Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Ngọn Nến Lung Linh

Nguyên Nhung
1-

Tôi không nhớ được mùa Giáng Sinh năm ấy tôi bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chỉ độ lên mười. Có lẽ đó là một mùa Giáng Sinh khá buồn và ảm đạm vì các anh chị tôi đi làm, đi học xa không về được, ở nhà quạnh quẽ chỉ còn hai mẹ con. Thời thơ ấu, tôi thèm lắm những bóng đèn xanh đỏ chớp nháy trên cây Giáng Sinh, một hang đá bằng giấy quết mực đen với những tượng Thánh xinh xinh bằng đất nung. Nhưng mộng ước ấy xa vời lắm đối với một đứa trẻ mười tuổi quá bé bỏng, trong lúc mẹ tôi xoay sở lo cho các con cơm ăn áo mặc đã vất vả, thời buổi ấy quả là một gánh nặng nhọc nhằn, trên đôi vai bé nhỏ của người đàn bà góa bụa.

Tuy chỉ là một đưá trẻ nhưng ông Trời dường như đã cho tôi một tâm hồn khá nhạy cảm để âm thầm tìm niềm vui cho mình từ những nhỏ nhoi nhất. Bởi vậy, đêm Giáng Sinh năm ấy dù không có đèn sao nhấp nháy, những trái châu xanh đỏ, nhưng tôi đã biết dùng những chiếc kẹo đủ màu để treo lên nhánh cây dương xỉ nhặt được trong khu nhà thờ, khi người ta đến đó trang hoàng hang đá cho mùa Giáng Sinh. Duy nhất một ngọn nến trắng bập bùng, ánh sáng lung linh hắt lên tường bóng một cành cây và một bóng người. Ngọn nến trắng đêm ấy đã làm cho cành cây và cái bóng của đứa trẻ thơ như lớn hơn, in lên tường chập chờn một giấc mơ tuyệt vời ấm áp. Tôi không nhớ được hết cảm giác đó vì thời gian qua đi khá lâu, nhưng cảm nhận về ngọn nến trắng thời thơ ấu đã giúp tôi vượt qua nhiều nỗi buồn, mỗi khi lẻ loi, thất vọng, tôi vẫn cứ nhớ hoài ngọn nến trắng mùa Giáng Sinh.Tôi còn nhận được một món quà đặc biệt của bà hàng xóm, bạn của mẹ tôi, cho đến bây giờ dù thời gian qua đi mấy chục năm, tôi vẫn hình dung ra được hình dáng và mùi vị của nó: một củ khoai lang nướng.

Món quà Giáng Sinh nghèo nàn của bà hàng xóm quê mùa thật vừa bụng tôi lắm, dù rằng mẹ tôi có làm vài món ăn đặc biệt cho ngày Lễ. Tôi mơ màng nhìn ngọn nến lung linh soi lên cây Giáng Sinh của tôi, cứ gọi như vậy vì nó là niềm vui có thể làm được của một đứa trẻ con mười tuổi, củ khoai nướng gói trong mảnh lá chuối còn nóng hổi, mùi mật ngọt của khoai bốc lên thơm lừng, mùi rơm rạ hình như còn ủ trong lớp vỏ khoai cháy xém. Nụ cười trìu mến trên khuôn mặt hiền lành của bà hàng xóm, khi đưa cho tôi món quà Giáng Sinh nghèo nàn ấy. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ khuôn mặt quê mùa, chân thật của bà, củ khoai lang nướng đêm Giáng Sinh ngày thơ ấu đã theo tôi vào đời. Khi trưởng thành, những lúc bụng đói mắt cay, đời gặp lúc gian nan, buồn tủi, tôi cũng nhớ củ khoai nướng, nhớ mùi khoai lang nướng. Khi sung sướng hạnh phúc ở quê người, đời no đủ những cao lương mĩ vị, tôi cũng nhớ mùi vị củ khoai nướng. Phải chăng trong tôi vẫn vấn vương thứ TÌNH NGƯỜI nhỏ nhoi ấy, không thể mua được bằng tiền. . .

2-

Tôi yêu đóm lửa ngọn nến trắng từ hồi còn thơ ấu, chắc là ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm xưa cũng đi theo tôi đến những chặng đường còn lại của đời người. Có một câu chuyện tôi sắp kể ra đây, đó là câu chuyện của ông cụ Rôbéctô tôi có dịp gặp ở ngôi nhà nguyện. Mỗi ngày, sau Thánh Lễ buổi sáng, mọi người đã lục tục ra về, ngôi nhà nguyện đóng kín cửa như chìm trong yên lặng và bóng tối, chỉ còn lại duy nhất một ngọn nến trắng trên bàn thờ. Ánh nến hắt lên tường những chấm sáng lung linh, soi lên bức tượng Đức Mẹ bồng con bằng thạch cao trắng toát. Nến trắng và tượng trắng, tất cả chỉ là một màu trắng nhưng nghe trong thinh lặng chút bình an tràn ngập tâm hồn.

Tôi ngồi lại một lúc giữa những hàng ghế chỏng trơ không còn ai, nhìn chăm chăm lên ngọn nến. Tôi ở lại một mình chỉ vì thích đóm lửa nhỏ nhoi của ngọn nến, say sưa nhìn đóm lửa nhỏ lay lắt tỏa ánh sáng hắt hiu xuống chiếc khăn trải bàn cũng màu trắng. Trong tĩnh lặng của tâm hồn, tôi không cầu nguyện gì đâu, nhưng cảm giác bình yên khi nhìn ánh sáng của cây nến trắng đã rất đủ. Chắc hẳn trong mỗi đời người ai cũng có lúc thèm sự yên tĩnh của tâm hồn. À không, ở dãy ghế bên kia còn một ông già Mễ Tây Cơ, ông vẫn quỳ im lặng nhìn lên ngọn nến như tôi vậy, nhưng khác hơn là miệng ông mấp máy cầu nguyện. Mặt ông héo quắt với chòm râu bạc, đôi mắt đăm đăm nhìn lên ngon nến, nét mặt thành khẩn như đang cố bám lấy một niềm hy vọng nơi bức tượng Thánh trên bàn thờ.

Buổi sáng nay đi ngang công viên để đến nhà nguyện, tôi đã nhìn thấy mùa Đông trở về, một rừng lá vàng khô xôn xao đuổi nhau lăn xuống cuối dốc, trơ lại những nhánh cây khô, treo trên đó là những thân tầm gửi đang đong đưa theo gió sớm. Buổi sáng đầu mùa Đông mang theo chút giá buốt, khu công viên chỉ lác đác dăm người đi bộ, và những cây hoa dại có một sức chịu đựng dẻo dai, nở những bông hoa li ti trên bờ cỏ ven đường.

Khi ngọn nến tàn là lúc ấy tôi với ông già Mễ cũng ra khỏi ra nguyện. Ánh sáng leo lét của ngọn nến cháy bập bùng rồi gần như lả xuống trong lòng chiếc bình thủy tinh trong suốt, y như cái ngoẹo đầu cuối cùng của một người khi từ giã cõi đời. Ông già Mễ mỉm cười chào tôi trước sân nhà nguyện, ở đấy có một vườn hoa nhỏ và hai băng ghế dài đặt song song đối diện nhau. Có khi tôi cũng ngồi lại một chút để nhìn vẩn vơ lũ chim sẻ đang nhảy nhót trên sân tìm mồi, bỗng đồng loạt bay ào lên khi thấy có bóng người bước tới. Đôi khi tôi và ông Rôbéctô hay trao đổi vài câu chuyện nhỏ, cái miệng móm mém của ông phều phào kể cho tôi nghe những nỗi buồn nho nhỏ trong gia đình, ông hay đi nhà thờ để cầu nguyện cho đứa cháu đang đi lính ở phương xa.

Khi biết tôi ở lại một mình cũng chỉ vì thích ánh sáng lung linh của ngọn nến trắng, và câu chuyện mùa Giáng Sinh thời thơ ấu, ông RôBécTô cảm động lắm. Đôi mắt ông hấp háy, nhòa ướt qua giọng nói khàn khàn ẩm đục. Mùa Giáng Sinh đến, trời bắt đầu lạnh hơn, tôi có ý nghĩ chuẩn bị một món quà cho ông bạn già vong niên trước ngày Lễ Giáng Sinh. Có gì đâu, tôi lại nhớ đến củ khoai lang nướng bà hàng xóm tặng tôi đêm Giáng Sinh, bây giờ nghe ông Rôbéctô thích vài món ăn Việt Nam, tôi nghĩ đến chuyện tặng ông một hộp cơm rang và chục cái chả giò tôm thịt. Chẳng có gì hơn bằng một món quà đáp ứng đúng sự ưa thích của người nhận, ông Rôbéctô cảm động lắm khi nhận món quà của tôi buổi sáng trong muà Lễ Giáng Sinh, tôi thấy đôi mắt ông nhòa lệ khi nắm lấy tay tôi nói phều phào những lời cảm ơn.

