Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mùa Sao Sáng
Sáng tác Nguyễn Văn Đông
Tiếng hát Khánh Ly


Image

Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời
Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui
Quỳ lạy Mẹ Maria lòng Mẹ từ bi bao la
Tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam

Rồi mùa đông trước qua mùa đông tiếp theo sau này
Người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi
Giặc tràn về quê hương tôi giặc diệt niềm tin Kitô
Lớp lớp đàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao

Đêm nay tôi nhớ người xưa trở lại
Chênh chếch mùa sao lạc loài
Ôi những mùa sao lẻ loi
Cho tôi thương nhớ mùa sao ngày nào
Thương nhớ mùa sao hồng đào
Ôi những mùa sao cách xa

Một mùa đông giá hang Bêlem Chúa sinh ra đời
Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn người Việt càng thương nhau hơn
Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trường Mỹ, Trường Ta

Phạm Công Lý

Qùy gối, bạt tai, quất đít, khẻ tay, dộng đầu vô bảng đen... là chuyện thường thấy ở các trường Tiểu Học thời lính mã tà mũi lỏ bận quần sọt, đội nón côi cồ lô nhần. Lên Trung Học, thì đở hơn nhiều, nhưng hình ảnh các thấy ăn vận chửng chạc, đầu chải brillantine láng cóong, nghiêm nghị có hơi hám hình sự, với cà la oách tòn teng, giày trắng boong hay đơ cu lơ lộp cộp, cũng còn khiến các học sinh giật mình, đổi sắc, khi được gọi lên bảng đen.
Chẳng biết tại sao tôi cứ nghĩ là tôi sẽ không theo nghề dạy học, dù rằng ông nội tôi là Hiệu Trưởng 1 trường... làng. Cậu tôi là Thanh Tra Tiểu Học ở miền Tây, Ba và chú tôi đều tốt nghiệp L école Normale Supérieure, nhưng số mạng đã đẩy đưa con thuyền không lái của tôi vào tạm bến giáo dục khi tôi đang ở Đại Học, vì cần tiền tiêu vặt. Khi ra Trường Thủ Đức, ông Trời đưa lối, bà Phật đưa đàng, vào chỗ làng nhàng mà đi, cuối cùng tôi cũng được về dạy ở 1 trường Sinh Ngữ cho đến khi sập tiệm.
Sau 3 năm tình nguyện đi "phục hồi nhân phẩm," ăn kiêng theo chế độ đặc biệt, chủ yếu là rau muống và sực những gì kiếm được, chộp được, chôm được.. làm mắt tôi sáng ra, thấy tội lỗi đầy mình, lấy lao động làm vinh quang. Tôi không phải đi vùng "Kinh Thấy Mồ" vì có "gõ đầu trẻ" trước đây. Cầy cục xin được 1 chân dạy ở một trường xa Sài gòn, chuyên dạy các con em nhà nông và làm rẩy viết và nói thông thạo tiếng Anh trong 1 niên khóa. Trụ được 9 năm, sang lết xe đạp đi, chiều lết về, chịu không xiết vì "dứt cháo" thường xuyên, nên tôi "trân trọng xin Hiệu Trưởng nghiên kiú và nhất trí cao độ" cho tôi được từ nhiệm và mất dạy.
Ra ngoài, tôi mở một cửa hàng Trung Tâm bán lẻ xăng, dầu, nhớt, cùng dịch vụ tổng hợp bơm, vá, rút căm, lộn xên.... xe đạp, trương bảng hiệu bằng 1 cục gạch để trên lề đường cho ông đi qua, bà đi lại thấy dễ dàng, ẩn nhẫn chờ ngày lìa xứ ông cố (cố quốc) để "quy Mã".
Đến xứ thiên đàng, địa ngục hai bên, tôi tưởng đã adios cái nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý của xã hội, mà chẳng hiểu sao, lọt tọt tôi lại vô giáo dục nữa (xin lưu ý vô ở đây là 1 động từ).
Trường Middle School của tôi ở khu nhà lá Dorchester, ngoại ô thành phố, dân cư thuộc thành phần lao động Technicolor: trắng có, đen có (Haìti, Cap Verde), nâu có (Mễ và Puerto Rico..), vàng có (Mít, Khmer, Tàu) và đỏ có (con cháu Sitting Bull). Lớp tôi là 1 lớp Sped, không phải là lớp tốc độ đâu, mà là lớp Special Education, dành cho học sinh chậm phát triển, có vấn đề, nhất là quậy phá (hyper). Đó là lớp đặc biệt nên không được bình thường lắm. Lớp 6 mà mù tịt về cửu chương, thứ mà các nhóc tì ba vá của ta đọc ra rả như " mắc thằng Bố" mỗi sáng. Các phép cộng, trừ, nhân, chia, nếu không có máy tính thì... thầy cô làm hộ. Chữ viết thì như toa thuốc bác sĩ, lại sai văn phạm, chính tả. mà giáo viên thì không được phép sửa gì cả, vì sợ học sinh.... buồn, mà.... bỏ học!!!.
Nắm được "cái tỏng" của quan niệm giáo dục " Tất cả vì học sinh thân yêu" nhằm phát triển tính độc lập suy nghĩ của học trò, mấy nhóc tì phát huy quyền làm "qủy" tới bến. Thách thức và dùng cả tiếng Đan Mạch với thầy cô là chuyện không hiếm. Thường xuyên nghe những lời hỗn láo của chúng, mà không có nội công thiền vô vi "mackeno" thâm hậu, thì một là bỏ nghề, hai là bỏ mạng (vì tăng xông hay đứt tim), ba là bỏ gia đình (đi tù) vì phải dộng cho chúng vài bạt tai cho đỡ tức. Quá quắt lắm thì bị cảnh cáo... gãi ngứa. hoặc cho về nhà mấy hôm, dưỡng sức để ... tiếp tục giõn mặt với thầy cô .
Thích thì học lai rai, buồn thì đi loanh quanh trong lớp hay nằm ngủ tỉnh queo. Ngoài nhiệm vụ năn nỉ chúng học và làm bài, các thầy cô còn phải babysit chúng bất cứ nơi đâu: Đổi lớp, ăn trưa, đi vệ sinh... đều có tiền hô hậu ủng, nếu không thì phòng ngập nước, cầu nghẹt, cửa hư, tường đầy hình vẽ, câu nói mà ông, bà giáo sắp đến tuổi hưu cũng thấy đỏ mặt , than trời! Chơi và phá nhiều hơn học, nhưng năm nào cũng được lên lớp đều đều, có lẽ bắt chước chỉ tiêu giáo dục tiên tiến của ta chăng?
Bị áp lực nặng nề suốt năm chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của thầy cô giáo ở xứù này. Trong năm 1998 và các năm sau đó, một loạt vụ thảm sát kinh hoàng xảy ra trong các trường học ở MI, AL, PA, KY, AK,MS, VA.. đã đưa nghề giáo vào danh sách Top Ten của những nghề nguy hiểm nhất, chỉ sau binh sĩ ở chiến trường, cảnh sát và lính cứu hỏa mà thôi .
Rất may mắn là Diêm Dzương đã cương quyết không duyệt hộ khẩu cho mấy tên qủy nhỏ này, đầu thai vào đất nước trọng sư, học đạo của ta từ xưa đến nay.
Nhìn người lại nghĩ đến ta. Con em mình ngoan như đàn cừu, dễ dạy, cầu tiến. Vị trí của thầy cô bao giờ cũng là nơi trang trọng nhất trong xã hội. Học sinh, thấm nhuần lễ giáo Khổng Mạnh, thuộc Quốc Văn Giáo Khoa Thư như cháo: Gần ½ thế kỷ trôi qua, nhung chuyện ông Carnot về thăm thầy cũ đã khiến một số học sinh nhỏ ngày xưa, tứ tán 4 phương trời, vì thời cuộc, đã tìm về quê, thăm thầy cô, thậm chí còn tạo cơ hội để thầy cô có dịp gặp lại các học sinh cũ trong các cuộc họp mặt định kỳ.
Có đáng hãnh diện không khi biết các giáo viên ở đây đều có 1 nhận xét chung: "Rất thoải mái và hân hạnh được dạy các học sinh Việt Nam". Đó là truyền thống tốt đẹp suốt 4000 ngàn năm lịch sữ, và bây giờ lại trải dài hơn 10.000 dặm tận bên kia bờ Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Thảo nào có người nổ một câu nghe đã ngứa còn hơn lấy ráy tai ở tiệm hớt tóc máy lạnh Ô Mờ, đáng được đưa vào sách kỷ lục Guiness: "Nhân loại mơ "bừng con mắt dậy, thấy mình.." là người Việt Nam.
Nghe người khen, đã thấy khoái, tại sao ta lại không khen mình cho nó sướng hơn? Thế nên tôi mạo muội đạo văn bài "Ai bảo chăn trâu là khổ..." để đề cao ta một lần nữa, Thơ rằng :

Ai bảo làm người Việt Nam là khổ
Không, người Việt Nam sướng lắm chớ.
Ta có cha mẹ tảo tần
Có ông bà yêu cháu
Có vợ chồng thủy chung
Có bạn bè thân thương
Có con kính mẹ cha
Có trò trọng thầy cô
Dù góc bể chân trời
Ta không bao giờ đổi.

Tạm trú ở một đất nước dư thừa vật chất, nhưng đạo đức khiếm khuyết, tình người phải đốt đuốc, kỳ thị vẫn còn lảng vảng, dù ẩn mặt, giấu tên, người Việt Nam xa xứ, dù ở địa vị nào, vẫn sống và làm việc, lạc quan và tự hào về truyền thống xưa và hy vọng còn tiếp tục ở những thế hệ mai sau.

Phạm Công Lý

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Chụp mũ
Tác giả: Gã Siêu




1. Chụp mũ


Ngày xửa ngày xưa, hồi còn bé tẹo bé teo, gã đã được thày giáo trường làng dạy cho biết :


- Thân thể con người ta được chia làm ba phần : đầu, mình và tay chân.


Tất cả ba phần này đều được bảo vệ kỹ càng để chống lại với những khắc nghiệt của thời tiết. Chẳng hạn để bảo vệ cái đầu, người ta đã sáng chế ra biết bao nhiêu thứ ô dù, mũ mão. Chẳng hạn để bảo vệ cái mình, người ta đã tung ra thị trường biết bao nhiêu thứ áo quần. Chẳng hạn để bảo vệ tay chân, người ta đã bày bán biết bao nhiêu thứ giày dép, găng vớ…


Thế nhưng, người là một con vật có trí khôn, là một cây sậy biết suy tư. Chính nhờ những suy tư của trí khôn mà con người không ngừng cải tiến và phát triển trên mọi lãnh vực, chẳng hạn từ chỗ ăn cho no đến chỗ ăn cho ngon, từ chỗ mặc cho ấm đến chỗ mặc cho đẹp…Chính vì lẽ ấy mà các thứ mẫu mã thời trang thi nhau chào đời như nấm mọc ào ào sau cơn mưa.


