Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

"Credit,” Lợi Và Hại

Tác giả: Chu Tất Tiến
Khi mới sang Mỹ, nghe nói ai cũng phải có "credit", nghĩa là phải vay mượn tiền từ các cơ quan tài chánh, mới thực là một công dân Mỹ, người viết từ chối, không tin và nghĩ rằng nhất định sẽ không mượn nợ ai để khỏi nhức đầu. Nghe mấy đứa nhỏ nói "phải cần credit", người viết gạt ngay: "Ôi dào, vẽ chuyện! Nếu cần xài cái chi, cứ mang tiền mặt ra trả hoặc dùng "check" là được rồi!". Nhưng chỉ sau khi định cư ở Mỹ một thời gian, người viết đã hiểu lợi ích cũng như tác hại của sự xử dụng "credit". Sự hiểu biết này lại được tăng cường khi người viết trực tiếp làm việc cho một công ty tài chánh, chuyên bán bảo hiểm và thị trường chứng khoán và giúp cố vấn đầu tư vào các dịch vụ "đầu tư hoạt động" (active investment)(*) như "stock, mutual funds, money market, bonds, và các chương trình hưu trí như Self Imployment Plan (SEP), Roth IRA, và IRA.

Từ đó, người viết mới thấy việc có "credit", nghĩa là có "vay mượn" mới thực sự là quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích của "credit", cũng có những sự việc đau lòng xẩy ra cho những ai không thông hiểu việc xử dụng việc "vay mượn" này. Nhiều người mất nhà, mất xe, mất cả tương lai, đôi khi mất cả ... vợ con chỉ vì dùng "credit" nhiều quá mà không suy nghĩ đến việc trả lại.

Bài này được viết với một mục đích nhắc lại những lợi ích và những nguy hiểm của việc xử dụng "credit", để mong mọi độc giả thấy thảnh thơi hơn trong việc vay mượn và chi trả này.

1-Lợi ích:

-Khỏi phải mang tiền mặt trong túi hoặc kè kè cuốn "check book" bên hông mà vẫn mua được hàng. Nếu có một tấm thẻ "credit" là tha hồ xử dụng cho tới mức tối đa của tấm thẻ ($1,000.00, $5,000.00, hoặc $50,000.00...) Thẻ lại gọn nhẹ, nhét trong ví nhỏ xíu, không cồng kềnh, không lo rơi rớt như khi cầm nguyên một lố tiền mặt vài ngàn đô. Nếu trả tiền đúng hẹn, thì không phải trả lãi. Nhiều cơ sở cho vay tiền không tính tiền lệ phí hàng năm (no annual fee), cho nên xài bao nhiêu, trả bấy nhiêu, thoải mái y như móc tiền túi ra vậy.
-Được lòng tin của các cơ sở cho thuê mướn, vay nợ. Khi muốn thuê một chiếc xe đi chơi ở tỉnh lạ, hoặc muốn mướn một chiếc xe pick-up để chở đồ, điều kiện bắt buộc là phải có thẻ "credit", người ta mới cho mướn. Khi muốn mua nhà, mua xe mới, cũng phải có "good credit", nghĩa là có tiền sử mượn tiền mà đã từng trả đủ, trả đúng hẹn, mới được mua nhà hay mua đồ.

-Xin việc làm. Một vài cơ sở công hay tư muốn kiểm tra "credit" của người xin việc. Nếu không có tiền sử có nợ, hoặc có nợ mà không chịu trả, có nợ mà chuyên trả trễ, thì xin miễn xin việc!
-Hãnh diện: Khi đi mua hàng cao cấp, nếu có thẻ "credit" thì người mua cảm thấy hãnh diện hơn là lôi ra một lô tiền mặt. Nhiều trường hợp mua bằng tiền mặt còn gây khó khăn cho người mua nữa, vì người bán có thể nghi ngờ là tiền "rửa" từ những dịch vụ bất chính, và tuy họ vẫn nhận tiền, nhưng vẫn ngầm báo cáo với cảnh sát. Còn "check" thì đôi khi không được nhận, vì chủ hàng sợ "check" dỏm.

2-Bất lợi:

Trả nợ trễ hạn hoặc không trả nợ thì rất nguy hiểm cho tương lai tài chánh của chính mình. Các cơ sở cho mượn nợ không làm chuyện "chùa" cho thiên hạ mãi vì họ phải điều hành cả một công ty khổng lồ với bao nhiêu nhân viên, máy móc, lại phải bỏ tiền ra chi trả giùm cho khách hàng mỗi ngày cả tỷ đô la. Vì thế, nếu mình trả trễ, lập tức tiền lời "nhẩy vọt lên" từ 0% đến 20% hay hơn. Trường hợp trả dần cũng thế, phải trả một số tiền lãi cho số nợ còn lại. Có nhiều người ham "shopping" líu lo, mà không có nhiều tiền, nên bị nợ "đè" tắc thở! Lãi mẹ đẻ lãi con, nếu không lo thanh toán sớm, sẽ có ngày mất nhà, mất xế. Nghe nói trong cộng đồng Việt, có vài vị chủ nhân thương vụ ham đánh bạc, được may mắn trúng vài lần và được Casino tặng cho thẻ "credit" vàng. Thấy dễ dãi, nổi hứng lên đánh bạc túi bụi cho đến khi cả tiệm và nhà đều bay mất. Có ông trở thành homeless, sau khi vợ con cũng cất cánh bay luôn. Cho nên, nếu dùng thẻ "credit", phải biết căn cái túi tiền của mình. Có nhiêu, xài nhiêu, đừng ham vui mà xài quá lố, thì tiêu đời.

3-Điểm "credit"
(Credit Scores)

Điểm Credit là một báo cáo về tiểu sử tài chánh và vay mượn của một người: nợ nhà, nợ xe, trương mục mới, trương mục cũ, tiền thiếu chịu, trả trễ... Điểm của người dùng là ba (3) con số giữa 300 và 850, dựa vào nguyên tắc của một công ty là Fair Isaac, công ty này bán công thức cho ba (3) cơ quan báo cáo về "credit" là Equifax, Experian, và TransUnion. Các cơ quan này cho các cơ quan chuyên cho vay biết về cách tiêu tiền của một người đi vay, từ đó, quyết định có cho vay nợ hay không, và nếu cho vay, thì tiền lãi sẽ như thế nào, có thể thấp nếu người đi vay có "good credit" (nghĩa là có điểm trên 720), có thể lãi xuất rất cao, nếu người đi vay không có "good credit", và không cho vay, nếu người xin vay có "bad credit". Những người có điểm trên 799 thì được khuyến khích vay thật nhiều, và được hưởng nhiều ưu đãi. Kẻ có "bad credit" phải chấp nhận không bao giờ vay được ai, hoặc vay được mà lãi xuất cao hơn bình thường. Thì dụ như khi mua xe mới, người có "good credit", nếu gặp dịp "sale", không phải trả lãi xuất, trong khi người mới có "credit" hoặc "bad credit" phải trả tới 10 hay 12% tiền lãi.

Điều đáng lưu ý là khi nhận được "credit report", phải dò thật kỹ xem có đúng tên, địa chỉ cũ và mới của mình hay không. Đôi khi, với người Việt Nam, việc lộn tên ra họ, lộn họ ra tên, hoặc trùng tên họ là thường. Như thế thì mình bị "oan ơi ông Địa" nếu không biết khiếu nại.

Chu tất Tiến

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

THANH VÀ TỤC TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

Ngồi buồn nhớ chị Xuân Hương
Hồn thơ còn hãy như nhường trêu ai..

Nguyễn Quý Đại
Từ thời dựng nước dân tộc Việt Nam luôn luôn có truyền thống chiến đấu chống ngoaị xâm dành độc lập bảo vệ quê hương, trong quá trình đó người phụ nữ cũng đã đóng góp rất đáng kể, tiêu biểu là cuộc khởi nghiã của Hai Bà Trưng (40-30 trước CN) và Bà Triệu (năm 248) với những chiến tích oai hùng trong lịch sử Việt Nam. Những thế hệ kế tiếp các bậc nữ lưu cũng giúp việc nước, lo việc nhà và đã đóng góp cho lâu đài văn hóa dân tộc như các các nhà thơ nổi tiếng: Đoàn Thị Điểm dịch giả Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Ngọc Hân công chúa với Ai Tư vãn. Lưu thị Hiền (bà Phủ Ba) Ngô Chi Lan Ỷ Lan Phu nhân, Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh…, trong đó nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở thế kỷ thứ 18 nổi tiếng là Bà Chúa Thơ Nôm

Hồ Xuân Hương và thân phận

Hồ Xuân Hương con ông Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786) ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi triều đại Lê Bảo Thái và dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh họ Hà làm vợ thứ, sinh ra Hồ Phi Mai (1772-1822), nghiã là Hoa mai bay trên hồ, bút hiệu Xuân Hương, lúc Xuân Hương 13 tuổi thân phụ mất, bà rời làng Khán Xuân theo mẹ về làng Thọ Xương gần Hồ Hoàn Kiếm, đi học một thời gian sau đó ở nhà giúp việc. Xuân Hương tự học thêm, nhờ thông minh làm thơ hay, tiếng tăm lừng lẫy. Tổng Kình tên tự Nguyễn Công Hòa, ở làng Tứ Xã (huyện Phong Châu, Vĩnh Phú), khi bé tên Cóc, sau nầy HXH gởi bài thơ „Khóc Tổng Cóc“ nên từ đó dân làng gọi ông là Tổng Cóc. Chuyện tình của bà với Tổng Cóc trở thành giai thoại, thân phụ của Xuân Hương là nhà giáo thời ấy gọi cụ Đố Xứ, Tổng Cóc và một số chàng trai khác chiều 30 Tết mang qùa biếu tết cụ Đồ, bị Xuân Hương ra câu đối

"Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới"

Tổng Cóc đối lại:

"Sáng mồng một mở then tạo hoá để cho thiếu nữ rước xuân vào"

Được cụ Đồ Xứ khen hay, có thể Xuân Hương mến mộ chàng có khiếu văn chương? Tổng Cóc đã lập gia đình nhưng là người có tiếng ăn chơi, tính tình nghệ sĩ thích văn thơ cưới Xuân Hương làm thứ thiếp. Tổng Cóc yêu thương vợ làm cái nhà thủy tạ cho bà trông coi ao cá và bảo nàng làm thơ viết vào gỗ, hiện nay tại nhà thờ của ông Kiều Phú, thôn Đại Đình, xã Sơn Dương, Phong Châu, Vĩnh Phú còn tấm ván mít ghi những nét thơ Nôm của Hồ Xuân Hương. Nhà ông Bùi Văn Thắng còn đôi bình và hai ống quyển ghi bút tích 4 câu thơ trang nghiêm của HXH, nói đến tấm gương trong trắng (như người con gái trong trắng) khi xuân hết thì thợ trời cũng chịu. Chỉ còn biết dựa vào phúc đức …. khi ấy hương thơm sẽ tỏa khắp muôn nơi .

Thảo lai băng ngọc kính
Xuân tận hoá công hương
Độc bằng đan quế thượng
Hào phóng bích hoa hương
nghiã
Nói đến tấm gương bằng ngọc
Hóa công cũng chịu lúc tàn xuân
Chỉ bằng lúc vin cành quế đỏ
Tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm

Xuân Hương bản tính nghệ sĩ giao tiếp rộng, không thể vượt đời sống của làng quêtrọng nam khinh nữ, bởi vậy vợ chồng không tránh được việc va chạm hằng ngày trong xã hội phong kiến „Đau đớn thay phận đàn bà! Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu“. Xuân Hương bị vợ lớn ghen tương, gia đình chồng đè nén vì thân phận làm thứ thiếp. Nên bà chán ngán cảnh chồng chung bỏ nhà ra đi.

