Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Biết hổ thẹn là đầu mối đạo Nghĩa

Ngô Nhân Dụng
Tại sao chúng ta đều xúc động trước những chuyện người đi tìm mộ chồng, mộ cha ở các trại tù “cải tạo” hay đi tìm những ngôi mộ rải rác ở các hòn đảo đã bao dung người tị nạn? Chắc bởi vì chúng ta đều tìm thấy trong những mẩu chuyện đó cách ăn ở có tình có nghĩa của con người đối với nhau. Bởi vì chúng ta đều mang sẵn trong lòng ước muốn sống có đạo nghĩa. Cho nên khi thấy có người sống đúng đạo nghĩa thì chính mình cảm thấy vững tin hơn.

Khi cô Carina Oanh Hoàng tìm thấy mộ của thân nhân mình rồi, cô đi tìm thêm những ngôi mồ khác để săn sóc, cô còn trở lại chụp hình và ghi chép tên tuổi trên các ngôi mồ bị lãng quên trong rừng rú ở các đảo Le Tung và Kuku. Cô ghi lại những thông tin đó để gửi đi bốn phương trời, như những thủy thủ viết những lá thư bỏ vào chai lọ đóng kín rồi thả theo dòng nước biển. Cô không ngờ có nhà báo Người Việt đã nhặt được một lá thư trong chai thủy tinh cô thả theo thủy triều. Và không ngờ có người đọc tờ báo này đã tìm thấy tên người em vắn số của mình trên hình mộ bia đá, 30 năm sau khi em qua đời trên đảo. Người đọc những chuyện trên không biết nên nói những lời chia vui, hay chia buồn? Dù nói gì chăng nữa, chúng ta chia sẻ với tất mọi người một niềm vui chung khi thấy tình nhân loại có thật, có những con người sống thật theo các quy tắc đạo nghĩa.

Và nhà thơ Lê Giang Trần đã có dịp cảm ơn công khai Alizar Acin, một người cảnh sát Indonesia tốt bụng! Vì họ chỉ quen nhau một thời gian ngắn trên đảo Pinang, mặc dù anh ta tự coi như một người con trong gia đình. Và chỉ sau khi gia đình đã định cư ở Mỹ thân phụ Lê Giang Trần mới viết thư nhờ anh cảnh sát làm giúp cái bia đá thay cho tấm gỗ trên mồ cô con gái. Ba mươi năm nay, gia đình vẫn không biết anh Acin đã giúp làm bia mộ hay chưa, đến địa chỉ của anh cũng đã bị mất! Muốn giúp làm bia mộ, anh Acin phải đi từ đảo Pinang nơi anh đóng tới hòn đảo Le Tung, mất 24 giờ đi thuyền. Tại sao anh lại tốt bụng bỏ bao công sức giúp một người cha làm mộ bia cho con như vậy? Anh có cùng tôn giáo với gia đình này để cảm thấy có nghĩa vụ đó hay không? Không, anh Acin đã hết lòng giúp, vì dù theo tôn giáo nào anh cũng được dạy rằng con người phải đối xử với nhau hết lòng như vậy. Khi được ai tin cậy, nhờ một việc gì, thì chúng ta phải làm hết sức mình giữ trọn lời hứa.

Cô Oanh Hoàng đã cho chúng ta thấy mối từ tâm của cô trước những nấm mồ trên đảo hoang thiếu người săn sóc. Anh Alizir Acin đã cho chúng ta thấy tấm lòng trọng nghĩa khinh tài của một cảnh sát viên người Indonesia. Trong một ngày, trên một tờ báo, mà chúng ta được đọc truyện của hai con người sống có tình, có nghĩa; chúng ta phải cảm ơn Trời Phật!

Một xã hội có đạo nghĩa khi nào người ta sẵn sàng giúp đỡ người khác, dù biết không bao giờ gặp lại. Nghĩa là làm ơn nhưng không đợi sẽ có ngày được đền ơn. Trong một xã hội có đạo nghĩa, mọi người được sống an vui hơn, mà trên mặt kinh tế thì đời sống cũng đỡ tốn kém hơn. Người ta không cần gắn hệ thống báo động khắp nơi, có khi không cần khóa nhà, khóa xe mà vẫn không lo mất. Tháng trước, chúng tôi đã kể chuyện cháu bé Emily mất cái mũ trong sở thú ở Madison, Wisconsin. Ngày hôm sau khi bố cháu gọi đến hỏi, nhân viên sở thú đã hứa sẽ gửi bưu điện về tận nhà cho cháu, ở thành phố New York, bố mẹ cháu không phải trả đồng nào cả. Câu chuyện đó kết thúc với câu hỏi: Tại sao người ta có thể đối xử tử tế với nhau như vậy nhỉ? Bao giờ thì trẻ em ở nước Việt Nam được sống với toàn những người tử tế ở chung quanh như vậy?

Giáo Sư Nguyễn Tư Mô đã kể cho chúng tôi một câu chuyện chứng tỏ người Việt Nam cũng đã sống tử tế với nhau như vậy.

Năm 1955, cụ Nguyễn Tư Mô đã cùng Bác Sĩ Bùi Kiến Tín dẫn một đoàn vài chục sinh viên y khoa, nha khoa và dược khoa đi làm công tác chẩn bệnh và phát thuốc giúp đồng bào tại vùng Châu Ðốc. Buổi trưa khi mới tới, cả đoàn công tác vào chợ Hồng Ngự ăn uống và thăm sinh hoạt của người địa phương. Sau đó, phái đoàn đến một trụ sở bắt đầu công tác y tế. Khoảng một tiếng đồng hồ sau khi họ rời chợ, có một người đàn ông khoảng 30 tuổi tìm tới trụ sở tạm của phái đoàn, để đem trả một cặp kính mát. Anh ta nhặt được cặp kính loại tốt này ở ngoài chợ, và anh nghĩ chỉ có những người Sài Gòn mới dùng thứ “đồ xa xỉ” đó chứ không phải người địa phương mất, cho nên anh đem tới trả.

Cụ Nguyễn Tư Mô, cựu khoa trưởng Ðại Học Nha Khoa Sài Gòn, không bao giờ quên kỷ niệm đó. Khi chúng ta trông thấy tận mắt cảnh những con người sống tử tế với nhau, chúng ta cũng không bao giờ quên được. Chúng ta thấy tin tưởng có thể làm sống lại nền nếp đạo nghĩa của người Việt Nam. Vì chúng ta biết chắc trong truyền thống của dân tộc đã có sẵn những hạt nhân đạo nghĩa, chỉ cần mưa thuận gió hòa thì những hạt giống tốt đó sẽ nẩy mầm rồi lớn lên mãi.

Ðó là điều Mạnh Tử đã dạy từ hơn hai ngàn năm trước. Con người ta ai cũng có lòng thương xót, cho nên ai cũng có đầu mối của đạo Nhân. Ai cũng có tấm lòng biết xấu hổ và ghét cái xấu là đầu mối của đạo Nghĩa.” (Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, VI, 7: Trắc ẩn chi tâm, Nhân chi đoan dã. Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan dã).

Tấm lòng trắc ẩn của người Việt Nam không bao giờ mất, dù trải qua bao nỗi khổ cũng không bị hao mòn. Một trận bão đánh vào miền Trung, bao nhiêu người ở trong và ngoài nước chuẩn bị cứu giúp các nạn nhân.

Nhưng tấm lòng tu ố, biết xấu hổ, thì hiện nay có phần giảm sút. Nhiều người không còn biết hổ thẹn nữa, cho nên họ có thể thản nhiên làm điều xấu mà không phải che mặt, không cần trốn lánh. Quý vị có thể hỏi thăm ông Huỳnh Ngọc Sỹ hiện giờ sống ra sao? Ông có bao giờ che mặt khi bị nhà báo chụp hình hay không? Ông có cảm thấy hổ thẹn khi cả nước Nhật biết ông được hối lộ hàng triệu đô la Mỹ hay không? Ông có lo con cháu ông sau này sẽ xấu hổ khi bị người ta hỏi đến tông tích hay không?

Chúng ta có thể đoán là ông Huỳnh Ngọc Sỹ không có những phản ứng kể trên. Không phải vì ông phi đạo đức, mà vì ông không chia sẻ cùng một nền đạo nghĩa với đa số người Việt Nam hoặc các dân tộc Á Ðông. Ông Huỳnh Ngọc Sỹ được huấn luyện một nền đạo đức khác. Trong cuốn “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” ông Hồ Chí Minh đã giảng giải đạo đức cho những người theo ông làm cách mạng như sau:

“Nói tóm tắt thì đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho đảng, cho cách mạng. Ðó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho đảng, giữ vững kỷ luật của đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của đảng.”

Hai điểm đầu tiên trong định nghĩa đạo đức của Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến lòng trung thành với đảng. Nếu ông Huỳnh Ngọc Sỹ đã “thi hành tốt” chính sách của đảng khi đưa tay ra nhận tiền của người Nhật, thì trong lòng ông không cảm thấy hổ thẹn nữa. Vì ông làm đúng theo lời dạy của Hồ Chí Minh. Một đảng viên có thể ăn cắp, giết người, buôn phụ nữ bán cho người nước ngoài, lấy của công làm của riêng, nhưng nếu lúc nào cũng sẵn sàng theo lệnh đảng thì không cần phải hổ thẹn.

Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi một “sử gia” như Trần Huy Liệu đã bịa chuyện anh hùng Lê Văn Tám để dựng lên một thần tượng làm mồi cho bao nhiêu thanh niên Việt Nam khác theo gót, nghĩ mình hy sinh chết cho tổ quốc nhưng cuối cùng chỉ có đảng Cộng Sản được hưởng. Trần Huy Liệu vốn là đảng viên Quốc Dân Ðảng Việt Nam, sau đi theo cộng sản. Vào cuối đời, có lẽ ông đối diện với lương tâm cảm thấy bên trong những quyền lợi của đảng, còn có những giá trị cao quý khác. Do đó, ông đã ủy thác cho sử gia Phan Huy Lê sau này hãy xóa bỏ cái thần tượng giả trá đó đi. Giống như Chế Lan Viên, vào cuối đời cũng để lương tâm sống lại, tự hỏi mình đã viết bao nhiêu câu thơ xúi giục bao thanh niên Việt Nam đi chết ở dãy Trường Sơn! Bây giờ, có thi sĩ đã viết bài “Tạ lỗi với Trường Sơn” thì bao nhiêu mạng người đã chết. Người đã chết không thể sống lại. Như kịch tác gia Lưu Quang Vũ viết: Có những cái sai không thể sửa được.

Ðối với các ông Trần Huy Liệu và Huỳnh Ngọc Sỹ, họ đã nói dối để phục vụ đảng, đã đòi ăn hối lộ theo chính sách của đảng, hệ thống đạo đức của họ cho phép các hành động đó, vì Hồ Chí Minh đã biện minh rất rõ ràng.

Nhưng đối với những người Việt Nam khác thì đây là một tai họa. Vì khi những người nắm quyền cai trị một nước, mỗi lời nói mỗi hành động đều ảnh hưởng tới hàng triệu người khác, mà nói dối trắng trợn quá thì mọi người sẽ lấy đó làm gương. Nhất là các thiếu niên còn bé dại. Khi một đảng lãnh đạo không giữ được tấm lòng “biết hổ thẹn” thì mọi người dân khác cũng dần dần mất đi cái tính biết hổ thẹn. Nghĩa là bỏ mất một nguồn gốc của đạo nghĩa.

Kể từ khi ông Phan Huy Lê công bố lời dặn của Trần Huy Liệu hãy xóa bỏ thần tượng Lê Văn Tám, từ năm 2005 đến nay, cả guồng máy cai trị và tư tưởng, văn hóa của đảng Cộng Sản vẫn không nhấc một ngón tay lên để cải chính với lịch sử. Tất cả những em bé đang được học chuyện Lê Văn Tám trong trường đều biết đó là chuyện dối trá. Những người đi qua công viên Lê Văn Tám đều biết đó là một nhân vật giả. Nếu có cặp tình nhân vào công viên Lê Văn Tám mà thề thốt với nhau thì họ có tin nhau hay không?

Có phải người Việt Nam đã mất cảm ứng, không còn thấy chướng tai khi nghe những lời giả dối nữa hay không?

Nhưng chúng ta biết gần một thế kỷ cộng sản hóa cũng không làm mất được tính thiện của con người Việt Nam. Người Việt Nam vẫn còn biết xấu hổ trước những lời dối trá. Bữa trước một người Việt ở trong nước điện thoại cho biết anh nghe những lời giải thích của “phát ngôn viên chính phủ” về vụ tăng ni ở Bát Nhã thì cảm thấy nghẹn ở cổ họng, tức thở. Vì anh không thể tưởng tượng tại sao người ta có thể nói dối một cách trắng trợn và thản nhiên, chối bỏ những sự thật ai cũng biết như vậy?

Ðiều đó chứng tỏ anh bạn, ngoài 50 tuổi, vẫn còn giữ được “Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan giã,” biết xấu hổ là nguồn gốc của nghĩa khí. Mai mốt công an cộng sản sẽ bịa ra những câu chuyện, hình ảnh để vu oan, kể tội lỗi của các thiền sinh trẻ này. Hy vọng anh bạn tôi sẽ được chuẩn bị trước, không nghẹn hơi tức thở nữa! Hãy coi đó là một cuốn phim Lê Văn Tám mới!

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

"Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn" .
Lời: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu


Tác giả : Shinra
Đây là bài đầu tiên tôi viết trong diễn đàn này.

Khỏi mất thời gian của quý vị, xin nói mấy lời chân tình.

