Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image


Phải Bảo Vệ Tổ Quốc, Bảo vệ Lãnh Thổ của Chúng ta!
Hải ngoại ngày 29 tháng 10, 2009

Kính thưa Đồng Bào Quốc Nội và các Phật tử ở trong nước cũng như ngoài nước,
-- Chúng tôi mượn đường dây này, để có lời kính thăm đồng bào ở trong nước và ở hải ngoại. Cũng nhân dịp này, chúng tôi muốn truyền bá một vài ý kiến.

-- Chúng tôi mượn đường dây này để ủng hộ lời kêu gọi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ: KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA CỦA TRUNG CỘNG! Ngài là Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất).

-- Đây là lời kêu gọi lần thứ hai. Lần thứ nhất, ngài kêu gọi ngưng ngay chuyện khai thác bauxite ở cao nguyên của nước ta. Vì ngài đã nhận thấy một cách rất rõ ràng cái sự nguy hiểm của bauxite, cũng như sự MẤT NƯỚC ĐÃ GẦN KỀ RỒI. Cho nên, trước thì ngài kêu gọi biểu tình tại gia.

-- Có nhiều người cho rằng biểu tình tại gia như vậy là đắp mền mà ngủ ở nhà. Xin lỗi, không phải thế đâu."Biểu tình tại gia" là xây dựng một Ý THỨC TỰ CHỦ mà ngày xưa Tổ Tiên ta đã truyền lại, như là "Nam Quốc sơn hà nam đế cư" của Lý Thường Kiệt đã đưa ra. Cái ý thức Tự Chủ đó rất cần thiết. Nếu có ý thức ấy thì bấy giờ mới tranh đấu chống ngoại xâm được!

-- Sở dĩ ngài kêu gọi vậy, tôi thấy rất đúng, là vì qua những cuốn phim thu ở bên nhà rồi chúng tôi được coi ở bên này, thì thấy 2 người thân đang nói chuyện với nhau, tự nhiên có một người thứ 3 đến, dù người thứ 3 ấy đã quen biết, nhưng mà cũng phải đổi sang ngay chuyện khác. Tại vì lúc nào cũng sợ sệt công an theo dõi mình. Do vậy cho nên, vì quá sợ sệt, chúng ta chẳng có làm được gì cả !

-- Chúng ta bày tỏ thái độ về chuyện chống lại, không cho họ khai thác Bauxite. Tức là bảo vệ lãnh thổ, Tổ Quốc, bảo vệ giống nòi. Không cho bất cứ một người nào lợi dụng lý do gì để lãnh thổ, nền văn minh, quyền Tự Chủ của nước ta.

-- Do đó cho nên "biểu tình tại gia" không phải là thái độ nhút nhát. Chính nhờ cuộc biểu tình tại gia tháng 5 "bất tuân dân sự" đó mà cả quốc tế đã biết đến lời kêu gọi của chúng ta. Vì biết đến lời kêu gọi của chúng ta, cho nên Trung Cộng đã phải khựng lại, và nhà nước Việt Nam cũng đã khựng lại. Tôi gọi là khựng lại, chứ họ không hoàn toàn bỏ đi ý định xâm lược của họ!

-- Đảng cộng sản Việt Nam đã làm tay sai và làm chi bộ cho đảng cộng sản Trung Quốc. Cho nên sẵn sàng "bán nước cầu vinh". Tôi nghĩ rằng bây giờ cộng sản Việt Nam đang làm cái việc đó đó! Là vị họ sợ sệt quá đi! Họ sợ người khác chiếm mất ngôi vị của họ. Họ sợ mất quyền lợi của họ. Họ muốn dựa vào sức xâm lăng của Trung Quốc, để bảo vệ những độc quyền độc tôn của họ ở trong nước. Chính vì vậy, họ trở nên phản quốc!

-- Qua cuộc kêu gọi bất tuân dân sự đó, quốc tế và quốc nội đã hưởng ứng. Chẳng thế mà cộng sản trong lúc đầu đã cấm không cho Quốc Hội của họ nói đến chữ đó. Khổ nổi là họ khựng lại thôi, chứ họ chưa chấm dứt hoàn toàn. Chúng tôi thấy một điều khác nữa, là chính đó là sự bày tỏ thái độ.

-- Bởi vì, trong một quốc gia mà tự do báo chí không có, tự do ngôn luận không có, không còn làm được một việc gì khác! Ngay cả tự do hội họp cũng không có. Không có chính quyền, cũng không có quân đội để mà trực tiếp mạnh mẽ chống lại quân xâm lăng bằng quân sự. Cho nên chúng ta chỉ còn có một thái độ. Thái độ của chúng ta là yêu cầu và nhất định chống lại, không cho khai thác bauxite.

-- Và bây giờ chúng ta chống lại việc tiêu thụ hàng hóa của Trung Cộng. Tại sao chúng ta lại chống lại cái đó? Không phải dân tộc ta có một chủ nghĩa hẹp hòi, chống lại dân tộc Trung Hoa. Không! Hai dân tộc Trung Hoa và Việt Nam rất là thân thương với nhau đã nhiều đời nhiều kiếp, nhưng CHÚNG TA CHỐNG LẠI SỰ HÁN HOÁ!

-- Cái việc Hán hóa đó, cái việc xâm lược đó, một đế quốc Trung Quốc đang bành trướng với chủ nghiã xâm lược đó, thì chúng ta thấy nó rất nguy hiểm! Chúng ta nhìn thấy cái ý đồ xâm lược của Bắc Kinh đã rất rõ ràng rồi.

-- Khi chúng ta lên tiếng như vậy, nhiều nhà trí thức phản đối như vậy, thì tòa đại sứ Trung Cộng, mà tôi gọi là thái thú thời nay, đã hạ lệnh cho ra quyết nghị 97 để cấm, cấm, và cấm không cho tất cả những tổ chức khoa học tổ chức công nghệ không được có ý kiến phản biện về đường lối, về chủ trương về chính sách của đảng cộng sản !

-- Do đó cho nên họ (Trung Cộng) muốn bịt miệng tất cả những người ở trong nước, để họ sẵn sàng xâm lược nước ta! Và trong khi đó đảng cộng sản Việt Nam lại tiếp tay, làm tay sai cho đế quốc xâm lược Bắc Kinh!

-- Cũng chính vì vậy, những ngày gần đây, ở trên vùng cao nguyên, chúng ta thấy những đường phố đã được viết ra bằng tiếng Hoa! Rồi những người dân Trung Hoa đến đó định cư, lập nghiệp, và ở lại đó để khai thác bauxite! Họ không cần giấy nhập cảnh hay giấy passport, hay là một cái khế ước hay điều kiện gì với Bộ Lao Động Việt Nam!

-- Họ đến và họ đi như đất đai riêng của họ thôi! Và họ còn có quyền ở lại nữa, và lấy vợ Việt Nam nữa! Chúng ta nhìn thấy từ cách sinh sống của họ đang định cư trong vùng ấy, thì quả tình chúng ta thấy ý đồ xâm lược đã hiện ra rất rõ ràng rồi!

-- Bây giờ chúng ta nhìn ra các hải đảo: thì chúng ta thấy những hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị cướp hẳn rồi! Gần đây có mấy con tàu chiến lớn của Trung Cộng đã cập bến Hoàng Sa và Trường Sa. Rồi những cuộc không tập ở Hoàng Sa và Trường Sa đã xảy ra. Những cuộc tập nhảy dù và đổ bộ, và bảo vệ đảo cũng đã được tập.

-- Họ cho đó là những hòn đảo của họ, là biên cương của nước Trung Hoa cộng sản! Cái khẩu hiệu mà cấp chỉ huy của họ chỉ thị cho quân lính của họ ở đó được nghe, đã được công khai truyền ra bằng cửa miệng của cấp chỉ huy lính Trung Cộng ở đó, là họ phải bảo vệ lãnh thổ và biên cương của người Trung Hoa !

-- Thưa đồng bào và thưa quý vị, đó là một điều rất tủi nhục cho đất nước ta. Chúng ta không thể ngồi yên được! Chúng ta không có quân sự, chúng ta không đủ sức, và chúng ta cũng chưa xuống đường một cách công khai bởi vì chúng sẽ áp dụng ngay cái kế hoạch Thiên An Môn để đàn áp chúng ta, như đang đàn áp các nhà dân chủ Việt Nam.

-- Vì vậy chúng ta không cho chúng cơ hội để đàn áp chúng ta. Chúng ta chỉ có một thái độ, thái độ ấy không có gì nguy hiểm hết, là hễ nhìn thấy hàng hoá Trung Cộng là chúng ta không mua! Từ chối không mua hàng hoá Trung Cộng! Vì chính họ đã bóc lột nhân dân nước họ! Những người cùng dân tộc Trung Hoa với họ mà họ cũng không thương!

-- Biết những đồ hàng của Trung Cộng không những có nhiều chất độc, nhiều hoá chất hại cho con nít đã đành, mà còn hại cho cả người lớn. Thậm chí gần đây, những cái đủa mà người ta ngâm vào thuốc hoá học để rồi trở thành những cái măng để bán rẻ cho chúng ta ăn! Hoặc giả là những chai xì dầu mà được làm bằng tóc người ta, nhất là tóc những bệnh nhân nan y khó trị ở trong nhà thương! Hoặc trong những xác đã chết! Mà còn lấy ra để làm thức ăn!

-- Những sự đau đớn nguy khốn như vậy! Không những vì những chất độc, hoá chất trong đồ ăn đồ chơi đồ dùng của người Trung Cộng chế ra, khổ nổi, nó còn làm cho hàng hoá Việt Nam không thể sản xuất được! Một đất nước mà không có sản xuất, một đất nước mà không có nền thương mại nền kỹ nghệ phát triển được, thì chỉ đi tiêu thụ những hàng của người khác, mà giá rất rẻ!

-- Ở Trung Quốc, thì buồn cười là có những món hàng mà chúng tôi nghiên cứu thấy, thí dụ như 9 đồng hay 9000 chẳng hạn, thì ở Việt Nam chỉ có 3 đồng, hoặc là 3000 tùy theo hối xuất. Do vậy, chúng tôi thấy họ bóc lột, hy sinh cả đời sống con nít của họ, nông phu của họ! 750 triệu nhà nông Trung Hoa đã đói khát khổ sở để sản xuất thực phẩm để họ đem đi bán rẻ, để mà bành trướng đế quốc xâm lược của họ! Và tiêu huỷ nền kinh tế của nước ta!

-- Cho nên chúng ta không thể nào hoàn toàn tin tưởng vào họ được! Chắc là quý vị còn nhớ, trước đây, họ muốn tiêu diệt rừng Quế của chúng ta ở Thanh Hóa! Họ không mua Quế mà họ đi mua rễ Quế! Họ mua rễ Quế để làm gì? Để cho chúng ta có những người tham lam ban đêm ra đào trộm rễ Quế, để chết hết rừng Quế! Như vậy rất là nguy hiểm! Có một độ, chúng ta thấy họ mua tất cả những con rắn độc, để làm gì? Để những con ấy không còn ăn chuột được nữa, và chuột phát sinh ra để phá hoại mùa màng của chúng ta!

-- Kỳ trước, chúng tôi đã thưa về sự độc hại của bauxite và chương trình họ cướp nước của chúng ta, không cần đến súng đạn trong giai đoạn đầu. Thế thì, kỳ này, chúng tôi đã thưa về việc chúng ta nên tẩy chay hàng hoá của Trung Cộng.

-- Chúng tôi có một người chuyên viên, họ góp ý cho chúng tôi là mỗi hàng hoá có dán dấu điện tử (bar codes) mà nếu cọ sát vào máy computer thì nó hiện lên hàng hoá. Bên dưới cái mác computer dán hàng hoá đó có một hàng số dài. Mỗi quốc gia có 3 số đầu, làm ở quốc gia nào thì nó hiện rõ.
Nếu ba số đầu là 690, 691 or 692: Made in China
Nếu ba số đầu là 471: Made in Taiwan

-- Chúng ta không tẩy chay hàng hoá của Đài Loan. Nhìn số đó, chúng ta khó biết, nhưng những số đầu bên dưới những gạch dọc màu đen cho máy computer đo giá, những số nào mang số 690, bắt đầu bằng 691, bằng 692. Ba số ấy, Trung Cộng mà muốn xuất cảng món hàng gì đem đi xuất ngoại thì bắt buộc phải để ba cái số này ở đầu. Đó là luật thương mại quốc tế. Chính vì vậy mà chúng ta biết những hàng nào là hàng Trung Cộng, thì chúng ta không mua.

-- Đối với nhân dân Trung Hoa, chúng ta vẫn coi nhau như họ hàng anh em, vì nhiều người Trung Hoa đã từng đến ở nước Việt nhiều đời nhiều thế hệ và thành ra người Việt. Nhưng không phải tất cả người Việt đến từ Trung Quốc. Do đó chúng tôi góp ý kiến là tẩy chay hàng hoá Trung Cộng.

-- Cụ Quảng Độ thì gọi là "không dùng hàng hoá của Trung Quốc", nhưng mà tôi xin đổi cho rõ ràng là: tẩy chay hàng hoá của Trung Cộng, cho đến khi nào mà Bắc Kinh từ bỏ hẳn mộng xâm lược và chiếm nước ta như đã chiếm Tây Tạng và chiếm Tân Cương!

-- Tổ Tiên chúng ta đã có mấy nghìn năm, thưa quý ngài và quý vị, đã có mấy nghìn năm kinh nghiệm rồi với họa xâm lăng từ Bắc Kinh!

-- Cho đến bây giờ, trước nạn nguy khốn như thế này của đất nước Việt Nam, thì có nhiều người nghĩ quá ư mơ mộng chắc rằng quốc tế họ chẳng để chúng ta chết. Đúng như vậy, quốc tế có thể không để chúng ta chết, nhưng mà chúng ta cứ chết đuối ở dưới đáy sông mà không đưa tay lên, thì ai biết mình đang chết đuối mà cứu? Nếu chúng ta chỉ cứ thụ động mà chấp nhận cái gì của đảng cộng sản Việt Nam đưa ra, chấp nhận những gì của đảng cộng sản Trung Hoa đưa ra, thì thật là nguy khốn! Không ai cứu được chúng ta cả!

-- Chúng ta cũng đừng bao giờ chờ những giải pháp hoàn toàn của quốc tế để giúp ta. Có thể có, và đã có đang có đấy, nhưng mà thực lực của chúng ta là phải có thái độ biết giữ đất nước lãnh thổ, nền văn minh, Tổ Quốc của chúng ta! Thì người khác mới cứu chúng ta được!

-- Thế chúng tôi hôm nay chỉ góp ý kiến cùng quý ngài quý vị, nhất là chúng tôi nghĩ đến các anh em thanh niên ở trong nước. Chắc chắn rằng đã qua thời kỳ hậu chiến, và các anh em đã có ý thức rõ ràng về cả một thế hệ chúng ta đang cần phải giữ gìn Tổ Quốc. Quan trọng, cẩn thận, như là giữ con ngươi ở trong con mắt vậy!

-- Vì vậy tôi đề nghị với anh em là chúng ta hãy tỉnh táo, và muôn người như một, rèn chí, để noi gương Lý Thường Kiệt, noi gương Trần Hưng Đạo, noi gương Nguyễn Trãi, và noi gương nhiều thế hệ anh hùng dân tộc. Để mà GIỮ NƯỚC. Đừng để ngày hôm nay mai một những công đức của Tổ Tiên.

-- ĐỪNG BAO GIỜ TIN VÀO NHỮNG LỜI HỨA HẸN CỦA CỘNG SẢN CẢ! Nhất định không tin! Họ cởi mở cũng chỉ là giai đoạn thôi. Chấm dứt ngay việc khai thác bauxite! Và chúng ta nhất định không dùng hàng hoá của Trung Cộng để tỏ thái độ của chúng ta!

