Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
ĐẠI SỨ VIỆT CỘNG GIAN MANH
Ngày 05-10-2009, giờ 05:44
Ðại sứ Việt Cộng tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, nặng lời chỉ trích dân
biểu Cao Quang Ánh, khi ông Phụng trả lời một câu hỏi của đài BBC; ông
Phụng nói:
"Chắc nhiều người mừng khi ông Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt
đầu tiên. Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán. Nhưng
tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là
người gốc Kenya.
Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng thống, thủ tướng thì vẫn là
người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy
mình không đứng đắn lắm".
"Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt có gì thì góp ý thẳng thắn
với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ trích, nhưng không nên
chống lại đồng bào mình".
"Còn hệ thống chính trị, có thể có nhiều ý kiến khác nhau, và chúng ta chấp
nhận sự khác nhau để cùng tồn tại trong cộng đồng người Việt."
Chỉ nói có một câu 151 chữ mà ông Phụng đã phạm vào vô số lỗi lầm. Lỗi
lầm thứ nhất là inconsistency, một lỗi cấu trúc hành văn, nếu phê phán ông
trên góc cạnh biên tập. Inconsistency là bất nhất, ông Phụng bất nhất vì câu
trước ông nói, "Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán".
Rồi ngay câu sau ông lại nói, "Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng
thống, thủ tướng thì vẫn là người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam,
người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm".
Ông bảo ông Ánh "không đứng đắn lắm" thì câu đó có phải là phê phán
không? Ông sợ gì, sợ ai mà chối, không dám nhận là mình phê phán ông
Ánh?
Nhưng ông Ánh nói gì "chạm nọc" đảng Việt Cộng đến mức ông Phụng chỉ
trích ông Ánh là "không đứng đắn lắm"? Ông Ánh chỉ tuyên bố một điều
mà mọi người Việt Nam hải ngoại và quốc nội đều đồng ý là cần bắt nhốt
Việt Cộng trở vào cũi CPC.
Chỉ phê bình ông Phụng về cái lỗi cấu trúc hành văn, tôi tự cho mình là đã
nhân nhượng lắm với ông đại sứ Việt Cộng, đối tượng xét ra không nên
nhân nhượng.
Phê bình trên góc cạnh nhân sinh quan, cái lỗi bất nhất của ông Phụng, có
thể được ngôn từ dân gian mô tả là "ăn đằng sóng, nói đằng gió", hay ăn
nói tráo trở.
Một lỗi nhỏ khác là danh xưng: ông Ánh không là nghị sĩ, mà là dân biểu;
lỗi lầm khác nữa, lớn hơn, nằm trong câu "Chắc nhiều người mừng khi ông
Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt đầu tiên", câu này hàm chứa đôi
chút ganh ghét đối với "nhiều người" Việt mừng ông Ánh, và chắc chắn
trong số "nhiều người" Việt này không có Lê Công Phụng.
Lý do khiến nhiều người mừng ông Ánh, một người Việt Nam đắc cử vào
hạ viện liên bang, vì họ là người Việt Nam; ông Phụng không mừng mà còn
chỉ trích những người mừng ông Ánh vì ông Phụng không phải là người
Việt Nam, mà là người Việt Cộng, những người cũng có máu mủ Việt Nam
nhưng lạc giống.
Ông Phụng còn lấy thí dụ Obama ra để "ngụ ngôn" người Việt Nam trong
câu, "Nhưng tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông
ấy vẫn là người gốc Kenya"; nói hươu, nói vượn, nhưng ông Phụng vẫn chỉ
nói quanh, ví von, thí dụ lẩm cẩm. Thử đặt giả thuyết một cuộc binh biến
tại Kenya đưa một bọn du côn, chuyên cướp của, giết người, phá nhà thờ,
phá chùa, hành hạ, giam giữ nhà tu, lên nắm chính quyền Kenya thì liệu
ông Obama, gốc người Kenya có ủng hộ bọn du côn này không.
Một câu nói nhảm nữa là, "Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt
có gì thì góp ý thẳng thắn với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ
trích, nhưng không nên chống lại đồng bào mình".
Chưa bao giờ người Việt hải ngoại chống lại "đồng bào trong nước", 4 chữ
bị ông Phụng đánh lộn sòng để tự nhận ông là đồng bào của chúng tôi. Ông
muốn chúng tôi coi ông như đại sứ Việt Nam, trong lúc thật sự ông chỉ là
đại sứ Việt Cộng, đại diện cho một chính quyền đảng cướp, không do bất cứ
một cử tri Việt Nam nào bầu ra cả.
Tôi thách thức ông Phụng làm một cuộc thử nghiệm để tìm xem ông là đại
sứ Việt Nam hay là đại sứ Việt Cộng: mời ông xuống Houston đi ăn bún chả
Canvas với tôi để xem thái độ của người Việt Nam đối với ông như thế nào.
Chỉ cần nhận lời tôi mời cũng đủ chứng tỏ ông bản lãnh hơn ông Nguyễn
Tấn Dũng nhiều lắm.
Hơn ở chỗ ông Dũng tuy tên là Dũng mà chẳng dũng tí nào, trái lại rất hèn.
Đã đến Houston, nơi có trăm rưởi ngàn người Việt Nam sinh sống mà
không dám đến thăm người Việt Nam, cũng không dám lú ra cửa sổ khách
sạn vẫy tay chào mừng hàng chục ngàn người kéo đến cổng khách sạn dàn
chào ông; trong lúc ông tên Công Phụng múa như công, như phụng, dù
không múa khoe mã, khoe lông mà múa lưỡi để khoe tài nói lảm nhảm,
không đâu vào đâu cả.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Ngày 05-10-2009, giờ 05:44
Ðại sứ Việt Cộng tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, nặng lời chỉ trích dân
biểu Cao Quang Ánh, khi ông Phụng trả lời một câu hỏi của đài BBC; ông
Phụng nói:
"Chắc nhiều người mừng khi ông Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt
đầu tiên. Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán. Nhưng
tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là
người gốc Kenya.
Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng thống, thủ tướng thì vẫn là
người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy
mình không đứng đắn lắm".
"Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt có gì thì góp ý thẳng thắn
với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ trích, nhưng không nên
chống lại đồng bào mình".
"Còn hệ thống chính trị, có thể có nhiều ý kiến khác nhau, và chúng ta chấp
nhận sự khác nhau để cùng tồn tại trong cộng đồng người Việt."
Chỉ nói có một câu 151 chữ mà ông Phụng đã phạm vào vô số lỗi lầm. Lỗi
lầm thứ nhất là inconsistency, một lỗi cấu trúc hành văn, nếu phê phán ông
trên góc cạnh biên tập. Inconsistency là bất nhất, ông Phụng bất nhất vì câu
trước ông nói, "Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán".
Rồi ngay câu sau ông lại nói, "Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng
thống, thủ tướng thì vẫn là người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam,
người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm".
Ông bảo ông Ánh "không đứng đắn lắm" thì câu đó có phải là phê phán
không? Ông sợ gì, sợ ai mà chối, không dám nhận là mình phê phán ông
Ánh?
Nhưng ông Ánh nói gì "chạm nọc" đảng Việt Cộng đến mức ông Phụng chỉ
trích ông Ánh là "không đứng đắn lắm"? Ông Ánh chỉ tuyên bố một điều
mà mọi người Việt Nam hải ngoại và quốc nội đều đồng ý là cần bắt nhốt
Việt Cộng trở vào cũi CPC.
Chỉ phê bình ông Phụng về cái lỗi cấu trúc hành văn, tôi tự cho mình là đã
nhân nhượng lắm với ông đại sứ Việt Cộng, đối tượng xét ra không nên
nhân nhượng.
Phê bình trên góc cạnh nhân sinh quan, cái lỗi bất nhất của ông Phụng, có
thể được ngôn từ dân gian mô tả là "ăn đằng sóng, nói đằng gió", hay ăn
nói tráo trở.
Một lỗi nhỏ khác là danh xưng: ông Ánh không là nghị sĩ, mà là dân biểu;
lỗi lầm khác nữa, lớn hơn, nằm trong câu "Chắc nhiều người mừng khi ông
Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt đầu tiên", câu này hàm chứa đôi
chút ganh ghét đối với "nhiều người" Việt mừng ông Ánh, và chắc chắn
trong số "nhiều người" Việt này không có Lê Công Phụng.
Lý do khiến nhiều người mừng ông Ánh, một người Việt Nam đắc cử vào
hạ viện liên bang, vì họ là người Việt Nam; ông Phụng không mừng mà còn
chỉ trích những người mừng ông Ánh vì ông Phụng không phải là người
Việt Nam, mà là người Việt Cộng, những người cũng có máu mủ Việt Nam
nhưng lạc giống.
Ông Phụng còn lấy thí dụ Obama ra để "ngụ ngôn" người Việt Nam trong
câu, "Nhưng tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông
ấy vẫn là người gốc Kenya"; nói hươu, nói vượn, nhưng ông Phụng vẫn chỉ
nói quanh, ví von, thí dụ lẩm cẩm. Thử đặt giả thuyết một cuộc binh biến
tại Kenya đưa một bọn du côn, chuyên cướp của, giết người, phá nhà thờ,
phá chùa, hành hạ, giam giữ nhà tu, lên nắm chính quyền Kenya thì liệu
ông Obama, gốc người Kenya có ủng hộ bọn du côn này không.
Một câu nói nhảm nữa là, "Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt
có gì thì góp ý thẳng thắn với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ
trích, nhưng không nên chống lại đồng bào mình".
Chưa bao giờ người Việt hải ngoại chống lại "đồng bào trong nước", 4 chữ
bị ông Phụng đánh lộn sòng để tự nhận ông là đồng bào của chúng tôi. Ông
muốn chúng tôi coi ông như đại sứ Việt Nam, trong lúc thật sự ông chỉ là
đại sứ Việt Cộng, đại diện cho một chính quyền đảng cướp, không do bất cứ
một cử tri Việt Nam nào bầu ra cả.
Tôi thách thức ông Phụng làm một cuộc thử nghiệm để tìm xem ông là đại
sứ Việt Nam hay là đại sứ Việt Cộng: mời ông xuống Houston đi ăn bún chả
Canvas với tôi để xem thái độ của người Việt Nam đối với ông như thế nào.
Chỉ cần nhận lời tôi mời cũng đủ chứng tỏ ông bản lãnh hơn ông Nguyễn
Tấn Dũng nhiều lắm.
Hơn ở chỗ ông Dũng tuy tên là Dũng mà chẳng dũng tí nào, trái lại rất hèn.
Đã đến Houston, nơi có trăm rưởi ngàn người Việt Nam sinh sống mà
không dám đến thăm người Việt Nam, cũng không dám lú ra cửa sổ khách
sạn vẫy tay chào mừng hàng chục ngàn người kéo đến cổng khách sạn dàn
chào ông; trong lúc ông tên Công Phụng múa như công, như phụng, dù
không múa khoe mã, khoe lông mà múa lưỡi để khoe tài nói lảm nhảm,
không đâu vào đâu cả.
Nguyễn Ðạt Thịnh
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
GIẤC MƠ TỔNG THỐNG MỸ.
Nguyễn Thị Thanh Dương.
Anh Tư Chuột về tới nhà lúc 8 giờ tối, thông thường mấy khi anh Tư về đúng giờ. Sau khi shop sửa xe đóng cửa lúc 6 giờ là mấy người thợ rủ nhau vào quán lai rai trước khi về nhà. Chủ shop người Việt Nam, tất cả thợ thuyền cũng là người Việt Nam nên dễ hòa hợp, ngày nào họ cũng có lý do để nhậu, hôm đắt hàng, làm mệt, nên nhậu để “thư giãn”, hôm ế hàng, ít khách nên nhậu để “quên sầu đời”, hôm thì cá độ với bạn bè v..v…
- Em ơi, em đâu rồi?
Chị Tư Chuột từ trong bếp vội vàng bước ra phòng khách, anh Tư Chuột đang soải người ngồi ra ghế:
- Chuyện gì anh? Em đang chuẩn bị dọn cơm cho anh mà.
- Thì em cứ ngồi xuống ghế đi, có một chuyện quan trọng.
Chị Tư Chuột hồi hộp ngồi xuống ghế, đối diện chồng và chờ đợi.
- Anh báo cho em một tin mừng…
Chị Tư Chuột nhấp nhỏm trên ghế, đôi mắt sáng lên:
- Tin gì? Trúng số hả anh?
- Còn hơn là trúng số nữa. Em có muốn thằng Cu Tí nhà mình sau này là tổng thống Mỹ không?
Chị Tư Chuột cụt hứng, lườm chồng:
- Khi không hỏi chuyện tào lao, bộ anh tưởng làm tổng thống Mỹ dễ lắm sao mà mơ với ước?
- Những ước mơ không tốn tiền thì tại sao chúng ta không xài cho đã?. Có người da đen nào dám mơ ước ngày hôm nay tổng thống Mỹ là một người cùng màu da với họ không?
- Cho nên anh cũng mơ cho thằng Cu Tí nhà mình hả?
- Đúng thế, người Châu Á nói chung, người Việt Nam nói riêng đã giỏi giang thành đạt trên đất Mỹ thiếu gì. Biết đâu mấy chục năm sau tổng thống Mỹ sẽ là thằng Cu Tí?
- Là cái thằng ham ăn và lười biếng, 7 tuổi đầu mà đi học vẫn nhờ mẹ xỏ giầy, mặc áo ấy hả? Hôm nay anh uống rượu hơi nhiều đấy, đừng có nói ra cái ước mơ này, người ta cười cho.
- Hồi nãy trong bàn rượu, cả bọn đã bàn về đề tài này rồi, tụi nó cũng ước mơ thế chứ có phải một mình anh đâu. Một tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ sẽ mở cửa cho bao nhiêu mơ ước khác của con người…
Tư Chuột say sưa dệt ước mơ tiếp:
- Nếu sau này Cu Tí trở thành tổng thống Mỹ. Trời ơi, cả thế giới sẽ ca ngợi gia phả nội, ngoại nhà nó, dù mấy đời đều bần cố nông làm ruộng, làm rẫy, cơm không đủ no áo không đủ ấm. Họ sẽ đề cao bố của tổng thống là anh Tư Chuột, một thợ sửa xe hơi làm việc chăm chỉ để nuôi tổng thống tương lai, và mẹ của tổng thống từng là một phụ nữ vô công rỗi nghề, chỉ biết ăn bám chồng, bỗng được xưng tụng là một phụ nữ đảm đang, một người mẹ tuyệt vời, biết hi sinh sự nghiệp của mình vì chồng con. Chưa hết, người ta sẽ đến tận đây, để chụp hình cái ngôi nhà lụp xụp trong khu bình dân lộn xộn toàn Mỹ đen, và đám Mễ di dân, ngôi nhà mà bố mẹ của tổng thống đang nhẫn nại trả tiền mortgage 30 năm mới hết nợ, nơi mà tổng thống được nuôi dưỡng lớn lên, và ngôi nhà sẽ đi vào lịch sử của nước Mỹ….
Chị Tư Chuột ngắt lời, hỏi một câu chẳng liên quan gì đến những viễn ảnh huy hoàng của chồng vừa đưa ra:
- Anh đói bụng chưa? Em dọn cơm cho anh ăn nhé?
Anh Tư Chuột bực mình:
- Anh nói chưa hết ý mà, em gọi thằng Cu Tí ra đây.
Thằng Cu Tí nghe bố quát to tên mình, nó đang chơi game trong phòng vội vàng chạy ra:
- Bố gọi con hả?
- Con thật là nhậy cảm, bố đang nói về tương lai của con đấy. Nào, đứng im cho bố ngắm lại thằng Cu Tí của bố.
Nó ngoan ngoãn đứng giữa phòng khách, trước mặt bố mẹ. Anh Tư Chuột lẩm bẩm:
- Con gầy và nhỏ con y chang bố. Tuy tướng tá không to lớn oai vệ, nhưng không sao, người lãnh đạo ăn thua là ở cái đầu. Sau này con cũng sẽ học Luật trường Harvard như mấy ông chính khách Mỹ, sẽ chẳng thua kém ai.
Thằng Cu Tí ngạc nhiên:
- Sau này con sẽ làm gì hả bố?
- Là tổng thống Mỹ, con sẽ có nhiều quyền lực, danh vọng và tiền bạc. Con có thích thế không?
- Nhưng tổng thống có được vào trong mall chơi game không? Có được ra công viên chơi cầu tụt và ngồi xích đu không hả bố?
- Ơ kìa, khi đó con lớn rồi, chứ có 7 tuổi như bây giờ đâu.
Nó vẫn nghi ngờ:
- Con không tin là tổng thống sung sướng như bố nói .
- Xung quanh con sẽ luôn có kẻ hầu người hạ, ngay cả từng miếng cơm, miếng nước…Thế mà không sung sướng à?
Thằng Cu Tí lắc đầu:
- Con ở nhà với mẹ cơ, có mẹ nấu cơm và lo mọi thứ cho con rồi, cần gì phải làm tổng thống mới có những thứ ấy. Thôi, con vào chơi game tiếp đây.
Chị Tư Chuột nói với theo, như năn nỉ:
- Con ơi, chơi hết bàn game ấy rồi mang bài homework ra làm con nhé?
Cu Tí ra điều kiện:
- Nhưng mẹ phải nướng cho con một miếng pizza thật to, và một ly nước cam. Ăn xong con mới làm homework.
Thằng bé chạy biến vào phòng, anh Tư Chuột than thở:
- Hai mẹ con em chỉ lo chuyện thực tế ăn uống mà không hề biết ước mơ, không hề biết cuộc sống phải vươn lên cao để hái cả những vì sao trên trời.
Chị Tư Chuột đã dọn cơm ra bàn, người cha của tổng thống Mỹ tương lai trong mơ ước cũng trở về thực tế, ra bàn ngồi ăn cơm vì đang đói bụng sau khi đã cồn cào vì men bia men rượu.
Rồi chị Tư Chuột mở tủ lạnh lấy miếng pizza to nhất nướng cho con. Cơm chiều Cu Tí đã ăn rồi, đây chỉ là món ăn chơi. Được phục vụ chồng con, đó là hạnh phúc của chị.
Hai vợ chồng Tư Chuột và đứa con qua Mỹ được 5 năm theo diện bảo lãnh anh em, do một người em của chị Tư Chuột bảo lãnh, còn toàn bộ cha mẹ, anh em của anh Tư Chuột vẫn ở Việt Nam, tiếp tục cha truyền con nối làm ruộng. Chị Tư Chuột đường sinh đẻ khó khăn hiếm muộn, tưởng không bao giờ có con, mãi mới mang bầu đẻ ra thằng Cu Tí, nên hai vợ chồng cưng qúy nó như vàng. Anh Tư Chuột có tay nghề sửa xe hơi từ bên Việt Nam, qua Mỹ xin được ngay vào shop sửa xe, công việc ổn định, dài lâu, chị Tư Chuột trước kia làm ruộng, nếu không lấy chồng ở nhà nuôi con thì chắc chị sẽ làm ruộng suốt đời.
Ngồi bên chồng, săn sóc miếng ăn cho chồng, chị Tư Chuột trò chuyện bông lơn:
- Kinh tế Mỹ càng ngày càng khó khăn,” sì tóc” và xăng dầu xuống gía qúa trời!
- Em rành chuyện kinh tế qúa nhỉ? Nghe em nói người ta tưởng em là một nhà phân tích kinh tế thị trường.