Quý vị có biết vụ tẩy trứng gà Tàu thành trứng gà ta không? Quý vị có suy nghĩ như thế nào?

Nếu hỏi quý vị một câu rằng nếu quý vị là một người dân thuộc làng Đông Ngàn, quý vị có tham gia vào cái việc tẩy trứng rồi đem đầu độc lại đồng bào của các vị không, thì chắc 100% quý vị ở đây trả lời là không !

Nhưng kỳ thực là quý vị đang làm những việc tệ hại hơn nhiều so với việc ấy.

Quý vị có bao giờ thấy người dân các nước "tư bản thối nát" "theo đuôi Mỹ" như châu Âu, Nhật, hàn Quốc người ta làm những cái trò đồi bại như tẩy trứng bằng axit, trộn melamin vào sữa, bơm hoá chất vào rau quả, quết mật ong giả vào chân gà thối.... để đem đầu độc chính giòng giống của họ không? Tuyệt nhiên là không.

Những vị nào đọc đến đây mà bảo tôi là "rân chủ", "ăn phải bả của tư bản", thì mời quý vị khỏi đọc nữa, đỡ mất thời gian của quý vị.

Quý vị có bao giờ nói hàng Mỹ, châu Âu, Nhật, Hàn, Thái là rởm, là đểu, là lừa đảo, là chạy theo đồng tiền... không? Hay là quý vị lùng sục mua bằng được những món đồ sản xuất ở những nước "tư bản thối nát" ấy với giá đắt gấp đôi gấp ba so với hàng của Trung Quốc?

Quý vị có thể không tẩm chất độc vào trứng, vào rau như những người nông dân kém hiểu biết, nhưng quý vị lại tẩm chất độc vào đầu óc của những con người xung quanh quý vị bằng những lời dối trá, hối lộ, chạy chọt để được vinh thân phì gia. Dần dần, mọi người trong xã hội đều chạy theo quý vị với một suy nghĩ cực kỳ lệch lạc rằng "mình không làm ắt sẽ có người khác làm".

Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị lại có tác động ngược trở lại kinh tế.

Một xã hội mà ai cũng chỉ biết lo cho bản thân mình như xã hội Việt Nam, xã hội Trung Quốc thì có đáng được gọi là "xã hội chủ nghĩa" không?

Các vị có hiểu thế nào gọi là "xã hội chủ nghĩa" và "tư bản chủ nghĩa" không?
Các vị hiểu "XHCN" tức là có đảng cộng sản lãnh đạo còn "TBCN" là có nhiều đảng thay nhau lãnh đạo, hoặc là "nhiều đảng tư sản thay nhau lãnh đạo" phải không? Sai lầm

Xã hội chủ nghĩa là đặt xã hội lên đầu, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, nó đối lập với tư bản chủ nghĩa nơi mà "tư bản" được đặt lên đầu, mà tư bản chính là "tiền nằm trong lưu thông", hay nói tóm lại "tư bản" là lợi ích cá nhân.

Theo Hán Việt "tư bản" nghĩa là "vốn".

Một xã hội như Mỹ, Nhật là nơi mà con người luôn sống vì lợi ích riêng, nhưng không chà đạp lên lợi ích chung.

Người Nhật không bao giờ tẩm thuốc kích thích vào rau quả vì họ biết làm như thế sẽ gây hại cho những người đồng bào của họ, họ cũng không xuất khẩu những đồ kém chất lượng vì nó sẽ gây hại đến những đồng loại của họ, dù là người nước ngoài.

Người Nhật có thể tự sát, kết thúc sinh mệnh của mình, để bảo toàn danh dự cho gia đình, cho dòng tộc của họ.

Một xã hội như Việt Nam, trung Quốc là nơi con người miệng thì nói rằng "vì lợi ích tập thể", "xã hội chủ nghĩa", nhưng tay và chân thì chà đạp giày xéo lên người khác. Hãy nhìn thử một vụ tắc đường ở Việt Nam và một vụ tắc đường ở Thái Lan thì biết.

Vậy ở đâu mới xứng đáng là xã hội chủ nghĩa?

Đó là một điều mà tôi muốn nói với quý vị

Các vị nói rằng ngày xưa dù nghèo khổ nhưng Việt Nam vẫn kiên cường chống lại hai đế quốc to. Điều này là đúng và theo một nghĩa nào đó, thì đáng tự hào

Nhưng các vị lại nói ngày nay để được hoà bình, hay nói toẹt ra là để các vị được yên ổn làm ăn, yên ổn kiếm tiền, thì Việt Nam cần mềm dẻo với trung quốc, cho dù trên thực tế và trên tuyên bố, Trung Quốc đã và đang chiếm nhiều đất của chúng ta.

Vậy theo cái lý ngày xưa của quý vị thì đáng ra Việt Nam phải vùng lên đánh lại Trung Quốc, hoặc theo cái lý ngày nay của quý vị thì đáng ra ngày xưa Việt Nam không nên đánh lại Pháp và Mỹ mới phải.

Nhưng sự thực thì quý vị luôn tự hào về ngày xưa và đớn hèn về ngày nay. Chẳng có cái lý nào ngoài cái lý tiền. Các vị sợ đánh nhau với trung quốc thì con cái các vị phải ra trận, hoặc ít ra thì khi có chiến tranh, việc làm ăn kiếm tiền của các vị sẽ khó khăn hơn. Tóm lại các vị chỉ biết có bản thân mình, các vị cá nhân chủ nghĩa ở trình độ cao cấp.

Đó là cái thứ hai tôi muốn nói với các vị.

Các vị khi thì hô hào "Việt Nam là bạn với thế giới" , khi thì hô hào "Việt Nam phải cảnh giác với Mỹ, Âu, Tàu, Nhật". Như thế là cái lý gì?

Vì cái tư tưởng lúc nào cũng thù với hận của các vị, nên các vị không bao giờ thật lòng giao hảo với bất cứ ai. Các vị bắt tay người nước ngoài khi họ đến mang theo đô la và các vật dụng đắt tiền cho các vị hưởng, nhưng các vị lại vênh mồm lên chửi khi họ chỉ ra những cái sai lầm của quý vị. Quý vị biện luận rằng trong quan hệ quốc tế thằng nào cũng chỉ lợi dụng lẫn nhau thôi. Vậy thì người ta sẽ nghĩ về quý vị đúng như thế. Thuỵ Điển, na uy hàng năm cho không Việt Nam hàng triệu đô la và nhiều chương trình đào tạo phát triển, họ lợi dụng gì quý vị? Hay là quý vị nghĩ rằng họ chẳng qua muốn lấy lòng quý vị nên mới thế? Vậy nghĩ xem quý vị đã là cái thá gì mà người ta phải lấy lòng?

Quý vị thử chìa tay ra cho một người, rồi biết được người ấy lúc nào cũng nhăm nhăm "cảnh giác cao độ" với cái chìa tay của quý vị, thì quý vị sẽ nghĩ gì về người đó?

Đầu óc quý vị quá đen tối và nói thẳng ra quý vị cũng suốt ngày tìm cách lợi dụng người khác nên mới nghĩ cho người khác đen tối như thế.

Vì thế nên Việt Nam ta mới tụt hậu so với nước ngoài như hôm nay. Những quốc gia như Nhật, Hàn, Thái Lan vốn có điểm xuất phát không hơn ta là mấy nhưng nay họ đã vượt ta nhiều, đó là vì sao? Vì họ có tầm nhìn hơn chúng ta. Vì họ hiểu được một lý thuyết cơ bản nhất của thương mại đó là cả hai bên cùng có lợi, họ không bao giờ bắt tay với người khác mà trong bụng thì cứ nơm nớp lo người ta "lợi dụng" mình. Suy nghĩ kiểu như thế chỉ tồn tại trong những bộ óc chưa tiến hoá hết từ vượn sang người.

Nói thẳng ra, các vị là những kẻ hám tiền, lo cho lợi ích của cá nhân và cùng lắm là gia đình mình, là hết. Các vị ưa xiểm nịnh, khi báo Washington Post đưa tin rằng nền KT việt nam đang cất cánh thì quý vị tung hô tờ báo ấy như là chuẩn mực của sự trung thực, còn khi cũng báo Washington Post đưa tin về tham nhũng của Việt Nam thì các vị nói họ đưa tin không chính xác. Cái thái độ lá mặt lá trái ấy cũng đúng trong trường hợp người ta nói về "kẻ thù" của quý vị, ví như việc Ân Xá Quốc Tế lên án Mỹ vi phạm nhân quyền và cũng lên án Việt Nam với tội danh tương tự.

Đây là điều thứ ba tôi muốn nói với quý vị

Điều thứ tư nghe sẽ hơi sốc: nói thẳng ra là quý vị cực ngu

Quý vị không tin vào các thông tin "lề trái", tức là những thông tin trái ngược với báo chí chính thống và những tuyên bố chính thức của Việt Nam. Nhưng bản thân quý vị đang sinh hoạt ở một diễn đàn có tên miền quốc tế, đã hoạt động được hơn 2 năm nhưng ngân khoản duy trì sự tồn tại của nó vẫn là từ tiền của cá nhân những con người đáng trân trọng đã lập ra website này. Tại sao website này không thể có đuôi .vn và cũng không thể đăng quảng cáo được, quý vị nếu đủ thông minh thì đã nghĩ ra từ lâu rồi.

Quý vị quy kết tất cả những lời nói, bài viết của người khác là "phản động" "chống lại Việt Nam", "bán rẻ tổ quốc" chỉ vì những người ấy không có tư tưởng giống như quý vị. Quý vị bỏ ngoài tai mọi lời phân tích không theo ý kiến của quý vị, quý vị biến một diễn đàn trao đổi tri thức thành một cái chợ để cãi nhau và sỉ vả nhau bằng những từ như "thằng chó", "con lợn", một cách tự nhiên không biết ngượng mồm. Nếu vậy quý vị mất thời gian lên diễn đàn làm gì? Sao không trùm chăn lại tự nói cho xong?

Quý vị gọi người khác là "chống lại đất nước" bởi vì họ chống lại suy nghĩ của quý vị, như thế khác gì quý vị tự coi mình là đại diện của nước Việt Nam? Quý vị tự cho mình là người phát ngôn của chính phủ Việt Nam, hay ngắn gọn, quý vị chính là Việt Nam?

Quý vị kêu gọi người ta "cảnh giác với những âm mưu gây chia rẽ", nhưng lại không nhận ra rằng chính cái lời kêu gọi ấy của quý vị là một âm mưu gây chia rẽ. Nếu quý vị muốn sống tốt với hàng xóm của mình, ắt quý vị không bao giờ bắc loa giữa phố mà rằng "hãy cảnh giác với thằng A, con B, hàng xóm của tôi, chúng nó đang âm mưu chia rẽ".

Quý vị ngu lắm.

Muốn đất nước phát triển được, hãy thôi mò mẫm và ảo tưởng trong cái thế giới độc tôn của quý vị, hãy tỉnh táo trước những khẩu hiệu, hãy đi vào bản chất thay vì hô hào bên ngoài, hãy lắng nghe xem người khác nói thế nào, và hãy chân thật trong mọi mối quan hệ.

Nhưng tôi không vọng tưởng rằng một ngày nào đó quý vị sẽ thay đổi. Quý vị sẽ mãi mãi là người dân của một đất nước tụt hậu, tham nhũng, ô nhiễm và không được bạn bè quốc tế coi trọng.

Đên đây chợt nhớ câu nói của cụ Tản Đà:
"Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn..."

Gửi một số quý vị trong diễn đàn, ai đọc thấy không phải mình thì tức là không phải đối tượng mà tôi nói đến.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

TT MỸ BARACK OBAMA NHẬN GIẢI NOBEL HÒA BÌNH 2009

MƯỜNG GIANG
Mùa thu năm 1980, sau năm năm cúi mặt người Mỹ đã bắt đầu tỉnh ngộ, nên đồng thanh bầu Reagan làm Tổng thống thay thế Jimmy Carter, trong mục đích khôi phục lại danh dự và niềm tin của Hoa Kỳ đã mất từ sau ngày 30-4-1975, khi phản bội đồng minh VNCH, bỏ chạy để cho đồng bào tại ba nước Ðông Dương bị quốc tế cộng sản (QTCS) đô hộ, đọa đày tới hôm nay vẫn chưa tháo bỏ được cùm gông nô lệ đỏ.

Nhìn lại quá khứ ngay từ đầu năm 1920, Nga đã xuất cảng ‘ Cách Mạng Vô Sản ‘ khắp thế giới, qua các tổ chức QTCS và hai trung tâm huấn luyện tình báo tại LiênXô, là Viện Thợ thuyền Ðông Phương và Trường Ðảng Lê Nin. Thế chiến II (1939-1945) chính là cơ hội vàng vòng, giúp cho Nga được công khai xuất hiện tại Tây Âu và Bắc Á, khi Ðức Quốc Xã của Adolf Hitler và Phát xít Nhật, lần lượt làm cỏ các đế quốc Anh, Pháp, Hòa Lan và Trung Hoa,

Thế chiến II kết thúc, Ðức-Ý-Nhật đầu hàng đã làm đảo lộn trật tự thế giới, cũng như sự thay đổi bản đồ lớn lao khắp toàn cầu. Quốc tế Cộng Sản đã lợi dụng cơ hội trên chiếm Ðông Âu, Mãn Châu mở rộng lãnh thổ Liên Xô tận Ðông Á, bành trướng chủ nghĩa cộng sản khắp nơi nhưng mạnh mẽ nhất là tại Trung Hoa, Bắc Cao Ly và Ðông Dương.

