Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
TÂM THẾ NÀO THÌ NHÌN RA THẾ ẤY
Nếu mình để cho những hạt giống không dễ thương, những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua… có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ, bi, hỷ, xả, những hạt giống thương yêu, cảm thông, tha thứ… thì mình nhìn ai cũng thấy dễ thương, nhìn đâu cũng thấy Tịnh độ, thấy Phật.
Một hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn chơi với Thiền sư Phật Ấn cả ngày. Hai người đối nhau luận Thiền, Đông Pha hỏi Phật Ấn:
- Ngài thấy tôi thế nào?
Phật Ấn đáp:
- Rất trang nghiêm, giống một ông Phật!
Tô Đông Pha nghe nói vô cùng phấn khởi. Phật Ấn lại hỏi Tô Đông Pha:
- Ông thấy ta ra sao?
Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay:
- Giống một đống phân bò!
Phật Ấn không nói gì. Đông Pha cho rằng mình đã thắng một keo, lòng rất sung sướng, về nhà hớn hở nói với Tô tiểu muội:
- Này muội muội, hồi nào tới giờ anh bị Ấn lão cho đo ván mãi, đấu không lại ông ta. Không biết hôm nay Hòa thượng trở cờ hay học sĩ này gặp may mà Ấn lão không còn lời để nói, không có lý để trình đấy.
Nói rồi bèn thuật lại chuyện luận chiến vừa qua.Tô tiểu muội thiên tư hơn người, tài hoa xuất chúng, nghe ca ca kể xong câu chuyện, liền nói:
- Xì, anh thua đậm rồi!
Đông Pha tức quá mắng :
- Ta làm sao lại thua? Nếu ta thua sao ông ấy không nói một lời nào?
Tô tiểu muội nói:
- Này ca ca, tôi xin hỏi anh, Phật quý hay phân bò quý?
Đông Pha nói:
- Đương nhiên là Phật quý rồi!
Tô tiểu muội nói:
- Phật là Ấn lão thấy, còn phân bò là anh thấy, thế có phải là anh bị đánh úp không? Ấn lão đắc thắng hoàn toàn, còn gì để nói nữa!
Đông Pha nghe tiểu muội nói thế, như bong bóng xì hơi, biết rằng bị rơi vào tròng của Phật Ấn, thua một keo nặng.
BÀI HỌC ĐẠO LÝ:
Trong tâm thức của con người chứa đựng rất nhiều hạt giống. Có những hạt giống dễ thương nhưng cũng có rất nhiều hạt giống không dễ thương; có những hạt giống làm Phật nhưng cũng có rất nhiều hạt giống làm chúng sanh. Nếu mình để cho những hạt giống không dễ thương, những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua…có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ, bi, hỷ, xả, những hạt giống thương yêu, cảm thông, tha thứ…thì mình nhìn ai cũng thấy dễ thương, nhìn đâu cũng thấy Tịnh độ, thấy Phật.
Cho nên, “tâm thế nào thì nhìn ra thế ấy”, “Thương người thương cả lối đi, ghét người ghét cả tông chi họ hàng”. Đó, cũng cái tâm ấy, khi có tình thương thì ngay cả lối đi mình cũng thấy đẹp, thấy thương, nói chi nhìn thấy người ta cười! Vậy mà khi không thương nữa, lúc đã ghét rồi, thì đâu chỉ người ấy đáng ghét, cả bà con của người ta cũng trở thành người xấu.
Vì vậy, người học Phật phải biết nuôi dưỡng, làm lớn mạnh tình thương và sự hiểu biết trong tâm mình.. Khi tâm mình có năng lượng từ bi và trí tuệ, nó sẽ làm tươi mát đời sống của tự thân và đem đến cho mọi người xung quanh niềm an lạc, hạnh phúc. Khi ấy nhìn đâu mình cũng có thể thấy hoa, dù khi hoa đang là rác.
Học Phật, luận Thiền không phải để tranh cao thấp, hơn thua, mà để chuyển hóa nội tâm. Khi tiếp xúc với mọi người, nguyện tiếp xúc và khơi dậy những hạt giống thương yêu, hiểu biết, từ bi hỷ xả. Đó là mình đang nuôi dưỡng nhau, để xây dựng một cuộc sống an lành, hạnh phúc. Nhìn vào cái xấu của nhau, thì chẳng có ích lợi gì, mà còn thêm mệt. Rõ ràng khi mình phê bình ai, giận hờn ai, sẽ thấy mệt vô cùng.
Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nếu mình biết nhận thức theo chiều hướng tích cực, mọi người sẽ dễ thương hơn nếu mình biết khơi dậy và nuôi dưỡng hạt giống thương yêu, hiểu biết. “Tâm tịnh là cõi Phật”, đó là bí quyết để xây dựng Tịnh độ.
Nếu mình để cho những hạt giống không dễ thương, những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua… có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ, bi, hỷ, xả, những hạt giống thương yêu, cảm thông, tha thứ… thì mình nhìn ai cũng thấy dễ thương, nhìn đâu cũng thấy Tịnh độ, thấy Phật.
Một hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn chơi với Thiền sư Phật Ấn cả ngày. Hai người đối nhau luận Thiền, Đông Pha hỏi Phật Ấn:
- Ngài thấy tôi thế nào?
Phật Ấn đáp:
- Rất trang nghiêm, giống một ông Phật!
Tô Đông Pha nghe nói vô cùng phấn khởi. Phật Ấn lại hỏi Tô Đông Pha:
- Ông thấy ta ra sao?
Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay:
- Giống một đống phân bò!
Phật Ấn không nói gì. Đông Pha cho rằng mình đã thắng một keo, lòng rất sung sướng, về nhà hớn hở nói với Tô tiểu muội:
- Này muội muội, hồi nào tới giờ anh bị Ấn lão cho đo ván mãi, đấu không lại ông ta. Không biết hôm nay Hòa thượng trở cờ hay học sĩ này gặp may mà Ấn lão không còn lời để nói, không có lý để trình đấy.
Nói rồi bèn thuật lại chuyện luận chiến vừa qua.Tô tiểu muội thiên tư hơn người, tài hoa xuất chúng, nghe ca ca kể xong câu chuyện, liền nói:
- Xì, anh thua đậm rồi!
Đông Pha tức quá mắng :
- Ta làm sao lại thua? Nếu ta thua sao ông ấy không nói một lời nào?
Tô tiểu muội nói:
- Này ca ca, tôi xin hỏi anh, Phật quý hay phân bò quý?
Đông Pha nói:
- Đương nhiên là Phật quý rồi!
Tô tiểu muội nói:
- Phật là Ấn lão thấy, còn phân bò là anh thấy, thế có phải là anh bị đánh úp không? Ấn lão đắc thắng hoàn toàn, còn gì để nói nữa!
Đông Pha nghe tiểu muội nói thế, như bong bóng xì hơi, biết rằng bị rơi vào tròng của Phật Ấn, thua một keo nặng.
BÀI HỌC ĐẠO LÝ:
Trong tâm thức của con người chứa đựng rất nhiều hạt giống. Có những hạt giống dễ thương nhưng cũng có rất nhiều hạt giống không dễ thương; có những hạt giống làm Phật nhưng cũng có rất nhiều hạt giống làm chúng sanh. Nếu mình để cho những hạt giống không dễ thương, những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua…có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ, bi, hỷ, xả, những hạt giống thương yêu, cảm thông, tha thứ…thì mình nhìn ai cũng thấy dễ thương, nhìn đâu cũng thấy Tịnh độ, thấy Phật.
Cho nên, “tâm thế nào thì nhìn ra thế ấy”, “Thương người thương cả lối đi, ghét người ghét cả tông chi họ hàng”. Đó, cũng cái tâm ấy, khi có tình thương thì ngay cả lối đi mình cũng thấy đẹp, thấy thương, nói chi nhìn thấy người ta cười! Vậy mà khi không thương nữa, lúc đã ghét rồi, thì đâu chỉ người ấy đáng ghét, cả bà con của người ta cũng trở thành người xấu.
Vì vậy, người học Phật phải biết nuôi dưỡng, làm lớn mạnh tình thương và sự hiểu biết trong tâm mình.. Khi tâm mình có năng lượng từ bi và trí tuệ, nó sẽ làm tươi mát đời sống của tự thân và đem đến cho mọi người xung quanh niềm an lạc, hạnh phúc. Khi ấy nhìn đâu mình cũng có thể thấy hoa, dù khi hoa đang là rác.
Học Phật, luận Thiền không phải để tranh cao thấp, hơn thua, mà để chuyển hóa nội tâm. Khi tiếp xúc với mọi người, nguyện tiếp xúc và khơi dậy những hạt giống thương yêu, hiểu biết, từ bi hỷ xả. Đó là mình đang nuôi dưỡng nhau, để xây dựng một cuộc sống an lành, hạnh phúc. Nhìn vào cái xấu của nhau, thì chẳng có ích lợi gì, mà còn thêm mệt. Rõ ràng khi mình phê bình ai, giận hờn ai, sẽ thấy mệt vô cùng.
Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn nếu mình biết nhận thức theo chiều hướng tích cực, mọi người sẽ dễ thương hơn nếu mình biết khơi dậy và nuôi dưỡng hạt giống thương yêu, hiểu biết. “Tâm tịnh là cõi Phật”, đó là bí quyết để xây dựng Tịnh độ.
TRÍ THỨC VIỆT NAM:
Quanh Bồn Trí Tuệ
Trần Kiêm Đoàn Bài học chữ Nho mở lòng của thế hệ Quốc văn Giáo khoa thư là “Nhan Súc thuyết Tề vương quý sĩ” nghĩa là Nhan Súc thuyết giảng cho vua Tề biết trọng đãi người trí thức. Nhan Súc là một hiền sĩ đương thời. Một hôm vua Tề cho mời đến bàn việc nước. Sau khi chủ khách an vị, vua nói:
- Súc tiền! Nghĩa là: “Nhan Súc, bước tới đây!”
Nhan Súc trả lời: - Vương tiền! Nghĩa là: “Vua bước tới đây!”
Vua Tề hoang mang vì xưa nay chưa hề ở vào hoàn cảnh bị động như thế bao giờ. Nhan Súc lên tiếng:
- Nếu vua gọi mà tôi bước tới trước, người đời sẽ cho tôi là quỵ lụy trước quyền thế. Nếu tôi gọi mà vua bước tới trước trước, thiên hạ sẽ cho là vua biết trọng kẻ hiền tài. Nếu để cho tôi mang tiếng xấu là kẻ xu phụ quyền thế; sao bằng để cho vua được tiếng thơm là biết trọng kẻ hiền tài!
Bài học nhỏ nói về vị thế mà đồng thời cũng là thân phận trí thức trước quyền lực chính trị.
Trí thức Việt Nam xưa nay phần đông thường ở thế yếu – thế bị động và chống đỡ – trước những thế lực chính trị. Kẻ sĩ ngày xưa như những ông nghè, ông cống suốt một đời đèn sách và hành xử lý tưởng kinh bang tế thế của đời mình quanh quẩn trong những ao hồ Tứ thư, Ngũ kinh. Khi còn đèn sách thì cố công dùi mài kinh sử để thi đỗ ra làm quan. Khi ra trường đời lại loay hoay trong giới hạn của lòng trung quân ái quốc tù đọng Nho giáo. Bởi vậy, bao nhiêu tên tuổi các bậc đại khoa ghi đầy ở Văn Miếu Hà Nội, ở đền Văn Thánh Huế hay đâu đó khắp xứ cũng chỉ còn là… hương trầm trong gió sương cổ tích mà thôi.
Qua bao thăng trầm của lịch sử, quần chúng ngó lên, kẻ sĩ ngó xuống và thì thầm vào tai nhau: “Bốn nghìn năm văn hiến!” Tất cả đều cảm thấy tự hào về một quá khứ trong trí tưởng. Trong lúc đó, suối nguồn tư tưởng trong ta lại chưa đủ sâu dày để xây lên một dòng chảy riêng cho một triết lý thuần Việt. Ta có hơi nhiều ông Trạng thông minh đỉnh ngộ và ranh mãnh đầy tiểu xảo trong hiện thực và ước mơ; nhưng lại không có được một triết gia trầm tĩnh và vững chải của một cánh rừng đại mộc tư tưởng. Ta có nhiều câu lạc bộ trí thức từ Bắc chí Nam, khắp trong nước và ngoài nước, nói chuyện hoàn cầu và hoàn vũ nổ giòn như pháo bông ngày đại khánh; nhưng lại chưa có những nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Chuyên Môn làm chỗ dựa tham khảo đáng tin cậy cho sinh hoạt tri thức và những vấn đề quốc kế dân sinh. Thế giới ngày nay càng ngày càng có nhìều nhóm trí thức cùng lĩnh vực chuyên môn tập hợp lại để tạo nên một trí tuệ tập thể gọi là Bồn Trí Tuệ (Think Tank). Giáo sư Nguyễn Xuân Khoa gọi Think Tank là “Vựa Tư Tưởng”. Vựa, là hình ảnh bình dân, diễn cảm như vựa cá, vựa thóc; nhưng Tư Tưởng, có xa rời đại chúng quá chăng. Trạng Quỳnh, thằng Bờm cũng có Bồn Trí Tuệ riêng trong điệu sống độc đáo giữa đời.
Đối với truyền thống văn hóa hiếu học, xếp sĩ đứng đầu sự phân chia giai cấp xã hội của dân ta thì vai trò người trí thức xưa nay vẫn là hình ảnh tiêu biểu cho chất xám, cho trí tuệ của đại chúng. Chất xám đơn thuần không tạo ra trí thức mà trí thức là người biết sử dụng hữu hiệu chất xám. Hay nói theo khái niệm nôm na của quần chúng thì trí thức là người có tri thức, có trí tuệ. Loay hoay định nghĩa màu mè hay tìm tòi những thuộc tính chi li của trí thức sẽ vướng vào chủ nghĩa hình thức chưa cần thiết lúc nầy.
Dầu đứng ở bất cứ phía nào, ta cũng không thể phủ nhận được rằng, đầu tư trí thức (giáo dục, nghiên cứu) là một trong những phương tiện thiện xảo nhất giúp làm cho dân giàu nước mạnh. Đa số các nước nghèo trên thế giới hiện nay đều có sự thiếu quân bình giữa số dân và các cơ sở đầu tư giáo dục. Cụ thể là môi trường đào tạo trí thức quá thấp so với số dân cư. Nước Mỹ tuy mới lập quốc 233 năm nhưng hưởng được sự giàu mạnh như hiện nay, không phải là một sự tình cờ may rủi mà rõ ràng là do sự đầu tư xông xáo và lâu dài vào môi trường giáo dục; nhiệt tình và thành thật chiêu hiền đãi sĩ; mở rộng tấm lòng và vòng tay đón nhận chất xám toàn cầu không phân biệt biên cương màu sắc.
Hiện nay, với số dân 305 triệu người, Mỹ có tới khoảng 4500 trường đại học và trên dưới 100 nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Chuyên Môn – Think Tank – phần lớn có thế lực toàn cầu. Riêng một tiểu bang California giàu nhất nước Mỹ, với dân số 36 triệu người thì cũng đã có tới 399 trường đại học. New York, với dân số 20 triệu, có 307 trường đại học. Trong lúc đó, Việt Nam ta có một dân số tới 85 triệu người nhưng mới có khoảng trên dưới 50 trường đại học to nhỏ và chỉ 001 nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Chuyên Môn đầu tiên có tên là Viện Nghiên Cứu Phát Triển – Think Tank IDS – vừa mới tự động giải tán sau Quyết Định 97 đã ban hành của chính phủ Việt Nam.
Giới quan sát khách quan và nghiêm chỉnh trong cũng như ngoài nước đã tỏ ra ngạc nhiên không ít về những tình huống hầu như nghịch lý về phía Chính Phủ cũng như về phía Nhóm Chuyên Viên IDS. Nếu nói một cách hồn nhiên đầy tính hoạt kê của người bình dân không xu phụ quyền thế mà cũng chẳng đeo mang trí thức thì chính quyền Việt Nam “chưa tậu được bò đã lo rình mỏ kẻ trộm”; trí thức IDS thì “muốn vào rừng mà nửa chừng bó tay” (?!)
Sau hơn 30 năm trải qua nhiều chặng đường có lúc phong quang, có lúc gập ghềnh với nhiều mày mò, trăn trở Việt Nam đã lọt qua nhiều cửa ải không kém phần gian khó, truân chuyên để bước vào cộng đồng thế giới. Ngày nay, Việt Nam đã có mặt với thế thành viên bình đẳng trong hầu hết các tổ chức then chốt toàn cầu và phân vùng như Liên Hiệp Quốc, WTO, Ngân Hàng Thế Giới, Thế Vận Hội, ASEAN… Nhu cầu hiển nhiên trước một vị thế mới trong quan hệ đa dạng như thế là sự hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực chuyên biệt và chuyên môn.
