Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Nguồn gốc của bản nhạc Silent Night
"Silent night" đã được dịch thành hàng trăm thứ tiếng và được cất lên hàng triệu triệu lần vào những dịp cuối năm. Bài hát này vang vọng từ những ngôi nhà thờ nhỏ bé ở Andes cho đến những thánh đường tráng lệ ở Antwerp hay La Mã. Ít ai biết được “Silent Night” lôi cuốn bao người có một nguồn gốc kỳ lạ...


Câu chuyện bắt đầu từ 11-12-1792, tại Salzburg, Áo. Cậu bé Joseph Mohr sinh ra trong gia đình một thợ đan nghèo, cha bỏ đi. Đến ở với bà ngoại nghèo khổ túng thiếu, mỗi khi đói rét, Joseph thường lang thang đâu đó để quên đi. Chính những lần cuốc bộ đó đã làm thay đổi cuộc đời cậu và cả cách thức chào đón Noel trên thế giới.



Một lần, Joseph ghé vào một nhà thờ trong làng và gặp ông Johann Hiernle, người chỉ huy dàn hợp xướng. Joseph bắt đầu tham gia sinh hoạt cộng đồng. Nhận thấy tài năng thơ ca, âm nhạc của Joseph, khi cậu đủ tuổi, Hiernle cho cậu vào học tại một trường ngữ văn nổi tiếng tại Kremsmnster. Rồi Joseph tốt nghiệp trường dòng, được phong linh mục khi vừa 23 tuổi. Về một nhà thờ ở miền núi xinh đẹp, Joseph sáng tác rất nhiều bài thơ. Xúc cảm từ một mùa Noel tuyết trắng phủ không khí yên ắng của đất trời trong một buổi sáng nọ,
Joseph ngồi xuống chiếc bàn gỗ và viết một mạch bài thơ ngắn mang tên “Stille Nacht! Heilige Nacht!” (tiếng Anh có nghĩa là “Silent Night! Holy Night!”; tạm dịch “Đêm thinh không! Đêm linh thiêng!).
Rồi Joseph chuyển đến nhà thờ Thánh Nicholas. Đêm trước Noel 1818, cây đàn dương cầm bị hỏng. Không thể để ngày Noel thiếu lễ nhạc, cha Joseph nảy ra ý định cho ca đoàn hát cùng với tiếng đệm guitar. Thời gian cấp bách, ông nhớ lại bài thơ ngắn “Stille Nacht! Heilige Nacht!” và đề nghị Franz Gruber (người chơi đàn cho nhà thờ) lo phần nhạc, Joseph đệm guitar và hát giọng nam cao, Franz hát giọng trầm và cứ sau mỗi đoạn thì ca đoàn của nhà thờ sẽ hòa chung phần điệp khúc. Vào gần nửa đêm, giáo dân trong vùng tưởng như thường lệ người chơi đàn đại phong cầm tấu lên những bài ca mừng Noel hùng tráng... Nhưng không, chỉ nghe thánh thót luyến láy tiếng đàn guitar nhẹ nhàng nâng giai điệu Silent Night phảng phất âm hưởng dân ca vùng nông thôn nước Áo chầm chậm lan tỏa ra trong tĩnh lặng thinh không của một thời khắc thiêng liêng…. Một Noel thật đáng nhớ.
Sau đó Joseph Mohr được thuyên chuyển đến nơi khác và trong suốt 7 năm sau đó Silent Night đã chẳng bao giờ được cất lên.
Tình cờ một người thợ tên Karl Mauracher đến sửa đàn cho nhà thờ Thánh Nicholas. Sửa xong, Mauracher mời ông Gruber thử đàn. Khi Gruber lướt phím xướng cho đoạn nhạc mở đầu của Silent Night, Mauracher cảm ngay vẻ đẹp bài hát nên xin đem cả nhạc và lời của “Silent Night” về làng Kapfing. Hai gia đình ban nhạc nổi tiếng Rainers và Strassers được mời thưởng thức và liền bị cuốn hút, quyết định đưa bài hát mới vào các lễ hội âm nhạc mừng Noel. Sau đó nhà Strasser đã đưa Silent Night vòng quanh Bắc Âu. Đến năm 1834, họ biểu diễn cho Đức vua Frederick William đệ IV của nước Phổ, quá ấn tượng, vua truyền lệnh ca đoàn của cung đình phải xướng bài hát này vào mỗi dịp Noel.
Gia đình Rainers thì lại sang Mỹ vào năm 1839 và đã biểu diễn Silent Night bằng tiếng Đức ngay tại Đài tưởng niệm Alexander Hamilton ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ Trinity của New York. Năm 1863, Silent Night được Jane Campbell và John Young dịch sang tiếng Anh…
Silent Night vẫn được cho là của các thiên tài âm nhạc như Haydn, Mozart, Beethoven. Mãi đến 1995, cuộc tranh luận mới chấm dứt khi người ta tìm lại được bản viết tay của Joseph Mohr. Ngay trên góc trên bên phải của bài nhạc, Joseph viết “Soạn nhạc: Fr. Xav. Gruber”.

(BT góp nhặt)

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

THANH NAM, NGƯỜI TRỌN ĐỜI SỐNG
CHẾT VỚI VĂN CHƯƠNG CHỮ NGHĨA !


NGUYỄN THIẾU NHẪN

Image
Ảnh Thanh Nam thời xa xưa.
Khoảng năm 1966, tôi đang cộng tác với nhật báo Dân Đen của ông Nguyễn Duy Hinh có tòa soạn tại đường Lê Lai, Sàigòn thì tờ báo này bị đóng cửa. Thất nghiệp khoảng một tháng tôi được anh Trần Văn Sơn rủ đi làm nhật báo Miền Tây của nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh. Tòa soạn báo này đặt ở trên đường Thủ Khoa Huân, Cần Thơ. Báo do nhà văn An Khê đứng tên chủ nhiệm nhưng hình như vốn do ông Nguyễn Trung Thành là chủ nhiệm nhật báo Tia Sáng lúc bấy giờ.

Anh Trần Văn Sơn, bút hiệu Tyca, đưa tôi đến gặp anh Trương Hồng Sơn là Giám đốc của nhật báo Tia Sáng. Anh Trương Hồng Sơn không có viết lách gì nhưng lại là người tổ chức ban biên tập của nhiều tờ báo tại Sàigòn lúc bấy giờ.

Chính tại tòa soạn báo Tia Sáng ở đường Phát Diệm, tôi đã gặp và quen biết với nhà văn Thanh Nam. Qua giới thiệu của anh Ngô Tỵ, Tổng thư ký tòa soạn báo Tia Sáng, Thanh Nam cười cười, nói với tôi:

- Qua quán kiếm bia uống.

Trước khi đi, Thanh Nam còn ngoái lại hỏi Ngô Tỵ: - Chốc ông có qua không?

Ngô Tỵ đang cắm cúi làm tin, nói không nhìn lên: - Làm tin xong tôi qua, nhưng không chắc. Bữa nay có bạn mới, ông đâu có sợ… độc ẩm.

Ở cái quán cà phê kế tòa soạn, anh Thanh Nam và tôi ngồi ở cái bàn trong góc quán. Quán lèo tèo với ba, bốn cái bàn gỗ. Một thùng gỗ có bọc nhôm trên mặt chất đầy nước ngọt, si-rô, ở một phía có đặt chiếc hỏa lò bằng đất, bên trên là ấm nước bằng nhôm, bên trên có chiếc ấm nhôm khác với chiếc vợt lọc cà phê đặt trên miệng ấm đang bốc khói.
Cô chủ quán người Hoa với chiếc trán vồ bướng bỉnh giống như cô đào chiếu bóng Trịnh Phối Phối lúc bấy giờ rất nổi tiếng với phim kiếm hiệp Thần Kiếm Kim Yến Tử đóng chung với tài tử Vương Vũ.

Không nói không rằng, cô ta khệ nệ khiêng một “kết” bia sơn màu vàng có hình con cọp sơn đỏ: một “kết” mười hai chai bia “33” để dưới gầm bàn. Kế, trở về cái thùng nhôm, chặt đá để vào hai cái ly cối và mang lại bàn chúng tôi. Vẫn không nói không rằng. Lại trở lại thùng gỗ bọc nhôm và trở lại bàn chúng tôi với chiếc dĩa bên trên có đựng mấy bịch ny lông me khô ngào đường. Cúi xuống lấy hai chai bia, khui nắp và để trên bàn. Anh Thanh Nam rót bia ra ly, khuấy khuấy cục đá chạm vào thành ly nghe lanh canh, nâng ly bia lên:

-Uống đi, cậu.

Đó, như vậy là buổi đầu chúng tôi quen nhau. Anh Thanh Nam nói rất ít. Hình như hôm đó tới chai bia thứ hai thì tôi bắt đầu đọc bài thơ “Thu tưởng nhớ” của anh.

Mùa Thu đây rồi sao
Với mây bay lành lạnh
Cho giấc tròn chiêm bao
Ngẩn ngơ từng dư ảnh.

Thương những chiều Thu xưa
Hồn trong những nắng ngọc
Yêu người và làm thơ
Mộng dài theo song tóc.

Thương những lần gặp nhau
Thẹn bừng lên đôi má
Mừng yêu nhìn rất lâu
Vào mắt em biển cả.

Thương những buổi giận hờn
Hai tay ôm mặt khóc
Người yêu chiều chuộng hơn
Vì thua đôi hạt ngọc.

