Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image


Bồ và Vợ


Bồ là cô gái qua đường

Vợ mới trân quí nhớ thương vô vàn

Bồ thì nũng nịu than van

Vợ lo nhà cửa lầm than vô cùng

Bồ hay mơ mộng mông lung

Vợ rất thực tế vô cùng đáng yêu

Bồ luôn đòi hỏi đủ điều

Vợ lo cơm sáng cơm chiều quanh năm

Bồ chỉ lo chuyện ăn nằm

Vợ thường chịu đựng cả năm mới tài

Bồ nào nghĩ đến tương lai

Vợ lo tính toán chuyện dài mai sau

Bồ thì chưng diện muôn màu

Vợ chỉ quanh quẩn trước sau trong ngoài

Bồ luôn đòi hỏi, ăn xài

Vợ thì vun xén một hai ba đồng ...

Bồ như chim hót trong lồng

Vợ làm vất vả cho chồng cho con

Bồ là con gái còn son

Vợ đâu có thể ỷ on suốt ngày

Bồ như có chút men say

Vợ đầy thương nhớ ngất ngây tình nồng

Bồ như một đoá hoa hồng

Vợ đẹp như cả vườn hồng ngát hương

Bồ thường giả dối yêu thương

Vợ thì chung thủy, cuối đường có nhau

Bồ đâu chịu đựợc âu sầu

Vợ luôn che dấu niềm đau trong lòng

Bồ là chỗ tựa đêm đông

Vợ mang hơi ấm tình nồng suốt năm

Bồ không một chút ân cần

Vợ thường lo lắng phân trần đúng sai

Bồ không cần biết đến ai

Vợ lo nội ngoại, nhớ ơn sinh thành

Bồ như trái chín trên cành

Vợ mang hạnh phúc an lành ấm êm

Bồ là những đứa moi tiền

Vợ hiền lại đẹp là Tiên trên đời !!!

Ðồ "Nịnh Ðầm"

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image

Thái giám Nguyễn An
là kiến trúc sư trưởng của công trình x.d Tử Cấm Thành?

Trong một bộ phim do đài truyền hình Đức thực hiện và được phụ đề Việt ngữ vì nội dung của cuốn phim nhằm ca ngợi công trình kiến trúc tuyệt vời của một người Việt Nam. ma người Tàu cầm nhầm hàng mấy trăm năm qua, nay đã bị thế giới phanh phui. TRẺ VIỆT ÂU CHÂU PHỤ ĐỀ VIỆT NGỮ CHO PHIM ĐỨC CA NGỢI NGƯỜI VIỆT XÂY TỬ CẤM THÀNH BẮC KINH (thêm phim trên You tube)

Trên các diễn đàn Internet vừa xuất hiện một bộ phim do đài truyền hình Đức thực hiện và được phụ đề Việt ngữ vì nội dung của cuốn phim nhằm ca ngợi công trình kiến trúc tuyệt vời của một người Việt Nam. Kiến trúc này đã được người Tàu cầm nhầm hàng mấy trăm năm qua, nay đã bị thế giới phanh phui.

Công việc phụ đề Việt ngữ cho bộ phim lịch sử này do 3 người trẻ ở Âu châu khởi xướng và thực hiện. Thoạt tiên do cô Phương Thùy (Finland) giới thiệu và Xuân Trường cùng Cẩm Vân (Germany) bắt tay thực hiện và hoàn tất vào giữa tháng 9, 2009.

Mọi người có thể download và xem thoải mái trên YouTube hoặc vào trang nhà www.vnlibraryonline .com (trong phần Phim-Hình, chọn “Phim Video” để xem).

Bộ phim “Tử Cấm Thành: Bản Di Chúc Của Một Bạo Chúa” được phát hình rộng rãi từ tháng 11 năm 2008. Nội dung phim xoay quanh bạo chúa Tàu triều Minh, Thành Tổ Vĩnh Lạc, tức Chu Đệ, con thứ tư của vua khai sáng triều Minh Chu Nguyên Chương. Từ bé, Chu Đệ được đánh giá là người đa mưu, túc trí. Khi mới 9 tuổi đầu, Chu Đệ đã một mình, không cần tùy tùng, có thể tự mưu sinh được trong rừng sâu núi thẳm.

Sau khi dấy binh cướp ngôi vua từ tay ấu chúa vốn là cháu của mình, Chu Đệ đã ra tay tàn sát tất cả triều thần cũ để trừ hậu hoạn và thay vào đó, ông trọng dụng thái giám.

Trong đám thái giám cận thần, có Nguyễn An, nguyên là tù binh từ Việt Nam, được Chu Đệ giao cho việc vẽ kiểu và chỉ huy hàng triệu nhân công để xây dựng cung đình, nội phủ cho Minh triều.

Phim có đoạn mở đầu thật hay:

“Tử Cấm Thành giữa trung tâm Bắc Kinh, một thời là nơi ngự triều của những hoàng đế Trung Hoa hùng mạnh, ngày nay vẫn là cung điện lớn nhất trên thế giới. Lịch sử của nó gắn với hoài bão của một con người. Tên ông ta là: Chu Đệ.

“Chu Đệ là một kẻ tiếm ngôi, ông đã dùng bạo lực để dành quyền thống trị Trung Hoa. Chu Đệ đày đọa tất cả những ai cản trở tham vọng quyền lực tuyệt đối của mình. Biểu tượng quyền lực của vị hoàng đế này là Tử Cấm Thành, một thế giới đầy bí ẩn với những nghi lễ duy trì từ đời này sang đời khác.

“Viên thái giám Nguyễn An là kiến trúc sư trưởng của công trình này. Thiết kế bậc thầy của ông dựa trên những chuẩn mực lâu đời. Không có chi tiết nào được phát thảo một cách ngẫu nhiên, mà tất cả đều mang một ý nghĩa biểu trưng nào đó.

“Làm thế nào mà Nguyễn An lại có thể xây dựng một cung điện đồ sộ như thế chỉ trong có 3 năm?

“Tham vọng xây dựng một cung điện sánh ngang với đất trời của Chu Đệ đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên công trình để đời của ông lại chứa đựng sẵn trong nó mầm mống của sự suy tàn...”

Thế mà suốt trong 600 năm liền, người Tàu dấu nhẹm tác giả công trình xây dựng Tử Cấm Thành, niềm hãnh diện của dân tộc và đất nước Trung Hoa. Nay thì đã có các công trình soi sáng lịch sử, đưa sự thật ra công luận.

Đầu tiên là đại học Cambridge, Hoa Kỳ, vào năm 1986, ghi thuật chi tiết việc kiến trúc Tử Cấm Thành vào thời Minh Thành Tổ, do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt Nam đảm trách.

Tháng 9 năm 2008, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam tại Little Saigon, California, cho xuất bản tác phẩm Việt Nam: Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông của tác giả Du Miên. Đề tài người Việt Nam vẽ kiểu và xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh chiếm ¼ nội dung tác phẩm.

Tháng 11 năm 2008, đài truyền hình ZDF Dokukanal (Germany) thực hiện bộ phim Tử Cấm Thành Bắc Kinh: Bản Di Chúc Của Một Bạo Chúa, một lần nữa làm sáng tỏ thêm về tác giả công trình kiến trúc đồ sộ bậc nhất thế giới này: Nguyễn An, một tù binh Việt Nam.

Gần đây, Trung Cộng được thế giới để ý nhiều trên cả 2 mặt xấu và tốt. Sự phát triển kinh tế và bành trướng sức mạnh quân sự của TC đã được ví von là ngang ngửa với siêu cường Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, thế giới đã thận trọng với những gì liên quan đến nhãn “Made in China”, thường là hàng nhái, kém phẩm chất và đôi khi đầy chất độc hại.

Tại các nước láng giềng, TC càng củng cố quyết tâm đồng hóa Tây Tạng; kiềm tỏa Miến Điện, Bắc Hàn và chứng tỏ vai thiên tử và chư hầu giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
Mối bang giao “hữu hảo” giữa TC và VC ngày càng hé lộ nhiều âm mưu toan tính thâm độc đã khiến cho người Việt khắp nơi trên thế giới đặc biệt quan tâm.

Chủ nhựt 1 tháng 11 năm 2009, tại hội trường Madison District Government Center, số 6507 Clumbia Pike, Annandale, VA 22312 (vùng thủ đô Hoa thịnh đốn), sẽ có một cuộc hội thảo liên quan đến mối giao hảo Tàu Việt trong bối cảnh toàn cầu. Nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động khắp nơi cùng xuất hiện để cùng mọi người quan tâm đến tương lai đất nước, thảo luận, trao đổi

VĨNH THUẬN chuyển

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Tác giả 'Chiếc Lá Cuối Cùng' ra CD mới:
'Nợ Nhau Một Chút Giận Hờn'


Image
Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại nhà riêng ở Garden Grove, Orange County,
Nam California. (Hình: nhạc sĩ cung cấp)

Image
Nhạc sĩ Tuấn Khanh và nữ ca sĩ Quỳnh Lan, người “mới nhất” được chọn trình bày
bài hát “Chiếc Lá Cuối Cùng.” (Hình: nhạc sĩ cung cấp)

Lê Thụy
WESTMINSTER - Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả các ca khúc bất hủ, như “Chiếc Lá Cuối Cùng,” “Hoa Xoan Bên Thềm Cũ,” “Quán Nửa Khuya,” “Dù Thương Không Nói”... từ trước năm 1975, nay vừa cho ra mắt CD mới “Nợ Nhau Một Chút Giận Hờn - Tình khúc Tuấn Khanh.”

CD mới gồm 10 bài hát, trong đó có các bài nổi tiếng của ông trước đây, như “Chiếc Lá Cuối Cùng”, “Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Ði”... nhưng do các giọng ca mới trình bày (Quỳnh Lan, Nguyên Thảo, Ðức Tuấn và Xuân Phú...)

Nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết ông hài lòng với các ca sĩ chọn lọc này, nên giao lại cho nữ ca sĩ Quỳnh Lan hát bài “Chiếc Lá Cuối Cùng.” Quỳnh Lan là ca sĩ thứ 41 trình bày nhạc phẩm bất hủ này, kể từ khi tác phẩm ra đời cho đến nay.

Trong CD mới nhất này, nhạc sĩ Tuấn Khanh chọn nhạc phẩm “Nợ Nhau Một Chút Giận Hờn,” phổ nhạc theo ý thơ của Phạm Quang Vinh, làm tựa đề cho toàn bộ tác phẩm.

CD mới còn có các nhạc phẩm “Nỗi Niềm,” “Chiều Hoang Trên Sông,” “Bỡ Ngỡ,” “Chiều Thứ Bảy Xa Rồi,” “Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Ði,” “Như Muôn Lớp Sóng,” “Gọi Buồn,” “Ðồi Sim,” “Chiếc Lá Cuối Cùng...”

Nhạc sĩ Tuấn Khanh sinh năm 1933, học nhạc khi chỉ mới 5, 6 tuổi. Ðến năm 10 tuổi, ông đã có thể xướng âm chính xác một ca khúc. Năm 1950, ông về Hà Nội học thêm vĩ cầm từ người anh cả.

Năm 1955, Tuấn Khanh vào miền Nam, cùng với làn sóng cả triệu người di cư tìm tự do, và trên vùng đất mới, ông sáng tác nhạc phẩm đầu tiên “Ðò Ngang,” viết cùng nhạc sĩ Y Vân. Sau đó là hàng loạt ca khúc trữ tình khác, như “Mộng Ðêm Xuân,” “Hoa Xoan Bên Thềm Cũ,” “Nỗi Niềm,” “Dưới Giàn Hoa Cũ,” “Chiếc Là Cuối Cùng,” “Một Chiều Ðông,” “Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Ði,” “Quán Nửa Khuya,” “Ðêm Này Nghỉ Ðỡ Chân,” “Dù Thương Không Nói...”

Nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết, về loại nhạc tình, ông viết trên dưới 100 bài, còn về loại nhạc phong trào, chiến dịch& ông sáng tác vào khoảng 100 bài khác.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh vượt biên vào năm 1982, để đến Mã Lai Á, trước khi được nhận vào Hoa Kỳ vào năm 1983. Ông đến San Jose một thời gian ngắn, sau dời về cư ngụ luôn ở Garden Grove, Orange County, cho đến nay.