Chúng tôi xin cám ơn và kính chào quý liệt vị.

Pháp Sư Giác Đức
Tổng Uỷ Viên Kế Hoạch
Văn Phòng II Viện Hóa Đạo,
Phó Chủ Tịch Điều Hành,
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Bức tường tinh thần tan rã trước

Ngô Nhân Dụng
Trong lịch sử, cảnh sụp đổ của một đế quốc không xảy ra trong một sớm một chiều, mà thường diễn ra qua nhiều năm, có khi kéo dài hàng thế kỷ. Các đế quốc La Mã, Ba Tư, Ottoman đời trước tan rã khi lực lượng quân sự và guồng máy thu thuế bị tản ra quá mỏng, quyền lực ở trung tâm yếu đi, mất dần khả năng kiểm soát các địa phương. Những đế quốc đó thường vỡ ra từng mảnh, từng mảnh một trước tan biến dần dần. Trong thế kỷ trước, đế quốc Xô Viết không giải tán theo lối tiệm tiến và mất từng bộ phận như thế. Tất cả cùng sụp đổ chỉ trong vòng mấy tháng, có thể nói chỉ trong có mấy ngày.

Nguyên nhân trực tiếp gây nên cảnh tan rã “ngoạn mục” của chế độ cộng sản ở Ðông Âu và Liên Xô là do thất bại trong quản lý kinh tế, như đã trình bày trong mục này tuần trước. Tuy nhiên, kinh tế trì trệ chỉ là một mặt trong cảnh bế tắc toàn diện của cả hệ thống cai trị do Lenin và Stalin dựng lên. Ðế quốc Xô Viết đã bắt đầu suy yếu tự trong nền tảng từ lâu rồi. Nói về sự sụp đổ của các chế độ cộng sản, Nhà văn Vũ Thư Hiên không đặt trọng tâm vào tình trạng quản lý kinh tế thất bại. Ông cho là cả hệ thống cai trị kiên cố vĩ đại đó đã tan rã chính vì người dân không còn chịu đựng được cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” nữa. Nhà văn đã sống trong một chế độ giống như vậy. Chính mắt ông đã chứng kiến cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” ở chung quanh mình, diễn ra trong chính những người đã từng là thân thiết với gia đình ông. Vũ Thư Hiên đã nhìn thấy những điều cơ bản khiến xã hội xô viết tan rã.

Khi dân Ðức lấy búa đập vỡ bức tường Berlin, họ đã châm lửa vào một ngòi nổ, ngọn lửa cháy bén từ từ như một sợi dây thuốc pháo, và lần lượt các thùng thuốc nổ khác liên tiếp theo nhau bùng cháy. Tại sao vụ nổ dây chuyền lại lan ra nhanh chóng như vậy? Lý do lớn nhất, trước hết, là vì cả nền tảng tinh thần của những xã hội cộng sản đó đã nát rữa từ lâu, cả hệ thống dựa trên bạo lực và dối trá chỉ chờ ngày tan ra từng mảnh. Khi bao nhiêu con người đã mất niềm tin vào cuộc sống giả tạo chung quanh mình, mất niềm tin vào những người chung quanh, chính họ thấy cuộc đời không còn có ý nghĩa, không còn giá trị như trong ảo tưởng mà họ vẫn nuôi nấng nữa, thì cả xã hội tự hủy diệt. Vì phải hủy diệt, rồi mới có cơ hội tái sinh.

Một xã hội tồn tại được lâu dài và ổn định là nhờ mọi người cùng chia sẻ những giá trị chung, một cách chính thức hay là mặc nhiên. Có những lý tưởng cao xa mà ai cũng tôn quý đã được cả xã hội biến thành thói quen trong cuộc sống hàng ngày khi đối đãi với nhau, routinization. Mọi người đồng ý với nhau một số ước lệ trong cuộc sống. Những cử chỉ, lời nói hay thái độ mà chúng ta gọi là lễ phép, lịch sự, thanh nhã, vân vân, đã được cả xã hội coi là lối sống tự nhiên, ai cũng ăn ở như vậy. Người ta cứ nói, cứ làm và nghĩ theo các thói quen đó là có thể tin rằng mình sẽ đạt được điều tốt, điều thiện, cuộc đời mình có ý nghĩa và có giá trị.

Nhưng khi phải sống trong một khung cảnh giả dối quá lâu thì khác. Người ta phải nghe những điều dối trá mà bị bắt buộc coi như là sự thật, phải tập thói quen sống giả dối với nhau, lừa lọc lẫn nhau. Khi ra đường phải đóng kịch, về nhà cũng không dám sống thành thật với anh em, vợ con. Mọi người đành chấp nhận đạo lý sa sút mà không ai dám công khai phản đối. Khi đó, mỗi người không còn tin ở người khác và cũng không tin ở chính mình nữa. Họ bắt đầu thấy chán, không còn lý do để tiếp tục sống theo thói quen và tập tục xã hội mà chính họ không còn tha thiết bảo vệ nữa. Nền tảng tinh thần của xã hội đã tan rã. Người ta chán ngán, chỉ muốn cơ hội “đổi đời” để cuộc sống của chính mình có ý nghĩa hơn.

Năm 1989 là lúc những người cầm đầu các đảng Cộng Sản ở Ðông Ðức, ở Tiệp Khắc và Ba Lan cũng chán ngấy không thấy lý do nào để biện minh việc ra lệnh bắn giết đồng bào của họ nữa khi dân chúng kéo nhau đi biểu tình. Hungary mở cửa biên giới, 200,000 người từ Ðông Ðức chạy qua để tìm đường sang Tây Ðức. Ðó toàn là những thanh niên, những người thợ giỏi, những chuyên gia trung niên. Hàng chục ngàn người từ trong nhà thờ ở Leibzig kéo ra đường, một tháng trước ngày bức tường Berlin bị đập, nhưng không một lãnh tụ Ðông Ðức nào ra lệnh đàn áp. Ðàn áp để bảo vệ cái gì khi chính họ cũng thấy cuộc sống của mình đang bế tắc, mà họ phải thấy những đòi hỏi tự do dân chủ của người dân là hợp lý? Ðám mật vụ, công an cầm súng lăm lăm trên tay cũng không thấy lý do nào để xả súng bắn vào đồng bào của họ nữa, mặc dù trước đó Cộng Sản Ðông Ðức đã đe dọa dân biểu tình sẽ bị tắm máu như ở Thiên An Môn.

Ðám công an mật vụ buông súng không phải vì họ sợ những người dân, những người trong tay không tấc sắt. Trước đám đông trông chẳng khác gì cha mẹ, vợ con mình, chính đám công an không còn muốn đóng vai trò một bánh xe quay trong bộ máy chuyên đàn áp, chuyên đi còng tay bắt người, chuyên thủ tiêu, giết người. Vì chính họ đã chán tận cổ lối sống phi đạo lý, phi nhân bản trong một xã hội được duy trì bằng bạo lực và dối trá. Cả xã hội chờ một biến cố châm ngòi để quyết định đổi đời!

Bức tường Berlin đổ vì người ta muốn đập vỡ hệ thống bạo lực và dối trá giam giữ cả xã hội mà trong đó họ phải sống quá lâu. Sau khi các chế độ Cộng Sản Ðông Âu tan, một người dân Ba Lan nói với nhà báo, “Từ nay chúng tôi được sống cuộc đời bình thường.” Ai cũng muốn trở lại làm một con người bình thường sống trong một xã hội bình thường. Loài người không muốn phải sống giả trá, phải nói những lời trái với lương tâm mình, phải gian dối với nhau hàng ngày, mãi không được nghỉ!

Mùa Hè năm 1991 tôi có dịp đi thuyền trên sông Elbe trong vùng Koenigsberg, phía Nam thành phố Dresden. Anh bạn người Ðức sống trong một làng gần đó, thuộc Ðông Ðức cũ, cho hay gần hai năm trước Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Nhật Thành cũng ngồi trong chiếc thuyền đó đi du ngoạn trong vùng thiên nhiên mỹ lệ này. Năm 1989 Cộng Sản Ðông Ðức đã mời rất nhiều lãnh tụ cộng sản thế giới đến dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập chế độ. Ðó là một đại lễ nhằm phô trương sự giầu mạnh của Cộng Hòa Dân Chủ Ðức! Tháng Mười năm 1989, tờ Nhân Dân, People Daily ở Bắc Kinh đã tường thuật cuộc lễ hội đánh dấu “40 năm vinh quang” đó, viết rằng: “Nhân dân nước Ðức đang đoàn kết ngày càng mạnh hơn dưới sự lãnh đạo của Ðảng.”

Một nhà lãnh đạo cộng sản khác là Mikhail Gorbachev đã nhìn thấy khác. Trong cuộc phỏng vấn với nhật báo Le Monde ở Pháp đăng ngày 6 Tháng Mười một, năm 2009 vừa qua, ông Gorbachev kể rằng bữa đó ông ngồi trên khán đài chứng kiến cuộc biểu tình vĩ đại mà chính phủ Ðông Ðức tổ chức, dân chúng từ khắp nước được đưa về tham dự. Khi đó Gorbachev đã bắt đầu chủ trương “sửa đổi cơ cấu” (perstroika) ở Nga được mấy năm. Nhiều người Ðức đã đến nói thẳng với ông: Hãy giúp chúng tôi, hãy giúp chúng tôi với! Gorbachev biết đây là một màn trình diễn giả tạo. Ông kể, hai người ngồi ngay hàng ghế phía sau ông trên khán đài là chủ tịch Ba Lan, Tướng Jaruzelski và Thủ Tướng Mieczyslaw Rakovski. Gorbachev nhớ lại: “Rakovski nghiêng người ra phía trước ghé tai tôi nói, 'Mikhail Sergueievich, ông hiểu tiếng Ðức họ nói chứ?' Tôi trả lời, 'Ðủ để hiểu những câu đoàn biểu tình họ đang hô.' Rakovski nói tiếp, 'Ông có thấy rằng đây là màn kết cuộc hay không?' Ðó, tình cảnh nó như vậy.”

Trong khi đó, Gorbachev thuật lại, Chủ Tịch Ðông Ðức Erich Honecker (77 tuổi) vẫn làm như không biết gì cả. “Ông ta vẫn hát, vẫn chia sẻ với chúng tôi vẻ hăng hái giả tạo của ông ta.” Và Honecker nói với người lãnh đạo Liên Xô rằng chế độ của ông ở Ðức đã tái cấu trúc trước cả Liên Xô rồi, cho nên không cần thay đổi gì thêm nữa. Khi Gorbachev gặp toàn thể ban lãnh đạo cộng sản Ðông Ðức, ông nói với họ, “Ai chậm chân quá, sẽ bị cuộc đời trừng phạt.” Nhiều người coi đó là lời tuyên bố kết thúc chế độ cộng sản ở nước Ðức.

Một câu hỏi tuần trước đã nêu lên trong mục này là tại sao những thiên đường mù cộng sản, mặc dù thất bại về kinh tế, suy đồi về đạo lý, mà vẫn kéo dài ở Nga và Ðông Âu được bao nhiêu năm như vậy?

Một nguyên nhân là chiến tranh. Trận Ðại Chiến Thứ Hai đã giúp trì hoãn sự sụp đổ của cả nền kinh tế lẫn chế độ chính trị ở Nga. Chiến tranh và thời kỳ hậu chiến biện minh cho việc kiểm soát và chỉ huy nền kinh tế. Ngay ở các nước tư bản, chính quyền cũng can thiệp vào việc kinh doanh, đưa ra những chỉ tiêu sản xuất, lập sổ tem phiếu để giới hạn việc tiêu thụ. Về mặt chủ tịch, Stalin đã bỏ quên hoàn toàn những khẩu hiệu cộng sản để đề cao lòng ái quốc của dân Nga, kêu gọi người dân hy sinh cho tổ quốc. Chiến tranh còn biện minh cho việc bắt bớ tù đầy những người đối lập, vu cho họ nhãn hiệu “thù địch,” “phản quốc.” Sau chiến thắng, chế độ cộng sản ở Nga có thêm uy tín nhờ lợi dụng sự hy sinh anh hùng của người dân Nga trong cuộc chiến giữ nước. Thời kỳ “chiến tranh lạnh” sau đó cũng chỉ là tình trạng kéo dài của chiến tranh nóng. Không khí chiến tranh giúp các chế độ cộng sản lúc nào cũng đe dọa dân về “các thế lực thù nghịch” bao vây họ, lấy cớ đó kìm kẹp dân chúng và bắt giam mọi người có ý kiến bất đồng. Các chế độ cộng sản còn lại bây giờ cũng cố gắng bảo vệ quyền lợi và địa vị bằng thủ đoạn tương tự. Chính những giai đoạn “detente,” hòa hoãn, sống chung hòa bình, ký các hiệp ước và trao đổi với nhau, đã dần dần tước bỏ các chế độ cộng sản thứ khí cụ tuyên truyền hữu hiệu đó.

Khi những người dân trong khối cộng sản được biết hoặc thấy, qua các đài phát thanh và truyền hình, về đời sống của người dân các nước không cộng sản, dần dần họ tỉnh ngộ và tìm hiểu thêm sự thật. Sự thật, khi được thông tin đầy đủ hơn, giúp người ta nhìn ra chính cuộc sống của họ đắm chìm trong một xã hội dựa trên sự giả trá. Con người không thể “sống giả” mãi như thế được. Ðó là lý do các chế độ cộng sản cuối cùng phải tự hủy diệt. Trong cuộc xoay vần Sinh - Diệt - Diệt - Sinh của một xã hội, hủy diệt sớm thì cơ hội được tái sinh cũng sẽ đến sớm hơn. Người dân Ðức đang dự hội, không phải là để mừng sự sụp đổ của một chế độ, mà là để ăn mừng cơ hội tái sinh của nước họ 20 năm trước đây.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Một dân tộc đáng kính trọng

Ngô Nhân Dụng
Sau một chuyến đi gần đây, tôi muốn có dịp bày tỏ lòng kính trọng đối với người Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ ở nước đó có 6 ngày, một ngày ở Izmir và 5 ngày ở Istanbul, tôi đi không có tổ chức nào hướng dẫn, cho nên có nhiều thời giờ tiếp xúc với những người dân bình thường hơn. Phải thú thực, trước đây tôi không biết gì về họ ngoài những điều đọc trong sách vở. Khi nhìn thấy họ sống, gặp gỡ những còn người thật, mới thán phục.

Trước hết là phục tính sạch sẽ, trật tự, kỷ luật ở những nơi công cộng như đường sá, chợ búa, đặc biệt là ở các trạm xe điện. Chúng biểu lộ tinh thần trọng công ích của người dân. Trong mấy ngày ở thành phố Istanbul, tôi cứ ngạc nhiên không thấy ai gian lận khi sử dụng hệ thống xe điện trong khi hệ thống canh giữ rất sơ sài. Phải chăng là tại vì mình vốn có thói gian lận, hoặc sống cạnh những người gian lận quen nên nghĩ như vậy? Thực tình không biết! Một lần tôi cũng ngạc nhiên như vậy khi ngồi đợi xe lửa ở bên Ðức, một người nữa ngồi bên cạnh. Có ai để lại một tờ báo hàng ngày gấp sạch sẽ trên băng ghế. Một lúc, người đàn ông ngồi cạnh tôi bước tới thùng báo bỏ mấy đồng xu vào, rút ra một tờ báo, cũng đúng là tờ báo để bên cạnh chỗ ông ta ngồi. Tại sao ông ta không nhặt tờ báo kia lên đọc mà lại bỏ tiền mua một tờ khác giống hệt? Chỉ có thể giải thích là trong xã hội này người ta có tính như vậy, không ai lấy của người khác dùng làm của mình, dù là một vật người ta đánh rơi hay bỏ quên. Khi nhận thấy mình ngạc nhiên trước hành vi của người ta, tôi cũng tự cảm thấy xấu hổ.