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm thì mười hoạ chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Thân nầy ví biết dường nầy nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong

Giáo sư John Balaban dạy đại học North Carolina ở Raleigh, cũng là nhà thơ dịch“ bài lấy chồng chung“ của Hồ Xuân Hương „Spring Essence“ the Poetry of HXH (nhà xuất bản Copper Canyon Press, 2000)

On Sharing a Husband
Screw the fate that makes you share a man.
One cuddles under cotton blankets; the other’s cold.
Every now and then, well, maybe or maybe not.
Once or twice a month, oh, it’s like nothing.
You try to stick to it like a fly on rice
but the rice is rotten. You slave like the maid,
but without pay. If I had known how it would go
I think I would have lived alone.

Chẳng riêng gì Xuân Hương, thân phận của người vợ thứ trong dân gian cũng là một nỗi buồn truyền kiếp:

Tối tối chị giữ mất buồng
Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò
Mong chồng, chồng chẳng xuống cho
Đến khi chồng xuống gà o o gáy dồn...

Hồ Xuân Hương mở quán làm kế sinh nhai, khách hâm mộ văn tài bà đến cùng xướng họa, có nhiều chuyện tình trở thành giai thoại. Xuân Hương lãng mạn, phóng khoáng bà muốn vượt qua bức tường nho giáo khắc nghiệt, nhưng không tránh được cái nghiệp tình duyên ngang trái. Xuân Hương gặp ông phủ Vĩnh Tường và làm bài thơ giã từ “khóc Tổng Cóc“.

Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

Bài „khóc Tổng Cóc“ gây nhiều dư luận trong văn học, những người ở làng Gáp cho rằng bài thơ đó khóc cho mối tình đầu của bà, từng khổ đau với hoàn cảnh làm vợ trong gia đình Tổng Cóc nên dùng những từ ngữ chỉ họ hàng nhà Cóc nào là nòng nọc đứt đuôi, để giễu Tổng Cóc (thơ gởi Tổng Cóc lúc còn sống chứ không phải khóc người chết). Một lần nửa Xuân Hương lập gia đình với ông phủ Vĩnh Tường cũng làm thứ thiếp, không tránh được cảnh khổ ghen tương cay độc như Hoạn thư:

Rằng tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông, thì cũng người ta thường tình
Lòng riêng, riêng cũng kính yêu.
Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai
Kiều của Nguyễn Du

Thời gian sống với ông phủ Vĩnh Tường (ở Thổ Tang, Vĩnh Phú) ông Phủ xem nàng là bạn văn chương. Nhưng số phận của Xuân Hương không được may mắn, cuộc tình ngắn ngủi hơn 2 năm sau phải khóc chồng, chồng chết là nỗi khổ đau nhất của người thiếu phụ, thương cho thân phận kẻ ở người đi. Xuân Hương buồn khổ trước cảnh nhà lạnh lẽo đơn côi, bà trang trải nỗi bi thương của mình trên những dòng thơ buồn não nuột, là tiếng nấc nghẹn ngào của người góa phụ vĩnh viễn xa chồng:

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!
Thiếp bén duyên nàng có thế thôi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hoá rơi đâu mất;
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc;
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!

Thơ và bạn đời

Các tác phẩm của bà bị thất lạc, đến nay còn lưu truyền những bài thơ chữ Nôm trong Xuân Hương Thi Tập, năm 1964 ông Trần Thanh Mại phát hiện thêm tập thơ chữ Hán Lưu Hương Ký 瑠香記 viết năm Giáp Tuất (1814). Hồ Xuân Hương là nhà thơ sử dụng chữ nôm một cách điêu luyện và sắc xảo, ít người sánh kịp. Bà thường chọn những âm khó đọc để hạ vần nói lái, nghiã bóng thành những bài thơ rất tài tình và đầy thú vị trong đó ý thơ và tình thơ bao gồm: đạo đức, tiếu lâm, hay châm biếm, độc đáo có một không hai trong văn chương bác học. Phần xướng hoạ có lẫn thơ của văn nhân thời bấy giờ để lại số đề tài khúc chiết, nồng nàn yêu đương. Cổ Nguyệt Hương Đình do Xuân Hương dựng lên ở phường Khán Xuân gần Hồ Tây khu vực vườn Bách Thảo, trường Bưởi đường Cổ Ngư làng Yên Phụ. Thơ tả chân táo bạo diễn tả ý tưởng lả lơi bỡn cợt, vừa thanh vừa tục mà không kém phần lãng mạn. Tình yêu, tình bạn của Xuân Hương có rất nhiều nghi vấn, khó xác định cảnh đời từng trải của Xuân Hương. Các tài liệu dẫn chứng Xuân Hương giao du rộng rãi với những danh sĩ như Phạm Quí Thích (khắc và in thơ của Nguyễn Du), Nguyễn Huy Tự (Tác giả Hoa Tiên), Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong, Cư Ðình, Trần Quang Tĩnh, và Trần Phúc Hiển, v.v. Học giả Hoàng Xuân Hãn dẫn chứng bà có 3 đời chồng, người cuối cùng là Tham hiệp trấn Trần Phúc Hiến? Trong vấn đề xướng họa thơ văn, một đối thủ của Xuân Hương được lưu lại là Chiêu Hổ tức Phạm đình Hổ (1768-1839), là tác giả Vũ Trung Tuỳ Bút, bút hiệu Chiêu Hổ, lần ông đến thăm Xuân Hương có ý sổ sàng bị Xuân Hương chê suồng sã

Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay...

Hùm có nghiã là hổ, Chiêu Hổ bị Xuân Hương chơi chữ, ông không chịu thua cợt nhả đối lại:

Này ông đồ tỉnh, nầy ông đồ say,
Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày!
Hang hùm ví bẵng không ai mó,
Sao có hùm con ẵm chốc tay?

Năm 1842 Tùng Thiện Vương ra thăm cảnh Hồ Tây có làm bài thơ viếng mộ Xuân Hương „Long Biên Trúc Chi Từ“ bản dịch ra Việt ngữ của học giả Hoàng Xuân Hãn

Đây hồ rực rỡ hoa sen
Sai người xuống hái để lên cúng đàn
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng
Sen tàn, phấn rữa mồ hoang
Xuân Hương đã khuất bên làn cỏ xanh
U hồn say tít làm thinh
Gío xuân mấy độ thế tình không hay!

Ngày nay không thể tìm mộ của bà, tuy nhiên người ta dựng bia để tưởng niệm nữ sĩ Xuân Hương

Những nét tiêu biểu trong thơ Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương trưởng thành trong giai đoạn lịch sử chiến tranh, ảnh hưởng nặng nề phong kiến “nhất nam viết tử thập nữ viết vô”. Đàn bà ít được đi học, ứng thí như đàn ông, may mắn học ít chữ, lấy chồng sanh con lo việc nội trợ. Xuân Hương đã tỏ ra là một thiên tài, làm thơ khẩu khí khi bà bị trợt té người ta cười, bà làm ngay hai câu thơ để chữa thẹn:

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài

Hồ Xuân Hương thông minh, có tài nhưng tiếc thay sinh ra phận gái nên cái lỗi lạc của bà thành ra lãng mạn mà lắm người cho là “lẳng lơ“! Đọc mấy câu thơ sau của bà, dũng khí như một đấng tu mi nam tử. Khi XH đi qua miếu Sầm Nghi Đống tại Loa Sơn, là tên Thái thú quân nhà Thanh thua trận thắt cổ chết trên cây đa ở gò Đống Đa mùng 5 tháng giêng năm Kỷ dậu 1789. Người Hoa lập miếu thờ, tin đồn miếu linh thiêng nên Xuân Hương đề mấy câu thơ :

Ghé mắt trông nghiêng thấy bảng treo
Kià đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?

Xã hội thời phong kiến người ta quan niệm „trai năm thê bảy thiếp, gái chín chuyên chỉ một chồng“ thật là bất công! vấn đề đa thê ngày nay không được chấp nhận (ngoại trừ các nước theo Hồi Giáo). Ngày xưa chồng chết vợ phải thủ tiết thờ chồng. Xuân Hương muốn phá cái phong tục thời đó, nên lúc sống với ông Phủ Vĩnh Tường, có người góa phụ còn trẻ muốn được tái giá, làm đơn xin quan phủ xét, gặp lúc ông phủ đi vắng, Xuân Hương xem đơn và phê ngay :

Phó cho con Nguyễn thị Đào
Nước trong loe lẻo cắm sào chờ ai?
Chữ rằng xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.

Tuy nhiên có tài liệu cho giai thoại nầy là của bà Huyện Thanh Quang, nhưng theo nhận xét chung lối hành văn nầy không thể nào của bà Huyện Thanh Quang? Những bài thơ tuyệt tác của Xuân Hương được lưu truyền hậu thế. Biệt tài thơ Xuân Hương dùng chữ Việt thuần tuý, không vay mượn điển tích sáo ngữ, đọc thơ hiểu được nghiã đen và nghiã bóng.

Bài "Ngủ quên hay ngủ ngày" Thiếu nữ nằm nghỉ buổi trưa hè trời nóng, cơn gió nồm mát rười rượi làm nàng ngủ quên, giấc ngủ say sưa vô tình bày ra thân hình trẻ trung, mơn mởn da thịt với những đường nét tuyệt vời sống động...

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong.

Cái đẹp bất cứ ở đâu đều được mọi người yêu chuộng, người trần tục thấy hoa đẹp ai không muốn nhìn? Bồng Đảo, Đào Nguyên là cảnh tiên, Lạch Đào Nguyên suối hoa đào đều là cái đẹp của sự sống. Từ xưa và nay nhiều nhà phê bình bàn cãi tranh luận về thơ Xuân Hương mang tính chất dâm và tục, sinh lý bị đè nén “Libido”.Ngược laị người yêu thơ Xuân Hương thường hết lời ca tụng, xem những sáng tác của Xuân Hương kỳ diệu từ cách dùng chữ chính xác, âm điệu kỳ tài. Cái đặc điểm trong thơ Xuân Hương là tả cái tục nhưng dùng toàn chữ thanh, nếu đọc bốn 4 câu thơ sau người ta hiểu tả một ông quan võ nhưng không phải vậy.

Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Ban đêm không mắt sáng như đèn
Đầu đội nón da loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn rủ thao đen
tựa là “dương vật”

Để có thể thẩm định thế đứng của nhà thơ nầy, nói về Văn học không thể đọc một số bài thơ rồi cho là dâm tục có quá đáng chăng? Bởi vì vấn đề Tình Dục từ Á sang Âu thường được trình bày qua các tác phẩm văn chương, những hình vẽ, tượng điêu khắc chạm trổ trong các Cung điện, Đền đài lưu lại từ ngàn năm về trước có những nét đẹp độc đáo như thân thể đàn bà qua những đường cong tuyệt vời, bộ ngực no tròn lồ lộ dưới lớp xiêm y mỏng manh .. những tác phẩm đó thể hiện linh động nét văn hóa và sắc thái mang tính chất diễn tả về nghệ thuật. Mỗi dân tộc văn minh có sinh hoạt văn hoá khác nhau. Nhiều sắc dân họ thờ các bộ phận sinh dục, dân tộc Chàm xây các Tháp theo hình tượng Lingam (dương vật) tình dục được nói bình thường trong sinh hoạt của con người.

