ly hôn vẫn sẽ là bạn cơ mà”.
Bên bàn ăn, một không khí im lặng đến khó xử.
Món ăn mang ra đầu tiên là gà quay. Ngay lập tức người chồng gắp một miếng đùi gà cho vợ: “Bà ăn đi, đó là món bà thích mà”.
Nhìn cảnh này, vị luật sư nghĩ “vẫn còn cơ hội cho họ”. Nhưng người vợ đã cau mày đáp lại: “Vấn đề ở đấy đấy. Ông luôn đề cao mình quá và không bao giờ hiểu cảm giác của tôi. Ông không biết tôi ghét đùi gà thế nào à?”.
Nhưng người vợ không biết, bao nhiêu năm qua, người chồng luôn cố gắng để làm hài lòng bà. Bà không biết, đùi gà là món yêu thích của ông, cũng như ông không biết, bà chưa bao giờ nghĩ rằng ông hiểu bà. Ông không biết bà ghét đùi gà, mặc dù ông chỉ muốn dành những miếng ngon nhất, những điều tốt nhất cho bà thôi.
Đêm đó cả hai vợ chồng già đều không ngủ được. Sau nhiều giờ trằn trọc, người chồng không thể chịu đựng được nữa, ông biết rằng ông vẫn còn yêu bà và không thể sống thiếu bà. Ông muốn bà quay trở lại. Ông muốn nói lời xin lỗi, muốn nói “tôi yêu bà”.
Ông nhấc điện thoại lên và bắt đầu bấm số của bà. Tiếng chuông không ngừng reo, ông càng không ngừng bấm máy.
Đầu bên kia, bà vợ cũng rất buồn. Bà không hiểu điều gì đã xảy ra sau tất cả những năm tháng sống cùng nhau đó. Ông ấy vẫn không hiểu bà. Bà vẫn rất yêu ông nhưng bà không thể chịu đựng cuộc sống như vậy nữa.
Mặc cho chuông điện thoại reo liên hồi, bà không trả lời dẫu biết rằng đó chính là ông. Bà nghĩ “Nói làm gì nữa khi mọi chuyện đã hết rồi. Mình đòi ly hôn mà, giờ đâm lao phải theo lao, nếu không mất mặt lắm”. Chuông điện thoại vẫn cứ reo và bà quyết định dứt dây nối ra khỏi điện thoại.
Bà đã không nhớ rằng ông bị đau tim…
Ngày hôm sau, bà nhận được tin ông mất. Như một người mất trí, bà lao thẳng đến căn hộ của ông, nhìn thấy thân thể ông trên chiếc đi văng, tay vẫn giữ chặt điện thoại. Ông bị nhồi máu cơ tim trong khi đang cố gắng gọi cho bà.
Bà đau đớn vô cùng. Một cảm giác mất mát quá lớn bao trùm lên tâm trí.
Bà phải làm rõ tất cả tài sản của ông. Khi bà nhìn vào ngăn kéo, bà thấy một hợp đồng bảo hiểm, được lập từ ngày họ cưới nhau, là của ông làm cho bà.
Kẹp vào trong đó, bà thấy có một mẩu giấy ghi rằng: “Gửi người vợ thân yêu nhất của tôi. Vào lúc bà đọc tờ giấy này, tôi chắc chắn không còn trên cõi đời này nữa. Tôi đã mua bảo hiểm cho bà. Chỉ có 100 đô thôi, nhưng tôi hy vọng nó có thể giúp tôi tiếp tục thực hiện lời hứa của mình khi chúng ta lấy nhau. Tôi đã không thể ở cạnh bà nữa. Tôi muốn số tiền này tiếp tục chăm sóc bà. Đó là cách mà tôi sẽ làm nếu như tôi còn sống. Tôi muốn bà hiểu rằng tôi sẽ luôn luôn ở bên cạnh bà. Yêu bà thật nhiều”.
Nước mắt bà tuôn chảy. Bà cảm thấy yêu ông hơn bao giờ hết. Bà muốn nói lời xin lỗi, muốn nói “tôi yêu ông”. Nhưng ông đã không thể nghe được nữa.
Khi bạn yêu một ai đó, hãy cho họ biết, vì bạn không lường trước được ngày mai sẽ ra sao. Hãy học cách xây đắp hôn nhân hạnh phúc. Hãy học cách yêu nhau nhiều hơn, vì người bạn yêu thương chứ không vì bất kỳ điều gì khác.
Có bao giờ bạn bỗng giật mình khi nghĩ đến những gì mình đã lỡ bỏ qua ???
Tác giả Ngọc Nga (sưu tầm)

Tần Thủy Hoàng và Trinh Nữ Hoàng Cung Tần Thủy Hoàng - Ông vua nổi tiếng về cả tài năng và sự độc ác ấy đã để lại cho hậu thế những câu chuyện lưu truyền thú vị.
Để thực hiện mục đích thống nhất đất nước. Tần Thủy Hoàng đã cho dán cáo thị ở khắp nơi để tuyển nhân tài võ thuật. Suốt một năm tổ chức thi đấu, các quan nha mới chọn ra được hai đao thủ xuất sắc nhất. Sau khi được diện kiến Hoàng Thượng, đao thủ thứ nhất khoe khoang:
- Bẩm bệ hạ, lưỡi kiếm của tiểu nhân không tha một mạng sống nào, kể cả mạng sống đó chỉ bé bằng con muỗi.
Nói đoạn, cao thủ thứ nhất vung kiếm lên và một con muỗi bị chém làm đôi rơi xuống đất.
Cao thủ thứ hai tuy không nói không rằng nhưng dùng kiếm múa vài đường, tức thì một con muỗi khác bị chặt hết chân và cánh lăn ra đất chết.
Trong lúc ai nấy đều ngạc nhiên về tài năng xuất chúng của hai đao thủ thì Tần Thủy Hoàng vung gươm lên liệng một đường, một con muỗi giẫy một lát rồi bay đi. Mọi người càng ngạc nhiên hơn, lúc ấy vua Tần mới cất tiếng cười:
- Ha… ha! Quả thực là ta có chém trượt, nhưng con ruồi đó sẽ vĩnh viễn sống cuộc đời như một thái giám.
Tần Thủy Hoàng có rất nhiều cung phi xinh đẹp. Có một điều là do sức khỏe có hạn, ngài cũng không có sức để đoái hoài đến họ, thành ra chỉ một thời gian, các cô đâm ra gầy yếu, mặt buồn rười rượi. Vua Tần phải cho mời thái y tới để chạy chữa cho các cung phi.
Ba tháng sau, vua trở lại thăm các cung nữ, thấy đều đã khỏe mạnh, tươi tắn, lấy làm mừng lắm. Đi được một quãng, thấy bên cạnh hậu cung có thêm một cung điện chứa khoảng 1000 thanh niên còi cọc, ốm yếu. Thấy lạ vua Tần hỏi thái giám:
- Đây là cái gì vậy?
- Bẩm, bã thuốc ạ!
Chuyện của ông chồng "nhất vợ..."
Không biết ai là người đầu tiên và từ bao giờ đã sáng tác ra cái câu “nhất
vợ nhì trời” để bây giờ cho những người làm chồng như tôi nhất nhất phải
tôn thờ cái phương châm ấy.
Riêng tôi còn kế thừa và sáng tạo rằng: “nhất vợ, nhì vợ, ba cũng vợ và bét
là trời. Lý thuyết của tôi thế nào thì thực tiễn tôi là thế ấy. Nhân danh
những người chồng, nhân danh tình yêu tôi xin thề là không hề nói sai.
Ngày tôi cưới nàng cách đây đã 20 năm tôi còn nhớ lắm. Đêm tân hôn nàng
khóc nức nở như thể bị tôi đánh mắng. Tôi hỏi vì sao nàng bảo: “Hôn nhân là
giết chết tình yêu, từ hôm nay coi như chúng ta đắp mồ cho tình yêu”. Nghe
mà lạnh cả sống lưng!
Tôi bảo nàng đừng mộng mơ quá kẻo vỡ mộng thì thất vọng lớn nhưng nàng
không nghe. Nàng bắt tôi quỳ xuống hôn tay nàng và thề là suốt đời gìn giữ
tình yêu như buổi ban đầu. Tôi làm theo răm rắp như tên tín đồ trước Chúa.
Thế nàng mới yên tâm.
Nhưng có ngờ đâu việc tưởng thế cho qua chuyện lại biến tôi thành nô lệ
suốt đời cho tình yêu mộng mơ của nàng. Ngay sáng hôm sau vừa ngủ dậy người
còn mệt bã bời, nàng đã sai tôi ngồi tháo từng bông hồng trong bó hoa cưới
rồi ép chúng vào cuốn sổ dày cộp để làm kỷ niệm.
Buổi tối, vừa ăn xong nàng đặt đến bộp cuốn sổ to như cái thớt trước mặt
tôi và sai: “Từ nay mỗi tối phải viết nhật ký cho con cái sau này nó đọc”.
Và nàng yêu cầu tôi viết để nàng duyệt thử.
Vào một buổi tối sau đó, tự nhiên lại thấy nàng khóc thổn thức. Hỏi mãi
nàng mới nói nhấm nhẳng: “Hôm nay là kỷ niệm 2 năm ngày em nhận lời yêu
anh. Sao anh không nhớ mua hoa mừng?”.
Trời ơi đất hỡi, đến cái ngày ông nội tôi mất tôi còn chả nhớ nữa là cái
ngày ngỏ lời liếc kia. Nhưng ngay lập tức tôi cười trừ và hứa từ lần sau sẽ
luôn nhớ những ngày kỷ niệm của tình yêu để nàng tin.
Thế mà rồi, ngay tuần sau thôi, tôi lại mắc một sai lầm. Ấy là không nhớ
ngày kỷ niệm của chiếc hôn đầu tiên với nàng khiến nàng bỏ cơm giận dỗi
không ăn, không ngủ cùng giường. Cuối cùng thì tôi lại phải quỳ xuống van
xin và thề sẽ ghi nhớ tất cả những gì đẹp đẽ nhất của thời chúng tôi yêu
nhau.
Từ đấy, ngày ngày, tháng tháng, năm năm đầu óc tôi dành để nhớ những ngày
ấy để mua hoa kỷ niệm, chỉ thế cũng đã phát điên phát cuồng, làm sao mà nhớ
nổi những cái khác.
Thế mà rồi tình yêu vẫn trụ được cho đến bây giờ và tôi luôn được bạn bè,
cơ quan tôn vinh là người yêu vợ nhất quả đất. Điều đó cũng phải thôi bởi
vợ tôi cũng vào hạng đẹp nhất... quả đất chứ kém gì?
Mà suy cho cùng thì chiều vợ mình cũng là chiều mình. Nàng mà vui tươi,
sung sướng thì cửa nhà cũng yên ổn, bố con tôi cũng rộn ràng, vui vẻ.
Lần sinh nhật nàng tôi đặt chiếc bánh gatô to như cái mâm và viết hai dòng
thơ bằng kem sô cô la lên mặt bánh: Trời còn cho nói một câu/ Vẫn xin nói
lại lời đầu Yêu em! Tôi còn đặt bó hoa gồm 40 bông hồng tượng trưng cho
tuổi đời vợ tôi. Cô ấy cảm động ứa nước mắt mà thì thầm vào tai tôi: “Không
ngờ trái tim anh còn nồng cháy như thuở yêu đầu”.
Tôi bảo: “Để giữ cho tình yêu trẻ mãi, anh không nề hà điều gì”. Thật thế,
bây giờ sáng sáng lúc vợ tôi chạy bộ ngoài phố thì tôi nấu ăn, tranh thủ
giặt quần áo. Buổi chiều khi vợ còn ở Trung tâm thể dục thẩm mỹ, tôi đi đổ
rác, đi chợ, nấu ăn... Buổi tối, lúc vợ xem phim thì tôi dạy con cái học
hành, tất tật mọi việc tôi làm cho vợ để cô ấy thoải mái.
Đến một ngày kia tôi ốm, sốt lên 39 độ, người tưởng bung ra như củ khoai
nướng. Vợ tôi sờ đầu sờ tay chân thấy mồ hôi nhũng nhượi và hôi hổi như con
trạch luộc vừa vớt trong nồi ra, nàng rú lên gào khóc: “Anh ơi, anh đừng
chết nhé, chết thì ai chăm sóc đời em”. Tôi nghe chỉ muốn chết ngay cho
xong nhưng nghĩ đến thân liễu đào tơ của vợ từ bé vốn được chiều chuộng,
không khổ đau bao giờ nên tôi lại nằm im.
Con trai đi học về thấy bố ốm liền bảo: “Mẹ đi chợ mua hành tía tô về nấu
cháo cho bố. Lúc này mẹ phải chăm thì bố mới khỏi. Con ngồi trông bố thôi”.
Thế là vợ tôi đi chợ. Nàng mua rau tía tô, hành khô và gạo nếp.
Về nàng nấu cháo cấp tập. Khi bưng bát cháo lên ăn tôi mới nhận ra vợ tôi
tai hại biết nhường nào. Cháo ninh chưa nhừ nên trông như bát gạo luộc lõng
bõng. Trong đó, hành khô nàng bỏ cả củ như những viên bi lổn nhổn, lá tía
tô thì chỉ rửa sạch rồi cho cả búi vào và những miếng thịt nạc thì nàng
thái thành cục to như bao diêm nên bên trong chưa chín kỹ.
Tôi gắt bẳn, vâng có lẽ đây là lần đầu tiên tôi cáu tiết với vợ: “Cô vụng
về quá, cháo này đến trâu bò khỏe nó cũng không ăn được đâu nhá! Những lần
cô ốm, tôi nấu cháo cho cô thế nào?”.
Thằng con thấy căng thẳng sợ quá bảo: “Thôi, thôi, để con đi mua phở cho
bố”, nói rồi nó cầm chiếc bát to tướng chạy ngay ra đầu phố. Vợ tôi tức
mình bê cả bát cháo đổ vào sọt rác rồi ra ghế ngồi khóc.
Nàng vừa khóc vừa kể lể đủ tội tôi. Nào là không coi trọng tình cảm chăm
sóc của nàng trong bát cháo, nào không biết hôm nay là ngày Valentine hay
sao mà nỡ cáu gắt nàng trong ngày này?
Tôi quát tướng: “Tôi mà chết đi thì tình yêu cũng chẳng có nghĩa lý gì. Cô
ngồi đấy mà tôn thờ tình yêu”.
Vợ tôi trợn mắt: “Được, nếu vậy tôi sẽ về nhà mẹ tôi, tôi sẽ đi khỏi cái
nhà này cho anh sống không cần tình yêu”. “Vâng, cô cứ đi, tôi sẽ thuê ôsin
về giúp việc bố con tôi”.
Tưởng dọa thế mà nàng đi thật. Nàng gọi ngay taxi trước mặt tôi và xách
valy đi ngay lập tức. Chiều hôm ấy, con tôi vội đến Trung tâm giới thiệu
việc làm dắt về một cô giúp việc và cô ta xắn tay ngay vào công việc chẳng
nề hà gì. Lần đầu tiên tôi được người khác chăm lo nấu ăn, giặt giũ, lau
nhà, đi chợ, thậm chí cả bỏ màn cho tôi đi ngủ.
Vì vậy tôi yên tâm uống thuốc và nằm nghỉ ngơi chẳng lo nghĩ gì nữa. Đã thế
thằng con lại hay gọi điện kể với mẹ nó: “Mẹ cứ yên tâm ở bên bà ngoại,
đừng lo gì vì nhà mình đã có cô giúp việc chăm lo tất cả. Cô ấy nấu cơm
ngon lắm, lau chùi nhà cửa còn sạch hơn bố làm”.
Hôm nay thì nó khoe: “Bố khỏi hẳn rồi mẹ ạ, đã bắt đầu đi làm. Gớm, khỏi
rồi mà cô Na vẫn chiều cứ như bố đang ốm ấy, nấu xôi lạp sườn cho bố ăn
sáng, bắt bố phải uống nước cam, dặn chiều phải về sớm không được la cà
uống bia...”.
Hình như mẹ nó dặn sẽ về hay sao mà thấy nó gàn: “Thôi, mẹ ơi, mẹ cứ ở bên
đó để cảnh cáo bố, thể nào cũng có hôm bố nhớ mẹ quá không chịu được lại
đến xin lỗi và đón mẹ về ngay ấy mà”.
Hình như mẹ nó khóc kể lể gì đó nên thằng con tôi dặn: “Sáng mai nhé, sáng
mai mẹ về sẽ thấy cảnh cô Na chăm sóc bố như thế nào, cô ấy giỏi lắm mẹ ạ”.
Thế nhưng ngay cuối chiều hôm ấy, vợ tôi đã tức tốc về ngay chứ không cần
đợi đến sáng mai.
Vừa vào nhà nàng đã nhìn ngó khắp nơi và gọi tướng: “Cô Na đâu, ra cho tôi
hỏi xem nào?”. Thằng con tôi reo lên: “Trời ơi, mẹ chậm quá, cô ấy đã xin
thôi việc về quê đột xuất rồi. Cô ấy chỉ hẹn lúc nào bố cần thì gọi”.
Vợ tôi có vẻ hả lòng bảo: “Thôi, khỏi cần, từ nay em sẽ thôi câu lạc bộ giữ
eo, câu lạc bộ làm đẹp để có thời gian ở nhà chăm sóc gia đình. Em sẽ tập
làm tất cả mọi việc đỡ đần cho anh. Em sẽ cùng anh giữ ngọn lửa tình yêu
trong căn nhà này”.
Tôi thích quá ôm chầm lấy vợ. Lúc ấy thằng con tôi đã biến lên phòng. Tôi
thật cảm ơn nó vì thực ra cô Na ôsin mà nó thuê chỉ làm việc 3 ngày thôi,
cô ấy đã về từ hôm kia rồi và mọi sự chăm sóc của cô ấy với tôi hoàn toàn
là do nó... bịa ra.
Không biết ai là người đầu tiên và từ bao giờ đã sáng tác ra cái câu “nhất
vợ nhì trời” để bây giờ cho những người làm chồng như tôi nhất nhất phải
tôn thờ cái phương châm ấy.
Riêng tôi còn kế thừa và sáng tạo rằng: “nhất vợ, nhì vợ, ba cũng vợ và bét
là trời. Lý thuyết của tôi thế nào thì thực tiễn tôi là thế ấy. Nhân danh
những người chồng, nhân danh tình yêu tôi xin thề là không hề nói sai.
Ngày tôi cưới nàng cách đây đã 20 năm tôi còn nhớ lắm. Đêm tân hôn nàng
khóc nức nở như thể bị tôi đánh mắng. Tôi hỏi vì sao nàng bảo: “Hôn nhân là
giết chết tình yêu, từ hôm nay coi như chúng ta đắp mồ cho tình yêu”. Nghe
mà lạnh cả sống lưng!
Tôi bảo nàng đừng mộng mơ quá kẻo vỡ mộng thì thất vọng lớn nhưng nàng
không nghe. Nàng bắt tôi quỳ xuống hôn tay nàng và thề là suốt đời gìn giữ
tình yêu như buổi ban đầu. Tôi làm theo răm rắp như tên tín đồ trước Chúa.
Thế nàng mới yên tâm.
