Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image

Lý Do Khiến Đàn Ông Thích "PHỞ

Nếu xét về "thành phần cấu tạo" thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ.....gạo tẻ. Phở có thịt có hành thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn...hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và...no lâu hơn.

Dân gian gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì hai "món" nầy đều có giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào. Nhưng rõ ràng phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm. Ưu thế của phở so với cơm là quá rỏ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc "phở " xấu hoặc già hơn "cơm".

Một số lý do hài hước sau góp phần lý giải việc đàn ông thích phở nhưng vẫn không bỏ được cơm.
Đàn ông thèm "phở " vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt thì phải có tiền, có xe trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.
Đàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà, trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc.
No thì rất khó ăn thêm cơm. Còn phở no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô.
Ăn phở xong có thể đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa chén bát.
"Phở " không quán nào giống quán nào, thậm chí không tô nào giống tô nào. Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.
"Phở " có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với...bà nấu cơm.
Lúc ăn phở, có thể dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng. Còn cơm, có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi".
Phở tuy cùng một chổ nhưng có thể ăn tái, chín, nạm, gân...tùy thực khách quyết định. Cơm thì do bà nấu quyết định.
Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, khách có thể ăn...nợ. Còn nếu không đưa tiền lương, "cơm" sẽ dừng ngay.
Bỏ tiệm "phở " nầy, có thể dễ dàng tìm tiệm khác. Còn bỏ "cơm" thì coi như “ bỏ mạng “

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

ĐẠI NẠN TRUNG HOA THỜI NHÀ MINH - Trần Gia Phụng

Ngày 08-12-2009, giờ 00:25 Bên Trung Hoa, năm 1368 (mậu thân), Chu Nguyên Chương (Zhu Yuan Zhang) lật đổ nhà Nguyên, lên ngôi hoàng đế tức Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398), lập ra nhà Minh (1368-1644). Đối với người Trung Hoa, nhà Nguyên là ngoại tộc, vì thuộc giống Mông Cổ; còn nhà Minh mới là chính tông người Hán. Minh Thái Tổ (Ming Tai Zu) từ trần năm 1398 (mậu dần), truyền ngôi lại cho cháu đích tôn là Minh Huệ Đế (trị vì 1399-1403), vì cha của Huệ Đế là hoàng thái tử Tiêu đã qua đời.

Minh Huệ Đế (Ming Hui Di) chủ trương tập trung quyền hành về trung ương, mưu trừ và giết hại các phiên vương. Phiên vương nước Yên tên là Lệ, ở phía bắc Trung Hoa, con trai thứ của Minh Thái Tổ và là chú của Minh Huệ Đế, tức giận nổi lên chống Huệ Đế. Yên Vương Lệ là một người có tài cầm quân, đánh thẳng vào kinh đô Kim Lăng (Jin Ling) (Nam Kinh ngày nay), lật đổ Huệ Đế, rồi tự mình lên làm vua tức Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424).

Minh Thành Tổ (Ming Cheng Zu) là một người rất tham vọng, mạnh mẽ chủ trương bành trướng thế lực ra nước ngoài. Ông thành lập một hạm đội hùng hậu do Trịnh Hòa (Zheng He) điều khiển. Trịnh Hòa (1371-1433) đã dẫn hạm đội xuống Bắc Úc, qua bán đảo Ả Rập, đến Đông Phi Châu, và có tài liệu cho rằng Trịnh Hòa qua tận Mỹ châu.

Chính Minh Thành Tổ đã cử hai tướng Trương Phụ (Zhang Fu) và Mộc Thạnh cầm quân sang đánh Đại Việt năm 1406. Quân Minh bắt được gia đình Hồ Quý Ly năm 1407. Con cháu nhà Trần là Giản Định Đế (trị vì 1407-1409) và Trùng Quang Đế (trị vì 1409-1413) nổi lên tiếp tục chống quân Minh, cũng lần lượt bị quân Minh dẹp yên. Nhà Minh đô hộ Đại Việt và cách thức thực hiện cuộc đô hộ của nhà Minh rất thâm độc, có thể sơ lược như sau.

I.- SÁP NHẬP ĐẠI VIỆT VÀO TRUNG HOA

1. NHÀ MINH ĐỔI ĐẠI VIỆT THÀNH QUẬN GIAO CHỈ

Trước khi bắt được gia đình Hồ Quý Ly, vua Minh Thành Tổ xuống chiếu tháng 4 năm đinh hợi (1407) nói là tìm kiếm con cháu nhà Trần để lập làm vua thay nhà Hồ, vì nhà Hồ đã cướp ngôi nhà Trần. Nói thế để lừa phỉnh dân Việt, chứ khi Trần Thúc Dao, con của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi Trần Quang Khải, ra hợp tác với quân Minh, quân Minh làm ngơ và không đưa lên ngôi. Vào tháng 6 năm đinh hợi (1407), nhà Minh quyết định đổi Đại Việt thành quận Giao Chỉ, sáp nhập vào Trung Hoa.

2. TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH

Tổ chức hành chánh trung ương quận Giao Chỉ giống như một quận bên Trung Hoa, gồm ba ty là Giao Chỉ đô chỉ huy sứ ty, Thừa tuyên bố chánh ty và Đề hình án sát sứ ty. Nhà Minh đổi tên thủ đô Đông Đô (Thăng Long) thành Đông Quan, chia quận Giao Chỉ (Đại Việt) thành 15 phủ và 5 châu lớn như sau: phủ Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình, Tân Yên, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hoa, Trấn Man, Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa; châu Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Gia Hưng, Quy Hóa, Quảng Oai.(1)

Nhà Minh đưa người Trung Hoa sang nắm giữ những chức vụ then chốt quan trọng, và dùng một số người Việt chịu cộng tác với họ trong các chức vụ địa phương, nhắm chiêu dụ những người yêu nước đang tiếp tục chiến đấu chống quân Minh.

3. SỰ BÓC LỘT CỦA NHÀ MINH

Về thuế má, năm 1414 nhà cầm quyền đô hộ của Minh triều quy định rằng mỗi mẫu ruộng chỉ có 3 sào. Đây là một điều hết sức gian manh. Thông thường, mỗi mẫu ruộng gồm 10 sào, nay chỉ còn 3 sào. Vậy một người có 3 sào ruộng phải chịu thuế một mẫu; hoặc ngược lại, một người có một mẫu ruộng (tức 10 sào), nay phải chịu thuế hơn 3 mẫu. Nói cách khác, dưới nền đô hộ của nhà Minh, thuế nông nghiệp tăng hơn gấp ba so với thuế cũ. Nông nghiệp là ngành sinh hoạt kinh tế chính của người Việt lúc bấy giờ. Đa số dân chúng nông thôn nghèo đói, mà tăng thuế nông nghiệp sẽ làm dân chúng Việt càng thêm bần cùng thiếu ăn..

Một năm, mỗi mẫu ruộng (tức chỉ 3 sào), nhà đô hộ Minh triều thu thuế 5 thăng lúa, đất bãi dâu mỗi mẫu thu thuế 1 lạng tơ, mỗi cân tơ thu thuế 1 tấm lụa. Năm 1415, nhà Minh lập các trường (ruộng) muối ven biển, kiểm soát việc sản xuất và đánh thuế muối. Ai buôn lậu hay sản xuất lậu đều bị phạt như nhau. Muối là thực phẩm căn bản quan trọng của người Việt, nhất là dân nghèo, hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của quân Minh.

Về quân sự, vào đầu năm bính thân (1416), Trương Phụ ra lệnh xét duyệt danh số quân đội địa phương (thổ quân). Ba đinh (đàn ông) thì lấy một người làm lính. Số lính địa phương được tuyển, dùng để chia đi canh giữ các nơi.

Để kiểm soát chặt chẻ dân chúng như bên Trung Hoa, năm 1419 (kỷ hợi), Lý Bân cho thi hành biện pháp hoàng sách và hộ thiếp. Theo biện pháp nầy, ở hạ tầng tại thành phố gọi là phường, tại vùng chung quanh thành phố gọi là tương (hay sương), tại nông thôn gọi là lý. Mỗi lý có 110 hộ (gia đình) do một lý trưởng đứng đầu. Mười hộ là một giáp có một giáp thủ đứng đầu.

Mỗi hộ giữ một hộ thiếp ghi rõ tên tuổi, quê quán, số đinh trong hộ đúng theo sổ hộ khẩu do nhà cầm quyền giữ. Mỗi lý phải làm một quyển sổ gọi là sách, ghi rõ số đinh, số điền dựa trên căn bản hộ. Đầu sách có vẽ bản đồ, cuối sách liệt kê những người tàn tật cô quả. Sách viết làm bốn bản: một bản bìa vàng gọi là hoàng sách nạp lên bộ hộ, ba bản kia bìa xanh đặt ở ty bố chính sứ, phủ, huyện, mỗi nơi một bản.(2)

II.- CHÍNH SÁCH ĐỒNG HÓA

Khi gởi quân sang đánh Đại Việt lần đầu năm 1406, Minh Thành Tổ đưa ra ba chỉ dụ liên tiếp đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn các tướng lãnh nhà Minh thi hành chính sách đồng hóa và tiêu diệt tận gốc nền văn hóa Đại Việt.

1. BẮT NHÂN TÀI VIỆT NAM

Việc đầu tiên là nhà Minh bắt hết nhân tài Đại Việt, đưa về Trung Hoa sử dụng tùy theo khả năng. Khi bắt được gia đình Hồ Quý Ly, người Minh không giết mà chỉ gởi về Trung Hoa. Lý do chính là vì con của Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng có biệt tài về kỹ thuật. Nhà Minh chỉ đày Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đi Quảng Châu, còn phong cho Hồ Nguyên Trừng làm quan ở triều đình để giúp nhà Minh chế tạo súng ống.(3) Người Minh lùng tìm những người thông minh, thông kinh, học rộng, quen thuộc việc quan, chữ đẹp, tính giỏi, nói năng hoạt bát, tướng mạo khôi ngô, khỏe mạnh, dũng cảm, quen nghề đi biển, khéo nghề sản xuất gạch, làm hương... đưa về Trung Hoa.

2. TỊCH THU VÀ TIÊU HỦY TOÀN BỘ SÁCH VỞ ĐẠI VIỆT

Thi hành chỉ thị của Minh Thành Tổ, quân Minh tịch thu hoặc tiêu hủy toàn bộ tất cả các loại sách vở của nước Nam, kể cả các bia đá ghi lại sự nghiệp của tiền nhân. Sau đây là lệnh của Minh Thành Tổ gởi các tướng Minh ngày 21-8-1406: "... Trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài ra hết thảy mọi sách vở, văn tự cho đến cả những loại [sách ghi chép] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ ... một mãnh chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn."(4)

Quân Minh còn chở về Trung Hoa hầu như toàn bộ sách vở đã có từ thời Hồ Quý Ly trở về trước. Đó là sách của các tác giả sau đây: Lý Thái Tông (Hình thư), Trần Thái Tông (Hình luật, Quốc triều thông lễ, Kiến Trung thường lễ, Khóa hư tập, Ngự thi), Trần Thánh Tông (Di hậu lục, Cờ cừu lục, Thi tập), Trần Nhân Tông (Trung hưng thực lục, Thi tập), Trần Anh Tông (Thủy vân tùy bút), Trần Minh Tông (Thi tập), Trần Dụ Tông (Trần triều đại điển), Trần Nghệ Tông (Bảo hòa điện dư bút, Thi tập), Trần Hưng Đạo (Binh gia yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền), Chu Văn Trinh tức Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi), Trần Quốc Toại (Sầm lâu tập), Trần Quang Khải (Lạc đạo tập), Trần Nguyên Đán (Băng Hồ ngọc hác tập), Nguyễn Trung Ngạn (Giới Hiên thi tập), Phạm Sư Mạnh (Giáp thạch tập), Trần Nguyên Đào (Cúc Đường di thảo), Hồ Tông Thốc tức Hồ Tông Vụ (Thảo nhàn hiệu tần, Việt nam thế chí, Việt sử cương mục), Lê Văn Hưu (Đại Việt sử ký), Nguyễn Phi Khanh (Nhị Khê thi tập), Hàn Thuyên (Phi sa tập), Lý Tế Xuyên (Việt điện u linh tập) ...(5)

3. ÁP ĐẶT VĂN HÓA VÀ PHONG TỤC TRUNG HOA

Để đồng hóa người Việt, tháng 9 năm 1414 (giáp ngọ), người Minh ra lệnh lập Văn miếu (thờ Khổng Tử) , các đàn thờ thần xã tắc, núi, sông, gió, mưa ở các phủ châu huyện. Về phong tục, người Minh buộc thanh niên nam nữ không được cắt tóc mà phải để tóc dài;(6) phụ nữ phải bận áo ngắn quần dài như người Minh. Người Minh còn cấm người Việt không được ăn trầu.(7) Ăn trầu là một tục lệ lâu đời của người Việt.

Cũng trong năm 1414, nhà Minh mở trường học ở Thăng Long và các phủ, châu, huyện. Để thay thế sách vở người Việt đã bị quân Minh tịch thu và tiêu hủy, năm 1419 (kỷ hợi) nhà Minh cho phát hành rộng rãi sách vở Trung Hoa do vua Minh cho san định lại như Tứ thư [Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử], Ngũ kinh [Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân thu], Tính lý đại toàn... (8)

III.- CHÍNH SÁCH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

1. NÔNG NGHIỆP

Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Trương Phụ ra lệnh đặt đồn điền năm 1410 (canh dần) ở các nơi gần thành Thăng Long, thu mua lúa ở các phủ Tuyên Hóa, Thái Nguyên, Tam Giang, để cung ứng thực phẩm cho đoàn quân viễn chinh,

Chiến thắng xong nhà Hậu Trần, người Minh ra lệnh cho các phủ, huyện, châu ở nước ta phải trồng hồ tiêu. Từ tháng 4 năm mậu tuất (1418), họ bắt đầu trưng thu hồ tiêu đem về Trung Hoa, nhắm cung cấp cho ngành xuất cảng qua tây phương theo “con đường hương liệu và gia vị”. Người Minh buộc các địa phương (phủ, huyện) phải nạp đặc sản để chuyển về Trung Hoa như: hương liệu, hươu trắng, chim vẹt, vượn bạc má, trăn ...