So sánh Thơ Xuân Hương với thi ca bình dân tục và thanh
Xã hội bình dân xưa không thoát khỏi qui luật dục vọng cá nhân là lẽ sống con người, dục vọng tập thể là lẽ sống của xã hội. Bởi vậy ca dao được truyền tụng trong dân gian:

Có chồng từ thuở mười lăm.
Chồng chê tôi nhỏ không nằm cùng tôi.
Đến chừng mười chín đôi mươi.
Tôi ngủ dưới đất chàng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn cẳng giường gãy một còn ba!
Ca dao

Đời sống con người được diễn tả qua thi ca trào lộng, vui cười vốn có trong thực tế không nói xa gần, hằng ngày người ta dùng cái điếu cày hút thuốc Lào, mồi đóm lửa, kéo một hơi dài, nghe tiếng róc rách của nước…. Họ nhả những sợi khói từ từ và cảm thấy người bồng bềnh lướt nhẹ trên mây? tay mân mê xoa xoa thân điếu như người bạn thân:

Lòng em cay đắng quanh năm
Khi ngồi, khi đứng, khi nằm nghênh ngang
Các anh các bác trong làng
Gặp em thì lại vội vàng nâng niu
Vắng em đau khổ trăm chiều
Tuy rằng cay đắng nhưng nhiều người mê
Ca dao

Trạng Quỳnh với bài tạ ơn cô hàng bánh:

Đương cơn nắng cực đói lòng thay
Thết đãi ơn cô có bụng nầy
Giờ biết lấy gì mà tạ lại
Xin quỳ hai gối chống hai tay

Sinh hoạt xã hội bất kỳ ở tầng lớp nào, dục tính cá nhân vẫn len lỏi vào cuộc sống. Cái khác biệt toàn thể về bản chất không ai giống ai. Hồ Xuân Hương người trần tục nên ca tụng sinh họat trần tục và những niềm vui trần tục, đọc thơ Xuân Hương để tiếp nhận cái tinh thần hồn nhiên trong ca dao, tục ngữ. Tôi Không đào sâu cái „tục“ trong thơ làm đề tài chính. Thơ Xuân Hương rất sống động tài tình mang tinh hoa khác biệt, đó là một giá trị tồn tại mãi mãi trong lâu đài văn hoá dân tộc. Đọc hai bài thơ đèo Ngang và đèo Ba Đội sau để so sánh hai nữ sĩ:

Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
Huyện Thanh Quan

Chúng ta cảm nhận bài thơ ấy hay nhẹ nhàng, trang nhã, bài nầy có 8 câu nhưng vay mượn ý của hai câu chữ Hán

Dạ thính đỗ quyên minh quốc quốc
Nhật văn cô điểu khiếu gia gia
Nghiã là
Đêm nghe đỗ vũ kêu quốc quốc
Ngày lắng gà rừng gọi gia gia

Hồ Xuân Hương vịnh đèo Ba Đội là một bức tranh tả chân đơn sơ nhưng sống động:

Một đèo, một đèo lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đià lá liễu giọt sương rơi
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mõi gối chồn chân cũng muốn trèo

Bài thơ nầy đọc qua độc giả có thể nhận ra ngay đó là đèo Ba Đội, „một đèo, một đèo lại một đèo“ từ màu sắc “cửa son đỏ lóet; tùm hum, xanh rì, lún phún, lắt lẻo“.. Xuân Hương đã tài tình tạo ra một bức tranh sống động từ âm thanh đến màu sắc. Nữ sĩ Xuân Hương là một nhạc sĩ tài tình, phối hợp cả âm thanh, màu sắc, không gian lẫn thời gian, tạo những nét đặc sắc thông thường ít nghe điệp âm „hõm hòm hom, toen hoẻn .. trong bài vịnh hang Cắc Cớ:

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm
Gịot nước hữu tình rơi lõm bõm
Con đường vô ngạn tối om om
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm

Giọt nước từ những thạch nhủ rơi từng giọt xuống vũng nước bên dưới lõm bõm, con đường vào hang thiếu ánh sáng. Hàng năm có Hội Chùa Thầy du khách không vào hang Cắc Cớ thì coi như chưa biết Chùa Thầy.

Xuân Hương cũng vịnh cảnh Chùa Hương Tích ở huyện Mỹ Đức Hà Đông rất linh động với cảnh trời mây non nước..vào những ngày đầu xuân, hội Chùa Hương nhộn nhịp, người tu hành thì ít, kẻ trần tục thì nhiều, muốn lên chùa phải trèo các bậc thang thì đúng hơn là đi, chen chân trong động với hương khói pha mờ mù sương.

Người quen cõi Phật chen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm...

Bài „đánh đu“ bức tranh quê sống động tả cảnh vui xuân rộn rã, Xuân Hương khen trò chơi đánh du hấp dẫn gợi lên niềm say mê của ngày hội, Hiện nay các làng ngoài Bắc còn duy trì trò chơi nầy. Nhưng ngày xuân trôi qua cột nhổ đi rồi lỗ bỏ không, chỉ còn lại cảnh trống không hiu quạnh!

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng châu ngọc duỗi song song
Chơi xuân ai biết xuân chăng tá?
Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

Có thể Hồ Xuân Hương phỏng theo bài thơ trên bài cây đánh đu vốn có trong tập Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập

Bốn cột lang nha ngắm để trồng
À thì đánh cái ả còn ngong
Tế hậu thổ khom khom cật,
Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng
Tám bức quần hồng bay phất phới,
Hai hàng châu ngọc đứng song song
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy
Nhổ cột đem về để lỗ không.

Chơi đánh đu, khi chàng trai nhấn đu cô gái trong tư thế tay nắm chặt, chân duỗi thẳng cho dễ bay bổng. Khi độ cao giảm đến lượt cô gái nhún, chàng trai lại chờ đón..tất cả phải nhịp nhàng, khoẻ mà mềm mại bay cao ung dung, vẻ đẹp càng hiện rõ hình thể bên ngoài gối hạc, lưng ong, ngửa ngửa lòng, phất phới, song song. Xuân Hương khéo dùng điệp khúc. Trong ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức không khi nào gặp cách dùng chữ như trong văn chương Việt Nam. Chúng ta thử đọc các bài dịch đối chiếu thi sĩ Balaban có thể dịch cảnh thu, nhưng khó chuyển dịch được hơi thu!

Cảnh thu

Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chắp rượu,
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Ơ hay, cảnh cũng ưa người nhỉ,
Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ.

Autumn Landscape

Drop by drop rain slaps the banana leaves.
Praise whoever sketched this desolate scene:
the lush, dark canopies of the gnarled trees,
the long river, sliding smooth and white.
I lift my wine flask, drunk with rivers and hills.
My backpack, breathing moonlight, sags with poems.
Look, and love everyone.
Whoever sees this landscape is stunned.
From Spring Essence the poetry of HXH

Qua ca dao có nhiều bài truyền tụng nghe rất là „tục“ như vịnh cái quạt:

Rành rành ba góc rành rành
Khi khép nhỏ lại, khi vành to ra
Khi vui thì sướng thay là
Khi buồn thì nước chảy ra rì rì...

Hồ Xuân Hương tả cái quạt duyên dáng hơn, có tính cách tương tự như ca dao tục ngữ hài hước, tả cái quạt có nhiều nan, mỗi nan quạt có một cái lỗ, cây kim xâu các nan quạt vào. Sau đó bồi bằng giấy có thể xếp lại và xòe ra quạt cho mát, mưa sa nhẹ hạt có thể che đầu, lúc xếp quạt lại những nếp giấy chồng lên vẫn còn thừa. Xuân Hương tả cái quạt chỉ tám câu thơ bút pháp thật sinh động:

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dáng tự bao giờ
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi nắng gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa...

Thời xưa mỗi gia đình ở thôn quê, thường trồng cây bông, nuôi tằm, ươm tơ, làm lụa tự dệt vải may áo quần. Ban ngày làm việc đồng áng, đêm về dệt vải với dụng cụ đơn giản cái khung cửi, hai ống trục, một bộ go, hai cái lược, một đôi guốc, con suốt, con thoi (con cò bằng gõ). Xuân Hương tả cô gái dệt vải vào đêm; muốn vải phẩm chất tốt phải ngâm lâu, ba mùa thu cũng không bị phai màu.

Thắp đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vưà vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ
Chờ đến ba thu mới dãi màu

Chùa Quán Sứ được xây dựng từ thế kỷ thứ 17, nằm ở phố cũng mang tên Quán Sứ Hà Nội. Dân tộc Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo dưới thời nhà Lý rất hưng thịnh, Phật, Pháp màu nhiệm không thay đổi, nhưng trong cõi đời nầy không thiếu những kẻ “mạt tăng” lợi dụng cửa Chùa rộng mở, cạo đầu núp dưới lớp áo cà sa để buôn thần, bán thánh…làm những việc trái với giáo lý nhà Phật. Xuân Hương không chống phá đạo Phật, dùng thơ văn để dỡn mặt với tăng giả, hay sư hổ mang như trong ca dao:

Ba cô đội gạo lên Chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư,
Ốm lăn, ốm lóc nên sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo, cho bầu đứt dây!

Cảnh chùa Quán Sứ thời loạn làm cho Xuân Hương nghi ngờ người đã xuất gia, tu lâu năm lên làm “Sư Cụ” như “phiến đá vĩ đại “ bao che đệ tử gây nên nghiệp chướng, không lo làm tròn phận sự tụng kinh gõ mõ, bỏ cảnh chùa vắng teo.

Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi nao
Chày kình,(1) tiểu để suông không đấm
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo
Sáng banh không kẻ khua tang mít (2)
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu
Cha kiếp đường tu sao lắt léo
Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo
hay sư hổ mang
……………………………
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ
Giọng hi, giọng hỉ, giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên Sư cụ
Ngất nghểu toà sen nọ đó mà

(1) chày tạc hình con cá kình bằng gỗ, thay cho cái dùi đánh chuông. (2) Tang trống làm bằng gỗ mít

Nói chung người Phật tử chân chính phải bực mình khi đến Chùa không có thầy trụ trì hướng dẫn về phần tâm linh, Sư đi gây phiền não cho bá tánh, dù ở bất cứ thời đại nào cũng không thể chấp nhận việc làm vô ý thức đó.

Người đời nhớ Xuân Hương ở tiếng cười phá phách, nhưng trong lòng Xuân Hương mang nặng những niềm đau, khối tình nặng như đá, với những tâm sự thế thái nhân tình làm rung động, se thắc lòng người:

Gan nghiã giãi ra cùng nhật nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông
Đá kia còn biết xuân già dặn
Chả trách người ta lúc trẻ trung
(Đá ông chồng, đá bà chồng)

hoặc qua bài tình tự

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn!
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tý con con.

Xuân Hương vịnh bánh trôi nước, thức ăn quen thuộc của người bình dân. Thân em ở đây (Xuân Hương) hay là thân phận đàn bà dưới thời phong kiến lắm lận đận, nhiều long đong? nhưng tấm lòng nàng vẫn giữ sắt son:

Thân em trắng phận em tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Lớn nhỏ mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Thơ Hồ Xuân Hương có phong cách riêng, tiêu biểu cho thái độ tự nhiên, tình cảm tràn đầy trong sáng, thơ bà rất bình dân, duyên dáng giàu khả năng gợi cảm, gợi tình, chứa chan tình tự và cảm khoái, không dùng hán tự điển tích. Bà có biệt tài sử dụng điệp khúc, âm điệu, tiết tấu thích hợp với từng ý, từng hoàn cảnh. Dù muốn chê hay khen, đọc thơ Xuân Hương ta cảm thấy cái vui vui xen lẫn vào hồn, cái hay trong thơ Xuân Hương rất tuyệt vời và phong phú, nhưng bài viết giới hạn, tôi không thể trình bày và trích giải hết được..Hồ Xuân Hương là nhà thơ độc đáo có một không hai trong văn học sử Việt Nam.