Nhưng có ngờ đâu việc tưởng thế cho qua chuyện lại biến tôi thành nô lệ
suốt đời cho tình yêu mộng mơ của nàng. Ngay sáng hôm sau vừa ngủ dậy người
còn mệt bã bời, nàng đã sai tôi ngồi tháo từng bông hồng trong bó hoa cưới
rồi ép chúng vào cuốn sổ dày cộp để làm kỷ niệm.
Buổi tối, vừa ăn xong nàng đặt đến bộp cuốn sổ to như cái thớt trước mặt
tôi và sai: “Từ nay mỗi tối phải viết nhật ký cho con cái sau này nó đọc”.
Và nàng yêu cầu tôi viết để nàng duyệt thử.
Vào một buổi tối sau đó, tự nhiên lại thấy nàng khóc thổn thức. Hỏi mãi
nàng mới nói nhấm nhẳng: “Hôm nay là kỷ niệm 2 năm ngày em nhận lời yêu
anh. Sao anh không nhớ mua hoa mừng?”.
Trời ơi đất hỡi, đến cái ngày ông nội tôi mất tôi còn chả nhớ nữa là cái
ngày ngỏ lời liếc kia. Nhưng ngay lập tức tôi cười trừ và hứa từ lần sau sẽ
luôn nhớ những ngày kỷ niệm của tình yêu để nàng tin.
Thế mà rồi, ngay tuần sau thôi, tôi lại mắc một sai lầm. Ấy là không nhớ
ngày kỷ niệm của chiếc hôn đầu tiên với nàng khiến nàng bỏ cơm giận dỗi
không ăn, không ngủ cùng giường. Cuối cùng thì tôi lại phải quỳ xuống van
xin và thề sẽ ghi nhớ tất cả những gì đẹp đẽ nhất của thời chúng tôi yêu
nhau.
Từ đấy, ngày ngày, tháng tháng, năm năm đầu óc tôi dành để nhớ những ngày
ấy để mua hoa kỷ niệm, chỉ thế cũng đã phát điên phát cuồng, làm sao mà nhớ
nổi những cái khác.
Thế mà rồi tình yêu vẫn trụ được cho đến bây giờ và tôi luôn được bạn bè,
cơ quan tôn vinh là người yêu vợ nhất quả đất. Điều đó cũng phải thôi bởi
vợ tôi cũng vào hạng đẹp nhất... quả đất chứ kém gì?
Mà suy cho cùng thì chiều vợ mình cũng là chiều mình. Nàng mà vui tươi,
sung sướng thì cửa nhà cũng yên ổn, bố con tôi cũng rộn ràng, vui vẻ.
Lần sinh nhật nàng tôi đặt chiếc bánh gatô to như cái mâm và viết hai dòng
thơ bằng kem sô cô la lên mặt bánh: Trời còn cho nói một câu/ Vẫn xin nói
lại lời đầu Yêu em! Tôi còn đặt bó hoa gồm 40 bông hồng tượng trưng cho
tuổi đời vợ tôi. Cô ấy cảm động ứa nước mắt mà thì thầm vào tai tôi: “Không
ngờ trái tim anh còn nồng cháy như thuở yêu đầu”.
Tôi bảo: “Để giữ cho tình yêu trẻ mãi, anh không nề hà điều gì”. Thật thế,
bây giờ sáng sáng lúc vợ tôi chạy bộ ngoài phố thì tôi nấu ăn, tranh thủ
giặt quần áo. Buổi chiều khi vợ còn ở Trung tâm thể dục thẩm mỹ, tôi đi đổ
rác, đi chợ, nấu ăn... Buổi tối, lúc vợ xem phim thì tôi dạy con cái học
hành, tất tật mọi việc tôi làm cho vợ để cô ấy thoải mái.
Đến một ngày kia tôi ốm, sốt lên 39 độ, người tưởng bung ra như củ khoai
nướng. Vợ tôi sờ đầu sờ tay chân thấy mồ hôi nhũng nhượi và hôi hổi như con
trạch luộc vừa vớt trong nồi ra, nàng rú lên gào khóc: “Anh ơi, anh đừng
chết nhé, chết thì ai chăm sóc đời em”. Tôi nghe chỉ muốn chết ngay cho
xong nhưng nghĩ đến thân liễu đào tơ của vợ từ bé vốn được chiều chuộng,
không khổ đau bao giờ nên tôi lại nằm im.
Con trai đi học về thấy bố ốm liền bảo: “Mẹ đi chợ mua hành tía tô về nấu
cháo cho bố. Lúc này mẹ phải chăm thì bố mới khỏi. Con ngồi trông bố thôi”.
Thế là vợ tôi đi chợ. Nàng mua rau tía tô, hành khô và gạo nếp.
Về nàng nấu cháo cấp tập. Khi bưng bát cháo lên ăn tôi mới nhận ra vợ tôi
tai hại biết nhường nào. Cháo ninh chưa nhừ nên trông như bát gạo luộc lõng
bõng. Trong đó, hành khô nàng bỏ cả củ như những viên bi lổn nhổn, lá tía
tô thì chỉ rửa sạch rồi cho cả búi vào và những miếng thịt nạc thì nàng
thái thành cục to như bao diêm nên bên trong chưa chín kỹ.
Tôi gắt bẳn, vâng có lẽ đây là lần đầu tiên tôi cáu tiết với vợ: “Cô vụng
về quá, cháo này đến trâu bò khỏe nó cũng không ăn được đâu nhá! Những lần
cô ốm, tôi nấu cháo cho cô thế nào?”.
Thằng con thấy căng thẳng sợ quá bảo: “Thôi, thôi, để con đi mua phở cho
bố”, nói rồi nó cầm chiếc bát to tướng chạy ngay ra đầu phố. Vợ tôi tức
mình bê cả bát cháo đổ vào sọt rác rồi ra ghế ngồi khóc.
Nàng vừa khóc vừa kể lể đủ tội tôi. Nào là không coi trọng tình cảm chăm
sóc của nàng trong bát cháo, nào không biết hôm nay là ngày Valentine hay
sao mà nỡ cáu gắt nàng trong ngày này?
Tôi quát tướng: “Tôi mà chết đi thì tình yêu cũng chẳng có nghĩa lý gì. Cô
ngồi đấy mà tôn thờ tình yêu”.
Vợ tôi trợn mắt: “Được, nếu vậy tôi sẽ về nhà mẹ tôi, tôi sẽ đi khỏi cái
nhà này cho anh sống không cần tình yêu”. “Vâng, cô cứ đi, tôi sẽ thuê ôsin
về giúp việc bố con tôi”.
Tưởng dọa thế mà nàng đi thật. Nàng gọi ngay taxi trước mặt tôi và xách
valy đi ngay lập tức. Chiều hôm ấy, con tôi vội đến Trung tâm giới thiệu
việc làm dắt về một cô giúp việc và cô ta xắn tay ngay vào công việc chẳng
nề hà gì. Lần đầu tiên tôi được người khác chăm lo nấu ăn, giặt giũ, lau
nhà, đi chợ, thậm chí cả bỏ màn cho tôi đi ngủ.
Vì vậy tôi yên tâm uống thuốc và nằm nghỉ ngơi chẳng lo nghĩ gì nữa. Đã thế
thằng con lại hay gọi điện kể với mẹ nó: “Mẹ cứ yên tâm ở bên bà ngoại,
đừng lo gì vì nhà mình đã có cô giúp việc chăm lo tất cả. Cô ấy nấu cơm
ngon lắm, lau chùi nhà cửa còn sạch hơn bố làm”.
Hôm nay thì nó khoe: “Bố khỏi hẳn rồi mẹ ạ, đã bắt đầu đi làm. Gớm, khỏi
rồi mà cô Na vẫn chiều cứ như bố đang ốm ấy, nấu xôi lạp sườn cho bố ăn
sáng, bắt bố phải uống nước cam, dặn chiều phải về sớm không được la cà
uống bia...”.
Hình như mẹ nó dặn sẽ về hay sao mà thấy nó gàn: “Thôi, mẹ ơi, mẹ cứ ở bên
đó để cảnh cáo bố, thể nào cũng có hôm bố nhớ mẹ quá không chịu được lại
đến xin lỗi và đón mẹ về ngay ấy mà”.
Hình như mẹ nó khóc kể lể gì đó nên thằng con tôi dặn: “Sáng mai nhé, sáng
mai mẹ về sẽ thấy cảnh cô Na chăm sóc bố như thế nào, cô ấy giỏi lắm mẹ ạ”.
Thế nhưng ngay cuối chiều hôm ấy, vợ tôi đã tức tốc về ngay chứ không cần
đợi đến sáng mai.
Vừa vào nhà nàng đã nhìn ngó khắp nơi và gọi tướng: “Cô Na đâu, ra cho tôi
hỏi xem nào?”. Thằng con tôi reo lên: “Trời ơi, mẹ chậm quá, cô ấy đã xin
thôi việc về quê đột xuất rồi. Cô ấy chỉ hẹn lúc nào bố cần thì gọi”.
Vợ tôi có vẻ hả lòng bảo: “Thôi, khỏi cần, từ nay em sẽ thôi câu lạc bộ giữ
eo, câu lạc bộ làm đẹp để có thời gian ở nhà chăm sóc gia đình. Em sẽ tập
làm tất cả mọi việc đỡ đần cho anh. Em sẽ cùng anh giữ ngọn lửa tình yêu
trong căn nhà này”.
Tôi thích quá ôm chầm lấy vợ. Lúc ấy thằng con tôi đã biến lên phòng. Tôi
thật cảm ơn nó vì thực ra cô Na ôsin mà nó thuê chỉ làm việc 3 ngày thôi,
cô ấy đã về từ hôm kia rồi và mọi sự chăm sóc của cô ấy với tôi hoàn toàn
là do nó... bịa ra.
Một phút suy tư: Chữ TÂM
Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người:
- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù.
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá …
Cho nên , ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn:
- Ðặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Ðặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Ðặt trên trán để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Ðặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Ðặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Ðặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với anh em chị em.
Thân xác không tim thì thân xác chết, làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi ngưới
(suu tầm trên net)
Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người:
- Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngã đảo điên.
- Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
- Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù.
- Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
- Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá …
Cho nên , ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn:
- Ðặt trên tay để giúp đỡ người khác.
- Ðặt trên mắt để nhìn thấy nổi khổ của tha nhân.
- Ðặt trên trán để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
- Ðặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
- Ðặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
- Ðặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với anh em chị em.
Thân xác không tim thì thân xác chết, làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi ngưới
(suu tầm trên net)
Cử chỉ thông thường của người Việt
Hay cười, xỉa răng, ngồi xổm là ba hành vi đặc trưng của người Việt, dù ngày nay đã thay đổi chút ít. Gặp bất cứ ai, dù không quen biết, người Việt có thói quen hay cười, rồi cả quen nhau rồi, mỗi khi kết thúc công việc gì đó lại cười. Bắt tay cười, mua hàng cười, nói chuyện cười, xem đám đông cười, thắng lợi cười, thất bại cũng cười... nghĩa là cười ở bất cứ đâu, với bất cứ ai, trong đó có cả cười một mình và lẩm bẩm một mình. Cười trở thành một thói quen bắt đầu cho một giao tiếp, đến nỗi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cho rằng hay dân tộc mình còn trẻ con. Cử chỉ thông thường của người Việt
Lỗ Tấn từng viết về những người nhà quê của A Q thái hành dài bằng đốt ngón tay, trong văn chương Tự lực văn đoàn cũng có những cảnh hài hước khi muốn chế giễu những người được cho là quê mùa nào đó, ví dụ cho một anh nông dân nhảy đầm. Từ hoang dã đến con người hiện đại là quãng thời gian hàng vạn năm, rất nhiều hành vi đã ngưng đọng lại không bao giờ thay đổi nữa. Đó chính là cử chỉ thông thường của một dân tộc, không bao giờ đánh giá theo thang giá trị đẹp hay xấu.
Cũng giống như tất cả người Việt khác, tôi ít khi để ý đến hành vi thường ngày của mình, nhưng dần dà cũng có những phân biệt nhất định, nhất là khi đi sơ tán, tôi thấy người sống ở nông thôn có những cách hành xử khác với người ở thành thị. Tiếp xúc với những người thuộc các sắc tộc khác nhau, lại thấy những hành xử khác nữa, rồi gặp người nước ngoài lại là một cách sống khác. Cái gì tạo nên những phong cách sống, như một số người có đầu óc kỳ thị thường phân biệt giữa người nhà quê và người thành phố, giữa người da trắng và người da màu, mà về bản chất nó không phản ánh sự tốt xấu, sang hèn chỉ là hệ quả của cả hành trình dân tộc.
Bà tôi và những cụ già khác thường nhai trầu bỏm bẻm, khi răng yếu các cụ có chiếc cối nghiền trầu nho nhỏ và ngoáy vào đó suốt ngày. Tôi thấy một cụ già nhờ nhà sư chùa làng nhai trầu hộ, rồi bà ăn sau, một hôm nhà sư bận nên nói bà nhờ cô gái này này. Bà cụ bảo: Cô này miệng hôi tôi không ăn được. Nhà sư: Miệng tôi mới hôi, còn miệng các cô ấy thơm lắm. Bà cụ nói: Các thầy là người tu hành nên khí chất thơm tho, còn các cô ấy có tu gì đâu mà thơm hay hôi. Như vậy cách quan niệm của các cụ già xưa thật khác thường, đạo đức quyết định tất cả những phẩm chất còn lại, mà thực tế thì không hẳn như vậy. Dưới cái mũi của con người động vật nói chung rất hôi hám, nhưng chúng không liên quan gì đến giá trị thiện ác cả, và nếu có thì động vật rất thiện so với con người. Lỗ Tấn cũng viết một cách hài hước rằng có lẽ mồ hôi của cô tiểu thư thành thị thì thơm hơn mồ hôi của anh công nhân chăng?
Nụ cười thiếu nữ. Bưu ảnh Pháp đầu thế kỷ XX.
Bữa cơm gia đình. Bưu ảnh Pháp đầu thế kỷ XX.
Hay cười, xỉa răng, ngồi xổm là ba hành vi đặc trưng của người Việt, dù ngày nay đã thay đổi chút ít. Gặp bất cứ ai, dù không quen biết, người Việt có thói quen hay cười, rồi cả quen nhau rồi, mỗi khi kết thúc công việc gì đó lại cười. Bắt tay cười, mua hàng cười, nói chuyện cười, xem đám đông cười, thắng lợi cười, thất bại cũng cười... nghĩa là cười ở bất cứ đâu, với bất cứ ai, trong đó có cả cười một mình và lẩm bẩm một mình. Cười trở thành một thói quen bắt đầu cho một giao tiếp, đến nỗi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cho rằng hay dân tộc mình còn trẻ con. Cái cười này không nhất thiết bộc lộ niềm vui, nó giống như lời chào thôi, để kết thúc một việc, nhất là khi gặp gỡ quan lại sai nha xưa để giải quyết hành chính, cười còn có tính nịnh nọt, nhằm lấy lòng cho được việc. Song trong cuộc sống thường nhật, không nhất thiết phải cầu cạnh ai người ta vẫn cười, điều đó cho thấy cười đã trở thành một hành vi vô thức, không nhất thiết phải có việc hay thái độ gì. Cười là sự tự kỷ của người Việt.
Xỉa răng chỉ là một việc rất nhỏ sau khi ăn của người Việt, nhưng được người phương Tây nhìn nhận như một đặc trưng tính cách, như trên đã dẫn, họ cho rằng người Việt hay ăn cỗ, và ai ăn xong rồi thì được đánh dấu bằng một cái que cắm vào mồm. Hầu hết người Việt lớn lên đôi chút là chân răng thường hở, khiến cho khi ăn thức ăn giắt vào kẽ răng và phải xỉa răng. Tập tục ăn trầu có chất vôi và nhuộm răng đen làm cho răng chắc khỏe, với những ai giữ được thói quen truyền thống này thì có thể giảm xỉa răng. Tuy nhiên trong quá khứ, thuốc đánh răng và bàn chải chỉ xuất hiện khi người phương Tây sang, còn người Việt cổ chỉ có xúc miệng bằng nước chè, rượu, đánh rằng bằng than hay múi cau khô. Ngoài bốn mươi, sự lão hóa bắt đầu và răng bắt đầu rụng cũng như doãng ra, người ta buộc phải xỉa răng. Người Việt cổ già tương đối sớm, cũng như lập gia đình sớm. 50 tuổi là ra đình lên lão, 60 tuổi là hết vòng hoa giáp có thể chầu trời, 70 tuổi là rất hiếm. Tục xỉa răng không phổ biến ở người phương Tây và ngay cả người Trung Hoa, nên được coi là cử chỉ riêng của người Việt. Xỉa răng sau khi ăn thực ra liên quan đến cách thức nấu nướng hằng ngày. Chúng ta không rõ thời trung cổ người phương Tây ăn những tảng thịt nướng to tướng thì họ sẽ xử lý răng miệng thế nào, nhưng về sau nhiều các đồ ăn phương Tây chuyển sang hầm nhừ, bộ răng không quá vất vả. Món ăn Trung Hoa cũng vậy, không nhiều đồ luộc như Việt Nam. Người Việt ăn nhiều chất sơ và đồ luộc, chất sơ từ rau cỏ, lại ăn nhanh và không nhai kỹ, lại luôn mồm nói chuyện trong khi ăn, nên luôn làm cho bộ răng ngứa ngáy.
Vả lại đàn ông xỉa răng để nói nốt câu chuyện tào lao rồi uống trà, đàn bà che miệng xỉa răng lộ vẻ kín đáo.
Ngồi khoanh chân xếp bằng như tọa Thiền là tính cách riêng của người phương Đông. Đầu gối người phương Tây do quá trình sống riêng rất khó gập được như vậy. Nhưng ngay cả người phương Đông hiện đại không phải ai cũng ngồi xếp bằng được, bởi thói quen mới ngồi duỗi chân với bàn ghế cao và bệnh béo phì, còn người xưa ngồi chiếu là phổ biến. Cái chiếu phổ biến đến mức nó trở thành khái niệm tượng trưng, xác định vị thế xã hội của con người. Người ta gọi là hộ tịch, tức là góc chiếu của gia đình và cá nhân nào đó, trong đó hộ là cái cửa nhà, cái nhà, còn tịch là cái chiếu. Người đứng đầu gọi là chủ tịch, nhưng người khác gọi là tịch viên. Và người có mặt nhưng không có quyền như những người trong cuộc khác thì gọi là liệt tịch. Liệt tịch bao gồm cả con ngựa ta cưỡi đến dự một cuộc khai hội (họp), nghĩa là chúng có đến cùng với chủ nhưng không được quyền phát biểu. Ra đình bạn sẽ được ngồi xếp bằng trên một góc chiếu, đó là vị thế của bạn. Có chiếu trên chiếu dưới phân cấp. Chiếu trên thì gần bàn thờ Thánh, càng xa bàn thờ thì càng là chiếu thấp, thấp nữa là chiếu ngoài sân đình. Riêng những người làm mõ thì ngồi chiếu riêng, ăn mâm riêng được coi là những người hạ đẳng xuất thân từ dân ngụ cư. Chiếu cao hơn thì cỗ cũng to hơn, nhiều món hơn. Kẻ thấp sẽ ghen tức vì mâm kẻ cao thật nhiều sơn hào hải vị. Mới có câu Bầu dục không đến bàn thứ tám. Cái văn hóa góc chiếu giữa đình này chưa hề mất đi, ngày nay nó được thay thế bằng văn hóa phong bì, nghĩa là ăn tiệc sẽ như nhau, nhưng tiền thưởng theo đẳng cấp.
