Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Không thể xuyên tạc yêu nước thành
“Diễn biến hòa bình”


Thương Phong

Trung Quốc ngang ngược quyết định thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam một lần nữa lại lên tiếng phản đối yếu ớt bằng một lời lẽ hết sức ngoại giao rằng như thế là “vi phạm chủ quyền Việt Nam”.

Phía Việt Nam cho rằng hành động này của Trung Quốc là “không có lợi cho quá trình đàm phán, tìm kiếm biện pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề trên biển giứa hai nước”

Việt Nam khẳng định quần đảo Hoàng Sa, nơi mà Trung Quốc đang chiếm giữ và vừa tuyên bố thành lập đơn vị hành chính uỷ ban thôn đảo Vĩnh Hưng và Triệu Thuật là thuộc chủ quyền Việt Nam. Việt Nam mong muốn được giải quyết hoà bình theo luật biển quốc tế.

Quyết định của Trung Quốc ban hành ngay khi tổng thống Mỹ vừa kết thúc chuyến thăm và làm việc tốt đẹp với họ.

Các cá nhân quan chức cao cấp nhất trong lãnh đạo Việt Nam trước sau như một, chưa cá nhân nào bày tỏ rõ chính kiến về chủ quyền ,lãnh thổ đất nước trước những sự xâm phạm của Trung Quốc. Trái lại từ tổng bí thư đến thủ tướng và các uỷ viên Bộ Chính Trị đều bày tỏ quan hệ ngoại giao giữa hai nước là “hoàn toàn tốt đẹp, bền vững muôn đời”.

Bởi vậy hành vi xâm chiếm, bắn giết và chiếm giữ ngang ngược của chính quyền Trung Quốc với lãnh thổ Việt Nam được gọi nhẹ nhàng là “vi phạm chủ quyền’’. Một hành đồng xâm lược ngang nhiên đã bị nhẹ nhàng hoá , đơn giản như việc tranh chấp nhỏ giữa hai địa phương của hai nước.

Sở dĩ nhà cầm quyền Việt Nam không muốn tỏ ra mạnh mẽ trước hành động của Trung Quốc là do nhiều yếu tố đưa đến. Những yếu tố này bị chi phối vì những quyền lợi của chính thể Việt Nam, do đó chúng được diễn giải với nhân dân bằng cụm từ “nhạy cảm, tế nhị’’.

Trong 4000 năm lịch sử của đất nước và dân tộc Việt Nam, đây là lần đầu tiên và duy nhất một chính thể cầm quyền coi việc ngoại bang xâm chiếm chủ quyền đất nước là việc “tế nhị, nhạy cảm’?’. Những quyền lợi ở đây cụ thể là ghế ngồi trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng Công Sản Việt Nam, những chiếc ghế này được củng cố bởi sự tác động của Trung Quốc. Đó là điều mà tại sao chưa có uỷ viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN nào dám khảng khái lên tiếng. Mà sự việc chỉ đẩy cho phát ngôn viên BNG phát lời như một cuộn băng ghi sẵn, một cái máy nói không hơn.

Một trong những nguyên nhân nữa là tâm lý của người dân Việt Nam, ít nhiều sự tự trọng về chủ quyền đất nước còn rất thiêng liêng và cao cả. Đặc tính này là do lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành và còn tồn tại đến ngày nay.

Nhưng tâm lý cao thượng này của những người Việt Nam yêu nước lại được những nhà cai trị Trung Quốc bóp méo để nhắc nhở, răn đe chính quyền Việt Nam đó là mầm mống của “diễn biến hoà bình’’, có nguy cơ xoá sổ cả chính thể cầm quyền là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Quốc còn vạch ra những ý kiến phản đối hành động bạo ngược của Trung Quốc là âm mưu nhằm làm tổn hại quan hệ hai nước, gây chia rẽ và gây cô lập nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Chính thể cầm quyền tại Việt Nam đã cụ thể hoá lời chỉ bảo của Trung Quốc bằng những hành động trấn áp, bắt bớ những người bày tỏ ý kiến trong vấn đề chủ quyền này bằng những tội danh như “trốn thuế’’ với blogger Điếu Cày, tội “gây rối trật tự công cộng” với những thanh niên, sinh viên tham gia biểu tình phản đối. Tội “tuyên truyền chống phá nhà nước’’ với nhóm 6 người của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vừa bị kết án tù mới đây . Tội “xâm hại lợi ích quốc gia’’ của 3 blogger trẻ vừa qua. Trước đó nữa là bản án dành cho luật sư trẻ Lê Chí Quang người đã lên tiếng về hiểm hoạ xâm lược của Trung Quốc từ rất lâu với bài “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”. Loại bỏ trang web của nhà văn Đào Hiếu, sa thải blogger, phóng viên Huy Đức……

Phía Trung Quốc đã chơi một ván bài cực kỳ thâm hiểm đẩy những nhà lãnh đạo Việt Nam vào thế khó khăn. Nhượng bộ chủ quyền đất nước hay là phải đối phó với con “ngáo ộp’’ nguy hiểm mà Trung Quốc đã vẽ ra cho lãnh đạo Việt Nam thấy. Con ngáo ộp có tên “diễn biễn hoà bình’’ được Trung Quốc chỉ bảo rằng do thế lực phương Tây đặc biệt là Mỹ đứng đằng sau chủ đạo.

Điều khôi hài là trong khi chính quyền Việt Nam đang nỗ lực đối phó với những ý kiến mạnh mẽ khẳng định chủ quyền đất nước của người dân, trước hành vì xâm chiếm của người hữu hảo láng giềng bị gọi là nguy cơ “diễn biến hoà bình do Mỹ giật dây’’ thì Trung Quốc ngồi sẵn ở nhà đợi Mỹ đến đàm phán, mặc cả về những quyền lực phân chia trên thế giới ở một số khu vực.

Trung Quốc đã từng đẩy Việt Nam lên tuyến đầu của phe CNXH thử lửa với đế quốc Mỹ trong những năm 60, 70 của thập kỷ trước. Để rồi họ âm thầm tiếp ngoại trưởng Mỹ bắt đầu một mối quan hệ có lợi cho họ, để Trung Quốc âm thầm phát triển trong khi Việt Nam chỉ được cái danh hão tìên đồn của CNXH đánh bại đế quốc.

Có lẽ Việt Nam lại lần nữa là tiền đồn trong việc chống và phá tan âm mưu “diễn biến hoà bình của đế quốc Mỹ’’. Và khi nhìn lại, người “anh em” Trung Quốc lúc nào giờ đã thực sự thành một đế quốc tham tàn mang đúng bản chất như cái tên “chủ nghĩa đế quốc mang màu sắc đặc sắc Trung Quốc’’.

Giờ đây người Trung Quốc không phải lo lắng trước sự phản ứng của Việt Nam trước sự xâm chiếm của mình. Người Trung Quốc chỉ ung dung dùng kế sách của Tôn Tử là hàng ngày chỉ cho lãnh đạo Việt Nam thấy những nguy cơ của diễn biến hoà bình đang tiềm ẩn bên trong như đất đai của nông dân, tôn giáo, tài nguyên khai thác, những người bất đồng chính kiến, ý kiến của các nhà trí thức, cựu tướng lĩnh quân đội, sinh viên, thanh niên…..để những nhà lãnh đạo Việt Nam có mối bận tâm khác lớn hơn là chủ quyền lãnh hải.

Bởi thế, với lực lượng nhân lực và tài lực hùng hậu.Chính quyền Việt Nam vẫn tuyên truyền thành công khiến cho nhiều người dân ngộ nhận những việc làm của một số người Việt Nam yêu nước chân chính là “diễn biến hoà bình’’ là chủ ý của các thế lực thù địch. Và vẫn bị phủ dụ nhẹ nhàng hành động xâm lược của Trung Quốc chỉ là “vi phạm chủ quyền’’ ở mức độ nhỏ không ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa hai nước “anh em”.

Những toan tính quy chụp cho những người dân yêu nước, chỉ vì họ mạnh mẽ đòi hỏi việc xác nhận chủ quyền đất nước của chính quyền Việt Nam là cực kỳ dối trá và trắng trợn, được xây dựng một cách bài bản có hệ thống. Được dựng lên bởi một bộ máy và những lãnh đạo có nghề được đào tạo và rèn luyện kỹ. Khai thác nhiều yếu tố tâm lý của đám đông quần chúng nhân dân từ lâu đã bị chi phối và lệ thuộc vào các phương tiện truyền thông nhà nước.

Đặc biệt những tuyên truyền viên của ban tuyên huấn đi tận cùng các ngõ ngách , chị bộ cơ sở địa phương để thuyết giảng những nội dung được hoạch định kỹ càng với chiêu bài “nói chuyện với cơ sở’’. Cách nói chuyện nửa bí mật, nửa công khai như là chia sẻ với cán bộ cấp cơ sở đạt ít nhiều hiệu quả. Người ta dễ dàng thấy những cán bộ hưu trí đi họp chi bộ về, nét mặt quan trọng, khi hỏi đến đầy vẻ hiểu biết nói về quan hệ Việt- Trung, lãnh thổ bằng những luận điệu như “việc chia đất với Trung Quốc rất phức tạp, vì đó là nước lớn, mình phải khéo léo để giành được cái mình muốn. Xu thế bây giờ là đối thoại chứ không đối đầu. Những hành động nóng vội, kêu gào, đòi hỏi là do bọn xấu muốn lợi dụng để khích động bạo loạn, hoặc là do một số người thiếu hiểu biết, thiếu thông tin dẫn đến như vậy…’’

Rõ ràng một chiến dịch nhằm bôi nhọ và xuyên tạc những tấm lòng yêu nước đang được phát động một cách tinh vi , sâu rộng trong nhân dân dưới nhiều hình thức khác nhau.Nhưng chung quy vẫn là mục đích dập tắt những ý kiến khác chiều, để tập trung tư tưởng của nhân dân một cách tuyệt đối dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thâu tóm được ý chí và tư tưởng con người là yếu tố hàng đầu để bảo đảm sự tồn vong vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, tính quan trọng sống còn của yếu tố này đã được chính thể Việt Nam nỗ lực hết mình dùng mọi thủ đoạn từ bạo lực đến tuyên truyền.

Tinh thần yêu nước là một tinh thần cao thượng, không có cái “đuôi’’ do sự quy chụp, gán ghép nào có thể làm sai lệch. Những mưu toan vì lợi ích cục bộ, lợi ích phe nhóm để vu khống, áp đặt trước sau cũng bị phơi bày bộ mặt giả dối trước lịch sử và dân tộc.

Cho dẫu bị những khó khăn, những cáo buộc vu khống, cho dẫu những người dân yêu nước chân chính đã phải sa vào nhà tù do chính thể cầm quyền giăng bẫy như Nguyễn Hoàng Hải tức blogger Điếu Cày….Nhưng với tinh thần yêu nước bất diệt tồn tại hàng nghìn năm, dân tộc Việt Nam không thể nào để cho những luận điệu tuyên truyền lừa bịp dập tắt nhuệ khí hào hùng của ông cha để lại, nhuệ khí của Cáo Bình Ngô, nhuệ khí của Đông A, Bạch Đằng, Vạn Kiếp….

Đòi hỏi chủ quyền đất nước là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi con dân Việt Nam. Tư tưởng ấy là bất diệt, không kẻ nào dù tinh vi, thâm độc và quyền lực đến đâu có thể xuyên tạc sang ý nghĩa khác được. Sự lừa dối như cái kim trong bao, không sớm thì chiều ắt phải lòi ra. Bằng chứng cho thấy càng ngày càng nhiều những tiếng nói đã cất lên để khẳng định chủ quyền đất nước.

Điều ấy nói lên rằng: Không thể nào xuyên tạc tinh thần yêu nước thành những cụm từ xảo trá như “diễn biến hoà bình’ hoặc “âm mưu bạo loạn”...

Việc nhà cầm quyền Việt Nam càng hăng say đàn áp những tấm lòng yêu nước, càng quy chụp và trấn áp những tiếng nói yêu nước thương nòi càng chứng minh rõ hơn điều mà lâu nay người dân đã ngờ ngợ: “Chính quyền Việt Nam coi nhẹ sự mất nước, chỉ sợ lo mất Đảng”. Vì Đảng mới đưa lại lợi ích cho những cá nhân chóp bu này bât chấp vận mệnh của dân tộc, của Tổ Quốc.

Mọi âm mưu đang nỗ lực để lừa bịp quần chúng nhân dân, lừa bịp cả dân tộc đều sẽ thất bại bởi chúng xuất phát từ động cơ quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm. Những động cơ đê hèn như vậy sớm muộn cũng bị đè bẹp bởi chính nghĩa dân tộc, đất nước. Lịch sử đã chứng minh và ngày nay sẽ tiếp tục minh chứng cho quy luật muôn đời này.


Thương Phong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mỹ trở lại Á Châu?

Ngô Nhân Dụng
Người lãnh đạo một quốc gia phải nhìn xa, điều đó hiển nhiên. Một vị tổng thống Mỹ đã tuyên bố tương lai lịch sử nước Mỹ sẽ được quyết định bởi vị thế của quốc gia này ở Thái Bình Dương, đối diện với Trung Quốc, chứ không phải địa vị của họ ở Ðại Tây Dương, đối diện với Âu Châu. Ðó là Tổng Thống Theodore Roosevelt, nêu ý kiến này vào năm 1905. Ted Roosevelt đã tiên đoán sớm một nửa thế kỷ vì trong 50 năm đầu thế kỷ trước địa vị nước Mỹ được nâng lên nhờ những cuộc chiến tranh ở Âu Châu. Và ông cũng nhầm một điều, là ở Á Châu trong nửa đầu thế kỷ trước nước Mỹ phải quan tâm đến Nhật Bản đã, chứ chưa phải Trung Quốc.

Nhật Bản đã làm cho Trung Quốc tiến chậm thêm gần một nửa thế kỷ nữa. Cuộc xâm lăng Trung Quốc của quân Nhật làm cho kinh tế tư bản và chế độ dân chủ không có cơ hội phát triển ở nước Tầu, đã giúp cho đảng Cộng Sản chiếm được chính quyền. Mà vì nước Trung Hoa phải sống dưới chế độ cộng sản từ 1949 cho nên họ bị đẩy lùi thêm nửa thế kỷ nữa so với thế giới bên ngoài.