Tài liệu đọc thêm:

Nghĩ về thơ HXH. cuả Gs Lê Trí Viễn, Ng Đức Quỳnh...
Hồ Xuân Hương toàn tập giáo sư Ngô Lãng Vân
Nhà Tây Sơn Trần Gia Phụng NxB Non Nước Toronto 2005

Chữ Nôm có vai trò nổi bật trong sáng tác văn chương. Mặc dù văn nhân, thi sĩ mọi thời đều đã dùng chữ Hán làm thơ, viết truyện, nhưng chỉ có với chữ Nôm, người Việt mới tạo nên những tác phẩm bất hủ. Tập thơ Nôm có niên đại sớm nhất còn lưu truyền là Quốc âm Thi tập của Nguyễn Trãi (1380 - 1420) sau đó là Bạch vân Am quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Văn học Việt nam qua các thời đại, chữ Hán các tiền nhân viết những tập truyện ngắn và tiểu thuyết văn xuôi, còn với chữ Nôm gần như các cụ chỉ làm thơ Sở trường và thành công bằng hai thể thơ giàu dân tộc tính này, vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XIX Văn học cổ điển Việt Nam có những tác phẩm xuất sắc khiến thế giới phải biết đến là Chinh phụ Ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748); Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du (1766 -1820). Chúng ta còn các tên tuổi sáng giá khác nữa từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX như: Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, đặc biệt thơ cuả Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương v.v. ..Chính nhờ ở những tác giả này, tiếng Việt hấp thụ hai nguồn văn tự là chữ Hán và văn tự văn hóa dân gian, chữ Nôm để trở thành một ngôn ngữ văn học sáng chói và giàu sức diễn đạt

Hồ Sĩ Anh đời nhà Lê sinh bốn người con trai: Hồ Thế Viêm, Hồ Phi Quyền, Hồ Phi Cơ, ông Hồ Phi Tích (1665-1734) đậu Hoàng giáp năm 1700). Hồ Thế Viên là ông Tổ bốn đời của anh em nhà Tây Sơn đã đổi từ họ Hồ sang Nguyễn, còn Hồ Phi Cơ là ông tổ bốn đời cuả Hồ Phi Mai tức nữ sĩ Xuân Hương. ( Phi Cơ, Phi Da, Phi Diễn, Phi Mai). Như vậy Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương là anh em cùng họ ông tổ Hồ Sĩ Anh ( nhà văn Trần Gia Phụng tác phẩm Nhà Tây Sơn trang 43. Nxb Non Nước Toronto 2005)

Hồ Xuân Hương thơ và đời Nxb Văn học sđd trang 221.

Trận nầy quân Thanh thiệt hại nặng đề đốc Hứa Thế Hanh, tổng binh Trương Tiểu Long, Thượng Duy Thanh đều tử trận. Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy quên nang theo ấn quân, sắc thư, cờ tiết…hơn 10.000 quân Thanh tử trận ( Việt Sử đại cương tập 2 trang 361, nhà văn Trần Gia Phụng NxB Toronto 2006.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Thế giới rộn ràng đón năm mới

Pháo hoa rực sáng bầu trời Sydney, Australia, một trong những nơi đầu tiên đón thập kỷ mới trên thế giới.


Image
Pháo hoa rực sáng ở cầu cảng Sydney khi thành phố lớn nhất Australia đón thập kỷ mới với màn sắc màu rực rỡ.
Khoảng 4.500 kg pháo hoa đã được bắn lên bầu trời Sydney. Ảnh: Getty Images.

Image
Dân Nhật thả bóng bay trong lễ mừng năm mới ở ngôi chùa Zojoji tại Tokyo. Ảnh: AP.

Image
Giới chức Hàn Quốc cùng đánh chuông mừng năm mới tại Imjingak, gần biên giới với Triều Tiên. Ảnh: Reuters.


Image
Pháo hoa rực sáng cầu cảng Victoria, Hong Kong. Ảnh: Reuters.

Image
Nhân viên tại sàn giao dịch Chicago, Mỹ, mừng năm mới. Ảnh: EPA.

Image
Pháo hoa thắp sáng một vùng trời ở Singapore. Ảnh: Reuters.

Image
Khoảng 1 triệu người tập trung tại đại lộ dẫn tới cổng Brandenburg, Berlin, để cùng đón năm mới. Ảnh: AP.

Image
Số 2010 được viết bằng pháo sáng ở Vienna, Áo. Ảnh: EPA.

Image
Em bé chờ đón năm mới tại Quảng trường Thời đại, New York, Mỹ. Ảnh: Getty Images.

Image
Hai thiếu nữ hôn lên má cảnh sát ở Edinburg, Scotland.
Có tới 80.000 người sẵn sàng chịu cái rét dưới -4 độ C để tham gia tiệc đường phố tại đây. Ảnh: PA.

Hải Ninh

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image

Born Again American
Xin click vào tên bài hát.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ði với về chẳng giống nghĩa nhau đâu!

Huy Phương
Ông Phùng Hoan thời Ðông Châu Liệt Quốc bên Tàu, có tài nhưng thuở hàn vi cũng nương nhờ ngày ba bữa cơm nơi nhà khách của Mạnh Thường Quân. Khách chia làm ba hạng sang hèn khác nhau, người giỏi được xếp hạng “đại xá”, cơm ăn có chất tươi lại được đi xa mã, hạng làng nhàng là “hạnh xá”, cơm có thịt cá nhưng không có xe đi, hạng chót là “hạ khách”, có cơm ăn là may. Phùng Hoan là lính mới đến chỉ có cơm với xì dầu, tài sản có độc mỗi cái gươm mà không có vỏ, ăn xong thường vỗ kiếm mà hát rằng “trường kiếm quy lai hề, thực vô ngư”. Quân hầu vào báo với chủ, Mạnh Thường Quân đưa Phùng lên hạng hạnh xá, nhưng được ít lâu, Phùng Hoan lại vỗ kiếm mà ca “trường kiếm ơi, về đi thôi, chẳng có xe đi!”

Không rõ Phùng Hoan quê quán ở đâu, có vợ con gì chưa, nhưng lập thân bằng cách đi ăn cơm nhờ nhà người, chưa được trọng đãi, đã vội vỗ kiếm mà đòi “quy lai hề!”

Chuyện nước Nam, tháng 5-1975, có một số người chạy giặc Cộng Sản, qua đến đảo Guam, được đặt chân lên đất tự do rồi mà còn ngây thơ, biểu tình, đốt trại mà đòi về, về đến Việt Nam được chở thẳng vào trại tù, mang ân hận suốt đời.

Năm 1996 khi thuyền nhân trong các trại tạm cư tại Galang bị cưỡng bức hồi hương, nhiều người trích máu viết biểu ngữ phản đối, mổ bụng tự sát để đòi quyền ở lại, không chịu về.

Theo số liệu của Ủy Ban Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, trong khoảng từ năm 1975-1995 đã có 849,228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ bỏ đất nước Việt Nam ra đi. Không ai biết chính xác có bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển hay trong rừng sâu, ước đoán cho rằng từ 100-200 ngàn người chết trên biển Ðông vì muốn ra đi.

Trong số hàng triệu người đã bỏ nước, bằng cách này hay cách khác, lưu trú trên xứ người, tính đến nay đã có bao nhiêu người trở về du lịch, thăm viếng họ hàng trên đất quê hương? Có những người về hằng năm, nhưng con số chưa bao giờ về không phải là ít, và con số về ở lại luôn: -không đến 1%? Hiện nay trong xã hội của thời đại mới, chuyện cư ngụ, đi ở đã thành chuyện thường tình, tiếng “về” luôn luôn dành cho đằng gốc, và đi là chuyện ngọn, cho nên người ta vẫn thường dùng về nhà, về quê, về nguồn... Cuộc đời là tạm bợ, nhất thời, cái chết là muôn đời nên mới có câu “sinh ký tử quy” (sống gởi, thác về).

Tuy vậy, Nguyễn Du cũng đã than:

“Bó thân về với triều đình

Hàng thần lơ láo, phận mình ra chi?”

Ðối với những người về một nơi chốn mà không bao giờ muốn ở lại nơi đó, thì nên gọi là Về Việt Nam hay Ði Việt Nam? Sao gọi được là “về” khi còn “sợ chế độ, sợ công an, sợ Cộng Sản”, mà sao gọi là “đi” khi trở lại xứ người mà cảm thấy nhẹ nhõm, an toàn. Biết bao nhiêu doanh nhân, trí thức chỉ vì “về” mà thân bại, danh liệt, “bỏ của chạy lấy người”:

“Một lần mà tởn tới già,
Ðừng đi nước mặn mà hà ăn chân!”

Chuyện đi, chuyện về là câu chuyện thường ngày không những đối với những người tỵ nạn mà còn đối với những người đang sống với quê hương, phải chăng “đi” là giấc mơ của bao nhiêu người trong một đất nước quá tồi tệ. Chuyện vượt biển bây giờ đã trở thành câu chuyện cũ, tuy vậy vẫn còn nhiều con đường để ra đi, ngày xưa là đổi mạng sống, ngày nay là trinh tiết, tài sản và danh giá: lấy chồng phương xa, đi làm tôi tớ, bán sức lao động xứ người, mong được đi luôn chẳng bao giờ trở về.

Trong khi đó, nhà nước Cộng Sản luôn luôn kêu gọi “núm ruột ngàn dặm” hãy về đóng góp chất xám, tiền bạc, xây dựng quê hương, ít ra cũng bỏ ra vài nghìn đô la cho một chuyến du lịch: “Ai chưa về thì nên về, ai về rồi thì về nữa!” như một lời mời mọc của ông chủ tịch nước kiêm “saleman” Nguyễn Minh Triết. Như chuyện người bẫy chim sẻ trong “Cổ Học Tinh Hoa” loại chim sẻ non, mép vàng là loại dễ bẫy vì chúng không có kinh nghiệm, tham mồi, nhưng so chuyện đời nay, thì sai, vì có kẻ đầu hai thứ tóc vẫn dễ tham mồi, không tiền tài thì cũng danh vọng, cũng chỉ vì chữ “về” mà nhiều kẻ “lưu xú vạn niên”.

Thi sĩ và người viết kịch bản người Nga Josept Brodsky được mệnh danh là người “chết cũng chẳng về” (...doomed not to return home). Ông cũng đã bị kết án tù “cải tạo” 5 năm, chối bỏ chế độ Cộng Sản, tỵ nạn sang Hoa Kỳ năm 1972, được giải Nobel Văn Chương năm 1987 và mất ở New York năm 1996. Văn hào Aleksandr I. Solzhenitsyn, nguyên là một sĩ quan của Hồng Quân, tác giả cuốn sách để đời “Quần đảo Gulag”, giải Văn chương Nobel năm 1970, bỏ chế độ Cộng Sản tỵ nạn năm 1974 và chỉ “trở về” quê hương của ông khi chế độ Cộng Sản đã đội nón “ra đi”. Nhà văn Cao Hành Kiện (Jao Xinjian) của Trung Cộng, trưởng thành trong chế độ Cộng Sản. Trong thời gian có cuộc “cách mạng văn hóa” (66-76), ông bị vợ tố cáo tội “len lút viết văn” phải bị đưa vào trại “lao cải” trong 6 năm. Sau vụ thảm sát Thiên An Môn ông ra khỏi đảng Cộng Sản và khi có cơ hội ra ngoại quốc, ông tỵ nạn tại Pháp năm 1987. Cao Hành Kiện được giải Nobel Văn Chương năm 2000. Ông cho rằng: “Thời dấy động văn chương cách mạng đã qua, bởi vì cuộc cách mạng đã tự cách mạng hóa cho đến chết và chỉ để lại toàn là điều cay đắng và một cảm giác mệt mỏi, chán chường, thậm chí buồn mửa...”

Những người trên đây đều đã được công nhận tài năng qua các giải Nobel Văn Chương, tất cả tác phẩm của họ đều bị chế độ Cộng Sản của nước họ xếp vào hàng “phản động, chống phá tổ quốc”, nhưng họ vẫn được người đời xem là trí thức, kẻ sĩ, đã để lại nhiều bài học cho nhân loại. Chúng ta có biết bao nhiêu trí thức, nghệ sĩ miền Nam đã đi ra khỏi nước, họ không bao giờ về, không bao giờ cậy cục để được xuất bản sách trong nước, kiếm diễn đàn lập công, hay tìm một vài buổi trình diễn. Mai đây khi chết, dù không được gối đầu trên mảnh đất quê hương, họ vẫn xứng đáng được gọi là kẻ sĩ, bia mộ họ vẫn giữ được sạch sẽ, không bị ai ném phân vào.