Những người yoga và những bậc Thiền sư dùng ngay thế ngồi xếp bằng đặc trưng làm kỹ thuật tu luyện, hoặc bắt chéo cả hai chân lên nhau (gọi là kiết già toàn phần), hoặc bắt một chân (kiết già bán phần) và đưa vào đó ý nghĩa mới của sự thanh tĩnh hướng nội. Cái bệ rạc nhất trở thành cái cao khiết nhất trong nháy mắt trong cùng một cử chỉ, và vì thế ngồi xếp bằng được coi là một đặc trưng phương Đông về sự an tĩnh đàng hoàng. Ở Trung Hoa, phổ biến trong thời Tần Hán là cách ngồi quỳ đầu gối, bàn ghế chưa đóng vai trò nhiều, trừ chiếc bàn thấp để uống rượu đàm đạo. Cách ngồi quỳ đã từ lâu lui vào dĩ vãng ở Trung Quốc thì vẫn còn thịnh hành ở Nhật Bản nhiều thế kỷ sau. Những người du mục Mông Cổ luôn ngồi tư thế thõng chân trên mình ngựa, khi xuống đất hoặc ngồi khoanh chân hoặc ngồi cao thõng chân xuống đất. Tất cả những tư thế trên có nguồn gốc sinh hoạt của nó, mà người Việt không có. Quỳ lạy được dùng trong tế lễ, yết kiến vua quan, không thật phổ biến trong sinh hoạt. Đại bộ phận nông dân thích ngồi xổm, tức là ngồi gập đầu gối, đít kê hòn gạch hoặc ghế đẩu, hoặc ngồi không, hoặc ngồi bệt. Ăn và ỉa đều ngồi xổm, riêng ăn thì là tư thế thông thường trong chiến tranh, cái dạ dày luôn bị ép lại, cũng phù hợp với nguồn thức ăn không dồi dào. Và ngồi xổm để đại tiểu tiện cũng dễ cho con người. Cho đến ngày nay, nông thôn đã xây nhà vệ sinh hiện đại, nhưng người ta vẫn ngồi chồm hổm trên đó.
Mất nhiệt cả ngày vào mùa đông, chịu nóng ẩm vào mùa hè, xương cốt khí chất người Việt ngày càng lỏng lẻo dù mới qua tuổi ba mươi. Họ luôn có tư thế so vai rụt cổ, khi ngồi trên ghế tựa, thỉnh thoảng phải co cả hai chân lên ôm gối. Khoa xem tướng nhận định rằng những người đầu gối quá tai ( tư thế ngồi xổm ) là tướng bần hàn suốt đời. Khi viết về người Trung Quốc, người phương Tây nhận xét rằng người Trung Quốc ít khi nhìn thẳng, hay cúi đầu cụp mắt, hệ quả của hàng ngàn năm phong kiến nô dịch. Cúi đầu, lom khom, rụt rè...thực ra là hành vi phổ biến ở người phương Đông bình dân xưa. Những tư thế ăn vào máu con người, vào thời hiện đại, khi không sợ ông vua nữa, thì họ cũng không tự tin khi đứng trước người phương Tây. Thế rồi hình thành một loại người đứng trước người Tây thì như nô lệ, đứng trước người ta lại như thực dân.
Dáng người thấp nhưng đậm, cơ bắp khỏe, người nông dân xưa đi lại luôn có xu hướng chúi về đằng trước. Dáng đi này chịu ảnh hưởng của việc liên tục gánh gồng. Gánh nước, gánh thóc, gánh củi, gánh rau cỏ, gánh phân...từ trẻ con đến người già không ai không phải làm. Đôi vai trở nên vạm vỡ, cơ ngực cũng nở nang, trừ những thời kỳ đói ăn dài, người phụ nữ Việt có bộ ngực nở hơn phụ nữ Hoa. Một số làng thay vì gánh thì đội thúng trên đầu, nhất là các bà đồng nát, nhưng người Việt cũng không thể đội lọ như những người Ấn Độ - Khmer. Người Việt cũng không quen gùi trên lưng như những sắc tộc miền núi, mà sở trường là gánh nặng và đi đường xa. Kéo xe, thồ hàng bằng xe kéo, hoặc bằng xe đạp ( thế kỷ 20 ) cũng là thói quen lao động. Chân giã gạo, tay xay cối, vai gánh nặng, lội đồng, bơi sông, trèo cây hái củi...những hành vi thường ngày có tác dụng rèn luyện sức khỏe và uốn nắn cơ thể có những thói quen ứng xử nhất định, nên khi không lao động nữa người Việt thích ngả ngốn, tưởng chừng không theo một tư thế nào nhất định, nhưng thực ra vẫn là ngồi xổm, gác chân lên bàn hoặc lên ghế, sờ soạng linh tinh, nghiêng bên nọ, ngả bên kia và thay đổi tư thế liên tục. Họ vừa thiếu lại vừa thừa năng lượng. Khí hậu nóng ẩm hay thay đổi, nhiều ruồi muỗi, khiến ai nấy luôn tay gãi và quạt. Tất cả những điều này cộng lại cho thấy rất ít người Việt có khả năng ngồi yên một chỗ năm sáu tiếng, làm nghiên cứu khoa học kiên trì ngày này qua ngày khác, theo đuổi một mục đích duy lý dài lâu. Trong suốt một ngàn năm phong kiến chỉ có hai người có khả năng ấy mà trở thành nhà nghiên cứu duy nhất, đó là Lê Quý Đôn và một người gần được như thế là Phan Huy Chú.
Bái kiến một vị quan. Bưu ảnh Pháp đầu thế kỷ XX.
Người Việt cổ vốn ít râu và lông trên người, như lông chân, lông tay, còn lông ngực rất hạn hữu. Quá trình lội bùn cày cấy và mò cua bắt ốc, những lỗ chân lông gần như bị bịt hết, lớp da của họ nhẵn thín như tráng lên đó một lớp màng ni lông nâu bóng, do vậy khả năng đổ mồ hôi khi trời mưa nắng và nóng do lao động rất chậm, trừ khu vực đầu. Đặc điểm này giúp cho cơ thể người nông dân tránh bị cảm nắng khi lội nước dầm dề, nhưng lại thường gây chướng khí trong bụng. Người Việt do đó hay bị đầy hơi chướng, hay đánh rắm bừa bãi, hay khó tiêu. Cho nên theo truyền thống phần lớn thức ăn đem luộc ít xào nướng bằng dầu mỡ và các loại ẩm thực đặc sản rất thanh nhẹ, như bánh gio, bánh cuốn, bánh tẻ. Nếu ăn xong bị đầy bụng, người ta nếu là đàn ông thường véo bảy cái vào bụng và mỗi lần véo thì hú lên một hú, còn đàn bà thì véo chín cái. Trừ tóc và bộ phận sinh dục, thì bao nhiêu lông sót trên người, người ta có xu hướng vặt bằng sạch, như lông nách. Bộ tóc được chăm chút hằng ngày, chải bằng lược thưa và lược bí răng dày. Bẩn thì gội bằng bồ kết nướng. Cả đàn ông và đàn bà đều không cắt tóc, cứ để dài, rồi búi tròn trên đỉnh đầu (gọi là Nhục kháo). Nhưng ông đồ thì chau chuốt hơn, mai tóc vắt lên tai, gọi là mai gọng kính còn móng tay có vài người không bao giờ cắt, để dài tới vài chục phân. Tất cả tóc rụng, móng tay móng chân đều phải nhặt lại. Móng sừng thì cho vào cái túi nhỏ, tóc lại thường giắt vào liếp, có thể dùng đánh gió khi cảm. Khi nào chết người ta gom tóc và móng sừng để vào áo quan. Đó là một phần của trời đất và mẹ cha cho mình không được phép vứt bỏ.
Cùng chiều với tính cách nịnh hót là tính cách ưa nịnh nọt, thích quà biếu, thích khen thưởng, thích tâng bốc cũng đồng thời thích được nghe nói dối và o bế những kẻ tâng bốc mình và không bao giờ chấp nhận phê bình. Dân tộc đã có nhiều cơ hội phát triển, nhưng rồi lại chậm lại, thậm chí thụt lùi chỉ vì những tính cách này. Đó là bài học chưa bao giờ được tiếp nhận.
Người Việt không ưa đàn ông trẻ mà để râu. Râu ria chỉ được phép để khi ngoài 40 tuổi. Nghề cạo râu, sửa tóc, lấy ráy tai có khá sớm, riêng môn cắt tóc chỉ thịnh hành khi phong trào Duy tân và Đông kinh nghĩa thục kêu gọi đổi mới. Còn nhổ lông trên người và nhổ tóc sâu, bắt chấy người ta thường làm giúp nhau như bầy khỉ. Dẫu vậy từng người một, người Việt vẫn tự ngó ngoáy vào cơ thể mình cả ngày. Ngoáy mũi, ngoáy lỗ tai, gãi đầu, nhổ lông nách và ngửi nách, quạt phành phạch. Nếu có đàn bà con gái đứng quanh thì cũng tròng ghẹo, phát vào mông, véo má, véo tai, nếu là trẻ con người ta hay cắn nhẹ vào tay và má. Tất cả các hành vi này đều mang tính vô thức, giải tỏa năng lượng thừa, tạo niềm vui trong cuộc sống thường nhật và gắn kết cộng đồng. Ai không như vậy lại thường không được ưa lắm.
Ở phương Tây nếu không phải người đồng tính người ta rất kị người cùng giới chung phòng hoặc chạm vào nhau. Số người đồng tính ở Việt Nam trong quá khứ không nhiều, trừ những người có căn đồng mà chúng ta có thể bàn sau, nhưng hiện tượng người cùng giới sống thân mật là phổ biến. Đây là một tính cách dân tộc và rất lành mạnh không liên quan gì đến đời sống tính dục. Khi bạn bè thân nhau, người ta hay thích ngủ chung giường và trò chuyện suốt đêm. Khi Khổng giáo phát triển, người ta rất kị việc nam nữ chung sống đặc biệt chưa hôn thú. Ngay với trẻ con cũng vậy, nếu đi đâu xa phải ngủ tập thể, thì nam nằm với nam, nữ nằm với nữ. Trong lối đào tạo Quan họ cổ, trẻ con lên bảy lên tám tuổi, đến nhà ông trùm bà trùm ( những bậc thầy hát Quan họ ) học hát và ngủ đêm luôn ở đó, gọi là ngủ bọn, các bé trai ngủ ở nhà ông trùm, các bé gái ngủ ở nhà bà trùm. Tuy vậy trong giao tiếp hằng ngày, người Việt không ôm hôn, không bắt tay, chào nhau thì cúi đầu, ngả mũ hoặc giơ nón mũ lên cao, đi ra xa thì vẫy tay. Con cái lớn không đứng gần và đứng trước cha mẹ, học trò luôn đi sau thầy, vợ đi sau chồng, trước mặt người lạ luôn giữ một khoảng cách, khoảng cách đó kể cả với chồng. Ở nhà thường nhật hai vợ chồng có thể ngồi cùng mâm, nhưng nếu có khách đến chơi, thì vợ và các con xuống bếp ăn, mâm trên nhà chỉ có ông chủ nhà và khách. Khi chủ nhà đi vắng, người con cả sẽ ngồi tiếp thay bố, chứ mẹ thì không. (Lưu ý rằng những tính cách ứng xử này trong thời chưa ảnh hưởng văn minh phương Tây, không phải là hiện nay).
Có lần dẫn một người bạn nước ngoài đi xem bảo tàng, anh ta thắc mắc trong các chạm khắc đình làng luôn có hình ảnh con người ngửa mặt lên trời hoặc cúi gằm xuống đất. Tôi đã xem điêu khắc đình làng nhiều lần nhưng chưa bao giờ nảy ra câu hỏi như vậy, bèn trả lời cho qua chuyện, cái này cũng giống như điêu khắc Gothic ở phương Tây, con người luôn chỉ có hai tư thế ngửa mặt lên trời cầu Thiên chúa, và cúi mặt xuống đất nhẫn nhục. Có lẽ hình ảnh con người trong chạm khắc cổ Việt Nam phản chiếu một vấn đề khác không có tính tôn giáo như nghệ thuật Gothic. Sự nhẫn nhục, phục tùng là phổ biến trong tính cách bình dân phương Đông cổ, hằng ngày, trong nghệ thuật, và cả ngày nay cũng chưa hết như vậy. Song ngửa mặt lên trời lại không phải là hành vi phổ biến, trong nghệ thuật nó chỉ là biểu hiện sự vui đùa thôi, nó thể hiện sự không coi cái gì ra gì (nhất thời), sự chế nhạo, tự tâng bốc và thỏa mãn với bản thân mình, sự điên rồ tùy hứng, bởi không mấy khi hào sảng như vậy.
Nịnh hót, xun xoe, khúm núm là hành vi hay là phẩm chất, hay đôi khi là cả hai, thì cũng rất thông thường ở người Việt. Mặc dù không ai thích như vậy, nhưng ít ai tránh khỏi vì đó là một tính cách bản năng mất rồi. Người phương Tây sang Việt Nam thế kỷ 17, 18 nhận xét rằng gặp quan lại Việt Nam không thể không có quà biếu. Trao và nhận quà biếu cũng là một tính cách dân tộc có liên hệ mật thiết với sự nịnh hót, khúm núm nói trên. Biểu cảm như thế nào còn là tùy hoàn cảnh và con người cụ thể. Hoặc may hai chiếc áo có hai vạt khác nhau như truyện dân gian về một ông quan. Lúc gặp quan trên thì mặc áo vạt trước ngắn, vì phải cúi mình, lúc gặp dân đen thì mặc áo vạt sau ngắn vì ưỡn bụng vênh vang. Cúi lưng, xoa tay, ngửa mặt đớp lời quan khách, cười nhạt nhưng niềm nở, mắt hấp háy, chân nam đá chân siêu, luống cuống làm việc nọ xọ việc kia, bưng chén hai tay, đuổi ruồi cho ngài, sửa vạt áo cho ngài, xếp lại giày cho ngài, pha trà hảo hạng, mở chai rượu mới nhãn hiệu Napoleon, ngọt giọng bảo vợ đun lại nước sôi, gọi con gái xinh đẹp ra chào khách, khen ngài dạo này trẻ khỏe, hơi gầy, nhưng nom tướng rất phát, ta thán về sự bận bịu của ngài lo việc dân việc nước... Riêng về đề tài này chỉ liệt kê chắc được một bài dài năm bảy trang.
Phan Cẩm Thượng
Lỗ Tấn từng viết về những người nhà quê của A Q thái hành dài bằng đốt ngón tay, trong văn chương Tự lực văn đoàn cũng có những cảnh hài hước khi muốn chế giễu những người được cho là quê mùa nào đó, ví dụ cho một anh nông dân nhảy đầm. Từ hoang dã đến con người hiện đại là quãng thời gian hàng vạn năm, rất nhiều hành vi đã ngưng đọng lại không bao giờ thay đổi nữa. Đó chính là cử chỉ thông thường của một dân tộc, không bao giờ đánh giá theo thang giá trị đẹp hay xấu.
Cũng giống như tất cả người Việt khác, tôi ít khi để ý đến hành vi thường ngày của mình, nhưng dần dà cũng có những phân biệt nhất định, nhất là khi đi sơ tán, tôi thấy người sống ở nông thôn có những cách hành xử khác với người ở thành thị. Tiếp xúc với những người thuộc các sắc tộc khác nhau, lại thấy những hành xử khác nữa, rồi gặp người nước ngoài lại là một cách sống khác. Cái gì tạo nên những phong cách sống, như một số người có đầu óc kỳ thị thường phân biệt giữa người nhà quê và người thành phố, giữa người da trắng và người da màu, mà về bản chất nó không phản ánh sự tốt xấu, sang hèn chỉ là hệ quả của cả hành trình dân tộc.
Bà tôi và những cụ già khác thường nhai trầu bỏm bẻm, khi răng yếu các cụ có chiếc cối nghiền trầu nho nhỏ và ngoáy vào đó suốt ngày. Tôi thấy một cụ già nhờ nhà sư chùa làng nhai trầu hộ, rồi bà ăn sau, một hôm nhà sư bận nên nói bà nhờ cô gái này này. Bà cụ bảo: Cô này miệng hôi tôi không ăn được. Nhà sư: Miệng tôi mới hôi, còn miệng các cô ấy thơm lắm. Bà cụ nói: Các thầy là người tu hành nên khí chất thơm tho, còn các cô ấy có tu gì đâu mà thơm hay hôi. Như vậy cách quan niệm của các cụ già xưa thật khác thường, đạo đức quyết định tất cả những phẩm chất còn lại, mà thực tế thì không hẳn như vậy. Dưới cái mũi của con người động vật nói chung rất hôi hám, nhưng chúng không liên quan gì đến giá trị thiện ác cả, và nếu có thì động vật rất thiện so với con người. Lỗ Tấn cũng viết một cách hài hước rằng có lẽ mồ hôi của cô tiểu thư thành thị thì thơm hơn mồ hôi của anh công nhân chăng?
Nụ cười thiếu nữ. Bưu ảnh Pháp đầu thế kỷ XX.
Bữa cơm gia đình. Bưu ảnh Pháp đầu thế kỷ XX.
Hay cười, xỉa răng, ngồi xổm là ba hành vi đặc trưng của người Việt, dù ngày nay đã thay đổi chút ít. Gặp bất cứ ai, dù không quen biết, người Việt có thói quen hay cười, rồi cả quen nhau rồi, mỗi khi kết thúc công việc gì đó lại cười. Bắt tay cười, mua hàng cười, nói chuyện cười, xem đám đông cười, thắng lợi cười, thất bại cũng cười... nghĩa là cười ở bất cứ đâu, với bất cứ ai, trong đó có cả cười một mình và lẩm bẩm một mình. Cười trở thành một thói quen bắt đầu cho một giao tiếp, đến nỗi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cho rằng hay dân tộc mình còn trẻ con. Cái cười này không nhất thiết bộc lộ niềm vui, nó giống như lời chào thôi, để kết thúc một việc, nhất là khi gặp gỡ quan lại sai nha xưa để giải quyết hành chính, cười còn có tính nịnh nọt, nhằm lấy lòng cho được việc. Song trong cuộc sống thường nhật, không nhất thiết phải cầu cạnh ai người ta vẫn cười, điều đó cho thấy cười đã trở thành một hành vi vô thức, không nhất thiết phải có việc hay thái độ gì. Cười là sự tự kỷ của người Việt.