Người Việt trong cũng như ngoài nước vốn cần cù, thông minh; đầy đủ khả năng chất xám, tinh thần tự tin và lòng tự trọng để tiến bước song hành với mọi thành viên đối tác trong cộng đồng thế giới ngày nay. Xã hội càng tiến nhanh, nhu cầu học hỏi và tham khảo càng bức thiết. Giới lãnh đạo trong các nước giàu mạnh trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã công khai tham khảo và dựa vào những dữ kiện được tìm tòi, phân tích và chắt lọc từ các nhóm Tham Vấn Chuyên Môn (Bồn Trí Tuệ - Think Tank). Mỗi Bồn Trí Tuệ trong từng khung cảnh chuyên môn như thế là một tập đại thành của nhiều đầu óc xuất sắc. Nhà nước, tập đoàn, công ty của Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các nước công nghiệp phát triển nói chung đều phải trả những món tiền rất lớn mỗi khi cần tham khảo ý kiến chuyên môn cho những vấn đề đối ngoại cũng như đối nội cần thiết. Có khi nhà nước phải trực tiếp tài trợ cho các Think Tank. Hàng trăm Think Tank của Mỹ đã đóng góp trực tiếp hay gián tiếp vào sự giàu mạnh của xứ nầy. Ngay ở Ấn Độ, một quốc gia mà giới lãnh đạo luôn có mặc cảm tự tôn là thuộc giai cấp minh triết, nhưng Bồn Chứa Trí Tuệ IDSA (Institute of Defense Studies and Analysis) đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng cho chính sách đối ngoại và quốc phòng của xứ nầy. Gần xứ ta nhất là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, những Think Tank đã đóng một vai trò tích cực để giữ cho Trung Hoa lục địa và các vùng thuộc địa tự trị công khai hay âm thầm tìm hiểu và đối thoại với nhau, giữ được sự độc lập và phồn vinh có lợi cho tất cả mọi phía như ngày nay.
Việt Nam có tới bốn nghìn năm văn hiến sao lại chỉ mới có một Bồn Trí Tuệ chưa đầy đã vỡ. Xứ ta là “siêu nhân” không cần những Bồn Trí Tuệ nầy chăng?
Câu trả lời cố nhiên là không phải thế. Vậy thì tại sao giới lãnh đạo Việt Nam lại ra Quyết Định 97 với danh nghĩa là minh thị và bổ sung quy chế thành lập hội đoàn trí thức, quy định nội dung nghiên cứu, khống chế tinh thần phản biện?
Trước nhu cầu tạo sức mạnh tổng hợp để đánh giặc và quản lý xã hội trong thời chiến, khái niệm “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ” các sản phẩm tinh thần và vật chất tập thể tuy hơi ngồ ngộ trong cảm nhận, nghịch lý trong tư duy và chẳng có chi trong thực tế nhưng có thể hiểu được. Thế nhưng, đất nước đã hết chiến tranh gần 35 năm và đang chen vai thích cánh bước vào thị trường thế giới đầy gai góc và thử thách. Một quyết định quản lý tự do nghiên cứu; chỉ đạo lĩnh vực tìm tòi, sáng tạo và phát kiến; kiểm soát tham luận và phản biện của giới trí thức dân tộc như thế là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong tiến trình hoàn thiện và phát huy năng lực chuyên môn của trí thức. Trong bối cảnh cụ thể của đất nước dân chưa đủ giàu, nước chưa đủ mạnh so với các quốc gia lân bang đồng thời mà tung ra Quyết Định trói buộc trí thức như thế thì quả là giới cầm quyền Việt Nam đã chế tạo riêng một “tuyệt đại tối siêu sản phẩm của thế kỷ” – nói theo kiểu tửng tửng của một nhân vật trong Harry Porter khi đụng đến những chuyện kỳ lạ khó hiểu. Không hiểu thì làm sao yêu mến được; không yêu mến được thì làm sao nhận lãnh; không nhận lãnh thì làm sao cống hiến, dấn thân?!
Nếu Quyết Định 97 của thủ tướng Việt Nam Cộng Sản mang đầy đủ những điều nghịch lý khó hiểu như thế đối với trí thức IDS thì quyết định tự giải thể để khỏi đương đầu với những vấn nạn không có cơ hội lý giải hay viễn ảnh xung đột, mâu thuẫn không có khả năng hóa giải là một sự lương thiện trí thức của những người chủ xướng đang đứng quanh Bồn Trí Tuệ.
Một khi tự do phát kiến của trí thức bị trói buộc và giới hạn thì học thuật chỉ còn là một quá trình thụ động học thuộc lòng, bắt chước, vuốt đuôi như cái học nhà Nho đã hỏng và đã làm đất nước chững lại giữa suy đồi. Chỉ tiêu đào tạo hàng vạn tiến sĩ trong những năm tớì của Việt Nam ta sẽ về đâu. Luận án tiến sĩ không thể là những tập hợp của các tập bài học, bài thi Tam Trường ngày xưa nữa. Luận án tiến sĩ (doctoral dissertation) ngày nay phải là những phát kiến, phát minh mới mẽ, sinh động trong môi trường học thuật. Muốn sáng tạo và phát huy tác dụng chất xám của giới trí thức thì điều kiện tiên khởi là phải có tự do tri thức. Mặc cảm lo sợ phạm trường quy và “trọng húy” ngày xưa đã đào tạo một lớp kẻ sĩ thụ động, tầm chương trích cú. Sự lãnh đạo sáng suốt của bất cứ thời nào và nơi đâu đều có sự nhất quán rằng, muốn cho dân giàu nước mạnh thì cần phải biết đầu tư trí thức. Những vị minh quân trong những triều đại cực thịnh đều có những vị gián quan can đảm và những quốc sư sáng suồt bên cạnh. Kẻ sĩ nịnh thần ngày xưa và trí thức diễn văn phòng hội làm vui lòng lãnh đạo ngày nay đã tự liệt mình váo hàng sĩ phiệt. Học phiệt đào tạo sĩ phiệt là cặp phạm trù nhân quả chỉ làm cho chế độ chính trị và đất nước suy vong như lịch sử nhân loại đã chứng minh.
Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch) tưởng như đã lãng quên đang bừng sống lại trong những năm gần đây với dân Việt ở quê nhà cũng như ở hải ngoại. Đó là ngày giỗ của Khuất Nguyên, một trí thức thi nhân đã trầm mình xuống sông Mịch La tự vẫn cách đây hơn 2300 năm. Khuất Nguyên tuyệt vọng vì bị vua Sở Hoài Vương một thời trọng dụng và về sau bạc đãi vì vua nghe nịnh thần tâu dối. Nghe chuyện, có lão ngư ông ngồi trên bến sông, vuốt râu, gõ bồn (trí tuệ?) mà hát:
Thương Lương chi thủy thanh hề khả dĩ trạc ngã anh.
Thương Lương chi thủy trọc hề khả dĩ trạc ngã túc.
Xin tạm phóng dịch:
Thương Lương dòng nước trong xanh,
Thì ta ngã nón rửa quanh mái đầu.
Thương Lương dòng nước đục ngầu,
Thì ta vẫn rửa, mặc dầu rửa chân.
Trước trong ta rửa mặt, nước đục ta rửa chân, cớ sao lại phải hủy diệt chính mình.
Với người trí thức, rửa là cống hiến chất xám và dấn thân hòa điệu sống phục vụ cho đời. Lời lão ngư ông trên bến sông ngày xưa ấy đã nói gì với sự lựa chọn thái độ của người trí thức hôm nay?
Trần Kiêm Đoàn, MSW; Ph.D
PSY- EASTWEST FOUNDATION
Sacramento, ngày lụt bão đầu mùa
Quanh Bồn Trí Tuệ
Trần Kiêm Đoàn Bài học chữ Nho mở lòng của thế hệ Quốc văn Giáo khoa thư là “Nhan Súc thuyết Tề vương quý sĩ” nghĩa là Nhan Súc thuyết giảng cho vua Tề biết trọng đãi người trí thức. Nhan Súc là một hiền sĩ đương thời. Một hôm vua Tề cho mời đến bàn việc nước. Sau khi chủ khách an vị, vua nói:
- Súc tiền! Nghĩa là: “Nhan Súc, bước tới đây!”
Nhan Súc trả lời: - Vương tiền! Nghĩa là: “Vua bước tới đây!”
Vua Tề hoang mang vì xưa nay chưa hề ở vào hoàn cảnh bị động như thế bao giờ. Nhan Súc lên tiếng:
- Nếu vua gọi mà tôi bước tới trước, người đời sẽ cho tôi là quỵ lụy trước quyền thế. Nếu tôi gọi mà vua bước tới trước trước, thiên hạ sẽ cho là vua biết trọng kẻ hiền tài. Nếu để cho tôi mang tiếng xấu là kẻ xu phụ quyền thế; sao bằng để cho vua được tiếng thơm là biết trọng kẻ hiền tài!
Bài học nhỏ nói về vị thế mà đồng thời cũng là thân phận trí thức trước quyền lực chính trị.
Trí thức Việt Nam xưa nay phần đông thường ở thế yếu – thế bị động và chống đỡ – trước những thế lực chính trị. Kẻ sĩ ngày xưa như những ông nghè, ông cống suốt một đời đèn sách và hành xử lý tưởng kinh bang tế thế của đời mình quanh quẩn trong những ao hồ Tứ thư, Ngũ kinh. Khi còn đèn sách thì cố công dùi mài kinh sử để thi đỗ ra làm quan. Khi ra trường đời lại loay hoay trong giới hạn của lòng trung quân ái quốc tù đọng Nho giáo. Bởi vậy, bao nhiêu tên tuổi các bậc đại khoa ghi đầy ở Văn Miếu Hà Nội, ở đền Văn Thánh Huế hay đâu đó khắp xứ cũng chỉ còn là… hương trầm trong gió sương cổ tích mà thôi.
Qua bao thăng trầm của lịch sử, quần chúng ngó lên, kẻ sĩ ngó xuống và thì thầm vào tai nhau: “Bốn nghìn năm văn hiến!” Tất cả đều cảm thấy tự hào về một quá khứ trong trí tưởng. Trong lúc đó, suối nguồn tư tưởng trong ta lại chưa đủ sâu dày để xây lên một dòng chảy riêng cho một triết lý thuần Việt. Ta có hơi nhiều ông Trạng thông minh đỉnh ngộ và ranh mãnh đầy tiểu xảo trong hiện thực và ước mơ; nhưng lại không có được một triết gia trầm tĩnh và vững chải của một cánh rừng đại mộc tư tưởng. Ta có nhiều câu lạc bộ trí thức từ Bắc chí Nam, khắp trong nước và ngoài nước, nói chuyện hoàn cầu và hoàn vũ nổ giòn như pháo bông ngày đại khánh; nhưng lại chưa có những nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Chuyên Môn làm chỗ dựa tham khảo đáng tin cậy cho sinh hoạt tri thức và những vấn đề quốc kế dân sinh. Thế giới ngày nay càng ngày càng có nhìều nhóm trí thức cùng lĩnh vực chuyên môn tập hợp lại để tạo nên một trí tuệ tập thể gọi là Bồn Trí Tuệ (Think Tank). Giáo sư Nguyễn Xuân Khoa gọi Think Tank là “Vựa Tư Tưởng”. Vựa, là hình ảnh bình dân, diễn cảm như vựa cá, vựa thóc; nhưng Tư Tưởng, có xa rời đại chúng quá chăng. Trạng Quỳnh, thằng Bờm cũng có Bồn Trí Tuệ riêng trong điệu sống độc đáo giữa đời.
Đối với truyền thống văn hóa hiếu học, xếp sĩ đứng đầu sự phân chia giai cấp xã hội của dân ta thì vai trò người trí thức xưa nay vẫn là hình ảnh tiêu biểu cho chất xám, cho trí tuệ của đại chúng. Chất xám đơn thuần không tạo ra trí thức mà trí thức là người biết sử dụng hữu hiệu chất xám. Hay nói theo khái niệm nôm na của quần chúng thì trí thức là người có tri thức, có trí tuệ. Loay hoay định nghĩa màu mè hay tìm tòi những thuộc tính chi li của trí thức sẽ vướng vào chủ nghĩa hình thức chưa cần thiết lúc nầy.
Dầu đứng ở bất cứ phía nào, ta cũng không thể phủ nhận được rằng, đầu tư trí thức (giáo dục, nghiên cứu) là một trong những phương tiện thiện xảo nhất giúp làm cho dân giàu nước mạnh. Đa số các nước nghèo trên thế giới hiện nay đều có sự thiếu quân bình giữa số dân và các cơ sở đầu tư giáo dục. Cụ thể là môi trường đào tạo trí thức quá thấp so với số dân cư. Nước Mỹ tuy mới lập quốc 233 năm nhưng hưởng được sự giàu mạnh như hiện nay, không phải là một sự tình cờ may rủi mà rõ ràng là do sự đầu tư xông xáo và lâu dài vào môi trường giáo dục; nhiệt tình và thành thật chiêu hiền đãi sĩ; mở rộng tấm lòng và vòng tay đón nhận chất xám toàn cầu không phân biệt biên cương màu sắc.
Hiện nay, với số dân 305 triệu người, Mỹ có tới khoảng 4500 trường đại học và trên dưới 100 nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Chuyên Môn – Think Tank – phần lớn có thế lực toàn cầu. Riêng một tiểu bang California giàu nhất nước Mỹ, với dân số 36 triệu người thì cũng đã có tới 399 trường đại học. New York, với dân số 20 triệu, có 307 trường đại học. Trong lúc đó, Việt Nam ta có một dân số tới 85 triệu người nhưng mới có khoảng trên dưới 50 trường đại học to nhỏ và chỉ 001 nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Chuyên Môn đầu tiên có tên là Viện Nghiên Cứu Phát Triển – Think Tank IDS – vừa mới tự động giải tán sau Quyết Định 97 đã ban hành của chính phủ Việt Nam.
Giới quan sát khách quan và nghiêm chỉnh trong cũng như ngoài nước đã tỏ ra ngạc nhiên không ít về những tình huống hầu như nghịch lý về phía Chính Phủ cũng như về phía Nhóm Chuyên Viên IDS. Nếu nói một cách hồn nhiên đầy tính hoạt kê của người bình dân không xu phụ quyền thế mà cũng chẳng đeo mang trí thức thì chính quyền Việt Nam “chưa tậu được bò đã lo rình mỏ kẻ trộm”; trí thức IDS thì “muốn vào rừng mà nửa chừng bó tay” (?!)
Sau hơn 30 năm trải qua nhiều chặng đường có lúc phong quang, có lúc gập ghềnh với nhiều mày mò, trăn trở Việt Nam đã lọt qua nhiều cửa ải không kém phần gian khó, truân chuyên để bước vào cộng đồng thế giới. Ngày nay, Việt Nam đã có mặt với thế thành viên bình đẳng trong hầu hết các tổ chức then chốt toàn cầu và phân vùng như Liên Hiệp Quốc, WTO, Ngân Hàng Thế Giới, Thế Vận Hội, ASEAN… Nhu cầu hiển nhiên trước một vị thế mới trong quan hệ đa dạng như thế là sự hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực chuyên biệt và chuyên môn.
Người Việt trong cũng như ngoài nước vốn cần cù, thông minh; đầy đủ khả năng chất xám, tinh thần tự tin và lòng tự trọng để tiến bước song hành với mọi thành viên đối tác trong cộng đồng thế giới ngày nay. Xã hội càng tiến nhanh, nhu cầu học hỏi và tham khảo càng bức thiết. Giới lãnh đạo trong các nước giàu mạnh trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã công khai tham khảo và dựa vào những dữ kiện được tìm tòi, phân tích và chắt lọc từ các nhóm Tham Vấn Chuyên Môn (Bồn Trí Tuệ - Think Tank). Mỗi Bồn Trí Tuệ trong từng khung cảnh chuyên môn như thế là một tập đại thành của nhiều đầu óc xuất sắc. Nhà nước, tập đoàn, công ty của Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các nước công nghiệp phát triển nói chung đều phải trả những món tiền rất lớn mỗi khi cần tham khảo ý kiến chuyên môn cho những vấn đề đối ngoại cũng như đối nội cần thiết. Có khi nhà nước phải trực tiếp tài trợ cho các Think Tank. Hàng trăm Think Tank của Mỹ đã đóng góp trực tiếp hay gián tiếp vào sự giàu mạnh của xứ nầy. Ngay ở Ấn Độ, một quốc gia mà giới lãnh đạo luôn có mặc cảm tự tôn là thuộc giai cấp minh triết, nhưng Bồn Chứa Trí Tuệ IDSA (Institute of Defense Studies and Analysis) đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng cho chính sách đối ngoại và quốc phòng của xứ nầy. Gần xứ ta nhất là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, những Think Tank đã đóng một vai trò tích cực để giữ cho Trung Hoa lục địa và các vùng thuộc địa tự trị công khai hay âm thầm tìm hiểu và đối thoại với nhau, giữ được sự độc lập và phồn vinh có lợi cho tất cả mọi phía như ngày nay.
Việt Nam có tới bốn nghìn năm văn hiến sao lại chỉ mới có một Bồn Trí Tuệ chưa đầy đã vỡ. Xứ ta là “siêu nhân” không cần những Bồn Trí Tuệ nầy chăng?
Câu trả lời cố nhiên là không phải thế. Vậy thì tại sao giới lãnh đạo Việt Nam lại ra Quyết Định 97 với danh nghĩa là minh thị và bổ sung quy chế thành lập hội đoàn trí thức, quy định nội dung nghiên cứu, khống chế tinh thần phản biện?