Tôi không thể đem các nhân vật này ra để so sánh với những kẻ tầm thường trong xã hội chúng ta, nhưng tôi phải liên tưởng đến những kẻ khùng điên, ba mươi lăm năm trước có cơ hội biết đến chữ “đi”, ba mươi lăm năm sau, sau một bữa rượu thịt, hô hoán lên đã “ngộ” được chữ “về” sung sướng như một đứa trẻ thơ được bú tí:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ.
Mặt trời chân lý chiếu qua tim.” (Tố Hữu)

Ngày xưa, Phùng Hoan vỗ kiếm mà đòi “quy lai hề”, Mạnh Thường Quân có mắt xanh nên lưu người ở lại. Ngày nay có những kẻ đòi về mà chúng chưa chịu về, về cho đỡ bẩn mắt chúng ta.

Ai nói chuyện “đi”, ai nói chuyện “về” mặc ai, tuy vậy “đi với về chẳng giống nghĩa nhau đâu!”

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Thủ tướng Ý vừa dưỡng thương vừa viết nhạc tình

Image
Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi rời bệnh viện sau khi chữa trị vì bị tấn công gãy mũi. (Hình: Giuseppe Cacace/AFP/Getty Images)

ROME (AFP) - Thủ Tướng Ý Silvio Berlusconi soạn thêm được mấy bài nhạc tình khi đang dưỡng thương, tiếp theo cuộc tấn công khiến ông bị nứt xương mũi và gãy hai cái răng, theo các nguồn tin hôm Thứ Năm.

“Năm 2010 sẽ có thêm một đĩa nhạc mới, đĩa thứ tư, của cặp Berlusconi và (tay đàn guitar Mariano) Apicelli...,” theo tờ nhật báo Corriere della Serra.

Ông Berlusconi, khi còn trẻ từng là ca sĩ trên các tàu du lịch, lần đầu tiên cộng tác trong việc sáng tác và thu đĩa với bạn của ông là Apicelli năm 2003.

Ðĩa này sẽ gồm những bài như “Ðây Là Tình Yêu” (There is love), “Nhưng Nếu Tôi Mất Em” (But if I lose you) và “Ðừng Bỏ Tôi” (Stay with Me), cũng theo bản tin này.

Ông Berlusconi, năm nay 73 tuổi, bị một người, nghe nói có bệnh tâm thần, tấn công ở Milan hôm 13 Tháng Mười Hai. Người này dùng một tượng thu nhỏ của thánh đường Milan Cathedral đập vào mặt ông Berlusconi.

“Ông ta thích soạn lời và trình bày các bài hát này,” theo tờ La Stampa, cho biết thêm tám trong số 12 bài trong đĩa này, “dự trù sẽ cho ra mắt năm 2010, nếu không quá bận rộn” hiện đã sẵn sàng.

Tuy nhiên tên của đĩa và hình bìa hiện vẫn còn được giữ bí mật. (V.Giang)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

NĂM DẦN CHUYỆN CỌP

Trần Đỗ Cẩm


Theo đúng chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa, vua Trâu tuy bản tính chậm chạp, lúc nào trông cũng đủng đỉnh, mệt mỏi như "trâu cầy quá buổi", nhưng ngày tháng như thoi đưa, thời gian ngự trị dưới dương trần cũng đã tận, tới lúc ngài “Nghé Ngọ” phải nhường ngai vàng hạ giới cho Thần Hổ. Nhân dịp đầu xuân cây cỏ tốt tươi, vạn vật phơi phới, lòng người hớn hở chờ đón vận hội mới của đất trời, cũng nên có “đôi lời phi lộ” để tiễn đưa Ngưu Ma Vương về với Thiết Phiến công chúa, và chào đón Cọp hoàng để cho phải phép, đồng thời tán hươu tán vượn về loài người dưới dương trần.

Trước khi hân hạnh mời quí vị đi sâu vào chốn rừng sâu núi thẳm để yết kiến vua cọp, chân thành kính chúc quí độc giả một mùa xuân vận hội hanh thông, gia đạo an hòa, vạn sự như ý. Ngoài ra, cũng xin nói trước rằng mục tiêu duy nhất của bài phiếm luận này chỉ để mua vui trong dịp đầu xuân trà dư tửu hậu, không hàm ý phê bình hay chỉ trích bất cứ cá nhân hay đoàn th ể n ào. Vì vậy, nếu có điều chi sơ sót hay lỗi lầm ngoài ý muốn, mong được th ông cảm và lượng thứ.

Vào dịp đầu năm để khỏi mang tiếng “ăn tục nói phét”, không gì bằng “nói có sách, mách có chứng”, vậy trước hết, mời qúi vị thưởng thức chuyện cọp được ghi trong sách vở khoa học.

Chúng ta thường nghe nói “Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây, không bao giờ gặp nhau”, nhưng nếu kể về địa vị đáng nể của cọp trong thế giới loài vật, Đông và Tây đã gặp nhau, vì đều đồng ý cọp là xếp. Người Việt gọi cọp là chúa sơn lâm, còn sách vở khoa học Tây Phương cũng phong cọp là vua của loài động vật bốn chân (quadrupeds).Vì được suy tôn là chúa sơn lâm nên người Việt chúng ta kính sợ gọi cọp bằng "ông”. Vè mười hai con giáp gọi các “giáp trưởng” là con, nhưng lại cung kính suy tôn cọp là “ông” như sau:

'”Tuổi Dần ông Cọp gớm ghê

Bắt người móc họng tha về non cao"

Người miền Nam cung kính gọi cọp bằng các tên ông cọp hay ông kẹ, trong khi người Bắc gọi là ông hổ, ông kễnh, ông hùm hay ông ba mươi. Độc giả không nên lầm lẫn với “thằng ba mươi" là những tên chồn cáo hôi tanh chuyên chui rúc rất sâu trong quần ... chúng miền Nam rồi nổi lên tác oai tác quái vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Trong sách vở khoa học, cọp có tên chính thức là Tigris, tiếng Ăng Lê là Tiger, tiếng Pháp là Tigre . Tigris theo nguyên nghĩa tiếng Hy Lạp là mũi tên, nên cũng được người vùng vịnh Ba Tư dưới thời Alexander Đại Đế (Alexander The Great) dùng để đặt tên cho một con sông lớn nước chảy xiết và nguy hiểm nhất trong vùng thuộc địa phận nước Iraq, đó là sông Tigris còn mang tên cho tới bây giờ. Nguyên vùng vịnh Ba Tư thuộc hai nước Iran và Iraq ngày nay là lưu vực của hai con sông lớn Tigris và Euphrate nên hồi xưa được gọi là vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia). Dưới thời Alexander Đại Đế, vùng này rất phong phú, cường thịnh và có nền văn minh cao nên thường đưa quân đi xâm chiếm các quốc gia lân cận trong vùng. Khi viễn chinh sang đánh Ấn Độ, đoàn quân của Alexander Đại Đế, ngoài việc bị bất ngờ vì món cà ri nị vừa cay vừa nồng, còn thường bị những con vật lạ, chưa từng thấy trong vùng Lưỡng Hà, trông giống như con mèo lớn nhưng rất mau lẹ, dữ tợn tấn công gây nhiều thiệt hại. Vì loài vật kỳ lạ này chạy mau như tên bắn và cũng ầm ầm dữ dội, nguy hiểm như giòng nước chảy mạnh của sông Tiris nên người Lưỡng Hà đặt tên loài vật mới thấy này là Tigris.

Kể về chủng loại, cọp, sư tử và báo đều là những con mèo lớn nên được xếp vào họ Panthera vì âm quản chúng được cấu tạo đặc biệt giống như của … phái nữ, khi giận dữ có thể gầm rống rất lớn tiếng. Do đó, tên khoa học của loài cọp đúng ra là Panthera Tigris để phân biệt với các động vật cũng thuộc họ Mèo Panthera khác như báo (leopard), beo gấm (jaguar) v.v... Loài cọp lại chia thành nhiều giốngvời hình dáng và đặc tính hơi khác nhau tùy theo thủy thổ nơi địa phương cư trú.

Để tiện phân biệt, giống cọp thuộc vùng Ấn Độ có tên là Panthera Tigris Tigris. Đây tuy là giống cọp chính nhưng lại không phải là loại to lớn nhất. Giống cọp Siberian giữ ngôi vị quán quân to con này. Cũng cần nói thêm, về kích thước của cọp, trước đây người ta thường đo từ đầu tới đuôi theo sát đường cong của thân hình nên dài hơn thực sự. Sau này mọi người đồng ý về lối đo chính xác hơn bằng cách đặt cọp nằm sấp dưới đất, khoảng cách từ mũi tới đuôi được coi là chiều dài. Cho tới nay, con cọp đực giống Ấn Độ dài nhất đo được 11 feet 5.5 inches, nặng nhất là 570 lbs. Cọp cái ngắn hơn chừng 1 foot, nặng nhất là 360 lbs. Bình thường, cọp Ấn Độ có chiều dài trung bình chừng 10 feet và nặng chừng 450 lbs con cái ngắn hơn khoảng 1 foot và nhẹ hơn chừng 100 lbs. Cọp Ấn Độ sinh sống trong một vùng rất rộng lớn, từ chân núi Hy Mã Lạp Sơn cho tới châu thổ sông Hằng Hà (Gange). Cọp thích hợp dễ dàng với môi trường sinh sống nên có mặt hầu hết mọi nơi. Loại cọp ở vùng rừng núi có mầu lông và vết vằn nhạt hơn để dễ lẫn vào cây rừng cũng như vách đá. Loại cọp ở vùng châu thổ có thể bơi qua sông lạch dễ dàng.

Giống cọp tại bán đảo Đông Dương gồm ba nước Việt, Miên, Lào có tên khoa học là Panthera Tigris Corbetti. Tuy gọi là cọp Đông Dương nhưng giống này sinh sống từ vùng Nam Ấn Độ qua bán đảo Đông Dương, xuống tới Mã Lai và lên tận cả miền Nam Trung Hoa. Cọp Đông Dương vì ở miền nhiệt đới là xứ nóng nên có diện tích da lớn hơn so với sức nặng để dễ dàng giảm thân nhiệt dưới dạng toát mồ hôi, do đó hơi nhỏ con, dài trung bình 8 feet 3 inches.

Tại Nam Dương có giống cọp Sumatra nhỏ con hơn cọp Đông Dương nhưng màu đậm hơn, tên khoa học là Panthera Tigris Sumatrae. Cũng tương tự như bên Ấn Độ, cọp Sumatra sinh sống trong nhiều vùng có địa thế khác nhau, từ nơi đồng lầy, rừng rậm cho tới khu bờ biển. Cọp Java, Panthera Tigris Sondaica, còn nhỏ hơn với màu lông trông rất đậm vì các vằn đen gần nhau hơn. Giống cọp Panthera Tigris Balica nhỏ nhất sinh sống tại vùng Bali , ngày nay hầu như đã gần tuyệt chủng vì bị săn bắt và mất môi trường sinh sống. Vùng Bắc Trung Hoa có giống cọp Panthera Tigris Amoyensia. Giống này sinh sổng từ miền rừng núi phía Bắc thuộc tỉnh Shansi cho tới đồng bằng phương Nam thuộc tỉnh Phúc Kiến xuống tận bờ sông Dương Tử là biên giới của giống cọp Đông Dương. Cọp Trung Hoa vì sống ở xứ lạnh nên lông dầy và đuôi rậm hơn, do đó trông rất to con nhưng thật ra chỉ tương đương với cọp Ấn Độ.

Giống cọp Tây Bá Lợi Á, Panthera Tigris Altaica, vì sống nơi cực lạnh quanh năm băng tuyết nên lông không những dầy hơn, mà còn có một lớp mỡ để chống lạnh tương tự như loài gấu Bắc Cực, nên rất to con, dài trung bình 11 feet và nặng chừng 650 lbs. Cọp Siberia, đôi khi còn gọi là cọp Amur hay cọp Manchurian (Mãn Châu) trước đây sinh sống tại Nga, Đại Hàn và Mãn Châu nhưng ngày nay còn lại rất ít, chỉ quanh quẩn tại lưu vực sông Arun. Tại vùng biển Caspian phía tây Thổ Nhĩ Kỳ và bắc Iran có giống cọp Caspian (Panthera Tigris Virgata, nay đã coi như tuyệt chủng. Giống cọp này cũng rất lớn con. chỉ thua cọp Siberia chút ít.