Xỉa răng chỉ là một việc rất nhỏ sau khi ăn của người Việt, nhưng được người phương Tây nhìn nhận như một đặc trưng tính cách, như trên đã dẫn, họ cho rằng người Việt hay ăn cỗ, và ai ăn xong rồi thì được đánh dấu bằng một cái que cắm vào mồm. Hầu hết người Việt lớn lên đôi chút là chân răng thường hở, khiến cho khi ăn thức ăn giắt vào kẽ răng và phải xỉa răng. Tập tục ăn trầu có chất vôi và nhuộm răng đen làm cho răng chắc khỏe, với những ai giữ được thói quen truyền thống này thì có thể giảm xỉa răng. Tuy nhiên trong quá khứ, thuốc đánh răng và bàn chải chỉ xuất hiện khi người phương Tây sang, còn người Việt cổ chỉ có xúc miệng bằng nước chè, rượu, đánh rằng bằng than hay múi cau khô. Ngoài bốn mươi, sự lão hóa bắt đầu và răng bắt đầu rụng cũng như doãng ra, người ta buộc phải xỉa răng. Người Việt cổ già tương đối sớm, cũng như lập gia đình sớm. 50 tuổi là ra đình lên lão, 60 tuổi là hết vòng hoa giáp có thể chầu trời, 70 tuổi là rất hiếm. Tục xỉa răng không phổ biến ở người phương Tây và ngay cả người Trung Hoa, nên được coi là cử chỉ riêng của người Việt. Xỉa răng sau khi ăn thực ra liên quan đến cách thức nấu nướng hằng ngày. Chúng ta không rõ thời trung cổ người phương Tây ăn những tảng thịt nướng to tướng thì họ sẽ xử lý răng miệng thế nào, nhưng về sau nhiều các đồ ăn phương Tây chuyển sang hầm nhừ, bộ răng không quá vất vả. Món ăn Trung Hoa cũng vậy, không nhiều đồ luộc như Việt Nam. Người Việt ăn nhiều chất sơ và đồ luộc, chất sơ từ rau cỏ, lại ăn nhanh và không nhai kỹ, lại luôn mồm nói chuyện trong khi ăn, nên luôn làm cho bộ răng ngứa ngáy.
Vả lại đàn ông xỉa răng để nói nốt câu chuyện tào lao rồi uống trà, đàn bà che miệng xỉa răng lộ vẻ kín đáo.
Ngồi khoanh chân xếp bằng như tọa Thiền là tính cách riêng của người phương Đông. Đầu gối người phương Tây do quá trình sống riêng rất khó gập được như vậy. Nhưng ngay cả người phương Đông hiện đại không phải ai cũng ngồi xếp bằng được, bởi thói quen mới ngồi duỗi chân với bàn ghế cao và bệnh béo phì, còn người xưa ngồi chiếu là phổ biến. Cái chiếu phổ biến đến mức nó trở thành khái niệm tượng trưng, xác định vị thế xã hội của con người. Người ta gọi là hộ tịch, tức là góc chiếu của gia đình và cá nhân nào đó, trong đó hộ là cái cửa nhà, cái nhà, còn tịch là cái chiếu. Người đứng đầu gọi là chủ tịch, nhưng người khác gọi là tịch viên. Và người có mặt nhưng không có quyền như những người trong cuộc khác thì gọi là liệt tịch. Liệt tịch bao gồm cả con ngựa ta cưỡi đến dự một cuộc khai hội (họp), nghĩa là chúng có đến cùng với chủ nhưng không được quyền phát biểu. Ra đình bạn sẽ được ngồi xếp bằng trên một góc chiếu, đó là vị thế của bạn. Có chiếu trên chiếu dưới phân cấp. Chiếu trên thì gần bàn thờ Thánh, càng xa bàn thờ thì càng là chiếu thấp, thấp nữa là chiếu ngoài sân đình. Riêng những người làm mõ thì ngồi chiếu riêng, ăn mâm riêng được coi là những người hạ đẳng xuất thân từ dân ngụ cư. Chiếu cao hơn thì cỗ cũng to hơn, nhiều món hơn. Kẻ thấp sẽ ghen tức vì mâm kẻ cao thật nhiều sơn hào hải vị. Mới có câu Bầu dục không đến bàn thứ tám. Cái văn hóa góc chiếu giữa đình này chưa hề mất đi, ngày nay nó được thay thế bằng văn hóa phong bì, nghĩa là ăn tiệc sẽ như nhau, nhưng tiền thưởng theo đẳng cấp.
Những người yoga và những bậc Thiền sư dùng ngay thế ngồi xếp bằng đặc trưng làm kỹ thuật tu luyện, hoặc bắt chéo cả hai chân lên nhau (gọi là kiết già toàn phần), hoặc bắt một chân (kiết già bán phần) và đưa vào đó ý nghĩa mới của sự thanh tĩnh hướng nội. Cái bệ rạc nhất trở thành cái cao khiết nhất trong nháy mắt trong cùng một cử chỉ, và vì thế ngồi xếp bằng được coi là một đặc trưng phương Đông về sự an tĩnh đàng hoàng. Ở Trung Hoa, phổ biến trong thời Tần Hán là cách ngồi quỳ đầu gối, bàn ghế chưa đóng vai trò nhiều, trừ chiếc bàn thấp để uống rượu đàm đạo. Cách ngồi quỳ đã từ lâu lui vào dĩ vãng ở Trung Quốc thì vẫn còn thịnh hành ở Nhật Bản nhiều thế kỷ sau. Những người du mục Mông Cổ luôn ngồi tư thế thõng chân trên mình ngựa, khi xuống đất hoặc ngồi khoanh chân hoặc ngồi cao thõng chân xuống đất. Tất cả những tư thế trên có nguồn gốc sinh hoạt của nó, mà người Việt không có. Quỳ lạy được dùng trong tế lễ, yết kiến vua quan, không thật phổ biến trong sinh hoạt. Đại bộ phận nông dân thích ngồi xổm, tức là ngồi gập đầu gối, đít kê hòn gạch hoặc ghế đẩu, hoặc ngồi không, hoặc ngồi bệt. Ăn và ỉa đều ngồi xổm, riêng ăn thì là tư thế thông thường trong chiến tranh, cái dạ dày luôn bị ép lại, cũng phù hợp với nguồn thức ăn không dồi dào. Và ngồi xổm để đại tiểu tiện cũng dễ cho con người. Cho đến ngày nay, nông thôn đã xây nhà vệ sinh hiện đại, nhưng người ta vẫn ngồi chồm hổm trên đó.
Mất nhiệt cả ngày vào mùa đông, chịu nóng ẩm vào mùa hè, xương cốt khí chất người Việt ngày càng lỏng lẻo dù mới qua tuổi ba mươi. Họ luôn có tư thế so vai rụt cổ, khi ngồi trên ghế tựa, thỉnh thoảng phải co cả hai chân lên ôm gối. Khoa xem tướng nhận định rằng những người đầu gối quá tai ( tư thế ngồi xổm ) là tướng bần hàn suốt đời. Khi viết về người Trung Quốc, người phương Tây nhận xét rằng người Trung Quốc ít khi nhìn thẳng, hay cúi đầu cụp mắt, hệ quả của hàng ngàn năm phong kiến nô dịch. Cúi đầu, lom khom, rụt rè...thực ra là hành vi phổ biến ở người phương Đông bình dân xưa. Những tư thế ăn vào máu con người, vào thời hiện đại, khi không sợ ông vua nữa, thì họ cũng không tự tin khi đứng trước người phương Tây. Thế rồi hình thành một loại người đứng trước người Tây thì như nô lệ, đứng trước người ta lại như thực dân.
Dáng người thấp nhưng đậm, cơ bắp khỏe, người nông dân xưa đi lại luôn có xu hướng chúi về đằng trước. Dáng đi này chịu ảnh hưởng của việc liên tục gánh gồng. Gánh nước, gánh thóc, gánh củi, gánh rau cỏ, gánh phân...từ trẻ con đến người già không ai không phải làm. Đôi vai trở nên vạm vỡ, cơ ngực cũng nở nang, trừ những thời kỳ đói ăn dài, người phụ nữ Việt có bộ ngực nở hơn phụ nữ Hoa. Một số làng thay vì gánh thì đội thúng trên đầu, nhất là các bà đồng nát, nhưng người Việt cũng không thể đội lọ như những người Ấn Độ - Khmer. Người Việt cũng không quen gùi trên lưng như những sắc tộc miền núi, mà sở trường là gánh nặng và đi đường xa. Kéo xe, thồ hàng bằng xe kéo, hoặc bằng xe đạp ( thế kỷ 20 ) cũng là thói quen lao động. Chân giã gạo, tay xay cối, vai gánh nặng, lội đồng, bơi sông, trèo cây hái củi...những hành vi thường ngày có tác dụng rèn luyện sức khỏe và uốn nắn cơ thể có những thói quen ứng xử nhất định, nên khi không lao động nữa người Việt thích ngả ngốn, tưởng chừng không theo một tư thế nào nhất định, nhưng thực ra vẫn là ngồi xổm, gác chân lên bàn hoặc lên ghế, sờ soạng linh tinh, nghiêng bên nọ, ngả bên kia và thay đổi tư thế liên tục. Họ vừa thiếu lại vừa thừa năng lượng. Khí hậu nóng ẩm hay thay đổi, nhiều ruồi muỗi, khiến ai nấy luôn tay gãi và quạt. Tất cả những điều này cộng lại cho thấy rất ít người Việt có khả năng ngồi yên một chỗ năm sáu tiếng, làm nghiên cứu khoa học kiên trì ngày này qua ngày khác, theo đuổi một mục đích duy lý dài lâu. Trong suốt một ngàn năm phong kiến chỉ có hai người có khả năng ấy mà trở thành nhà nghiên cứu duy nhất, đó là Lê Quý Đôn và một người gần được như thế là Phan Huy Chú.
Bái kiến một vị quan. Bưu ảnh Pháp đầu thế kỷ XX.
Người Việt cổ vốn ít râu và lông trên người, như lông chân, lông tay, còn lông ngực rất hạn hữu. Quá trình lội bùn cày cấy và mò cua bắt ốc, những lỗ chân lông gần như bị bịt hết, lớp da của họ nhẵn thín như tráng lên đó một lớp màng ni lông nâu bóng, do vậy khả năng đổ mồ hôi khi trời mưa nắng và nóng do lao động rất chậm, trừ khu vực đầu. Đặc điểm này giúp cho cơ thể người nông dân tránh bị cảm nắng khi lội nước dầm dề, nhưng lại thường gây chướng khí trong bụng. Người Việt do đó hay bị đầy hơi chướng, hay đánh rắm bừa bãi, hay khó tiêu. Cho nên theo truyền thống phần lớn thức ăn đem luộc ít xào nướng bằng dầu mỡ và các loại ẩm thực đặc sản rất thanh nhẹ, như bánh gio, bánh cuốn, bánh tẻ. Nếu ăn xong bị đầy bụng, người ta nếu là đàn ông thường véo bảy cái vào bụng và mỗi lần véo thì hú lên một hú, còn đàn bà thì véo chín cái. Trừ tóc và bộ phận sinh dục, thì bao nhiêu lông sót trên người, người ta có xu hướng vặt bằng sạch, như lông nách. Bộ tóc được chăm chút hằng ngày, chải bằng lược thưa và lược bí răng dày. Bẩn thì gội bằng bồ kết nướng. Cả đàn ông và đàn bà đều không cắt tóc, cứ để dài, rồi búi tròn trên đỉnh đầu (gọi là Nhục kháo). Nhưng ông đồ thì chau chuốt hơn, mai tóc vắt lên tai, gọi là mai gọng kính còn móng tay có vài người không bao giờ cắt, để dài tới vài chục phân. Tất cả tóc rụng, móng tay móng chân đều phải nhặt lại. Móng sừng thì cho vào cái túi nhỏ, tóc lại thường giắt vào liếp, có thể dùng đánh gió khi cảm. Khi nào chết người ta gom tóc và móng sừng để vào áo quan. Đó là một phần của trời đất và mẹ cha cho mình không được phép vứt bỏ.
Cùng chiều với tính cách nịnh hót là tính cách ưa nịnh nọt, thích quà biếu, thích khen thưởng, thích tâng bốc cũng đồng thời thích được nghe nói dối và o bế những kẻ tâng bốc mình và không bao giờ chấp nhận phê bình. Dân tộc đã có nhiều cơ hội phát triển, nhưng rồi lại chậm lại, thậm chí thụt lùi chỉ vì những tính cách này. Đó là bài học chưa bao giờ được tiếp nhận.
Người Việt không ưa đàn ông trẻ mà để râu. Râu ria chỉ được phép để khi ngoài 40 tuổi. Nghề cạo râu, sửa tóc, lấy ráy tai có khá sớm, riêng môn cắt tóc chỉ thịnh hành khi phong trào Duy tân và Đông kinh nghĩa thục kêu gọi đổi mới. Còn nhổ lông trên người và nhổ tóc sâu, bắt chấy người ta thường làm giúp nhau như bầy khỉ. Dẫu vậy từng người một, người Việt vẫn tự ngó ngoáy vào cơ thể mình cả ngày. Ngoáy mũi, ngoáy lỗ tai, gãi đầu, nhổ lông nách và ngửi nách, quạt phành phạch. Nếu có đàn bà con gái đứng quanh thì cũng tròng ghẹo, phát vào mông, véo má, véo tai, nếu là trẻ con người ta hay cắn nhẹ vào tay và má. Tất cả các hành vi này đều mang tính vô thức, giải tỏa năng lượng thừa, tạo niềm vui trong cuộc sống thường nhật và gắn kết cộng đồng. Ai không như vậy lại thường không được ưa lắm.
Ở phương Tây nếu không phải người đồng tính người ta rất kị người cùng giới chung phòng hoặc chạm vào nhau. Số người đồng tính ở Việt Nam trong quá khứ không nhiều, trừ những người có căn đồng mà chúng ta có thể bàn sau, nhưng hiện tượng người cùng giới sống thân mật là phổ biến. Đây là một tính cách dân tộc và rất lành mạnh không liên quan gì đến đời sống tính dục. Khi bạn bè thân nhau, người ta hay thích ngủ chung giường và trò chuyện suốt đêm. Khi Khổng giáo phát triển, người ta rất kị việc nam nữ chung sống đặc biệt chưa hôn thú. Ngay với trẻ con cũng vậy, nếu đi đâu xa phải ngủ tập thể, thì nam nằm với nam, nữ nằm với nữ. Trong lối đào tạo Quan họ cổ, trẻ con lên bảy lên tám tuổi, đến nhà ông trùm bà trùm ( những bậc thầy hát Quan họ ) học hát và ngủ đêm luôn ở đó, gọi là ngủ bọn, các bé trai ngủ ở nhà ông trùm, các bé gái ngủ ở nhà bà trùm. Tuy vậy trong giao tiếp hằng ngày, người Việt không ôm hôn, không bắt tay, chào nhau thì cúi đầu, ngả mũ hoặc giơ nón mũ lên cao, đi ra xa thì vẫy tay. Con cái lớn không đứng gần và đứng trước cha mẹ, học trò luôn đi sau thầy, vợ đi sau chồng, trước mặt người lạ luôn giữ một khoảng cách, khoảng cách đó kể cả với chồng. Ở nhà thường nhật hai vợ chồng có thể ngồi cùng mâm, nhưng nếu có khách đến chơi, thì vợ và các con xuống bếp ăn, mâm trên nhà chỉ có ông chủ nhà và khách. Khi chủ nhà đi vắng, người con cả sẽ ngồi tiếp thay bố, chứ mẹ thì không. (Lưu ý rằng những tính cách ứng xử này trong thời chưa ảnh hưởng văn minh phương Tây, không phải là hiện nay).
Có lần dẫn một người bạn nước ngoài đi xem bảo tàng, anh ta thắc mắc trong các chạm khắc đình làng luôn có hình ảnh con người ngửa mặt lên trời hoặc cúi gằm xuống đất. Tôi đã xem điêu khắc đình làng nhiều lần nhưng chưa bao giờ nảy ra câu hỏi như vậy, bèn trả lời cho qua chuyện, cái này cũng giống như điêu khắc Gothic ở phương Tây, con người luôn chỉ có hai tư thế ngửa mặt lên trời cầu Thiên chúa, và cúi mặt xuống đất nhẫn nhục. Có lẽ hình ảnh con người trong chạm khắc cổ Việt Nam phản chiếu một vấn đề khác không có tính tôn giáo như nghệ thuật Gothic. Sự nhẫn nhục, phục tùng là phổ biến trong tính cách bình dân phương Đông cổ, hằng ngày, trong nghệ thuật, và cả ngày nay cũng chưa hết như vậy. Song ngửa mặt lên trời lại không phải là hành vi phổ biến, trong nghệ thuật nó chỉ là biểu hiện sự vui đùa thôi, nó thể hiện sự không coi cái gì ra gì (nhất thời), sự chế nhạo, tự tâng bốc và thỏa mãn với bản thân mình, sự điên rồ tùy hứng, bởi không mấy khi hào sảng như vậy.
Nịnh hót, xun xoe, khúm núm là hành vi hay là phẩm chất, hay đôi khi là cả hai, thì cũng rất thông thường ở người Việt. Mặc dù không ai thích như vậy, nhưng ít ai tránh khỏi vì đó là một tính cách bản năng mất rồi. Người phương Tây sang Việt Nam thế kỷ 17, 18 nhận xét rằng gặp quan lại Việt Nam không thể không có quà biếu. Trao và nhận quà biếu cũng là một tính cách dân tộc có liên hệ mật thiết với sự nịnh hót, khúm núm nói trên. Biểu cảm như thế nào còn là tùy hoàn cảnh và con người cụ thể. Hoặc may hai chiếc áo có hai vạt khác nhau như truyện dân gian về một ông quan. Lúc gặp quan trên thì mặc áo vạt trước ngắn, vì phải cúi mình, lúc gặp dân đen thì mặc áo vạt sau ngắn vì ưỡn bụng vênh vang. Cúi lưng, xoa tay, ngửa mặt đớp lời quan khách, cười nhạt nhưng niềm nở, mắt hấp háy, chân nam đá chân siêu, luống cuống làm việc nọ xọ việc kia, bưng chén hai tay, đuổi ruồi cho ngài, sửa vạt áo cho ngài, xếp lại giày cho ngài, pha trà hảo hạng, mở chai rượu mới nhãn hiệu Napoleon, ngọt giọng bảo vợ đun lại nước sôi, gọi con gái xinh đẹp ra chào khách, khen ngài dạo này trẻ khỏe, hơi gầy, nhưng nom tướng rất phát, ta thán về sự bận bịu của ngài lo việc dân việc nước... Riêng về đề tài này chỉ liệt kê chắc được một bài dài năm bảy trang.
Phan Cẩm Thượng
Bềnh Bồng Như Mây
Đỗ Dung Tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang. Sáu giờ sáng, trời mùa đông Cali tối đen. Hôm nay tôi phải có mặt tại nhà thương Stanford trước tám giờ để làm thử nghiệm. Bác sĩ sẽ luồn một ống thật nhỏ qua tĩnh mạch chính ở chân, ống sẽ theo dòng máu dẫn lên để thông tim, khám phổi. Trời thật lạnh, mặc áo len, khoác áo ngoài mà vẫn không đủ ấm, hai vợ chồng tôi ra xe, im lặng, không nói một lời và hình như cả hai cùng trĩu nặng âu lo. Trong lòng xe được sưởi ấm, tiếng hát Ý Lan vang lên nhẹ nhàng tha thiết: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…” Đầu óc tôi bềnh bồng trở về những ngày tháng cũ xám xịt, thê lương. Những nhục nhằn, khổ đau của những người đàn bà còn ở lại, phải đối phó với những kẻ đang vênh vang thắng thế, phải đương đầu với những hoàn cảnh khắt khe.