Do trên, bắt đầu năm 1947 Hoa Kỳ và Liên Bang Sô Viết đã trở thành hai trung tâm thế lực đối nghịch, trong một cuộc chiến đa diện không ra mặt, nên các sử gia đã gọi thời kỳ này là ‘ Chiến Tranh Lạnh ‘ hay ‘ ChiếnTranh Ý Thức Hệ ‘.Từ đó ranh giới Quốc-Cộng, không những chia phân trên lãnh thổ, mà còn gây thảm tuyệt trong nội bộ của mọi dân tộc của các nước nhược tiểu và các vùng mà Mỹ-Nga chấm làm ‘ Tiền Ðồn ‘ hay ranh giới giữa Thế Giới Tự Do và Xã Hội Chủ Nghĩa.

Chiến cuộc tại Ðông Dương lần II, được coi như một Thế Chiến sau Chiến tranh Cao Ly, vì có nhiều nước của cả hai phía tham dự. Chiến trường chính là Việt Nam từ 1945-1975, làm cho vài triệu người của đôi bên bị thương vong , nhiều trăm tỷ Mỹ kim chiến phí và không biết bao nhiêu công trình xây dựng bao đời bị bom đạn phá hũy. Ðó là chưa nói tới hậu chứng của cuộc chiến sau tháng 4-1975 về tinh thần cũng như vật chất, trong đó dân tộc Việt hoàn toàn bị CSQT đô hộ và đang trên đường diệt vong vì cộng đảng VN đem toàn bộ lảnh thổ và dân tộc Việt dâng hiến một cách công khai cho Tàu đỏ.

Trong bối cảnh của cuộc chiến trạnh lạnh từ 1947-1973, người Mỹ gần như đã thất bại trong khi đối đầu, để ngăn chận ảnh hưởng của Nga Sô Viết, cho dù đã sử dụng rất nhiều chiến lược toàn cầu, từ chủ thuyết Containment sang Domino, hết phản du kích tới trực diện tham chiến . Rốt cục mọi hy sinh, nổ lực, bạc tiền và mạng lính của Mỹ, Ðồng Minh và VNCH thành vô ích, khi Hoa Kỳ tới Paris vào tháng 1-1973, cúi mặt để nhận tờ giấy lộn của cái được gọi là ‘ Hiệp định hòa bình ngưng bắn VN ‘, một cơ hội từ trên trời rớt xuống giúp Kissinger (Mỹ) và Lê Ðức Thọ (CS Bắc Việt) nhận giải ‘ Nobel Hoà Bình ‘ 1973.

Tóm lại Mỹ đã tìm đủ mọi cách hất chân thực dân Pháp để vào Ðông Dương, sau khi VN bị Liên Hiệp Quốc cưởng bức chia thành hai miền thù nghịch. Rồi dùng quyền lợi và tiền bạc mua chuộc một số tướng lãnh Miền Nam hạ sát Tổng Thống VNCH là Ngô Ðình Diệm, qua một cuộc binh biến đội lốt màu mè, được gọi là Cách Mạng 1-11-1963. Năm 1965, Mỹ ào ạt đổ quân vào tham chiến tại VN nhưng giữa lúc chiến thắng gần kề tại đây, thì Mỹ đã vội vã tuyên bố triệt thoái khỏi ‘ Tiền đồn Chống Cộng của Thế Giới Tự Do ‘ vào năm 1971.

Cũng từ đó, nước Mỹ mất dần uy tín và sự trông cậy ở các nước thứ ba. Riêng các đồng minh lâu đời như Nam Hàn, Philiipine, Mã Lai Á, Singapore, Ðài Loan, Thái Lan, Nam Dương.. nước nào cũng lo sợ bị Hoa Kỳ phản bội như Nam VN, nên khắp nơi nổi lên những cơn sóng ngầm khủng hoảng chính trị.

Mỹ phản bội Nam VN là cơ hội tuyên truyền tốt nhất, để các phong trào cách mạng Hồi Giáo tại Trung Ðông và Lực lượng Giải phóng Palestine bùng dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tại Phi Châu, các nước mới thâu hội độc lập cũng nghiêng ngã qua ý thức hệ cuộc chiến tranh lạnh, cuối cùng ngã dân hay thân với CSQT vì biết rõ bộ mặt thật của Hoa Kỳ, qua lăng kính VN. Ngay tại Châu Mỹ, các phong trào chống Mỹ và giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, bành trướng mạnh mẽ , qua danh xưng chống ‘ Ðộc tài, quân phiệt ‘, mà tiền đồn của Nga Sô Viết, vẫn là Cu Ba ở sát nách đối mặt với Hoa Kỳ.

Trong lãnh vực kinh tế toàn cầu, giữa lúc đất nước Mỹ điêu đứng vì cuộc chiến VN, ngân sách quốc gia thâm thủng, lạm phát và nạn thất nghiệp lan tràn, sự lộng hành của các thành phần phản chiến trong nước, gây đố kỵ mọi người, làm cho nước Mỹ chia năm xẻ bảy thảm thê chưa tùng có. Do trên, Mỹ đã mất vai trò lãnh tụ Thế giới Tự do, hai trung tâm tài chính toàn cầu tại New York và Los Angeles không còn được tin cậy, nhường chỗ cho Tư bản Nhật, Tây Âu và các nước Trung Ðông Dầu Lửa, bắt đầu khống chế toàn cầu, tự tách dần sự lãnh đạo của Hoa Thịnh Ðốn.

Còn Liên Xô và phe QTCS mỗi ngày một mạnh, các quốc gia Ðông Dương, Miến Ðiện và A Phú Hản .chính thức thành chư hầu, kể cả đảng CS Phi Luật Tân thêm bành trướng. Ấn Ðộ ngã hẳn về Nga tìm chổ dựa, để chống lại Trung Cộng đã hòa hoản với Mỹ, sau chuyến công du của Nixon-Kissinger năm 1972.

Sự bội tín của người Mỹ tại VN, còn là dây chuyền giúp Nga chiếm ảnh hưởng tại Iraq, Libya, Angola, đưa các đảng xã hội lần lượt nắm quyền tại Tây Âu. Ở Trung Mỹ, dưới sự tiếp tay của Nga và Cu Ba, đảng CS Sandinista chiếm Nicaragua, cùng đe dọa các nước quanh vùng, nhất là El Salvador. Ðó là chưa nói tới Dịch Khủng Bố Quốc Tế, lợi dụng sự thất thế uy tín của người Mỹ, gieo rắc máu lửa chết chóc khắp nơi cho nhân loại.

Vì vậy đã không có đại chiến thứ ba, mà chỉ có cuộc chiến khu vực. Cũng vì Bắc Cao và Bắc Việt lúc đó là chư hầu của Ðệ tam Cộng Sản quốc tế, đã xung phong nhận lãnh trách nhiệm làm tên lính tiền phong của đế quốc đỏ trong khu vực. Nên Liên Xô-Trung Cộng, đã chọn Bán đảo Triều Tiên và Ðông Dương, làm hai CHIẾN TRƯỜNG thí điểm, để hai khối thanh toán, đồng thời cũng là nơi mà các cường quốc , dùng để tiêu thụ số bom đạn thặng dư sau thế chiến và thử nghiệm những loại vũ khí mới vừa chế tạo.

Theo Kenneth E.Sharpe trong ‘ The Post Vietnam Formula under Siege ‘ và Political Science Quarterly ‘, thi giai đoạn 1960 tới cuối năm 1971, được coi như là thời kỳ ‘ Giải Kết ‘ của Mỹ. Chính Tiến sĩ Henry Kissinger đã chủ trương, đưa Trung Cộng về lại với Thế Giới Tự Do bằng sự đánh đổi ‘ Bỏ Rơi Tiền Ðồn Chống Cộng tại Á Châu là VNCH ‘.Hành động giải kết trên, tuy có tạo được cho đương sự một tầm vóc quốc tế nhưng kết quả đã đưa đến sự ‘ Bại Trận Nhục Nhã ‘ cho nước Mỹ, bởi vì Kissinger đã lẫn lộn giữa chính trường và khuôn viên trường đại học. Tóm lại chỉ vì ngu muội, Kissinger đã tự mình đưa nước Mỹ vào một thời kỳ suy thoái nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (1973-1980) , dưới sự lãnh đạo của đảng Dân Chủ toàn phần qua TT Jimmy Carter.

Tổng thống Reagan của đảng Cộng Hòa bước vào Tòa Bạch Ốc với đống rác và gánh nặng của quá khứ, do chính sách ‘ giải kết và tháo chạy ‘ để lại. Không giống như các đời tổng thống trước ‘ Dao to búa lớn ‘, mà ông chỉ dùng một chiến lược giá rẽ. Ðó là chính sách ‘ Gây ông đập lưng ông ‘ , bắt người Nga phải trả giá về việc xuất cảng chủ nghĩa cộng sản ‘ khắp năm châu, bằng cách đặt Liên Xô vào vị trí của Hoa Kỳ, suốt thời gian từ sau thế chiến. Ngoài ra Mỹ cũng phong tỏa kinh tế các nước chư hầu của Mạc Tư Khoa, bắt Nga phải tăng cường viện trợ kinh tế cho họ. Mặc khác Mỹ cũng gây rối khắp nơi, làm cho Nga phải quân viện hay chính thức tham chiến, để lộ bộ mắt thực dân đỏ. Nhưng trên hết, nhờ ‘ gậy ông đập lưng ông ‘, mà dân chúng trong khối QTCS mới có cơ hội, so sánh giữa hai thế chế ‘ dân chủ tư bản ‘ và ‘ dân chủ cộng sản hay xã hội ‘.Ðây cũng là dịp để chứng minh giá trị của cái ‘ chuyên chính cách mạng vô sản ‘ , qua màn lưới kềm kẹp của công an, chỉ biết làm sụp đổ đất nước, mà không xây dựng được gì cho một trật tứ mới.

Ðầu năm 2009 tới nay, đất nước Hoa Kỳ dưới sự lảnh đạo của Tổng Thống Barack Obama và sự nắm quyền đa số của đảng Dân Chủ tại lưởng viện quốc hội cũng như các tiểu bang trên toàn quốc. Ông Obama chỉ nói nhiều mà không thực hiện được bất kỳ một kế hoạch nào thành công để hồi phục nền kinh tế Mỹ, kể cả ngoại giao với thế giói bên ngoài. Sự nhượng bộ và cúi mình quá đáng của vị tổng thống Mỹ làm cho Hoa Kỳ mất dần vai trò lảnh đạo thế giới, tự mình đưa đất nước vào giai đoạn suy thoại nhất trong lịch sử của Hiệp Chủng Quốc. Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị và lửa máu triền miên vì sự ‘ bỏ ngõ ‘ của Mỹ, mặc cho Nga, Trung Cộng, Ba Tư, Bắc Hàn, Việt Cộng.. một mình một chợ, mà không dám can thiệp hay chỉ ‘ can thiệp ‘ chiếu lệ, làm cho các nước trên càng thêm hung hăng khát máu.

Và cũng nhờ thành tích lẫy lừng trên, mà ngày 9-10-2009 Viện Hàn Lâm Na Uy mới tuyên bố trao giải ‘ Nobel Hoà Bình ‘ 2009 cho TT Hoa Kỳ Barack Obama với lý do ‘ .. ông ta đã tạo ra một không khí mới trong chính trị quốc tế qua đối thoại và thương thuyết, để giải quyết vấn đề nguyên tử, đồng thời dân chủ và nhân quyền cũng được cũng cố.. ’ ’ Tất cả những tuyên bố trên đã được thực tế trả lời qua hành động của Ba Tư, Bắc Hàn, Nga, Trung Cộng và nhất là VN ngày nay về các vấn đề nguyên tử, bá quyền, ngoại giao, nhân quyền và tự do tôn giáo..

Từ năm 1901 các giải Nobel được thành hình và được trao cho những người trúng tuyển hằng năm vào ngày 10 tháng 12 tại Thụy Ðiển và Na Uy, để tưởng nhớ ngày mất của Alfred Nobel vào năm 1896. Cũng từ đó hầu như hằng năm, hai giải thưởng Nobel văn chương và nhất là hòa bình, luôn luôn bị dư luận chỉ trích, phê phán vì giải này được trao trong một thế giới đầy chết chóc, nhiểu nhương do các cuộc chiến đẳm máu gây ra nên chẳng bao giờ có hoà bình. Năm nay cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình cũng được trao cho TT Obama trong lúc hoà bình khắp nơi trên thế giới không hề có ..

Xưa nay giải Nobel được đánh giá là một biểu tượng cao quý nhất trong các giải thưởng quốc tế, mà bất cứ khoa học gia, các văn nghệ sĩ, những nhà tranh đấu cho công lý, hòa bình.. đều có khả năng nhận được. Các phần thưởng của giải Nobel còn đuợc gọi là ‘ tặng thưởng của nhân loại ‘, biểu tượng của tim óc sáng tạo và năng khiếu tuyệt vời của con người. Ngoài giải Nobel Hòa Bình được phát tại Na Uy. Các giải Nobel khác được phát tại Toà Ðô Chánh (Stadshuset) ngay thủ đô Stockholm (Thụy Ðiển). Trong ngày phát giải vào tháng 12 hằng năm, đều có mặt hoàng đế, hoàng hậu và đại sứ các nước cùng với những quý khách mời từ muôn phương về, để cùng nhau tôn danh những tài năng xứng đáng của nhân loại.

Nhưng không phải ngẩu nhiên mà thiên hạ luôn mai mĩa về giải Nobel Hoà Bình vì cha đẻ của giài thưởng này là Alfred Nobel, lại là người phát minh ra chất nổ, một lái buôn cái chết, kẻ phá hủy đời sống an bình của nhân loại. Ông sinh tại Thụy Ðiển(1833), lớn lên tại Nga, sống ở Pháp và qua đời tại Ý năm 1896 vì bệnh tim.