Trước nhu cầu tạo sức mạnh tổng hợp để đánh giặc và quản lý xã hội trong thời chiến, khái niệm “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ” các sản phẩm tinh thần và vật chất tập thể tuy hơi ngồ ngộ trong cảm nhận, nghịch lý trong tư duy và chẳng có chi trong thực tế nhưng có thể hiểu được. Thế nhưng, đất nước đã hết chiến tranh gần 35 năm và đang chen vai thích cánh bước vào thị trường thế giới đầy gai góc và thử thách. Một quyết định quản lý tự do nghiên cứu; chỉ đạo lĩnh vực tìm tòi, sáng tạo và phát kiến; kiểm soát tham luận và phản biện của giới trí thức dân tộc như thế là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong tiến trình hoàn thiện và phát huy năng lực chuyên môn của trí thức. Trong bối cảnh cụ thể của đất nước dân chưa đủ giàu, nước chưa đủ mạnh so với các quốc gia lân bang đồng thời mà tung ra Quyết Định trói buộc trí thức như thế thì quả là giới cầm quyền Việt Nam đã chế tạo riêng một “tuyệt đại tối siêu sản phẩm của thế kỷ” – nói theo kiểu tửng tửng của một nhân vật trong Harry Porter khi đụng đến những chuyện kỳ lạ khó hiểu. Không hiểu thì làm sao yêu mến được; không yêu mến được thì làm sao nhận lãnh; không nhận lãnh thì làm sao cống hiến, dấn thân?!
Nếu Quyết Định 97 của thủ tướng Việt Nam Cộng Sản mang đầy đủ những điều nghịch lý khó hiểu như thế đối với trí thức IDS thì quyết định tự giải thể để khỏi đương đầu với những vấn nạn không có cơ hội lý giải hay viễn ảnh xung đột, mâu thuẫn không có khả năng hóa giải là một sự lương thiện trí thức của những người chủ xướng đang đứng quanh Bồn Trí Tuệ.
Một khi tự do phát kiến của trí thức bị trói buộc và giới hạn thì học thuật chỉ còn là một quá trình thụ động học thuộc lòng, bắt chước, vuốt đuôi như cái học nhà Nho đã hỏng và đã làm đất nước chững lại giữa suy đồi. Chỉ tiêu đào tạo hàng vạn tiến sĩ trong những năm tớì của Việt Nam ta sẽ về đâu. Luận án tiến sĩ không thể là những tập hợp của các tập bài học, bài thi Tam Trường ngày xưa nữa. Luận án tiến sĩ (doctoral dissertation) ngày nay phải là những phát kiến, phát minh mới mẽ, sinh động trong môi trường học thuật. Muốn sáng tạo và phát huy tác dụng chất xám của giới trí thức thì điều kiện tiên khởi là phải có tự do tri thức. Mặc cảm lo sợ phạm trường quy và “trọng húy” ngày xưa đã đào tạo một lớp kẻ sĩ thụ động, tầm chương trích cú. Sự lãnh đạo sáng suốt của bất cứ thời nào và nơi đâu đều có sự nhất quán rằng, muốn cho dân giàu nước mạnh thì cần phải biết đầu tư trí thức. Những vị minh quân trong những triều đại cực thịnh đều có những vị gián quan can đảm và những quốc sư sáng suồt bên cạnh. Kẻ sĩ nịnh thần ngày xưa và trí thức diễn văn phòng hội làm vui lòng lãnh đạo ngày nay đã tự liệt mình váo hàng sĩ phiệt. Học phiệt đào tạo sĩ phiệt là cặp phạm trù nhân quả chỉ làm cho chế độ chính trị và đất nước suy vong như lịch sử nhân loại đã chứng minh.
Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch) tưởng như đã lãng quên đang bừng sống lại trong những năm gần đây với dân Việt ở quê nhà cũng như ở hải ngoại. Đó là ngày giỗ của Khuất Nguyên, một trí thức thi nhân đã trầm mình xuống sông Mịch La tự vẫn cách đây hơn 2300 năm. Khuất Nguyên tuyệt vọng vì bị vua Sở Hoài Vương một thời trọng dụng và về sau bạc đãi vì vua nghe nịnh thần tâu dối. Nghe chuyện, có lão ngư ông ngồi trên bến sông, vuốt râu, gõ bồn (trí tuệ?) mà hát:
Thương Lương chi thủy thanh hề khả dĩ trạc ngã anh.
Thương Lương chi thủy trọc hề khả dĩ trạc ngã túc.
Xin tạm phóng dịch:
Thương Lương dòng nước trong xanh,
Thì ta ngã nón rửa quanh mái đầu.
Thương Lương dòng nước đục ngầu,
Thì ta vẫn rửa, mặc dầu rửa chân.
Trước trong ta rửa mặt, nước đục ta rửa chân, cớ sao lại phải hủy diệt chính mình.
Với người trí thức, rửa là cống hiến chất xám và dấn thân hòa điệu sống phục vụ cho đời. Lời lão ngư ông trên bến sông ngày xưa ấy đã nói gì với sự lựa chọn thái độ của người trí thức hôm nay?
Trần Kiêm Đoàn, MSW; Ph.D
PSY- EASTWEST FOUNDATION
Sacramento, ngày lụt bão đầu mùa

Động cửa Thiền Đầu xuân, chùa làng nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo toan.. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.
…
Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao. Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở.. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia. Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.
…
Một anh huynh trưởng gia đình Phật tử bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
…
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
…
Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu…
…
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức đó!
…
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
…
- Vì sao?
…
Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
…
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
…
Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:
…
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn. Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
…
Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
…
- A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…
…
Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
…
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?
…
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói:
…
- Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!
…
Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
…
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
…
Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặc lưỡi:
…
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào.. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!
…
Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
…
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
…
- Ô-kê!
…
Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: “Ai? Cần gì?”. Anh huynh trưởng cao giọng:
…
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
…
Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
…
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
…
Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức.. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:
…
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
…
Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ lục tuần đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
…
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
…
- Cứ hỏi. Đây nghe.
…
…
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
…
- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
…
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?
…
- Vừa sai, vừa đúng!
…
- Sao là sai? Sao là đúng?
…
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!
…
- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thậït ra cờ không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?
…
- Thật hay! Thật hay!
…
- Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
…
- Bình thường.
…
- Đáng trách hay đáng khen ạ?
…
- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!
…
Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
…
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
…
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
…
- …
…
- Im lặng, tức đã thú nhận.
…
- …
…
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ.. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!
…
- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
…
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
…
- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
…
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
…
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
…
- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…
…
- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?
…
- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
…
- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
…
- …
…
- Trút bỏ hết đi!
…
Sư trụ trì quát lên. Cô gái giật bắn mình, vội quỳ mọp xuống, đầu dập đất mấy cái. Sư lại quát:
…
- Trút hết. Rồi đi ra ngoài, dạo một vòng vãn cảnh mau đi!
…
- Bạch thầy… con không dám. Con không dám .Con xin dập đầu tạ tội. Đội ơn thầy đã khai tâm điểm đạo!
…
… Anh huynh trưởng đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt.. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang. Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện. Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xa ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
…
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương!
…
Anh ta thở phào nhẹ nhõm. Đầu năm vui thật. Thật là vui.
…
Tâm Không Vĩnh Hữu
Kẻ cướp khóc xin nạn nhân tha thứ
Gregory Smith, 23 tuổi. Ảnh: ABC. Một cảnh tượng hiếm có đã xảy ra khi một tên cướp có vũ khí bỗng dưng cảm thấy tội lỗi và quỳ xuống khóc lóc cầu xin nạn nhân tha thứ cho mình.
Camera giám sát tại một cửa hàng cho vay tại Indianapolis, Mỹ, đã ghi lại được hình ảnh một tên cướp bước vào và chĩa súng vào đầu thủ quỹ hôm 19/10.
Nhưng thay vì giữ im lặng, bà thủ quỹ bạo dạn nói chuyện với tên cướp về chúa trời và vài phút sau, tên cướp bỗng òa khóc và quỳ xuống chân bà. Hắn thú nhận rằng có đứa con hai tuổi phải nuôi và cầu xin bà cầu nguyện cùng hắn để vượt qua những khó khăn.
Theo Daily Mail, tên cướp đã vừa quỳ vừa cầu nguyện cùng với thủ quỹ trong 10 phút. Sau đó người phụ nữ đứng dậy và ôm chặt lấy kẻ đe dọa mình. Trước khi bỏ đi với số tiền 20 USD, tên cướp còn tháo đạn trong súng đưa cho người phụ nữ. Hắn cũng đã ra đầu thú ngay ngày hôm sau.
Cảnh sát cho biết kẻ cướp tên là Gregory Smith, 23 tuổi. Hắn bị kết tội ăn cướp, chĩa súng vào người khác và sử dụng súng mà không có giấy phép.
Anh Minh
Gregory Smith, 23 tuổi. Ảnh: ABC. Một cảnh tượng hiếm có đã xảy ra khi một tên cướp có vũ khí bỗng dưng cảm thấy tội lỗi và quỳ xuống khóc lóc cầu xin nạn nhân tha thứ cho mình.
Camera giám sát tại một cửa hàng cho vay tại Indianapolis, Mỹ, đã ghi lại được hình ảnh một tên cướp bước vào và chĩa súng vào đầu thủ quỹ hôm 19/10.
Nhưng thay vì giữ im lặng, bà thủ quỹ bạo dạn nói chuyện với tên cướp về chúa trời và vài phút sau, tên cướp bỗng òa khóc và quỳ xuống chân bà. Hắn thú nhận rằng có đứa con hai tuổi phải nuôi và cầu xin bà cầu nguyện cùng hắn để vượt qua những khó khăn.
Theo Daily Mail, tên cướp đã vừa quỳ vừa cầu nguyện cùng với thủ quỹ trong 10 phút. Sau đó người phụ nữ đứng dậy và ôm chặt lấy kẻ đe dọa mình. Trước khi bỏ đi với số tiền 20 USD, tên cướp còn tháo đạn trong súng đưa cho người phụ nữ. Hắn cũng đã ra đầu thú ngay ngày hôm sau.
Cảnh sát cho biết kẻ cướp tên là Gregory Smith, 23 tuổi. Hắn bị kết tội ăn cướp, chĩa súng vào người khác và sử dụng súng mà không có giấy phép.
Anh Minh
Điềm báo nàng không còn yêu bạn

Ảnh minh họa: Corbis.com. Nếu nàng không còn rủ bạn khi đi tụ tập bạn bè, chẳng thèm tranh cãi dù bạn có cố tình khiêu khích hay mang dần những vật dụng riêng của mình ra khỏi nhà bạn... thì có nghĩa là cô ấy không còn muốn gặp bạn nữa rồi.
Theo Askmen, những dấu hiệu dưới đây chính là "điềm báo" cho một lời chia tay sắp được nói ra. Biết được điều này bạn sẽ đón nhận sự việc bình tĩnh hơn, còn việc ứng xử với nó thế nào, níu giữ hay chấp nhận thì bạn phải tự hỏi lại trái tim mình.
Bạn bè của cô ấy không còn nói chuyện với bạn nữa
Bạn có thể chú ý đến sự thay đổi trong cách bạn bè của nàng cư xử khi bạn đến những cuộc họp mặt. Trước đây, họ thường nói chuyện với bạn vài phút và thỉnh thoảng còn xen vào câu chuyện của hai người nhưng bây giờ, cả nhóm im lặng khi bạn có mặt.
Nếu nàng đã nói với họ về nguy cơ tan vỡ của hai người, họ sẽ giữ khoảng cách với bạn. Vì vậy khi bạn bước vào phòng, thay vì nồng nhiệt đón chào bạn, họ sẽ tỏ ra dè dặt.
Nàng không còn rủ bạn tham gia những hoạt động chung trước kia
Nếu đã nghĩ về việc chia tay với bạn, cô ấy sẽ không rủ bạn đi cùng mỗi dịp tụ tập với bạn bè mình. Có thể trước đây, những người ấy là bạn chung khi hai người còn gắn bó với nhau và mỗi dịp có tiệc tùng gì, bạn và nàng lại sánh đôi cùng đến. Còn giờ, cô ấy đi một mình tới đó và những người kia chỉ còn là bạn của riêng nàng thôi.
Đây cũng là một dấu hiệu khá chắc chắn báo trước sự đổ vỡ nếu kèm theo đó là mỗi khi bạn hỏi về các kế hoạch của nàng cho tối mai thì luôn nhận được câu trả lời: "Em đi chơi với bạn".
Những đồ đạc của nàng dần biến khỏi nhà bạn
Chiếc bàn chải đánh răng của nàng từng đặt cạnh bàn chải của bạn trong phòng tắm. Vài đĩa phim lãng mạn nàng mua vốn vẫn được xếp ngay ngắn trên giá đĩa... Nhưng gần đây, tất cả những thứ này cứ dần biến mất.
Đây có thể là dấu hiệu rõ ràng rằng cô ấy đã chuyển tất cả đồ đạc của mình ra khỏi nhà bạn vì cô ấy không bao giờ muốn quay trở lại đó nữa.
Chẳng còn cuộc tranh cãi nào giữa hai người
Trong khi cãi vã liên miên có thể là biểu hiện rõ ràng về một mối quan hệ chẳng tốt đẹp gì thì việc không tranh cãi gì lại là dấu hiệu chắc chắn rằng cô ấy đã sẵn sàng để nói lời chia tay với bạn. Nếu chuyện những lý do nhỏ nhặt thường khiến cô ấy phát cáu và châm ngòi cho một cuộc tranh cãi giữa hai người không còn xảy ra, thì điều đó có nghĩa là cô ấy không còn quan tâm đến bất kỳ điều gì về bạn nữa.
Điều này chứng nàng đã chẳng còn cảm xúc gì trong mối quan hệ với bạn, vì vậy, dù bạn có cố gắng khiêu khích thì cô ấy cũng vẫn dửng dưng.
Vương Linh

Ảnh minh họa: Corbis.com. Nếu nàng không còn rủ bạn khi đi tụ tập bạn bè, chẳng thèm tranh cãi dù bạn có cố tình khiêu khích hay mang dần những vật dụng riêng của mình ra khỏi nhà bạn... thì có nghĩa là cô ấy không còn muốn gặp bạn nữa rồi.
Theo Askmen, những dấu hiệu dưới đây chính là "điềm báo" cho một lời chia tay sắp được nói ra. Biết được điều này bạn sẽ đón nhận sự việc bình tĩnh hơn, còn việc ứng xử với nó thế nào, níu giữ hay chấp nhận thì bạn phải tự hỏi lại trái tim mình.
Bạn bè của cô ấy không còn nói chuyện với bạn nữa
Bạn có thể chú ý đến sự thay đổi trong cách bạn bè của nàng cư xử khi bạn đến những cuộc họp mặt. Trước đây, họ thường nói chuyện với bạn vài phút và thỉnh thoảng còn xen vào câu chuyện của hai người nhưng bây giờ, cả nhóm im lặng khi bạn có mặt.
Nếu nàng đã nói với họ về nguy cơ tan vỡ của hai người, họ sẽ giữ khoảng cách với bạn. Vì vậy khi bạn bước vào phòng, thay vì nồng nhiệt đón chào bạn, họ sẽ tỏ ra dè dặt.
Nàng không còn rủ bạn tham gia những hoạt động chung trước kia
Nếu đã nghĩ về việc chia tay với bạn, cô ấy sẽ không rủ bạn đi cùng mỗi dịp tụ tập với bạn bè mình. Có thể trước đây, những người ấy là bạn chung khi hai người còn gắn bó với nhau và mỗi dịp có tiệc tùng gì, bạn và nàng lại sánh đôi cùng đến. Còn giờ, cô ấy đi một mình tới đó và những người kia chỉ còn là bạn của riêng nàng thôi.
Đây cũng là một dấu hiệu khá chắc chắn báo trước sự đổ vỡ nếu kèm theo đó là mỗi khi bạn hỏi về các kế hoạch của nàng cho tối mai thì luôn nhận được câu trả lời: "Em đi chơi với bạn".
Những đồ đạc của nàng dần biến khỏi nhà bạn
Chiếc bàn chải đánh răng của nàng từng đặt cạnh bàn chải của bạn trong phòng tắm. Vài đĩa phim lãng mạn nàng mua vốn vẫn được xếp ngay ngắn trên giá đĩa... Nhưng gần đây, tất cả những thứ này cứ dần biến mất.
Đây có thể là dấu hiệu rõ ràng rằng cô ấy đã chuyển tất cả đồ đạc của mình ra khỏi nhà bạn vì cô ấy không bao giờ muốn quay trở lại đó nữa.
Chẳng còn cuộc tranh cãi nào giữa hai người
Trong khi cãi vã liên miên có thể là biểu hiện rõ ràng về một mối quan hệ chẳng tốt đẹp gì thì việc không tranh cãi gì lại là dấu hiệu chắc chắn rằng cô ấy đã sẵn sàng để nói lời chia tay với bạn. Nếu chuyện những lý do nhỏ nhặt thường khiến cô ấy phát cáu và châm ngòi cho một cuộc tranh cãi giữa hai người không còn xảy ra, thì điều đó có nghĩa là cô ấy không còn quan tâm đến bất kỳ điều gì về bạn nữa.
Điều này chứng nàng đã chẳng còn cảm xúc gì trong mối quan hệ với bạn, vì vậy, dù bạn có cố gắng khiêu khích thì cô ấy cũng vẫn dửng dưng.
Vương Linh
- CarteNoire
- Posts: 374
- Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm
Hà Dũng mua tranh 'trả nợ' Hồ Quỳnh Hương
“Dù bất cứ lúc nào em cần đến, anh cũng tận tình giúp đỡ” - ca sĩ “Honey” đã nhớ đến câu nói này của nhạc sĩ “Khúc tự tình” và đánh bạo gọi cho anh lúc nửa đêm để nhờ mua bức tranh đá quý lấy tiền làm từ thiện cho đồng bào miền Trung.> Hồ Quỳnh Hương: 'Hà Dũng không giúp tôi về tiền bạc'
Cuộc điện thoại được thực hiện chỉ diễn ra vài tiếng trước buổi họp báo của Hồ Quỳnh Hương về việc bán tranh đá quý ủng hộ đồng bào miền Trung, sáng 21/10 tại Hà Nội. Ca sĩ đất mỏ đề nghị chủ nhân hãng hàng không Indochina Airlines mua giúp cô bức tranh trị giá 200 triệu đồng. Nhưng thay vì đồng ý với bức tranh này, Hà Dũng muốn mua bức tranh lớn nhất trị giá 400 triệu để có thể giúp Hồ Quỳnh Hương nhiều hơn. Người được xem là “giai nhân đầu tiên của Hà Dũng” càng ngạc nhiên khi nhạc sĩ "đại gia" bất ngờ thông báo, anh sẽ tặng lại bức tranh cho công ty của Hồ Quỳnh Hương để cô có thể đấu giá tiếp tục làm từ thiện.