Tôi đã quan sát các trạm xe điện trong suốt mấy ngày ở Istanbul. Xe điện ở đây không có người soát vé, cũng không bán vé; để vào cửa hành khách đến quầy hàng ở chỗ xa mua những “đồng sèng” bằng platic họ gọi là “giơ tông,” viết jeton giống như tiếng Pháp, vào bên trong rồi thì lên tầu. Trạm xe điện chạy dọc theo đường phố rất trống trải, gần như ai có ý gian thì cứ bước vào cũng được, hiếm lắm mới thấy một người mặc đồng phục đứng ở đó. Nơi kiểm soát là ở lối vào trạm xe, có hai ba cột trụ với tay sắt quay cho khách đi qua, sau khi bỏ đồng sèng vào.

Trạm xe điện nằm giữa phố, không có tường hoặc hàng rào kiên cố bao bọc; chỉ có một tấm plastic trong veo cao đến thắt lưng, kéo dài chừng mười lăm mét, ngăn lề đường và bến đợi bên đường rầy xe điện. Người băng qua đường có thể đi lệch mấy bước là vào trong trạm đợi xe rồi. Nhưng không thấy ai làm như vậy cả. Không thấy người nào đi vòng quanh máy thu tiền để bước vào, mặc dù chỉ cần bước lệch một hai bước thôi là đi quanh được. Không thấy cả những học sinh nghịch ngợm nào nhảy qua hàng rào plastic để vào trạm xe, như tôi đã thấy nhiều lần ở nhiều thành phố tại Âu Châu. Có lẽ người dân ở đây, một thành phố 10 triệu dân và rất đông du khách, có lối sống thật thà, lương thiện như vậy từ nhiều đời đã quen rồi!

Ðiều đáng phục nhất là đường sá và các trạm xe điện rất sạch sẽ, trong khi ngoài đường cũng có nhiều người ăn kẹo hoặc hút thuốc. Ở Singapore chính quyền đã cấm nhai “kẹo cao su” cốt để người dân không vứt giấy bao kẹo xuống đất, nhưng ở đây thì họ không cấm. Hàng quà bán trên lề đường rất nhiều, hấp dẫn nhất là món hạt dẻ nướng nóng hổi. Khi mua hạt dẻ, người bán hàng luôn luôn đưa thêm một cái bao cho khách để đựng vỏ hạt sau khi ăn. Trong một trạm xe điện có bữa tôi thấy một thanh niên dáng dấp công nhân đang ăn hạt dẻ mà tay không cầm cái bao đựng vỏ. Anh ta bước mấy bước dưới trời mưa lất phất, đi tìm cái chậu đựng rác bằng kim loại, bỏ những vỏ hạt dẻ vào. Giữa đám đông người đứng chờ xe, nếu anh ta có bỏ mấy mảnh vỏ xuống đất chắc cũng chẳng ai để ý!

Bữa khác, thấy một người đàn ông dưới 30 tuổi hút xong điếu thuốc, đi tìm chậu đựng rác dụi cuống điếu thuốc rồi ném vào. Tôi tới hỏi thăm đường với anh ta để làm quen. Khi lên tầu, tôi tiếp tục nói chuyện và được biết anh là một sinh viên đã học chuyên về Văn Chương Ðức. Nhưng mục đích tôi làm quen chỉ để sau cùng hỏi anh ta một câu: Tại sao anh không vứt cuống điếu thuốc xuống đất, như tôi thấy những người Mỹ, người Pháp vẫn làm ở ngoài đường? Tại sao anh lại mất công, dưới trời mưa, tìm đúng nơi để vứt bỏ một mẫu rác nho nhỏ như thế? Từ trước đến nay tôi chỉ thấy người Ðức, người Nhật có lối sống rất tôn trọng kỷ luật mà thôi! Tại sao những người Thổ Nhĩ Kỳ tôi gặp đều có tinh thần kỷ luật như vậy? Có phải trong trường học người ta vẫn dạy anh từ bé phải sống có kỷ luật hay không? Hay là giáo dục trong gia đình? Anh bạn trẻ chỉ cười, nhún vai, có vẻ không biết trả lời ra sao. Có lẽ anh đã tập những thói quen như vậy từ bé, và thấy ai ở chung quanh cũng làm như vậy, cho nên không bao giờ đặt câu hỏi đó. Một dân tộc văn minh thể hiện trong lối sống tôn trọng những gì là công cộng, nghĩ đến người khác. Ðiều đó biểu lộ ra ngay trong cuộc sống hàng ngày khi họ giữ đường sá sạch sẽ.

Tôi mắc tật xấu hay hút thuốc, cho nên khi đến chỗ lạ thường chú ý đến cử chỉ, hành vi của những người khi hút xong điếu thuốc. Thú thật là bây giờ mỗi lần khi châm xong cối thuốc, tính vứt que diêm tắt xuống đất, tôi bỗng ngượng ngùng, ngừng tay không ném công mà cẩn thận nhét lại que đóm đã tắt vào lại trong bao diêm. Ðó là sau khi được chứng kiến thói quen tốt của những người nước khác. Lần đầu du lịch ở Nhật Bản tôi đã ngạc nhiên khi bước ra khỏi cửa một công ty hay cửa khách sạn, quán ăn, thấy những tấm bảng nhỏ trên tường ghi “Ðây là chỗ hút thuốc.” Tôi ngạc nhiên: Ra ngoài đường rồi thì thường mình được tự do hút, tại sao phải yết bảng lên bảo mình được phép hút làm gì? Khi chú ý nhìn, mới thấy ở dưới các tấm bảng đó bao giờ cũng có một cái khay để gạt tàn thuốc lá, thường để trên một cái thùng khá cao vừa tầm tay. Sau tôi mới để ý thấy dọc trên lề đường những nơi đông đúc ở Tokyo cũng có những cái gạt tàn và tấm biển như vậy. Và nhìn xuống đất thì hầu như không thấy mẫu tàn thuốc lá nào.

Một bữa đứng hút thuốc trước một khách sạn gần chân núi Phú Sĩ, thấy một đám đông người Á Ðông ồn ào ở bên trong, tôi hỏi người Nhật hướng dẫn viên du lịch: Anh có biết những người ồn ào kia từ nước nào tới hay không? Sau khi trả lời, anh ta lắc đầu nói, Họ dơ dáy lắm! (Dirty, là chữ anh dùng). Tôi hỏi: Dơ dáy thế nào? Anh đưa tay lên làm cử chỉ một người hút thuốc, xong làm thêm cử chỉ ném mạnh điếu thuốc xuống đất, rồi lấy bàn chân day day trên mặt đất! Tôi hiểu, anh chê những người đó dơ dáy vì họ hút thuốc xong là vứt xuống đất, không tìm cái gạt tàn thuốc mà bỏ vào! Bấy giờ tôi hiểu rõ hơn lý do tại sao ở ngoài phố người ta cũng để những cái gạt tàn thuốc lá! Tôi thành thật nói với anh: Sato San, người nào biết lấy giầy dập tắt tàn thuốc đi tức là họ còn lịch sự, còn văn minh đấy. Ở nhiều nơi người ta hút thuốc xong cứ thế vứt xuống đất, điếu thuốc tàn vẫn tiếp tục cháy, khói cứ thế bốc lên bắt người khác phải hít vào, anh biết không? Vì tự ái hão, tôi không nói thẳng là ở nước tôi cũng vậy! Anh Sato sẽ có ngày đến Việt Nam hoặc đến Little Sài Gòn, thế nào anh cũng thấy! Nhưng nếu anh qua Thổ Nhĩ Kỳ, anh sẽ cảm thấy dễ chịu như ở Nhật Bản!

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, tôi còn cảm phục tính lương thiện của nhiều người mà tôi đã gặp. Thí dụ như hai chú bé chừng 13, 14 tuổi đứng bán thứ bánh mì hình vành khăn rất phổ thông ở đây. Ăn vào lúc còn nóng nó vừa dòn vừa dẻo, ăn không cũng thấy ngon. Khi mua một cái bánh, tôi nhìn bảng giá đoán chừng hơn một đồng lira, rồi móc mấy đồng xèng trong túi ra đếm và đưa cho chú bé. Tới xứ lạ, phân biệt được giá trị mỗi đồng xèng đó cũng khá mất thời giờ và rất dễ lầm. Tôi trả tiền xong quay bước đi, bỗng một chú bé gọi giật lại. Chú đưa lại tôi một đồng lira trả dư. Chú không lấy thêm một đồng của người trông thấy rõ là du khách, mà trong đời chú chỉ gặp có một lần! Một người lương hảo là người tử tế đối với những người mà mình chỉ gặp một lần trong đời. Hai chú bé này rõ ràng là những người lương hảo.

Tôi còn cảm thấy tính lương thiện của người dân ở đây trong một chuyện khác. Chúng tôi đi vào khu chợ Grand Bazar nổi tiếng. Hai phụ nữ Việt Nam vào một tiệm kim hoàn nhỏ, hỏi xem hàng và mặc cả. Ông chủ tiệm làm việc có một mình, ông bày các khay trưng bầy những bông tai, hạt ngọc, vân vân trên quầy cho khách xem. Tôi đang đứng ngoài cửa tiệm thì thấy ông bước ra ngoài, chạy sang hỏi người chủ tiệm bên cạnh để đổi tiền. Nhìn vào trong, hai bà khác vẫn chọn lựa và bàn tán. Tôi ngạc nhiên vì không thấy ông ta cất những khay đựng đồ vàng ngọc trước khi rời tiệm! Ông còn chạy qua chạy lại mấy tiệm bên cạnh để đổi tiền. Bỗng dưng, cả khu buôn bán bị mất điện, đèn tắt hết, tối thui. Ông chủ tiệm vẫn tiếp tục chạy đi đổi tiền, mấy phút sau mới trở lại tiếp tục nói chuyện với khách! Sau đó, đèn lại bật lên, việc mặc cả tiếp tục! Tôi không hiểu nổi tại sao một chủ tiệm vàng có thể tin người khách ngoại quốc mà bỏ ra ngoài, không khóa các cánh cửa tủ, để các khay vàng, ngọc trống trơn như vậy! Chắc hẳn ở đây người ta có thói quen coi ai cũng là người lương thiện, đáng tin cả!

Ở những thành phố đông du khách, người ta rất dễ sinh hư. Mọi người coi đám du khách là con mồi cho họ lợi dụng, lừa gạt, hoặc xin xỏ! Hai chú bé người Thổ Nhĩ Kỳ không hề nhiễm những thói xấu đó. Ông chủ tiệm vàng chắc cũng không. Thổ Nhĩ Kỳ là một nước khá đông, 72 triệu người, GDP khoảng 730 tỷ Mỹ kim, tính mỗi đầu người lợi tức 11,000 đô la. Nhưng hiện nay tỷ lệ thất nghiệp cũng lên tới 11%, và trong dân chúng có 20% còn sống dưới mức nghèo khó. Nhưng phải nói là dân trí họ rất cao, và đáng khâm phục nhất là tinh thần kỷ luật, trật tự, giữ sạch sẽ nơi công cộng. Xin nhắc lại, tôi chỉ thấy cảm phục như vậy khi đến hai nước khác là Ðức và Nhật Bản. Người dân các nước đó sống kỷ luật, sạch sẽ và lương hảo, không phải để cho người nước khác phải kính phục. Họ sống như vậy vì chính họ. Khi mọi người cùng sạch sẽ, trọng công ích, giữ kỷ luật, thì cuộc sống của tất cả mọi người an vui hơn.

Yếu tố nào đã giúp cho những người dân bình thường ở một quốc gia giữ được những đức tính kỷ luật, sạch sẽ, tôn trọng công ích và sống lương hảo một cách tự nhiên như thế? Ðây là một đề tài tôi xin quý vị độc giả cùng suy nghĩ. Làm thế nào để người Việt Nam mình cũng tập được những thói quen tốt như người nước khác? Thật đáng buồn khi thấy đồng bào mình sống trong một chế độ chuyên dùng bạo lực và gian dối đã bỏ hết những thói quen tốt của tổ tiên, chỉ tập được toàn thói xấu. Sau nửa thế kỷ dân ta đã tập được những thói quen gian dối, lừa đảo, ích kỷ, không tôn trọng của công. Muốn tập những thói quen, những đức tính tốt, chúng ta phải bắt đầu ngay, từ mỗi người, từ mỗi gia đình, từ trường học. Cả nước phải thực tập tinh thần công dân, đạo đức con người, người này làm rồi người khác sẽ bắt chước theo, nhất là cho thế hệ con cháu.

Thật đáng tiếc khi có những người trẻ tuổi họp lại để nương nhau tập lối sống an tịnh, thanh cao, sống vì người khác mà không nghĩ tới mình, như các tăng ni trẻ ở Tu viện Bát Nhã trước đây, thì chính những hạt giống Bồ Ðề này bị trù đập, cấm đoán và bây giờ đang bị đuổi mỗi người đi một nơi!

Có cách nào cứu nước hay không?

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Người Dân Biểu Cô Đơn Của New Orleans

Giao Chỉ San Jose'
Ngày 15-11-2009, giờ 22:52 “Hãy gọi tôi là Joseph” Vì đâu nên nỗi :
“ Joseph Cao. Tên xấu xa bẩn thỉu, hãy cút về Saigon miền Nam Việt Nam,
nơi xứ sở của bọn khốn nạn tụi bây. “

Trên đây là một trong nhiều lời phê bình bằng Anh ngữ của trang thông tin điện toán gửi cho ông Dân biểu Việt Nam duy nhất của Quốc hội Hoa Kỳ.
Nguyên tác Anh ngữ còn mất dạy hơn nhiều, chúng tôi chỉ lược dịch cho nhẹ bớt.
Tại sao Dân biểu Cao Quang Ánh của Lousiana lại bị sỉ vả điên cuồng như vậy ?
Cuối tuần qua, ông dân biểu Việt Nam là người duy nhất thuộc đảng Cộng Hòa đã xé rào bỏ phiếu ủng hộ luật cải tổ y tế của Tổng thống Obama thuộc đảng Dân chủ.
Tổng số 435 dân biểu đã họp phiên sóng gió để thông qua dự án luật HR 3962 vĩ đại hàng ngàn trang với chương trình cải tổ y tế 10 năm, chi phí hơn một ngàn tỷ Mỹ kim.
Mặc dù dự án do phe dân chủ đưa ra nhưng trong số 258 ghế dân chủ chỉ có 219 dân biểu bỏ phiếu ủng hộ. Với tinh thần tự do, phóng khoáng và hơi coi thường kỷ luật đảng, đã có 39 dân biểu Dân Chủ xé rào trả lời NO với dự án luật lịch sử nhằm thay đổi toàn bộ đường lối bảo vệ sức khỏe cho 307 triệu dân Mỹ.
Trong khi đó, phe Cộng Hòa bảo thủ hết sức tôn trọng đảng quy, một trăm phần trăm đảng viên gồm 176 vị bỏ phiếu chống. Trừ 1 ông dân biểu Cộng Hòa mới toanh, gốc Việt Nam. Tên Mỹ của ông là Anh’Joseph’Cao. Tên Việt Nam là Cao Quang Ánh, năm nay 42 tuổi, có vợ 2 con. Vừa mới được bầu vào quốc hội được 10 tháng, vóc dáng nhỏ bé nhất hạ viện. Tiếng nói lại còn nhỏ nhẹ hơn cả dáng người. Hình thức hết sức hiền lành, vốn là thầy tu xuất. Trông không có vẻ một chính trị gia cao cấp liên bang. Nhìn đi nhìn lại, chỉ thấy vẻ nho nhã của thầy giáo tiểu học.