Người Minh còn bắt dân chúng vùng rừng núi tìm bắt voi, tê giác, và dân chúng làm nghề chài lưới ven biển đi mò ngọc trai. Tháng 7 năm mậu tuất (1418), người Minh thiết lập trường sở thu ngọc trai tại hai địa điểm có hải phận sinh sản nhiều ngọc trai. Đó là Vĩnh An (Tiên Yên, Vạn Ninh, Quảng Yên) và Vân Đồn (Vân Hải, Quảng Yên). Hằng ngày, hàng ngàn dân bị đưa đi mò ngọc trai cho người Minh.

2. CÔNG NGHỆ

Người Minh thu mua vàng bạc quý hiếm chở về Trung Hoa. Tháng 8 năm ất mùi (1415), nhà Minh thiết lập các trường cục cai quản các vùng mỏ vàng bạc, đốc thúc dân đinh khai đào các kim loại quý, kiểm điểm sản lượng và niêm phong nạp lên thượng cấp

3. GIAO THÔNG THƯƠNG MẠI

Để dễ vận chuyển, người Minh thiết lập một lộ trình mới từ Quảng Đông qua Đông Quan (Thăng Long), chia làm hai đoạn: từ Khâm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay) đi đường biển tới các cảng Vạn Ninh (thuộc Quảng Yên), Đông Triều, Chí Linh (Hải Dương). Các nơi nầy đều có đặt trạm liên lạc bằng thuyền. Từ Vạn Ninh, Đông Triều, Chí Linh đến Đông Quan (Thăng Long), người Minh đặt các trạm chạy bằng ngựa theo đường bộ.

KẾT LUẬN

Chính sách tận lực khai thác tài nguyên nước ta của quân Minh được Nguyễn Trãi ghi lại hết sức rõ ràng trong bài "Bình Ngô đại cáo": "Quân cuồng Minh thừa cơ tứ ngược,[9] bọn gian tà bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn, nặng khoa liễm [10] vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc, nheo nhóc thay! quan quả điên liên.[11] Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn thay! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần nhân nhịn được."(12)

Cuộc đô hộ của nhà Minh tuy ngắn ngủi, chỉ trong vòng hơn 20 năm (1407-1428), nhưng ảnh hưởng lâu dài về nhiều mặt, do chính sách khai thác thuộc địa rất tàn nhẫn, và chính sách tận diệt nền văn hóa Đại Việt, nhằm đồng hóa người Việt của nhà Minh.

Năm 1975, khi cưỡng chiếm miền Nam, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã tập trung và đốt hết sách vở miền Nam nhằm tiêu diệt văn hóa miền Nam, truyền bá văn hóa Mác-xít, không khác gì nhà Minh đã tiêu diệt văn hóa Đại Việt, truyền bá văn hóa Trung Hoa. Nhà Minh không thực hiện được mưu đồ thâm độc của nhà Minh. Cộng sản Việt Nam cũng không thực hiện được mưu đồ thâm độc của CSVN. Chẳng những thế, CSVN lại còn bị ảnh hưởng ngược lại của nền văn hóa miền Nam, vì căn bản nền văn hóa miền Nam vốn là nền văn hóa dân tộc cổ truyền, được bảo lưu ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước bị chia hai năm 1954.

Về phía Trung Hoa, từ cuối năm 1924, đảng CSTH đã bảo trợ cho tay điệp viên Đệ tam Quốc tế Nguyễn Ái Quốc, giúp huấn luyện cán bộ để cài người vào Việt Nam. Sau đó, từ năm 1950, đảng CSTH đã đầu tư dài hạn vào công cuộc chiến tranh của Hồ Chí Minh, thao túng nhà cầm quyền CSVN. Từ đầu thế kỷ 21, CSTH đòi lại vốn và lời đã đầu tư, thực hiện kế hoạch tằm ăn dâu của nhà Minh, kiếm cách từ từ khai thác tài nguyên trên biển cũng như trên đất liền của Việt Nam, tiến hành từng bước âm thầm, chậm chạp, và chắc chắn.

Với đà thâm nhập nầy, rồi đây CSTH sẽ dùng CSVN để Hán hóa người Việt và sẽ sáp nhập Việt Nam vào Trung Hoa, biến Việt Nam thành một tỉnh hay một quận Trung Hoa, không khác gì nhà Minh vào thế kỷ 15.

Trước tình hình nầy, ngày nay người Việt Nam chỉ còn cách duy nhất là phải tự mình cứu lấy mình thoát ra khỏi đảng CSVN. Thoát ra khỏi đảng CSVN, người Việt mới thoát ra khỏi sự đô hộ của CSTH. Tuy khó khăn nhưng không còn con đường nào khác.

TRẦN GIA PHỤNG
(phungtrangia@yahoo.com)

CHÚ THÍCH

1.Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, in lần thứ hai, Huế:Nxb. Thuận Hóa, 1997, tr. tr. 163. [Đào Duy Anh căn cứ trên tài liệu Thiên hạ quận quốc của Trung Hoa.] Ngoài 15 phủ trên đây, năm 1414, quân Minh đặt thêm phủ thứ 16 là phủ Thăng Hoa, nhưng chưa tổ chức đưọc nền cai trị tại phủ nầy thì bị quân Chiêm Thành chiếm.
2.Chính sách nầy do nhà Minh áp dụng ở Trung Hoa từ năm 1381. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 767-768.)
3.Theo Lê Quí Đôn trong Vân đài loại ngữ, mục "Vựng điển loại", trích dẫn sách Cô thụ biều đàm, Lê Trừng tức Hồ Nguyên Trừng được nhà Minh phong làm hộ bộ thượng thư. Lê Quí Đôn cũng trích dẫn Minh sử nói rằng "trong niên biểu của thất khanh (bảy vị quan to), có nói đến Lê Trừng làm binh bộ thượng thư". Minh sử còn chép rằng: "Năm Vĩnh Lạc [1403-1424], vua Minh thân chinh Mạc bắc. Khi giặc kéo ào đến, bèn đem thần sang của nước An-Nam ra đánh..." (Vân đài loại ngữ, bản dịch của Phạm Vũ và Lê Hiền, Tự Lực tái bản, Hoa Kỳ, tt. 238-239). Thần sang An Nam ở đây là súng thần công do Hồ Nguyên Trừng chế tạo. Hồ Nguyên Trừng có soạn sách Nam ông mộng lục, viết về 31 nhân vật nổi tiếng trong lịch sử nước nhà. Có lẽ nhờ Hồ Nguyên Trừng mà Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương không bị giết, mà chỉ bị đày đi Quảng Châu.
4.Phạm Cao Dương "Từ nạn trộm cắp các cổ vật tại Việt Nam đến tham vọng bá quyền về văn hóa của Trung Quốc", nguyệt san Thế Kỷ 21, số 130-131, tháng 2 & 3-2000, tr. 54.
5.Cương mục, sđd. tr. 765, "Lời chua". Khi chua như trên, các soạn giả bộ Cương mục dựa vào "Văn tịch chí" trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Tuy Phan Huy Chú đề tên tác giả các sách về hình luật, điển lễ trên đây là các vua, thật ra là do các quan soạn dưới triều các vua đó. Ngoài ra, vài tác phẩm hiện đã tìm thấy lại được như Khóa hư tập của vua Trần Thái Tông, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, hoặc còn sót lại vài bài thơ như của Trần Thái Tông, Trần Quang Khải...
6.Đời nhà Trần trở về trước, dân Việt theo tục xâm mình và cắt tóc.
7.Stanley Karnov, Viet Nam a History, New York:The Viking Press, 1983, tr. 103.
8.Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, bản dịch tập 2, 1998, tt. 236, 242. Tính lý đại toàn: Bộ sách do Hồ Quảng vâng lệnh vua Minh soạn ra, nội dung dựa vào học thuyết của các Nho sĩ đời Tống.
9.Tứ ngược: hết sức tàn ngược. [Chú thích 10, 11 và 12 theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược.]
10.Khoa liễm: thuế má.
11.Quan quả điên liên: Quan: người không vợ; quả: người góa chồng; điên liên: những kẻ không có nhà ở, không trông cậy vào đâu được.
12.Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Nxb. Tân Việt tái bản, 1964, tr. 229.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ra Sức Học Tiếng Anh

Trần Khải


Học tiếng Anh đang trở thành một phong trào lớn tại quê nhà. Đó là một điều để vui mừng, bởi vì trong thời toàn cầu hóa, không giỏi tiếng Anh sẽ chỉ thiệt thòi trăm đường, mà đất nước không thể nào tiến lên. Tuy nhiên, đời người có hạn, sức người có hạn, cơ hội học cũng tùy trường hợp, và thời lượng để học cũng không chắc lâu dài như ý mình muốn, cho nên học cần chọn phương pháp và hoàn cảnh tối ưu trong trường hợp riêng từng người.

Ngay tới quan chức Hà Nội cũng có nhiều vị đi học tiếng Anh. Nhưng vì là quan, cho nên đi học bằng tiền của dân. Mà là vô số tiền. Bản tin trên báo TelegraphJournal.com mới tuần qua, nhan đề “Education Group in Saint John for six-month English language course” (Một nhóm học viên tới thành phố Saint John, Canada, để học khóa tiếng Anh trong 6 tháng).
Bản tin cho biết một nhóm 40 cán bộ cao cấp do Hà Nội gửi tới học khóa tiếng Anh dài 6 tháng tại Đại Học University of New Brunswick Saint John. Họ mới được tiếp đón chiều Thứ Ba, sẽ học trong 2 lớp, mỗi lớp 20 quan chức. Khóa học không phải abc, mà là lớp dạy theo chương trình cho sinh viên chuẩn bị vào MBA (chương trình Thạc sĩ quản trị kinh doanh). Trưởng đoàn cán bộ đi học là Phó Giám Đốc Bộ Y Tế Việt Nam. Chức vụ này dịch không chính xác, và khó đoán được quan chức này là ai, vì bản tin gốc tiếng Anh ghi là: “deputy director of the contry’s department of health.”
Các quan đi học có đáng tiền không? Thực tế, không bổ chiều ngang, cũng bổ chiều dọc, nói theo kiểu ông bà mình. Tuy nhiên, đáng tiền hay không thì chưa chắc. Chắc chắn, các quan sẽ học một số ngữ vựng và văn phạm cần thiết, nhưng cách phát âm của các giaó sư Canada hẳn nhiên là sẽ khác một ít với giọng nói của người Mỹ, người Anh, người Úc. Như vậy, các quan sau này cũng cần phải về tự học thêm các âm giọng vùng khác. Tuy nhiên, lớp học có thể tiết kiệm hơn: tại sao không thực hiện qua video conference (hội thoại video), qua trực tuyến online, hay là tập trung các quan này lại một nơi ở VN và mời một giáo sư Anh văn sang dạy? Hay chỉ là hình thức tặng thưởng du lịch 6 tháng cho quan chức?

Điều quan ngại của Việt Nam là, tuy học tiếng Anh đã trở thành phong trào, nhưng điểm “đầu vào” tiếng Anh đã giảm sút. Đó là một lời báo động từ báo Người Lao Động hôm Thứ Sáu 4-12-2009, trích:
“Điểm “đầu vào” tiếng Anh giảm sút
Trình độ tiếng Anh thấp ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đào tạo thạc sĩ và nghiên cứu sinh Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng ĐH Quốc gia TPHCM cho biết: Ba năm qua (từ năm 2007 – 2009) trong điều kiện cấu trúc đề thi không đổi, sử dụng câu hỏi trong cùng một ngân hàng đề thi đã xây dựng từ trước với độ khó tương đương nhau, thế nhưng điểm đầu vào tiếng Anh của thí sinh dự thi sau ĐH vào ĐH Quốc gia TPHCM giảm đáng kể. Thực trạng này không chỉ khiến số lượng nguồn tuyển ngày càng hạn chế mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo sau ĐH của các trường ĐH hiện nay.
Chỉ 20,79% đạt điểm trung bình

Thi theo dạng thức TOEFL hoặc IELTS và cách tính điểm đợt 1 năm 2007, tỉ lệ thí sinh dự thi thạc sĩ vào các trường thuộc ĐH Quốc gia TPHCM đạt 50 điểm trở lên chiếm 62,13% nhưng đợt 1 năm 2008 chỉ đạt 50,76%.
Trong đó, một số trường đạt tỉ lệ rất thấp, như Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, số thí sinh đạt 50 điểm trở lên đợt 1 năm 2008 chỉ đạt 19,38%. Đợt 2 năm 2008, tỉ lệ thí sinh đạt điểm trung bình còn thấp hơn khi Trường ĐH Khoa học Tự nhiên TPHCM chỉ có 18,09% thí sinh đạt, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM chỉ có 9,95%... Đợt 1 năm 2009, tiếp tục ghi nhận sự xuống dốc về điểm thi tiếng Anh sau ĐH khi chỉ có 20,79% thí sinh đạt điểm trung bình, trong đó Khoa Kinh tế chỉ có 29,58% thí sinh đạt, tỉ lệ này ở Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM là 9,76%.