Căn nhà mẹ tôi mua ở Long Thành để có nơi chốn hồi hương cho khỏi bị lùa đi kinh tế mới. Ao rau muống nước đục ngầu mà thằng bé con rơi tòm xuống tưởng chết. Những luống khoai mì ốm yếu xiêu vẹo vì không người bón tưới thường xuyên. Căn nhà thấp lè tè, tối om chỉ nhỏ như một cái buồng, mái tranh, vách lá, nền đất nện … Mẹ tôi ở đó một mình, như bị đầy đọa, ra vào im lìm như cái bóng.
- Mẹ ơi, Mẹ lấy sẵn cho Bố tiền qua cầu!
Tiếng nói của nhà tôi lôi tôi về thực tại. Bầu trời đã loãng ra, trắng nhờ nhờ và mưa lất phất.
- Mẹ đừng lo, chỉ mấy tiếng đồng hồ là xong ngay mà. (Chúng tôi quen xưng hô với nhau như thế sau khi sanh thằng bé út).
Thấy tôi ngồi yên lặng, chắc lòng anh cũng đang hoang mang, lo lắng. Anh nói trấn an vợ hay để tự làm yên lòng mình.
Sau thủ tục nhập viện, đường đến nơi thử nghiệm hơi xa nên nhà tôi lấy xe lăn cho tôi. Mọi khi ngồi trên chiếc “wheelchair” cho chồng đẩy tôi luôn miệng đùa cợt, trêu chọc bác phu xe:
- Thiên bất dung gian nhé! Lấy vợ trẻ để mong về già được hầu, bây giờ phải đẩy xe cho vợ… hihihi…
- Hà hà …có anh giáo gian tưởng được vợ đấm lưng ai dè phải đấm lưng cho vợ…
Hôm nay tôi cười không nổi. Nhìn bóng in vào những cửa kính khi đi ngang, anh đã mang nét lụ khụ, lưng hơi còng xuống chứ không phưỡn ngực như thời trai trẻ, như những ngày chúng tôi mới quen nhau.
Ngày ấy cô nữ sinh mười tám tuổi cắp sách đi thi tú tài hai. Ông bố đã sửa soạn sẵn cho con gái chiếc áo dài trắng nội hóa sạch sẽ, thơm tho, phẳng phiu và buổi sáng đã hò hét bảo con em sửa soạn xe sẵn để đưa chị. Cô thí sinh cả đêm không ngủ, đọc nguyên cuốn Luận Lý Học dày cộm như đọc tiểu thuyết, không dám nói một lời chỉ sợ những chữ mới nhét vào đầu sẽ rớt ra. Đến trường Gia Long, lần theo bản đồ chỉ dẫn, lần theo số báo danh, cô thí sinh đi tìm chỗ. Giờ đầu tiên là giờ thi triết. Chỗ ngồi thi ngay đầu bàn nhất, phía bàn giáo sư, y như chỗ ngồi của cô trong lớp nhất A1 ở Trưng Vương. Đề thi vừa được viết trên bảng, con nhỏ thiếu điều rú lên vì … trúng tủ. Giở gói ô mai để ngay trước mặt và con nhỏ bắt đầu phóng bút.
- Thưa Thày cho con xin thêm tờ giấy!
Con nhỏ đã viết lấp đầy tờ giấy thứ nhất. Thày giáo coi thi đưa thêm tờ thứ hai, vuốt thẳng và trịnh trọng để trên bàn. Thỉnh thoảng con nhỏ nhón cục ô mai cắn một miếng rồi lại cắm cúi viết, đâu biết rằng người thày giáo coi thi ấy đang chăm chú nhìn và cứ tủm tỉm cười …
Cái thuở ban đầu, cái buổi gặp gỡ đầu tiên chỉ giản dị như thế.
- Bà Nguyễn, mời bà theo tôi vào đây! Người y tá trẻ vui vẻ ra đón.
Sau khi thay y phục nhà thương, tôi lên giường nằm, bịch thuốc treo trên cao nhỏ từng giọt vào mạch máu, mũi được cắm ống Oxygen. Từng đợt y tá đến, đo máu, lấy máu, gắn máy đo nhịp tim … Nhà tôi vẫn được phép ngồi cạnh tôi, chưa phải ly cách.
Bác sĩ Z, người vẫn săn sóc tôi đến cùng hai bác sĩ trẻ, một nam một nữ. Cả hai đều chưa đến ba mươi. Cô gái xinh xắn, người tầm thước, tóc vàng, da trắng nõn, cặp mắt mở to trong veo màu hạt dẻ. Cô ta tự giới thiệu tên M, giải thích tiến trình và cho biết cô sẽ là người trực tiếp thực hiện cuộc thử nghiệm này. Một thoáng ngần ngừ, tôi nhớ lời dặn dò của một người bạn: “Mổ xẻ hay thử nghiệm quan trọng mi phải yêu cầu bác sĩ chính làm, mi đừng để sinh viên thực tập. Có chuyện gì là hối không kịp đó”. Bác sĩ Z người Ấn Độ, trưởng phân khoa phổi. Mặt ông thật tươi, hai tai dài, đẹp. Mỗi lần đến khám bệnh tôi thường gọi đùa ông là Ông Phật, ông chỉ mỉm cười. Nếu tôi từ chối, cô bác sĩ trẻ này sẽ buồn và nếu ai cũng từ chối thì làm sao sinh viên có cơ hội thực tập. Ý nghĩ lướt nhanh trong đầu và tôi vui vẻ trả lời là tôi rất hân hạnh được cô lo cho tôi. Như đọc được tư tưởng tôi bác sĩ Z nói:
- Bà Nguyễn, tôi sẽ có mặt trong suốt tiến trình này. Bà sẵn sàng chưa?
- Dạ sẵn sàng, thưa bác sĩ.
Nhà tôi nắm nhẹ tay tôi, cúi xuống nói nhỏ, giọng bùi ngùi:
- Bố ngồi ở phòng đợi, họ đưa Mẹ ra là Bố vào ngay.
Khẽ gật đầu, mắt tôi cũng cay cay…
Người y tá đẩy tôi qua một hành lang dài hun hút. Tôi thật sự cô đơn. Như mấy lần thử nghiệm trước, tôi sẽ được chích thuốc mê, tôi sẽ được đưa vào cơn chết tạm và khi tôi tỉnh dậy thì mọi sự đã xong. Nếu lần này tôi không dậy nữa … hình ảnh các người thân của tôi hiện ra, mặt mẹ tôi rõ nét, rồi đến chồng tôi, mấy đứa con, mấy đứa cháu bé bỏng, chị em, bạn bè … Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Và như phản xạ từ tiềm thức, tôi niệm Phật.
Hai người y tá nhẹ nhàng chuyển tôi sang chiếc bàn dài phủ giấy trắng dưới chụp đèn trắng sáng, màu trắng sáng chói lòa. Căn phòng trắng lạnh lẽo. Mấy người xúm lại làm những sửa soạn cuối cùng, lại đo máu, đo nhiệt độ, đo Oxygen, lại lằng nhằng những dây cùng nhợ … Bác sĩ Z và hai bác sĩ trẻ đến, họ đã đội mũ và mang khẩu trang, chỉ còn hở cặp mắt. Tiếng dụng cụ khua chạm lanh canh. Tôi yên lặng tập trung tinh thần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát.
Một y tá đưa tôi ly nước và viên thuốc:
- Bà Nguyễn, thuốc này sẽ làm bà thanh thản, thuốc làm bà thoải mái thôi, không phải thuốc mê.
- Tôi không bị mê, tôi vẫn tỉnh à?
- Đây là loại thuốc an thần, bà sẽ cảm thấy êm dịu, nhẹ nhàng. Nào, bà sẵn sàng chưa, chúng ta bắt đầu nhé!
Tiếng bác sĩ Z dịu dàng giải thích.
Bác sĩ M đến bên nói tiếp:
- Chúng tôi sẽ làm tê ngay chỗ đưa ống thử vào người, bà sẽ không cảm thấy đau đớn gì đâu.
Bấy giờ tôi mới quan sát quanh phòng, ngoài chiếc màn hình ghi nhịp tim và nồng độ oxygen trong máu ngay đầu giường còn một màn hình to bằng chiếc TV 52 inches treo trên tường.
Uống viên thuốc được một lát người tôi lâng lâng, chơi vơi như những cụm mây trắng và tôi chìm dần trong vùng mây trắng bềnh bồng trôi.
Mây bay, mây cứ bay… một thảm cỏ xanh hiện ra rồi đến khu vườn đầy hoa trước biệt thự nằm trên đường Cộng Hòa Đà Lạt… một đám trẻ nô đùa, hái hoa, bắt bướm, chạy đuổi nhau, những tiếng cười khanh khách, giòn tan. Bồn hoa Quỳ, Hướng Dương đầy hoa vàng tươi đang chào nắng, những cánh Pensée mỏng manh rung rinh và những vạt hoa cúc vàng, cúc trắng nở rộ như reo cười. Hàng rào song sắt bao quanh biệt thự như được bọc bằng những khóm hoa hồng đủ màu sắc… Hình ảnh chị em tôi thời thơ ấu, mỗi năm được lên nhà bác ở Đà lạt nghỉ hè. Rồi như khúc phim được chuyển cảnh, tôi như đang nhìn thấy tôi với chàng tay trong tay trong khu rừng thông ven Hồ Than Thở, những cội thông già vươn cao, thẳng tắp. Tiếng lá reo vi vu. Khung cảnh thật tịch lặng. Nắng hanh hanh, gió se lạnh, tôi như đắm chìm trong hạnh phúc êm đềm và như quyện mình trong hơi ấm mới quen của người chồng mới cưới…
Chợt đau nhói, tôi vùng mình ú ớ.
- Bà Nguyễn, bà có sao không? Tiếng bác sĩ Z.
Tôi nhẹ lắc đầu trở về thực tại. Tôi đang nằm trên chiếc bàn trắng trong bệnh viện, đang ở trong trạng thái chập choạng mơ màng, nửa mê, nửa tỉnh và tôi đã được trở về một quá khứ đẹp đẽ xa xưa.
Ngước nhìn lên màn hình, quả tim tôi đang đập phập phồng và hai lá phổi hiện ra với những đường chằng chịt như rễ cây. Tôi không phải soi vào nội tâm mà tôi đang nhìn vào bên trong thân xác và tôi thấy thật rõ một đường nhỏ giống như sợi chỉ đang luồn lách.
Tôi lại chìm đắm … tôi nhìn thấy người thiếu phụ trẻ trong bộ đồ đen bế thằng bé con chưa đầy một tuổi. Tôi lại nhìn thấy tôi trong Sài Gòn sau ngày mất nước!
Tôi bế thằng bé đến một căn nhà ở đường Gia Long, căn nhà được tiếp thu để làm văn phòng ban cải tạo phường thuộc quận một. Tầng dưới kê một bàn giấy, mấy người ngồi làm việc. Tôi được chỉ lên tầng trên. Một căn phòng trống trơn, mắc độc một chiếc võng. Một người đàn ông khoảng năm mươi, cởi trần mặc chiếc quần dài bộ đội đang nằm toòng teng, một chân trên võng, một chân thả xuống đất để đu đưa. Tôi rợm mình quay xuống cầu thang.
- Chị kia, phải chị tới khiếu nại không? Chị vô đây!
Nhận ra ông ta là người đã lên lớp giảng chính sách của nhà nước về kinh doanh bữa trước tại Tam Đa, tôi bồng con quay lại, rón rén ngồi xuống ngay ngạch cửa. Cũng may khi được gọi đi, mẹ tôi đã cẩn thận dặn bế thằng bé theo để nếu có bề gì người ta phải trả thằng bé về nhà và mẹ tôi biết đường mà đi kiếm.
- Đâu, có chuyện gì chị nói đi!
- Thưa ông…
- Khỏi, chị khỏi gọi tôi bằng ông.
Tôi ngập ngừng:
- Thưa bác … Thưa chú …
Thấy ông ta yên lặng tôi nói tiếp:
- Thưa chú, cháu làm thợ may ở thương xá Tam Đa.
- Chị là chủ hay chị làm công?
- Dạ, cháu mướn tiệm, nhận may gia công.
- Rồi sao?
- Cán bộ đến nhà kiểm kê tịch thu của cháu cái máy may, máy vắt sổ và mấy xấp hàng của khách đưa may.
- Chị là chủ tiệm, họ tịch thu là đúng rồi, mai mốt các cửa tiệm vào quốc doanh hết, các chị sẽ vào tập thể, nếu làm thợ may chị có máy của cơ quan, chị đâu cần máy riêng.
Nỗi uất dâng lên tới đỉnh đầu, tôi ráng dằn lòng nhỏ nhẹ:
- Thưa chú, nhà nước nói rõ là chỉ tịch thu những tư liệu kinh doanh, không tịch thu tư liệu sản xuất. Cháu đâu có bán máy may!
Ông ta gườm gườm nhìn tôi:
- Ai nói chị điều đó?
Tôi điềm tĩnh trả lời:
- Chú! Chính chú đã giảng điều đó. Cháu nhớ rất rõ. Cháu đã chăm chú nghe vì chú giảng hay lắm. Chú nói hay lắm.
Ông ta châm một điếu thuốc và rít một hơi dài nhìn tôi đăm đăm. Tôi lạnh cả gáy đợi phán quyết.
- Được rồi, chị để giấy tờ đây, chị về đi tôi sẽ cứu xét trường hợp của chị.
Đặt thằng bé vào chiếc ghế con gắn sau ghi đông chiếc xe đạp mini. Tôi đạp xe đi mà muốn òa lên khóc. Khóc cho vơi đi những ấm ức, những tủi nhục phẫn uất. Những con đường Sài Gòn che phủ bởi những hàng cây sao cao vời vợi, tiếp đến những con đường ngợp lá me xanh … Tôi chẳng còn thấy gì thơ mộng, nghĩ đến chồng đang trong trại tù cải tạo, tôi nhớ quay quắt và cùng cực trong nỗi cô đơn.
Màu trắng của mây lại bềnh bồng và tôi lại thấy tôi đang ngụp lặn trong màu xanh bát ngát của biển, từng đợt sóng nhấp nhô, nhấp nhô tung bọt trắng xóa vào bờ. Tôi đang ở bãi biển Galang. Tôi đang thở hít không khí tự do. Đầu óc thật thanh thản và hân hoan nghĩ đến tương lai tốt đẹp ở vùng đất hứa. Tôi dẫm chân lên cát ấm và chạy tung tăng trong gió. Gió quấn quít quanh tôi. Tôi ưỡn ngực hít một hơi thật dài.
Choàng tỉnh giấc, tôi mở mắt ra, chạm vào khuôn mặt bác sĩ M đang cúi xuống:
- Bà Nguyễn, bà tỉnh dậy nào. Mọi việc xong rồi. Bà là bệnh nhân thật tốt. Chúc bà mau bình phục.
Mấy người y tá xúm lại tháo dây, lau chùi và mặc áo lại cho tôi. Ba bác sĩ chào tôi và hẹn sẽ cho biết kết quả vào kỳ khám bệnh tới.
Họ lại chuyển tôi sang chiếc giường khi nãy và đẩy tôi về phòng hồi sức. Tôi phải nằm yên trong một tư thế, cứ một lát lại có người đến khám vết thương và ấn thật mạnh để khỏi tụ máu bầm. Sau ba giờ, chiếc nệm cứng dưới lưng khiến tôi mỏi mệt rã rời, người anh ách nước, miệng khô đắng và bụng thì đói meo.
Hai người khán hộ đến giúp tôi làm những vệ sinh cá nhân, nâng đầu tôi dậy cho uống nước, bón tôi từng thìa canh, tôi cảm thấy yếu đuối như trẻ con. Tôi mệt mỏi ngủ thiếp một giấc dài không mộng mị. Thức dậy, cô y tá đẩy tôi sang phòng cũ nơi tôi nằm chờ khi sáng và tôi lại nhìn thấy khuôn mặt thật thân quen.
Đỗ Dung Tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang. Sáu giờ sáng, trời mùa đông Cali tối đen. Hôm nay tôi phải có mặt tại nhà thương Stanford trước tám giờ để làm thử nghiệm. Bác sĩ sẽ luồn một ống thật nhỏ qua tĩnh mạch chính ở chân, ống sẽ theo dòng máu dẫn lên để thông tim, khám phổi. Trời thật lạnh, mặc áo len, khoác áo ngoài mà vẫn không đủ ấm, hai vợ chồng tôi ra xe, im lặng, không nói một lời và hình như cả hai cùng trĩu nặng âu lo. Trong lòng xe được sưởi ấm, tiếng hát Ý Lan vang lên nhẹ nhàng tha thiết: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…” Đầu óc tôi bềnh bồng trở về những ngày tháng cũ xám xịt, thê lương. Những nhục nhằn, khổ đau của những người đàn bà còn ở lại, phải đối phó với những kẻ đang vênh vang thắng thế, phải đương đầu với những hoàn cảnh khắt khe.
Căn nhà mẹ tôi mua ở Long Thành để có nơi chốn hồi hương cho khỏi bị lùa đi kinh tế mới. Ao rau muống nước đục ngầu mà thằng bé con rơi tòm xuống tưởng chết. Những luống khoai mì ốm yếu xiêu vẹo vì không người bón tưới thường xuyên. Căn nhà thấp lè tè, tối om chỉ nhỏ như một cái buồng, mái tranh, vách lá, nền đất nện … Mẹ tôi ở đó một mình, như bị đầy đọa, ra vào im lìm như cái bóng.
- Mẹ ơi, Mẹ lấy sẵn cho Bố tiền qua cầu!
Tiếng nói của nhà tôi lôi tôi về thực tại. Bầu trời đã loãng ra, trắng nhờ nhờ và mưa lất phất.
- Mẹ đừng lo, chỉ mấy tiếng đồng hồ là xong ngay mà. (Chúng tôi quen xưng hô với nhau như thế sau khi sanh thằng bé út).
Thấy tôi ngồi yên lặng, chắc lòng anh cũng đang hoang mang, lo lắng. Anh nói trấn an vợ hay để tự làm yên lòng mình.
Sau thủ tục nhập viện, đường đến nơi thử nghiệm hơi xa nên nhà tôi lấy xe lăn cho tôi. Mọi khi ngồi trên chiếc “wheelchair” cho chồng đẩy tôi luôn miệng đùa cợt, trêu chọc bác phu xe:
- Thiên bất dung gian nhé! Lấy vợ trẻ để mong về già được hầu, bây giờ phải đẩy xe cho vợ… hihihi…
- Hà hà …có anh giáo gian tưởng được vợ đấm lưng ai dè phải đấm lưng cho vợ…
Hôm nay tôi cười không nổi. Nhìn bóng in vào những cửa kính khi đi ngang, anh đã mang nét lụ khụ, lưng hơi còng xuống chứ không phưỡn ngực như thời trai trẻ, như những ngày chúng tôi mới quen nhau.