Ðó chính là nhân vật vào cuối năm 2008 đã được đảng Cộng Hòa tuyên dương là người hùng, biểu tượng tương lai của đảng (The Symbol of the future).
Và bây giờ, sau 1 lá phiếu xé rào duy nhất, những tay Cộng Hòa bất mãn đã có ý kiến đuổi ông dân biểu anh hùng của đảng ta về lại Saigon, nơi mà ông đã theo hai chị ra đi với tư cách tỵ nạn lúc 8 tuổi. Năm đó cha còn ở tù, mẹ ở lại nuôi chồng và các em.

Lạc đường vào chính trường, lạc đường vào lịch sử :

Toàn thể thế giới tỵ nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ, ai cũng nói rằng, nếu có 1 dân biểu liên bang tại thủ đô Washington thì người đó phải đến từ Orange County.
New Orleans, Lousiana đời nào có được dân biểu gốc Việt. Tỷ lệ dân số Việt ở đây chưa đến 3%. Nếu có lọt vào con đường chính trị ở tiểu bang này thì cũng phải vô đảng Dân Chủ. Ðịa phương này là thế giới của Dân Chủ, mà phải là Dân Chủ da mầu.
Hơn 100 năm qua, đảng Dân Chủ nhà nghèo đã trấn thủ Lousiana. Ðương kim dân biểu địa phương là ông Mỹ đen Jefferson đã ngự trị liên tiếp 9 nhiệm kỳ, hai năm bầu 1 lần, tổng cộng là 18 năm và nếu không có cơn gió ngược thì ông sẽ ở lại cho đến khi mãn chiều xế bóng.
Kỳ bầu cử 2008, phe Cộng Hòa địa phương chẳng có ai màng ra tranh cử với ông Mỹ đương nhiệm, chắc như bàn thạch. Bao nhiêu năm qua, đây vẫn là tảng đa đen không nhúc nhích.
Anh chàng họ Cao đóng 900 Mỹ kim cho ủy ban bầu cử để nhận tư cách ứng viên của đãng Cộng Hòa. Từ chi bộ Cộng Hòa địa phương cho đến trung ương không ai ngó ngàng gì đến anh chàng đảng viên gốc Việt to gan lớn mật.
Mấy cụ già đi lễ nhà thờ buổi sáng cầu nguyện cho thầy Cao, nhưng cũng biết rằng chỉ ứng cử cho vui vậy thôi. Mình là người ngoài, qua đến Hoa Kỳ ăn gạo Mỹ hột dài là qua sức rồi. Dễ gì mà thành quan dân biểu được.
Cơn bão dữ tràn đến Lousiana đã thay đổi tất cả. Văn phòng luật sư Cao bị tàn phá phải di tản rồi trở về cùng người dân New Orleans xây dựng lại. Trung ương duyệt lại cấp cho ông ứng cử viên da vàng 50 ngàn gọi là khích lệ. Trong khi đó ứng cử Cộng Hòa đơn vị bên cạnh được cấp 1 triệu Mỹ kim để tranh cử.
Gần ngày bỏ phiếu, ông dân biểu đương nhiệm Jefferson bị truy tố về tội tham nhũng 100 ngàn mỹ kim. FBI còn tìm thấy100 ngàn tiền mặt dấu trong văn phòng.
Kết quả trận gió ngược làm ông ứng cử viên Cộng Hòa thắng cử hơn 2000 phiếu. Với 33,132 phiếu tức 49.54% ông Cao thắng ông Jefferson 31,318 phiếu chiếm 46.83% .
Thành quả gây ngạc nhiên tất cả mọi người là số tiền chi tiêu tranh cử của thầy Cao chỉ có

49,000 Mỹ kim.
Tờ Washington Post tại thủ đô của phe Dân Chủ đưa hình ông Cao lên trang nhất để giới thiệu người anh hùng mới của Cộng Hòa tại Lousiana. Tờ Post viết rằng:” Với thành công ngoạn mục, Cộng Hòa lật lại thế cờ mà phe Dân Chủ da đen đã ngự trị gần 2 thập niên.

Người từ đâu đến :
Là con trai của 1 sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa di tù cộng sản sau 75. Gia đình cho 3 chị em di tản lúc Cao Quang Ánh 8 tuổi.
Từ cậu bé tỵ nạn, trưởng thành trong niềm tin công giáo và thụ huấn các đại học Hoa Kỳ. Tốt nghiệp ngành triết và lấy cao học tại Fordham rồi về New Orleans dạy học. Với tinh thần hiếu học tìm cách giúp đời, ông theo học tiếp và tốt nghiệp tiến sĩ luật khoa tại đại học Loyla. Ra trường ông làm cố vấn cho tổ chức Boat People SOS và cũng tham dự vào Hội đồng cố vấn cho tổ chức các giám mục Hoa Kỳ.
Trong suốt thời gian qua, thiên tai tại New Orleans đã đem luật sư Cao Quang Ánh lại gần với người dân địa phương. Ông tham dự vào nhiều công tác xã hội để có đủ nghị lực ra tranh cử dân biểu. Nhưng chính ông cũng không có nhiều hy vọng. Ông tin rằng Thiên Chúa đã cho ông cơ hội.
Ngày 6/1/2009 vị dân biểu Việt Nam đầu tiên của quốc hội Mỹ đứng lên tuyên thệ để trở thành một nhà lập pháp của hạ viện Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Vợ ông là dược sĩ và ông bà đã có 2 con gái.

Vị trí mong manh :
Với thành quả chiến thắng hết sức may mắn, cậu bé di tản 34 năm trước đã lạc đường vào lịch sử. Chức vụ dân biểu 2 năm bầu lại 1 lần và không giới hạn nhiệm kỳ. Nếu xây dựng nền móng cho kỹ, có thể sẽ được tái cử suốt đời. Ðó là nói những tay có gốc rễ, có hậu thuẫn rất mạnh. Chuyện lật ngược thế cờ nhờ may mắn chỉ xảy ra 1 lần. Các ứng cử viên của cả 2 đảng Dân Chủ và Cộng Hòa tại New Orleans, Lousiana bây giờ không còn bất ngờ nữa. Vị trí của dân biểu họ Cao rất mong manh. Ông phải tiếp tục cầu nguyện. Ông phải vận động tranh cử ngay từ lúc vừa tuyên thệ. Ông phải sống 1 ngày 48 giờ để làm việc cho cử tri da đen, da trắng và da vàng tại địa phương.
Chúng ta đọc bản dự trù công tác và thành tích 10 tháng qua thì có thể yên tâm là tất cả những gì một dân biểu gốc Việt có thể làm cho dân Việt tỵ nạn trên thế giới, ông đều ghi vào nghị trình công tác. Cho đến nay, ông đã làm nhiều hơn những gì mà lá phiếu Việt Nam nhỏ bé bỏ cho ông. Ông cũng đã làm nhiều hơn số tiền quyên góp của bà con dành cho quỹ tranh cử. Nhưng lần này không phải chỉ cần $50,000 Mỹ kim. Phải có một triệu và $50,000 Mỹ kim, nếu chúng ta muốn giữ lại 1 dân biểu không phải cho riêng New Orleans mà cho cả cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là dân biểu Cao phải có võ riêng của ông.
Xé rào Cộng hòa, dùng lá phiếu duy nhất của con Voi, đem trao tặng cho con Lừa nên ông bị thiên hạ gọi là đồ con Bò. Vì tên ông Cao dễ bị đọc nhầm thành Cow.
Một cách nhẹ nhàng, ông xin nhà báo đừng mất công hỏi cách đọc tên ông cho đúng.
“Xin gọi tôi là Joseph.”
Rồi ông Joseph của chúng ta đã đi thế võ hết sức lăng ba vi bộ, liều lĩnh một cách có tính toán. Cậu Cao Quang Ánh 8 tuổi vào năm di tản 75 ngày nay đã nói gì với báo chí Hoa Kỳ:
“ Tôi đã đọc bản dự luật. Tôi lắng nghe vô số câu chuyện của cử tri Orleans. Ða số dân ở đây không có bảo hiểm sức khỏe. Lousiana cần mở rộng bảo hiểm sức khỏe cho người già và trẻ em. Tôi luôn luôn nói rằng đành phải bỏ các đòi hỏi của đảng qua 1 bên khi phục vụ cho dân chúng. Tôi đã nhận được sự cam kết của tổng thống Obama sẽ giải quyết những khó khăn liên quan vấn đề bảo hiểm sức khỏe của người dân Lousiana, bao gồm cả việc tài trợ dành cho nạn nhân thiên tai.
Lá phiếu của tôi đêm nay căn cứ vào những ưu tiên phục vụ hữu hiệu cho người dân của tôi “

Ðó là lý do đảng viên Cộng Hòa bỏ phiếu cho phe Dân Chủ chỉ nhằm phục vụ cho cử tri tại địa phương.
Ván bài duy nhất, trong một cơ hội duy nhất để ông dân biểu ra tay là vấn đề bảo hiểm sức khỏe sẽ dành cho mọi người. Ông đã chọn đúng lúc để bầy tỏ thái độ bằng một lá phiếu.
Tất cả báo chí, TV Hoa Kỳ chiếu đèn vào dân biểu Cao. Phần lớn muốn biết rỏ ông đã nghĩ gì với lá phiếu can đảm và ngoạn mục của ông.
Với thái độ mềm mỏng và hiền lành cố hữu, khi được nhà báo hỏi là ông có bị đảng Cộng hòa làm khó dễ không, ông đã trả lời là không thấy gì. Mọi người vẫn tôn trọng ý kiến của tôi. Hỏi rằng có bị cắt ngân khoản hay các công việc yểm trợ không.
Dân biểu Joseph trả lời là cũng không thấy gì cả. Mọi thứ vẫn như thường.
Trên thực tế thì ông đang bị mệt với đảng Cộng Hòa. Ngay từ khi bước chân vào hạ viện, ông đã là một dân biểu cô đơn. Ðứa bé đi tìm tự do lúc 8 tuổi, suốt đời cũng chỉ có một mình.
Năm nay, 42 tuổi vác thánh giá lạc bước vào chính trường, hình như ông vẫn cô đơn. Dù đọc được rất nhiều ý kiến tán thưởng hành động can đảm khi ông đơn phương bỏ phiếu theo lương tâm chứ không theo lệnh đảng, nhưng ai cũng lo ngại rằng ông khó tồn tại khi mới bước vào chính trị đã sớm đi ra ngoài khuôn phép. Riêng phần Joseph, với tinh thần tôn giáo mạnh mẽ, ông rất quan tâm đến việc bảo vệ thai nhi. Ông chỉ yên tâm bỏ phiếu thuận cho dự luật HR 3962 sau khi quốc hội thông qua tu chính án cấm dùng tiền của liên bang để tài trợ việc phá thai.

Lá phiếu lịch sử.
Thật ra, với kết quả sai biệt 5 lá phiếu thì lá phiếu thứ 5 của ông Cao là lá phiếu duy nhất của đảng Cộng Hòa sẽ là 1 lá phiếu lịch sử.
Tổng thống Obama về Lousiana nói chuyện đã lịch sự giới thiệu vợ chồng dân biểu Cao với cử tọa và khen con gái của ông xinh đẹp. Trong khi toàn đảng Cộng Hòa suốt 6 tháng chống đối dự luật của Tổng thống Dân Chủ thì hình ảnh xé rào của 1 ông dân biểu da vàng, rất ngây thơ vô tội là hình ảnh rất đặc thù của bức tranh chính trị tại Hoa Thịnh Ðốn.
Với thế võ xé rào xem như cung đàn lạc điệu của 1 thầy tu xuất Việt Nam tại New Orleans có thể hy vọng làm cho cả đảng Cộng hòa và Dân chủ đều phải giữ lại cho ông cái ghế đang ở thế mong manh. Nhưng mà niềm hy vọng này cũng lại rất mong manh.
Ðiều quan trọng nhất là làm sao cho cử tri Lousiana sớm được nhận phúc lợi của chính phủ liên bang. Từ 1 dân biểu vô danh gốc Việt, ông Cao ngày nay có thể đặt vấn đề với cả 2 phe Dân Chủ và Cộng Hòa, và có thể tìm thấy sự yểm trợ từ tổng thống của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ.
Ông Obama có thể không muốn mất liên lạc với vị dân biểu duy nhất Việt Nam mang màu áo Cộng Hòa bỏ phiếu cho Health Care Bill HR 3962. Thái độ của đảng Cộng Hòa dành cho ông vào kỳ tranh cử 2010 sau vụ bỏ phiếu này cũng còn là một ẩn số. Sẽ có thêm ứng cử viên mới của cả Cộng Hòa lẫn Dân Chủ. Và trận đấu sẽ rất gay go.



Hero or Villain
Trong một bài tường thuật bằng Anh ngữ dưới tựa đề Hero or Villain, bà Jackie Bong-Wright đã tiết lộ giây phút bỏ phiếu rất thú vị. Cho đến giờ chót, phe Cộng Hòa vẫn chưa biết chắc lá phiếu của Joseph sẽ đi về đâu. Dân biểu Eric Canton (R.VA) nhân vật số 2 của đảng Cộng Hòa ngồi cạnh ông Cao và tiếp tục thuyết phục. Hai người vừa nói chuyện vừa theo dõi kết quả bỏ phiếu tại hạ viện. Khi phe Dân Chủ đạt được gần số phiếu thắng lợi, ông Cao là một trong 5 phiếu sau cùng. Joseph Cao trả lời Yea đã gây ngạc nhiên cho cả nghị trường. Dân biểu Cộng Hòa Cantor lập tức bỏ đi, trong khi dân biểu Mike Honda (D.San Jose CA.) chạy lại bắt tay và chào mừng Joseph. Ông Cao cho biết đã bỏ phiếu theo lương tâm và vì người dân Lousiana, dù có thể lá phiếu này sẽ chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông qua một nhiệm kỳ ngắn ngủi.