Trước tình hình đó, ĐH Quốc gia TPHCM đã quyết định giảm dần điểm chuẩn môn tiếng Anh. Nếu năm 2008 và đợt 1 năm 2009, điểm chuẩn môn tiếng Anh là 45 điểm thì đợt 2 năm 2009 điểm chuẩn giảm xuống còn 40 điểm theo thang điểm quy đổi...” (hết trích)
Tại sao phương tiện Internet ngày càng lan rộng, tinh thần dân Việt ngày càng hiếu học, mà trình độ tiếng Anh lại giảm sút? Như thế, chính phủ đã làm gì để giúp dân chúng học tiếng Anh thêm, hay là chỉ tập trung tiền cho một số quan chức đi học?

Một khuynh hướng mới của người có tiền tại VN là cho con học trường quốc tế. Nhưng, học phí thì quá cao, mà trường cũng có khi dạy dở hơn trường phổ thông. Bản tin báo Phụ Nữ đăng lại trên báo Xã Luận cho thấy, trích:
“...Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở GD-ĐT TP.HCM, hiện TP có gần 50 trường mang danh nghĩa QT mà theo ghi nhận của chúng tôi, phần lớn đều không đạt chuẩn về cơ sở vật chất. Trường tiểu học châu Á - Thái Bình Dương (Đinh Tiên Hoàng, Q.1), nhìn từ ngoài vào hệt như một cái hộp. Trường không có cổng, không sân chơi, cũng chẳng có sân tập thể dục... (...)
Mức học phí cũng như chương trình (CT) học của các trường mang danh nghĩa QT cũng mỗi trường mỗi kiểu. Cụ thể, Trường Châu Á - Thái Bình Dương, sáng dạy theo CT "quốc tế"; chiều dạy CT tiếng Việt của Bộ GD-ĐT. Học phí bậc tiểu học là 400 USD/tháng, bậc THPT: 600 USD/tháng (chưa kể các khoản: tiền ăn trưa (100 USD/tháng), tiền xe đưa rước (200 USD/ tháng)...); Trường THPT Nam Mỹ, nếu học CT tú tài Việt thì khoảng 7triệu/tháng cộng thêm 300 USD cho CT tiếng Anh; nếu học CT trung học Hoa Kỳ (bỏ luôn CT của Bộ GD-ĐT Việt Nam, vì CT này học bốn năm, từ lớp 9 đến lớp 12) khoảng 650 USD/tháng; hệ thống trường dân lập quốc tế Việt - Úc thì vừa dạy CT của Bộ GD-ĐT lại vừa dạy CT quốc tế hoàn toàn bằng tiếng Anh, theo khung chuẩn phổ thông của Anh Quốc. Học phí cũng ngấp nghé 400 USD/tháng cho bậc tiểu học và 500-600 USD/tháng cho bậc THCS, THPT.

Chấp nhận cho con vào học ở những ngôi trường QT này thì chuyện học phí với phụ huynh không phải là vấn đề. Điều nhiều phụ huynh trăn trở là chất lượng đào tạo nếu không xứng tầm QT, thì chí ít cũng phải "ngang ngửa" với một vài trường công lập. Chị Nguyễn Thị B.T., một phụ huynh tâm sự: "Năm lớp 10, con tôi học trường song ngữ quốc tế H. học lực của cháu đạt loại giỏi, nhưng tìm hiểu tôi thấy kiến thức của cháu hổng nhiều nên xin chuyển cháu về Trường Bùi Thị Xuân, cố gắng mãi mà cháu vẫn không theo kịp các bạn trong lớp"...”(hết trích)
Học phí 650 USD/tháng cho một học trò bậc trung học? Mà lại dạy dở? Trong khi đó, lương công nhân Việt trung bình mỗi tháng khoảng 50 USD. Nhưng tình hình này cũng cho biết là dân Việt muốn con mình giỏi tiếng Anh và có điều kiện học cao hơn.

Nhìn chung, học tiếng Anh là phong trào. Và nhiều phương tiện công cũng như tư đều tìm cách giúp thêm cho học tiếng Anh trở thành phong trào.
Bản tin báo Thanh Niên hôm 27-11-2009 nói về buổi “Hội thảo dạy tiếng Anh tiểu học” trong đó viết:
“... Ngày 27.11, tại trụ sở Thông tấn xã VN (TP.HCM) diễn ra Hội thảo Dạy tiếng Anh Phonics Learning Box UK. Đây là hội thảo do Sở GD-ĐT TP.HCM và đại diện Phonics Learning Box UK tại VN phối hợp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh cấp tiểu học.
Hội thảo giới thiệu chương trình cung cấp những kỹ năng phát âm chuẩn dạy tiếng Anh Phonics Learning Box UK, dành cho học sinh cấp tiểu học, gồm 6 cấp độ...”

Chương trình từ năm 2008, bắt đầu được dạy thí điểm tại các địa phương ở TP.Sài Gòn và đã được thẩm định về chất lượng. Tiếng Anh trong chương trình đó tất nhiên là nói theo giọng Anh Quốc. Nếu học tiếng Anh từ bậc tiểu học thì sẽ có lợi hơn là để trễ mới học. Tuy nhiên, thời trứơc 1975, học trò Miền Nam bắt buộc phải chọn học tiếng Anh hoặc tiếng Pháp từ lớp 6 trung học. Giọng đọc phải học theo thầy cô, đương nhiên là giọng tiếng Anh kiểu Sài Gòn, Hà Nội, Huế nối vòng tay lớn. May mắn, ai học ở Hội Việt Mỹ thì nghe đúng giọng tiếng Mỹ.
Một phương tiện học tiếng Anh là trực tuyến qua Internet. Bản tin trên báo Tuổi Trẻ hôm Thứ Sáu 27-11-2009 cho biết:
“Hỗ trợ sinh viên học tiếng Anh trực tuyến
Khoa kinh tế (ĐHQG TP.HCM) và NSW AMES - cơ quan trực thuộc Bộ GD-ĐT bang New South Wales (Úc) vừa ký kết hỗ trợ sinh viên của khoa học tiếng Anh thông qua chương trình học tiếng Anh trực tuyến NSW AMES.
Chương trình bao gồm các khóa học tiếng Anh tổng quát giúp phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc và viết, đặc biệt chú trọng các kỹ năng mềm áp dụng trong công việc và tình huống thực tế như dịch vụ khách hàng, đàm phán, tìm việc...” (hết trích)

Như thế, là học tiếng Anh theo giọng người Úc. Nhưng dạy trực tuyến thực ra là tiết kiệm nhất, và hiệu quả không thể nào nói là dở hơn các phương pháp học khác. Cũng còn đỡ hơn học nhiều trường quốc tế tại Sài Gòn, vừa tốn tiền, vừa thắc mắc không biết ông giáo Tây Ba Lô của mình có phải là người Pháp hay Ý mới di dân và rồi nhập tịch Mỹ năm hay bảy năm qua hay không? Nếu là Tây Ba Lô thì trình độ tiếng Anh và khả năng giảng dạy sẽ còn tùy. Trong khi dạy trực tuyến, mời một thầy cô Mỹ gốc Việt sinh trưởng tại California dạy thì có lợi biết là bao nhiêu, mà sẽ học giọng tiếng Anh ngay nơi những người từ khi mới biết bỏ chập chững đã được học tiếng Anh qua các phim Disney. Tuy nhiên, nếu người trong nước muốn học trực tuyến, nên vào học hàng ngày ở hai trang web của Đài VOA và BBC, với những bài học cụ thể, chuẩn mực, tuyệt vời, và theo giọng nói của hai nước lớn này.

Nhưng học tiếng Anh phảỉ học hàng ngày, học không thôi, mới giỏi được. Trên Báo Đất Việt hôm 30-11-2009, với bản tin “Tôi Biết Ơn Người Đọc,” có kể về trường hợp dịch giả Nguyễn Bích Lan tự học tiếng Anh. Bản tin viết, trích:
“...Nghỉ học từ năm 14 tuổi do mắc bệnh nan y, nhưng trong khi chống chọi với bệnh tật, dịch giả Nguyễn Bích Lan tự học tiếng Anh, và đến nay, đã dịch 16 tác phẩm văn chương, mới nhất là Triệu phú khu ổ chuột và Người đàn ông hoàn hảo. Nguyễn Bích Lan nói chị biết ơn độc giả vì đã đọc sách dịch của chị một cách nghiêm túc...” (hết trích)
Thực thế, không có gì hơn là học hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần. Cũng như người học võ, phải tập võ hàng ngày trong nhiều năm, mới lên nổi đai đen. Mà trong giới võ sư đai đen cũng còn nhiều thứ bậc tuỳ theo võ phái, lại tốn thêm nhiều năm học nữa, mới có thể đi dạy. Không kể là võ Bình Định, Vovinam, Karate, Taekwondo, Aikido... học tới mức giỏi thì cũng đủ có sức khỏe, tự tin và tự vệ.

Học tiếng Anh cũng như thế. Nên học hàng ngày, không thầy thì tự học, nhất là bây giờ đã có Internet, cố gắng là sẽ thành công. Không chịu học tiếng Anh, sau này bị ép học tiếng Tàu thì ráng mà chịu.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Phật Tại Tâm, Chúa Ơ Trong Lòng

Đoàn Thanh Liêm
Từ mấy năm gần đây, tôi đã viết nhiều bài liên quan đến vấn đề tôn giáo dấn thân nhập cuộc với xã hội, điển hình như các bài “Tôn giáo là lòng nhân aí vị tha”, “Tôn giáo dậy chúng ta sự khiêm cung”, “Tôn giáo và Xã hội Dân sự” v.v...Trong các bài viết này, tôi chú trọng đến khiá cạnh tích cực trong vai trò cuả tôn giáo đối với đời sống con người trong xã hội hiện đại. Tuyệt nhiên tôi tránh lối chỉ trích mạt sát, chế diễu những sai lầm nơi bất kỳ các tổ chức tôn giáo nào khác với tôn giáo cuả mình. Như dân gian thường nói : “Tin đạo, chứ không nên rắp mắt tin người có đạo”, tôi xác tín rằng tôn giáo nào cũng chủ yếu là một con đường dẫn đưa con người tới neỏ Chân, Thiện, Mỹ mà thôi, danh từ Đạo có nghiã là con đường mà!

Nhưng vì là con người vốn luôn luôn có những sai sót, bất toàn, cho nên bất kỳ mỗi tín đồ cuả một tôn giáo nào, thì đều có thể phạm những lổi lầm vô tình hay cố ý, phát xuất từ sự yếu đuối thường tình cuả con người sống trên thế gian vốn đày dãy những cạm bãy cám dỗ này. Do vậy mà ta không nên “vơ đuã cả nắm” để mà xác quyết được rằng tôn giáo này, tôn giáo kia chỉ là một thứ xằng bậy, là thứ phản tiến bộ, lạc hậu, hoặc như người cộng sản quá khích cực đoan, vốn xưa nay vẫn coi “tôn giáo là thứ á phiện làm mê hoặc quần chúng”, nên cần phải thẳng tay triệt hạ, không thương tiếc.

Chúng ta đều biết rằng trong lịch sử cuả nhiều dân tộc trên thế giới đã xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc phát xuất vì lý do tôn giáo. Và chỉ trong vài thế kỷ gần đây, nhân loại đã rút ra được một bài học khôn ngoan là phải đề cao sự bao dung, chấp nhận sự khác biệt cuả con người trong vấn đề niềm tin tôn giáo. Ngày nay con người đã hiểu biết và thông cảm với nhau nhiều hơn, nên đã thể hiện được tình trạng “ đa dạng / đa nguyên về văn hoá, về tôn giáo “ (cultural,religious diversity/ pluralism).
Cụ thể điển hình là Liên Hiệp Quốc đã phát động cả một chương trình hành động nhằm ngăn cản và chấm dứt sự “bất bao dung, sự kỳ thị về tôn giáo” (Religious Intolerance / Discrimination). Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được ban hành năm 1948 cũng đã xác định trong điều 18 : “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo...” Đó là sự tiến bộ dứt khoát và rõ ràng cuả nhân loại từ giưã thế kỷ XX cho đến đầu thế kỷ XXI cuả chúng ta hiện nay.