Hôm nay Thu rồi sao?
Có chi làm xao xuyến
Chuyện ngày xưa ngọt ngào
Chỉ mình tôi tưởng niệm.
(Ghi lại theo trí nhớ)

Anh có vẻ thích thú, gật gù: - Cậu thuộc cả bài thơ ấy à?

Anh nói với tôi về những ngày còn nhỏ sống ở miền Bắc lúc anh sinh hoạt trong đội thiếu niên tiền phong, thời anh còn đội mũ chào mào. Anh cắt nghĩa cho tôi nghe mũ chào mào ở trong Nam gọi là mũ ca-lô. Tôi cũng nhớ là mình có một chiếc mũ ca-lô màu vàng để đội trong những ngày lễ lạc, đứng trước các quan khách hồi thời tiểu học.

Thanh Nam là một “nhà văn miền Bắc đề tựa tập thơ cho một nhà thơ miền Nam” - hình như trong tập thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà anh đã viết như thế.

Một hôm nào đó, tôi và anh ghé vào một sạp bán thuốc lá mua thuốc. Một đứa bé đánh giày xách cái thùng gỗ, chạy theo hỏi:

- Chú, chú, sau này thằng Lập nó có lấy con Lài không chú?

Hình như thằng Lập, con Lài là những nhân vật trong phơi-ơ-tông “Mưa Đêm Tỉnh Nhỏ” mà lúc bấy giờ anh đang viết trên báo Tia Sáng thì phải. Tôi không nhớ câu trả lời của anh về tương lai của nhân vật cho độc giả của mình là thằng bé đánh giày.

Tôi còn nhớ là sau đó, ở cái quán cà phê ở góc đường Phát Diệm - Trần Hưng Đạo, anh đã nói với vẻ thích thú về những đứa bé đánh giày đón đường hỏi anh về tương lai của các nhân vật trong cái truyện dài đang viết.

Hình như thời gian đó Thanh Nam và Mai Thảo là hai nhà văn trong số những nhà văn có nhiều phơi-ơ-tông đăng trên nhật báo nhất. Và hình như cả hai đều là những nhà văn sống bằng ngòi bút của mình, không giống như một số nhà văn khác nghề cầm bút chỉ là nghề tay trái. Cũng có người nói với tôi là hai nhà văn này không biết đi xe đạp hoặc xe gắn máy mà chỉ có ngồi xe xích lô! Không biết có đúng vậy không?

Trong thời gian tôi cộng tác với nhật báo Miền Tây, lúc đó Thanh Nam viết phơi-ơ-tông “Chuyện Một Người Con Gái Ở Sàigòn”. Anh viết bài trên mặt sau của bản tin Việt Tấn Xã. Chữ viết của anh đẹp và đều. Chính ở căn gác ở tòa soạn báo Tia Sáng, tác giả Mưa Đêm Tỉnh Nhỏ đã cho những nhân vật của mình: những thằng Lập, con Lài… ra đời. Những nhân vật bình thường của đời sống bình thường trong một xứ sở mà chiến tranh kéo dài dai dẳng cũng đã trở nên bình thường, quen măt.

Cuối năm 1967, vì một lý do riêng, tôi không còn cộng tác với nhật báo Miền Tây. Năm sau, nhận được lệnh nhập ngũ khoá 26 trường Võ Bị Thủ Đức. Thế là tôi từ giã cái nghề ký giả là cái nghề mà hình như lúc còn sống nhà văn Chu Tử gọi là cái nghề “raté” nhất – hình như ở đâu đó nhà văn Chu Tử đã viết là những người làm nghề này tại vì không biết làm cái nghề nào khác (?!), theo học nghề sử dụng súng, dao, giết người để khỏi bị người khác giết. Dù gì thì trong cuộc nội chiến, ngoại khiển tôi cũng đã làm tròn cái bổn phận mà người ta vẫn gọi một cách văn chương, hoa mỹ là “bảo vệ những vườn khoai, nương sắn, những tiếng hát trên nương chiều, những bông hoa ngọc lan thơm ngát phơi mình dưới sương khuya”.

Trong thời gian ở quân đội, ngoài những nhức đầu với những trang tài liệu tịch thu của Việt Cộng có đôi khi dính máu của những cán binh “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, những cung từ tù, hàng binh; những tài liệu không ảnh, tôi, thỉnh thoảng cũng có viết phóng sự, hoặc phụ trách một trang báo tuổi nhỏ, viết phơi-ơ-tông trên một nhật báo để kiếm thêm tiền bù đắp vào tiền lương lính còm cõi.

Thỉnh thoảng tôi cũng có gặp lại và nhậu la-de với anh Thanh Nam. Cũng ở cái quán kế tòa soạn báo Tia Sáng. Vẫn cô chủ quán người Hoa mà tôi đặt tên Tiểu Muội. Mỗi lần nhậu cũng chỉ với me khô ngào đường đựng trong bịch ny-lông hoặc với trái sê-ri màu xanh đỏ chua chua, ngọt ngọt. Và nếu lần nào tôi không có tiền thì anh Thanh Nam lại ký sổ ghi nợ bằng tiếng Tàu.

Sau đó, vì những sôi động của chiến cuộc, tôi rất ít gặp lại anh. Cho đến khi đọc một tờ báo văn nghệ nào đó loan tin là anh đã cử hành hôn lễ với nhà văn Túy Hồng. Hình như là đám cưới được tổ chức tại nhà hàng Mỹ Cảnh. Và hình như bản tin cũng có viết thêm là tiền bạc để tổ chức đám cưới do bạn bè đóng góp.

Cho đến ngày Cộng quân tấn chiếm miền Nam, cũng như số phận hàng trăm ngàn quân nhân miền Nam phục vụ dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, tôi phải vào tù. Từ đó không gặp lại và cũng không biết tin tức về anh.

Sau khi ra khỏi nhà tù thứ tám, để biết địa ngục là cảnh đời có thật chứ không phải chỉ là những tranh vẽ treo ở chùa chiền, tôi làm nghề đong rượu và bán… nước trà đá ở một quán nhậu do người bạn của vợ tôi hợp đồng với công ty ăn uống của Tỉnh. Nhiệm vụ của tôi là đong rượu thuốc ngâm trong một cái khạp da bò ra chai một xị, hai xị và bưng trà đá cho khách. Quán nhậu chuyên môn bán gỏi gà, lòng heo phá lấu. Thỉnh thoảng tới mùa chim cũng có bán chim óc cao, chim mỏ nhác rô ti. Bà chủ là người bán cháo gà nổi tiếng trước năm 1975. Cơ ngơi, nhà cửa hiện còn là do một tay bà bán cháo gà.

Không hiểu do bà có tay buôn bán hay cái nghệ thuật luộc gà, chặt gà, trộn gỏi như thế nào đó mà quán của bà rất là đông khách.

Nếu không có chuyến vượt biển chắc là tôi cũng bị bắt trở lại nhà tù, hoặc bị chết bởi ba cái rượu bọt mía. Số là quán nhậu bình dân, mở cửa từ 4 giờ chiều, tới đâu khoảng 8, 9 giờ tối là đã bán hết vì khách bình dân ăn nhậu rất đông. Và trong cái đám khách bình dân ăn nhậu đó: những cựu trung úy đạp xe lôi, cựu đại úy đạp xe đạp ôm, cựu thiếu tá đạp xe ba gác, vá xe đạp, chạy mánh… toàn là bạn bè quen biết với anh chàng bán nước trà đá và đong rượu là tôi. Tôi chỉ yên tâm bán nước trà đá có tuần lễ đầu. Tuần lễ thứ hai, quán vừa mở cửa, tôi đang ở sau quán đong rượu ra những chai một xị, hai xị thì cô thư ký của công ty ăn uống bước vào, cười cười đưa cho tấm giấy, đọc thấy hàng chữ: “Đại ca, đàn em là Hai què chờ đại ca ở bàn số 4”. Bữa khác, đang loay hoay chặt nước đá ở phía sau quán, chợt giật mình khi nghe câu nói dễ ở tù: “Kính chào Đại tá!”, quay lại thấy người bạn đang đứng ở thế nghiêm đưa tay chào.

Chính trong thời gian này, tôi biết được tin tức về nhà văn Thanh Nam. Số là một hôm tôi giúp bà chủ quán bỏ chuối khô vào cái khạp ngâm rượu thuốc gồm có sâm qui, sâm đại hành, và mấy cái dây thần thông quỉ quái gì đó, tôi tình cờ đọc được bài viết có nói về nhà văn Thanh Nam trên tờ Tuổi Trẻ dùng để gói chuối khô. Tờ báo có bài viết về “đời sống văn nghệ sĩ ở nước ngoài”. Tôi nhớ trong bài viết này có đề cập tới hai người: người thứ nhất: Võ Phiến, và người thứ hai: Thanh Nam.

Tôi sững sờ khi đọc đến tin Thanh Nam không còn nữa!

Nhà văn đã giã từ những “Đêm Mưa Tỉnh Nhỏ”, đã chia xa với những “Buồn Ga Nhỏ” để đi về “Cánh Đồng Xanh Phía Dưới” của cõi ngàn thu tịch mịch.