Mặc dù được thông báo gấp, Hà Dũng đã bay ra Hà Nội có mặt cùng Hồ Quỳnh Hương tại buổi họp báo. Ngồi bên cạnh người thầy một thủa, Hồ Quỳnh Hương xúc động rớm nước mắt về nghĩa cử của Hà Dũng. Giải thích về hành động của mình, Hà Dũng hóm hỉnh cho biết: “Tôi có vài người bạn thân thiết trong cuộc đời, trong đó có Hương. Tôi quan niệm, nếu bạn tôi nói gì, làm gì thì chỉ có đúng. Tôi tin rằng những người bạn khác của tôi sẽ cùng đóng góp 400 triệu này để mua tranh. Nếu họ không góp thì tôi cũng có một số tiền dành dụm riêng để giúp Hồ Quỳnh Hương”.
Ngoài bức tranh nhạc sĩ Hà Dũng đã mua, Hồ Quỳnh Hương còn bán hai bức tranh khác trị giá 200 triệu đồng mỗi bức. Cô cho biết những tác phẩm này được kết từ đá ruby và saphire, mô phỏng lại các tác phẩm của danh họa Nguyễn Gia Trí và họa sĩ Pháp thời Pháp thuộc mà cô đã cất công sưu tầm được. Theo Hồ Quỳnh Hương, những bức tranh chỉ được tái hiện một lần duy nhất nên có giá trị cao.
Với 800 triệu đồng từ tiền bán tranh, Hồ Quỳnh Hương sẽ trực tiếp đi tới tận những vùng sâu, vùng xa trao quà và tiền giúp đỡ những người bị thiệt hại bởi cơn bão số 9 vừa qua chứ không qua một tổ chức, cá nhân trung gian nào. Nữ ca sĩ Năng lượng trải lòng, từ trước đến nay, mỗi khi đi hát, cô đều trích một phần cát-xê ra làm từ thiện, nhưng đây là lần đầy tiên cô có được sự ủng hộ nhiều đến thế.
Ngọc Trần
“Dù bất cứ lúc nào em cần đến, anh cũng tận tình giúp đỡ” - ca sĩ “Honey” đã nhớ đến câu nói này của nhạc sĩ “Khúc tự tình” và đánh bạo gọi cho anh lúc nửa đêm để nhờ mua bức tranh đá quý lấy tiền làm từ thiện cho đồng bào miền Trung.> Hồ Quỳnh Hương: 'Hà Dũng không giúp tôi về tiền bạc'
Cuộc điện thoại được thực hiện chỉ diễn ra vài tiếng trước buổi họp báo của Hồ Quỳnh Hương về việc bán tranh đá quý ủng hộ đồng bào miền Trung, sáng 21/10 tại Hà Nội. Ca sĩ đất mỏ đề nghị chủ nhân hãng hàng không Indochina Airlines mua giúp cô bức tranh trị giá 200 triệu đồng. Nhưng thay vì đồng ý với bức tranh này, Hà Dũng muốn mua bức tranh lớn nhất trị giá 400 triệu để có thể giúp Hồ Quỳnh Hương nhiều hơn. Người được xem là “giai nhân đầu tiên của Hà Dũng” càng ngạc nhiên khi nhạc sĩ "đại gia" bất ngờ thông báo, anh sẽ tặng lại bức tranh cho công ty của Hồ Quỳnh Hương để cô có thể đấu giá tiếp tục làm từ thiện.
Mặc dù được thông báo gấp, Hà Dũng đã bay ra Hà Nội có mặt cùng Hồ Quỳnh Hương tại buổi họp báo. Ngồi bên cạnh người thầy một thủa, Hồ Quỳnh Hương xúc động rớm nước mắt về nghĩa cử của Hà Dũng. Giải thích về hành động của mình, Hà Dũng hóm hỉnh cho biết: “Tôi có vài người bạn thân thiết trong cuộc đời, trong đó có Hương. Tôi quan niệm, nếu bạn tôi nói gì, làm gì thì chỉ có đúng. Tôi tin rằng những người bạn khác của tôi sẽ cùng đóng góp 400 triệu này để mua tranh. Nếu họ không góp thì tôi cũng có một số tiền dành dụm riêng để giúp Hồ Quỳnh Hương”.
Ngoài bức tranh nhạc sĩ Hà Dũng đã mua, Hồ Quỳnh Hương còn bán hai bức tranh khác trị giá 200 triệu đồng mỗi bức. Cô cho biết những tác phẩm này được kết từ đá ruby và saphire, mô phỏng lại các tác phẩm của danh họa Nguyễn Gia Trí và họa sĩ Pháp thời Pháp thuộc mà cô đã cất công sưu tầm được. Theo Hồ Quỳnh Hương, những bức tranh chỉ được tái hiện một lần duy nhất nên có giá trị cao.
Với 800 triệu đồng từ tiền bán tranh, Hồ Quỳnh Hương sẽ trực tiếp đi tới tận những vùng sâu, vùng xa trao quà và tiền giúp đỡ những người bị thiệt hại bởi cơn bão số 9 vừa qua chứ không qua một tổ chức, cá nhân trung gian nào. Nữ ca sĩ Năng lượng trải lòng, từ trước đến nay, mỗi khi đi hát, cô đều trích một phần cát-xê ra làm từ thiện, nhưng đây là lần đầy tiên cô có được sự ủng hộ nhiều đến thế.
Ngọc Trần
Tâm sự của một đảng viên
Lâu nay tôi không viết blog, không comment vì tôi sợ. Tôi nghe được những thằng bạn làm bên an ninh nói rằng đang thực hiện những chỉ thị của cấp trên rất quyết liệt để tìm ra dấu vết tông tích của những blogger “có vấn đề” để có cách xử lý thích đáng. Tôi thực sự sợ, có lẽ là tôi hèn nhát.
Nhưng hôm nay tôi muốn viết, tôi buộc phải viết, tôi không giải thích được tâm trạng của mình lúc này, nhưng tôi cảm nhận rõ ràng một sự thôi thúc phải nói ra những gì mình suy nghĩ cho nhiều người đọc. Sự thôi thúc đó đến từ đâu tôi cũng không chắc, nhưng thật tình là tôi vẫn rất run sợ khi post bài này, tôi không phải là người dũng cảm, nhưng tôi thấy mình cần làm điều đó. Và tôi cũng chỉ có nơi này để viết, để nói ra được sự thật, blog là nơi duy nhất ở xã hội này người ta có thể nói thật, còn lại đều là một cuộc sống dối trá với chính mình và mọi người.
Tôi đã gần 50 tuổi, đang làm cho một viện nghiên cứu của Nhà nước, đã được 15 năm tuổi Đảng. Thật lòng là tôi đã nghĩ đến việc ra khỏi Đảng nhưng lại không dám thực hiện, tôi không đủ can đảm và mạnh mẽ để chấp nhận một cách kiếm sống mới hoàn toàn mà tôi không tự tin với nó. Mà bỏ Đảng thì chỉ còn cách bỏ cơ quan. Đã suy nghĩ rất nhiều cách mưu sinh khác nhưng vẫn không thấy cái nào là được. Các con tôi phải còn vài năm nữa mới có thể tự lo được. Lương hai vợ chồng cộng lại mới hơn chục triệu. Riêng tôi mỗi năm được thêm vài công trình nghiên cứu, chia ra cũng được khoảng 30-40 triệu đồng. Cái này chính là bổng lộc mà cấp trên ban phát vì nghiên cứu cho có, xong cho vào tủ, chủ yếu là viết theo ý muốn cấp trên rồi lập hội đồng khen nhau mấy câu, thế là xong. Giàu thì chủ yếu là các sếp lớn vì đề tài nào các sếp cũng có tên để chia tiền dù chẳng làm gì, có khi cũng chẳng nhớ nổi cái tên đề tài. Còn chưa kể những thứ quyền lợi mua sắm khác.
Nói chung là nếu lên được trưởng phòng thì không phải lo tiền bạc, người ta cúng cho mình. Do vậy mà trong nội bộ người ta đấu đá giành giật nhau ghê lắm, vào Đảng cũng chỉ hy vọng lên được chức cao hơn. Nói thật là ngày xưa tôi vào Đảng cũng với động cơ như thế, nhưng không nghĩ rằng như thế chỉ mới là cái bắt buộc sơ đẳng, muốn ngoi lên được đòi hỏi phải nhiều thủ thuật lắm, và phải biết luồn cuối thật giỏi, chà đạp người khác mà không bị cắn rứt. Mà cả 2 cái này tôi đều dỡ, có lúc thấy phải làm nhưng làm cũng không đạt yêu cầu. Chuyên viên như tôi (dù là được xếp vào ngạch cao câp) bây giờ toàn phải nói vẹt, nói dối đến mức mất tư cách mà chẳng biết phải làm sao. Giờ mới thấy mình hèn nhưng đã muộn. Tự an ủi trấn an mình “mưu sinh mà, thôi đành vậy…”
Những người Đảng viên như tôi, bây giờ chiếm đa số tuyệt đối trong Đảng, đến 95%. Hồi tháng 4 năm ngoái, tôi được đọc một bản nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội, đây là tài liệu chính thức nghiên cứu theo yêu cầu của Bộ Chính Trị. Qua đó nói rõ rằng Đảng viên bây giờ đều chán nãn và bi quan, không còn tin vào đường lối chủ nghĩa Cộng Sản và học thuyết Mác Lê-Nin nữa, Đảng viên chỉ hy vọng vào sự đổi mới của Đảng. Nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, đang đi vào ngõ cụt. Hầu hết những Đảng viên như tôi bây giờ đều mong muốn một sự thay đổi, nhưng họ lại sợ thay đổi. Lý do quan trọng nhất là họ sợ bị trả thù như lịch sử đã từng xảy ra, như Đảng đã từng làm, họ nghe thấy sự hung hăng và cực đoan của các Việt Kiều qua các lần biểu tình chống đối người trong nước qua làm họ sợ. Rồi kiểu tuyên truyền của Đảng cũng tăng thêm điều đó, nếu bạn là Đảng viên, đi họp sinh hoạt Đảng thì sẽ nghe thấy những lời lẽ cảnh báo rất nặng nề, nào là các thế lực thù địch, nào là sẽ không đội trời chung với Đảng viên, âm mưu diễn biến hòa mình có thể mất nước v.v..
Nhưng cái làm xói mòn niềm tin ở Đảng nhất là tham nhũng và đặc quyền thì Đảng chẳng có một biện pháp hiệu quả nào ngăn chặn, nếu không muốn nói là Đảng phải duy trì nó để sống và để cai trị quan chức. Cơ quan tôi và nhiều nơi khác suốt ngày bàn tán về việc ông Lê Thanh Hải đã chi ra cả trăm tỷ đồng để hối lộ cho những vị ủy viên Bộ Chính Trị vào TpHCM để xem xét việc cách chức ông ta vì dính đến vụ PCI. Giờ ông ta tuyên bố với đám đàn em kinh tài là vững như bàn thạch vì không những thế, Thủ Tướng còn nhận của ông ta mấy triệu đô la nữa. Giờ là lúc ông ta ra sức vơ vét và tạo điều kiện cho các đàn em kinh tài vơ vét để bù lại những gì đã phải chi ra để chạy cho ông ấy. Những chuyện này giờ đây tồn tại như một sự tất yếu, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Tôi đang đứng trước một trạng thái chông chênh, giữa những lựa chọn không dễ dàng: theo hiện trạng và thói xấu của xã hội để sống dễ dàng hoặc thay đổi để không theo nó, hay tham gia vào những sự thay đổi của người khác làm xã hội tốt hơn. Tôi muốn 2 cái sau nhưng nhiều lần đã không vượt qua được chính mình. Hàng này tôi bị buộc phải học và thực hành theo gương và đạo đức HCM nhưng toàn là những gì đạo đức giả và ngụy quân tử. Tôi là người luôn kính trọng Chủ Tịch HCM ngay cả khi đã đọc được những mặt trái của Bác. Tôi giữ thái độ đó vì tôi cho rằng Bác là một con người. Nhưng cách mà Đảng đang tuyên truyền về hình ảnh và đạo đức của Bác, bắt mọi
người học tấm gương của Bác là cách mà người ta thường làm để ca ngợi những vị giáo của các tôn giáo.
Thật đáng buồn là những điều như vậy chẳng những không làm tôn lên hình ảnh của Bác mà ngược lại, vì Bác không có những điều cần thiết của một giáo chủ tôn giáo.
Thời buổi bây giờ không còn là những thế kỷ trước, thông tin quá nhiều, nhanh và dễ kiểm chứng thì không thể tạo ra những myth để dẫn dắt lòng tin của mọi người được. Tôn giáo được tạo ra từ các myth vốn là những hiểu biết sai lầm, có thể là dối trá nhưng lại mang ý nghĩa huyền thoại, thần thoại. Người ta đang làm cho hình ảnh Bác ngày càng trở nên méo mó và dối trá.
Gần đây tôi bắt đầu tin dần vào những gì vô hình như là định mệnh, số phận, vận nước,… Không tìm thấy căn cứ khoa học nào, nhưng có lẽ niềm tin là tâm linh, không phải biện chứng khoa học. Do vậy, tôi cũng hy vọng như nhiều người dân đang hy vọng, hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho vận mệnh của đất nước. Tôi muốn nói với những người muốn mưu sự lớn và thực sự vì đất nước nhân dân, hãy nhắm vào những gì thiết thực nhất vì cuộc sống của đa số người dân, đừng có giương ngọn cờ dân chủ nhân quyền làm mục đích chính, những điều đó với người dân còn xa vời lắm. Chính quyền hiện nay dù làm ra vẻ chống đối và mạnh tay với những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền; giả bộ như là sợ những điều đó đe dọa sự cầm quyền của họ nhưng thực ra họ rất mong muốn những người đấu tranh này lao vào những mục tiêu như vậy vì chúng chẳng thể nào thu hút quần chúng trong vài chục năm nữa.
Họ ra vẻ cái này là gót chân Achile của Đảng nên phản ứng rất dữ dội, làm cho những người đấu tranh cứ tưởng thật là mình đã nhắm vào đúng tử huyệt của đối thủ và cứ thế hút đầu vào đá.
Những gì thiết thực đối với quần chúng thì rất nhiều, nhiều vô kể, không thể nhắm đến hết tất cả một lúc được. Những con người sáng suốt sẽ nhận ra một vài điểm thật quan trọng từ những nhu cầu này, nhấn mạnh nó, giương nó lên làm ngọn cờ để tạo ra động lực cho đa số dân chúng thì mới có thể tạo ra lực lượng và thế lực thay đổi cái hiện nay được. Điều đáng mừng là một vài năm gần đây đã thấy xuất hiện vài người có tầm nhìn như vậy, không lao vào những khẩu hiệu dân chủ nhân quyền mà nhìn được những mấu chốt từ những gì rất thiết thực. Tôi có hân hạnh được trao đổi với những người như vậy trên blog và cảm nhận được sức mạnh tư duy của họ cho dù họ không nói gì về điều đó.
Nếu ai muốn copy bài này để phổ biến thì cứ tự nhiên làm đừng hỏi ý kiến tôi. Mà cũng mong các bạn hãy làm điều đó vì có thể một ngày nào đó, tôi không đủ sự can đảm, không vượt qua nổi sự hèn nhát nên sẽ xóa hẳn cái blog này.
Tôi đã từng nghe cánh an ninh nói rằng sẽ dựa vào quan hệ của con rễ Thủ Tướng, là Việt Kiều trong giới tài phiệt, can thiệp với Yahoo để “lôi ra ánh sáng” kẻ nào là Change We Need để trị tội vì đã “vu khống” thanh danh của gia đình “phò mà”. Chuyện ấy cũng vài tháng nay rồi nhưng vẫn thấy Change tiếp tục viết bài, có thể là họ không làm được, và cũng có thể là chưa làm được. Nếu một ngày nào đó mọi người thấy blog này biến mất hẳn thì xin hãy hiểu và thông cảm cho tôi. Tôi rất biết ơn ai đó copy bài này về blog của mình để những gì tôi viết còn lưu lại được.
Đa số Đảng viên và quan chức hiện nay đều hèn nhát như tôi vậy, những người dũng cảm có tư cách thì rất ít, những người này đều không lên cao được. Những kẻ chức vụ càng cao thì không những hèn mà còn nhát, thượng đội hạ đạp. Bản chất bọn chúng là những kẻ sợ sệt đủ thứ, chúng chỉ hung hăng khi nắm quyền lực trong tay và đối xử thô bạo với kẻ dưới hoặc những người không có chút quyền gì.
Tôi đảm bảo rằng, khi có một sự thay đổi bọn người này là những kẻ trốn chạy đầu tiên hoặc quay ngoắc tức thì theo lực lượng mới. Bọn chúng đa số (tôi là thiểu số) đều là những kẻ giàu có, giờ thì lắm tiền nhiều của, sợ chết và sẵn sàng trở thành kẻ phản bội cho người khác sai bảo nếu được đảm bảo rằng không làm gì bọn chúng.