Là người có một niềm tin tôn giáo sâu sắc thừa hưởng được từ truyền thống gia đình ngay từ tuổi ấu thơ, rồi sau này khi trưởng thành, tôi lại có duyên được sát cánh gần gũi thân thương với nhiều vị tu sĩ và tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau, thông qua những công tác từ thiện nhân đạo, nên tôi tiếp thu được một tinh thần bao dung, thông thoáng cởi mở trong các sinh hoạt văn hoá xã hội và tâm linh cuả các cộng đồng tôn giáo ở Việt nam cũng như ở ngoại quốc. Cụ thể, vào các năm 1972-74 tôi đã được mời cộng tác với Hội đồng Tôn giáo Thế giới (WCC = World Council of Churches) có trụ sở chính tại Geneva, Thuỵ sĩ. Và nhất là trong mười năm gần đây, tôi luôn sát cánh với Viện Xây dựng Hoà bình Muà hè thuộc trường Đại học Eastern Mennonite University tại Virginia (Summer Peacebuilding Institute SPI/ EMU). Cũng như tham gia sinh hoạt thường xuyên với các nhóm tôn giáo dấn thân hoạt động cho Hoà bình tại thành phố Knoxville tiểu bang Tennessee trong khuôn khổ cuả tổ chức Viện Xây dựng Hoà bình Miền Đông Tennessee (Peacebuilding Institute of East Tennessee PIET). Có thể nói các tổ chức xây dựng Hoà bình này là kết quả cuả sự hợp tác chặt chẽ giưã giới lãnh đạo Tôn giáo và giới Đại học hàn lâm (Cooperation between Churches and Academy) trong ý hướng góp phần vào công cuộc giải quyết những tranh chấp cuả con người tại khắp nơi trong xã hội ngày nay.
Nhưng cái kinh nghiệm sâu sắc và bền bỉ nhất cuả tôi sau nhiều năm tháng tiếp cận và làm việc chung với môi trường tôn giáo nhập cuộc với xã hội như đã ghi sơ lược ở trên, thì chính là chiều sâu tâm linh trong đời sống (spiritual life) cuả những vị hoạt động tích cực nhất nơi những tổ chức này. Họ đều có một lối sống thanh thoát, không chút bận tâm vướng víu đến những chuyện nhỏ nhen, tầm thường cuả thế gian thường tình. Tâm hồn họ như bay bổng lâng lâng trong tình yêu thương gắn bó với mọi người trong cõi nhân sinh, và luôn sẵn sàng hy sinh để tạo dựng hạnh phúc cho đồng loại. Rõ ràng là họ đối xử với mọi người như là anh chị em ruột thịt, vì quan niệm rằng tất cả đều cùng là con cuả một người cha chung, một Thượng Đế vốn hết lòng yêu thương loài người. Họ vừa có trí tuệ sáng suốt, vừa có tâm hồn nhân hậu, sống và làm việc với lý tưởng thanh cao, nhiệt thành. Cái ngọn lửa yêu thương trong sâu thẳm tâm hồn cuả họ luôn tỏa chiếu lan rộng ra nơi môi trường xunh quanh họ (transfer of the flame), và có sức chuyển giao đến tâm hồn cuả quần chúng mà họ có duyên tiếp cận. Vì thế, tôi có thể nói được rằng những vị này rõ ràng là đã đạt tới được “cái tâm Bồ Tát” theo ngôn ngữ cuả Phật giáo. Mà theo ngôn ngữ cuả Thiên chuá giáo, thì họ đang ấp ủ “ Chuá ở trong lòng mình”.
Đó là lý do tại sao tôi đã chọn nhan đề cho bài viết này được soạn thảo vào cuối năm 2009, nhằm giãi bày tâm sự cuả một người đã tham gia lâu năm với loại “ hoạt động xã hội dưạ vào niềm tin” (faith-based social action) cùng chung với nhiều tín đồ thuộc các khuynh hướng tôn giáo khác nhau.

Nói về chữ Tâm, thì dân gian ta từ xa xưa vẫn trao đổi truyền khẩu với nhau qua mấy từ ngữ đã thành ước lệ (conventional language) như: “cái tâm thiện hảo”, “cái tâm trong sáng”, “cái tâm thanh cao “ v.v... Ngược lại là các chữ : “cái tâm đen tối”, “cái dã tâm”, “cái tâm điạ độc ác” v.v... Văn hào Nguyễn Du đã phát biểu trong câu thơ ở đoạn kết cuả tác phẩm bất hủ Truyện Kiều như sau:
“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài “.

Đây quả là một lời khuyến thiện tuyệt diệu và có tác dụng hết sức sâu sắc, mà lâu dài đối với quảng đại quần chúng, mà ngay cả các vị tu hành lâu năm cũng không thể nào kêu gọi tín đồ hay hơn như thế được. Chính vì chú trọng đến cái phần cao quý trong nhân cách cuả mỗi người như vậy, cho nên cha ông ta mới thường hay nhắc nhủ con cháu là phải cố gắng miệt mài “rèn tâm luyện chí”, để sau này trở thành con người hưũ dụng cho xã hội, làm rạng danh cho dòng giống nhà mình (ích nhà, lợi nước) vậy.

Tại miền Nam Việt nam, ngay từ thập niên 1950 các ấn phẩm trong tủ sách “Học làm người” rất được công chúng tìm đọc, và một trong những tác giả loại sách này mà được nhiều người mến chuộng, đó chính là học giả Nguyễn Hiến Lê. Cụ là người tinh thông cả cổ học lẫn tân học, nên văn phong cuả cụ rất đơn giản sáng suả, mà về nội dung thì lại rất phong phú đề cao sự rèn luyện nhân cách, khai mở trí tuệ. Cụ tham khảo chọn lọc những sách nổi danh ở Âu Mỹ và tìm cách dịch ra Việt ngữ để phổ biến sâu rộng cho số đông độc giả có trình độ học vấn phổ thông. Sau năm 1975, tôi có duyên được gần gũi tiếp cận khá thường xuyên với cụ và được cụ tâm sự nhắn nhủ với tôi nhiều chuyện, mà tôi xin ghi lại ở đây một điều cốt yếu như sau: “ Tôi đã cố gắng đóng góp hết sức mình vào việc” nâng cao dân trí “ qua những sách báo tôi viết suốt mấy chục năm nay. Nhưng cái việc “chấn hưng dân khí” như cụ Phan Châu Trinh kêu gọi, thì còn phải trông chờ nơi nhiều người khác cùng tiếp tay vào nưã, thì mới thực hiện được. Đó là làm sao chuyền được cái ngọn lưả cho thế hệ tương lai con cháu mình, cho nên vấn đề là chính chúng ta phải có được cái ngọn lưả nồng nàn trong tâm hồn cuả mình, thì mới có thể lan truyền sức nóng ấy sang cho thế hệ sau kế tiếp được. Tuổi trẻ cuả các ông còn có nhiều cơ hội để mà làm được cái việc “ dĩ tâm truyền tâm “ như thế đó...” Tâm sự tha thiết này cuả cụ cũng tương tự như cuả nhiều người bạn quen biết khác, mà tôi đã ghi lại ở trên. Thành ra rõ ràng là những con người có trí lớn thì đều gặp gỡ nhau, như ngưới Pháp vẫn nói : “les grands esprits se rencontrent”.

Tôi không phải là một Phật tử, nhưng do tham gia công tác xã hội nhiều, nên có cái duyên được quen biết và sát cánh với nhiều vị tu sĩ và các tín đồ Phật giáo thuần thành. Điển hình như với các thành viên cuả Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội thuộc Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất trước năm 1975, thì chúng tôi làm việc chung với nhau trong nhiều dự án, cụ thể là trong việc cứu trợ các nạn nhân chiến cuộc hồi Muà hè Đỏ lưả năm 1972 tại miền Bắc Trung Phần từ Quảng Trị vào đến Quảng Ngãi, Bình Định. Tôi rất tâm đắc với khẩu hiệu “Hiểu và Thương “ cuả tổ chức thiện nguyện này. Anh chị em đã sống chung với bà con tại miền nông thôn ngheò túng và mất an ninh để cùng chia sẻ với mọi người những khó khăn cực nhọc cuả họ. (Nhiều người trong tổ chức này đã bị giết hại trong những vụ tàn sát bí hiểm, mà vì trong thời chiến tranh, nên đã không tìm ra manh mối đích xác ai là thủ phạm. Dầu vậy, họ vẫn tiếp tục công việc phục vụ đồng bào, và chỉ ngưng công tác vì bị giải thể sau năm 1975.) Và càng hiểu nhiều về lớp quần chúng kém may mắn ở vùng quê, anh chị em càng thương mến họ sâu sắc, chân tình hơn. Và qua những việc làm cụ thể, thiết thực để giúp đỡ bà con, anh chị em càng thấy tâm hồn mình như được liên kết, hoà nhập vào với tập thể số đông quần chúng đó. Và như vậy, thì tình yêu thương với cộng đồng điạ phương lại càng bền vững, thắm thiết hơn.

Một vị Đại Đức trẻ đã nói với tôi là: Người tu sĩ Phật giáo chúng tôi luôn áp dụng lời giáo huấn trong đạo ”Tự giác để giác tha“, “Tự độ để độ tha”, “Tu là phải chứng”, tức là phải thể hiện cuộc sống tu hành cuả mình bằng những hành động cụ thể phục vụ đồng bào, phục vụ tha nhân. Điều này cũng giống hệt như bên Công giáo, cha mẹ vẫn nhắc nhở con cái rằng : “Đức tin phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể, sống động (Living Faith), chứ nếu không có hành động đi kèm, thì đó sẽ chỉ là Đức tin chết...” Người công giáo còn hay nói : Đền thờ đích thực cuả Thiên chuá là “ở trong tâm hồn cuả mỗi người” chứ không phải tại nơi cơ sở vật chất cuả giáo đường, dù có nguy nga sang trọng đẹp đẽ đến đâu chăng nưã. Họ còn hay trích dẫn lời cuả vị Tông đồ Phaolô rằng : “Tôi sống không phải là chính tôi sống, mà đích thực là Chuá Kitô đang sống trong tôi”.

Như vậy, tôi thấy có sự tương đồng giưã ý niệm “Phật tại tâm” cuả người Phật tử và quan niệm “ Chuá ở trong lòng” cuả người Công giáo. Điều này rõ rệt xác nhận cái thực trạng xã hội mà cha ông ta từ xưa vẫn nói rằng : “Nhân sinh tiểu dị đại đồng”, tức là sự khác biệt giưã con người với nhau thì ít oi, nhỏ bé thôi; mà cái sự giống nhau, đồng lòng hợp ý với nhau trong nhân loại thì thật là lớn lao và nhiều hơn gấp bội sự dị biệt, xa cách giưã nhóm người này với nhóm người khác vậy.

Vì hiểu như vậy, nên tôi luôn cố gắng giữ được thái độ trân trọng, lịch duyệt đối với mọi người và tôn trọng sự khác biệt về niềm tin tôn giáo, về chính kiến cũng như về sở thích cuả mọi người bạn, mà mình có duyên gặp gỡ hay làm việc chung với nhau. Người Âu Mỹ đã khá tiến bộ khi công nhận “cái quyền được khác biệt” (the right to be different) cuả bất cứ con người nào mà cùng sinh sống bên cạnh mình. Thái độ “cởi mở và biết điều” như vậy mới chính là cơ sở tinh thần vững vàng, nhân ái và an hoà cho đời sống cuả mỗi tập thể con người, mà cùng chia sẻ cái “không gian xã hội” cuả bất kỳ một cộng đồng điạ phương nào trong cõi nhân sinh trên trái đất này.

Bài viết này được rút ra từ những suy nghĩ nung nấu và trải nghiệm lâu năm, qua sự tiếp cận gặp gỡ thân thương với bao nhiêu người ở Việt nam cũng như ở nước ngoài, bất kể họ thuộc một tôn giáo nào, dân tộc nào, hay theo đuổi một lý tưởng, một học thuyết nào. Tôi vẫn theo lời chỉ bảo cuả cha ông xưa cuả mình rằng : “Quân tử hoà nhi bất đồng”, tức là dù có sự khác biệt, bất đồng ý kiến thế nào đi nưã, thì mình vẫn phải giữ được sự hoà nhã với tinh thần bao dung thông cảm và quý trọng lẫn nhau.
Cuộc sống con người đã có quá nhiều rủi ro bất trắc, với quá nhiều đau khổ đoạ đày rồi, chúng ta mỗi người cần phải giúp đỡ, liên đới thuận thảo với nhau để mà cùng tạo dựng được một xã hội thịnh vượng, an vui và nhân ái, góp phần làm tăng thêm hạnh phúc cho bản thân cũng như cho tất cả bà con, bạn hữu thân thương cuả mình. Có làm được như thế, thì chúng ta mới hoàn thành được cái sứ mệnh cao quý cuả người sĩ phu quân tử đối với bản thân gia đình, và đối với quê hương dân tộc thân yêu cuả chính mình vậy./

California, cuối năm Kỷ sửu 2009
Đoàn Thanh Liêm

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Vì sao phụ nữ thường yêu những người đàn ông "hư"?
Phái nữ khi bước vào tuổi yêu thường mơ về những chàng hoàng tử hoàn mỹ, không tỳ vết. Nhưng khi yêu thực sự, họ lại không mấy khi chấp nhận được kiểu người này mà lại tìm đến những "đàn ông hư". Điều này đặc biệt đúng với những phụ nữ có cá tính. Vì sao vậy?8 lý do sau đây được coi là những lý do xác đáng nhất cho câu hỏi: Vì sao phụ nữ mơ tưởng về mẫu đàn ông hoàn hảo nhưng thường yêu những người đàn ông "hư".
1. Đàn ông "ngoan" thường thích chưng diện hoặc ít nhất là lúc nào cũng quần là áo lượt. Ban đầu có thể phụ nữ thích nhưng sau đó sẽ rất chóng chán. Họ sẽ thấy sợ sự là lượt của mẫu người này và thấy họ giống như những con búp bê diêm dúa. Phụ nữ thường xếp những người đàn ông kiểu này vào loại kém tự tin bởi chỉ có lý do thiếu tự tin nên họ mới phải cố gắng che lấp khuyết điểm của mình bằng những bộ cánh đẹp đẽ.
Phụ nữ không có hứng thú với đàn ông kiểu này bởi họ quan niệm, khi một người đàn ông tự tin vào bản thân mình thì dù họ mặc áo sơ mi, mặc đồ thể thao hay bất cứ phục trang nào họ cũng thấy thoải mái và tự tin. Họ thích và thấy phù hợp với mọi loại quần áo. Họ không cần phải chứng tỏ bất cứ điều gì với những người xung quanh, thông qua quần áo. Họ là chính họ và đó là điều hấp dẫn phụ nữ.

2. Đàn ông "ngoan" thường ngại đưa ra quyết định. Họ muốn phái yếu quyết định hộ mình những chuyện kiểu như đi chơi đâu tối nay hay ăn gì trong bữa sáng. Không phải họ làm thế vì tôn trọng quyết định của phụ nữ. Họ làm thế vì muốn đặt trách nhiệm lên vai người phụ nữ. Thói quen xấu nhất của họ chính là đây: đùn đẩy trách nhiệm.
Đàn ông "hư" có thể làm sai, thậm chí làm cho bạn khó chịu nhưng họ không trốn sau lưng bạn, trong bất cứ trường hợp nào.