Hơn thế nữa, trên mỗi phần của thân thể lại có những bộ phận khác nhau và mỗi bộ phận cũng đều có nhu cầu cần được bảo vệ và làm đẹp. Chẳng hạn trên cái đầu thì có tóc, tai, mắt, mũi, môi…


Về cái tóc, chúng ta thấy các thứ kiểu cọ từ đầu trọc, đầu húi cua ba phân đều đến đầu bù xù và các thứ đầu quái đản khác. Nhất là đối với quí bà quí cô, thì các kiểu tóc, các màu tóc lại còn thiên biến vạn hóa đến quỉ thần cũng không lường nổi.


Về cái tai, chúng tha thấy lủng lẳng các thứ vòng to vòng nhỏ, hình nọ hình kia, thậm chí đến cả cây thập giá cũng đã được treo toòng teng lúc lắc trên những đôi tai mỹ miều và dễ thương. Đúng thực “cái tai cái tóc là góc người”.


Ngày nay, đối với dân chơi, không phải chỉ đờn bà con gái mới xỏ, mà đờn ông con giai cũng xỏ. Không phải chỉ xỏ lỗ tai, mà còn xỏ cả lỗ mũi, lỗ rốn cũng như xỏ cả cái lưỡi của mình nữa, mà đôi khi gã được rùng mình chiêm ngưỡng trên phim ảnh.


Về cái mắt, chúng ta thấy nào là cạo hàng lông mày có từ lúc cha sinh mẹ đẻ để tô vẽ lên đó theo đúng ý của mình, “lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”. Hay xâm lên đó để có hàng “lông mày vĩnh cửu”, từ nay khỏi mất công mất giờ điểm trang, vì “thời giờ vốn dĩ là vàng bạc”. Còn lông mi ấy hả, nào là cấy thêm cho nó dày đặc. Còn ví như không có tiền đi mỹ viện để cấy thêm, thì sẽ phải chịu khó đeo lông mi giả, để mỗi khi đôi mắt chơm chớp, sẽ tăng thêm phần đơn sơ “con nai vàng ngơ ngác”.


Về cái môi, cái miệng, cái cằm…người ta cũng rất chịu khó thẻo bớt chỗ này, vá thêm chỗ kia để được hoàn toàn như ý. Nguyên son tô môi mà thôi cũng có biết bao nhiêu thứ với biết bao nhiêu “tông” màu khác nhau, từ tái nhợt như miếng thịt trâu ươn cho đến đỏ chói như máu gà trống…


Bàn về những thứ phụ tùng lỉnh kỉnh ấy, chả biết đến bao giờ mới hết. Hôm nay gã chỉ xin nói về những thứ được dùng để bảo vệ cho cái đầu mà thôi.


Tất cả những thứ được đội để bảo vệ và làm đẹp cho cái đầu đều được gọi là mũ hay nón. Tuy nhiên, đâu là điểm phân biệt giữa mũ và nón, thì gã xin chịu, chưa thể đưa ra lời giải đáp thỏa đáng. Rất có thể vì thói quen, người ta gọi cái này là mũ, còn cái kia là nón. Hay do thiết kế mẫu mã của nó, chẳng hạn nón thì thường to hơn mũ.


Người Việt Nam chúng ta có một loại nón đặc biệt, đó là chiếc nón lá. Chiếc nón lá được trang điểm thêm thành chiếc nón bài thơ cho các cô gái Huế và chiếc nón quai thao cho các cô gái Bắc Ninh hát hò quan họ. Chiếc nón lá được các cô gái Việt Nam đội trên đầu, đi theo với chiếc áo dài hay áo bà ba thì quả là tuyệt vời. Những lúc cần tỏ ra e ấp thẹn thùng thì chỉ cần lấy chiếc nón lá che khuất nửa khuôn mặt là…ăn tiền.


- Trời mưa thì mặc trời mưa,


Tôi không có nón, trời chừa tôi ra.


Tuy nhiên, có một loại nón gã rất thích, đó là chiếc nón sắt của mấy anh lính. Chiếc nón này thật đa dụng. Có thể dùng làm ghế để ngồi, có thể dùng làm thùng để múc nước, có thể dùng làm nồi để nấu cơm và nhất là có thể dùng làm cối để giã cua, vừa nhẹ lại vừa gọn. Đứa con nít bị mẹ bảo giã cua, giã xong lại còn phải mang cối đi cọ rửa. Sức con nít làm sao có thể bưng nổi cái cối đá, không khéo nó rớt vào chân thì thật…rách việc.


Trở lại với chủ đề chiếc mũ. Trải qua dòng thời gian chiếc mũ cũng được biến đổi tùy theo vật liệu, tùy theo hình dáng và tùy theo chức vụ…


Chẳng hạn về vật liệu, chúng ta thấy mũ dạ là loại mũ làm bằng len để đội cho ấm khi mùa đông trở về, mũ rơm là cái vòng bện bằng rơm có quấn vải trắng để con trai và cháu nội người chết đội mà chịu tang, như ca dao đã diễn tả :


- Một mai bóng xế cội tùng,


Mũ rơm ai đội, áo thùng ai mang.


Chẳng hạn về hình dáng, chúng ta thấy mũ nồi hay mũ bê rê là loại mũ tròn giống như cái nồi úp lên đầu, mũ trái bí là loại mũ có khía giống như trái bí, mũ lưỡi trai là loại mũ có vành giống như con sò, con hến, con trai để che mắt cho bớt nắng, mũ chào mào là loại mũ giống như đầu con chim chào mào…


Chẳng hạn về chức vụ, chúng ta thấy mũ cử nhân hay mũ tiến sĩ là loại mũ hình vuông, có tua phủ xuống, mà những người thi đỗ thường đội khi lãnh nhận văn bằng. Trong ngày tốt nghiệp, những cô cậu hay ông bà cử nhân và tiến sĩ đều đi thuê áo mão để chụp cho mình những bức hình làm kỷ niệm lúc ra trường với bè bạn và những người thân yêu. Đây quả thực là một dịp tốt để các bác phó nhòm…hốt bạc.


Riêng trong phạm vi tôn giáo, chúng ta thấy bên Phật giáo có mũ ni là loại mũ dành cho các vị sư sãi :


- Nào mũ ni, nào áo thâm,


Đi đâu chẳng đội, để ong châm.


Bên Công giáo có mũ gàu hay mũ cà cuống là loại mũ dành cho các giám mục khi cử hành thánh lễ “đại trào”. Ngoài ra, ngày xưa còn có thêm mũ ba khía là loại mũ vuông, phía trên có ba cái khía, chẳng biết có phải là để kính Đức Chúa Trời Ba Ngôi hay không ? Mũ này vốn được các linh mục đội khi cử hành thánh lễ.


Trong những năm gần đây tại Việt Nam, nhà nước đã qui định đòi buộc tất cả những người cưỡi xe máy, phóng phom phom trên đường, phải đội mũ an toàn. Đây cũng là một dịp hốt bạc cho những tay chế tạo mũ giả cũng như cho các tay lái buôn. Có những lúc chiếc mũ an toàn lên cơn sốt vì giá cả tăng vùn vụt. Nhưng rồi ba bảy hai mươi mốt ngày, qui định trên lại chìm vào quên lãng, như hòn đá chìm xuống đáy hồ. Ai đội thì cứ đội, ai không đội thì vẫn không đội. Công an cảnh sát cũng nhắm mắt làm ngơ, mặc dù dọc theo bên đường, không thiếu những tấm bảng ghi :


- Đoạn đường buộc phải đội mũ an toàn.


Vô phúc cho những ai không đội mũ an toàn vào những ngày nhà nước phát động chiến dịch, hay vào những ngày anh công an cảnh sát buồn tình và ngứa tay muốn biên phạt mà chớ.


Trong ngôn ngữ hằng ngày, người ta cũng thường dùng chữ mão và chữ miện để chỉ về mũ.


Chẳng hạn mão bình thiên là loại mũ phía trên thẳng được nhà vua đội khi cúng tế, mão cánh chuồn là loại mũ có hai tai dài như cánh con chuồn chuồn được các quan văn đội, mão tì lư là loại mũ dành cho các vị hòa thượng.


Còn miện được dùng để chỉ chung các loại mũ được đội trong những lúc hành lễ, như gia miện, quan miện, triều miện…Riêng hai chữ vương miện, gã không biết có phải là loại mũ của nhà vua hay không, nhưng ngày nay nó là một món đồ trang sức được cài lên đầu cô hoa hậu trong những cuộc thi sắc đẹp.


Thực vậy, để đoạt được cái vương miện, các cô gái đã phải trải qua nhiều phen sất bất xang bang, lo đến toát cả mồ hôi hột, bởi vì trong những cuộc thi sắc đẹp ngày nay trên cả và thế giới, người ta không phải chỉ chú trọng đến ngoại hình, mà còn chú trọng cả đến kiến thức và cách ứng xử nữa. Thành thử, mặc dù có điểm cao với trang phục áo tắm, hay có những vòng số một, số hai và số ba thật lý tưởng, thì cũng chưa ăn chắc cho lắm, bởi vì còn phải trả lời những câu hỏi ấm ớ hội tề của ban giam khảo, để trắc nghiệm về kiến thức và cách ứng xử.


Cũng trong phần thi trắc nghiệm này mà nhiều chuyện vừa buồn lại vừa cười khiến vãi cả nước mắt đã xảy ra trong các cuộc thi sắc đẹp tại Việt Nam, bởi vì có những câu trả lời thật ngây ngô ngốc nghếc không thể chấp nhận được của những người vốn đã đẹp.


Chẳng hạn ban giám khảo hỏi :


- Trưng Trắc, Trưng Nhị là ai ?


Thí sinh đã trả lời :


- Đó là hai tài tử ăn khách của Hồng Kông !!!


Chẳng hạn ban giám khảo hỏi :


- Nếu đạt danh hiệu hoa hậu, em sẽ làm gì ?


