Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

CHIẾC LÁ VÀNG
Đỗ Dung

Chiều ba mươi tết, bầu trời thấp, mây xám vần vũ chỉ đợi trút cơn mưa. Bước vào Nursing Home, tôi nhìn ông cụ đang ngồi im lặng như một pho tượng trước màn ảnh TV nhỏ mà lòng thấy nghẹn ngào. Như mọi năm giờ này ông cụ đã sửa soạn nhà cửa xong xuôi để đón tổ tiên và sẵn sàng những phong bao đỏ để đợi con cháu. Đối với Bố tôi, ngày tết là ngày thiêng liêng, đêm giao thừa là lúc giao mùa, tống cựu nghinh tân. Nhà cửa phải sạch sẽ, tươm tất; cành mai, cành đào, chậu quất, chậu cúc ... đầy nhà; trên bàn thờ đèn nhang thơm ngát, mâm ngũ quả tốt tươi, đỉnh đồng, chân nến sáng choang ... Thế mà hôm nay ông cụ cô đơn ngồi đây, trước màn ảnh TV, nhìn vào cõi xa vắng.


Tôi lặng lẽ đến gần, ôm ông cụ mà nuốt nước mắt.
- Bố, Bố có khoẻ không? Bố biết con là ai không?


Ông cụ ngước mắt nhìn rồi mấp máy môi:
- Dung!


Mái tóc trắng như tuyết, khuôn mặt già nua mặc dù làn da vẫn hồng hào, trắng mịn. Tôi ngồi xuống bên, cầm tay Bố, nhắc chuyện ngày xưa.
- Bố có nhớ ... ? Bố có nhớ ...???
............ ......... ......... ......... ......... ......... ......... ......... ......... .......


Các bạn của Bố tôi thường gọi đùa Bố tôi là Ông Tam Tá vì Bố tôi là Trung Tá, tên Tá và có một Tá con. Không những có một tá con mà còn đặc biệt là có chín nàng con gái. Người ta thường nói có con gái trong nhà như chứa bom nổ chậm, ấy thế mà Bố Mẹ tôi có tới chín quả bom.


Bố Mẹ tôi lập gia đình năm cả hai đều mới 18. Để rồi năm sau đó anh em chúng tôi lần lượt ra đời, cứ đứa trên hơn đứa dưới hai tuổi. Người ta dễ nhận ra nhà chị em đông qua tên đặt, chẳng hạn như chị em Vân Loan, Vân Nga, Vân Bằng, chị em Phương Lan, Phương Nga, Phương Trà ... hoặc qua dáng người như chị em Lệ Hằng, Mộng Thúy, chị em Lệ Hà, Lan Trân ... Chị em chúng tôi chẳng đứa nào giống đứa nào, đứa cao, đứa thấp, đứa trắng, đứa đen ... vì đứa giống Bố, đứa giống Mẹ, có đứa lại giống bà nội, bà ngoại. Thậm chí có hai đứa cùng giống Bố mà trông cũng chả giống nhau vì mỗi đứa chọn những nét riêng của Bố. Tên thì cũng chẳng vào bộ nào. Đầu lòng là ông anh cả Dũng, dây đầu ba nàng Đỗ Dung, Minh Thuận, Vân Hạnh. Sau chú Tuấn là ngũ long công chúa, Phương Nam, Quỳnh Mai, Anh Thư,Tuyết Minh, Thiên Hương. Tiếp đến là chú Minh Duy, chấm dứt bằng cô út Đoan Thuỳ. Bà nội tôi nói mẹ chúng mày thật khôn, có một tràng pháo lẹt tẹt, lâu lâu lại điểm một quả pháo đùng!


Ông cụ là nhà binh nên nhà cũng theo trật tự kiểu nhà binh. Nhà có bốn tầng thì tầng nhì dành riêng một phòng dài, rộng, một dãy giường và một dãy bàn học kê liền nhau. Chúng tôi gọi đó là "Trại nữ binh". Riêng tôi, con gái lớn nhất được một phòng riêng trên sân thượng, trông ra mảnh vườn con.


Nhà con đàn, lo cái ăn, cái mặc cũng đủ mệt. Mẹ tôi thường đi chợ Cầu Ông Lãnh mua rau trái để vừa rẻ, vừa tươi. Mía mua cả bó, ốc mua cả thùng, nghêu mua cả bao, trái cây thì mua nguyên cần sé! Riêng cô con gái lớn học Dược đến mùa thi lúc nào cũng có một chục cam sành dưới gầm giường. Bố Mẹ tôi quan niệm nhà con đông như một chiếc xe lửa có nhiều toa, nếu toa đầu mà ngay ngắn thì cả một đoàn xe dài sẽ hùng dũng tiến lên. Ông anh cả đi Pháp ngay sau khi xong tú tài, ỏ nhà còn tôi lớn nhất, lại là con gái nên lãnh nhiệm vụ cái đầu tàu.


Bố Mẹ tôi cùng tuổi Dần còn chúng tôi là một bầy gia súc. Tôi sinh năm Hợi, theo lẽ thường thì khắc với tuổi Dần, nhưng ngược lại tôi là con được cưng. Bố tôi thường hay đùa rằng tôi là Lợn rừng. Lợn rừng nên mới nhờn với Hổ.


Mẹ dạy con theo kiểu của Mẹ. Tôi nhớ ngày đầu tiên khi thấy những vệt hồng trên chiếc quần trắng, tôi cuống quýt chạy đi tìm Mẹ. Sau khi chỉ dẫn cách thức chuẩn bị cho con gái thì ngay buổi tối hôm đó Mẹ đã chui vào giường con thủ thỉ: " Con lớn rồi, con biết không? Từ nay không được ngồi gần con trai, không được để đàn ông nắm tay, đi đường có đứa con trai nào theo không được trả lời, lúc nào cũng phải nhìn thẳng ... v.v ... v.v " Ôi thôi Mẹ dạy đủ thứ làm con bé mười ba tuổi hoảng hồn, lên xe buýt hay xe lam cũng ké né, không dám ngồi cạnh người khác phái.


Bố dạy theo kiểu của Bố. Con gái phải như con dao pha, làm cái gì cũng được, hoàn cảnh nào cũng sống được ... Điều quan trọng nhất của Bố là các con phải tốt nghiệp đại học, phải tự lập về tài chánh dù sau khi lập gia đình.


Đến tuổi dậy thì cả Bố lẫn Mẹ đều chăm chút cho cô gái lớn, mặc dù ba chị em sàn sàn bằng nhau và đều cùng học Trưng Vương. Các em mặc áo dài “tetoron” thì được nhưng chị phải áo lụa toàn tơ. Các em phải ở trong " Trại nữ binh" còn chị được ở riêng một phòng. Bố còn đích thân dắt con lên Vụ Bản để sắm cho con nguyên bộ giường, tủ, bàn phấn màu hồng nhạt. Dù được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi như thế nhưng tôi bị kỷ luật nghiêm khắc và bị cấm đoán nhiều thứ. Cấm không được mặc áo đầm, cấm không được đi nhẩy, cấm không được có bạn trai khi chưa xong trung học ... Khi đậu xong tú tài tôi muốn lên Đà Lạt học vì tôi yêu thành phố sương mù, yêu những đồi cỏ xanh mướt, những vườn hoa tươi thắm, những rặng thông già với tiếng reo vi vu. Tôi muốn thả hồn với mây, với gió, sống hoà ngợp với thiên nhiên. Bố phản đối ngay, nhất định không cho phép, mặc dù tôi bằng lòng ở nhà bác, chị của Mẹ. Tôi làm reo, ghi tên hầu hết các phân khoa nhưng lang bang không theo học trường nào mà nộp đơn xin đi làm sở Mỹ. Ngày có giấy gọi tôi đi khám sức khoẻ để đi làm, Bố tôi xé toẹt, mắng cho một trận nên thân rồi nắm cổ gửi vào lớp của bác T. T. Tuệ để luyện thi vào trường Dược. Ngày tôi thi đỗ Bố sắm cho tôi từng cái ống nghiệm, từng cái “becher”.


Hai Bố con tôi rất thân nhau vì con hay thủ thỉ với Bố, Bố cũng hay tâm sự với con. Bố đến đón con ở trường thì vào tận giảng đường tìm, khi thấy mặt con bố giơ chùm chìa khoá lên lắc lắc ra hiệu rồi xuống xe ngồi đợi.


Hồi trẻ Bố tôi đẹp trai, nhanh nhẹn, nói năng rất có duyên vì thế nên có nhiều cô ngưỡng mộ. Những buổi chiều hè Bố đưa tôi lên làng đại học Thủ Đức để dạy lái xe, tôi khượi khượi thế là Bố kể hết chuyện của Bố. Tương kế, tựu kế vì biết người biết ta trăm trận trăm thắng (!) . Tôi cứ khươi chuyện và làm như về phe với Bố, Bố đưa tôi đến gặp người ta. Rồi ba chị em bàn nhau đi dẹp giặc giúp Mẹ. Bố nói với chúng tôi:" Bố như kẻ lữ hành đi trên đường thiên lý, thấy bóng mát thì ngừng chân, nhưng Mẹ và các con vẫn là nơi nghỉ ngơi chính thức cuối cùng ". "Bố ngụy biện, Bố không được ngừng nghỉ ở đâu hết, phải đi thẳng về nhà ". Chúng tôi đã trả lời thế. Công nhận là Bố tôi rất thương vợ và các con, không hề xao lãng bổn phận với gia đình.


Mặc dù hãnh diện vì có ông Bố hào hoa nhưng tôi sợ. Tôi sợ những người nổi bật trong đám đông, những kẻ dễ quyến rũ người khác phái. Tôi đổi quan niệm về thần tượng. Thần tượng của tôi sẽ là người trung bình về mọi phương diện và điều quan trọng nhất là tấm lòng chung thủy. Thủy chung thì dù có gặp sức quyến rũ đến đâu chăng nữa cũng chẳng thể ngã lòng.


Hai cô em tôi đã chọn được ý trung nhân còn tôi cứ mãi lãng đãng. Mỗi lần đi phù dâu bạn hay các bà chị họ về lại có người nhờ mối mai, các bạn bè cũng cứ muốn - Mày làm chị của tao -... Mẹ sốt ruột thúc giục - Con còn muốn gì ? Như thế mà chưa chịu? Con còn muốn gì đây? - ... Để rồi sau sinh nhật 24 tôi quyết bỏ những mơ màng, lãng đãng, lông bông và tôi đã gặp chàng, người tôi se tơ, kết tóc.


Tối hôm trước ngày đám cưới, Mẹ dặn đủ điều. Mẹ dạy con chữ Nhẫn, mẹ muốn con nhớ chữ Nhịn vì đối với mẹ đàn bà Nhẫn Nhịn bao giờ cũng thắng ở trận cuối cùng. Bố khóc, Bố là người đa sầu, đa cảm và mau nước mắt hơn Mẹ. Bố thương con, Bố nhớ con và Bố buông câu nói sau cùng: " Tử tế thì ở mà không tử tế thì về với Bố!" Đám cưới là ngày vui mà bố con sụt sùi, chị em bịn rịn. Mẹ cũng thương con nhưng chắc Mẹ thở phào vì đầu đi đuôi lọt, con chị nó đi cho con dì nó lớn, Mẹ còn phải lo tiếp cho tám nàng con gái nữa.


Tôi lập gia đình xong. Biết là cái đầu tàu đã ngay ngắn, Bố Mẹ tôi dễ dãi hơn với các con còn lại. Vân Hạnh muốn đi Đà Lạt học Bố cho phép liền. Tiếp đến Thuận đi lấy chồng. Nghĩ lại tôi thấy cũng thật bất công cho các em tôi vì khi tôi thi trung học và tú tài, chỉ đậu bình thứ mà bố mẹ rất là hãnh diện, dắt cả nhà đi ăn cơm tây để khao, còn các em tôi đậu ưu, đậu bình thì Bố nói con của Bố đương nhiên phải học giỏi! Mỗi lần tôi đi thi Bố sửa soạn cho từ cái quần, cái áo, tự tay Bố là ủi phẳng phiu, bảo Vân Hạnh đưa chị đi và trước khi đi Bố ra cổng đứng đợi sẵn để chắc chắn con không ra ngõ gặp gái.


Ngày tôi sanh con bé đầu lòng, cả nhà đứng đợi trước phòng sanh. Sau khi con bé chào đời bà ngoại bồng cháu đi trước, các dì, các cậu theo sau như một đám rước. Sáng sớm hôm sau Bố vào thăm đem một chai rượu sâm banh để Bố cùng con gái uống mừng cháu ngoại đầu tiên. Kỷ niệm với Bố tôi còn nhiều. Bố tiếp tục lo lắng, săn sóc cho những đứa con của Bố. Sau khi ba đứa lớn yên bề thì Phương Nam lại là đầu tàu của dây sau. Bố lại o bế, chiều chuộng con búp bê Nhật Bổn của Bố. Lịch sử tái diễn.