Bây giờ sang thế kỷ 21 thì lời tiên đoán của Theodore Roosevelt thế nào cũng đúng. Nước Mỹ chắc chắn phải hướng về phía Thái Bình Dương. Khối APAC (Á Châu Thái Bình Dương) là một diễn đàn để thực hiện chính sách đó. Ấn Ðộ, một quốc gia lớn khác đang lên ở Á Châu đang tỏ ý muốn tham gia vào diễn đàn này, dù họ không nằm bên bờ Thái Bình Dương.

Nhưng trong mười năm qua, chính phủ Mỹ tỏ ra lơ là đối với Á Châu và Thái Bình Dương. Trong thời gian khủng hoảng tài chánh năm 1997, 98, chính phủ Clinton đã không dự cuộc họp khối ASEAN năm 1997 lấy lý do chống việc Miến Ðiện tham gia. Các quan chức Mỹ chỉ lo lên lớp các nước Á Châu về chủ trương kinh tế tự do mà không hỗ trợ họ một cách cụ thể như Trung Quốc đã làm lúc đó. Chính sách ngoại giao của chính phủ Bush chỉ chú ý đến Iraq và Afghanistan, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã bỏ không dự 2 trong số 4 cuộc họp khối ASEAN của các nước Ðông Nam Á. Trong thời gian đó Trung Quốc tiếp tục cuộc tấn công bằng “lực mềm” của họ. Kể từ thập niên 1990, Trung Quốc đã bỏ “lực cứng,” không còn hỗ trợ các “phong trào giải phóng” phá hoại các nước khác. Họ tận dụng “lực mềm” (soft power) bằng những liên lạc ngoại giao, đầu tư và viện trợ kinh tế, một hình thức hối lộ trá hình.

Trung Quốc đã cho nhiều nước Ðông Nam Á vay tiền với lãi suất rất thấp, đã giúp nhiều nước này bằng các công trình xây cất hạ tầng cơ sở như đường, cầu, đập nước, mời tham dự các cuộc triển lãm công nghệ, và cấp học bổng cho sinh viên sang học ở Trung Quốc. Họ giúp Lào xây một vận động trường mới hoàn toàn để chuẩn bị vận động hội Ðông Nam Á ở Vientiane, xây tòa nhà họp hội đồng chính phủ cho Camphuchia. Họ huấn luyện các nhân viên chính quyền của các nước Á Phi. Và khác với Mỹ hoặc các nước Âu Châu, Trung Quốc không bao giờ đặt câu hỏi các chính phủ nhận viện trợ khi họ đàn áp dân chúng, vi phạm nhân quyền.

Trung Quốc gia tăng trao đổi hàng hóa với các nước trong vùng Ðông Nam Á. Năm ngoái, số thương vụ giữa Trung Quốc và khối ASEAN đã bắt đầu vượt lên để cao hơn nước Mỹ, tổng số 179 tỷ Mỹ kim, gấp 20 lần số lượng giao thương năm 1993. Trong 15 năm đó, số giao dịch với Trung Quốc từ 2% đã tăng lên 10% tổng số ngoại thương của các nước trong khối ASEAN; còn nước Mỹ đang chiếm 17% đã giảm xuống chỉ còn 12%. Những con số trên sẽ tăng vọt lên trong năm tới, vì Trung Quốc mới ký thỏa ước mậu dịch tự do với 10 nước trong khối này. Mỹ hiện mới ký một thỏa ước tương tự với Singapore.

Sau nhiều năm nước Mỹ “bỏ rơi” vùng Ðông Nam Á, chính phủ Bush trước đây đã bổ nhiệm một đại sứ đặc trách liên lạc với các nước Ðông Nam Á. Chính sách hướng về Châu Á của chính phủ mới được biểu lộ khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton sang thăm vùng này trong chuyến công du thứ nhất của bà vào Tháng Hai 2009. Trong cuộc họp ASEAN ở Phuket vào Tháng Bẩy, bà tuyên bố thẳng rằng “nước Mỹ trở lại Á Châu!” và ký một hiệp ước thân hữu, mặc dù chậm hơn Trung Quốc 6 năm. Ông Obama nhắc lại thông điệp đó, ông là vị tổng thống Mỹ đầu tiên đã dự một cuộc họp có đủ 10 nhà lãnh đạo các nước ASEAN, bên cạnh cuộc họp APEC tại Singapore tuần trước. Trước khi rời Tokyo để tới dự cuộc họp này, ông Obama nhấn mạnh rằng, “Trong một thế giới liên hệ chặt chẽ với nhau, quyền lực không phải là một cuộc chơi một còn một mất (zero-sum game), không nước nào phải lo sợ khi nước khác thành công. Xây dựng những vùng cộng tác thay vì những vùng cạnh tranh ảnh hưởng, sẽ giúp các nước trong vùng Á Châu Thái Bình Dương cùng tiến bộ. Hy vọng các nước Ðông Nam Á tin vào thông điệp đó.

Một cách cụ thể, ngoài nước Miến Ðiện mà ông Obama vẫn lên tiếng cảnh cáo về vi phạm nhân quyền và yêu cầu trả tự do cho lãnh tụ đối lập bà Aung San Suu Kyi, chính phủ Mỹ đã tỏ ra hòa hoãn với các nước trong vùng. Họ rút tên Lào và Campuchia ra khỏi sổ đen những nước bị phong tỏa, cho phép Ngân Hàng Xuất Nhập Mỹ bảo đảm những món nợ cho các công ty Mỹ làm ăn ở hai nước này. Chính phủ Mỹ cũng viện trợ quân sự cho Campuchia và sang năm hai nước sẽ cùng dự một cuộc thao diễn quân đội.

Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng nước Mỹ là thế lực quân sự duy nhất tạo được thế cân bằng với sức bành trướng của Trung Quốc. Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho Indonesia và Phi Luật Tân từ thời Tổng Thống Gorges W. Bush. Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng việc giao thương với Mỹ, xuất cảng sang Mỹợ sẽ là một cơ hội không thể thiếu được trong việc phát triển kinh tế, không khác gì vai trò của Mỹ đối với nền kinh tế Trung Hoa. Trở ngại chính là từ phía chính phủ và Quốc Hội Mỹ, nếu họ không quyết tâm “trở lại Á Châu” như bà Clinton mới tuyên bố.

Trong mười năm qua, các nước Á Ðông đã đạt được nhiều thỏa ước vùng để gia tăng quan hệ kinh tế trong khi các chính phủ Mỹ đứng bàng quan. Ngoài việc Trung Quốc tìm cách liên kết thương mại với ASEAN và thành công, ba nền kinh tế lớn nhất trong vùng đang thăm dò để tiến tới một thỏa hiệp tự do mậu dịch. Nếu Nhật Bản và Nam Hàn ký được một thỏa ước như vậy với Trung Quốc, thì quyền lợi của giới kinh doanh ở Mỹ sẽ bị đe dọa. Khi đó hàng hóa ở Mỹ sẽ vẫn bị đánh thuế “ưu đãi đặc biệt” 9% khi bán sang Tầu, trong khi hàng của hai nước Á Ðông kia sẽ được miễn thuế. Thị trường nhập cảng của Trung Quốc lên tới 1,000 tỷ Mỹ kim một năm. Năm ngoái, người Trung Hoa ở lục địa mua một số lượng xe hơi (không kể xe tải nhỏ và xe SUV) lớn ngang số xe hơi người Mỹ mua dùng - một phần vì kinh tế Mỹ đang suy thoái khiến dân Mỹ tiêu tiền dè sẻn hơn. Chỉ cần biết rằng vào năm 2006, số xe hơi tương tự bán ở Mỹ cao gấp đôi số bán ở Trung Quốc, chúng ta thấy tiềm năng tiêu thụ của hơn một tỷ người Trung Hoa sẽ còn hấp dẫn đối với tất cả các nước công nghiệp tiên tiến. Dù thuộc đảng nào, các chính phủ Mỹ không thể bỏ qua.

Chính phủ Obama đang tìm cách liên kết chặt chẽ hơn với Indonesia trong nhiều lãnh vực kể cả vấn đề an ninh, và với Nhật Bản và Nam Hàn thì việc phối hợp hành động khi đứng trước Trung Quốc và Bắc Hàn đã được nhấn mạnh. Nhưng trong thế giới hiện nay, mọi liên hệ ngoại giao thường phải được gắn bó bằng những thỏa ước kinh tế trước!

Khi gặp Tổng Thống Ðại Hàn Lee Myung Bak (Lý Minh Bác) hôm đầu tuần này, Tổng Thống Obama đã hứa sẽ thúc đẩy Quốc Hội Mỹ thông qua Thỏa Ước Tự Do Mậu Dịch với Nam Hàn. Thỏa hiệp này đã được ký từ Tháng Tư năm 2007, nhưng cho tới nay Thượng Viện Mỹ vẫn chưa phê chuẩn. Quốc Hội Nam Hàn sẵn sàng thông qua, nhưng họ còn chờ Mỹ đi bước trước, vì không muốn bị mất mặt. Thỏa ước giữa Mỹ với Nam Hàn có phạm vi mở rộng hơn nhiều thỏa ước tự do mậu dịch khác, có thể so sánh với thỏa ước NAFTA đã ký với Canada và Mexico trước đây 15 năm. Số thương vụ giữa hai nước đang ở mức 80 tỷ Mỹ kim một năm có thể tăng thêm từ 10 đến 20 tỷ khi được thi hành. Hai ngành kinh tế ở Mỹ sẽ được lợi nhất là công nghệ thực phẩm và xe hơi. Nhưng chính vấn đề xe hơi đã khiến nhiều nghị sĩ Mỹ muốn Nam Hàn nhượng bộ hơn nữa.

Ðối với Nam Hàn là một đồng minh thân thiết nhất của Mỹ ở Á Châu mà việc ký kết một thỏa hiệp tự do mậu dịch còn gặp nhiều trở ngại như vậy, thì đối với các nước Á Châu khác nước Mỹ sẽ còn dè dặt hơn nhiều.

Cho nên muốn “trở lại Á Châu” như chính phủ Obama tuyên bố, giới chính trị ở Mỹ phải thay đổi. Những thỏa ước thương mại tự do giữa Mỹ và các nước khác thường gặp trở ngại ở Quốc Hội vì các dân biểu và nghị sĩ Mỹ không phải chỉ lo chung việc quốc gia mà còn lo bảo vệ quyền lợi của các cử tri trong đơn vị, trong tiểu bang của mình, và các khối áp lực đã ủng hộ mình, như các công ty, các công đoàn, vân vân. Chính những quyền lợi địa phương và phe nhóm đó khiến chính sách ngoại giao của nước Mỹ hay thay đổi theo thời gian và cũng khiến những quyết định lớn bị trì hoãn.

Nếu các nhà chính trị Mỹ muốn thực hiện lời cảnh báo của Tổng Thống Theodore Roosevelt từ hơn 100 năm trước đây, họ phải thay đổi não trạng. Ðịa vị của nước Mỹ trên thế giới sẽ được quyết định ở Thái Bình Dương, như Ted Roosevelt khẳng định. Chỉ khi nào có một vị tổng thống đủ mạnh để buộc các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng mình cũng như phe đối lập đồng ý về những mục tiêu lớn của quốc gia mà bỏ qua những bất đồng tiểu tiết thì nước Mỹ mới có một chính sách mạnh và kịp thời đối với các nước Á Châu. Hiện nay ông Obama còn đang lo ve vãn Quốc Hội để thông qua những chương trình quốc nội, khó lòng làm áp lực với họ. Họa chăng đến giữa năm 2010 ông mới có khả năng hướng về Á Châu thật sự.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sợ Hãi Tạo Nên Bản Lĩnh của Dân Tộc

Nguyễn Quang
Đối với người dân Việt Nam thời chiến tranh cũng như hoà bình sự sợ hãi tạo nên bản lĩnh của dân tộc này. Chính sự sợ hãi đã làm cho mỗi cá nhân trưởng thành và nhiều trường hợp ngược lại. Không ai biết rõ nó từ đâu đến, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sống bên một nước quá lớn luôn rình rập đe doạ tấn công, lòng tị hiềm ghen ghét như bẩm sinh của con người nằm nơi chính anh em mình. Có rất nhiều loại ám ảnh sợ, mặc dù nạn nhân biết tính chất vô lý và tìm cách khắc phục, nhưng ám ảnh nầy vẫn trở đi trở lại.

Từ bức tường Bá Linh bị sụp đổ đến bức tường sợ hãi đang phủ bóng tối tăm trên dân tộc Việt Nam ngày nay. Từ chợ đến trường và từ trường đến chợ búa, tất cả trong cảnh bát nháo của một dân tộc đang trải qua một thời bi thương nhất không có cây gậy dẫn đường mà nếu có cũng chỉ là một sự vay mượn đâu đó chứ thật sự không phải từ khát vọng và đáp ứng các nguyên vọng của người dân Việt, thậm tệ hơn đó là tạo nên sự khát máu và bơm dầu vào đó nên đã có cờ kia mang tên ‘cờ máu’.

Trên bình diện quốc gia những người lãnh đạo đã không tạo được nhân cách quốc gia vì ngay chính các nhân vật không có tư cách cá nhân, nói đến Việt Nam là nói đến tham nhũng, hối lộ, ăn chơi trác táng, sự mục rữa đến mọi ngóc ngách xã hội… đến ngay cả đám ma ngày nay tại Sài Gòn cũng khác lạ, có cả vũ sexy và không chỉ tới 0 giờ nhưng kéo suốt đêm cho đến khi đưa người chết ra tận huyệt, gọi là cho người quá cố được hưởng trọn vẹn mà thật sự chỉ toàn những ông già ngồi xem trước sự tò mò của con trẻ vì với con trẻ thành Hồ ngày nay nhà nghỉ, khách sạn mini đầy dẫy thậm chí qua các phóng sự có em vào nhưng cái ấy chưa biết gì.