3. Đàn ông "ngoan" chỉ thích ở bên bạn khi bạn hoàn toàn "ổn". Còn khi bạn gặp rắc rối, dù là nhỏ xíu ư? Đừng ngạc nhiên nếu khi bạn chia sẻ, anh ấy chuyển chủ đề hoặc lẳng lặng rời đi chẳng có lý do.
Tại sao vậy? đàn ông "ngoan" thường không thích gánh vác đỡ trách nhiệm cho người khác, ngay cả khi "người khác" ở đây chính là người phụ nữ của đời anh ta. Họ quá thận trọng. Hơn nữa họ cũng không phải là người biết đấu tranh vì bất cứ điều gì nên họ không thể giúp gì được bạn khi bạn gặp rắc rối.
Còn đàn ông "hư"? Chẳng có gì có thể đảm bảo rằng mẫu đàn ông này chắc chắn sẽ giúp bạn trong mọi việc. Nhưng một khi họ đã nhận lời họ sẽ cố gắng đến cùng. Cũng không có gì là lạ lùng cả. Họ thích cảm giác được là một anh hùng.

4. Đàn ông "ngoan" rất dễ bị ảnh hưởng bởi bà, chú, dì, cha, mẹ, bạn thân và còn nhiều nhiều người khác. Điều đó có nghĩa gì với bạn không? Đương nhiên. Nó có nghĩa là nếu như ai đó trong danh sách gây ảnh hưởng có quan điểm khác bạn, mọi nỗ lực thay đổi của bạn sẽ là số 0. Còn nếu bạn muốn "bứt" anh ta ra khỏi tầm ảnh hưởng của một ai đó ư? Ai mà biết được người tiếp theo anh ấy sẽ núp vào là ai.
Còn đàn ông "hư" thì sao nhỉ? Nếu gia đình họ phản đối bạn, không thích bạn, anh ấy sẽ càng yêu bạn. Đơn giản vì anh ta thích cảm giác được chinh phục và vượt qua khó khăn.

5. Đàn ông "ngoan" không bao giờ tranh cãi. Thực tế họ biết cách giấu đi quan điểm của mình. Anh ta luôn nhớ đến những thương tổn anh ta vấp phải khi còn nhỏ, thậm chí nhớ cả lần anh ta đã từng muốn tham gia một lớp... đấm bốc. Nhưng mẹ anh ta lại dẫn anh ta đến lớp học nhạc... Giờ thì anh ta chỉ nhắc đến người khác khi họ vắng mặt. Hơn nữa cũng chỉ nói về mặt tích cực.
Đàn ông hư thì ngược lại. Họ luôn nói những gì họ thích. Họ không ngại xung đột, thậm chí mâu thuẫn. Thuở nhỏ mẹ họ cũng dẫn họ tới lớp học nhạc. Nhưng họ đã chạy trốn sang sân bóng đá và rồi chỉ nửa năm là bị buộc rời khỏi lớp nhạc để rồi mẹ họ cuối cùng cũng phải gật đầu, "thôi được, muốn bóng đá thì bóng đá". Vậy nên khác hẳn với đàn ông "ngoan", đàn ông "hư" thường không ngại đưa ra và bảo vệ quan điểm của mình.
6. Đàn ông "ngoan" thích mọi thứ được sắp đặt sẵn. Họ làm mọi việc theo quy luật hoặc thứ tự đã sắp sẵn. Họ sống khá nguyên tắc.
Đàn ông "hư" sống theo bản năng. Họ sống đúng với bản tính của mình. Họ có thể mắc sai lầm nhưng chính vì thế họ dễ chấp bạn đúng với con người bạn.

7. Một người đàn ông "ngoan" sẽ đứng bên cửa nhà bạn, gõ cửa thật khẽ (tới mức có thể bạn không nghe thấy được). Và rồi anh ấy sẽ lắng lặng về nếu như bạn không ra mở cửa. Anh ấy lúc nào cũng lịch thiệp và văn minh.
Đàn ông "hư" thì khác. Họ sẽ bất chợt ào đến nhà bạn. Nếu bạn không mở cửa chính, anh ta sẽ tìm cửa sổ trèo vào. Điều đó thậm chí còn làm anh ta cảm thấy thích thú hơn. Đôi khi anh ta có thể làm cho bạn phát điên, ngay cả khi anh ta đã đi khuất cả giờ đồng hồ. Nhưng bạn không thể xua anh ta ra khỏi tâm trí mình.

8. Đàn ông "ngoan" thích dạy dỗ bạn và muốn thay đổi bạn. Họ đọc rất nhiều sách và tự cho mình nhiệm vụ phải truyền thụ điều đó đến bạn. Đôi khi họ thậm chí còn làm thơ và đọc đi đọc lại chúng cho bạn nghe. Họ làm bạn đôi khi phát cuồng vì sự phiền phức của mình. Lúc đó cam đoan bạn chỉ muốn bịt kín tai để khỏi phải nghe, nhắm tịt mắt để khỏi phải thấy và chạy càng xa càng tốt khỏi họ.
Dễ hiểu vì sao với bằng đó những "ưu điểm", đàn ông "ngoan" lại ít nhận được cảm tình của phụ nữ so với những người đàn ông ít theo chuẩn mực.


http://www.vietnam4all.net/Lovestyle%20 ... 202009.doc

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Thư Gửi Con Cháu -

Giáo Sư Nguyễn Văn Phú

Thưa lão hữu,

Trong những dịp chuyện trò với nhau ở trụ sở trong khi chờ đợi các con đến đón, chúng ta đã đồng ý với nhau về 1 số vấn đề và lão hữu bảo tôi nên viết các điều ấy ra để cho con cháu đọc, vì lão hữu tay run quá, muốn viết cũng không được. Đặc biệt là năm nay tròn 30 năm tỵ nạn, cho nên cần làm sáng tỏ một số việc cho các con, nhất là các cháu, hiểu. Mấy tháng vừa qua rồi, tôi đã gắng tuân theo lời của lão hữu; nay coi như việc làm đã tạm xong. Để dễ trình bày ý kiến, tôi viết dưới dạng một bức thư của bố mẹ gửi cho các con. Kính mời lão hữu nhàn lãm, rồi sửa đổi và bổ túc cho, đa tạ.

***

Các con thân yêu,

Nay, bố mẹ tuổi đã 80, thế cũng là khá thọ so với các thế hệ trước bố mẹ. Bố mẹ đã nhiều lần nói chuyện với các con về một số vấn đề, nhưng không phải lúc nào cũng có đủ các con cùng nghe.. Hơn nữa, không chắc các con đã nhớ hết những lời nói của bố mẹ. Vì thế mới có lá thư này để tóm tắt những ý kiến chính mà bố mẹ muốn gửi đến các con. Còn các cháu thì chỉ nói mà ít đọc được tiếng Việt, nên các con hãy liệu cách truyền đạt lại ý của bố mẹ và giảng giải cho các cháu biết, chẳng những biết mà phải hiểu kỹ những điều bố mẹ viết ra đây ngày hôm nay.

Biết Ơn. Các con ạ, trên đường tỵ nạn cộng sản, tìm tự do, chúng ta dã bỏ lại tất cả, tài sản, bàn thờ và mồ mả tổ tiên. Khi đến định cư nơi quê hương thứ hai này, chúng ta đã được chính quyền và dân chúng đón tiếp và giúp đỡ. Hiện nay, đời sống của chúng ta đã ổn định. Chúng ta phải biết ơn đất nước này và hãy tìm cách góp phần làm cho đất nước này tươi đẹp hơn, giàu mạnh hơn để đền đáp phần nào cái ơn đó.

Lý Do Tỵ Nạn. Các con cần giảng rõ cho các cháu biết lý do nào đã khiến cho gia đình chúng ta tới đây cùng với hàng vạn gia đình khác, đó là: chúng ta tỵ nạn Cộng sản, đi tìm Tự Do. Các cháu được sống trong xã hội dân chủ, tự do từ lúc sinh ra nên không thể tưởng tượng nổi tính dối trá và các thủ đoạn nham hiểm của Cộng sản. Các cháu khó có thể tin được tại sao con người đối với nhau mà lại tàn ác như vậy (có thể cho các cháu coi phim "Journey from the Fall-Vượt Sóng", do Trần Hàm đạo diễn, khởi chiếu 30-4-2005). Cộng sản hành động rất ác nhưng nói rất khéo và che đậy rất giỏi! Vì thế phải giải thích cho các cháu hiểu, không phải để hận thù mà là để biết sự thật. Có một câu mà nhiều người hay nhắc: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng sản làm.”

Quê Cha Đất Tổ. Dù công việc bận rộn đến mấy, các con hãy dành thì giờ nghiền ngẫm những trang lịch sử và địa lý Việt Nam, để biết nguồn gốc dân tộc, sự hình thành đất nước, những bước thăng trầm, những nỗi vinh nhục, những khôn ngoan và lầm lỗi của ông cha ta. Và từ đó chúng ta rút ra những bài học. Có những trang lịch sử oai hùng, mà cũng có những trang lịch sử đẫm nước mắt. Có khi nước ta bị đô hộ khổ nhục cả ngàn năm, mà cũng nhiều khi dân ta anh dũng vùng lên phá xiềng xích, giành tự chủ. Lại cũng có khi người mình đi xâm chiếm tàn phá nhiều nước khác, thí dụ gần đây nhất là mười năm tàn phá Cao Miên, gây nên căm hờn của nước láng giềng và để lại cái nghiệp nặng mà các thế hệ sau sẽ còn phải gánh chịu!

Lịch Sử Gần Đây. Nuớc ta bị Pháp đô hộ từ cuối thế kỷ 19. Khoảng 1940, đại chiến thế giới bùng nổ. Ở nước ta, Nhật đảo chánh Pháp 9-3-45. Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hiệp ước bảo hộ ký với Pháp, rồi giao cho Ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ đâu tiên của nước Việt Nam độc lập. Phe Trục gồm Đức, Ý, Nhật thua Đồng minh gồm Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Hoa. Ngày 19-8-45, Việt Minh cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Nhưng không được bao lâu, Pháp tìm cách quay lại. Cuộc toàn quốc kháng chiến chống Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12, 1946. Khi phe Việt Minh lộ rõ bản chất Cộng sản, các đảng phái quốc gia trước nguy cơ bị họ tiêu diệt dần, đã trở về vùng quốc gia là nơi đã thiết lập một chính quyền khác với chính quyền vùng kháng chiến mà thực chất là cộng sản. Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève 1945 chia đôi đất nước: miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa. Miền Bắc công khai theo khối Cộng sản, tiến hành xâm lăng miền Nam bằng võ lực và che mắt thế giới bằng con bài Mặt Trận Giải Phóng Mìên Nam. Miền Nam được Hoa Kỳ và đồng minh của khối tự do ủng hộ đê ngăn sự bành trướng của Cộng sản. Khi quân xâm lăng mạnh thì Hoa Kỳ đổ quan vào miền Nam, bắt đâu vào 1960, và chiến tranh trở nên khốc liệt.

Năm 1972, sau khi Liên Xô và Trung Quốc trở thành đối nghịch thì tổng thống Nixon đến Trung Quốc ký Thỏa hiệp Thượng Hải. Hoa Kỳ không cần đến “tiền đồn chống Cộng” nữa nên bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa! (Soạn phẩm khi đồng minh tháo chạy của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho biết những sự thật phũ phàng về sự bội ước và tháo chạy của Mỹ.) Theo Hiệp định Paris 1973: Hoa Kỳ rút quân khỏi miền nam Việt Nam, chỉ để lại một số cố vấn mà thôi, còn quân Bắc Việt vẫn ở lại! Cộng sản Bắc Việt tiếp tục xâm lăng miền Nam với nhiều viện trợ của cộng sản quốc tế. Việt Nam Cộng hoà dù tự vệ can trường đến mấy, mà không đủ vũ khí, xăng dầu... thì chắc chắn là kém thế. Ngày 30 tháng tư 1975, thủ đô Sài Gòn thất thủ. Cuộc di cư tỵ nạn cộng sản, tìm Tự Do bắt đầu. Từ đây trở đi, chính các con biết khá nhiều chi tiết.

Suy Xét Thông Tin và Sử Liệu. Thời buổi này, thông tin rất nhiều, quá nhiều. Người ta viết về Việt Nam, về chiến tranh Việt Nam nhiều lắm, có cả phim ảnh nữa, nhưng trung thực thì chẳng được bao nhiêu. Có người viết trung thực nhưng chỉ nhìn được một khía cạnh của vấn đề, hệt như “những anh mù sờ voi”. Có người cố ý bẻ cong sự thật, nhằm đạt mục đích riêng của mình. Có người - kể cả nhà tu - còn bịa đặt thêm chuyện để vu khống người khác! Tệ nhất là khi kẻ cầm quyền hay tay sai của họ viết sử. Nhà văn Alex Haley đã viết ở dòng cuối tác phẩm "Roots" (Nguồn Cội): “Rốt cuộc, chính kẻ chiến thắng là kẻ viết sử.” Cho nên, bố mẹ ân cần dặn các con và nhất là các cháu rằng khi đọc tài liệu, sách vở và coi phim về Việt Nam thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, dù là của tác giả nào, kể cả Âu-Mỹ, cũng phải hết sức thận trọng và suy sét thông minh.

Theo bố mẹ thì cuộc chiến 1954-1975 ở nước ta là chiến tranh Nam Bắc, là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, là đối đầu giữa hai khối Cộng sản và Tự do; khí giới nước ngoài, máu dân Việt mình. Đối với người việt nam, đó là chiến tranh tự vệ. Còn cộng sản Bắc Việt thì tuyên truyền và giáo dục quần chúng rằng đó là chiến tranh chống Mỹ-Ngụy và thống nhất đất nước. Kẻ thắng kiêu ngạo và tàn ác, người thua uất hận trong tủi nhục. Mấu chốt của sự chia rẽ trầm trọng trong dân tộc ta nằm ở điểm ấy (kể ra thì dân tộc ta còn nhiều sự chia rẽ khác nữa). Chưa thay đổi được hai cách nghĩ đó thì chưa nói tới hòa hợp dân tộc được! Hàng triệu người đã chết, tuy đất nước được thống nhất mà lòng người đến nay vẫn còn chia rẽ.