Tôi không nghĩ đến việc cho đi để nhận lại một món quà thật dễ thương của ông Rôbéctô vài hôm sau đó. Khi tan buổi lễ, ông gặp tôi trước sân nhà nguyện, với một gói giấy hoa thật đẹp, thì ra ông già đã nhờ cô con gái mua hộ cho tôi một món quà thật xinh: đó là chiếc áo len màu hồng nhạt. Vẫn cái giọng Mễ Tây Cơ lùng bùng những thanh âm nằng nặng, ông nói rằng món quà này thật là thích hợp cho tôi, người phụ nữ Á Đông có dáng dấp nhỏ nhắn và nước da trắng trẻo. Quả thật chiếc áo len màu hồng khi mặc vào đã làm tôi như trẻ lại hằng chục tuổi. Món quà của ông Rôbéctô đã thắp lại trong tôi ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm nào, với củ khoai lang nướng khi tôi là cô bé lên mười thuở ấy. . .

Ông Rôbéctô đã qua đời vài năm nay, ông chết vì bịnh ung thư phổi. Những năm cuối của cuộc đời, ông không đến được nhà nguyện mỗi ngày, nhưng trước khi chết ông vẫn mong được gặp những khuôn mặt yêu thương của những người Việt ông quen biết. Rất tiếc là tôi không thường gặp ông sau này, nhưng tôi biết ông ra đi rất êm ả. Người ta kể rằng trong những giây phút cuối cùng của đời người, ông chỉ xin đốt lên cho mình một ngọn nến. . .

3-

Những ngày cuối năm với những cơn mưa mùa Đông làm ẩm ướt không gian, đất trời như nặng trĩu một nỗi sầu da diết. Trong căn nhà vắng lặng, bóng chiều hình như đến vội với những giọt mưa rả rích ngoài hiên. Trời rét lắm, gió và rét khiến những chú chim sẻ nhiều chuyện không ríu rít như mọi ngày, chúng rủ nhau vào trốn gió sau bụi mía, lả mình vào hàng rào đang rung rung những chiếc lá úa. Những con chim sẻ mùa Đông trông thật dễ thương, xù lông ra tròn quay như một cụm len màu nâu xám biết nhảy nhót.

Góc vườn nơi cửa sổ nhà bếp rất khuất gió, bụi mía sắp tàn như một mái nhà tranh trống trước hở sau, che tạm cho một gia đình nghèo khổ. Sau cơn mưa, trời chuyển qua những đợt gió lạnh buốt xương, tôi đứng từ trong nhà nhìn ra khung cửa kính nhà bếp, tò mò nhìn mấy chú chim sẻ núp dưới vòm lá mía. Cũng đỡ buồn khi ngắm nhìn bầy chim sẻ mùa Đông, y như những đứa trẻ bụi đời trên vỉa hè thành phố một đêm mưa nào đó, rúc vào nhau trong tấm chiếu trải bên lề đường, cuộn tròn lại với nhau đưới tấm chăn bẩn . Mấy con chim sẻ cũng khôn ngoan rủ nhau tụ vào một chỗ, có con đang co ro ngủ gật, có con mắt láo liên, thỉnh thoảng lại lách chách bay lên tàu lá như vừa tìm được một con mồi đỡ lòng cho ngày Đông buốt giá. Nhu cầu ăn để sống vẫn bắt nó phải tìm mồi dù đôi cánh lảo đảo trong gió rét như muốn rơi xuống thảm cỏ, trông thật tội nghiệp.

Đứng trong nhà nhìn qua lớp cửa kính trong suốt, ở góc phòng chớp tắt những chiếc đèn nhấp nháy trên cây Giáng Sinh, tôi thấy con chim bé bỏng đang vỗ vỗ đôi cánh nhỏ, rồi gõ cái mỏ nhỏ xíu lên mặt kính, cũng tò mò nhìn tôi, làm như nó cũng thèm thuồng được vào trú ẩn trong căn nhà có ánh đèn ấm áp. Tôi chia xẻ được gì đây? Người và chim là hai thế giới khác hẳn nhau, và có lẽ dù được cho ăn no, chú chim sẻ vẫn không thích thú gì khi bị con người giam chú vào cái lồng chim chật hẹp. Những chú chim sẻ mùa Đông như những búp len xậm màu, xếp hàng xúm xít vào nhau để trốn gió sau rặng mía ven bờ rào, lại dẫn đưa tôi đến một khía cạnh khác của con người, mà ở câu chuyện này tôi vẫn thấy cái đẹp nhỏ nhoi của Tình Người ấm áp biết bao nhiêu. Đó là câu chuyện của hai người vô gia cư, hay là chuyện "lá rách đùm lá nát" đã làm thức dậy chút bâng khuâng trong tâm hồn những quả tim chai đá.

4-

Một buổi tối mùa Đông trước ngày Lễ Giáng Sinh, trời mưa phùn, rét như cắt ruột. Đường phố vắng xe qua lại, phía xa là những ánh đèn màu rực rỡ chớp tắt quấn trên những thân cây ven đường. Suốt một tuần sắp lễ Giáng Sinh, thời tiết bỗng dưng âm ỉ rét, những đợt gió lạnh từ hướng Bắc thổi về, người có việc ra đường co ro trong những chiếc áo ấm dày cộm và khăn phu la quấn quanh cổ. Hình như người ta ngại đi ra đường vào một tối trời mưa như vậy, chỉ còn một vài cửa hàng bán "fast food" và cà phê là còn mở cửa, có dăm người khách ngồi im lặng trầm ngâm trước khay thức ăn ăn uống uể oải. Khách đến tiệm vào giờ này có lẽ là những kẻ xa nhà, thiếu một bếp lửa hồng để sưởi ấm cõi lòng cô quạnh, ngày giáp Lễ thường sau giờ làm việc, ai nấy hối hả về nhà chuẩn bị đón mừng lễ Giáng Sinh.

Người phụ nữ bán hàng đang dọn dẹp mấy thứ lặt vặt, mong đến giờ đóng cửa để đi về, vì chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là đến nửa đêm. Bà nghĩ đến hai đứa con đi học xa vừa về nhà với mẹ mấy hôm nay, đã lâu lắm người mẹ chỉ mong được gặp các con trong những dịp Lễ Tạ Ơn hay mùa Giáng Sinh, và bà đã chuẩn bị những món ăn truyền thống mùa Giáng Sinh cho các con từ mấy ngày hôm trước. Gia cảnh đơn chiếc vì năm ngoái người chồng đã qua đời sau một tai nạn, bà vẫn ở một mình trong căn chung cư cũ kỹ, những ngày gió mưa căn nhà nhỏ như càng ẩm ướt, lạnh lẽo.

Ngay khi ấy, cánh cửa tiệm bật mở đem theo một làn gió buốt lạnh vào trong tiệm ăn, hai người đàn ông chùm đụp trong những tấm chăn bẩn bước vào tiệm. Người phụ nữ nghĩ đó là hai người khách cuối cùng, vì bà cũng nhớ ra đó là hai người đàn ông nghèo khổ, không có một mái nhà, chỗ trú của họ là cái gầm cầu ngoài xa lộ đi về hướng Galveston. Thỉnh thoảng họ có dắt nhau đến đây, trông họ có vẻ là hai anh em, người đàn ông lớn tuổi trông vẻ mặt rất ngây ngô như một đứa trẻ chậm phát triển.

Trong hai người đàn ông ấy, ông già gương mặt đờ đẫn, ngờ nghệch nhìn thế giới xung quanh ông như nhìn một thế giới khác, thời gian đã cày lên khuôn mặt ông những nếp nhăn chằng chịt, bộ râu hung hung nay đã xám ngoét, bết vào nhau như một cụm rơm bẩn. Người đàn ông kia trẻ hơn, có đôi mắt màu xanh lơ trông hiền lành như màu biển, co ro trong chiếc áo rét bằng dạ xám bẩn và cũ. Họ rét lắm, chằng đụp lên người những quần áo và chăn bẩn, bốc lên một mùi hôi. Ngoài trời, cơn mưa phùn mùa Đông như những chiếc kim khâu luồn từng giọt căm căm vào xương tủy, gió nhiều hơn mưa, mưa và gió lại là hai vị Thần nguy hiểm của những người bần cùng, nghèo khổ.

Hai người đứng xếp hàng chờ đợi. Người đàn ông trung niên vét mãi hết túi này đến túi kia được một nắm hào lẻ, chưa đầy một đồng bạc nhưng cũng đủ mua một ly cà phê nóng. Theo quy định của cửa hàng, khách vào tiệm phải mua một món gì mới được phép ngồi lại. Trời rét ngọt ở bên ngoài, nhưng trong tiệm thật ấm vì có máy sưởi, quần áo của hai người đàn ông nghèo khổ toát ra một mùi hôi khiến những người trong tiệm phải nhăn mặt. Mua xong ly cà phê, họ vội vã dẫn nhau vào cái bàn xa nhất, như sợ rằng mùi hôi trên quần áo, cái nheo nhóc, bẩn thỉu của thân phận người nghèo cũng sẽ làm những người xung quanh khó chịu.