Biến cố 75 cả gia đình tôi đều bị kẹt lại ngoại trừ ba người con đi du học từ trước và Thuận di tản theo nhà chồng. Cha và chồng tôi đều phải vào trại cải tạo. Mọi việc trong nhà oằn trên vai Mẹ. Mẹ tôi thật xốc vác, đảm đang. Mẹ công bình hơn Bố, Mẹ thương yêu tất cả các con của Mẹ, đối với Mẹ đứa nào cũng là con vàng, con ngọc, là kim cương, hột xoàn của Mẹ. Mẹ chắt chiu, dành dụm để cứ gom đủ tiền lại kiếm chỗ gửi một đứa con ra đi. Cứ như thế Mẹ tung các con của Mẹ ra đại dương để đi tìm tương lai, còn Mẹ và bé út ỏ lại để thăm nuôi và chờ Bố. Nhà toàn con gái thế mà đi trót lọt và đoàn tụ lại hết không bị sứt mẻ gì. Hàng đêm Mẹ thắp nhang cầu nguyện và cảm tạ Phật Trời, Tổ Tiên đã phù hộ cho gia đình, cho con cháu của Mẹ.


Bố tôi trải mười năm trong ngục tù, từ trại Long Giao trong Nam đến Hà Sơn Bình ngoài Bắc, điêu đứng, đắng cay, đói ăn, rét mặc. Bị đau đớn từ tinh thần đến thể xác. Bố được thả về với hình hài yếu đuối, tâm trạng rã rời. Cuối cùng các con cũng bảo lãnh được cha mẹ và em út. Đại gia đình, bố mẹ với mười hai người con đoàn tụ lại hết. Nhân số gia tăng đều đều. Bây giờ bố mẹ tôi đã có hai mươi bốn đứa cháu và bốn đứa chắt. Hàng năm vào dịp Thanks Giving chúng tôi đều tụ họp ở Lake Tahoe, dâu rể, con cháu hơn năm chục người. Bố mẹ chúng tôi sống chan hoà Hạnh Phúc mặc dù đôi khi cũng có những chuyện lợn cợn của cuộc đời.


Được vài năm thì Bố tôi bị "stroke", đôi chân yếu dần, yếu dần. Bây giờ Bố tôi không tự đứng được nữa, nói khó khăn, ăn bằng ống tiếp thẳng vào bụng. Hàng ngày Mẹ tôi phải vào thăm, Bố Mẹ tôi bằng tuổi nhau nên bố già thì Mẹ cũng còm cõi. Mẹ không bịnh nhưng rất yếu, yếu vì tuổi già, yếu vì đã sanh đẻ mười hai lần, yếu vì suốt đời phải nhọc nhằn, lo lắng. Mẹ tôi có tất cả các đặc tính của người đàn bà Việt Nam xưa, chịu thương chịu khó, hy sinh cho chồng con, nhịn ăn nhường mặc, chẳng nghĩ đến thân mình. Đi chợ thì mua con cá rõ to, chọn con gà thật béo, chục xoài phải nhất chợ cho chồng, cho con. Mỗi khi có hàng quà đi ngang, tụi tôi khều khều Mẹ là Mẹ lại móc túi cho tiền. Những lúc chúng tôi nằm dài sát nhau coi TV thì Mẹ nhìn ngắm say sưa rồi nói " Không chịu khó đẻ thì làm sao có những đứa trẻ này!". Người Mẹ thật thơm, mùi thơm dịu mát mà đứa con nào cũng thích rúc Mẹ mặc dù đã lớn tướng.

Mẹ vào thăm Bố, Mẹ đem những phim ảnh ngày xưa, thời các con còn bé tí, hình đám cưới của từng đứa con, hình ra đời của từng đứa cháu, hình những kỷ niệm của gia đình, ngày lễ bạc, lễ vàng của Bố Mẹ. Có chứng kiến tận mắt mới thấy thế nào là tình nghĩa Phu Thê, thế nào là vợ cái, con cột. Thời trẻ Bố có đi hoang Mẹ vẫn nhẫn nhịn, đợi chờ. Bây giờ hai vợ chồng già chăm chút cho nhau. Hai người như hai chiếc lá vàng đang run rẩy trước gió. Như hai ngọn đèn leo lét, dầu cạn từ từ. Vẫn biết rồi cũng phải chia ly, vẫn biết không ai sống hoài nhưng nhìn hai hình bóng thân yêu không khỏi ngậm ngùi. Măc dù con đàn cháu đống, gia đình lúc nào cũng đông vui, nói cười rộn rã, đi đâu cũng có một lũ con cháu vây quanh ...... nhưng cuộc hành trình cuối cùng thì Đơn Độc.


Đỗ Dung

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Tôi hãnh diện là Người Việt Nam Đọc bài " danh xưng của Cộng Đồng Người Việt ở Hải ngoại" tôi rất thích và củng muốn nói rằng đã từ lâu tôi chỉ khoái cái danh này mà thôi: thằng phản động, thằng ngoan cố chống phá cách mạng. Nơi tôi đang làm việc có khá nhiều "việt kiều" nhưng chỉ có mổi mình tôi là "thằng phản động".

Thật tình thì tôi thấy mình không thể nào GIỐNG NHƯ những anh em cùng làm chung trong hảng được, họ quả thực là việt kiều, họ đi đi về về trên phi trình Los Angeles-Tân Sơn Nhất-Los Angeles hầu như là định kỳ hàng năm một lần, và nói chuyện Quê hương với cung cách của người trong nước ngày nay chớ không phải là kẻ bỏ xứ ra đi vì chế độ cộng sản, thật đáng buồn làm sao!

Ngày nay trên xứ sở Mỹ Quốc này đã có một sự nhập nhằng khá rõ ràng là có hai, ba thành phần khác nhau trong số hàng triệu người Việt Nam chúng ta, thành phần thứ hai tương đối đông hơn chút, thành phần thứ ba đang từ từ nhiều dần lên, còn thành phần phản động như tôi đây thì xem ra có mòi bớt dần đi theo thời gian, thật đáng buồn làm sao!

Xin thành thật hỏi Quí Quân Nhân và Công Chức niên trưởng VNCH một câu: Quí Bác Quí Chú có muốn mình bị đồng hóa trong danh từ "việt kiều" như bao kẻ khác hay không? Rất tiếc là tôi chỉ là một kẻ hậu bối lỡ sinh ra khá trễ cho nên không có cái phước được là một Quân nhân của một Quân đội chiến đấu để bảo vệ cho một nửa nước Việt Nam trước họa xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản và mộng thôn tính đất nước của bè lũ cộng nô việt gian từ phía Bắc Việt (Hà Nội).

Với 17 năm sống dưới chế độ đỉnh cao trí tuệ và lũ con cháu dòng giống nhà khỉ nhà vượn, tôi đây đã có tương đối đủ lý lẽ để chọn một thái độ cương quyết chống đối bọn chúng cho đến hơi thở cuối cùng(cho dù chẳng làm gì được đối với bầy thú dữ đó trong tình hình hiện nay). Có bao nhiêu người chịu Làm ma nước Việt Nam Cộng Hòa chứ không thèm làm... bè bạn hay việt kiều trước mặt bọn VIỆTGIAN CỘNG NÔ cho RỢ HÁN ở BẮC KINH?

- Người việt: ANLOC -
Source : http://www.canhthep.com/modules.php?op= ... 1257751947

Danh Xưng Thích Đáng Cho Cộng Đồng VN Hải Ngoại
Người Việt vì nhiều lý do đã rời khỏi quê hương cội nguồn hiện sinh sống trên 90 quốc gia. Trong suốt chiều dài lịch sử , chưa bao giờ có một khối lượng người VN ly hương to lớn và dàn trãi rộng khắp nơi trên thế giới đến vậy.
Không xét tới lý do ly hương, hoàn cảnh sinh sống...., bài viết chỉ khiêm tốn nêu ra một số khái quát về các danh xưng của những tập thể người Việt xa xứ. Việc định danh xưng cộng đồng người VN sống xa quê hương ắt hẳn có phụ thuộc vào lịch sử ,vào hoàn cảnh, vào quan niệm cũng như ý hướng của người sử dụng.
Cái danh xưng tưởng là chuyện nhỏ nhưng thực ra là không nhỏ bởi nó là một trong số những vướng mắc về tư tưởng...

A) DANH XƯNG XUẤT PHÁT TỪ TRONG NƯỚC: NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI HAY VIỆT KIỀU (KIỀU BÀO)

1) Người Việt ở nước ngoài hay Kiều bào:
Tên gọi này được các báo, đài ...của bộ máy cầm quyền Hà Nội xử dụng. Ấy là tên gọi đã được chỉnh sửa sau một thời gian dài họ gọi những người Việt ra khỏi nước bằng những lời lẽ thóa mạ nặng nề...Nào là"Thành phần phản động", nào là: "Bọn ôm chân đế quốc", nào là :"Bọn bơ thừa sữa cặn", nào là :" Bọn trộm cướp, bọn đỉ điếm, ma cô",nào là :"Bọn phản quốc" v.v... và v.v...
Sự sửa đổi này bắt nguồn từ việc Đảng CS Hà Nội thấy rằng cái cộng đồng người Việt hải ngoại ngày càng lớn mạnh, càng chửi rủa càng lộ ra Cộng sản là kẻ thù của họ và ngược lại. Như thế không có lợi cho bằng tráo trở ve vuốt, mơn trớn với các mỹ từ" Khúc ruột ngàn dặm", "Việt kiều yêu nước"...Và như thế mới không trơ măt mốc"phấn khởi hồ hỡi" nhận mỗi năm hàng 7,8 hay 10 tỷ đô la chứ?!!!
Cái danh nghĩa "Người Việt nước ngoài" dùng để chỉ người Việt ở ngoài nước VN thì hẳn không sai, nhưng đó chỉ nói chung chung, không định hướng, không xác định được bản chất của cái thực thể mấy triệu con người VN này. Nó không nói lên được cái gì cả. Tại sao có khối người VN đông đảo ở rãi rác khắp địa cầu? Tại sao nhà nước cs từng "nhổ ra" lời nguyền rủa và sau đó "liếm lại" tâng bốc họ? Tại sao 2 bên đều ngấm ngầm, hoặc công khai đối kháng với nhau? V.v...và v.v...
Như thế, tên gọi Người Việt nước ngoài là cái tên gọi mông lung nhằm lập lờ né tránh sự thật!

2) Việt kiều hay Kiều bào
Từ điển Thiều Chửu định nghĩa chữ "Kiều" (僑) là "ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác gọi là kiều cư, kiều dânTuy thế, danh từ "Việt kiều" (tức là "người Việt ở nhờ") thường hay bị giới truyền thông trong nước lạm dụng để gọi tất cả mọi người gốc Việt tại nước ngoài không cần biết họ hiện đang giữ quốc tịch nào hoặc sinh ra tại đ âu. Ở Việt Nam ngày nay, từ "kiều bào" cũng được dùng với ngữ nghĩa "Kiều bào là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam". Trong khi đó, cộng đồng người Việt tại nước ngoài luôn dùng danh xưng "Người Việt Hải Ngoại" một cách chính thức, và chỉ sử dụng cụm từ "Việt kiều" trong các câu chuyện (hoặc các vở hài kịch) xoay quanh chủ đề "Việt kiều hồi hương" để phản ảnh rằng cái tên gọi ấy chỉ có tại Việt Nam( Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )
Trong sinh hoạt thường ngày, cả bộ máy văn nô và người dân thường dùng mác "Việt kiều" để gán cho những ai ở ngoài VN.

Với số đông người thì "Việt kiều" là tiếng gọi bình thường theo thói quen không cần hiểu và cũng chẳng ngụ ý gì. Họ gọi một cách vô tư, thấy người khác gọi thế thì họ gọi theo vậy thôi.
Với nhà nước cs, thì danh từ Việt kiều bao hàm ý là những người VN nào dù ở hải ngoại, dù là nạn nhân CS cũng thuộc về, cũng phục tùng cái chế độ mệnh danh "Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa".
Với số người có ý thức đối kháng thì họ không đồng ý, không chấp nhận cái tên "Việt kiều". Họ cho mình vì lý tưởng tự do; là thành phần tỵ nạn CS, nay họ không thuộc về nhà nước cs, không lệ thuộc vào chế độ phi luân phi nhân CS...Họ tức giận vì bị gán ghép là Việt kiều, họ cảm thấy danh xưng Việt kiều là sự sỉ nhục cho những chuyến băng rừng, vượt biển mười chết một sống để tìm đến một bến bờ tự do nào đó. Hơn thế nữa, Việt kiều gợi lên hình ảnh của nhiều người "áo gấm về làng", quên tư cách, quên liêm sỉ, không biết thù nhà, nợ nước, chỉ biết du hí, ăn chơi trên thân xác phụ nữ...Chấp nhận danh xưng Việt kiều không khác gì chấp nhận giơ tay "Hòa hợp hòa giải" với VC, với kẻ thù của dân tộc, đất nước!
Xem chừng cái danh xưng Việt kiều hãy còn ngoắc nghéo!