Về Thăm Việt Nam. Có vài vị hỏi bố mẹ đã về thăm Việt Nam chưa. Câu trả lời là chưa, vì lý do sức khoẻ. Đã có rất nhiều người về Việt Nam, mỗi người một lý do, mỗi người một mục đích, mỗi người một cách nhìn! Về để chăm sóc cha già mẹ yếu, thăm nuôi người thân, về để sửa sang phần mộ tổ tiên, về để giảng dạy cho sinh viện, để nhìn lại quê hương, những điều ấy là chính đáng. Về để cứu trợ nạn dân của các thiên tai hay giúp đỡ đồng bào nghèo túng mà không vì danh vì lợi, cũng là việc tốt. Về để ăn chơi, để du lịch rẻ tiền, để cầu danh lợi, để xin vài tấm bằng khen, thì không nên.

Sau này, khi trong nước thay đổi thật sự, các con có thể đưa các cháu về thăm quê hương. Bố mẹ biết trước rằng các cháu sẽ không xúc động lắm đâu vì con người ta phải có kỷ niệm, phải có gắn bó thì mới xúc động được. Các con hãy cố hướng dẫn các cháu yêu đất nước, dân tộc và đồng bào Việt Nam, đừng để cho các cháu chỉ là những khách du lịch bình thường. Còn việc các con hay các cháu sẽ về làm ăn sinh sống tại Việt Nam thì bố mẹ nghĩ rằng điều đó khó xảy ra.

Hiện tình đất nước. Nếu có ai nói rằng Việt Nam nay đã tiến bộ (đa số người dân nay đã được ăn cơm thay vì ăn cơm trộn bo bo, có nhiều xe gắn máy và xe hơi thay cho xe đạp...; chẳng lẽ sau 30 năm im tiếng súng mà không có tiến bộ!) thì đó là một vài tiến bộ so với chính Việt Nam chứ nếu đem so sánh Việt Nam với các nước láng giềng thì đáng xấu hổ về nhiều mặt (như Cao Miên mà cũng còn có đảng đối lập). Muốn biết sự thật ở Việt Nam đằng sau những "binh đinh" cao ngất, những "ô-tô con" bóng loáng, những khách sạn năm sao, những sân "gôn" tân kỳ, thì phải theo rõi tin tức trong nước để thấy sự băng hoại trầm trọng về nhiều phương diện (nhất là về giáo dục), sự hiện diện của Tư bản đỏ, của quốc nạn tham nhũng, sự phung phí tài nguyên quốc gia, và phải đích thân đến thăm đồng bào nơi các vùng xa xôi nghèo khó. Chúng ta cần biết sự thật, không tô hồng mà cũng chẳng bôi đen!

Để tạm hiểu hiện trạng nước ta, các con tìm đọc bài nói của tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện Nghiên Cứu Quản lý Trung ương Hà Nội. Ông ta thuyết trình các sự thật cho các cán bộ cao cấp nhất của cộng sản Việt nam nghe. Bài nói này gần đây mới được tiết lộ ra ngoài. Bài giới thiệu viết: "Mọi người phải chú ý tới những con số cho thấy sự thật phũ phàng về nền kinh tế Việt Nam. Ông Doanh cho thấy cả tình trạng yếu kém của nền kinh tế lẫn tính chất phi dân chủ của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Từ đó ông dám nói thẳng cả cơ cấu chính trị cũng hỏng, phải thay đổi" (Ngô Nhân Dụng, nhật báo Người Việt, ngày 30-3-2005).

Ông Doanh kể lại rằng một chuyên viên tài chánh quốc tế đã đặt câu hỏi với ông như sau: "Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Chúng mày cứ đề ra mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng đi ăn xin nữa, có được không?" Thật là mối nhục chung cho cả nước! Nước ta đâu có hèn kém, dân ta đâu có lười biếng. Do đâu mà khổ nhục đến thế? Do độc tài đảng trị !

Thái Độ Chính Trị. Không những đồng bào hải ngoại đòi bãi bỏ độc đảng, thiết lập đa nguyên đa đảng, mà ngay cả những đảng viên cùng những phần tử tiến bộ ở trong nước cũng đòi như vậy. Cần hiểu rằng: chống độc tài, độc đảng, chống tham nhũng, chống đường lối sai lầm của cộng sản, không phải là chống nước Việt Nam mà là mong cho nước Việt Nam khá hơn, tiến hơn.

Nếu ai có nghĩ rằng cộng sản ngày nay đã "đổi mới" một chút thì nên biết rằng do sự xụp đổ của cộng sản Đông Âu, do sự đấu tranh ở trong và ngoài nước, do áp lực quốc tế và do nguy cơ tan rã của đảng nên cộng sản Việt Nam bắt buộc phải đổi mới về kinh tế (mà không đổi mới về chính trị)! Tuy mình không làm chính trị nhưng mình phải có thái độ chính trị, mình phải tiếp tục ủng hộ các cuộc đấu tranh sao cho đất nước có dân chủ Tự Do thật sự.

Tổng bí thư của cộng sản Việt Nam đã nhận rằng cộng sản Việt Nam có "phạm nhiều sai lầm". Chúng ta hỏi: sai lầm sao không sửa, sao không công khai xin lỗi các quốc dân, sao không trả lại ruộng đất nhà cửa cho các tư nhân và các giáo hội, sao không bồi thường cho các nạn nhân của vụ cải cách ruộng đất, của vụ Nhân Văn Giai Phẩm, của các đợt cải tạo công thương nghiệp, sao không bồi thường và xin lỗi những người bị bắt đi tù "học tập cải tạo"? Sự thực thì ai ai cũng muốn xóa bỏ hận thù, nhưng cộng sản Việt Nam cần phải hành động cụ thể cho nhân dân trông thấy. Nói "xoá bỏ hận thù, khép lại quá khứ, nhìn về tương lai" xuông thôi thì ích gì? Nói "đại đoàn kết" mà lại do đảng lãnh đạo (điều 4 hiến pháp Cộng sản) thì ai mà tin được!

Chuyện trong gia đình. Bây giờ, nói chuyện trong nhà. Bố mẹ thuộc thế hệ trước, nuôi nấng các con theo quan niệm thời bố mẹ, cũng như ông bà nuôi nấng bố mẹ thời ông bà. Một vài lúc nào đó, các con có thể nghĩ rằng bố mẹ đã quá khắc khe với các con. Thời buổi ấy là như vậy. Mong các con quên đi những gì mà bố mẹ đã vô tình làm các con buồn lòng. Hãy nhớ rằng bố mẹ không đua đòi ăn chơi, không chi tiêu hoang phí, lúc nào cũng giữ đời sống mực thước, và bố mẹ đã cố gắng làm việc và dành dụm để các con được sống đầy đủ, được học hành cẩn thận, dưới mái ấm của gia đình.

Vì tài sản bố mẹ đã bị CS cướp hết rồi nên khi sang tới đất mới này, đời sống của chúng ta khá khó khăn. Bố mẹ đã nhận làm những công việc thật mệt nhọc. Các con đã chịu khó đi làm vất vả trong các dịp hè, và đã cố gắng học hành chăm chỉ, đến nay thì "đâu vào đấy" cả. Các con không bao giờ được tự mãn, nghĩ rằng mình tài, mình giỏi. Cái tài, cái giỏi nếu có chỉ là một phần thôi, còn các phần khác là nhờ các thuận duyên, nhờ âm đức của tổ tiên và của chính mình, từ các kiếp trước và kiếp này. Các con phải luôn luôn sống đạo đức để bồi đắp cho cái nghiệp lành của mình, hệt như người dùng xe hơi phải lo "sạc điện" cho cái bình ắc-quy vậy. Gieo nhân lành thì sẽ hái quả lành. Luật nhân quả là một luật của trời đất, không sai được !

Trong gia đình riêng của các con, bố mẹ khuyên: vợ chồng phải cư xử với nhau trong sự tương kính, phải nhường nhịn lẫn nhau. Không thể tránh được vài đụng chạm đâu, hãy khéo léo và bình tĩnh mà giải quyết mọi việc. Nóng giận là hỏng.

Còn đối với con phải thương yêu nhưng không được nuông chiều. Cần phải kiểm soát bạn bè của các cháu và phải liên lạc với cha mẹ của bạn bè các cháu để tìm hiểu cho chắc chắn: hư hỏng vì bạn bè trong xã hội này là một sự kiện rất phổ biến ! Tivi, game, chat... phải hạn chế, còn thể dục thể thao thì nên khuyến khích. Bản thân các con phải lo xếp thì giờ tập thể dục, sống một cuộc sống thăng bằng. Hãy rút kinh nghiệm của bố: lúc trẻ, bố miệt mài làm việc nhiều quá nên nay về già, bị cơ thể "hỏi tội," đau lên đau xuống hoài.

Trong đời sống hàng ngày, phải luôn tiết kiệm và bảo vệ môi trường sinh hoạt vì tài nguyên thế giới chỉ có hạn, chúng ta cần nghĩ đến thế hệ mai sau. Dùng thứ gì cũng không được phí phạm, kể từ tờ giấy lau tay! Thỉnh thoảng, hãy cho các cháu coi hình chụp hay phim ảnh những trẻ em đói rét và cho các cháu biết rằng trên trái đất này còn rất nhiều người cực khổ.

Khi anh chị em cư xử với nhau, phải nhớ kỹ mấy câu "anh em như thể tay chân", "chị ngã em nâng", "một giọt máu đào hơn ao nước lã", "một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ". Bí quyết áp dụng chữ "xả.." Hãy bỏ qua hết mọi khuyết điểm của anh chị em mình. Các con mà chia rẽ thì bố mẹ sẽ đau khổ vô cùng.

Trong xã hội này, vì bận rộn quá, người ta chỉ đủ thời giờ lo cho gia đình riêng nên có khi lơ là với đại gia đình, dù thâm tâm không muốn như vậy. Các con hãy đề cao tình đoàn kết trong đại gia đình. Với các con gái và con dâu, bố mẹ nhắc: các con hãy giúp chồng giữ liên lạc tốt đẹp với anh chị em và họ hàng nội ngoại.

Tiếng Việt tại nước ngoài. Có vài điều đáng bàn. Các cháu là công dân nước này, với mọi bổn phận và quyền lợi của một công dân. Cuộc sống thực tế trong trường học cũng như ngoài xã hội bắt buộc các cháu phải nói Anh hay Pháp ngữ, và phải nói và viết thật giỏi, nếu không thì sẽ khó hoà đồng, bị lạc lõng và bị thua kém! Đi học, các cháu nói tiếng Anh hay tiếng Pháp (hay cả hai). Về nhà, các cháu thường nói với nhau bằng hai thứ tiếng ấy.. Tuy các con thường bắt các cháu nói tiếng Việt trong gia đình, bố mẹ vẫn cảm thấy tiếng Việt các cháu hãy còn kém. Nói tiếng Việt đã yếu, viết tiếng Việt còn tệ hơn, vì các cháu có tập đọc và viết chữ Việt thường xuyên đâu! Một vài giờ tiếng Việt vào cuối tuần ở trung tâm Việt ngữ với các cô giáo rất tận tâm chưa đủ các cháu khá hơn. Chỉ riêng việc học cách xưng hô theo tiếng Việt đã là khó nhất thế giới rồi!

Đồng bào ta ở hải ngoại luôn luôn nhắc đến việc bảo tồn tiếng Việt. Bố mẹ cũng nghĩ như vậy. Nhưng xét cho cùng, một đứa trẻ không thể kể là hai đứa trẻ (Việt & Canada hay Việt & Mỹ) nhập lại làm một được! Nếu ép quá thì sức của chúng chịu không nổi. Còn thể thao, còn âm nhạc nữa chứ. Vậy ta phải khéo chọn đúng liều lượng, đừng biến đứa trẻ thành "cái máy học"! Các cháu sẽ phải vươn lên ở đất nước này. Các con cần phải chuẩn bị sao cho chúng sống thích hợp với môi trường và sống thoải mái tại đây.

Xã Hội Âu Mỹ. Xã hội này là một xã hội tiêu thụ quá mức. Các con không nên để mình bị lôi cuốn dễ dàng vào các trò tiếp thị khéo léo nhằm xúi giục chúng ta mua hàng thả dàn. Chúng ta dễ bị ảnh hưởng của quảng cáo, ngay cả trong khi chúng ta đang bị các nhà băng và các hãng bảo hiểm bao vây, chi phối. Các con cần "thiểu dục, tri túc" tức là "ít ham, biết đủ", chỉ mua thứ cần thiết, không có không được mà thôi! Nhà, xe cũng vậy: an toàn và đủ dùng cho sinh hoạt hàng ngày là được rồi. Tránh nợ nhiều. Thảnh thơi thì hơn! Bố mẹ không nói lý thuyết xuông đâu, xã hội bây giờ xuống dốc về đạo đức, về tâm linh, chỉ vì hướng ngoại nhiều quá, lo về vật chất nhiều quá, ích kỷ quá, chẳng tìm thấy hạnh phúc ở đâu cả! Bớt ích kỷ, hãy nghĩ đến đồng loại, phải biết chia sẻ với đồng loại.