HR 3962 :
Dự luật mà dân biểu Cao đã xé rào ủng hộ ông Obama là 1 đạo luật hiện còn chờ thượng viện thông qua sẽ trở thành 1 dấu mốc của lịch sử.
Thế giới hiện nay cho rằng siêu cường Hoa kỳ là 1 quốc gia lạc hậu nhất về bảo hiểm y tế. Nước Mỹ vẫn có 50 triệu dân không có bảo hiễm sức khỏe. Lý do tại sao. Phần lớn là không đủ sức đóng và đành thả trôi như lục bình. Khi nào nặng thì vào khu cấp cứu để các bệnh viện công cố gắng chữa và đòi tiền chính phủ. Hệ thống hành chánh với vấn nạn ngân sách xã hội cứ rối tung lên, không biết đằng nào mà mò.
Ngay từ đầu năm 1970, thượng nghị sĩ Ted Kennedy đã báo động về việc cải tổ. Cho đến nay ông đã qua đời gần 40 năm sau, nước Mỹ chưa có được 1 bộ luật bảo hiểm y tế cho rõ ràng. Tám năm cầm quyền của dòng họ Clinton, bà đệ nhất phu nhân định mở đường lịch sử nhưng thất bại. Tám năm của dòng họ Bush không đi đến đâu. Tiền đóng bảo hiểm của người Mỹ nhiều hơn dân Canada 10 lần. Tại Hoa Kỳ, từ bệnh nhân cho đến thầy thuốc qua các hãng bảo hiểm, qua các nhà thương và tất cả các dịch vụ liên quan đến y tế đều đồng tâm hiệp lực đua nhau làm cho giá thành của công cuộc bảo hiểm y tế lên cao. Ðể có được bảo hiểm y tế, người dân Mỹ phải chi ra mỗi tháng từ $500 đến $1000 mỹ kim cho một gia đình.
Dù rằng dự luật mới sẽ không phải là 1 phép lạ giải quyết ngay mọi khó khăn một lần, nhưng xem ra đây chỉ mới là bước đầu.
Trên 50% người Mỹ lợi tức thấp tại Lousiana không có bảo hiểm y tế trong nhiều thập niên qua. Nếu mọi chuyện xẩy ra cứ như thật thì tương lai, cử tri vùng New Orleans sẽ có được các chương trình bảo hiểm y tế căn bản. Ðó là điều mà các dân biểu của thập niên 70, 80 và 90 đã hứa hẹn nhưng không làm được. Phải chờ cậu bé tỵ nạn da vàng gặp may trở thành dân biểu mới đem lại những tờ giấy đi khám bệnh miễn phí khi nhân loại bước chân vào thập niên 2010. Ðó cũng là niềm hãnh diện để các bà già Việt Nam bàn tán trong lúc bán rau buổi sáng ở chợ chồm hổm New Orleans, trước khi về nhà chuẩn bị đi xem lễ buổi chiều.
Năm 2010 ghi dấu 35 năm nhìn lại công việc định cư của người Việt tại Hoa Kỳ. Duyên may từ ông trời đã đưa vị dân biểu Việt Nam vào quốc hội. Cậu bé di cư 8 tuổi năm 75, ngày nay đóng vai lữ khách cô đơn nhưng hãnh diện trong chính trường Hoa thịnh Ðốn.
Thưa quý vị, chúng ta có thể làm được gì để giữ lại lâu dài niềm hãnh diện Việt Nam “nhỏ bé” tại New Orleans.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
Những Hình Ảnh Đầu Tiên Về Cuộc
Biểu tình chống cuộc triển lãm Meet Vietnam
ngày 15/11/2009 tại San Francisco









User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Phái đoàn người Việt biểu tình chống 'Meet Vietnam'
Sunday, November 15, 2009

Image
Biểu tình tại tòa thị sảnh San Francisco. (Hình: Hà Tường Cát/Người Việt)

Hà Tường Cát/Người Việt(viết từ San Francisco)
SAN FRANCISCO (NV) - Một cuộc biểu tình lớn tập họp các phái đoàn người Việt từ Nam và Bắc California diễn ra tại Trung tâm thành phố San Francisco hôm Chủ Nhật để tỏ bày sự phản đối chương trình giao lưu văn hóa mậu dịch mang tên Meet Vietnam.

Meet Vietnam do tòa Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại San Francisco tổ chức với sự yểm trợ trực tiếp của chính phủ Việt Nam và sự phối hợp của Văn Phòng Mậu Dịch Quốc Tế San Francisco. Phó Thủ Tướng Trương Vĩnh Trọng và Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak ở trong số khách tham dự các sinh hoạt này.

Meet Vietnam 2009 kéo dài 2 ngày 15 và 16 Tháng Mười Một, với các buổi hội thảo về đầu tư, du lịch, hàng không và giáo dục tại khách sạn Inter-Continental. Riêng cuộc triển lãm văn hóa được tổ chức ở Tòa Thị Sảnh và là mục tiêu chính mà cuộc biểu tình phản đối nhắm tới.

Phái đoàn Nam California với trên 100 người ngồi hết chỗ chiếc bus của xe đò Hoàng và hai xe van 15 ghế. Một số người tham dự đi bằng nhiều xe nhỏ khác. Trong buổi lễ xuất phát đêm Thứ Bảy, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, cựu thứ trưởng Giáo Dục VNCH, đại diện “Ủy ban Phối hợp Ðấu tranh Chống Cộng sản và Tay Sai” nói rằng, “Ðây là một việc làm quan trọng và phản ứng cần thiết của những người Việt không chấp nhận cộng sản và thủ đoạn xâm nhập vào tập thể người Việt tự do.”

Ông Phan Kỳ Nhơn, trưởng ban tổ chức điều hợp công tác nhắc nhở mọi người dù hăng say hay phẫn nộ thế nào cũng vẫn giữ thái độ bình tĩnh ôn hòa và tuân thủ đúng luật pháp đừng để bị đối phương lợi dụng phá hoại làm suy giảm chính nghĩa.

Khởi hành từ Orange County lúc quá nửa đêm và chạy liên tục tới sáng, các thành viên đều được ban tổ chức chuẩn bị chu đáo đầy đủ thực phẩm và nước uống cho chuyến đi về kéo dài 24 giờ. Ông Phan Kỳ Nhơn cho biết toàn thể chi phí di chuyển, ăn uống, cờ và biểu ngữ tốn kém khoảng trên $3,000 đều do sự quyên góp yểm trợ và những người tham dự không phải trả phí khoản nào ngoài 24 giờ di chuyển liên tục không nghỉ. Tới San Francisco lúc 7:30 giờ sáng mặc dầu cuộc biểu tình chưa bắt đầu nhưng ban tổ chức vẫn cho triển khai sẵn sàng mỗi người hai lá cờ Mỹ-Việt lớn. Trong phút chốc, dưới thời tiết lạnh và công viên vắng vẻ sáng Chủ Nhật đã sinh động hẳn lên với màu cờ và tiếng hô khẩu hiệu.

Từ 9 giờ các đoàn ở San Francisco Sacramento, San Jose lần lượt tới và cuộc biểu tình lên đến con số khoảng 300 người. Tất cả xếp thành đoàn đi vòng quanh tòa thị sảnh trên lề cùng với một xe truck mang cờ và biểu ngữ chạy qua 4 đường Polk, Grove, Van Ness, McAllister trong 4 tiếng đồng hồ chớ đợi tới thời điểm chính là giờ khai mạc cuộc triển lãm văn hóa Meet Vietnam 2009 trong tòa thị sảnh. Cảnh hào hứng trong thời gian này là thỉnh thoảng một vài xe chở nhân viên nghi ngờ là từ tòa lãnh sự đến chuẩn bị triển lãm đã bị những người biểu tình rượt theo hô khẩu hiệu chống đối cho đến khi vào tới trong vòng rào có nhân viên an ninh cảnh sát bảo vệ.

Một bản thông cáo báo chí viết bằng Anh ngữ của ban tổ chức hỗn hợp, ký tên “Liên minh các Cộng đồng Mỹ gốc Việt ở Bắc và Nam California phản đối chương trình Meet Vietnam ở San Francisco” giải thích lý do hành động:

- Là người Việt tị nạn, chúng tôi đã quá hiểu sự tàn bạo, đàn áp dân quyền và nhân quyền của chế độ Cộng Sản, - Là công dân Mỹ chúng tôi hết sức bất binh với việc nhà cầm quyền Việt Nam có thái độ dung túng buôn người và khai thác lao động trẻ em. - Là cư dân California chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm nặng nề bởi việc Hội Ðồng Thương Mại California-Á Châu hợp tác với một chế độ đàn áp dân chúng, ngăn chặn những quyền tự do căn bản của con người, và bây giờ còn tiếp tay cho họ tuyên truyền tại tiểu bang này.”

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tin tức về tình trạng sức khoẻ Lm Nguyễn Văn Lý Hoa Thịnh Đốn ngày 16 thang 11, 2009
Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Viêt Nam (CRFV)

Kính thưa quí vị,
Tình trạng sức khỏe của Lm Nguyễn Văn Lý rất đáng quan ngại. CSVN đã đưa Lm Lý ra khỏi trại tù Ba Sao để trị bệnh tại bệnh viện bộ công an, Hanôi.

Khuya Thứ bảy, rạng sáng sớm Chủ Nhật ngày 15-11 tại VN (tức 8 giờ tối Thứ bảy tại HTĐ) thiếu tá VC tên Nam, là cai ngục trực tiếp của Lm Lý đã gọi điện thoại khẩn cấp cho cô Hiểu báo tin: Cha Lý đang bị bệnh nặng, và trại tù Ba Sao phải đưa Lm Lý vào nhà thương của Bộ Công An Hà Nội. Bệnh tình của Cha Lý nghiêm trọng như thế nào, thì còn phải chờ hai người cháu của Lm: anh Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Công Hoàng đã rời Quảng Bìên sáng sớm Chủ Nhật ra Huế, rồi từ Huế sẽ đi xe ra Ha Nội, vì họ không mua được vé máy bay đi thẳng từ Saigon ra Hà Nội.

Hai cháu Cha Lý đã gặp được ông vào sáng Thứ hai 16-11 tại bệnh viện. Họ cho biết một tin vắn tắt là Lm Lý bị liệt hết nữa người bên phải. May mắn là Cha không bị méo miệng, nên ông vẫn còn nói được và vẫn tỉnh táo. CACS cho biết sắp đem Cha đi chụp XRay.

Hai người cháu không thông báo được nhiều hơn vì lúc nào họ cũng "được" hộ tống bởi bốn CACS.

Sáng nay, anh Nguyễn Công Hoàng sẽ rời HàNội về Sàigòn, để cô Nguyễn Thị Hiểu (chị ruột Cha Lý) ra thay.

Sau khi anh Hoàng về đến Quảng Biên, chắc chúng ta sẽ biết thêm nhiều chi tiết hơn về bệnh tình của Lm Lý.

Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật tin tức về sức khoẻ của Lm Nguyễn Văn Lý khi có thêm những chi tiết mới

Xin mọi người hết lòng cầu nguyện cho Lm Nguyễn Văn Lý.

Kính báo,

Ngô Thị Hiền
UB/TDTG/VN

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

GIẢI PHÁP....GIẾT NGƯỜI -

Triệu Vũ

Ngày 18-11-2009, giờ 10:16 Tình hữu nghị giữa VN và TQ thực không biết diễn tả là bạn hay thù? Không phải bạn mà sao có 16 chữ vàng ngọt ngào, êm ái, đầy hứa hẹn. Không phải thù mà sao 16 chữ vàng chưa ráo mực đã thẳng tay chơi nhau “cạn tàu, ráo máng”, chẳng chút nương tay.

Đối với VN, chuyện biển đông là một bài toán không có đáp số, hay nói khác đi là đang lính quính đi tìm đáp số mà chưa ra! Cả năm nay, TQ đã và đang diễu võ dương oai, ỷ mạnh hiếp yếu, xâm lấn biển đông, đụng chìm tàu đánh cá, bắt ngư dân đòi tiền chuộc, cướp hết tài sản trên tàu, thậm chí còn bắn chết các ngư dân vô tội. Trong trận bão số 9, tàu tuần tiễu của TQ đã tàn ác không cho tàu đánh cá VN vào trú bão tại Trường Sa. Trong cơn nguy kịch, tàu VN đánh liều tấp vào đảo, thì sau đó, tuần duyên TQ tới hành hung và tịch thu hết hải sản trong tàu kể cả hải đồ và hải bàn.

Các hành động ngang ngược này làm một số ngư dân VN hoảng sợ phải bỏ nghề, không dám ra khơi. Dư luận quốc nội cũng như quốc ngoại “sôi sục” những bất bình. Trước những vi phạm ngoại giao này của TQ, chính quyền VN chỉ biết “ngậm bồ hòn làm ngọt”, mà không hề có một thái độ thích đáng để bảo vệ ngư dân, mặc dầu chính quyền VN đã từng khuyến khích ngư dân “đánh bắt xa bờ” để thu hoạch được lợi nhuận hải sản đáng kể.

Cũng trong cơn bão số 9, theo tin của vnexpress.net ngày 11/3 thì ngày 11/2 tàu Lucky Dragon của TQ gồm 12 thuỷ thủ gặp bão trên hải phận Đà Nẵng. Tàu bị cháy máy hầm tàu và thuyền trưởng phát tín hiệu cầu cứu quốc tế. Ban tác chiến bộ đội biên phòng VN tại Đà Nẵng đã điều động 42 cán bộ chiến sĩ, cùng 2 tàu cao tốc của hải đội 2, 2 xuồng máy cứu nạn, 2 ô tô đặc chủng, cùng trang thiết bị cứu sinh quân y lên đường. Cùng lúc, hải quân vùng C cũng xuất phát đi cứu nạn. Tới 10 giờ sáng ngày 11/3, 12 thủy thủ của tàu Lucky Dragon được lực lượng cứu hộ đem về an toàn, 1 người sức khỏe kém, được chuyển lên Bệnh Viện C Đà Nẵng để chăm sóc Y-tế.

Chuyện cấp cứu tàu TQ bị nạn không có gì là sai, tuy nhiên nếu so sánh phản ứng và thái độ của 2 quốc gia đối xử với nhau trên quan điểm “bình đẳng” như 16 chữ vàng đã nói, thì cũng thấy “tủi” cho chính quyền VN. Không biết hành động “xả thân” này có làm cho TQ nghĩ lại mà nương tay chút đỉnh trong tương lai hay không?

Trước phản ứng bất bình của quốc nội và hải ngoại về sự bất lực của chính quyền VN trong việc bảo vệ ngư dân, chính quyền Hà Nội đã có phản ứng đê hèn bằng cách cho “Hội Nghề Cá” lên tiếng phản đối TQ thay cho chính quyền. Rồi trong một phiên họp Quốc Hội, Tướng Lê Quang Bình, Chủ nhiệm Ủy Ban An Ninh Quốc Phòng đưa ra một đề nghị: “Dân quân tự vệ biển sẽ được trang bị súng ống để có thể tự vệ khi bị tấn công, đây là lực lượng nòng cốt giúp người dân khi ra biển, xác định đâu là chủ quyền VN.”

Tại sao ngư dân lại phải là người xác định chủ quyền biển? Thế còn hải quân và đội “tuần duyên” dùng để làm gì? Ông Lê Quang Bình làm Tướng với chức vụ Chủ Nhiệm Ủy Ban An Ninh Quốc Phòng mà đưa ra một đề nghị quá…hèn yếu, bạc nhược, không xứng đáng với địa vị và quyền lợi nhân dân đã ban phát cho ông. Người ta có cảm tưởng ông quá sợ hãi thế lực của TQ nên “co đầu, rút cổ”, “tìm dễ, lánh khó”, trút bỏ việc bảo vệ lãnh hải cho ngư dân gánh vác. Ông Bình ơi, đề nghị của ông là dồn ngư dân VN vào chỗ chết rồi đó! dù ông có phát tới súng ca nông, đại bác, thì đám ngư dân này cũng không thể đương đầu với đám tuần duyên thiện chiến của TQ đâu, nhất là tàu đánh cá VN thường làm ăn theo tính cách “gia đình”, chỉ có một dúm người kể cả đàn bà, người già, con nít. Quốc Hội VN có những người hèn như ông, thảo nào mà chính quyền không cúi đầu, gục mặt, câm miệng hến trước ngoại bang.

Để trả lời cho Tướng Lê Quang Bình, anh Trương Minh Quang, chủ tàu QNg 90078, khi được ký gỉa Trần Văn, đài RFA, ngày 11/3 hỏi về việc được giao súng tự vệ, anh đã dãy nẩy:

“Em không cầm đâu ! Nói chung là ở ngoài biển, có súng nó bắn chết cha. Có súng nó bắt mình luôn. Nó giết mình ở ngoài đó.”

Anh ngư dân này thực là chí lý. Cầm súng bảo vệ lãnh hải là nhiệm vụ của quân đội. Nay ông Tướng sợ chết lại đưa giải pháp “óc…mít” để đẩy ngư dân ra chiến đấu. Thế mới biết, ông Tướng có bộ óc kém phát triển hơn anh ngư dân, vì anh dân thường này ít ra cũng biết cầm súng tay là chết trước hải quân TQ, và còn có can đảm gọi kẻ bạo ác là “nó” thay vì như lãnh đạo mở miệng ra là nhắc 16 chữ vàng.

Triệu Vũ

Nguồn trích:
http://www.tamthucviet.com/articleview. ... %c5%b8F%1e_

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Khi con nợ đi gặp chủ nợ

Ngô Nhân Dụng
Ông Phùng Chính Hổ (Feng Zhenghu) hy vọng sẽ được trở về nước Tầu sau khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama chấm dứt 2 ngày thăm viếng. Ông bị kẹt ở phi trường Narita, Tokyo từ ngày 4 Tháng Mười Một, sau khi bay về Thượng Hải mà bị đuổi đi, dù ông mang thông hành của một công dân Trung Quốc. Nhân viên hãng hàng không Nhật Bản ANA giúp cảnh sát Thượng Hải lôi kéo, xô đẩy ông Phùng vào máy bay quay trở lại Tokyo - nếu không thì máy bay này không được phép cất cánh!