Ðể lưu lại cho đời các tác phẩm bất hủ của nhạc sĩ Tuấn Khanh, Trung Tâm Thúy Nga thực hiện một cuốn DVD (Paris by Night 64) ghi lại các tác phẩm tiêu biểu nhất của ông, trong đó có các bài “Hoa Xoan Bên Thềm Cũ,” “Chiếc Lá Cuối Cùng,” “Quán Nửa Khuya...”

Hiện nay, tuy đã 76 tuổi, nhạc sĩ Tuấn Khanh vẫn còn khá khỏe mạnh. Ông “khoe” vẫn còn sáng tác, nhưng không chú ý mấy đến loại nhạc tình nổi tiếng của ông từ bấy lâu nay, mà chỉ chuyên tâm vào nhạc tôn giáo như: Phật Giáo, Tin Lành.

Cũng xin tiết lộ một bí mật: Nhạc sĩ Tuấn Khanh nấu phở rất ngon, nhưng do tuổi tác, sức khỏe, không còn cho phép, ông truyền nghề lại cho con trai út, là Trần Trọng Hiển, 34 tuổi, và trong tương lai có thể mở tiệm phở, lấy tên “Hoa Xoan.” (L.T.)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những thói quen khiến ông xã chán vợ

Image
Ảnh minh họa: Corbis.com.

Có thể bạn nghĩ những lời góp ý, nhắc nhở, phê bình của mình là nhẹ nhàng và chính đáng, nhưng nếu bạn cứ chì chiết triền miên sẽ làm cho anh ấy dần xa lánh bạn.

Nên nhớ rằng, vì bạn đã lựa chọn tìm hiểu chàng kỹ càng rồi mới đi đến quyết định kết hôn, nên sẽ không công bằng chút nào những khi bạn có gì không vừa lòng, lại đem người đàn ông đó ra chỉ trích.

Cằn nhằn không ngừng nghỉ chỉ là một trong những thói quen của chị em khiến các ông chồng chán gia đình.

Lơ là chuyện gối chăn

Tình dục không phải là tất cả trong đời sống hôn nhân, nhưng đó là một trong những phương cách tốt nhất để duy trì đời sống vợ chồng.

Trong khi các vấn đề về thể chất như: sự thay đổi kích thích tố, sự căng thẳng, sự mệt mỏi khiến bạn không còn tinh thần để duy trì đời sống tình dục, một số các lý do khác là do quan niệm của bạn.

Vợ chồng cần thiết phải có những cảm nhận tốt về nhau mới có thể thân mật được. Nếu như lúc nào bạn cũng ở trong tình trạng chống đối, sẵn sàng chỉ trích nhau, có những phản ứng tiêu cực với người bạn phối ngẫu của mình, vợ chồng bạn sẽ khó có thể thân mật với nhau .

Không để ý đến vẻ ngoài của mình

Cuộc sống với bao điều diễn ra - tuổi tác, thiên chức làm mẹ, bệnh tật, thừa cân, khiến cho vẻ ngoài của bạn không còn được như thuở ban đầu. Rất may mắn là trong sâu thẳm của tình yêu, vẻ ngoài đã trở nên ít quan trọng hơn. Tuy nhiên, bạn cũng nên biết rằng "nửa kia" vẫn quan tâm đến vẻ ngoài hiện nay của bạn.

Đôi khi chỉ một thay đổi nho nhỏ nhưng có thể mang lại tác động lớn lao. Chẳng hạn như, thay cho chiếc quần jean bụi bặm ban ngày, bạn hãy chọn cho mình trang phục vừa vặn, gọn gàng vào những buổi tối ra ngoài cùng chàng.

Dành quá nhiều thời gian cho những người thân

Bao gồm cả việc tiết lộ những thông tin riêng tư về chồng bạn, những chuyện hôn nhân riêng tư của mình cho phía bên gia đình mình, thậm chí đứng về phía gia đình để chống lại anh ấy. Tất cả những điều này sẽ ngầm phá hủy hạnh phúc hôn nhân của bạn, vì ông xã bạn sẽ cảm thấy mình chỉ ở vị trí thứ hai sau gia đình vợ.

Khi kết hôn, bạn sẽ bắt đầu cuộc sống với gia đình riêng - hãy dành ưu tiên cho gia đình riêng của mình.

Ưu tiên cho bạn bè, công việc và những sở thích riêng

Việc bạn cần có những mối quan hệ và quan tâm ngoài gia đình là quan trọng, nhưng nếu bạn không biết những điều gì là ưu tiên có thể sẽ phá hỏng hôn nhân của bạn.

Có thể bạn đang lấy bạn bè hay công việc để thư giãn, tạm quên đi gia đình hay đơn giản chỉ vì bạn quá yêu thích công việc hay chiều chuộng những sở thích riêng của mình quá nhiều. Nhưng có bao giờ bạn nghĩ, bạn đang khiến cho vợ hoặc chồng bạn cảm thấy mình như là người thứ yếu?

Không thảo luận với chồng về chi tiêu trong gia đình

Không chỉ gây nên những điều bất đồng, bực bội và cáu gắt, thói quen xấu này còn gây ảnh hưởng đến tình hình an toàn tài chính trong gia đình bạn. Hôn nhân là một sự thỏa hiệp trên mọi phương diện của cuộc sống. Vì thế, bạn cần thảo luận với nhau về tất cả các vấn đề liên quan đến tiền bạc - như tài khoản ngân hàng, việc chi trả các hóa đơn hàng tháng trong nhà, các khoản nợ, các khoản vay, các phần tiền dành dụm để đầu tư.

Nếu không thể bàn luận cùng nhau rõ ràng các vấn đề về chi tiêu và không có những quyết định chung, sẽ rất khó để có được hôn nhân bền vững.

Bỏ quên những cử chỉ chăm sóc nho nhỏ

Những cử chỉ yêu thương chăm sóc nhau hằng ngày là yếu tố giữ cho hôn nhân thêm khăng khít, lãng mạn, sống động. Nhưng một số cặp vợ chồng dường như bỏ quên điều này. Chỉ một nụ hôn dành tặng chồng khi anh ấy vừa về đến nhà, một món quà nho nhỏ (không nhất thiết phải là quà đắt tiền) khiến anh ấy ngạc nhiên, hoặc dành cho nhau những cử chỉ chăm sóc âu yếm mỗi khi hai người ở gần nhau, nói cảm ơn nhau khi anh ấy giúp mình một việc gì dù lớn hay nhỏ cũng có ý nghĩa quan trọng rất nhiều trong đời sống hôn nhân.

Háo thắng

Giữa hai vợ chồng sẽ không tránh khỏi có sự khác biệt trong cách nhìn nhận và giải quyết các vấn đề liên quan đến tài chính, con cái, công việc và gia đình. Nhưng, có thể phương cách mà bạn đang dùng để giải quyết vấn đề lại đang làm tổn thương và hủy hoại hạnh phúc gia đình.

Nếu bạn tự hỏi, tại sao mình không bao giờ thành công trong việc giải quyết những vấn đề trong gia đình, đó có thể là vì bạn không cố gắng để tìm phương cách hữu hiệu nhất để giải quyết những vấn đề ấy.

(Theo Phụ Nữ, Lifescript)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Bí mật đời tư của Osama bin Laden

"Rất nghiêm khắc với con trai, nhưng lại mê hoa hướng dương và các loại xe tốc độ cao",
vợ đầu tiên của trùm khủng bố Osama bin Laden tiết lộ những điều thầm kín nhất của kẻ đang bị truy nã gắt gao nhất thế giới.

Bà Najwa bin Laden vừa xuất bản một cuốn hồi ký viết về người chồng cũ của mình,
trong đó bà miêu tả ông ta là một sự tổng hợp mâu thuẫn của các tính cách.

Image
Trùm khủng bố Osama bin Laden. Ảnh: Reuters.
Bà cho biết bin Laden rất nghiêm khắc, có thể đánh con chỉ vì nó nhe quá nhiều răng khi cười. Ông ta cũng cấm sử dụng các thiết bị điện tử trong nhà và cố gắng rèn luyện con trai bằng cách bắt chúng trèo lên những ngọn núi hoang mạc mà không có nước uống.

Theo Telegraph, cuốn sách mang tên Growing Up Bin Laden, do Najwa viết cùng cậu con trai thứ tư Omar, đã vẽ lại chặng đường Bin Laden từ một thiếu niên mới cưới chuyển thành tên trùm khủng bố quốc tế, đi kèm những tiết lộ thú vị về chuyện ông ta thích ăn xoài và khoái xem kênh BBC.

Bên cạnh chi tiết về cuộc sống thường ngày, cuốn hồi ký còn khắc họa một người đàn ông ngày càng trở nên khắc nghiệt khi bị truy nã bởi phương Tây.

Najwa cưới người anh họ bin Laden khi ông 17 tuổi và bà 15 tuổi. Bà đẻ cho ông 7 người con trai, trong đó có Omar, và 4 người con gái. Bin Laden sau đó lấy thêm 5 bà vợ và giữ họ sống riêng biệt ở các ngôi nhàở Ảrập Xêút và Sudan, nơi họ không được dùng các thiết bị điện tử. "Cha tôi không cho phép mẹ tôi bật điều hòa, cũng như không cho bà sử dụng chiếc tủ lạnh có sẵn trong bếp", Omar kể.

Vào cuối thập niên 70, bin Laden bắt đầu hành trình tới Pakistan để ủng hộ phong trào kháng chiến chống Xô viết. Ông thường gây ấn tượng với những người con trai qua các câu chuyện về cuộc chiến chống quân đội Liên Xô đóng ở Afghanistan trong những năm 1980. Tuy nhiên, khi cuộc chiến càng kéo dài, bin Laden về sau càng trở thành một người khắc nghiệt.

Cuốn hồi ký cũng tiết lộ rằng bin Laden - kẻ chủ mưu cuộc tấn công đẫm máu ngày 11/9/2001 tại New York, Mỹ, và vẫn đang nằm ngoài vòng pháp luật sau 8 năm bị truy lùng gắt gao trên toàn thế giới - có ít nhất một chiếc Mercedes màu vàng và từng mua một con thuyền đua.

Najwa nói: "Không có gì khiến ông ấy thỏa mãn hơn là dành cả một ngày để lái xe tốc độ cao tới sa mạc, bỏ lại chiếc xe ở đó và đi bộ đường dài".

Bị buộc phải tha hương tới Sudan do phản đối việc hoàng gia Ảrập chấp nhận quân đội Mỹ đóng quân trong nước, ông ta luôn chuẩn bị sẵn cho gia đình đối mặt với sự gian khổ bằng cách khiến họ phải ngủ vật vã trong sa mạc và leo núi liên tục.

Tuy nhiên, trong những giây phút thư giãn, các con trai ông vẫn rất ngưỡng mộ khả năng cưỡi ngựa của cha mình. Ngoài ra, ông ta còn thích thể hiện tài tính toán bằng cách thách mọi người đánh bại ông trong các phép tính.

Con trai bin Laden nói: "Cha tôi nổi tiếng với nhiều tài lẻ, đến mức có lần người ta đến nhà và yêu cầu ông đọ sức với một cái máy tính".

Vợ của bin Laden bổ sung: "Thú thư giãn của Osama là làm vườn, trồng ngô và những cây hoa hướng dương to bự".