Sinh thời ông là vua không ngai của đế quốc chất nổ, với những phát minh chât Dynamyte, ngòi nổ, thuốc súng không khói và nhiều loại vũ khí.. Vì những thành tích kinh khủng trên, nên sinh thời không ai tin thiện chí hòa bình của Alfred kể cả người dân Thụy Ðiển. Tóm lại dù tốt hay xấu, sau này mọi người vẫn đánh giá ông là một thiên tài, một người cô độc bị thất bại trong lãnh vực tình yêu. Một năm trước khi qua đời, ông đã ký di chúc để lại toàn bộ gia sản, dành cho việc thành lập giải thưởng mang tên Nobel.

Theo các tài liệu được công bố, thì hằng năm tiền lời thu được từ tài sản của Alfred Nobel để laiỳ, dành tặng cho bất cứ ai (nam hoặc nữ) có những phát minh cống hiến hữu ích cho nhân loại trong năm qua, thuộc các lãnh vực vật lý, hóa học, y khoa và văn chương. Riêng giải Nobel Hòa Bình dành tặng cho bất cứ ai đã tạo được thành tích mang tới sự an bình, đoàn kết giữa các dân tộc.. Năm 1969 có thêm giải Nobel Kinh Tế.

Phải mât năm năm sau ngày Nobel qua đời, ý nguyện của ông mới được thực hiện vào ngày 10 tháng 12 năm 1901 là niên lịch đầu tiên giải Nobel được trao tặng. Tài sản đầu tiên của Nobel để lại là 8.960.000 Mỹ kim. Ban tổ chức chỉ dùng tiền lời để phân đều cho 6 giải thưởng từ 25.000 Mỹ kim năm 1901 tới nay đã tăng hơn 1 triệu USD. Người đoại giải sẽ được thông báo vào ngày 15 tháng 11 trong năm. Riệng giải Nobel Hoà Bình được đặt dưới sự bảo trợ của Quốc Hội Na Uy. Sỡ dĩ có tình trạng này vì trước đó vào năm 1814, Na Uy bị lệ thuộc vào Thụy Ðiển, tới năm 1905 mới được độc lập.

Giải Nobel Hoà Bình lúc đầu được diễn ra tại Viện Nobel ở Olso (Na Uy) trước năm 1947. Từ năm đó tới năm 1990 phát tại giảng đượng Ðại Học Olso. Sau năm 1990 giải này phát tại Tòa Thị Chính. Giải được Chủ Tịch Ủy Ban Hòa Bình Na Uy trao cho người nhận trước sự hiện diện của Vua, Hoàng Hậu và các đại biểu chính phủ nước này.

Ðây là giải thưởng bị tranh cải và mĩa mai nhiều nhất trong các giải Nobel. Ngoài giải hoà bình đầu tiên năm 1901 được trao cho Jean Henri Dunant (người sáng lập Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế), còn lại đều bị các khuynh hướng khác nhau trên thế giới khen chê dè bĩu không thống nhất. Ðó là các giải thưởng đã trao cho Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt (1904), Tổng thống Liên Xô M.Goobatrov (1990), Thủ tướng Do Thái Menacham Begin (1977), Tổng thống Nam Hàn Kim Dae Jung (2000), Tổng thống My Jimmy Carter và Phó Tổng thống Mỹ Gore.. Nhưng nhục nhã và xấu hổ nhất, chắc chắn không ai hơn cặp Henry Kissiger và Lê Ðức Thọ được thưởng giải Nobel Hòa Bình năm 1973, qua cái gọi là đem lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh VN. Cuối cùng Thọ từ chối, còn Kissinger cũng không trực tiếp tới Olso nhận giải vì bị biểu tình phản đối kẻ lừa đảo.

Tóm lại nhân loại đã trãi qua hơn 100 lần phát giải Nobel Hòa Bình nhưng hình bóng của nó thì xa tít tận nơi đâu. Năm nay Tổng thống Mỹ Obama được chọn nhận giải Nobel Hòa Bình trong lúc đất nước Hoa Kỳ lẫn thế giới đang sôi sục trong chiến tranh lửa đạn suy thoái kinh tề và bất ổn. Nhưng như Irwin Abrams một chuyên gia về giải Nobel nhận thức ‘ Hòa Bình không chỉ là mục tiêu, nó còn là một tiến trình, một nổ lực để các thế hệ nối tiếp thực hiện ‘.Ðó cũng là nguyện vọng của vị Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc hiện tại đang bước tới và theo đuổi.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 10-2009

Mường Giang

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG CỘNG
LÀ THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG CỨU NƯỚC

Cuộc hội đàm giữa ngoại trưởng Mỹ, Hilary Clinton với Phạm Gia Khiêm, ngoại trưởng Việtcộng đã diễn ra tại Hoa Thịnh Đốn ngày 02/10/09. Trong cuộc họp báo sau đó, bà Clinton nói: “Hai bên đã bàn về các chủ đề như thương mại, nhân quyền, an ninh, quốc phòng và việc Việtnam đảm nhận vai trò chủ tịch khối ASEAN 2010”. Trả lời nhà báo, Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh: “Hoakỳ là đối tác hàng đầu của Việtnam”. Và rằng: “Đó là mối quan hệ đang phát triển. Đó là mối quan hệ đuợc xây dựng theo cam kết của lãnh đạo hai nước, trên tinh thần hữu nghị nhiều mặt, lâu dài vì lợi ích hai nước”. “Chúng tôi hợp tác không chỉ vì vấn đề chính trị và kinh tế, mà mở rộng ra với việc khác. Về giáo dục đào tạo, khoa học, văn hóa, quốc phòng, an ninh”.

Tại Bắckinh, ngày 01/10/09, trong cuộc gặp với Hoàng Bình Quân, trưởng ban đối ngoại trung ương Việtcộng sang mừng Quốc Khánh Trungcộng, Tập Cận Bình phó chủ tịch Trungcộng nói với Hoàng Bình Quân rằng: “Tiến bộ trong mối quan hệ Trung- Việt, cá biệt là việc nâng cấp thành quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện khi chủ tịch Trungquốc, Hồ Cẩm Đào tiếp kiến tổng bí thư Nông Đức Mạnh của đảng Cộngsản Việtnam tại Bắckinh hồi năm ngoái”. Nhân dịp đó, Tập Cận Bình kêu gọi: “Hai nước nhân cơ hội này gia tăng sự tin tưởng lẫn nhau, tăng cường hợp tác và cùng nhau phát triển”. Hoàng Bình Quân nói: “Việtnam sẽ làm hết mình để bồi đắp và phát triển các mối quan hệ cho cả hai nước và thế giới”.

Trước đó ngày 25/09/09, trong cuộc thảo luận về an ninh khu vực và quan hệ quân sự giữ Việtcộng và Trungcộng tại Bắc Kinh. Bộ trưởng quốc phòng Trungcộng, Lương Quang Liệt gặp và nói với phó tổng tham mưu quân đội Việtcộng, Trần Quang Khuê rằng: “Quan hệ hữu nghị giữa hai nước đã phát triển trên nhiều lãnh vực và quân đội hai bên đã thực hiện được nhiều hoạt động trao đổi rất thành công”. “Trungquốc sẽ cùng nỗ lực với Việtnam để đẩy mạnh quan hệ song phương cũng như quân đội hai nước”. Về phần mình, Trần Quang Khuê nói: “Việtnam coi trọng quan hệ với Trungquốc và hy vọng hai bên sẽ mở rộng việc hợp tác và trao đổi trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là quân sự”.

Xem vậy, mối quan hệ tay ba giữa Mỹ-Việt-Tầu đang tiến vào thế cân bằng trên mặt nổi, mà gay cấn ở mặt chìm trong cuộc chạy đua ‘Diễn Biến Hoà Bình’ tại Việtnam cũng như trên toàn thế giới. Vì sự sống còn và phát triển của kinh tế Việtnam, Việtcộng phải nhận Hoakỳ là đối tác hàng đầu và hợp tác toàn diện với Mỹ về khắp mặt kể cả an ninh, quốc phòng, giáo dục, khoa học, văn hóa. Cũng vì quyền hành và sự sống còn của đảng cộng sản, Việtcộng phải thần phục Tầucộng, ngoan ngoãn tuân lệnh Bắckinh nhường đất, biển, đảo, tài nguyên, kể cả công việc làm, phải sử dụng máy móc cũ và làm nơi tiêu thụ hàng hóa ế, độc của Trungcộng. Nghĩa là mảnh đất nhỏ bé khốn khổ Việtnam lại trở thành đấu trường toàn diện không khói súng giữa Mỹ và Tầu trong trận thư hùng ‘diễn biến hòa bình’. Diễn biến hòa bình đối với Mỹ đã trở thành “chiến lược toàn cầu” trong giai đoạn hiện nay. Ở Việtnam cũng như khắp nơi trên thế giới, Mỹ sẽ cố tránh không để cho thế chiến xẩy ra, nhưng tăng cường kỹ thuật quốc phòng và khả năng tự vệ của các nước đồng minh, nhằm thực hiện Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa, Tự Do Hóa Xã Hội, Đa Nguyên Hoá Văn Hóa, Dân Chủ Hóa Chế Độ ở khắp nơi. Diễn biến hòa bình đối với Tầu là Hán Hóa Việtnam và bành trướng thế lực Trungcộng ra khắp vùng Đông Nam Á. Khuynh hướng của Mỹ là “Nhập Nội Việtnam” qua những hiệp ước chính thức ký kết với nhà cầm quyền Hànội, rồi gia tốc đầu tư, dùng sức mạnh kinh tế làm đòn bẩy để thực hiện diễn biến hòa bình. Còn Tầu thì cố nắm đảng, chính quyền, quân đội, an ninh, nhằm trấn áp sức phản kháng của dân để bảo vệ quyền lợi và quyền hành cho tay sai Việtcộng. Trong trận chiến ‘diễn biến hòa bình’ này, thấy rõ, Tầu ở vào thế thủ, Mỹ nắm thế công. Cuối cùng người dân Việt ngả về phía nào, phía đó sẽ thắng.

Từ ngày Tầu cộng ra mặt uy hiếp nhà nước Việtcộng một cách lộ liễu, và bọn đầy tớ Mancộng Hànội tỏ ra khiếp nhược quá đáng, thì giới trí thức, thanh niên, và dân chúng trong, ngoài đảng; trong, ngoài nước đã bừng lên khí thế chống thù trong, giặc ngoài rất mãnh liệt. Dù cộng đảng đã chuẩn bị nắm thật chặt báo chí, truyền thanh, truyền hình, nhằm bưng bít thông tin. Nhưng trong thời đại tin học phổ cập nhanh rộng tới hàng vài chục triệu người Việtnam trong, ngoài nước như hiện nay, thì phong trào chống Tầucộng xâm lăng, chống Việtcộng bán nước không sức nào cản nổi nữa. Nhất là trong khi đó, hàng hóa và công nhân của Tầucộng tràn vào thị trường Việtnam đang đe dọa dìm chết nền sản xuất non trẻ Việtnam, làm cho giới doanh nghiệp, công nhân và tiêu thụ Việtnam phải tự cứu, bằng phong trào tự phát tẩy chay hàng hóa của Tầucộng. Trước tình thế đó. Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ngày 03/10/2009 đã ra LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC.

Ngoài phần trình bày lý do đưa ra lời kêu gọi. Trong đó có đoạn viết: “Hôm nay, nhân danh Hội Đồng Lưỡng Viện, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tôi xin cất lời kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước hãy tỏ thái độ trước hiện trạng Trungquốc xâm lấn và nhà cầm quyền Cộngsản Việtnam bó tay đầu hàng. Người dân Việt không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm”.

“Thái độ cần biểu tỏ hôm nay để nhà cầm quyền Bắckinh thấy rõ ý chí kiên cường của người dân Việt là phát động phong trào không dùng hàng Trungquốc. Không dùng hàng Trungquốc không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trungquốc, chống công nhân Trungquốc. Vì nhân dân Trungquốc, công nhân Trungquốc cũng là nạn nhân của đảng Cộngsản như nhân dân, công dân và nông dân Việtnam. Tẩy chay hàng Trungquốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của nhà cầm quyền Cộngsản Bắckinh. Ngoài lý do chính trị này mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trungquốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việtnam”.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Không Dùng Hàng Hóa Trung Qưốc” trên đây của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, đúng là thái độ và hành động góp sức giúp dân, cứu nước của mỗi người trong chúng ta vậy.

LÝ ĐẠI NGUYÊN

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Hoa Kỳ Can Thiệp vào Nội Bộ Việt Nam ?

Khánh An, phóng viên đài RFA
Đáp lại việc Toà đại sứ Mỹ bày tỏ quan ngại về bản án đối với các nhà dân chủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng những đòi hỏi trên là “can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

Dư luận trong và ngoài nước nghĩ gì về điều này? Mời quý vị theo dõi bài tường trình tiếp theo.

Trả lời về phản ứng của Việt Nam trước thông cáo báo chí ngày 14/10/2009 của Đại sứ quán Hoa Kỳ, bà Nguyễn Phương Nga, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng việc xét xử, truy tố các nhà đấu tranh dân chủ là đúng luật pháp Việt Nam.