Phùng Chính Hổ nhất định không trở vào lãnh thổ Nhật Bản cho nên cứ ở trong phi trường, gần hai tuần lễ rồi, sống bằng bánh kẹo do các hành khách khác tặng cho, và uống nước lã! Ông đang kiện ANA và hai công ty hàng không khác không chịu bán vé cho ông về nước 8 lần trong thời gian qua. Ông nói, việc cưỡng bách trục xuất một người Tầu ra khỏi nước Tầu như vậy là điều nhục nhã cho cả dân tộc Trung Hoa! Ông Phùng Chính Hổ đã bị chính quyền bắt giữ và sách nhiễu nhiều lần từ khi ông đứng ra bênh vực những người dân Trung Hoa bị cướp nhà, cướp đất, và phê bình đảng Cộng Sản về vụ đàn áp ở Thiên An Môn năm 1989.

Phùng Chính Hổ là một trong số bốn nhà dân chủ bị chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh bắt, đe dọa và sách nhiễu, trước khi ông Obama sang thăm Trung Quốc hai ngày, trong chuyến đi đầu tiên của ông tới Á Châu. Một nhà dân chủ khác là Tề Chí Dụng (Qi Zhiyong) đã viết đơn xin tổ chức một cuộc biểu tình để đón ông Obama khi sang Tầu, nộp đơn rồi là bị bắt ngay. Ông Tề đã mất một cẳng chân trong cuộc biểu tình năm 1989. Bà Tăng Kim Yến (Zeng Jinyan), vợ của nhà tranh đấu Hồ Giai (Hu Jia) thì được công an đến tận nhà đe dọa bắt bà không được ra đường trong “thời gian nhậy cảm” trước khi ông Obama tới. Hồ Giai đã được giải thưởng về nhân quyền của Nghị Viện Âu Châu năm ngoái, vì tranh đấu cho những người dân Trung Hoa bị cướp nhà đất, cho các bệnh nhân AIDS, bảo vệ môi trường, vân vân. Nhiều người đề nghị tặng ông giải Nobel Hòa Bình trong mấy năm qua.

Ông Triệu Liên Hải (Zhao Lianhai) là người đã đứng lên phản đối các công ty sữa bò và đòi bồi thường cho các nạn nhân của vụ sữa nhiễm độc chất melamine, cho nên bị chính quyền Cộng Sản ghét. Hai ngày trước khi ông Obama tới, Triệu Liên Hải bị cảnh sát Bắc Kinh bắt giữ mặc dù ông phản đối lệnh bắt ông sai luật vì không nêu rõ lý do. Ông Diêu Lập Pháp (Yao Lifa) bị bắt trong khi đang đi dạo với đứa con nhỏ, bà vợ ông phải tới sở cảnh sát đón con về. Hồi đầu năm 2009 ông Diêu đã bị bắt sau khi được Lãnh Sự Quán Mỹ ở Vũ Hán mời dự tiệc mừng ngày Tổng Thống Obama nhậm chức!

Trong khi gặp riêng Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào, ông Obama đã nêu lên vấn đề vi phạm nhân quyền ở nước Tầu, ông nhấn mạnh đến người Tây Tạng và người Hồi Giáo ở Tân Cương. Tuy nhiên, theo lời ông Jeffrey Bader, phụ trách vùng Á Ðông trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, nói với nhật báo Wall Street thì trong các cuộc gặp kín với Hồ Cẩm Ðào ông tổng thống Mỹ có đề cập tới các quyền làm người căn bản của người dân, trong đó có quyền sử dụng Internet, và chưa có ai nói “thẳng thừng” (blunt talk) như vậy bao giờ.

Nhưng khi ra họp báo trước công chúng thì cả hai nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc cố ý đề cập đến sự hợp tác của hai nước trong những “vấn đề lớn” của thế giới; họ chỉ nhắc đến những điểm bất đồng một cách tổng quát, nhẹ nhàng.

Obama chỉ nhấn mạnh đến quyền làm người của những dân tộc thiểu số chứ không nhắc đến các nhà tranh đấu dân chủ. Ðiểm mạnh nhất là ông nhắc đến người quyền của người Tây Tạng trước khi khuyến cáo chính phủ Bắc Kinh nên nối lại việc tiếp xúc với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Ông Obama đã phải hoãn việc tiếp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới sau khi đi Tầu, nhiều người cho đây là một nhượng bộ quá đáng. Ngày ông tới Bắc Kinh thì Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng vừa chấm dứt chuyến đi thăm cộng đồng người Tây Tạng ở tiểu bang Arunachal, Ấn Ðộ, một vùng đất mà Bắc Kinh coi như một phần thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bắc Kinh đã phản đối chính phủ Ấn Ðộ về vụ này, và họ vẫn lên tiếng đòi vùng “Nam Tạng” từ năm 1962 đến nay.

Khi gặp Hồ Cẩm Ðào trong phòng riêng, Obama chỉ trích việc Bắc Kinh dựng “Trường Thành Lửa” ngăn chặn các mạng lưới không cho đề cập tới những đề tài “nhậy cảm,” mà chính Obama là một nạn nhân. Cuộc nói chuyện của ông tổng thống Mỹ với các sinh viên (đã được chọn lọc và “huấn luyện” trước) ở Thượng Hải được trực tiếp truyền hình, nhưng sau đó nhiều đoạn đã bị công an cắt hết không cho lên mạng. Hiện ở Trung Quốc có 350 triệu người dùng Internet và 70 triệu người làm blog, và phần lớn đều muốn được phát biểu tự do hơn.

Khi họp báo, cả hai ông Hồ Cẩm Ðào và Barack Obama đều muốn nhấn mạnh đến những thỏa thuận hợp tác trong một số vấn đề căn bản. Nhật báo Wall Street nhận xét rằng bản Thông Cáo chung giữa hai ông là một “danh sách dài những phạm vi mà hai bên cần hợp tác,” và đây là một trong “những nỗ lực nhiều tham vọng nhất của hai quốc gia” để liệt kê các quyền lợi chung. Trong đó có những vấn đề lớn như phục hồi kinh tế thế giới, giải quyết vấn đề khí hậu toàn cầu đang nóng lên, cho tới những chương trình cụ thể như mở rộng thêm giao dịch hàng không, cùng nghiên cứu về y tế công cộng và tăng số sinh viên Mỹ du học ở Trung Quốc lên gấp năm lần. Tờ nhật báo này, thường đồng ý với các chính sách của đảng Cộng Hòa hơn đảng Dân Chủ, ghi nhận chính phủ Trung Quốc đã minh thị tỏ ý hoan nghênh nước Mỹ có một vai trò ở vùng Á Châu và Thái Bình Dương, một cách xóa bỏ những nghi ngờ trong dư luận Mỹ rằng Bắc Kinh muốn gạt ảnh hưởng Mỹ ra khỏi vùng Á Châu. Tờ báo công nhận bản thông cáo chung này là “một văn kiện đầy đủ nhất trong suốt 20 năm qua” về những điều mà hai quốc gia thỏa thuận cùng giải quyết.

Trên mặt kinh tế, một điểm bất đồng lâu dài nhất, là chính sách của chính phủ Bắc Kinh giữ hối suất với Mỹ kim ở mức cố định, do đó hạ thấp giá đồng nhân dân tệ để dễ xuất cảng hàng hóa sang Mỹ cũng như đi các nước khác. Nhưng trong cuộc họp báo chung, ông Obama chỉ nhắc khéo rằng ông hoan nghênh chính phủ Bắc Kinh khi họ tỏ ý “sẽ” để cho thị trường quyết định hối suất, một điều mà ông Hồ Cẩm Ðào không hề nhắc tới khi ra trước công chúng. Ngược lại, ông Hồ cho biết đã nhắc nhở ông Obama phải chống lại khuynh hướng “bảo hộ mậu dịch” để hàng hóa lưu thông giúp cho kinh tế thế giới hồi phục. Ðây là gián tiếp chỉ trích việc chính phủ Mỹ gần đây đã tăng giá nhập cảng một số hàng Trung Quốc, như bánh xe hơi loại rẻ tiền và các loại ống bằng thép.

Cuối cùng, chuyến đi Trung Quốc của Tổng Thống Obama chỉ có giá trị tượng trưng mà không đem lại một thay đổi quan trọng nào trong bang giao giữa hai nước. Nhiều người mô tả cảnh ông Obama gặp Hồ Cẩm Ðào giống như một con nợ đến gặp chủ ngân hàng. Nghĩa là rất khó nói mạnh miệng. Hiện Trung Quốc đang là chủ nhân 800 tỷ tiền nợ (công trái) của chính phủ Mỹ, chưa kể những khoản nợ cho các ngân hàng tư.

Tuy nhiên, món nợ 800 tỷ đó, cùng với 2000 tỷ đô la mà Trung Quốc đang giữ làm ngoại tệ dự trữ, không làm cho Trung Quốc mạnh hơn mà có thể còn khiến Bắc Kinh bị ràng buộc, trở nên yếu thế hơn. Vì chủ nợ không thể đe dọa con nợ sẽ rút tiền về, mà cũng không thể dọa sẽ không tiếp tục cho vay tiếp.

Trước khi ông Obama đi sang Á Châu, ông Lưu Minh Khang (Liu Mingkang), chủ tịch ủy ban điều hành hệ thống ngân hàng, đứng ngang hàng với thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc, đã lên tiếng chỉ trích Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang ở Mỹ về chính sách giữ lãi suất thấp làm hạ giá đồng đô la. Mỗi khi đô la xuống giá, Trung Quốc lại bị thiệt hại vì dự trữ ngoại tệ của họ bị giảm giá trị theo. Nhưng khi Trung Quốc đã chọn gắn đồng tiền của họ vào đô la Mỹ thì họ đành phải chịu. Ông Ngô Hiểu Cầu (Wu Xiaoqiu), giáo sư Ðại Học Nhân Dân ở Bắc Kinh đã nói một cách cay đắng rằng Trung Quốc đang bị đồng đô la Mỹ bắt làm con tin (kidnapped by American currency).

Trung Quốc không thể đem các công trái chính phủ Mỹ đi bán để tấn công tài chánh. Vì khi đem bán nhiều, giá các công trái đó giảm thì chính Bắc Kinh bị mất tiền trước. Trung Quốc cũng không thể ngưng mua công trái Mỹ. Vì họ cần xuất cảng hàng sang Mỹ, và khi bán hàng đi khắp thế giới phần lớn cũng được trả tiền bằng đô la Mỹ. Thay vì dùng số đô la “nhập siêu” thặng dư đó để nhập cảng hàng, khuyến khích dân Trung Hoa tiêu thụ thêm bằng cách cải thiện hệ thống an sinh xã hội, giáo dục, và y tế công cộng, thì chính phủ Bắc Kinh đã chọn tiếp tục cho Mỹ vay, khiến lãi suất ở Mỹ thấp hơn để người Mỹ tiếp tục nhập cảng. Bởi vì chính phủ Bắc Kinh đã coi chủ trương “sản xuất để xuất cảng” như một chính sách bảo đảm an ninh trong xã hội. Nền kinh tế Trung Quốc lệ thuộc xuất cảng, nếu không tiếp tục bán ra ngoài được như cũ thì hàng trăm triệu công nhân có thể thất nghiệp, sẽ là một mối đe dọa trên độc quyền cai trị của đảng Cộng Sản.

Chính sách kinh tế của Bắc Kinh làm thiệt hại cho nước Trung Hoa. Vì người dân Trung Hoa phải cần cù làm việc mà không được tiêu thụ. Mười năm trước đây số tiêu thụ chiếm 50% tổng sản lượng nội địa Trung Quốc, hiện nay chỉ còn 35%, tức là người Trung Hoa làm ra 100 đồng thì chỉ được tiêu 35 đồng. Trong khi đó chính phủ Cộng Sản “trợ cấp” cho người tiêu thụ ở Mỹ bằng cách giúp họ được hưởng lãi suất thấp để có thẻ mua hàng nhập cảng rẻ! Vì thế, Bắc Kinh không chịu nâng giá trị đồng tiền của họ so với Mỹ kim, dù các chính quyền Mỹ từ hàng chục năm nay vẫn thúc giục.

Ngoài miệng thúc giục, nhưng bên trong thì các chính phủ Mỹ từ thời Clinton, Bush cho tới Obama vẫn thản nhiên khi Bắc Kinh chỉ nhích giá đồng “nguyên” một chút mỗi lần dư luận quốc tế đòi hỏi. Vì các chính quyền Mỹ đều biết khi nào Trung Quốc còn dư đô la thì còn phải cho Mỹ vay thêm. Nhất là trong lúc này, khi ngân sách nước Mỹ đang khiếm hụt nặng, cần vay thêm hơn bao giờ hết. Chỉ có những người dân bình thường ở Trung Quốc là chịu thiệt thòi. Họ được tiếng là “tiết kiệm” nhất thế giới. Nhưng họ không thể không tiết kiệm vì ai cũng phải lo xa khi cả nước chưa có một hệ thống an sinh xã hội, đại đa số không có bảo hiểm y tế, số người già ngày càng tăng lên mà không có quỹ hưu bổng xã hội, và gia đình nào cũng phải lo việc học cho con cái, lại lo để dành tiền cho con trai cưới vợ, trước cảnh trai thừa gái thiếu do “chính sách một con” tạo ra!

Mối liên hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ là một tình trạng bất thường, làm cho nền tài chánh quốc tế mất cân bằng. Không phải chỉ vì người Mỹ tiêu thụ nhiều quá, mà còn vì chính quyền Trung Quốc bắt dân phải nhịn tiêu thụ quá lâu. Nhưng hai nước vẫn cần lẫn nhau để giữ thế “mất cân bằng” này trong hàng chục năm nữa. Con nợ và chủ nợ không ai có thể một mình bỏ người kia được!

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Hai Thế Hệ, Một Tâm Tình
HẢI QUÂN TRUNG TÁ LÊ BÁ HÙNG USN,
HẠM TRƯỞNG KHU TRỤC HẠM USS LASSEN
Nguyễn Mạnh Trí & Trần Đỗ Cẩm
(Viết để riêng tặng anh chị Lê Bá Thông và cháu Lê Bá Hùng Ngày 30 tháng 4 năm 2009)

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu nguời Việt đã phải rời quê cha đất tổ tỵ nạn Cộng Sản, sống rải rác tại hầu hết các quốc gia tự do trên thế giới. Riêng tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt sinh sống lên tới gần hai triệu người, trong số này có rất nhiều cựu quân nhân cũng như công chức Việt Nam Cộng Hòa. Thế hệ di dân đầu tiên này đã tích cực tham gia và khá thành công trong việc hội nhập vào xã hội mới. Tới nay, sau trên 30 năm định cư, người Việt tỵ nạn đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển và phồn thịnh của những quê hương thứ hai của mình.