Diệu Minh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Sự nghiệp trồng người

Nguyễn Ðạt Thịnh

Bốn chữ “sự nghiệp trồng người” thanh âm oang oang, rổn rảng khiến người nghe ngờ vực, không hiểu, rồi mất thiện cảm. Dù cách đọc và cách viết giống hệt chữ quốc ngữ, nhưng 4 chữ này thật ra là chữ Việt Cộng; và có nghĩa là thành tích giáo dục.
Việt Cộng có thành tích giáo dục thật sao? Lại thêm một nghi vấn nữa. Một quốc gia sau 34 năm thống nhất, hòa bình, và 55 năm độc lập mà vẫn chưa làm được một chiếc xe gắn máy quả không đủ tư cách để khoe thành tích giáo dục.
Thiếu tổ chức giáo dục kiến hiệu đang là nguyên nhân khiến có đến 2 bài báo trong cùng một ngày thảo luận về “sự nghiệp trồng người” tại Việt Nam.
Bài đầu tiên do ký giả Trần Trọng Thức viết, đăng trên Tuần Việt Nam của tờ báo điện tử VietnamNet. Ông Thức cho rằng trục trặc “đầu vào, đầu ra” tại đại học khiến “sự nghiệp trồng người” của Việt Cộng bị trở ngại.
Bốn chữ “đầu vào, đầu ra” cũng cần giải thích: “đầu vào” là việc thi nhập đại học, và “đầu ra” là thi ra trường đại học. Ông Thức nói chính “sự cố” đầu vào thì khó mà đầu ra lại dễ khiến học thức Việt Nam bị coi rẻ.
Ông viết, “… có đáng buồn không khi Việt Nam bị chế giễu là nước có tiến sĩ nhiều nhất thế giới tính theo bình quân đầu người!
“Cách đây mấy năm, trong một hội nghị hiệu trưởng các trường đại học miền Trung-Tây Nguyên, bà Trần Thị Hà, Vụ trưởng Vụ Đại học và sau đại học, đã làm các đại biểu cười ra nước mắt khi kể lại câu chuyện một nghiên cứu sinh của một học viện thuộc quân đội đã xin làm luận án tiến sĩ với đề tài: ‘Tắm giặt tập trung cho các quân đoàn đóng quân phía Bắc’.”
Ðề tài luận án “tắm giặt” giải thích nguyên nhân thế giới chế giễu các ông tiến sĩ Việt Cộng.
Bài báo thứ nhì viết về “sự nghiệp trồng người” của Việt Cộng là tác phẩm của nhà báo Hồ Bất Khuất. Có thể ông này không liên hệ huyết thống gì với Hồ Chí Minh. Ông Bất Khuất viết, “Tôi theo dõi những cuộc trao đổi, tranh luận, hiến kế cho ngành giáo dục trong vòng 20 năm nay. Có rất nhiều ý kiến tâm huyết và xác đáng, nhưng cho tới tận năm 2009 này, giáo dục nước ta vẫn trong tình trạng bí bét.
“Tại sao vậy?”
Nêu lên câu hỏi rồi ông Bất Khuất cung cấp câu trả lời, “… chúng ta hay nhắc đến những nguyên nhân ‘sạch sẽ và sang trọng’ như bệnh thành tích hay chương trình quá nặng, quá tải đối với học sinh…
“Một nguyên nhân nữa là việc còn có những người có chức, có quyền ăn tiền trong việc nhận giáo viên mới và chuyển đổi giáo viên từ vùng này qua vùng khác. Trao đổi với người thân, bạn bè, đồng nghiệp tôi thấy việc xấu xa này đã diễn ra trong nhiều năm, ở hầu hết các vùng, miền của đất nước.
“Sẽ có người thắc mắc là một việc xấu diễn ra lâu và rộng như vậy, sao không được phanh phui và triệt phá?
“Bởi vì, theo tôi, những người chọn nghề giáo viên vốn hiền lành, không ưa rắc rối. Hơn nữa, chính họ cũng có lỗi trong chuyện này, vì họ là người đưa hối lộ.

“Trong khi đó, những kẻ ăn tiền lại rất khôn ngoan, nhiều mẹo mực. Họ còn nắm trong tay số phận của những người đút lót để được nhận vào làm việc dưới quyền. Do vậy, không ai muốn làm lộ.

“Còn nếu nói bóng, nói gió đến tai những kẻ ăn tiền thì họ có thể bóng gió lại thế này: ‘Tôi có đến nhà người ta bắt họ đưa tiền đâu?! Họ tự đưa đến đấy chứ. Mà họ không đưa cho tôi, họ đưa cho vợ tôi.’ (Lời một trưởng phòng giáo dục huyện).
“Nhưng vừa rồi, tôi biết cháu của một người bạn đã phải mất không 40 triệu đồng cho “phi vụ” xin đi dạy học này. Cô gái đó thông minh, học giỏi. Sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội thì về quê xin việc. Sau khi tìm hiểu, móc nối, nhờ vả thì chốt lại thế này: Vì hồ sơ tốt và có người quen nên chỉ phải chi 40 triệu đồng (các trường hợp khác thường là 50 triệu đồng). Dù không có tiền, nhưng muốn đi dạy nên cô gái đó đi vay nợ lãi số tiền đó.
“Được đi dạy nhưng coi như đi làm công không, vì với số tiền lương hơn 1 triệu đồng/tháng, chỉ vừa đủ trả lãi cho món tiền nợ. Cô ta chỉ dạy được 1 năm rồi bỏ vào Vinh xin làm ở một khách sạn để có tiền để sống và trả dần số nợ xin đi dạy học. Có lẽ không còn ở trong vòng cương tỏa của những người đã ăn tiền của mình nên cô mới kể rõ ràng như vậy.”

Thanh niên, thiếu nữ Việt Nam thông minh và hiếu học, cha, mẹ họ lại quý trọng học vấn, luôn luôn khuyến khích con theo đuổi học trình cho đến lúc gia đình không còn đủ khả năng nuôi con đi học nữa.
Bẩm chất đó của con cái, và tinh thần đó của cha, mẹ, là nguyên nhân khiến người Việt hải ngoại đang thành công lớn lao trong mọi sinh hoạt xã hội.
Tham dự cuộc duyệt binh tri ân cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Việt Nam, một cựu quân nhân Hoa Kỳ viết, “Không thể ngờ thế hệ thứ nhì của người Việt Nam tại Hoa Kỳ lại thành công quá mức như vậy: không biết bao nhiêu là bác sĩ, tiến sĩ, khoa học gia, doanh nhân. Họ bảo vệ văn hóa Việt Nam, mặc dù họ Mỹ hoá rất rõ. Họ rất yêu nước, nhưng họ cũng thương yêu Hoa Kỳ, quê hương thứ nhì của họ. Con cái họ thường xuyên đứng đầu trong lớp học.”

Cũng thì quả cam Việt Nam, nhưng trồng trên đất tự do thì múi lớn, nước ngọt, trồng trong khí hậu tham nhũng, thoái hóa cộng sản thì ruột úng, cuống héo.
Có thảo luận thêm bao nhiêu năm nữa, hiến kế thêm bao nhiêu lần nữa thì đầu vào của hệ thống đại học cũng vẫn khó để bóp nghẹt học vấn, và đầu ra vẫn dễ để tạo những ông tiến sĩ Việt Nam chỉ quan tâm đến những việc tủn mủn như tắm giặt tập thể mà thôi.
Chỉ còn nước thay đổi toàn bộ bầu không khí u ám đang ngự trị trên khí quyển Việt Nam nếu chúng ta không muốn đứng mãi trong cuối danh sách tiến bộ.
Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Thì Thầm Với Mùa Thu
Bên nhà trời đã sang đông nhưng ở đây vẫn còn là mùa thu. Mùa thu năm nay đến chậm và ra đi cũng chậm. Sắp đến tháng mười một rồi, hôm qua ngay cả một cơn tuyết nhẹ đến thăm nhưng lá vẫn chưa rơi hết. Nhiều hàng cây vẫn còn choàng trên thân chiếc áo màu vàng.
Chung quanh nhà đâu cũng lá và lá. Mùa thu New England, tuy không có “gốc sim già đó” nhưng vẫn nghe đâu đây như có tiếng “thu hát cho người"

Những buổi sáng trời không mưa, như sáng hôm nay, tôi ngồi nghe tiếng chổi vọng qua từ ngôi chùa nhỏ bên kia đường. Các thầy trong thiền viện dậy rất sớm. Thay vì dùng chiếc máy thổi lá như nhiều người ở xứ này, các thầy vẫn quét lá bằng chổi như những ngày còn ở Việt Nam. Thật lạ, giữa thị trấn sầm uất của phía nam thành phố Boston lại có một khoảng đất nhỏ mang trọn vẹn một khung cảnh, một nếp sống Việt Nam. Thiền viện với mái ngói cong, với tiếng chuông ngân dài hòa trong tiếng lá rơi xào xạc buối sáng cuối thu. Êm dịu. Một không khí êm dịu khó có thể tìm đâu trong thành phố kỹ nghệ này.

Gia đình tôi dọn về thị trấn phía nam này đã 8 năm rồi. Không bao lâu sau khi ổn định chỗ ở, ngày nọ nhìn ra đường, một thầy còn khá trẻ đang đứng ngắm căn nhà đang treo bảng bán.Vợ tôi nhìn tôi “Anh đến đâu là có chùa theo đó.” Thật vậy, vài tháng sau, căn nhà của người láng giềng bên kia đường trở thành ngôi thiền viện. Thiền viện Bồ Đề như tên chùa được khắc vào viên đá trước cổng ra vào. Ngoại trừ những ngày lễ lớn ghé qua thăm và chúc sức khỏe các thầy, tôi ít khi đến chùa và cũng không nhớ hết pháp hiệu các thầy. Một phần vì bận rộn với đời sống và phần khác cũng không cảm thấy cần thiết. “Trong núi không có Phật” như thiền tổ Trúc Lâm đã dạy, thì trong chùa cũng chưa hẳn có Phật. Đến để tìm gì? Tôi niệm Phật và nghĩ đến những lời dạy của ngài ở bất cứ nơi đâu dù khi ngồi nhìn những đám mây bay bên kia cửa sổ phi cơ, những đêm thao thức và ngay cả những chiều kẹt trên xa lộ.

Công việc làm buộc tôi thường dậy sớm, như sáng nay. Pha một tách cà-phê và ngồi nghe tiếng lá thu rơi, tiểng chổi của các thầy nhẹ vang. Một âm thanh quen thuộc vọng về. Kỷ niệm. Vâng, cũng ngôi chùa nhỏ, cũng quét lá trong sân chùa như thế. Mới đó mà đã 40 năm rồi. Bốn mươi năm mà như mới hôm qua. Cậu bé trong tâm hồn tôi cũng chẳng lớn hơn nhiều từ những mùa thu cũ.

Ngày đó, năm giờ sáng, khi phần đông người trong chùa còn ngủ, cậu bé thức dậy bắt đầu công việc mỗi ngày của mình. Cậu bé phải quét lá sớm để đến đúng bảy giờ thì đi bộ đến trường. Sân chùa rộng, nhiều khi vừa quét xong nhìn lại phía đầu sân bên kia, lá rơi đầy như trước, lại phải quét thêm lần nữa, nếu không thầy trụ trì thức dậy sẽ trách vì nghĩ là cậu bé chưa quét.

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn.

Nhiều buổi sáng khi quét lá xong, trời còn sớm cậu bé ngồi trên bệ đá trước giảng đường học bài. Nhìn những chiếc lá đang nhẹ nhàng rơi xuống, cậu bé nghĩ về mình và những đứa bé cùng cảnh ngộ. Số phận của chúng cũng mang nổi cô đơn sâu thẳm và mong manh như chiếc lá đang rơi. Thế hệ của cậu bé ngày đó là thế hệ của những chiếc lá bị cuốn đi trong mùa bão lửa. Lá rơi trên đường phố Đà Nẵng. Lá rơi dọc bến xe đò Hùng Vương. Lá rơi vào những hố rác hôi thối ở Hòa Cầm. Lá rơi bên ngoài các căn cứ lính Mỹ.

Mỗi sáng, bên ngoài các hãng kem, hàng trăm chiếc lá tuổi mười hai, mười ba sắp hàng chờ nhận kem đi bán. “Trường học”, “mái ấm gia đình”, “tình thương cha mẹ”, “một bữa cơm ngon”, hình như lâu lắm rồi không ai nhắc với chúng những chữ gần như xa lạ đó nữa. Cuộc hành trình chúng đi không có bóng mát. Những bàn chân nhỏ nhoi trên con đường Việt Nam đầy hố đạn.
Cám ơn Đức Phật và những lời dạy của ngài. Tình thương, bao dung và tha thứ như những giọt nước mát rót vào tâm hồn cháy bỏng hờn căm của cậu. Nếu không có tiếng chuông chùa, không có lời kinh khuya ru tuổi thơ nhiều mất mác, cuộc đời cậu, như hàng triệu chiếc lá chiến tranh khác đang lang thang khắp ba miền đất nước sẽ về đâu?