- Thì ngày nào mở ti vi coi phần tin tức, dù nghe tiếng Mỹ không hiểu gì nhưng em thấy mấy cái mũi tên đều chỉ xuống là em hiểu “sì tóc” đi xuống, dầu xăng đi xuống. Rồi cuối tuần ra chợ Việt Nam xin báo về đọc bổ xung thêm.
- Ừ đúng rồi, dầu thô đang xuống gía, còn khoảng 40 đồng một thùng so với 150 đồng một thùng lúc cao điểm. Bằng cớ là mình đổ xăng giảm gía rồi đấy. Tội nghiệp mấy công ty khai thác dầu hỏa tại vùng Dallas Fort Worth này, thời dầu thô cao gía, họ đã phải ký hợp đồng cho bonus từ 27,000 đến 28,000 đồng một acre.
Chị Tư Chuột vẫn lo âu thế sự:
- Liệu ông Obama đảng dân chủ lên làm tổng thống có thay đổi được nước Mỹ không ?
- Ông Obama không phải là thần thánh, thay đổi về kinh tế, chính trị không phải chỉ một sớm một chiều.
Anh Tư Chuột nổi hứng phân tích:
- Con người ta có số hết, ngoài cái tài còn có cả duyên may. Ông Obama thành tổng thống hầu hết là cái may mắn nhà ông ta tu từ đời tám kiếp nào đó. Này nhé, đảng Cộng Hoà đã hai phùa làm tổng thống, chiến tranh ác liệt, kinh tế khủng hoảng nên dân tình ngao ngán, mệt mỏi và muốn đổi thay.
Chị Tư Chuột tán thành:
- Nhiều người mến cá nhân anh hùng của ông Mc Cain nhưng không thích đảng Cộng Hoà, nhiều người thích đảng Dân Chủ, nhưng chê ông Obama trẻ người non dạ. Vợ chồng nhỏ em của em cũng thế, quyết định không đi bầu vì nghĩ rằng chồng bầu một phiếu cho đảng Cộng Hoà, vợ bỏ một phiếu cho đảng Dân Chủ, chẳng làm thay đổi tỉ số thắng bại của đôi bên, đi bầu bán làm gì cho tốn xăng, tốn công và chật chỗ người ta, còn mất công nhân viên kiểm phiếu phải đếm thêm 2 là phiếu “vô nghĩa lý”.
Anh Tư Chuột phản đối:
- Dù thế nào cũng phải đi bầu để thực hiện quyền dân chủ của mình chứ, hay ít ra để người ta cũng biết mặt sắc dân Châu Á đi bầu nhiều ít ra sao chứ.
Chị Tư Chuột tiếc rẻ:
- Vậy lần sau vợ chồng mình ráng thi đậu quốc tịch để có dịp đi bầu nhé. Lần vừa rồi cả hai vợ chồng đều thi rớt, chắc thằng cha phỏng vấn mình kỳ thị anh ạ.
- Ai thi quốc tịch rớt cũng nghi ngờ và đổ vạ là bị kỳ thị, không kiểm tra lại coi mình sai sót những gì. Anh chắc là sau vụ khủng bố 9-11 thì sở di trú phải chọn lọc kỹ mà thôi.
Anh Tư Chuột ăn cơm xong, rượu đã tỉnh, nên anh sảng khóai hẳn ra. Anh trở lại đề tài cũ:
- Em à, cái chuyện ước mơ thành tổng thống Mỹ xa vời như trúng số Mega, chẳng qua rượu vào lời ra nói cho sướng miệng, nghe cho sướng tai, phải không em?. Thôi, anh chỉ mơ ước bình thường như em, cầu sao thằng Cu Tí nhà mình học xong đại học, ngành nghề gì cũng được. Đời ông đời cha của anh làm ruộng, anh đã tiến lên được một chút, văn minh thêm một chút, thành thợ sửa xe, khỏi phải chân lấm tay bùn, thì hi vọng thằng Cu Tí sẽ theo gương anh, tiến lên một chút, hơn cha nó, nghĩa là không ít học và làm nghề lao động tay chân vất vả như anh là đủ mừng rồi.
Chị Tư Chuột tươi cười:
- Trước hết cứ mơ ước, cầu mong cho con mình thành người tử tế anh ạ, sau đó muốn học cao hiểu rộng đến đâu cũng được. Thiếu gì con nhà Việt Nam sang Mỹ thành tài, nhưng cũng có một số bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội ăn học, mà hư thân mất nết làm buồn lòng cha mẹ.
Anh Tư Chuột sực tỉnh:
- Không biết nãy giờ thằng Cu Tí chơi game xong chưa? Và có mang homework ra làm không nhỉ?
Anh Tư Chuột bỗng nhớ lại thuở ấu thơ của mình, cái thuở bằng tuổi Cu Tí bây giờ, anh vừa lười học vừa dốt tóan, mỗi lần phải làm toán là mỗi lần ngồi khóc tỉ tê như cha chết. Một hôm bố anh ra mấy bài tóan cho anh làm thêm ở nhà. Bài tóan đơn giản là 3 + 2, mà thằng bé Tư Chuột ham chơi cộng với sự ngu dốt nghĩ mãi không ra, bố anh ngồi bên sốt ruột chờ đợi thằng con chậm chạp ù lì của mình, mẹ anh thấy thế bèn cứu nguy cho con. Bà gợi ý:
- Nè con, một bàn tay có mấy ngón?
Bố anh đã lườm mẹ anh về cái tội hướng dẫn huỵch toẹt cho con, vậy mà thằng bé Tư Chuột dạo đó đã ngồi suy nghĩ khá lâu rồi mới mạnh dạn viết: 3+2 = 6. Tức thì bố anh cho anh một cái tát như trời giáng và rít lên đau khổ:
- Trời ơi! Sao con ngu thế? Lớn lên mày làm gì mà sống hả thằng kia?
Mẹ anh, người phụ nữ dịu dàng cũng chịu hết nổi, phải nổi cáu:
- Mẹ đã bảo con đếm bàn tay có mấy ngón rồi mà!
Thằng bé Tư Chuột vừa nức nở khóc vừa cãi:
- Nhưng mẹ ơi, bàn tay con có 5 ngón, còn bàn tay thằng bạn ngồi cạnh con trong lớp học có tới 6 ngón. Con suy nghĩ mãi không biết ý mẹ nói bàn tay nào? Nên cuối cùng con viết đại bàn tay thằng bạn .
Kỷ niệm ấy anh vẫn nhớ và được cha mẹ anh truyền khẩu cho đến bây giờ. Dĩ nhiên không ai còn chê trách sự học dốt của anh nữa, cha mẹ anh hài lòng vì anh đã có nghề sửa xe hơi giỏi, qua Mỹ vẫn sống bằng nghề và thỉnh thoảng gởi chút tiền về giúp đỡ cha mẹ, anh em.
Hai vợ chồng cùng đi vào phòng thằng Cu Tí, miếng bánh pizza và ly nước cam đã thanh tóan hết nhẵn, nhưng bài toán thì chưa xong. Thằng bé đang cặm cụi, gương mặt nó nhìn chằm chằm vào trang giấy trước mặt, hai hàng chân mày nhíu lại như đang suy nghĩ sâu xa. Thấy bố mẹ thằng Cu Tí nhăn nhó:
- Bài toán khó qúa !
Nó chìa ra tờ giấy có bài tóan 10+5=? Mà nó chưa tìm ra câu giải đáp.
Chị Tư Chuột đã gợi ý, y như ngày xưa mẹ anh đã gợi ý cho anh:
- Thí dụ bố cho con 10 đồng, rồi mẹ cho con 5 đồng nữa. Tổng cộng con có bao nhiêu?.
Thằng Cu Tí mừng rỡ:
- Vậy thì bố mẹ đưa tiền đây con đếm là biết liền.
Anh Tư Chuột chạnh lòng vì nhớ tới hình ảnh của mình ngày xưa :
- Con phải tập động não, lấy ngón tay ngón chân mình ra mà đếm chứ.
Cu Tí lo âu:
- Nhưng gặp con số lớn quá, ngón chân ngón tay không đủ để đếm thì sao hả bố?
Chị Tư Chuột gạt đi:
- Con phải tự suy nghĩ , đâu phải lúc nào cũng lấy tay chân mình ra mà đếm.
Anh Tư Chuột chuyển qua đề tài mà anh đang khao khát:
- Lúc nãy con nói sau này không thích làm tổng thống phải không? Vậy ước mơ của con sẽ làm gì nói cho bố nghe nào: bác sĩ, kỹ sư hay là nhà giáo?
Cu Tí hớn hở đáp ngay:
- Con chỉ muốn thành thợ sửa xe giỏi như bố thôi.
Anh Tư Chuột thất vọng, lắp bắp hỏi lại:
- Cái gì? con muốn…con muốn… là thợ…
Cu Tí rổn rảng lập lại từng chữ một cho bố nghe rõ:
- Thợ… sửa… xe… hơi… như bố!
- Tại sao bao nhiêu nghề trên thế gian này mà con lại thích nghề sửa xe như bố?
- Vì bố kiếm được nhiều tiền, ngày nào cũng đi nhậu tới tối mới về, và bố mẹ vẫn nói là con hãy làm bất cứ nghề gì giúp ích cho người khác. Bữa hôm xe mẹ bị hư không đi chợ được, phải đợi bố về sửa. Nên con thấy nghề sửa xe vô cùng hữu ích..
Anh Tư Chuột giật mình, không ngờ thằng Cu Tí giống mình đến thế, từ hình dáng bên ngoài, đến sự chậm chạp dốt toán và lại còn muốn theo đuổi cùng một nghề sửa xe nữa.
Chị Tư Chuột được dịp phê phán chồng:
- Anh phải bớt ăn nhậu đi nhé, kẻo con nó bắt chước.
Thấy chồng có vẻ đau khổ, chị Tư Chuột dịu dàng an ủi chồng:
- Trẻ con mà anh, nó chưa nhìn xa thấy rộng. Ngày ngày nó thấy anh đi sửa xe kiếm tiền nên nó nể phục rồi ước mơ thế. Vợ chồng mình cứ lo nuôi dậy con tử tế, cuộc sống còn dài, chuyện ước mơ còn nhiều, ngay cả ước mơ là tổng thống Mỹ tuy viễn vông, nhưng điều đó cũng có thể xảy ra, ai mà biết được.
Nguyễn thị Thanh Dương
Nguyễn Thị Thanh Dương.
Anh Tư Chuột về tới nhà lúc 8 giờ tối, thông thường mấy khi anh Tư về đúng giờ. Sau khi shop sửa xe đóng cửa lúc 6 giờ là mấy người thợ rủ nhau vào quán lai rai trước khi về nhà. Chủ shop người Việt Nam, tất cả thợ thuyền cũng là người Việt Nam nên dễ hòa hợp, ngày nào họ cũng có lý do để nhậu, hôm đắt hàng, làm mệt, nên nhậu để “thư giãn”, hôm ế hàng, ít khách nên nhậu để “quên sầu đời”, hôm thì cá độ với bạn bè v..v…
- Em ơi, em đâu rồi?
Chị Tư Chuột từ trong bếp vội vàng bước ra phòng khách, anh Tư Chuột đang soải người ngồi ra ghế:
- Chuyện gì anh? Em đang chuẩn bị dọn cơm cho anh mà.
- Thì em cứ ngồi xuống ghế đi, có một chuyện quan trọng.
Chị Tư Chuột hồi hộp ngồi xuống ghế, đối diện chồng và chờ đợi.
- Anh báo cho em một tin mừng…
Chị Tư Chuột nhấp nhỏm trên ghế, đôi mắt sáng lên:
- Tin gì? Trúng số hả anh?
- Còn hơn là trúng số nữa. Em có muốn thằng Cu Tí nhà mình sau này là tổng thống Mỹ không?
Chị Tư Chuột cụt hứng, lườm chồng:
- Khi không hỏi chuyện tào lao, bộ anh tưởng làm tổng thống Mỹ dễ lắm sao mà mơ với ước?
- Những ước mơ không tốn tiền thì tại sao chúng ta không xài cho đã?. Có người da đen nào dám mơ ước ngày hôm nay tổng thống Mỹ là một người cùng màu da với họ không?
- Cho nên anh cũng mơ cho thằng Cu Tí nhà mình hả?
- Đúng thế, người Châu Á nói chung, người Việt Nam nói riêng đã giỏi giang thành đạt trên đất Mỹ thiếu gì. Biết đâu mấy chục năm sau tổng thống Mỹ sẽ là thằng Cu Tí?
- Là cái thằng ham ăn và lười biếng, 7 tuổi đầu mà đi học vẫn nhờ mẹ xỏ giầy, mặc áo ấy hả? Hôm nay anh uống rượu hơi nhiều đấy, đừng có nói ra cái ước mơ này, người ta cười cho.
- Hồi nãy trong bàn rượu, cả bọn đã bàn về đề tài này rồi, tụi nó cũng ước mơ thế chứ có phải một mình anh đâu. Một tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ sẽ mở cửa cho bao nhiêu mơ ước khác của con người…
Tư Chuột say sưa dệt ước mơ tiếp:
- Nếu sau này Cu Tí trở thành tổng thống Mỹ. Trời ơi, cả thế giới sẽ ca ngợi gia phả nội, ngoại nhà nó, dù mấy đời đều bần cố nông làm ruộng, làm rẫy, cơm không đủ no áo không đủ ấm. Họ sẽ đề cao bố của tổng thống là anh Tư Chuột, một thợ sửa xe hơi làm việc chăm chỉ để nuôi tổng thống tương lai, và mẹ của tổng thống từng là một phụ nữ vô công rỗi nghề, chỉ biết ăn bám chồng, bỗng được xưng tụng là một phụ nữ đảm đang, một người mẹ tuyệt vời, biết hi sinh sự nghiệp của mình vì chồng con. Chưa hết, người ta sẽ đến tận đây, để chụp hình cái ngôi nhà lụp xụp trong khu bình dân lộn xộn toàn Mỹ đen, và đám Mễ di dân, ngôi nhà mà bố mẹ của tổng thống đang nhẫn nại trả tiền mortgage 30 năm mới hết nợ, nơi mà tổng thống được nuôi dưỡng lớn lên, và ngôi nhà sẽ đi vào lịch sử của nước Mỹ….
Chị Tư Chuột ngắt lời, hỏi một câu chẳng liên quan gì đến những viễn ảnh huy hoàng của chồng vừa đưa ra:
- Anh đói bụng chưa? Em dọn cơm cho anh ăn nhé?
Anh Tư Chuột bực mình:
- Anh nói chưa hết ý mà, em gọi thằng Cu Tí ra đây.
Thằng Cu Tí nghe bố quát to tên mình, nó đang chơi game trong phòng vội vàng chạy ra:
- Bố gọi con hả?
- Con thật là nhậy cảm, bố đang nói về tương lai của con đấy. Nào, đứng im cho bố ngắm lại thằng Cu Tí của bố.
Nó ngoan ngoãn đứng giữa phòng khách, trước mặt bố mẹ. Anh Tư Chuột lẩm bẩm:
- Con gầy và nhỏ con y chang bố. Tuy tướng tá không to lớn oai vệ, nhưng không sao, người lãnh đạo ăn thua là ở cái đầu. Sau này con cũng sẽ học Luật trường Harvard như mấy ông chính khách Mỹ, sẽ chẳng thua kém ai.
Thằng Cu Tí ngạc nhiên:
- Sau này con sẽ làm gì hả bố?
- Là tổng thống Mỹ, con sẽ có nhiều quyền lực, danh vọng và tiền bạc. Con có thích thế không?
- Nhưng tổng thống có được vào trong mall chơi game không? Có được ra công viên chơi cầu tụt và ngồi xích đu không hả bố?
- Ơ kìa, khi đó con lớn rồi, chứ có 7 tuổi như bây giờ đâu.
Nó vẫn nghi ngờ:
- Con không tin là tổng thống sung sướng như bố nói .
- Xung quanh con sẽ luôn có kẻ hầu người hạ, ngay cả từng miếng cơm, miếng nước…Thế mà không sung sướng à?
Thằng Cu Tí lắc đầu:
- Con ở nhà với mẹ cơ, có mẹ nấu cơm và lo mọi thứ cho con rồi, cần gì phải làm tổng thống mới có những thứ ấy. Thôi, con vào chơi game tiếp đây.
Chị Tư Chuột nói với theo, như năn nỉ:
- Con ơi, chơi hết bàn game ấy rồi mang bài homework ra làm con nhé?
Cu Tí ra điều kiện:
- Nhưng mẹ phải nướng cho con một miếng pizza thật to, và một ly nước cam. Ăn xong con mới làm homework.
Thằng bé chạy biến vào phòng, anh Tư Chuột than thở:
- Hai mẹ con em chỉ lo chuyện thực tế ăn uống mà không hề biết ước mơ, không hề biết cuộc sống phải vươn lên cao để hái cả những vì sao trên trời.
Chị Tư Chuột đã dọn cơm ra bàn, người cha của tổng thống Mỹ tương lai trong mơ ước cũng trở về thực tế, ra bàn ngồi ăn cơm vì đang đói bụng sau khi đã cồn cào vì men bia men rượu.
Rồi chị Tư Chuột mở tủ lạnh lấy miếng pizza to nhất nướng cho con. Cơm chiều Cu Tí đã ăn rồi, đây chỉ là món ăn chơi. Được phục vụ chồng con, đó là hạnh phúc của chị.
Hai vợ chồng Tư Chuột và đứa con qua Mỹ được 5 năm theo diện bảo lãnh anh em, do một người em của chị Tư Chuột bảo lãnh, còn toàn bộ cha mẹ, anh em của anh Tư Chuột vẫn ở Việt Nam, tiếp tục cha truyền con nối làm ruộng. Chị Tư Chuột đường sinh đẻ khó khăn hiếm muộn, tưởng không bao giờ có con, mãi mới mang bầu đẻ ra thằng Cu Tí, nên hai vợ chồng cưng qúy nó như vàng. Anh Tư Chuột có tay nghề sửa xe hơi từ bên Việt Nam, qua Mỹ xin được ngay vào shop sửa xe, công việc ổn định, dài lâu, chị Tư Chuột trước kia làm ruộng, nếu không lấy chồng ở nhà nuôi con thì chắc chị sẽ làm ruộng suốt đời.
Ngồi bên chồng, săn sóc miếng ăn cho chồng, chị Tư Chuột trò chuyện bông lơn:
- Kinh tế Mỹ càng ngày càng khó khăn,” sì tóc” và xăng dầu xuống gía qúa trời!
- Em rành chuyện kinh tế qúa nhỉ? Nghe em nói người ta tưởng em là một nhà phân tích kinh tế thị trường.
- Thì ngày nào mở ti vi coi phần tin tức, dù nghe tiếng Mỹ không hiểu gì nhưng em thấy mấy cái mũi tên đều chỉ xuống là em hiểu “sì tóc” đi xuống, dầu xăng đi xuống. Rồi cuối tuần ra chợ Việt Nam xin báo về đọc bổ xung thêm.
- Ừ đúng rồi, dầu thô đang xuống gía, còn khoảng 40 đồng một thùng so với 150 đồng một thùng lúc cao điểm. Bằng cớ là mình đổ xăng giảm gía rồi đấy. Tội nghiệp mấy công ty khai thác dầu hỏa tại vùng Dallas Fort Worth này, thời dầu thô cao gía, họ đã phải ký hợp đồng cho bonus từ 27,000 đến 28,000 đồng một acre.
Chị Tư Chuột vẫn lo âu thế sự:
- Liệu ông Obama đảng dân chủ lên làm tổng thống có thay đổi được nước Mỹ không ?