Người phụ nữ bán hàng để ý nhìn hai người "homeless" mà chỉ mua có một ly cà phê. Khi nhận ly cà phê trên tay bà, người đàn ông trẻ hơn vội vã đưa cánh tay dìu người đàn ông già đi về chiếc bàn trong góc tối. Hình ảnh đó khiến bà xúc động, một người "không có gì" cũng đang cố sức giúp một người "không có gì" gượng đứng trên cõi đời đầy đau khổ, khi họ nhường cho nhau ủ đôi bàn tay lạnh cóng vào ly cà phê nóng còn bốc khói. Người đàn ông trẻ hơn đẩy ly cà phê vào đôi tay ông bạn già đang run rẩy, rồi một chốc người kia lại đẩy ly cà phê sang phía người đối diện, họ cứ chuyền tay nhau ly cà phê nóng còn bốc khói mà không uống ngụm nào. Họ cần một chút ấm trong đêm nay, mà cơn gió tháng chạp lạnh lẽo đã luồn vào gầm cầu trống trải khiến họ rét run bần bật . Thời tiết và thời gian là đôi bạn đồng hành ác độc đè lên đôi vai họ một cách nghiệt ngã, để họ không còn sức chịu đựng mà chống chỏi cơn giá rét mùa Đông như những năm trước.

Người phụ nữ đứng trong quầy hàng, như bức xúc trước cái khổ của đồng loại. Dù sao bà cũng có một mái nhà để chui ra chui vào, dù sao bà cũng có hai đứa con, và lát nữa đây khi tiệm đóng cửa, con bà sẽ đến đón mẹ về nhà để đón mừng ngày Lễ Giáng Sinh. So sánh giữa hai cái khổ, bà vẫn thấy mình hạnh phúc hơn hai người đàn ông "homeless" kia. Không biết nghĩ sao, bà móc túi tìm vài đồng bạc lẻ, và thật sung sướng khi đóng vai một người khách, bà có đủ tiền mua tặng cho hai người đàn ông nghèo khổ một khay thức ăn nóng hổi. Bà bưng khay thức ăn đến cái bàn của hai người đàn ông, với một nụ cười dịu dàng và câu chúc "Giáng Sinh Vui Tươi", bên chiếc khay còn thêm một ngọn nến trắng cắm trong cái ly nhỏ bằng thủy tinh trong suốt, bà vừa mua nó hồi trưa nay tại một tiệm chín mươi chín xu để buổi tối đặt trên bàn ăn, đốt lên ngọn lửa giáng sinh ấm áp mừng ngày xum họp trong gia đình.

Hai người "homeless" ngỡ ngàng nhìn người phụ nữ. Người đàn ông mắt màu xanh lơ có chòm râu bạc nhìn chăm chăm vào khuôn mặt của người phụ nữ tốt bụng, nói lời cảm ơn nghẹn ngào với đôi mắt rưng rưng. Ông đẩy khay thức ăn qua cho người bạn già ngớ ngẩn của mình, bằng ánh mắt thương yêu trìu mến. Ngọn nến mà người đàn bà tốt bụng vừa đốt lên để mừng Giáng Sinh, cho họ một cảm giác cực kỳ hạnh phúc, vì họ đang tận hưởng được sự trân trọng như những con người bình thường trong xã hội.

Sau khi ăn xong khay thức ăn, người đàn ông trẻ tuổi dọn dẹp rồi lại dìu người bạn già ra khỏi tiệm ăn. Đi qua chỗ người phụ nữ, ông ta ngước đôi mắt xanh và mấp máy một lời chúc tốt lành nhất mùa Giáng Sinh đến người phụ nữ, họ mỉm cười với nhau. Đã tới giờ đóng cửa, hai kẻ cùng khổ không nhà ấy dẫn nhau trở về cái dạ cầu, nơi trú ẩn của họ hằng bao nhiêu năm nay, họ xin người đàn bà cho họ mang theo ngọn nến trắng. Bụng đã no, lòng đã ấm vì tình người như một món quà Giáng Sinh quá bất ngờ, vừa rơi xuống từ Trời để họ biết là vẫn còn những tấm lòng tử tế trên cõi đời này. Người phụ nữ cũng sửa soạn ra về, mang theo trong lòng một niềm vui nhỏ nhoi mà thật là ấm áp. Đôi mắt xanh hiền hậu của người "homeless" nhìn bà lúc nãy trông quen quá, dường như bà đã nhìn thấy ở đâu? Sau một phút nghĩ ngợi, bà chợt "à"ø lên một tiếng nhỏ. Phải rồi, đó là đôi mắt tượng Chúa treo trên vách nhà nguyện, ngồi giữa một bầy trẻ thơ đang ríu rít đứng xung quanh.

5-

Người ta kể cho tôi nghe một câu chuyện khác, lần này thì tôi nhớ ra ông Tom, người đưa thư da đen quen thuộc vùng ngoại ô SouthEast. Ông Tom gốc gác người Phi Châu, da đen bóng, tổ tiên ông bao đời đã từng sống nơi vùng đầm lầy Lousiana, người du lịch đó đây có thể thấy bên ven đường đi Baton Rouge, đài kỷ niệm những bước chân đầu tiên của người nô lệ da đen trên xứ Mỹ.

Ông Tom làm nghề phát thư cho khu vực này khá lâu, từ khi hàng cây sồi ven đường còn bé tý, những căn nhà khang trang thuở ấy nay đã cũ kỹ, và chủ nhân những căn nhà ấy bây giờ có thể là một bà cụ già đi không vững, đám trẻ đã đi đâu mất, chỉ còn những tiếng chim ríu rít trên rặng sồi là còn y nguyên. Ông Tom biết hết những căn nhà trên con đường River, biết cả những căn nhà lần lượt đổi chủ, và những phụ nữ xinh đẹp dễ thương năm nào, nay bước vào tuổi già còn lại một mình trong khu nhà êm ả đầy bóng cây râm mát.

Ông Tom thân với cụ Mary nhất, cũng từ cái hôm ông bị một con chó trong khu vực ra được cổng rào, rượt ông chạy trối chết rồi vấp chân vào bậc xi măng bên vệ đường, ngã lăn ra trước cổng nhà cụ Mary, đúng vào lúc bà cụ ra mở thùng thư để lấy thư như thường lệ. Bà cụ nhìn người đưa thư da đen ái ngại, rồi bà mời ông vào ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá ở sân trước, trong khi ông Tom chưa hoàn hồn vì cái ngã đau làm đầu gối ông bị trầy trụa, rướm máu.

Bà cụ Mary vào nhà, lúc trở ra bà bưng cho ông một ly nước cam, với một túi vải đựng dăm thứ thuốc sát trùng và băng cá nhân. Bà dịu dàng bảo ông Tom vén ống quần lên cho bà xem vết thương, nhẹ nhàng lau vết thương cho ông rồi băng lại cẩn thận. Ông Tom cảm thấy dễ chịu quá, trước kia ông vẫn ngấm ngầm cho rằng đâu đó là sự chia cách của màu da, của con người giữa những tầng lớp xã hội, và những đau buồn của dĩ vãng từ đời tổ tiên khiến ông có ít nhiều mặc cảm với người da trắng. Hai người mỉm cười với nhau, chỉ có thế mà ông Tom nhớ mãi vì hôm ấy là một ngày đẹp nhất của mùa thu . . .

Từ đó họ thành đôi bạn vong niên của nhau. Ông Tom cũng biết thêm bà cụ Mary sống cu ky có một mình, con cháu bà ở một thành phố khác, từ khi cụ ông qua đời thì bà Mary cô quạnh thêm vì vắng người hủ hỉ. Mỗi ngày đem thư đến khu vực này, ông Tom luôn mong thấy khuôn mặt và nụ cười hiền lành của bà bạn vong niên ra lấy thư, hôm nào vắng bà cụ là ông Tom lại cảm thấy không yên bụng.

Năm nay mùa Giáng Sinh lại đến. Mùa Đông rét hơn mọi năm, hay là ông Tom nay đã yếu để thấy rằng cơn gió mùa Đông Bắc bỗng dưng lại khắc nghiệt hơn những năm trước. Sau mùa Giáng Sinh ông Tom sẽ có những ngày nghỉ phép, ông về thăm lại anh em của mình ở vùng đầm lầy Lousiana, ông sẽ trở về khu nhà tồi tàn, cũ kỹ nhưng ấm áp tình thương gia đình. Trước khi đi, ông Tom sẽ nói cho bà Mary biết những ngày ông đi vắng, và ông cũng mong rằng con cháu bà sẽ về xum họp với bà trong những ngày nghỉ lễ cuối năm. Những ngày cuối năm bận rộn, ông Tom lái xe đem đầy nhóc những cánh thiệp Giáng Sinh, thùng thư nào cũng có những cánh thiệp mang đầy lời chúc tốt đẹp, nhưng hai ngày qua mà thùng thư của bà Mary vẫn còn nguyên, không thấy bà lấy thư như mọi khi.