Những bài thơ báo Tuổi Trẻ trích từ tập thơ “Đất Khách” của Thanh Nam. Những đoạn trích riêng rẽ, cố ý để chứng tỏ cái tâm trạng tuyệt vọng, chán chường của văn nghệ sĩ ở hải ngoại. Tôi xin chép lại một vài đoạn (theo trí nhớ) mà tờ Tuổi Trẻ đã trích:

“… Ta như giông bão tan rồi họp
Trôi nổi còn hơn sóng đại dương
Lận đận bên trời chung một lứa
Say càng chua xót, tỉnh càng thương…

… Tuyết đổ dầy thêm, đêm lạnh buốt
Người về phòng nhỏ bóng cô đơn
Mở chai bia lạnh thay cơm tối
Ngồi đọc thư nhà lệ chứa chan”.
*
Năm 1987, định cư ở Des Moines, thủ phủ tiểu bang Iowa, một tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ, qua nhật báo Người Việt do nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, tổng thư ký của tờ báo này gửi, tôi có đọc những bài viết của nhà văn Túy Hồng viết về người chồng quá cố của mình.

Qua các bài viết này, tôi mới biết là qua Mỹ, nhà văn Thanh Nam vẫn tiếp tục làm báo Việt ngữ. Trong một bài tổng kết văn học của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc viết đại ý: “Võ Phiến, Thanh Nam và Lê Tất Điều là ba người có công nhất trong việc giữ lửa trong thời kỳ đầu cho nền văn chương Việt Nam ở hải ngoại”.

Năm ngoái, nhà văn Túy Hồng cũng đã viết bài “Anh Có Còn Yêu Em Không?” đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21. Bài viết vẫn là những kỷ niệm về người chồng quá cố. Mới đây, trên tạp chí Sóng ở Canada, nhà văn Túy Hồng lại cho nhân vật truyện của mình nhận xét về người chồng quá cố, đại ý: Người suốt đời ăn chơi, nhậu nhẹt như Thanh nam mà còn viết lời bản nhạc “Suy tôn Ngô Tnổg Thống” với nhạc sĩ Ngọc Bích, tức là người có tinh thần quốc gia…”

Hình như tác giả “Những Sợi Sắc Không”, “Tôi Nhìn Tôi Trên Vách” lúc nào cũng sống với những kỷ niệm về người chồng quá cố.

Thanh Nam là thư ký tòa soạn, là chủ bút các tạp chí Hiện Đại, Văn Học Nghệ Thuật… và là người phơi-ơ-tông thuộc loại nhiều nhất cho các nhật báo ở Sàigòn trước năm 1975. Sang Mỹ, anh lại tiếp tục làm tờ Đất Mới ở Seattle, tiểu bang Washington. Trước năm 1975, anh đã xuất bản tập truyện ngắn Buồn Ga Nhỏ và nhiều truyện dài đăng báo. Đã xuất bản tập thơ Đất Khách ở Hoa Kỳ và đang viết dở dang hồi ký Hai Mươi Năm Làm Báo (theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc).

Những truyện ngắn, truyện dài và thơ của Thanh Nam không xuất sắc, nổi bật đến độ gây tiếng vang ồn ào. Theo tôi, hình như cái đời sống của anh, anh đã là nhà văn, nhà thơ. Anh sống không tính toán với anh em. Có lần lãnh lương ở tòa soạn báo Tia Sáng, ra quán cô Tiểu Muội, tôi thấy anh đưa hết số tiền nhuận bút vừa lãnh hình như là 10 ngàn đồng để trả tiền bia. Đó là lần đầu tiên tôi nghe cô chủ quán mỉm cười và nói với cái giọng lơ lớ: “Thôi còn thiếu 10 đồng bớt cho ông nhà văn đó”. Lại cái chuyện cưới vợ bằng tiền của anh em nhà văn, nhà báo đóng góp vào cũng đã là văn nghệ ra phết!

Trong thời gian quen biết, nhậu nhẹt, tôi không thấy anh có cái kiêu ngạo, làm-dáng-ra-vẻ-nhà-văn. Văn chương, chữ nghĩa của anh cũng giản dị, bình thường như cuộc đời. Như thằng Lập - như những đứa bé đánh giày. Như con Lài - như những đàn bà, con gái đã phải cho-mượn-cuộc-đời. Như những Năm Xe Ngựa, những Buồn Ga Nhỏ, như Bài Hành Bốn Mươi. Và ngậm ngùi như tiếng thơ Đất Khách! Tập thơ mà nhà văn Túy Hồng cho biết là nhà văn Thế Uyên đã nói với chị là ở trại “cải tạo” Việt Cộng đã đem tập thơ này để hù các tù binh sợ mà không dám qua Mỹ. Tôi không có ở trại tù mà cai tù đem tập thơ Đất Khách vào để “hù dọa” tù binh nên tôi cũng không dám có kết luận về việc này!

Như đã viết, văn chương chữ nghĩa của Thanh Nam bình thường như đời sống. Nhưng chẳng phải kể những câu chuyện bình thường với giọng văn bình thường, giản dị một cách lương thiện là điều mà Hemingway, nhà văn đoạt giải Văn chương Nobel, đã mong muốn, hay sao?

Anh Thanh Nam đã đi về bên kia cõi đời. Mọi điều bây giờ, đối với anh, chỉ là chuyện bọt bèo.

Bài viết này không phải là một bài phê bình văn học hay một tổng kết về sự nghiệp văn chương của một nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Tôi không phải là, và cũng không đủ khả năng, làm ngự sử văn đàn. Bài viết chỉ là đôi điều kể lể về một người viết văn, làm thơ, làm báo đã trọn đời sống chết với văn chương, chữ nghĩa mà tôi đã có thời quen biết. Chỉ mong được như là nén hương thắp muộn gửi đến linh hồn người quá cố. Và là lời chia buồn trễ tràng - quá trễ tràng, xin gửi tới chị Túy Hồng mà nỗi buồn mất mát chắc hẳn khôn nguôi suốt quãng đời còn lại.

NGUYỄN THIẾU NHẪN

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

“Family” có nghĩa là gì? Tôi va phải một người lạ trên phố khi người này đi qua. “Ồ xin lỗi”, tôi nói. Người kia trả lời: “Cũng xin thứ lỗi cho tôi, tôi đã không nhìn cô”. Chúng tôi rất lịch sự với nhau. Nhưng ở nhà thì mọi chuyện lại khác. Tối nọ, lúc tôi đang nấu bếp thì cậu con trai đến đứng sau lưng. Tôi quay người và đụng vào thằng bé làm nó ngã chúi xuống sàn nhà.”Tránh ra chỗ khác”- tôi cau mày nói. Con trai tôi bước đi, trái tim bé nhỏ của nó vỡ tan. Tôi đã không nhận ra là mình đã quá nóng nảy.

Khi đã lên giường, tôi nghe một giọng nói thì thầm: “Khi đối xử với người lạ con rất lịch sự, nhưng với con mình con đã không làm như vậy. Hãy đến tìm trên sàn nhà bếp, có những bông hoa đang nằm ở cửa. Đó là những bông hoa mà con trai con đã mang đến cho con. Tự nó hái lấy những bông hoa này: nào hoa hồng, màu vàng và cả màu xanh. Nó đã yên lặng đứng đó để mang lại cho con điều ngạc nhiên, còn con thì không bao giờ thấy những giọt nước mắt đã chảy đẫm lên trái tim bé nhỏ của nó”.

Lúc này thì tôi bật khóc. Tôi lặng lẽ đến bên giường con trai và quì xuống: “Dậy đi, con trai bé nhỏ, dậy đi. Có phải những bông hoa này con hái cho mẹ không?”. Thằng bé mỉm cười: ”Con tìm thấy chúng ở trên cây kia. Con hái cho mẹ vì chúng đẹp như mẹ. Con biết là mẹ thích lắm, đặc biệt là bông hoa màu xanh”.

Thế bạn có biết từ family có nghĩa là gì không?

FAMILY = Father And Mother, I Love You!

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

XIN GIẪY CHẾT CHUNG


Mấy bữa rày, dư luận khắp nơi chú ý nhiều đến các tin tức liên quan đến chuyến đi của hai quan cầm đầu Bộ Quốc Phòng và của thủ tướng Việt Nam.

Chuyến đi của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, thì được ông công khai nhìn nhận dính đến chuyện mua sắm trang bị quốc phòng hạng nặng, từ máy bay gắn hỏa tiễn đến tàu ngầm.

Hãng thông tấn chính thức của nhà nước Hà Nội giở trò “phỏng vấn bật mí” cho thiên hạ biết là Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh sang Mỹ “nài nỉ” các nghị sĩ có cảm tình với Việt Nam bãi bỏ lệnh cấm bán “võ khí sát thương.” Và không hề có chuyện ngỏ ý mua súng đạn gì cả.

Mỹ tuy bãi bỏ lệnh cấm vận võ khí với Việt Nam từ cuối năm 2006 dưới thời Tổng Thống George W. Bush nhưng lại chỉ cho bán những loại không phải là “sát thương.”

Không thể mua tàu, mua máy bay chiến đấu nếu cái lệnh “sát thương” này còn đó. Hãy khoan nói chuyện khi nào mua, mua cái gì và được người ta chịu bán cái gì. Cái này tùy thuộc nhiều điều kiện rối rắm trong bối cảnh đu dây để tồn tại của cái đảng độc tài Hà Nội.

Chỉ nhìn vào một chuyện, người ta vô cùng ngạc nhiên là tại sao ông Phùng Quang Thanh lại sang cái xứ “tư bản giãy chết” để xin mở kho bán súng?

Xưa nay, sinh viên học sinh ở Việt Nam đều bị nhồi sọ là tư bản giãy chết, sắp chết đến nơi rồi. Ðứa nào không làm bài theo đúng lời giảng dạy là rớt.

Nhưng con cái các đảng viên ăn hối lộ nhiều tiền thì cho sang Mỹ học ở cái nước đang giãy chết ngày càng nhiều hơn trước. Hay chúng nó đi học... giãy chết?