- Ông Obama không phải là thần thánh, thay đổi về kinh tế, chính trị không phải chỉ một sớm một chiều.
Anh Tư Chuột nổi hứng phân tích:
- Con người ta có số hết, ngoài cái tài còn có cả duyên may. Ông Obama thành tổng thống hầu hết là cái may mắn nhà ông ta tu từ đời tám kiếp nào đó. Này nhé, đảng Cộng Hoà đã hai phùa làm tổng thống, chiến tranh ác liệt, kinh tế khủng hoảng nên dân tình ngao ngán, mệt mỏi và muốn đổi thay.
Chị Tư Chuột tán thành:
- Nhiều người mến cá nhân anh hùng của ông Mc Cain nhưng không thích đảng Cộng Hoà, nhiều người thích đảng Dân Chủ, nhưng chê ông Obama trẻ người non dạ. Vợ chồng nhỏ em của em cũng thế, quyết định không đi bầu vì nghĩ rằng chồng bầu một phiếu cho đảng Cộng Hoà, vợ bỏ một phiếu cho đảng Dân Chủ, chẳng làm thay đổi tỉ số thắng bại của đôi bên, đi bầu bán làm gì cho tốn xăng, tốn công và chật chỗ người ta, còn mất công nhân viên kiểm phiếu phải đếm thêm 2 là phiếu “vô nghĩa lý”.
Anh Tư Chuột phản đối:
- Dù thế nào cũng phải đi bầu để thực hiện quyền dân chủ của mình chứ, hay ít ra để người ta cũng biết mặt sắc dân Châu Á đi bầu nhiều ít ra sao chứ.
Chị Tư Chuột tiếc rẻ:
- Vậy lần sau vợ chồng mình ráng thi đậu quốc tịch để có dịp đi bầu nhé. Lần vừa rồi cả hai vợ chồng đều thi rớt, chắc thằng cha phỏng vấn mình kỳ thị anh ạ.
- Ai thi quốc tịch rớt cũng nghi ngờ và đổ vạ là bị kỳ thị, không kiểm tra lại coi mình sai sót những gì. Anh chắc là sau vụ khủng bố 9-11 thì sở di trú phải chọn lọc kỹ mà thôi.
Anh Tư Chuột ăn cơm xong, rượu đã tỉnh, nên anh sảng khóai hẳn ra. Anh trở lại đề tài cũ:
- Em à, cái chuyện ước mơ thành tổng thống Mỹ xa vời như trúng số Mega, chẳng qua rượu vào lời ra nói cho sướng miệng, nghe cho sướng tai, phải không em?. Thôi, anh chỉ mơ ước bình thường như em, cầu sao thằng Cu Tí nhà mình học xong đại học, ngành nghề gì cũng được. Đời ông đời cha của anh làm ruộng, anh đã tiến lên được một chút, văn minh thêm một chút, thành thợ sửa xe, khỏi phải chân lấm tay bùn, thì hi vọng thằng Cu Tí sẽ theo gương anh, tiến lên một chút, hơn cha nó, nghĩa là không ít học và làm nghề lao động tay chân vất vả như anh là đủ mừng rồi.
Chị Tư Chuột tươi cười:
- Trước hết cứ mơ ước, cầu mong cho con mình thành người tử tế anh ạ, sau đó muốn học cao hiểu rộng đến đâu cũng được. Thiếu gì con nhà Việt Nam sang Mỹ thành tài, nhưng cũng có một số bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội ăn học, mà hư thân mất nết làm buồn lòng cha mẹ.
Anh Tư Chuột sực tỉnh:
- Không biết nãy giờ thằng Cu Tí chơi game xong chưa? Và có mang homework ra làm không nhỉ?
Anh Tư Chuột bỗng nhớ lại thuở ấu thơ của mình, cái thuở bằng tuổi Cu Tí bây giờ, anh vừa lười học vừa dốt tóan, mỗi lần phải làm toán là mỗi lần ngồi khóc tỉ tê như cha chết. Một hôm bố anh ra mấy bài tóan cho anh làm thêm ở nhà. Bài tóan đơn giản là 3 + 2, mà thằng bé Tư Chuột ham chơi cộng với sự ngu dốt nghĩ mãi không ra, bố anh ngồi bên sốt ruột chờ đợi thằng con chậm chạp ù lì của mình, mẹ anh thấy thế bèn cứu nguy cho con. Bà gợi ý:
- Nè con, một bàn tay có mấy ngón?
Bố anh đã lườm mẹ anh về cái tội hướng dẫn huỵch toẹt cho con, vậy mà thằng bé Tư Chuột dạo đó đã ngồi suy nghĩ khá lâu rồi mới mạnh dạn viết: 3+2 = 6. Tức thì bố anh cho anh một cái tát như trời giáng và rít lên đau khổ:
- Trời ơi! Sao con ngu thế? Lớn lên mày làm gì mà sống hả thằng kia?
Mẹ anh, người phụ nữ dịu dàng cũng chịu hết nổi, phải nổi cáu:
- Mẹ đã bảo con đếm bàn tay có mấy ngón rồi mà!
Thằng bé Tư Chuột vừa nức nở khóc vừa cãi:
- Nhưng mẹ ơi, bàn tay con có 5 ngón, còn bàn tay thằng bạn ngồi cạnh con trong lớp học có tới 6 ngón. Con suy nghĩ mãi không biết ý mẹ nói bàn tay nào? Nên cuối cùng con viết đại bàn tay thằng bạn .
Kỷ niệm ấy anh vẫn nhớ và được cha mẹ anh truyền khẩu cho đến bây giờ. Dĩ nhiên không ai còn chê trách sự học dốt của anh nữa, cha mẹ anh hài lòng vì anh đã có nghề sửa xe hơi giỏi, qua Mỹ vẫn sống bằng nghề và thỉnh thoảng gởi chút tiền về giúp đỡ cha mẹ, anh em.
Hai vợ chồng cùng đi vào phòng thằng Cu Tí, miếng bánh pizza và ly nước cam đã thanh tóan hết nhẵn, nhưng bài toán thì chưa xong. Thằng bé đang cặm cụi, gương mặt nó nhìn chằm chằm vào trang giấy trước mặt, hai hàng chân mày nhíu lại như đang suy nghĩ sâu xa. Thấy bố mẹ thằng Cu Tí nhăn nhó:
- Bài toán khó qúa !
Nó chìa ra tờ giấy có bài tóan 10+5=? Mà nó chưa tìm ra câu giải đáp.
Chị Tư Chuột đã gợi ý, y như ngày xưa mẹ anh đã gợi ý cho anh:
- Thí dụ bố cho con 10 đồng, rồi mẹ cho con 5 đồng nữa. Tổng cộng con có bao nhiêu?.
Thằng Cu Tí mừng rỡ:
- Vậy thì bố mẹ đưa tiền đây con đếm là biết liền.
Anh Tư Chuột chạnh lòng vì nhớ tới hình ảnh của mình ngày xưa :
- Con phải tập động não, lấy ngón tay ngón chân mình ra mà đếm chứ.
Cu Tí lo âu:
- Nhưng gặp con số lớn quá, ngón chân ngón tay không đủ để đếm thì sao hả bố?
Chị Tư Chuột gạt đi:
- Con phải tự suy nghĩ , đâu phải lúc nào cũng lấy tay chân mình ra mà đếm.
Anh Tư Chuột chuyển qua đề tài mà anh đang khao khát:
- Lúc nãy con nói sau này không thích làm tổng thống phải không? Vậy ước mơ của con sẽ làm gì nói cho bố nghe nào: bác sĩ, kỹ sư hay là nhà giáo?
Cu Tí hớn hở đáp ngay:
- Con chỉ muốn thành thợ sửa xe giỏi như bố thôi.
Anh Tư Chuột thất vọng, lắp bắp hỏi lại:
- Cái gì? con muốn…con muốn… là thợ…
Cu Tí rổn rảng lập lại từng chữ một cho bố nghe rõ:
- Thợ… sửa… xe… hơi… như bố!
- Tại sao bao nhiêu nghề trên thế gian này mà con lại thích nghề sửa xe như bố?
- Vì bố kiếm được nhiều tiền, ngày nào cũng đi nhậu tới tối mới về, và bố mẹ vẫn nói là con hãy làm bất cứ nghề gì giúp ích cho người khác. Bữa hôm xe mẹ bị hư không đi chợ được, phải đợi bố về sửa. Nên con thấy nghề sửa xe vô cùng hữu ích..
Anh Tư Chuột giật mình, không ngờ thằng Cu Tí giống mình đến thế, từ hình dáng bên ngoài, đến sự chậm chạp dốt toán và lại còn muốn theo đuổi cùng một nghề sửa xe nữa.
Chị Tư Chuột được dịp phê phán chồng:
- Anh phải bớt ăn nhậu đi nhé, kẻo con nó bắt chước.
Thấy chồng có vẻ đau khổ, chị Tư Chuột dịu dàng an ủi chồng:
- Trẻ con mà anh, nó chưa nhìn xa thấy rộng. Ngày ngày nó thấy anh đi sửa xe kiếm tiền nên nó nể phục rồi ước mơ thế. Vợ chồng mình cứ lo nuôi dậy con tử tế, cuộc sống còn dài, chuyện ước mơ còn nhiều, ngay cả ước mơ là tổng thống Mỹ tuy viễn vông, nhưng điều đó cũng có thể xảy ra, ai mà biết được.
Nguyễn thị Thanh Dương
NHÀ THƠ TRẠCH GẦM RA MẮT TẬP THƠ THỨ 2
VÀO CHỦ NHẬT 25 THÁNG 10 NĂM 2009
66 bài thơ mới của thi sĩ Trạch Gầm đã được in thành sách và ra mắt chiến hữu, độc giả và thân hữu
vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhựt 25 tháng 10 năm 2009 tại Thư Viện Việt Nam, địa chỉ 10872 Westminster Avenue, suites 214 & 215
(trên lầu chợ Người Việt, góc Westminster và Euclid).
Trạch Gầm sẽ ngâm thơ bên cạnh chương trình văn nghệ rất lạ, rất độc đáo. Theo lời của các tiếng hát, giọng ngâm và giọng đọc, phải dành cho khách đến dự một sự ngạc nhiên thích thú nên không giới thiệu sâu vào chi tiết chương trình văn nghệ.
Vả lại, vẫn theo những thân hữu này, mục đích của hôm ấy là ra mắt thi tập thứ 2 của Trạch Gầm.
Tưởng cũng cần nhắc lại, khi tập thơ Vụn Vặt của Trạch Gầm được ra mắt cũng tại Thư Viện Việt Nam 2 năm trước, chẳng những khách đến đông mà buổi sinh hoạt có không khí rất riêng, rất lạ. Và tập thơ Vụn Vặt phải tái bản liền sau vài tháng phát hành.
Trong thi tập Ráng Chịu, nhà văn quân đội Nguyễn Đạt Thịnh có viết giới thiệu:
“Đọc Trạch Gầm “nhỏ nhẹ” xin phép anh nón cối:
“Đ... mạ, cho tao chửi mầy một tiếng,
Đất của cha, ông, sao mầy hiến cho Tàu?”
Tôi thấy đại úy Trạch vô cùng lính, mà cũng vẫn vô cùng thi sĩ. Chỉ có nhà thơ mới viết được hai chữ “đi em”, thường khi khó nghe, bằng những nét bộc trực dễ thương của anh thi sĩ xăng đá.
Độc giả, nhất là độc giả cựu ca ki, cười ngất thích thú. Họ thích vì anh dùng ngôn ngữ của họ, nói giúp họ những cảm nghĩ giận dữ trước cảnh Việt Cộng liên tục hiến đất, hiến biển cho Tàu; anh chụp hình được nét xăng đá cộc cằn mà bộc trực, rộng lượng, vị tha, dễ bỏ qua của người lính miền Nam, dù đôi khi có giận dữ “đi em” anh Vi Xi dội mưa pháo vào thành phố giết đến cả phụ nữ, bô lão và trẻ em vô tội.
Độc giả ca ki còn thấy bức hoạt họa vẽ chính mình trong những cơn mưa mùa lê thê không bao giờ tạnh, với điếu thuốc hút đến những ly cuối cùng làm đôi môi lạnh thâm hôn trên lòng bàn tay giá buốt; Trạch Gầm viết:
“Rừng Tây Nguyên mưa dặt dài thúi đất
Đôi giày sault chèm bẹp suốt tháng dài
Điếu thuốc ướt mèm, hôn tay se thắt
Khói súng khơi dòng... lửa đạn mù bay
Nhưng Trạch Gầm chỉ xăng đá với Vẹm; anh ngẩn ngơ và tin là cụ thi sĩ Nguyễn Du cũng ngẩn ngơ như anh trước người đẹp Trưng Vương; anh viết:
“Nguyễn Du cắn bút ngẩn ngơ
Tìm đâu nữa nhỉ... nàng thơ đây rồi
Mắt Trưng Vương sáng nụ cười
Người Trưng Vương đến... đất trời ngẩn ngơ
Tôi hoàn toàn chia với Trạch Gầm cái ngẩn ngơ Trưng Vương: ngày còn hơi trẻ, 32 năm trước, tôi cũng ngẩn ngơ với Phượng (trong chuyện ngắn Đôi Mắt Phượng), mặc dù mới chi bị “mắt” Trưng Vương thôi miên, chớ chưa bao giờ được ngẩn ngơ với “người” Trưng Vương.
Tôi thích câu Trạch Gầm xin phép anh Vi Xi cho Trạch chửi anh ta một tiếng; tôi chia với Trạch giây ngắn ngẩn ngơ nhận ra là mình hôn lòng bàn tay mình khi đóm lửa của điếu thuốc tàn đốt lóng tay; và tôi vừa thú nhận ở trên là tôi cũng chia giấc mơ Trưng Vương với Trạch.
Tôi và một triệu lính khác cũng đã cùng khóc khi Trạch “khóc hết sức thật thà” vào phút “tổng thống” ra lệnh buông súng. Trạch viết:
“Em cho phép,
Nhưng không bao giờ em biết
Một ngày thôi, một ngày thật của ta
Ta đã khóc tan hoang, khóc hết sức thật thà
Không khóc vì em mà vì những đứa làm lính
Bài học đầu hàng
Ta không bao giờ tính
Ta đếm lại vết thương thành sẹo bên mình
Có thể với em, ta lẩn thẩn vô tình
Nhưng với quê hương, ta không vô tình thế được”
Tôi cũng đã “khóc tan hoang, khóc hết sức thật thà” ngày ông Dương Văn Minh lải nhải đầu hàng, và tôi tin rằng không một người lính nào không khóc trong thất vọng, khóc trong tủi nhục ngày miền Nam bị bức tử, ngày chiến tranh ngã ngũ hết sức vô lý đó.
Viết về thơ Trạch Gầm tôi viết không bao giờ hết, hoặc chỉ cần viết một chữ “thích”; tôi thích thơ anh vì những vần thơ đó đã nói giúp tôi và những người bạn đồng đội khác của tôi, của anh, nói lên những điều chúng tôi không đủ can đảm nói thật như anh.
Và anh Trạch nói rất có duyên, nói bằng vần, bằng điệu.
Xin bạn đọc cũng yêu thơ anh Trạch như tôi rất yêu.”
VÀO CHỦ NHẬT 25 THÁNG 10 NĂM 2009
66 bài thơ mới của thi sĩ Trạch Gầm đã được in thành sách và ra mắt chiến hữu, độc giả và thân hữu
vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhựt 25 tháng 10 năm 2009 tại Thư Viện Việt Nam, địa chỉ 10872 Westminster Avenue, suites 214 & 215
(trên lầu chợ Người Việt, góc Westminster và Euclid).
Trạch Gầm sẽ ngâm thơ bên cạnh chương trình văn nghệ rất lạ, rất độc đáo. Theo lời của các tiếng hát, giọng ngâm và giọng đọc, phải dành cho khách đến dự một sự ngạc nhiên thích thú nên không giới thiệu sâu vào chi tiết chương trình văn nghệ.Vả lại, vẫn theo những thân hữu này, mục đích của hôm ấy là ra mắt thi tập thứ 2 của Trạch Gầm.
Tưởng cũng cần nhắc lại, khi tập thơ Vụn Vặt của Trạch Gầm được ra mắt cũng tại Thư Viện Việt Nam 2 năm trước, chẳng những khách đến đông mà buổi sinh hoạt có không khí rất riêng, rất lạ. Và tập thơ Vụn Vặt phải tái bản liền sau vài tháng phát hành.
Trong thi tập Ráng Chịu, nhà văn quân đội Nguyễn Đạt Thịnh có viết giới thiệu:
“Đọc Trạch Gầm “nhỏ nhẹ” xin phép anh nón cối:
“Đ... mạ, cho tao chửi mầy một tiếng,
Đất của cha, ông, sao mầy hiến cho Tàu?”
Tôi thấy đại úy Trạch vô cùng lính, mà cũng vẫn vô cùng thi sĩ. Chỉ có nhà thơ mới viết được hai chữ “đi em”, thường khi khó nghe, bằng những nét bộc trực dễ thương của anh thi sĩ xăng đá.
Độc giả, nhất là độc giả cựu ca ki, cười ngất thích thú. Họ thích vì anh dùng ngôn ngữ của họ, nói giúp họ những cảm nghĩ giận dữ trước cảnh Việt Cộng liên tục hiến đất, hiến biển cho Tàu; anh chụp hình được nét xăng đá cộc cằn mà bộc trực, rộng lượng, vị tha, dễ bỏ qua của người lính miền Nam, dù đôi khi có giận dữ “đi em” anh Vi Xi dội mưa pháo vào thành phố giết đến cả phụ nữ, bô lão và trẻ em vô tội.
Độc giả ca ki còn thấy bức hoạt họa vẽ chính mình trong những cơn mưa mùa lê thê không bao giờ tạnh, với điếu thuốc hút đến những ly cuối cùng làm đôi môi lạnh thâm hôn trên lòng bàn tay giá buốt; Trạch Gầm viết:
“Rừng Tây Nguyên mưa dặt dài thúi đất
Đôi giày sault chèm bẹp suốt tháng dài
Điếu thuốc ướt mèm, hôn tay se thắt
Khói súng khơi dòng... lửa đạn mù bay
Nhưng Trạch Gầm chỉ xăng đá với Vẹm; anh ngẩn ngơ và tin là cụ thi sĩ Nguyễn Du cũng ngẩn ngơ như anh trước người đẹp Trưng Vương; anh viết:
“Nguyễn Du cắn bút ngẩn ngơ
Tìm đâu nữa nhỉ... nàng thơ đây rồi
Mắt Trưng Vương sáng nụ cười
Người Trưng Vương đến... đất trời ngẩn ngơ
Tôi hoàn toàn chia với Trạch Gầm cái ngẩn ngơ Trưng Vương: ngày còn hơi trẻ, 32 năm trước, tôi cũng ngẩn ngơ với Phượng (trong chuyện ngắn Đôi Mắt Phượng), mặc dù mới chi bị “mắt” Trưng Vương thôi miên, chớ chưa bao giờ được ngẩn ngơ với “người” Trưng Vương.
Tôi thích câu Trạch Gầm xin phép anh Vi Xi cho Trạch chửi anh ta một tiếng; tôi chia với Trạch giây ngắn ngẩn ngơ nhận ra là mình hôn lòng bàn tay mình khi đóm lửa của điếu thuốc tàn đốt lóng tay; và tôi vừa thú nhận ở trên là tôi cũng chia giấc mơ Trưng Vương với Trạch.