Đặc biệt, cọp là loài vật khởi hủy chỉ có tại Á Châu. Thuở trước lúc nhân loại còn sống gần với thiên nhiên, có rất nhiều dã thú cũng như cọp sống trong những khu rừng bạt ngàn hoang dã không có bóng người. Nhưng dần dần dân số trên thế giới gia tăng, cần thêm đất đai để cư ngụ, và đời sống cũng trở nên văn minh phức tạp hơn, nên môi trường sinh sống của cọp bị loài người xâm lấn; cọp lại bị tàn sát săn bắn coi như ruột môn thể thao hay bị lùng bắt để lấy da hay làm thuốc nên số lượng ngày càng giảm, nhiều giống đã bị tuyệt chủng.

Trước đây tại Ấn Độ, cọp nhiều đến độ có người cho rằng không biết người hay cọp thật sự làm chủ xứ này. Số lượng cọp có nhiều nhất vào khoảng đầu thế kỷ 19. Sang đầu thế kỷ 20, ước lượng có chừng 40,000 cọp tại Ấn Độ và khoảng 100,000 tại các quốc gia Á Châu khác. Hiện nay sống ngoài thiên nhiên hoang dã, chỉ còn chừng 30 đến 80 cọp Nam Trung Hoa, 150 đến 200 cọp Tây Bá Lợi Á, 600 đến 650 cọp Sumatra. Mặc dù có những khu rừng rất thích hợp, nhưng giống cọp Đông Dương tại Mã Lai đang suy giảm rất nhanh, từ khoảng 3,000 con vào năm 1954 xuống còn th ư ừng 600 - 700 vào năm l978 và số lượng này vẫn còn giảm sút. Tại Thái Lan hiện có chừng 500 con cọp và cũng trên đà đi xuống. Số lượng cọp tại Đông Dương cũng chỉ còn khoảng 500 con. Các nhà động vật học ước lượng chỉ còn chừng 5,000 con cọp sống trong rừng rậm rải rác khắp thế giới.

Một trong những lý do chính khiến cọp gần như bị tuyệt chủng vì ngay từ ngàn xưa, loài người đã là kẻ thù nguy hiểm nhất của cọp. Người ta giết cọp bằng đủ phương cách và khí giới, tùy theo địa phương và thế đất. Dân Ấn Độ dùng voi để săn cọp nơi rừng rậm. Nơi địa thế trống trải. lưới được dùng để lùa cọp sa vào. Cách bắt cọp giản tiện và hữu hiệu nhất là dùng hố bẫy. Thợ săn đào một hố sâu trên phủ một lớp cỏ tại nơi cọp thường qua lại rồi để mồi bằng một con heo hay nai dưới hố. Cọp tham mồi sẽ bị sa xuống hố. Các loại vũ khí như cung tên, giáo mác và nhất là súng ống cũng rất hiệu qủa để săn cọp. Đa số dân Á Châu chỉ săn cọp do tự vệ vì cọp hay bắt gia súc hay bắt người, nhưng người Tây Phương và các bậc vua chúa lại săn giết cọp như một môn thể thao để chứng tỏ sức mạnh vạn năng của mình, nhất là vào khoảng thế kỷ 18, 19 khi người Anh tới chiếm Ấn Độ.

Dưới thời nữ hoàng Victoria, một người Anh tên George Yule thuộc đội quân Bengal, Ấn Độ đã giết đến 400 con cọp trong vòng 25 năm, sau đó ông không đếm thêm nữa. Đại Tá Rice người Anh cũng giết gần 100 con cọp chỉ trong trong vòng 4 năm từ 1850 đến 1854. Một người Anh khác tên Montague Gerard tính cho tới năm 1903 đã giết 227 con cọp tại vùng Trung Ấn Độ. Tuy nhiên, số cọp bị người Anh giết chưa thấm vào đâu so với các vua chúa Ấn Độ.. Kỷ lục có lẽ thuộc về tiểu vương xứ Surguja đã giết 1,150 con cọp. Tiểu vương xứ Scindia giết 700 trong khi những khách mời của ông ta giết thêm chừng 200 con cọp nữa. Kể từ năm 1933, thủ tướng xứ Nepal đã giết 295 con cọp trong vòng 7 năm. Các tiểu vương xứ Udaipur , Kotah và Jaipur cũng tàn sát rất nhiều cọp. Người Pháp khi chiếm Đông Dương cũng giết vô số cọp tại các quốc gia Việt, Miên và Lào. Trong thành tích giết cọp, kích thước của con cọp bị giết cũng quan trọng như số lượng bị hạ. Giết cọp cỡ 10 feet được coi như đạt thành tích cao; nếu cop dài trên 11 feet được coi là kỷ lục. Đa số nhửng bậc vua chúa hay dân giàu sang săn cọp vì muốn chứng tỏ uy quyền và mạnh mẽ hơn cả chúa sơn lâm!

Về môi trường sinh sống, tại Trung Hoa, có những khu rừng rậm bị tàn phá hoàn toàn chỉ vì dân chúng tới kiếm củi nấu ăn! Rừng rậm tại Nam Dương, Mã Lai, Trung Hoa và Ấn Độ cũng bị phá hủy để làm làng mạc cư ngụ, trồng cấy hay khai thác hầm mỏ. Rừng tại các quốc gia Đông Dương cũng bị chiến tranh tàn phá. Đặc biệt tại Việt Nam, hàng triệu mẫu rừng bị bom đạn và hóa chất khai quang khiến muông thú không thể sinh sống được, đó là chưa kể việc Việt Cộng hiện vẫn tiếp tục tàn phá rừng vô tội vạ để lấy gỗ quí bán cho ngoại nhân. Tuy lần lần, chồi non và cây cối có thể sẽ mọc lại tại những khu rừng hoang bị phá hủy này, tạo nên môi trường thích hợp cho thú rừng sinh sản, nhưng tốc độ tàn phá còn nhanh hơn nhiều so với mức phục hồi. Việt Nam đã không quan tâm tới chương trình bảo vệ muông thú và rừng cây, lại còn phá hủy thêm môi sinh bằng những kế hoạch vô trách nhiệm như để người Tàu lập khu hầm mỏ khai thác bâu xít tại Tây Nguyên. Hơn nữa rừng núi tại Việt Nam còn sót lại nhiều nhiều bom đạn, mìn bẫy chưa nổ sẽ giết hại thêm nhiều sinh vật. Không còn nơi sinh sống, bị tàn sát và không được bảo tồn đúng mức là những nguyên nhân chính khiến hầu hết thú rừng tại Việt Nam gần tuyệt chủng.

Cọp trông tuy mạnh bạo, dữ tợn nhưng kể về vóc dáng cũng như bộ điệu khi di chuyển lại rất nhẹ nhàng, uyển chuyển, có rất nhiều điểm tương đồng với phái ... nữ. Có lẽ vì vậy mà trong Kinh Dịch, Cọp được dùng để làm biểu tượng cho Âm nghi, trái với Rồng là biểu tượng cho Dương nghi.

Thân hình Cọp rất cân đối, mềm mại, uyển chuyển và hấp dẫn không khác người đàn bà đẹp. Đến tướng đi lại càng giống yểu điệu thục nữ. Khi cọp bước thong thả, hai chân cùng một bên di chuyển một lúc, giống như loài lạc đà hay gấu, do đó dấu chân hợp thành hàng dọc, dấu chân sau đè lên dấu chân trước hay cao hơn dấu chân trước chừng vài ba inches nến bước mau. Đặc tính chung này của những động vật thuộc chủng loại mèo khiến thân hình cọp vô cùng uyển chuyển khi bước chậm. Lúc cần bước mau hơn, cọp bước từng chân một như những loài vật bốn chân khác. Khi Cọp chạy nhanh, lúc nào cũng chỉ có một chân chạm đất. Lúc cần phóng mình để săn đuổi con mồi, hai chân sau của Cọp nhẩy phóng mạnh, xa đến 30 feet trước khi hai chân trước chạm đất, hai chân sau sẽ đặt xuống trên hai chân trước chừng vài ba inches như chụm lại để lấy thế tiếp tục nhẩy thật xa.

Cũng giống như những động vật khác thuộc họ mèo, đuôi và râu Cọp là dấu hiệu để chỉ tình trạng và thái độ của Cọp. Khi phóng mình vồ mối, đuôi cọp cong lại như một cánh cung với chót đuôi chỉ xuống đất. Khi ngủ hay nằm nghỉ ngơi, đuôi cọp nhẹ nhàng ve vẩy qua lại. Khi bị chọc tức, đuôi cọp vẫy mạnh từ bên này qua bên kia và vẫy nhanh hơn khi càng tức giận. Các cử động của đuôi cọp thường tương xứng với những rung động của bộ râu. Thông thường, râu Cọp xuôi xuống, nhưng khi tức giận hoặc lúc săn mồi, râu Cọp dựng đứng như chổi xể. Râu Cọp rất nhạy cảm, chỉ cần sợi râu chạm nhẹ vào một vật gì dù trong đêm tối, cọp cũng có thể nhận ra vật đó, vì gốc những sợi râu này được gắn liền với nhiều giây thần kinh xúc giác. Vì vậy, từ ngữ “vuốt râu cọp” được dùng để chỉ một hành động rất nguy hiểm.

Lưỡi Cọp rất nhám, có thể bóc thịt ra khỏi xương con mồi và cũng được dùng để liếm sạch lông hay vết thương. Cọp có bốn răng nanh rất nhọn và sắc, dài chừng 3 inches dùng để cắn xé con mồi. Mười bốn răng hàm của Cọp rất cứng có thể nghiền nát cả xương, dùng để nhai mồi thành những miếng nhỏ dễ cho dễ nuốt. Cọp còn có mười hai răng nanh nhỏ dùng khi gặm mồi.

Đặc điểm nổi bật nhất của cọp là đôi mắt. Những người đi rừng ban đêm nói rằng mắt cọp sáng rực như hai bóng đèn trong đêm tối giống như cặp mắt thần. Mắt cọp rất tinh và nhìn được xa, nhưng chỉ nhìn thấy những vật di động, dù rất ít. Mắt cọp cũng như những động vật khác thuộc họ mèo đều nhìn được qua bóng tối, một điều không thể thiếu khi săn đêm. Sở dĩ mắt cọp dường như tự phát ra ánh sáng vì có một màng phản chiếu như tấm gương rất nhậy nằm phía sau võng mô. Do đó, một tia sáng dù rất mờ nhạt cũng được phản chiếu lại từ thủy tinh thể xuyên qua đồng tử. Tia sáng phản chiếu này được gia tăng rất mạnh giống như máy nhìn ban đêm khuếch đại ánh sao trời (starlight scope) khiến nhiều người, nhất là người Á Châu tin rằng mắt cọp có thể tự phát ra ánh sáng như đèn xe hơi để nhìn qua màn đêm.. Dưới ánh sáng ban ngày, mắt cọp có mầu vàng mà giới kim hoàn thường gọi là mầu "mắt cọp "(tiger's eye). Ban đêm dưới ánh trăng, mắt cọp trở thành xanh nhạt, nhưng nếu gặp ánh đèn hay đuốc, mắt cọp trở thành màu đỏ. Những người thợ săn thường nói tai cọp rất thính, có thể nghe được cả tiếng thở của thợ săn ẩn núp trong những chòi ngụy trang kỹ càng trên cây cao. Tai cọp cần phải thính để có thể tìm mồi trong đám cỏ hay bụi tre dầy hoặc trong đêm tối không trăng sao.. Phía sau tai cọp còn có những đốm trắng khiến cọp con dễ nhận để đi theo khi phải di chuyển qua những khu rậm rạp.