Đây là một câu hỏi mà hầu như các “lò luyện thi hoa hậu” nào cũng đều cài đặt sẵn cho những con gà của mình. Vì thế, khi được hỏi, thì hầu như các thí sinh đều có một câu trả lời giống hệt nhau :


- Em sẽ dành một số tiền để giúp đỡ những nạn nhân chất độc màu da cam. Rồi sau đó, em sẽ hiến đời mình để phục vụ những con người bất hạnh…


Và thực tế đã cho thấy nói vậy mà không phải vậy đâu, hay nói để mà nói, còn làm lại là chuyện khác. Ta cứ nói vung nói vít để ăn điểm của ban giám khảo cái đã, rồi mọi sự sau đó sẽ…hạ hồi phân giải. Bởi vì trong đời thường không thiếu gì những cô hoa hậu, những cô người mẫu lợi dụng sắc đẹp và tên tuổi của mình để làm những việc não lòng như đi buôn lậu, hay đi làm…gái gọi !!!


Xét về lợi ích, như đã trình bày ở trên, chiếc mũ được dùng để bảo vệ cho cái đầu, nó giúp chúng ta che nắng che mưa…Đồng thời còn được dùng để làm đẹp nữa, vì thế đã có biết bao nhiêu kiểu cọ và mẫu mã xuất hiện, nhất là những thứ mũ được dành cho đờn bà con gái. Có chiếc mũ được hình thành như một một bông hoa, có chiếc mũ được hình thành như một tổ quạ, có chiếc mũ được hình thành như một cái đuôi con công…Thôi thì thiên hình vạn trạng làm sao kể ra cho xiết !!!


Ngoài ra, chúng ta còn có thể ghi nhận được những lợi ích khác nữa của chiếc mũ, tùy theo quan niệm của từng dân tộc.


Chẳng hạn người Việt Nam chúng ta thường bảo :


- Mũ ni che tai.


Chiếc mũ ni dành cho các vị sư sãi, thường được đan bằng len, nếu kéo xuống có thể phủ kín cả đôi tai, để rồi chẳng còn nghe thấy gì nữa. Cử chỉ này muốn nói lên thái độ “phớt tỉnh ăng lê”, an phận thủ thừa trước những đổi thay và thăng trầm của cuộc sống. Ta chui vào cái vỏ ốc của ta. Ta ngủ yên trong tháp ngà của ta :


- Thế sự thăng trầm quân mặc vấn. Chuyện đời lên xuống anh hỏi làm chi cho mệt.


Chảng hạn đối với người Pháp, trong một cuốn tự điển thành ngữ, gã đọc được hai câu xin ghi lại đây để cùng suy nghĩ xem đúng hay sai.


Câu thứ nhất :


- Ngồi trên ngai và đội mũ, người ta sẽ tỏ lộ được nhiều tác phong của mình.


Theo ngu ý của gã thì câu này ý muốn nói lên rằng hoàn cảnh bên ngoài cũng giúp chúng ta thể hiện được phần nào con người của mình.


Câu thứ hai :


- Người ta sẽ đi xa với chiếc mũ cầm trên tay hơn là với chiếc mũ đội trên đầu.


Cũng theo ngu ý của gã, thì với phép lịch sự, người ta sẽ chiếm được nhiều cảm tình của những người chung quanh.


Chả hiểu có đúng như vậy không ?


Sau khi đã xét về lợi ích của chiếc mũ, bây giờ gã xin nói đến việc người ta đã dùng chiếc mũ như thế nào ?


Vì chiếc mũ là một đồ dùng để bảo vệ và làm đẹp cho cái đầu, nên mỗi khi ra đường người ta vốn thường đội mũ. Đây là một hành động tự ý. Do đó, người ta cũng có nhiều cách đội mũ.


Có người thích đội mũ thật ngay thật thẳng. Có người thích đội mũ lệch sang một bên. Và thậm chí có người thích đội mũ ngược, đằng trước lộn ra đằng sau. Chẳng hạn như chiếc mũ lưỡi trai, bình thường cái lưỡi trai ở phía trước để che bớt cho cặp mắt, nhưng bây giờ người ta lại thích đội ngược, nghĩa là cho cái lưỡi trai về phía đằng sau để bảo vệ cái ót, cái gáy của mình. Đội ngược như vậy đôi khi cũng lợi, nhất là khi cần phải cầm máy để chụp hình…


Vì chiếc mũ có liên quan tới địa vị và chức tước, nên người ta rất lấy làm vinh dự khi lãnh nhận nó cùng với những thứ phụ tùng lỉnh kỉnh khác nữa. Chẳng hạn khi được bổ nhiệm làm quan, hẳn đương sự sẽ vô cùng hãnh diện khi lãnh nhận “áo mão” vua ban. Chẳng hạn khi được tấn phong làm “vít vồ” tức là làm giám mục, bậc đáng kính nom cũng oai phong lẫm liệt ra phết khi tiến lên lãnh nhận…”mũ gậy”.


Tuy nhiên có một hành động xem ra chẳng mấy ai ưa thích, đó là bị thiên hạ…chụp mũ. Vậy chụp mũ là gì ?


Theo gã nghĩ, bị chụp mũ là bị bó buộc đội phải một chiếc mũ trên đầu, từ đó suy ra là bị gán cho một nhãn hiệu, một tội trạng nào đó trước mặt bàn dân thiên hạ. Còn theo “Việt Nam Tự Điển” của Lê Văn Đức, thì chụp mũ là tròng mũ lên đầu người ta, từ đó suy ra là vu khống, gán ghép cho người ta một việc làm phi pháp tưởng tượng, với dụng ý làm hại người ta, khiến người ta, nếu không thân bại danh liệt, thì cũng mất toi cái danh dự và uy tín vốn dĩ là những thí quí hiếm trên đời.


Nếu chịu khó “ngâm kíu” một tí, chúng ta sẽ thấy thói chụp mũ đã được thịnh hành từ một thời rất xa xưa.


Chẳng hạn như tổ phụ Giuse của dân Do Thái, sau khi bị bán sang Ai Cập, đã phải đi ở đợ cho nhà quan Putiphar. Nhân lúc quan ông đi vắng, quan bà bèn dụ dỗ tổ phụ ăn ở với mình, nhưng tổ phụ đã thẳng thừng từ chối. Bực bội và tức tối, quan bà bèn chụp cho tổ phụ chiếc mũ cưỡng bức và tổ phụ liền bị tống ngục.


Chẳng hạn như bà Suzana bị hai lão già giở trò hãm hiếp, nhưng bà một mực cự tuyệt. Thấy ý đồ đen tối của mình không thành, hai lão già bèn chụp cho bà chiếc mũ ngoại tình để rồi kết án ném đá bà cho chết. Nhưng may thay, bà đã được cậu bé Daniel cứu thoát.


Và nhất là Đức Kitô, có lẽ Ngài là người đã bị chụp mũ nhiều nhất. Nào là chiếc mũ lộng ngôn phạm thượng dám xưng mình bằng Thiên Chúa. Nào là chiếc mũ phá hoại lề thói tổ tiên vì không tuân giữ ngày nghỉ lễ. Nào là chiếc mũ phản loạn vì tự xưng là vua và xúi dân đừng nộp thuế…Cuối cùng Ngài đã bị đóng đinh vào thập giá như một tử tội.


Chụp mũ cho cá nhân đã đành, nhiều khi người ta còn chụp mũ cho cả một tập thể, cả một tổ chức. Và Giáo hội Công giáo đã trở thành nạn nhân số một trong lãnh vực này.


Thực vậy, suốt ba thế kỷ đầu, Giáo hội đã bị chụp cho chiếc mũ là nguyên nhân gây ra những tai ương hoạn nạn để rồi các vua chúa giáng xuống những chiếu chỉ bắt bớ và cấm cách. Bạo vương Nêrôn, chẳng hiểu vì muốn chỉnh trang lại thành phố Rôma hay vì muốn lấy hứng làm thơ, bèn ngầm sai người phóng hỏa đốt cháy kinh thành, rồi chụp cho người công giáo chiếc mũ là thủ phạm rồi ra tay tàn sát đẫm máu.


Tại Việt Nam cũng thế, các ông vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cũng đã chụp cho người công giáo chiếc mũ theo tây, chiếc mũ phản quốc, chiếc mũ phá hoại truyền thống…rồi ra lệnh truy nã.


Trong phạm vi cá nhân, hằng ngày chúng ta cũng đã được nghe biết hay chứng kiến bao nhiêu trường hợp đau buồn đã xảy ra. Cách đây không lâu, một nữ sinh trẻ đẹp đã nhảy xuống sông tự tử, làm xôn xao dư luận trong nước. Lý do thật đơn giản. Số là có một chàng thanh niên hàng xóm thầm yêu trộm nhớ cô ta, nhưng đã bị cô ta lờ tít và chối từ. Giận cá chém thớt. Không được ăn thì đạp đổ. Anh chàng này đã tung tin, phao đồn rằng cô ta là đã từng ăn cơm trước kẻng, đã từng quan hệ trên mức tình cảm cho phép với anh ta. Và thế là cô nữ sinh trẻ đẹp liền bị mọi người nhìn bằng cặp mắt khinh bỉ. Chịu không nổi sự khinh bỉ ấy, cô ta đã mượn dòng nước để minh chứng cho cõi lòng trong trắng của mình.


Xem ra nạn chụp mũ ngày càng gia tăng với cấp số nhân. Gã còn nhớ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hình như nhà nước Việt Nam rất khoái dùng biện pháp chụp mũ để thực hiện những mưu toan của mình.


Thực vậy, hầu như tất cả các văn nghệ sĩ của chế độ cũ đều bị chụp cho một trong hai chiếc mũ, nếu không đồi trụy thì cũng phản động, để rồi cấm tiệt việc lưu hành các tác phẩm cũng như cấm tiệt mọi hoạt động của giới này.


Muốn tịch thu một cơ sở nào đó, thì chỉ cần nhờ kẻ lạ dấu vào đó một vài khẩu súng, rồi ra lệnh lục soát và thế là cơ sở ấy lập tức bị đi đoong. Muốt bắt một người nào đó, thì chỉ cần ném vào nhà người ấy một vài tờ truyền đơn rồi chụp cho chiếc mũ phản động, thế là người ấy bèn tiêu tùng, đi đời nhà ma.


Có một hồi, người ta bảo Giáo Hoàng Học Viện tại Đalat do các cha dòng Tên điều khiển là cơ sở đào tạo nhân viên CIA, còn cất giấu nhiều vũ khí, làm cho những người sống trong đó cứ phập phồng lo âu.