Riêng Phần Bố Mẹ. Già thì bệnh, bệnh rồi sẽ . . . ra đi! Quy luật tự nhiên là vậy. Đến ngày ấy, các con hãy lo tổ chức tang lễ cho bố mẹ được trang nghiêm nhưng đơn giản. Nếu chôn cất mẹ ở một nghĩa trang thì sau này, khi phải đi làm ăn nơi khác, các con sẽ thắc mắc vì ở xa không trông nom được phần mộ. Bố mẹ chọn cách hỏa táng, thuận tiện hơn, mà khỏi phải chiếm đất, vì đất rất cần thiết cho các thế hệ sau. Có thể đem rải tro của bố mẹ lên núi hay xuống sông, xuống biển. Cát bụi trở về cát bụi, có gì đâu! Thay vì đãi đằng ăn uống, các con hãy dùng tiền bạc đóng góp vào việc có ích lợi chung. Đừng e thẹn thiên hạ chê cười; mọi người sẽ hiểu và tán thành. Có một chi tiết như thế này, nếu chẳng may, bố mẹ ngã bệnh và phải chịu một "đời sống thực vật," các con hãy can đảm chọn giải pháp rút ống trợ sinh; kéo dài làm chi, chỉ gây khổ cho mọi người!

Bàn thờ gia đình. Trong hoàn cảnh ngày nay, khó lập bàn thờ ngay trong nhà. Nhớ đến tổ tiên, ông bà nội ngoại, cha mẹ, các con có thể bày nơi trang trọng nhất ở trong nhà để tỏ lòng tôn kính và để tự hứa không bao giờ tổn hại gia phong. Đến ngày giỗ, xếp một bàn nhỏ, bày một chén nước trong, vài bông hoa thơm, mấy trái cây tươi và một nén nhang (nhang điện cũng được) là đủ, vì lòng thành các con, các cháu mới là quý. Bố mẹ nói "các cháu" là có ý nhắc các con cần cho các cháu biết ý nghĩa ngày giỗ của dân tộc Việt Nam. Vào những ngày giỗ, các con hãy nghĩ thiện, làm lành nhiều hơn các ngày khác, hãy chia sẻ chút đỉnh cho người nghèo, hãy gom quần áo dư để dành cho các hội từ thiện. Nếu anh chị em nhân ngày giỗ mà về họp mặt một nơi thì thật là tốt vì tình thân gia đình sẽ nhờ đó mà tăng lên.

Mong các con đọc kỹ thư này, suy nghĩ đến nơi và cố gắng thực hành những lời dặn.

Hôn các con của bố mẹ!

Bố mẹ cám ơn các con đã luôn luôn tận tâm săn sóc bố mẹ từ bao nhiêu năm nay và đã lo toan đầy đủ để cho bố mẹ được thoải mái, vui hưởng tuổi già.

Hôn các con thật lâu!
Hôn các cháu thật lâu!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

50 cách để biết mình là người gốc Mít.
(áp dụng cho thế hệ 1.0 và 1..5)
1. Là học trò giỏi điểm cao trong lớp.
2. Môn học chính là: Y Khoa, Kỹ Thuật hay Kế Toán.
3. Có nhiều bằng Ðại Học, hay ít nhất một bằng.
4. Nếu học nhạc sẽ học piano.
5. Bàn ăn ở nhà phủ bằng tấm nhựa.
6. Bếp ở nhà bọc bằng giấy nhôm.
7. Bếp núc lúc nào cũng dính mỡ.
8. Ðánh trứng bằng đũa.
9. Ðể giầy ngoài cửa.
10. Máy rửa chén dùng để đựng bát đĩa.
11. Nhà lúc nào cũng có bình thuỷ trữ nước nóng.
12. Ðun nước sôi để nguội để dành uống.
13. Ăn trong bếp để tránh làm dơ bàn ăn.
14. Nấu ăn không đo, mà lường bằng mắt.
15. Ðể dành túi đựng grocery để bỏ rác.
16. Nấu cơm bằng nồi điện.
17. Xào bằng chảo.
18. Dành nhau trả tiền trong tiệm ăn.
19. Vo gạo ít nhất là hai lần trước khi nấu cơm.
20. Húp canh sùm sụp.
21. Không sấy khô áo quần trong máy mà phơi.
22. Ủi lấy quần áo của mình.
23. Thích cháo tiều mìn tản (hột vịt vạn niên).
24. Nấu lấy cơm ăn dù ghét vào bếp.
25. Dùng credit card nhưng cuối tháng thanh toán hết.
26. Cất hết tiền vào một trương mục tiết kiệm.
27. Mua thiệp giáng sinh sau mùa để được bớt nửa tiền, dành sài cho năm tới.
28. Rửa bát bằng tay vẫn chỉ dùng nước lạnh.
29. Cố ăn để khỏi vứt đồ thừa.
30. Dùng hộp nhựa margarine để trữ đồ ăn trong tủ lạnh.
31. Mua giấy đi cầu thật nhiều lúc sale để dành.
32. Sưu tập lọ shampoo nhỏ của khách sạn khi đi du lịch.
33. Mang theo đồ ăn lên xe mặc dù chỉ lái một chặng ngắn..
34. Bao nylon ở siêu thị bọc đồ ăn để dành trong tủ lạnh .
35. Dùng bịch đường lấy Second Cup khi uống cà phê.
36. Nhả xương ra bàn trong tiệm ăn ở phố Tầu.
37. Ông Bố nghĩ mình lúc nào cũng có thể sửa bất cứ cái gì hư trong nhà.
38. Bà Mẹ lái xe Mercedes đi kiếm đồ sale.
39. Nhiệt độ trong nhà lạnh mùa lạnh, nóng mùa nóng.
40. Tranh nhau hát Karaoke.
41. Mở sách directory ra tìm số phone, chứ không chịu tốn 50 xu quay số 411.
42. Ăn tôm cả vỏ.
43. Chỉ gọi điện thoại viễn liên bằng cách rẻ nhất và giờ rẻ nhất.
44. Chỉ phone bố mẹ khi cần thiết chứ không phone để hỏi thăm sơ.
45. Chỉ thích lái xe Ðức hoặc xe Nhật.
46. Nhịn cho thật đói trước khi đi ăn buffet.
47. Ðã từng bị vào hội mua CD.
48. Không bao giờ chịu bàn về đời sống riêng tư của mình với cha mẹ.
49. Không dùng khăn lau mặt và khăn tắm mầu trắng.
50. Và cuối cùng là: Bạn sẽ copy 50 điều này để mang cho những người bạn "Á châu" khác cùng xem.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Thẻ tín dụng ít sử dụng sẽ bị phạt lệ phí
(Bloomberg News) - Các công ty phát hành thẻ tín dụng vốn đang phải đối phó với tình trạng khách hàng trả trễ thật nghiêm trọng kể từ Tháng Tư, đang khởi động lại việc phạt vạ lệ phí đối với những thẻ nào ít hoặc không hề được đem ra dùng với hy vọng vớt vát lại mức lợi nhuận ngày càng sút kém của họ, theo Moody's Investors Service.

Fifth Third, có căn cứ gốc ở Cincinnati, bắt đầu tính thêm lệ phí từ hồi Tháng Sáu như là một phần của biện pháp bù đắp lại những tốn phí do việc điều hành.

Linda Sherry, giám đốc của national priorities with Consumer Action ở Washington, người hướng dẫn cuộc thăm dò thường niên về lệ phí của thẻ tín dụng, nói rằng việc phạt vạ đối với thẻ tín dụng không được sử dụng đã từng xảy ra trước đây. Bà cho biết thêm, tiền phạt này sẽ được đình lại nếu thỉnh thoảng đem thẻ ra dùng.

Nhiều khách hàng vì muốn thanh toán bớt nợ nần, trả hết tiền nợ thẻ tín dụng rồi đem thẻ cất, không dùng đến nữa. Tổng số nợ trên các thẻ tín dụng của người tiêu dùng tính đến ngày 18 Tháng Mười Một là $842.6, sụt 1.7% so với năm trước.

Fifth Third là công ty cung cấp thẻ tín dụng và thẻ rút tiền lớn hàng thứ 16 ở Mỹ. Các công ty khác cũng đang thử nghiệm tính lệ phí trên khách hàng nào dùng thẻ dưới một mức nào đó.

Theo thư gửi thân chủ dùng thẻ của Citigroup hồi Tháng Mười Một, tiền lời sẽ thay đổi tùy theo thẻ có được dùng thường xuyên không. Khách hàng được bồi hoàn 10% từ

tổng số tiền lời mỗi tháng nếu họ chi tiêu vượt một số tiền định sẵn. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào điểm tín dụng của thân chủ đối với ngân hàng. Họ cũng được khuyến khích chuyển tiền nợ từ các thẻ khác qua để hưởng tiền lời thấp hơn.

Bank of America đang nhắm đến việc tăng lệ phí hằng năm từ $29 đến $99, nhưng đây cũng chỉ mới trong vòng thử nghiệm chứ chưa áp dụng chính thức.

Bank of America, Capital One và Discover chưa tính tiền lệ phí nếu thẻ không được dùng đến.

Trả nợ thẻ tín dụng trễ hơn 30 ngày tối thiểu, được xem như là dấu hiệu của sự vỡ nợ về sau, từ 5.97% hồi Tháng Chín, tăng thành 6.12% vào Tháng Mười, mức tăng cao nhất kể từ Tháng Tư.

Bill Hardekopf, nhà xuất bản của LowCards.com, một trang mạng trên đó người ta có thể so sánh các điều lệ đưa ra của hơn 1,000 thẻ tín dụng ở Hoa Kỳ, nói rằng, lệ phí đánh vào những thẻ ít hoặc không xài đến sẽ nhanh chóng được các ngân hàng khác theo chân, sau khi đã thăm dò phản ứng của khách hàng.

Lệ phí gia tăng kể từ khi Tổng Thống Obama ký ban hành đạo luật về trách nhiệm phải giải thích của các công ty cung cấp thẻ tín dụng (Credit Card Accountability, Responsibility and Disclosure Act) hồi 22 Tháng Năm. Ðạo luật này giới hạn tiền lời và những điều lệ khác dành cho thẻ tín dụng. (TP)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thế là sông cạn, thế là bể dâu

Nguyễn Ðạt Thịnh



Tờ báo quốc nội Tintuc online, ngày thứ Hai mùng 7 tháng Chạp 2009 phổ biến bài báo mang cái tựa êm như một câu thơ, tôi mượn cái tựa êm tai đó làm tên cho bài báo này, với ao ước cảnh sông cạn sẽ đưa đến diễn tiến biển - dâu như tác giả hàm ý.Bài báo nguyên thủy của tờ Tin Tức online không mang tính chất một bản tin, vì sông Hồng cạn nước, không phải là việc mới đột ngột xẩy ra, mà là hiện tượng từ từ diễn tiến, kéo dài từ nhiều tháng nay; cuối bài tờ Tin Tức online ghi “theo Võ Thị Hảo”.

Có thể đây là một đoản văn của nữ sĩ Võ Thị Hảo.
Võ thị Hảo là một nhà văn sinh ngày 13 tháng Tư 1956 tại Nghệ An; cô tốt nghiệp Văn Khoa năm 21, viết nhiều sách, cộng tác với nhiều tờ báo tại Thành Hồ. Tôi để ý đến cái tên hai vế của bài báo. Vế thứ nhất “thế là sông cạn”, là một phần của từ ngữ “sông cạn, đá mòn” mô tả hai việc khó xẩy ra, được những người yêu nhau dùng để mô tả tính bền chặt mối tình của họ, “dù cho sông cạn đá mòn/tình anh yêu mợ vẫn còn đắm say.”

Hai chữ “bể dâu” trong vế sau, ngầm tiên đoán một biến chuyển lón cỡ cuộc đổi đời của người Việt năm 1975.

Võ thị Hảo viết, “Chuyện hy hữu trăm năm bây giờ đã thấy. Người dân Hà Nội đi bộ qua đáy sông Hồng. Và người ta trồng rau, đậu, ngô, lạc, và có thể trồng cả dâu (mang cái ý biển cả > nương dâu) nếu muốn; trồng ngay ở đáy sông, nơi mà hàng ngàn năm nay là nơi cư ngụ bình yên của Long vương, chỉ một lần bay lên khỏi mặt nước để tạo cái tên thành “Thăng Long” cho Hà Nội ngày xưa.

Như thế là Sông Hồng - con sông Cái - con sông Mẹ - nay đã trơ đáy.

Con sông Mẹ phì nhiêu, hồng hào, bầu sữa tưởng không bao giờ cạn nuôi dưỡng cho cả vùng đồng bằng Bắc Việt rộng lớn, bây giờ trở nên cạn kiệt, thoi thóp quằn quại mà di chuyển, đứt đoạn, nằm phơi mình nứt nẻ trong thương tích lở lói.

Đáy sông nhiều nơi là nghĩa địa của những con thuyền mắc cạn; mắc cạn cả xóm chài, trước vốn đã nghèo nay càng xơ xác. Người chài lưới ngẩn ngơ đi lại trên đất nứt nẻ, cạnh vũng nước ao tù đen ngay giữa đáy sông, ngậm ngùi đi nhặt rác sống qua ngày, ngắc ngoải đợi ngày sông Mẹ hồi sinh, lại hào phóng đem bầu sữa hồng hào tưới tắm cho dân sinh mong manh đang gặp nhiều cơn khốn quẫn.

Thế là sông cạn. Thế là bể dâu!

Nghe buồn như một tiếng rên rụng rời trong hoàng hôn.
Còn nhớ dịp này năm ngoái, Hà Nội ngập trong nước lụt, gây hãi hùng tới mức nhiều nhà báo đã mau mắn gọi đó là nạn “Đại hồng thuỷ”. Ai có thể ngờ trời chỉ mới mưa có vài ngày mà đã có một số người chết đuối ngay trên đường phố. Xe chết máy lũ lượt. Nước bẩn dềnh lên ngập ngụa rác rưởi và nước cống. Dân tình nháo nhác chạy lụt. Có những vùng dân cư bị nước cô lập, đành ngồi trên mái nhà chờ mì tôm cứu đói.