Có lẽ giác quan kém phát triển nhất của cọp là khứu giác (mũi). Tuy nói kém nhưng đó là so sánh với những giác quan vô cùng bén nhậy khác. Thật ra cọp đánh hơi cũng rất nhậy, có thể phân biệt được mùi của những con cọp khác hay mùi của cọp cái khi tới mùa động tình.

Về lãnh thổ, mỗi con cọp đực thường hùng cứ một vùng riêng biệt rộng chừng vài trăm cây số vuông để dễ dàng kiểm mồi và làm chủ những con cọp cái trong vùng. Cọp thường đánh dấu vùng lãnh thổ của mình bằng cách tiểu tiện vào những bụi cây cách nhau chừng mươi cây số như những hàng rào vô hình để những con cọp khác biết mà tránh không vi phạm. Nước tiểu của cọp cái có mùi nồng hơn và còn dậy mùi hàng tuần lễ nếu trời không mưa. Ngoài ra phân và các vết cào trên thân cây của cọp cũng là ký hiệu đánh dấu vùng ngự trị. Tiếng gầm của cọp đôi khi cũng là dấu hiệu của uy quyền sở hữu.

Cọp cái khi động đực hay gầm rống nhưng xen lẫn với những tiếng rên rỉ để báo hiệu cho những con cọp đực trong vùng. Tiếng gọi ái tình của cọp cái luôn luôn được cọp đực trong vùng đáp ứng mau lẹ, nhưng trong khi chờ đợi, cọp cái trở nên rất hung dữ và cáu kỉnh. Thường con cọp đực tìm đến là chủ nhân của vùng lãnh thổ, tuy nhiên đôi khi cũng có những con cọp lạ xen vào. Trong trường hợp này, hai con cọp đực sẽ cấu xé nhau chí mạng trong khi cọp cái thản nhiên nằm liếm lông quan sát. Tuy đánh nhau thật lực nhưng cọp đực ít khi giết chết đối thủ, vì con nào yếu thế sẽ có nhiều cơ hội chạy trốn.

Trước khi giao hợp, cọp đực đến đứng gần cọp cái. Con cái làm dáng, ép sát thân mình vào con đực và bắt đầu "hôn" bằng cách dí mũi vào mõm và cắn nhẹ vào cổ con đực như một người vợ đáng yêu. Tuy sự chinh phục kéo dài rất vất vả và đôi khi nguy hiểm, nhưng việc giao hợp lại rất lẹ làng, chóng vánh, chỉ kéo dài chừng vài chục giây đồng hồ. Sau đó cọp cái lồng lộn dữ dội làm con đực phải tránh xa để khỏi bị thương. Có lúc cả đôi cọp đứng trên hai chân sau, đổi diện nhau vừa gầm thét vừa vả nhau có thể làm cả hai cùng bị thương khá nặng. Sau khi thố sức mạnh và quyền lực vô song của phái nữ, cọp cái nằm ngửa trên mặt đất, bốn vó chổng lên trời để nghỉ mệt. Tuy cuộc giao hợp ngắn ngủi, nhưng bù lại cọp đực có thể giao hợp liên tiếp, mỗi lần chỉ cách nhau vài phút và kéo dài như vậy trong nhiều ngày. Trung bình, đôi cọp có thể giao hợp hàng trăm lần trong vòng ba, bốn ngày!

Cọp cái mang thai chỉ trong vòng mười lăm tuần lễ đã sinh con, do đó, cọp con rất nhỏ, chỉ nặng chừng một kí lô. Mỗi lứa, cọp chỉ đẻ vài ba con. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, cọp có thể chung sống với loài sư tử Á Châu (Asian lion), tên khoa học là Panthera Leo Persica, có cùng "giống" (genus) với cọp. Cọp cái giao hợp với sư tử đực sẽ sinh ra con loài "Ligers" là tiếng tắt của “Lion” và “Tiger”. Cọp đực giao hợp với sư tử cái đẻ ra giống "Tigrons" là tiếng tắt của “Tiger” và “Lion”.

Để sinh sổng, cọp thường săn bắt những thú rừng lớn làm mồi. Hươu, nai, trâu rừng, bò rừng là những mồi ngon của cọp Khi săn mồi, cọp thường phục kích, ẩn núp kín đáo trong những bụi cây hay đám cỏ tranh rồi bất thần tấn công từ phía sau. Đối với con mồi nhỏ, cọp cắn vào sau gáy để cắt đứt tủy sổng khiến con mồi bị tê liệt. Nếu gặp mồi lớn và khỏe như trâu, bò rừng, cọp bấu chặt vào cổ và cắn đứt cuống họng để con mồi bị nghẹt thở chết. Đôi khi vì thiếu mồi, cọp bắt cả những con heo rừng nặng tới 500 lbs hay những con nhím toàn lông nhọn để ăn. Heo rừng da dầy, nanh nhọn và dài như cặp sừng, rất nguy hiểm có thể húc cọp lủng bụng lòi ruột dễ dàng. Còn nhím vừa nhỏ lại có lông cứng có thể bắn ra như mũi tên gây thương tích nặng cho cọp.

Cọp đôi khi ăn cả thịt người. Ấn Độ là nơi có nhiều người bị cọp ăn thịt nhất. Đa số những con cọp ăn thịt người sau khi bị bắn chết đều thấy đã già yếu hay bị thương không còn đủ sức mạnh săn bắt thú rừng. Những con cọp yếu sức này thường quanh quẩn một chỗ, tiếp tục bắt người để ăn vì người là con mồi dễ săn nhất. Do đó, người ta nói rằng cọp ăn thịt người nhiều sẽ thành tinh, hay cọp ba chân dữ dằn chỉ ghiền ăn thịt ngưới. Thật ra, cọp bắt người chỉ là bất đắc dĩ vì không còn khả năng để săn dã thú khác; còn cọp ba chân là cọp đã bị thương.

Cọp tuy cùng được sắp hạng vào họ Mèo Panthera nhưng lại không biết trèo cây như mèo và báo. Đôi khi người đi rừng thấy cọp đứng trên hai chân sau, còn hai chân trước cào vào gốc cây, dường như muốn trèo. Thật ra, không phải cọp tập trèo mà đang chùi móng vuốt ở hai chân trước. Móng cọp có thể thu lại, thụt vào dấu dưới lớp da ở đầu ngón chân, vì đốt xương cuối cùng của ngón chân cọp được nối với một giây gân đàn hồi như một sợi cao su rất mạnh. Khi di chuyển, cọp thu móng lại khỏi vướng víu để chạy cho nhanh, chỉ khi nào vồ mồi, đánh nhau hay cần chùi, cọp mới thò móng ra bằng cách dùng bắp thịt kéo sợi gân cho đốt xương lòi ra phía trước.

Bước qua lãnh vực văn chương, nghệ thuật, tôn giáo v.v… có lẽ không loài vật nào đ ược đề cập tới nhi ều như cọp. Hình ảnh của cọp như một bộ máy hoàn hảo, mạnh mẽ, chính xác, huyền bí đã là nguồn cảm hứng cho nghệ sĩ sáng tác. Trong Kinh Dịch, bạch hổ được dùng để tượng trưng cho mùa thu và phương tây. Người Trung Hoa cũng tin rằng bạch hổ (cọp trắng) là hóa thân của sao Alpha trong chòm sao Thất Tinh (Đại Hùng Tinh). Theo truyền thuyết trên, cọp thường phải tu luyện 500 năm mới trở thành bạch hổ, lúc đó trên trán có hình dạng chữ Vương (Wang) gồm ba gạch ngang và một gạch dọc, có nghĩa là vua. Trên thực tể, phần lớn những con cọp đều mang các vằn đen tương tự như chữ Vương trên trán, do đó cọp được coi như “chính vì vương”, trời sinh ra để làm chúa tể loài vật. Bạch hổ thuộc âm trong khi thanh long (trồng xanh) thuộc dương. Vì vậy, trong các đền chùa lăng miếu, người ta hay thấy tượng thanh long bên trái, bạch hổ bên phải gác hai bên cửa theo đúng phương vị "tả thanh long, hữu bạch hổ". Tuy âm và dương là hai thế lực đối nghịch như thanh long và bạch hổ, nhưng hợp lại là nguồn gốc vũ trụ. Cũng theo Kinh Dịch, hơi thở của bạch hổ tạo thành gió, hơi thở của thanh long biến ra mây. Hai hơi thở mang mầm mống âm dương này hợp lại sẽ tạo thành mưa thuận gió hòa giúp ích cho loài người. Do sự tin tưởng này, trong lúc hạn hán, người xưa thường cầu mưa bằng cách bỏ xương cọp xuống một giếng tượng trưng cho rồng để tạo thành mưa bão. Cũng vì vậy mà người xưa có câu "vân tòng long. phong tòng hổ" có nghĩa là mây theo rồng, gió theo cọp. Nhiều người sống trong miền rừng núi xác nhận khi một khu rừng đang yên tĩnh bỗng nổi gió ào ào, thể nào cũng có cọp xuất hiện

Trong Phật giáo. hình ảnh đẹp đẽ, cân đối cộng với sức mạnh vô song của vọp đã được dùng để tượng trưng cho sự siêu việt và vinh quang của Đạo. Nhiều bức tranh nhà Phật vẽ hình cọp, đôi khi cùng với rồng, cạnh một rừng tre hay cái giếng. Hình ảnh những cành tre uốn cong theo chiều gió và sự hiện diện của cọp tượng trưng cho sự hòa hợp giữa mạnh và yếu. Ngoài ra, cảnh rừng tre tối đen trong cơn mưa cũng là biểu hiệu cho cõi đời ô trọc, tội lỗi mà cọp với đôi mắt sáng ngời tượng trưng cho con ngưới phải cố sức vượt qua.

Cọp tuy là loài vật dữ tợn khiến mọi người luôn luôn muốn tránh xa, nhưng ảnh hưởng của cọp trên đời sống con người có thể nói là sâu đậm nhất so với những con giáp khác. Nhiều câu ca dao, truyện ngụ ngôn, điên tích, sách vở lịch sử ... đã chứng tỏ điều này.

Theo quan điểm Đông Phương, rồng và cọp là những con vật linh thiêng, lúc ẩn lúc hiện nên nơi ẩn thân của chúng cũng là những chỗ bí hiểm khó xâm phạm. Vì vậy, người ta thường dùng câu "hổ huyệt, long đàm" tức là “hang cọp đầm rồng” để chỉ những nơi cực kỳ nguy hiểm khó ra vào. Cọp và rồng còn tượng trưng cho âm, dương là hai thể lực đối nghịch nhưng cân xứng nên sách vở mô tả những trận so tài giữa hai đối thủ ngang tài là "long tranh, hổ đấu”. Câu “tàng long phục hổ” cũng thường được dùng để chỉ người tài thường ít lộ diện, như quân sư Gia Cát Lượng đời Hán có biệt hiệu là Ngọa Long Tiên Sinh lúc còn hàn vi sống tại Ngọa Long Cương.

Để diễn tả ý tưởng cần phải mạo hiểm, vượt qua nhiều thử thách mới mong đạt được thành quả hiển hách, tục ngữ có câu "không vào hang hùm sao bắt được cọp". Đối với những kẻ tiểu nhân hạ tiện, vô tài bất tướng nhưng lưu manh láu cá, chuyên lợi dụng tiếng tăm của người khác để thủ lợi cho mình, người ta nói đó là những tên"cáo mượn oai hùm". Rừng là giang sơn, nơi cọp dụng võ, vì vậy có câu "thả hổ về rừng” để chỉ người được đưa tới môi trường hoạt động thích hợp. Để chỉ mỗi mỗi địa phương đều có một người cầm đầu hay chủ chốt, người ta thường nói "rừng nào cọp nấy” hoặc "một rừng không có hai cọp". Hai câu này đã diễn tả rất trung thực đặc điểm phân chia lãnh thổ riêng biệt của loài cọp.