Và bây giờ, đến phiên ông bộ trưởng Quốc Phòng cũng sang Mỹ để học... giẫy chết? Hay để xin giẫy chết chung?

Trước khi đến Ngũ Giác Ðài để thảo luận chuyện “giẫy chết” với Bộ Trưởng Robert Gates, ông Phùng Quang Thanh được cho ghé Hawaii thăm căn cứ Không Quân. Tại căn cứ này có một số chiến đấu cơ (nghe nói có khả năng tàng hình tức tránh bị radar địch phát hiện) Raptor F-22A. Ông có được xem chúng biểu diễn “giẫy chết” hay không, chưa thấy có tin tức nào tường thuật.

Cho ông xem nó “giẫy chết” để ông lé mắt về nhà nói khoác thôi chứ cái đám tư bản giẫy chết không bán nó cho ai ngoài đồng minh ruột là Anh Quốc và may ra gồm một số nước đồng minh khác rất giới hạn. Chắc chắn không có tên nước Cộng sản Việt Nam.

Nhiều giáo trình giảng dạy hoặc các văn kiện đảng ở Việt Nam nói rằng tư bản giẫy chết, nhưng không hiểu sao, nó giẫy từ mấy trăm năm nay khi ông tổ Các Mác hùng hồn tuyên bố mà bây giờ, dường như nó càng giẫy càng khỏe ra.

Hàng năm, kỹ nghệ Quốc Phòng Mỹ nói riêng và các nước tư bản tây phương chi hàng trăm tỉ đô la nghiên cứu các loại võ khí mới. Không biết có phải vì vậy mà chúng càng giẫy càng khỏe ra hay không. Kinh tế các nước tư bản tuy điêu đứng khi bị suy thoái nhưng các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc thấy Mỹ và Âu Châu giảm nhập cảng lại rên ư ử. Sao chúng nó đang giẫy chết thì không để chúng nó chết luôn đi? Lại lậy van nó mua hàng làm chi?

Các sinh viên đại học ở Việt Nam, ăn rau muống luộc, muối vừng, muối lạc trộn chung với lý thuyết Mác Lê cả quyết tư bản giãy chết, nên còm cõi giơ xương. Ông Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh, nhìn hình trên báo, cái mặt phèn phẹt những mỡ, cái bụng như đàn bà chửa, hẳn phải ruợu thịt ê hề từng bữa.

Ông tới đây để xin “giẫy chết” chung với Mỹ mà chắc gì chúng nó cho.

Có người cho rằng ông tới đây nhằm giúp đảng đối phó với những lời đả kích của bá tánh và ngay cả đảng viên các cấp mỗi ngày một nhiều hơn, nguy hiểm hơn.

Lời yêu cầu Mỹ bỏ lệnh cấm bán võ khí sát thương cũng chỉ là đòn gió, khua khoắng lung tung để thiên hạ tưởng thật, là các ông tính mua thật. Nhờ vậy, uy tín của các ông tăng lên, tiếp tục giữ được quyền lực thống trị để tham nhũng tiếp, vơ vét tiếp.

Nắm vững được quyền lực chính trị, quân sự là duy trì được quyền lợi kinh tế cho phe đảng cha truyền con nối chứ chẳng vì lý do gì khác.

Chẳng phải vậy, ông Phùng Quang Thanh đã không yêu cầu các nghị sĩ Mỹ cản trở Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam.

Rồi người ta lại vẫn thấy đám quan quyền Hà Nội đi Mỹ họp bàn chuyện xin “giẫy chết” chung. Còn sinh viên đại học ở Việt Nam vẫn phải nhồi nhét vào đầu cái lý thuyết tư bản giẫy chết khi nào cái chế độ này còn đó.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Quà giáng sinh

Tác Giả : O. Henry
(1862-1910)

Một đồng tám mươi bảy xu ,đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.

Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa.Không hề có sự nhầm lẫn,chỉ có một đồng tám mươi bảy xu ,và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh. Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi.ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở.
Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố NEW YORK.
Hè có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ốm Jim', James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về.
Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ.


Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món qùa. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa ,một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.
Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tường. Mắt cô sáng lên.
Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della.
Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.
Della buớc chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu 'Madame Eloise'. Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp,bà ta chẳng có một chút vẻ 'Eloise' nào cả.
Della cất tiếng hỏi: 'bà mua tóc tôi không?'
'Tôi chuyên mua tóc mà, bà ta đáp và bảo: 'hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi'
Suối tóc nâu đẹp tụyệt vời buông xuống.
'Hai mươi đồng' bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.
'Hãy cắt nhanh đi! và đưa tiền cho tôi' Della nói.
Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ.Ŀó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó.
Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.


Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: 'mình có thể làm gì với nó đây?'. Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ tòan những sợi quăn quăn khắp đầu. 'Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!'. Cô tự nhủ :'Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?'
Bảy giờ tối, bữa ăn đuợc chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim.
Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cát áo khoác mới.Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: 'Đừng nhìn em như thế ,anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói 'giáng sinh vui vẻ', em có một món quà rất hay cho anh này!'
'Em đã cắt mất tóc rồi à?' Jim hỏi
'Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? em vẫn là em mà!' Della nói.
Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: 'em nói là em đã bán tóc à?'
'Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?'
Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói: 'anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy.

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống.Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa!
Della nâng niu món quà ,mắt tràn đầy hạnh phúc. 'Tóc em sẽ chóng dài ra thôi Jim', nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy.
'Đẹp không anh? em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này'

Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cười nói: 'Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu.Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu' ...đó là một câu chuyện cảm động về tình yêu của hai bạn trẻ đã hết lòng yêu nhau.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

MỘT CHUYỆN
NGÀY GIÁNG SINH


Chuyện phóng dịch
Từ Vũ

Phóng dịch từ truyện "Une Histoire de Noël"- Conto de Natal - của PAULO COELHO gởi bằng émail cho Từ Vũ ngày 22.12.2009 với những giòng chữ :

Afin de vous remercier pour le soutien que vous m'avez apporté en 2009, poursuivant la tradition des années précédentes, je vous envoie le conte de Noël que j'ai écrit pour les colonnes que je tiens dans plusieurs journaux du monde.

Que Dieu nous illumine en 2010,
Paulo Coelho

Một chuyện thần thoại được nhiều người biết đến nhưng lại không hiểu nguồn gốc từ đâu ra kể rằng một tuần lễ trước Giáng Sinh, vị tổng thiên thần Michel bảo với các vị thiên thần dưới quyền mình rằng ông muốn tới thăm địa cầu; ông muốn biết tất cả mọi điều đã sắp xếp sẵn sàng để cho ngày lễ mừng kỷ niệm ngày Chúa Jésu ra đời chưa. Tổng thiên thần Michel luôn luôn gởi một vị thiên sứ có tuổi và một vị trẻ cùng đi với nhau để có được một quan điểm đồng nhất về điều xảy ra ở lãnh địa của Chúa.

Một trong những cặp thiên thần được chỉ định đến nước Việt Nam, cả hai lại đến rất trễ vào một buổi tối. Vì không biết phải ở đâu nên cả hai hỏi xin được tạm trú tại một trong những ngôi nhà đồ sộ, như nhiều người biết, tại khu Phú Mỹ Hưng.

Chủ nhân ngôi nhà , một đại gia nhưng đang trên đà phá sản vì tình trạng khủng khoảng kinh tế toàn cầu - theo lời đồn đại của mọi người thì tình trạng này cũng đang xảy ra đối với nhiều vị đại gia khác trong khu vực Phú Mỹ Hưng - , là một người ngoan đạo . Ông ta nhận ra ngay được đấy là những thiên sứ từ nước Trời phái tới nhờ vào những vầng hào quang thấp thoáng trên đầu hai người khách xin ở tạm song ông ta lại qúa bận rộn trong việc sửa soạn một buổi tiệc lễ lớn để mừng Giáng Sinh và ông không muốn phải di chuyển xáo trộn những trang trí bầy biện đã gần xong nên yêu cầu hai vị khách vào nghỉ ở dưới tầng hầm ngôi nhà .

Mặc dù trên những tấm thiệp mừng Giáng Sinh bao giờ cũng in hình ảnh tuyết đổ, ở Việt Nam nhất là Sài Gòn tuy khí hậu có hơi lành lạnh nhưng chẳng hề có tuyết bao giờ và ngược lại còn khá nặng nề với cái ẩm và sự ngột ngạt của căn hầm nhà.

Họ phải nằm ngay trên nền xi măng cứng nhưng trước đó cả hai chuẩn bị đọc kinh cầu nguyện theo thông lệ. Thiên sứ lớn tuổi nhận ra được một vết nứt trên tường hầm nên đứng ngay dạy dùng phép lạ sửa chữa lại rồi quay về chỗ để đọc kinh .

Cả hai vị thiên sứ đã trải qua một đêm kinh khiếp vì căn hầm quá nồng nực .

Hai vị thiên sứ mỏi mệt vì mất ngủ nhưng cả hai đều biết là họ phải hoàn thành nhiệm vụ đã được bề trên trao phó.

Sáng hôm sau, hai thiên sứ đi khắp thành phố SàiGòn với hàng triệu cư dân, những khu phố, những ngôi dinh thự, những ngõ hẻm ổ chuột nhỏ chỉ đủ cho một người đi, những tương phản thật rõ rệt.

Hai thiên sứ lập bản báo cáo rồi lúc bóng đêm lại đổ xuống, cả hai dự tính sẽ đi ra các tỉnh lân cận nhưng vì họ không biết được sự sai biệt giờ giấc nên thêm một lần nữa lại lâm vào cảnh không có nơi cư trú qua đêm.