B) DANH XƯNG XUẤT PHÁT TỪ HẢI NGOẠI: CÓ NHIỀU DANH XƯNG.

Ở hải ngoại, trong các sinh hoạt cộng đồng và truyền thông, từ thường được dùng là "Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại".
Nói Người Việt Hải Ngoại hay người Việt ở nước ngoài thì cũng cùng nghĩa, nhưng việc sử dụng khác nhau hàm ý nói lên sự đối nghịch, không chấp nhận nhau.
Tuy gọi chung là Người Việt hải ngoại nhưng danh xưng chính thức thì do nhiều nguyên nhân, những cộng đồng người Việt các nơi trên thế giới có những tên gọi khác nhau:

1) Cộng đồng người Việt (viết thường)
Đây là trường hợp của những cộng đồng Ở Đài Loan, Đông Âu,Brazil, Uganda,Israel. ..người VN sống đơn độc không thành Cộng Đồng. Mọi liên hệ sinh hoạt giữa người Việt với nhau hoàn toàn riêng tư, có tính cá nhân, nên không có danh xưng chính thức .
Vì không tập hợp được thành tổ chức, không có Cộng Đồng(viết hoa) có tính cách đại diện và điều hướng sinh hoạt chung cho mọi người.

2) Hội hoặc Liên Hội Người Việt:
Tên gọi chính thức trên được dùng cho tập thể người Việt tại những nơi như Canada, Nhật Bản ...và nhiều nơi khác.
Có lẽ khi định danh xưng của mình, các vị đại diện cộng đồng muốn bao gồm chung mọi người Việt không phân biệt hoàn cảnh, xuất xứ.
Ưu điểm là tên gọi rất tổng quát, cứ ai là người mang dòng máu VN là tự động là phần tử trong cái chung chung này. Nghĩa là ý hướng rất đoàn kết.
Nhưng trong thực tế nó có đạt được đoàn kết hay không? Chưa biết. Nhưng cái danh nghĩa Hội, Liên hội người Việt rõ ràng không nói lên được tư cách, hoàn cảnh, b ản sắc của một tập thể đang sinh sống nơi xứ người! Và do mô hình Hội nên sự kết hợp khá lỏng lẽo, biểu hiện qua sinh hoạt đối nội lẫn đối ngoại...

3) Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia:
Con Hồng,cháu Lạc lưu vong trên đất Hoa Kỳ, Pháp...xác định tập hợp ở các nơi đó là Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia. Chỉ cái tên thôi cũng nói lên quá khứ, thân phận và tâm tư, nguyện vọng của một cộng đồng.
Thành thực mà nói, khối người này không mặc cảm về danh phận cùng tư thế của mình. Khi đặt chính danh "người Việt Quốc Gia" là thừa nhận họ thuộc về thành phần tuyệt đại đa số xuất phát từ Miền nam VN tức VNCH. Và hiển nhiên cũng nói lên lập trường cùng ý chí đối kháng lại cái chủ nghĩa CS và những hệ luận của nó.
Danh xưng "Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia " rất sáng tỏ, nhất là đi chung với biểu tượng lá cờ Vàng ba sọc đỏ. Không ai có thể hiểu lầm về khối cộng đồng này.
Nhưng danh xưng "Cộng Đồng người Việt Quốc Gia" cũng bộc lộ não trạng thụ động, nặng về quá khứ. Hơn nữa, mang tính chất cục bộ, không chịu nhìn rộng hơn là ngoài những ai là thành phần "Quốc Gia" thì những người xuất thân từ miền Bắc ,những người sanh sau đẻ muộn, những người thuộc diện di dân, du học định cư v.v...bị gạt ra hay sao?!
Cái tên Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia dễ bị bè đảng CS xuyên tạc là " Thành phần phản động, tàn dư của chế độ cũ...". Khuyết điểm lớn nhất là do muốn tách bạch thế đứng với Đảng CS, nên tự tách ra khỏi đại bộ phận những người Việt Nam trong nước (hơn 80 triệu) với số lớn dân số Việt Nam ngày nay là những người sinh ra từ khoảng trong thập niên 70 trở về sau. Có nghĩa là một số lớn không hề biết sự thật về chiến tranh Việt Nam và không có một cái hiểu biết chính xác và rõ ràng về nước Việt Nam Cộng Hoà cũ."
Chính nghĩa bị suy giảm vì không chịu bao gồm những người VN khác sống ngoài nước và toàn bộ người VN không CS đang sống trong nước!..
Cái danh xưng VNCH và "Quốc Gia" nặng về mặc cảm tâm lý và mang tính co cụm!

4) Cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn CS:
Cái tên này được định danh cho cộng đồng VN t ại Đức, Bỉ, Hòa Lan...bao gồm hầu hết những tính chất của danh xưng "Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia" như đã phân tích trên đây. Khác biệt duy nhất có lẽ là muốn nhấn mạnh yếu tố lịch sử đã đẩy đưa họ ra khỏi quê hương: Yếu tố CS!. Vì có CS tham tàn, gian ác, bạo ngược nên khối người Việt mới phải ly hương, tránh bọn quỷ đỏ CS.
Nguyên nhân xuất phát rất rõ rệt. Lập trường rất rõ rệt. Nhưng tên gọi "Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn CS" cũng hàm nghĩa mình là khối "Nạn Nhân CS", một cách thụ động, ôm ấp sầu hận đớn đau của quá khứ, chưa phục hồi thương tích để đứng thẳng lên đối đầu với bọn cùng hung cực ác đã hành hạ mình.
Tóm lại, danh xưng "Tỵ nạn CS" tuy rõ ràng về thân phận nhưng cục bộ, bi ai, nặng về quá khứ, thiếu tầm nhìn tích cực về hiện tại và tương lai.

5) Cộng Đồng Người Việt Tự Do:
Ngay từ những năm đầu tiên sống trên xứ người, tập thể người Việt tại Úc hình thành những cộng đồng có tổ chức Ban Chấp Hành từ Tiểu bang đến Liên Bang với danh nghĩa "Cộng Đồng Người Việt Tự Do".
Phải cảm ơn những vị tiên khởi đã định đặt danh xưng cho Cộng Đồng ở Úc thật tuyệt vời. Cái tên "Người Việt Tự Do" vừa xác định được tư cách "Người Việt Tỵ Nạn CS", vừa kế thừa truyền thống của tinh thần "Người Việt Quốc Gia" ; nhưng hay hơn cả là không đóng khung trong cái cục bộ "Người Việt Quốc Gia", cũng không thụ động rên rĩ mình là nạn nhân CS phải đi tỵ nạn...Vượt xa hơn, "Người Việt Tự Do" chính là sự vươn dậy lớn mạnh của những nạn nhân CS không chỉ riêng những người Quốc Gia mà là toàn thể những ai nhận mình là ngừơi VN bất chấp xuất xứ, miễn là có chung khát vọng yêu chuộng tự do, dân chủ, nhân quyền là những giá trị đối nghịch với CS độc tài, tham nhũng và phản quốc.
Nói cách khác, danh xưng "Cộng Đồng Người Việt Tự Do " không tự cô lập mà khẳng định ngay rằng chính sự tiếp xúc của các cộng đồng hải ngoại đã buộc và tạo điều kiện để các cộng đồng nhìn nhận mình và nhìn nhận đồng bào trong nước là cùng chung chiến tuyến. Toàn thể những người VN bất chấp quá khứ, thành phần, nơi cư ngụ...miễn là không chấp nhận chủ nghĩa gian ác CS đều là người Việt Tự Do.
Thử nghĩ, những nhà đấu tranh như LM Nguyễn văn Lý, LM Phan văn Lợi, Thượng Tọa Thích thiện Minh, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nhà giáo Vũ Hùng, LS Nguyễn văn Đài, LS Lê thị Công Nhân, anh Nguyễn Phong, cô Phạm Thanh Nghiên, c ô Lê thị Kim Thu, cô Vũ Thanh Phương, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, LS Lê Trần Luậtv.v... có thích hợp nhận mình là "Người Việt Quốc Gia" ,"Người Việt Tỵ Nạn CS" không? Và đại đa số người trong nước có mấy ai dám và muốn nhận mình là "Người Việt Quốc Gia" hay "Người Việt Tỵ Nạn CS"?
Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh trong buổi nói chuyện với đồng hương tại Sydney, Úc Châu(14/2/2009) –hẳn cổ vũ cho danh xưng "Người Việt Tự Do" qua các trích dẫn sau:

"Bây giờ nói đến nguồn gốc thì Ánh xin chia xẽ một ý nghĩ nhỏ như thế này ... tất cả những người trong phòng này còn có một cái điểm tương đồng khác rất quan trọng trong cái lý lịch của chúng ta đó là tất cả chúng ta đều không chấp nhận chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay. Có lẽ một cách nói chính xác hơn là chúng ta là người Úc gốc Việt Nam Tự Do, chúng ta là người Mỹ gốc Việt Nam Tự Do, người Đức gốc Việt Nam Tự Do, xin nhắc lại chúng ta là người gốc Việt Nam Tự Do."
"Điều quan trọng là khi chúng ta giải thích với con em nhất là khi mà các em, từ khi mà các em còn nhỏ về cái nguồn gốc Việt Nam Tự Do của chúng ta thì sẽ có nhiều vấn đề khác trở thành là tự nhiên và hợp lý đối với các em.. Thí dụ như là chuyện treo Cờ Vàng Ba Sọc đỏ ... chuyện hát Quốc Ca, chào Quốc Kỳ ... là một chuyện tự nhiên, hay là tại sao mà Cộng Đồng chúng ta cương quyết không hợp tác với chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay, chúng ta cương quyết chống kiểu giao lưu văn hoá một chiều tuyên truyền của họ v.v…"
"...Nhưng chúng ta vẫn có thể dựa vào thể chế Tự Do Dân Chủ và quyền Tự Do Ngôn Luận ở các quốc gia mình đang sinh sống để tự chọn cho mình một lá cờ khác làm biểu tượng cho Cộng Đồng của chúng ta thì ngay từ đầu chúng ta đã khẳng định chúng ta là những Mỹ, người Úc gốc Việt Nam Tự Do."

KẾT LUẬN.

Danh có chính thì ngôn mới thuận.

Danh xưng "Người Việt Tự Do" xác lập một chiến tuyến mới. Không phải là chiến tuyến Quốc_Cộng của thời trước 4/75; cũng không quay về giai đoạn là nạn nhân CS phải băng rừng, vượt biển để tránh nạn quỷ đỏ và tiếp tục bi lụy hoặc mong chờ sự che chở, đùm bọc của người khác.
Không! Danh xưng "Người Việt Tự Do "tổng hợp hết những yếu tính của các danh xưng "Người Việt Quốc Gia", "Người Việt Tỵ Nạn CS", nhưng có kế thừa, có hướng đến tương lai. Một thái độ, một danh xưng thích đáng phát huy được tinh thần và ý chí kiên định khởi nguồn cho thế trận mở rộng:" Tất cả người Việt Nam nào yêu nước, yêu tự do đều chung cùng hàng ngũ "Người Viêt Tự Do" phải ý thức kết hợp để đối đầu và dẹp bỏ bè đảng CS độc tài, phản quốc.

Cứu dân tộc, cứu đất nước là nhiệm vụ của toàn thể mọi người VN TỰ DO trong và ngoài nước!
Người Việt Nam (không CS) hiện thiếu một danh xưng thích đáng, một chủ thuyết đấu tranh và một tổ chức mạnh có khả năng kết hợp nhân dân trong v à ngo ài nước để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách giặc thù CS!
Giải quyết được các vấn đề trên là đã đi được những bước đi vững chắc tiến đến thắng lợi!

NGUYỄN KIÊN TRUNG

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Mời xem trong youtube



User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Việt Nam, ‘có một bức tường đã nên thành quách’

Nguyễn Trầm Luân (Huế)
Ðông Berlin, Tháng Mười, 1990. Ði cùng một anh bạn từ Frankfurt Main bên phần Tây qua, tôi gặp làm quen các đồng hương của mình ở quanh các chung cư ngoại thành. Ðó là các chung cư đúc như nhau, thường thấy ở trên đất Liên Xô cũ, hay ở Hà Nội, và ngoại ô Hải Phòng cuối những năm 70.