Bản thân gã cũng vậy. Vì cắm dùi tại một vùng sâu vùng xa, thư từ thường bị thất lạc, nên gã đã phải mượn địa chỉ của một người bạn trên tỉnh. Chẳng hiểu sao mấy ông công an biết được, bèn mời gã tới làm việc. Họ nói :


- Chúng tôi biết anh là xịa được gài lại để quấy phá.


- Thưa cán bộ, tôi chẳng hiểu xịa là gì thì sao làm xịa được.


- Nếu anh không phải là xịa thì tại sao anh lại có một hòm thư bí mật trên tỉnh để liên hệ với những người nước ngoài.


- Thưa cán bộ, nếu tôi là xịa, thì ngu gì tôi liên hệ với người nước ngoài bằng thư từ qua bưu điện, vì chắc chắn thế nào cũng bị kiểm soát. Như vậy chẳng khác chi thưa ông tôi ở bụi này. Hơn nữa, bọn xịa chẳng nhẽ lại không trang bị cho nhân viên của mình những phương tiện hiện đại để liên hệ một cách mau chóng, chứ ngồi đó mà chờ bưu điện chuyển theo vận tốc rùa bò thì tới bao giờ mới nhận được và còn đâu tính cách nóng sốt của nó nữa.


Thế là tịt ngòi.


Và hiện nay, với sự bùng nổ của thông tin qua việc nối mạng “internet”, người ta lại càng chịu khó chụp mũ cho nhau một cách ồn ào. Thực vậy, nếu nói theo ngôn ngữ của Phúc Âm, thì bây giờ không còn là thời buổi người ta lấm lét xì xầm với nhau dưới gậm giường nữa, mà là thời buổi người ta công bố trên mái nhà. Không những chỉ công bố trên mái nhà mà còn người ta loan truyền cho cả và thiên hạ cùng biết.


Chỉ cần ngồi nhà, bấm“con-néc” một phát, tức khắc người ta có thể xem mọi hình ảnh và đọc mọi thứ, từ tin tức đến những chuyện giải buồn…Nhiều khi lượng thông tin ào ạt đổ xuống, đến tối tăm mắt mũi, không kịp thở để mà coi nữa.


Đôi lúc, gã cũng lang thang trên mạng, hay nhận được những cái “meo”, trong đó người ta chửi nhau búa xua và chụp cho nhau đủ các thứ mũ. Qua những tài liệu ê hề ấy, gã ghi nhận một vài điều như sau :


Điều thứ nhất, những kẻ thích chửi bới thường thường tự phong cho mình là thông minh uyên bác vào bậc nhất trong thiên hạ. Thế nhưng, sự thông minh uyên bác của họ cũng chỉ là sự thông minh uyên bác của một con ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung mà thôi.


Điều thứ hai, một khi tự cảm thấy mình thông minh uyên bác, họ liền cho rằng mọi ý nghĩ của mình đều là “sáng kiến” còn những ý nghĩ của người khác chỉ là “tối kiến”. Mình luôn luôn đúng, còn người khác luôn luôn sai. Vì thế, mặc sức mà chửi bới vung vít, như vung gươm giữa cảnh nhà hoang vườn trống.


Điều thứ ba, đối với những kẻ cùng một lập trường, họ không ngần ngại bốc thơm và nâng lên tới tận trời xanh, còn đối với những người không cùng một đường lối, họ sẵn sàng bốc thối và dìm xuống tận đất đen, bằng cách chụp mũ, nào là thân cộng, nào là phản bội quê hương, vân vân và vân vân…


Điều thứ bốn, người ta thường dùng đao to búa lớn mà phang nhau. Ngày xưa, gã thường rất dị ứng khi nghe đài Hà Nội gọi thằng Ngụy, thằng Mỹ, thằng Thiệu, thằng Nixon, thằng nọ và thằng kia…Bây giờ, họ cũng dùng thứ ngôn ngữ hàng cá hàng thịt, lái trâu lái bò mà chửi nhau như vậy. Theo gã nghĩ, dù chửi nhau thì cũng phải chửi cho có…văn hóa, bởi vì người Việt Nam mình vốn thường tự hào là có những bốn ngàn văn hiến kia mờ.


Sau cùng điều thứ năm, một khi đã không ưa nhau, họ sẵn sàng vạch áo cho người xem lưng, bới móc nhau từ chuyện chính chị chính em đến chuyện đời tư, chẳng kiêng nể gì sốt. Mà chuyện đời tư với những mảnh tình lem nhem mới câu khách và hấp dẫn người đọc. Nếu không có, người ta cũng dư sức tưởng tượng mà phệu ra…cho thêm phần giật gân và lâm ly bi đát.


Thậm chí, gã có anh bạn tính làm sui với người kia, nhưng chuyện không thành. Thế là anh bạn ấy bèn nhảy vào trang “web” mà hạch sách, mắng mỏ cho người kia một trận te tua.


Cái gì, chứ bắn lên mạng, tung lên “net”…bây giờ quả là việc dễ dàng như trở bàn tay, mà hậu quả lại to lớn khôn lường vì bàn dân thiên hạ đều biết đến.


Viết tới đây bỗng gã thở dài thườn thượt. Nếu là kẻ bi quan, gã liền sắm cho mình một chiếc mũ ni che khuất hai lỗ tai và hai con mắt, để trở thành người không không thấy và không không nghe, như điệp viên không không bảy vậy.


Còn nếu là người yêu đời, gã sẽ tặc lưỡi mà lẩm bẩm :


- Kệ bà nó. Ai khen ta mà khen phải ấy là bạn ta, còn ai chửi ta mà chửi phải ấy là thày ta. Chiếc mũ đâu có làm nên ông cử hay ông tú.
band4 3G McKeno

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Ca Sĩ Bảo Yến: Trả Tự Do Cho Chồng
"Nếu vì tình yêu, tôi đã ly dị cách đây 15 năm rồi, ngày mà tôi nhận ra anh ấy phản bội tôi" - Ca sĩ Bảo Yến giãi bày.

Ca sĩ của những năm 80 với Chiều hạ vàng, Đường xưa cho biết, giờ chị không còn khắt khe quá trong cuộc sống bởi chị đã tìm được nơi trú an bình cho tâm hồn.

- Người ta thường nói khi hết yêu thì còn nghĩa và nghĩa sẽ giúp giữ gia đình. Cuộc sống của chị và nhạc sĩ Quốc Dũng bây giờ vì nghĩa hay vì yêu?

- Vì nghĩa nhiều hơn. Nếu vì tình yêu, tôi đã ly dị cách đây 15 năm rồi, ngày mà tôi nhận ra anh ấy phản bội tôi, không còn yêu tôi. Tôi muốn giữ gia đình tốt đẹp, cho con tôi có cả cha và mẹ. Trong cuộc sống tình yêu nặng hơn nhưng phải là tình yêu đích thực. Tức hai người yêu nhau có thể cùng sống, cùng chết, đi chung con đường, cùng hòa nhịp đập... Hồi tôi và anh Dũng mới quen nhau, lấy nhau đó là tình yêu. Nhưng sau đó vì thời gian mà nhạt phai, chính người đàn ông họ muốn tìm gì đó mới mẻ để thay đổi và họ bỏ mình bên lề.

Tôi và anh Dũng khổ vì nhau nhiều năm, sau đó tôi buồn nên tìm đến tiếng kệ lời kinh để mong một sự thay đổi từ anh Dũng. Nhưng anh vẫn vậy nên tôi đã đi nước ngoài và khi về tôi thay đổi quan niệm. Tôi nghĩ mình nên sống nhẹ nhàng, khi người ta không muốn sống với mình nữa thì mình để cho người ta tự do.

- Khi thấy người mình từng yêu đi về bên người khác chị không buồn sao?

- Tôi và anh Dũng đã có một “hợp đồng” thỏa thuận để trả tự do cho nhau. Vì có “hợp đồng” như vậy tôi đã tìm một chỗ dựa tinh thần khác. Ngày xưa tôi ghen lắm! Gần 10 năm trở lại đây, tôi không ghen nữa. Tôi như con chim tự bay, không tự khóa mình trong lồng nữa. Bởi khi mình ở trong lồng mình cũng muốn bắt người ta ở trong đó. Một ngày người ta có thể chỉ ăn một chén cơm nhưng con tim phải có chỗ dựa mới có thể sống. Đặc biệt là người nghệ sĩ, nếu tôi không yêu tôi không thể trình bày hay những khúc tình ca. Và tôi hiểu anh Dũng cũng phải có chỗ dựa khác để yêu đời mà sáng tác.

Từng tính chuyện giải nghệ

- Chị từng nói suốt mười năm qua chị đã có một cuộc sống an nhiên. Khi chị chọn ánh đèn sân khấu để trở lại, chị có lường trước những xáo trộn trong cuộc sống?

- Thật ra tôi không quay trở lại mà do chiều ý chị Xuân Hòa (chủ phòng trà Văn Nghệ) mà tôi trở lại. Và chắc chắn cuộc sống tôi sẽ khác. Ngày xưa tôi đã định giải nghệ bởi tôi thấy cuộc đời dành cho mình nhiều nghiệt ngã quá!

- Nghiệt ngã trong tình cảm hay sự nghiệp, thưa chị?

- Cả hai... Ngày xưa, bước vào đời tôi mang tất cả hy vọng, ước mơ theo mình nên mới bị thất vọng. Khi tôi bươn vào cuộc sống quá nhiều, tôi ít có thời gian chăm sóc gia đình khiến chồng lang bạt kỳ hồ và cuộc sống gia đình mất hạnh phúc. Ngày đó, khi hát trên sân khấu, chỉ cần một trục trặc nhỏ như trống chậm, âm thanh lớn... tôi khó chịu ngay. Là nghệ sĩ, dư luận có người thương, người ghét. Có nhiều đánh giá chưa đúng về tôi như nghĩ tôi là người ham tiền, ham chạy sô, ăn mặc hở hang. Cơ quan quản lý lại phạt liên tục. Tôi cảm thấy mình “làm dâu” nhiều người quá, chịu không nổi, tôi đã buông...

- Nhưng hình như chị buông không đặng?