Tôi và một triệu lính khác cũng đã cùng khóc khi Trạch “khóc hết sức thật thà” vào phút “tổng thống” ra lệnh buông súng. Trạch viết:
“Em cho phép,
Nhưng không bao giờ em biết
Một ngày thôi, một ngày thật của ta
Ta đã khóc tan hoang, khóc hết sức thật thà
Không khóc vì em mà vì những đứa làm lính
Bài học đầu hàng
Ta không bao giờ tính
Ta đếm lại vết thương thành sẹo bên mình
Có thể với em, ta lẩn thẩn vô tình
Nhưng với quê hương, ta không vô tình thế được”
Tôi cũng đã “khóc tan hoang, khóc hết sức thật thà” ngày ông Dương Văn Minh lải nhải đầu hàng, và tôi tin rằng không một người lính nào không khóc trong thất vọng, khóc trong tủi nhục ngày miền Nam bị bức tử, ngày chiến tranh ngã ngũ hết sức vô lý đó.
Viết về thơ Trạch Gầm tôi viết không bao giờ hết, hoặc chỉ cần viết một chữ “thích”; tôi thích thơ anh vì những vần thơ đó đã nói giúp tôi và những người bạn đồng đội khác của tôi, của anh, nói lên những điều chúng tôi không đủ can đảm nói thật như anh.
Và anh Trạch nói rất có duyên, nói bằng vần, bằng điệu.
Xin bạn đọc cũng yêu thơ anh Trạch như tôi rất yêu.”
Từ Công Phụng, hạnh phúc tựa những lời nói dối
Du Tử Lê
Từ Công Phụng, Du Tử Lê

Trần Thiện Hiệp, Du Tử Lê, Vũ Thành An, Từ Công Phụng (Tiếp theo và hết)
Với tiêu chí tự đặt cho mình: “Nhạc phải cho hay, lời phải cho đẹp và ý nghĩa;” Từ Công Phụng đã đem đến cho giới thưởng ngoạn những tình khúc sang cả, mượt mà từ nhạc tới lời. Nhưng ông không chỉ cho thấy khả năng viết ca từ với những câu đầy thi tính mà, trong nhiều ca khúc của họ Từ, người ta còn thấy sự hiện diện cùng lúc, những ca từ như thơ và những ngôn ngữ dung dị, đời thường.
Bạn tôi, một lần, kể rằng giữa lúc đang chăm chú làm việc, khi không, một đoạn nhạc của Từ Công Phụng đã dềnh lên trong đầu bạn tôi. Ðó là hai câu: “Ðôi mắt em rất buồn / đôi chúng ta rất buồn...” (ca khúc “Mắt Lệ Cho Người”) “Ðôi mắt em rất buồn” hay “quá buồn,” là một câu nói đơn giản. Ở đời thường, một lúc nào đó, có thể chúng ta cũng đã từng buột miệng, nói như vậy, với người thương yêu của mình. Nhưng cũng trong ca khúc này, trước đấy, lại là những câu mang tính văn chương bác học, với chủ tâm (tình cờ) nhân cách hoá “mưa” và “rong rêu”; khi tác giả viết: “Mưa soi dấu chân em qua cầu / theo những cánh rong cưu mang niềm đau.” Bạn tôi nói, những ca từ đơn giản này, như có năng lực huyền bí, thẩm, nhập, rồi tiềm phục đâu đó, trong vô thức của bạn tôi. Tôi cho đó cũng là một trong những nét đặc thù của tình khúc Từ Công Phụng.
Sự kiện vừa kể, khiến tôi liên tưởng tới khí hậu trong cõi giới tình ca của Phụng. Khí hậu trong nhạc tình Từ Công Phụng, theo cảm nhận của tôi, là cái khí hậu ẩm đục những cơn mưa. Ðầm đìa những lệ mặn, chát đắng những quá khứ. La đà những cây, trái thất lạc tương lai. Ðồng thời, người nghe cũng có thể cảm được những tay ôm, vỗ về của biển. Những chân đi chập chùng của gió. Những rét mướt của rừng. Những bơ vơ của núi. Những ngơ ngác phố cũ. Những rữa nát thềm xưa. Những cỏ cây. Chim muông. Hình bóng. Kỷ niệm... Tất cả, dường đã cùng thức dậy, đứng lên, buồn bã, chông chênh bước vào tâm hồn người thưởng ngoạn. Vì trong rất nhiều tình khúc của Phụng, hạnh phúc đã tựa như lời nói dối; nếu hiểu, tình yêu, vốn là điều không thật! Nói tới tình ca, tôi nhớ, tình cờ đọc được ở đâu đó, trước Tháng Tư, 1975, một câu của nhạc sĩ Phạm Duy, in trang trọng nơi trang đầu một tuyển tập nhạc tình của ông. Ðại ý ông tỏ dấu tiếc đã không dành hết quãng đời viết nhạc của mình, cho sự ngợi ca tình yêu. Tôi thú vị lắm, phải nói thế, khi đọc lời tâm sự buồn bã nhưng rất thực của người viết nhạc lớp trước. Tình yêu, cách nào khác, tôi nghĩ, chính là khuôn mặt chập lại, sáng lên cùng lúc: Sự sống và lẽ chết.
Nói tới tình ca, cũng là nói tới bước đường mà, chẳng một nhạc sĩ nào không ít, nhiều kinh qua. Nó giống như cánh cửa mê hoặc đầy cạm bẫy sinh / tử của thể thơ lục bát, với những người làm thơ vậy. Tình ca, cái thế giới mầu nhiệm, thần thánh của tuổi trẻ? Hay nó là mặt bên kia của cảm nhận địa ngục, thiên đường; hắt lên từ một dương gian hiu quạnh? Lại nữa, những tình khúc của họ Từ, hình như đã không chỉ như những tình khúc hiểu theo nghĩa một sáng tác nói về tình yêu đôi lứa. Ẩn giữa những dòng nhạc, giấu trong những lời ca, mỗi tình khúc của Từ Công Phụng còn là một thánh thoát êm đềm, dù cho nhạc phẩm nói về một tình yêu đổ vỡ. Ở đâu đó, trong những dòng nhạc, giữa những từ ngữ, vẫn thấp thoáng một nhân sinh quan đầy cam chịu và độ lượng.
Từ những cảm nhận trên, tôi thấy, một trong những nét đặc thù của sinh hoạt âm nhạc miền Nam trước Tháng Tư, 1975, là sự góp mặt đông đảo và sự phồn thịnh sáng tác của nhiều người viết nhạc. Nhưng, nói như thế, không có nghĩa tất cả những người sáng tác nhạc đều trở thành nhạc sĩ. Ðịnh đề khắc nghiệt của nghệ thuật là, giá trị thực hữu trong sáng tác, phải được ấn chứng bởi ngọn lửa thời gian bạo liệt. Thời gian tuồng keo kiệt nụ cười trước mỗi lao tác tinh thần, tự nguyện. Mặc dù, cuối cùng, thời gian, cũng vẫn là đôi tay duy nhất, nâng niu, gìn gìn giữ cho chúng ta, những hạt ngọc. Trong biển sống cuồn cuộn của nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng thì, mỗi tài hoa tiêu biểu cho một dòng sống. Kẻ đại diện dòng sống đó, được quần chúng ngắm nhìn, yêu thích, như một phần đời dậy hương của chính họ. Trong nghĩa này, Từ Công Phụng là người đã được giới thưởng ngoạn chọn lựa. ông là đại diện thân ái nhất cho dòng suối tình ca lênh đênh ly biệt, của hai mươi năm tân nhạc Nam, Việt Nam.
Là một trong những ngọn thác âm giai chảy từ đầu nguồn riêng lẻ, đời nhạc Từ Công Phụng, nhìn lại, từ điểm đứng tỵ nạn, nửa vòng trái đất, tôi thấy, trước sau, vẫn đằm đằm sang-cả-buồn-bã, mới. Từ điểm đứng kia, tôi chợt hiểu sự kỳ diệu của âm nhạc, không chỉ là những phối ngẫu toàn hảo giữa âm giai và ca từ mà, âm nhạc, ở độ chín nào đó, còn là những hồi chuông lung linh kỷ niệm khôn nguôi, một đời vậy. Bạn có quyền không đồng ý những cảm nhận của tôi. Bạn cũng có quyền cất tiếng thảo luận với nhạc sĩ... Nhưng trước đó, tôi đề nghị, bạn nên có một lần, buông, thả thân, tâm mình trong dòng suối tình khúc của họ Từ. Dù cho, hạnh phúc trong tình khúc Từ Công Phụng có tựa như những lời nói dối!
Du Tử Lê,
(Calif. 7 Tháng Mười, 2009)
Du Tử Lê
Từ Công Phụng, Du Tử Lê

Trần Thiện Hiệp, Du Tử Lê, Vũ Thành An, Từ Công Phụng (Tiếp theo và hết)
Với tiêu chí tự đặt cho mình: “Nhạc phải cho hay, lời phải cho đẹp và ý nghĩa;” Từ Công Phụng đã đem đến cho giới thưởng ngoạn những tình khúc sang cả, mượt mà từ nhạc tới lời. Nhưng ông không chỉ cho thấy khả năng viết ca từ với những câu đầy thi tính mà, trong nhiều ca khúc của họ Từ, người ta còn thấy sự hiện diện cùng lúc, những ca từ như thơ và những ngôn ngữ dung dị, đời thường.
Bạn tôi, một lần, kể rằng giữa lúc đang chăm chú làm việc, khi không, một đoạn nhạc của Từ Công Phụng đã dềnh lên trong đầu bạn tôi. Ðó là hai câu: “Ðôi mắt em rất buồn / đôi chúng ta rất buồn...” (ca khúc “Mắt Lệ Cho Người”) “Ðôi mắt em rất buồn” hay “quá buồn,” là một câu nói đơn giản. Ở đời thường, một lúc nào đó, có thể chúng ta cũng đã từng buột miệng, nói như vậy, với người thương yêu của mình. Nhưng cũng trong ca khúc này, trước đấy, lại là những câu mang tính văn chương bác học, với chủ tâm (tình cờ) nhân cách hoá “mưa” và “rong rêu”; khi tác giả viết: “Mưa soi dấu chân em qua cầu / theo những cánh rong cưu mang niềm đau.” Bạn tôi nói, những ca từ đơn giản này, như có năng lực huyền bí, thẩm, nhập, rồi tiềm phục đâu đó, trong vô thức của bạn tôi. Tôi cho đó cũng là một trong những nét đặc thù của tình khúc Từ Công Phụng.
Sự kiện vừa kể, khiến tôi liên tưởng tới khí hậu trong cõi giới tình ca của Phụng. Khí hậu trong nhạc tình Từ Công Phụng, theo cảm nhận của tôi, là cái khí hậu ẩm đục những cơn mưa. Ðầm đìa những lệ mặn, chát đắng những quá khứ. La đà những cây, trái thất lạc tương lai. Ðồng thời, người nghe cũng có thể cảm được những tay ôm, vỗ về của biển. Những chân đi chập chùng của gió. Những rét mướt của rừng. Những bơ vơ của núi. Những ngơ ngác phố cũ. Những rữa nát thềm xưa. Những cỏ cây. Chim muông. Hình bóng. Kỷ niệm... Tất cả, dường đã cùng thức dậy, đứng lên, buồn bã, chông chênh bước vào tâm hồn người thưởng ngoạn. Vì trong rất nhiều tình khúc của Phụng, hạnh phúc đã tựa như lời nói dối; nếu hiểu, tình yêu, vốn là điều không thật! Nói tới tình ca, tôi nhớ, tình cờ đọc được ở đâu đó, trước Tháng Tư, 1975, một câu của nhạc sĩ Phạm Duy, in trang trọng nơi trang đầu một tuyển tập nhạc tình của ông. Ðại ý ông tỏ dấu tiếc đã không dành hết quãng đời viết nhạc của mình, cho sự ngợi ca tình yêu. Tôi thú vị lắm, phải nói thế, khi đọc lời tâm sự buồn bã nhưng rất thực của người viết nhạc lớp trước. Tình yêu, cách nào khác, tôi nghĩ, chính là khuôn mặt chập lại, sáng lên cùng lúc: Sự sống và lẽ chết.
Nói tới tình ca, cũng là nói tới bước đường mà, chẳng một nhạc sĩ nào không ít, nhiều kinh qua. Nó giống như cánh cửa mê hoặc đầy cạm bẫy sinh / tử của thể thơ lục bát, với những người làm thơ vậy. Tình ca, cái thế giới mầu nhiệm, thần thánh của tuổi trẻ? Hay nó là mặt bên kia của cảm nhận địa ngục, thiên đường; hắt lên từ một dương gian hiu quạnh? Lại nữa, những tình khúc của họ Từ, hình như đã không chỉ như những tình khúc hiểu theo nghĩa một sáng tác nói về tình yêu đôi lứa. Ẩn giữa những dòng nhạc, giấu trong những lời ca, mỗi tình khúc của Từ Công Phụng còn là một thánh thoát êm đềm, dù cho nhạc phẩm nói về một tình yêu đổ vỡ. Ở đâu đó, trong những dòng nhạc, giữa những từ ngữ, vẫn thấp thoáng một nhân sinh quan đầy cam chịu và độ lượng.
Từ những cảm nhận trên, tôi thấy, một trong những nét đặc thù của sinh hoạt âm nhạc miền Nam trước Tháng Tư, 1975, là sự góp mặt đông đảo và sự phồn thịnh sáng tác của nhiều người viết nhạc. Nhưng, nói như thế, không có nghĩa tất cả những người sáng tác nhạc đều trở thành nhạc sĩ. Ðịnh đề khắc nghiệt của nghệ thuật là, giá trị thực hữu trong sáng tác, phải được ấn chứng bởi ngọn lửa thời gian bạo liệt. Thời gian tuồng keo kiệt nụ cười trước mỗi lao tác tinh thần, tự nguyện. Mặc dù, cuối cùng, thời gian, cũng vẫn là đôi tay duy nhất, nâng niu, gìn gìn giữ cho chúng ta, những hạt ngọc. Trong biển sống cuồn cuộn của nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng thì, mỗi tài hoa tiêu biểu cho một dòng sống. Kẻ đại diện dòng sống đó, được quần chúng ngắm nhìn, yêu thích, như một phần đời dậy hương của chính họ. Trong nghĩa này, Từ Công Phụng là người đã được giới thưởng ngoạn chọn lựa. ông là đại diện thân ái nhất cho dòng suối tình ca lênh đênh ly biệt, của hai mươi năm tân nhạc Nam, Việt Nam.
Là một trong những ngọn thác âm giai chảy từ đầu nguồn riêng lẻ, đời nhạc Từ Công Phụng, nhìn lại, từ điểm đứng tỵ nạn, nửa vòng trái đất, tôi thấy, trước sau, vẫn đằm đằm sang-cả-buồn-bã, mới. Từ điểm đứng kia, tôi chợt hiểu sự kỳ diệu của âm nhạc, không chỉ là những phối ngẫu toàn hảo giữa âm giai và ca từ mà, âm nhạc, ở độ chín nào đó, còn là những hồi chuông lung linh kỷ niệm khôn nguôi, một đời vậy. Bạn có quyền không đồng ý những cảm nhận của tôi. Bạn cũng có quyền cất tiếng thảo luận với nhạc sĩ... Nhưng trước đó, tôi đề nghị, bạn nên có một lần, buông, thả thân, tâm mình trong dòng suối tình khúc của họ Từ. Dù cho, hạnh phúc trong tình khúc Từ Công Phụng có tựa như những lời nói dối!
Du Tử Lê,
(Calif. 7 Tháng Mười, 2009)
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Thư của thế hệ trẻ Việt Nam hải ngoại gửi ông Đào Duy Quát
Kính gửi chú Đào Duy Quát,
Trước hết, cháu tự giới thiệu tên cháu là Nguyễn Hồng Vân, sinh viên Trường Cao đẳng Golden West thuộc bang California, Hoa Kỳ. Cháu được sanh và lớn lên tại Hoa Kỳ, cho nên cháu là một công dân Hoa Kỳ và cháu có trách nhiệm với đất nước Hoa Kỳ như quê hương của cháu. Tuy nhiên, hôm nay cháu mạo muội viết thư này đến chú với tư cách là một con dân Việt Nam (nếu đất nước Việt Nam vẫn còn coi cháu như một đứa con đất Việt). Cháu xin được viết thẳng vào vấn đề.
Lý do cháu viết thư này cho chú là bởi bài báo chú cho đăng tải trên báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, bài báo “Hải quân Trung Quốc tập trận tại Biển Đông”, được dịch từ báo Hoàn cầu, một tờ báo chính thống của nhà nước Trung Quốc. Mặc dù chú có lời giải trình là do “lỗi kỷ thuật”, là do thiếu sót từ “ngang ngược”. Sự thanh mình này cháu không thể nào chấp nhận được.
Thưa chú Đào Duy Quát,
Thứ nhất, nguyên tắc dịch thuật nguyên văn một bài viết thì không thể nào thêm thắt từ ngữ với ý đồ làm thay đổi nội dung hoặc ý nghĩa của bài viết đó mà không có sự chấp thuận của tác giả. Không lẽ, báo Hoàn cầu đã đồng ý cho chú thêm từ “ngang ngược” vào bài viết của họ? Nếu không, thì đạo đức nhà báo có thể nào cho phép chúng ta tùy tiện thêm bớt, cắt xén, thay đổi như thế được hay không? Là Tổng biên tập một tờ báo lớn nhất trong nước chú hẳn biết rõ điều này.
Nguy hiểm hơn là bài báo đó hoàn toàn đứng trên lập trường của Trung Quốc, một lập trường mang tính bá quyền, hung bạo mà đã thể hiện rõ ngay trong nội dung bài báo. Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc từ khi nào mà họ dám ngang nhiên tuyên bố là Tây Sa và Nam Sa? Có phải từ lúc Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 như phóng sự trên báo Tuổi trẻ và từ cuộc xâm lược Trường Sa năm 1988? Giả sử nếu hải quân Việt Nam tập trận trong khu vực đảo Hải Nam thì phản ứng của Trung Quốc sẽ như thế nào? Im lặng? Phản đối trên báo đài? Hay nã súng thẳng vào quân đội Việt Nam?
Vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo là vấn đề sanh tử, là vận mệnh của cả một Dân Tộc. Cháu đã suy nghĩ nhiều và thật tâm cháu không thể tìm được một lý do nào để đính chính cho bài báo “Hải quân Trung Quốc tập trận tại Biển Đông” mà chú là người chịu trách nhiệm cao nhất. Chỉ có thể nói đó là một bài báo phản bội lại Tổ Quốc, phản bội lại anh linh liệt vị Tổ Tiên và là mối nhục cho 90 triệu con dân nước Việt.
Thưa chú Đào Duy Quát,
Cháu, và có lẽ tất cả người Việt, mong muốn có cuộc sống hòa bình với thế giới và đặc biệt là người hàng xóm khổng lồ phương Bắc, và cháu sẵn sàng đóng góp trí lực nhỏ bé của mình cho nền hòa bình đó; tuy nhiên, cháu không thể ngu ngơ cả tin. Lịch sử bi thương “1000 năm đô hộ giặc Tầu” còn đó. Cháu tự tìm hiểu về cuộc xâm lược năm 1979 và cháu cho rằng đó là một cuộc chiến tranh ngắn nhất nhưng đẫm máu nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử của Dân Tộc Việt Nam. Chú là một cán bộ cao cấp, sống trong nước và trải qua giai đoạn đau thương đó chắc chắn chú còn biết nhiều hơn cháu. Gần đây hơn là những vụ việc hải quân Trung Quốc bắn giết ngư dân Việt Nam, cấm đánh cá ngay trong vùng biển Việt Nam, bắt thuyền của ngư dân Việt Nam rồi đòi tiền chuộc người chuộc thuyền (có khác chi hành động của bọn hải tặc Somalia). Là một người trẻ, cháu cũng vô tư, yêu đời và yêu người, nhưng lịch sử và bằng chứng thực tế rành rành trước mắt cho cháu đủ dữ kiện để nghi ngờ lòng “hữu hảo” của chính quyền Trung Quốc cũng như “16 chữ vàng” và “4 tốt” của họ.