Biến cố “đổ tường Berlin” (như người Việt ở đây gọi) bấy giờ, với các công dân Ðông Ðức, đã thấm dần vào trong sau một năm, nhưng, với những người Việt trẻ lanh lợi, đang bừng lên như cơ hội sinh nhai được “giải phóng.” Ở các chân cầu thang, góc làng quê Việt bổ bã hiển hiện với các quán ăn và uống, các khuôn mặt râu ria gân guốc, các khuôn mặt tròn hây hây vì lửa gas và đồ nhậu. Bún bò và bánh cuốn. Chả giò và xúc xích. Khoai tây chiên và bánh mì Thổ. Khách hàng lạ, là người Ðức thất nghiệp trong vùng, nay đã trở nên quen. Các vách tường loang lổ chen chúc các lời rao và quảng cáo, chữ Việt và chữ Ðức sai chính tả – Thu Huệ Phở tiếu Lam Vang, gọi điện thoại VN 5D-Mark 30 phút, hỏi Cường khàn. Ðổi tiền, nhắn chủ quán tại đây…

Tôi và “Hùng Hận” chở hai người đàn ông Ðức, “mối” làm ăn của anh ta, đến một cửa hàng lớn bán đồ điện máy (ở Ðông Ðức cũ chỉ có ít siêu thị dành cho “cán bộ nhà nước” trung và cao cấp, hầu hết đều là “cửa hàng bách hóa” mà miền bắc VN trước 1975 rập khuôn theo). Một chiếc TV và một máy hút bụi kiểu cũ được ghi chép model vào sổ của Hùng, rồi sau đó chúng tôi thả họ tại một trạm chờ xe Bus. Lúc ấy, tôi không rõ việc này để làm gì.

Chúng tôi qua nghỉ tại “căn hộ” của một chiến hữu của Hùng Hận, cách đó hai lô nhà. Anh này cho biết, khu vực đang ở, cảnh sát Ðức đã “tập kích” ba lần, đều thất bại, bởi sự cố thủ người Việt Nam với “chiến tích” là đổ máu cho cả hai bên. Cửa phòng mở, và tôi sững vài giây vì thán khí từ trong phòng ở không được thông gió tràn ra – chật hơi người và đồ ăn cũ. Căn phòng mà họ đang ở với chín người này, ở Darmstadt, chúng tôi chỉ được phép ở hai người.

Không lâu sau lúc nhận “đồng hương HN,” tôi được thết đãi một cuộc gọi điện thoại về Việt Nam miễn phí trong hơn 20 phút. Anh chàng có quai hàm bạnh này từng là kỹ sư tốt nghiệp Bách khoa Hà Nội. Chỉ với một thao tác khéo léo nhắp và thả đồng Mark vào máy gọi điện thoại công cộng, cước bưu điện đã bị chôm dễ dàng – “bí quyết” của anh ta là xe hai sợi tóc, “liên kết” keo với mặt đồng xu, để nó vượt qua sensor mà không rơi hẳn vào trong hộp. Hết cuộc gọi tùy thích, kéo đồng xu trở ra.

Ngày 2 Tháng Mười, 1990, tại Ðông Berlin (Berlin Hauptstadt Der DDR), cuộc sống sau “đổ tường” của người Việt đã diễn ra với tôi như thế.

Berlin 20 D-Mark

Ngày 9 Tháng Mười Một, 1989, bức tường Berlin sụp đổ. Nước Ðức đã chính thức thống nhất gần tròn năm sau, ngày 3 Tháng Mười, 1990. Sáng ấy, tôi đứng gần cổng Brandenburg, và trong tay là một phần của bức tường lịch sử. Chính xác, đó là một phiến tường với một trích đoạn graffiti đặc trưng, kèm theo chứng chỉ, mua lại từ một đồng hương Việt Nam với 20 Mark – Berlin 20 D-Mark của tôi.

Bấy giờ, đứng ở nơi một năm trước không được phép lai vãng – chỗ bức tường xưa chạy qua, tôi bắt đầu thấm hiểu về biến cố này. Nỗi bùi ngùi xen với đắng cay về khái niệm “giải phóng” âm vang và lan tỏa muộn màng, khi tôi chậm bước dọc dấu chân tường cũ.

Ðể được biết về một thứ tự do đích thực, người ta đã phải ra xa xứ sở của mình.

Ngay lúc ấy, Hùng Hận gọi điện thoại cho tôi, nói rằng “Bọn em mới giao hàng xong!” Hỏi thăm, mới vỡ lẽ, là Hùng nằm trong đường dây bán đồ chôm, thực ra, là chôm đồ để bán. Dắt khách đến cửa hàng, chỉ món hàng cần mua ở đó. Ðến đêm thì “ra tay.” Hàng giao đúng món tại nhà, giá chỉ bằng một nửa…

Sau “Ðổ tường Berlin,” người Ðông Ðức âm thầm với mặc cảm là công dân hạng hai, vẫn kín đáo và lý tính như đồng hương bên phần Tây. Các ngổn ngang chính yếu với họ, có lẽ ở trong lòng nhiều hơn.

Trong giá lạnh, trời đất nhà cửa đều một màu xám bàng bạc, nửa chào nửa vẫy các đồng hương tóc xù với áo veston cái ngắn cái dài choàng ngoài các sơ mi nhàu, chúng tôi rời Berlin phóng ra Autobahn (Highway) chen chúc, lòng đầy xáo trộn…

Berlin trước cửa.

Giờ tan tầm tại trung tâm thành phố Darmstadt. Người kìn kìn trên phố. Ðèn xanh. Người người ào qua như thác. Tôi rảo bước cùng họ, và chợt nhận ra mình đang hòa vào một nhóm người tóc đen. Chậm bước lại, mới thấy đó là một nhóm du khách Trung Quốc. Họ có cùng một kiểu tóc ngắn xanh ót, hay thắt bím đôi, mặc comple cổ nhọn xanh đồng phục với huy hiệu Mao Trạch Ðông trên ngực, và sắc mặt vẻ nghiêm trọng. Trông họ hao hao người Việt Nam mới qua – hoặc hơi xanh mét, hoặc tai tái vàng. Khi còn là một thiếu niên, tôi từng gặp những thủy thủ Trung Quốc trên phố, luôn vui tươi với nụ cười đầy răng trắng, khi phân phát cho chúng tôi mỗi đứa một viên kẹo xanh, một huy hiệu như thế, kèm theo một cuốn “Trước tác Mao chủ tịch,” là một cuốn sổ tay màu đỏ tươi, với các “lời vàng chữ ngọc” của “Người cầm lái vĩ đại.” Hai người dừng lại bên một cột điện nhỏ. Và cả nhóm gần hai mươi người xúm lại bàn tán. Tôi ghé mắt vào. Họ cùng trầm trồ và vuốt ve, khi phát hiện ra thùng đựng rác gắn tên thân cột điện được chế tạo bằng inox. Ðó là một trong vô số cây cột điện của Châu Âu này.

Không lâu sau ngày trở về từ Berlin, một rạng sáng nơi tôi trọ, tiếng chuông reo vang không dứt. Tôi bấm nút và hỏi. Không tiếng trả lời, và chuông lại réo dài. Choàng vội áo chạy xuống. Và hoàn toàn bất ngờ: Trong cảnh tráng lệ và buốt lạnh 5 độ âm của một thành phố Tây Ðức, 11 đồng hương của tôi nhễ nhại và nhếch nhác với balô tuột quai, quần áo không đủ ấm, ba người mang vớ mà không giày, hai người chân chỉ có một giày. Họ không thể đứng yên vì lạnh, và tranh nhau nói trong khói hơi bốc ra từ miệng “Ông là người Việt mình thì xin cứu giúp chúng em với!” Một thằng trai như tôi lúc ấy, không rõ có bật khóc hay không. Chỉ còn nhớ, là đau buốt trong ngực.

“Berlin” đã đứng trước cửa nhà tôi như thế!

Thùng mì gói hai tuần ăn của tôi đã được “xử lý” sau 20 phút. Tất cả họ, bảy trai bốn gái ngủ lịm đi, không cựa quậy cho đến khi tôi thức từng người một. Ðể bảo toàn cho cả họ và tôi, tôi và hai người bạn phải chở họ đến đăng ký xin tị nạn ở trại cách đó gần hai giờ xe trước khi trời sáng. Số người này đi theo đường Ba Lan, và bị bỏ rơi ở biên giới. Bị truy đuổi với chó săn của biên phòng Ðức, đồ đạc của họ mất gần sạch sẽ. Người của “đường dây” thuê một xe tải thả đại họ giữa khuya ở miền Trung nước Ðức như thế. Các đồng hương đã tạm ổn này cảm ơn tôi bằng cách giới thiệu địa chỉ nhà tôi cho… những người vượt biên các chuyến sau! Nếu 11 người lần đầu bị bỏ rơi, đi trong tuyệt vọng, dò tìm người Việt qua tên trên hộp thư, thấy chữ “Nguyen” tên tôi, liền bấm đại chuông, thì hai “chuyến” sau với cả thảy 13 người, đã buộc chúng tôi phải sớm dọn đi nơi khác, trước khi (có thể) bị nước Ðức truy tố là đồng phạm tổ chức “nhập cảnh trái phép.”

Bức tường Berlin Việt?

20 năm đã qua kể từ ngày bức tường Berlin sụp đổ. Biểu tượng này vẫn còn gây thêm niềm thấm thía hòa trộn lo lắng cho những ai cực đoan và thiếu thức thời. Giờ đây, những người Cộng Sản còn lại đã tự khu biệt thành một loài riêng với các tín điều khó tưởng, giữa dòng nhân loại rộng mở. Bền bỉ một cách mệt mỏi, các cố gắng để chứng tỏ xã hội và thể chế họ cầm quyền ưu việt không còn thuyết phục. Mơ hồ, lúng túng trong lý tưởng, họ đành gìn giữ việc sống còn – độc quyền chân lý và ban phát chân lý.

Mai này, khi xem lại một đoạn video trên youtube, ông “chủ tịch kia” hẳn nhận thấy mình nhỡ lời chăng khi tạo ra một điển tích “ngủ và thức,” tự nhận cùng nhau “canh giữ hòa bình thế giới” từ một ý thức hệ lỗi, và lạc.

Ðể sinh tồn trong trầm luân hôm nay, người Việt Nam đang dần bị xói mòn nhân cách, chất lượng người, và văn hóa. Là bức tường của niềm tin, thì đã quá nhiều đổ vỡ. Là bức tường của nghi kỵ, thì đã quá đủ cao dày. Là bức tường của quyền bính, nó đã nên thành quách.

Thật tự hào, khi người Việt được xem như người Ðức của Á Châu về nghị lực và ý chí. Và chính thế, thật đắng cay khi ở nhà, giờ đây, để sinh tồn, người Việt phải lấy chính ý chí của người Cộng Sản (!) mới chịu đựng nổi người Cộng Sản, để nuôi trọn khát vọng làm người.

Thế đấy, Berlin của tôi!

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mẹ trong bài thơ Nước Trôi Mồ Mẹ
của Hoàng Phong Linh Võ Đại Tôn


Mùng Một Tết là ngày đánh dấu một năm mới bắt đầu nhưng cũng là ngày nhìn lại một chặng đường. Và như đã hứa với nhà thơ Hoàng Phong Linh tức nhà tranh đấu cho tự do Việt Nam Võ Đại Tôn và cũng là người tôi được phép gọi bằng anh, qua ngã trái tim và dòng máu đỏ Việt Nam, tôi sẽ cùng anh về thăm lại làng Kim Bồng, quê nội của anh và cũng là nơi người mẹ trong bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười của tôi đã ra đời.

Anh em tôi sẽ dắt tay nhau trên con đường đất Hải Châu, Đà Nẵng, thành phố thân yêu, nơi chúng tôi đã lớn lên trong mùa bão lửa ngút ngàn của quê hương. Tôi sẽ về để cùng tắm với anh bằng nước Thu Bồn, giòng sông thi ca đã chảy vào tâm hồn anh em chúng tôi những giòng thơ quê hương mật ngọt. Và sáng mùng Một Tết, tôi sẽ viết với anh về tuổi thơ đầy bi tráng mà chúng tôi đã trải qua trong những giai đoạn khác nhau của cuộc đời mình. Bởi vì, như Bùi Giáng viết, dù đi bao xa điểm hẹn cuối đời người vẫn là Cố Quận:

Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
Người đi đâu? Xưa chính ở chỗ này.
(Bùi Giáng, Mưa Nguồn)

“Chỗ này” của Bùi Giáng là cố quận, là nơi trở về của ý thức và “chỗ này” của anh Võ Đại Tôn là “Tổ ấm”, của tuổi thơ bất hạnh, của chứng tích chiến tranh, của đau thương tàn phá như anh viết trong lời ngỏ tác phẩm “Tuổi Thơ và Chiến Tranh”:“Con chim trước khi chết còn biết quay đầu về núi, mong tìm lại khu rừng xưa nơi có tổ ấm cội nguồn.”

Bài thơ đầu tiên tôi đọc trọn vẹn của nhà thơ Hoàng Phong Linh là bài thơ viết về Mẹ và giòng sông Thu Bồn trong mùa lũ lụt đăng trên Giai Phẩm Xuân Quảng Đà số đầu tiên 17 năm trước do nhà thơ Thái Tú Hạp ở California, Hoa Kỳ, chủ trương, bài thơ Nước Trôi Mồ Mẹ.

Mười bảy năm sau, một buổi chiều đầu năm như hôm nay, tôi được lần nữa đọc bài thơ này trong bản thảo hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh của anh, niềm xúc động vẫn còn nguyên như khi đọc lần đầu.