Năm năm sau, vào một buổi chiều mùa thu, cậu bé đã trở thành một thanh niên 18 tuổi, lạy Phật ra đi. Hôm đó trời đã vào thu. Lá chưa rơi nhiều như sáng hôm nay nhưng tiếng xào xạt hòa trong gió lớn hơn. Hai cây đa già cùng tấu lên khúc nhạc tiễn đưa cậu bé.

Tạm biệt chiếc đại hồng chung và những tiếng ngân dài, tạm biệt chiếc giường gỗ và bầy rệp đỏ, tạm biệt chiếc mùng ngăn muỗi nhiều chỗ vá. Không giọt nước mắt nào nhỏ xuống trong giờ chia tay người đi kẻ ở, không, cậu tự tay mở cánh sắt nhỏ ngăn hai thế giới và ra đi âm thầm như lần đầu mới đến chùa:

Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
Cây đa già đứng lặng khóc chia ly.

Sáng nay ngồi nhớ lại mình và những đứa bé bất hạnh thời chiến tranh. Tự hỏi, những chiếc lá vàng trên hè phố Đà Nẵng, trên bến xe đò Nam Lộc, trong hố rác Hòa Cầm ngày xưa đã bay về đâu.
Thời gian âm thầm trôi như giòng sông bất tận. Bỗng dưng thấy thương mình hơn bao giờ. Bỗng dưng thèm được về bên sân chùa cũ ngồi dưới ánh trăng thu để lắng nghe tiếng lá ru như tiếng mẹ vỗ về. Bỗng dưng thèm được hát, bài hát của một thời hoa niên đầy nước mắt. Nhưng không, tuổi thơ sẽ không bao giờ trở lại.

Những chiếc lá chiến tranh ngày xưa nay đã già, đã rơi tan tác ở một nơi nào đó trên quê hương hay như chính tôi, đang ngồi đây và một mình thì thầm với mùa thu ở một góc phía nam của thành phố Boston xa lạ.
Dù bay bao xa, một ngày, chiếc lá cũng sẽ trở về, để được hôn lên mảnh đất đầy oan nghiệt nơi giữ gìn xương thịt của mẹ cha và cũng để lần cuối cùng viết nốt những bài thơ dang dở.

Tôi viết nốt những bài thơ dang dở
Vá tình người rách nát thuở hoa niên
Ða sẽ hát bài đồng dao muôn thuở
Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.

Trần Trung Đạo

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

CHẮC MÁ TAO MỪNG LẮM...

Võ Đại Tôn
(Indonesia-Singapore).
Chiều trên đảo Galang. Nắng chưa tắt và hơi gió biển từ xa thổi vào lành lạnh, dường như có mùi muối mặn. Chúng tôi trong phái đoàn Văn Khố Thuyền Nhân, mỗi người mang một tâm trạng riêng nhưng cùng chung một tâm nguyện, âm thầm thắp nhang cắm trên các mộ bia hoang tàn. Nhiều mộ bia đã bị đập phá, gạch đá nằm lăn lóc, cỏ cháy vàng khô. Nhiều tấm bia đã phai mờ chữ khắc, nhiều tấm bia không có năm sinh, chỉ ghi ngày chết. Tất cả, tất cả đều im lặng, hoang vu, ngậm ngùi. Trên bục đá cao còn sót lại một cột cổng bằng xi-măng vào nghĩa trang, màu sơn trắng đã thành rong rêu loang lổ, ai đã sơn thêm ba sọc màu đen từ trên xuống dưới, thành lá cờ tang của Tổ Quốc, bơ vơ nơi xứ người. Trông thật ảm đạm, đìu hiu, tôi nghĩ đến những dòng nước mắt màu đen của Dân Tộc hôm qua và hôm nay. Tôi cúi đầu khấn nguyện, cắm nhang trên những nấm mộ vô danh, và tôi đang khóc trong lòng. Vì tuổi già leo dốc cao, và vì quá xúc động trước cảnh tượng điêu tàn hoang sơ này, tôi chợt cảm thấy mình ngộp thở, vội trao lại bó nhang đang bùng khói cho người bạn đồng hành trong đoàn, từ Mỹ qua. “Anh cắm nhang tiếp giùm tôi đi, tôi chóng mặt quá!”. Tôi đến ngồi bên cạnh một mộ bia đã bị đập vụn, nghĩ về thảm trạng của cả một trời quê hương, bên kia bờ biển Đông, và nghĩ đến những người đã chết bên này đại dương.

Dưới chân nghĩa trang, dọc theo con đường mòn, có một khu rừng. Một tấm bảng chỉ đường ghi bằng tiếng Anh : “Body Tree”. Trong lùm cây, có một cây đa già buông nhánh và rễ xuống tận đất. Có người nói đấy là cây bồ đề, và bảng chỉ đường “Body Tree” có nghĩa là khu cây bồ đề. Nhưng sự thật không phải như vậy. Dưới gốc cây có dựng ba kệ bàn thờ nhỏ có mái che như cái “trang” bằng gỗ sơn màu đỏ. Thuyền nhân trên đảo trước đây và dân làng địa phương gọi là “Miếu Ba Cô”. Vài anh em trong phái đoàn, đã từng sống trên đảo này, kể lại cho tôi nghe là có ba cô gái trên đường vượt biển đã bị hải tặc hãm hiếp, khi đến được trại tỵ nạn trên đảo đã quá tủi nhục và uất hận, ra treo cổ tự tử trên cành cây đa vào ban đêm. Trong ba người, có hai chị em ruột tuổi còn nhỏ. Đồng bào tỵ nạn trên đảo đã lập miếu thờ và dân làng địa phương cho đến nay vẫn còn gìn giữ nơi này, tin tưởng là chốn linh thiêng. Tôi nghĩ đến tấm bảng chỉ đường “Body Tree”, có lẽ là nơi “Cây treo xác người” chứ không có nghĩa là cây bồ đề. Tôi lặng người, đứng nhìn khu miếu hoang vu này, ngậm ngùi nghĩ đến thân phận của những người con gái Việt Nam, vào lứa tuổi con-em của tôi, đã theo gia đình vượt biển tìm Tự Do, để rồi phải chết trong cảnh oan khiên. Hương lạnh hoang tàn, cô đơn nghiệt ngã. Không biết thân nhân của những người con gái đau thương này, đã được định cư tại một nơi nào đó trên thế giới tự do, có bao giờ trở lại để thắp một nén nhang cầu nguyện ? Anh em trong Văn Khố Thuyền Nhân có ghi lại chi tiết về những cái chết tận cùng khổ nhục này của các cô gái Việt Nam, nhưng tôi chỉ viết lại cảm xúc của riêng tôi vể cảnh tượng. Tôi lại nhìn ra biển khơi và thấy hiện ra căn nhà nghỉ mát đồ sộ nguy nga của con gái tên thủ tướng việt cộng Nguyễn Tấn Dũng trên bờ biển Nha Trang mà tôi đã thấy hình đăng trên báo chí hải ngoại mới đây. Căn nhà nghỉ mát của “con gái siêu đại gia tư bản đỏ” này, ở Nha Trang, và cái ‘Miếu ba Cô” hoang vu trên đảo Galang chiều nay, là nghịch cảnh có thực trong cõi đời này. Nghịch cảnh giữa những người con gái Việt Nam, đang sống và đã chết bên bờ biển Đông, trong hàng triệu nghịch cảnh giữa lòng Dân Tộc. Những người nào còn chút lương tâm, luôn cả nhân loại nếu còn lương tri, sẽ tự tìm ra câu trả lời vì sao ? Trong thời đại này, theo thời gian và theo vị kỷ của con người, có lẽ hai chữ “lương tâm” đang nằm im trên trang giấy trong tự điển.

Ngồi trên xe rời xa đảo trên đường về lại thị trấn quận hạt Batam, tôi nghĩ thêm được những câu kết trong bài trường thi “Hồn Ca Trên Biển Đông” mà tôi đang “viết” trong đầu về linh hồn những người đã chết với những nấm mô điêu tàn :
Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu
Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi !
Dù xác thân đã hòa chung cát bụi
Biển Đông còn - Hồn mãi sống thiên thu !
Năm 2005, Hà Nội đã làm áp lực với các chính phủ Mã Lai và Nam Dương để đập phá các tấm bia tưởng niệm Thuyền Nhân đã chết trên biển Đông, và bây giờ, năm 2009, khi chúng tôi đến đây, Hà Nội vẫn tiếp tục yêu cầu chính quyền Nam Dương đóng cửa các khu di tích, xóa bỏ tất cả dấu vết Thuyền Nhân trên các đảo ! Bạo lực và hận thù của một chế độ từ bên kia bờ đại dương đang vói tay qua sóng nước trùng khơi để hủy bỏ chứng tích tội ác của họ, trên những ngọn đồi xứ lạ, nghĩ rằng rồi đây nhân loại sẽ không còn thấy những di tích tang thương này của Dân Tộc Việt Nam. Rồi đây, những bia mộ hoang tàn còn sót lại này, rồi đây “Miếu Ba Cô” tịch liêu này, có còn không ? Tôi nhìn lên trời cao, gió chiều thổi đám mây trắng bay về cõi mênh mông vô định. Lòng tôi đang quấn khăn tang như màu mây trắng. Tôi nghĩ đến thân phận Dân Tộc của tôi, vong linh những thuyền nhân đã chết, và hình ảnh các cô gái Việt Nam treo cổ trên cành cây đa nơi xứ người ! Một trang sử màu đen loang lổ những vệt máu khô.

Chiều nơi khu Geylang. Sau những ngày làm việc tại Indonesia, chúng tôi đi phà từ đảo Pinang về lại Singapore để chờ máy bay “hồi hương” ! Không phải bị “cưỡng bức hồi hương” như một số thuyền nhân trên các đảo trước đây. Vì anh em chúng tôi trong phái đoàn phải tự túc mọi chi phí, và đây không phải là chuyến đi du lịch vui chơi, cho nên chúng tôi phải tìm nhà trọ tại một khu xa thành phố để tiết kiệm tối đa. Khu Geylang hổn tạp, xô bồ, đa số là dân lao động tứ xứ với đủ sắc dân, Tàu, Ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương, luôn cả du khách ba-lô từ các nước phương Tây dồn về. Ban ngày dường như ai cũng ngái ngủ, quán xá phần đông đóng cửa, nhưng từ 3-4 giờ chiều cho đến sáng hôm sau thì tấp nập dòng người chen chân qua các khu phố. Bàn ghế ăn uống nhậu nhẹt đặt sát lề đường, không còn một chỗ ngồi. Các quán ăn rộn rịp, om sòm đủ mọi thứ tiếng. Xe cộ dập dìu, mạnh ai nấy băng qua đường, xe phải tránh người. Từ nhà trọ, tôi lang thang bách bộ đi qua các con hẻm để quan sát cảnh sống ban đêm nơi xứ người. Tại nhiều góc hẻm, dân chúng tụ tập quanh các bàn cờ bạc đủ loại, tài xiu, sóc dĩa, quay số... không thấy bóng một cảnh sát viên nào. Ở đâu tôi cũng thấy các cô gái phấn son, ăn mặc hở hang khiêu gợi nhưng có vẻ nghèo nàn. Toàn là gái trẻ, có nhiều cô chỉ vào lứa tuổi 14-15. Có cô đứng ngay bên lề đường để đón khách, có cô thì ngại ngùng nép mình bên vach tường phố, đưa tay nhẹ vẫy, với nụ cười chập chờn qua ánh đèn màu lòe loẹt. Mỗi lần tôi đi ngang các cô gái này, cô nào cũng bập bẹ nói tiếng Anh “You go – Me good !”. Linh cảm cho tôi biết đa số là những cô gái Việt Nam. Lòng tôi se thắt lại. Đây là khu ăn chơi bình dân, giang hồ tứ chiếng, và tôi chợt nhìn thấy nhiều thanh niên bụi đời đang đứng trong bóng tối rình rập, canh chừng các cô gái. Ma-cô đầu gấu. Thỉnh thoảng các cô lại đến thì thầm gì đó, móc túi đưa tiền cho các gã, hoặc đi theo khách vào các nhà trọ trong khu vực. Tại nơi chúng tôi tạm trú, tôi thấy có tấm bảng ghi $10 đô la Singapore 1 giờ thuê phòng. Các cô gái trẻ đi với khách đủ loại và mất hút vào cầu thang, có cô thản nhiên, có cô rụt rè. Đi qua chỗ mấy sạp bán trái cây, đặc biệt là sầu riêng thơm lừng, trước cửa một khu “disco” đèn chớp sáng, tôi thấy các cô gái ăn mặc rất khêu gợi và tôi cũng được mời “You go – Me good”. Tôi lắc đầu bước đi và thoáng nghe sau lưng mấy cô nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt.