Ông Tom lái xe đi rồi lại băn khoăn nghĩ ngợi mãi, không yên lòng chút nào cả. Bà bạn già của ông không biết đi đâu, ra sao? Lúc trước mỗi lần đi vắng đôi ngày, bà có nói cho ông Tom biết, nhưng lần này ông chỉ nghe bà khoe người con trai sẽ về thăm, lũ cháu đi nghỉ Đông với bạn bè ở miền Bắc. Chắc chắn là bà Mary ở trong nhà, nhưng lý do nào mà thùng thư của bà hai hôm rồi vẫn chưa lấy? Đáng lẽ ông Tom lái xe về Bưu Điện khi đã bỏ hết thư trong ngày, nhưng nghĩ sao ông lại quành xe về nhà bà cụ Mary, và ông rón rén mở cánh cổng rào thấp, hồi hộp gõ cửa chờ đợi. Ông gõ năm, bảy lần, ông bần thần trong dạ, linh tính cho ông biết bà bạn già không đi đâu, nhưng chẳng biết vì sao bà không mở cửa.

Tuổi già sống một mình như bà cụ Mary là chấp nhận tất cả nỗi cô đơn, buồn rầu, hiu quạnh, chưa kể những cơn bịnh đến bất ngờ không chống đỡ được. Ông Tom định bỏ đi nhưng lòng không an ổn, ông nhớ lại buổi chiều thu hôm nào bà Mary đã lật đật lấy cho ông một ly nước cam, đã lau chùi băng lại vết thương trầy trụa trên đầu gối ông, đã cho ông một nụ cười hiền dịu nhất của tình nhân loại. Không nghĩ gì nữa, ông Tom quyết định gọi "emergency" để báo cáo về sự vắng mặt của bà bạn già dễ mến của mình. Khi người ta phá cửa vào nhà, bà Mary chỉ còn thoi thóp thở, nằm bất động trên giường với khuôn mặt xanh lướt. . . .

Câu chuyện của người đưa thư da đen cứu sống một người đàn bà già nua cô độc trong căn nhà ở đường River, người ta có đưa lên chương trình truyền hình địa phương một buổi tối áp lễ Giáng Sinh. Chẳng biết có ai nghĩ gì về những nỗi buồn đầy ắp trong cuộc sống thường ngày, hay chỉ có ông Tom đang cầu nguyện cho bà bạn già mau bình phục.

Mùa Giáng Sinh

Nguyên Nhung

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Chương trình ODP đã hoàn toàn kết thúc

Image
Một người Việt Nam và gia đình gồm 9 người đến Hoa Kỳ theo diện ODP
được thân nhân đón tại phi trường San Francisco, California.
(Hình minh họa: Monica M. Davey/AFP/Getty Images)

LITTLE SAIGON(NV)- Nhiều người ít quan tâm theo dõi đã không biết rằng Chương Trình Ra Ði có Trật Tự (ODP) qua 30 năm đưa hàng trăm ngàn người Việt Nam ra khỏi chế độ Cộng Sản đến nay đã hoàn toàn chấm dứt.

ODP do phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) thành lập Tháng Năm, năm 1979 trong kỳ họp thứ nhất tại Geneva của Hội Nghị Quốc Tế về người Tị Nạn Ðông Dương. Chương trình mang mục đích nhân đạo nhằm trợ giúp cho dân tị nạn có thể tuần tự ra đi hợp pháp, an toàn tránh khỏi những nguy khốn trên đường tìm tự do.

Gần 30 quốc gia tham dự vào chương trình ODP. Ðây là sự đáp ứng với tình trạng rất nhiều thuyền nhân trốn khỏi Việt Nam đã gặp nạn hải tặc hay bỏ mình trên biển Ðông. Theo ước lượng, sau năm 1975 khi Cộng Sản Bắc Việt đánh chiếm miền Nam Việt Nam, trong hai thập niên 1970 và 1980 có khoảng từ 1 đến 2 triệu thuyền nhân đi từ Việt Nam. Không có tài liệu và con số thống kê chính xác nào để biết bao nhiêu nạn nhân đã bỏ mình ngoài biển cả do những tàu thuyền nhỏ bé không đủ điều kiện an toàn, đói khát bệnh tật hay bị hải tặc sát hại.

Chương trình ODP của Liên Hiệp Quốc chính thức kết thúc ngày 30 Tháng Chín, năm 1994. Sau đó Hoa Kỳ và Việt Nam ký thỏa thuận riêng ngày 15 Tháng Mười Một, năm 2005 mở lại chương trình Ra Ði Có Trật Tự. Ðồng thời biện pháp được gọi là Tu chính án McCain do Thượng Nghị Sĩ John McCain đề xuất và được Quốc Hội chấp thuận, cho phép những đứa con tuổi trưởng thành của những cựu tù nhân trại cải tạo được phép theo bố mẹ di cư đến Hoa Kỳ.

Chương trình ODP tái phục hồi này kết thúc ngày 28 Tháng Hai, năm 2009 và Tu chính án McCain cũng hết hiệu lực từ ngày 30 Tháng Chín, năm 2009. (HC)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Ranh Ngôn

- Không biết dựa cột mà nghe, cứ le te người ta đấm cho vỡ mõm.

- Nói tiếng Anh như gió, gặp từ khó, ta … bắn sang tiếng Việt.

- Không phải người đàn bà nào cũng đẹp, và không phải người đẹp nào cũng là đàn bà.

- Không có người phụ nữ xấu, chỉ có người phụ nữ không biết mình rất xấu !!

- Con đường tới vinh quang không có dấu chân của kẻ lười biếng - vì kẻ lười biếng thì làm quái gì chịu đi bộ mà có dấu chân!

- Chỉ có hai giai đoạn duy nhất trong đời mà người đàn ông không hiểu gì cả về phụ nữ: trước khi cưới và sau khi cưới.

- Thuở khai thiên lập địa, Thượng đế tạo ra trái đất rồi ngài nghỉ ngơi một lúc.
Sau đó, ngài tạo ra đàn ông rồi ngài lại nghỉ ngơi.
Cuối cùng Thượng Ðế tạo ra đàn bà , và từ đó trở đi cả ngài lẫn đàn ông đều chẳng ai còn được nghỉ ngơi nữa.

- Cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền.

- Ngưòi nào khuyên ta đúng khi ta sai là thầy ta,
người nào chửi ta sai khi ta đúng....đích thị là vợ ta!!

- Chết vì yêu: vĩ đại !!
Yêu mà chết: ngu si !!!

- Thà hun em một lần rồi ăn tát
Còn hơn cả đời nhìn thằng khác hun em!

- Để có một bữa ăn ngon, bạn hãy xem thật nhiều chương trình dạy nấu ăn trên tivi, tham khảo thật nhiều sách dạy nấu ăn, và sau đó cùng cả nhà đi ăn nhà hàng.

- Để có sắc đẹp như ý mà không tốn tiền đi thẩm mỹ viện?
Dễ thôi, hãy luôn nghĩ về điều đó, chắc chắn bạn sẽ được toại nguyện trong mơ.

- Ga-lăng (gallant) là cử chỉ đẹp của người đàn ông trước những phụ nữ không phải là vợ mình.

- Còn thời lên ngựa bắn cung
Hết thời xuống ngựa lấy thun bắn ruồi.

- Ta về ta tắm ao ta
Vì qua ao bạn quá xa quãng đường.

- Chuồn chuồn bay thấp thì tiêu
Bay cao thì thoát, bay vừa thì ...thôi!

- Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,
phu tử tòng tử, tử tử tòng ....Tân phu.

- Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm - em thương hơn nhiều

- Học không chơi - đánh rơi tuổi trẻ
Chơi không học - vừa khoẻ vừa vui

- Hôn nhân luôn tặng bạn một đặc ân:
chỉ có ai có nó mới có thể ly dị được.

- Chết cho người phụ nữ mình yêu vẫn dễ hơn là phải sống chung với họ

- Bia độc hơn rượu, bằng chứng trên thế giới chỉ có "mộ bia " mà không có "mộ rượu”


- Một người phụ nữ toàn diện : sáng diện, trưa diện, chiều diện, tối diện

- Khôn ba năm dại nữa giờ ... Biết dzậy dại sớm .... khỏi chờ 3 năm.


- Một điều quan trọng là tìm một người phụ nữ biết nấu ăn, chăm sóc con cái.
- Một điều rất quan trọng là tìm người phụ nữ luôn làm bạn vui.
- Một điều rất quan trọng là tìm được người phụ nữ hiểu được tâm trạng của bạn.
Và một điều cũng rất quan trọng là đừng bao giờ để 3 người phụ nữ ấy gặp nhau.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

HUYỀN THOẠI GIÁNG SINH

Tại một thành phố lớn miền Trung nước Mỹ, vào đúng đêm Giáng Sinh, một bé trai lang thang rảo qua nhiều đường phố nhìn ông đi qua, bà đi lại. Ai cũng ôm đồm bận rộn, tay xách tay mang những gói qùa. Mọi người có vẻ hân hoan khoái trá. Ai cũng bước đi vội vã như mong chóng về nhà chỉ trừ có em bé. Chú bé lững thững bước đi trong cơn lạnh như cắt da. Làn gío lạnh lùa vào mặt, tạt vào tay em cách tàn nhẫn vô tình. Không ai có thể sống sót trong trời đông giá buốt như đêm nay. Chú bé phải tìm một chỗ trú thân. Bé quẹo vào một con đường lớn. Nhà cửa hai bên là những căn biệt thự có vườn rộng lớn, có hàng rào kiên cố bao quanh. Cố thổi phồng lá gan to lên một tí, chú bé rụt rè tiến đến trước cửa một căn nhà lớn, coi có vẻ hấp dẫn. Qua mành cửa sổ người ta có thể thấy được bên trong có một cây Giáng Sinh trang hoàng thật lộng lẫy, đầy mầu sắc. Có mấy đứa trẻ đang vui đùa bên trong, chơi trò trốn tìm. Thỉnh thoảng cười toe toét nhặt gói qùa dưới gốc cây, đưa lên tai lắc lắc rồi để xuống.