Những thông tin trong Thông cáo là hoàn toàn sai lệch và những đòi hỏi của phía Hoa Kỳ là can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Có một điệp khúc quen thuộc xuất hiện rất nhiều trong các phát biểu của Bộ Ngoại giao Việt Nam đối với việc các nước nêu các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Đó là cụm từ “can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

Theo Giáo sư Nguyễn Thanh Trang, cư dân Hoa Kỳ, Trưởng ban Phối hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, thì không thể gọi Thông cáo báo chí cũng như những đòi hỏi của Đại sứ quán Hoa Kỳ là việc làm can thiệp vào nội bộ của Việt Nam, mà ngược lại, đây là một nghĩa vụ phải làm đối với các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc theo quy định của Bản phụ đính Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1998.

Cũng theo Giáo sư Trang, lý do Liên Hiệp Quốc ra phụ đính này là vì trước đây một số quốc gia độc tài luôn bao biện cho những vi phạm nhân quyền của mình bằng cái cớ can thiệp vào nội tình của họ. Giáo sư Trang nói:

“Bộ Ngoại giao Cộng Sản lên tiếng bảo rằng khi Sứ quán Hoa Kỳ đưa ra một Thông cáo báo chí như vậy thì hành động đó là hành động xâm phạm vào vấn đề đối nội của Việt Nam nhưng điều đó không đúng. Bởi vì Công ước quốc tế về nhân quyền cũng như năm 1998, Liên Hiệp Quốc ra bản phụ đính Tuyênngôn Quốc tế về nhân quyền.

Trong bản phụ đính này có 20 điều, trong đó nói rất rõ là mỗi quốc giá đều có trách nhiệm khi mà ký vào Công ước quốc tế rồi là phải tôn trọng nhân quyền.

Không những tôn trọng mà còn phải dạy cho sinh viên, đặc biệt dạy cho công an, cảnh sát hiểu về nhân quyền của người dân để cho họ biết và họ tôn trọng nhân quyền. Ngoài ra, các quốc gia thành viên có trách nhiệm và nhiệm vụ khuyến khích và theo dõi những nước khác. Nếu nước nào vi phạm nhân quyền, họ có quyền chỉ trích, có quyền lên án.”

Mâu thuẫn...
Trong khi đó, anh Hoàng Thanh Tâm, một cư dân Úc châu, người đã có rất nhiều đóng góp trong việc đưa vấn đề dân chủ nhân quyền cho Việt Nam lên chính phủ Úc, lại đặt ra một câu hỏi lớn về những phản ứng mâu thuẫn của chính phủ Việt Nam đối với một số vấn đề ngoại giao hiện nay.

“Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa. Thành ra mọi sự việc xảy ra tại quốc gia này đều có sự liên hệ đến các quốc gia khác. Đứng trước tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, các quốc gia Tây Phương hoặc Hoa Kỳ không thể nào làm ngơ mà họ phải lên tiếng. Bởi vì nếu họ làm ngơ trước những tội trạng vi phạm về nhân quyền như vậy thì điều này có nghĩa là họ đồng lõa với tội ác đang xảy ra.

Tôi nghĩ rằng sự lên tiếng vừa rồi của Hoa Kỳ cũng như các quốc gia Tây phương đều hết sức cần thiết. Thêm một điểm nữa là trong khi các quốc gia Tây phương lên tiếng bày tỏ sự quan ngại của họ thì Bộ ngoại giao Việt Nam lại giảy nảy lên, cho đó là một sự vi phạm nhân quyền.

Trong khi đó, quốc gia kế cận là Trung Quốc đưa tàu chiến vào xâm phạm lãnh hải, bắn giết ngư dân thì Bộ ngoại giao Hà Nội lên tiếng yếu ớt, không dám bày tỏ quan điểm của mình một cách mạnh mẽ. Đây là một sự việc hết sức khó hiểu.

Can thiệp vào nội bộ?
Còn Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội, lại cho rằng ở đây cần phải đặt ngược lại vấn đề. Ai mới là người can thiệp vào nội bộ của ai? Việc ra thông cáo báo chí thể hiện quan điểm của mình là quyền và trách nhiệm của Hoa Kỳ. Phản ứng của Việt Nam cũng có thể gọi là hành động can thiệp vào nội bộ của Hoa Kỳ. Ông nói:

“Tôi thấy Việt Nam rất hay lên án Hoa Kỳ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam nhưng Việt Nam lại không nghĩ rằng Việt Nam đang can thiệp vào nội bộ của Mỹ một cách thô thiển.

Mỹ người ta có quyền suy nghĩ, người ta có quyền phát biểu ý kiến của người ta và nhất là bây giờ giao hữu với nhau, làm ăn kinh tế với nhau, có đại sứ quán với nhau thì người ta quan tâm đến tình hình đất nước mà người ta giao dịch, người ta quan hệ. Và nhất là nước Mỹ người ta có một lý tưởng về đấu tranh cho dân chủ và dân quyền cho mọi người.

Thấy thế thì người ta phát biểu thế. Thế thì tại sao mình lại can thiệp vào nội bộ của họ, mình lại phê phán họ, nặng lời với họ được. Mà cái bản thông cáo ấy tôi thấy họ nói toàn đúng sự thật.”

Như vậy, có thể thấy điều mà dư luận quan tâm hơn hết vẫn là những hành động tích cực từ phía chính phủ Việt Nam để cải thiện vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, chứ không phải những phản ứng trên mặt báo như hiện nay.

Nói như Đại sứ Hoa Kỳ Raymond Burghardt, trong một lần trả lời phỏng vấn với biên tập viên Nguyễn Khanh của Đài chúng tôi, đã khẳng định Việt Nam có thể xem Hoa Kỳ là bạn. Bạn tốt sẽ không chỉ nói những điều tốt đẹp về nhau mà còn dám nói cả những điều chưa hay, chưa tốt cho nhau.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tội làm hư dân

Tòa án thường chỉ xét những tội cụ thể. Nhưng tôi tưởng tất cả các quan chức một khi hư hỏng, ngoài hành vi phạm pháp, còn phải xét thêm một tội nữa: Tội ngấm ngầm thúc đẩy dân làm bậy. Tội làm hư dân.

Đại Đường Tây vực ký của nhà sư Huyền Trang vừa được dịch ra tiếng Việt (NXB Phương Đông, 2007). Trong thiên bút ký này, Đường Tăng ghi lại ấn tượng sau khi đi qua 138 nước nằm giữa Trung Hoa và Ấn Độ (có thời gộp chung là Tây vực). Đoạn tổng thuật về địa khu Tốt Lợi kể: “Người Tốt Lợi phong tục kiêu ngoa, chuyên môn lừa đảo, tham lam hám lợi, giữa cha con với nhau cũng tính toán hơn thua chẳng cần người tốt kẻ xấu, cứ nhiều tiền là được quý trọng... Cư dân một nửa làm ruộng, một nửa chuyên đi trục lợi”.

Tôi ghi lại đoạn này bởi lẽ nó góp phần gạt đi trong đầu một phân vân khi nhận thức. Từ nhỏ bọn tôi đã được học rằng chỉ có các cá nhân xấu, chứ nhân dân lao động nơi đâu cũng tốt.

Hóa ra không phải vậy! Tùy hoàn cảnh mà con người biến đổi. Và là biến đổi trên diện rộng. Tục ngữ ta xưa cũng có câu “bạc như dân, bất nhân như lính”. Đọc lại lịch sử thấy nhận xét chua chát đó không hoàn toàn sai.

Thế còn bây giờ? Một lần, chập choạng tối, tôi đang đi trên đoạn đường gần ngã tư Hàng Chiếu - Đồng Xuân, Hà Nội thì gặp mưa, đành tính chuyện lánh tạm vào một mái hiên. Bất ngờ nghe người ở trong nhà nói hắt ra:

- Biến đi cho người ta còn bán hàng.

Trời ơi! Con người đô thị bây giờ càn rỡ và bất nhân ngoài sức tưởng tượng!

Ở các tỉnh xa, các vùng kinh tế, thì sự hư hỏng lại mang sắc thái khác. Có lần trên một tờ báo, đọc thấy tin ở huyện Tam Nông, Đồng Tháp nhiều người lấn chiếm đất công, rừng công, bất tuân pháp luật. Lần khác xem ti vi, lại thấy dân một xã của Quảng Trạch, Quảng Bình đua nhau chặt rừng phòng hộ ven biển bán cho tư thương, huyện xã đã tìm đủ cách ngăn chặn nhưng không nổi. Đủ chuyện đã xảy ra, dân ăn cướp, dân ăn cắp, dân ăn vạ, dân xà xẻo của công và tiếp tay cho kẻ xấu, dân làm hại lẫn nhau... thiên hình vạn trạng không xếp loại được.

Không phải chỉ trong sách vở nhà trường mới có lối khái quát vậy, mà sự thực là suốt thời chiến tranh, nhân dân lao động đã là những con người thuần hậu, chịu thương chịu khó, hướng về điều thiện và muốn sống theo pháp luật. Chắc chắn sự thay đổi diễn ra hôm nay “không thuộc về bản chất”. Vấn đề còn lại là cắt nghĩa tại sao lại xảy ra cái chuyện chẳng ai muốn đó?


“Người ta phán xét một chính thể thông qua tác động của nó lên con người. Cụ thể là có thể và nên xét xem nó tạo nên những công dân như thế nào, nó làm cho dân tốt lên hay xấu đi”
Trở lại việc dân ở huyện Tam Nông, Đồng Tháp nói trên. Đọc kỹ các bài viết liên quan thì thấy trước khi dân hư có chuyện ông phó chủ tịch huyện phá rừng. Người dân chung quanh thấy ông cán bộ to hành xử như trên (chặt tràm đào ao làm thành lãnh địa riêng), bảo nhau ùa vào làm bậy.

Đây cũng là diễn biến thấy ở nhiều nơi khác. Trong phần lớn trường hợp, tình trạng dân hư liên quan tới hiện tượng nhức nhối là chuyện cán bộ kiếm chác vô nguyên tắc, tư lợi vô cảm, gộp chung là thoái hóa biến chất. Đáng lẽ phải gương mẫu tuân thủ pháp luật thì họ lại tự đặt mình cao hơn luật, phá luật để trục lợi.

Trước mặt người dân lúc ấy, lý tưởng như bị xúc phạm. Người ta không thể thờ ơ và dễ bảo mãi. Về mặt triết học có thể bảo con người bắt đầu rơi vào hư vô. Chúa đã chết rồi! Ai muốn làm gì thì làm! Bởi cảm thấy trên đời này không còn cái gì là thiêng liêng, họ rơi vào liều lĩnh phá phách một cách hung hãn. Những cái xấu sẵn có mà bấy lâu họ kìm nén, được lúc vùng lên quẫy lộn. Tự cho phép mình hư! Nhìn nhau để yên tâm mà hư! Khuyến khích nhau hư thêm, càng đông người hư càng thích! Sự bùng nổ lúc này là theo lối dây chuyền, không gì có thể giữ con người lại nữa.

Ta chưa có thói quen đánh giá bộ máy quan chức nên tưởng là khó. Sự thực khá đơn giản. Muốn biết giới quan chức một địa phương ra sao, cứ xem dân ở đấy thì biết. Dân ngoan làm ăn tử tế tức là bộ máy làm việc tạm gọi là chấp nhận được, người ta còn tin. Còn dân hư, nhất định là những người quản lý họ có vấn đề, không tham nhũng thì cũng kém cỏi trong quản lý. Chỉ cần chịu tìm sẽ thấy ai có lỗi.

Tòa án thường chỉ xét những tội cụ thể. Nhưng tôi tưởng tất cả các quan chức một khi hư hỏng, ngoài hành vi phạm pháp, còn phải xét thêm một tội nữa: Tội ngấm ngầm thúc đẩy dân làm bậy. Tội làm hư dân.

Quý I năm nay, NXB Tri thức đã cho in một cuốn sách thuộc loại kinh điển. Đó là cuốn Chính thể đại diện của John Stuard Mill (nguyên bản được viết từ năm 1861). Ở trang 82, tôi đọc được một câu đại ý như sau “Người ta phán xét một chính thể thông qua tác động của nó lên con người. Cụ thể là có thể và nên xét xem nó tạo nên những công dân như thế nào, nó làm cho dân tốt lên hay xấu đi”. Đúng là có liên quan tới vấn đề chúng ta đang bàn.

VƯƠNG TRÍ NHÀN

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Mỹ không sợ, Tàu cũng không lo

Ngô Nhân Dụng
Mối lo sợ nói trên là lo đồng đô la Mỹ xuống giá. Vì từ bẩy tháng nay giá trị đô la xuống đã tụt so với các đồng tiền chính trong thị trường thế giới, khiến nhiều người đi mua vàng để khỏi giữ đô la trong nhà, giá vàng đã lên trên 1.000 đô la một troy ounce.

So sánh chung với các đồng tiền quan trọng khác, đô la Mỹ đã giảm giá 15% trong hơn nửa năm qua. Tiêu biểu là giá đồng Euro tăng lên so với Mỹ kim. Tháng Hai vừa qua mỗi đô la Mỹ ăn 80 xu Euro, bây giờ chỉ còn ăn 67 xu. Và có thể còn xuống nữa, như năm ngoái có lúc một đô la chỉ đổi được 62 xu tiền Âu Châu thôi.

Du khách người Mỹ sang Âu Châu hay Nhật Bản là cảm thấy bị “bóc lột” vì đô la xuống giá nên mua cái gì cũng thấy đắt. Còn đa số các nhà kinh doanh và chính phủ Mỹ thì không tỏ ra lo lắng gì cả. Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Timothy Geithner có tuyên bố trong cuộc họp G-7 của bẩy nước kinh tế mạnh nhất, rằng chính sách của Mỹ luôn luôn là bảo vệ một đồng đô la mạnh. Ông ta không thể nói khác được. Nói khác thì đô la sẽ xuống nữa và xuống gấp gáp, cả thị trường sẽ điên đảo ngay! Nhưng ai cũng biết khả năng và quyền hành để nâng giá đồng Mỹ kim của ông Geithner không có là bao nhiêu. Nước Mỹ theo kinh tế thị trường, hàng triệu người trong thị trường mua và bán sẽ quyết định hối suất. Không phải như Trung Quốc mà chính phủ cứ ấn định hối suất, kiểm soát ngoại tệ.