Sự sụp đổ và thay đổi là chắc chắc và không thể tránh khỏi, nhiều người bảo rằng sẽ rất nhanh, nhưng cũng có người bảo rằng sẽ chưa thể trong một hai năm nữa. Tôi thì nghĩ điều đó không tùy thuộc vào Đảng, vào Chính quyền nữa, cái này ngoài khả năng của họ rồi. Nó tuỳ thuộc vào lực lượng thay đổi có thể hành động lúc nào thì lúc đó
sẽ có sự thay đổi. Còn thay đổi như thế nào thì lại tuỳ thuộc vào cái lực lượng này có muốn làm điều tốt cho người dân hay không. Thật là khủng khiếp nếu đất nước này tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.
Hãy tha thứ cho tôi nêu ai đó vô tình bị xúc phạm từ những điều tôi viết, nhưng tôi vẫn tin những người đó rất ít, đếm trên đầu ngón tay. Tạm biệt mọi người, cũng có thể là vĩnh biệt…. Chúc mọi người vui khỏe và an toàn, chúc Việt Nam thay đổi tốt đẹp.
Tôi đã thực sự ân hận vì đã vào Đảng.
Blogger psonkhanh
Nhưng hôm nay tôi muốn viết, tôi buộc phải viết, tôi không giải thích được tâm trạng của mình lúc này, nhưng tôi cảm nhận rõ ràng một sự thôi thúc phải nói ra những gì mình suy nghĩ cho nhiều người đọc. Sự thôi thúc đó đến từ đâu tôi cũng không chắc, nhưng thật tình là tôi vẫn rất run sợ khi post bài này, tôi không phải là người dũng cảm, nhưng tôi thấy mình cần làm điều đó. Và tôi cũng chỉ có nơi này để viết, để nói ra được sự thật, blog là nơi duy nhất ở xã hội này người ta có thể nói thật, còn lại đều là một cuộc sống dối trá với chính mình và mọi người.
Tôi đã gần 50 tuổi, đang làm cho một viện nghiên cứu của Nhà nước, đã được 15 năm tuổi Đảng. Thật lòng là tôi đã nghĩ đến việc ra khỏi Đảng nhưng lại không dám thực hiện, tôi không đủ can đảm và mạnh mẽ để chấp nhận một cách kiếm sống mới hoàn toàn mà tôi không tự tin với nó. Mà bỏ Đảng thì chỉ còn cách bỏ cơ quan. Đã suy nghĩ rất nhiều cách mưu sinh khác nhưng vẫn không thấy cái nào là được. Các con tôi phải còn vài năm nữa mới có thể tự lo được. Lương hai vợ chồng cộng lại mới hơn chục triệu. Riêng tôi mỗi năm được thêm vài công trình nghiên cứu, chia ra cũng được khoảng 30-40 triệu đồng. Cái này chính là bổng lộc mà cấp trên ban phát vì nghiên cứu cho có, xong cho vào tủ, chủ yếu là viết theo ý muốn cấp trên rồi lập hội đồng khen nhau mấy câu, thế là xong. Giàu thì chủ yếu là các sếp lớn vì đề tài nào các sếp cũng có tên để chia tiền dù chẳng làm gì, có khi cũng chẳng nhớ nổi cái tên đề tài. Còn chưa kể những thứ quyền lợi mua sắm khác.
Nói chung là nếu lên được trưởng phòng thì không phải lo tiền bạc, người ta cúng cho mình. Do vậy mà trong nội bộ người ta đấu đá giành giật nhau ghê lắm, vào Đảng cũng chỉ hy vọng lên được chức cao hơn. Nói thật là ngày xưa tôi vào Đảng cũng với động cơ như thế, nhưng không nghĩ rằng như thế chỉ mới là cái bắt buộc sơ đẳng, muốn ngoi lên được đòi hỏi phải nhiều thủ thuật lắm, và phải biết luồn cuối thật giỏi, chà đạp người khác mà không bị cắn rứt. Mà cả 2 cái này tôi đều dỡ, có lúc thấy phải làm nhưng làm cũng không đạt yêu cầu. Chuyên viên như tôi (dù là được xếp vào ngạch cao câp) bây giờ toàn phải nói vẹt, nói dối đến mức mất tư cách mà chẳng biết phải làm sao. Giờ mới thấy mình hèn nhưng đã muộn. Tự an ủi trấn an mình “mưu sinh mà, thôi đành vậy…”
Những người Đảng viên như tôi, bây giờ chiếm đa số tuyệt đối trong Đảng, đến 95%. Hồi tháng 4 năm ngoái, tôi được đọc một bản nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội, đây là tài liệu chính thức nghiên cứu theo yêu cầu của Bộ Chính Trị. Qua đó nói rõ rằng Đảng viên bây giờ đều chán nãn và bi quan, không còn tin vào đường lối chủ nghĩa Cộng Sản và học thuyết Mác Lê-Nin nữa, Đảng viên chỉ hy vọng vào sự đổi mới của Đảng. Nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, đang đi vào ngõ cụt. Hầu hết những Đảng viên như tôi bây giờ đều mong muốn một sự thay đổi, nhưng họ lại sợ thay đổi. Lý do quan trọng nhất là họ sợ bị trả thù như lịch sử đã từng xảy ra, như Đảng đã từng làm, họ nghe thấy sự hung hăng và cực đoan của các Việt Kiều qua các lần biểu tình chống đối người trong nước qua làm họ sợ. Rồi kiểu tuyên truyền của Đảng cũng tăng thêm điều đó, nếu bạn là Đảng viên, đi họp sinh hoạt Đảng thì sẽ nghe thấy những lời lẽ cảnh báo rất nặng nề, nào là các thế lực thù địch, nào là sẽ không đội trời chung với Đảng viên, âm mưu diễn biến hòa mình có thể mất nước v.v..
Nhưng cái làm xói mòn niềm tin ở Đảng nhất là tham nhũng và đặc quyền thì Đảng chẳng có một biện pháp hiệu quả nào ngăn chặn, nếu không muốn nói là Đảng phải duy trì nó để sống và để cai trị quan chức. Cơ quan tôi và nhiều nơi khác suốt ngày bàn tán về việc ông Lê Thanh Hải đã chi ra cả trăm tỷ đồng để hối lộ cho những vị ủy viên Bộ Chính Trị vào TpHCM để xem xét việc cách chức ông ta vì dính đến vụ PCI. Giờ ông ta tuyên bố với đám đàn em kinh tài là vững như bàn thạch vì không những thế, Thủ Tướng còn nhận của ông ta mấy triệu đô la nữa. Giờ là lúc ông ta ra sức vơ vét và tạo điều kiện cho các đàn em kinh tài vơ vét để bù lại những gì đã phải chi ra để chạy cho ông ấy. Những chuyện này giờ đây tồn tại như một sự tất yếu, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Tôi đang đứng trước một trạng thái chông chênh, giữa những lựa chọn không dễ dàng: theo hiện trạng và thói xấu của xã hội để sống dễ dàng hoặc thay đổi để không theo nó, hay tham gia vào những sự thay đổi của người khác làm xã hội tốt hơn. Tôi muốn 2 cái sau nhưng nhiều lần đã không vượt qua được chính mình. Hàng này tôi bị buộc phải học và thực hành theo gương và đạo đức HCM nhưng toàn là những gì đạo đức giả và ngụy quân tử. Tôi là người luôn kính trọng Chủ Tịch HCM ngay cả khi đã đọc được những mặt trái của Bác. Tôi giữ thái độ đó vì tôi cho rằng Bác là một con người. Nhưng cách mà Đảng đang tuyên truyền về hình ảnh và đạo đức của Bác, bắt mọi
người học tấm gương của Bác là cách mà người ta thường làm để ca ngợi những vị giáo của các tôn giáo.
Thật đáng buồn là những điều như vậy chẳng những không làm tôn lên hình ảnh của Bác mà ngược lại, vì Bác không có những điều cần thiết của một giáo chủ tôn giáo.
Thời buổi bây giờ không còn là những thế kỷ trước, thông tin quá nhiều, nhanh và dễ kiểm chứng thì không thể tạo ra những myth để dẫn dắt lòng tin của mọi người được. Tôn giáo được tạo ra từ các myth vốn là những hiểu biết sai lầm, có thể là dối trá nhưng lại mang ý nghĩa huyền thoại, thần thoại. Người ta đang làm cho hình ảnh Bác ngày càng trở nên méo mó và dối trá.
Gần đây tôi bắt đầu tin dần vào những gì vô hình như là định mệnh, số phận, vận nước,… Không tìm thấy căn cứ khoa học nào, nhưng có lẽ niềm tin là tâm linh, không phải biện chứng khoa học. Do vậy, tôi cũng hy vọng như nhiều người dân đang hy vọng, hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho vận mệnh của đất nước. Tôi muốn nói với những người muốn mưu sự lớn và thực sự vì đất nước nhân dân, hãy nhắm vào những gì thiết thực nhất vì cuộc sống của đa số người dân, đừng có giương ngọn cờ dân chủ nhân quyền làm mục đích chính, những điều đó với người dân còn xa vời lắm. Chính quyền hiện nay dù làm ra vẻ chống đối và mạnh tay với những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền; giả bộ như là sợ những điều đó đe dọa sự cầm quyền của họ nhưng thực ra họ rất mong muốn những người đấu tranh này lao vào những mục tiêu như vậy vì chúng chẳng thể nào thu hút quần chúng trong vài chục năm nữa.
Họ ra vẻ cái này là gót chân Achile của Đảng nên phản ứng rất dữ dội, làm cho những người đấu tranh cứ tưởng thật là mình đã nhắm vào đúng tử huyệt của đối thủ và cứ thế hút đầu vào đá.
Những gì thiết thực đối với quần chúng thì rất nhiều, nhiều vô kể, không thể nhắm đến hết tất cả một lúc được. Những con người sáng suốt sẽ nhận ra một vài điểm thật quan trọng từ những nhu cầu này, nhấn mạnh nó, giương nó lên làm ngọn cờ để tạo ra động lực cho đa số dân chúng thì mới có thể tạo ra lực lượng và thế lực thay đổi cái hiện nay được. Điều đáng mừng là một vài năm gần đây đã thấy xuất hiện vài người có tầm nhìn như vậy, không lao vào những khẩu hiệu dân chủ nhân quyền mà nhìn được những mấu chốt từ những gì rất thiết thực. Tôi có hân hạnh được trao đổi với những người như vậy trên blog và cảm nhận được sức mạnh tư duy của họ cho dù họ không nói gì về điều đó.
Nếu ai muốn copy bài này để phổ biến thì cứ tự nhiên làm đừng hỏi ý kiến tôi. Mà cũng mong các bạn hãy làm điều đó vì có thể một ngày nào đó, tôi không đủ sự can đảm, không vượt qua nổi sự hèn nhát nên sẽ xóa hẳn cái blog này.
Tôi đã từng nghe cánh an ninh nói rằng sẽ dựa vào quan hệ của con rễ Thủ Tướng, là Việt Kiều trong giới tài phiệt, can thiệp với Yahoo để “lôi ra ánh sáng” kẻ nào là Change We Need để trị tội vì đã “vu khống” thanh danh của gia đình “phò mà”. Chuyện ấy cũng vài tháng nay rồi nhưng vẫn thấy Change tiếp tục viết bài, có thể là họ không làm được, và cũng có thể là chưa làm được. Nếu một ngày nào đó mọi người thấy blog này biến mất hẳn thì xin hãy hiểu và thông cảm cho tôi. Tôi rất biết ơn ai đó copy bài này về blog của mình để những gì tôi viết còn lưu lại được.
Đa số Đảng viên và quan chức hiện nay đều hèn nhát như tôi vậy, những người dũng cảm có tư cách thì rất ít, những người này đều không lên cao được. Những kẻ chức vụ càng cao thì không những hèn mà còn nhát, thượng đội hạ đạp. Bản chất bọn chúng là những kẻ sợ sệt đủ thứ, chúng chỉ hung hăng khi nắm quyền lực trong tay và đối xử thô bạo với kẻ dưới hoặc những người không có chút quyền gì.
Tôi đảm bảo rằng, khi có một sự thay đổi bọn người này là những kẻ trốn chạy đầu tiên hoặc quay ngoắc tức thì theo lực lượng mới. Bọn chúng đa số (tôi là thiểu số) đều là những kẻ giàu có, giờ thì lắm tiền nhiều của, sợ chết và sẵn sàng trở thành kẻ phản bội cho người khác sai bảo nếu được đảm bảo rằng không làm gì bọn chúng.
Sự sụp đổ và thay đổi là chắc chắc và không thể tránh khỏi, nhiều người bảo rằng sẽ rất nhanh, nhưng cũng có người bảo rằng sẽ chưa thể trong một hai năm nữa. Tôi thì nghĩ điều đó không tùy thuộc vào Đảng, vào Chính quyền nữa, cái này ngoài khả năng của họ rồi. Nó tuỳ thuộc vào lực lượng thay đổi có thể hành động lúc nào thì lúc đó
sẽ có sự thay đổi. Còn thay đổi như thế nào thì lại tuỳ thuộc vào cái lực lượng này có muốn làm điều tốt cho người dân hay không. Thật là khủng khiếp nếu đất nước này tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.
Hãy tha thứ cho tôi nêu ai đó vô tình bị xúc phạm từ những điều tôi viết, nhưng tôi vẫn tin những người đó rất ít, đếm trên đầu ngón tay. Tạm biệt mọi người, cũng có thể là vĩnh biệt…. Chúc mọi người vui khỏe và an toàn, chúc Việt Nam thay đổi tốt đẹp.
Tôi đã thực sự ân hận vì đã vào Đảng.
Blogger psonkhanh
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
– Đêm Havana và ngày Hà Nội
Tác giả: Tưởng Năng Tiến
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ đắng cay như ở đây?
Chín người – mười cuộc đời rạn vỡ.
Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy…
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ yêu thương như ở đây?
Mỗi tấc đất có một người qùi gối
Dâng trái tim và nước mắt
Cho nỗi đau của cả loài người …
Phùng Quán
Tôi chưa bao giờ đến Hà Nội, và cũng chưa bao giờ cảm thấy có chút xíu nào hào hứng khi nghĩ đến chuyện phiêu lưu tới một nơi xa xôi, lôi thôi và tai tiếng (tùm lum) như thế. Đã thế, đường thì xa, vé tầu thì mắc, thủ tục thì lôi thôi rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì… chết mẹ!
Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nghĩ và nghe sao nói vậy thôi hà. Và cứ như vậy mà nói, chắc chắn, sẽ làm mích lòng cả đống người. Tôi biết vậy nhưng không thể nào nói khác vì những điều mà tôi được nghe kể về Hà Nội (thường) không có gì là đàng hoàng hay tử tế – đại loại như:
“Lời ăn tiếng nói lễ độ cũng khó gặp, chứ đừng nói gì đến văn vẻ… Một cô gái có thể nói oang oang giữa chợ:
- Nó rủ tao đi nhưng tao đ… đi.
- Sáng nay mẹ mày qua xin lửa bố tao, bố tao đ… cho…”
“Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá (Phạm Xuân Đài. Hà Nội trong mắt tôi. Thế Kỷ: Hoa Kỳ 1994, 32-33).
Trời đất, đó là chuyện nhỏ và chuyện cũ (rích) rồi – từ hồi thế kỷ trước lận – bới móc ra làm chi nữa, cha nội ? Thì rành rành là chuyện bây giờ, thế kỷ XXI đây nè, Hà Nội vẫn cứ y trang như hồi đó – chớ có khác (mẹ) gì đâu:
“Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi….”
“Những anh chị phu hồ vẫn làm việc bằng những cung cách từ nửa thế kỷ trước. Họ chuyền tay nhau mọi thứ vật liệu. Cát, đá và sạn đựng trong những cái rổ, đà gỗ vác trên vai. Một ngày dầm mưa hay đổ mồ hôi như thế của một người phu hồ trị giá một đô la và một bữa ăn trưa thanh đạm. Hơn một phần tư thế kỷ thực hiện ‘chủ nghĩa xã hội ưu việt’ trong nước, hơn một phần tư thế kỷ kêu gào tự do và nhân quyền của khối người việt lưu vong hải ngoại, chẳng có chút ánh sáng nào rọi vào những góc đời phiền muộn tối tăm này” (Bùi Bích Hà, “Nhìn lại quê hương,” Thế Kỷ 21, Sep. 2003:63-65).
Phạm Xuân Đài và Bùi Bích Hà, nói nào ngay, không phải là người Hà Nội. Họ là dân bá vơ, tha phương cầu thực, cù bơ cù bất, ở tận California hay đâu đâu đó. Cả hai chỉ tạt ngang, ghé chơi Hà Nội năm ba ngày hay vài ba tuần lễ gì thôi. Biết (khỉ mốc) gì đâu mà nói hành nói tỏi (nghe thấy ghét) dữ vậy chớ?
Nguyễn Huy Thiệp thì khác à nha. Ông ta là niềm hãnh diện của Hà Nội (nói riêng) và của cả nước Việt (nói chung). Ổng có dư thẩm quyền và thừa tư cách để nói về thủ đô “mến yêu của ta.”. Trong tác phẩm Tuổi hai mươi yêu dấu, nhà văn đã mượn lời một nhân vật để tuyên bố như sau:
“ Thời của tôi đang sống là thời chó má. Tin tôi đi, một trăm phần trăm là như thế đấy.”