Nhiều nhà văn, nhà thơ có khiếu văn chương, chỉ cần nhìn một bông hoa đẹp, đi thuyền qua một giòng sông, họ có thể để lại cho đời những bài văn, bài thơ tuyệt tác. Anh em chúng tôi không có được năng khiếu đó. Phía sau những giòng chữ, những câu thơ của Nước Trôi Mồ Mẹ là những đời sống thật, những nỗi đau có thật, là những mảnh xương còn sót lại trên cồn cát, là những mảnh thịt tan nát trong hố sâu và là những giọt nước mắt tiếc thương chảy suốt một đời người.

Hình ảnh giòng sông, cơn lụt và ngôi mộ nhỏ từ bài thơ anh viết, in sâu vào ý thức của tôi từ 17 năm trước chợt hiện ra chiều nay trên xứ người xa lạ. Hình ảnh bi thương đó không phải chỉ của riêng anh mà còn của tôi và của tất cả những đồng bào cùng số phận. Anh em chúng tôi, tuổi tác cách nhau hơn 20 năm mà cùng chịu chung một nỗi đau vì nỗi đau chỉ lớn thêm nhưng lại không có tuổi.

Mười bảy năm sau đọc lại bài thơ Nước Trôi Mồ Mẹ, tôi không còn nước mắt để khóc cho anh và cho tôi như ngày thơ ấu ở Hội An, Đà Nẵng. Mẹ của anh Võ Đại Tôn và mẹ của tôi đều nằm bên bờ sông Thu. Bao nhiêu mùa mưa lụt đi qua biết nắm xương của hai bà mẹ Việt Nam đau khổ đó có còn nguyên vẹn nữa hay không và những ngày Tết đến, có ai ghé ngang để thắp một nén hương và nhổ đi giùm những bụi cỏ dại?

Chắc là không. Chúng tôi những người con đi xa, gánh trên vai đôi gánh nặng. Đất nước, quê hương, tình thương và nỗi nhớ. Nhiều khi tôi thèm làm một con chim nhỏ, bay về đậu trên tấm bia và đọc cho mẹ nghe những bài thơ được đan kết từ mấy mươi năm trầm luân thống khổ. Nhưng không, đôi cánh chúng tôi quá nhỏ và quảng trời thì quá xa, ước mơ cũng chỉ là mơ ước. Chúng tôi chọn lựa một cách sống mà chúng tôi nghĩ là đúng nhất cho đời mình và đất nước nhưng chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Chúng tôi đã phải hy sinh những riêng tư thân thiết nhất.

Ngày mẹ tôi mất tôi còn quá nhỏ để ý thức một cách trọn vẹn ý nghĩa của đau thương. Giọt nước mắt tôi nhỏ xuống trên ngôi mộ vàng mới đắp bên bờ sông Thu hay tiếng tôi thét lên trong đau đớn khi ngọn roi cuộc đời lần đầu quất xuống ngang lưng dù sao cũng chỉ là phản xạ tự nhiên. Tôi còn quá nhỏ để hỏi tại sao và để hiểu tại sao. Anh Võ Đại Tôn thì khác. Anh lớn đủ để biết cảm nhận nỗi đau thấm dần vào ý thức. Anh bất hạnh hơn tôi vì mẹ anh, người đàn bà vốn đang trọng bịnh trong người, đã phải chết trong hoàn cảnh vô cùng thảm thương, đau đớn.

Một đoạn văn trong hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh ghi lại giờ phút cuối cùng của mẹ anh: “Không có đem theo đèn đuốc gì cả, chỉ có cầm theo hai cái cuốc. Hắn bắt mẹ tôi ngồi riêng một chỗ. Còn hai chú thì được lệnh lấy cuốc tự đào một cái hố nhỏ. Xong rồi, khi chú Mười tôi còn đang đứng bên miệng hố, chưa biết làm gì thêm, thì thình lình tên Thân chụp một cái cuốc, phang ngang lưng chú một nhát mạnh làm chú ngã chúi xuống hố, nằm sấp, đau quằn quại. Trước cảnh tượng bất ngờ như vậy, chú Tám Dương tôi chưa kịp la lên thì hắn đứng phía sau dùng chân đạp chú té xuống hố. Chú tôi vừa cố lóp ngóp bò lên vừa la xin tha mạng. Hắn đứng trên miệng hố cát, cầm cuốc phang xuống, trúng ngay vào trán của chú tôi, làm chú té bật ngửa ra, nằm đè trên lưng chú Mười. Hai người chưa chết. Rồi, hắn đến xốc mẹ tôi đứng dậy trong khi mẹ tôi đang ôm mặt khóc lớn. Hắn lạnh lùng dẫn mẹ tôi đến cạnh miệng hố, xô xuống thật mạnh, mẹ tôi rớt xuống, nằm sấp trên người chú Tám. Hắn đứng trên hố, cầm cuốc cúi xuống phang mấy nhát thật mạnh vào lưng mẹ tôi, làm cả thân hình mẹ tôi quằn cong lại. Cả ba người chưa chết, nhưng không còn sức bò dậy được nữa, nằm im trong máu, chung một hố cát cạn. Tên Thân và đồng bọn dùng cuốc xúc cát lấp hố lại rồi bỏ đi. Chôn sống!”

Và đây, bài thơ Nước Trôi Mồ Mẹ của nhà thơ Hoàng Phong Linh Võ Đại Tôn:

Con quỳ bên ni dòng sông
Bên tê mồ Mẹ !
Trời ơi, nước ngập tràn đồng
Từng khúc xương trôi đau lòng con trẻ.
Con mang trong người thịt xương của Mẹ
Chừ trông nước lụt dâng về
Con còn bên ni, Mẹ mất bên tê,
Sóng bao la vỗ, bốn bề Mẹ mô ?
Ngày xưa Mẹ chết, con khóc mắt khô,
Chừ xương Mẹ trôi, hồn con nước lụt.
Nước dâng ngùn ngụt
Cuốn mái tranh nghèo.
Sóng cuộn mang theo
Ngày vàng bên Mẹ.
Con nhớ ngày xưa tiếng con thỏ thẻ
Đòi đi theo Mẹ nhóm buổi chợ làng.
Mẹ dắt tay con qua xóm, hoa vàng
Nở tươi bờ dậu.
Con kêu : – “Mẹ ơi, tưởng đàn bướm đậu”
Mẹ cười, bóp chặt tay con.
Con nhớ những lối đường mòn
Trâu bò qua lại.
Buổi chiều đơn sơ, lũy tre nằm ôm nắng quái,
Con đùa với bóng cau nghiêng.
Mẹ la : – “Coi chừng tối ngủ không yên,
Giật mình con khóc, bà Tiên bả buồn…”.
Con nhớ những mùa mưa tuôn
Gió đông kéo về lạnh buốt.
Trong lòng Mẹ, con nằm co rút,
Mẹ chuyền hơi ấm tình thương
Con mê giấc ngủ đêm trường, Mẹ vui.
Con nhớ dòng sông êm xuôi
Trôi về Phố Hội.
Giặt áo bên con Mẹ ngồi mỗi tối,
Con nhìn cá đớp trăng sao.
Mỗi lần sao chuyển ngôi cao
Con đưa ngực nhỏ, sao vào hồn thơ.
Nhìn con, mắt Mẹ đầy mơ
Con đòi Mẹ cõng, hờ ơ… Mẹ hò.
Chừ con về : nước lũ, sóng to
Xoáy cửa, phăng nhà,
Xốc trôi mồ Mẹ !
Xương theo dòng sông ngày xưa ra bể
Vì chưng lòng Mẹ : đại dương !
Mẹ sống lầm than cho con tình thương
Chừ Mẹ chết đi, mồ trôi nước lụt.
Con quỳ bên ni, linh hồn tê buốt
Mần răng mà về bên tê chừ, Mẹ ôi !
Quê hương nước ngập tận trời
Hồn con khóc suốt một đời không nguôi !…


(Nước Trôi Mồ Mẹ, Hoàng Phong Linh)

Trần Trung Đạo

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image


ÁC VÀ THIỆN

Sơn Tùng
Hồi 9 giờ 11 phút tối Thứ Ba 10.11.2009, John Allen Muhammad, 48 tuổi, đã bị xử tử bằng cách tiêm độc dược tại một căn phòng ở Trung tâm Cải huấn Greenville , Virginia . Hắn đã bị kết án tử hình về tội giết một kỹ sư tại Virginia năm 2002 trong một loạt những vụ bắn lén gây kinh sợ cho dân cư Vùng Hoa Thịnh Đốn kéo dài trong ba tuần lễ với mười người chết và ba trọng thương. Các nạn nhân đã bị bắn một cách tình cờ trong khi đang đứng bơm xăng vào xe, đang cắt cỏ trước sân nhà, đang đi trên đường phố, vừa từ một tiệm ăn ra, đang xếp đồ trong bãi đậu xe, vân vân.

Với một tòng phạm là John Lee Malvo, năm ấy 17 tuổi, Muhammad đã dùng một chiếc xe Chevrolet Caprice có khoét lỗ ở thùng sau để nằm nhắm bắn các nạn nhân vô tình lọt trong tầm đạn của một khẩu súng trường Bushmaster MX-15 bán tự động. Các nạn nhân của hắn không được biết trước khi chết, tại sao chết, chết bằng cách nào, và chết tại đâu như hắn đã được “hưởng” sau khi bị kết án năm 2004 và đã tìm mọi cách để chống bản án tử hình.

Trước khi sa lưới pháp luật, Muhammad và Malvo đã “nhân danh Thượng đế” để chơi trò “săn người” như một thú tiêu khiển bằng máu. Trong 21 ngày đầu tháng 10.2002, bốn triệu rưỡi cư dân trong Vùng Hoa Thịnh Đốn (gồm Washington DC, Virginia và Maryland) đã sống trong phập phồng, lo sợ mỗi khi phải ra khỏi nhà. Nhiều người không dám ra đường, không dám đi đổ xăng, không dám đi mua sắm, học sinh đi học phải rảo chân bước nhanh vào trường.

Các nạn nhân đã bị bắn ở khắp nơi, từ Montgomery County tới Rockville, Aspen Hills thuộc Maryland, trải dài tới Manassas, Richmond, Falls Church, Fredericksburg của Virginia – vẫn với một viên đạn cỡ .223 trong đầu hay trong ngực. Không ngày nào không có tin về tên bắn lén bí mật trên báo chí và truyền hình khắp nước Mỹ được gọi là “Beltway sniper” hay “Washington area sniper”.

Cảnh sát gần như bất lực, không tìm ra được manh mối nào để truy tìm thủ phạm (hay các thủ phạm) mà sau khi bắn trọng thương một học sinh 13 tuổi bên ngoài một trường học ở Maryland, chúng bỏ lại một lá bài tarot trên đó có ghi mấy lời trêu chọc và thách thức cảnh sát: “Dear policeman, I am God”. Chúng còn gọi điện thoại cho hai tu sĩ, tự xưng “Thượng đế” và khoe thành tích về tội ác của chúng. Nhưng, chính nhờ hai cú điện thoại này, mà không biết vì vô tình hay cố ý, chúng đã để lộ tung tích.

Nói “cố ý”, vì có giả thuyết cho rằng chúng đã mỏi mệt với trò chơi săn người và muốn để cho bị bắt để “được nổi danh” và đi vào lịch sử tội ác tại Mỹ. Thật vậy, nước Mỹ chiếm 84 phần trăm những vụ giết người hàng loạt trên thế giới, và đây là vụ gây kinh sợ nhất vì đã có nhiều người bị giết trong một thời gian quá ngắn. Những vụ khác, các hung thủ giết người thận trọng hơn, kín đáo và với mức độ chậm hơn. Thêm nữa, vụ này đã xảy ra sau cuộc tấn công 11.9.2001 nên người ta càng lo sợ đây là một chiến dịch khủng bố khác của Hồi giáo cực đoan.

Nhưng nhờ hai cú điện thoại gọi cho hai tu sĩ, cảnh sát đã phăng ra lý lịch của tòng phạm John Lee Malvo, một thiếu niên gốc Jamaica nhập cư Hoa Kỳ bất hợp pháp đang chờ ngày ra tòa để bị trục xuất. Y đã cùng bị bắt với Muhammad trong khi cả hai đang ngủ say trong chiếc Chevrolet đậu bên ngoài một trạm nghỉ chân cạnh xa lộ liên bang 70 gần Myersville , Maryland .

Sau khi hai hung phạm bị bắt, các chuyên viên về những vụ giết người hàng loạt, các nhà phạm tội học, các luật gia, các giáo sư tâm lý học ... thi nhau viết bài và xuất hiện trên màn ảnh truyền hình để giải thích về nguyên nhân khiến Muhammad và Malvo đã gây ra những vụ giết người tàn bạo này. Cuối cùng, người ta cho rằng đây là hành động “trả thù” của hai kẻ thất chí, hận đời, đang sống vô gia cư, vô nghề nghiệp giữa một xã hội văn minh giàu mạnh nhất thế giới.

Dù vì nguyên do gì, đây là một tội ác không thể biện minh. John Allen Muhammad bị tuyên án tử hình. John Lee Malvo, vì là một vị thành niên trong khi phạm tội, bị phạt tù chung thân và không có cơ hội ân xá.