Các Trường đại học trên phạm vi cả nước có thể nói không có một đại học nào đủ tiêu chuẩn, theo thống kê thăm dò đã phổ biến trên các báo tại Việt Nam, vì ngay yếu tố chính yếu đầu tiên là nền giáo dục đó sẽ đưa con em Việt Nam về đâu trong sự hòa nhập chung với cộng đồng nhân loại, thiếu hẳn một triết lý giáo dục, việc nêu cao tư tưởng Hồ này nọ, quả là một sự dị hợm vì ngay cả các em ở bậc Tiểu học cũng biết rằng họ Hồ có nhiều vợ con và giết vợ, không nhận có con để được tôn sùng thành thánh… ôi ở Việt nam bây giờ có nhiều thánh thánh, vậy theo gương ông ấy có nghĩa là sau này cũng sẽ làm nghề gian dối, lừa đảo, lường gạt… học hành cho cao để đi bịp người, trở thành như thế ư? Tác giả có gặp một số em học tại trường có tên ‘lê văn tám’ tại Sài Gòn và tâm sự:

- Đố các cháu tên ‘lê văn tám’ có thật không?
- Không có em nào trả lời là thật…
- Vậy sao các cháu biết thông tin đó?
- Chúng cháu vào net xem…
- Vậy các cháu nghĩ sao về một học sinh của trường mang tên đó…

- Nhiều em cười và một em trả lời… trường này có nhiều ma và đất nước này có nhiều ma chiến tranh lắm… và học trò quậy không thua ma nên không sao bác ơi… điện thoại đứa nào cũng có net hết, bác muốn xem ma không nào, cái này còn hơn ma ‘lê văn tám’… chúng đưa lên màn hình sexy giao cấu rồi bỏ chạy….những em khác cười.

Không chỉ với con trẻ xem sex như một trò đùa nhưng các bậc cha mẹ, cơn nghiện sex như một đại dịch tại Việt Nam ngày nay với người lớn.

Như dưới thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ đã tạo ra nhiều trò vui chơi để thanh niên quên đi nhiệt huyết và ngày nay phương cách mỵ dân này càng đi xa hơn với đủ loại trụy lạc mà đạo đức phong tục những nền tảng căn bản nhất từ truyền thống dân tộc mang bộ mặt người của nhà nước tự nhiên hầu như bị phá tan đến băng hoại quên cả ngoại xâm đã vào trọn nhà mình.

Từ một thượng tầng kiến trúc băng hoại đến hạ tất loạn, đề tài ‘xua đuổi nhân tài’, chuyện cười ra nước mắt đang là vấn đề tài nóng tại Việt Nam, giới trẻ đã kêu trời trước câu chuyện: bị mất việc vì có trình độ... đại học ở Quảng Bình, một câu chuyện vừa xót vừa đau. Lý do đuổi việc vì đề án tuyển dụng chỉ tuyển chọn người có bằng “cử nhân cao đẳng công nghệ chế biến lương thực, thực phẩm” chứ không phải là người có bằng đại học công nghệ thực phẩm như của nạn nhân! Nghĩa là cơ quan quyết tâm tuyển người có trình độ... thấp, còn người bạn trẻ kia có trình độ cao, có năng lực cống hiến cho quê hương nên hãy đợi đấy!

Đặc biệt nhóm từ ‘cử nhân cao đẳng công nghệ chế biến lương thực, thực phẩm’ không hề có trong danh mục ngành đào tạo của nước CHXHCNVN, nhưng đại diện Sở Nội vụ Quảng Bình vẫn nhất quyết nếu không có chức danh thì không tuyển, nếu tuyển vẫn phải tuyển đúng người có văn bằng với đầy đủ cụm từ trên!

Cũng trong một thứ hoang tưởng buộc người, vào thời chiến tranh những người Cộng sản miền Bắc mắc chứng ảo tưởng bị hại, qua tư tưởng đấu tranh giai cấp luôn nghĩ rằng miền Nam đang bị bách hại, Mỹ xâm lược Việt Nam… Nhưng thật sự người miền Nam đang sống những giây phút thanh bình no ấm nhất suốt trong thời gian dài của lịch sử, mọi sự từ kiến trúc xây dựng đến đường phố đều đổi thay nhanh chóng trên Hòn ngọc Viễn Đông này. Miền Bắc luôn tạo cho chính mình những mối nghi ngờ rồi khẳng định đang có một mối thù dân tộc, kích động lòng yêu nước mà vốn trong quá trình dựng nước và giữ nước đã trở thành thứ di truyền bẩm sinh trong người Việt. Họ tạo ra thứ hình ảnh Hoa Kỳ và Đồng Minh đang mang tất cả những gì xấu xa nhất đến với dân tộc này mà không nghĩ có người tài giỏi nhất của thời đại đang đến nhà mình. Ôi quả là những con người mãi ở nơi xó làng tiến vào địa đạo, xem trời bằng vung hay còn gọi là ‘ếch nằm đáy giếng’ nay được trang bị cho thứ học thuyết gọi là thần dược nên người nào cũng nhảy ra đóng vai cứu người, giống như thầy lang dùng thuốc Nam mà chữa trị bệnh chó dại: hậu quả chờ đúng ba tháng mười ngày nạn nhân sủa tru như chó rồi chết.

Những thứ ám ảnh từ học thuyết không tưởng – chủ nghĩa Cộng sản là học thuyết không tưởng – Utopia, đang còn sót lại một vài nước trên hành tinh có Việt Nam.

Ngày nay nhìn lại sau hai mươi năm bức tường Bá Linh bị dẹp bỏ, đoạn phim vợ chồng nhà lãnh tụ độc tài Romania Ceausescu bị xử tử, bị mang ra bắn ngay sau khi cuộc cách mạng nổi lên trong khoảnh khắc với án tử hình, cả cuộc cách mạng của Công Đoàn Đoàn kết ở Ba Lan…Tất cả không ai ngờ những gì đã xảy ra nhanh chóng như vậy. Lịch sử vẫn luôn với chữ NGỜ và con người sẽ vượt qua chữ ngờ một khi các cá nhân cũng như các dân tộc biết chiến thắng sợ hãi.

Truyền thống của dân tộc này, nhà văn, thi sĩ, trí thức… là những người luôn băn khoăn về các vấn đề của xã hội qua những bài hịch, câu thơ để dẫn đưa dân tộc Việt qua bao ghềnh thác. Họ trở thành trụ cột chống đỡ cùng đồng bào lúc hoạn nạn cũng như lúc bền vững, tất cả kẻ chèo người tát trên con thuyền vận mệnh của đất nước: phải cùng nhau vượt qua sợ hãi để chiến thắng với chính mình và cho cộng đồng hầu mang lại từ hỗn mang đến trật tự - Ab Chaos Ordo.

Nguyễn Quang

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ðảng chập chờn, chế độ chập chờn

Ngô Nhân Dụng
Ðêm Thứ Ba và sáng Thứ Tư, nhật báo Người Việt loan tin về mạng Facebook bị chặn tại Việt Nam, ngay lập tức có những vị công an văn hóa viết thư chế nhạo tờ báo này loan tin vịt, và báo cho biết rằng Bộ Thông Tin, Văn Hóa trong chính phủ Hà Nội đã xác nhận rằng họ không hề ra lệnh cấm Facebook bao giờ.

Nhưng tới sáng ngày Thứ Sáu, các đài phát thanh quốc tế nói tiếng Việt lại đua nhau loan tin Facebook ở Việt Nam bị chặn, phần lớn các chi tiết trong các bản tin chỉ xác nhận lại những điều đã viết trên Người Việt hôm trước. Vậy thì Facebook có bị chặn hay không? Có, và không. Một người ở Việt Nam được đài ngoại quốc phỏng vấn đã cho biết nó “chập chờn,” có lúc vào được, có lúc không. Hai chữ “chập chờn” rất gợi hình, cũng là câu trả lời của một người từ Hà Nội trả lời nhật báo Người Việt trong số báo in ngày Thứ Tư. Chập chờn, hai tiếng này thường được dùng để tả những bóng ma. Những người yếu bóng vía nghe có thể sợ không dám mó tới Facebook nữa! Chắc nhiều vị độc giả không biết cái tên gọi Facebook này là cái gì. Nó là một thứ nhu liệu được thảo ra để những người dùng có thể liên lạc với nhau qua mạng lưới. Mỗi người mở một “account” trong Facebook rồi đem hình ảnh, tin tức của mình bày lên, dùng cái cửa đó để liên lạc với bạn bè, bà con. Chữ “account” này có thể gọi là gì, xin bàn sau, nhưng có một người trả lời đài phát thanh gọi nó là “tài khoản” giống như trương mục trong ngân hàng thì chắc chắn không ổn, vì chẳng có đồng tiền nào trong đó hết! Ký giả này cũng mới mở một “account” trong Facebook gần đây để tiện việc trao đổi tin tức với con, cháu, họ hàng và bè bạn, nhưng rất ít dùng chỉ vì lười chứ không phải vì bị ai cấm. Không lẽ con cháu đã biết dùng Facebook mà ông nội, ông ngoại lại chịu thua đóng vai một người lạc hậu hay sao? Có hơn một triệu người ở Việt Nam đang sử dụng Facebook, gần một triệu là những người trên 18 tuổi, cho thấy đồng bào mình cũng không chịu lạc hậu.

Trừ khi “đảng lãnh đạo” muốn bà con cứ tiếp tục chập chờn trong lạc hậu, để tiện việc cai trị!

Nhưng bên trong cái đảng lãnh đạo đó, cũng không biết ông nào bà nào ban quyết định chặn không cho đồng bào vô Facebook. Cho nên nó càng chập chờn hơn nữa!Khi một đài ngoại quốc hỏi, thì ông bộ trưởng Thông Tin quả quyết ông không hề ra lệnh chặn Facebook. Chắc ông ta không ra lệnh thật. Có khi ông cũng chẳng hề biết có ai ra lệnh hay không! Nhưng trên bản tin báo Người Việt, được các đài ngoại quốc xác nhận hai ngày sau, thì có lệnh cấm bảo những người làm Internet thật. Và lệnh cấm này được ban ra từ guồng máy công an! Báo Người Việt đã in cả hình trang công văn, mang số đàng hoàng, gửi cho tám công ty cung cấp dịch vụ Internet như VIETTEL, VDC, cho tới VTC, vân vân, ra lệnh họ ngăn chặn “triệt để” Facebook để “bảo đảm yêu cầu công tác an ninh và đấu tranh với hoạt động tuyên truyền chống phá Ðảng và nhà nước ta.” Bản văn đó lại ẩn danh, không đề tên cơ quan ra lệnh. Ðó cũng là một hành tung đặc biệt kiểu công an (hành tung, nói theo thời thượng còn gọi là “động thái,” một từ nghe mơ hồ hơn, tức là cũng chập chờn hơn)! Có nhà cung cấp dịch vụ Internet ở Việt Nam như FPT nói họ không nhận được lệnh nào của công an cả. Nhưng nhiều công ty khác thì xác nhận được công an ra lệnh ngăn chặn Facebook. Bàn dân thiên hạ, tức là đám chúng sinh đang dùng Facebook thì thấy có khi vào được, có khi không. Khi có, khi không, khi ẩn, khi hiện cho nên mới gọi là nó chập chờn. Hai tiếng chập chờn vẫn quen dùng để tả ma gọi quỷ, bây giờ dùng rất tiện để tả cách hành động (nay có khi gọi là động thái) của giới công an ở nước ta, chứng tỏ những loại này có nhiều điểm tương đồng.

Nhưng phải nói, cả chế độ đang cai trị nước Việt Nam nó cũng là một chế độ chập chờn, do một Ðảng Chập Chờn lãnh đạo. Hãy nói đến cái tên của đảng này, đã thay đổi mấy lần tùy theo cơ hội. Ðã có lúc Ðảng tuyên bố tự giải tán nhưng vẫn sống như ma trong bóng tối, đợi cơ hội tới lại hiện hình lên như làm trò phù thủy.

Khi thành lập đảng, Hồ Chí Minh đặt tên là Ðảng Cộng Sản Việt Nam nhưng ngay sau đó Stalin bảo phải đổi tên là Ðảng Cộng Sản Ðông Dương. Hồ Chí Minh bị Stalin nghi có khuynh hướng “quốc gia” chưa thấm mùi “vô sản quốc tế.” Cho nên suốt cuộc đời sau đó Hồ Chí Minh phải luôn luôn tìm cách chứng tỏ mình là “cộng sản đệ tam thứ thiệt” để được Stalin tin dùng nhưng chẳng bao giờ được tin. Khi Hồ theo Mao Trạch Ðông sang Mát Cơ Va yết kiến ông trùm đỏ, đã cắt một bức hình Stalin trên tờ báo tuyên truyền, xin ông Sít ký tên làm kỷ niệm. Ngày hôm sau, theo lời Krutchev kể trong cuốn hồi ký của ông, mật vụ Nga vô đã phòng Hồ Chí Minh lục va li lấy lại bức hình đó. Ðúng là thầy cũng không tin học trò! Các lãnh tụ cộng sản đều biết không thể nào tin nhau được, vì họ đều lấy thuật trí trá làm phương châm sống và hành động.

Theo phương châm sống đó, năm 1946 Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, để lấy lòng các ông tướng Tầu Quốc Dân Ðảng đang nắm quyền sinh sát ở Hà Nội. Năm 1951 lại tái lập đảng, đổi tên là Lao Ðộng, đưa bản điều lệ cho Mao Trạch Ðông phê duyệt. Cho tới sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, cái đảng đó mới xưng tên thật là Ðảng Cộng Sản! Một cái tên không thôi đã thấy đảng lãnh đạo chập chờn như ma trơi rồi!