Ý, trời đất, quỉ thần, thiên địa ơi! Giữa Thời đại Hồ Chí Minh (quang vinh), và trong lòng thủ đô Hà Nội – nơi mà cách đây chưa lâu người ta vẫn còn phải nhai rón rén khi ăn – mà thằng chả nói năng ồn ào, lạng quạng và bạt mạng (quá cỡ) như vậy thì kể như là… hết thuốc!
Và Hà Nội không phải là nơi duy nhất hết thuốc (chữa) như thế trên thế giới này. Tôi nghe kể là ở thủ đô của Cuba – một nước anh em xã hội chủ nghĩa – tình trạng cũng bết bát, và bệ rạc không kém:
“Ở La Havanne vài ngày dần dần bạn hiểu cái khang trang, sầm uất ở những nơi có du khách chỉ là bộ mặt bên ngoài che không nổi một xã hội lở lói, mệt mỏi… Cuba có hai thế giới, thế giới tưng bừng náo nhiệt của du khách, của những người có tiền xanh, bên cạnh thế giới mệt hoài của dân địa phương. Sau 50 năm cách mạng, cái mơ của đa số dân Cuba là vượt biển qua Miami hay có bà con thỉnh thoảng gởi về một cái ngân phiếu” (Trần Công Sung,” Cuba Sí, Cuba No,” Thế Kỷ 21, Dec. 2003:78).
Đó cũng là cái ước mơ thê thảm, vượt quá tầm tay, của rất nhiều người dân Việt – bây giờ. Trong quá khứ, Cuba và Việt Nam cũng có rất nhiều điểm (bất hạnh) tương tự như nhau. Hai quốc gia này đều có thời gian dài là thuộc địa, và cả hai đều đã tin tưởng rằng sẽ giành lại được độc lập và tự do bằng con đường… cách mạng! Chung cuộc, cả hai đều sống dở (và chết dở) trong lòng cách mạng.
Ví von mà nói thì Havana và Hà Nội như hai cô bé lọ lem, song sinh, trong một gia đình khánh tận. Cả hai cùng có chung ước mơ là lấy được một tấm chồng đàng hoàng, lương thiện nhưng (chả may) đều phải lòng đúng đồ phải gió, và đã trao duyên lầm… tướng cướp! Và quí vị tướng cướp này đang làm cái công việc mà họ mệnh danh giữ hoà bình cho thế giới – nếu trích theo nguyên văn lời của ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Việt Nam:
“Có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới! Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ…”
Havana, tuy thế, vẫn còn “có phước” hơn Hà Nội. Bi kịch của La Havanne chỉ xẩy ra vào lúc có mặt trời – theo lời của Trần Công Sung:
“Đêm xuống, dân Cuba quên cái cực nhọc ban ngày, đổ ra đường nhộn nhịp… Quên dollars, quên cách mạng, quên những bài diễn văn dài tám giờ, quên embargo, người ta đàn hát nhẩy múa náo nhiệt. Không phải chỉ ở những khu du khách, ngay cả ở những khu bình dân, đen tối, trong những tiệm cà phê rẻ tiền…, đâu đâu cũng có tiếng nhạc, giọng hát…”
Nói cách khác là ban đêm thì dù Việt Nam không gác, Cuba vẫn nghỉ. Cho nó khoẻ! Vẫn theo như nhận xét của Trần Công Sung thì ở Havana “có một cái gọi là cái hồn (“âme”). Cái hồn này đang nâng đỡ cho mọi người sống qua những ngày tháng cơ cực, đắng cay của thời mạt kiếp. Tôi còn tin rằng nó cũng sẽ giúp cho dân tộc Cuba hồi sinh chóng vánh, sau khi họ chôn xong cái Chủ nghĩa Xã hội (đang muốn “chuyển qua từ trần”) ở đất nước này.
Hà Nội (dường như) không có một cái hồn như thế để chuẩn bị hồi sinh, dù CNXH cũng chỉ còn sống thoi thóp ở nơi này. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói đến có một đêm nào đó (dù chỉ một đêm thôi) người dân Hà Nội đã đổ ra đường, đàn hát, nhẩy múa nhộn nhịp, một cách hồn nhiên và vô tư như vậy cả.
Tình trạng của Hà Nội có vẻ tuyệt vọng hơn, theo như nhận xét của nhà văn Bùi Bích Hà – qua bài báo thượng dẫn: “Người ta chỉ cần một hai thập niên để vực dậy một nền kinh tế sa sút nhưng để xây dựng lại niềm tin cho cả dân tộc, cụ thể như dân tộc tôi, nay chỉ còn cầu phép lạ gieo xuống thưở đất hoang hoá này những hạt giống mới để bắt đầu lại.”
Cách đây không lâu – trên diễn đàn talawas – khi được hỏi “phải hình dung thế nào về văn hiến Thăng Long,” giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã (rơm rớm nước mắt, tôi đoán thế) kể lại rằng: “Gần đây có một vị viện sĩ định nghĩa văn hiến là văn học để hiến dâng cho Đảng.”
Thiệt, nghe mà… hết hồn luôn! Havana là một thành phố non trẻ, mới có mặt từ đầu thế kỷ thứ XVI mà khí phách và hồn phách vẫn còn lai láng qua từng bước chân nhún nhẩy của người dân – dù nơi đây công an (chắc) không ít hơn Hà Nội. Không lẽ mảnh đất ngàn năm văn vật, lừng lẫy cỡ như Thăng Long, mới đụng chuyện với cường quyền và bạo lực (có vài chục năm) mà đã “mất hồn mất vía” và “chết tiệt” hết thế sao?
Tôi không tin như vậy đâu. Và tôi cũng không chịu như vậy nữa. Đảng CSVN quả thực đã hớp được hồn của một mớ “viện sĩ” ở Bắc Hà nhưng những chú lính gác cửa của Bắc Kinh (hay còn có tên gọi mới, dễ thương hơn, là “những kẻ canh giữ cho hoà bình thế giới”) chưa bao giờ thực sự nhìn ra được cái hồn của đất Thăng Long, chớ đừng nói chi đến chuyện họ “đụng” được tới nó.
Do tình cờ, tôi có lần (may mắn) cảm thấy được cái hồn của Hà Nội trong một căn hộ nhỏ – ở ngõ Ánh Hồng, cạnh một nhà xí công cộng, luôn luôn ngập ngụa cứt đái – của một người đàn bà tên Sợi.
Chị Sợi có một mẹt hàng ở đầu ngõ, bầy bán các thứ linh tinh: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích qui. Chị không có vốn nên hàng hoá lèo tèo, thảm hại.
Chị Sợi bán hàng không đủ thu nhập để nuôi mình, và nuôi người mẹ bệnh đang nằm chờ chết nên – đôi lúc – buộc phải bán cả thân. Mẹt hàng, cũng như thân xác “xuống cấp” của người đàn bà đã quá thời xuân sắc này, chỉ hấp dẫn được một loại khách hàng duy nhất: đám ăn mày.
“Trong số những người chồng hờ ấy, chị đặc biệt yêu quý một anh ăn mày trẻ, còn ít tuổi hơn chị. Anh ta đến với chị không như người đến với gái làng chơi.
Anh đã kể cho chị nghe chuyện chân anh. Còn chị kể cho anh chuyện mẹ chị. Khi bị ngã gẫy xương hông, nằm liệt, ba năm đầu cụ hát. Ba năm sau cụ chửi. Và một năm nay cụ yên lặng. Mỗi khi có khách lên gác lửng cùng chị, cụ nhắm mắt giả cách ngủ.
Anh thương chị. Chị thương anh. Chính anh đã mượn cưa, bào ở đâu về cưa, bào, đo, cắt mộng mấy tấm gỗ cốp pha, ráp thành cái áo quan cho cụ. Và cũng chính anh, dù què một chân cũng đã bắc ghế trèo lên, xây thêm hai hàng gạch quanh tường bao cho nó cao thêm, chắn bớt cái hơi nhà xí tạt vào.
Người thứ hai chị Sợi yêu quý là một phụ nữ. Một bà già. Bà cụ Mít. Đó là một bà già thấp bé, lại còng, mặt chằng chịt vết nhăn, chẳng biết bao nhiêu tuổi nữa. Chính bà Mít cũng không biết mình bao nhiêu tuổi…
Bà ở vùng Hà Nam, Phong Cốc. Anh con trai duy nhất của bà a dua với bọn xấu trong làng đi ăn trộm lợn. Án xử hai năm. Trong tù bị bọn đầu gấu đánh chết. Người con dâu bỏ đi lấy chồng, để lại cho bà hai đứa cháu gái, đứa chín tuổi, đứa bảy tuổi.
- Bây giờ một đứa lên tám, một đứa lên mười rồi cô ạ. Vài năm nữa, chúng nó lớn khôn là tôi không lo gì nữa. Tôi có chết cũng không ân hận.
Một lần bà Mít đến, nắm lấy bàn tay chị:
- Em ơi. Chị nhờ em một cái này được không.
Bà ngập ngừng. Chị Sợi không hiểu chuyện gì. Nhưng rõ ràng là một việc hệ trọng, rất hệ trọng đối với bà.
- Giúp chị với em nhé. Chị tin ở em.
Thì ra bà muốn gửi chị tiền. Tiền là vàng, là cuộc sống của hai đứa cháu côi cút của bà ở quê. Chúng còn bé lắm. Chúng mồ côi, chúng mong bà. Chúng cần tiền của bà. Bà phải nuôi chúng. Chúng chưa thể tự kiếm sống được, chưa thể tự lo liệu được. Để nhiều tiền trong người, bà sợ. Suốt ngày đi bộ rạc cẳng mà đêm cứ ngủ chập chờn. Nên nghe chừng thấy nằng nặng hầu bao, bà phải mang tiền về quê.
……
Mùa rét bao giờ cũng là thời gian gay go của chị. Hàng họ ế ẩm. Khách đến nhà cũng ít. Bù lại với đám ăn mày, mùa rét là mùa cưới xin, mùa bốc mả. Trong khi hiếu, hỷ, người ta rộng rãi với ăn mày. Bà cụ Mít vẫn thỉnh thoảng tới chỗ chị để cho chị hòn xôi, miếng thịt. Bà kêu rét và gửi chị thêm một ít tiền. Chị bảo bà đã gửi bốn lần tiền rồi sao không mang về cho các cháu kẻo chúng nó mong, đã lâu rồi bà chưa về nhưng bà Mít nói:
- Tôi cố thêm ít ngày nữa. Rồi về ở với chúng nó một thời gian. Ngoài giêng tôi mới ra. Bà cháu xa nhau lâu quá rồi. Lại còn phải cố mua cho mỗi đứa một bộ quần áo mới mặc Tết.
Nhưng cả tháng sau bà Mít vẫn không quay lại. Chị Sợi biết rằng có chuyện chẳng lành nhưng vẫn hy vọng được thấy dáng người nhỏ còng còng của bà trong tấm ni-lông vá víu chống gậy, khoác bị bước tới. Chị chưa chờ ai đến như vậy. Lo lắng. Hy vọng. Tuyệt vọng. Chắc chắn bà Mít đã chết ở đâu rồi!
Chị Sợi kiểm lại số tiền bà Mít gửi một lần nữa. Rồi gấp những tờ giấy xi-măng, những túi ni-lông. Cho tất cả vào một cái túi xách. Bây giờ chị không chờ bà Mít nữa. Chị chờ anh què đến. Chị bảo anh:
- Bà Mít chết thật rồi. Anh phải giúp em. Ở đây trông nom, cơm nước, rửa ráy cho mẹ em vài ngày. Em phải đi đây.
- Em biết quê bà ở đâu mà tìm?
- Cứ về Hà Nam, Phong Cốc hỏi. Thế nào cũng ra. Hỏi dân. Hỏi tòa án.
Phải đem chỗ tiền này về cho hai đứa trẻ mồ côi. Phải thực hiện nguyện ước của bà cụ, kể cả việc mua hai bộ quần áo mới cho chúng nó…”
Chị Sợi, anh què – cũng như bà Mít – cho đến lúc chết vẫn chưa có đêm nào ôm đàn ngồi hát, hay đổ ra đường nhẩy nhót nhộn nhịp, như những người dân ở Havana. Ngày cũng như đêm họ sống ẩn nhẫn, thầm lặng trong những con hẻm hôi thối luôn ngập ngụa phân người giữa lòng Hà Nội.
Chính ở những nơi tăm tối này, họ đã giấu kín được nguyên vẹn cái hồn của cả một dân tộc qua từng nhịp thở và nhịp đập của tim. Và tôi cũng cảm được cái hồn như thế, khi viết những dòng chữ này, dù nơi tôi đang sống cách xa Việt Nam hơn nửa vòng quả đất.
Sau khi đọc xong “Truyện không tên,” tôi hỏi tìm số điện thoại của tác giả và gọi cảm ơn ông đã mở cho tôi thấy cái hồn của dân tộc Việt. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói rằng ông không viết truyện mà chỉ kể lại chuyện đời của chị Sợi, theo như lời chính chị tâm sự – thế thôi.
Chị Sợi, anh Què vẫn còn đang sống tại Hà Nội. Nơi đây, không phải lúc nào ra ngõ cũng gặp anh hùng hay gặp một ông (hoặc một bà) tiến sĩ. Đôi khi, chúng ta cũng gặp được cái hồn của mảnh đất này nhưng không có cơ duyên để nhận ra được, thế thôi.
Tưởng Năng Tiến
Tác giả: Tưởng Năng Tiến
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ đắng cay như ở đây?
Chín người – mười cuộc đời rạn vỡ.
Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy…
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ yêu thương như ở đây?
Mỗi tấc đất có một người qùi gối
Dâng trái tim và nước mắt
Cho nỗi đau của cả loài người …
Phùng Quán
Tôi chưa bao giờ đến Hà Nội, và cũng chưa bao giờ cảm thấy có chút xíu nào hào hứng khi nghĩ đến chuyện phiêu lưu tới một nơi xa xôi, lôi thôi và tai tiếng (tùm lum) như thế. Đã thế, đường thì xa, vé tầu thì mắc, thủ tục thì lôi thôi rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì… chết mẹ!
Tôi sinh trưởng ở miền Nam, nghĩ và nghe sao nói vậy thôi hà. Và cứ như vậy mà nói, chắc chắn, sẽ làm mích lòng cả đống người. Tôi biết vậy nhưng không thể nào nói khác vì những điều mà tôi được nghe kể về Hà Nội (thường) không có gì là đàng hoàng hay tử tế – đại loại như:
“Lời ăn tiếng nói lễ độ cũng khó gặp, chứ đừng nói gì đến văn vẻ… Một cô gái có thể nói oang oang giữa chợ:
- Nó rủ tao đi nhưng tao đ… đi.
- Sáng nay mẹ mày qua xin lửa bố tao, bố tao đ… cho…”
“Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá (Phạm Xuân Đài. Hà Nội trong mắt tôi. Thế Kỷ: Hoa Kỳ 1994, 32-33).
Trời đất, đó là chuyện nhỏ và chuyện cũ (rích) rồi – từ hồi thế kỷ trước lận – bới móc ra làm chi nữa, cha nội ? Thì rành rành là chuyện bây giờ, thế kỷ XXI đây nè, Hà Nội vẫn cứ y trang như hồi đó – chớ có khác (mẹ) gì đâu:
“Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi….”
“Những anh chị phu hồ vẫn làm việc bằng những cung cách từ nửa thế kỷ trước. Họ chuyền tay nhau mọi thứ vật liệu. Cát, đá và sạn đựng trong những cái rổ, đà gỗ vác trên vai. Một ngày dầm mưa hay đổ mồ hôi như thế của một người phu hồ trị giá một đô la và một bữa ăn trưa thanh đạm. Hơn một phần tư thế kỷ thực hiện ‘chủ nghĩa xã hội ưu việt’ trong nước, hơn một phần tư thế kỷ kêu gào tự do và nhân quyền của khối người việt lưu vong hải ngoại, chẳng có chút ánh sáng nào rọi vào những góc đời phiền muộn tối tăm này” (Bùi Bích Hà, “Nhìn lại quê hương,” Thế Kỷ 21, Sep. 2003:63-65).
Phạm Xuân Đài và Bùi Bích Hà, nói nào ngay, không phải là người Hà Nội. Họ là dân bá vơ, tha phương cầu thực, cù bơ cù bất, ở tận California hay đâu đâu đó. Cả hai chỉ tạt ngang, ghé chơi Hà Nội năm ba ngày hay vài ba tuần lễ gì thôi. Biết (khỉ mốc) gì đâu mà nói hành nói tỏi (nghe thấy ghét) dữ vậy chớ?
Nguyễn Huy Thiệp thì khác à nha. Ông ta là niềm hãnh diện của Hà Nội (nói riêng) và của cả nước Việt (nói chung). Ổng có dư thẩm quyền và thừa tư cách để nói về thủ đô “mến yêu của ta.”. Trong tác phẩm Tuổi hai mươi yêu dấu, nhà văn đã mượn lời một nhân vật để tuyên bố như sau:
“ Thời của tôi đang sống là thời chó má. Tin tôi đi, một trăm phần trăm là như thế đấy.”
Ý, trời đất, quỉ thần, thiên địa ơi! Giữa Thời đại Hồ Chí Minh (quang vinh), và trong lòng thủ đô Hà Nội – nơi mà cách đây chưa lâu người ta vẫn còn phải nhai rón rén khi ăn – mà thằng chả nói năng ồn ào, lạng quạng và bạt mạng (quá cỡ) như vậy thì kể như là… hết thuốc!