Hai thiên sứ tới gõ cửa một căn nhà lá thật khiêm tốn tại vùng Đức Linh - Đồng Nai nơi trú ngụ của một cặp vợ chồng, hai vợ chồng chủ nhà mở cửa đón tiếp hai khách lạ. Vì nghèo nên họ không có những hình ảnh nào về các vị thiên thần nên không thể biết được đấy là hai thiên sứ của Thượng đế tuy nhiên hai người lạ này cần một nơi trú thì họ vẫn niềm nở đón tiếp.

Hai vợ chồng chủ nhà sửa soạn bữa ăn tối, săn sóc đứa con vừa chào đời và nhường lại cho hai vị khách căn phòng duy nhất của họ với lời chân thành xin lỗi khách vì họ nghèo nàn không thể có tiền mua sắm được một chiếc giường có nệm để hai vị khách nghỉ lưng thay cho chiếc giường tre ọp ẹp hiên có.

Sáng sớm hôm sau khi hai vị thiên sử bị giật mình thức giấc vì nghe có tiếng ai đó đang nức nở khóc .
Bước ra khỏi căn phòng, họ nhận ra đưỡc hai vợ chồng chủ nhà đang sụt suì rơi lệ . Hỏi ra thì mới biết được là của cải duy nhất mà họ có, một con bò vừa chết bất thình lình đêm hôm qua. Vợ chồng chủ nhà xin lỗi hai vị khách là họ rất xấu hổ vì không có món gì cho khách dùng điểm tâm.

Trong lúc cả hai cùng đi trên một con đường đất đỏ ngoằn nghèo, chợt thiên thần trẻ bộc lộ sự bất mãn của mình với vị thiên sứ đồng hành :

- " Tôi không tài nào hiểu ra được cách ứng xử của ông! Người đàn ông thứ nhất mà mình ngủ trọ có đủ mọi thứ mà ông lại giúp ông ta trong khi đối với cặp vợ chồng nghèo khổ này, họ nghèo nhưng đã tiếp đón chúng ta với tất cả sự chân tình của họ, thì ông lại chẳng làm gì để xoa dịu nỗi đớn đau của họ !

- "Mọi việc không giống như nó đã lộ diện ta đâu, vị thiên sử lớn tuổi đáp lại. Lúc chúng ta ở trong gian hầm tôi đã nhận ra được rằng ở đấy có một kho vàng chôn dấu trong bức tường ngôi nhà lớn này, kho vàng mà người chủ trước đã chôn dấu. Vết nứt ở tường đã để lộ ra và tôi quyết định phải che dấu lại, bởi lẽ chủ nhân ngôi nhà ở Phú Mỹ Hưng đã chẳng biết tiếp giúp đỡ đần ai. Đêm qua, khi chúng ta nằm ngủ trên chiếc giường tre của cặp vợ chồng nghèo khó này, tôi đã thấy được rằng hai chúng ta có thêm một vị khách thứ ba : Thần Chết.
Ông này được gởi đến để đem đứa trẻ sơ sinh đi, nhưng tôi và vị thần chết này là chỗ quen biết từ bao nhiêu năm nay nên tôi đã thuyết phục ông ta hãy lấy mạng của con bò để thay vào mạng sống của đưá bé."

Ngưng một lát, thiên sứ già tiếp tục trong sự im lặng của bạn đồng hành : - " Hãy luôn nhớ, cái ngày mà người ta sửa soạn lễ tiệc Giáng sinh. Trong khi mọi người đều chú tâm đến giá trị hình thức bề ngoài, không ai muốn đón tiếp Mẹ Maria. Nhưng, những mục đồng đã đón bà, và vì lẽ đó, họ đã được ơn huệ là những người đầu tiên được chiêm ngưỡng nụ cười của vị Cứu Thế. "

Troyes, 15.58 - chiều ngày 22.12.2009 tại Sérénité .

© tác giả giữ bản quyền.
. lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 23.12.2008.

TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Lời tâm sự của Nguyễn Vũ về bài hát
Bài Thánh Ca Buồn



Tác giả Nguyên Vũ đàn và hát, rất nghệ sĩ và ... bụi đời::


Hồng Ngọc hát, giọng "thổ" khàn khàn đặc biệt::
Cứ mỗi mùa Giáng sinh về, đây đó lại vang lên những giai điệu quen thuộc của ca khúc Bài Thánh Ca Buồn: "Bài thánh ca đó còn nhớ không em? Noel năm nào chúng mình có nhaụ Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt. Áo trắng em bay như cánh thiên thần...". Tác giả của dòng nhạc tình nói trên là nhạc sĩ Nguyễn Vũ, hiện đang sống tại Sài Gòn. Trong một cuộc tiếp xúc mới đây với phóng viên báo Thanh Niên, nhạc sĩ Nguyễn Vũ đã kể lại hoàn cảnh ra đời của ca khúc "Bài thánh ca buồn" với cả một trời kỷ niệm chập chùng trong ký ức. Nhân ngày Giáng Sinh, mời bạn nghe tâm tình của nhạc sĩ Nguyễn Vũ về ca khúc này:

Hồi mới 14 tuổi, tôi (nhạc sĩ Nguyễn Vũ) rất "siêng" đi lễ ở nhà thờ Con Gà (Đà Lạt) bởi phát giác có một cô gái đẹp, rất ngoan đạo, hằng ngày cô ấy vẫn đi lễ ngang qua ngõ nhà tôị Trái tim non nớt của đứa con trai mới lớn như thổn thức đến tội nghiệp! Đi theo cô ấy suốt 3 tháng, với 3km đi-về mỗi ngày, "mòn nhẵn" cả hai con đường Phan Đình Phùng (nhà tôi) và Hai Bà Trưng (nhà cô ấy), đến vậy mà tôi chỉ mới biết được cô ấy tên là Th. lớn hơn tôi 2 tuổi... Cho đến một buổi chiều gần lễ Giáng sinh, vừa tan lễ thì trời đổ cơn mưa muộn, cô ấy nép vào một mái hiên trú mưa, tôi... trú ké bên cạnh. Văng vẳng từ đâu đó vọng ra bản thánh ca quen thuộc: "Đêm thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng. Đất với trời, se chữ đồng...". Cô Th. đứng trú mưa và hát theo nho nhỏ. Với chiếc áo dài trắng, quần đen, bên ngoài khoác chiếc áo ấm đỏ trông cô Th. co ro như một con chim trong mưa bão, tôi muốn làm một động thái gì đó để chở che nhưng... không dám! Cuối cùng thu hết can đảm, tôi đưa tay vuốt hờ lên những hạt mưa bụi bám bên ngoài chiếc áo ấm của cô Th. đang mặc. Đột nhiên, cô Th. nhoẻn miệng cười, nói: "Cám ơn nghen!". Mưa tạnh, người ta về rồi mà tôi còn đứng ngơ ngẩn. Chỉ 3 ngày sau đó, gia đình tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống...Từ đó, mỗi lần nghe bài hát thánh ca Đêm thánh vô cùng hồn tôi lại xốn xang, những cái "nhớ" cứ ám ảnh tôi, nên đến năm 1972, tôi viết ca khúc Bài thánh ca buồn.

Từ đó đến nay, đã lần nào "nhạc sĩ gặp lại "người ấy" không?", nhạc sĩ Nguyễn Vũ đã giải bày tâm tình của ông như sau: "Những hoài niệm bàng bạc trong ký ức tôi là cấu tứ để hình thành bản nhạc. Tôi nghĩ cứ để như thế chắc sẽ đẹp hơn. Hơn nữa, tôi đã có một gia đình êm ấm và chắc chắn cô ấy cũng đã tay bế, tay bồng, một sự gặp gỡ (nếu có) chỉ thêm "rắc rối" mà thôị Tôi cũng có nhiều chuyến trở về Đà Lạt, thâm tâm cũng có ý dò tìm, nhưng biệt vô âm tín! Đà Lạt bây giờ đã thay đổi quá nhiềụ"

(Trích Việt Báo)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ông Già Noel Không Đến Việt Nam
Hai thằng nhóc của tôi hồi hộp chờ ông già Noel từng giờ, vì vậy để làm cho bọn nhỏ yên tâm, tôi đành mở internet vào mạng để chỉ cho chúng theo dõi ông già Noel đang ở đâu và sắp đến đâu tại địa chỉ này:

http://www.noradsanta.org

Sau khi biết ông già Noel đang ở Nam Mỹ, và sắp đến California thì chúng mới yên tâm. Trong lúc rảnh rỗi thì mấy cha con lại theo dõi các địa điểm mà ông già Noel đã đi qua trong vòng hai mươi tiếng đồng hồ qua... và khi soi từng địa điểm ở châu Á, cả 3 cha con đều chưng hửng khi thấy lộ trình ông già Noel năm nay không có Việt Nam! Trong khi đó ông già Noel đến Lào và 2 địa điểm khác ở Cambodia. Ba cha con lại check các địa điểm lân cận để xem coi có ai bị bỏ sót không thì thấy ông già Noel còn đến cả Bắc Hàn, Nam Hàn, Nhật, Malaisia, Indo, Philippine, Miến Điện... nhưng nhất định ông ta không chịu ghé Việt Nam.

Bọn nhỏ tiu nghỉu và tự ái dân tộc nên thắc mắc tại sao Santa Claus không đến Việt Nam??!

Tôi bèn giải thích rằng:

- Ở Việt Nam thì các thành phố thì đều bị kẹt xe trầm trọng, nếu ông Santa Claus tới Việt Nam thì sẻ bị trễ giờ không kịp đi tới các nơi khác phát quà.