Nhưng tính chất chập chờn hiện rõ nhất không phải trong cái tên mà trong hành động. Một đặc điểm của phong cách lãnh đạo của đảng Cộng Sản là trốn tránh trách nhiệm. Lúc nào cũng nhân danh “Ðảng” mà ra lệnh, nhưng hỏi “Ðảng là ai” thì anh nọ chỉ anh khai, không anh nào nhận. Bởi vì không ai dám tin nhau, cho nên ngay cả khi đưa ra những chính sách làm khổ cả nước, các anh cũng tìm cách “giấu tên” để mình khỏi chịu trách nhiệm. Bây giờ những người dùng Internet ở Việt Nam có thắc mắc hỏi “Ai ra lệnh các công ty tin học chặn Facebook?” Thì chắc không thể nào điều tra ra thủ phạm. Hành tung nó cũng chập chờn như bao nhiêu quyết định khác trước đây, như khi hỏi, “Ai bày ra trò cải cách ruộng đất? Ai đấu tố các nhà trí thức Nhân Văn, Giai Phẩm?” Hồ Chí Minh là người thôi thúc cải cách ruộng đất, nhưng đổ tội cho Trường Chinh để trừ bỏ một đàn em có khả năng hơn và nhiều tay chân hơn mình! Tố Hữu đã chịu tiếng là người đứng đầu vụ đấu Nhân Văn Giai Phẩm, nhưng nay mới biết Trường Chinh mới là tướng soái chỉ huy! Ðồng đổ cho Cốt, Cốt lại đổ cho Ðồng, lịch sử đảng Cộng Sản là một cái lịch sử chập chờn như vậy.

Trong hồi ký của Ðoàn Duy Thành, một cựu phó thủ tướng và từng được Lê Duẩn tính “tổ chức” cho lên làm tổng bí thư, ông kể một chuyện về cái “Chỉ thị Z30” cho thấy lề thói quyết định việc nước của đảng Cộng Sản. Năm 1983, Ðoàn Duy Thành còn làm bí thư thành phố Hải Phòng, nhận được Chỉ thị Z30 “rất mật” ra lệnh “tịch thu nhà từ 2 tầng trở lên, bất kể to nhỏ, trị giá bao nhiêu. Chỉ thị Z30 chỉ được phổ biến bằng miệng. Hải Phòng “được 2 đồng chí Bộ Chính Trị nhắc nhở rằng Hà Nội làm trước, Hải Phòng theo Hà Nội mà làm.” Ðoàn Duy Thành nhận được lệnh miệng thì cũng do dự, lên Hà Nội xem người ta tịch thu nhà. Ông viết, “Tôi thấy chẳng khác gì cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất còn đấu tố rồi mới tịch thu, nhưng Z30 chỉ đọc lệnh là tịch thu, bốc cả gia đình gia chủ lên xe đi ở chỗ khác. Tôi đi 3 lần được xem 3 nhà.” Ông còn kể, “Tôi thấy tận mắt một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt.” Ðoàn Duy Thành đã tới tận văn phòng Trung Ương Ðảng và văn phòng chính phủ “để xin xem chỉ thị Z30. Hóa ra chẳng ai biết cả và tỏ vẻ giữ bí mật, ... sợ sệt, e dè... không bảo làm, cũng không bảo không (làm).” Có như vậy mới là tác phong Ðảng Chập Chờn! Tuy vậy, một bữa Ðỗ Mười về thăm Hải Phòng, được đưa đi tham quan, qua một ngôi nhà hai tầng dựng bên đường, bèn hỏi nhà của ai, và nói sõng, “Nếu tôi là bí thư, chủ tịch thành phố, tôi sẽ tịch thu cái nhà này...!” Ðó là ngôi nhà của một tài xế lái xe trong Ðoàn 12!

Cuối cùng thì cái Chỉ thị Z30 đó nó chập chờn từ đâu mà sinh ra? Trong cuộc họp Trung Ương Ðảng vào Tháng Sáu năm 83, do Phạm Hùng, bộ trưởng Công An điều khiển, Ðoàn Duy Thành nói “một mạch 2 giờ liền” than phiền về những tai hại của Chỉ thị Z30. Anh Ba Lê Duẩn và anh Hai Phạm Hùng tỏ vẻ suy nghĩ nhưng không nói gì về cái chỉ thị đó cả, chỉ hỏi ý kiến mọi người thôi. Lê Duẩn lại lên lớp giảng một bài về “đạo lý của Ðảng ta, nguyện vọng của nhân dân.” Sau đó không còn ai nói tới nữa. Cuối cùng, Ðoàn Duy Thành vẫn tự hỏi trong cuốn hồi ký viết xong năm 2004, “Không hiểu cái Chỉ thị Z30 ấy ở đâu mà ra?” Ông kể trong nhật báo Nhân Dân một ngày vào Tháng Sáu năm 1983 có đăng 6 bài phê bình các địa phương không tịch thu nhà, trong đó có 5 bài phê bình Hải Phòng, một bài phê bình Hà Bắc. Hỏi ông Hồng Hà, tổng biên tập báo đó, ông ấy cũng chối không biết gì, chỉ thấy “tổ ý kiến bạn đọc” đăng thì đăng! Những lời tường thuật của Ðoàn Duy Thành chỉ cốt để chứng tỏ ông ta là người thực tế và khôn ngoan nhất, hơn hẳn cái anh Ðỗ Mười, người đã tìm cách ám hại ông ta để giành lấy chức thủ tướng rồi lên chức tổng bí thư. Nhưng chúng ta nghe chuyện thì biết cách quyết định việc trị dân của các ông cộng sản này như thế nào. Nói giản dị, nó là chập chờn, cho nên vô trách nhiệm.

Nếu cái Chỉ thị Z30 này được thi hành đầy đủ thì cả nước bị họa, nhất là ở miền Nam. Ðoàn Duy Thành sau đó phê bình những quyết định “khi sai sẽ gây ra bao oán thù, nó sẽ tích tụ chồng chất dần lên, thành những hận thù sâu xa đến tận đời con đời cháu...” Năm 1983 miền Bắc nước ta bị nạn đói, tỉnh Thanh Hóa có người chết đói, dân đói kéo ra Hà Nội tìm ăn đầy cả nhà ga và đường phố. Nhưng cái “Ðảng lãnh đạo” đó ban ra một lệnh làm người dân khóc sướt mướt như thế mà cuối cùng không ai đứng ra chịu trách nhiệm, dù chỉ là thú nhận để trong nội bộ biết với nhau thôi!

Từ 1983 đến nay lề lối quyết định việc cai trị nước Việt Nam của đảng Cộng Sản có vẻ vẫn không thay đổi. Chỉ có một tiến bộ, là năm nay lệnh cấm được viết trên giấy, vì dân Việt Nam bây giờ không còn sợ hãi, không còn dại như xưa nữa. Nhưng cung cách lãnh đạo chập chờn của Ðảng Cộng Sản vẫn còn nguyên, vì tờ giấy ra lệnh vẫn không thấy ai ký tên, không có danh hiệu của cơ quan nào cả!

Bà Debbie Frost, giám đốc thông tin quốc tế của công ty Facebook nói vói nhật báo Người Việt rằng “...thật là đáng xấu hổ nếu người dân ở Việt Nam hoặc bất cứ nước nào không có quyền vào trang Facebook...” Ðể bớt xấu hổ, ngày hôm nay, trong lúc đang viết bài này, tôi cũng bỏ thời giờ vào trang Facebook của mình, gửi ngay một thông điệp cho hai con và một đứa cháu ở tận Wien, Áo Quốc.

Nhưng vẫn tự hỏi ai là người quyết định ra lệnh ngăn chặn không cho người Việt trong nước được vào Facebook? Lại phải chờ mười năm nữa họa chăng mới có một người viết hồi ký kể lại những chuyện lạ lùng, ở một “cõi” mà người trần mắt thịt không thể nào thấy được. Ðó là thế giới của ma của quỷ. Cho nên nó mới chập chờn như vậy.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tình Hữu Nghị và Nghĩa Đồng Bào
Nguyễn Ðạt Thịnh
Hai chữ “tình” và “nghĩa” chi phối nhiều việc trong đời một con người; tình gần chữ yêu, trong lúc nghĩa gần với bổn phận. Cái tít 7 chữ trên bài này là của phóng viên Trần Văn, đài RFA, tôi mượn làm tựa của bài báo hôm nay vì lâu lắm mới được đọc một bản tin RFA dễ đọc; và để ca ngợi phóng viên Trần Văn, tôi xin phép anh giữ nguyên cái tựa đầy ý nghĩa.

Anh muốn nói về tình hữu nghị Việt-Hoa giữa đảng viên hai đảng Việt Cộng và Trung Cộng, mối tình thường được Hà Nội ca ngợi là thắm thiết, “sông liền sông, núi liền núi”, là “môi hở răng lạnh”, và nghĩa đồng bào là liên hệ giữa những ông quan lớn Ba Ðình và ngư dân Quảng Ngãi, cả hai nhóm người này cùng có cái gốc chung là con Hồng, cháu Lạc.

Tình hữu nghị Việt-Hoa được chính tờ báo Quân Ðội Nhân Dân Việt Cộng ca ngợi, anh Trần Văn chỉ ghi nhận lại. Nếu kỹ thuật in của trang báo đang cầm trên tay đủ tốt, bạn đọc có thể nhìn thấy trên măng xét tờ báo Quân Ðội Nhân Dân 3 cái huy chương và 3 hàng chữ lớn: “Tin Chính Trị: Tầu Hải Quân Việt Nam tích cực tìm kiếm ngư dân Trung Quốc gặp nạn.”

Tìm kiếm và giúp đỡ người gặp nạn trên biển cả phải được liệt vào loại tin xã hội, nhưng Việt Cộng gọi đây là tin chính trị vì công tác cứu nạn được quốc gia đàn anh trong tình hữu nghị ra lệnh cho Việt Cộng làm.

Tờ báo phát hành ngày thứ Năm 10/20, đúng 21 ngày sau khi lính Trung Cộng bầy tỏ tình hữu nghị Hoa - Việt bằng cách đánh, bóp cổ, cướp tiền bạc, dụng cụ hành nghề của ngư phủ Việt Nam, và dùng xà beng, búa, dao phá hoại tầu cá của họ.

Báo Quân Ðội Nhân Dân không loan tin chính trị này
Tờ báo cho biết, sau khi Bộ Ngoại giao Trung Cộng đề nghị Việt Cộng tham gia tìm kiếm hai tàu đánh cá của Trung Cộng ở vùng biển gần đảo Bạch Long Vĩ, bộ Tổng Tham mưu Việt Cộng đã điều động bốn tàu hải quân lên đường tìm kiếm hai con tàu cá của Tầu đánh cá trong hải phận Việt Nam.

Cũng cùng ngày hôm đó, tờ Tuổi Trẻ trích lời một đại tá chỉ huy phó đội biên phòng Quảng Ngãi, cho biết, thiệt hại mà ngư dân của 16 con tàu đánh cá ở Quảng Ngãi vào quần đảo Hoàng Sa trú bão số 9, bị lính Trung Cộng tịch thu tài sản, nhiên liệu được ước lượng gần một tỉ đồng.

Vượt trên cái “nghĩa” đồng bào, quên đi những nhục nhằn của ngư dân Quảng Ngãi, bộ Tổng Tham mưu Việt Cộng chỉ thị cho Hải quân Việt Cộng tận tụy thi hành trọng trách tìm ngư dân Tầu, và nếu họ còn sống, cứu giúp họ.

Nguyên văn bài báo đăng trên tờ Quân đội nhân dân viết, “Bộ Tư lệnh Hải quân đã điều động bốn tàu hải quân tham gia tìm kiếm tàu cá Trung Quốc bị nạn. Đến 7 giờ 55 phút ngày 17 tháng 10, tàu HQ 797 đã phát hiện và vớt được một thi thể ngư dân Trung Quốc ở khu vực đông nam đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý. Văn phòng Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn đã thông báo cho phía tàu Trung Quốc đến vị trí của hai tàu HQ 797 và HQ 786 nhận bàn giao thi thể ngư dân Trung Quốc.”

Dĩ nhiên thái độ của hải quân Việt Cộng đúng với tình nhân đạo, đúng với trọng trách cứu nguy trên biển cả, và đúng cả với 16 chữ vàng ca tụng tình hữu nghị Việt – Hoa; nhưng dư luận Việt Nam lại chê trách là hải quân Việt Cộng coi nghĩa đồng bào ruột thịt Việt Nam rẻ hơn tình hữu nghị giữa hai đảng cộng sản.

Người dân Quảng Ngãi hỏi trong lúc họ bị lính Trung Cộng bắn thì hải quân Việt Cộng ở đâu. Một ngư dân nói, “Chính phủ xác nhận Hoàng Sa là của Việt Nam thì mình tin là của Việt Nam, nhưng của Việt Nam gì mà ra nó bắt miết. Việt Nam đi ra đó là phải né đi ban đêm chứ ban ngày không dám đi, sợ ngang qua đó nó bắt.”

Ông Trương Minh Quang chủ tàu QNg 90078, kể: “… bão tan rồi, là đến lượt nó; nó ra nó lấy đồ hết. Nó bóp cổ, nó làm dữ dội lắm, nó làm kinh lắm. Máy móc, dụng cụ mình đi làm, nó lấy hết luôn, chỉ để lại một la bàn cho mình về thôi.”

Hai sự kiện vừa viết cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong cách hành xử đối với những ngư dân lâm nạn. Một bên tích cực cứu giúp, bên kia thì đánh đập, cướp bóc.

Ngư dân còn đau đớn hỏi, “nghĩa đồng bào đâu rồi?” Họ trách quân đội gọi là quân đội nhân dân Việt Nam lại chỉ tích cực cứu giúp ngư dân Trung Quốc.

Những người này nói khi họ lâm nạn trên biển, rất cần sự hỗ trợ của cả chính quyền lẫn quân đội, song hiếm khi ngư dân Việt Nam được quan tâm đến như vậy. Họ vẫn thường xuyên đơn độc, đối đầu với gió to, sóng dữ, bão tố, kể cả chuyện bị săn đuổi, tấn công, bị đánh, cướp, tàu bị đâm chìm.