Ngày ấy cô nữ sinh mười tám tuổi cắp sách đi thi tú tài hai. Ông bố đã sửa soạn sẵn cho con gái chiếc áo dài trắng nội hóa sạch sẽ, thơm tho, phẳng phiu và buổi sáng đã hò hét bảo con em sửa soạn xe sẵn để đưa chị. Cô thí sinh cả đêm không ngủ, đọc nguyên cuốn Luận Lý Học dày cộm như đọc tiểu thuyết, không dám nói một lời chỉ sợ những chữ mới nhét vào đầu sẽ rớt ra. Đến trường Gia Long, lần theo bản đồ chỉ dẫn, lần theo số báo danh, cô thí sinh đi tìm chỗ. Giờ đầu tiên là giờ thi triết. Chỗ ngồi thi ngay đầu bàn nhất, phía bàn giáo sư, y như chỗ ngồi của cô trong lớp nhất A1 ở Trưng Vương. Đề thi vừa được viết trên bảng, con nhỏ thiếu điều rú lên vì … trúng tủ. Giở gói ô mai để ngay trước mặt và con nhỏ bắt đầu phóng bút.
- Thưa Thày cho con xin thêm tờ giấy!
Con nhỏ đã viết lấp đầy tờ giấy thứ nhất. Thày giáo coi thi đưa thêm tờ thứ hai, vuốt thẳng và trịnh trọng để trên bàn. Thỉnh thoảng con nhỏ nhón cục ô mai cắn một miếng rồi lại cắm cúi viết, đâu biết rằng người thày giáo coi thi ấy đang chăm chú nhìn và cứ tủm tỉm cười …
Cái thuở ban đầu, cái buổi gặp gỡ đầu tiên chỉ giản dị như thế.
- Bà Nguyễn, mời bà theo tôi vào đây! Người y tá trẻ vui vẻ ra đón.
Sau khi thay y phục nhà thương, tôi lên giường nằm, bịch thuốc treo trên cao nhỏ từng giọt vào mạch máu, mũi được cắm ống Oxygen. Từng đợt y tá đến, đo máu, lấy máu, gắn máy đo nhịp tim … Nhà tôi vẫn được phép ngồi cạnh tôi, chưa phải ly cách.
Bác sĩ Z, người vẫn săn sóc tôi đến cùng hai bác sĩ trẻ, một nam một nữ. Cả hai đều chưa đến ba mươi. Cô gái xinh xắn, người tầm thước, tóc vàng, da trắng nõn, cặp mắt mở to trong veo màu hạt dẻ. Cô ta tự giới thiệu tên M, giải thích tiến trình và cho biết cô sẽ là người trực tiếp thực hiện cuộc thử nghiệm này. Một thoáng ngần ngừ, tôi nhớ lời dặn dò của một người bạn: “Mổ xẻ hay thử nghiệm quan trọng mi phải yêu cầu bác sĩ chính làm, mi đừng để sinh viên thực tập. Có chuyện gì là hối không kịp đó”. Bác sĩ Z người Ấn Độ, trưởng phân khoa phổi. Mặt ông thật tươi, hai tai dài, đẹp. Mỗi lần đến khám bệnh tôi thường gọi đùa ông là Ông Phật, ông chỉ mỉm cười. Nếu tôi từ chối, cô bác sĩ trẻ này sẽ buồn và nếu ai cũng từ chối thì làm sao sinh viên có cơ hội thực tập. Ý nghĩ lướt nhanh trong đầu và tôi vui vẻ trả lời là tôi rất hân hạnh được cô lo cho tôi. Như đọc được tư tưởng tôi bác sĩ Z nói:
- Bà Nguyễn, tôi sẽ có mặt trong suốt tiến trình này. Bà sẵn sàng chưa?
- Dạ sẵn sàng, thưa bác sĩ.
Nhà tôi nắm nhẹ tay tôi, cúi xuống nói nhỏ, giọng bùi ngùi:
- Bố ngồi ở phòng đợi, họ đưa Mẹ ra là Bố vào ngay.
Khẽ gật đầu, mắt tôi cũng cay cay…
Người y tá đẩy tôi qua một hành lang dài hun hút. Tôi thật sự cô đơn. Như mấy lần thử nghiệm trước, tôi sẽ được chích thuốc mê, tôi sẽ được đưa vào cơn chết tạm và khi tôi tỉnh dậy thì mọi sự đã xong. Nếu lần này tôi không dậy nữa … hình ảnh các người thân của tôi hiện ra, mặt mẹ tôi rõ nét, rồi đến chồng tôi, mấy đứa con, mấy đứa cháu bé bỏng, chị em, bạn bè … Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Và như phản xạ từ tiềm thức, tôi niệm Phật.
Hai người y tá nhẹ nhàng chuyển tôi sang chiếc bàn dài phủ giấy trắng dưới chụp đèn trắng sáng, màu trắng sáng chói lòa. Căn phòng trắng lạnh lẽo. Mấy người xúm lại làm những sửa soạn cuối cùng, lại đo máu, đo nhiệt độ, đo Oxygen, lại lằng nhằng những dây cùng nhợ … Bác sĩ Z và hai bác sĩ trẻ đến, họ đã đội mũ và mang khẩu trang, chỉ còn hở cặp mắt. Tiếng dụng cụ khua chạm lanh canh. Tôi yên lặng tập trung tinh thần niệm Quan Thế Âm Bồ Tát.
Một y tá đưa tôi ly nước và viên thuốc:
- Bà Nguyễn, thuốc này sẽ làm bà thanh thản, thuốc làm bà thoải mái thôi, không phải thuốc mê.
- Tôi không bị mê, tôi vẫn tỉnh à?
- Đây là loại thuốc an thần, bà sẽ cảm thấy êm dịu, nhẹ nhàng. Nào, bà sẵn sàng chưa, chúng ta bắt đầu nhé!
Tiếng bác sĩ Z dịu dàng giải thích.
Bác sĩ M đến bên nói tiếp:
- Chúng tôi sẽ làm tê ngay chỗ đưa ống thử vào người, bà sẽ không cảm thấy đau đớn gì đâu.
Bấy giờ tôi mới quan sát quanh phòng, ngoài chiếc màn hình ghi nhịp tim và nồng độ oxygen trong máu ngay đầu giường còn một màn hình to bằng chiếc TV 52 inches treo trên tường.
Uống viên thuốc được một lát người tôi lâng lâng, chơi vơi như những cụm mây trắng và tôi chìm dần trong vùng mây trắng bềnh bồng trôi.
Mây bay, mây cứ bay… một thảm cỏ xanh hiện ra rồi đến khu vườn đầy hoa trước biệt thự nằm trên đường Cộng Hòa Đà Lạt… một đám trẻ nô đùa, hái hoa, bắt bướm, chạy đuổi nhau, những tiếng cười khanh khách, giòn tan. Bồn hoa Quỳ, Hướng Dương đầy hoa vàng tươi đang chào nắng, những cánh Pensée mỏng manh rung rinh và những vạt hoa cúc vàng, cúc trắng nở rộ như reo cười. Hàng rào song sắt bao quanh biệt thự như được bọc bằng những khóm hoa hồng đủ màu sắc… Hình ảnh chị em tôi thời thơ ấu, mỗi năm được lên nhà bác ở Đà lạt nghỉ hè. Rồi như khúc phim được chuyển cảnh, tôi như đang nhìn thấy tôi với chàng tay trong tay trong khu rừng thông ven Hồ Than Thở, những cội thông già vươn cao, thẳng tắp. Tiếng lá reo vi vu. Khung cảnh thật tịch lặng. Nắng hanh hanh, gió se lạnh, tôi như đắm chìm trong hạnh phúc êm đềm và như quyện mình trong hơi ấm mới quen của người chồng mới cưới…
Chợt đau nhói, tôi vùng mình ú ớ.
- Bà Nguyễn, bà có sao không? Tiếng bác sĩ Z.
Tôi nhẹ lắc đầu trở về thực tại. Tôi đang nằm trên chiếc bàn trắng trong bệnh viện, đang ở trong trạng thái chập choạng mơ màng, nửa mê, nửa tỉnh và tôi đã được trở về một quá khứ đẹp đẽ xa xưa.
Ngước nhìn lên màn hình, quả tim tôi đang đập phập phồng và hai lá phổi hiện ra với những đường chằng chịt như rễ cây. Tôi không phải soi vào nội tâm mà tôi đang nhìn vào bên trong thân xác và tôi thấy thật rõ một đường nhỏ giống như sợi chỉ đang luồn lách.
Tôi lại chìm đắm … tôi nhìn thấy người thiếu phụ trẻ trong bộ đồ đen bế thằng bé con chưa đầy một tuổi. Tôi lại nhìn thấy tôi trong Sài Gòn sau ngày mất nước!
Tôi bế thằng bé đến một căn nhà ở đường Gia Long, căn nhà được tiếp thu để làm văn phòng ban cải tạo phường thuộc quận một. Tầng dưới kê một bàn giấy, mấy người ngồi làm việc. Tôi được chỉ lên tầng trên. Một căn phòng trống trơn, mắc độc một chiếc võng. Một người đàn ông khoảng năm mươi, cởi trần mặc chiếc quần dài bộ đội đang nằm toòng teng, một chân trên võng, một chân thả xuống đất để đu đưa. Tôi rợm mình quay xuống cầu thang.
- Chị kia, phải chị tới khiếu nại không? Chị vô đây!
Nhận ra ông ta là người đã lên lớp giảng chính sách của nhà nước về kinh doanh bữa trước tại Tam Đa, tôi bồng con quay lại, rón rén ngồi xuống ngay ngạch cửa. Cũng may khi được gọi đi, mẹ tôi đã cẩn thận dặn bế thằng bé theo để nếu có bề gì người ta phải trả thằng bé về nhà và mẹ tôi biết đường mà đi kiếm.
- Đâu, có chuyện gì chị nói đi!
- Thưa ông…
- Khỏi, chị khỏi gọi tôi bằng ông.
Tôi ngập ngừng:
- Thưa bác … Thưa chú …
Thấy ông ta yên lặng tôi nói tiếp:
- Thưa chú, cháu làm thợ may ở thương xá Tam Đa.
- Chị là chủ hay chị làm công?
- Dạ, cháu mướn tiệm, nhận may gia công.
- Rồi sao?
- Cán bộ đến nhà kiểm kê tịch thu của cháu cái máy may, máy vắt sổ và mấy xấp hàng của khách đưa may.
- Chị là chủ tiệm, họ tịch thu là đúng rồi, mai mốt các cửa tiệm vào quốc doanh hết, các chị sẽ vào tập thể, nếu làm thợ may chị có máy của cơ quan, chị đâu cần máy riêng.
Nỗi uất dâng lên tới đỉnh đầu, tôi ráng dằn lòng nhỏ nhẹ:
- Thưa chú, nhà nước nói rõ là chỉ tịch thu những tư liệu kinh doanh, không tịch thu tư liệu sản xuất. Cháu đâu có bán máy may!
Ông ta gườm gườm nhìn tôi:
- Ai nói chị điều đó?
Tôi điềm tĩnh trả lời:
- Chú! Chính chú đã giảng điều đó. Cháu nhớ rất rõ. Cháu đã chăm chú nghe vì chú giảng hay lắm. Chú nói hay lắm.
Ông ta châm một điếu thuốc và rít một hơi dài nhìn tôi đăm đăm. Tôi lạnh cả gáy đợi phán quyết.
- Được rồi, chị để giấy tờ đây, chị về đi tôi sẽ cứu xét trường hợp của chị.
Đặt thằng bé vào chiếc ghế con gắn sau ghi đông chiếc xe đạp mini. Tôi đạp xe đi mà muốn òa lên khóc. Khóc cho vơi đi những ấm ức, những tủi nhục phẫn uất. Những con đường Sài Gòn che phủ bởi những hàng cây sao cao vời vợi, tiếp đến những con đường ngợp lá me xanh … Tôi chẳng còn thấy gì thơ mộng, nghĩ đến chồng đang trong trại tù cải tạo, tôi nhớ quay quắt và cùng cực trong nỗi cô đơn.
Màu trắng của mây lại bềnh bồng và tôi lại thấy tôi đang ngụp lặn trong màu xanh bát ngát của biển, từng đợt sóng nhấp nhô, nhấp nhô tung bọt trắng xóa vào bờ. Tôi đang ở bãi biển Galang. Tôi đang thở hít không khí tự do. Đầu óc thật thanh thản và hân hoan nghĩ đến tương lai tốt đẹp ở vùng đất hứa. Tôi dẫm chân lên cát ấm và chạy tung tăng trong gió. Gió quấn quít quanh tôi. Tôi ưỡn ngực hít một hơi thật dài.
Choàng tỉnh giấc, tôi mở mắt ra, chạm vào khuôn mặt bác sĩ M đang cúi xuống:
- Bà Nguyễn, bà tỉnh dậy nào. Mọi việc xong rồi. Bà là bệnh nhân thật tốt. Chúc bà mau bình phục.
Mấy người y tá xúm lại tháo dây, lau chùi và mặc áo lại cho tôi. Ba bác sĩ chào tôi và hẹn sẽ cho biết kết quả vào kỳ khám bệnh tới.
Họ lại chuyển tôi sang chiếc giường khi nãy và đẩy tôi về phòng hồi sức. Tôi phải nằm yên trong một tư thế, cứ một lát lại có người đến khám vết thương và ấn thật mạnh để khỏi tụ máu bầm. Sau ba giờ, chiếc nệm cứng dưới lưng khiến tôi mỏi mệt rã rời, người anh ách nước, miệng khô đắng và bụng thì đói meo.
Hai người khán hộ đến giúp tôi làm những vệ sinh cá nhân, nâng đầu tôi dậy cho uống nước, bón tôi từng thìa canh, tôi cảm thấy yếu đuối như trẻ con. Tôi mệt mỏi ngủ thiếp một giấc dài không mộng mị. Thức dậy, cô y tá đẩy tôi sang phòng cũ nơi tôi nằm chờ khi sáng và tôi lại nhìn thấy khuôn mặt thật thân quen.
Tôi yêu đàn ông Việt vì biết trọng cái nghĩa gia đình
Nam giới nước ngoài yêu chiều, tôn trọng phụ nữ…, nhưng trong sâu thẳm tôi vẫn không quen được cái cảnh làm người tình, làm vợ mà tiền ai người ấy trả, so đo từng xu, cho bố mẹ vào trại dưỡng lão khi già yếu. Tất nhiên do văn hóa của từng quốc gia, nhưng bản chất người châu Á là trọng cái nghĩa gia đình. (Phan Minh Nhut)
Xin chào các quý độc giả,
Tôi là người chưa bao giờ đọc mục Tâm sự trên báo vì quan niệm “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nhờ kích nhầm chuột mà vô tình bị cuốn vào diễn đàn tranh luận về chị Hoàng An.
Tôi đọc bức tự sự lần thứ nhất của chị An, rồi đọc bức thư trần tình thanh minh và phản kháng lần thứ hai của chị với các độc giả, thì thực sự cảm thấy bức xúc. Với An tôi nghĩ đúng như một độc giả đã nói, không cần phải nói gì thêm nữa, có nói cũng vô ích. Nhưng chị em cần lấy đó làm bài học để cảnh giác với người thứ ba.
Với An kiêu hãnh về tuổi trẻ, sắc đẹp, tài cao và thu nhập cao 1.000 USD (bây giờ ở thế kỷ 21, các cô gái như vậy không thiếu). An đang trong giai đoạn của tuổi 30 như tôi được biết, đã đủ chín chắn để hiểu tại sao lại có những hành động như vậy? Tôi thấy cô đáng thương. Điều tôi muốn nói ở đây, muốn chia sẻ những bức xúc chính là người được gọi là chồng của An hiện nay. Anh ta không xứng đáng làm người đàn ông và quan điểm sống chỉ cần tình yêu, không quan tâm đến cái tình cái nghĩa.
Khi tôi lấy chồng, mẹ tôi xuất thân là một diễn viên cải lương (mẹ tôi học vấn thấp, từng bị nhà chồng mát mẻ là đồ xướng ca vô loài) đã khuyên nhủ tôi: "Con ơi, cái nghĩa vợ chồng nó cao lắm, cao hơn cả cái tình cảm cái ơn nghĩa đối với cha mẹ. Con chỉ sống với cha mẹ cùng lắm thêm 20-30 năm, còn con sống với chồng, với gia đình con cả đời. Con sống với chồng con của con hạnh phúc là con đã trả nghĩa cho cha mẹ rồi, đừng bận tâm về cha mẹ. Mối bận tâm lớn nhất của con là chồng và các con con”.
Khi ấy tôi không hiểu, nhưng càng lớn, càng thành đạt, càng va chạm tôi càng ngộ cái điều mà mẹ đã nói với tôi. Nếu chỉ sống vì tình yêu, hết tình thì chia tay thì đời đâu có sản sinh ra những người con gái thành đạt và kiêu hãnh như An.
Bố tôi là một người đàn ông thành đạt, ông từng là sếp của một doanh nghiệp lớn. Khi thời ông còn huy hoàng, con gái như An quanh ông không thiếu. Mẹ tôi và cả chị em tôi đều biết điều đó, đã đôi lúc ông “say nắng”, dù chị tôi có bắt gặp ông ở đâu đó đôi lần, nhưng trong mắt chị em tôi ông vẫn là người đàn ông số 1. Bởi vì dù có bị mấy em ve vãn, bị xao động nhưng ông vẫn đặt quyền lợi và sự quan tâm chăm sóc đến gia đình lên hàng đầu, ông chăm lo thương yêu cho chị em tôi, mẹ tôi, gia đình họ hàng, cháu chắt… chu đáo, nhiều người cháu của ông được ông nuôi ăn học đến 2 bằng đại học.
Tôi từng nghe ông dạy anh trai tôi: “Làm thằng đàn ông phải là trụ cột, là chỗ dựa cho gia đình về cả kinh tế và tinh thần. Phải chăm lo cho vợ con cho dù có phải ra công trường đổ bê tông, phải quét rác đầu chợ, phải ăn xin ngoài đường… Đã ra thương trường làm ăn thì không cho phụ nữ can thiệp vào việc của mình, phải quyết đoán và học hỏi (thậm chí học lén) đàn anh, phải có thủ đoạn nếu cần, đàn bà ngoài vợ mình thì chỉ là phù du, chơi cho vui nhưng không được để lại hậu quả…”.
Hồi đó khi nghe lỏm tôi có phần hơi tự ái vì tôi cũng là phụ nữ, nhưng càng lớn càng ngẫm tôi thấy đã phần nào hiểu ông. Cho dù cái “phù du” kia đã làm mẹ tôi hơn một lần không hài lòng, nhưng bà vẫn kính trọng và thương yêu ông.
Khi ra đời, tôi được tiếp xúc và làm việc với với nhiều đồng nghiệp nam giới châu Âu, Mỹ, châu Á. Đi học, đi làm, làm lãnh đạo… toàn với nam giới (tôi làm về xây dựng). Tôi luôn có thiện cảm với nam giới châu Á, đặc biệt là người Việt Nam, Đài Loan, Thượng Hải. Các cô gái bây giờ thích lấy chồng ngoại quốc, Việt kiều…, nhưng sau này con gái tôi, tôi vẫn khuyến khích cháu lấy chồng VN.
Nam giới nước ngoài yêu chiều, tôn trọng phụ nữ…, nhưng trong sâu thẳm tôi vẫn không quen được cái cảnh làm người tình, làm vợ với nhau mà tiền ai người ấy trả, so đo từng xu, cho bố mẹ vào trại dưỡng lão khi già yếu. Tất nhiên do văn hóa của từng quốc gia, trong xã hội nào cũng có người này người nọ. Nhưng bản chất người châu Á là người trọng cái nghĩa gia đình. Gia đình là một cái gì đó thiêng liêng.