Sau khi coi mạng người như cỏ rác và bị kết án tử hình, Muhammad đã nhờ luật sư khai thác mọi phương tiện pháp lý để tự cứu mạng hắn. Cuối cùng, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã từ chối thỉnh cầu hoãn thi hành bản án tử hình của hắn. Sau chót, Thống đốc Virginia Tim Kaine, một người chủ trương chống án tử hình, cũng từ chối can thiệp.

John Allen Muhammad đã từ giã cõi đời mà hắn thù ghét. Hắn ra đi một cách êm đềm chắc được nhiều người ao ước: được chích một mũi thuốc làm cho mê thiếp đi, sau đó được chích một mũi thuốc làm phổi ngưng hoạt động, cuối cùng là một mũi thuốc khiến quả tim thôi đập. Hắn rời khỏi “bể khổ trần gian” một cách nhẹ nhàng sau khi gây tang tóc, đau thương cho nhiều gia đình vô tội, tiêu phí vài triệu đô-la của dân đóng thuế trong thủ tục điều tra, xét xử và nuôi hắn bảy năm trong tù, nhưng vẫn có một số người tụ họp bên ngoài khám đường phản đối án tử hình bị họ chỉ trích là thiếu văn minh và vô nhân đạo.

Trái lại, thân nhân của những người bị giết đã bày tỏ sự văn minh và lòng nhân đạo một cách hợp lý hơn. Dean Harold Meyers, anh của nạn nhân Robert Meyers, một trong 27 người được mời chứng kiến cuộc hành quyết Muhammad, nói rằng: “Đây là một phần của thủ tục pháp lý. Nó được thi hành một cách chính đáng, nhưng dù sao, việc giết người vẫn là giết người. Bất cứ lúc nào đời sống của một con người bị tước đi, đó không phải là một tình huống vui thú.” Paul LaRuffa, thoát chết sau khi bị Malvo bắn 5 phát, đã từ chối chứng kiến cuộc hành hình, và cho biết lý do: “Tôi quyết định không để hắn lấy thêm một ngày khác trong đời sống của tôi hay phí phạm thêm một ngày khác nữa.” Ông ta đã dùng buổi tối hôm ấy để quây quần với vợ, các con, các cháu trong bữa ăn tối mà ông ta nói rằng “có giá trị hơn là nhìn Muhammad chết”.

Cái “thiện” vẫn là bản chất của con người, nói chung. Người có “tâm ác” như Muhammad hẳn là không nhiều.

Nhưng, nếu Muhammad muốn đi vào lịch sử tội ác của Mỹ một cách ồn ào thì vụ thi hành án tử của hắn đã bị lu mờ phần nào vì một tội ác cỡ lớn khác xảy ra trước đó năm ngày. Mười ba người, hầu hết là quân nhân, đã bị bắn chết và 30 người khác bị thương trong một vụ nổ súng tại Trại Hood ở Texas mà hung phạm duy nhất là một Thiếu tá Quân y tên Nidal Malik Hasan. Vụ thảm sát này đã gây chấn động nước Mỹ vì Fort Hood là căn cứ lớn nhất của Quân đội Mỹ, nơi làm thủ tục cho các quân nhân từ các chiến trường hải ngoại trở về và các quân nhân trước khi được phái tới phục vụ tại Afghanistan và Iraq . Các quân nhân không võ trang đang tập họp trong trại đã bị Hasan nhắm bắn như thỏ trước khi chính hắn bị một nữ cảnh sát viên bắn trọng thương.

Những cái đầu lớn nhất của nước Mỹ đang bàn cãi xem nên coi đây chỉ là một “thảm kịch đáng tiếc” của xã hội hay là một vụ khủng bố của Hồi giáo cực đoan trên nước Mỹ sau vụ 11.9.2001 vì những liên hệ của Nidal Hasan với khủng bố Hồi giáo. Hasan gốc Ả-rập, tín đồ đạo Hồi, sinh ra và lớn lên tại Mỹ. Một công dân Mỹ hoàn toàn trong một đất nước tạp chủng với quyền bình đẳng như mọi công dân khác, nhưng vài nhân chứng cho biết đã nghe hung phạm hô lớn bằng tiếng Ả-rập “Allahu Akbar!” (Thượng đế vĩ đại), khẩu hiệu mà các tên khủng bố Hồi giáo thường hô trước khi ra tay, và cuộc điều tra sau đó đã phát hiện nhiều bằng chứng cho thấy từ lâu Hasan đã tiếp xúc với các tổ chức Hồi giáo quá khích ở bên ngoài, trong lúc không giấu giếm tư tưởng ủng hộ cuộc “thánh chiến” của Hồi giáo tại Iraq, Afghanistan, và ca tụng những tên khủng bố Hồi giáo là những “anh hùng tử đạo”.

Tuy nhiên, thống kê cho thấy 85 phần trăm báo chí truyền thông Mỹ đã tránh không dùng chữ “khủng bố” để gọi hành động tội ác của Thiếu tá Hasan, và muốn coi đây là một “thảm kịch” do một cá nhân gây ra vì lý do chưa được biết. Quan điểm này của truyền thông dòng chính nước Mỹ phù hợp với lập trường chính trị của Tổng thống Obama: không có chiến tranh chống khủng bố Hồi giáo cực đoan (extremist Islamic terrorism) mà chỉ là chống lại “tai ương do con người gây ra” (man-made disaster). Ông Obama cũng không coi Hasan là một tên khủng bố mà là “nạn nhân” của một sự bùng nổ tâm lý vì một nguyên do không thể giải thích.

Quan niệm này dường như đang được chứng minh là nguy hiểm và muốn tránh né sự thật. Dù nhân danh cái gì, tội ác là tội ác, khủng bố là khủng bố. Cướp máy bay chở hàng trăm hành khách chứa đầy xăng để đâm vào hai tòa nhà chọc trời ở New York là tội ác chống nhân loại, là khủng bố, cuốn bom quanh người cho nổ giữa chợ giết hàng trăm dân lành là tội ác, là khủng bố – dù là nhân danh “thánh chiến” (jihadi), dù hành động một mình hay với nhiều đồng phạm. Hitler nhân danh chủ nghĩa “quốc xã” để giết 6 triệu dân Do Thái và gây ra Thế Chiến II là tội ác chống nhân loại. Cộng sản nhân danh “cách mạng”, “công bằng xã hội” để giết hàng trăm triệu người là tội ác lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã sụp đổ, và nó chỉ còn là cái bảng hiệu nham nhở của bốn chế độ độc tài ác ôn sót lại cuối mùa, trong đó có Việt Nam . Để nắm độc quyền cai trị, đảng Cộng sản VN (CSVN) đã gây ra nhiều tội ác.

Mấy triệu người Việt ở hải ngoại, dù ra đi bằng cách nào, cũng đều là nạn nhân của tội ác do CSVN gây ra. Vậy mà, ngay sau khi đủ ăn đủ mặc trên một đất nước xa lạ, đã không quên đồng bào ở quê nhà. Ngoài mấy tỉ đô-la gửi về giúp thân nhân mỗi năm, họ còn hào sảng đóng góp vào những cuộc cứu trợ từ thiện và thiên tai tại Việt Nam được tổ chức không ngừng trong các cộng đồng người Việt hải ngoại. Việc làm này đã là đề tài tranh cãi trong mấy năm gần đây. Kẻ bênh, người chống.

Những người ủng hộ nói rằng “máu chảy ruột mềm”, “lá lành đùm lá rách”, lẽ nào chúng ta quay mặt làm ngơ trong khi đồng bào ở quê nhà đói khổ, thiếu cơm thiếu áo, bệnh tật không thầy không thuốc... dưới sự cai trị dã man của bạo quyền cộng sản, lại còn chịu cảnh thiên tai, bão lụt liên miên. Lòng từ thiện, nghĩa đồng bào để ở đâu?

Những người chống đối cãi rằng chăm lo cho dân là trách nhiệm của chính quyền một quốc gia. Nhà nước CSVN đã bất lực hoặc bất cần biết đến nỗi thống khổ của người dân, trong lúc bọn cầm quyền, “đại gia, tư bản đỏ” giàu sụ, sống xa hoa như đế vương. Tại sao người Việt ở hải ngoại phải đóng góp đem tiền về cứu trợ cho chúng ăn chặn, ăn bớt, có khi người nghèo chẳng được xu nào?

Còn một lý do khác được nêu lên để không đồng ý với việc cứu trợ như một đoạn trong bài viết của tác giả Nguyễn Mỹ Linh ở Quận Cam ( California ):

“Xin đừng quên là chúng ta đang ở trong thời kỳ suy thoái kinh tề trầm trọng mà hậu quả là rất nhiều người trong cộng đồng chúng ta đã mất nhà, mất job, ... và cần sự giúp đỡ của cộng đồng. Nói trắng ra là cộng đồng chúng ta vẫn còn nghèo, mà một phần lớn của cái nghèo đó là vì chúng ta đã và hiện vẫn còn đang ‘ăn cơm nhà’ ở Hoa Kỳ, nhưng làm chuyện ‘vác ngà voi’ ở Việt Nam, một công việc ‘tài lanh’ mà Đảng Cộng sản và bọn tư bản đỏ ở Việt Nam đang cười mũi vì họ không mời, không kêu gọi, cũng không ‘appreciate’ nhưng chúng ta vì muốn ‘thi đua’ lòng yêu nước thương nòi nên vẫn ‘thích’ và ‘mê’ lao đầu về làm như những con thiêu thân mà quên rằng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đặc quyền yêu nước, và ‘yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội’.

“Mà giả sử như chính quyền cộng sản và bọn tư bản đỏ ở Việt Nam giả điếc làm ngơ, không thèm điếm xỉa, hay không lo toan cho dân nghèo thì đó là một cơ hội tốt cho đất nước Việt Nam chuyển mình. Cách mạng chỉ xảy ra khi con người ta bị đẩy vào đường cùng, khi các mâu thuẫn giữa hai giai cấp giàu và nghèo, giữa thành phần cai trị và bị trị dâng lên đến tột cùng. Lịch sử cho thấy hai triệu dân chết đói ở miền Bắc năm Ất Dậu (1945) đã tạo một cơ hội ngàn vàng cho Cộng sản khơi dậy lòng căm thù của toàn dân lên đến tột độ mà đứng lên làm “Cách mạng Mùa Thu”.

Bài của tác giả Nguyễn Mỹ Linh khá dài (8 trang) dưới tựa đề “Mùa Từ Thiện” được phổ biến gần đây trên mạng điện tử đã mổ xẻ nhiều khía cạnh của vấn đề “cứu trợ” dân nghèo tại Việt Nam với những dẫn chứng cụ thể của đời sống chung quanh chắc đã làm nhiều người suy nghĩ.

Tuy nhiên, có phần chắc là “Mùa Từ Thiện” vẫn sẽ còn tiếp tục trong các cộng đồng người Việt hải ngoại, dù có phải thắt lưng buộc bụng, dù bọn đầu sỏ CSVN và bọn tư bản đỏ có “cười mũi”.

Vì “nhân chi sơ tính bản thiện” (?).

Sơn Tùng

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image
Những Hình Ảnh Đầu Tiên Về Cuộc
Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam
ngày 15/11/2009 tại San Francisco









User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hội nghị Người Việt, "Một trò lường gạt trơ trẽn!" Ngày 15-11-2009, giờ 21:27 Cách đây đúng 20 năm, ngày 09-11-1989, Bức tường Berlin ở Đông Đức bị nhân dân phá sập. Biến cố này đã phơi bày tất cả bộ mặt của chế độ cộng sản tại Đông Đức nói riêng và tại các nước Cộng sản toàn cầu nói chung. Đó là một trò lường gạt thô bỉ và vĩ đại, che giấu một bản chất gian dối và bạo tàn, che đậy một xã hội đầy huyết lệ và tội ác, đúng như câu định nghĩa của người
Pháp: “Communisme : sang, fer, misère” (Chủ nghĩa CS là sắt, máu, khốn cùng) và như lời phê phán của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II (người đã hạ đo ván CS): “Communisme : Mensonge, rien que mensonge!” (Cộng sản chỉ thuần là dối trá, lường gạt). Cuộc kỷ niệm hoành tráng tại thành phố Berlin hôm 09-11-2009 mới rồi, với sự tham dự của nhiều chính khách lỗi lạc từ thế giới dân chủ và khoảng 100.000 người, đã một lần nữa phơi bày dung nhan ghê tởm của chủ nghĩa, chế độ và chính đảng Cộng sản.

Thế nhưng, bên trời châu Á, CSVN vẫn tiếp tục mù quáng và trâng tráo chơi trò lường gạt, đặc biệt đối với đồng bào hải ngoại. Mới đây thôi, từ 18-07 đến 05-08-2009, một sinh hoạt gọi là “Trại hè Việt Nam 2009 dành cho thanh thiếu niên kiều bào với chủ đề “Ngọn đuốc dẫn đường” đã diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi trên 11 tỉnh, thành phố từ Bắc vào Nam”. Điểm nhấn của Trại hè lần này xoay quanh nội dung gọi là “theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng Dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới”; đang lúc thật ra đương sự chỉ là một tên gian hùng, tròng ách độc tài lên cả đất nước, đẩy Tổ quốc vào thảm họa đủ mọi mặt, và không hề được UNESCO xưng tụng là danh nhân văn hóa thế giới.