Chú bé cố rướn người lên để bấm nút chuông điện. Một tên con trai cao lớn ra mở cửa. Hắn nhìn xuống chú bé và nói:
"Thiệt xin lỗi, ba của chúng tôi không có nhà. Ông không muốn người lạ quấy rầy gia đình trong đêm Giáng Sinh."
Cánh cửa đóng nhẹ nhè như nói lên niềm hối tiếc. Em bé đi sang một nhà khác. Lần này một bà mập thù lù như cái lu xuất hiện ở cửa và quát: "Cút khỏi đây ngay!"
Chú bé quay bước ra đường trong cơn gió lạnh thổi lồng lộng như cơn giận của mụ đàn bà. Em đi về phía những căn nhà nhỏ hơn, hy vọng dân ở đó thân thiện hơn. Nhưng tia hy vọng bị vùi dập cách tàn nhẫn. Một bà ra mở cửa và đuổi em bé đi vì sợ em mang thêm vi trùng vào căn nhà đầy vi trùng của bà. Ở một nhà khác, người cha từ chối nói rằng ông không có đủ đồ ăn, quà cáp cho con cái của ông. Nhiều người mở cửa nhìn em bé cách tội nghiệp rồi lắc đầu và đóng cửa lại.

Chú bé thầm nghĩ: "Trong thành phố lớn như thế này nhất định phải có chỗ cho ta trú ngụ". Bé chập choạng tiến bước vào một ngõ hẻm tối, nơi có những căn nhà lụp xụp ít ánh đèn. Chú bé dừng chân trước một cái chòi ở cuối đường, không có màn cửa sổ. Trong căn nhà nhỏ đó có 1 cây thông khiêm tốn đặt trên bàn, không có đèn mầu trang hoàng. Bà mẹ ngồi bên lò sưởi đọc chuyện cho hai con nhỏ. Cô con gái ngồi trong lòng mẹ, còn cậu con trai co mình dựa vào chân mẹ. Bé gái chợt la lên ngắt tiếng người mẹ:
- Mẹ ơi, có người ngoài cửa
Cậu con trai qủa quyết với em
- Chỉ có cây thôi, đâu có gì!
Bà mẹ định đọc tiếp liền nghe có tiếng động, và cả ba mẹ con đứng dậy chạy ra mở cửa xem có ai ở ngoài. Họ nhìn thấy một bé trai, đứng run lẩy bẩy trong trời gió lạnh buốt. Bà mẹ liền ôm chầm lấy chú bé, bế vào trong nhà. Bà gọi đứa con trai:
- Con mau hâm nóng bình sữa.
Trong khi đó bà lấy tay xoa ấm những ngón tay tê cứng của em bé. Bà vuốt ngược mớ tóc rối bời của chú bé, hôn lên trán bé và nói:
- Chúng tôi vui sướng đón em vào mừng Giáng Sinh với chúng tôi.
Suốt gần một tiếng đồng hồ, cả bốn người đứng quanh lò sưởi đón hơi ấm. Dần dần người khách lạ tí hon mới lấy lai được cảm giác trong thân thể bị tê cóng. Khi chú bé được ấm áp, bé gái nói với me:
- Mẹ ơi, mẹ đọc chuyện tiếp đi!
Bà mẹ gật đầu, và ngồi xuống ôm bé gái vào lòng, rồi mở cuốn sách. Thình lình xuất hiện một luồng ánh sáng rực rỡ chan hòa cả căn phòng. Ba mẹ con quay nhìn chú bé biến hình ngay trước mặt họ. Mặt chú bé sáng chói đến nỗi họ phải quay đi, không dám nhìn thẳng. Luồng sáng bay đi, ba me con chạy theo nhìn ra cửa. Họ nhìn chú bé bay lên cao cho đến khi chỉ còn thấy một vì sao chiếu sáng trên căn nhà nhỏ bé của họ, và tỏa sáng cả một vùng chung quanh. Ba mẹ con ngỡ ngàng, im lặng chiêm ngưỡng sự lạ. Bé trai hỏi me:
- Mẹ ơi, đó có phải là Chúa Giêsu Hài Đồng không?
Bà trả lời ngắn gọn:
- Phải, con à.
Người ta nói rằng mỗi năm Chúa Cha sai Chúa Con xuống trần gian lang thang ngoài đường phố, tìm chỗ ấm áp trú thân. Khi có ai đón tiếp Ngài, Chúa Cha cho một vì sao sáng chói xuất hiện. Giáng Sinh này, bạn hãy tìm giúp đỡ những người thiếu thốn chung quanh, và hãy nhìn lên trời để nhận ra dấu chứng của Thiên Chúa.

Khuyết danh

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Tiếng Hát Thái Hiền
Chiều Chủ Nhật 22 tháng trước có buổi nhạc tưởng niệm nhạc sĩ Lê Uyên Phương được tổ chức tại Star Performing Art Center - Fountain Valley của quận Cam.
Ðược mời cộng tác trong chương trình, người viết là Quỳnh Giao gặp lại thính giả và bằng hữu quen thuộc. Nghệ sĩ đứng trong cánh gà bên cạnh sân khấu, đợi đến phiên mình hát thì... bước ra.
Chỉ vì xưa kia rạp hát là một rạp chiếu bóng, không có phòng trang điểm, ghế ngồi, và không có cả. toilet nữa!
Thấy Quỳnh Giao bước tới, stage manager của chương trình là Janine Nguyễn lịch sự nhường ghế ngồi duy nhất. Cám ơn Janine nhé!
Ðang ngồi xuống bỗng thấy đứng ngay bên cạnh là Tuấn Ngọc với áo veston chỉnh tề chờ đến lượt mình.
Như thói quen ít nói, Tuấn hỏi ngay: “Cụ có khỏe không”. “Cụ” ở đây là thân mẫu của người viết. Lắc đầu: “Không khỏe lắm, và quên nhiều rồi. Thế ông cụ khỏe không?” Tuấn hỏi về danh ca Minh Trang, người viết hỏi thăm nhạc phụ của Tuấn Ngọc, nhạc sĩ Phạm Duy!
Tuấn gật đầu: “Yếu đi nhiều, nhưng vẫn tốt!”
Ðối thoại cứ như trong truyện Thanh Tâm Tuyền! Ngắn gọn mà nhiều ý...
Quỳnh Giao lại hỏi tiếp: “Tuấn có hát với Thảo hôm nay không? Không khí này và nhạc của anh Lộc rất thích hợp với đôi vợ chồng.” Tuấn lắc đầu: “Thảo bỏ hát rồi.”
Ngạc nhiên hỏi tiếp: “Tại sao lại bỏ hát? Cười: “Tại không thích hát nữa, cả Thái Hiền cũng vậy!”
Người viết không hỏi gì thêm mà chỉ thấy lòng mình buồn và... tức.
Trong lãnh vực tân nhạc, chúng tôi hiểu nhau, quý nhau và thương nhau vô cùng khi chia sẻ một nghiệp chung, và thấy một người bỏ cuộc chơi thì còn tiếc hơn những người “ngoại cuộc.”
Từ trước đến giờ, riêng với Quỳnh Giao, giọng Thái Hiền là viên kim cương quý của nền nhạc Việt.
Thái Hiền có chất giọng “mezzo soprano” đúng nghĩa. Lên cao rất tròn và xuống thấp rất dầy. Không giống như một số ca sĩ khi lên cao thì nhọn mà mỏng, xuống thấp thì nghẹt và tối - nghe không rõ lời nữa. Cách phát âm của Thái Hiền là chuẩn mực cho người học hát.
Nàng nhả chữ rõ ràng, không luyến láy bậy bạ, và nhất là không diễn tả quá lố. Ðiều gì mà tác giả viết ra, Thái Hiền cứ thế mà trình bày rất đẹp, không quằn quại đau khổ hơn mà cũng chẳng gào thét để phô trương sức khỏe của mình, hay nỗi niềm của ai khác mà mình không cảm được gì.
Giọng Thái Hiền tự nhiên, giản dị mà mạnh mẽ vững vàng. Nếu có khuyết điểm thì chỉ vì giọng hát chân phương, Thái Hiền không diễn tả tới mức những bài hát đòi hỏi kịch tính như “ Kiếp Nào Có Yêu Nhau”, hay “Ðường Chiều Lá Rụng” của Bố mình được.
Nhạc trưởng khét tiếng Leonard Bernstein có câu phát biểu để đời là “Thà làm ít hơn là làm lố!” Nói nôm na là đừng diễn tả quá lố. Thà là cứ chân phương mà hay hơn.
Thái Hiền là người có vẻ đẹp sang quý và phúc hậu. Nàng đẹp như Laura Linney trong phim ảnh Mỹ, nét đẹp của sự thông minh đến độ có thể... uể oải với cái đẹp. Nhưng, trên sân khấu tân nhạc thì người yêu nhạc và có trình độ thẩm âm cần đến thanh âm hơn là nhan sắc, và thanh âm của Thái Hiền lại là một nét đẹp khác.
Quỳnh Giao buồn khi nghe Thái Hiền không còn muốn hát. Mà tức là vì Thái Hiền còn trẻ quá, không thể về hưu khi giọng đang sung mãn.
Nếu lớn tuổi như Kim Tước, Mai Hương mà thấy uể oải chán chường thì đôi khi mình còn chấp nhận. Thái Hiền còn trẻ hơn Khánh Ly và Lệ Thu cả chục tuổi trở lên, thì cớ sao như vậy?
Có nhiều lý do khiến các ca sĩ của mình chán không muốn hát.
Nhưng nếu bảo là vì thính giả không còn thích loại ca khúc mình trình bày thì cũng không đúng lắm.
Không khí và sự thành công của buổi nhạc Lê Uyên Phương cho Quỳnh Giao cảm giác là thính giả vẫn yêu cách hát và loại nhạc ngày trước. Có lẽ họ thiếu dịp được nghe, và thèm được nghe lại.
Nhiều nghệ sĩ thì chua chát cho rằng thính giả của mình không còn nữa, hoặc ưa thích của lạ. Ngược lại, nhiều thính giả thì thất vọng vì các ca sĩ về sau đều thuộc loại “đồng hạng”!
Có người châm biếm mở trang quảng cáo “giải phẫu thẩm mỹ” và nói rằng người đẹp thời nay đều có cùng một cha hay một mẹ, vì cũng dọc mũi đó, cái cầm kia và đôi mắt nọ.
Một nhà thơ đã lỡ yêu nhạc thì than rằng ngần ấy cô ở trong kia có lẽ học cùng một thầy dạy hát. Vì cũng gào thét quằn quại cứ như Whitney Houston trong mọi ca khúc!
Nói theo kiểu khinh bạc của Nguyễn Ðình Toàn - bệnh bắt chước những cái dở của thiên hạ là một... “dân tộc tính” - thì nhiều ca sĩ ngoài này đã lại bắt chước kiểu ấy. Cũng phải là có học “thanh nhạc”, cũng thấm điệu blues hay nhập kiểu jazz nên cũng phải tối tân như vậy thì khán thính giả mới thấy là hay.
Thái Hiền bỗng đứng một mình.
Hãy cùng nhau nghe lại đi...
Thái Hiền mà hát “Bà Mẹ Gio Linh” thì không thể như Thái Thanh. Tiếng nức nở của Thái Thanh trong ca khúc bất hủ của Phạm Duy là dấu ấn tuyệt vời, hợp cách.
Nhưng nếu hát bài “Ave Maria” của hai nhạc sĩ Âu Châu thì nét trang nghiêm quý phái và cách phát âm rất chỉnh của Thái Hiền mới diễn tả được nội dung của lời thánh ca.
Nghe Tuấn Ngọc nói Thái Hiền bỏ cuộc chơi buông tiếng hát, người viết bỗng thấy thương người nghe.