Tôi từng rất khó chịu với một người Đài Loan trong khi tính toán về tài chính của một hợp đồng, nhưng cũng rất nể khi ông ta chọn quà cho vợ con, cũng như rất hào phóng khi chơi và boa cho em út. Đàn ông VN tuy có gia trưởng nhưng cơ bản là sống và làm việc cho gia đình. Khi còn làm chỉ huy trưởng một công trường thi công lớn, từng có cậu công nhân người Nam Định đến nói với tôi: "Em sống xa nhà, tính lại hám gái, cuối kỳ chị giữ lại lương của em, cho em nhận tiền lương làm thêm ngoài giờ và thưởng thôi. Không thì cuối tháng lại không có gì gửi về cho vợ con thì tội vợ em lắm”.
Những người như cha tôi, cậu công nhân, và một số đồng nghiệp bạn bè tôi, và ngay cả chồng tôi nữa (khi yêu và lấy chồng tôi luôn hướng đến mẫu người như bố tôi) cho dù có say nắng, ngã nắng, cảm nắng… nhưng cái tình cái nghĩa với vợ con họ thật đáng khâm phục. (Hy vọng trong tương lai chồng tôi không gặp một cao thủ như em An, nếu có thì với tính khí như đàn ông, hiếu thắng của tôi, như bố tôi nhận xét về tôi, thì tôi sẽ không cư xử một cách có văn hóa như vợ cũ của chồng An. Đi với bụt thì mặc áo cà sau, đi với ma thì mặc áo giấy. Chị ấy thật đáng khâm phục, em xin gửi những lời chia sẻ với tấm lòng chân thành nhất đến với chị).
Làm người đàn ông, trong công việc bị chi phối bởi một cô gái mới ra trường, thất bại trong công việc là một lãnh đạo tồi. Ngửa tay nhận tiền từ người tình về nuôi vợ con (tuy vẫn còn có lương tâm lấy của gái trẻ nuôi mẹ sề) là người đàn ông kém. Bỏ vợ con trong khi gia đình phá sản, vợ con không nơi nương tựa là người chồng, người cha bất nghĩa.
Thắng lợi của An trước một đối thủ thua về mọi mặt học vấn, sắc đẹp, chả lấy gì làm vinh quang. Khi tranh đấu với ai phải tìm người hơn mình ít ra bằng mình thì thắng lợi mới vinh quang An à.
Với những người đàn bà thành đạt như An và ngay cả tôi nữa đã chắc gì tốt đẹp hơn những bà những chị nội trợ ở nhà. Nuôi con tốt, con học giỏi, đỗ đại học, nấu ăn ngon, cung phụng hỗ trợ chồng là cả một nghệ thuật mà những người đàn bà hoạt động ngoài xã hội nhiều hơn hoạt động ở nhà như tôi và An phải học tập nhiều.
Tôi có một sếp lớn làm cùng ngành nay đã về hưu có một bà vợ mà theo cách mô tả của các em bây giờ là “nhà quê, răng đen”. Cả đời làm sếp lớn của ông cũng nhiều mối tình bao la, khi về hưu chẳng có em nào ngó ngàng, em vợ bé theo "phi công trẻ". Ông đau yếu nên phải quay về quê dưỡng bệnh, người vợ già xấu lại mòn mỏi chăm sóc ông.
Quá bức xúc, mấy cô cùng cơ quan bảo sao chị không bảo ông ấy lên thành phố mà cho em vợ bé kia hầu hạ? Cô ấy đã cười mà trả lời “Đến tuổi này cô cũng chẳng còn tình cảm gì với ông ấy, nhưng dù sao ông ấy là bố các con của cô, một giờ một phút sống với nhau cũng là nghĩa vợ chồng, sống cho trọn đạo lấy đức cho cháu con các em à”.
Một vài dòng lan man, chả văn vẻ gì nhưng xin tâm sự cùng các độc giả.
Xin chào các quý độc giả,
Tôi là người chưa bao giờ đọc mục Tâm sự trên báo vì quan niệm “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nhờ kích nhầm chuột mà vô tình bị cuốn vào diễn đàn tranh luận về chị Hoàng An.
Tôi đọc bức tự sự lần thứ nhất của chị An, rồi đọc bức thư trần tình thanh minh và phản kháng lần thứ hai của chị với các độc giả, thì thực sự cảm thấy bức xúc. Với An tôi nghĩ đúng như một độc giả đã nói, không cần phải nói gì thêm nữa, có nói cũng vô ích. Nhưng chị em cần lấy đó làm bài học để cảnh giác với người thứ ba.
Với An kiêu hãnh về tuổi trẻ, sắc đẹp, tài cao và thu nhập cao 1.000 USD (bây giờ ở thế kỷ 21, các cô gái như vậy không thiếu). An đang trong giai đoạn của tuổi 30 như tôi được biết, đã đủ chín chắn để hiểu tại sao lại có những hành động như vậy? Tôi thấy cô đáng thương. Điều tôi muốn nói ở đây, muốn chia sẻ những bức xúc chính là người được gọi là chồng của An hiện nay. Anh ta không xứng đáng làm người đàn ông và quan điểm sống chỉ cần tình yêu, không quan tâm đến cái tình cái nghĩa.
Khi tôi lấy chồng, mẹ tôi xuất thân là một diễn viên cải lương (mẹ tôi học vấn thấp, từng bị nhà chồng mát mẻ là đồ xướng ca vô loài) đã khuyên nhủ tôi: "Con ơi, cái nghĩa vợ chồng nó cao lắm, cao hơn cả cái tình cảm cái ơn nghĩa đối với cha mẹ. Con chỉ sống với cha mẹ cùng lắm thêm 20-30 năm, còn con sống với chồng, với gia đình con cả đời. Con sống với chồng con của con hạnh phúc là con đã trả nghĩa cho cha mẹ rồi, đừng bận tâm về cha mẹ. Mối bận tâm lớn nhất của con là chồng và các con con”.
Khi ấy tôi không hiểu, nhưng càng lớn, càng thành đạt, càng va chạm tôi càng ngộ cái điều mà mẹ đã nói với tôi. Nếu chỉ sống vì tình yêu, hết tình thì chia tay thì đời đâu có sản sinh ra những người con gái thành đạt và kiêu hãnh như An.
Bố tôi là một người đàn ông thành đạt, ông từng là sếp của một doanh nghiệp lớn. Khi thời ông còn huy hoàng, con gái như An quanh ông không thiếu. Mẹ tôi và cả chị em tôi đều biết điều đó, đã đôi lúc ông “say nắng”, dù chị tôi có bắt gặp ông ở đâu đó đôi lần, nhưng trong mắt chị em tôi ông vẫn là người đàn ông số 1. Bởi vì dù có bị mấy em ve vãn, bị xao động nhưng ông vẫn đặt quyền lợi và sự quan tâm chăm sóc đến gia đình lên hàng đầu, ông chăm lo thương yêu cho chị em tôi, mẹ tôi, gia đình họ hàng, cháu chắt… chu đáo, nhiều người cháu của ông được ông nuôi ăn học đến 2 bằng đại học.
Tôi từng nghe ông dạy anh trai tôi: “Làm thằng đàn ông phải là trụ cột, là chỗ dựa cho gia đình về cả kinh tế và tinh thần. Phải chăm lo cho vợ con cho dù có phải ra công trường đổ bê tông, phải quét rác đầu chợ, phải ăn xin ngoài đường… Đã ra thương trường làm ăn thì không cho phụ nữ can thiệp vào việc của mình, phải quyết đoán và học hỏi (thậm chí học lén) đàn anh, phải có thủ đoạn nếu cần, đàn bà ngoài vợ mình thì chỉ là phù du, chơi cho vui nhưng không được để lại hậu quả…”.
Hồi đó khi nghe lỏm tôi có phần hơi tự ái vì tôi cũng là phụ nữ, nhưng càng lớn càng ngẫm tôi thấy đã phần nào hiểu ông. Cho dù cái “phù du” kia đã làm mẹ tôi hơn một lần không hài lòng, nhưng bà vẫn kính trọng và thương yêu ông.
Khi ra đời, tôi được tiếp xúc và làm việc với với nhiều đồng nghiệp nam giới châu Âu, Mỹ, châu Á. Đi học, đi làm, làm lãnh đạo… toàn với nam giới (tôi làm về xây dựng). Tôi luôn có thiện cảm với nam giới châu Á, đặc biệt là người Việt Nam, Đài Loan, Thượng Hải. Các cô gái bây giờ thích lấy chồng ngoại quốc, Việt kiều…, nhưng sau này con gái tôi, tôi vẫn khuyến khích cháu lấy chồng VN.
Nam giới nước ngoài yêu chiều, tôn trọng phụ nữ…, nhưng trong sâu thẳm tôi vẫn không quen được cái cảnh làm người tình, làm vợ với nhau mà tiền ai người ấy trả, so đo từng xu, cho bố mẹ vào trại dưỡng lão khi già yếu. Tất nhiên do văn hóa của từng quốc gia, trong xã hội nào cũng có người này người nọ. Nhưng bản chất người châu Á là người trọng cái nghĩa gia đình. Gia đình là một cái gì đó thiêng liêng.
Tôi từng rất khó chịu với một người Đài Loan trong khi tính toán về tài chính của một hợp đồng, nhưng cũng rất nể khi ông ta chọn quà cho vợ con, cũng như rất hào phóng khi chơi và boa cho em út. Đàn ông VN tuy có gia trưởng nhưng cơ bản là sống và làm việc cho gia đình. Khi còn làm chỉ huy trưởng một công trường thi công lớn, từng có cậu công nhân người Nam Định đến nói với tôi: "Em sống xa nhà, tính lại hám gái, cuối kỳ chị giữ lại lương của em, cho em nhận tiền lương làm thêm ngoài giờ và thưởng thôi. Không thì cuối tháng lại không có gì gửi về cho vợ con thì tội vợ em lắm”.
Những người như cha tôi, cậu công nhân, và một số đồng nghiệp bạn bè tôi, và ngay cả chồng tôi nữa (khi yêu và lấy chồng tôi luôn hướng đến mẫu người như bố tôi) cho dù có say nắng, ngã nắng, cảm nắng… nhưng cái tình cái nghĩa với vợ con họ thật đáng khâm phục. (Hy vọng trong tương lai chồng tôi không gặp một cao thủ như em An, nếu có thì với tính khí như đàn ông, hiếu thắng của tôi, như bố tôi nhận xét về tôi, thì tôi sẽ không cư xử một cách có văn hóa như vợ cũ của chồng An. Đi với bụt thì mặc áo cà sau, đi với ma thì mặc áo giấy. Chị ấy thật đáng khâm phục, em xin gửi những lời chia sẻ với tấm lòng chân thành nhất đến với chị).
Làm người đàn ông, trong công việc bị chi phối bởi một cô gái mới ra trường, thất bại trong công việc là một lãnh đạo tồi. Ngửa tay nhận tiền từ người tình về nuôi vợ con (tuy vẫn còn có lương tâm lấy của gái trẻ nuôi mẹ sề) là người đàn ông kém. Bỏ vợ con trong khi gia đình phá sản, vợ con không nơi nương tựa là người chồng, người cha bất nghĩa.
Thắng lợi của An trước một đối thủ thua về mọi mặt học vấn, sắc đẹp, chả lấy gì làm vinh quang. Khi tranh đấu với ai phải tìm người hơn mình ít ra bằng mình thì thắng lợi mới vinh quang An à.
Với những người đàn bà thành đạt như An và ngay cả tôi nữa đã chắc gì tốt đẹp hơn những bà những chị nội trợ ở nhà. Nuôi con tốt, con học giỏi, đỗ đại học, nấu ăn ngon, cung phụng hỗ trợ chồng là cả một nghệ thuật mà những người đàn bà hoạt động ngoài xã hội nhiều hơn hoạt động ở nhà như tôi và An phải học tập nhiều.
Tôi có một sếp lớn làm cùng ngành nay đã về hưu có một bà vợ mà theo cách mô tả của các em bây giờ là “nhà quê, răng đen”. Cả đời làm sếp lớn của ông cũng nhiều mối tình bao la, khi về hưu chẳng có em nào ngó ngàng, em vợ bé theo "phi công trẻ". Ông đau yếu nên phải quay về quê dưỡng bệnh, người vợ già xấu lại mòn mỏi chăm sóc ông.
Quá bức xúc, mấy cô cùng cơ quan bảo sao chị không bảo ông ấy lên thành phố mà cho em vợ bé kia hầu hạ? Cô ấy đã cười mà trả lời “Đến tuổi này cô cũng chẳng còn tình cảm gì với ông ấy, nhưng dù sao ông ấy là bố các con của cô, một giờ một phút sống với nhau cũng là nghĩa vợ chồng, sống cho trọn đạo lấy đức cho cháu con các em à”.
Một vài dòng lan man, chả văn vẻ gì nhưng xin tâm sự cùng các độc giả.
Đường Dây Gái Gọi Vũ Nữ "Xách Tay"
Theo báo chí trong nước: Một số cán bộ biến chất mỗi khi đi công tác nước ngoài thường liên lạc với Hà Vi,
má mì của đường dây gái gọi là vũ nữ, nhờ sắp xếp cho "hàng xách tay" đem theo.

Hoàng Thu Hà. Đường dây mại dâm của Hà Vi tồn tại đã khá lâu, được giới ăn chơi ở Hà Nội và các thành phố lớn biết đến. Đặc biệt để các "đại gia" có những em người mẫu xinh xắn cặp kè trong các chuyến du lịch, hay đi đánh bạc tại các sòng bài nước ngoài, Hà Vi thường chọn những em "chuẩn" nhất trong đường dây của mình. Giá đi tour thường ở mức 500 USD mỗi ngày, khách bao ăn ở.
Đặc biệt, một số cán bộ biến chất mỗi khi đi nước ngoài cũng liên lạc với Hà Vi nhờ cô này sắp xếp cho "hàng xách tay" đem theo. Được biết, việc mang các cô gái chân dài (hàng xách tay) trong các chuyến du lịch hiện đang là mốt của một số "đại gia" hiện nay
Hà Vi có tên thật là Hoàng Thu Hà, quê ở phố Lý Thái Tổ, phường Vạn Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng), là một cô gái trắng trẻo, cao ráo, có vẻ mặt khá thanh tú của con nhà tử tế. Cũng vì ý thức được sắc đẹp của mình nên Hà sớm bỏ học theo đám bạn nhà giàu chơi bời.
Ở Hải Phòng một thời gian, Hà bỏ nhà lên Hà Nội học làm người mẫu, học khiêu vũ rồi trở thành vũ nữ ở một số vũ trường. Với "nghệ danh" là Hà Vi, cô ta được nhiều người đàn ông biết đến và dần trở thành một cái tên khá quen thuộc trong giới ăn chơi. Với nhan sắc trời cho và các chiêu phục vụ chu đáo, giá đi khách của Hà Vi ít nhất 100 USD trở lên cho mỗi lần.
Từ gái mại dâm cao cấp, dần dà, Hà Vi đứng ra tập hợp một số vũ nữ, người mẫu tổ chức thành đường dây gái gọi. Theo đó, Hà Vi có vai trò cầm đầu, mỗi khi có khách đặt vấn đề, cô ta sẽ gọi điện cho gái đến phục vụ với giá 2 triệu đồng/lần, thời gian không quá 3 giờ mỗi lần. Nếu khách có nhu cầu qua đêm, cô ta thu 400 - 500 USD.
Với giá cao như vậy, Hà trả cho gái mại dâm 1,5 triệu/lần, số còn lại cô ta hưởng... Hà Vi chỉ bán dâm và tổ chức bán dâm cho những người thành đạt, chịu chơi. Đó là những doanh nhân có tiếng hay các ông chủ có máu mặt, trong đó có không ít cán bộ biến chất.
Chính vì Hà Vi thường làm phách, không bán dâm cho những người cô ta cho là "trọc phú", nên đường dây mại dâm của Hà Vi càng được giới ăn chơi quan tâm hơn. Để nâng tầm cho đường dây gái gọi này, sau khi nhận lời khách, thường 2-3h sau, Hà Vi mới đưa gái đến, mặc cho các ông chủ chờ đợi. Không chỉ bán dâm ở trong nước, Hà Vi còn móc nối với má mì ở một số nước châu Á, khi có khách, cô ta sẽ bố trí cho gái mại dâm đi nước ngoài phục vụ với giá khá cao.
Ví dụ ở Singapore, Hà Vi thu 200 đô la Sing mỗi lần bán dâm. Nếu khách yêu cầu gái mại dâm đi nước ngoài cùng hoặc đi du lịch theo tour, cô ta cũng bố trí, giá 500 USD/ngày. Khi các ông chủ đi nước ngoài, nếu cần, Hà Vi cũng bố trí gái phục vụ.
Ngày 22/9, Công an quận Hai Bà Trưng đã khởi tố bị can đối với Hoàng Thu Hà và đang tiếp tục điều tra, mở rộng vụ án
Trích Phương Thủy
Theo báo chí trong nước: Một số cán bộ biến chất mỗi khi đi công tác nước ngoài thường liên lạc với Hà Vi,
má mì của đường dây gái gọi là vũ nữ, nhờ sắp xếp cho "hàng xách tay" đem theo.

Hoàng Thu Hà. Đường dây mại dâm của Hà Vi tồn tại đã khá lâu, được giới ăn chơi ở Hà Nội và các thành phố lớn biết đến. Đặc biệt để các "đại gia" có những em người mẫu xinh xắn cặp kè trong các chuyến du lịch, hay đi đánh bạc tại các sòng bài nước ngoài, Hà Vi thường chọn những em "chuẩn" nhất trong đường dây của mình. Giá đi tour thường ở mức 500 USD mỗi ngày, khách bao ăn ở.
Đặc biệt, một số cán bộ biến chất mỗi khi đi nước ngoài cũng liên lạc với Hà Vi nhờ cô này sắp xếp cho "hàng xách tay" đem theo. Được biết, việc mang các cô gái chân dài (hàng xách tay) trong các chuyến du lịch hiện đang là mốt của một số "đại gia" hiện nay
Hà Vi có tên thật là Hoàng Thu Hà, quê ở phố Lý Thái Tổ, phường Vạn Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng), là một cô gái trắng trẻo, cao ráo, có vẻ mặt khá thanh tú của con nhà tử tế. Cũng vì ý thức được sắc đẹp của mình nên Hà sớm bỏ học theo đám bạn nhà giàu chơi bời.
Ở Hải Phòng một thời gian, Hà bỏ nhà lên Hà Nội học làm người mẫu, học khiêu vũ rồi trở thành vũ nữ ở một số vũ trường. Với "nghệ danh" là Hà Vi, cô ta được nhiều người đàn ông biết đến và dần trở thành một cái tên khá quen thuộc trong giới ăn chơi. Với nhan sắc trời cho và các chiêu phục vụ chu đáo, giá đi khách của Hà Vi ít nhất 100 USD trở lên cho mỗi lần.