Cháu được đọc những trang sử và giai thoại hào hùng của Ông Cha ta. Có kẻ chết vì hèn yếu, Như Hành khiển Hồ Nghiện Thần chết trong ô nhục vì không giữ được quốc thể. Có vị chết vì Dân vì Nước tạo một chấm son trên trang sử nước nhà, như nghĩa liệt sĩ Nguyễn Biểu thời hậu Trần xin được đi sứ cầu hòa trong giai đoạn vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc, mặc dù biết trước lần đi này không có ngày trở về. Quả thật đúng như vậy, tướng Trương Phụ nhà Minh đã hèn mạt giết Nguyễn Biểu chỉ vì Ông đã hiên ngang đối đáp và kiên quyết không để giặc làm nhục quốc thể. Ông mất năm 1413. Cái chết của vị anh hùng Nguyễn Biểu làm toàn dân, vua, quan tiếc thương đau xót. Nhưng có lẽ cũng chính từ sự hy sinh đó, đúng 5 năm sau, năm 1418 toàn dân tộc Việt Nam đã nổi dậy đánh đuổi giặc Minh, đến năm 1427 buộc chúng phải rút khỏi bờ cõi, đem lại nền độc lập và tự trị cho nước nhà [*].
Thưa chú Đào Duy Quát,
Một lần nữa, lịch sử cho chúng ta bài học muôn đời: người lãnh đạo phải có cái dũng khí của kẻ sĩ, cái tâm vì Dân, tấm lòng vì Nước, và chỉ có sức mạnh toàn dân mới giữ vững được cơ đồ.
Đất nước ngày nay đã có những thay đổi, đã hội nhập với thế giới nhiều hơn, đã có những thế mạnh, nhưng không phải là không có những nguy cơ mà nguy cơ mất nước không phải là không có căn cứ.
Cháu là một người trẻ xa quê, trí chưa đủ lớn, nhìn chưa đủ xa, nhưng những gì cháu viết cho chú là từ tất cả tấm lòng chân thành nghĩ đến Tổ Tiên, đến bao Anh Hùng Liệt Nữ đã cống hiến xương trắng máu đào để xây dựng, gìn giữ cho chúng ta một đất nước Việt Nam đẹp đẽ như thế này. Chúng ta không thể nào để mất được chú ạ!
Thế hệ con cháu của cháu sau này, hay ngay cả thế hệ cháu, có còn ngẩng mặt gọi 2 tiếng Việt Nam được hay không phần lớn nhờ vào dũng khí của thế hệ chú bác ngày nay.
Tiếng Việt của cháu đôi khi cũng chưa thông, nếu có viết điều gì sơ suất mong chú lượng thứ.
Chúc chú sức khỏe.
Kính chào,
Nguyễn Hồng Vân
Kính gửi chú Đào Duy Quát,
Trước hết, cháu tự giới thiệu tên cháu là Nguyễn Hồng Vân, sinh viên Trường Cao đẳng Golden West thuộc bang California, Hoa Kỳ. Cháu được sanh và lớn lên tại Hoa Kỳ, cho nên cháu là một công dân Hoa Kỳ và cháu có trách nhiệm với đất nước Hoa Kỳ như quê hương của cháu. Tuy nhiên, hôm nay cháu mạo muội viết thư này đến chú với tư cách là một con dân Việt Nam (nếu đất nước Việt Nam vẫn còn coi cháu như một đứa con đất Việt). Cháu xin được viết thẳng vào vấn đề.
Lý do cháu viết thư này cho chú là bởi bài báo chú cho đăng tải trên báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, bài báo “Hải quân Trung Quốc tập trận tại Biển Đông”, được dịch từ báo Hoàn cầu, một tờ báo chính thống của nhà nước Trung Quốc. Mặc dù chú có lời giải trình là do “lỗi kỷ thuật”, là do thiếu sót từ “ngang ngược”. Sự thanh mình này cháu không thể nào chấp nhận được.
Thưa chú Đào Duy Quát,
Thứ nhất, nguyên tắc dịch thuật nguyên văn một bài viết thì không thể nào thêm thắt từ ngữ với ý đồ làm thay đổi nội dung hoặc ý nghĩa của bài viết đó mà không có sự chấp thuận của tác giả. Không lẽ, báo Hoàn cầu đã đồng ý cho chú thêm từ “ngang ngược” vào bài viết của họ? Nếu không, thì đạo đức nhà báo có thể nào cho phép chúng ta tùy tiện thêm bớt, cắt xén, thay đổi như thế được hay không? Là Tổng biên tập một tờ báo lớn nhất trong nước chú hẳn biết rõ điều này.
Nguy hiểm hơn là bài báo đó hoàn toàn đứng trên lập trường của Trung Quốc, một lập trường mang tính bá quyền, hung bạo mà đã thể hiện rõ ngay trong nội dung bài báo. Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc từ khi nào mà họ dám ngang nhiên tuyên bố là Tây Sa và Nam Sa? Có phải từ lúc Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 như phóng sự trên báo Tuổi trẻ và từ cuộc xâm lược Trường Sa năm 1988? Giả sử nếu hải quân Việt Nam tập trận trong khu vực đảo Hải Nam thì phản ứng của Trung Quốc sẽ như thế nào? Im lặng? Phản đối trên báo đài? Hay nã súng thẳng vào quân đội Việt Nam?
Vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo là vấn đề sanh tử, là vận mệnh của cả một Dân Tộc. Cháu đã suy nghĩ nhiều và thật tâm cháu không thể tìm được một lý do nào để đính chính cho bài báo “Hải quân Trung Quốc tập trận tại Biển Đông” mà chú là người chịu trách nhiệm cao nhất. Chỉ có thể nói đó là một bài báo phản bội lại Tổ Quốc, phản bội lại anh linh liệt vị Tổ Tiên và là mối nhục cho 90 triệu con dân nước Việt.
Thưa chú Đào Duy Quát,
Cháu, và có lẽ tất cả người Việt, mong muốn có cuộc sống hòa bình với thế giới và đặc biệt là người hàng xóm khổng lồ phương Bắc, và cháu sẵn sàng đóng góp trí lực nhỏ bé của mình cho nền hòa bình đó; tuy nhiên, cháu không thể ngu ngơ cả tin. Lịch sử bi thương “1000 năm đô hộ giặc Tầu” còn đó. Cháu tự tìm hiểu về cuộc xâm lược năm 1979 và cháu cho rằng đó là một cuộc chiến tranh ngắn nhất nhưng đẫm máu nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử của Dân Tộc Việt Nam. Chú là một cán bộ cao cấp, sống trong nước và trải qua giai đoạn đau thương đó chắc chắn chú còn biết nhiều hơn cháu. Gần đây hơn là những vụ việc hải quân Trung Quốc bắn giết ngư dân Việt Nam, cấm đánh cá ngay trong vùng biển Việt Nam, bắt thuyền của ngư dân Việt Nam rồi đòi tiền chuộc người chuộc thuyền (có khác chi hành động của bọn hải tặc Somalia). Là một người trẻ, cháu cũng vô tư, yêu đời và yêu người, nhưng lịch sử và bằng chứng thực tế rành rành trước mắt cho cháu đủ dữ kiện để nghi ngờ lòng “hữu hảo” của chính quyền Trung Quốc cũng như “16 chữ vàng” và “4 tốt” của họ.
Cháu được đọc những trang sử và giai thoại hào hùng của Ông Cha ta. Có kẻ chết vì hèn yếu, Như Hành khiển Hồ Nghiện Thần chết trong ô nhục vì không giữ được quốc thể. Có vị chết vì Dân vì Nước tạo một chấm son trên trang sử nước nhà, như nghĩa liệt sĩ Nguyễn Biểu thời hậu Trần xin được đi sứ cầu hòa trong giai đoạn vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc, mặc dù biết trước lần đi này không có ngày trở về. Quả thật đúng như vậy, tướng Trương Phụ nhà Minh đã hèn mạt giết Nguyễn Biểu chỉ vì Ông đã hiên ngang đối đáp và kiên quyết không để giặc làm nhục quốc thể. Ông mất năm 1413. Cái chết của vị anh hùng Nguyễn Biểu làm toàn dân, vua, quan tiếc thương đau xót. Nhưng có lẽ cũng chính từ sự hy sinh đó, đúng 5 năm sau, năm 1418 toàn dân tộc Việt Nam đã nổi dậy đánh đuổi giặc Minh, đến năm 1427 buộc chúng phải rút khỏi bờ cõi, đem lại nền độc lập và tự trị cho nước nhà [*].
Thưa chú Đào Duy Quát,
Một lần nữa, lịch sử cho chúng ta bài học muôn đời: người lãnh đạo phải có cái dũng khí của kẻ sĩ, cái tâm vì Dân, tấm lòng vì Nước, và chỉ có sức mạnh toàn dân mới giữ vững được cơ đồ.
Đất nước ngày nay đã có những thay đổi, đã hội nhập với thế giới nhiều hơn, đã có những thế mạnh, nhưng không phải là không có những nguy cơ mà nguy cơ mất nước không phải là không có căn cứ.
Cháu là một người trẻ xa quê, trí chưa đủ lớn, nhìn chưa đủ xa, nhưng những gì cháu viết cho chú là từ tất cả tấm lòng chân thành nghĩ đến Tổ Tiên, đến bao Anh Hùng Liệt Nữ đã cống hiến xương trắng máu đào để xây dựng, gìn giữ cho chúng ta một đất nước Việt Nam đẹp đẽ như thế này. Chúng ta không thể nào để mất được chú ạ!
Thế hệ con cháu của cháu sau này, hay ngay cả thế hệ cháu, có còn ngẩng mặt gọi 2 tiếng Việt Nam được hay không phần lớn nhờ vào dũng khí của thế hệ chú bác ngày nay.
Tiếng Việt của cháu đôi khi cũng chưa thông, nếu có viết điều gì sơ suất mong chú lượng thứ.
Chúc chú sức khỏe.
Kính chào,
Nguyễn Hồng Vân
Một Khám Phá Thú Vị
Lê Minh Mới mấy ngày hôm trước đây các thông tin trên mạng cho biết nhà báo Trần Khải Thanh Thủy bị công an gây khó dễ, tìm cách ngăn chận không cho chị xuống Hải Phòng để theo dõi vụ xử nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và hôm qua Thứ Năm 8/10/2009, công an xông vào nhà của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, vây đánh và ném đá gây thương tích cho cả 2 vợ chồng nhà văn này. Tức thì ngay ngày hôm nay 9/10 báo lề phải Dân Trí đã được công an “ủy thác” loan tin chị bị công an bắt về tội “Cố ý gây thương tích” người ... đi đường.
Đương nhiên đây là cái cớ do công an ngụy tạo để bắt chị, để chị không thể xuống Hải Phòng như dự định.
Theo hồ sơ dàn dựng của công an thì “khoảng 20h30 ngày 8/10, anh Đỗ Bá Tân (chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy) để xe máy cản lối đi lại tại 178 phố chợ Khâm Thiên”. Thế rồi ở đâu đó bỗng xuất hiện một anh chàng tên Điệp “đi qua góp ý và yêu cầu anh Tân dẹp xe để lấy lối đi nên dẫn đến cãi nhau”. Câu chuyện đến đây cứ tưởng như là 1001 câu chuyện “xe cán chó, chó cán xe” có thật xảy ra ở ngoài đời. Thế nhưng câu chuyện không chỉ dừng ở đó, mà tác giả Nguyên Đức đã “bắt” anh Tân phải “dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt anh Điệp” để câu chuyện thêm phần ly kỳ hấp dẫn, giống thiệt một chút.
Đương nhiên là câu chuyện “xô xát” chưa thể dừng ở đây vì nhân vật Trần Khải Thanh Thủy” chưa xuất hiện.
Nhà báo láo Nguyên Đức viết tiếp: “Trần Khải Thanh Thủy thấy chồng va chạm với anh Điệp trước cửa nhà đã cầm gạch ném trúng gáy anh Điệp gây thương tích. Anh Nguyễn Văn Thịnh đi qua thấy xô xát vào can ngăn cũng bị Thủy dùng gạch ném trúng cánh tay. Tiếp đó, Thủy vào nhà lấy một cây gậy gỗ dài 102cm quay ra vụt vào tay và người anh Điệp và anh Thịnh”.
Vì muốn bắt nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nên công an đã dàn dựng câu chuyện cho nhà báo nữ chân yếu tay mềm này “đánh gục” một nam nhi lực lưỡng như ông Điệp đến mức “chấn động não”, phải “đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đống Đa,... phải khâu nhiều mũi ở đầu, hiện vẫn trong tình trạng đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi…”.
Khi sự việc “xảy ra”, không biết công an núp ở chỗ nào mà đã có mặt nhanh tới mức “tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang” ngay tại chỗ. Đã gọi là quả tang, tức là trông thấy hành vi đang diễn tiến, vậy thì các vị “đầy tớ nhân dân” này, thông thường không dễ gì có mặt nhanh đến như vậy, đó là chưa nói đến cách làm việc vô trách nhiệm với người dân, mà sao bây giờ lại sốt sắng đến như thế.

Anh lực sĩ “điền đô” giả Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh “vỡ đầu”. Tuy nhiên cách hành văn câu chuyện của Nguyên Đức có phần lủng củng câu trước đá câu sau, chẳng hạn như ngay hôm xảy ra vụ việc là ngày 8/10 thì công an “đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang” rồi, vậy mà hôm sau 9/10, Công an quận Đống Đa lại “tiến hành tạm giữ hai đối tượng” thêm một lần nữa. Phải chăng kiểu bắt người như thế này được hiểu là nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và chồng là ông Đỗ Bá Tân bị lực lượng công an mật vụ của Bộ bắt ngày 8/10 rồi, cho nên ngày hôm sau lực lượng Công an quận Đống Đa phải “tiến hành tạm giữ hai đối tượng” để hợp thức hóa việc bắt người vô cớ này?
Để câu chuyện thêm phần thuyết phục, Nguyên Đức đã cho vào một tấm hình của ai đó, được cho là ông Điệp và một tấm hình chụp “Hung khí gây án bị Công an quận Đống Đa thu giữ”.

... và mớ hung khí được ngụy tạo. Tuy nhiên, gian mà không ngoa, cho nên những tấm hình này đã bị dân mạng lật tẩy. Có lẽ thành viên dieuvan trên mạng X-cafe là người đầu tiên đã để ý và phát hiện ra sự gian trá qua tấm hình “Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh vỡ đầu”. Đây là tấm hình được “chụp năm 2005 và được edit lại bằng Photoshop”, mà các chi tiết còn lưu lại bên trong tấm hình rõ ràng như sau:
Tấm hình chụp vào năm 2005; ngày 28 tháng 2 lúc 10 giờ 22 phút và 41 giây . data: 2005:02:28 10:22:41
Tấm hình trên được dùng Photoshop version 7.0 và được sửa lại năm 2009 ngày 9 tháng 10 lúc 17 giờ 14 phút 08 giây.
Thành viên dieuvan đã sử dụng WordPad để mở các dữ liệu lưu trữ gốc của tấm hình này. Các thành viên khác trên X-cafe cũng đã xác nhận sự khám phá của dieuvan thông qua phần “show properties” của Photoshop Adobe Photoshop Element 6.0 và “Properties Summary” của Window Explorer.
Như vậy rõ ràng nhà báo Nguyên Đức đã nhận chỉ thị viết láo, lấy râu ông này cắm cằm bà nọ mà cứ tưởng đâu rằng tất cả đọc giả trong và ngoài nước đều ngu ngơ, không thể nhận ra hư thật của câu chuyện “Trần Khải Thanh Thủy bị bắt về tội Cố ý gây thương tích”.
Dầu gì cũng xin cám ơn Nguyên Đức, vì nếu ông không sử dụng Photoshop để sửa tấm hình này thì làm gì có “sự khám phá thú vị” của dieuvan.
Thế này thì các chú công an hết chối rồi nhé. Đúng là “gậy ông đập lưng ông”.
Lê Minh
Sydney, ngày 9/10/2009
Lê Minh Mới mấy ngày hôm trước đây các thông tin trên mạng cho biết nhà báo Trần Khải Thanh Thủy bị công an gây khó dễ, tìm cách ngăn chận không cho chị xuống Hải Phòng để theo dõi vụ xử nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và hôm qua Thứ Năm 8/10/2009, công an xông vào nhà của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, vây đánh và ném đá gây thương tích cho cả 2 vợ chồng nhà văn này. Tức thì ngay ngày hôm nay 9/10 báo lề phải Dân Trí đã được công an “ủy thác” loan tin chị bị công an bắt về tội “Cố ý gây thương tích” người ... đi đường.
Đương nhiên đây là cái cớ do công an ngụy tạo để bắt chị, để chị không thể xuống Hải Phòng như dự định.
Theo hồ sơ dàn dựng của công an thì “khoảng 20h30 ngày 8/10, anh Đỗ Bá Tân (chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy) để xe máy cản lối đi lại tại 178 phố chợ Khâm Thiên”. Thế rồi ở đâu đó bỗng xuất hiện một anh chàng tên Điệp “đi qua góp ý và yêu cầu anh Tân dẹp xe để lấy lối đi nên dẫn đến cãi nhau”. Câu chuyện đến đây cứ tưởng như là 1001 câu chuyện “xe cán chó, chó cán xe” có thật xảy ra ở ngoài đời. Thế nhưng câu chuyện không chỉ dừng ở đó, mà tác giả Nguyên Đức đã “bắt” anh Tân phải “dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt anh Điệp” để câu chuyện thêm phần ly kỳ hấp dẫn, giống thiệt một chút.
Đương nhiên là câu chuyện “xô xát” chưa thể dừng ở đây vì nhân vật Trần Khải Thanh Thủy” chưa xuất hiện.
Nhà báo láo Nguyên Đức viết tiếp: “Trần Khải Thanh Thủy thấy chồng va chạm với anh Điệp trước cửa nhà đã cầm gạch ném trúng gáy anh Điệp gây thương tích. Anh Nguyễn Văn Thịnh đi qua thấy xô xát vào can ngăn cũng bị Thủy dùng gạch ném trúng cánh tay. Tiếp đó, Thủy vào nhà lấy một cây gậy gỗ dài 102cm quay ra vụt vào tay và người anh Điệp và anh Thịnh”.
Vì muốn bắt nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nên công an đã dàn dựng câu chuyện cho nhà báo nữ chân yếu tay mềm này “đánh gục” một nam nhi lực lưỡng như ông Điệp đến mức “chấn động não”, phải “đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đống Đa,... phải khâu nhiều mũi ở đầu, hiện vẫn trong tình trạng đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi…”.
Khi sự việc “xảy ra”, không biết công an núp ở chỗ nào mà đã có mặt nhanh tới mức “tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang” ngay tại chỗ. Đã gọi là quả tang, tức là trông thấy hành vi đang diễn tiến, vậy thì các vị “đầy tớ nhân dân” này, thông thường không dễ gì có mặt nhanh đến như vậy, đó là chưa nói đến cách làm việc vô trách nhiệm với người dân, mà sao bây giờ lại sốt sắng đến như thế.