- (Cười) Do ca hát là nghiệp rồi. Cha mẹ tôi là người làm văn nghệ (cha là nghệ sĩ Thủy Triều), lấy chồng cùng làm chung (nhạc sĩ Quốc Dũng). Ca hát đã thành tự nhiên, cứ thế mà chảy. Và con trai tôi cũng tiếp nối con đường đó (ca sĩ Bảo Yến và nhạc sĩ Quốc Dũng có hai con trai: Hoàng Kim - ca sĩ Khải Ca và Bảo Châu). Nhưng tôi không trở lại sân khấu hàng đêm như ngày xưa, tôi chỉ hát ở phòng trà Văn Nghệ. Bây giờ tôi cũng không còn khắt khe quá trong cuộc sống. Tôi đã tìm được chính mình với nơi trú an bình của tâm hồn mình, bởi tất cả trên cuộc đời này chỉ là cuộc chơi, là bữa tiệc nhỏ sẽ tàn.

Hai mặt trong một con người

- Chị có thấy thích giọng hát của mình?

- Có lúc thích, có lúc không hài lòng lắm! Tôi ước mình có được làn hơi gấp đôi như hiện nay để tha hồ luyến láy, chuyên chở ca khúc dễ dàng hơn. Hồi trẻ giọng tôi khỏe hơn bây giờ, nhưng tôi hát nhiều quá nên hao sức. Thời gian “ở ẩn” vừa qua, tôi nghe nhạc và có những câu khó trong các ca khúc nước ngoài tôi cố gắng hát theo. Chính ra bây giờ tôi hát khỏe hơn. Mỗi buổi biểu diễn của tôi luôn có hai mảng ca khúc, một mảng với những tình khúc lãng mạn sâu lắng, còn một mảng sống động nảy lửa.

- Đó là hai mặt trong con người chị, thường chị sống với mặt nào nhiều hơn?

- Nếu một người phụ nữ chỉ nhẹ nhàng như những tình khúc trữ tình có lẽ sẽ cam phận chịu ở với chồng như vậy đến suốt đời. Nhưng tôi không vậy, khi người không yêu mình, tôi sẽ tìm tình yêu khác. có lẽ đó là mặt kia của tôi chăng? Anh Dũng muốn tôi là người phụ nữ gia đình hơn là con người sôi động, một người vợ chịu thương chịu khó... Anh Dũng có muốn kéo tôi lại với cái tôi ngày xưa, với Bảo Yến của Quốc Dũng có lẽ khó. Bởi cái tôi của tôi không còn thuộc về anh. Tôi thoải mái sống trong một khuôn phép và tôi có một tình yêu hướng thiện.

Sau anh Dũng, tôi đã yêu một người khác. Người ấy có thể hiểu được cả hai con người của tôi. Dù không lấy nhau nhưng tình cảm của chúng tôi vẫn còn, vẫn e-mail, gọi điện thoại và người ấy vẫn chưa lấy vợ. Đã xa nhau bảy năm nhưng chúng tôi vẫn yêu thương như xưa. Tôi không đến thăm người ta bởi tôi tin vào tùy duyên. Biết đâu năm thứ tám, thứ chín sẽ thành!

- Xin cám ơn chị và chúc chị luôn được bình an.

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image


Những tổ chức từ thiện muốn giúp đỡ thiên tai tại VN cần đọc
Ngày nay, mỗi năm Việt Nam ngồi không thu lợi:

- 5000.000 du khach Việt Kiều, mỗi ngưòi về nước mang theo trung bình 2.000USD = 10 tỷ đô la Mỹ.

- Người Việt hải ngoại gửi về nước 8 tỷ Mỹ kim thống kê được, nếu kể thêm số không thống kê được ít nhất 2 tỷ nữa, chúng ta có con số tròn 10 tỷ Mỹ kim.

- Mỗi năm Việt Nam nhận các khoản viện trợ nước ngoài và LHQ trên 3 tỷ Mỹ kim.

Tổng cộng gần 25 tỷ đô la.

Miền Nam Việt Nam (MNVN) trước 1975, không có sản xuất quan trọng, không mỏ dầu, chỉ nhận trung bình 700 triệu Mỹ kim một năm nuôi 17 triệu người và gồng gánh bộ máy chiến tranh. Trung bình 42USD / 1người / 1 năm.

Thế nhưng, MNVN là con rồng Đông Nam Á.

Trường học MNVN từ mẫu giáo đến Đại học đều được hưởng quy chế miễn học phí.

Người bệnh vào bệnh viện từ xã phường đến trung ương đều được miễn phí.

Thiên tai năm nào cũng có nhưng cả nước đùm bọc lấy nhau. MNVN không cần ngửa tay xin tiền ngoại quốc.


Ngày nay không cần làm gì mỗi năm Việt Nam vẫn nhận đều khoảng 25 tỷ đô la. Tính trung bình 287USD / 1 người / 1 năm.

Thế nhưng học sinh mẫu giáo đến đại học đều đóng học phí cắt cổ.

Bệnh viện từ xã đến trung ương đều thu lệ phí rất cao. Dù cấp cứu, không tiền không được nhập viện.

Từ 1989 đến nay đã 20 năm nay, VN vẫn lẽo đẽo phía sau các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Tụt hậu 35 năm so với VNCH năm 1975.


Việt Nam ngày nay ở vào thời đại WTO, thời đại mở cửa, không còn là thời đại thời bao cấp, ngăn sông cấm chợ thuở trước 1989. Trước 1989 việc cứu trợ thiên tai tại VN là việc cần. Sau thời đại mở cửa 20 năm nay, VN phát triển vượt bực. Nhũng người về VN đều thấy việc hàng quán đầy đường, người xe kín lối, nhà chọc trời đầy dẫy, tất cả các nhà hàng đều đông nghẹt, khách sạn giá quốc tế, địa ốc ngang tầm hay mắc hơn cả Tokyo, Sydney, Whasington DC, ....

Mọi người đều biết triệu phú USD ở Việt Nam nhiều hơn triệu phú trong Cộng đồng người Việt Hải ngoại.

Số tiền trong nước đổ ra nước ngoài mỗi năm rất lớn đều tuông vào các ngân hàng và các trương mục tư bản đỏ.


Do vậy việc cứu trợ và từ thiện Việt Nam đã đến lúc cần được xét lại một cách đúng mức.


Giúp đỡ thương phế binh VNCH bị bỏ rơi tại VN là cần.

Giúp đỡ những cơn bệnh hiểm nghèo VN không có phương tiện chữa trị là không thể bỏ.

Giúp đỡ những trường hợp cá biệt là cần.

Giúp đỡ những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân và dân quyền là không thể thiếu.


Tuy nhiên việc tổ chức thành những phong trào rầm rộ dưới hình thức từ thiện mang tiền về nước cống nạp cho CSVN là chuyện phải chống vì vi phạm luật lệ VN và không phục vụ lợi ích đích thực của cộng đồng hải ngoại. Luật lệ CHXHVN ghi rõ không tổ chức nào trong nước và ngoài được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan Cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Những tổ chức vận động lạc quyên hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn mà nói rằng có thể mang về mua quà cứu trợ trao tận tay nạn nhân hết số tiền này, đó là vấn đề cần đưọc các tổ chức khác nhau trong Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại nghiên cứu và tìm hiểu thích đáng.


Thay vì mang tiền về! Chúng ta chỉ giải quyết ngọn mà không giải quyết gốc.

Tại sao chúng ta không vận động chính phủ, vận động các nhà hảo tâm, vận động các nhà tư bản đỏ trong nước để họ tự đùm bọc giúp đỡ nhau?

Tại sao không vận động chính phủ tổ chức cứu trợ đúng mức cho nạn nhân trong nước?


Việc cứu trợ có thể giải quyết thỏa đáng bằng quy hoạch của chính phủ chứ không bằng các vận động ồn ào bòn rút của cải hải ngoại. VN trước 1975 không cần xin hải ngoại như hiện nay để giải quyết thiên tai, thế nhưng người dân vẫn no ấm và “phồn vinh giả tạo”.


35 năm qua chúng ta chưa làm tròn trách nhiệm của chúng ta đối với đồng bào ruột thịt của mình tại hải ngoại và cho tổ quốc mới của chúng ta.

Đừng nên quá ôm đồm.

Cộng đồng VN hải ngoại còn nhiều người “mù vi tính”. VN sắp sang giai đoạn xoá mù vi tính.

Cộng đồng VN hải ngoại chưa dám mơ mọi người tốt nghiệp cử nhân. VN đã tính chuyện mọi nhân viên Bộ Sở trung ương từ quét dọn trở lên phải đạt bằng Tiến Sĩ.

Cộng đồng VN hải ngoại đang trên đà tụt hậu so với sự tiến bộ vượt bực trong nước.

Chúng ta đã giúp VN từ 1975 đến nay.

35 năm cũng đã quá tròn tình nghĩa đối với người đã đưa tiễn chúng ta khi ra đi bằng đại liên trực xạ và trìu mến gọi ta bằng “ngụy quân, ngụy quyền, ham mê bơ thừa sữa cặn của đế quốc, chây lười lao động, vượt biên phản quốc, ...”


Đã qua thời 20 năm mở cửa (1989 – 2010).

Chúng ta đã làm đủ mọi thứ cho Việt Nam .

Xây cầu. Cất trường. Nuôi dạy trẻ mồ côi. Nuôi dưỡng người tàn tật. Giúp đỡ người nghèo, người bệnh. Xây chùa, nhà thờ, ...

Thời gian 35 năm qua Bộ Thương Binh Xã hội VN đã báo cáo nhiều thành tích tốt mà không cần động đến móng tay và không cần quan tâm chăm sóc phúc lợi người dân trong nước vì ... mọi thứ đã có “bò sữa” hải ngoại chăm lo. Thời gian qua đảng Cộng Sản Việt Nam bồi dưỡng sức mình tung Nghị Quyết 36, cán bộ, đảng viên, tu sĩ vào Cộng đồng hải ngoại (CĐHN) để rồi ngày nay CĐHN đang dần dần tan ra từng mảnh. Đổi khách thành chủ. CSVN đang dần nắm ưu thế trong nhiều lãnh vực tại căn cứ địa vững chắc của chúng ta.


Nếu không khéo, chỉ mươi năm sau, chúng ta không còn con đường để vượt biên lần thứ hai!


Nhìn chung, theo quan điểm những nhà “pro-VietNam” hiện chúng ta còn hai việc lớn chúng ta chưa làm.

Một là dồn sức hải ngoại về VN, mỗi ngày hốt rác từ Bắc vào Nam để tư bản đỏ và cán bộ đảng viên mỗi chiều bia rượu cho thơm miệng.

Hai là tiếp tay nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam dâng nốt mảnh đất còn lại cho Hán triều để tổ quốc Việt Nam thêm một lần nữa nghìn năm nô lệ giặc Tàu.


o0o


35 năm qua đã đủ dài để chúng ta nên nhìn lại, phản tỉnh.