Bước vào một tiệm đổi và chuyển tiền để đổi một ít tiền Singapore (thường được gọi là đô la Sin) để đi ăn tối, tôi thấy hai cô gái đang đứng trước quày. Tôi sắp hàng đứng sau lưng. Hai cô cũng mặc quần ngắn, áo mỏng manh, tuổi nhỏ khoảng 16-17, son môi đỏ chói. Chợt tôi nghe một trong hai cô, sau khi chuyển xong tiền, buộc miệng nói tiếng Việt : “Kỳ này tao gửi về được 50 đô. Chắc má tao mừng lắm !”. Cô kia thở dài : “Tao chưa gom đủ tiền, cuối tháng mới gửi được về nhà”.Rồi cả hai bước ra cửa. Tôi vội đổi một ít tiền, chạy theo hai cô gái, vào một quán ăn bên đường. Tôi đến đứng bên cạnh bàn hai cô đang ngồi, định bắt chuyện thì một trong hai cô đã hỏi ngay : “You go – Me good” ! – Tôi ngòi xuống bàn và nói nhỏ : “Tôi là người Việt mà. Mời hai cô ăn uống gì với tôi cho vui”. Cả hai cô đều nhìn tôi ngạc nhiên rồi hỏi nhỏ, bằng tiếng Việt : “Bác ở đây hay là người nước ngoài tới chơi ? Bác “đi” không ? “Đi” một đứa hay cả hai cũng được, “xâu” luôn nha !”. Tôi mĩm cười : “Hai cô ăn uống gì không, tôi mời đó. Tôi ở xa mới tới đây, ngày mai đi rồi”. Tôi gọi ba tô mì và nước dừa tươi. Sau một vài phút thì thầm gợi chuyện, có lẽ thấy tôi là một “ông già” không có tình ý gì xấu, hai cô bắt đầu cởi mở hơn, gọi tôi bằng ông và tự xưng là cháu, và vừa nói chuyện vừa nhìn quanh. Thông thường, các cô gái làm nghề này lâu năm thì trường đời đã dạy thêm chua ngoa, lừa lọc, phịa chuyện đau thương để làm động lòng khách, nhưng riêng với hai cô gái này, tôi nhận thấy vẫn còn chất đồng quê chân thật. Hơn nữa, tôi chỉ gợi chuyện hỏi về những điều không đi sâu vào đời sống riêng tư và đường dây chuyển người. Tôi được biết : - Hai cô gái này đều 18 tuổi, quê ở Vỉnh Long, sang đây được gần một tháng nay. Cuối tháng sẽ đi phà qua quận Batam ở Nam Dương rồi về lại Singapore, ở thêm mỗi lần như vậy được một tháng như là khách du lịch, nhưng chỉ tối đa được ba lần mà thôi. Tôi được biết thêm là tại khu vực này đa số đều là gái từ miền Nam qua, gọi là đi du lịch hoặc xin học nghề, có người bảo lãnh lo mọi thủ tục. Có luôn cả người đi theo canh chừng. Các cô lén chỉ cho tôi mấy gã thanh niên đang ngồi ăn ở góc quán. Không được ngồi chơi với khách, phải dẫn khách đi ngay vào nhà trọ thuê phòng, hoặc qua giờ hoặc qua đêm. Nếu ngồi nói chuyện lâu thì phải trả tiền như là “bao trọn”, với sự đồng ý của mấy gã “đầu gấu”, cũng toàn là người Việt, hoặc là phải “báo cáo” với má-mì. Phần đông các cô đều là gái miền quê, muốn đi tìm chồng ở Singapore hoặc được cam kết cho đi học nghề, nhưng thực ra là qua đây bị ép buộc phải “đi khách”. Trước khi đi phải đóng tiền thế chân khoảng 2.000 mỹ kim cho môi giới, và mỗi tháng phải đóng tại đây 700 tiền đô la Sin. Còn lại bao nhiêu thì được tiêu xài hoặc gửi về gia đình. Trung bình mỗi cô “làm” được khoảng 1000 đô Sin mỗi tháng nếu đắt khách, nhưng những cô lớn tuổi, từ 25 trở lên đều bị chê là già, không ai gọi đi. Càng trẻ càng có giá, tôi được biết thêm là có nhiều cô chỉ mới 15 tuổi cũng đi “học nghề” và được khách ở Singapore ưa chuộng “tuổi trẻ” lắm. Ở Singapore có một khu riêng chỉ toàn gái dưới 15 tuổi, cũng từ Việt Nam qua. Tôi im lặng ngồi nghe, rợn người, thỉnh thoảng gợi thêm chuyện để tìm hiểu. Các cô được đưa qua đây, 10 cô ở chung một phòng, ăn uống tự túc, ban ngày ngủ, ban đêm ra phố “làm việc”, có đầu gấu đi theo để thu tiền và bảo vệ. Gia đình ở quê nhà chỉ biết lo chạy tiền, vay nợ, để gửi con gái mình đi học nghề ở nước ngoài. Đang ngồi nói chuyện, có má-mì cũng người Việt đến bàn hỏi hai cô là tôi có “đi” không ? Tôi vội trả lời thay, là tôi chỉ ngồi ăn uống cho vui thôi. Má-mì giục hai cô ra xe taxi chờ sẵn vì có khách bao đi đêm, tôi phải trả 10 đô Sin cho buổi nói chuyện ngắn ngủi này, coi như là tiền “tiếp khách chay”. Hai cô chào tôi rồi chạy ra xe, taxi lách qua dòng người mất hút vào đám đông.

Tôi thẩn thờ quay về nhà trọ, đi giữa đám đông xa lạ, chợt thấy mình lạc lõng bơ vơ. Tôi nghe nói là Singapore gần đây đã nới lỏng việc phục vụ khách du lịch về mọi phương diện, kể cả mại dâm trá hình, để tăng trưởng kinh tế và nhất là để đáp ứng nhu cầu cho dân số nam nhiều hơn nữ. Riêng về ma túy thì kiểm soát rất gắt gao, vẫn còn thực thi án tử hình. Ở Singapore hiện nay, tìm được một người vợ vừa ý và làm đám cưới là một điều ảo tưởng, đa số đàn ông không thể thực hiện được. Các cô gái Việt Nam đã đáp ứng nhu cầu đó, qua nhiều đường dây môi giới. Lịch sử Dân Tộc chúng ta trước đây chưa bao giờ xảy ra hiện tượng buôn người ra nước ngoài như hiện nay.

Tôi bước đi giữa dòng người nơi xứ lạ, tại một khu vực nghèo nàn, hổn tạp, mà lòng tôi xốn xang. Thương nước, thương cho các thế hệ tuổi trẻ cùng chung dòng máu phải tìm mọi cách qua xứ người để bán thân nuôi mình và gia đình, và luôn cả thương mình đang lưu vong. Hình ảnh căn nhà nghỉ mát nguy nga của cô con gái thủ tướng việt cộng tai bờ biển Nha Trang, hình ảnh “Miếu Ba Cô” trên đảo Galang, hình ảnh chiếc xe taxi chở hai cô gái Vỉnh Long bằng tuổi con-cháu tôi chạy vù trong bóng đêm tai khu Geylang, đi về đâu và sẽ bị dày vò trong vòng tay ai... đang âm thầm bước theo tôi, sẽ đồng hành cho đến cuối hành trình còn lại trong đời. Và câu nói của cô gái bán thân gửi về cho mẹ 50 đô la Sin “Chắc má tao mừng lắm”, mãi còn văng vẳng bên tai tôi. Dân Tộc tôi dưới chế độ cộng sản thực sự là một khổ nạn đến tận cùng !. Mong rằng hai chữ “lương tâm” của con người sẽ không còn nằm im trên trang giấy trong tự điển.

Võ Đại Tôn
Chiều Geylang, Singapore.
16.10/2009.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Già dịch






Tôi hoàn toàn mù tịt về xuất xứ của hai chữ “Già Dịch”. Chẳng biết danh từ kép này do ông, bà nào “sáng chế” ra để miệt thị những đấng liền ông ít nhất cũng đến tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” chứ dưới năm mươi thì ai dám gọi là lão già.


Đấy là tôi nói đến cái chữ “già” theo như quan niệm tuổi tác ngày nay chứ như thời xa xưa lúc nền y học đang còn phôi thai thì mấy ai sống thọ đến tuổi năm mươi. Chẳng thế mà trong sách truyện ngày xưa khi mô tả một người đàn ông ngũ tuần thì bao giờ cũng là: “một ông hay lão già trạc tuổi năm mươi” hay trang trọng hơn thì sẽ là “một lão trượng tuổi ngoài năm mươi” hoặc là trong các bài luận văn của học trò bậc tiểu học: “Nhà em có “nuôi” một ông nội tuổi năm mươi”.


Các vì vua chúa của ta và Tàu cũng thế, dù hưởng không biết bao nhiêu là của ngon vật lạ trên đời, phục dụng không biết bao nhiêu là phương thuốc thần diệu mà rốt cục cũng chẳng mấy vị sống quá năm mươi. Có lẽ vì ông vua nào cũng xài phương thuốc của vua Minh Mạng nước ta: “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” nên sức lực chóng hao mòn và ông nào cũng muốn “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt”, nhấn hết ga, tận hưởng lạc thú trên đời cùng tam cung lục viện nên ông vua nào cũng chóng già dù cố gắng kéo dài tuổi thọ bằng cách sai người đi tìm thiên niên hà thủ ô hay thiên niên tuyết sâm hay linh chi thảo, các vị thuốc hiếm quý trong truyền thuyết. Thời xa xưa, tuổi thọ thật ngắn ngủi nên mới có câu “thất thập cổ lai hy”. Bây giờ, với tiến bộ của y học, tuổi thọ của con người đã gia tăng quá sá quà sa, so với thời xưa. Chỉ cần lật báo hàng ngày, tò mò đọc các cáo phó sẽ thấy ngay các cụ quy tiên đa số đều quá tuổi bảy mươi, thậm chí có vị còn vượt qua con số trăm năm trong cõi người ta. Phải dài giòng văn tự loạn bàn về “cái già sồng sộc nó thì theo sau” như thế để thấy rằng bây giờ muốn gọi ai bằng ông già thì ít nhất người đó cũng đang đi trên đường số 7. Dĩ nhiên trong hạng tuổi này có cụ vẫn còn phong độ và nhất định bảo đối tượng đừng gọi anh bằng chú. Tôi có ông bạn tuổi đời 6 bó, thân thể còn tráng kiện, mặt mày phương phi, quắc thước, dáng dấp còn “ngon cơm” lắm, chỉ phải cái tội lười biếng không chịu làm đẹp, níu kéo tuổi xuân “bán nguyệt nhất kỳ đáo thẩm mỹ viện”, nửa tháng một lần đến mỹ viện nhuộm tóc nên mới thoáng nhìn sơ qua, ai cũng biết là tuổi không còn “xoan” nữa. Lúc về thăm quê hương, một hôm, sau khi chễm chệ trên xích lô dạo chơi thành phố, nơi chôn nhau cắt rún, lão ta nhảy xuống xe, trong bụng nghĩ là phải “bo” cho anh chàng đạp xe một ít tiền xài chơi nên hỏi anh chàng bao nhiêu tiền cuốc xe vừa rồi. Anh chàng đạp xe kính cẩn thưa:


“Ôn cho bao nhiêu cũng được.”


Dân Huế, chỉ dùng chữ “Ôn” để gọi các cụ già khú đế, gần đất xa trời vì thế ông bạn tôi lòng hậm hực, không vui và tiền “bo” bị giảm bớt khá nhiều theo như ông ta thuật lại cho tôi nghe. Phải chi anh chàng đạp xe xích lô bảo là “Anh cho em bao nhiêu cũng được” thì chắc chắn là có món tiền “bo” lớn rồi. Ông bạn tôi như vậy là đã lọt vào danh sách của những ông già dịch rồi đó, quý vị có biết không ?