Một người có thể ảnh hưởng đến giá trị của đồng đô la là ông Ben Bernanke, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, cùng với ủy ban tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương này. Ủy Ban Chính Sách Tiền tệ (tên gọi là ủy ban thị trường mở) tăng lãi suất căn bản, hoặc rút bớt tiền ra khỏi thị trường bằng cách bán thêm trái khoán để vay tiền khiến lãi suất tự động tăng lên, lúc đó giá đô la có thể tăng lên. Vì khi lãi suất tăng thì nhiều người nước ngoài sẽ đầu tư vào Mỹ, bằng cách cho người Mỹ hoặc chính phủ Mỹ vay, họ sẽ đi mua đô la Mỹ để cho vay nên đô la lên giá.

Nhưng vào lúc này ông chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có muốn đồng đô la tăng giá hay không? Chắc là không. Khi đô la cứ tiếp tục giữ ở giá thấp thì công việc đối phó với cơn khủng hoảng kinh tế của chính phủ Mỹ sẽ được dễ dàng hơn.

Thứ nhất, một mình nước Mỹ không thể tự thoát khỏi cơn khủng hoảng đã bắt đầu từ 2 năm nay nếu kinh tế các nước khác không vực dậy. Hiện tượng đồng đô la Mỹ xuống giá cho thấy là kinh tế nhiều nước khác đã bắt đầu ra khỏi cơn trì trệ, đó là một tin mừng. Số phận đồng đô la gần đây đi ngược chiều với kinh tế thế giới. Năm 2008 khi cơn khủng hoảng tín dụng đã lan khắp hoàn cầu, lúc đó đồng đô la Mỹ bỗng nhiên lên giá; từ Tháng Mười năm ngoái đến Tháng Ba năm nay đã tăng lên gần một phần tư (24%). Tại sao khi ngân hàng các nước khác gặp khó khăn thì đô la Mỹ lại lên giá? Vì người ta mua đô la để đầu tư vào Mỹ! Khi khắp nơi kinh tế bấp bênh thì các nhà đầu tư nhìn quanh không thấy chỗ nào gửi tiền vô có vẻ chắc chắn bằng cho người Mỹ vay! Năm ngoái có khi mua công trái chính phủ Mỹ được hưởng lãi gần “không phần trăm,” người ta vẫn đem tiền tới cho vay. Giống như họ mua đô la nhờ chính phủ Mỹ giữ hộ, không lấy lời! Vì nhu cầu đầu tư đó, giá đô la đã lên cao nhất vào Tháng Ba 2009, trong lúc chỉ số thị trường chứng khoán New York xuống mức thấp nhất chứng tỏ kinh tế Mỹ còn đang bê bết.

Bây giờ thì ngược lại. Nhiều nhà đầu tư thấy có những dấu hiệu hồi phục ở các nơi, khiến họ tin tưởng hơn năm ngoái. Họ rút bớt tiền từ Mỹ, bán đô la lấy tiền đưa đi nước khác đầu tư, khiến giá trị đô la đi xuống. Nước Mỹ không lo vì khi kinh tế các nước khác phục hồi thì người Mỹ cũng hy vọng sẽ bán được thêm hàng hóa và dịch vụ!

Vì lúc đô la xuống giá là cơ hội tốt nhất cho các nhà xuất cảng ở Mỹ. Một nhà sản xuất ở Mỹ bán hàng cho Brazil. Vào Tháng Ba thì khách hàng Brazil phải chi 24,000 đồng “rê an” xứ họ (real) đổi lấy 10,000 Mỹ kim. Bây giờ khách hàng đó chỉ cần dùng 17,000 real là đổi được 10 ngàn Mỹ kim! Hàng của Mỹ tự nhiên rẻ hơn hẳn hàng Pháp, hàng Ðức hay Nhật Bản! Ðô la xuống là dịp may cho các công ty Mỹ xuất cảng. Mà trong số thu nhập của 500 công ty lớn nhất mà chỉ số S&P vẫn theo dõi, 40% số bán là bán cho nước ngoài. Khi đô la xuống giá, hàng nhập cảng từ nước khác vô Mỹ sẽ tăng giá, do đó các nhà sản xuất chỉ để bán trong nội địa cũng bán hàng dễ hơn.

Cho nên hiện nay Ngân Hàng Trung Ương Mỹ thấy nâng giá đồng đô la lên không có lợi gì cả. Chỉ khi nào họ thấy lạm phát đe dọa tăng lên nhanh cần phải chặn lại, lúc đó họ sẽ tăng lãi suất mà hậu quả là đô la sẽ lên giá. Nước Mỹ hiện nay có rất nhiều lý do để lo lạm phát. Vì vay nợ nhiều quá, ngân sách khiếm hụt nhiều quá và số tiền lưu hành nhiều quá. Có thể nói là trong hơn một năm nay máy in tiền của Mỹ chạy quá tốc độ! Khoảng một ngàn tỉ đô la đã được bơm vô nền kinh tế dưới nhiều chương trình khác nhau. Và có thể còn cần bơm thêm nữa. Trong lúc số sản xuất giảm đi vì kinh tế suy thoái, mà số tiền lưu hành lại tăng lên như vậy, hậu quả tự nhiên là giá cả phải tăng lên. Nếu giá cả tăng nhanh thì sẽ phải tăng lãi suất để đối phó.

Nhưng lòng trời vẫn còn thương, nên cho tới nay mức lạm phát ở Mỹ vẫn còn trong vòng kiểm soát được! Không cần phải tăng lãi suất hoặc giảm bớt số tiền lưu hành bằng những biện pháp khác. Cứ để yên giá đồng đô la thấp như vậy cũng chưa lo chi cả! Khi kinh tế đang xuống như bây giờ, cần giữ lãi suất thấp cho dân tiêu dùng nhiều hơn, đầu tư dễ dàng hơn. Nếu Ngân Hàng Trung Ương Mỹ bắt buộc phải tăng lãi suất để ngăn ngừa lạm phát, thì các chương trình kích thích kinh tế sẽ bớt hiệu quả, cơn suy thoái càng kéo dài hơn nữa. Cho nên trong khi chưa thấy lạm phát đe dọa thì nước Mỹ có thể cứ giữ lãi suất thấp và giá đô la xuống thấp như vậy.

Tất nhiên tình trạng này không thể kéo dài năm này qua năm khác. Vì nếu giá trị đồng đô la cứ xuống đều thì người ngoài sẽ lo ngại không muốn đem tiền đầu tư vào đô la Mỹ nữa. Ðổi lấy đô la, đem cho vay lãi 5% mà trong một năm đồng tiền xuống giá 5% thì coi như huề, không lãi được đồng nào cả! Cả thế giới đang cho vay, giúp chính phủ Mỹ có tiền kích thích kinh tế, cải tổ y tế, vân vân. Khi họ nghi ngại thì chỉ còn cách là phải in tiền.

Trong khi nước Mỹ có vẻ bình chân như vại cho đô la xuống giá như vậy thì các nền kinh tế lớn khác phải than phiền vì hàng xuất cảng của các nước khác sẽ khó cạnh tranh với Mỹ, hàng bán sang Mỹ bị tăng giá chỉ vì đô la xuống. Một chai rượu vang 10 Euro năm ngoái sang Mỹ bán ra giá 11 đô la, năm nay lên 14 đô la, sẽ bị chê là đắt hơn! Tất cả các nước khác đều có lý do để than phiền bị hàng Mỹ cạnh tranh, nhưng chưa hết. Các nguyên liệu bán tính bằng đô la đều lên giá vì đô la xuống! Dầu lửa đã bán rẻ trong năm ngoái vì nhu cầu nhiên liệu giảm bớt khi kinh tế thế giới suy yếu; năm nay giá dầu tăng lên trước hết vì đô la xuống giá, hiện đã ngấp nghé 80 đô la một thùng. Những nước nào mà đồng tiền tăng giá so với đô la Mỹ thì 80 đô la một thùng vẫn chịu được vì khi tính ra tiền nước họ vẫn chưa tăng bao nhiêu. Nhưng các nước mà tiền lại xuống nhanh hơn đồng đô la thì càng khổ hơn nữa.

Nhưng có một nước xuất cảng rất nhiều hàng và mua rất nhiều nguyên liệu, nhiên liệu nhưng không lớn tiếng than phiền, đó là Trung Quốc.

Bởi vì chính quyền Bắc Kinh vẫn chưa “thị trường hóa” hoàn toàn, họ vẫn kiểm soát ngoại tệ và ấn định một hối suất “nhân tạo” không căn cứ vào cung cầu trong thị trường. Họ muốn giữ giá đồng tiền của họ thấp, để khi bán hàng ra nước ngoài tính bằng đô la thì giá rẻ. Ngược lại, hàng của nước khác nhập vào Trung Quốc trả bằng đô la, tính ra tiền nước họ giá sẽ đắt hơn. Trước đây dăm năm, mỗi đô la Mỹ đổi được 8 đồng nhân dân tệ, gọi là “doản,” chữ Hán Việt đọc là nguyên.

Các nước, nhất là nước Mỹ đều than phiền chính sách đó, tố cáo Bắc Kinh làm vậy là để “trợ cấp” cho các nhà xuất cảng của họ; và “đánh thuế” thêm trên hàng nhập cảng. Nghe than phiền mãi, năm 2005 chính phủ Bắc Kinh đã cho phép đồng nguyên được tăng giá “linh động” hơn. Nhưng từ hơn một năm nay, khi số hàng xuất cảng của Trung Quốc bị giảm đi vì kinh tế thế giới suy yếu, Bắc Kinh quay ngược lại, kìm không cho đồng nguyên lên giá.

Vì vậy, dù đô la Mỹ lên hay xuống giá ở đâu cũng mặc, sang Trung Quốc giá vẫn như cũ. Ðầu năm 2009, một đô la Mỹ đổi được 80 xu Euro và 6.82 đồng nguyên. Ðến tháng này một đô la chỉ còn đổi được 67 xu Euro thôi, nhưng sang Tàu vẫn đổi được 6.82 đô la. Nếu thị trường hối đoái ở Trung Quốc được tự do thì mỗi đô la sẽ chỉ đổi được từ 5 nguyên rưỡi tới 6 nguyên thôi. Nhưng nếu đồng nguyên tăng giá như vậy thì Trung Quốc sẽ xuất cảng khó hơn, vì hầu hết các nước khác khi nhập cảng hàng của nhau đều trả bằng đô la Mỹ cả. Ngược lại, nếu tỷ giá không đổi thì khi giá Mỹ kim xuống lại giúp hàng Trung Quốc xuống giá theo!

Chính sách của cả hai nước sẽ không thể kéo dài mãi được. Trung Quốc không thể giữ giá đồng nguyên thấp một cách giả tạo, cũng như chính phủ Mỹ không thể chi tiêu quá trớn khiến ngân sách khiếm hụt. Hai nước đó đã gây nên tình trạng mất thăng bằng trong hệ thống tiền tệ thế giới. Kinh tế thế giới mất cân bằng vì dân Mỹ tiêu xài quá trớn, vay nợ ngập đầu, còn dân Trung Hoa thì thắt lưng buộc bụng, làm việc rất cực để bán rẻ cho Mỹ dùng. Mà khi bán hàng được đem tiền về thì chính phủ giữ làm dự trữ để đem cho chính phủ Mỹ vay! Nhờ thế mà lãi suất bên Mỹ thấp, dân Mỹ lại càng tiêu xài, sắm xe, mua nhà, nhất là xây cất nhà và mua nhà!

Tình trạng mất cân bằng này là một nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng tín dụng khiến hệ thống tài chánh quốc tế lung lay từ năm 2007 đến nay. Tiền Trung Quốc cho vay giúp cho lãi suất ở Mỹ thấp một cách giả tạo. Tiền nhiều quá, ngân hàng đem cho vay ẩu; đi vay dễ quá, dân Mỹ càng tiêu xài quá trớn; cơn sốt địa ốc lên cao, đến khi sập xuống thì cả hệ thống tài chánh, ngân hàng dính hết! Thế giới không thể để cho một tình trạng mất cân bằng như thế tiếp tục, chờ một vụ khủng hoảng khác xẩy ra thêm một lần nữa - trong 10 năm hay 15 năm sắp tới?

Nhưng hiện nay thì cả hai nước đều có lợi. Mỹ cần Trung Quốc tiếp tục mua công khố phiếu của chính phủ Mỹ, để lấy tiền chi tiêu cho việc kích thích kinh tế và trợ giúp các ngân hàng. Trung Quốc xuất cảng thu được thêm tiền thì lại cho chính phủ Mỹ vay, vì xét cho cùng không cho ai vay có vẻ chắc chắn bằng! Ngược lại, Trung Quốc thì vẫn phải sống nhờ xuất cảng, nếu hàng xuất cảng bán không được thì sẽ có thêm hàng trăm triệu công nhân mất việc!

Cho nên trong ngắn hạn dù đô la có xuống thêm 5% đến 10% nữa, cả Mỹ lần Trung Quốc vẫn chưa lo!