Vài hôm nữa đây, từ 21 đến 23-11-2009, tại Hà Nội sẽ diễn ra cái gọi là “Hội nghị người VN ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất”, do bộ Ngoại giao CS triệu tập, với chủ đề "Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước", có sự tham dự của khoảng 1.500 thành viên gồm hàng lãnh đạo cấp cao của đảng, của bộ máy cai trị CS ở trung ương lẫn địa phương, cùng khoảng 850-900 “đại biểu kiều bào” từ 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới (theo thông tin mới nhất). Hội nghị sẽ thảo luận 4 chuyên đề: “Xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước”, “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài”, “Chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”, và “Doanh nhân kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.

Điểm dối trá lường gạt thứ nhất, đó là danh xưng tiếm đoạt: “đại biểu kiều bào”. Có ai bầu cho những người Việt hải ngoại về nước lần này đâu mà gọi họ là “Ðại biểu”! Ðiều tồi tệ hơn nữa là trong số 850 kẻ mang hiệu danh cao quý này, có đến một nửa là cán bộ nhà nước - tức những nhân viên làm việc cho các tòa đại sứ Hà Nội khắp năm châu - nên số “Việt kiều” thực sự chỉ vào khoảng vài trăm mạng, và hẳn là những kẻ thân với Cộng sản. Cách sắp xếp thành viên tham dự như thế cho thấy nhà cầm quyền VN muốn bảo đảm là sẽ không có sự kiện nào (từ phát biểu, hành động đến quyết định) sẽ diễn ra ngoài ý muốn của họ.

Điểm dối trá lường gạt thứ hai, đó là nội dung 4 chuyên đề thảo luận. Bốn chuyên đề này thật ra đã được trình bày trong Nghị quyết 36 của trung ương đảng CS (ra ngày 26-03-2004). Qua hơn 5 năm thực hiện, bốn điều này đã chẳng đạt được thành quả nào, vì hầu hết đồng bào hải ngoại đều biết tỏng Nghị quyết ấy chỉ là một công cụ nhằm khai thác, khống chế, chia rẽ và lũng đoạn cộng đồng của họ (y như đàn anh Trung cộng đối với Hoa kiều trên thế giới). Thành quả duy nhất của nó là lôi kéo được một số thành phần cần sự yểm trợ về tài chánh của CS để làm ăn ngoài nước hoặc trong nước.

Điểm qua từng mục, trước hết người ta thấy việc “xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước” là một chuyện bằng thừa. Dù có một số bất đồng về phương pháp và đường lối, đại đa số đồng bào hải ngoại đều đoàn kết trong mục tiêu chống chế độ độc tài độc đảng tại quê nhà, đều thành đạt rực rỡ (nhờ không có CS) với hơn 300 ngàn chuyên gia đủ loại, trong đó có nhiều khuôn mặt làm vẻ vang dân Việt như khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và dân biểu Cao Quang Ánh tại Hoa Kỳ, bộ trưởng y tế Philipp Rösler tại Đức, giáo sư Trịnh Xuân Thuận tại Pháp, tân giám mục Nguyễn Mạnh Hiếu tại Canada… Họ đều hướng về đất nước chứ không hướng về đảng CS, vì thế chẳng mấy ai hồi hương để phục vụ dưới cái ách của chế độ. “Ðại đoàn kết dân tộc” chỉ là một chiêu bài lường gạt quá cũ rích, vì cả một lịch sử dài cho thấy đó chỉ có nghĩa là ở dưới trướng của đảng, nằm trong tay nhà nước, để giúp cho chế độ tồn tại, với mối nguy thường trực “bị vắt chanh bỏ vỏ”!

Thứ đến, “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài” là việc mà đồng bào hải ngoại đã làm từ lâu và làm rất tốt. Những lễ hội truyền thống, những dạng hình nghệ thuật (cổ và kim), những tác phẩm văn hóa (thơ văn, ca nhạc, sử địa…), các lớp học Việt ngữ đã được các cộng đồng người Việt khắp nơi trân trọng giữ gìn và phát triển. Đang khi đó thì tại VN, kể từ 1954 đến nay, biết bao giá trị văn hóa đã bị thủ tiêu (điển hình qua cuộc Cải cách nông nghiệp, cuộc Tấn công Mậu Thân), bao công trình văn hóa bị phá bỏ (hàng vạn ngôi chùa với di sản vô giá từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mới nhất là vụ xóa sổ di tích Hoàng thành Thăng Long và đền thờ Lý Chiêu Hoàng), bao ý nghĩa văn hóa bị bóp méo (thờ tên đồ tể Hồ Chí Minh bên cạnh các giáo tổ và anh hùng dân tộc, tạo ra quái thai “Văn hóa đảng”, công nhận “làng văn hóa” là làng không có phản đối những bất công của cường quyền…). Đặc biệt cái nôi của văn hóa cho mỗi người là trường học thì bị băng hoại vì giả dối và bạo hành, vì tham nhũng và bóc lột, vì đầu độc và ngu dân.

Việc kêu gọi “chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” cũng là một trò lường gạt quá cũ. Ai mà không nhớ tới kinh nghiệm đau thương của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Tiến sĩ Trần Ðức Thảo, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện… Sau khi lấy 2 bằng tiến sĩ lúc mới 23 tuổi tại Pháp, luật sư Trường trở về nước hành nghề, sau đó theo “cách mạng”. Năm 1956, vì viết bài phê bình những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, ông đã bị tước hết mọi công việc, quyền lợi, phải sống như kẻ bị khai trừ, lây lất nghèo đói cho tới chết. Tiến sĩ triết học Trần Ðức Thảo, khi rời nước Pháp năm 1951 để trở về Bắc Việt tham gia kháng chiến, thì đã thấy ngay cái học của mình bị Hồ Chí Minh khinh khi bằng cách chỉ giao cho dịch các truyền đơn sang Pháp ngữ. Năm 1956,vì có viết một bài về vấn đề phát triển tự do dân chủ cho nhóm Nhân văn Giai phẩm nên ông bị kết tội là phần tử phản động. Bị tước mọi phương tiện sống, Tiến sĩ Thảo trở thành một kẻ ăn mày lang thang. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, sau một đời cung cúc phục vụ CS kể từ khi về nước năm 1963, cuối cùng thì đã bị khai trừ vì tội viết “Thất trảm sớ” gởi Quốc hội CS….

Còn các “Doanh nhân kiều bào [muốn] góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” thì hãy nhớ tới gương ông Nguyễn Trung Trực, Việt kiều Úc về đầu tư ngành ngân hàng, bảo hiểm, bị sạch túi; ông Trịnh Vĩnh Bình, Việt kiều Hòa Lan về đầu tư ngành dầu hỏa không những bị tước lột mà còn bị tù đày; ông Nguyễn Gia Thiều, Việt kiều Pháp (chồng hoa hậu Hà Kiều Anh) về đầu tư ngành viễn thông cũng bị tán gia bại sản và tù tội; ông Nguyễn An Trung, Việt kiều Nhật, về VN làm giám đốc Công ty Sài Gòn Ôtô rồi lâm vòng lao lý; ông Nguyễn Đình Hoan, Việt kiều Mỹ, về đầu tư giáo dục, chẳng những mất hết của cải mà còn bị tù, bị vu khống, bị cấm rời VN, bị Công an làm tình làm tội… Họ cũng chớ quên vụ cò mồi Trần Trường, Việt gian tay sai cho Việt Cộng ở Mỹ, về đầu tư đào ao nuôi cá, rồi cũng bị khốn đốn và vặt trụi; vụ ông Đỗ Thành Công, Việt kiều Mỹ, về thăm gia đình ở Phan Thiết, bị Công an bắt giam, chụp mũ là khủng bố, bị kết tội bịa đặt là âm mưu đánh phá Toà đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội….

Điểm dối trá lường gạt thứ ba, đó là Cộng sản còn gọi Hội nghị này là “Hội nghị về nguồn”, cụ thể hóa “chính sách trở về cội nguồn của người VN ở nước ngoài”, trên “tinh thần hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc cùng hướng về nguồn cội”. Nguồn cội của con Hồng cháu Lạc đúng là Đất Mẹ VN, nhưng tuyệt nhiên khó có thể hướng về khi Đất Mẹ bị cai trị bởi một chế độ sai trái về phương diện chính trị và đạo đức. Không thể “về nguồn” theo nghĩa chấp nhận làm nạn nhân của một tập đoàn chuyên phản bội, chấp nhận làm tay sai cho giai cấp tư bản đỏ, chấp nhận làm tôi trung phục vụ đảng CS, nếu không sẽ đi vào con đường máu và nước mắt như tu đoàn Bát Nhã hiện thời. Không thể “về nguồn” khi CSVN ngày càng hiện nguyên hình là một tổ chức hoạt động không giấy phép, dùng bạo lực để cưỡng chiếm tài sản của toàn dân, phạm 4 tội ác cơ bản: tội thành lập một chế độ cai trị bất chính; tội tổ chức việc tham ô ngày càng tinh vi, lộ liễu và trắng trợn; tội đem giang sơn Tổ quốc bán cho lân bang, vừa để trả nợ chiến phí, vừa để được bảo vệ ngai vàng; tội phát triển các tệ đoan xã hội nhằm làm cho quần chúng, nhất là giới trẻ, ham mê trác táng, để nhân dân phần nào giảm đi cường độ chống bạo quyền (theo Đỗ Thái Nhiên, Về nguồn hay về hùa?).

Nếu tập đoàn lãnh đạo Cộng sản thực tâm đặt quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi đảng phái thì trước khi tổ chức Hội nghị Người Việt, họ phải làm những việc sau đây: 1- phóng thích lập tức và vô điều kiện các tù nhân chính trị, 2- chấp nhận một xã hội đa đảng, đa nguyên, 3- cho phép báo chí tư nhân được xuất bản, 4- mời các nhân vật bất đồng chính kiến trong lẫn ngoài nước tham dự Hội nghị. Bằng không thì dù có tổ chức hàng chục Hội nghị như thế, CS cũng chẳng lừa gạt được ai, ngoại trừ những kẻ muốn về VN để chung tay bóc lột đồng bào.


Trích nguồn :" Tập chí Ngôn Luận.de"

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Bộ Trưởng Y tế Đức gốc Việt




User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Medicare năm 2010:
Những điều cần biết về Medicare Part A, Part B, Part C, Part D, Medigap


Hà Ngọc Cư (Viết riêng cho Người Việt)
Cứ vào cuối Tháng Mười mỗi năm là những người từ 65 tuổi trở lên đều nhận dược cuốn “Medicare & You” do Trung Tâm “Centers For Medicare and Medicaid Services” ấn hành. Ðây là tài liệu chính thức do chính phủ biên soạn và phát hành.

Các thông tin của bài viết dưới đây đều được trích ra từ cuốn “Medicare 2010 & You”. Chúng tôi sẽ không chuyển ngữ những danh từ nếu xét thấy để nguyên tiếng Anh lại dễ hiểu hơn.

Medicare là bảo hiểm y tế dành cho người già từ 65 tuổi trở lên hoặc người tuy chưa tới tuổi 65 nhưng bị mất khả năng lao động (disable) và người bị suy thận phải lọc thận (dialysis) hay thay thận (kidney transplant). Medicare có 4 thành phần: Part A; Part B, Part C và Part D.

Bạn có quyền chọn Medicare do chính phủ điều hành tức Medicare Original hay Medicare do một hãng bảo hiểm tư nhân điều hành dưới hợp đồng với chính phủ tức Medicare Advantage hay Medicare Part C.

1. Medicare Part A

Medicare Part A giúp ta trả phí tổn khi điều trị ở bệnh viện và bao gồm cả chi phí tại Hospice care và Home health care.

Ta không phải đóng lệ phí cho Part A (ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt).

Muốn có Medicare thì bạn phải đăng ký trong thời hạn 3 tháng trước hoặc hoặc 4 tháng sau khi tới tuổi 65, nghĩa là bạn có 7 tháng để đăng ký đúng hạn. Nếu đăng ký trễ hạn thì sẽ bị phạt, tiền lệ phí hàng tháng sẽ bị tăng lên 10%.