Già, là bắt buộc, dù không thành văn tự, trên dưới 60 tuổi đời. Còn “dịch” thì thật là thiên hình vạn trạng vì trên đời có rất nhiều thứ dịch như dịch tả, dịch hạch, dịch cúm người và hiện nay là dịch cúm chim vv....Tôi dịch y chang chữ “bird flu”, xin quý vị đừng xuyên tạc chữ chim nhé. Tiếng Việt Nam ta vốn giàu nên chỉ có một sự vật mà có thể dùng không biết bao nhiêu từ ngữ để diễn tả. Vậy để được mang danh là “già dịch” các lão già phải có những hành vi hay ngôn từ mang không nhiều thì ít tính chất “dịch” trong đó mới xứng đáng với hai chữ có tính cách miệt thị nhưng đôi lúc cũng là một lời mắng yêu, rất dễ thương và xúc động lòng già khiến cho “bần đạo thấy phơi phới trong lòng”. Thử tưởng tượng được một kiều nữ mắng: “cái anh già dịch này nữa...” kèm theo một cái nguýt mắt dài bằng một cây số thì dù bạn đang đi trên đường số 6, số 7 hay số 8, tôi chắc bạn cũng sẽ động lòng xuân mà nhoẽn miệng cười phô hàm răng trắng bóng đều đặn như hạt bắp Cồn xứ Huế vì người già ở Mỹ ai cũng được quỹ an sinh xã hội tặng cho một hàm răng để cười với đời, cười thôi, chứ dùng răng này ăn không ngon bằng nhai với hai hàng nướu trần.


Thật khó xác định như thế nào thì gọi là “già dịch”. Cũng những ngôn từ đó, những hành vi đó, nhưng xuất phát từ một thanh niên thì không bị buộc tội là “dịch”. Trái lại nếu là một trưởng lão thì lại bị mắng là “già dịch”. Đúng là không công bằng! Không còn gì là “kính lão đắc thọ” hết. Thời đại văn minh nên tôn ti trật tự trong xã hội bị đảo lộn tùng phèo! Thôi thì cũng đành chịu vậy! Thông thường, theo ngâm cứu vừa sâu vừa rộng của tôi, (chứ không phải “sâu sát” như ngôn ngữ của mấy ông ngoài Bắc) hai chữ “già dịch” nhắm vào những ông già có hành động và ngôn từ mang tính chất trăng hoa, trai gái, bờm xơm kiểu “ông thầy”, những hành động và lời ăn tiếng nói liên quan đến vấn đề “sex” (nhập gia tuỳ tục, nhập giang tuỳ khúc, mình qua xứ Mỹ nên xài tiếng Mỹ cho vui đời tỵ nạn) hay nôm na văn chương hoa lá cành là những vấn đề liên quan đến tình dục. Tỷ dụ như một anh già bảy mươi lò mò về Việt Nam nhờ mối mai, quăng tiền dollars ra để dụ dỗ gái tơ hay cưới vợ bé, vợ mọn thì chắc chắn một ngàn phần trăm sẽ bị gọi là “già dịch” không chạy trốn đi đàng nào được hết. Kể ra thì cũng khổ cho mấy ông già còn động lòng xuân, tuy tuổi già nhưng tâm hồn còn non trẻ. Ngày xưa, cụ Nguyễn Công Trứ gặp gái tơ trên cánh đồng trống đã khai báo lý lịch tuổi tác là: “Ngũ thập niên tiền nhị thập tam” đâu có nghe ai dám bảo cụ là “già dịch” đâu mà trái lại còn khen ông cụ có số đào hoa, bay bướm, phong lưu mã thượng.


Tuổi tuy già mà chưa cần đến các loại thuốc trợ lực như rượu thuốc ngâm tắc kè, rắn mối, rắn hổ mang, cóc nhái, ễnh ương hay hải cẩu bổ thận hoàn, sâm nhung, Viagra, Cialis, thì tại sao lại không cho mấy ông già này tiến thêm một bước nữa mà lại bắt mấy lão ta phải dậm chân tại chỗ chờ ngày thường xuyên thấy quả lắc đồng hồ ngày đêm miệt mài chỉ 6 giờ. Thế có phải là bất công không?


Thiếu gì trường hợp “Lão bạng sanh châu!” Nói thế thôi, chứ mấy ông cụ này chỉ hăng tiết vịt một đôi lúc thôi, chứ đa số chỉ đốt pháo xì, đạn dược lép cả rồi nên vì vậy mới bị mắng là “già dịch”. Các ông già này dù cho có xài hỗn hợp Viagra cọng thêm rượu thuốc Minh Mạng thì cũng không thể nào “nhất dạ lục giao sinh thất tử” được. Quý vị thường nghe “sinh ngũ tử” chứ chưa bao giờ nghe “sinh thất tử” vì quý vị quên rằng y học ngày nay tiến bộ vượt mức, nếu kết hợp Đông Tây y vào với nhau thì lục giao rất có thể sinh 7 nhóc con vì có một lần sinh đôi. Quý vị không tin tôi ư? Ngày nay, các người hiếm muộn đến gặp các bác sĩ chuyên khoa sẽ được họ đề nghị cho một cặp sinh đôi tức là “mua một biếu một” chỉ trả tiền cho một lần giúp thụ thai mà sinh được một cặp trai hay gái tuỳ thích. Thế thì có phải là lục giao sinh thất tử không nào?


Trên đây là một loại già dịch rất phổ thông đại chúng. Còn nhiều loại nữa vì chữ dịch mang rất nhiều biến thể. Tôi xin kể hầu quý vị một loại dịch khác:


Số là có hai ông già Việt Nam ngồi nhấm nháp trong một tiệm ăn, thấy cách đó mấy bàn một cô gái mắt xanh, tóc vàng đang ngồi xô lô. Hai ông bèn hứng chí phê bình văn nghệ, văn gừng vung vít bằng tiếng mẹ đẻ, bàn loạn lung tung về núi đồi sông lạch của thiếu nữ hơ hớ tuổi xuân. Một lát sau, thiếu nữ khi rời quán hàng, đi ngang chỗ hai ông già ngồi, đã đứng lại phán rằng:


“Hai bác ăn nói trây quá! Già không nên nết, đúng là già dịch!”


Hai lão già thiếu đường cắt mặt quăng cho chó gậm vì nãy giờ tưởng thiếu nữ là Mỹ chính gốc hay ít nhất cũng là Mễ trắng ăn đậu quanh năm, ai dè cô ta là dân Việt Nam có 50% máu Mỹ.


Câu chuyện thật 100%, hai ông già này hiện đang chơi Tennis với người kể câu chuyện tiếu lâm tân thời này. Dân Viêt Nam ta ở bên Tây, thuở chưa có ngày 30 tháng Tư, lúc mà dân Việt Nam ta chưa sinh sống nhiều ở ngoại quốc như ngày nay, thường cuối tuần hay tụ tập tại tiệm ăn để tha hồ văng tục vô tội vạ bằng tiếng mẹ đẻ để xã soupape, để vơi đi ẩn ức tình dục và để ôn lại ngôn ngữ của quê hương sợ một ngày nào đó quên mất tiếng mẹ đẻ. Hai ông già dịch trong câu chuyện trên đây cũng đang xã soupape, không ngờ lại bị tổ trác, ngậm đắng nuốt cay, có miệng mà như ngậm hột thị chẳng nói năng gì được trước mặt cô gái mang hai giòng máu Việt Mỹ trong người mà máu cha mạnh hơn máu mẹ nên mới làm cho hai ông già mắc mớp.


Cũng là “già dịch” nhưng dễ thương hơn, tức là thành phần “trí thức” hơn, thưòng hay tụ họp nhau để ăn uống, tán láo và ôn lại những kỷ niệm thời xa xưa, tán gái cua đào, lăng nhăng đủ ba mươi sáu thứ chuyện trên trần thế, nhắc lại chuyện xưa tích cũ đại loại như là:


“Tao mới gặp con XYZ, trời ơi, ngày xưa nó đẹp như thế, tau mê nó như điếu đổ thế mà ngày nay tau không thể ngờ nhan sắc tàn phai thảm hại khiến tau phải tự bảo từ nay nhất định không muốn tìm gặp lại cố nhân nhan sắc một thời để khỏi phải ngậm ngùi tiếc thương.”


Lão già phát ngôn như trên, cùng một trang lứa với tôi, lão ta ngậm ngùi vì vết thời gian hằn rõ nét trên gương mặt giai nhân nhưng lão ta quên nhìn mình trong gương để thấy rằng thời gian cũng đã không buông tha cho lão ta. Đúng là thấy người mà không ngẫm đến ta. Nhưng đấy mới là cái dễ thương của ông bạn già, ông chỉ nghĩ đến tha nhân mà quên bản thân. Nhưng ông ta vẫn bị gán cho hai chữ “già dịch” nếu có người nghe được những phát ngôn của ông liên quan đến một vấn đề mà người ta không muốn cho những ông già tuổi ngoại lục tuần bàn loạn đến vì đã qua rồi cái thời vàng son tuổi ngọc mộng mơ. Thật là bất công không thể nào nói hết được! Tức chết đi được mà phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chẳng lẽ bây giờ về than thở với vợ ư? Đừng có chơi dại mà tâm sự với vợ về những chuyện này. Chắc chắn 100% là sẽ không được thông cảm mà trái lại còn bị nguýt xéo kèm thêm một tiếng “hứ” kéo dài như còi xe lửa và sẽ vuốt mặt không kịp với hai chữ “già dịch” tuôn ra ngay lúc đó.


Tôi tự hỏi tại sao chỉ có lũ đàn ông chúng tôi bị mắng “già dịch” mà các bà thì lại “bình an như người lành dưới thế” Hoạ hoằn lắm mới nghe được 3 chữ: “bà già giết giặc”, nhưng ý nghĩa miệt thị nhẹ nhàng hơn nhiều.


Riêng tôi, tôi chỉ thích được nghe mắng yêu, đặc sệt giọng Nam Kỳ Quốc: “Thật là cái anh dịch dzật gì đâu...!” Nghe ra âu yếm làm sao! Quý vị có đồng ý với tôi không? Nếu đồng ý thì cố gắng đi kiếm cho ra người có thể mắng bạn như thế cho lòng xuân phơi phới, thấy mình vẫn còn đường tương chao tức là còn nước, còn non, còn cô bán rượu anh còn say sưa.


Hoàng Đức
band4 3G McKeno

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


THÀ ĐỂ TIỆC TAN...
Khi tôi sắp rời Ðà Lạt, những cơn mưa đang dầm đìa trên thành phố biển Vũng Tàu. Nghe nói có cơn bão nào vừa đi qua miền Trung, để lại dấu vết mệt lã của cây rừng, cùng những hàng dây điện đứt rời như nỗi nhớ.

Bên hông nhà hát lớn Sàigòn, tôi ngồi dưới một mái che phân chia rạch ròi hai khu vực. Bên nay là im vắng của bờ tường nhốt kín gió và nhốt luôn những đời sống thầm lặng. Bên kia là những giao lộ chật kín xe cộ nối đuôi nhau. Những ngã tư đèn đỏ và bên dưới là dòng người xuôi ngược. Nỗi băn khoăn rã rời cũng bộc lộ theo mỗi nắng lên, mỗi ngày xuống. Bầu trời mênh mông một màu xám buồn và đó đây trên tán dù nhiều màu thoáng rơi vài giọt nước. Trên băng ghế chờ xe buýt vương vải từng trang báo cũ nát bị ẩm ướt như những phiến mộng rách rời. Ly cà phê trước mặt có từng giọt đậm đen rơi xuống đáy ly như một nỗi buồn mới mẻ.

Có những điều mà tôi cũng như nàng không làm sao hiểu được khi tình yêu tưởng chừng như mới vừa ẩm ướt đó nhưng cũng vừa mới bốc hơi. Buổi chiều hôm qua nàng vừa nói lời chia tay với tôi. Hoa sứ vẫn nồng nàn rụng xuống phố đêm đêm, trên khung cửa sổ nơi mà nàng ngồi đánh máy những trang bản thảo của tôi. Ngạch cửa có dấu dao khắc thời gian chúng tôi quen nhau. Tôi đếm có cả thảy ba dấu cộng, tương trưng ba năm cho một tình yêu dù tầm thường nhưng rất nhiều hạnh phúc. Những vệt gạch run rẩy vì thơ dại trộn lẫn với băn khoăn vì những lời rên siết của cơm áo, của đời. Hôm nay, vừa có thêm một dấu trừ vội vã.