Đặc biệt tại Hoa Kỳ, những đóng góp của người Việt tỵ nạn đã được thể hiện rõ ràng trong mọi lãnh vực quan trọng như kinh tế, chính trị, khoa học, xã hội, y tế, tài chánh v.v… Nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ của bom áp nhiệt, kỹ sư Đoàn Chính Trung, hiện là một trong những phó chủ tịch của Micron Corporation ở thành phố Boise thuộc tiểu bang Idaho, đã được cấp tới 132 bằng sáng chế. Tại trường danh tiếng thế giới Massachusetts Institute of Technology mà mọi người thường biết đến qua cái tên đọc ngắn gọn là MIT, anh Nguyễn Tuệ đã đạt được một kỷ lục phi thường: Đậu 5 bằng cử nhân, từ Vật Lý và Toán Học cho tới Kỹ Thuật Điện Tử, để rồi sau cùng lấy thêm bằng cao học và bằng tiến sĩ về Kỹ Thuật Nguyên Tử Lực. Như thế, anh Tuệ đã đoạt được bẩy văn bằng trong vòng bẩy năm tại một trong những đại học kỹ thuật nổi tiếng vào hạng nhất nước Mỹ. Ngoài ra, theo một ước lượng hết sức dè dặt, hiện nay ở Hoa Kỳ có vào khoảng 4,200 bác sĩ gốc Việt đang hành nghề. Như vậy, cứ trong một ngàn người chúng ta lại có 4 bác sĩ. Đa số các gia đình nguời Mỹ gốc Việt đều có con em tốt nghiệp bác sĩ, kỹ sư, là những nghề nghiệp được coi là cao qúi tại Hoa Kỳ.

Riêng về địa hạt quân sự, những thành quả lại càng nổi bật, có lẽ vì một số con cháu người Việt tỵ nạn là hậu duệ của các cựu quân nhân QLVNCH. Tiếp nối ý chí và binh nghiệp của cha anh đã bất thần bị gián đoạn, thế hệ thứ hai này đã gia nhập mọi quân binh chủng thuộc quân lực Hoa Kỳ trong và đạt được nhiều thành quả rỡ ràng. Trước đây, một thanh niên gốc Việt đã được Tổng Thống Hoa Kỳ W. J. Clinton nhắc đến trong một bài diễn văn quan trọng như một gương thành công đặc sắc của người Việt ở Mỹ. Đó là anh Trần Như Hoàng, tốt nghiệp thủ khoa từ trường Sĩ Quan Không Quân Hoa Kỳ ở Colorado Springs. Sau này, anh Hoàng lại được học bổng Rhodes - một học bổng rất danh tiếng - để đi tu nghiệp ở Anh Quốc trước khi trở về theo học và tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại đại học Harvard. Hiện nay, anh Hoàng là bác sĩ phục vụ trong quân chủng không quân Mỹ, chuyên về giải phẫu vi ti, làm việc tại thành phố San Antonio, tiểu bang Texas. Chị Hoàng cũng là bác sĩ. Vào năm 1999, những ai theo dõi trên truyền hình về lễ mãn khóa tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ ở Annapolis đều đã thấy một thiếu nữ Việt Nam là cô Nguyễn Thị Cẩm Vân. Năm đó, cô Vân tốt nghiệp Á Khoa trong một lớp có tới 737 sinh viên sĩ quan gồm cả nam lẫn nữ. Cách đây không lâu, chúng ta đã được nghe nói tới nữ Đại Úy phi công Elizabeth Phạm của Binh Chủng TQLC Hoa Kỳ, là người phụ nữ Việt Nam và cũng người phụ nữ Á Châu đầu tiên, trong lịch sử Không Quân Hoa Kỳ đã là phi công của một oanh tạc cơ chiến đấu tối tân F-18 Hornet. Đại Úy Elizabeth Phạm là nữ phi công thuộc loại cừ khôi, phục vụ trong Phi Đoàn 242 xuất sắc nhất của TQLC Hoa Kỳ (Marine All Weather Attack Fighter Squadron 242). Ðây là những phi công thượng thặng có thể yểm trợ cận phòng rất chính xác, đôi khi chỉ cách quân bạn vài trăm thước. Năm 2005 cô đã đeo lon Đại Úy, bây giờ chắc cấp bậc và chức vụ đã cao hơn nếu còn trong quân đội.

Bên binh chủng nhảy dù, cũng có Đại Tá Lương Xuân Việt đã nhận chức Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 82 Dù vào ngày 5 tháng 2 năm 2009 vừa qua. Trước đó khi còn đeo lon Trung Tá, ông là Tiểu Đoàn Truởng Tiểu Đoàn 2 Dù cũng thuộc Sư Đoàn 82. Thân phụ của Đại Tá Việt là Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Lương Xuân Đương, từng phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Gia đinh Thiếu Tá Đương rời Việt Nam năm 1975 và định cư tại Hoa Kỳ. Đại Tá Việt cùng vợ và ba con hiện nay ở hậu cứ Fort Campbell, tiểu bang Kentucky.


Gần đây nhất, chúng ta lại nhận được tin mừng, đó là Hải Quân Trung Tá Lê Bá Hùng vừa được bổ nhiệm vào chức vụ Hạm Truởng Khu Trục Hạm USS Lassen (DDG 82) của Hải Quân Hoa Kỳ. Lễ bàn giao đã đuợc cử hành vào ngày 23 tháng 4, 2009 tại căn cứ hải quân Hoa Kỳ ở Yokosuka, Nhật Bản. Việc bổ nhiệm này là một diễn biến khá quan trọng trong quân sử Hoa Kỳ vì đây là lần đầu tiên, một sĩ quan Hải Quân nguời Mỹ gốc Việt được làm Hạm Truởng một chiến hạm tối tân trong lực lượng hải quân mạnh nhất thế giới, do đó chúng tôi sẽ dành nhiều thời gian để nói về việc bổ nhiệm hạm trưởng có tầm vóc lịch sử này.

Ai cũng biết hiện nay Hải Quân Hoa Kỳ được xem như là mạnh nhất trên thế giới với nhiều chiến hạm tối tân hàng đầu có mặt trên khắp các đại dương cũng như tại các phần đất xa xôi hẻo lánh trên thế giới. Giống như các “đế quốc” Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Anh Quốc truớc đây, chính nhờ lực luợng hải quân này mà Hoa Kỳ có thể giữ vững ngôi vị cường quốc hạng nhất, bảo vệ quyền lợi cũng như nhanh chóng can thiệp tại bất cứ điểm nóng nào trên thế giới. Ngoài những chiến hạm và phi cơ tối tân, Hải Quân Hoa Kỳ còn có những sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên nhiều kinh nghiệm, được huấn luyện tinh nhuệ. Riêng trong lãnh vực tuyển lựa cấp chỉ huy, chỉ có một số rất nhỏ sĩ quan đuợc chọn và đặc biệt huấn luyện để trở thành hạm truởng, nhất là trên các chiến hạm chủ lực như Hàng Không Mẫu Hạm, Tuần Dương Hạm, Khu Trục Hạm hay Tiềm Thủy Đỉnh nguyên tử. Theo truyền thống hải quân, vị hạm trưởng được coi là có uy quyền tối thượng như một vị lãnh chúa trên chiến hạm chỉ đứng sau Thượng Đế, do đó huy hiệu hạm truởng có ghi hàng chữ La Tinh “Magister Post Deum” (Chúa tể chỉ sau Thượng Đế). Do đó, chỉ những sĩ quan xuất sắc nhất mới được đề nghị làm hạm trưởng. Cũng theo luật hàng hải quốc tế, một chiến hạm mang cờ hiệu của quốc gia nào được coi như lãnh thổ của quốc gia đó khi hải hành cũng như khi cập bến tại các hải cảng ngoại quốc, và vị đại diện của lãnh thổ nối dài đó chính là Hạm Trưởng. Vì vậy, trong thời đệ nhị thế chiến, khi Nhật Bản buộc phải ký văn kiện đầu hàng chấm dứt chiến tranh tại Thái Bình Dương, họ phải ký trên Thiết Giáp Hạm Missouri của Hoa Kỳ bỏ neo tại vịnh Tokyo. Vì chức vụ hạm trưởng quan trọng và quyền hành rộng lớn như vậy nên giấc mơ của bất cứ sĩ quan hải quân nào cũng là được nhận quyền chỉ huy của một chiến hạm chủ lực. Đặc biệt theo truyền thống hải quân Hoa Kỳ, chức vụ Hạm Trưởng là chỉ hiệu cho biết con đường binh nghiệp đang thênh thang phía truớc và nếu không phạm lỗi lầm nào nghiêm trọng sẽ có nhiều triển vọng lên tới hàng đô đốc trong tương lai,

Sau đây chúng tôi sẽ tường thuật sơ luợc về buổi lễ bàn giao quyền chỉ huy khu trục hạm USS Lassen (DDG 82), rồi sẽ trình bày tiểu sử của tân hạm trưởng HQ Trung Tá Lê Bá Hùng, giới thiệu sơ lược về thân phụ của ông là một cựu sĩ quan HQ/QLVNCH cùng truyền thống gia đình và sau hết sẽ nói qua về chiến hạm USS Lassen.

Theo tài liệu chính thức của Hải Quân Hoa Kỳ, tân hạm truởng Lê Bá Hùng đã nhậm chức vào ngày 23 tháng 4 trong một buổi lễ trang trọng được tổ chức tại quân cảng Yokosuka, Nhật Bản. Lễ bàn giao đã được diễn ra trọng thể giữa cựu Hạm Trưởng là HQ Trung Tá Anthony Simmons và tân Hạm Trưởng HQ Trung Tá Lê Bá Hùng dưới sự chủ tọa của Phó Đề Đốc Kevin Donegan, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm 70/75 (Task Force hay TF 70/75) kiêm Tư Lệnh Chiến Đoàn Mẫu Hạm 5 và kiêm Tư Lệnh Lực Lượng Tác Chiến Đệ Thất Hạm Đội (Battle Force Seventh Fleet). Chiến hạm Lassen là một thành phần của Phân Đoàn Khu Trục Hạm 15 (Desron 15) thuộc Lực Lượng Tác Chiến Tiền Phương Hải Quân Hoa Kỳ đồn trú tại căn cứ Hải Quân Yokosuka. Các chiến hạm thuộc Hạm Đội 7 Hoa Kỳ có nhiệm vụ tuần tiễu và bảo vệ an ninh khu vực Thái Bình Dương, bao gồm Biển Đông là một điểm nóng đang có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia vùng Đông Nam Á, nhất là với Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Như vậy chiến hạm của Trung Tá Hùng có thể sẽ được gửi tới hoạt động tại vùng biển Việt Nam, nơi thân phụ ông đã khởi đầu hải nghiệp cách đây gần nửa thế kỷ.

Bài diễn văn nhậm chức của tân hạm trưởng ngắn và gọn, trong đó ông tỏ lòng tri ân Hải Quân Hoa Kỳ đã tạo cơ hội thuận lợi để một sĩ quan gốc Á Châu như ông có cơ hội thăng tiến, và đặc biệt cám ơn thân phụ là cựu Trung Tá HQ/QLVNCH Lê Bá Thông mà ông luôn luôn kính trọng như một vị anh hùng. Cơ quan truyền thông nổi tiếng Asahi Shimbun của Nhật cũng có bài viết đặc biệt, trong đó ca ngợi tân hạm trưởng Lê Bá Hùng là nguời Mỹ gốc Việt đầu tiên đảm nhận chức vụ hạm trưởng một chiến hạm lớn của Hoa Kỳ. Tờ báo Nhật cũng cho biết Trung Tá Hùng tuyên bố ông rất hâm mộ văn hóa Nhật và được làm hạm trưởng môt chiến hạm đặt căn cứ tại Yokosuka là “giấc mơ số 1” của ông. Nhân dịp này, cơ quan truyền thông Nhật cũng dành nhiều cảm tình và tỏ ý thán phục về những thành công vuợt bực của người Việt tỵ nạn Cộng Sản đã phải bỏ nước ra đi. Về tiểu sử, được biết HQ Trung Tá Lê Bá Hùng sinh ra tại thành phố Huế, Việt Nam, trong một gia đình nề nếp và lớn lên tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Năm 1988, ông tốt nghiệp Thủ Khoa (Valedictorian) tại trường trung học Gar-Field High School tại Woodbridge, được tuyển chọn và tình nguyện theo học ở US Naval Academy ở Annapolis, Maryland và tốt nghiệp ưu hạng năm 1992 với văn bằng Cử Nhân về Kinh Tế.

hiệm sở biển đầu tiên của ông là phục vụ trên Tuần Dương Hạm USS Ticonderoga (CG 47) ở Norfolk, VA với chức vụ Auxiliaries Officer and First Lieutenant từ tháng 2, 1993 cho đến tháng 4, 1996. Ông được thăng cấp Trung Úy vào tháng 5, 1994. Trong nhiệm kỳ này, chiến hạm được ân thuởng Battle Efficiency Award đầu tiên và tăng phái cho hạm đội Ðịa Trung Hải. Sau đó, ông giữ chức Fire Control Officer trên USS WASP (LHD 1) ở Norfolk, Virginia từ tháng 4, 1996 cho đến tháng 12, 1997. Ông được thăng cấp Ðại Úy vào tháng 6, 1996. Trong thời gian này, Ðại Úy Hùng được chứng nhận đủ khả năng đảm nhiệm chức vụ Tactical Action Officer.

Tháng 12, 1999, ông tốt nghiệp ưu hạng trường Naval Post Graduate School với bằng Cao Học Khoa Học về Operations Research. Vào tháng 6, 2000, ông tốt nghiệp Non Resident Seminar Program tại trường Naval War College. Sau đó, ông được chỉ định phục vụ trên chiến hạm USS HUE CITY (CG 66) trong chức vụ Weapons Officer. Tuần Dương Hạm HUE CITY (CG-66) thuộc loại Ticonderoga class, được mang tên HUE CITY để kỷ niệm trận đánh Tết Mậu Thân 1968 ở Huế trong đó có sự tham dự của 1 Trung Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (gồm có Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 1, Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 5, Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 5 và các đơn vị phụ thuộc). Đây là chiến hạm độc nhất của Hoa Kỳ mang tên một thành phố Việt Nam. Thật là một sự trùng hợp lý thú khi một sĩ quan nguời Mỹ gốc Việt phục vụ trên một chiến hạm Hoa Kỳ mang tên một thành phố Việt Nam. Tháng 5 năm 2001, Ðại Úy Hùng được chỉ định làm Combat Systems Officer và được thăng cấp Thiếu Tá vào tháng 7, 2002. Trong thời gian này, chiến hạm được trao tặng 3 Battle Efficiency Awards và đuợc chỉ định họat động tại The Horn of Africa, Northern Arabian Sea và Arabian Gulf, yễm trợ cuộc hành quân Operation Enduring Freedom. Từ tháng 9, 2003 cho đến tháng 10, 2004, ông phục vụ tại phân bộ Requirements, Policy, and Experimentation của Ðệ Nhị Hạm Ðội Hoa Kỳ. Ðầu năm 2005, ông tốt nghiệp ưu hạng tại Touro University International với bằng Cao Học về Business Administration in Military Management.

Sau đó ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Hạm Phó Khu Trục Hạm USS CURTIS WILBUR (DDG 54) tại Yokosuka, Nhật Bản từ tháng 3, 2005 cho đến tháng 12, 2006.