Ông Nguyễn Thanh Thu, ngụ tại Quảng Ngãi, chủ tàu kiêm thuyền trưởng tàu đánh cá mang số hiệu QNg 95348, bị đâm chìm giữa biển, vào lúc rạng sáng ngày 19 tháng 5, kể:

“Tàu chìm hẳn trong khoảng 15 phút, anh em chúng tôi bơi miết cho đến 6 giờ sáng rồi có một chiếc thúng vớt chúng tôi lên. Chúng tôi kêu các tàu ở gần đến cứu…

Phóng viên Trần Văn hỏi, “Mình có hải quân, có cảnh sát biển, có biên phòng, việc tuần tra trên biển như thế nào? Trong những trường hợp tàu lạ đâm chìm tàu đánh cá, tàu hàng của mình…”

Ông Nguyễn Thanh Thu đáp, “không thấy tầu hải quân Việt Nam đâu cả, không thấy có tầu nào đến cứu ngư dân Việt Nam cả.”

Trần Văn: “Rồi cảnh sát biển làm gì?” Nguyễn Thanh Thu: “Tàu cảnh sát biển cũng không có… Chúng tôi gọi ngư dân cùng quê làm ở gần đó tới cứu chúng tôi và sau đó tôi phải thuê một cái ghe chở 26 lao động vào trong đất liền.”

Việc xảy ra với ông Nguyễn Thanh Thu không phải là cá biệt. Vợ của thuyền trưởng một tàu đánh cá ở Đà Nẵng, tâm sự: “Ở ngoài biển phần ai nấy biết chứ mô có ai bảo vệ. Bảo vệ giới hạn vào việc biên phòng ở trong bờ gọi ra nhắc chừng, bảo là Đài báo bão, kêu gọi mình vô bờ thôi chứ ngoài đó làm chi có ai bảo vệ. Làm ăn ngoài biển mạnh anh mô lo anh nấy. Lo làm ăn thế thôi chứ không có ai bảo vệ hết.”

Với thực tế như người ta đã biết, việc chính quyền và quân đội Việt Nam cử đến bốn tàu hải quân để tìm kiếm hai tàu đánh cá, vì tầu cá là của ngư dân Trung Quốc. Minh thì không được. Tại sao?

Một số người chua chát phỏng đoán có thể là vì chính quyền Việt Nam thực sự muốn chứng tỏ thiện chí thực hiện phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt, bất kể thái độ của Trung Quốc thế nào.

Nhiều người mỉa mai nhắc lại lời Nguyễn Minh Triết phát biểu tại Hà Giang – một trong những tỉnh giáp với Trung Quốc là, “Tình hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa là số một! Phải làm sao giữ mãi, trân quý mãi. Dù có gặp khó khăn, có gặp những vấn đề gì trở ngại thì hãy đoàn kết, thân ái với nhau. Trao đổi để tìm ra cái giải pháp khắc phục! Hai bên biên giới phải là hai bên biên giới hữu nghị. Nhân dân hai bên phải thực sự đoàn kết!”

Họ cũng nhắc thêm trò hề Triết ôm Fidel Castro rồi nói, “có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới! Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.”

Họ mỉa mai là trong khi Việt Nam và Cuba đang canh giữ hòa bình cho thế giới thì tại biển Đông, ngư dân Việt Nam vẫn khổ sở, âu lo, chấp nhận mọi nguy hiểm khi kiếm sống trên vùng biển vốn thuộc chủ quyền xứ sở của mình.

Ông Dương Văn Thọ, chủ tàu đánh cá mang số hiệu QNg 6597 TS, thắc mắc: “Tôi thường gặp tầu cá Hồng Kông, Đài Loan hay Nhật Bản làm ở quần đảo Hoàng Sa nhưng chưa nghe Trung Quốc bắt tầu cá của các nước ấy. Nó bắt Việt Nam mình không à; đó có phải là hệ quả của việc duy trì, phát triển tình hữu nghị với các nước xã hội chủ nghĩa anh em để cùng canh giữ hòa bình cho thế giới chăng?”

Một độc giả, anh Trung ở Sài Gòn góp ý vào bài tường thuật, “Tôi cảm thấy buồn cho đất nước tôi, với những nhà lãnh đạo ăn nói thiếu chin chắn.

Anh Nguyễn Tiền Phương, một độc giả khác cũng đang sống trong quốc nội, nói, “Ông Nguyễn Minh Triết là tôi thấy nhục nhã khi cầm hộ chiếu Việt Nam đi ra nước ngoài.”
Anh Hỗn Cảm, gửi thư từ Sweden cho RFA, viết, “… theo dõi tin tức Biển Ðông mà thấy giận nghẹn lên được; nhiều khi tôi muốn ôm bom đi vào công trường Ba Ðình làm cho mọi thứ, mọi người nổ tung cho mất hết dấu tích nhục nhã.”

Anh Phước từ Hoa Kỳ góp ý, “Dân chài Trung Quốc gặp nạn thì nhà nước VN ra sức tìm kiếm, tại vì Trung Quốc ra lệnh...Còn dân chài VN gặp nạn mà nhà nước VN không giúp là tại Trung Quốc chưa ra lệnh, có đúng không qúi vị....hèn quá.

Web site mở rộng cho mọi người cùng đọc, đố ai trả lời được xem Việt Cộng có đọc không, mà chúng vẫn đặt chữ tình trên chữ nghĩa trong câu đề tựa của anh Trần Văn “Tinh hữu nghị, nghĩa đồng bào”.

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image


Chiếc gậy mục tử của Giám mục
Từ ngàn xưa, cây gậy đóng ba vai trò chính: chổ dựa, diễn hành, tự vệ. Người Do Thái gọi chiếc gậy là « Kanch ». Hình như Do Thái lấy từ chữ Latin « Canna ». Người lính cổ La Mã luôn kết một cành cây vào bộ quân phục. Một biểu tượng của cây gậy. Tuy không có gì làm là hoàng tráng, nhưng vai trò của nó thật rõ ràng : Người lính cổ La Mả di chyển rất nhiều. Từ thế kỷ XI trở đi, những người hành hương luôn có một cái áo choàng và một cây gậy dài làm chổ để dựa.

Cây gậy của Giám mục, với đầu cong lại thành hình hơi tròn, hình như tới từ cây gậy của kẻ chăn chiên. Cây gậy ấy tượng trưng uy quyền và là cây gậy mục tử của Giám mục.
Image

Vài nét về Hồng Y Roger Marie Élie Etchegary
Hồng Y Roger Marie Élie Etchegaraysinh ngày 25/09/1922 tại làng Espelette thuộc Pyrénées-Atlantiques. Ngài là dân Pháp gốc basque. Ngài chịu chức linh mục vào ngày 13/07/1947 và thuộc điạ phận Bayonne. Linh mục Etchegary phải qua ba chìm bảy nỗi sau chiến tranh và cải cách phụng sự dưới triều đại của Giáo Hoàng Phê Rô XII, khủng hoảng linh mục lao công, chiến tranh Algérie, dưới bóng của Tổng Giám mục Léon Terrier, truớc khi điều khiển văn phòng của Giám mục Pháp.

Chuyên gia của Cộng Đồng Vatican II. Ngài được bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá cho địa phận Paris ngày 29/03/1969. Sau đó Ngài được nâng làm Tồng Giám mục của Giáo phận Marseille vàongày 22/ 12/1970.Ngoài ra Ngài còn được bổ nhiệm chủ giáo của truyền giáo Pháp vào ngày 25/11/1975. Từ 1975 tới năm 1981 Ngài là chủ tịch của HĐGM Pháp và HĐGM Âu-Châu.
Ngày 08/04/1984 Ngài được bổ nhiệm làm chủ tịch Thánh Bộ Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình và Thánh Bộ Giáo Hoàng Bác Ái. Một năm sau vào ngày 13/04/1985, Ngài từ nhiệm Tổng Giám mục Marseille để gia nhập chính phủ Vatican (Curie romaine). Giáo Hoàng Jean-Paul II nâng Giám mục Etchchegary lên chức Hồng Y linh mục (ở trong thành La Mã) của Thánh đường S. Leon I vào ngày 30/06/1979. Sau đó vào ngày 24/06/1998, ngài được nâng lên chức Hồng Y Giám mục (Giám mục ở xung quanh thành La Mã) của Giáo phận Porto-Santa Rufina.

Suốt hơn 20 năm, Hồng Y Etchegary là một trong các cộng tác viên của Giáo Hoàng Ba Lan. Ngài đuợc Giáo Hoàng Jean-Paul II gửi đi khắp thế giới cho các công tác bí mật nhất và tế nhị nhất. Vừa bí mật vừa công khai, Ngài tới Cuba hặp Fidel Castro, tới Rwanda, Jérusalem, Tàu và gặp Saddam Hussein.
Một điểm rất đặc biệt cần được nêu lên : Ngài và Hồng Y Ratzinger (Giáo Hoàng Benoît XVI hiện nay) suốt cả chiều dài của Triều Đại Giáo Hoàng Jean-Paul II là hai cố vấn thân cận và bạn tri kỷ của Giáo Hoàng Jean-Paul II. Như vậy nên hiểu Ngài là tâm giao hay đồng chí của Giáo Hoàng hiện tại !

Kề từ ngày 30/04/2005, Ngài là phó của Hội Đồng Hồng Y. Hiện nay Ngài là số 4 của chính phủ Vatican sau Giáo Hoàng Benoît XVI, Hồng Y Thủ Tướng Tarcisio Bertone, Hồng Y Sodano.
Nhân vật số 4 của chính phủ Vatican từ La Mã qua Việt Nam và mang gậy mục tử trả lại cho TGM Ngô Quang Kiệt

Với lá thư từ chức, phải nên hiểu rằng là TGM Ngô Quang Kiệt bày tỏ ý định xin trả lại Giáo Hoàng Benoît XVI cậy gậy mục tử tại vị mà Giáo Hoàng Jean-Paul II đã giao cho Ngài vào tháng 06/1999.

Nay số 4 của chính phủ Vatican là Hồng Roger Marie Élie Y Etchegary, phải đội nắng mưa tới Việt Nam và sau lễ vào chiều ngày 22/11/2009 đã dõng dạc tuyên bố : CHIẾC GẬY (gậy mục tử)NÀY LÀ CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC, TÔI KHÔNG MUỐN MANG VỀ.. ». Lệnh của số 4 phải hiểu là lệnh của Tòa Thánh Vatican và khi số 4 đã phán như vậy, thời xin vâng ! Cây gậy mục tử.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

VIẾT VỀ NGƯỜI ANH EM LINH MỤC

Lm NGUYỄN HỮU LỄ
Tin Linh mục Nguyễn Văn Lý bị tai biến mạch máu não, bị liệt nửa người và được đưa từ trại tù Nam Hà về bệnh viện ở Hà Nội điều trị đã làm nhiều người quan tâm và bày tỏ lòng thương mến. Trong nước, số đông thân nhân và giáo dân tới bệnh viện thăm. Ờ hải ngoại tin cha Lý bị “stroke” được truyền đi nhanh chóng trên các cơ quan truyền thông Việt ngữ với lời cầu nguyện cho Cha được bình phục, tai qua nạn khỏi. Một vài tờ báo ngoại quốc cũng đăng tin này và nhân dịp này có sáu Dân biểu Mỹ, trong đó có Dân biểu gốc Việt, Cao Quang Ánh, lên tiếng kêu gọi cộng sản Việt Nam trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Một lần nữa, tên tuổi Linh mục Nguyễn Văn Lý lại trở thành đề tài thời sự, sau sự kiện “phiên tòa bịt miệng” ngày 30 tháng 3 năm 2007, và chắc chắn là đề tài này sẽ còn được nhiều người nhắc tới. Cụ thể là có thông báo trên các diễn đàn điện tử về cuộc Paltalk vào ngày Chúa Nhật 21 tháng 11 trên diễn đàn của Khối 8406 nói về Linh mục Nguyễn Văn Lý mà diễn giả là Linh mục Phan Văn Lợi ở Huế và nhà văn Trần PhongVũ ở Hoa Kỳ, cuộc hội luận này sẽ do Mục sư Huỳnh Quốc Bình điều khiển chương trình.

Về phần tôi, dĩ nhiên tôi rất đau xót và cảm thương khi biết tin cha Lý bị cơn bệnh hiểm nghèo, và tôi cầu nguyện cách riêng cho cha Lý được ơn chữa lành để vượt qua cơn bệnh. Tôi thương cha Lý vì là Ngài là một anh em linh mục của tôi. Tôi thương cha Lý vì Ngài là người bạn tù nhiều năm với tôi trong trại Thanh Cẩm và Nam Hà . Tôi thương cha Lý vì Ngài cùng chung lý tưởng với tôi trong việc tranh đấu cho Dân tộc và Tôn giáo. Ngoài ra tôi còn kính phục ý chí kiên cường bất khuất của Ngài trong vai trò của một linh mục đã hiên ngang đứng thẳng người, cất cao đầu để làm chứng nhân cho SỰ THẬTgiữa lòng một chế độ chủ trương gian dối, cổ võ cho sự lưu manh và lừa đảo.

Để làm trọn vai trò chứng nhân cho SỰ THẬT, cha Lý vui lòng chấp nhận cuộc sống lao tù dưới chế độ cộng sản. (Tôi viết thêm mấy dòng này cho những ai may mắn chưa bị rơi vào nhà cộng sản : xin đừng quá “đơn sơ” đem so sánh nhà tù Mỹ, Úc , Canada …với nhà tù cộng sản.) Dù vậy trong loại nhà tù mang tính chất trả thù và tiêu diệt của Việt cộng đó, tôi nghĩ là thân xác cha Lý không cảm thấy đau khổ bằng tinh thần, với tâm trạng cô đơn, bị hiểu lầm và bị bỏ rơi, ngay cả bởi những anh em linh mục và một số chức sắc cao cấp của Giáo Hội Việt Nam. Tôi rất đau lòng khi nghe một số người, kể cả giáo sĩ, để biện minh cho thái độ “khôn ngoan và biết sống hợp thời” của họ đã không tiếc lời chỉ trích và kết án cha Lý. Những lời kết án này, so với lời buộc tội của loại tòa án rừng rú, như kiểu phiên tòa “bịt miệng” của Việt cộng, còn nặng nề hơn gấp bội. Về điểm này, tôi cảm thấy thương và xót xa cho cha Lý nhiều hơn.