Nếu không có sự can thiệp của gia đình, Ngọc sẽ không nghĩ đến chuyện rời xa tôi. Một lần nàng trở về Bảo Lộc để lấy thêm giấy tờ và vài thứ cần thiết. Ðồng thời để nghe ngóng tình hình. Mười bảy tuổi nàng yêu tôi mà không lường trước những hậu quả. Lớp học đệ nhị thiếu bóng nàng mỗi ngày và sân trường vừa mất đi một màu áo tím. Ðứa con gái không còn kịp nghe tiếng dép hân hoan khua trên mặt đường hoa như màu son thiếu nữ. Thành phố không biết đến mùa hạ vừa ngào ngạt những bông cúc, nhưng hình như màu vàng đã nhạt, cùng trang giấy tình yêu của hai chúng tôi vừa dấy lên những lời đàm tiếu đủ làm nhòe nét mực.

Năm 1970 là năm ghi dấu thời gian Ngọc từ giả trường lớp và những vạt sương quen thuộc của đồi núi để theo tôi về sống tại vùng biển xa lạ là Vũng Tàu. Hành trang mang theo là một chút thơ ngây cùng sự liều lĩnh trưởng thành đủ làm chật một buồng tim non yếu. Biển và rừng khó lòng dung nạp nhau nếu tình yêu đó không nhen nhúm trong lòng nhau những hương lửa mặn nồng.

Ngày đó tôi đã yêu nàng biết bao. Hình như tình yêu luôn ẩn giấu trong nó mọi sự khao khát mà chỉ khi không còn bên nhau người ta mới cảm nhận được.

Ðơn vị của tôi ngày đó là quân trường Truyền Tin tọa lạc bên quốc lộ 25. Mỗi ngày có hàng chục chuyến xe đò chạy qua mang theo những buồn vui và những vệt khói lặng căm tiếng đời. Tôi lảnh lương mỗi tháng một lần và số tiền không đủ để tôi trang trải tiền nhà nói chi đến những nhu cầu cần thiết. Nhiều buổi tối cuối tuần ngồi bên nhau, dưới ánh điện không làm sáng hết khuôn mặt của hai đứa, tôi thương nàng đã chia sẻ cùng tôi mọi gian khổ mà đáng lẻ một người con gái không nên có. Nàng chịu đựng thiếu thốn mà không thở than. Ðiều này làm tôi ray rức.

Ðêm trôi qua cùng những cánh gió bên ngoài. Căn gác nhỏ của chúng tôi nhìn xuống con hẻm vắng khi gần đến giờ giới nghiêm. Những trang văn tôi viết xuống mệt lã và nghe thiếu vắng một hồn thơ. Chúng không khơi dậy cảm xúc mà chỉ ngổn ngang thêm những mơ ước bên ngoài tầm tay.

Tôi nhớ những ngày chỉ có mưa miệt mài và tiếng gió lạnh thổi về từ biển, một mình nàng với bếp lửa, trong khi tôi trực ở đơn vị. Gần sáng tôi mới xuống phiên trở về, khuôn mặt nàng tái xanh thiếu vắng hồng huyết cầu cùng nỗi sợ hãi vì trãi qua một đêm không ngủ. Chiếc áo chật vai, những sợi tóc băn khoăn rối bời như những nhánh sông chập chờn một nỗi đau về biển. Tôi thương nàng biết bao.

Ðêm cũng mang trong nó mọi giá rét, khi tình yêu đã ngậm trong lòng sự thổn thức. Những ngón tay đan vào nhau cùng những bờ môi đắn đo không kịp làm ấm môi miệng. Tiếng mưa ngoài trời hay tiếng lòng ái ngại khi chúng tôi nằm bên nhau. Sự gần gũi đến nỗi nghe được hơi thở của nhau trên những khớp xương tê điếng. Cùng tiếng vải vóc xào xạc. Sự cuồng nhiệt thoáng bùng lên để sau đó lắng xuống vì những lo lắng rất đời.

Sẽ còn lại gì khi mai này tôi và nàng không còn của nhau. Tôi thường tự hỏi. Chắc là sự mênh mông từ một bờ đường vừa chộn rộn những bước chân quen. Nỗi buồn rượt đuổi theo niềm vui như tiếng chân mưa chạy dài qua phố.

Ðôi lần, có một chút tiền trong túi, tôi hào phóng đưa nàng ra phố, tìm đến quán cà phê quen của người bạn. Anh tên Trần Huy, một người Việt gốc Hoa. Anh từng rộng rãi cho tôi ghi nợ cuối tháng và dành cho chúng tôi những tình cảm tốt. Quán cà phê mang một cái tên không dính dấp gì đến nghệ thuật và cũng không gợi cho người ta một cảm xúc nào khác. (Quán cà phê Thuận- lấy tên người em gái út của chủ quán). Nhưng ít ra nó cũng làm cho nhiều người trong thành phố biết đến nó qua việc ngưới chủ quán giao du mật thiết với một số văn nghệ sĩ đương thời của thành phố. Có vài ca sĩ từ phương xa đôi lúc ghé lại trình diễn. Có những kẻ yếm thế đốt ngày dài chập chùng bằng khói thuốc, mặt mũi lúc nào cũng như người bị táo bón kinh niên. Có cả những người lính vừa về từ chiến trường. Và dĩ nhiên, có cả những người trốn lính. Ða số những bạn bè tôi biết hồi đó đều nằm trong Xây Dựng Nông Thôn. Họ là những cán bộ Văn Công Chí Linh dưới quyền của Ðại tá Nguyễn Bé. Về nhạc có các nhạc sĩ Viết Chung, Nguyễn Tùng, Phan Công Danh. Họa sĩ có Lê Vĩnh Ngọc, Cù Nguyễn. Thi sĩ có Phạm Thanh Chương, Ngô Văn Châu, Trần Ngọc Châu, Phạm Ðình Thống, Trần Yên Thảo. Ca sĩ có Họa Mi, Nguyễn Thị Diệu, Lê Thị Bé... (Họa Mi ngày đó chưa biết Hoàng Thi Thơ có tên Trường My/ Trương Thị Mỹ).

Một lần chủ quán đề nghị tôi vẽ cho anh một bức tranh bằng sơn dầu ngay trên bức tường lớn giữa quán, bên cạnh quầy tính tiền, như một cách để tôi trả nợ dần dần cho anh. Tôi đồng ý và dùng trọn một tuần lể phép tại Trường Truyền Tin để vẽ. Bức tranh coi cũng tạm được trong thời gian đó và nội dung chứa đựng một chút lập dị, kỳ bí. Ai muốn hiểu sao thì hiểu. Vì ngay cả người sáng tác ra nó- là tôi- chưa chắc đã thấu đó hết mọi điều muốn trang trải trong lòng. Suốt trong thời gian vẽ tranh, bia bọt và thuốc lá cũng bao la như tấm lòng của chủ quán. Nhiều đêm cúp điện, Huy cầm đèn dầu ngồi cạnh tôi soi cho tôi vẽ vì sợ bỏ ngang ngày mai không còn hứng để tiếp tục. Cô em gái cùa anh ngồi bên quầy tính tiền- cũng là Việt gốc Hoa- nhìn tôi vẽ và lâu lâu cúi xuống tính toán sổ sách. Ðó một cô gái tuyệt diệu mà tôi từng biết trong đời. Nhan sắc nàng chưa từng rực rỡ giống như một mặt trời chưa ra khỏi đám mây.

Ba năm không dài hơn một giấc mộng. Tôi lo lắng một hạnh phúc lao xao ngoài tầm tay. Có một tuần lể nàng xa tôi để về thăm nhà ở Bảo Lộc. Tôi dành trọn thời gian này để nhờ mấy người bạn trong đoàn Văn Công in dùm tôi một tập thơ.

Ngô Văn Châu giúp đánh máy và Nguyễn Tùng, làm ở ban báo chí lo phần in Ronéo. Tôi vẽ bìa và phụ bản giao cho Lê Vĩnh Ngọc. Tập thơ dự trù sẽ ra mắt mùa Giáng sinh năm 1973, nhân dịp đám cưới của vợ chồng Phạm Thanh Chương.

Khi mọi người thông báo cho tôi biết là tập thơ đã hoàn tất phần ấn loát và tôi sẽ tiếp tục phần cuối cùng là sắp xếp lại số trang và đóng bìa. Tôi đem chồng giấy về và trãi ngập nền của căn gác. Không có nàng bên cạnh nên không có ai lo dùm những tiện nghi bếp núc. Ðói giờ nào ăn giờ đó và cà phê đá uống suốt ngày. Mỗi chiều sau khi tan việc trong đơn vị trở về, tôi mặc áo thun quần đùi sắp xếp lại số trang theo thứ tự. Những phụ bản của Lê Vĩnh Ngọc mang một kích thích im lìm như bờ môi trước mùa hôn phối. Mùi mực in và mùi giấy gây trong lòng tôi cảm giác nôn nao như một đứa trẻ vừa thả lên khung trời bao la một cánh diều mơ mộng. Nhưng mọi thứ không làm tôi quên đi hình ảnh nàng. Căn phố bên dưới trống thốc từng đêm khi ngọn gió Lào thổi qua mái nhà, cùng với lòng kiên nhẩn mở ra bài học đợi chờ.

Một tuần lễ trôi qua cùng với những bước chân mùa thu trên đường phố. Trên những ngăn kệ bụi bậm của các quầy tạp hóa, người ta bày bán những tập vở chuẫn bị cho mùa tựu trường. Những hộp phấn dùng trong lớp và những tờ giấy bìa làm thủ công. Những cuốn lịch tương tư một mùa hè vừa dừng lại. Những con đường trống trải lá xanh vì lá vàng đang trở mình hớn hở. Trong lòng tôi vừa thiếu một cánh buồm trôi theo những mùa nước lớn. Khi tình yêu trở thành vì sao trôi xa tít trên bầu trời đêm, cũng là lúc nỗi nhớ của tôi về nàng trở nên ào ạt. Tôi hình dung những ngày nàng ngồi gõ xuống bàn phím những câu thơ của tôi, những ngón tay đài các chưa từng biết qua đau khổ, nàng đã nghĩ gì? Cái tình yêu mà nàng dành cho tôi có bao giờ hốc hác vì gió thu làm khô môi hay ngỡ ngàng vì ảo ảnh?

Một đêm nàng trở về, lúc tôi mệt nhoài và không ngờ nhất. Nàng đứng run rẫy nơi ngạch cửa và ngạc nhiên nhìn thấy gian phòng bề bộn. Chiếc áo len màu tím trĩu xuống vì bụi bậm đường xa. Tôi đứng lên ôm nàng mừng rỡ và hôn nàng. Tôi dìu nàng qua những chổ trống còn lại trong phòng. Cuối cùng tôi thấy nàng ngồi trên giường. Hai cánh tay vòng qua gối, nàng nhìn tôi làm việc. Tôi hào hứng nói với nàng đây là giai đoạn chót và tập thơ sắp sửa hoàn tất. “Ðứa con tinh thần của chúng ta”. Tôi hào hứng nói, trong khi nàng vẫn lặng im.

Cho đến giờ phút này, gần 40 năm sau, nơi căn phòng cũng đang bề bộn sach báo tại hải ngoại, trong ngôi nhà đường Heatherglen, tôi cũng đang một mình. Tôi đang nhớ lại cái đêm nàng trở về đứng nơi ngạch cửa và nhìn tôi trân trối. Suốt đời tôi sẽ không quên được ánh mắt của nàng vừa chứa chan hi vọng vừa nhập nhòe thất vọng. Một câu hát của ai đó, dội về trong lòng tôi, như một tiếng mưa ngào ngạt những đau khổ: “Nàng đến tìm tôi, một đêm trời bão bùng Giọng nói người xưa như hờn oán Ðừng nhắc người ơi mười năm rồi còn gì Anh sợ anh sợ những ngày biệt ly...”

Suốt đời tôi sẽ không quên được một lỗi lầm sơ đẳng trong tình yêu. Một lầm lỗi chết người và dễ dàng làm tan vỡ một hạnh phúc.