Chúng ta không nên ôm đồm làm thay mà cần nên giao trách nhiệm chăm sóc phúc lợi xã hội trong nước cho Đảng và Chính phủ “bách chiến bách thắng” của Việt Nam làm tròn sứ mạng của mình đối với đất nước và dân tộc mà họ muốn dành độc quyền cai trị.


Chúng ta cần làm tốt hơn vai trò đòn bẩy để giúp VN tiến nhanh tiến mạnh trên con đường mở cửa, hội nhập WTO và hội nhập trào lưu tự do - dân chủ - nhân quyền đang rộ nở trên mọi ngỏ ngách của địa cầu ngõ hầu cứu thoát Việt Nam một tai họa nghìn năm bắc thuộc lần thứ hai và chúng ta cũng không phải vượt biên thêm một lần nữa từ hải ngoại.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hitler bị cấm xài Facebook ở Việt Nam:



Image


Từ Youtube.com, do Mr. Nguyễn Quang Vinh, tức nhà Thơ/Văn Vũ Uyên Giang gởi đến.
Lời Việt Ngữ rất hay, rất ý nghĩa.
Xin cám ơn tác giả của Video, cám ơn Mr. Vinh và xin kính chuyển đến quý vị cùng xem.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Hillary Clinton
Người phụ nữ được ngưỡng mộ nhất năm 2009



Bà Clinton đã 14 lần được bình chọn là người phụ nữ được ngưỡng mộ nhất trong năm kể từ 1993.
Bà từng nắm giữ nhiều cương vị như đệ nhất phu nhân, Thượng nghị sĩ New York và Ngoại trưởng Mỹ kể từ khi đó.
Chỉ có 3 lần Clinton không về ngôi đầu bảng mà giành vị trí thứ 2 là sau Laura Bush năm 2001 và Mẹ Teresa năm 1995 và 1996.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đánh bại Sarah Palin với tỷ lệ sít sao để trở thành người phụ nữ được ngưỡng mộ nhất năm 2009.
Trong khi đó, về phía nam giới, Tổng thống Obama "thắng" áp đảo năm thứ 2 liên tiếp.


Image
Từ trái sang phải: Hilarry Clinton, Sarah Palin và Michelle Obama.

Trong cuộc bình chọn thường niên do viện Gallup và tờ USA Today thực hiện, nhà ngoại giao hàng đầu của chính quyền Obama đã tiếp tục giữ danh hiệu người phụ nữ được ngưỡng mộ nhất trong mắt người Mỹ, với 16% người được hỏi bình chọn cho bà.

Một điều khá bất ngờ là cựu Thống đốc Alaska Sarah Palin - ứng viên phó tổng thống đảng Cộng hòa năm 2008, về ngay sau Clinton với 15% phiếu bầu.

Bà Clinton đã 14 lần được bình chọn là người phụ nữ được ngưỡng mộ nhất trong năm kể từ 1993. Bà từng nắm giữ nhiều cương vị như đệ nhất phu nhân, Thượng nghị sĩ New York và Ngoại trưởng Mỹ kể từ khi đó.

Chỉ có 3 lần Clinton không về ngôi đầu bảng mà giành vị trí thứ 2 là sau Laura Bush năm 2001 và Mẹ Teresa năm 1995 và 1996.

Năm nay, sau Clinton và Palin, “Nữ hoàng talkshow” Mỹ Oprah Winfrey đứng vị trí thứ 3 với 8% phiếu bầu. Đương kim đệ nhất phu nhân Michelle Obama xếp thứ tư với 7% số phiếu, sau đó lần lượt là cựu Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice và Nữ hoàng Anh Elizabeth II.

10 phụ nữ được ngưỡng mộ nhất năm 2009:

1. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton
2. Cựu Thống đốc Alaska Sarah Palin
3. “Nữ hoàng talkshow” Mỹ Oprah Winfrey
4. Đệ nhất phu nhân Michelle Obama
5. Cựu Ngoại trưởng Condoleezza Rice
6. Nữ hoàng Anh Elizabeth II
7. Cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher
8. Nữ thi sĩ Maya Angelou
9. Thủ tướng Đức Angela Merkel
10. Elin Woods, vợ tay golf Tiger Woods

Về phía nam giới, Tổng thống Obama dường như không có đối thủ. Ông chủ Nhà Trắng được bình chọn là người phụ nữ được ngưỡng mộ nhất trong năm với 30% phiếu bầu. Năm ngoái, ông Obama về nhất với 32%. Số phiếu bầu trong cả hai năm dành cho ông Obama cũng nằm trong nhóm tỷ lệ cao nhất mà một người chiến thắng nhận được.

Cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush từng giành được 39% số phiếu năm 2001. Năm nay, ông Bush về thứ 2, sau khi liên tục đứng ở vị trí đầu bảng từ 2001-2007.

Xuất hiện trong top 10 còn có những nhân vật như cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, người dẫn chương trình truyền hình Glenn Beck, Giáo hoàng Benedict XVI.

Tay golf số 1 thế giới Tiger Woods, người dính vào các xì-căng-đan tình dục gây chấn động làng thể thao năm nay, và cựu Tổng thống Bill Clinton cùng xếp vị trí thứ 10.

10 nam giới được ngưỡng mộ nhất năm 2009:

1. Tổng thống Mỹ Barack Obama
2. Cựu Tổng thống Bush “con”
3. Cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela
4. Nhà báo Glenn Beck
5. Giáo hoàng Benedict XVI
6. Nhà truyền giáo Billy Graham
7. Tỷ phú Mỹ Bill Gates
8. Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain
9. Cựu Tổng thống Bush “cha”
10. Cựu Tổng thống Bill Clinton
11. Tay golf Tiger Woods


Theo New York Daily

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Bài học từ người quét rác!...
Chủ tịch hội đồng quản trị Thái Hà Books - Nguyễn Mạnh Hùng từng học đại học và sau đại học tại Nga (Liên Xô cũ). Ông từng đảm nhận vị trí quan trọng của nhiều doanh nghiệp và tổ chức lớn.

Ông Hùng từng học tập, công tác, tham quan, làm việc tại 39 quốc gia trong đó có Nga, Mỹ, Pháp, Australia, Anh, Nhật, Trung Quốc, Ai Cập, Thụy Điển, Italy... Biết 4 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nga, Trung trong đó 3 ngoại ngữ đầu thành thạo cả nghe, nói, đọc, viết. Tổng số thời gian sống ở nước ngoài là trên 16 năm.

Ông bắt đầu giảng về quản trị kinh doanh từ 2003 sau khi từ Sydney, Australia về VN. Nơi giảng là: Tổ chức InWent (Đức), Hội Doanh nhân trẻ Hà Nội, Hiệp hội Nữ Doanh nhân Hà Nội; Các công ty và Trung tâm đào tạo: Đào tạo và Tư vấn ngân hàng BTC, PTI, Vitoria, VCCI, Viện quản lý Châu Á, Công ty chứng khoán Thăng Long, Chứng khoán Đại Dương, Công ty Thành Nam, Công ty Hà An, Ngân hàng Quân đội MB, Ngân hàng nhà Habubank, ngân hàng An Bình, Techcombank, Tổng công ty Phát hành sách Saigon Fahasa, Công ty Vinapay, Kiều Gia… và rất nhiều doanh nghiệp khác.

“Nếu không gặp được Allen - người quét rác 10 năm về trước có lẽ giờ này, tôi đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền”, Giám đốc Thái Hà Books - Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ quan điểm sống của mình.

Học là việc của cả đời. Ngày tốt nghiệp đại học tôi mới mới bắt đầu sự nghiệp học hành của chính mình - học từ cuộc sống. Biết bao người thầy sau này đã dạy cho tôi vô vàn kiến thức. Họ là các giáo sư, tiến sĩ, các chủ tịch, tổng giám đốc của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới. Tuy nhiên tôi không thể nào quên được một người thầy đặc biệt của mình - thầy Allen.

Hằng ngày từ ký túc xá trên phố Mountain - Sydney (Australia), tôi khoác ba lô đi học hay lên thư viện. Mỗi buổi sáng, tôi đều bắt gặp một anh công nhân vệ sinh thu dọn quanh khu nhà. Anh luôn tươi cười và kèm theo là lời chào rất thân thiện “Hello, how are you” (Chào bạn, bạn khỏe chứ?). Anh làm như vậy ngay khi gặp tôi. Về phần mình tôi luôn lẳng lặng bước đi, khuôn mặt lạnh tanh và khó chịu. Trong đầu tôi lúc đó chỉ hiện lên một ý nghĩ duy nhất “Thằng cha này thấy sang bắt quàng làm họ. Hắn thấy tôi có chức vụ, có tiền bạc, có học thức nên muốn bắt quen đây. Hắn thì có khác gì mấy cô công nhân vệ sinh hay đi dọn rác trước cổng nhà mình ở phố Thái Hà, Hà Nội”.

Ngày tiếp theo, anh công nhân vệ sinh vẫn cười tươi, vẫn chào tôi hết sức niềm nở. Tôi vẫn khó chịu và đút hai tay vào túi quần đi thẳng. Khuôn mặt vênh váo. Ngày thứ ba vẫn vậy, anh quét rác lại chào tôi rất vui vẻ, khuôn mặt và thân hình thể hiện sự thân thiện với tôi. Tuy nhiên, trong lần này, để cho xong chuyện tôi đã trả lời anh ta một cách miễn cưỡng: “I am fine, thank you. And you?” (Tôi khỏe, cám ơn anh. Thế còn anh?) Tôi nói xong và chợt nhận thấy rằng mình đã cười. Tôi đã cười mà không biết, điều này không như trong kế hoạch ban đầu của một người coi thường anh công nhân dọn vệ sinh. Thú vị hơn tôi phát hiện ra khuôn mặt tươi tỉnh của chính mình, rằng hình như mình vui hơn, dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn, thư giãn hơn.

Vừa đi tôi vừa nghĩ về mình rồi lẩm bẩm: “Ta thật là ngu dốt”. Quả thật, từ trước đến nay, trong suốt bao nhiêu năm qua tôi đã có một suy nghĩ không đúng, rằng khi cười với ai đó tôi mang lại niềm vui cho họ. Khi bắt tay ai tôi luôn nghĩ mình ban ơn cho họ. Khi gần gũi ai, tôi luôn nghĩ họ được lợi từ tôi. Và, tôi thấy mình thật sai lầm. Bởi, khi tôi cười với anh công nhân quét rác này người được lợi đầu tiên không phải là anh ta mà là chính tôi.