Ngô Nhân Dụng

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nguyễn Minh Triết:
"Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba ngủ"

Qúy vị có thể vào mạng youtube.com để có thể chính tai nghe được giọng nói của Chủ tịch nước CHXHCNVN, phát biểu một cách rất là bừa bãi khi viếng thăm nước Cu Ba vào ngày 28 tháng 9 năm 2009: "Có người ví von, Việt Nam Cu Ba, như là trời đất sinh ra, một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây, chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cu Ba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cu Ba nghỉ"...(tiếng vỗ tay vang dội đất trời)

Mời xem Utube: Lãnh tụ VC Nguyễn Minh Triết bập bẹ:



Chủ tịch Triết ơi, làm ơn chỉ cho qúy độc giả biết ai là người đã ví von: "Việt Nam Cu Ba, như là trời đất sinh ra, một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây" như thế này ??? Không biết ông có bị lãng trí, chứ có ai đâu khùng khùng mà ví von như thế, hay là chính ông đã ví von? Không biết ông có hiểu ông nói gì không? Việt Nam và Cu Ba, trời đất sinh ra, còn các quốc gia khác ai sinh ra vậy hả ông? Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây, là ở phía Đông của cái gì mới được, còn Tây thì Tây của cái gì mới được, ông nói khơi khơi kiểu đó người ta biết ông nói cái gì. Thí dụ như phía Đông của Việt Nam là Hoàng Sa, chẳng hạn.

Thiệt tình, khi nghe ông Triết nói: "Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới", chúng tôi mắc cỡ vô cùng. Việt Nam mất biển, mất đảo Hoàng Sa, Trường Sa, rồi mất luôn Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm vào tay của Tàu, Chủ tịch Triết có làm gì được không mà đòi gìn giữ hòa bình cho thế giới?

Vừa đây thôi, 17 ghe đánh cá của Việt Nam ta với 200 ngư dân vào trú bão tại Hoàng Sa, lúc trở ra bị đánh đập, cướp bóc rất dã man bởi tàu chiến và lính hải quân của Tàu, Chủ tịch Triết có làm gì được không mà đòi gìn giữ hòa bình cho thế giới?

Rồi còn anh chàng Cu Ba kia, dân đói nghèo thê thảm, nhớ hôm nào Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tặng cho 3000 tấn gạo. Cu Ba lo cái đói của dân mình còn không nổi, nói gì đến gìn giữ hòa bình cho thế giới. Thử hỏi, giữa phát ngôn bừa bãi và lộng ngôn, không biết Chủ tịch Triết muốn nhận cái nào ???

Nguyễn Phúc Bảo Ân

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cái nôi của Dân Chủ

Ngô Nhân Dụng
Có hơn 50,000 tiếng Hy Lạp đang được sử dụng trong các ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới! Tôi chưa bao giờ nghe nói điều đó cho tới khi tới Athena (đọc là A Ti Na), đọc một tờ quảng cáo nhắc nhở như vậy. Một người Việt Nam tò mò sẽ tự hỏi không biết trong tiếng nước mình có những chữ nào là gốc Hy Lạp?

Nghĩ mãi thì thấy có. Bây giờ người Việt nói chuyện với nhau có thể nói nhanh, “Tôi sẽ phô tô bài báo này cho mỗi anh một bản,” hoặc, “Em sẽ gọi phôn cho anh ngay” (thường là em hứa rồi không gọi). Chúng ta không để ý rằng những tiếng “phôn” và “phô tô” tìm về gốc tích thì tổ tiên đều là tiếng Hy Lạp ra cả. Những đơn vị đo lường mình bắt chước tiếng Pháp, sinh ra nhưng tiếng Việt như “một ký, hai ký” cũng đều gốc Hy Lạp nữa. Giáo Sư Nguyễn Phước, tác giả “Tiếng Việt gốc ngoại quốc” chắc sẽ cho chúng ta biết thêm nhiều tiếng khác. Một trong những tiếng Việt gốc Hy Lạp được viết trong báo chí rất sớm, từ thời Tự Lực Văn Ðoàn, là chữ “lô gích.” Cụ Phan Khôi, người Quảng Nam, từng bị “chụp mũ” là “ông lô gích!”

Tiếng Việt, tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của chữ Hán như thế nào thì các nước Âu Châu chịu ảnh hưởng của chữ Hy Lạp và chữ La tinh như vậy; rồi từ Âu Châu chúng di tản và sang Á Châu, Phi Châu mà truyền giống. Những tiếng chúng ta quen dùng như Nguyên Tử lực, Dân Chủ, Ô lanh píc hoặc Ô lem píc, Biện Chứng, chạy ma ra tông, Cơ Thể Học, vân vân, đều gốc gác từ những tiếng được người Hy Lạp dùng hơn hai ngàn năm trước. Nếu xóa bỏ hết những chữ gốc Hy Lạp trong ngôn ngữ của loài người, bỏ mất cả những khái niệm do những tiếng đó bao hàm, thì nền văn minh của nhân loại sẽ khác hẳn. Có thể sẽ biến mất, không còn văn minh như chúng ta vẫn hiểu nữa. Và những cầu chuyện chúng ta trao đổi với nhau sẽ bị đẩy công một tầng thấp hơn nhiều!

Các tờ quảng cáo du lịch còn giới thiệu thành phố A Ti Na là nơi phát sinh ra thể chế chính trị Dân Chủ (tôi phiên âm tên A Ti Na theo lối nói tên của dân địa phương; chữ “tê-ta” trong tiếng Hy Lạp đọc giữa phụ âm T và S trong tiếng Việt. Người Tây hay viết chữ tê ta thành TH, cho nên tiếng Anh viết là tên thành phố này là Athens, Athenes trong tiếng Pháp). Người Hy Lạp gọi cách tổ chức việc cai trị đó là “chế độ Ðê Mô,” sau biến thành Demokratia, Democracy, Democratie, vân vân, trong tiếng các nước khác Người Việt cũng như người Tầu, người Nhật Bản gọi đó là chế độ này là Dân Chủ, ý nói người dân làm chủ trong việc cai trị. Phải chi khi bắt đầu dịch khái niệm này sang tiếng Việt mà các cụ tổ mình được nghe trực tiếp chứ không học qua sách chữ Hán, thì chắc người mình đã phiên âm Demokratia thành một chữ trong đó có chữ gốc “Ðê Mô,” tiếng Hy Lạp.

A Ti Na đúng là cái nôi của chế độ dân chủ ở Tây phương. Những người Hy Lạp đã sống với các thủ tục dân chủ từ thời Pericles trước đây 2500 năm, nếu họ trở lại sống ngày hôm nay, thì họ sẽ ngạc nhiên. Họ sẽ thấy lề lối xếp đặt xã hội mà chúng ta gọi là tự do dân chủ bây giờ rất xa lạ đối với họ, nếu không nói là “phản động.” Phản động, bởi vì những chế độ tự do dân chủ bây giờ cho phép đủ mọi người góp ý kiến vào việc trị quốc, một điều mà dân A Ti Na không thể chấp nhận được! Ở A Ti Na, đó là quyền của một thiểu số. Và ngay trong nhóm thiểu số đó, ai nói những ý kiến “không chính thống” có thể bị tòa án cho đi tù mút mùa! Chính vì chế độ gọi là “dân chủ” đó không có tự do, không bình đẳng, nên tòa án ở thành phố này đã đã xử tử hình nhà hiền triết Sô Crát, chỉ vì tội “bất đồng ý kiến!” Hoặc gọi là “chống lại chính quyền của nhân dân” cũng được!

Tại A Ti Na từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, tất cả mọi người dân thành phố đều được quyền quyết định việc cử người nắm quyền, quyết định những việc quan trọng như thờ cúng các vị thần, tuyên chiến với các thành phố khác, vân vân. Nhưng số người được tự do tham gia phát biểu ở nghị trường phải là đàn ông! Và con số đó chỉ bằng một 15% đến 25% số đàn ông trong thành phố mà thôi. Dân Hy Lạp ở các nơi khác đến đó sống không được dự. Tất nhiên những người ngoại chủng, các nô lệ mua từ đâu đó về hoặc bị bắt về, đều không được dự. Ngày nay mà một quốc gia nào đặt ra thủ tục quyết định việc chung việc nước như vậy chắc chắn sẽ bị coi là “phản động.”

Chỉ vì những chữ Dân Chủ viết trong hầu hết các ngôn ngữ đều dùng hai tiếng Ðê Mô (demos), nghĩa là dân chúng trong tiếng Hy Lạp; cho nên mọi người vẫn coi như dân Hy Lạp ở A Ti Na là những người sáng chế ra cách sống dân chủ. Triết gia Platon đặt tên cuốn sách ông viết về phương pháp cai trị là Cộng Hòa (Repubic) cho nên người ta càng thấy trao “giải thưởng dân chủ sớm nhất thế giới” cho người Hy Lạp là hợp lý. Nhưng các sử gia đã chỉnh lại thành kiến đó, khi khám phá ra là từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, trước khi Ðức Phật Thích Ca ra đời, ở lục địa Ấn Ðộ đã có một nơi sống theo các thủ tục dân chủ, là nước Vaishali. Chế độ ở đó, Maha Janapadas, có thể gọi là Cộng Hòa theo lối nói ngày nay, trong đó một nhóm người có quyền quyết định mọi việc chung, không ai chiếm độc quyền cả. Có lẽ dưới ảnh hưởng của lối sống đó mà thời Ðức Phật còn sống, những người theo học ngài đã sống chung với những thủ tục dân chủ, ngày nay còn nhiều tăng đoàn vẫn áp dụng. Thời Ðại Ðế Alexander chinh phục sang vùng các nước Ba Tư, Ấn Ðộ bây giờ, vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, các học giả tháp tùng đoàn quân của ông cho biết họ thấy dân hai nước Sabarcae và Sambastai (bây giờ là vùng đất nằm giữa hai nước Afghanistan và Pakistan), cũng dùng những tập tục cai trị lẫn nhau theo lối dân chủ chứ không theo vương quyền thế tập.

Nhưng Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là nơi phát sinh các thủ tục dân chủ, vì nhiều lý do. Thứ nhất, nhiều người đã nói, đã thảo luận về các thủ tục quyết định tập thể họ sử dụng, nhất là họ biện luận cho các thủ tụ đó với các nguyên tắc căn bản mà ngày nay vẫn còn thấy giá trị. Họ viết ra các quy tắc căn bản đó, truyền đến bây giờ. Ngược lại, chúng ta không còn giữ được bài viết hay cuốn sách nào của những người dân ở Vaishali hoặc Sambastai. Các quy tắc sống chung của tăng đoàn thời Ðức Phật thì được giữ lại nhưng chỉ để áp dụng trong tập thể của những người tu hành đó thôi. Không thấy đệ tử nào của Ðức Phật cổ động cho cả xã hội chung quanh cũng “phải sống theo các quy tắc tự do dân chủ” như trong tăng đoàn. Có thể nhiều người cũng có những tư tưởng cách mạng đó nhưng họ bị chính quyền đương thời bắt giữ hết.

Các tư tưởng “cách mạng” của họ cũng chết theo họ trong những trại “học tập cải tạo” của các vua chúa. Cho nên, người Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là những người đặt nền móng cho lối sống dân chủ.

Chúng ta biết là những thủ tục sống dân chủ đầu tiên ở A Ti Na còn thiếu sót, nhất là thiếu quan niệm về tự do, về bình đẳng cho tất cả mọi con người, không phân biệt nam nữ và không theo chủ nghĩa “lý lịch.” Những quy tắc còn thiếu đó, bây giờ gọi là những quyền làm người, hay nhân quyền. Ngày nay, một quốc gia tự gọi là dân chủ mà thiếu tự do, không bìnhh đẳng, không tôn trọng các quyền làm người thì vẫn bị coi là chưa thật sự dân chủ.

Mặc dù còn thiếu nhiều quy tắc quan trọng đó, các triết gia Hy Lạp đã đặt nền tảng cho chế độ tự do dân chủ đời sau với nhiều nguyên tắc lớn. Thí dụ, người Hy Lạp đã đề cao khái niệm thượng tôn pháp luật, giống như người Á Ðông nói “Pháp bất vị thân,” pháp luật không phân biệt người thân hay người ngoài. Aristotle viết: “Tất cả mọi con người đều có tình cảm, nhưng luật pháp thì không.” Ðây là một quy tắc quan trọng,vì luật pháp là một bảo đảm cho con người được sống tự do.

Người ta cảm thấy tự do vì tất cả mọi người đều ở dưới một pháp luật chung, như nhau. Mỗi người có thể đoán trước khi tính làm một việc nào thì hành động của mình sẽ được luật pháp xét xử một các công bình. Chẳng hạn, ai lái xe vượt đèn đỏ đều có thể bị phạt như nhau, dù xe mang bảng số công an hay không. Ai ăn hối lộ cũng bị xử theo những điều luật giống nhau. Biết như vậy, mọi người cảm thấy cuộc sống an toàn trong pháp luật. Vì ai cũng được luật pháp bảo vệ, không lo ông quan tòa xét xử thiên vị, tùy hứng, hoặc xử theo chỉ thị của vua quan. Chúng ta gọi đó là sự an toàn về pháp lý.

Từ đó chúng ta mới thấy một vai trò lớn của pháp luật, là luật pháp ấn định những giới hạn trên quyền tự do của mọi người, đặc biệt là giới hạn quyền hành của những người cai trị. Khi những người cầm quyền nói họ sẽ cai trị bằng pháp luật, chúng ta biết là quyền hạn của chính họ bắt đầu bị giới hạn. Một căn bản của chế độ tự do dân chủ là giới hạn quyền hành của nhà nước. Ðó là điều bảo đảm tính chất bình đẳng trong cuộc sống. Sử gia Herodotus người Hy Lạp gọi quyền bình đẳng trước pháp luật là “isonomia,” tức là mọi người được đối xử như nhau. Do đó, ai cũng cảm thấy có tự do, không lo bị đàn áp bất công. Trong vòng bảo vệ của pháp luật, mọi người tha hồ mưu cầu hạnh phúc, không bị ai ép buộc mà cũng không ai cấm đoán được.