Và Hà Nội không phải là nơi duy nhất hết thuốc (chữa) như thế trên thế giới này. Tôi nghe kể là ở thủ đô của Cuba – một nước anh em xã hội chủ nghĩa – tình trạng cũng bết bát, và bệ rạc không kém:
“Ở La Havanne vài ngày dần dần bạn hiểu cái khang trang, sầm uất ở những nơi có du khách chỉ là bộ mặt bên ngoài che không nổi một xã hội lở lói, mệt mỏi… Cuba có hai thế giới, thế giới tưng bừng náo nhiệt của du khách, của những người có tiền xanh, bên cạnh thế giới mệt hoài của dân địa phương. Sau 50 năm cách mạng, cái mơ của đa số dân Cuba là vượt biển qua Miami hay có bà con thỉnh thoảng gởi về một cái ngân phiếu” (Trần Công Sung,” Cuba Sí, Cuba No,” Thế Kỷ 21, Dec. 2003:78).
Đó cũng là cái ước mơ thê thảm, vượt quá tầm tay, của rất nhiều người dân Việt – bây giờ. Trong quá khứ, Cuba và Việt Nam cũng có rất nhiều điểm (bất hạnh) tương tự như nhau. Hai quốc gia này đều có thời gian dài là thuộc địa, và cả hai đều đã tin tưởng rằng sẽ giành lại được độc lập và tự do bằng con đường… cách mạng! Chung cuộc, cả hai đều sống dở (và chết dở) trong lòng cách mạng.
Ví von mà nói thì Havana và Hà Nội như hai cô bé lọ lem, song sinh, trong một gia đình khánh tận. Cả hai cùng có chung ước mơ là lấy được một tấm chồng đàng hoàng, lương thiện nhưng (chả may) đều phải lòng đúng đồ phải gió, và đã trao duyên lầm… tướng cướp! Và quí vị tướng cướp này đang làm cái công việc mà họ mệnh danh giữ hoà bình cho thế giới – nếu trích theo nguyên văn lời của ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Việt Nam:
“Có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới! Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ…”
Havana, tuy thế, vẫn còn “có phước” hơn Hà Nội. Bi kịch của La Havanne chỉ xẩy ra vào lúc có mặt trời – theo lời của Trần Công Sung:
“Đêm xuống, dân Cuba quên cái cực nhọc ban ngày, đổ ra đường nhộn nhịp… Quên dollars, quên cách mạng, quên những bài diễn văn dài tám giờ, quên embargo, người ta đàn hát nhẩy múa náo nhiệt. Không phải chỉ ở những khu du khách, ngay cả ở những khu bình dân, đen tối, trong những tiệm cà phê rẻ tiền…, đâu đâu cũng có tiếng nhạc, giọng hát…”
Nói cách khác là ban đêm thì dù Việt Nam không gác, Cuba vẫn nghỉ. Cho nó khoẻ! Vẫn theo như nhận xét của Trần Công Sung thì ở Havana “có một cái gọi là cái hồn (“âme”). Cái hồn này đang nâng đỡ cho mọi người sống qua những ngày tháng cơ cực, đắng cay của thời mạt kiếp. Tôi còn tin rằng nó cũng sẽ giúp cho dân tộc Cuba hồi sinh chóng vánh, sau khi họ chôn xong cái Chủ nghĩa Xã hội (đang muốn “chuyển qua từ trần”) ở đất nước này.
Hà Nội (dường như) không có một cái hồn như thế để chuẩn bị hồi sinh, dù CNXH cũng chỉ còn sống thoi thóp ở nơi này. Tôi chưa bao giờ nghe ai nói đến có một đêm nào đó (dù chỉ một đêm thôi) người dân Hà Nội đã đổ ra đường, đàn hát, nhẩy múa nhộn nhịp, một cách hồn nhiên và vô tư như vậy cả.
Tình trạng của Hà Nội có vẻ tuyệt vọng hơn, theo như nhận xét của nhà văn Bùi Bích Hà – qua bài báo thượng dẫn: “Người ta chỉ cần một hai thập niên để vực dậy một nền kinh tế sa sút nhưng để xây dựng lại niềm tin cho cả dân tộc, cụ thể như dân tộc tôi, nay chỉ còn cầu phép lạ gieo xuống thưở đất hoang hoá này những hạt giống mới để bắt đầu lại.”
Cách đây không lâu – trên diễn đàn talawas – khi được hỏi “phải hình dung thế nào về văn hiến Thăng Long,” giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã (rơm rớm nước mắt, tôi đoán thế) kể lại rằng: “Gần đây có một vị viện sĩ định nghĩa văn hiến là văn học để hiến dâng cho Đảng.”
Thiệt, nghe mà… hết hồn luôn! Havana là một thành phố non trẻ, mới có mặt từ đầu thế kỷ thứ XVI mà khí phách và hồn phách vẫn còn lai láng qua từng bước chân nhún nhẩy của người dân – dù nơi đây công an (chắc) không ít hơn Hà Nội. Không lẽ mảnh đất ngàn năm văn vật, lừng lẫy cỡ như Thăng Long, mới đụng chuyện với cường quyền và bạo lực (có vài chục năm) mà đã “mất hồn mất vía” và “chết tiệt” hết thế sao?
Tôi không tin như vậy đâu. Và tôi cũng không chịu như vậy nữa. Đảng CSVN quả thực đã hớp được hồn của một mớ “viện sĩ” ở Bắc Hà nhưng những chú lính gác cửa của Bắc Kinh (hay còn có tên gọi mới, dễ thương hơn, là “những kẻ canh giữ cho hoà bình thế giới”) chưa bao giờ thực sự nhìn ra được cái hồn của đất Thăng Long, chớ đừng nói chi đến chuyện họ “đụng” được tới nó.
Do tình cờ, tôi có lần (may mắn) cảm thấy được cái hồn của Hà Nội trong một căn hộ nhỏ – ở ngõ Ánh Hồng, cạnh một nhà xí công cộng, luôn luôn ngập ngụa cứt đái – của một người đàn bà tên Sợi.
Chị Sợi có một mẹt hàng ở đầu ngõ, bầy bán các thứ linh tinh: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích qui. Chị không có vốn nên hàng hoá lèo tèo, thảm hại.
Chị Sợi bán hàng không đủ thu nhập để nuôi mình, và nuôi người mẹ bệnh đang nằm chờ chết nên – đôi lúc – buộc phải bán cả thân. Mẹt hàng, cũng như thân xác “xuống cấp” của người đàn bà đã quá thời xuân sắc này, chỉ hấp dẫn được một loại khách hàng duy nhất: đám ăn mày.
“Trong số những người chồng hờ ấy, chị đặc biệt yêu quý một anh ăn mày trẻ, còn ít tuổi hơn chị. Anh ta đến với chị không như người đến với gái làng chơi.
Anh đã kể cho chị nghe chuyện chân anh. Còn chị kể cho anh chuyện mẹ chị. Khi bị ngã gẫy xương hông, nằm liệt, ba năm đầu cụ hát. Ba năm sau cụ chửi. Và một năm nay cụ yên lặng. Mỗi khi có khách lên gác lửng cùng chị, cụ nhắm mắt giả cách ngủ.
Anh thương chị. Chị thương anh. Chính anh đã mượn cưa, bào ở đâu về cưa, bào, đo, cắt mộng mấy tấm gỗ cốp pha, ráp thành cái áo quan cho cụ. Và cũng chính anh, dù què một chân cũng đã bắc ghế trèo lên, xây thêm hai hàng gạch quanh tường bao cho nó cao thêm, chắn bớt cái hơi nhà xí tạt vào.
Người thứ hai chị Sợi yêu quý là một phụ nữ. Một bà già. Bà cụ Mít. Đó là một bà già thấp bé, lại còng, mặt chằng chịt vết nhăn, chẳng biết bao nhiêu tuổi nữa. Chính bà Mít cũng không biết mình bao nhiêu tuổi…
Bà ở vùng Hà Nam, Phong Cốc. Anh con trai duy nhất của bà a dua với bọn xấu trong làng đi ăn trộm lợn. Án xử hai năm. Trong tù bị bọn đầu gấu đánh chết. Người con dâu bỏ đi lấy chồng, để lại cho bà hai đứa cháu gái, đứa chín tuổi, đứa bảy tuổi.
- Bây giờ một đứa lên tám, một đứa lên mười rồi cô ạ. Vài năm nữa, chúng nó lớn khôn là tôi không lo gì nữa. Tôi có chết cũng không ân hận.
Một lần bà Mít đến, nắm lấy bàn tay chị:
- Em ơi. Chị nhờ em một cái này được không.
Bà ngập ngừng. Chị Sợi không hiểu chuyện gì. Nhưng rõ ràng là một việc hệ trọng, rất hệ trọng đối với bà.
- Giúp chị với em nhé. Chị tin ở em.
Thì ra bà muốn gửi chị tiền. Tiền là vàng, là cuộc sống của hai đứa cháu côi cút của bà ở quê. Chúng còn bé lắm. Chúng mồ côi, chúng mong bà. Chúng cần tiền của bà. Bà phải nuôi chúng. Chúng chưa thể tự kiếm sống được, chưa thể tự lo liệu được. Để nhiều tiền trong người, bà sợ. Suốt ngày đi bộ rạc cẳng mà đêm cứ ngủ chập chờn. Nên nghe chừng thấy nằng nặng hầu bao, bà phải mang tiền về quê.
……
Mùa rét bao giờ cũng là thời gian gay go của chị. Hàng họ ế ẩm. Khách đến nhà cũng ít. Bù lại với đám ăn mày, mùa rét là mùa cưới xin, mùa bốc mả. Trong khi hiếu, hỷ, người ta rộng rãi với ăn mày. Bà cụ Mít vẫn thỉnh thoảng tới chỗ chị để cho chị hòn xôi, miếng thịt. Bà kêu rét và gửi chị thêm một ít tiền. Chị bảo bà đã gửi bốn lần tiền rồi sao không mang về cho các cháu kẻo chúng nó mong, đã lâu rồi bà chưa về nhưng bà Mít nói:
- Tôi cố thêm ít ngày nữa. Rồi về ở với chúng nó một thời gian. Ngoài giêng tôi mới ra. Bà cháu xa nhau lâu quá rồi. Lại còn phải cố mua cho mỗi đứa một bộ quần áo mới mặc Tết.
Nhưng cả tháng sau bà Mít vẫn không quay lại. Chị Sợi biết rằng có chuyện chẳng lành nhưng vẫn hy vọng được thấy dáng người nhỏ còng còng của bà trong tấm ni-lông vá víu chống gậy, khoác bị bước tới. Chị chưa chờ ai đến như vậy. Lo lắng. Hy vọng. Tuyệt vọng. Chắc chắn bà Mít đã chết ở đâu rồi!
Chị Sợi kiểm lại số tiền bà Mít gửi một lần nữa. Rồi gấp những tờ giấy xi-măng, những túi ni-lông. Cho tất cả vào một cái túi xách. Bây giờ chị không chờ bà Mít nữa. Chị chờ anh què đến. Chị bảo anh:
- Bà Mít chết thật rồi. Anh phải giúp em. Ở đây trông nom, cơm nước, rửa ráy cho mẹ em vài ngày. Em phải đi đây.
- Em biết quê bà ở đâu mà tìm?
- Cứ về Hà Nam, Phong Cốc hỏi. Thế nào cũng ra. Hỏi dân. Hỏi tòa án.
Phải đem chỗ tiền này về cho hai đứa trẻ mồ côi. Phải thực hiện nguyện ước của bà cụ, kể cả việc mua hai bộ quần áo mới cho chúng nó…”
Chị Sợi, anh què – cũng như bà Mít – cho đến lúc chết vẫn chưa có đêm nào ôm đàn ngồi hát, hay đổ ra đường nhẩy nhót nhộn nhịp, như những người dân ở Havana. Ngày cũng như đêm họ sống ẩn nhẫn, thầm lặng trong những con hẻm hôi thối luôn ngập ngụa phân người giữa lòng Hà Nội.
Chính ở những nơi tăm tối này, họ đã giấu kín được nguyên vẹn cái hồn của cả một dân tộc qua từng nhịp thở và nhịp đập của tim. Và tôi cũng cảm được cái hồn như thế, khi viết những dòng chữ này, dù nơi tôi đang sống cách xa Việt Nam hơn nửa vòng quả đất.
Sau khi đọc xong “Truyện không tên,” tôi hỏi tìm số điện thoại của tác giả và gọi cảm ơn ông đã mở cho tôi thấy cái hồn của dân tộc Việt. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói rằng ông không viết truyện mà chỉ kể lại chuyện đời của chị Sợi, theo như lời chính chị tâm sự – thế thôi.
Chị Sợi, anh Què vẫn còn đang sống tại Hà Nội. Nơi đây, không phải lúc nào ra ngõ cũng gặp anh hùng hay gặp một ông (hoặc một bà) tiến sĩ. Đôi khi, chúng ta cũng gặp được cái hồn của mảnh đất này nhưng không có cơ duyên để nhận ra được, thế thôi.
Tưởng Năng Tiến
Cần sa – Marijuana –
Đề tài đang gây nhiều tranh luận
Cây cần sa - cannabis flowering - trồng trong nhà đang ra hoa. (Hình: Wikipedia)

Biện Lý Liên Bang Lawrence G. Brown chỉ trên bản đồ 51 nhà ở California bị phát hiện trồng cần sa tại khu Central Valley, California. (Hình: AP)
Cần sa là gì ?
Hà Tường Cát Cần sa - Marijuana - là loại ma túy phổ biến nhất tại Hoa Kỳ, ước lượng 30% dân Mỹ, trong số có Tổng Thống Barack Obama thời còn trẻ, đã ít nhất một lần thử tìm cảm giác bằng cách hút vài hơi nhúm lá khô này. Tại Âu Mỹ, sự sử dụng cần sa phát triển rộng rãi trong thời kỳ phong trào hippie.
Hơn 40 năm trước, cần sa là một cái tên xa lạ ở Việt Nam và ít ai biết đến cây cần sa như thế nào. Những quân nhân lực lượng đặc biệt và biệt động quân biên phòng có thể ở trong số người đầu tiên lẻ tẻ hút cần sa. Họ theo cách một vài sắc dân thiểu số trên cao nguyên Trung phần hay nhóm người Khmer ở vùng gần biên giới Cambodia lấy lá cần sa phơi khô hút như thuốc lá thuốc lào. Nhưng quân đội Hoa Kỳ mới làm cho thứ ma túy này dần dần trở thành quen biết.
Ðầu những năm 1970 vào một số quán cà phê buổi tối ở khu Tân Ðịnh hay Ngã Ba Ông Tạ đã gặp một vài nhóm thanh niên ngồi hút cần sa. Cần sa được trộn lẫn trong điếu thuốc lá và không rõ nguyên nhân vì sao, nhóm thanh niên hút cần sa chỉ ưa chuộng dùng thuốc lá “Kool”, cho nên vào thời gian ấy ai mua thuốc nhãn hiệu này thì có thể dự đoán nhiều phần là tay hút cần sa!
Cần sa là loại ma túy sản xuất và chế hóa đơn giản mà lại dễ dàng kiếm ra rất nhiều tiền, cho nên người ta đã từng thấy có những người Việt ở Hoa Kỳ, Canada, Anh... bị bắt vì lén lút trồng cây cần sa trong vườn hay trong nhà kín và thắp đèn để cây có đủ ánh sáng phát triển, chỉ 3 tháng là đã thâu hoạch được.
Ðầu tuần lễ này, “Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đưa ra một chính sách mới, chỉ thị cho các công tố viên liên bang ngưng truy tố những bệnh nhân dùng cần sa hoặc những nhà cung cấp loại dược liệu này nếu họ tuân hành đúng luật lệ tại những tiểu bang đã cho phép sử dụng cần sa vào mục đích y khoa”. Ðó là 14 tiểu bang: Alaska, California, Colorado, Hawaii, Maine, Maryland, Michigan, Montana, Nevada, New Mexico, Oregon, Rhode Island, Vermont và Washington.
Ðường lối mới nhằm tránh những va chạm phức tạp về pháp lý giữa liên bang và tiểu bang như trong thời chính quyền Tổng Thống George W. Bush đã thi hành cứng rắn chủ trương cấm cần sa hoàn toàn như một loại ma túy. Nó không có nghĩa là liên bang chấp nhận cho phép sử dụng cần sa, dù rằng tại một số tiểu bang, như California, đang có những vận động theo chiều hướng ấy.
Ông Gil Kerlikowske, vụ trưởng chống ma túy thuộc Tòa Bạch Ốc nói rằng “Hợp pháp hóa cần sa không có trong ngôn ngữ của Tổng Thống Obama”, Mùa Hè vừa qua ông đã điều hành một chiến dịch rộng lớn diệt trừ 300,000 cây cần sa trồng bất hợp pháp tại California.
Trong kỳ bầu cử năm 2010, vấn đề sử dụng cần sa sẽ được nêu ra ở nhiều tiểu bang. Riêng California có thể có tới 3 dự luật được đưa ra trưng cầu dân ý trong đó có việc không cấm cần sa và chắc chắn sẽ gây nên những tranh luận sôi nổi.
Marijuana hay marihuana, gốc từ tiếng Mexico, là tên quen dùng nhất tại Hoa Kỳ, để gọi chung cho những sản phẩm chế biến từ một loại thảo mộc có dược tính tác động đến thần kinh. Hóa chất chính gây tác dụng là THC, gọi tắt của delta 9-tetrahydrocannabinol.