Anh lực sĩ “điền đô” giả Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh “vỡ đầu”. Tuy nhiên cách hành văn câu chuyện của Nguyên Đức có phần lủng củng câu trước đá câu sau, chẳng hạn như ngay hôm xảy ra vụ việc là ngày 8/10 thì công an “đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang” rồi, vậy mà hôm sau 9/10, Công an quận Đống Đa lại “tiến hành tạm giữ hai đối tượng” thêm một lần nữa. Phải chăng kiểu bắt người như thế này được hiểu là nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và chồng là ông Đỗ Bá Tân bị lực lượng công an mật vụ của Bộ bắt ngày 8/10 rồi, cho nên ngày hôm sau lực lượng Công an quận Đống Đa phải “tiến hành tạm giữ hai đối tượng” để hợp thức hóa việc bắt người vô cớ này?
Để câu chuyện thêm phần thuyết phục, Nguyên Đức đã cho vào một tấm hình của ai đó, được cho là ông Điệp và một tấm hình chụp “Hung khí gây án bị Công an quận Đống Đa thu giữ”.

... và mớ hung khí được ngụy tạo. Tuy nhiên, gian mà không ngoa, cho nên những tấm hình này đã bị dân mạng lật tẩy. Có lẽ thành viên dieuvan trên mạng X-cafe là người đầu tiên đã để ý và phát hiện ra sự gian trá qua tấm hình “Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh vỡ đầu”. Đây là tấm hình được “chụp năm 2005 và được edit lại bằng Photoshop”, mà các chi tiết còn lưu lại bên trong tấm hình rõ ràng như sau:
Tấm hình chụp vào năm 2005; ngày 28 tháng 2 lúc 10 giờ 22 phút và 41 giây . data: 2005:02:28 10:22:41
Tấm hình trên được dùng Photoshop version 7.0 và được sửa lại năm 2009 ngày 9 tháng 10 lúc 17 giờ 14 phút 08 giây.
Thành viên dieuvan đã sử dụng WordPad để mở các dữ liệu lưu trữ gốc của tấm hình này. Các thành viên khác trên X-cafe cũng đã xác nhận sự khám phá của dieuvan thông qua phần “show properties” của Photoshop Adobe Photoshop Element 6.0 và “Properties Summary” của Window Explorer.
Như vậy rõ ràng nhà báo Nguyên Đức đã nhận chỉ thị viết láo, lấy râu ông này cắm cằm bà nọ mà cứ tưởng đâu rằng tất cả đọc giả trong và ngoài nước đều ngu ngơ, không thể nhận ra hư thật của câu chuyện “Trần Khải Thanh Thủy bị bắt về tội Cố ý gây thương tích”.
Dầu gì cũng xin cám ơn Nguyên Đức, vì nếu ông không sử dụng Photoshop để sửa tấm hình này thì làm gì có “sự khám phá thú vị” của dieuvan.
Thế này thì các chú công an hết chối rồi nhé. Đúng là “gậy ông đập lưng ông”.
Lê Minh
Sydney, ngày 9/10/2009

Tình Bạn Hầu hết chúng ta đều đồng ý và xem tình bạn là một phần thiết yếu của cuộc sống . Như nhà văn người Ý, Mazoni đã nói : " Một trong những hạnh phúc lớn của đời sống là tình bạn và một trong những hạnh phúc lớn của tình bạn là có người để chia xẻ, để gửi gắm một bí mật, một tâm tư". Và theo sự nghiên cứu của các nhà tâm lý học thì tình bạn là một chỗ trú ẩn an toàn và là một chìa khóa dẫn đến hạnh phúc trong cuộc sống của con người. Ngạn ngữ Anh cũng nói : " Without friends, the wolrd is but a wilderness - Không bạn bè, thế giới chỉ là một nơi hoang vắng".
Tình bạn có thể hiểu một cách đơn thuần như sự kết hợp giữa hai chữ "tình" và "bạn". Nói một cách khác, tình bạn là tình cảm của bạn bè dành cho nhau.
Trong cuộc sống thực tế thì không ai có thể sống một mình được. Vì vậy, chúng ta phải "quen biết" với rất nhiều người như: hàng xóm láng giềng, chung lớp học, cùng sở làm... Và tình bạn có thể sẽ nẩy sinh từ những quen biết này, nhưng không nhất thiết là tất cả những người chúng ta quen biết đều sẽ trở thành bạn. Giữa người quen và bạn thân có sự khác nhau rất lớn.
Người quen là người mà ta có thể biết mặt và nhớ tên, có thể đi ăn chung, có thể mời đến nhà, có thể trò chuyện về một vấn đề nào đó ... Nhưng họ không phải là người để ta chia xẻ cuộc sống, gởi gắm tâm sự. Vì ta chưa hiểu họ đủ và ngược lại thì họ cũng chưa hiểu ta lắm . Bạn thân là người hiểu ta và ta cũng hiểu bạn, thương mến, quan tâm giúp đỡ nhau khi cần thiết, chia xẻ ước vọng, buồn vui của cuộc sống . Bạn thân là chỗ dựa rất cần thiết cho chúng ta trong cuộc sống.
Người quen thì chúng ta có thể có rất nhiều, nhưng để có được một người bạn theo đúng nghĩa của bạn thì không phải là một chuyện dễ dàng. Có những người đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, rất nhiều thử thách để nhận ra được ai là bạn, ai là tri kỷ của mình. Nhưng cũng có những trường hợp vừa quen biết nhau đã cảm thấy tâm đầu ý hợp như Bá Nha và Chung Tử Kỳ, ngày xưa, chỉ qua một khúc đàn, đã hiểu nhau và đã trở thành tri âm, tri kỷ. Chúng ta thử đi sâu hơn một chút để tìm hiểu thêm vài khía cạnh của tình bạn, sự liên hệ và những yếu tố căn bản để có một tình bạn thực sự, ảnh hưởng và tác dụng của tình bạn đối với đời sống của con người .
Tình bạn và giới tính Tình bạn là sự quan hệ và trao đổi về mặt tinh thần giữa hai con người. Nó hình thành một cách tự nhiên, không tuân theo những quy tắc người ta định sẵn. Không ai bảo rằng hai người một già một trẻ không thể kết bạn, hai kẻ giàu nghèo không thể là tri âm. Vi vậy, cũng không thể nói rằng giữa hai người khác phái không thể có được tình bạn thực sự và đẹp. Nhưng trong xã hội loài người, đặc biệt là Á đông, từ xưa đến nay, chúng ta thường nghe những câu chuyện, những tấm gương sáng chói về tình bạn giữa hai người đồng phái như Lưu Bình và Dương Lễ, như Quản Trọng và Bảo Thúc Nha .. vân vân .. Và dường như trong văn học sử không có ghi lại một câu chuyện "nổi tiếng" nào để tiêu biểu cho tình bạn thực sự và tuyệt vời giữa hai người khác phái. Như vậy thì tình bạn thực sự giữa hai người khác phái có hay không có trong cuộc sống thực tế? Và có điều gì khác nhau về tình bạn giữa hai người khác giới tính so sánh với tình bạn giữa hai người cùng giới tính ?
Thứ nhất, thì có lẽ do của tư tưởng " nam nữ thụ thụ bất thân" từ ngàn xưa trong xã hội Á đông và ảnh hưởng vẫn còn rơi rớt lại, nên nhiều người vẫn còn băn khoăn và hoài nghi về tình bạn thực sự giữa hai người khác phái. Kế đến, thì có lẽ do sự phân biệt hay ranh giới giữa tình yêu và tình bạn của hai người khác phái không được rõ rệt lắm. Những người thuộc nhóm "hoài nghi" thì cho rằng không có tình bạn thực sự giữa hai người khác phái. Theo họ, nếu một nam, một nữ chơi thân với nhau, hiểu nhau sâu sắc và chia xẻ được vui buồn thì sớm hay muộn cũng sẽ yêu nhau. Thực tế thì đúng như vậy, có rất nhiều tình bạn thân giữa nam nữ đã phát triển thành tình yêu lứa đôi . Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại, giá trị hay tác dụng tốt ... của tình bạn thực sự giữa những người khác giới tính trong cuộc sống thực tế. Ở đây, chúng ta chỉ thử phân tích và tìm hiểu nguyên nhân tại sao tình bạn khác giới tính hiếm khi được lấy làm tiêu biểu và đại diện cho một tình bạn thực sự và đẹp đẽ để làm tấm gương sáng cho mọi người và hậu thế.
Một vấn đề khác của tình bạn giữa hai người khác phái là duy trì quan hệ bạn bè với người tình cũ sau khi chia tay. Nói một cách khác, là chuyển từ tình yêu thành tình bạn. Chuyện này không phải là một điều dễ làm. Và nếu mục đích chuyển thành tình bạn xuất phát từ những mối quan tâm chung trên căn bản tôn trọng lẫn nhau thì nên duy trì tình bạn . Còn nếu duy trì tình bạn vì những lý do như: Vì hy vọng người tình cũ sẽ quay trở lại, vì chưa muốn buông tha người xưa, vì tự ái ... thì đừng nên làm. Nếu duy trì quan hệ dựa trên những động lực này thì tình bạn cũng sẽ tan vỡ, và sẽ phiền lòng nhau thêm nhiều nữa.
Tình bạn và tuổi thọ Căn cứ theo nhóm khoa học gia của Trường Đại học Flinders (Úc) phát hiện, thì bạn bè có thể giúp người già kéo dài tuổi thọ hơn là con cháu hay người thân. Đây là kết quả thu thập được sau 10 năm nghiên cứu, dựa trên các nhân tố như tình dục, tuổi tác, sức khỏe và tình trạng hút thuốc trên hơn 1.500 cụ già đã bước qua tuổi 70. Theo các nhà khoa học này, các mối quan hệ xã hội tốt như có nhiều bạn bè thân thiết có thể giúp người già có một lối sống lành mạnh như không hút thuốc hay uống rượu quá nhiều. Ngoài ra, những tình bạn gắn bó lâu dài có thể tạo những hiệu quả tích cực đến tâm sinh lý của những người lớn tuổi .
Tình bạn và cuộc sống Xã hội càng phát triển, con người hình như càng bận rộn hơn với công việc làm. Và công việc làm càng nhiều thì sức ép và áp lực của đời sống hàng ngày càng tăng đã khiến nhiều người đẩy bạn bè sang một bên . Đây là một sai lầm lớn trong cuộc sống vì như các nhà chuyên gia đã nói :" Tình bạn là chìa khóa dẫn đến hạnh phúc".
Một cuộc thăm dò ý kiến, do Viện nghiên cứu Bat Leisure ở Hamburg, Đức, tìm thấy là 63% người Đức mong muốn nuôi dưỡng và củng cố các mối quan hệ bạn bè của họ. Với những người độc thân và cặp vợ chồng không con, con số tăng lên 73%.
Đặc biệt cho những người trung niên, luôn đặt tiêu chuẩn cao cho bản thân và sự nghiệp, thì việc duy trì tình bạn cũ và làm quen bạn bè mới càng trở nên khó khăn. "Vòng tròn bằng hữu bị thu hẹp lại và nhiều người còn chẳng buồn dành thời gian để gặp bạn bè để uống nước", chuyên gia Hannelore Fritz nói.
Nhưng công việc thì có thể mất, gia đình và mối quan hệ cộng sự có thể tan vỡ, khi đó, bạn bè sẽ trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, tình bạn cần phải được xây dựng một cách hệ thống như xây một ngôi nhà hay sự nghiệp.
Xây dựng và giữ gìn tình bạn Hoa sẽ nở đẹp, cây non sẽ lớn lên khi được chăm sóc và vun bón thường xuyên. Tình bạn, thì cũng vậy, sẽ đẹp và bền vững khi mỗi người bạn biết quan tâm chăm sóc đến nó. Theo như nghiên cứu của các nhà chuyên gia thì một số nguyên tằc dưới đây có thể giúp chúng ta trong việc xây dựng, phát triển và giữ gìn tình bạn .
- Cùng nhau làm một vài việc: Tình bạn trước hết là một sự trao đổi. Hãy rủ bạn bè cùng làm, cùng thực hiện với nhau một dự định dù nhỏ nào đó, để chia xẻ với nhau. Như thế sẽ làm cho người bạn thấy mình được tin tưởng, bạn ấy sẽ hài lòng. Còn bạn cũng thấy vui suớng, thỏa mản vì bạn có được tình cảm thân thiết của bạn bè.
- Đừng luôn kể những điều phiền muộn, bực mình : Kể cho bạn nghe những gì xảy ra với mình là một việc làm tốt, nó giúp giải tỏa những ức chế trong lòng bạn. Bạn bè có thể là một chỗ dựa cho bạn mà. Nhưng bạn đừng luôn luôn đem những chuyện không vui của mình làm phiền bạn bè, vì bạn sẽ ép người ta nghe, đôi khi vì để tìm một sự động viên, thương cảm mà bạn chẳng còn gì hấp dẫn người ta nữa bởi bạn đã bộc lộ khả năng thiếu kiềm chế, thiếu tự tin của mình.
- Luôn ở bên cạnh bạn bè những khi cần thiết: Ai cũng có những lúc khó khăn và cần đến sự giúp đỡ của người khác, có khi chỉ là một lời thăm hỏi, một ánh mắt khích lệ, một lời nhận xét tế nhị. Hãy luôn thăm hỏi, giữ mối liên lạc với bạn bè, kịp thời nhận ra tình thế của bạn mình để tìm cách giúp đỡ hữu hiệu nhất. "Một miếng khi đói bằng một gói khi no". Nhất là khi bạn mình cô đơn, bạn cần ta lắm đấy.
- Rút lui đúng lúc : Ai cũng cần có những khoảng trời tự do của mình. Khi bạn mình mệt, khi ta đã giúp bạn hoàn thành công việc, hoặc đơn giản thấy bạn không cần đến mình nữa, thì hãy "rút lui có trật tự". Bạn của ta sẽ vô cùng biết ơn một người bạn ý tứ như ta. Hãy lịch sự cáo lui và nói với bạn bè rằng "nếu cần đến mình, bạn đừng ngại ngần, mình sẽ thu xếp được mà".
- Thông cảm cho nhau cả khi vắng mặt: Có những lúc bạn phải dành thời gian cho gia đình, cho người yêu hoặc một công việc gấp rút nào đấy. Và bạn bè của ta cũng vậy. Việc này làm cho quan hệ bạn bè có những lúc sẽ bị lãng quên. Hãy báo trước cho bạn sự vắng mặt của ta, đừng để bạn có cảm giác bị phản bội, mất lòng tin. Thông cảm cho bạn bè, nếu họ quên không thông báo sự vắng mặt của họ.
Sự khác biệt giữa tình bạn và sự quen biết chính là sự đồng cảm và chia xẻ, theo phương châm: "Điều gì ảnh hưởng đến bạn cũng ảnh hưởng đến tôi". Sự thân mật, bao dung và tin cậy lẫn nhau là những yếu tố cần thiết của một tình bạn đẹp. Như nhà tâm lý học Ann Elisabeth Auhagen đã nói : "Bạn cần phải đặt tim mình trong mối quan hệ đó. Khi đó sự cách biệt về không gian cũng không thể ảnh hưởng tới tình bạn" . Hãy nhìn thấy và tìm những điểm tốt của bạn bè cũng như hãy tìm kiếm những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Cuộc sống không ban ơn cho ta mà chính ta sẽ ban tặng cho cuộc sống những món quà từ những hành động và suy nghĩ tích cực của mình. Hãy bắt đầu ngày hôm nay và từ ngay giây phút này. Bởi vì cuộc sống đã là một niềm vui, một món quà vĩ đại nhất mà tạo hóa ban tặng cho ta và tình bạn là chìa khóa dẫn tới một trong những hạnh phúc lớn của cuộc sống.
Xin chúc những điều tốt đẹp đến với cuộc sống của bạn!
Lý Lạc Long

HÀ NỘI VÀO TOP TEN VỀ NẠN MÓC TÚI Tin Hà Nội - Trong một danh sách kỷ lục khác nhưng không đáng hãnh diện tí nào, theo một danh sách mới được trang web chuyên cung cấp các thông tin về du lịch, Trip Advisor, thì thủ đô Hà Nội của Việt Nam là một trong số 10 thành phố nhiều kẻ móc túi nhất trên thế giới. Thủ đô của Cộng sản Việt Nam cũng là đô thị châu Á duy nhất có tên trong danh sách này.
Tổ chức Trip Advisor vừa đưa ra danh sách gồm 10 thành phố trên thế giới, đa số là tại châu Âu, nơi khách du lịch dễ bị móc túi và có lời khuyên với du khách nên cẩn thận giữ túi của họ khi tới đây. Bản danh sách này cũng được các cơ quan thông tấn thế giới đăng lại, và ngoại trừ thành phố Buenos Aires của Argentina đứng thứ 7, và Hà Nội đứng thứ 10 thì các thành phố trong danh sách này đều ở châu Âu. Ðứng đầu danh sách này là thành phố Barcelona của Tây Ban Nha. Một người viết trên Trip Advisor đã so sánh chuyện móc túi tại Barcelona giống như chuyện thường tình và người ta chấp nhận nó chẳng khác gì một môn thể thao vậy.
Lời khuyên cho các du khách là phải cẩn thận khi tới khu Las Ramblas, con đường đi bộ ở trung tâm Barcelona, nổi tiếng với những hoạt động mua bán, ca nhạc sống động suốt ngày đêm. Ðây chính là nơi tuyệt vời cho những kẻ móc túi hoạt động. Kế tiếp phải kể tới thủ đô Roma của Ý với những tòa nhà cổ kính và các điểm di tích lịch sử và văn hóa nổi tiếng, khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới tấp nập đổ về đây.
Chính vì thế những điểm như Trevi Fountain hay Pantheon cũng là những nơi không ít kẻ móc túi tụ tập. Ðứng thứ ba trong danh sách này là thành phố Prague cổ kính tại Tiệp Khắc. Cây cầu nổi tiếng mang tên vua Charles với những bức tượng kiểu baroque thu hút hàng ngàn du khách mỗi năm chính là môi trường tuyệt vời cho những kẻ móc túi.
(hình 13-17)Lời khuyên của TripAdvisor với các du khách là hãy kéo chặt khóa túi và cất cẩn thận những đồ vật quý giá của quý vị trước khi ngưỡng mộ phong cảnh êm đềm trên sông Vltava và Lâu đài Prague của thành phố này. Vẫn tại châu Âu, đứng thứ 4 là Madrid của Tây Ban Nha và thứ 5 là kinh thành ánh sáng Paris. Thành phố này thu hút một lượng du khách khổng lồ, từ chân tháp Eiffel tới chân đồi Sacre-Coeur, và tất cả mọi nơi giữa hai điểm này.
Nhưng Trip Advisor cũng lưu ý du khách cẩn thận đặc biệt khi sử dụng hệ thống tàu điện ngầm tại Paris. Các thành phố khác tại châu Âu được nêu danh là Florence của Ý đứng thứ 6, Amsterdamcủa Hòa Lan đứng thứ 8, Athens của Hy Lạp đứng thứ 9.