Bọn trẻ bèn nói rằng:

- Santa Claus dùng xe bay trên trời cao thì làm sao bị kẹt xe được?

Tôi bèn chống chế rằng...

- Ừ ở Việt Nam ô nhiễm không khí quá cao, Santa Claus không dám bay trên trời vì sợ bị viêm phổi cấp tính.

Bọn nhỏ lại vặn vẹo:

- Tại sao ông Santa Claus không đeo khẩu trang như mấy cô chú ở Việt Nam lái xe trên đường phố để đi phát quà?

Tới nước này thì tôi nổi cáu:

- Ông già Noel không xin được visa vào Việt Nam vì chính phủ Việt Nam chưa cho phép. Ngoài ra ông ta cũng không thể tự mình phát quà ở Việt Nam, mà phải chuyển sang cho Mặt trận Tổ quốc thực hiện... Nếu ông ta tự ý phát quà cho người nghèo thì ông ta có thể mang tội cấu kết với thế lực thù địch ở hải ngoại tiếp tế cho các phần tử xấu trong xã hội, và vì vậy ông ta chạy mất tiêu không dám ghé Việt Nam.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Đàn Cá Trong Ao Bác Hồ Và Những Con Chó Của Pavlov

Lê Diễn Đức
Warsaw, Ba Lan 20-12-2009
Nguồn: http://ledienduc. wordpress. com/2009/ 12/24/Đàn Cá Trong Ao Bác Hồ Và Những Con Chó Của Pavlov

Kể về bản thân là chuyện nên kỵ. Nói về cái dở thì không sao, nhưng nói cái hay, dễ bị coi là khoe mẽ. Vì thế, tôi thỉnh cầu trước một sự châm chước.

Tôi có ý định lấy chính mình làm điểm xuất phát để bàn về một chuyện khác.Về những cay đắng của một con người. Như một ví dụ. Chẳng phải để dạy dỗ ai (làm gì dám cho mình ghê thế!). Cũng chẳng khoác cái áo “dân chủ, nhân quyền” gì ráo trọi. Càng không nhân danh trí thức. Đơn giản chỉ là những nghĩ suy. Một kinh nghiệm.

Khi mới ở tuổi lên mười tôi đã đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Năm 1967 tôi được Hồ Chí Minh trao phần thưởng cho kết quả học tập xuất sắc với tất cả 14 môn học đạt điểm cao nhất. Đấy là một cuốn sổ tay kích thước khoảng 20 x 15cm, giấy trắng tinh, bìa cứng láng bóng, màu xanh dương, có in hình Hồ Chí Minh chụp thẳng và dòng chữ phía dưới: “Giải thưởng của Hồ Chủ Tịch”. Với tôi, gia đình, trường học và chính quyền địa phương, giải thưởng này là một vinh dự, vì không phải tỉnh, thành phố nào cũng có thưởng, và nếu có thì chỉ có một hoặc hai người. Buổi trao giải thưởng được tổ chức hào hứng trên sân kho của hợp tác xã, dưới ánh trăng (vì lúc bấy giờ máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội, học sinh đi sơ tán ở thôn quê, ban đêm không dám nổi lửa, thắp đèn). Bà con làng xóm tụ hội rất đông. Ba tôi cảm động đến phát khóc. Tôi nâng niu cuốn sổ tay đến mức không dám xài, lâu lâu lấy ra ngắm nghía! Tuy nhiên cũng chưa tức cười thảm hại bằng thằng bạn. Năm 1968, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thăm trường, tặng cho mỗi đứa được cử đi gặp một cục kẹo Hải Châu (thứ cao cấp, hiếm hoi, xa xỉ với lũ học sinh nghèo trong những ngày chiến tranh).

Thằng bạn thèm rỏ dãi nhưng trân trọng quá, không dám ăn, để dành làm kỷ niệm. Trời nóng, chỉ vài hôm cục kẹo chảy nhão nhoẹt dính bê bết với giấy bọc, phải vứt đi. Hắn đi Đông Đức, về nước giảng dạy ở Bách khoa Hà Nội, cho đến giờ. Tôi tin chắc hắn không quên chuyện này!

Tôi sang Ba Lan năm 1969. Cả đoàn du học sinh chúng tôi phải vào nằm viện để bác sĩ khám, tNy giun sán trước khi được sống chung với người ta tại Trung tâm học tiếng Ba Lan dành cho người nước ngoài. Trong bệnh viện, được báo tin Hồ Chí Minh từ trần, chúng tôi khóc thảm thiết! Mấy cô y tá Ba Lan ngơ ngác, lúng túng chẳng biết chuyện gì xảy ra!

Chúng tôi đã yêu Đảng, yêu Bác Hồ đến thế! Đã một thời ngây thơ, ngây ngô như thế!

Đến năm 1994, Kim Nhật Thành chết, xem TV thấy dân Bắc Triều Tiên đứng đông nghẹt hai bên đường ôm nhau gào khóc. Lúc này thì tôi đã bật cười! Cười cả chính mình! Tôi cũng đã y chang vậy ngày nào, bị ngu hoá, bị lừa gạt mà không biết.

Phải thừa nhận các chế độ cộng sản đạt mức siêu đẳng về chuyện nuôi trồng con người theo ý đồ của mình.

Thế hệ tôi và cả xã hội miền Bắc, mỗi một con người được nhào nặn, rèn luyện, nhồi nhét tư tưởng vào trí não, để không còn là mình nữa, chỉ biết suy nghĩ và hành động theo những lời dạy dỗ của Đảng và Bác, đi theo con đường mà Bác và Đảng vạch ra, như con rối, như cái máy. Cái bóng Đảng, Bác bao trùm lên đời sống.

Phản ứng của chúng tôi chẳng khác gì những con cá trong ao của ông Hồ ở Phủ Chủ Tịch. Không hơn, không kém.

Vào năm 1958, theo yêu cầu của ông Hồ, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đã thiết kế cho ông ngôi nhà sàn theo kiểu của người miền núi, cùng với vườn cây, ao cá.

Ngôi nhà sàn có hai tầng, tầng trên ông Hồ dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc trong mùa đông, tầng dưới là nơi ông làm việc vào mùa hè, họp Bộ Chính trị. Ngôi nhà sàn xây dựng xong vào ngày 1/05/1958, bằng gỗ loại bình thường, chiểu theo căn dặn của ông – báo chí viết như thế.

Tuy nhiên, trong thực tế, mãi sau này tôi mới biết, gỗ được sử dụng để làm ngôi nhà sàn “giản dị” thuộc loại tốt. Ngoài ra, sự giản dị này cũng đáng bàn. Bởi vì, ngôi nhà tọa lạc giữa phong cảnh hữu tình, đầy cây cỏ, hoa lá xanh tươi, chim bay, cá lượn bốn mùa. Bác ngồi thư giãn, hút thuốc lá 555 hay xì-gà của Fidel Castro gửi tặng thì còn gì bằng! Đấy là chưa nói đến chuyện có các nàng tới hầu hạ (như cô Nông Thị Xuân chẳng hạn)! Ngay giữa thủ đô chật hẹp, ồn ào, bụi bặm mà hưởng thụ một dinh cơ tao nhã, thanh bạch như vầy, thì khác gì cuộc sống của Tiên ông dưới trần, quả là chưa có tiền lệ.

Nhà sàn Bác Hồ, toàn cảnh - Ảnh: OnTheNet

Nhà sàn Bác Hồ, tầng trệt - Ảnh: OnTheNet

Vào thời buổi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lắm đại gia tư bản đỏ chơi độc theo gương ông Hồ, cũng xây những dinh thự to rầm theo kiểu nhà sàn bằng toàn gỗ quý, vườn tược được trồng nhiều loại cây kiểng mà một chậu trị giá hàng chục ngàn đôla. Cũng ngay trong lòng Hà Nội.

Hồi nhỏ tôi được nghe nhiều huyền thoại về ông Hồ. Với chúng tôi, tên Hồ Chí Minh đồng nghĩa với đấng siêu nhân, thánh thiện và lòng tôn kính. Ở Nghệ An, có bài đồng giao xem ông Hồ, Tướng Giáp sinh ra như là tất yếu của Trời Đất: “Đụn Sơn phân dái / Hòn Đái thất thanh / Nam Đàn sinh Thánh / Đông Thành sinh Tướng”…

Mỗi lần nghe ai kể về đời sống của Bác, nói đến đàn cá trong ao của Bác, lũ trẻ chúng tôi xuýt xoa, phục lăn. Số là đàn cá đông đúc được ông Hồ luyện công phu. Sau một thời gian nhử mồi cám dỗ, ông đã thành công. Khi cho cá ăn, ông chỉ cầm cái que gõ gõ vào cái hộp đựng mồi hay thành bờ ao gì đó là cả đàn lúc nhúc bơi lại.