Quỳnh Dao

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Sang Mỹ xin... ‘giẫy chết?’
Mấy bữa rày, dư luận khắp nơi chú ý nhiều đến các tin tức liên quan đến chuyến đi của hai quan cầm đầu Bộ Quốc Phòng và của thủ tướng Việt Nam.Chuyến đi của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, thì được ông công khai nhìn nhận dính đến chuyện mua sắm trang bị quốc phòng hạng nặng, từ máy bay gắn hỏa tiễn đến tàu ngầm.

Hãng thông tấn chính thức của nhà nước Hà Nội giở trò “phỏng vấn bật mí” cho thiên hạ biết là Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh sang Mỹ “nài nỉ” các nghị sĩ có cảm tình với Việt Nam bãi bỏ lệnh cấm bán “võ khí sát thương.” Và không hề có chuyện ngỏ ý mua súng đạn gì cả.
Mỹ tuy bãi bỏ lệnh cấm vận võ khí với Việt Nam từ cuối năm 2006 dưới thời Tổng Thống George W. Bush nhưng lại chỉ cho bán những loại không phải là “sát thương.”
Không thể mua tàu, mua máy bay chiến đấu nếu cái lệnh “sát thương” này còn đó. Hãy khoan nói chuyện khi nào mua, mua cái gì và được người ta chịu bán cái gì. Cái này tùy thuộc nhiều điều kiện rối rắm trong bối cảnh đu dây để tồn tại của cái đảng độc tài Hà Nội.
Chỉ nhìn vào một chuyện, người ta vô cùng ngạc nhiên là tại sao ông Phùng Quang Thanh lại sang cái xứ “tư bản giãy chết” để xin mở kho bán súng?
Xưa nay, sinh viên học sinh ở Việt Nam đều bị nhồi sọ là tư bản giãy chết, sắp chết đến nơi rồi. Ðứa nào không làm bài theo đúng lời giảng dạy là rớt.
Nhưng con cái các đảng viên ăn hối lộ nhiều tiền thì cho sang Mỹ học ở cái nước đang giãy chết ngày càng nhiều hơn trước. Hay chúng nó đi học... giãy chết?
Và bây giờ, đến phiên ông bộ trưởng Quốc Phòng cũng sang Mỹ để học... giẫy chết? Hay để xin giẫy chết chung?
Trước khi đến Ngũ Giác Ðài để thảo luận chuyện “giẫy chết” với Bộ Trưởng Robert Gates, ông Phùng Quang Thanh được cho ghé Hawaii thăm căn cứ Không Quân. Tại căn cứ này có một số chiến đấu cơ (nghe nói có khả năng tàng hình tức tránh bị radar địch phát hiện) Raptor F-22A. Ông có được xem chúng biểu diễn “giẫy chết” hay không, chưa thấy có tin tức nào tường thuật.
Cho ông xem nó “giẫy chết” để ông lé mắt về nhà nói khoác thôi chứ cái đám tư bản giẫy chết không bán nó cho ai ngoài đồng minh ruột là Anh Quốc và may ra gồm một số nước đồng minh khác rất giới hạn. Chắc chắn không có tên nước Cộng sản Việt Nam.
Nhiều giáo trình giảng dạy hoặc các văn kiện đảng ở Việt Nam nói rằng tư bản giẫy chết, nhưng không hiểu sao, nó giẫy từ mấy trăm năm nay khi ông tổ Các Mác hùng hồn tuyên bố mà bây giờ, dường như nó càng giẫy càng khỏe ra.
Hàng năm, kỹ nghệ Quốc Phòng Mỹ nói riêng và các nước tư bản tây phương chi hàng trăm tỉ đô la nghiên cứu các loại võ khí mới. Không biết có phải vì vậy mà chúng càng giẫy càng khỏe ra hay không. Kinh tế các nước tư bản tuy điêu đứng khi bị suy thoái nhưng các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc thấy Mỹ và Âu Châu giảm nhập cảng lại rên ư ử. Sao chúng nó đang giẫy chết thì không để chúng nó chết luôn đi? Lại lậy van nó mua hàng làm chi?
Các sinh viên đại học ở Việt Nam, ăn rau muống luộc, muối vừng, muối lạc trộn chung với lý thuyết Mác Lê cả quyết tư bản giãy chết, nên còm cõi giơ xương. Ông Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh, nhìn hình trên báo, cái mặt phèn phẹt những mỡ, cái bụng như đàn bà chửa, hẳn phải ruợu thịt ê hề từng bữa.
Ông tới đây để xin “giẫy chết” chung với Mỹ mà chắc gì chúng nó cho.
Có người cho rằng ông tới đây nhằm giúp đảng đối phó với những lời đả kích của bá tánh và ngay cả đảng viên các cấp mỗi ngày một nhiều hơn, nguy hiểm hơn.
Lời yêu cầu Mỹ bỏ lệnh cấm bán võ khí sát thương cũng chỉ là đòn gió, khua khoắng lung tung để thiên hạ tưởng thật, là các ông tính mua thật. Nhờ vậy, uy tín của các ông tăng lên, tiếp tục giữ được quyền lực thống trị để tham nhũng tiếp, vơ vét tiếp.
Nắm vững được quyền lực chính trị, quân sự là duy trì được quyền lợi kinh tế cho phe đảng cha truyền con nối chứ chẳng vì lý do gì khác.
Chẳng phải vậy, ông Phùng Quang Thanh đã không yêu cầu các nghị sĩ Mỹ cản trở Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam.
Rồi người ta lại vẫn thấy đám quan quyền Hà Nội đi Mỹ họp bàn chuyện xin “giẫy chết” chung. Còn sinh viên đại học ở Việt Nam vẫn phải nhồi nhét vào đầu cái lý thuyết tư bản giẫy chết khi nào cái chế độ này còn đó.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 105761&z=1

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

"Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn" .
Lời: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu


Tác giả: Shinra
Đây là bài đầu tiên tôi viết trong diễn đàn này.