Là một người Việt Nam, tôi tạ ơn hồn thiêng sông núi đã sản sinh ra một người con Việt Nam Nguyễn Văn Lý, người đã quên cuộc đời mình, nêu tấm gương anh dũng thách thức bạo quyền để nói SỰ THẬT về số phận dân tộc Việt Nam đang phải chịu đựng dưới chế độ vô nhân và quỷ quyệt nhất trong lịch sử dân tộc. Là một linh mục, tôi cảm thấy hãnh diện vì trong giai đoạn lịch sử khi mà Giáo hội phải sống dưới chế độ vô thần cộng sản, một chế độ quyết tâm tiêu diệt các tôn giáo, dưới hình thức này hoặc quỷ kế khác, có được một Linh mục Nguyễn Văn Lý hiên ngang nói lên SỰ THẬT về tình trạng của Giáo hội Công giáo và các tôn giáo nói chung, một điều mà ai cũng biết nhưng vì quá “khôn ngoan” nên đành im tiếng.

Ngày nay, nếu nhìn vào Giáo Hội tại quê nhà, chắc hẳn những người công giáo sẽ vui mừng hớn hở trước cảnh tượng trăm hoa đua nở. Các buổi lễ, các cuộc rước kiệu, các dịp hành hương, các Đại Hội thật rầm rộ. Các cơ sở tôn giáo, các cơ quan từ thiện, các dòng tu đã được chỉnh trang. Nhờ vào công khó của các linh mục và sự yểm trợ tài chánh của đồng bào hải ngoại, các nhà thờ được sửa sang, một số nhà thờ mới được xây lên, có nơi thật nguy nga tráng lệ, và chắc là còn nhiều nhà thờ khác đang nằm trong bản vẽ. Trải qua 4 thể chế chính trị, từ thời Pháp thuộc, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà rồi Đệ Nhị Cộng Hoà và chế độ cộng sản ngày nay, tôi có thể khẳng định chưa bao giờ Giáo hội Công Giáo Việt Nam “được mùa” và nở rộ như dưới chế độ cộng sản vô thần như hiện nay. Xin nói cho rõ, tôi không bao giờ phản đối nhu cầu sửa sang và xây nhà thờ tại Việt Nam , nhưng hiện tượng này làm cho tôi phải suy nghĩ.

Sự suy nghĩ của tôi rất đơn giản, dựa trên những gì tôi hiểu biết khi nghiên cứu về lịch sử Giáo hội. Bài học trong lịch sử Giáo hội cho tôi biết một điều mà tôi cho là một chân lý:

Thời đại nào mà Giáo hội bị bắt bớ, bị ngược đãi, giáo sĩ và giaó dân bị cầm tù, bị chém giết: Đó là lúc Giáo hội mạnh nhất. Ngược lại thời đại nào mà Giáo hội dựa vào các các thế lực chính trị và được chánh quyền ban cho nhiều quyền lợi, nhiều bổng lộc, nhiều ưu tiên: Đó là lúc Giáo hội sa đọa nhất.

Trong chiều hướng đó, tôi ước mong rằng bên cạnh những ngôi nhà thờ bằng gạch đá, được xây dựng khá nhiều giữa lòng một dân tộc nghèo khổ đang sống dưới chế độ đầy dẫy sự bất công, và chế độ đó luôn tìm khai thác mâu thuẫn giữa các tôn giáo, Giáo hội Việt Nam cần phải có một ngôi ĐẠI THÁNH ĐƯỜNG xây bằng SỰ THẬT. Ngôi Đại Thánh Đường này rất cần thiết cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam để soi đường chỉ lối cho đàn chiên đang sống dưới nanh vuốt của loài lang sói, biết đi theo đúng con đường của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã nói : “ Ta là Đàng, là SỰ THẬT và là Sự Sống”.

Tôi rất vui mừng được biết ngôi Đại thánh Đường của SỰ THẬT đang được một số người ra công xây dựng tại Việt Nam và Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, trong bao nhiêu năm tù tội dưới chế độ vô thần cộng sản, đã âm thầm làm công việc của người thợ cái.



Lễ Chúa Kitô Vua 2009

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Thanksgiving - Lời Cám Ơn Chưa Nói Hết
Còn 2 ngày nữa là đến Lễ Tạ Ơn [Thanksgiving 26-11-2009]. Ngày Lễ Tạ Ơn đầu tiên được cử hành vào năm 1621 bởi nhóm di dân từ Anh Quốc tới Mỹ trên con tàu Mayflower, suốt hải trình đầy gian nan nguy hiểm như người Quốc gia Việt Nam bỏ nước ra đi tỵ nạn vì đại họa độc đảng độc tài sau ngày Quốc nạn 30-4-1975, khi Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Họ được thổ dân da đỏ cứu sống và giúp đỡ vượt qua thời gian đói khát, khốn khó ban đầu, khi họ đặt chân lên vùng đất mới, sau này là Tiểu bang Massachusetts của Hoa Kỳ. Ðể tỏ lòng tri ơn, xong mùa gặt hái, vào khoảng cuối tháng 11, họ tổ chức một buổi Lễ Tạ Ơn những người đã cứu sống và giúp đỡ họ. Ðến năm 1941, Quốc hội Mỹ biểu quyết thông qua, chính thức biến Lễ Tạ Ơn thành Quốc Lễ, được cử hành hằng năm, vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư trong tháng 11. Trong buỗi Lễ Tạ Ơn này gà tây được coi như thức ăn chính cho mọi người.

Vì thế, hàng năm trong số hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, có 78 triệu con được đưa lên bàn ăn vào ngày Lễ Tạ Ơn. Trước khi bị giết làm thức ăn, số gà tây này chỉ sống khoảng nửa năm trong những chuồng gà công nghiệp chật hẹp. Chúng bị cắt mỏ để không cắn lộn nhau do bị căng thẳng thần kinh vì sống trong một môi trường chật hẹp. Chúng được cho ăn một loại thực phẩm đặc biệt để những bộ phận mà con người thích ăn, như ức và đùi phải được phát triển mau và lớn, cung cấp nhiều thịt mềm, mang lại nhiều lợi nhuận cho chủ nhơn. Do đó ức và đùi được phát triển nặng hơn bình thường, khiến chân bị đè xuống nên chúng thường hay bị thương ở chân. Trước khi chết, chúng bị treo cổ vào dây chuyền nhúng vào hồ nước sôi, rồi bị nhổ lông, mổ xẻ, gói lại bằng bao plastic, đưa vào kho chứa nước đá làm cho đông lạnh, rồi được vận chuyển tới các siêu thị bán cho người tiêu dùng mang về nhồi vào bụng vài ba thứ khác cùng gia vị vừa miệng ăn trước khi bỏ vào lò nướng... và sau cũng là dọn lên bàn ăn.

Càng về sau Lễ Tạ Ơn trở thành lễ hội lại mang nét văn hóa sâu sắc để trở thành Mùa Sum Họp Của Gia Ðình, khiến mọi người dù đi làm ăn xa nhà, học hành hay công tác xa quê, xa xứ cũng cứ mỗi năm vào mùa Tạ Ơn là về sống bên nhau, cùng nhau ăn bữa cơm gia đình truyền thống với những sản vật cây trái gia súc đầu mùa... Từ đó, Lễ Tạ Ơn ở Mỹ ngày nay đã trở thành dịp đi lại bận rộn nhất trong năm, việc sinh hoạt bán buôn dần dà trở nên tấp nập sôi nổi so với các ngày tháng khác cùng năm.

Sống ở Mỹ, tham dự Lễ Tạ Ơn, người Việt tỵ nạn cảm thấy nó giống với ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt vì cả hai đều mang không khí ấm cúng gia đình. Có điều ngày Tết Nguyên Ðán của Việt Nam khác với ngày Thanksgiving là sau ngày Thứ Năm dành cho Lễ Tạ Ơn là ngày Thứ Sáu được gọi là Black Friday, là dịp để mọi ngừơi chuẩn bị mua quà Giáng Sinh vào cuối tháng tới [tháng 12].

Vì vậy, sau khi ăn xong món gà tây, vào chiều tối Thứ Năm Thanksgiving, có rất đông người đến trứơc các cửa tiệm buôn lớn để chờ được vào mua hàng giảm giá khủng khiếp được quảng cáo trước đó. Họ phải ngồi sắp hàng đợi ngoài các cửa tiệm nhiều tiếng đồng hồ để đựơc mua các món hàng giảm giá trong ngày Black Friday.

Ðây là đặc điểm khá xa lạ với người dân ở Việt Nam, vì thông thường ở Việt Nam hễ đến lễ là mọi thứ đều lên giá. Có người rủ nhau đi xếp hàng lúc 12 giờ đêm Thứ Năm đã thấy một hàng dài người đứng sẵn, cho dầu có nơi trờ lạnh dưới 35 độ F, phải mặc rất nhiều đồ ấm, năm rồi có ngừơi chết vì xô đẩy chen lấn nhau khi vào tiệm.

Sống ở Mỹ đã một phần tư thế kỷ rồi [đúng 25 năm], cuộc sống hội nhập vào xã hội mới của gia đình mình coi như đã hoàn tất, năm nào mình cũng mừng Lễ Tạ Ơn như bao nhiêu gia đình người Mỹ khác, nhưng bản sắc văn hóa dân tộc Việt vẫn còn nguyên vẹn, vì món gà tây trên bàn ăn ít được nhiều người chiếu cố hơn các món ăn truyền thống Việt như nem chua, phở, hủ tiếu, gỏi, bì cuốn, bánh cuốn, chả lụa, bánh bèo, bánh xèo, xôi vò, cơm nếp... và tráng miệng bằng chè, bánh da lợn...

Và 25 năm rồi mình tạ ơn người Mỹ, tạ ơn đất nước này đã cưu mang nuôi sống mình, cho mình có được tự do, nhưng mình cũng không làm sao quên được nỗi khổ của hơn 86 triệu dân trầm luân khốn khó nơi quê nhà, không làm sao không giận những kẻ cầm quyền đã chẳng những không biết cám ơn những người dân quê thiệt thà bị chúng gạt gẫm giúp chúng hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, mà còn trở mặt hãm hại họ, cướp nhà, cướp đất cho cán bộ làm giàu, cho gian thương làm giàu, cho bọn quý tộc đỏ, tư bản đỏ hoang dâm trụy lạc, cho bọn Thái thú dâng đất hiến biển cho Tàu cộng,... tạo nên cảnh dân oan khiếu kiện trùng trùng khắp nước.


Chưa hết, chúng còn tiếp tục gạ gẫm đám người nhẹ dạ tham lam, từ gian thương đến trí thức ngu ngơ, ca nhạc sĩ về già mau quên quốc nạn, về hùa với chúng trong cái được gọi là “Hội nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngòai” (NVNONN) lần thứ nhất được tổ chức ở Hà Nội trong 3 ngày 21, 22 và 23 tháng 11 (2009) vừa qua, với sự tham dự của khỏang 900 người Việt từ nước ngoài và lối 500 người trong nước được gọi là đại diện cho Ðảng, Chính phủ, các Bộ, Mặt trận Tổ quốc và địa phương... Tất cả cùng đến để nghe Ðảng và Nhà nước ồn ào ca ngợi việc làm mà ai cũng biết là mọi sự thật đều trái ngược, ca ngợi gian dối... để rồi sau đó các đại biểu được chia nhóm cùng nhau “trao đổi, đối thoại” với đại diện nhà cầm quyền, mà tất cả mọi “trao đổi, đối thoại” chỉ là dịp để 2 bên khen ngợi nhau, tâng bốc nhau, theo kiểu mặc áo thụng vái nhau như trên sân khấu, để sau cùng ăn nhậu, cụng ly, xem nhảy múa, nghe ca hát, trao tặng phẩm... làm quà ô nhục...

Có điều rất khôi hài là khi Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cao hứng nói: “Ở Việt Nam, không muốn tham nhũng vẫn phải động lòng tham vì quản lý kém quá. Cho nên, trong tiêu cực, tham nhũng có phần do quản lý yếu kém chứ không phải do người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới. Quý vị ở nước ngoài khi nghe thông tin này, cũng đừng hốt hoảng cho rằng sao tham nhũng ở Việt Nam nhiều thế. Ðây là quy luật muôn đời, con người luôn có hỉ nộ ái ố, cho nên phải luôn luôn vượt qua, mà quan trọng hơn phải vượt qua chính mình. Cái đó cực kỳ quyết định”; coi như một cách nhìn nhận tội lỗi, bao che tội lỗi và tiếp tục phạm tội để tiếp tục làm giàu bằng tham nhũng nhứt thế giới, bất kể cuộc sống người dân bị chúng cai trị càng lúc càng lầm than cơ cực, đói nghèo khốn khó...

Nghe vậy, không biết đám “Việt Kiều” có dám hỏi Triết “Ai phải vượt qua chính mình? và bản thân Thái thú Nguyễn Minh Triết... có dám vượt qua không?”; và “Việt Kiều” có dám tự hỏi “Mình đã chịu nghe Chủ tịch Triết làm chuyện vượt qua chính mình chưa?” Hỏi đó cũng là cách trả lời sặc mùi “thum thủm” bàng bạc trong bức biếm họa của Babui đăng trên DCVOnline ngày 23-11-2009 [hình được trích đăng lại bên trên].

Nhìn về bức biếm họa đó, cùng ngày 23-11-2009 Nga My đã có bài thơ sặc mùi “bưng bợ” của những kẻ hiểu nghĩa “đoàn kết” là “xúm lại chia tiền” bất kể đó là đồng tiền đỏ, tiền đen, tiền dơ, tiền tham nhũng như lời Nguyễn Minh Triết thú nhận, tiền đẫm tội ác của những kẻ đầu cơ địa ốc trên những mảnh đất đầm đìa nước mắt của dân oan khiếu kiện trùng trùng khắp nước:

THUM THỦM mang mùi thối BẤT LƯƠNG!
Trở về như lũ KÝ SINH TRÙNG
Gây thêm tai hoạ cho đất nước
Bác Ðảng ngửi mùi biết hết trơn!

Mã đi tầm mã , ngưu tầm ngưu
Người giỏi người tài chẳng dễ đâu
Có ai ngu dại tin ÐẢNG CƯỚP?
Chỉ lũ bất lương mới cúi đầu.