Từ những nền tảng đó, loài người đã xây dựng nên những quy tắc sống chung khác, mà bây giờ chúng ta gọi là chế độ dân chủ tự do. Cho nên, rút cuộc chúng ta vẫn phải cảm ơn các hiền triết Hy Lạp trước đây hơn 2000 năm đã đặt ra những nền móng từ đó loài người dựng lên các chế độ dân chủ bây giờ!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Quyền phát biểu tại Agora

Ngô Nhân Dụng
Cầm một tờ báo IHT tiếng Anh khi đặt chân tới A Ti Na (Athens), tình cờ thấy trên trang nhất giới thiệu một bài viết về Việt Nam với câu hỏi: Golf hay Gạo? Bài của Seth Mydans tường trình từ Phan Thiết trên trang hai mở đầu: “Ðó là một công trình có tính chất tư bản nhất trong nước Cộng Sản Việt Nam - do người giầu làm và cho người giầu hưởng. Ðó là những sân cù (golf) mọc lên khiến hàng chục ngàn nông dân phải di tản và nuốt mất hàng triệu mẫu ruộng lúa trong một xứ sở rất cần thóc gạo.”

Viết cho báo ngoại quốc, Seth Mydans có thể đùa với hai chữ Tư Bản và Cộng Sản. Nếu một nhà báo ở Việt Nam mà viết câu đó chắc sẽ bị truy tố về tội tiết lộ bí mật làm nguy hại an ninh quốc gia. Hoặc nặng hơn nữa, tội phát tán tài liệu với âm mưu lật đổ chính quyền của nhân dân!

Việt Nam là thiên đường của những người chơi golf. Seth Mydans đoán Việt Nam sẽ đuổi kịp Nam Hàn về số sân cù nếu những dự án được thực hiện đầy đủ. Ký giả nhắc lại hồi 1975 cả nước chỉ có 2 sân cù, golf (ở Sài Gòn và Ðà Lạt), bốn năm qua đã nhẩy vọt lên 13 sân. Trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh ngưng vào giữa năm ngoái, trung bình cứ mỗi tuần lại có một giấy phép làm sân cù được chấp nhận. Trong một nước có 50, 60 triệu nông dân, và chỉ có 5,000 người đánh cù, có 140 dự án lập sân cù đang chờ khởi công - bốn tháng trước 50 dự án được lệnh ngưng mặc dù đã có giấy phép. Mydans biết dân Việt Nam sống bằng cơm gạo và món hàng xuất cảng thâu nhiều ngoại tệ là lúa gạo. Theo tài liệu của Bộ Nông Nghiệp thì có từ 4 triệu mốt đến 4 triệu rưỡi héc ta đất đã biến mất vì được sử dụng cho nhu cầu công nghiệp hóa, và mất thêm để biến thành sân chơi cù.

Ông Lê Anh Tuấn, nhà nghiên cứu về môi trường sống thuộc Ðại Học Cần Thơ, còn nêu lên vấn đề sân cù sử dụng quá nhiều nước cho các nhà tư bản giải trí trong lúc cả nước thiếu nước dùng. Ông cho một thí dụ: một sân cù 18 lỗ cần 5 ngàn mét khối nước để tưới cỏ mỗi ngày, đó là số nước đủ dùng cho 20 ngàn gia đình Việt Nam. Ông Lê Tuấn Kiệt, quản lý sân cù Mũi Né, than phải luôn luôn đấu tranh với thị xã để có đủ nước tưới cỏ. Một sân cù cùng khu giải trí và cư trú Sea Links lập trên vùng đất cát rộng 170 mẫu Tây phải dẫn nước từ cách xa 3 cây số, theo lời ông Trần Quang Trung, một vị giám đốc. Mỗi gốc cây đều có vòi nước tưới nhỉ ra liên tục và cứ 15 phút thì máy tự động lại nước phun khắp sân cỏ. Có hơn 300 ngôi nhà xếp hàng như một đội quân chung quanh sân cù, mà trước khi xây cất song nhiều nhà đã được bán rồi. Một khách sạn 5 sao đang hoàn tất. Khu chung cư có 6 cao ốc với 550 đơn vị gia cư sắp được dựng trên khu đất đỏ, đặt tên là Sea Links City.

Ký giả nhận xét: Khi các người giầu có chơi, các nhà nông và dân làng phải trả tiền. Giá tiêu biểu trả cho một nông dân ở Vĩnh Phúc là 2 đến 3 đô la Mỹ cho một mét vuông, theo thông tấn xã nhà nước thì số tiền đó chỉ bằng giá một bao gạo!

Tại sao 5,000 người chơi golf ở Việt Nam cần đến nhiều sân cù như vậy? Vì lập sân cù chỉ là một mưu mẹo để trốn thuế, bí quyết của các nhà tư bản chân chính! Thuế đánh trên đất làm sân cù thấp hơn thuế đánh trên các dự án xây dựng khác. Làm sân cù chỉ là một cách đánh lận con đen để được bớt thuế.

Theo ông Tôn Gia Huyên, thuộc Hội Khoa Học về Ðất Ðai nói trong một cuộc hội thảo vào Tháng Năm vừa qua thì nơi trồng cỏ để chơi cù chỉ chiếm dưới 2 phần 3 đất đai trong mỗi dự án, phần đất còn lại 35% được dùng để xây cất nhà cửa, khách sạn, khu giải trí. Theo ông Nguyễn Ðức Tuyên, thuộc Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học, thì một sân cù lập ra sẽ khiến 3,000 nông dân mất ruộng cày, một sân cù ra đời có thể làm biến mất cả một cộng đồng nông dân. Trong một cuộc hội thảo gần đây, ông nói việc phát triển một sân cù có thể khiến 10,000 người mất kế sinh nhai; mà chỉ có một số rất nhỏ sẽ tìm được việc làm phục vụ cho những người có tiền đến đó giải trí. Thí dụ nêu lên trong báo chí nhà nước cho biết một sân cù ở tỉnh Vĩnh Phúc chiếm ruộng đất của hàng ngàn nông dân và sau đó chỉ cung cấp việc làm cho 30 người.

Những dữ kiện do các nhà nghiên cứu trên đưa ra được công bố trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng ký nghị định bắt buộc các công trình khoa học phải trình lên các cơ quan nhà nước trước, có phép rồi mới được cho đồng nghiệp và công chúng biết! Quyết định trên đã bị các nhà khoa học trong nước phản đối nhưng những người cầm quyền từ chối không nghe. Ban lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Phát Triển “kiến nghị” mãi không ai nghe đã phải tuyên bố tự giải tán để tỏ thái độ, và họ bị dọa “sẽ có biện pháp đối trị!”

Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, kinh tế và môi trường sống sẽ không có quyền tự do thông báo cho nhau biết hậu quả của phong trào làm sân cù trên đời sống nông dân và trên môi trường sống. Có rất nhiều câu hỏi phải nêu ra:

Trong công cuộc phát triển kinh tế quốc dân, sử dụng làm sân cù có lợi cho ai và gây thiệt hại cho bao nhiêu người? Ðem nước tưới sân cù lợi ích hơn hay là cung cấp nước cho dân dùng ích lợi hơn? Thuế đánh trên việc sử dụng đất đai cần phải thay đổi như thế nào để việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất? Trong một quốc gia mà khoảng cách biệt giầu nghèo càng ngày càng rộng, có nên phô bầy thêm cảnh sống chênh lệch giữa người giầu và người nghèo hay không? Người dân Việt Nam bình thường sẽ không được nghe những câu hỏi đó, cũng khó có dịp được nghe những câu trả lời. Vì nhà nước Cộng Sản muốn bịt mắt, bịt miệng, bịt tai cả nước!

Nghĩ đến những vấn đề đó khi đang đi thăm thành phố A Ti Na, thấy mà tủi thân cho cả dân tộc Việt Nam. Ở thủ đô xứ Hy Lạp này còn di tích những quảng trường thời thượng cổ, gọi là Agora. Mỗi thành thị tự trị của Hy Lạp từ 800 năm trước Công nguyên đều thiết lập những Agora như vậy. Ðó là nơi công dân trong thành phố có quyền tới hội họp và phát biểu ý kiến. Agora tại A Ti Na có lúc chứa được 50,000 người dân đến họp! Như đã trình bày trong bài trước, chế độ dân chủ ở A Ti Na không hoàn hảo. Chỉ những người đàn ông trên 20 tuổi, thuộc những gia đình là “cư dân chính thức” mới có quyền đến họp trong các nghị hội đó. Phụ nữ, người ngoài và các nô lệ không có quyền. Nhưng tại các cuộc tập họp định kỳ này, mọi công dân có quyền và có bổn phận phải nói, phải tham gia ý kiến, và biểu quyết về các đạo luật, các quyết định về thuế khóa, về chiến tranh và hòa bình, vân vân. Người Hy Lạp gọi những cuộc tập họp đó là Assembly, tiếng này được truyền lại trong rất nhiều ngôn ngữ ngày nay. Assembly, Nghị hội, là tiêu biểu của thể chế dân chủ. Tại các Agora, bất cứ công dân nào cũng có quyền phát biểu. Những người cầm quyền bị bắt buộc phải lắng nghe ý kiến của họ. Nếu không, dân có quyền bỏ phiếu truất phế.

Lúc đầu chỉ có những cư dân có tài sản trong thành phố mới được tham dự các nghị hội này, mà tài sản chính yếu thời đó là đất đai. Họ nắm quyền quyết định “việc công” thay thế cho các ông vua. Tất nhiên, trong những thế kỷ đầu, các cư dân giầu có nắm quyền trong tay vì họ có thể mua chuộc những người khác. Nhưng nhờ quy tắc sống dân chủ nên xã hội Hy Lạp thay đổi. A Ti Na là nơi diễn ra cuộc chuyển hóa mạnh nhất trong mấy thế kỷ vì ở đây không khí cởi mở khi giao tiếp với dân từ nơi khác đến đã giúp cho các ý kiến mới được phát triển. Chính tại đây, những cư dân nghèo nhất cũng được phát biểu ý kiến. Họ dần dần ý thức được quyền tự do phát biểu, quyền tự do đầu phiếu là thứ vũ khí có thể dùng để thay đổi xã hội. Cho nên thế lực của người giầu dần dần bị giảm đi. Một nhà cai trị nổi danh là Solon đã chiều theo ý đa số dân thay đổi các luật lệ cho công bằng hơn. Năm 594 trước Công Nguyên đánh dấu sự chuyển mình của A Ti Na, khi các cư dân tầm thường nhất sử dụng quyền bỏ phiếu của họ để thay đổi luật pháp và bầu lên người cai trị họ. Ðó là lần đầu tiên người Hy Lạp đặt ra một từ mới, ghép hai chữ Demos (Dân) và Kratas, luật lệ cai trị, để lại cho loài người chữ DemoKratie mà người Việt gọi là Dân Chủ!

Chế độ Dân Chủ phát triển từ từ và cũng có khi bị lạm dụng, khi có những người giàu có mua phiếu của người nghèo để gia tăng quyền hành cho họ. Một nhà độc tài, Pisistratus nhờ mua phiếu nên được nắm quyền vào năm 560 trước Công Nguyên, nhưng sau đó ông ta trả ơn các cư dân nghèo bằng những đạo luật tái phân tài sản. Năm 508, Cleisthenes làm luật cho những người không có tài sản cũng được tham dự vào một hội đồng 500 người, với quyền bỏ phiếu các đạo luật. Những người trong hội đồng này được chọn bằng cách bốc thăm, thế là hết chuyện mua phiếu, một cuộc cách mạng nhờ sử dụng các quy tắc dân chủ sơ đẳng! Nền Dân Chủ ở A Ti Na lên mức cao nhất và có hiệu quả nhất trong thời đại Pericles nắm quyền, từ 461 đến 429 trước Công Nguyên.

Dưới chế độ Dân Chủ, nền giáo dục cũng được cải thiện, trí thông minh và óc sáng tạo của người dân được khuyến khích phát triển. Thành phố A Ti Na vượt xa các thành thị Hy Lạp khác trong các lãnh vực văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, khoa học, triết học, ngày nay các di sản từ thời đó còn truyền lại trong văn minh nhân loại bây giờ. Trong lịch sử đây là một thí dụ hùng hồn nhất của những ích lợi mà chế độ dân chủ mang lại.

Nếu các nhà khoa học trong Viện Nghiên Cứu Phát Triển Việt Nam được sống ở một thành thị Hy Lạp vào 500 năm trước Công Nguyên, chắc họ đã không phải tự giải tán! Ở A Ti Na trước đây 2,500 năm chắc chắn không có cảnh nông dân bị cướp đất để làm sân cù cho các nhà tư bản đỏ có quyền tự do vừa làm giầu vừa ăn chơi thỏa thích! Nếu các đại biểu Quốc Hội Việt Nam cũng được tự do nói như người dân Hy Lạp trong các Agora, chắc họ đã phản đối quyết định 97 của ông Nguyễn Tấn Dũng và biểu quyết sửa luật thuế khóa để không cho giới tư bản đua nhau làm sân cù trục lợi trong khi nông dân mất ruộng!

Nghĩ như vậy, làm sao không cảm thấy tủi thân cho dân tộc Việt Nam được?

Post Reply