Từ gái mại dâm cao cấp, dần dà, Hà Vi đứng ra tập hợp một số vũ nữ, người mẫu tổ chức thành đường dây gái gọi. Theo đó, Hà Vi có vai trò cầm đầu, mỗi khi có khách đặt vấn đề, cô ta sẽ gọi điện cho gái đến phục vụ với giá 2 triệu đồng/lần, thời gian không quá 3 giờ mỗi lần. Nếu khách có nhu cầu qua đêm, cô ta thu 400 - 500 USD.
Với giá cao như vậy, Hà trả cho gái mại dâm 1,5 triệu/lần, số còn lại cô ta hưởng... Hà Vi chỉ bán dâm và tổ chức bán dâm cho những người thành đạt, chịu chơi. Đó là những doanh nhân có tiếng hay các ông chủ có máu mặt, trong đó có không ít cán bộ biến chất.
Chính vì Hà Vi thường làm phách, không bán dâm cho những người cô ta cho là "trọc phú", nên đường dây mại dâm của Hà Vi càng được giới ăn chơi quan tâm hơn. Để nâng tầm cho đường dây gái gọi này, sau khi nhận lời khách, thường 2-3h sau, Hà Vi mới đưa gái đến, mặc cho các ông chủ chờ đợi. Không chỉ bán dâm ở trong nước, Hà Vi còn móc nối với má mì ở một số nước châu Á, khi có khách, cô ta sẽ bố trí cho gái mại dâm đi nước ngoài phục vụ với giá khá cao.
Ví dụ ở Singapore, Hà Vi thu 200 đô la Sing mỗi lần bán dâm. Nếu khách yêu cầu gái mại dâm đi nước ngoài cùng hoặc đi du lịch theo tour, cô ta cũng bố trí, giá 500 USD/ngày. Khi các ông chủ đi nước ngoài, nếu cần, Hà Vi cũng bố trí gái phục vụ.
Ngày 22/9, Công an quận Hai Bà Trưng đã khởi tố bị can đối với Hoàng Thu Hà và đang tiếp tục điều tra, mở rộng vụ án
Trích Phương Thủy
THIỀN SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ.
Cô lái đò đưa khách qua sông. Đò cập bến cô lái thu tiền từng người. Sau hết đến nhà sư.
Cô lái đò đòi tiền gấp đôi.
Nhà Sư ngạc nhiên hỏi vì sao?
Cô lái mỉm cười:
- Vì Thầy nhìn em…
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.
Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền gấp ba.
Nhà sư hỏi vì sao?
Cô lái cười bảo:
- Lần nầy Thầy nhìn em dưới nước.
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.
Lần khác nhà sư lại qua sông.
Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định.
Đò cập bến cô lái đò thu tiền gấp năm lần.
Nhà sư hỏi vì sao?
Cô lái đáp:
- Thầy không nhìn nhưng còn nghĩ đến em.
Nhà sư trả tiền và lên bờ.
Một hôm nhà sư lại qua sông.
Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò…
Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần nầy phải trả bao nhiêu?
Cô lái đáp:
- Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.
Thiền sư hỏi:
- Vì sao vậy?
Cô lái cười đáp:
- Thầy nhìn mà không còn nghĩ tới em nữa…
Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi...
Cô lái đò đưa khách qua sông. Đò cập bến cô lái thu tiền từng người. Sau hết đến nhà sư.
Cô lái đò đòi tiền gấp đôi.
Nhà Sư ngạc nhiên hỏi vì sao?
Cô lái mỉm cười:
- Vì Thầy nhìn em…
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.
Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền gấp ba.
Nhà sư hỏi vì sao?
Cô lái cười bảo:
- Lần nầy Thầy nhìn em dưới nước.
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.
Lần khác nhà sư lại qua sông.
Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định.
Đò cập bến cô lái đò thu tiền gấp năm lần.
Nhà sư hỏi vì sao?
Cô lái đáp:
- Thầy không nhìn nhưng còn nghĩ đến em.
Nhà sư trả tiền và lên bờ.
Một hôm nhà sư lại qua sông.
Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò…
Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần nầy phải trả bao nhiêu?
Cô lái đáp:
- Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.
Thiền sư hỏi:
- Vì sao vậy?
Cô lái cười đáp:
- Thầy nhìn mà không còn nghĩ tới em nữa…
Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi...
Một Ngày "Làm Gái" Tẩm Quất
Theo giới thiệu của một người bạn cũ, tôi xin vào một quán tẩm quất, thư giãn trên phố Kim Giang, Thanh Xuân, Hà Nội. Sau 10 phút “phỏng vấn” tôi được nhận vào thử việc ngay hôm đó.
Ca làm việc bắt đầu từ 6h30 có mặt để trang điểm. Theo thoả thuận tôi học việc 1 tuần không có lương. Vì người mới nên tôi không biết đến “quy định” ăn mặc khi làm việc là phải hở những chỗ cần phải hở. Chị quản lý châm chước cho tôi mặc quần ngố, áo phông.
Trời mùa thu tối rất nhanh, những chiếc đèn mờ màu đỏ được bật lên, rèm được kéo ra. Theo hướng dẫn, công việc hôm nay của tôi chỉ đứng làm nhìn các chị làm để học.
Giọng miền Nam thu hút khách
Tôi làm cùng ca có 5 người tuổi cũng ngoài 20. Chị D được giao hướng dẫn tôi. “Quán mình chỉ tẩm quất, xoa bóp thôi, không có giác hơi nên không vất vả lắm. Mọi người có vẻ khó gần nhưng thực ra dễ nói chuyện lắm”, chị D chị đưa tôi đi xem toàn bộ quán và nói.
Nhân viên trong quán có riêng tôi lạc lõng vì cách ăn mặc, còn người nào cũng áo hai dây, quần đùi hoặc váy siêu ngắn. “Em mặc như thế khách vào nhìn đã nóng nực rồi, khi làm việc mình cũng nóng lắm, cứ mặc cho thoải mái nhất, dễ chịu nhất”, một “đồng nghiệp” nhắc nhở tôi.
Ngồi tới gần 8h mới có một khách tới, hình như là khách quen của chị D nên chị đưa luôn lên tầng hai, gọi theo một tách cà phê đen nóng. Tôi ngỏ ý muốn theo lên xem làm, chị từ chối luôn “anh ấy không thích nhiều người đâu em”.
Khi mang cà phê lên phòng, tôi thấy chị D ngồi lên lưng của người khách đang bóp vai. Còn ông khách chỉ có mảnh vải che ngang người, mắt lim dim.
Còn lại mấy chị em ngồi vừa chơi bài vừa xem tivi, trong nhóm có 2 chị nói giọng miền Nam. Gần 9h, có hai người khách chừng ngoài 40 tuổi vào quán hơi sặc mùi men. Được biết, đây là khách của hai chị miền trong.
Chị X (SN 1983, quê ở Phù yên, Sơn La) nói với cái vẻ hơi ghen tỵ “hai đứa nó lúc nào cũng vào hàng top của quán đấy, tiền bo nhiều lắm vì chúng biết nhiều mẹo moi tiền của khách bằng cái giọng miền Nam. Người miền Bắc mình nghe giọng của nhau quen rồi nên thích lạ”.
Tôi nói em chưa mua được áo hai dây, quần ngắn thì chị X nói sẽ cho tôi mượn. “Nhiều khách không đưa tiền bo đâu mà họ nhét vào áo ngực…” - chị X nói thêm tác dụng của việc mặc hở hang.
Tẩm quất phục vụ... mọi nhu cầu
Theo chị D kể, quán mở được gần 6 năm, thay mấy đời quản lý rồi. Chỉ có chị là nhân viên kỳ cựu nhất. "Làm nghề này nhiều khi cũng tủi lắm em ạ, đa số là không có chồng, người yêu cũng chỉ là khách qua đường".
Khách vào quán không phải đại gia, chủ yếu là dân lao động bình thường có cả những thanh niên mới lớn tò mò đi cho biết. Bo cũng chỉ mấy chục, có người còn chẳng bo mà đòi hỏi rất nhiều. Mấy đứa "nhãi ranh" (bọn mới lớn) chỉ bằng tuổi em út mình thôi, cậy có tiền cũng bắt các chị phục vụ "đến nơi, đến chốn".

Mỗi khách nhân viên làm cũng chỉ được 20.000 tiền công. Mỗi khách vào quán những nhân viên ở đây đấm bóp cả tiếng cũng chỉ được 20.000 công. "Bây giờ còn cao chứ năm ngoái bọn chị có 12.000 thôi", chị X nói thêm.
Thấy tôi nói mình là sinh viên, nhiều chị hỏi rất kỹ, nhưng tôi chỉ cười "Thì làm ở đây hợp với thời gian của em, ban ngày em đi học suốt". Chị X tiếp lời "Rồi em cũng bỏ sớm thôi, sinh viên như em vào đây làm gì cho phí". Các chị kể, năm trước một sinh viên tên H làm được mấy hôm bị khách đánh cho thâm tím mặt mày vì "không cho nó abc"... H. còn bị ông chủ (kiêm bảo kê) đánh và hãm hiếp cũng không dám kêu ai cả. Nhiều cô gái đến đây làm cũng chỉ được một thời gian ngắn rồi cũng nuốt nước mắt ra đi.
Th (SN 1986, quê ở Nho Quan, Ninh Bình) đi làm nghề này được hơn 1 năm nhưng cũng thấm nhiều "nỗi đau". Không dám về quê mặc dù nhớ con, nhớ nhà, nhiều nhân viên nói đến đây làm chỉ để "kiếm ít vốn rồi mở cửa hàng cắt tóc".
"Nhiều ông khách còn gọi điện đến nhà làm riêng hoặc đến nhà trọ của nhân viên. Ở đó họ làm gì chỉ có biết kêu trời. Bản thân tôi, vì muốn kiếm tiền nên đã đến tận nhà nếu khách có nhu cầu" - Th nói.
Cướp khách quen, ma cũ "dần" ma mới
Quy tắc không tranh dành khách của nhau nhưng cũng có những cuộc chiến ngầm tranh giành khách giữa các nhân viên ở đây. Đánh nhau, ghen tỵ giữa "ma mới, ma cũ" cũng khá sôi nổi. Ngày mới vào làm ở đây Th cũng bị một "ma cũ" đón đợi ở chợ KG, đánh cho trận nhớ đời vì cướp khách quen của người ta.

Một nhân viên đang tẩm quất cho khách phòng đơn. Đến gần 10h trời bắt đầu mưa, khách vào cũng ít nên mấy chị em ngồi tán gẫu. Nhìn ra ngoài trời mưa, mùi hôi trên sông Tô Lịch theo gió bay vào nồng nặc đến khó chịu. Không biết làm gì, mấy chị em vừa chơi bài vui vừa tán gẫu.
Th. thở dài và nhắc về đứa con trai 4 tuổi đang sống với bố và mẹ kế ở quê. “Không biết bố nó có biết mặc áo ấm cho nó không, Dương (tên con trai chị) hay bị ho lắm, lâu rồi chẳng về thăm, gọi điện về thì con kia (mẹ kế của Dương) cứ nhảy dựng lên làm như mình đòi lại chồng”.
Nơi phóng viên "một ngày làm tẩm quất"
Chị X bắt đầu nói về người chồng cùng nghề, hai vợ chồng cùng làm tẩm quất nên đành gửi con về quê chồng ở Nam Định. “Lấy chồng trẻ con khổ một đời”, X than thêm về cuộc sống cùng người chồng kém chị 4 tuổi. Câu chuyện cứ kéo dài đến hơn 11h, hôm nay mưa vắng khách nên chị quản lý ra hiệu cho về sớm.
Chia tay quán, chị còn không quên dặn tôi mai nhớ mang “đồng phục” đi làm. Chị X còn nhắn với khi rảnh cứ đến nhà chị chỗ cầu Lủ (Thanh Xuân, Hà Nội) để "chị dạy thêm cho".
Kết thúc một ngày làm việc sởn da gà, tôi quay lại nhìn cái quán “ Café - Tẩm Quất, Thư Giãn” một lần nữa rồi ra về khi mưa càng mau hạt.
Ca làm việc bắt đầu từ 6h30 có mặt để trang điểm. Theo thoả thuận tôi học việc 1 tuần không có lương. Vì người mới nên tôi không biết đến “quy định” ăn mặc khi làm việc là phải hở những chỗ cần phải hở. Chị quản lý châm chước cho tôi mặc quần ngố, áo phông.
Trời mùa thu tối rất nhanh, những chiếc đèn mờ màu đỏ được bật lên, rèm được kéo ra. Theo hướng dẫn, công việc hôm nay của tôi chỉ đứng làm nhìn các chị làm để học.
Giọng miền Nam thu hút khách
Tôi làm cùng ca có 5 người tuổi cũng ngoài 20. Chị D được giao hướng dẫn tôi. “Quán mình chỉ tẩm quất, xoa bóp thôi, không có giác hơi nên không vất vả lắm. Mọi người có vẻ khó gần nhưng thực ra dễ nói chuyện lắm”, chị D chị đưa tôi đi xem toàn bộ quán và nói.
Nhân viên trong quán có riêng tôi lạc lõng vì cách ăn mặc, còn người nào cũng áo hai dây, quần đùi hoặc váy siêu ngắn. “Em mặc như thế khách vào nhìn đã nóng nực rồi, khi làm việc mình cũng nóng lắm, cứ mặc cho thoải mái nhất, dễ chịu nhất”, một “đồng nghiệp” nhắc nhở tôi.
Ngồi tới gần 8h mới có một khách tới, hình như là khách quen của chị D nên chị đưa luôn lên tầng hai, gọi theo một tách cà phê đen nóng. Tôi ngỏ ý muốn theo lên xem làm, chị từ chối luôn “anh ấy không thích nhiều người đâu em”.
Khi mang cà phê lên phòng, tôi thấy chị D ngồi lên lưng của người khách đang bóp vai. Còn ông khách chỉ có mảnh vải che ngang người, mắt lim dim.
Còn lại mấy chị em ngồi vừa chơi bài vừa xem tivi, trong nhóm có 2 chị nói giọng miền Nam. Gần 9h, có hai người khách chừng ngoài 40 tuổi vào quán hơi sặc mùi men. Được biết, đây là khách của hai chị miền trong.
Chị X (SN 1983, quê ở Phù yên, Sơn La) nói với cái vẻ hơi ghen tỵ “hai đứa nó lúc nào cũng vào hàng top của quán đấy, tiền bo nhiều lắm vì chúng biết nhiều mẹo moi tiền của khách bằng cái giọng miền Nam. Người miền Bắc mình nghe giọng của nhau quen rồi nên thích lạ”.
Tôi nói em chưa mua được áo hai dây, quần ngắn thì chị X nói sẽ cho tôi mượn. “Nhiều khách không đưa tiền bo đâu mà họ nhét vào áo ngực…” - chị X nói thêm tác dụng của việc mặc hở hang.
Tẩm quất phục vụ... mọi nhu cầu
Theo chị D kể, quán mở được gần 6 năm, thay mấy đời quản lý rồi. Chỉ có chị là nhân viên kỳ cựu nhất. "Làm nghề này nhiều khi cũng tủi lắm em ạ, đa số là không có chồng, người yêu cũng chỉ là khách qua đường".
Khách vào quán không phải đại gia, chủ yếu là dân lao động bình thường có cả những thanh niên mới lớn tò mò đi cho biết. Bo cũng chỉ mấy chục, có người còn chẳng bo mà đòi hỏi rất nhiều. Mấy đứa "nhãi ranh" (bọn mới lớn) chỉ bằng tuổi em út mình thôi, cậy có tiền cũng bắt các chị phục vụ "đến nơi, đến chốn".

Mỗi khách nhân viên làm cũng chỉ được 20.000 tiền công. Mỗi khách vào quán những nhân viên ở đây đấm bóp cả tiếng cũng chỉ được 20.000 công. "Bây giờ còn cao chứ năm ngoái bọn chị có 12.000 thôi", chị X nói thêm.
Thấy tôi nói mình là sinh viên, nhiều chị hỏi rất kỹ, nhưng tôi chỉ cười "Thì làm ở đây hợp với thời gian của em, ban ngày em đi học suốt". Chị X tiếp lời "Rồi em cũng bỏ sớm thôi, sinh viên như em vào đây làm gì cho phí". Các chị kể, năm trước một sinh viên tên H làm được mấy hôm bị khách đánh cho thâm tím mặt mày vì "không cho nó abc"... H. còn bị ông chủ (kiêm bảo kê) đánh và hãm hiếp cũng không dám kêu ai cả. Nhiều cô gái đến đây làm cũng chỉ được một thời gian ngắn rồi cũng nuốt nước mắt ra đi.
Th (SN 1986, quê ở Nho Quan, Ninh Bình) đi làm nghề này được hơn 1 năm nhưng cũng thấm nhiều "nỗi đau". Không dám về quê mặc dù nhớ con, nhớ nhà, nhiều nhân viên nói đến đây làm chỉ để "kiếm ít vốn rồi mở cửa hàng cắt tóc".
"Nhiều ông khách còn gọi điện đến nhà làm riêng hoặc đến nhà trọ của nhân viên. Ở đó họ làm gì chỉ có biết kêu trời. Bản thân tôi, vì muốn kiếm tiền nên đã đến tận nhà nếu khách có nhu cầu" - Th nói.
Cướp khách quen, ma cũ "dần" ma mới
Quy tắc không tranh dành khách của nhau nhưng cũng có những cuộc chiến ngầm tranh giành khách giữa các nhân viên ở đây. Đánh nhau, ghen tỵ giữa "ma mới, ma cũ" cũng khá sôi nổi. Ngày mới vào làm ở đây Th cũng bị một "ma cũ" đón đợi ở chợ KG, đánh cho trận nhớ đời vì cướp khách quen của người ta.

Một nhân viên đang tẩm quất cho khách phòng đơn. Đến gần 10h trời bắt đầu mưa, khách vào cũng ít nên mấy chị em ngồi tán gẫu. Nhìn ra ngoài trời mưa, mùi hôi trên sông Tô Lịch theo gió bay vào nồng nặc đến khó chịu. Không biết làm gì, mấy chị em vừa chơi bài vui vừa tán gẫu.
Th. thở dài và nhắc về đứa con trai 4 tuổi đang sống với bố và mẹ kế ở quê. “Không biết bố nó có biết mặc áo ấm cho nó không, Dương (tên con trai chị) hay bị ho lắm, lâu rồi chẳng về thăm, gọi điện về thì con kia (mẹ kế của Dương) cứ nhảy dựng lên làm như mình đòi lại chồng”.
Nơi phóng viên "một ngày làm tẩm quất"
Chị X bắt đầu nói về người chồng cùng nghề, hai vợ chồng cùng làm tẩm quất nên đành gửi con về quê chồng ở Nam Định. “Lấy chồng trẻ con khổ một đời”, X than thêm về cuộc sống cùng người chồng kém chị 4 tuổi. Câu chuyện cứ kéo dài đến hơn 11h, hôm nay mưa vắng khách nên chị quản lý ra hiệu cho về sớm.
Chia tay quán, chị còn không quên dặn tôi mai nhớ mang “đồng phục” đi làm. Chị X còn nhắn với khi rảnh cứ đến nhà chị chỗ cầu Lủ (Thanh Xuân, Hà Nội) để "chị dạy thêm cho".
Kết thúc một ngày làm việc sởn da gà, tôi quay lại nhìn cái quán “ Café - Tẩm Quất, Thư Giãn” một lần nữa rồi ra về khi mưa càng mau hạt.