Ba mươi tám năm sau, tôi đang nhớ nàng da diết. Khi trái tim con người trở nên chai hóa mọi vết tích trầy trụa của đau khổ, của đắng cay, trái tim đó sẽ không thẫm thấu thêm một mùi vị nào khác.

Giữa nàng và tôi, ai là người đau đớn hơn ai, sau một đổ vỡ? Tôi không biết vì nàng không nói ra và không có dịp nói ra. Nhưng tôi biết cả hai đều đau trong cùng một bài học đổ vỡ. Nỗi đau, dù trở thành sẹo, nhưng cũng cũng có thời sưng tấy. Trên chiếc bàn duy nhất trong phòng làm việc, cạnh sách vở và bản thảo, dĩa nến đã cháy hết phân nửa. Những giọt nến trong veo và tròn vo, như những giọt lệ đời lảng đảng.

Tôi nhớ tôi không hỏi nàng đêm đó về chuyến đi về thăm nhà. Về những lo lắng của nàng khi đối diện với gia đình. Nàng trở lại Bảo Lộc để gặp gia đình và xin phép Ba Mẹ nàng được tiếp tục tình yêu với tôi. Trước đó, khi tôi cùng sống chung với nàng tại Bảo Lộc, gia đình nàng quyết liệt cản ngăn và muốn chia cách hai chúng tôi. Và tôi cũng nhớ là tôi đã quên không hỏi nàng đã ăn uống gì chưa sau một chuyến đi dài gần 300 cây số.

Tại sao tôi có thể quên được một điều tầm thường như vậy? Tại sao tôi không đọc hiểu được tấm lòng một người đàn bà đang chi chít những vết mực lem luốt vì đời? Vì tôi?
Sau này, trước đêm nàng chia tay, tôi biết thêm một điều khác. Nàng chỉ nói cho tôi nghe, khi biết chắc rằng không thể cùng sống chung với tôi, như một nhánh sông không thể nhập vào lòng biển. Lúc trở về Bảo Lộc, Ngọc có ghé lại thăm Sơ T. một nữ tu phụ trách giờ giáo lý của trường. Người đàn bà hiền lành chỉ biết thở dài và chì biết cúi xuống cầu nguyện sau khi nghe hết những điều nàng nói.

Bóng chiều thoi thóp bên ngoài tường vôi nhưng lạ lùng sao lại chói chan màu phượng vĩ. Màu hoa vẫn trãi lên tháng năm đời nàng như tiếng mưa từng trãi dài qua phố. Những gì mà người nữ tu đã nói với nàng, không nhiều, nhưng chưa lúc nào nàng cảm giác được đêm Blao nghèn nghẹn tiếng khóc như đêm đó. “Chúa không muốn ai vấp phạm. Nhưng nếu con đã vấp phạm thì Chúa sẽ lau dùm con nước mắt. Con nên biết đàng sau những tiệc vui tiếp theo đó là những ngày buồn. Thà để tiệc tan, chớ đừng để đời tàn...”

Ngọc theo tôi về Vũng Tàu như một cô gái lấy chồng xa. Nhưng không có cả thiệp mời và cũng không áo hồng cô dâu. Ngày nàng tìm đến tôi, trong hành lý đem theo của nàng chỉ vỏn vẹn tờ giấy khai sinh. Năm tới mới được làm căn cước. Đêm Vũng Tàu chuyến xe đò cuối cùng qua lâu rồi. Nhưng nàng đứng đợi tiếng chim về hiên cũ, như đợi một vì sao rưng rưng.

Tập thơ mà tôi thai nghén, cưu mang từ bao nhiêu lâu sau đó đã không hiện hữu. Ðứa con tinh thần mà tôi nói với nàng đã bị đẻ non và chết khi vừa mới sinh ra. Nó có tên là “Trong Giấc Tình Cờ”. Nó tình cờ khai sinh và cũng tình cờ bị khai tử. Tôi thiêu hủy 500 cuốn một tuần lễ sau khi nàng chia tay tôi về sống lại cùng gia đình. Nguyễn Tùng, Ngô Văn Châu, giận dữ và chửi tôi thậm tệ. Lê Vĩnh Ngọc và hai vợ chồng Phạm Thanh Chương tưởng tôi mất trí. Những người bạn trong đơn vị và những người bạn học tại Vũng Tàu, ngày đó cũng không từng biết đến một đêm ra mắt sách tưng bừng trong quán cà phê Thuận như lời tôi đã hứa.

Nhiều năm trôi qua. Tôi vẫn có những mối tình mật thiết và những người đàn bà ghé ngang qua đời. Họ cũng yêu tôi và tôi cũng yêu họ. Nhưng tôi luôn thấy chưa có một tình yêu nào mang đầy những kịch tính như mối tình giữa tôi và Ngọc. Những chuyến xe xuôi ngược vẫn ghé lại một trạm dừng và một người vừa bước xuống, lặng lẽ. Những cột mốc cắm bên đường cũng cắm vào lòng nhau những mê đắm, lẫn ràn rụa nước mắt. Cùng những môi hôn run rẫy ngày nào?

Ðêm qua lâu trên những hàng cây bên ngoài. Cột điện thả xuống lòng đường ánh sáng thoi thóp vì sương lạnh tàn đêm. Ðêm cũng qua lâu và lặng lẽ trên thân thể trần trụi của hai đứa cùng xô lệch gối chăn. Trong bóng tối tôi cũng vừa thấy lấp lánh dòng lệ của nàng.

Tại sao tôi không nhìn ra những giọt lệ chảy xuống đêm đó dự báo cho một cuộc tình phờ phạc mai này? Tôi nhớ có lần sau khi từ quán cà phê về, trên chuyến xe lam muộn màng chỉ có hai chúng tôi, Ngọc thốt lên: “Tại sao bên ngoài những lời văn chứa chan và ướt át rung động kia mà bên trong trái tim anh lại dấu kín một lòng suối khô cạn? Tại sao không có một nhịp đập nào để em nghe biết hay hình dung trong lòng anh đang nghĩ về em?”

Những vì sao đêm trên đầu nhấp nháy lời cáo trách. Ôi nó rất dịu dàng và cũng rất mạnh mẻ. Nên làm tôi đau đớn biết bao.

Nàng trách tôi không biết nói lên một lời tượng trưng cho một tình yêu đã từng sôi nổi như bão giông và chảy tràn như sông lạnh. Cho dù những lời đó không ngợp ngụa một mùa trăng. Hay mượt mà cỏ biếc. Với nàng, tôi giống một con sói rừng hoang quay lưng lại với rừng và ngậm trong lòng tiếng tru huyễn hoặc.

Những trách cứ của nàng cho đến giờ này, tôi vẫn coi như một kinh nghiệm. Nó luôn luôn đúng và áp dụng được trong mọi tình huống. Người ta chẵng từng nói rằng người đàn ông yêu bằng đôi mắt trong khi người đàn bà yêu bằng đôi tai đó sao? Ðôi khi ngôn ngữ của trái tim phải cần được nói ra, dù rất cải lương và rất quê mùa.
Ngày đó tôi tưởng tôi không cần nói ra những lời cải lương và quê mùa như vậy. Nhưng người đàn bà luôn cần những thứ đó. Huống chi nàng là một cánh chim yếu đuối vừa dứt ra khỏi tổ ấm, cần được tôi thốt lên lời an ủi, chở che. Khi yêu nhau, người ta luôn nhìn thấy từ sâu thẵm trong lòng nhau những mê đắm. rất người, rất giản đơn và không màu mè che đậy.

Tháng tám vẫn còn âm ỉ hơi nóng. Tôi lái xe chạy qua con đường 79, về hướng tây. Qua những đoạn đường dẫn vào nông trại. Một bên đường người ta trồng bo bo. Bên kia trồng bắp. Mùa thu mới chớm nên những trái bắp vừa vàng da bây giờ đang xơ xác, bụi bậm.

Chúng giống như những tên thảo khấu bị bứng ra khỏi lòng biển đứng cô đơn nhìn ra những vạt cỏ cong vút màu chiều. Chỉ vài hôm nữa thôi, nhà nông sẽ thu hoạch chúng bằng xe có gắn máy gặt. Và cánh đồng sẽ còn lại những luống đất lồi lõm, co ro nằm đợi gieo hạt trong mùa xuân tới.

Tình yêu ngày đó sao giống như ngọn lửa âm ỉ cháy trong lòng, lúc nào cũng chờ dịp bùng lên. Người đàn ông già nua đang đi đến cuối đời và bàn tay sắp chạm đến hai bờ tử sinh bỗng nghe rát bỏng một tình yêu.

Tôi không bao giờ gặp lại Ngọc.

Nàng chia tay tôi từ sau những đêm chín đủ đau buồn. Nàng bỏ tôi để đi về phía cuộc đời mênh mông đầy ảo ảnh. Không biết trong lòng nàng có còn chăng lời nói thân thiết hôm nào, hay đã rơi rụng theo từng dâu bể: “Thà để tiệc tan, chớ đừng để đời tàn...”

Tôi cũng không thể quên nàng. Nếu được phép sống lại những quá khứ, tôi sẽ không ngần ngại để tìm về những năm tháng son trẻ xưa, khi tôi và nàng còn ngơ ngác bên hiên đời. Tôi hứa với lòng sẽ không vấp phải một lầm lỗi cũ. Sẽ không pha chế cho mình một ly cà phê đậm những băn khoăn trong đó những giọt đắng tìm cách rơi xuống hồn nhau.

Kinh nghiệm không bao giờ đầy đủ với một người. Tôi biết như vậy.

Góc đường tôi vừa vượt qua chợt nghiêng xuống một cơn mưa. Những bánh xe cuống quít trên vạt nhựa đường đen, làm thành một lằn sâu. Ai đó nói rằng phép trừ của tình yêu là sau một lần nông nổi. Và đàng sau tay lái tròn trịa kia là một một đời sống đang từng cưu mang một nỗi đau tuyệt vời.
Một đêm, tôi nghe tiếng hát lạ lùng của một người. Bài hát cũng lạ lùng tôi chưa bao giờ nghe. Con gái tôi tình cờ mở một Website nhạc Việt Nam. Nó lấy xuống và nghe mà quên vặn nhỏ âm thanh, vì tưởng tôi không có trong phòng bên:

“bước chân quen qua đi từng chiều từng ngày...
phố thênh thang mưa bay nhạt nhòa kỷ niệm,
gió như xưa từng chập một lần tình cờ
tìm yêu thương một thời tìm vào lãng quên...


Mãi nhiều tháng sau tôi mới biết đó là sáng tác của Hoàng Kim Chi và do chính cô trình bày. Bài hát có tựa là “Trên Ðường Nắng Phai”.

Lâu rồi, tôi không nghe được một bài thơ hay một bài hát hay. Có thể tôi chủ quan và hơi cường điệu về điều này. Ðâu đây có tiếng chuông vọng lên từ giáo đường khi tôi đi ngang chiều chúa nhật.

Lời nói của trái tim trong một ý nghỉa nào đó, dường như vẫn là những lời chân thật nhất. Dù nó không làm mềm lòng nhưng có thể thấm thấu dài lâu và làm tròn trịa một vết thương.

Ngày nàng bỏ tôi về lại Bảo Lộc mùa thu có gió se trên các cành ngo hai bên đường. Rồi nàng đi lấy chồng quên hẳn một kẻ trôi giạt bên dòng đời. Tôi vẫn nghèo túng như lâu rồi vẫn vậy.

Khi ra hải ngoại, tôi có cơ hội viết nhiều và có vài tác phẩm được in ra. Những đứa con tinh thần suông sẽ không bị đẻ non cũng không bị ruồng bỏ bất chợt. Tôi nhớ về một chuyến xe đò chở tình yêu của tôi qua lâu rồi, trong đó có nàng ngồi trên đó. Ðôi má nàng vẫn hồng hào màu phấn và đôi môi phụng phịu chờ đợi một lời tụng ca. Sau lưng nàng tiếng mưa hay tiếng sương mù rung lên quạnh quẽ che lấp một quá khứ.

Bởi vì nàng sẽ không làm sao hiểu nổi là bầu trời của hai kẻ yêu nhau luôn có màu thắm xanh và dù xa cách muôn trùng, đôi môi vẫn luôn thủy chung nhớ về nhau để cháy hồng lời kêu gọi...

Phạm Ngũ Yên

Post Reply