Và tôi chợt nhận ra rằng anh ta đâu có biết tôi là ai. Anh không hề biết tôi có bao nhiêu tiền, làm chức vụ gì, có học thức đến đâu. Trong mắt anh ta tôi từ ký túc xá bước ra tức tôi là sinh viên, là người đi học. Dù có học tiến sĩ, thạc sĩ hay đại học vẫn là người đi học, là sinh viên. Mà thậm chí anh cũng chẳng quan tâm tôi có là sinh viên hay không.

Trên thực tế tôi chỉ là một người châu Á da vàng, mũi tẹt. Nhưng anh ta cũng chẳng để ý đến chuyện ấy. Anh chỉ cười và chào tôi như đã và đang làm việc đó với tất cả những ai từ ký túc xá bước ra. Tất cả mọi người là bình đẳng. Tất cả chúng ta là con người. Tôi thấy xấu hổ và tôi đã nhận ra vấn đề. Tôi đã được học một bài quý giá. Từ đó đi đâu, gặp ai tôi cũng chào và cười. Không chỉ cười mà là cười rất tươi. Cười từ trái tim mình, từ đáy lòng mình.

Một bữa nọ khi từ thư viện về tôi phát hiện ra Allen - người quét rác đang ngồi uống cà phê trong quán. Anh ăn mặc rất lịch sự, vừa nhấm nháp ly café vừa đọc sách. Ngạc nhiên và tò mò, tôi lại gần làm quen, cùng uống café, cùng nghe nhạc với anh. Tôi không ngờ rằng người mặc bộ quần áo bảo hộ, đi lau nhà, quét rác mỗi sáng bây giờ lại biến thành một người lịch lãm, trí tuệ thế này. Anh đọc sách say sưa và đọc khá nhanh. Bài học nữa tôi đã học được: Mỗi lúc chúng ta đang đảm nhận vai diễn nào đó, lúc đóng vai nào phải làm tốt vai đó. Hơn nữa, không nên coi thường người công nhân quét rác. Anh ấy cũng đọc sách, cũng nghe nhạc, cũng thưởng thức café và các món ăn.

Allen đã kể cho tôi nghe vanh vách về Kim Tự Tháp ở Ai Cập, về những gì còn sót lại từ vườn treo Babillon ở Iraq, về vùng đất lạnh và băng giá Siberie của nước Nga. Anh nói về thời kỳ La Mã, về chiến tranh Nam Bắc của nước Mỹ, về cuộc sống của người Eskimo. Đặc biệt anh nói về Việt Nam khi biết tôi là người Việt (Sau này anh kể rằng anh cứ ngỡ tôi là người Thái hay Indonesia).

Hóa ra Alen đam mê đi du lịch. Anh đi du lịch qua sách. Những hiểu biết của anh làm tôi kinh ngạc. Hóa ra anh rất hiểu biết và có trí nhớ và sự tưởng tượng tuyệt vời. Allen hỏi tôi khu vực Hạ Long có bao nhiêu hòn đảo? Khi đó, vì không biết, tôi đã nói đại rằng quãng 1.000 hòn. Allen đã giảng giải về các hòn đảo, về địa lý, khí hậu, thảm thực vật và thủy sản cũng như tính chất vùng biển của 1.960 hòn đảo, (chứ không phải con số 1.000 như tôi nghĩ) trong vùng diện tích 1.553 km2 này. Nhờ Allen mà tôi, có lẽ, đến chết không quên được những con số này.

Allen đề nghị tôi phân tích về nhạc Việt Nam, nhất là vấn đề đặc biệt của loại nhạc 5 nốt này. Tôi ngạc nhiên vì chưa bao giờ biết đến nhạc của đất nước mình lại chỉ có 5 nốt. Tôi luôn nghĩ nhạc gì thì nhạc, đã là nhạc thì phải là 7 nốt chứ. Cuối cùng tôi đã phải há miệng ra nghe Allen nói về chèo, về cải lương, về chầu văn, và về các loại nhạc cụ của Việt Nam, đất nước nơi tôi sinh ra và lớn lên. Allen đã dạy cho tôi bài học quý giá về tính tìm tòi khám phá, rằng tôi phải đọc nhiều hơn, tìm hiểu nhiều hơn, quan sát và ghi nhớ nhiều hơn.

Chính từ bài học quý giá này mà ngay sau khi về Việt Nam tôi đã quyết định lái xe làm một chuyến xuyên Việt. Tôi cũng quyết đi tham quan toàn bộ đất nước mình, không bỏ sót tỉnh nào. Tôi chợt nhận ra rằng mình đã bỏ qua rất nhiều điều quan trọng, rằng tôi đã đi đến tận 39 quốc gia nhưng lại chẳng hiểu được nhiều thứ đang diễn ra ngay tại đất nước mình.

Ngày tôi đến thăm nhà của Allen, tôi lại học thêm được một bài học quý giá nữa. Allen có khoảng gần 1.000 cuốn sách. Là người học nhiều, đi nhiều, thường xuyên mua và đọc sách nhưng tủ sách của tôi cũng chỉ có quãng 3.000 cuốn. Còn Allen, một công nhân vệ sinh đã có một tủ sách quá vĩ đại. Anh đam mê sách và đã bỏ một khoản tiền lớn ra mua, trưng bày sách. Anh nói đã đọc hết những cuốn sách này. Thậm chí có những cuốn đọc đến 2-3 lần. Tôi nhớ khi đó tôi có mong muốn quỳ dưới chân anh xin nhận anh làm thầy.

Cũng tại những lần đến thăm anh, tôi đã được học cách nấu ăn. Làm sao nấu đơn giản, đủ chất, ngon miệng mà không quá cầu kỳ. Một tình bạn thân thiết đã nảy mầm giữa một doanh nhân với một anh quét rác. Chuyện này tôi không thể tưởng tượng được trước đó một vài năm. Từ ngày gặp Allen tôi bỏ hẳn các tính xấu của mình: kiêu ngạo, soi mói, coi thường người khác. Tôi cũng trở nên điềm đạm hơn, nói nhỏ hơn, ít nóng tính hơn. Tôi cũng không còn “bệnh” nhìn hình dáng bên ngoài mà kết luận con người nữa. Tôi luôn niềm nở và giúp đỡ mọi người. Tôi quyết định chọn sứ mệnh “sẻ chia” của mình từ ngày đó.

Cũng nhờ Allen và những người thầy khác sau này tôi đã hiểu và thực hành nguyên tắc “cho mà không đòi hỏi, cho mà không cần nhận”. Tôi cũng đã triển khai mỗi ngày, mỗi giờ cách sống “pay it forward” - đáp đền tiếp nối. Cũng từ ngày đó cuộc đời của tôi luôn hạnh phúc, bình an và chan chứa yêu thương.

Gần chục năm đã trôi qua. Bây giờ nghĩ lại, nếu không gặp được Allen, chắc tôi vẫn đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền, không chút nghỉ ngơi, không dành thời gian để hiểu và sống hạnh phúc với những người xung quanh, trong đó có các bạn bè, đồng nghiệp và hàng xóm. Tôi thật biết ơn thầy tôi, bạn tôi - Allen.

Nguyễn Mạnh Hùng
Chủ tịch HĐQT, kiêm Giám đốc Thái Hà Books

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Magnifique !


Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Ông già ngồi bươi đống rác
>
> Thành phố Hồ Chí Minh quang vinh vẫn còn rất nhiều rác. Hồi thời trước, Sàigòn đã có nhiều rác, nhưng so với bây giờ thì…thua xa. Rác bây giờ chẳng những nhiều hơn mà còn…rải rác hơn. Điều này chẳng có gì khó hiểu hết. Bởi vì, trong chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa, cái gì của ta cũng đều hơn của lũ chúng nó cả: rác của chúng nó là rác tư bản, rác ngụy, còn rác của ta là rác…nhân dân, do nhân dân, từ nhân dân mà ra. Có chính nghĩa, hơn là lẽ tất nhiên!
> Vậy, ở một đống rác khá lớn nằm trên vỉa hè một con đừơng khá rộng trong thành phố, có một ông già ngồi ung dung như đang ngồi ở một nơi sạch sẽ! Ông già đó tuổi cỡ ngoài tám mươi, có chòm râu bạc giống râu bác Hồ. Ổng đội mũ tai bèo, mặc bộ đồ bà ba đen, mang dép cao su đúc. Ổng ngồi trên một ghế bằng nhựa nhỏ, thấp, loại ghế ngồi cho trẻ con. Ổng cầm cây gậy trúc dài bươi bươi rác, mắt nhìn châm chú chỗ đang bươi, mặc cho đàn ruồi bay lên đáp xuống như giành rác với ổng! Lâu lâu, ổng nói một mình: « Nó nằm lẩn đâu đây hè! Mẹ bà nó!. »
> Đường này lúc nào cũng đông ken. Xe đạp, xe gắn máy, xe hơi…hai luồng chen nhau chạy, giành mặt đường mà chạy, lòn lách lấn ép, bóp kèn inh ỏi. Chạy đầy đường như vậy mà chẳng ai nhìn thấy ở trên đỉnh đống rác cao nhòng đó có một ông già…Cho đến người đi bộ trên vỉa hè cũng chẳng thấy ai để ý đến ổng hết! Hơn hai chục năm sống quen với quá nhiều nghịch lý, con người ta không còn nhạy cảm trước những sự bất bình thường. Bởi vì cứ nhìn riết rồi quen con mắt, nên không thấy chướng, cứ nghe riết rồi quen lỗ tai nên không thấy ồn, cứ hửi riết rồi quen lỗ mũi nên không thấy hôi. Đó là một quy luật. Tiếp theo đó là một quá trình đi xuống dốc của con người, vừa nhanh vừa gọn, bởi vì nó dễ ợt hà!
> Ông già lâu lâu ngừng bươi rác, móc túi lấy bọc ni-long thuốc rồi chậm rãi vấn hút. Điếu thuốc của ổng to bằng ngón tay cái, nên mỗi lần ổng nhả khói là thấy mù mịt, làm như đống rác đang ngún cháy vậy!
> Trong khi ổng hút thuốc, ổng không bươi rác. Làm như hút thuốc là qua giai đoạn ổng nghỉ xả hơi! Ổng xoay người ra nhìn thiên hạ chạy loạn dưới đường giống như ổng đang ngồi xem kịch. Một lúc sau ổng nói một mình: « Thiệt…không giống ai hết!. » Mà thiệt! Người ta chạy đi đâu mà lúc nào cũng thấy chạy đầy đường. Người nào cũng hối hả. Người nào cũng bóp kèn. Kẹt không kẹt gì cũng thấy bóp kèn! Làm như nếu không bóp kèn thì xe sẽ…không chạy vậy! Còn luật lệ giao thông thì hầu như không có. Mạnh ai nấy chạy. Tay mặt tay trái gì cũng…như nhau. Đàn ông đàn bà gì cũng chen lấn lòn ép…như nhau. Chẳng ai nhường ai hết. Đàn ông con trai có người ở trần bận quần xà-lỏn, có người lại mặc quần áo gin, bên trong có sơ-mi và áo gi-lê giống như đang ở xứ lạnh! Còn đàn bà con gái thì phần đông ăn mặc không để…hở một chỗ nào hết. Áo pô-lô ngắn tay, quần dài, găng tay cao tới…nách, đội kết loại đấu thủ dã cầu, mang kiến đen, bịt mặt bằng chéo vải thêu bông hoa hay có ren giống đàn bà á-rập! Nếu có mặc áo dài thì cũng mang găng tay ngắn, rồi đội kết, rồi kiến đen, rồi bịt mặt! Thành ra không nhìn ra được ai là ai hết!
> Hút tàn điếu thuốc, ông già lại quay về đống rác, châm chỉ bươi. Một lúc lại nói: « Mẹ bà nó! Tao bươi riết rồi cũng ra. Làm gì rồi cũng thấy!. »
> Một cô gái nhỏ xách tới xô rác đổ xuống làm lũ ruồi lúc nhúc bay lên, thấy ông già ngồi đó, cô hỏi:
> - Bộ ông không sợ hôi sao mà ngồi đó vậy?
> Ông già cười mũi:
> - Thời bây giờ, ở đâu mà không hôi không thúi, hả? Nó tràn đồng thì ngồi ở đâu cũng vậy thôi.
> Cô gái lại hỏi:
> - Thấy ông bươi bươi. Bộ ông mất cái gì hả?
> Ông già ngừng tay, hỏi lại:
> - Mất hả? Mất cái gì? Còn khỉ gì đâu mà mất!
> - Vậy chớ ông bươi rác làm gì? Rác bây giờ đâu còn có gì đâu mà lượm.
> Ông già cầm gậy trúc gõ gõ vào đống rác làm lũ ruồi hốt hoảng bay lên vù vù. Ổng hạ giọng:
> - Tao bươi rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng mà hồi đó tao nuôi tao giấu trong nhà.
> Có vẻ thấy ông già…khùng quá nên cô gái bỏ đi, vừa đi vừa nói:
> - Họ là con người chớ bộ chuột bọ gì đâu mà ông tìm trong đống rác!
> Ông già nhìn theo, nói lớn:
> - Mà tao có nói tụi nó là con người đâu?
> Tiếng của ông bị chìm lấp trong tiếng ồn hỗn tạp của đường phố, nên chẳng gợi được sự chú ý của ai hết. Ổng nhìn quanh, thở dài, rồi tiếp tục bươi…
> Một thanh niên đang đi trên vỉa hè bỗng tấp vô đống rác vạch quần định đứng tiểu, một tay chống nạnh, trên môi phì phà điếu thuốc. Ông già nói lớn:
> - Coi chừng! Nó phóng lên nó cắn sứt à!
> Gã giật mình, vội vã buông quần bước đi như chạy. Vừa đi vừa nhìn lại, nét mặt còn đầy sợ hãi! Ông già không nhìn theo, cũng không cười... Làm như điều ông nói là điều có thật chớ không phải đùa. Cho nên nghe ổng nói tiếp:
> - Cái lũ khốn nạn này có thứ gì mà tụi nó không đớp!
> Ổng nói mà đầu gậy vẫn không ngừng bươi. Bầy ruồi nhặng vẫn bay lên đáp xuống, đáp xuống bay lên, lúc nha lúc nhúc…
> Gần trưa, một người đàn bà đứng tuổi từ trong hẻm gần đó bước ra đi lại đống rác, thưa:
> - Mời ông Hai về ăn cơm.
> Ông già nói ‘ờ’ rồi chống gậy đứng lên đi. Người đàn bà cúi lấy cái ghế nhỏ, xách đi theo phía sau ông, im lặng. Cả hai đi lần vào hẻm.
> Con hẻm mới vào thấy rộng thấy thẳng, hai bên có phố lầu hai ba từng kiến trúc hiện đại, từng nào cũng thấy có máy lạnh lòi ra coi rất…văn minh! Hai dải phố lầu này kéo dài vào hẻm độ ba bốn mươi thước.Sau đó là một khúc quanh thẳng góc, rồi con hẻm chỉ còn lại không tới hai thước bề ngang, chạy quanh co rồng rắn vào tuốt bên trong tiếp nối với những con hẻm nhỏ khác không biết từ đâu tới mà cũng thấy…rồng rắn quanh co! Ở đây, nhà cửa lụp xụp hẹp té, khác hẳn với mặt tiền đồ sộ lộng lẫy. Đó là một thế giới khác, một thế giới nghèo khó núp sau cái thế giới phồn vinh bên ngoài. Người ta không thể nghĩ rằng nó nằm ngay trong lòng thành phố, cái thành phố mang tên Người từ hơn hai mươi năm…
> Ông già và người đàn bà bước vào một căn nhà nhỏ hẹp của khu hẻm rồng rắn. Ông già nói:
> - Tao bươi hoài mà chưa gặp thằng nào hết.
> Một người đàn ông trong nhà nói cho lấy có:
> - Vậy hả ông Hai?
> - Tụi nó chui rúc lì lắm. Mẹ bà nó! Hồi đó mà tao biết như vầy, tụi nó có chung vô quần trốn, tao cũng cởi quần tao giũ cho chết cha tụi nó hết!
>
> …Người đàn ông trong nhà là cháu của ông già bươi rác, kêu ổng bằng ông chú, còn người đàn bà là vợ hắn. Hai vợ chồng đã trộng tuổi nhưng chưa có con. Họ lảnh may gia công quần áo cho một công ty may mặc, nên trong nhà lúc nào cũng nghe tiếng máy may chạy xành xạch suốt ngày. Họ ngủ trên cái gác lửng nhỏ bằng hai chiếc chiếu, còn ông già thì có cái ghế bố kê trong góc nhà. Nhà nhỏ xíu nên chỉ có một bóng đèn điện treo ở giữa.
> Hai vợ chồng người cháu đem người ông về nuôi trong nhà từ ngày ổng ra tù cách đây hơn bảy năm…
> Theo lời kể lại của người cháu thì “ông chú” ngày xưa là một nhà doanh thương - đại doanh thương - Ổng độc quyền nhập cảng vỏ ruột xe gắn máy, xe hơi, xe máy cày. Ổng có mấy kho hàng lớn ở Khánh Hội, một văn phòng ba từng lầu ở Chợ Cũ, một vi-la to ở đường Phan Thanh Giản và một vi-la vừa vừa nằm khuất trên một đồi thông ở Đà Lạt. Vợ và hai con ổng đều ở bên Pháp để làm một “đầu cầu” bên đó. Còn bên này ổng có một bà nhỏ lo về giao tế, xã hội và nhân viên. Lâu lâu, ổng bay qua Âu Châu thăm vợ con và làm việc với các hãng chánh ở bên đó.
> Ổng nhiều thế lực lắm. Người cháu nói:”Hồi đó, tôi đang làm thợ may cho nhà may X thì bị động viên. Vậy mà ổng kéo tôi ra cái rẹt! Có điều làm tôi không hiểu là ổng như vậy mà trong nhà ổng nuôi Việt Cộng không. Ngay như cái nhà trên Đà Lạt mà ổng dùng cho mấy ông lớn mượn, từ anh quản gia đến chị bếp đến mấy người làm vườn đều là cán bộ Việt cộng ráo. Ổng nuôi họ như vậy cho đến năm 1973 họ mới lần lượt rút đi …”.
> Hồi tháng tư 1975, ổng không di tản. Còn nói: ”Cách mạng chớ bộ ăn cướp giết người đâu mà sợ!”. Sau đó mấy người ổng nuôi có về thăm, ổng cũng đãi đằng hậu hỉ. Vậy mà khi cách mạng “đánh tư sản mại bản”, ổng cũng bị “đánh” tơi bời, tài sản bị tịch thâu hết còn bị đi tù cải tạo nữa. Vợ lớn của ổng chết ở bên Pháp, bà vợ nhỏ đi chui rồi mất tích ở biển Đông. Còn hai đứa con, sau này có người quen từ Paris về cho biết, đã phung phí hết tiền của mà ổng đã để cho họ bên đó rồi dọn nhà đi mất. Thành ra đi thăm nuôi ổng chỉ còn có vợ chồng người cháu thợ may…
> Khi ông chú được thả ra khỏi tù - nghĩa là Nhà Nước xét thấy ổng đã hoàn toàn được cải tạo - ổng đã trở thành một người khác: một người mất trí! Người cháu nói: “Hồi đem ổng về ở với tụi tôi, tôi cũng ngại. Sợ ổng chê. Nhưng rồi ổng vẩn ở tự nhiên, không phàn nàn gì hết, tụi tôi cũng mừng. Rồi lo không biết chịu đựng ổng nổi không. Nhưng rồi thấy ổng không có điên loạn như những người điên khác nên tụi tôi cũng yên tâm. Ổng không nói gì hết, tối ngày bắc ghế ngồi dưới mái hiên hút thuốc đọc sách hoặc ngồi cả giờ nhìn đường hẻm như người ta châm chú coi ti-vi! Vậy mà lâu lâu ổng cũng nói nhiều câu làm mình ngạc nhiên tưởng như ổng là người bình thường. Khi mình thử hỏi tiếp, khơi lại thời cũ thì ổng lại ngẩn ngơ. Thấy tội nghiệp! Thiệt ra, người ta chỉ thấy ổng điên là khi nào ổng đi bươi đống rác, cứ hai ba hôm là ổng đi bươi…”
>
> Và như vậy, “ông Đại Doanh Thương” đó bây giờ ngồi bươi đống rác giống như ổng bươi lại dĩ vãng của ổng, một dĩ vãng mà rác rến vun đầy... Ổng đâu biết rằng, đối với Nhà Nước cách mạng, ổng cũng chỉ là một thứ rác rến mà Nhà Nước đã vứt bỏ trên lề xã hội, không hơn không kém …


> TIỂU TỬ
>

Post Reply