2. Medicare Part B

Part B giúp ta trả (thông thường 80%) tiền khám bệnh, chi phí ngoại chẩn (outpatient care), và rất nhiều dịch vụ y tế khác như “kiểm tra ung thư colorectal” (colorectal cancer screening”, defibrillator, kiểm tra tiểu đường, dụng cụ kiểm tra tiểu đường, xe lăn, walker, dịch vụ y tế cấp cứu (Emergency Room Services), khám mắt cho người bị bệnh tiểu đường, chích ngừa cúm, viêm gan, y tế tại nhà (home health services), lọc thận (Dialysis), khám ung thư vú (mammograms)... (xin đọc ở phần “Part B Covered Services), nhưng Medicare không trả tất cả mọi chi phí y tế. Khi bạn ra nước ngoài thì Medicare hết công dụng. Medicare cũng không trả tiền khám, chữa răng, răng giả, giải phẫu thẩm mỹ, máy nghe (hearing aids)... Bạn nên copy trang “Preventive Services Checklist” để mang theo mỗi khi đi chích ngừa hoặc kiểm tra (Screening).

Bạn phải đóng lệ phí cho Part B, hiện nay lệ phí này là $96.40. Người có lợi tức hàng năm từ $85,000 (cho cá nhân) hoặc $170,000 (cho hai vợ chồng) trở lên sẽ phải đóng cao hơn... Nếu đăng ký trễ hạn sẽ bị phạt. Thời kỳ đăng ký cho part B là từ 1 tháng Giêng đến 31 Tháng Ba mỗi năm. Nếu còn bảo hiểm (vì bản thân hoặc người phối ngẫu còn có bảo hiểm của sở làm) thì bạn không cần phải xin Part B.

Bạn có thể chọn Medicare Original hay Medicare Advantage (còn gọi là Medicare Part C) tùy theo nhu cầu, sở thích và tài chính của mình.

Medicare Original

- Sẽ trả tới 80% y phí tại bệnh viện (part A) và y phí khám bệnh (part B).

- Bạn có quyền chọn bác sĩ, bệnh viện và các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế theo ý muốn của mình. Bạn không cần Referral (giới thiệu) khi đi bác sĩ chuyên môn (specialist). Bạn không cần phải có một bác sĩ “cơ sở” (primary care doctor) cho mình.

- Bạn phải trả tiền “deductible” và “coinsurance” (Nếu bạn mua Medigap thì Medigap sẽ trả những phần này cho bạn).

- Bạn phải trả tiền lệ phí hàng tháng (hiện nay la $96.40).

- Muốn có bảo hiểm thuốc theo toa bác sĩ thì bạn phải mua Medicare Part D qua các hãng bảo hiểm tư nhân. Lệ phí part D tùy theo mỗi hãng (trung bình $30 một tháng).

Dù có Medicare bạn vẫn phải trả phần của mình gồm:

- Máu : 3 đơn vị đầu cho mỗi năm.

- Home Health Care: $0 cho dịch vụ săn sóc tại nhà - 20% chi phí cho các dụng cụ y tế (nếu được chấp thuận)

- Hospice Care: $0 cho hospice care - $5 mỗi copayment cho mỗi toa thuốc. Medicare không trả tiền phòng và ăn nếu hospice care tại tư gia

- Bệnh viện: Bạn phải trả $1,068 deductible nhưng $0 coinsurance cho các ngày từ ngày 1 đến ngày 60 của mỗi giai đoạn thụ hưởng (benefit period). Sau đó từ ngày 61 đến ngày 90 bạn phải trả mỗi ngày $267. Sau 90 ngày thì cứ mỗi ngày của giai đoạn “lifetime reserve day” bạn phải trả $534 cho mỗi ngày ở bệnh viện.

- Skilled Nursing Facility Stay: $0 cho 20 ngày đầu - $133.50 cho mỗi ngày kể từ ngày 21 đến ngày thứ 100 - Sau 100 ngày thì phải trả 100% mọi phí tổn.

- Bạn phải trả $135 đầu tiên (deductible) cho chi phí của Part B.
- Clinical Laboratory Services: $0 nếu được Medicare chuẩn thuận.
- Khám bệnh: Bạn phải trả 20% nếu dược Medicare chấp thuận.
- Mental Health Services: Bạn trả 45%.
- Dịch vụ ngoại chẩn: Bạn trả coinsurance hoặc copayment.

Medigap

Medigap còn gọi là Medicare Supplement Insurance. Nếu bạn muốn một hãng bảo hiểm tư nhân trả phần “deductible” và “coinsurance” thì bạn phải mua Medigap (do bảo hiểm tư nhân điều hành). Lệ phí tùy theo từng hãng. Nhưng tiền nào của nấy. Medigap rất “lợi” trong trường hợp phải điều trị ở bệnh viện lâu dài.

Mỗi Medigap có nhiều “plan” khác nhau mang các mẫu tự từ A tới N. “Plan” càng tốt thì lệ phí càng cao. Kể từ ngày 1 Tháng Sáu, 2010 Các Medigap Plan sẽ thay đổi :

- Hai “plan” mới được thêm vào.

- Các “plan” E,H, I và J sẽ bỏ. Nhưng nếu bạn đã có các plan này trước ngày 01 Tháng Sáu, 2010 thì có quyền giữ nguyên.

Medicare Advantage (Medicare Part C)

Medicare Advantage do tư nhân điều hành (như HMO hay PPO) và được hợp đồng với chính phủ. Medicare Advantage cũng trả các dịch vụ được bảo đảm bởi Part A và Part B. - Hầu hết Medicare Advantage buộc bạn phải sử dụng bác sĩ, bệnh viện và các phương tiện y tế trong hệ thống của họ.

- Bạn phải chọn một Primary Doctor cho mình.
- Muốn đi bác sĩ chuyên môn bạn phải được primary doctor giới thiệu (refer).
- Thông thường ngoài lệ phí part B, bạn còn phải trả thêm một lệ phí khác nữa (lệ phí này thay đổi theo từng hãng).
- Thông thường phải trả Copayment hay coinsurance.
- Phí tổn và dịch vụ cung cấp tùy theo mỗi hãng.

Mỗi tháng cơ quan Medicare (của chính phủ) phải trả một khoản tiền nhất định cho các hãng bảo hiểm cung cấp Medicare Advantage cho bạn.

Ða số các hãng bảo hiểm bán Medicare Advantage bán luôn cả Part D cho mình.
Nếu bạn chọn Medicare Advantage thì không ai được phép bán Medigap cho bạn.

Medicare Part D (Medicare Prescription Drug)

Medicare Part D là bảo hiểm thuốc có toa bác sĩ. Hễ có Medicare là có quyền mua Medicare Part D từ các hãng bảo hiểm tư nhân. Nếu bạn chọn chương trình Medicare Original thì bạn phải mua thêm part D còn nếu bạn chọn Medicare Advantage thì phần lớn part D đã được bao gồm trọn gói với part A và part B. Tuy nhiên bạn vẫn phải hỏi họ cho chắc chắn.

Bạn phải thay đổi hay lựa chọn part D trong khoảng thời gian từ 15 Tháng Mười Một đến 31 Tháng Mười Hai mỗi năm. Và part D của bạn sẽ có hiệu lực từ ngày 1 Tháng Giêng của năm tới.

Lệ phí và tiền deductible, tiền copayment của bạn thay đổi tùy theo mỗi hãng bảo hiểm và tùy theo từng loại thuốc. Có hãng trả cả tiền deductible cho bạn.

Medicare Part D gồm 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Yearly Deductible: Bạn phải trả toàn bộ tiền thuốc cho đến khi bạn đã trả hết $310 thì mới bước sang giai đoạn 2. Có hãng trả deductible cho bạn.

Giai đoạn 2: Copayment or coinsurance. Lúc này bảo hiểm trả một phần và bạn trả một phần tức là copayment hay coinsurance (copayment là số tiền bạn phải trả cho mỗi toa thuốc; coinsurance là số tiền bạn phải trả theo phần trăm cho mỗi toa thuốc).

Giai đoạn 3: Coverage gap tức là giai đoạn bảo hiểm ngưng chi trả cho bạn.

Khi tổng số tiền gồm: tiền deductible + tiền hãng bảo hiểm đã trả giùm + tiền túi của bạn đạt tới con số $2.830 thì bạn đã rơi vào “donut hole” tức là giai đoạn “coverage gap”, là lúc mình phải trả trọn tiền thuốc cho đến khi tổng số tiền túi của bạn dùng để trả tiền thuốc lên tới $4.550.

Giai đoạn 4: Catastrophic Coverage Khi bạn đã qua khỏi coverage gap thì được bước vào giai đoạn “catastrophic coverage” lúc đó bạn được bảo hiểm trả gần 100% tiền thuốc.

Lựa chọn thuốc như thế nào?

Medicare Part D không trả tất cả mọi loại thuốc. Họ không trả các loại thuốc không cần toa bác sĩ (over the counter drugs). Họ cũng không trả một số thuốc có toa bác sĩ như thuốc gia tăng khả năng thụ thai (promote fertility); thuốc mọc tóc; thuốc bổ, thuốc tăng cường khả năng tình dục (như Viagra, cialis, levitra...); thuốc giảm cân...

Tiền copayment hoặc coinsurance mà bạn phải trả nhiều hay ít còn tùy thuộc vào mỗi loại thuốc... Thuốc theo toa bác sĩ được chia thành 4 cấp (tier):

- Tier 1 bao gồm các loại thuốc “generic”
- Tier 2: Gồm các loại thuốc “brand name” và thuốc generic đắt tiền.
- Tier 3: Gồm các loại thuốc “non-preferred brand name” và “non-preferred generic“
- Tier 4: Gồm các loại thuốc rất đắt tiền.

Muốn biết thuốc nào thuộc “tier' nào thì tìm ở cuốn Formulary. Tiền copayment thay đổi tùy theo mỗi hãng bảo hiểm và hãng bảo hiểm lại định tiền copayment tùy theo mỗi tiểu bang. Trung bình tiền copayment cho loại thuốc thuộc Tier 1 là từ $5 đến $7, Tiền copayment cho Tier 2 là $42, cho Tier 3 từ $52 (Puerto Rico) cho tới $95 ( Michigan ). Thuốc nằm trong Tier 4 thì hãng bảo hiểm chỉ trả 33% còn mình phải trả phần còn lại.

Khi đi bác sĩ ta nên mang theo cuốn Formulary để yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc thuộc loại ít tiền nhưng hiệu quả như nhau.

Thay đổi hay bỏ Advantage Medicare Plan

Nếu bạn muốn bỏ hay thay đổi hãng bảo hiểm mà bạn đã chọn cho Medicare Advantage của mình thì xin nhớ rằng:

- Bạn phải quyết định trong khoảng thời gian từ 15 Tháng Mười Một tới 31 Tháng Mười Hai của mỗi năm.

- Nếu bạn muốn đổi từ một Medicare Advantage Plan này (nghĩa là đổi hãng bảo hiểm cho Medicare Advantage ) sang một Medicare Advantage Plan (nghĩa là sử dụng một hãng bảo hiểm mói cho Medicare Advantage của mình) thì bạn chỉ cần gia nhập một hãng bảo hiểm mới thì hợp đồng của mình với hãng cũ tự động chấm dứt.

Nếu bạn muốn đổi từ Medicare Advantage sang Medicare Original (do chính phủ điều hành) thì bạn phải gọi cho hãng bảo hiểm đang điều hành Medicare Advantage của mình hoặc gọi cho Medicare ở số 1-800-633-4227.

Extra-Help

Người có lợi tức thấp và tài sản không đáng kể thì có thể xin được Medicaid, Extra-Help, State Pharmacy Assistance, PACE (Programs of All-inclusive Care for the Elderly), Medicare Savings Programs (Help With Medicare Costs).

- Medicaid là chương trình bảo hiểm y tế do Liên Bang và tiểu bang liên kết giúp ta trả gần hết các chi phí về y tế. Muốn được Medicaid thì phải hội đủ các điều kiện về lợi tức và tài sản. Nhiều người được cả Medicare lẫn Medicaid. Nếu có cả Medicare lẫn Medicaid thì hầu như không phải trả mọi chi phí về y tế. Và trong trường hợp này có thể chọn Medicare Original hay Medicare Advantage. Chương trình Medicaid thay đổi theo từng tiểu bang. Tên gọi cũng không đồng nhất, có nơi gọi là “Medical Assistance” hay “Medi- Cal”.

Medicaid trả cả những dịch vụ mà Medicare không trả như “nursing home” và “home health care”.

Extra-Help: Người có lợi tức thấp và tài sản không đáng kể có thể xin Extra-Help trả cho tiền lệ phí hàng tháng (premium), tiền deductible, tiền copayment/coinsurance. Muốn xin được Extra-Help thì phải hội đủ các điều kiện sau:

- Lợi tức cá nhân hàng năm dưới $16,245 và tài sản dưới $12,510

- Nếu là vợ chồng và không có người “dependent” nào khác thì lợi tức phải dưới $21,855 và tài sản chung dưới $25,010.

Mọi thắc mắc xin gọi cho Medicare ở số điện thoại: 1-800-MEDICARE (1-800-633-4227)

Muốn xin cuốn Medicare 2010 & You hoặc Medicare 2011 & You thì có thể vào website: www.My Medicare.gov

* Về tác giả: Giáo Sư Hà Ngọc Cư hiện là giám đốc điều hành cơ quan CIS chuyên lo về di dân và tị nạn tại Houston, Texas.

Post Reply