Khỏi mất thời gian của quý vị, xin nói mấy lời chân tình.

Quý vị có biết vụ tẩy trứng gà Tàu thành trứng gà ta không? Quý vị có suy nghĩ như thế nào?

Nếu hỏi quý vị một câu rằng nếu quý vị là một người dân thuộc làng Đông Ngàn, quý vị có tham gia vào cái việc tẩy trứng rồi đem đầu độc lại đồng bào của các vị không, thì chắc 100% quý vị ở đây trả lời là không !

Nhưng kỳ thực là quý vị đang làm những việc tệ hại hơn nhiều so với việc ấy.

Quý vị có bao giờ thấy người dân các nước "tư bản thối nát" "theo đuôi Mỹ" như châu Âu, Nhật, hàn Quốc người ta làm những cái trò đồi bại như tẩy trứng bằng axit, trộn melamin vào sữa, bơm hoá chất vào rau quả, quết mật ong giả vào chân gà thối.... để đem đầu độc chính giòng giống của họ không? Tuyệt nhiên là không.

Những vị nào đọc đến đây mà bảo tôi là "rân chủ", "ăn phải bả của tư bản", thì mời quý vị khỏi đọc nữa, đỡ mất thời gian của quý vị.

Quý vị có bao giờ nói hàng Mỹ, châu Âu, Nhật, Hàn, Thái là rởm, là đểu, là lừa đảo, là chạy theo đồng tiền... không? Hay là quý vị lùng sục mua bằng được những món đồ sản xuất ở những nước "tư bản thối nát" ấy với giá đắt gấp đôi gấp ba so với hàng của Trung Quốc?

Quý vị có thể không tẩm chất độc vào trứng, vào rau như những người nông dân kém hiểu biết, nhưng quý vị lại tẩm chất độc vào đầu óc của những con người xung quanh quý vị bằng những lời dối trá, hối lộ, chạy chọt để được vinh thân phì gia. Dần dần, mọi người trong xã hội đều chạy theo quý vị với một suy nghĩ cực kỳ lệch lạc rằng "mình không làm ắt sẽ có người khác làm".

Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị lại có tác động ngược trở lại kinh tế.

Một xã hội mà ai cũng chỉ biết lo cho bản thân mình như xã hội Việt Nam, xã hội Trung Quốc thì có đáng được gọi là "xã hội chủ nghĩa" không?

Các vị có hiểu thế nào gọi là "xã hội chủ nghĩa" và "tư bản chủ nghĩa" không?
Các vị hiểu "XHCN" tức là có đảng cộng sản lãnh đạo còn "TBCN" là có nhiều đảng thay nhau lãnh đạo, hoặc là "nhiều đảng tư sản thay nhau lãnh đạo" phải không? Sai lầm

Xã hội chủ nghĩa là đặt xã hội lên đầu, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, nó đối lập với tư bản chủ nghĩa nơi mà "tư bản" được đặt lên đầu, mà tư bản chính là "tiền nằm trong lưu thông", hay nói tóm lại "tư bản" là lợi ích cá nhân.

Theo Hán Việt "tư bản" nghĩa là "vốn".

Một xã hội như Mỹ, Nhật là nơi mà con người luôn sống vì lợi ích riêng, nhưng không chà đạp lên lợi ích chung.

Người Nhật không bao giờ tẩm thuốc kích thích vào rau quả vì họ biết làm như thế sẽ gây hại cho những người đồng bào của họ, họ cũng không xuất khẩu những đồ kém chất lượng vì nó sẽ gây hại đến những đồng loại của họ, dù là người nước ngoài.

Người Nhật có thể tự sát, kết thúc sinh mệnh của mình, để bảo toàn danh dự cho gia đình, cho dòng tộc của họ.

Một xã hội như Việt Nam, trung Quốc là nơi con người miệng thì nói rằng "vì lợi ích tập thể", "xã hội chủ nghĩa", nhưng tay và chân thì chà đạp giày xéo lên người khác. Hãy nhìn thử một vụ tắc đường ở Việt Nam và một vụ tắc đường ở Thái Lan thì biết.

Vậy ở đâu mới xứng đáng là xã hội chủ nghĩa?

Đó là một điều mà tôi muốn nói với quý vị

Các vị nói rằng ngày xưa dù nghèo khổ nhưng Việt Nam vẫn kiên cường chống lại hai đế quốc to. Điều này là đúng và theo một nghĩa nào đó, thì đáng tự hào

Nhưng các vị lại nói ngày nay để được hoà bình, hay nói toẹt ra là để các vị được yên ổn làm ăn, yên ổn kiếm tiền, thì Việt Nam cần mềm dẻo với trung quốc, cho dù trên thực tế và trên tuyên bố, Trung Quốc đã và đang chiếm nhiều đất của chúng ta.

Vậy theo cái lý ngày xưa của quý vị thì đáng ra Việt Nam phải vùng lên đánh lại Trung Quốc, hoặc theo cái lý ngày nay của quý vị thì đáng ra ngày xưa Việt Nam không nên đánh lại Pháp và Mỹ mới phải.

Nhưng sự thực thì quý vị luôn tự hào về ngày xưa và đớn hèn về ngày nay. Chẳng có cái lý nào ngoài cái lý tiền. Các vị sợ đánh nhau với trung quốc thì con cái các vị phải ra trận, hoặc ít ra thì khi có chiến tranh, việc làm ăn kiếm tiền của các vị sẽ khó khăn hơn. Tóm lại các vị chỉ biết có bản thân mình, các vị cá nhân chủ nghĩa ở trình độ cao cấp.

Đó là cái thứ hai tôi muốn nói với các vị.

Các vị khi thì hô hào "Việt Nam là bạn với thế giới" , khi thì hô hào "Việt Nam phải cảnh giác với Mỹ, Âu, Tàu, Nhật". Như thế là cái lý gì?

Vì cái tư tưởng lúc nào cũng thù với hận của các vị, nên các vị không bao giờ thật lòng giao hảo với bất cứ ai. Các vị bắt tay người nước ngoài khi họ đến mang theo đô la và các vật dụng đắt tiền cho các vị hưởng, nhưng các vị lại vênh mồm lên chửi khi họ chỉ ra những cái sai lầm của quý vị. Quý vị biện luận rằng trong quan hệ quốc tế thằng nào cũng chỉ lợi dụng lẫn nhau thôi. Vậy thì người ta sẽ nghĩ về quý vị đúng như thế. Thuỵ Điển, na uy hàng năm cho không Việt Nam hàng triệu đô la và nhiều chương trình đào tạo phát triển, họ lợi dụng gì quý vị? Hay là quý vị nghĩ rằng họ chẳng qua muốn lấy lòng quý vị nên mới thế? Vậy nghĩ xem quý vị đã là cái thá gì mà người ta phải lấy lòng?

Quý vị thử chìa tay ra cho một người, rồi biết được người ấy lúc nào cũng nhăm nhăm "cảnh giác cao độ" với cái chìa tay của quý vị, thì quý vị sẽ nghĩ gì về người đó?

Đầu óc quý vị quá đen tối và nói thẳng ra quý vị cũng suốt ngày tìm cách lợi dụng người khác nên mới nghĩ cho người khác đen tối như thế.

Vì thế nên Việt Nam ta mới tụt hậu so với nước ngoài như hôm nay. Những quốc gia như Nhật, Hàn, Thái Lan vốn có điểm xuất phát không hơn ta là mấy nhưng nay họ đã vượt ta nhiều, đó là vì sao? Vì họ có tầm nhìn hơn chúng ta. Vì họ hiểu được một lý thuyết cơ bản nhất của thương mại đó là cả hai bên cùng có lợi, họ không bao giờ bắt tay với người khác mà trong bụng thì cứ nơm nớp lo người ta "lợi dụng" mình. Suy nghĩ kiểu như thế chỉ tồn tại trong những bộ óc chưa tiến hoá hết từ vượn sang người.

Nói thẳng ra, các vị là những kẻ hám tiền, lo cho lợi ích của cá nhân và cùng lắm là gia đình mình, là hết. Các vị ưa xiểm nịnh, khi báo Washington Post đưa tin rằng nền KT việt nam đang cất cánh thì quý vị tung hô tờ báo ấy như là chuẩn mực của sự trung thực, còn khi cũng báo Washington Post đưa tin về tham nhũng của Việt Nam thì các vị nói họ đưa tin không chính xác. Cái thái độ lá mặt lá trái ấy cũng đúng trong trường hợp người ta nói về "kẻ thù" của quý vị, ví như việc Ân Xá Quốc Tế lên án Mỹ vi phạm nhân quyền và cũng lên án Việt Nam với tội danh tương tự.

Đây là điều thứ ba tôi muốn nói với quý vị

Điều thứ tư nghe sẽ hơi sốc: nói thẳng ra là quý vị cực ngu

Quý vị không tin vào các thông tin "lề trái", tức là những thông tin trái ngược với báo chí chính thống và những tuyên bố chính thức của Việt Nam. Nhưng bản thân quý vị đang sinh hoạt ở một diễn đàn có tên miền quốc tế, đã hoạt động được hơn 2 năm nhưng ngân khoản duy trì sự tồn tại của nó vẫn là từ tiền của cá nhân những con người đáng trân trọng đã lập ra website này. Tại sao website này không thể có đuôi .vn và cũng không thể đăng quảng cáo được, quý vị nếu đủ thông minh thì đã nghĩ ra từ lâu rồi.