Thành phố duy nhất ở châu Mỹ Latinh nằm trong danh sách này là thủ đô Buenos Aires của Argentina, một thành phố đầy sống động với những nét văn hóa phong phú. TripAdvisor cảnh báo du khách nếu trong khi đi du lịch, quý vị đột nhiên thấy mình bị dính cứt chim mà có lẽ chỉ là chút mù tạt, và một người dân địa phương thân thiện đã đứng kề bên với một chiếc giấy sẵn sàng chùi hộ bạn, thì xin hãy cẩn thận. Cuối cùng trong danh sách và cũng là thành phố duy nhất tại châu Á, là thủ đô Hà Nội của Cộng sản Việt Nam, được mô tả là có khu phố cổ dễ thương và những tòa nhà từ thời Pháp thuộc. Thành phố này được TripAdvisor coi là một điểm du lịch độc nhất vô nhị nhưng cũng là nơi họ khuyên du khách phải cảnh giác để tránh bị mất cắp.
http://www.thegioimoionline.com/

HAI CHIẾC BÓNG
Nguyên Nhung Cụ Khôi lập cập đứng dậy, loạng choạng bước, tý nữa thì cụ ngã nếu không vịn kịp vào mép bàn. Tính cụ vậy, lúc ốm nằm một chỗ rên hừ hừ, nhưng cứ tỉnh là gượng ngay dậy, làm như cụ sợ nếu không ngồi lên được là sẽ không bao giờ còn dậy được nữa. Có điều cụ quên, đôi chân cụ đâu phải lúc nào cũng tuân theo mệnh lệnh của trung tâm thần kinh não bộ, vì nó yếu rồi, những sợi gân chằng chịt ràng lấy chiếc xương đùi, nay đã chùng xuống kéo theo lớp da bèo nhèo bọc có tý thịt nhão nhoẹt.
Thấy có người đến thăm, cụ mừng, cơn bệnh có vẻ lui được phân nửa. Khách là một người đàn bà tuổi trung niên, cũng quanh quẩn gần nơi cụ ở, các con ở xa quá, thôi thì “bán anh em xa, mua láng giềng gần” vậy. Cụ lại ốm luôn, ốm luôn mà không chết, nhì nhằng dăm bữa nửa tháng rồi khỏi, bởi vậy đối với con cháu chuyện ấy là thường, chừng nào hữu sự thì đã có nhà thương, chết thì mang vào nhà quàn, cuối cùng đến nhà thờ rồi ra nghĩa địa là xong việc. Đấy là cụ chưa nghĩ tới cái nhà dưỡng lão, nghe thiên hạ kể khi nào đến đấy thà chết còn sướng hơn, vì vò võ nằm chờ con cái đến thăm, khi con về mắt cứ nhòa đi như trời mưa.
Cụ Khôi run run rót trà vào tách mời khách, dù sao ở đây cũng còn hàng xóm chạy đi chạy lại. Tính cụ chu đáo, lúc nào cũng có bình trà nóng đặt trên bàn, sáng nào người giúp cụ đã phải lo chuyện ấy. Một vài giọt nước rớt trên mặt bàn, tay chân run rẩy, cụ không còn vén khéo được như mấy năm trước. Cụ đẩy cuốn “album” lúc nào cũng để kề một bên đến trước mặt khách, khoe:
“Cô xem mấy tấm hình chụp hôm các cháu làm lễ kỷ niệm sáu mươi năm của tôi và ông cháu, các cháu về đủ cả. Gớm hôm ấy sao mà lắm khách thế, những là bạn bè của các cháu, hiếm khi mà vợ chồng sống đến răng long đầu bạc đấy cô ạ, không mất ông thì cũng mẻ bà, ai cũng bảo nhà tôi có phước.”
Cụ nhướng mắt lên để nhìn cho kỹ tấm hình kế bên:
“Đây, gia đình anh con cả, hai vợ chồng với bốn đứa con, thằng cháu đích tôn của tôi sắp ra bác sĩ, con em lại học dược, mấy đứa bé nay mai cũng theo các anh các chị mà tiến lên. Chỉ buồn các cháu không thạo tiếng Việt, thấy ông bà chỉ lắp bắp mấy câu rồi trơ mắt ra nhìn, mình muốn hỏi han gì cũng đành chịu, chúng nó cứ nhe răng cười”.
Thấy khách chăm chú xem, không ngớt khen những cháu xinh, cháu tốt của cụ, cụ như được uống ly nước giải nhiệt giữa trưa hè:
“Cái hình cô đang xem là nhà cô con gái thứ hai. Cô ấy tuổi Dần, cao số nhưng lại có số lấy chồng quan, mệnh phụ phu nhân đấy. Sang bên này, hai vợ chồng cũng đỗ đạt cả, các cháu tôi đứa nào cũng ăn học tử tế. Chúng nó ở tuốt bên Cali, bên ấy mát mẻ lắm cô nhỉ?”
Khách cười, khen chị con gái của cụ nay đã trung niên mà vẫn mượt mà, xinh đẹp:
“Thế cụ đã sang chơi với các anh chị và các cháu lần nào chưa?”
Nghe khách hỏi, cụ trầm ngâm một chút, giọng ngùi ngùi:
“Ấy đã, chúng tôi có ở với các cháu một thời gian, nhưng cô xem, mình thì già, chúng nó trẻ, đi làm suốt cả ngày, giờ đâu mà hỏi han đến cha mẹ, ông bà. Ở nhà buồn, vẽ ra công này việc nọ cho vui, các cháu bảo cứ để nhà cửa bề bộn, lôi thôi, bẩn thỉu. Cô xem, hai người già suốt ngày quanh ra quanh vào với cái Tivi, xong lại ngắm mấy bức tường, ông lão nhà tôi ủ rủ như tàu lá héo, ốm cũng không dám rên, sợ phiền con cái. Cửa nẻo đóng im ỉm suốt ngày như lô cốt, bịt bùng quá, chịu không nổi, khóc, chúng bảo mình dở hơi, dở hám. . .”
Giọng cụ nhão ra như sắp khóc:
“Thời buổi này nó khác rồi cô ạ, biết vậy chả sang đây làm gì, bấn thêm cho con cái”
Mắt cụ Khôi rưng rưng, như sắp khóc thật, khách vội vàng an ủi mấy câu cho cụ bớt xúc động. Cụ lại rót trà thêm cho mình, cho khách, dù nãy giờ chưa ai uống miếng nào, tự nhiên có một nỗi ngậm ngùi nào đó, khiến chủ khách cùng im lặng. Khách lại ngắm nghía hai tấm hình của hai cụ được phóng lớn ra thật rõ nét, đẹp như tranh. Trong hình, cụ bà phấn son rực rỡ, con rồng lượn trên nền gấm tía, vòng ngọc xanh biếc trên cổ cụ trông óng ánh rất mỹ thuật. Cụ ông nhỏ bé gầy gò hơn, đầu đội khăn đóng, lọt thỏm trong chiếc áo gấm xanh có những chữ thọ vàng, mặt cụ buồn buồn một vẻ chịu đựng như người bị ép ăn trong lúc đã no. Khách suýt soa khen ảnh đẹp, nét ảnh quá sắc nét làm nổi bật những quần áo, vòng ngọc lóng lánh. Cụ Khôi cười nhăn cả mặt, hàm răng giả đã được tháo ra khiến trông cụ già hơn, nhưng lại có vẻ hiền hậu hơn người trong ảnh :
“Đẹp không cô? chỉ tội ông lão nhà tôi trông hom hem quá. Sang đây đồ ăn, thức uống thiếu gì mà vẫn không nuốt được, ăn cứ như đấm vào mồm. Hai cái hình này tôi đã nhờ người phóng lớn ra, mai sau. . .”
Cụ lại cười gượng để dấu nỗi xúc động:
“Phải không cô? Mai sau mình có chết, chúng nó có cái để trên bàn thờ, chết thì cũng phải làm sao cho đẹp mặt con cái. . .”
Lần này thì cụ Khôi không cười nữa. Lâu rồi các con cụ ở xa ít đến thăm được, chỉ hỏi han qua điện thoại. Thấy con than bận, cụ đành dấu diếm không dám than thở. Các con bận bịu quá, các cháu bận bịu quá, ngay cả hôm cụ ông ngã trong nhà tắm thì cũng chỉ có người hàng xóm tốt bụng đưa đi nhà thương. Vài hôm ông lão khỏi, khi các con hỏi thăm đến cha mẹ thì mọi việc đã bình thường.
Một chốc, cụ lại lập cập đứng dậy, loạng choạng đi, khách vội vàng đỡ cụ, vẻ ái ngại. Cụ chụp lấy chiếc gậy, xua tay rồi bảo khách:
“Không sao, cô ngồi đấy chơi để tôi đi lấy cho xem hình tôi ngày còn trẻ. Bây giờ mắt mờ đặc cả, nhưng lờ mờ cũng thấy đời thay đổi nhiều, chả có gì chống chỏi nổi với thời gian.”
Cụ vào buồng, lúc trở ra, một tay chống gậy, một tay khệ nệ ôm chiếc hộp hình chữ nhật bọc vải đỏ, khách vội chạy đến đỡ lấy cái hộp hình cho cụ. Bên trong lại mấy lớp giấy đã ngả vàng, có lẽ ít khi nào cụ sờ đến, chiếc hộp gói ghém cẩn thận như những đồ tẩm liệm ràng xung quanh một xác chết, khiến khách càng ngậm ngùi. Cụ run run mở những sợi giây cột bên ngoài hộp, đẩy hộp ảnh về phía khách:
“Đây này, cô đoán xem dạo ấy tôi bao nhiêu tuổi?”
Khách nâng chiếc ảnh lên để nhìn rõ hơn. Một giai nhân của sáu mươi năm về trước, cặp mắt biếc, đôi mày vòng cung tuyệt mỹ, bờ môi mọng, mái tóc chải lượn phía trước và thả dài ra phía sau:
“Đẹp quá, đẹp quá, rõ là một giai nhân, cháu đoán độ ấy cụ chỉ mười tám.”
Cụ Khôi cười sung sướng, mặt cụ có bao nhiêu nếp nhăn:
“Hai mươi bốn, hai đứa con rồi đấy, thế mà ra đường bao nhiêu người quay cổ lại nhìn. Ông lão nhà tôi dạo ấy đang làm công chức của chính phủ, mỗi lần lễ lạc, các ông to bà lớn ngồi đặc trên khán đài. Tôi bận con ít đi đâu, phần ông ấy lại hay ghen, cứ thấy ai khen mình đẹp mặt lại sưng lên. Nhanh thật, mấy mươi năm cuộc đời trôi nhanh như bóng câu vù qua cửa sổ, ngày trẻ tôi cứ hay ra bờ hồ nhìn nước lững lờ trôi, nước thì cứ lững lờ còn người thì rõ là bao nhiêu thay đổi. Có sống được đến chừng này tuổi, trải qua bao nhiêu dâu bể cuộc đời, mới thấy chả có gì tồn tại mãi."
Giọng cụ ngậm ngùi quá, khiến lòng khách chùng xuống nỗi thương cảm. Ánh nắng chiều hắt vào cửa sổ, bụi hoa quỳnh ở góc phòng rũ xuống mấy bông hoa héo. Thấy khách nhìn, cụ lại tiếp:
“Cô có thích xem hoa quỳnh nở không? Dạo trước mỗi lần hoa nở, hai vợ chồng tôi cứ pha một bình trà thơm, nhấm nháp tý bánh đậu xanh chờ đến khi nào hoa tàn mới đi ngủ. Bây giờ chán rồi, hoa gì chỉ nở có một khắc về đêm , sáng đã tàn, người ta bảo giai nhân cũng thế, hẩm hiu bạc phận đến thế là cùng.”
Chiều nay, chỉ là một chiều chớm thu mà chừng như gió đã se sắt luồn vào lòng người một nỗi buồn vô tận, cái buồn như len vào cây cỏ, hai mảnh đời già dường như cũng muốn héo quắt lại. Khách nghe tiếng ho húng hắng của cụ ông ở buồng trong.
“Trời đổi gió là ông ấy lại ho, thuốc uống mãi đâm lờn, nhưng không uống để cả đêm cứ khúc khắc mãi như thế chịu không nổi. Ấy đấy! Cứ thấy gió thu về lại nhớ những mùa thu Hà Nội ngày xưa độ tôi còn trẻ, chiều chiều bồng con ra chờ ông ấy đi làm về, nhìn lá me bay đến thích mắt. Nhớ quê quá cô nhỉ, cả những năm ở Sài Gòn, cứ Tết đến là trời như dịu đi, gió thổi hiu hiu, bây giờ ở đây cũng gió, mà sao lòng mình dửng dưng chẳng thấy gì cả. Từ ngày sang đây đến nay tôi nào biết Tết là gì, con cái ở xa lại đi làm, khi nào tiện chúng nó mới thăm mình được. Anh con cả phải dọn tuốt trên miền Bắc, chỗ ấy mới có việc, miền này ấm áp cho nên chúng tôi đành chịu không dám theo con. Thôi, tôi chẳng đi đâu cả, trên ấy lạnh lẽo lại không có người đồng hương, mình cứ xem như vẫn ở Việt Nam, các con ở xa có gần gũi mình đâu.”
Cụ bắt đầu kể sang chuyện khác. Nào là cái chân bị bệnh phong thấp, những ngày sang đông hành hạ cụ ghê gớm. Nào là bệnh cao mỡ trong máu, không hiểu sao lại có mỡ trong máu khi cụ suốt ngày chỉ ăn có lưng bát cơm cùng một chén súp, hay tý rau luộc với muối vừng. Nào là bệnh tiểu đường, đấy là thứ bệnh gây khốn khổ cho bao người, dư cũng không được mà thiếu cũng không xong, cái nào cũng dễ dàng lăn đùng ra. Cụ trách trời sao cứ trớ trêu, đẻ ra bao nhiêu thứ bệnh tật mà bấy nhiêu thứ cụ lãnh đủ, những lúc trẻ tuổi mong đến lúc già được thảnh thơi, nhưng cứ thảnh thơi để suốt ngày nghĩ đến bệnh tật thì thà chết phứt đi cho rảnh nợ.
Nghe cụ than, khách chỉ biết an ủi:
“Người ta như cái máy ấy cụ ạ, bao nhiêu năm phải làm việc quần quật, nay đã đến lúc rệu rã, khéo tu bổ thì cũng chỉ ì ạch chạy thế thôi, chứ bảo tốt thì không làm sao tốt được.”
Cụ gật gù:
“Cũng như cái cây mình trồng phải không cô, cứ thiếu phân, thiếu đất, thiếu nước là không lớn lên được, mà già cỗi thì phải chết, có khi chưa già cũng chết. Hàng ngày, tôi nghe Đài phát thanh cái mục “Nhịp cầu thương yêu”, thì cứ y như rằng trăm cái buồn mới có một cái vui, mà tuổi nào cũng chết, lá vàng chưa rụng lá xanh đã rụng rồi. Tiếc là tiếc những người trẻ, chứ già lão như chúng tôi trời có cho về cũng có gì mà tiếc.”
Khách có vẻ muốn cáo từ ra về, nhưng cụ hình như vẫn còn nhiều nỗi băn khoăn trong lòng:
“Này cô ạ, không hiểu một cái đám ma bây giờ tốn độ bao nhiêu , nghe nói cả chục ngàn phải không cô?”
Thì ra cụ lại lo đến chuyện hậu sự, khách cũng thường thấy có những người già nghĩ ngợi cả chuyện ma chay cho mình ngay lúc đang sống. Khách còn trẻ, làm gì đã có kinh nghiệm việc này, nhưng cứ tội nghiệp hai cụ già sống thui thủi với nhau như hai chiếc bóng, lúc nào cũng vấn vương chuyện lúc nằm xuống không ai lo. Khách lựa lời an ủi:
“Những cái ấy cháu thiết nghĩ cụ không phải lo, vì lúc mình chết rồi, phần ấy để dành cho người sống. Nhiều tiền thì bày vẽ rình rang, mời năm bảy thầy tụng kinh, năm bảy cha làm lễ đồng tế, nhưng giá trị của sự cầu nguyện thì giống nhau ở chỗ lòng thành, và cũng ở cái nghiệp của mình nữa cụ ạ. Cho nên điều cụ cần nghĩ tới lúc này, là sự hỉ xả cho thân tâm an lạc, mọi sự trên đời chỉ là phù vân, có đó rồi mất đó, cụ sẽ thấy lòng nhẹ nhõm để sống nốt quãng đời còn lại.”
Cụ chép miệng:
“Ấy đấy, tôi cũng chỉ mong có thế, nhưng những lúc chỉ có hai vợ chồng già sống còm cõi với nhau, tôi chỉ sợ lúc mình nằm xuống, không có ai. . .”
Khách muốn cười to lên để lấp đi cái lo lắng, ưu tư lấn cấn trong lòng bà cụ già tội nghiệp, nhưng tiếng cười dường như nghẹn lại không thoát ra được:
“Cụ đừng nghĩ vớ vẩn cho thêm buồn. Bằng cách này hay cách khác, mộ lớn mộ nhỏ gì thì tất cả cũng chỉ là tro bụi, đất lại trở về với đất, đấy là định luật của Trời, phải không cụ? Chẳng xem đó là trọng, thì cái gì cũng nhẹ như bông, vậy lại khỏe lòng cụ ạ.”
Nắng đã đậu lại trên bực thềm, chiều xuống mau, bụi cúc vàng trước hiên vẫn rung rinh theo cơn gió may vừa thoảng qua, làm buổi chiều như rùng mình đi theo những chiếc bóng. Cụ ông từ trong nhà, nghe có tiếng nói chuyện lào xào ngoài phòng khách, cũng lần mò ra lặng lẽ ngồi vào chiếc ghế quen thuộc của cụ ở góc phòng. Khách hỏi, cụ cười ngu ngơ không trả lời, lơ đãng ngó theo một chiếc lá khô rơi ngoài sân, nhìn cụ như cậu học trò đang tuổi mộng mơ, ngồi trong lớp học mà hồn vẫn mơ theo cánh bướm bay ngoài cửa lớp. Cụ bà bảo khách:
“Ông nhà tôi không nhận ra cô nữa đâu, lẫn rồi. Dạo năm ngoái còn tỉnh táo, nhưng lúc ngã bận nữa thì từ đấy nghễnh ngãng luôn. Thấy ai đến cũng thích ra ngồi đấy, nhưng không biết ai, và cũng chẳng hiểu gì. Bảo ăn thì ăn, bảo ngủ thì ngủ . . .”
Giọng cụ chừng thổn thức hơn:
“Sống như chiếc bóng, hai chiếc bóng. . .”
Âm thanh của mấy chữ “hai chiếc bóng” như dội vào lòng khách một cung đàn bi ai, khiến bóng chiều càng thêm u uẩn, có những tiếng cười, tiếng khóc âm ỉ trong lòng, không bật ra được để vơi đi nỗi hắt hiu trong những mảnh đời khi tuổi già bóng xế. Nhớ đến những tấm hình con xinh, cháu tốt của mấy năm trước, khách bỗng thấy bùi ngùi khôn tả, chỉ muốn nói với cụ rằng:
“Cụ đừng lo. Chắc chắn là khi hai cụ nằm xuống, con cháu cụ sẽ làm đám ma thật chu đáo, có đầy đủ thân bằng quyến thuộc và mọi người quen biết.”