Ngập và hạn. Bão và lũ. Triều dâng ngập phố Sài Gòn ở phương Nam . Những dấu hiệu cực đoan, không thể đoán trước của khí hậu. Bãi bể nương dâu không còn là những câu nối mang tính ẩn dụ nữa, mà là sự thật đến, hiển hịên tức khắc, nhỡn tiền. Một sự cảnh báo cấp thiết cho con người. Tương tự lời cảnh báo của Thượng đế hoặc của ông Bụt cho loài người biết để mau chóng tìm một chiếc phao cứu sinh nào đó mà sống sót.

Nhìn những cảnh bể dâu đó, sông cạn đá mòn đó, ai cũng biết rằng không chỉ do thời tiết, do khí hậu, mà góp phần không nhỏ là do sự thiển cận và nhiều tác động khác của con người. Và nhìn, mà không thể không ớn lạnh nghĩ đến cái ngày đất trời nổi giận.

Cái ngày mà trái đất quyết định không chứa loài người này nữa. Không kham nổi cái lũ được nâng niu nuôi dưỡng từ mẹ Đất, nghiễm nhiên được nhặt nhạnh các sản vật từ đất để đói ăn khát uống. Thế mà đã quá tham lam, đã quá lạm dụng, đã làm tổn thương mình mẩy mẹ đất quá nhiều. Và cái lũ được gọi là người đó, vừa phá phách, vừa phỉ nhổ vào mẹ Đất, trong khi vẫn thường tự biết và tự nói rằng chính giống loài mình đã tệ mạt và đồi bại đến mức cần phải đập bỏ loài người này đi, cần có một ngày tận thế để làm lại một giống người khác tử tế hơn.

Và thế là loài người bị ám ảnh ngày tận thế.

Chưa ai thấy tận thế, nhưng luôn luôn ký ức ấn tượng nhất của loài người là ký ức về ngày tận thế và những bài kinh, những khấn nguyện cầu mong sống sót, mong được tha thứ.



Tác giả bài báo viết ở hải ngoại này cũng muốn viết lên một lời khấn nguyện cho Hà Nội không tận thế mà chỉ cho chế độ Hà Nội bị tận diệt.

Xin mượn thể thơ viết sấm mơ hồ của cụ Trạng Trình đời xưa để viết hai câu sấm mới:

Cờ hồng cắm đáy sông Hồng

Sông Hồng cạn nước, cờ hồng trôi đi.

Khấn nguyện cụ Trạng Thịnh cho sấm Trạng Trình cũng ứng nghiệm như sấm của cụ; mà dù không ứng nghiệm thì cứ rủa mãi cũng đủ làm quân độc ác Việt Cộng nhức đầu mà chết

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Xin Một Tràng Pháo Tay...

Image
Thiết nghĩ, dù thích hay không khán giả nên vỗ tay cho lịch sự. (Hình minh họa: bigwatermarina.com)

Quỳnh Giao
Nghệ sĩ chân chính thường lúng túng, đôi khi khó chịu, khi nghe người giới thiệu chương trình duyên dáng yêu cầu “xin quý khán giả cho một tràng pháo tay”... trước khi mình bước ra sân khấu. Khán giả phải có quyền thẩm định và diễn tả sự hài lòng. Nghệ sĩ không hề xin xỏ vì khi ấy đang tập trung vào tiết mục trình diễn của mình. Sau đó, có vỗ tay hay không, nhiều hay ít thì là chuyện khác.

Ðã từ lâu Quỳnh Giao muốn viết về cách vỗ tay của người thưởng ngoạn, không vì mình là người trình diễn nên muốn khán giả vỗ tay hoan hô, mà vì có nhiều cách vỗ tay lắm. Mỗi một loại nhạc có cách vỗ tay riêng, có phong cách riêng.

Ngày còn học trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn, mỗi năm được dự vài buổi trình hòa nhạc (concert) hiếm có. Họa hoằn mới có nghệ sĩ nổi tiếng người ngoại quốc ghé Việt Nam trình diễn trong khuôn khổ viện trợ văn hóa. Hãy tạp ghi về những kỷ niệm ấy trước, tiếng vỗ tay sau...

Năm mới vào trường nhạc, người viết lên mười được nghe cô Ngô Như Mai từ Pháp mới về đàn bài piano bản concerto số 21 của Mozart trong dịp kỷ niệm 200 năm Mozart với ban nhạc của trường do ông Giám Ðốc Nguyễn Phụng điều khiển. Hiếm hoi lắm. Lớn hơn một chút, người viết say mê nghe Renée Fung (người Trung Hoa) đàn violon một bản concerto của Beethoven với ban nhạc của trường do nhạc trưởng người Ðức Otto Sohlner điều khiển. Cô đàn hay mà còn đẹp nữa mới ác, làm các nam sinh viên của ta cứ ngẩn ngơ.

Cô Fung đến theo nhiệm vụ của Liên Hiệp Quốc là ở lại Việt Nam một năm để giảng cho lớp nhạc thính phòng (musique de chambre), dạy cho dàn nhạc nhỏ và cho nhạc sinh đàn song tấu, tam tấu, tứ tấu. Khi cô từ giã vì hết nhiệm kỳ, cả khối nhạc thủ Tây phương bỗng bị bệnh tương tư.

Nhạc trưởng Otto Sohlner thì ở lại lâu hơn vì tập cho dàn nhạc lớn của trường. Ông soạn hòa âm cho trường ca “Con Ðường Cái Quan” của Phạm Duy, được trình diễn lần đầu tại rạp Thống Nhất (Norodom) rồi lưu diễn Ðà Lạt một tuần. Chuyến đi bằng xe lửa từ Sài Gòn lên Ðà Lạt là một kỷ niệm đẹp và khó quên của Mai Hương và Quỳnh Giao. Lúc ấy, người mới 19, kẻ mới 14 tuổi. Nhạc trưởng Sohlner mê Việt nam, nên khi hết nhiệm kỳ ông ở lại, ra Huế dạy trường nhạc vừa mới mở tại đấy. Sau Tết Mậu Thân, không biết ông trôi dạt nơi nao, hay đã trở về cố quốc?

Năm 1965 có chương trình của dàn nhạc Ðỗ Thế Phiệt với phần trình tấu concerto cho Violin của Bach với bà Francis Buxton, một giáo sư bên Mỹ qua Việt Nam giảng dạy. Có giọng soprano của bà Robin người Pháp, vợ của ông Giám đốc Trung Tâm Văn Hóa Pháp với bài “Exultate Jubilate” của Mozart. Và hân hạnh làm sao, Quỳnh Giao và cô bạn học nhạc cùng thầy là Ðăng Thư được đàn mỗi đứa một hành âm (mouvement) bài Concerto en Ré của Bach! Hai đứa đều đã tốt nghiệp trường nhạc, lần đầu đàn concerto, là độc tấu với dàn nhạc giao hưởng, thật khác hẳn với đàn một mình.

Phép vỗ tay của khán giả trong chương trình nhạc cổ điển có nhiều qui cách mà chính các nhạc sinh cũng phải học.

Ðầu tiên là khán giả đợi hết bài mới vỗ tay, chứ không vỗ ngang chừng. Thí dụ như một concerto có ba hành âm, bình thường thì theo thứ tự: hành âm một có nhịp điệu nhanh (allegro), hành âm hai chậm (adagio) và hành âm cuối cùng rất nhanh (vivace). Ðôi khi có bài có đến bốn hành âm, như symphony số 41 của Mozart. Và cũng có bài mà hành âm một lại phá cách, không nhanh mà chậm (adagio), thí dụ như bản Symphony số 9 của Beethoven.

Khán giả phải đợi ban nhạc đàn hành âm cuối xong mới được vỗ tay, dù sau mỗi hành âm, dàn nhạc đều dừng lại chuẩn bị trình tấu hành âm kế tiếp. Những lúc ngừng lại như thế, ở dưới thì mình được ho cho đỡ ngứa cổ sau bao nhiêu phút dài ngồi im để thưởng thức. Nhưng chỉ ho thôi, chứ không vỗ tay!

Có một giai thoại kể rằng khi xưa danh ca Mirella Freni người Ý rất nổi tiếng, cùng thời với Maria Callas. Bà mẹ của Freni và bà mẹ của Luciano Pavarotti xưa kia là nhân công trong một hãng vấn thuốc lá và Mireilli Freni còn hát cho đến tuổi 70 mới giải nghệ, vào năm 2005.

Hai nữ danh ca này rất kỵ nhau. Một buổi trình diễn của Maria Callas ở New York có Mirella Freni ngồi dự ở dưới. Khi mọi người nín thở nghe Maria Callas hát một đoạn Aria trong vở kịch thì Mirella Freni vô tình hay hữu ý làm rơi chiếc vòng đeo tay, kêu cái “keng”, khiến cả rạp “ồ” lên. Maria Callas bị lạc lõng khi đang ngân nga!.. Nghệ thuật cách không điểm huyệt bằng âm thanh là vậy!

Nhưng thế mới biết không khí yên lặng trong rạp hát cần thiết đến chừng nào! Trang nghiêm như trong một nghi thức tôn giáo. Thượng đế là âm nhạc, danh ca chỉ là “thánh nữ” dâng lời tôn kính, theo đúng quy cách!

Khán giả nhạc cổ điển Tây phương thường vỗ tay làm nhiều lượt. Khi hài lòng về người trình diễn, họ vỗ tay nồng nhiệt và rất lâu, đôi khi xen lẫn tiếng hô “bravo”. Người trình diễn tức là người độc tấu (soloist) và nhạc trưởng (conductor) cùng cúi chào khán giả và cùng nhau bước vào hậu trường. Có khi người soloist là phụ nữ thì nhạc trưởng lịch sự đưa cánh tay dẫn người đẹp vào hậu trường. Nếu tiếng vỗ tay bên ngoài vẫn vang rền thì họ lại cùng bước ra sân khấu cúi chào lần nữa, và lại đi vào hậu trường. Tiếng vỗ tay mà chưa dứt, họ lại bước ra sân khâu lần thứ ba để chào cảm tạ khán giả...

Như vậy, thế nào là thành công ?

Câu trả lời của người nghệ sĩ là “hễ chỉ vỗ tay và chào hai lần là xoàng!” Vỗ tay ba lần mới là đạt. Ðó là hết phần một, trước “intermission” thôi, nếu là bài cuối thì tiếng vỗ tay đôi khi bốn lần mới dứt. Có lần Pavarotti và cả Domingo được vỗ tay đến 45 phút tại Vienne! Ðạt kỷ lục.

Ngày xưa, viết lại đây mà thấy nhớ Giáo Sư Ðỗ Thế Phiệt vô cùng. Ông dặn Ðăng Thư và Quỳnh Giao nhớ cúi đầu chào rồi bước vào hậu trường thật nhanh. Ðúng ra là chỉ đứng mấp mé sau cánh gà tí xíu rồi trở ra sân khấu ngay, kẻo khán giả ngưng vỗ tay và ra không kịp nữa! Dễ thương quá, và hai đứa được ra chào ba lần, cả thầy và trò đều sung sướng mãn nguyện.

Qua loại nhạc khác, như pop music hay country music, khán giả vỗ tay tùy ý. Có lúc mới nghe câu mở đầu đã vỗ tay ngay để bày tỏ sự thích thú. Khi trình diễn xong, nghệ sĩ cúi đầu chào, và đôi khi nói lời cám ơn. Khi nghe tiếng vỗ tay dứt thì nên đi vào ngay, đứng đợi thêm cũng không hay vì chỉ lẹt đẹt thêm vài tiếng lẻ loi mà thôi.

Một người làm ông “bầu” cho các show ca nhạc của ta tại Mỹ, đã có lần “chỉ mánh” cho nghệ sĩ trình diễn cách làm cho khán giả vỗ tay dài. Anh nói: “quí vị phải gợi tiếng vỗ tay bằng... cách chào! Phải giả bộ chào cúi rạp mình cho lâu. Không ai nỡ ngưng vỗ tay khi mình cúi chào cám ơn họ. Và nếu quý vị muốn... dài nữa thì quay lại đưa tay cám ơn nhạc sĩ, thiên hạ lại phải vỗ tay cho nhạc sĩ nữa. Vậy là người ta có cảm tưởng là mình được vỗ tay dài hơn hết!”

Người viết thì quê mùa và ngại ngần, không dùng nghệ thuật đó. Trái lại, đôi khi cứ đi vào dù tiếng vỗ tay chưa đứt, chỉ vì thói quen lúc học nhạc là khán giả vẫn vỗ tay dù nghệ sĩ trình tấu đã đi vào... Nhưng xem ra cách “cò mồi” này còn khá hơn là người trình diễn xin “một tràng pháo tay.” Ai phải xin điều đó mà không thấy... ngượng? Thiết nghĩ dù thích hay không khán giả nên vỗ tay cho lịch sự. Thấy hay thì vỗ to hơn và dài hơn thôi.

Trong những buổi trình diễn nhạc Rock, người đứng trên sân khấu là “thần tượng” của khán giả. Ở đây, vỗ tay là thường quá, phải đứng lên, nhảy dựng như người điên, đòi xé quần áo thần tượng, và đôi khi khích động quá đến ngất xỉu tại chỗ mới rõ là ái mộ. Các ông hoàng của loại nhạc này như Elvis Presley, hay Michael Jackson đều hưởng kiểu thưởng ngoạn đó, đêm về chính họ phải dùng thuốc để ngủ và sáng dậy phải dùng thuốc để tỉnh. Ðâm ra thành công nào cũng có cái giá của nó... Tự làm khổ mình cho người mua vui là cái nghiệp của nghệ sĩ chăng? Hay là vì tự mê?...

Post Reply