Có tới hơn 200 tên, chính thức và hàng loạt tiếng lóng, để chỉ cần sa. Trên thế giới tên được dùng chính thức là cannabis do cần sa xuất xứ từ cây cannabis sativa, một giống cây thuộc họ cannabaceae gồm trên 150 chủng loại nhưng không phải loại nào cũng có THC. Cây hob (tên Pháp: houblon, hoa dùng làm rượu bia), cây hemp (gai hay đay lấy sợi làm dây thừng, dệt bao bố) cũng thuộc họ này nhưng không hoặc chỉ có rất ít THC.
Ngoài THC, trong cây cannabis sativa còn có tới 400 hóa chất khác, tuy nhiên chỉ có THC gây tác dụng đến hệ thần kinh. Cây Cannabis có 3 loại: C. sativa, C. indica và C.ruderalis. Hai loại C. sativa và C. indica có hàm lượng THC cao trong khi C. ruderalis chỉ rất ít gần như không có. Nhưng cây C. Sativa có thể cao tới 3 mét, không thích hợp cho việc trồng lén lút, do đó trong thương mại sau này một số người thích trồng giống lai tạp giữa 3 loại vì cây không lên quá cao và mau thu hoạch, chỉ trong vòng 60 ngày. Với những kỹ thuật trồng trọt và chế hóa, ngày nay cannabis có hàm lượng THC cao gấp 10 lần cần sa thời thập niên 1970.
Những tên khác của marijuana là cannabis, hashis, ganja, và các tiếng lóng thông dụng nhất là pot, weed, herb, grass, hemp, jute, joint... ngoài ra còn có blunt, bong, boom, widow, gangster, afghan # 1, Jamaican, Mexican, dope, bubble gum, AK-47...
Theo cách hiểu bình thường, marijuana để chỉ loại sản phẩm sơ chế gồm lá, hoa hay thân cây cần sa phơi khô, trung bình chứa từ 3% đến 22% THC, với cách dùng giản dị nhất là hút nhưng cũng có thể pha nước như trà hoặc nấu với đồ ăn. Cần sa khô có màu từ xanh đến nâu hay vàng nâu. Joint là tiếng lóng chỉ cần sa hút, quấn thành điếu riêng hay lẫn với thuốc lá, trung bình chứa từ 0.25 đến 0.5 gram cannabis.
Hashish là thứ cần sa đóng thành bánh gồm nhựa cô đặc lấy từ cây và nhất là hoa hay những sợi lông của lá (trichomes) có hàm lượng THC cao hơn từ 3 đến 5 lần loại khô, tùy theo giống cây và cách chế biến. Hashish có thể để hút, pha nước uống, làm thành kẹo, bánh, hoặc cũng chế thành dầu - hash oil - và có tác dụng mạnh hơn nữa. Các nước Bắc Phi, Trung Ðông và Nam Á, nhất là Iran, Afghanistan, các tiểu bang Ấn Ðộ gần chân núi Himalaya là những nơi sản xuất nhiều hashish.
Cannabis là một giống cây nhiệt đới gốc ở Trung và Nam Á, đã được biết từ 3,000 năm trước công nguyên, phần nhiều sử dụng cho các nghi thức tôn giáo nhưng cũng đã được dùng với mục tiêu kích thích hệ thần kinh. Người Trung Hoa biết dược tính của cannabis nhưng chỉ dùng rất ít trong y học cổ truyền.
Từ đầu thế kỷ 20 nhiều quốc gia đã có luật cấm trồng trọt, tàng trữ và bán cannabis sử dụng thuần túy với mục đích giải khuây. Nguyên thủy chỉ là một loại ma túy nhẹ, nhưng chính sự cấm đoán làm cho cần sa trở thành loại hàng có giá, được quảng bá lén lút và những tổ chức buôn lậu lợi dụng kiếm tiền, đồng thời tìm ra những kỹ thuật chế biến nâng cao cường độ kích thích.
Giá cần sa thay đổi tùy theo từng vùng. Ở California, New York, Florida trung bình $3,000/một pound và theo ước lượng thị trường buôn lậu cần sa tại Hoa Kỳ trị giá khoảng $36 tỷ dollars. Trị giá sản xuất chỉ chiếm một phần nhỏ so với việc chuyển vận, cung cấp và bán lẻ trên thị trường đen.
Mặc dầu có những quan điểm và chủ trương khác biệt về công dụng của cần sa - ma túy hay dược liệu - cho đến bây giờ cần sa vẫn bị coi là bất hợp pháp tại Hoa Kỳ. Ngay sau khi Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đưa ra thông tư mới về cần sa, hôm Thứ Năm vừa qua trong một cuộc họp báo tại Sacramento, ông Lawrence G. Brown, biện lý liên bang phụ trách vùng Ðông Califiornia đã trình bày trên một bản đồ ghi rõ 51 nhà ở Central Valley đã được cải biến thành trại trồng cần sa với kỹ thuật cao và truy tố 18 người liên hệ có tổng số doanh thu được ước lượng $100 triệu một năm. (H.C.)
Đề tài đang gây nhiều tranh luận
Cây cần sa - cannabis flowering - trồng trong nhà đang ra hoa. (Hình: Wikipedia)

Biện Lý Liên Bang Lawrence G. Brown chỉ trên bản đồ 51 nhà ở California bị phát hiện trồng cần sa tại khu Central Valley, California. (Hình: AP)
Cần sa là gì ?
Hà Tường Cát Cần sa - Marijuana - là loại ma túy phổ biến nhất tại Hoa Kỳ, ước lượng 30% dân Mỹ, trong số có Tổng Thống Barack Obama thời còn trẻ, đã ít nhất một lần thử tìm cảm giác bằng cách hút vài hơi nhúm lá khô này. Tại Âu Mỹ, sự sử dụng cần sa phát triển rộng rãi trong thời kỳ phong trào hippie.
Hơn 40 năm trước, cần sa là một cái tên xa lạ ở Việt Nam và ít ai biết đến cây cần sa như thế nào. Những quân nhân lực lượng đặc biệt và biệt động quân biên phòng có thể ở trong số người đầu tiên lẻ tẻ hút cần sa. Họ theo cách một vài sắc dân thiểu số trên cao nguyên Trung phần hay nhóm người Khmer ở vùng gần biên giới Cambodia lấy lá cần sa phơi khô hút như thuốc lá thuốc lào. Nhưng quân đội Hoa Kỳ mới làm cho thứ ma túy này dần dần trở thành quen biết.
Ðầu những năm 1970 vào một số quán cà phê buổi tối ở khu Tân Ðịnh hay Ngã Ba Ông Tạ đã gặp một vài nhóm thanh niên ngồi hút cần sa. Cần sa được trộn lẫn trong điếu thuốc lá và không rõ nguyên nhân vì sao, nhóm thanh niên hút cần sa chỉ ưa chuộng dùng thuốc lá “Kool”, cho nên vào thời gian ấy ai mua thuốc nhãn hiệu này thì có thể dự đoán nhiều phần là tay hút cần sa!
Cần sa là loại ma túy sản xuất và chế hóa đơn giản mà lại dễ dàng kiếm ra rất nhiều tiền, cho nên người ta đã từng thấy có những người Việt ở Hoa Kỳ, Canada, Anh... bị bắt vì lén lút trồng cây cần sa trong vườn hay trong nhà kín và thắp đèn để cây có đủ ánh sáng phát triển, chỉ 3 tháng là đã thâu hoạch được.
Ðầu tuần lễ này, “Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đưa ra một chính sách mới, chỉ thị cho các công tố viên liên bang ngưng truy tố những bệnh nhân dùng cần sa hoặc những nhà cung cấp loại dược liệu này nếu họ tuân hành đúng luật lệ tại những tiểu bang đã cho phép sử dụng cần sa vào mục đích y khoa”. Ðó là 14 tiểu bang: Alaska, California, Colorado, Hawaii, Maine, Maryland, Michigan, Montana, Nevada, New Mexico, Oregon, Rhode Island, Vermont và Washington.
Ðường lối mới nhằm tránh những va chạm phức tạp về pháp lý giữa liên bang và tiểu bang như trong thời chính quyền Tổng Thống George W. Bush đã thi hành cứng rắn chủ trương cấm cần sa hoàn toàn như một loại ma túy. Nó không có nghĩa là liên bang chấp nhận cho phép sử dụng cần sa, dù rằng tại một số tiểu bang, như California, đang có những vận động theo chiều hướng ấy.
Ông Gil Kerlikowske, vụ trưởng chống ma túy thuộc Tòa Bạch Ốc nói rằng “Hợp pháp hóa cần sa không có trong ngôn ngữ của Tổng Thống Obama”, Mùa Hè vừa qua ông đã điều hành một chiến dịch rộng lớn diệt trừ 300,000 cây cần sa trồng bất hợp pháp tại California.
Trong kỳ bầu cử năm 2010, vấn đề sử dụng cần sa sẽ được nêu ra ở nhiều tiểu bang. Riêng California có thể có tới 3 dự luật được đưa ra trưng cầu dân ý trong đó có việc không cấm cần sa và chắc chắn sẽ gây nên những tranh luận sôi nổi.
Marijuana hay marihuana, gốc từ tiếng Mexico, là tên quen dùng nhất tại Hoa Kỳ, để gọi chung cho những sản phẩm chế biến từ một loại thảo mộc có dược tính tác động đến thần kinh. Hóa chất chính gây tác dụng là THC, gọi tắt của delta 9-tetrahydrocannabinol.
Có tới hơn 200 tên, chính thức và hàng loạt tiếng lóng, để chỉ cần sa. Trên thế giới tên được dùng chính thức là cannabis do cần sa xuất xứ từ cây cannabis sativa, một giống cây thuộc họ cannabaceae gồm trên 150 chủng loại nhưng không phải loại nào cũng có THC. Cây hob (tên Pháp: houblon, hoa dùng làm rượu bia), cây hemp (gai hay đay lấy sợi làm dây thừng, dệt bao bố) cũng thuộc họ này nhưng không hoặc chỉ có rất ít THC.
Ngoài THC, trong cây cannabis sativa còn có tới 400 hóa chất khác, tuy nhiên chỉ có THC gây tác dụng đến hệ thần kinh. Cây Cannabis có 3 loại: C. sativa, C. indica và C.ruderalis. Hai loại C. sativa và C. indica có hàm lượng THC cao trong khi C. ruderalis chỉ rất ít gần như không có. Nhưng cây C. Sativa có thể cao tới 3 mét, không thích hợp cho việc trồng lén lút, do đó trong thương mại sau này một số người thích trồng giống lai tạp giữa 3 loại vì cây không lên quá cao và mau thu hoạch, chỉ trong vòng 60 ngày. Với những kỹ thuật trồng trọt và chế hóa, ngày nay cannabis có hàm lượng THC cao gấp 10 lần cần sa thời thập niên 1970.
Những tên khác của marijuana là cannabis, hashis, ganja, và các tiếng lóng thông dụng nhất là pot, weed, herb, grass, hemp, jute, joint... ngoài ra còn có blunt, bong, boom, widow, gangster, afghan # 1, Jamaican, Mexican, dope, bubble gum, AK-47...
Theo cách hiểu bình thường, marijuana để chỉ loại sản phẩm sơ chế gồm lá, hoa hay thân cây cần sa phơi khô, trung bình chứa từ 3% đến 22% THC, với cách dùng giản dị nhất là hút nhưng cũng có thể pha nước như trà hoặc nấu với đồ ăn. Cần sa khô có màu từ xanh đến nâu hay vàng nâu. Joint là tiếng lóng chỉ cần sa hút, quấn thành điếu riêng hay lẫn với thuốc lá, trung bình chứa từ 0.25 đến 0.5 gram cannabis.
Hashish là thứ cần sa đóng thành bánh gồm nhựa cô đặc lấy từ cây và nhất là hoa hay những sợi lông của lá (trichomes) có hàm lượng THC cao hơn từ 3 đến 5 lần loại khô, tùy theo giống cây và cách chế biến. Hashish có thể để hút, pha nước uống, làm thành kẹo, bánh, hoặc cũng chế thành dầu - hash oil - và có tác dụng mạnh hơn nữa. Các nước Bắc Phi, Trung Ðông và Nam Á, nhất là Iran, Afghanistan, các tiểu bang Ấn Ðộ gần chân núi Himalaya là những nơi sản xuất nhiều hashish.
Cannabis là một giống cây nhiệt đới gốc ở Trung và Nam Á, đã được biết từ 3,000 năm trước công nguyên, phần nhiều sử dụng cho các nghi thức tôn giáo nhưng cũng đã được dùng với mục tiêu kích thích hệ thần kinh. Người Trung Hoa biết dược tính của cannabis nhưng chỉ dùng rất ít trong y học cổ truyền.
Từ đầu thế kỷ 20 nhiều quốc gia đã có luật cấm trồng trọt, tàng trữ và bán cannabis sử dụng thuần túy với mục đích giải khuây. Nguyên thủy chỉ là một loại ma túy nhẹ, nhưng chính sự cấm đoán làm cho cần sa trở thành loại hàng có giá, được quảng bá lén lút và những tổ chức buôn lậu lợi dụng kiếm tiền, đồng thời tìm ra những kỹ thuật chế biến nâng cao cường độ kích thích.
Giá cần sa thay đổi tùy theo từng vùng. Ở California, New York, Florida trung bình $3,000/một pound và theo ước lượng thị trường buôn lậu cần sa tại Hoa Kỳ trị giá khoảng $36 tỷ dollars. Trị giá sản xuất chỉ chiếm một phần nhỏ so với việc chuyển vận, cung cấp và bán lẻ trên thị trường đen.
Mặc dầu có những quan điểm và chủ trương khác biệt về công dụng của cần sa - ma túy hay dược liệu - cho đến bây giờ cần sa vẫn bị coi là bất hợp pháp tại Hoa Kỳ. Ngay sau khi Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đưa ra thông tư mới về cần sa, hôm Thứ Năm vừa qua trong một cuộc họp báo tại Sacramento, ông Lawrence G. Brown, biện lý liên bang phụ trách vùng Ðông Califiornia đã trình bày trên một bản đồ ghi rõ 51 nhà ở Central Valley đã được cải biến thành trại trồng cần sa với kỹ thuật cao và truy tố 18 người liên hệ có tổng số doanh thu được ước lượng $100 triệu một năm. (H.C.)
Nổi khổ đàn ông ??!!
- Nếu bạn để cô ấy ở nhà và cố gắng bảo vệ cô ấy khỏi cuộc sống đầy khắc nghiệt, bạn thật gia trưởng.
- Nếu bạn ở nhà làm nội trợ, bạn thật đàn bà.
- Nếu bạn cố gắng làm việc, bạn sẽ chẳng có thời gian dành cho cô ấy.
- Nếu bạn không làm việc, bạn là một kẻ vô dụng.
- Nếu bạn khen cô ấy đẹp, đó là sự quấy rối.
- Nếu bạn không nói gì, bạn thật vô cảm.
- Nếu bạn khóc, bạn quá yếu đuối.
- Nếu bạn không khóc, bạn là một kẻ máu lạnh.
- Nếu bạn quyết định cái gì đó mà không bàn với cô ấy, bạn là kẻ độc đoán.
- Nếu cô ấy quyết định cái gì đó mà không bàn với bạn, cô ấy là người phụ nữ hiện đại.
- Nếu bạn muốn cô ấy làm việc mà cô ấy không thích, đó là sự vô lương tâm.
- Nếu cô ấy muốn bạn làm việc mà bạn không thích, đó là vì cô ấy muốn tốt cho bạn thôi.
- Nếu bạn nhìn các cô gái đẹp trên đường, bạn quá phóng đãng.
- Nếu bạn không chú ý đến các cô gái đẹp, bạn thật không bình thường.
- Nếu bạn mua hoa cho cô ấy, bạn đang có âm mưu gì đây.
- Nếu bạn không mua hoa, bạn thật thô thiển.
- Nếu cô ấy mệt, cô ấy quá vất vả.
- Nếu bạn mệt, bạn không còn yêu cô ấy nữa.
- Nếu bạn để cô ấy ở nhà và cố gắng bảo vệ cô ấy khỏi cuộc sống đầy khắc nghiệt, bạn thật gia trưởng.
- Nếu bạn ở nhà làm nội trợ, bạn thật đàn bà.
- Nếu bạn cố gắng làm việc, bạn sẽ chẳng có thời gian dành cho cô ấy.
- Nếu bạn không làm việc, bạn là một kẻ vô dụng.
- Nếu bạn khen cô ấy đẹp, đó là sự quấy rối.
- Nếu bạn không nói gì, bạn thật vô cảm.
- Nếu bạn khóc, bạn quá yếu đuối.
- Nếu bạn không khóc, bạn là một kẻ máu lạnh.
- Nếu bạn quyết định cái gì đó mà không bàn với cô ấy, bạn là kẻ độc đoán.
- Nếu cô ấy quyết định cái gì đó mà không bàn với bạn, cô ấy là người phụ nữ hiện đại.
- Nếu bạn muốn cô ấy làm việc mà cô ấy không thích, đó là sự vô lương tâm.
- Nếu cô ấy muốn bạn làm việc mà bạn không thích, đó là vì cô ấy muốn tốt cho bạn thôi.
- Nếu bạn nhìn các cô gái đẹp trên đường, bạn quá phóng đãng.
- Nếu bạn không chú ý đến các cô gái đẹp, bạn thật không bình thường.
- Nếu bạn mua hoa cho cô ấy, bạn đang có âm mưu gì đây.
- Nếu bạn không mua hoa, bạn thật thô thiển.
- Nếu cô ấy mệt, cô ấy quá vất vả.
- Nếu bạn mệt, bạn không còn yêu cô ấy nữa.