Ông được tưởng thưởng các huy chương: The Defense Meritorious Service Medal, the Meritorious Service Medal, the Navy/Marine Corps Commendation Medal (4 awards), and the Navy/Marine Corp Achievement Medal (2 awards). Trong các cuộc phỏng vấn, Trung Tá Hùng đã cho biết sự thành công và những buớc tiến dài trong cuộc đời binh nghiệp của ông là nhờ gia đinh và những thủy thủ, những nguời đã dẫn dắt ông đi suốt con đường binh nghiệp. Ông cảm ơn gia đình ông, đã cho tình thương và sự hỗ trợ. Ông cũng cảm ơn tất cả những người lãnh đạo và thủy thủ mà ông đã làm việc suốt 17 năm qua, không có họ ông sẽ không có được ngày hôm nay. Đặc biệt, tân hạm truởng còn trang trọng nhấn mạnh đến truyền thống gia đinh Việt Nam và nhất là thân phụ của ông là cựu HQ Trung Tá Lê Bá Thông, một cấp chỉ huy xuất sắc được rất nhiều người mến mộ trong Hải Quân VNCH trước đây. Ông cũng cho biết cung cách và tinh thần trách nhiệm của cha ông đối với quân đội cũng như gia đinh đã ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định gia nhập Hải Quân của ông. Trung Tá Hùng đã đề cao thân phụ mà hải nghiệp đột ngột bị chấm dứt, là “nguời hùng” của mình; vì vậy ông đã quyết định theo bước chân của cha. Trung Tá Hùng còn cho biết: ”Lòng yêu nước của tôi đối với quốc gia đã niềm nở tiếp đón tôi và gia đinh tôi, cũng đã ảnh huởng đến quyết định gia nhập vào Hải Quân của tôi”. Ông muốn đền trả và phục vụ cho xứ sở này. "Chúng tôi mang ơn, một món nợ ơn nghĩa lớn đối với Hoa Kỳ”. Như vậy, tân hạm trưởng đã tỏ ra là người có tình có nghĩa, và chắc hẳn những ngày thơ ấu theo cha sống trong các doanh trại sơ sài của Hải Quân VNCH tại vùng giới tuyến đã ảnh hưởng không ít đến binh nghiệp của ông sau này. Vậy thân phụ ông, cựu HQ Trung Tá Lê Bá Thông là người như thế nào mà được tân hạm trưởng một chiến hạm thuộc loại tối tân nhất của Hải Quân Hoa Kỳ sùng kính và đề cao như vậy?

Chúng tôi có chút may mắn đuợc biết Hải Quân Trung Tá Lê Bá Thông tại truờng Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang vào khoảng đầu thập niên 60, khi anh đang theo học khóa 10 SQHQ Nha Trang, và là Liên Đại Đội Trưởng hai Đại Đội Sinh Viên Sĩ Quan khóa 10 và 11 Sĩ Quan Hải Quân. Dù mới chỉ gặp mặt lần đầu, ai cũng công nhận anh là một sĩ quan hải quân lý tưởng. Cao lớn, đẹp trai, thông minh, anh tốt nghiệp Thủ Khoa khóa 10 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang rất xứng đáng. Trong buổi lễ ra trường, anh được đích thân Tổng Thống Ngô Đình Diệm trao kiếm chỉ huy với sự chứng kiến của Hải Quân Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân lúc bấy giờ.

Khi ra truờng, sau một thời gian phục vụ trên các chiến hạm, với tư cách sĩ quan thủ khoa, tuy có thể thuyên chuyển về những đơn vị bờ tương đối an toàn, nhưng anh lại tình nguyện gia nhập những đơn vị tác chiến nguy hiểm nhất, và anh đã lập được nhiều chiến công quan trọng. Sau đây là phần sơ luợc về tiểu sử của anh.

Hải Quân Trung Tá Lê Bá Thông theo học khóa 10 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, tốt nghiệp năm 1962, sau đó được gửi sang Hoa Kỳ nhận lãnh Hải Vận Hạm Hậu Giang HQ 406 tại Seattle vào năm 1963. Về nuớc, ông tiếp tục hải nghiệp, đảm nhiệm chức vụ Hạm Phó Trục Lôi Hạm HQ 116 vào năm 1964 tức là chỉ hai năm sau ngày ra truờng. Đây là một thành quả ít sĩ quan hải quân nào có thể đạt được. Tới năm 1965, ông từ bỏ sự an toàn của tàu đi biển, tình nguyện gia nhập Lực Lượng Hải Tuần thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu. Đây là đơn vị đặc biệt của Hải Quân chuyên đảm trách những công tác mật phía Bắc vĩ tuyến 17. Tại đây, ông được bổ nhiệm làm hạm truởng PTF 6 là loại khinh tốc đỉnh tối tân nhất vào thời bấy giờ.

Ông tiếp tục phục vụ tại Sở Phòng Vệ Duyên Hải cho tới năm 1969 thì được chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng chiến dịch “Hổ Biển” hoạt động tại vùng cửa Đại, sông Thu Bồn, Hội An, với nhiệm vụ hết sức nặng nề và nguy hiểm vì phải dùng những giang đinh nhõ khai thông nhiều thủy lộ do địch kiểm soát. Năm 1970, ông làm Chỉ Huy Truởng Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng. Năm 1972, ông đuợc cử làm Quân Sự Vụ Phó Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, một chức vụ đặc biệt rất quan trọng trong việc đào tạo những sĩ quan chỉ huy đa năng, đa hiệu cho quân đội cũng như cấp lănh đạo trong tương lai. Là một sĩ quan Hải Quân mà được tuyển chọn giữ chức vụ quân sự vụ phó trong một trường Lục Quân nổi tiếng như trường Võ Bị Đà Lạt, ông đã chứng tỏ được tài ba và khả năng đặc biệt của mình. Sau đó ông lần lượt đảm nhiệm nhều chức vụ then chốt như Tham Mưu Phó Hành Quân Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển tại Cam Ranh, Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 32 Xung Phong tại Huế, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Hải Quân Cửa Việt, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Đặc Nhiệm 231.1 tại cửa Thuận An. Ông đã chiến đấu cho tới giờ phút chót tại đơn vị sau cùng là Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Nhà Bè. Ông di tản cùng gia đình sang Hoa Kỳ vào năm 1975.

Đọc qua tiểu sử và cuộc đời binh nghiệp của cựu Hải Quân Trung Tá Lê Bá Thông, ta thấy ông là một sĩ quan xuất sắc, từng đảm nhiệm nhiều chức vụ tham mưu cũng như tác chiến quan trọng. Cậu bé Lê Bá Hùng xưa kia khi còn ở Việt Nam, chắc chắn cũng đã hấp thụ đuợc nhiều tinh anh của nguời cha, nên bây giờ mới trở thành môt hạm trưởng trẻ tuổi với tương lai sáng lạn trong Hải Quân Hoa Kỳ. Hai thế hệ, một tâm tình, cùng chung giấc mơ hồ hải! Thành thật chúc mừng “Hổ Biển” Lê Bá Thông đã có hậu duệ Lê Bá Hùng nối đuợc chí cha.

Trở về với chiến hạm USS Lassen, tuởng cũng nên biết, Hải Quân Hoa Kỳ có thông lệ dùng tên những vị anh hùng để đặt tên cho các khu trục hạm. DDG 82 được mang tên Lassen để vinh danh một anh hùng hải quân Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Vào ngày 19 tháng 6 năm 1968, Ðại Úy Lassen, lúc mới 27 tuổi, được lệnh chỉ huy chiếc trực thăng UH-2 Sea Sprite cứu cấp 2 phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi sâu trong rừng rậm Bắc Việt. Khi đến địa điểm 2 phi công ẩn nấp, Ðại Úy Lassen đã cố gắng xác định địa điểm vớt nhiều lần không thành công vì rừng rậm, hỏa lực của địch cũng như dấu hiệu không rỏ ràng của bạn. Cuối cùng, Ðại Úy Lassen quyết định mở đèn chiếu sáng duới thân phi cơ cho các phi công lâm nạn nhận dạng bất chấp nguy hiểm để lộ mục tiêu cho địch. Sau khi vớt được 2 phi công và nhiên liệu gần cạn, Ðại Úy Lassen vận chuyển phi cơ tránh đạn phòng không của địch và đáp xuống chiến hạm an toàn với nhiên liệu chỉ còn trong 5 phút. Một cuộc hành quân tìm kiếm và cứu cấp thông thuờng đã trở thành một huyền thoại về sự can đảm. Cuộc cứu cấp ngày 19 tháng 6 năm 1968 đã được mọi người thuộc Helicopter Combat Squadron Seven truyền tụng và được xem như là một trong những hành động dũng cảm nhất trong cuộc chiến Việt Nam. Ðại Úy Lassen là phi công đầu tiên và là người thứ 5 trong Hải Quân Hoa Kỳ được ân thuởng huy chương Medal of Honor. DDG 82 là loại khu trục hạm lớn và có hỏa lực mạnh nhất của Hải Quân Hoa Kỳ, thường được gọi là loại “Aegis”. Theo truyền thuyết Hy Lạp, Aegis là tên tấm khiên che ngực của thần Zeus và nữ thần Athena, vì vậy HQ Hoa Kỳ dùng tên “Aegis” để xếp hạng các chiến hạm chuyên dùng để hộ tống và phòng thủ các chiến hạm chủ lực như Hàng Không Mẫu Hạm. Thông thường, trong một Hải Chiến Đoàn Mẫu Hạm (Carrier Battle Group) bao giờ cũng có nhiều chiến hạm “Aegis” và tiềm thủy đỉnh để bảo vệ mẫu hạm chống lại các sự đe dọa tấn công có thể có của phi cơ địch từ trên không, chiến hạm địch trên mặt biển cũng như tàu ngầm của địch. Tiện đây cũng nên nói qua về lịch sử của các khu trục hạm “Aegis” loại “Arleigh Burke”, tên của một vị Đô Đốc Hoa Kỳ chỉ huy hải đoàn Khu Trục Hạm rất nổi tiếng trong thời đệ nhị thế chiến tại Thái Bình Dương. Chiến hạm đầu tiên trong loại là DDG 51 mang tên Arleigh Burke bắt đầu được xử dụng từ năm 1991, chiếc mới nhất gia nhập hạm đội vào tháng 6 năm 2008 là USS Sterett (DDG 104). Hiện nay còn nhiều chiến hạm cùng loại đã hạ thủy nhưng còn đang trang bị vũ khí hay chạy thử nên chưa chính thức hoạt động. Chiến hạm được đề cập nhiều nhất trong loại này có lẽ là USS Cole (DDG 67) bị đặt chất nổ khi cập bến nhận tiếp tế tại Yemen vào tháng 4 năm 2002.

Có thể nói các khu trục hạm loại Arleigh Burke hiện là lực lượng chính trong việc phòng thủ và bảo vệ hạm đội khi tác chiến vì được trang bị với hệ thống radar đặc biệt, có khả năng phát hiện, theo dõi và bắn hạ nhiều mục tiêu khác nhau cùng một lúc. Chiến hạm đuợc chế tạo hoàn toàn bằng thép, thay vì nhôm để làm giảm trọng tải. Khu trục hạm này trị giá $800 triệu mỹ kim. Tiền phí tổn hoạt động hàng năm lên tới 20 triệu mỹ kim.

Sau đây là môt số chi tiết liên quan đến khu trục hạm Lassen. Chiến hạm này do hãng Ingalls Shipbuilding chế tạo, khởi công ngày 6 tháng giêng năm 1995, hạ thủy ngày 24 tháng 8 năm 1998, hoàn tất ngày 16 Tháng 10 năm 1999, hoạt động ngày 21 tháng Tư, 2001, đồn trú tại căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ Yokosuka, Nhật Bản. Thủy thủ đoàn gồm có 23 sĩ quan và 300 thủy thủ. Chiến hạm có trọng tải 9,200 tấn, chiều dài 509 ft 6 in (155.3 m), chiều rộng 66 ft (20 m), chiều sâu 31 ft (9.4 m). Máy chính gồm 4 máy General Electric loại LM2500-30 gas turbines, 2 chân vịt, tổng cộng 100,000 mã lực, tốc độ lên tới 30+ gút (55+ km/h). Chiến hạm cần có tốc độ nhanh để hộ tống các mẫu hạm nguyên tử có vận tốc trên 30 gút. Về hỏa lực, chiến hạm được trang bị rất mạnh gồm các hỏa tiễn hải đối không RIM-66 Standard để bắn hạ phi cơ và hỏa tiễn địch, hỏa tiễn hải đối hải Harpoon để bắn tầu địch và hỏa tiễn ASROC chống tấu ngầm. Ngoài ra còn có hỏa tiển hành trình (cruise missile) Tomahawk để đánh chính xác vào các mục tiêu trên đất liền. Đặc biệt các giàn hỏa tiễn đều thuộc loại phóng thẳng (vertical launch) dấu kín trong lòng tầu, không để trong các ống phóng nằm xéo trên thân tầu. Về hải pháo, chiến hạm có 1 khẩu đại bác 127 ly, 2 khẩu đại bác 25 ly và 4 khẩu đại liên 12 ly 7, 2 giàn phóng ngư lôi MK-32 và 2 phi cơ trực thăng loại SH-60 Sea Hawk. Đặc biệt chiến hạm còn được trang bị 2 giàn vũ khí Phalanx “Yểm Trợ Cận Phòng” (Close In Weapons System, viết tắt là CIWS) để tự vệ. Loại vũ khí này chuyên dùng để bắn hạ những hỏa tiễn do chiến hạm hay máy bay địch bắn, đã xâm nhập được những hàng rào phòng thủ bên ngoài của hạm đội, đang bay đến gần chiến hạm. Khi phát hiện hỏa tiễn địch tới gần, giàn Phalanx sẽ tự động điều khiển giàn súng đại bác 20 ly 6 nòng, theo dõi và nhắm vào mục tiêu, bắn ra khoảng 4,000 viên đạn một phút để tạo một hàng rào thép chận đường bay, tiêu hủy hỏa tiễn địch truớc khi bắn trúng chiến hạm.


Một đặc điểm khác là giàn radar phòng không AN/SPY-1D xử dụng kỹ thuật mới “phased array”. Các radar xài antenne loại cũ quay một vòng 360 độ nên chỉ nhìn thấy mục tiêu 1 lần trong mỗi vòng quay, khi tia radar đụng vào mục tiêu và dội lại, do đó cần phải có một radar thứ nhì nhắm thẳng lúc nào cũng nhìn thấy mục tiêu để kịp thời hướng dẫn hỏa tiễn của mình lúc nào cũng bám sát mỗi khi mục tiêu thay đổi đường bay hầu dễ dàng bắn hạ. Kỹ thuật mới “phased array” dùng 4 radar cố định hướng về 4 phía do computer điều khiển nên lúc nào cũng đồng bộ và “bám” được mục tiêu. Do đó chúng ta thấy trên các chiến hạm mới không còn những giàn radar với antenne khổng lồ quay tròn trên đỉnh cột buồm mà thay vào đó bằng radar loại mới được “giấu” bên trong đài chỉ huy với 4 mặt antenne quay về 4 phía. Lợi điểm của loại radar “phased array” là có thể phát hiện, theo dõi cũng như huớng dẫn hỏa tiễn nhắm vào nhiều mục tiêu cùng một lúc. Phối hợp với hệ thống tự động phóng các hỏa tiễn do computer điều khiển, các mục tiêu sẽ bị tiêu diệt dễ dàng. Trong thời gian gần đây, một số khu trục hạm loại “Aegis” đã bắt đầu được thử nghiệm để trang bị hỏa tiển chống tên lửa liên lục địa cũng như hỏa tiển phá vệ tinh của địch

Chúng ta thấy hiện nay tại Biển Đông, việc tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng trầm trọng. Truớc áp lực nặng nề của người láng giềng khổng lồ phương Bắc, chắc chắn Cộng Sản Việt Nam sẽ phải tìm lối thoát bằng cách dựa lưng vào một thế lực thứ ba để làm điểm tựa sống còn. Nhìn vào thế chiến lược toàn cầu hiện nay, chỉ có Nga Sô và Hoa Kỳ mới có thể làm Trung Quốc kiêng nể. Nga Sô hiện chưa hoàn toàn giải quyết được vấn đề kinh tế nội bộ, quan hệ với Việt Nam chỉ giới hạn trong lãnh vực thương mãi và mua bán vũ khí. Còn lại chỉ có Hoa Kỳ mới có thể làm giảm giấc mộng bá quyền của Trung Quốc tại Thái Bình Dương. Vì quyền lợi chiến lược, Hoa Kỳ phải duy trì sự hiện diện của mình trên biển Ðông. Biết đâu trong thời điểm nào đó, khu trục hạm Lassen do Trung Tá Hùng chỉ huy sẽ là một thành phần trong lực lượng bảo vệ hòa bình cho vùng Ðông Nam Á./.

Post Reply