Lên cấp 2, bắt đầu học vật lý, tôi không còn phục cao kiến luyện cá của ông Hồ nữa, mà chỉ phục ông ở tính kiên nhẫn. Tôi cúc cục mãi mới tập gọi được đàn gà. Còn dạy cá đâu phải giỡn! Té ra ông Hồ chỉ thực hành lý thuyết từ xửa xưa của nhà khoa học người Nga Ivan Pavlov, Giải thưởng Nobel Y học năm 1904. Ivan Pavlov nổi danh từ việc thí nghiệm phản ứng tiêu hoá trên cơ thể chó. Qua nghiên cứu sinh lý học của nước bọt, ông khẳng định rằng, nước bọt không chỉ tiết ra lúc ăn, mà cả trong phản ứng trước bữa ăn. Thức ăn gây chảy nước bọt được gọi là “kích thích ban đầu”, còn tiếng chuông gõ hoặc ánh sáng của cái đèn xuất hiện trước bữa ăn, gọi là loại “thức ăn phụ trợ”. Kích thích chó liên tục một thời gian dài bằng “thức ăn phụ trợ”, cùng lúc với “kích thích ban đầu” để tạo thói quen, ông đã làm chó tiết nước bọt chỉ còn qua sự kích thích thứ cấp. Hiện tượng này được gọi là phản xạ có điều kiện của Pavlov, trái ngược với sự chảy nước bọt bNm sinh, là phản xạ vô điều kiện.

Con chó của Pavlov - Ảnh: Age-of-The-Sage. org

Thì ra, những con cá của ông Hồ chỉ là một phiên bản nhỏ từ con chó của Pavlov.

Phiên bản lớn mới thật hãi hùng.

Người ta nói Việt Nam là một nhà tù lớn, hay cả quốc gia đang bị nhốt trong cái cũi.

Trong cái cũi này, giống như đàn cá trong ao, ông Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng muôn vàn “thức ăn phụ trợ” để “trồng người” vì “hạnh phúc trăm năm” của… Đảng.

Bằng quản lý trong tay sổ hộ khNu, sổ gạo, sổ dầu, phiếu thực phNm, phiếu vải, học đại học; nay thêm sổ đỏ, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, giấy chủ quyền xe, v.v… – ông Hồ và Đảng từ lúc cầm quyền đến nay đã biến đất nước thành một phòng thực nghiệm vĩ đại của “phản xạ có điều kiện”, biến dân tộc thành một bầy đàn ngoan ngoãn. Hàng chục triệu người Việt đã, đang và tiếp tục trở thành những con cá trong ao hay là những con chó của Pavlov.

Ngoài ra, còn một “thức ăn phụ trợ” khác công hiệu. Đó là bộ máy tuyên truyền khổng lồ, chằng chịt từ trung ương xuống thôn xã, bản làng, liên tục đập vào não trạng con người ngay từ thưở thiếu thời. Bất kỳ nguồn thông tin nào bất lợi cho sự độc quyền cai trị của Đảng đều bị ngăn chặn. Những mầm mống phản kháng ngay lập tức bị đè bẹp, đời sống của gia đình, người thân bị phong toả đến bần cùng…

Cho nên, lúc còn là học sinh, tay còn vương mực tím, khi ông Hồ chết, tôi và các bạn tôi cùng thời đã chảy dài nước mắt, cũng không có gì là lạ. Đúng ra, chúng tôi nên được chia sẻ, được thương hại, tội nghiệp.

Nhưng nhờ Trời, ngay trong năm thứ nhất học đại học tôi đã nhanh chóng nhận ra lẽ thường phải có ở đời, sự bất công và bất nhân của chế độ cộng sản. Nó tước đi của con người đời sống riêng tư, cá tính và những quyền tự do tối thiểu nhất. Chúng tôi bị Toà đại sứ Việt Nam tại Ba Lan cấm không được yêu đương, không được mặc quần jeans ra ngoài đường, không được khiêu vũ, không được đến thăm nhà người bản xứ, không được đi lao động kiếm thêm tiền trong dịp nghỉ Hè, v.v… Một ngàn lẻ một thứ cấm! Hàng tuần họp chi đoàn, viết bản tự kiểm. Lơ mơ là bị trục xuất về nước!

Và tôi lơ mơ, xé rào nên bị trục xuất thật. Vừa đặt chân tới ga xe lửa Hàng Cỏ, Hà Nội, chưa kịp xuống tàu, hai công an đã xông lên chỗ ngồi và áp tải tôi vào trại giam, sau đó lãnh án tù hai năm về tội yêu và trốn ở lại nước ngoài. Ra tù, lận đận mãi tôi mới xoay được việc làm và quay lại Ba Lan năm 1989, đúng lúc chế độ cộng sản Ba Lan sụp đổ. Làm nhân chứng của 20 năm xây dựng thể chế dân chủ ở Ba Lan với muôn vàn khó khăn nhưng thành quả phát triển giành được thấy rõ qua từng năm tháng, nhãn quan chính trị của tôi thay đổi hoàn toàn. Tôi được tỉnh ngộ qua liệu pháp điện áp của thực tế một xã hội từ chế độ cộng sản chuyển sang dân chủ tự do, cho mình cơ hội nhìn nhận, phân biệt Ác và Thiện. Quy trình tiến hoá bình thường của tôi được tái hiện, từ “con cá của Bác Hồ”, “con chó của Pavlov” lên làm người. Tôi lột xác cùng với những thăng trầm của tiến trình dân chủ hoá ở Ba Lan và Đông Âu.

Ba Lan tự do đã đưa sự thật lịch sử ra ánh sáng và công lý. Quá khứ đã chứng minh không thể chối cãi rằng, chế độ cộng sản tồn tại thực chất nhờ dối trá và bạo lực. Những người cộng sản không thèm nghe ai khi thấy phương hại đến độc quyền lãnh đạo của họ, cho dù những lời khuyên đó có mang lại lợi ích cho đất nước đến đâu. Chỉ khi bị áp lực tranh đấu mạnh mẽ của quần chúng, bị thất bại, bị dồn vào thế cùng họ mới làm ra vẻ hướng thiện hoặc nhượng bộ. Nhưng khi có sức mạnh và nhất là lúc thành công, họ tự mãn, cao ngạo, và độc ác gấp bội. Bản chất lưu manh, cướp giật của họ, theo thời gian càng ngày càng lộ liễu. Họ biến thù thành bạn, biến bạn thành thù tuỳ theo tình huống có lợi cho sự bảo đảm quyền lực. Họ là bậc thầy của sự tráo trở, lật lọng và bội bạc. Quan điểm phải hợp tác với cộng sản để cải tạo cộng sản, có cách nói cho cộng sản nghe, đã chứng tỏ tính chất xuNn ngốc của nó qua hậu quả việc làm của rất nhiều người từ hàng chục năm nay. Chưa có vị “quân sư” nào làm cộng sản thay đổi được bản chất, ngược lại, họ thường bị phản phé, ngược đãi và chịu chung một bi kịch giống nhau. Rốt cuộc họ chỉ là những kẻ bị phấn khích hoặc có tâm thức bất bình thường, thích đi theo vết xe đổ.

Thiếu tự do và thông tin với bên ngoài, con người không thể nào có đủ kiến thức để nhìn nhận, so sánh các mô hình sinh hoạt xã hội khác, cho nên đại bộ phận người Việt trong chế độ cộng sản, nhất là nông dân, cứ tưởng rằng, cái ao, cái cũi mà trong đó mình đang được Đảng ban phát là “đỉnh cao chói lọi” rồi. Mẹ kiếp! Nhốt người ta lại, bưng tai, bịt mắt, chỉ mở cho nhìn, cho nghe những gì mình muốn áp đặt, cùng với sự đe doạ mạng sống thường trực – rồi bảo “dân trí thấp”, “dân tộc chưa trưởng thành”. Nói thế có khác gì trói chân, buộc tay thằng bé, cho ăn uống nhỏ giọt, cách ly với sông nước, rồi phán nó chậm lớn, không có khả năng biết bơi. Đểu giả, mất dạy cỡ này là cùng!

Vậy mà, lạ lùng thay, có những người không sinh ra trong chế độ ấy, đầu đã hai thứ tóc, mà giờ đây bắt đầu muốn yêu Bác Hồ như thế hệ chúng tôi mấy chục năm trước đây!

Lạ lùng nữa, vì những người ấy đã tháo thân chạy khỏi chế độ cộng sản và được lớn lên, ăn học, trở thành kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ ở các quốc gia dân chủ, tự do.

Lạ lùng hơn, vì những người ấy, được gọi là trí thức, không thể không biết đến tội ác mà chủ nghĩa cộng sản toàn trị đã gây ra cho nhân loại nói chung và đối với dân tộc Việt Nam nói riêng trong suốt gần một thế kỷ.

Lạ lùng đến kinh ngạc, vì những bi kịch Cải cách Ruộng đất, Nhân Văn Giai PhNm, vụ Xét lại Chống Đảng, Thảm sát Tết Mậu Thân Huế 1968, Cải tạo Tư bản, Tư thương miền Nam sau 1975, Chiến dịch bán bãi thu vàng, các vụ án Minh Phụng-Epco, Năm Cam, PMU 18, PCI, vân vân và vân vân… – chẳng mang đến cho họ một chút ý thức gì về dã tâm khủng khiếp và ghê tởm của lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.

Không biết bị ám bởi phản xạ có điều kiện nào qua “thức ăn phụ trợ” của thời “đổi mới”, “tăng trưởng”, “phát triển”, “vươn ra biển lớn”, mà giữa lòng Hà Nội xuất hiện một sự đảo ngược tiến trình tiến hoá của loài người. Cả ngàn con người đang no cơm ấm cật, xiêm áo chỉnh tề, bỗng dưng biến thành đàn cá Bác Hồ, bầy chó của Pavlov, “hân hoan”, “hồn nhiên” hát bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Và rồi sau khi kết thúc thắng lợi ra về, cùng nhau đồng ca điệp khúc: “dân trí Việt Nam còn thấp”, “dân tộc ta chưa trưởng thành” nên chưa thể vươn tới tiến trình dân chủ hoá.