Quý vị quy kết tất cả những lời nói, bài viết của người khác là "phản động" "chống lại Việt Nam", "bán rẻ tổ quốc" chỉ vì những người ấy không có tư tưởng giống như quý vị. Quý vị bỏ ngoài tai mọi lời phân tích không theo ý kiến của quý vị, quý vị biến một diễn đàn trao đổi tri thức thành một cái chợ để cãi nhau và sỉ vả nhau bằng những từ như "thằng chó", "con lợn", một cách tự nhiên không biết ngượng mồm. Nếu vậy quý vị mất thời gian lên diễn đàn làm gì? Sao không trùm chăn lại tự nói cho xong?

Quý vị gọi người khác là "chống lại đất nước" bởi vì họ chống lại suy nghĩ của quý vị, như thế khác gì quý vị tự coi mình là đại diện của nước Việt Nam? Quý vị tự cho mình là người phát ngôn của chính phủ Việt Nam, hay ngắn gọn, quý vị chính là Việt Nam?

Quý vị kêu gọi người ta "cảnh giác với những âm mưu gây chia rẽ", nhưng lại không nhận ra rằng chính cái lời kêu gọi ấy của quý vị là một âm mưu gây chia rẽ. Nếu quý vị muốn sống tốt với hàng xóm của mình, ắt quý vị không bao giờ bắc loa giữa phố mà rằng "hãy cảnh giác với thằng A, con B, hàng xóm của tôi, chúng nó đang âm mưu chia rẽ".

Quý vị ngu lắm.

Muốn đất nước phát triển được, hãy thôi mò mẫm và ảo tưởng trong cái thế giới độc tôn của quý vị, hãy tỉnh táo trước những khẩu hiệu, hãy đi vào bản chất thay vì hô hào bên ngoài, hãy lắng nghe xem người khác nói thế nào, và hãy chân thật trong mọi mối quan hệ.

Nhưng tôi không vọng tưởng rằng một ngày nào đó quý vị sẽ thay đổi. Quý vị sẽ mãi mãi là người dân của một đất nước tụt hậu, tham nhũng, ô nhiễm và không được bạn bè quốc tế coi trọng.

Đên đây chợt nhớ câu nói của cụ Tản Đà:
"Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn..."

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Quà giáng sinh



Tác Giả : O. Henry
(1862-1910)

Một đồng tám mươi bảy xu ,đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.

Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa.Không hề có sự nhầm lẫn,chỉ có một đồng tám mươi bảy xu ,và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh. Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi.ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở.
Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK.
Hè có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ốm Jim', James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về.
Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ.



Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món qùa. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa ,một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.
Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tường. Mắt cô sáng lên.
Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della.
Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.
Della buớc chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu 'Madame Eloise'. Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp,bà ta chẳng có một chút vẻ 'Eloise' nào cả.
Della cất tiếng hỏi: 'bà mua tóc tôi không?'
'Tôi chuyên mua tóc mà, bà ta đáp và bảo: 'hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi'
Suối tóc nâu đẹp tụyệt vời buông xuống.
'Hai mươi đồng' bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.
'Hãy cắt nhanh đi! và đưa tiền cho tôi' Della nói.
Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ.Ŀó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó.
Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.



Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: 'mình có thể làm gì với nó đây?'. Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ tòan những sợi quăn quăn khắp đầu. 'Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!'. Cô tự nhủ :'Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?'
Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim.
Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cát áo khoác mới.Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: 'Đừng nhìn em như thế ,anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói 'giáng sinh vui vẻ', em có một món quà rất hay cho anh này!'
'Em đã cắt mất tóc rồi à?' Jim hỏi
'Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? em vẫn là em mà!' Della nói.
Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: 'em nói là em đã bán tóc à?'
'Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?'
Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói: 'anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống.Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa!
Della nâng niu món quà ,mắt tràn đầy hạnh phúc. 'Tóc em sẽ chóng dài ra thôi Jim', nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy.
'Đẹp không anh? em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này'

Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cười nói: 'Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu.Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu' ...đó là một câu chuyện cảm động về tình yêu của hai bạn trẻ đã hết lòng yêu nhau.



*****************************************************

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Picture of New US Dollars in 2010

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Paris tuyết trắng

Từ Nguyên
Cơn lạnh từ miền Bắc Âu tràn xuống nước Pháp. Paris, cũng như trong nhiều thành phố khác hàn thử biểu chỉ số dưới độ âm, chìm dưới màn tuyết trắng như hầu hết các thủ đô Âu châu. Năm độ dưới 0 độ tại Saint Etienne, -13 trong vùng Jura, cơn lạnh ngày càng tăng cường độ. Các tấm lòng từ thiện dang tay đón những người... sắp chết lạnh ngoài đường phố. Nhiều nhà thờ đã mở cửa trong chiến dịch Mùa Ðông liên đới (Hiver solidaire): Người vào đây trú một hay hai đêm... thấy ấm với tình người.

Rachid, năm nay ngoài 50, thất nghiệp từ năm 2003, không nhà từ ba năm nay. Mấy ngày lạnh, ông tới ngủ trong nhà thờ Saint-Jacques Saint-Christophe trong Quận XIX, nơi có mấy người thiện nguyện thay nhau để tiếp đón những người không nhà trong Mùa Ðông. Trùm một chiếc áo dạ có mũ và một áo len màu xanh dương dày cộm, Rachid tới trong phòng đợi của nhà thờ lúc 19 giờ, Mùa Ðông giờ này trời đã tối.

Trong bếp của nhà thờ, một bà thiện nguyện đang nấu xúp rau cải và gà nấu chanh ăn với cơm Ấn Ðộ (riz basmati), món ăn cho ba người vì còn hai người nữa cũng có mặt, một người gốc Maroc và một người từ Guadeloupe. “Tôi rất vui khi tới đây vì các bà thiện nguyện rất là ân cần, tử tế,” lời của ông Rachid nói với nhật báo Le Parisien. Buổi trưa, tôi ăn ở Restos du coeur (quán ăn thiện nguyện) ở khu La Vilette, buổi tối tới ngủ nhờ nơi đây. “Bên ngoài lạnh quá,” ông vừa nói vừa run. Với số trợ cấp 400 Euro mỗi tháng, ông này chấp nhận cảnh sống qua ngày.

Cũng có người ra đi

Vậy mà cũng có người không muốn ngủ lại trong nhà thờ. Sau bữa ăn, Richard, một anh tự xưng là “con bà phước,” không nhà từ khi sanh ra, ăn xong mặc áo choàng, ra đi. Anh tới ngủ dưới chân cầu sông Ourcq trong Quận X, nơi có hơi ấm từ dưới hầm bốc lên trước sự phản đối của mọi người. “Tôi sẽ uống thêm vài hớp rượu cho ấm.” Ngày hôm qua là ngày hên của anh. Một cặp vợ chồng già mời anh ăn trưa. Họ nói với anh ta: Viens à ma table, gamin! (Tới ngồi ăn đi, cậu em!) Tôi ăn một đĩa gà và cơm, giờ này còn no!

Sau bữa ăn và tách cà phê, ba tấm nệm được trải ra giữa sàn trong nhà thờ. Hai bà thiện nguyện ở lại trong một phòng khác để sáng dậy lo bữa điểm tâm cho họ lúc 7 giờ 30 sáng. Chuyện xảy ra như thế này được thấy nhiều nơi chứ không phải riêng trong nhà thờ này.

Nhà nước đã nâng kế hoạch cứu trợ Mùa Ðông lên cấp 3 để tăng cường việc giúp những người chưa tìm được nơi ngủ qua đêm. Các trợ tá xã hội hay nhân viên Hồng Thập Tự ra sức thuyết phục những người này theo xe về các nơi đã chuẩn bị sẵn, một chuyện nhiều khi không phải dễ!

Paris dành 25 chỗ trong tòa thị chính Quận IV và 60 chỗ trong vận động trường Lancette Quận XII. Nhiều chỗ khác đang chuẩn bị để đón tiếp những người không nhà khi nhiệt độ xuống thấp nữa. Số điện thoại 115, gọi để nhờ cấp cứu khi cần kiếm giúp cho một người không nhà có chỗ ngủ qua đêm.

Tại Bordeaux, báo chí cho biết đã có một người trẻ 35 tuổi, chết lạnh bên cạnh tòa thị chính, nằm dưới mấy tấm carton. Nhiệt độ ban đêm xuống tới -3 độ tại đây. Làm sao cho đủ ấm?

Tuyết trắng rơi nhẹ nhàng nhưng đã làm trở ngại lớn cho việc lưu thông, xa lộ cũng như không lộ. Nhiều máy bay phải nằm yên trong sân ga, không bay lên được. Chỉ có học sinh và du khách là vui: chơi ném nhau từng quả tuyết hay ngắm cảnh Tháp Eiffel như trong bức tranh.

Post Reply