Và cũng cùng ngày 23-11-2009 Ho Hui đã nhắc lại thực tế phũ phàng của “khúc ruột... thúi xa ngàn dặm” đang về hùa với đám Thái thú yêu nước “Hán(g)” này:

Khi đi thì bị đảng gọi là Ðĩ Ðiếm.
Lỡ chết thì bị đảng đập phá mộ bia.
May mắn được sống thì đảng cho làm khúc ruột ngàn dặm.
Nếu chịu về liếm háng đảng thì đảng phong cho làm Việt Kiều Yêu Nước.... Hán(g) .
Ðúng là một lũ óc bốc mùi ... thum thủm .

Xin cám ơn Babui, cám ơn Nga My, cám ơn Ho Hui, và không quên cám ơn tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới [RSF] trước đó, ngày 20-11-2009, trước khi đám “Việt Kiều” được gọi là “lũ óc bốc mùi ... thum thủm” làm chuyện “xúm lại làm gia nô chia tiền”, đã thẳng thắn lên án: “Chính quyền Hà Nội ‘có hành động tội ác’ đối với linh mục Nguyễn Văn Lý và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, do vậy ‘không xứng đáng đại diện một nước thành viên Hội Ðồng Bảo An’. Cha Lý bị ‘đột quỵ trong nhà giam’, còn sức khỏe của nhà báo độc lập Trần Khải Thanh Thủy suy thoái trầm trọng trong nhà giam Hỏa Lò Hà Nội”. Cám ơn Tổ chức RSF cũng nhắc đến trường hợp khó khăn của các tù nhân bất đồng chính kiến khác như nhà giáo Vũ Văn Hùng và luật sư Lê Thị Công Nhân. Nhà giáo Vũ Văn Hùng tuyệt thực trong nhiều tuần lễ để phản đối bản án. Luật sư Lê Thị Công Nhân hiện bị giam chung với 60 tù nhân trong một phòng giam 50 thước vuông. Cám ơn RSF kêu gọi Liên Hiệp Châu Âu với chính sách “đối thoại nhân quyền” với Việt nam, phải có phản ứng.

Cũng xin cám ơn, Tổ chức Văn Bút Quốc Tế, Pen Club International, trong bức thư đề ngày 18 tháng 11 cũng lên tiếng kêu gọi Hà Nội “trả tự do tức khắc” cho linh mục Nguyễn văn Lý và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, thành viên của Văn Bút; và cám ơn 6 dân biểu Hoa Kỳ, trong đó có dân biểu Cao Quang Ánh, Loretta Sanchez, đã nêu lên trong một bức thư đề ngày 19 tháng 11 gởi Thái thú Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi trả tự do cho cha Lý.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Ấn Ðộ: Ðồng minh bị bỏ quên

Ngô Nhân Dụng
Thủ Tướng Manmohan Singh có nhiều lý do để nghi ngại trước khi đặt chân đến Washington gặp Tổng Thống Barack Obama. Chín tháng kể từ khi nhậm chức, ông Obama hầu như bỏ quên Ấn Ðộ, sau khi chính phủ Gorges W. Bush đã mở ra một giai đoạn ngoại giao mới đầy hứa hẹn.

Ðiều người Ấn Ðộ hận nhất là trong chuyến công du vừa qua sang Á Châu, ông Obama vẫn tiếp tục “quên” Ấn Ðộ. Tại Tokyo, ông tổng thống Mỹ nói đến vai trò quan trọng tương lai của Á Châu, nhưng trong cả bài diễn văn ông không nói đến chữ “India” một lần nào. Khi ông nhắc đến chữ này trong bản thông cáo chung với ông Hồ Cẩm Ðào thì lại chỉ làm cho Ấn Ðộ giận thêm. Vì ông chỉ nói đến tên nước Ấn Ðộ khi khuyến khích Trung Quốc hãy đóng vai tích cực hơn ở Á Châu, trong đó có việc trung gian hòa giải giữa Ấn Ðộ và Pakistan! Nói vậy khiến người Ấn Ðộ bực mình hai lần: Thứ nhất, vẫn ghép Ấn Ðộ vào cùng hàng với Pakistan; và thứ hai, ông Obama coi Trung Quốc là một cường quốc thế giới, còn Ấn Ðộ vẫn chỉ là một “vấn đề địa phương.”

Có lẽ để bù lại những sơ xuất ngoại giao đó, Tổng Thống Obama đã đề cao Thủ Tướng Singh bằng một buổi “quốc yến” (state dinner), một hình thức tiếp đón long trọng nhất mà ông chưa khoản đãi một quốc khách nào từ khi nhậm chức. Và ông Obama đã tuyên bố những lời có thể làm ấm lòng vị quý khách cũng như người Ấn Ðộ ở nước họ. Tổng thống Mỹ nói rằng “Hai quốc gia chúng ta là những đồng minh tự nhiên” (natuaral allies), một cách nhắc nhở rằng Ấn Ðộ và Mỹ là hai nước đông dân nhất thế giới cùng theo thể chế tự do dân chủ- trong khi dân Trung Quốc vẫn sống trong một chế độ độc tài đảng trị. Ông cũng đề cao mối liên hệ giữa hai nước như là “mối bang giao quyết định của thế kỷ 21” để cân bằng với những lời hoa mỹ đã dành cho Trung Quốc trong tuần trước!

Năm 2005, Ấn Ðộ và Mỹ cùng bước sang một giai đoạn bang giao mới khi Thủ Tướng Singh sang Mỹ, cùng Tổng Thống Bush tuyên bố hai nước sẽ bắt đầu hợp tác về kỹ thuật nguyên tử, chấm dứt lệnh cấm đã có từ năm 1998 khi Ấn Ðộ thử bom nguyên tử lần sau cùng. Sau đó bản hiệp ước hợp tác đã được ký kết nhưng trong hai năm nay vẫn chưa tiến được thêm tới những bước cụ thể. Ông Sing đã nhắc nhở, khi vừa bước chân đến Mỹ, là trong chuyến thăm viếng năm nay hai nước phải đạt được những thỏa thuận về chi tiết, trong đó phải vượt qua những giới hạn về trao đổi hiểu biết kỹ thuật nguyên tử mà phía Mỹ còn ngần ngại. Nhưng ông Singh hiểu hệ thống vận hành của một chế độ dân chủ cho nên đã trực tiếp nói với giới doanh nghiệp Mỹ về những cơ hội khi họ được phép đem kỹ thuật nguyên tử sang phát triển ở Ấn Ðộ. Nên biết, những nhà máy điện nguyên tử loại mới nhất của công ty General Electrics đã được thiết trí ở Ấn Ðộ vào năm ngoái, dù chưa đem dùng ở Mỹ. Ông Singh cũng lên tiếng mời các công ty Mỹ qua Ấn Ðộ tham dự vào các hoạt động, từ năng lượng, đến hạ tầng cơ sở và giao thông vận tải. Ông biết khích lệ các doanh nghiệp Mỹ tạo thêm áp lực trên chính phủ của họ, vì quyền lợi Ấn Ðộ! Mọi người chờ đợi hai chính phủ sẽ ký một bản thỏa thuận về vấn đề an toàn đối với kỹ thuật nguyên tử, một trở ngại khiến việc cộng tác còn giậm chân tại chỗ.

Ông Obama nhân dịp này cũng nhấn mạnh đến mối quan tâm chung của hai chính phủ về việc chống khủng bố toàn cầu, đặc biệt là tại Afghanistan, một nước láng giềng mà Ấn Ðộ đứng hàng thứ tư trong các quốc gia viện trợ. Ông cũng đề cao mối giao thương giữa hai nước, nhắc lại rằng Mỹ đứng đầu trong số các nước bạn hàng trao đổi thương mại với Ấn Ðộ, gia tăng liên lạc sẽ giúp cả hai nước tăng thêm số công việc làm và cùng sớm thoát ra khỏi cơn khủng hoảng kinh tế. Nhưng muốn người Ấn Ðộ tin tưởng và đạt được những thành quả cụ thể, ông Obama cần nói những lời nếu chưa phải là làm những hành động thân thiện hơn.

Ðể kêu gọi các doanh nhân Mỹ, Thủ Tướng Singh đã nhấn mạnh tới tài nguyên lớn nhất của Ấn Ðộ là “nhân lực hùng hậu.” Mỗi năm Ấn Ðộ sản xuất khoảng 350 ngàn kỹ sư (so với 70,000 ở Mỹ) mà các nhà nghiên cứu coi là 25% đủ tiêu chuẩn làm việc như các kỹ sư Mỹ (trong khi chỉ có 10% các kỹ sư tốt nghiệp ở Trung Quốc đạt được tiêu chuẩn này). Ông nói thêm rằng dân số Ấn Ðộ là một ưu điểm, vì đây là một nước với số người trẻ rất đông “trong khi ở các nước khác người già càng ngày càng nhiều hơn.” Ðây cũng là một cách so sánh Ấn Ðộ và Trung Hoa! Hiện nay hơn 50% trong số một tỷ mốt người Ấn Ðộ thuộc lớp tuổi từ 20 trở xuống. Một hấp dẫn khác của thị trường Ấn Ðộ với các công ty Mỹ là chính sách cởi mở trong nhiều lãnh vực, như ông Singh nêu ra, chính phủ Ấn đã chấp nhận các công ty công nghiệp quốc phòng được phép có 26% vốn ngoại quốc đầu tư. Một hành động cởi mở khác của Ấn Ðộ đối với Mỹ là việc thành lập một ủy ban giáo dục Mỹ-Ấn Ðộ, chú trọng đến bậc đại học. Hiện nay nước có nhiều du học sinh nhất ở Mỹ là Ấn Ðộ, với 105,000 sinh viên.

Người Mỹ cũng biết những ưu điểm của Ấn Ðộ là thành phần dân chúng trẻ, nhân lực khả dụng có trình độ kỹ thuật cao, nhưng quan trọng nhất là nước này theo chế độ tự do dân chủ, với hệ thống tư pháp có truyền thống tiến bộ làm nền tảng cho kinh tế thị trường. Ấn Ðộ có thể là một mô hình làm kiểu mẫu cho các quốc gia đang còn nghèo trên thế giới. Khi so sánh Ấn Ðộ với Trung Quốc người ta có thể nghĩ rằng Ấn Ðộ bị chậm chân vì sống dưới chế độ dân chủ, trong khi Trung Hoa theo đường lối độc tài nên đi nhanh hơn. Ðây là một lối nhìn thiển cận. Giáo Sư Hoàng Á Sinh (Yasheng Huang???) thuộc trường Quản trị Sloan Ðại học MIT đã so sánh sự phát triển kinh tế của hai nước Ấn Ðộ và Trung Hoa và thấy rằng tương lai Ấn Ðộ có những ưu điểm hơn Trung Quốc mặc dù trong hiện tại thì Ấn Ðộ còn đi sau về trình độ cũng như tốc độ phát triển (Ðây là một đề tài sẽ được mục này đề cập trong những ngày sắp tới).

Ðiều đáng ghi nhận là hai nước Mỹ và Ấn Ðộ đều theo chế độ dân chủ với những bản hiến pháp vững bền và ổn định nhất. Với những giá trị cùng chia sẻ như tôn trọng nhân quyền, tư pháp độc lập, giới công chức đứng ngoài chính trị, báo chí tự do, tôn giáo tự do, vân vân, hai nước có nhiều cơ hội hợp tác chặt chẽ hơn trong tương lai.

Ấn Ðộ chỉ thực sự theo kinh tế thị trường từ sau năm 1990, mà Thủ Tướng Sandar Monmohan Singh là một người khởi xướng khi ông làm bộ trưởng tài chánh. Từ đó liên lạc kinh tế giữa hai nước đã tiến rất nhanh. Giao thương giữa hai nước chỉ đạt tới con số 60 tỷ Mỹ kim một năm, nhưng so với năm 1990 thì đã tăng lên gấp 7 lần. Hai lãnh vực mà các công ty Mỹ sẽ gia tăng đầu tư vào Ấn Ðộ là xây dựng hạ tầng cơ sở và nền kinh tế tri thức, từ tin học, năng lượng sạch đến dược phẩm dùng sinh học, vì Ấn Ðộ có một đội ngũ công nhân trí óc rất tốt.

Bang giao giữa Mỹ và Ấn Ðộ cũng đang tiến nhanh trong lãnh vực hợp tác quân sự. Hai nước đã tổ chức một cuộc thao diễn huấn luyện chung trong hai tuần, vào cuối Tháng Mười 2009 vừa qua, với sự phối hợp của xe thiết giáp, xe chiến đấu và trực thăng. Ðây là một cuộc thao diễn lớn nhất của Ấn Ðộ với quân đội một nước khác, và đây là lần thứ năm của cuộc tập trận hàng năm của quân đội hai quốc gia. Ngoài ra, quân đội Ấn Ðộ đã gửi người sang huấn luyện tại Alaska, Hawaii và quân đội Mỹ đã sang Ấn Ðộ để được huấn luyện về chiến tranh rừng rú, chống nổi loạn và chống khủng bố. Hải quân Ấn Ðộ và Mỹ cũng dự những cuộc thao diễn chung hàng năm trong bốn năm qua. Một cuộc thao diễn chung khác mang tên Malabar được tổ chức mỗi năm với sự tham dự của các hàng không mẫu hạm và tầu đổ bộ của thủy quân lục chiến; vào Tháng Tư năm nay Nhật Bản đã được mời tham dự.

Trên mặt kinh tế, các nước Á Châu cũng gia tăng cộng tác với Ấn Ðộ vì mối lo ngại chung đối với Trung Hoa. Hầu hết tiền đầu tư vào Ấn Ðộ đến từ Á Ðông. Số đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Ấn Ðộ đã vượt lên cao hơn số đầu tư vào Trung Quốc và sẽ tiếp tục trong thập niên sắp tới, theo phân tích của Ngân Hàng Hợp Tác Phát Triển Quốc Tế Nhật Bản. Hơn 30% số viện trợ của Nhật Bản được đưa qua Ấn Ðộ. Các công ty điện tử và tin học Nam Hàn cũng vào Ấn Ðộ để cạnh tranh với các công ty Mỹ. Công ty LG quảng cáo bằng 12 thứ tiếng trong thị trường Ấn Ðộ.

Cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Manmohan Singh sẽ “đánh thức” chính phủ Obama về mặt ngoại giao. Thay vì bị ám ảnh về vai trò Trung Quốc ở Á Châu và trên thế giới, chính phủ Mỹ cần phải hợp tác với nước “đồng minh tự nhiên” của mình hơn nữa. Trong 9 tháng qua ông Obama đã bỏ phí những cơ hội mà chính phủ Bush đã mở ra trong cuộc bang giao với Ấn Ðộ. Bây giờ là lúc phải bước nhanh hơn để bù lại. Ngày mai sẽ là kỷ niệm một năm ngày thành phố Mumbai bị khủng bố tấn công. Ông Obama sẽ không mất gì hết nếu nhân dịp này kêu gọi chính phủ Pakistan sớm đưa những tay tình nghi chủ mưu vụ đó ra xét xử, hoặc dẫn độ họ như chính phủ Ấn Ðộ vẫn yêu cầu. Mạnh bạo hơn, ông Obama có thể lên tiếng về việc cải tổ Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Hiện nay chỉ có 5 quốc gia thành viên thường trực của hội đồng này, trong đó có Trung Quốc. Các nước khác như Ấn Ðộ, Nhật Bản, Ðức và Brazil đã vận động để được tham dự vào câu lạc bộ đó. Các quốc gia đó xứng đáng được đứng ngang hàng với Pháp, Anh, Ðức, Mỹ và Trung Quốc. Chỉ nói một câu, dân chúng tất cả các nước trên sẽ hoan nghênh nước Mỹ. Họ thấy khẩu hiệu “Thay đổi” không chỉ là lời nói suông mà còn được áp dụng trên trường bang giao quốc tế.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mô hình tư bản kiểu Trung Quốc?

Ngô Nhân Dụng
Trước khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama sang Trung Quốc, tuần báo Economist đã viết một bài dài về mối quan hệ giữa hai nước. Họ nêu một nhận xét rằng, “triết lý kinh tế của hai nước đang rất giống nhau, và dẫn lời một học giả nổi tiếng về bang giao quốc tế. Giáo Sư Diêm Học Thông (Yan Xuetong) nói rằng, “chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Quốc (như nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn mô tả chế độ cộng sản của họ) càng ngày càng trông giống như chủ nghĩa tư bản với đặc tính Mỹ!”

Diêm Học Thông tốt nghiệp Ðại Học Hắc Long Giang năm 1982, mười năm sau được trao bằng Ph.D. tại Ðại Học Berkeley, California, vào lúc 40 tuổi, hiện ông là giám đốc Viện Nghiên Cứu Quốc Tế tại Ðại Học Thanh Hoa, Bắc Kinh và rất được học giới Trung Quốc kính trọng sau 5 cuốn sách ông đã xuất bản về vai trò của Trung Quốc trong thế giới hiện tại.

Nhưng nói như ông Diêm Học Thông thì cũng oan cho nước Mỹ. Nếu kinh tế Trung Hoa hiện nay có giống chế độ tư bản ở Mỹ thì nó chỉ giống với nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà thôi. Chế độ kinh tế đó người ta gọi là “tư bản quả đầu,” tức là một nhóm ít (quả nghĩa là ít) các công ty nắm đầu các sinh hoạt kinh doanh quan trọng. Nhưng, dù so sánh như vậy, vẫn còn một điều khác biệt quan trọng. Chúng ta nên nhớ là kinh tế Mỹ trước sau vẫn nằm trong tay tư nhân, còn ở Trung Quốc hiện nay chính quyền cộng sản vẫn chủ trương dồn tiền bạc, của cải trong nước cho các xí nghiệp quốc doanh sử dụng.

Một người phân tích kỹ lưỡng và đầy đủ hơn về kinh tế Trung Quốc là Giáo Sư Hoàng Á Sinh (Yasheng Huang) thuộc Ðại Học MIT. Trong chương đầu cuốn “Chủ nghĩa tư bản với đặc tính Trung Hoa,” (Capitalism with Chinese Characteristics) mới xuất bản năm ngoái, Giáo Sư Hoàng đã đặt câu hỏi, “Trung Quốc theo tư bản đến mức nào?” (Just how Capitalist is China?) Ngay phần mở đầu chương này, ông đã phá vỡ nhiều hiểu lầm và huyền thoại về hiện tượng các doanh nghiệp Trung Quốc được tiếng là thành công nhất hiện nay. Khi biết rõ, người ta sẽ thấy các nước nghèo khác không thể nào theo “mô hình” Trung Quốc được.

Năm 2002 chẳng hạn, tạp chí Forbes ở Mỹ lập bảng danh sách những công ty quốc tế cỡ nhỏ và trung thành công nhất, trong đó có 4 công ty Trung Hoa. Nhưng ông Hoàng Á Sinh cho biết, cả 4 công ty đó đều đặt trụ sở ở Hồng Kông, mặc dù hầu hết các hoạt động và lợi nhuận của họ đều ở trong lục địa.

Năm 2005, Giáo Sư Donald Sull xuất bản cuốn “Made in China,” với tiểu tựa là “Các nhà quản trị Tây phương có thể học hỏi gì nơi các nhà quản trị Trung Quốc?” Nhưng ông Hoàng Á Sinh, là người sinh trưởng ở Trung Quốc và tốt nghiệp đại học trước khi du học ở Mỹ, đã vạch ra một điều ngộ nhận lớn. Trong số 7 công ty Trung Quốc mà ông Sul nêu tên, Sina, UTStarcom, AsiaInfo, Haier, Galanz, Wahaha, and Ting Hsin, tất cả các công ty này hoặc các chi nhánh quan trọng nhất của họ đều được “đăng ký” như là “công ty ngoại quốc” và do người ngoại quốc làm chủ một phần lớn hay 100%! Haier tuy ghi danh trong nước nhưng các chi nhánh chính, sản xuất máy giặt, máy rửa chén và tủ lạnh đều được đăng ký là “công ty ngoại quốc.” Chính vì được đóng vai công ty ngoại quốc, cho nên họ được đối đãi theo quy chế rộng rãi hơn các công ty tư nhân bản xứ!

Trường hợp được Giáo Sư Hoàng Á Sinh kể cặn kẽ nhất là câu chuyện công ty Lenovo. Chúng ta đều nhớ năm 2004 cái tên Lenovo đã nổi tiếng ở nước Mỹ vì công ty tin học này đã đứng ra mua tất cả phân bộ sản xuất máy vi tính để bàn (PC) của đại công ty IBM. Nhiều người coi đây là cuộc tấn công đầu tiên của doanh nghiệp Trung Hoa vào thành trì của giới kinh doanh Mỹ. Có người ca ngợi Lenovo như là một xí nghiệp sinh trưởng ở Trung Quốc có thể so sánh với các xí nghiệp lớn nhất Ấn Ðộ như Wipro hay Infosys. Nó chứng tỏ thị trường Trung Quốc có khả năng tạo ra những xí nghiệp năng động với khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

Nhưng Lenovo có phải là một công ty do Trung Quốc sinh ra hay không? Hoàng Á Sinh trả lời rõ ràng: Không. Chỉ một người Trung Hoa mới cất công tìm ra những uẩn khúc trong việc ra đời và trưởng thành của công ty này.

Năm 1984, ông Liễu Truyền Chí (Liu Chuanzhi) rủ 10 đồng nghiệp khác trong Viện Khoa Học Trung Quốc (CAS) lập ra một công ty để kinh doanh, lúc đầu lấy tên là Legend. Mười một người góp được 200,000 đồng nguyên (cỡ 30,000 đô la Mỹ) nhưng không dám góp vốn mà chỉ cho công ty vay! Số tiền đó họ cũng đi vay cả. Công ty này được khai sinh ở Hồng Kông, vì thân phụ ông Liễu làm giám đốc một văn phòng của chính phủ Bắc Kinh ở đó, đã quen đường đi nước bước và thân thuộc với các tai to mặt lớn trong chính quyền cũng như giới kinh doanh. Năm 1988, Hồng Kông chưa được trả về Trung Quốc, Lenovo đã nhận được 900,000 Mỹ kim của một công ty Hồng Kông để hợp tác và phát triển. Công ty mới này mở ra các công ty con trong lục địa, để làm công việc nghiên cứu hoặc sản xuất. Giáo Sư Hoàng nhận xét: Các công ty con Lenovo (Beijing) and Lenovo (Shanghai) hoàn toàn được ghi danh như là do ngoại quốc làm chủ 100%, chúng còn mang “tính chất ngoại quốc” hơn cả công ty General Motors ở Thượng Hải, vì GM chỉ góp 50% số vốn với một công ty Trung Quốc 50%.

Giáo Sư Hoàng đặt câu hỏi: Việc ghi danh Lenovo như một công ty ngoại quốc thì có gì quan trọng, nhất là khi Hồng Kông nay cũng thuộc chủ quyền chính phủ Bắc Kinh?

Trả lời câu hỏi này giúp chúng ta hiểu tương quan nhân quả giữa khung cảnh kinh tế, chính trị với sự phát triển kinh doanh. Vì Hồng Kông là một nền kinh tế tự do nhất thế giới, tự do hơn cả kinh tế Mỹ. Lenovo ra đời và lớn lên khi Hồng Kông vẫn thuộc Anh. Ðến nay cựu thuộc địa này vẫn được giữ quy chế riêng sống khác lối Trung Quốc, cho nên họ vẫn bảo vệ được một hệ thống thị trường tài chánh độc lập, pháp luật nghiêm minh và tôn trọng quyền tư hữu. Nếu sinh trưởng ở trong lục địa, Lenovo không được phép bán và sản xuất máy vi tính, vì công việc này phải xin giấy phép, mà giấy phép thường dành cho các xí nghiệp quốc doanh cùng với các công ty ngoại quốc. Cho đến năm 2005, sau khi Lenovo đã mua phân bộ PC của IBM, chính quyền cộng sản Bắc Kinh mới chính thức cho phép các công ty trong nước được tham dự vào các ngành kỹ thuật cao! Các doanh nghiệp nhà nuớc thì dù được cấp giấy phép cũng không có khả năng phát triển như Lenovo!

Làm cách nào một công ty nhỏ như Lenovo có tiền để phát triển? Tiền vốn của Lenovo được thị trường tài chánh Hồng Kông cung cấp. Trước khi Hồng Kông trở về với nước mẹ, lần phát hành cổ phiếu đầu tiên của công ty tại Hồng Kông thu được 12 triệu Mỹ kim, được chuyển vào đầu tư trong nước Tầu. Nếu sinh trưởng ở trong lục địa thì không có số tiền lớn lao đó, so với số nợ 200 ngàn nhân dân tệ. Ðiều ngộ nghĩnh trong câu chuyện này là hiện tượng “vốn đi rồi vốn lại về.” Người Trung Hoa có tiền ở trong nước được phép chuyển sang Hồng Kông, dùng tiền đó góp vốn cho các công ty địa phương, rồi các công ty này lại chuyển tiền vào Trung Quốc đầu tư! Chỉ vì những cơ cấu chính trị, luật pháp và thị trường vốn ở Trung Quốc không có khả năng “phân bố tài nguyên” của chính nước này, nên phải nhờ cơ cấu “tư bản cực hữu” ở Hồng Kông làm công việc đó! Các nhà kinh doanh trong nước đã tìm ra được một kẽ hở trong hệ thống và tận dụng kiếm lời! Hai yếu tố giúp Lenovo thành công là di sản của chính quyền thuộc địa Anh tại Hồng Kông và cơ hội làm ăn mới mở ra tại Trung Quốc.

Một kết luận của Hoàng Á Sinh là “các nước nghèo khác không thể mô phỏng cách làm kinh tế của Trung Quốc,” vì họ không có một Hồng Kông làm cửa sau để chạy ra chạy vào. Nếu chỉ mô phỏng các định chế, luật lệ, thị trường tài chánh của Trung Quốc, các nước khác sẽ gặp bế tắc, giống như Trung Quốc mà không có Hồng Kông vậy! Chắc chắn đây là một bài học mà mọi người Việt Nam phải chú ý. Những nước khác không thể đẻ ra được một Hồng Kông nằm bên cạnh mà sử dụng; cho nên nếu bắt chước “mô hình phát triển” của Trung Quốc thì chỉ hưởng những hậu quả xấu của nó mà mang họa

Ông HoàngÁ Sinh là người Trung Hoa cho nên ông thẳng thắn đặt một câu hỏi khác cho nước ông. Câu hỏi là: Biết sự thật về công ty Lenovo rồi, nhưng biết để làm gì? Ðằng nào Trung Quốc cũng hưởng lợi khi kinh tế phát đạt nhờ có những công ty như Lenovo; vậy thì đâu cần biết nó được sinh ra và nuôi dưỡng ở Hồng Kông hay ở đâu?

Câu trả lời là: Cần phải nhìn rõ trường hộp Lenovo để khỏi ngộ nhận là hệ thống kinh tế tài chánh ở Trung Quốc có khả năng giúp nước này phát triển. Vì những người thành lập Lenovo may mắn. Thân phụ ông Liễu Truyền Trí có đường dây liên hệ lớn ở Hồng Kông. Còn hàng ngàn doanh nhân Trung Hoa khác không được may mắn như vậy thì sao? Khi nào nước Tầu còn chưa thiết lập được khung cảnh chính trị, pháp luật, và thị trường tài chánh theo đúng các quy tắc kinh tế tư bản thì còn hàng vạn trường hợp thất bại so với mỗi trường hợp thành công của Lenovo! Khi nào Bắc Kinh chưa cải tổ toàn diện thì hàng triệu doanh nhân có khả năng không kém gì ông Liễu Truyền Trí vẫn không có cơ hội vươn lên. Còn các doanh nghiệp nhà nuớc thì dù được nâng đỡ đủ điều vẫn không tiến lên được. Cuối cùng, phải thay đổi chính trị thì mới tiến bộ được.

Post Reply