Bệnh này coi bộ hết phương cứu chữa!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Đất Nước và Nhân Dân

Đào Hiếu
Về tác giả: Nhà văn Đào Hiếu, sinh năm 1946 ở tỉnh Bình Định, gia nhập Đảng Cộng sản năm 1968. Tham gia phong trào sinh viên miền Nam chống Mỹ, sau năm 1975 ông làm việc tại báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ. Năm 2008, ông công bố trên mạng hồi ký "Lạc Đường", gây nhiều tranh luận.

Có vẻ như “Đất nước” và “Nhân dân” là hai phạm trù rất gần gũi, rất thân thiết, có quan hệ máu thịt với nhau, thậm chí không thể tách rời nhau.

Từ hàng ngàn năm rồi, nhiều người đã hiểu như vậy, đã cảm nhận như vậy.

Tôi sẽ không viết được những dòng chữ có vẻ nghịch lý sau đây nếu không sống dưới chế độ “cộng sản”.

Sự kỳ quái của chế độ đó đã đánh thức mọi phản kháng trong tư duy, làm chúng ta vỡ mộng và vỡ luôn những nếp nghĩ khác.

Và một trong những phát hiện bàng hoàng nhất là: Đất nước và Nhân dân là hai thực thể có khả năng trở thành thù địch.

1
Từ thuở bé, con người đã gắn liền với đất nước mình qua lũy tre làng, dòng sông, bến đò, những bờ biển thơ mộng, những núi non hùng vĩ, những danh lam thắng cảnh… tất cả, góp phần tạo ra tâm hồn, tính cách và tình yêu của mỗi người, từ đó hình thành những mối dây ràng buộc, nhờ thế mà khi có ngoại xâm thì cả dân tộc cùng đứng lên, đồng lòng đánh đuổi chúng, giành lại từng tấc đất, từng ngọn rau…

Đó là những điều có thật. Đã từng xảy ra. Những tấm lòng yêu nước, những hy sinh vì tổ quốc, những anh hùng dân tộc… tất cả đều có thật.

Duy chỉ một điều nghịch lý, đó là: trong lịch sử nhân loại CHƯA BAO GIỜ ĐẤT NƯỚC LÀ CỦA NHÂN DÂN.

Ngày xưa, khi vua Vũ diệt được Trụ, dựng nên nhà Chu, thiên hạ ai cũng tôn phù.

Chỉ có Bá Di, Thúc Tề chê là bất nghĩa, không thèm ăn thóc nhà Chu, cùng nhau lên núi Thú Dương, hái rau độ nhật.

Sau, có người đến bảo: “Nhà Chu đã trị thiên hạ, thì nơi nào lại chẳng phải của nhà Chu, ăn rau núi này chẳng phải ăn rau nhà Chu ư?”

Hai ông nghe nói, bèn nhịn đói cho đến chết.

Rõ ràng thời ấy người ta quan niệm sông núi, kể cả rau rừng đều “của nhà Chu” nào phải của nhân dân.

Ngay cả hạt thóc là do mồ hôi nước mắt của nông dân làm nên mà cũng được gọi là “thóc nhà Chu” thì nhân dân còn lại gì?

Trong bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, Lý Thường Kiệt cũng xem đất nước Việt Nam là của vua chúa nhà Lý khi ông viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thì thật sự cũng đã “xí phần” cho triều đình hết rồi, còn gì cho đám dân đen nữa?!

Thời phong kiến, đất nước là của nhà vua nên mới có cha truyền con nối, nên trung quân và ái quốc mới gộp làm một.

2
Ngày nay người ta nói nhiều đến dân chủ.

Có vẻ như đất nước không còn là của “nhà Chu” nữa, có vẻ như “Nam quốc sơn hà” không còn của “Nam đế” nữa.

Vậy chắc là của nhân dân rồi!

Thử xem có phải vậy không?

Nếu cái đất nước giàu tài nguyên này, cái quê hương “rừng vàng biển bạc” này là của nhân dân, sao nhân dân nghèo khổ đến vậy?

Tại sao?

Sao những chàng trai nông thôn chân lấm tay bùn vẫn ở nhà tranh vách đất?

Sao những cô gái quê phải lên thành phố bán thân?

Sao bác phu xích lô vẫn còng lưng đạp mỗi ngày, sao lớp trẻ con nhà lao động phải nhễ nhại mồ hôi trong các khu chế xuất, các mỏ than, các nhà máy chế biến hải sản, lâm sản, nông sản… chỉ để kiếm chưa đến một trăm đô la mỗi tháng?

Sao nhân dân lao động vẫn phải chui rúc trong những căn nhà tồi tàn chật hẹp?

Nếu rừng là vàng, biển là bạc thì vàng ở đâu, bạc đi đâu, mà mỗi lần làm đường, xây cầu lại phải vay vốn ODA, vay vốn Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Thế giới… để xảy ra những vụ tham nhũng nhục nhã như PMU18, như vụ cầu Văn Thánh, như vụ PCI Nhật Bản… và hàng ngàn vụ khác?

Nếu đất nước này là của nhân dân thì sao dầu mỏ khai thác nhiều như vậy mà dân không giàu? mà Đảng lại giàu?

Nếu đất nước là của nhân dân sao lại chỉ có một nhúm các tập đoản tài phiệt phất lên nhờ kinh doanh rừng, biển, đất đai và lúa gạo… trong khi nhân dân thì bị cướp đất, rừng thì bị phá, thóc lúa thì bị thương lái ép giá, đẩy nông dân vào kiếp sống bần cùng?

3
Có quá nhiều bằng chứng để nói rằng trong lịch sử chưa bao giờ đất nước là của nhân dân.

Đất nước chỉ là của nhân dân trong các học thuyết, trong văn thơ, trong âm nhạc.

Không phải của nhân dân

Đất nước chỉ là của nhân dân trong hoài niệm tuổi thơ, trong tâm tình chôn nhau cắt rún.

Trên thực tế đất nước bao giờ cũng là tài sản riêng của giai cấp cầm quyền.

Ngày xưa thì đất nước là của vua chúa, ngày nay đất nước là của các chính quyền.

Còn nhân dân?

Ngoại trừ số ít giàu có ở các đô thị lớn, đại đa số nhân dân lao động, công nhân, nông dân, công chức, tư chức ăn lương…chỉ có được một căn nhà nhỏ, một mái tranh nghèo, một cái ổ chuột tối tăm trong xóm lao động hay dưới gầm cầu.

Những nhà hàng, những khách sạn sang trọng, những vũ trường xa hoa, những cửa hàng lộng lẫy kia không phải của nhân dân.

Những khu đô thị mới, những resorts, những sân golf, những câu lạc bộ quần vợt, những cuộc thi hoa hậu liên miên kia… không bao giờ là của nhân dân.

Những mỏ bô-xit, mỏ than, mỏ dầu trị giá hàng ngàn tỉ đô la kia, những lâm sản, hải sản vô tận kia…chưa bao giờ là của nhân dân.

Nhân dân chỉ có cái tổ chim bé nhỏ của mình, nhân dân chỉ có vại cà, con mắm, củ khoai, rẫy bắp, chiếc xích lô đạp, chiếc xe máy để chạy xe ôm, để đi làm mỗi ngày.

Nhân dân không biết nghe nhạc giao hưởng, không biết hát Opera, nhân dân chỉ biết rao: “Cháo huyết đây!” “Bánh mì nóng giòn đây!” “Báo mới đây!” “Mài dao mài kéo đây!”…

Nhân dân không có vé vào xem thi hoa hậu hoàn vũ hay xem trình diễn thời trang, nhân dân chỉ có năm ngàn đồng đủ trả một cuốc xe ra đứng đầu đường Huyền Trân Công Chúa và gọi: “Đi chơi không anh?”.

Nhân dân không có ai bảo vệ, chỉ biết chạy trối chết khi bị công an đem xe tới xúc về đồn để “làm sạch thành phố.”

Trong thời chiến, bao giờ nhân dân cũng bị xem như một thứ “tài nguyên”, một “nguồn cơ bắp dồi dào” sẵng sàng cung cấp cho chiến trường để giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh mang danh nghĩa “giải phóng” “chống ngoại xâm” “thánh chiến” “vệ quốc”…

Tội nghiệp cho hàng trăm thế hệ những người lính đã ngã xuống trong các cuộc “chiến tranh thần thánh” ấy để rồi cuối cùng đất nước lại lọt vào tay một nhúm “đồng hương” chuyên nghề vơ vét.

Đất nước đã bị cưỡng đoạt.

Giờ đây, đối với nhân dân Việt Nam, nếu đất nước có còn được chút ý nghĩa, chính là vì nó đang ôm giữ trong lòng nó xương cốt của những người thân đã chết vì một lý tưởng hoang đường và một ước mơ không bao giờ có thật.

4
Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa, rồi Trường Sa.

Vài trăm người biểu tình bị đàn áp, bị bắt, bị đe dọa.

Nhiều người hỏi tôi: “Sao không thấy ông viết về Hoàng Sa, Trường Sa mà chỉ viết về nhân quyền, về dân chủ?”

Chẳng lẽ tôi lại phải trả lời như thế này:

“Vì hai hòn đảo ấy người ta đã dâng cho Tàu rồi. Ai đòi lại được? Mà nếu như có đòi được thì cái lãnh thổ giàu tài nguyên ấy cũng đâu phải của nhân dân. Hai hòn đảo ấy cũng sẽ là tài sản của những kẻ cầm quyền và bọn tài phiệt, cũng sẽ bị chúng chia chác nhau mà ăn thôi.”

Đào Hiếu

Post Reply