Nguyên Nhung
Thói Vô Trách Nhiệm Của Nhà Nước CSVN Đối Với Tương Lai Đất Nước
Nguyễn Vọng
Bão lũ đã qua được một tuần nhưng những nạn nhân của nó ở 6 tỉnh bắc miền trung chỉ mới khởi đầu với những khó khăn trước mặt. Nhà cửa có nơi vẫn còn chôn vùi trong lớp bùn non phủ dày cả thước, hoa màu gia súc chẳng còn, cuộc sống trước mắt chỉ biết trông chờ vào chút hàng cứư trợ, nhưng có nơi như các xã vùng xa của huyện Tu-mơ-rông tỉnh Kontum vẫn còn bị cô lập, hàng cứu trợ không đến được đành phải ăn củ sắn chống đói. Trong ống kính của phóng viên báo chí lộ rõ những khuôn mặt tuyệt vọng, thẫn thờ bởi cái gia sản nhỏ nhoi, ít ỏi nhưng họ phải bỏ bao công sức dành dụm bao năm giờ trôi theo nước lũ. Chút hàng cứu trợ cũng như muối bỏ biển, những đoàn cứu trợ, quay phim rồi cũng sớm ra đi, người nông dân nghèo vẫn phải ở lại đối mặt với số phận nghiệt ngã của mình bỡi lẽ chắc gì sang năm tới ngôi nhà họ không bị lũ cuốn trôi thêm lần nữa.
Mỗi năm có không dưới 10 cơn bão nhiệt đới đổ vào Việt Nam kèm theo là chừng ấy cơn lũ. Bão thì có trận to trận nhỏ nhưng lũ thì năm sau luôn lớn hơn, dữ dằn hơn năm trước. Tỉnh Kontum trên cao nguyên đã phải hứng chịu một trận lũ lịch sử trong vòng 100 năm trở lại, lũ nhanh bất ngờ khiến số nạn nhân chết vì lũ ở Kontum cao nhất trong 6 tỉnh bị cơn bảo số 10 đi qua .
Năm nào cũng vậy, sau bão lũ người ta lại rầm rộ tổ chức quyên góp, lại quay phim , chụp hình đăng báo, đôi khi lại cãi vã om xòm về chuyện dự báo đúng sai, chỗ nào thiệt hại ít thì tuyên dương khen ngợi lãnh đạo biết lo xa, chỗ nào thiệt hai nhiều thì cố tìm ra “vài cái khách quan” mà đổ lỗi. Người ta cứ làm như là dự báo đúng thì mọi chuyện sẽ êm đẹp không bằng. Những vị lãnh đạo tai to mặt lớn khi nói đến thiệt hại do bảo lũ hình như đều cố tình lờ đi cái nguyên nhân cơ bản gây ra lũ lụt hằng năm là bỡi rừng đã bị tàn phá đến mức không còn đủ sức để ngăn chặn nước lũ từ đầu nguồn các con sông. Người ta cố tình không nhắc đến bỡi vì trong hơn 3 thập niên qua rừng đã bị triệt hạ một cách có hệ thống, một cách vô tội vạ với một thái độ vô trách nhiệm đến cao độ.
Nói rừng đã bị phá hủy một cách có hệ thống bỡi lẽ từ sau năm 1975 nhà nước CSVN đã thành lập các lâm trường mà nhiệm vụ chính của các lâm trường là khai thác gỗ để xuất khẩu gỗ thô ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ. Cung cách xuất khẩu gỗ chưa qua chế biến một cách ồ ạt đã làm diện tích rừng suy giảm trầm trọng. Bọn quan chức tham nhũng, bọn gian thương cấu kết với nhau đã tạo nên một lớp tỷ phú đỏ nhờ gỗ rừng để hôm nay bọn nầy dư tiền sắm xe hơi, máy bay riêng cả chục triệu đô la Mỹ. Không dừng lại ở hành động phá rừng khai thác gỗ, bọn ngu xuẫn còn ồ ạt phá hàng trăm ngàn hecta rừng sau khi lấy gỗ để trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê chạy theo lợi nhuận trước mắt. Chưa nói đến những binh đoàn bộ đội bám trụ ở cao nguyên trung phần để “làm kinh tế” nhưng thực chất chỉ là dung công lính nghĩa vụ để phá rừng trồng cao su, cà phê kinh tài cho quân đội. Mạnh ai nấy kiếm tiền trên vùng đất rừng cao nguyên, đầu tiên là để kiếm tiền qua cơn hoạn nạn vì bị cấm vận kinh tế, về sau là làm giàu trong giai đoạn chẳng còn ai nói được ai (ngay cả bí thư tỉnh uỷ Daklak còn có cả một trang trại rộng lớn nằm ngay giữa lòng vườn quốc gia thì còn nói được ai).
Trên thế giới nầy có lẽ không có quốc gia nào có từ “lâm tặc” ngoài Việt Nam. Kể từ khi có sự quan tâm của thế giới bên ngoài về sự biến mất nhanh chóng của nhưng diện tích rừng rộng lớn tại Việt Nam, vì những cam kết với thế giới văn minh trong vấn đè bảo vệ môi trường thế giới thì cửa rừng được đóng lại, nói nôm na là không cho khai thác gỗ nữa thì từ đây xuất hiện từ “lâm tặc”. Nhưng những người dân nghèo khổ lén lút vào rừng chặt củi đốt than, hay cưa trộm gỗ không đáng gọi là lâm tặc, bọn lâm tặc là bọn người có tổ chức, cấu kết với chính quyền địa phương, với lực lượng kiểm lâm để phá rừng. Cứ xét một cái huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam thì rõ: rừng đã đóng cửa từ lâu nhưng trên địa bàn huyện vẫn tồn tại cả chục trại cưa hoạt động thường xuyên trước mắt chính quyền, thử hỏi gỗ đâu mà cưa với xẻ nếu không phải là gỗ lậu, chỉ riêng một huyện nhỏ, nếu kể cả toàn quốc là bao nhiêu, nói như vậy để thấy rõ cái thói vô trách nhiệm của chính quyền. Khi cơn bảo lũ số 9 đi qua một cảnh tượng bày ra trước mắt mọi người cho thấy cái mức độ rừng đầu nguồn đang bị tàn phà khốc hại như thế nào: dưới chân cầu, khu vực bờ sông nơi cầu Quảng Huế thuộc huyện Đại lộc tỉnh Quảng Nam một bãi gỗ rộng vài Km2 cả trăm ngàn cây gỗ trên nguồn sông Thu Bồn bị lũ cuốn trôi về bị chặn lại bởi cây cầu bắc qua sông Vu Gia, người dân địa phương ngay khi lũ còn cuồn cuộn trên sông đã đổ về đây để vớt gỗ bất chấp hiểm nguy. Nhìn hình ảnh Bãi gỗ trên sông mới thấy được quy mô phá rừng ở đầu nguồn..
Trách nhiệm bảo vệ rừng từ nay được giao phó hoàn toàn vào tay Kiểm lâm, nhưng kiểm lâm khi nào cũng kêu than là không đủ người để kiểm soát một diện tích rừng quá lớn nên thay vì vào rừng thì họ chỉ lập trạm kiểm soát trên các tuyến đường lộ, vừa an toàn vừa có ăn. An toàn vì không vào rừng sâu nơi có thể bị lâm tặc tấn công mất mạng như chơi, nếu không thì kiểm lâm cũng sợ lâm tặc đến nhà hăm doạ vợ con, bỡi lâm tặc là dân địa phương, nhà ai ở đâu chúng biết rõ, dân cưa gỗ thuê trong rừng là dân tứ phương, chém kiểm lâm xong bỏ trốn biêt ai mà tìm. Có ăn vì mười chuyến xe gỗ lậu qua trạm chỉ cần cho qua vài chuyến là kiếm đủ tiền, ngoài ra những xe gỗ bị kiểm lâm bắt sau nầy khi đem bán đấu giá thì kiểm lâm còn được hưởng hoa hồng, đúng là lợi đơn lợi kép.
Xem như vậy thì hoạt động của kiểm lâm hoàn toàn không có tác dụng gì trong việc ngăn ngừa phá rừng ngược lại chỉ hợp thức hoá số gỗ lậu mà thôi. Có kiểm lâm rừng còn bị phá bạo bởi bọn lâm tặc biết rằng cái đống gỗ cao như núi trong các trạm kiểm lâm rốt cuộc cũng sẽ lại vào tay chúng, thông qua hoạt động bán đấu giá mà thôi. Nhà nước trung ương biết chuyện nầy không? Biết chứ sao không, người dân còn biết huống gì là những đỉnh cao trí tuệ. Biết nhưng không cần làm gì bởi nói cho cùng ra thì Mất rừng, lũ lụt, chẳng mảy may ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Nhà cửa của họ chẳng bao giờ bị lụt, mà nếu chẳng may lũ lụt có nhận chìm môt cái nước VN nầy thì gia đình họ dư sức để kiếm một quê hương khác ngon lành hơn để sống.
Đó là sự thật, không phải chuyện bày ra để bôi bác, cứ xem mấy tỉnh duyên hải như Quảng Tri, Quảng Nam , Quảng Ngãi thì biết, ai cũng cao giọng kêu gào bảo vệ rừng phòng hộ nhưng chỉ cần chút lợi là sẵn lòng cấp phép cho các doanh nghiệp khai thác quặng Titan thẳng tay chặt sạch những rừng phi lao phòng hộ, người dân mất ruộng vì nạn cát lấp kêu trời nhưng có ai nghe? Những chuyện nầy dẫu sao cũng có người biết người không, có thể lấp liếm được, nhưng còn cái dự án khai thác bauxite ở Lâm đồng, Daknong thì sao? Bao nhiêu triệu hecta rừng nghèo kiệt sẽ bị bóc đi để lấy quặng, không những các nhà khoa học lên tiếng phản đối mà người dân bình thường cũng thấy được những nguy cơ tiềm ẩn, nhưng kết quả thế nào, có ai đếm xỉa đến hay không? Chuyện nầy nếu không gọi là thói vô trách nhiệm với tương lai đất nước thì gọi bằng gì?
Nguyễn Vọng
Nguyễn Vọng
Bão lũ đã qua được một tuần nhưng những nạn nhân của nó ở 6 tỉnh bắc miền trung chỉ mới khởi đầu với những khó khăn trước mặt. Nhà cửa có nơi vẫn còn chôn vùi trong lớp bùn non phủ dày cả thước, hoa màu gia súc chẳng còn, cuộc sống trước mắt chỉ biết trông chờ vào chút hàng cứư trợ, nhưng có nơi như các xã vùng xa của huyện Tu-mơ-rông tỉnh Kontum vẫn còn bị cô lập, hàng cứu trợ không đến được đành phải ăn củ sắn chống đói. Trong ống kính của phóng viên báo chí lộ rõ những khuôn mặt tuyệt vọng, thẫn thờ bởi cái gia sản nhỏ nhoi, ít ỏi nhưng họ phải bỏ bao công sức dành dụm bao năm giờ trôi theo nước lũ. Chút hàng cứu trợ cũng như muối bỏ biển, những đoàn cứu trợ, quay phim rồi cũng sớm ra đi, người nông dân nghèo vẫn phải ở lại đối mặt với số phận nghiệt ngã của mình bỡi lẽ chắc gì sang năm tới ngôi nhà họ không bị lũ cuốn trôi thêm lần nữa.
Mỗi năm có không dưới 10 cơn bão nhiệt đới đổ vào Việt Nam kèm theo là chừng ấy cơn lũ. Bão thì có trận to trận nhỏ nhưng lũ thì năm sau luôn lớn hơn, dữ dằn hơn năm trước. Tỉnh Kontum trên cao nguyên đã phải hứng chịu một trận lũ lịch sử trong vòng 100 năm trở lại, lũ nhanh bất ngờ khiến số nạn nhân chết vì lũ ở Kontum cao nhất trong 6 tỉnh bị cơn bảo số 10 đi qua .
Năm nào cũng vậy, sau bão lũ người ta lại rầm rộ tổ chức quyên góp, lại quay phim , chụp hình đăng báo, đôi khi lại cãi vã om xòm về chuyện dự báo đúng sai, chỗ nào thiệt hại ít thì tuyên dương khen ngợi lãnh đạo biết lo xa, chỗ nào thiệt hai nhiều thì cố tìm ra “vài cái khách quan” mà đổ lỗi. Người ta cứ làm như là dự báo đúng thì mọi chuyện sẽ êm đẹp không bằng. Những vị lãnh đạo tai to mặt lớn khi nói đến thiệt hại do bảo lũ hình như đều cố tình lờ đi cái nguyên nhân cơ bản gây ra lũ lụt hằng năm là bỡi rừng đã bị tàn phá đến mức không còn đủ sức để ngăn chặn nước lũ từ đầu nguồn các con sông. Người ta cố tình không nhắc đến bỡi vì trong hơn 3 thập niên qua rừng đã bị triệt hạ một cách có hệ thống, một cách vô tội vạ với một thái độ vô trách nhiệm đến cao độ.
Nói rừng đã bị phá hủy một cách có hệ thống bỡi lẽ từ sau năm 1975 nhà nước CSVN đã thành lập các lâm trường mà nhiệm vụ chính của các lâm trường là khai thác gỗ để xuất khẩu gỗ thô ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ. Cung cách xuất khẩu gỗ chưa qua chế biến một cách ồ ạt đã làm diện tích rừng suy giảm trầm trọng. Bọn quan chức tham nhũng, bọn gian thương cấu kết với nhau đã tạo nên một lớp tỷ phú đỏ nhờ gỗ rừng để hôm nay bọn nầy dư tiền sắm xe hơi, máy bay riêng cả chục triệu đô la Mỹ. Không dừng lại ở hành động phá rừng khai thác gỗ, bọn ngu xuẫn còn ồ ạt phá hàng trăm ngàn hecta rừng sau khi lấy gỗ để trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê chạy theo lợi nhuận trước mắt. Chưa nói đến những binh đoàn bộ đội bám trụ ở cao nguyên trung phần để “làm kinh tế” nhưng thực chất chỉ là dung công lính nghĩa vụ để phá rừng trồng cao su, cà phê kinh tài cho quân đội. Mạnh ai nấy kiếm tiền trên vùng đất rừng cao nguyên, đầu tiên là để kiếm tiền qua cơn hoạn nạn vì bị cấm vận kinh tế, về sau là làm giàu trong giai đoạn chẳng còn ai nói được ai (ngay cả bí thư tỉnh uỷ Daklak còn có cả một trang trại rộng lớn nằm ngay giữa lòng vườn quốc gia thì còn nói được ai).
Trên thế giới nầy có lẽ không có quốc gia nào có từ “lâm tặc” ngoài Việt Nam. Kể từ khi có sự quan tâm của thế giới bên ngoài về sự biến mất nhanh chóng của nhưng diện tích rừng rộng lớn tại Việt Nam, vì những cam kết với thế giới văn minh trong vấn đè bảo vệ môi trường thế giới thì cửa rừng được đóng lại, nói nôm na là không cho khai thác gỗ nữa thì từ đây xuất hiện từ “lâm tặc”. Nhưng những người dân nghèo khổ lén lút vào rừng chặt củi đốt than, hay cưa trộm gỗ không đáng gọi là lâm tặc, bọn lâm tặc là bọn người có tổ chức, cấu kết với chính quyền địa phương, với lực lượng kiểm lâm để phá rừng. Cứ xét một cái huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam thì rõ: rừng đã đóng cửa từ lâu nhưng trên địa bàn huyện vẫn tồn tại cả chục trại cưa hoạt động thường xuyên trước mắt chính quyền, thử hỏi gỗ đâu mà cưa với xẻ nếu không phải là gỗ lậu, chỉ riêng một huyện nhỏ, nếu kể cả toàn quốc là bao nhiêu, nói như vậy để thấy rõ cái thói vô trách nhiệm của chính quyền. Khi cơn bảo lũ số 9 đi qua một cảnh tượng bày ra trước mắt mọi người cho thấy cái mức độ rừng đầu nguồn đang bị tàn phà khốc hại như thế nào: dưới chân cầu, khu vực bờ sông nơi cầu Quảng Huế thuộc huyện Đại lộc tỉnh Quảng Nam một bãi gỗ rộng vài Km2 cả trăm ngàn cây gỗ trên nguồn sông Thu Bồn bị lũ cuốn trôi về bị chặn lại bởi cây cầu bắc qua sông Vu Gia, người dân địa phương ngay khi lũ còn cuồn cuộn trên sông đã đổ về đây để vớt gỗ bất chấp hiểm nguy. Nhìn hình ảnh Bãi gỗ trên sông mới thấy được quy mô phá rừng ở đầu nguồn..
Trách nhiệm bảo vệ rừng từ nay được giao phó hoàn toàn vào tay Kiểm lâm, nhưng kiểm lâm khi nào cũng kêu than là không đủ người để kiểm soát một diện tích rừng quá lớn nên thay vì vào rừng thì họ chỉ lập trạm kiểm soát trên các tuyến đường lộ, vừa an toàn vừa có ăn. An toàn vì không vào rừng sâu nơi có thể bị lâm tặc tấn công mất mạng như chơi, nếu không thì kiểm lâm cũng sợ lâm tặc đến nhà hăm doạ vợ con, bỡi lâm tặc là dân địa phương, nhà ai ở đâu chúng biết rõ, dân cưa gỗ thuê trong rừng là dân tứ phương, chém kiểm lâm xong bỏ trốn biêt ai mà tìm. Có ăn vì mười chuyến xe gỗ lậu qua trạm chỉ cần cho qua vài chuyến là kiếm đủ tiền, ngoài ra những xe gỗ bị kiểm lâm bắt sau nầy khi đem bán đấu giá thì kiểm lâm còn được hưởng hoa hồng, đúng là lợi đơn lợi kép.
Xem như vậy thì hoạt động của kiểm lâm hoàn toàn không có tác dụng gì trong việc ngăn ngừa phá rừng ngược lại chỉ hợp thức hoá số gỗ lậu mà thôi. Có kiểm lâm rừng còn bị phá bạo bởi bọn lâm tặc biết rằng cái đống gỗ cao như núi trong các trạm kiểm lâm rốt cuộc cũng sẽ lại vào tay chúng, thông qua hoạt động bán đấu giá mà thôi. Nhà nước trung ương biết chuyện nầy không? Biết chứ sao không, người dân còn biết huống gì là những đỉnh cao trí tuệ. Biết nhưng không cần làm gì bởi nói cho cùng ra thì Mất rừng, lũ lụt, chẳng mảy may ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Nhà cửa của họ chẳng bao giờ bị lụt, mà nếu chẳng may lũ lụt có nhận chìm môt cái nước VN nầy thì gia đình họ dư sức để kiếm một quê hương khác ngon lành hơn để sống.
Đó là sự thật, không phải chuyện bày ra để bôi bác, cứ xem mấy tỉnh duyên hải như Quảng Tri, Quảng Nam , Quảng Ngãi thì biết, ai cũng cao giọng kêu gào bảo vệ rừng phòng hộ nhưng chỉ cần chút lợi là sẵn lòng cấp phép cho các doanh nghiệp khai thác quặng Titan thẳng tay chặt sạch những rừng phi lao phòng hộ, người dân mất ruộng vì nạn cát lấp kêu trời nhưng có ai nghe? Những chuyện nầy dẫu sao cũng có người biết người không, có thể lấp liếm được, nhưng còn cái dự án khai thác bauxite ở Lâm đồng, Daknong thì sao? Bao nhiêu triệu hecta rừng nghèo kiệt sẽ bị bóc đi để lấy quặng, không những các nhà khoa học lên tiếng phản đối mà người dân bình thường cũng thấy được những nguy cơ tiềm ẩn, nhưng kết quả thế nào, có ai đếm xỉa đến hay không? Chuyện nầy nếu không gọi là thói vô trách nhiệm với tương lai đất nước thì gọi bằng gì?
Nguyễn Vọng