Trên cơ thể cọp, bộ da rất quan trọng và giá trị nhất. Da cọp thường có màu vàng tươi với những vằn đen nổi bật. Vì vậy, da cọp thường được lột ra rồi phơi khô để trưng bày tại những nơi quyền quí. sang trọng. Đối với con người, phẩm cách rất đáng kể tương tự như bộ da đối với cọp. Con người khi chết cũng để lại tiếng tăm như cọp để lại da, do đó có câu "cọp chết để da, người chết để tiếng". Nói về mặt ẩm thực, người ta thường nói "ăn mạnh như cọp”. Cọp ăn nhanh, ăn khỏe, có thể tiêu thụ hết một con dê dễ dàng, trong khi mèo rất khảnh ăn, thường chỉ liếm láp qua loa chút đỉnh. Vì phái nam thường ăn nhiều hơn phái nữ nên có câu so sánh "nam thực như hổ, nữ thực như miêu”. Trong dân gian còn truyền tụng chuyện Lê Như Hổ vào thời Lê mạt. Ông người làng Tiên Châu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, ăn rất khỏe, mỗi bữa ăn hết một nồi bảy cơm mà chưa no.

Để ca tụng một gia đình có căn bản giáo dục vững chắc, cha mẹ thành công, con cái ăn học nên người, tục ngữ có câu "hổ phụ sinh hổ tử ", như gần đây một sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ gốc Việt, con một cựu sĩ quan HQ/VNCH tỵ nạn đã được bổ nhiệm làm Hạm Trưởng một khu trục hạm tối tân của Hải Quân Hoa Kỳ. Đặc biệt vị Hạm Trưởng gốc Việt này đã đưa chiếm hạm do mình chỉ huy về tăm viếngViệt Nam quê cha đất tổ.

Thông thường, chúng ta nhìn thấy bề ngoài nên khó hiểu được cặn kẽ tính tình của người khác. Nhiều kẻ hình dáng trông rất hiền từ mà tâm địa lại tàn ác. Do đó cần phải cẩn thận khi xét đoán, vì "sông sâu bể cả còn dò, đố ai lấy thước mà đo lòng người", hoặc văn hoa hơn, người ta nói "họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm", nghĩa là vẽ cọp chỉ vẽ được lớp da bên ngoài, không vẽ được bộ xương bên trong, còn biết người thì chỉ biết được bộ vó, khó biết được tâm tính. Nhưng bề ngoài không hẳn chỉ là vóc dáng mà còn có thể là lời ăn tiếng nói nữa. Lắm kẻ ăn to nói lớn, hùng hùng hổ hổ tuyên bố những lời lẽ chém đinh chặt sắt rất anh hùng can đảm, nhưng khi cần hành động thì lại nhút nhát, lủi trốn trước. Chúng ta đã chứng kiến nhiều vị "miệng hùm, gan sứa", mới hôm trước còn đao to búa lớn tuyên bố huênh hoang kêu gọi 'tử thủ đến cùng, chạy ra ngoại quốc là hèn nhát và buồn lắm vì không có cà pháo mắm tôm mà ăn. Nhưng hôm sau đã thấy họ cùng vợ con anh dũng chiến đấu cùng hot dog và hamburger ngon lành trên chiến hạm Mỹ! Đã vậy, khi tới xứ thiếu cà pháo mắm tôm vẫn còn chưa biết hổ thẹn cùng các bạn đồng đội đã tuẫn tiết không chịu hàng giặc, mà v ẫn không biết nhục còn nỏ miệng kêu gọi hòa hợp hòa giải, rồi trở về Việt Nam ca tụng kẻ thù hầu kiếm chút cơm thừa canh cặn.

Vì cọp có dáng đệu lẫm liệt, oai phong, hùng dũng,nên rất thích hợp để làm biểu tượng cho ngành võ. Cọp còn tượng trưng cho sức mạnh vô địch nên nhiều đạo quân anh dũng nổi tiếng kim cổ đã dùng cọp để đặt tên hay làm huy hiệu biểu tượng cho đơn vị mình.

Ngay từ ngàn xưa, trong huyền thoại Ấn Độ, thần Shiva là bậc tối thượng với quyền năng phá hủy và sáng tạo vũ trụ đã mặc áo da cọp và cưỡi cọp khi lâm trận. Đến khi bò được sùng bái thay cho cọp, thần Shiva tuy cưỡi bò nhưng vẫn dùng yên ngựa bằng da cọp. Ngay cả vợ của Shiva là nàng Durga pháp lực vô song với mười tay cầm kiếm cũng cưỡi cọp. Thần Dionysus của thần thoại Hy Lạp cũng cưỡi xe do hai con cọp cái kéo. Gần đây, vào khoảng giữa thể kỷ 18, bên Ấn Độ có vị tiểu vương xứ Mysore tên Tipu Sultan đã sùng bái cọp đến độ thờ phụng như thần vật. Ngay tên ông ta, Tipu cũng có nghĩa là cọp. Ngai vàng của ông có chân là bốn con cọp chống đỡ. Quần áo ông mặc, binh phục của quân lính, ngay cả loại khăn tay ông dùng gọi là “bubberee” cũng có sọc vằn giống da cọp. Tipu Sultan thường nói riêng chẳng thà sổng hai ngày như cọp còn hơn sống hai trăm năm như trừu. Người Anh gọi tiểu vương này là con cọp xứ Mysore (the Tiger of Myosre).

Người Á Đông cũng tin vào sức mạnh của cọp không kém, vì vậy, nơi bản doanh bàn việc quân cơ, bầy binh bổ trận của các võ tướng được gọi là "hổ trướng". Dinh cơ của các quan võ cũng thường dùng da cọp để trang trí hay làm thảm. Bên Trung Hoa, các sứ thần được vua ban Hổ trượng để tượng trưng quyền lực. Các quan võ oai dũng tài giỏi được gọi là hổ tướng. Đời nhà Trần dưới quyền chỉ huy của đức Trần Hưng Đạo, nước ta có năm vị đại tướng được phong là "ngũ hổ tướng" vì đã lập được nhiều công trạng trong các lần đại thắng quân Nguyên. Đó là các đại tướng Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toán. Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật. Đặc biệt, trong trận Thiên Mạc, hổ tướng Trần Bình Trọng gặp địch quá đông, vì ở hế "mãnh hổ nan địch quần hồ" nên bị bắt. Tuy bại trận nhưng tên tuổi ông đã đi vào lịch sử với câu nói khẳng khái bất hủ khiển giặc cũng phải kinh sợ ”thà làm qủi nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Dưới thời nhà Nguyễn khi vua Gia Long đánh nhau với quân Tây Sơn, có ngũ hổ tướng Gia Định là các ông Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Trương, Trương Tấn Bửu.

Vào thời Tam Quốc, nhà Hán Lưu Bị cũng có ngũ hổ tướng, gồm Quan Vân Trường, Trương Phi là hai anh em kết nghĩa vườn đào của Lưu Bị. Hai tướng khác là Hoàng Trung và Nghiêm Nhan tuy đã già nhưng vẫn có sức địch muôn người nên lập nhiều công lớn. Người thứ năm là Triệu Vân, tự là Tử Long danh tiếng lẫy lừng, từng một mình một ngựa xông pha giữa trăm vạn quân Tào trong trận Đương Dương Trường Bản như "hổ vào đàn dê" để bảo vệ con trai Lưu Huyền Đức là Á Đẩu.

Dưới thời Pháp thuộc, ông Nguyễn Thiện Thuật khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm, lấy vùng rừng núi hiểm trở Yên Thế miền thượng du Bắc Việt làm chiến khu. Đội nghĩa quân của ông đã chiến thắng giặc Pháp nhiều lần, oai danh lừng lẫy nên dân chúng kínth phục tôn ông là "Hùm thiêng Yên Thể". Sau này, dân chúng trong vùng có câu tục ngữ "Trai Cầu Vồng, Yên Thế, gái Nội Duệ, Cầu Lim" để chỉ những nơi có nhiều trai anh hùng và gái thuyền quyên. Vùng Nội Duệ, Cầu Lim thuộc tỉnh Bắc Ninh là quê hương Quan Họ, nơi có nhiều gái đẹp, đa tình nổi tiếng với ngày hội Lim vào dịp tết Nguyên Đán.

Trong các truyện cổ Trung Hoa còn nhiều điển tích nổi tiếng liên quan đến cọp. Truyện Thủy Hử kể tích “Võ Tòng đả hổ” . Trong truyện Chinh Đông, Chinh Tây, dưới thời nhà Đường, vua Đường Thế Dân có một võ tướng rất giỏi tên Tiết Nhân Quí, vì cơ duyên được ăn linh đan nên có sức mạnh của chín trâu ba cọp. Tiết Nhân Quí nguyên là sao Bạch Hổ trên trời giáng trần để phò vua Đường dựng nước.

Trong QLVNCH, cũng có rất nhiều đơn vị dùng cọp làm biểu hiệu. Binh chủng Biệt Động Quân với danh hiệu Cọp Rừng Mũ Nâu và binh chủng Thủy Quân Lục Chiến danh hiệu Cọp Biển có nhiều đơn vị rất tinh nhuệ thiện chiến đã làm quân địch khiếp vía trên khắp chiến trường. Các Liên Đoàn BĐQ trang bị nhẹ để dễ di động thường được tăng phái cho các quân khu và lập được nhiều chiến công hiển hách. Sư Đoàn TQLC, một trong những đơn vị tinh nhuệ hàng đầu của QLVNCH, là lực lượng tổng trừ bị gồm những Cọp Biển gan lì nổi tiếng trên khắp chiến trường, đặc biệt trong trận MùaHè Đỏ Lửa vào năm 1972. Riêng trong binh chủng Cọp Rừng Mũ Nâu có Tiểu Đoàn 41 mang huy hiệu Cọp Ba Đầu Rằn đã nhai đầu không biết bao nhiêu địch quân tại vùng 4 chiến thuật. Binh chủng Cọp Biển cũng có Tiểu Đoàn 7 danh hiệu Hùm Xám và Tiểu Đoàn 9 Mãnh Hổ từng làm mưa làm gió tại vùng địa đầu giới tuyến. Tiểu Khu Kiến Hòa có Tiểu Đoàn 401 Địa Phương Quân danh hiệu Bạch Hổ đã lắm lần làm Cộng quân khiếp vía.

Cũng tại vùng hỏa tuyến, có Tiểu Đoàn 4 danh hiệu Mãnh Sư thuộc Trung Đoàn 1, Sư Đoàn 1 Bộ Binh là một đơn vị thiện chiến lập được nhiều chiến công. Vào khoảng năm 1970-71, Trung Tá Lê Huấn làm Tiểu Đoàn Trưởng đã thành lập một pháo đội đặc biệt gọi là pháo đới Cọp Vàng gồm toàn cao thủ trong nghề bắn súng cối 81 ly. Pháo đội này chuyên bắn yểm trợ vòng cầu cận phòng chống chiến thuật biển người. Các con Cọp Vàng có thể rót đạn vào hầm hố địch chỉ cách quân bạn chừng 50 thước khi cận chiến. Trong trận đánh tại đồi Lolo ở Hạ Lào vào năm 1971, pháo đội Cọp Vàng đã bắn hạ hàng trăm địch quân khi chúng đã xâm nhập hàng rào phòng thủ. Sau ba ngày tử chiến cho tới khi bắn hết đạn, Trung Tá Lê Huấn anh dũng hy sinh, tất cả các sĩ quan đều tử trận, TĐ 4/1 chỉ còn lại chừng 70 binh sĩ do một hạ sĩ quan chỉ huy. Đổi lại nguyên một trung đoàn Cộng Quân đã bị xóa tên. Ngoài ra, QLVNCH còn có những toán biệt kích Lôi Hổ được huấn luyện thuần thục và trang bị đặc biệt để xâm nhập hậu tuyến địch. Những toán này thường được thả xuống đường mòn Hồ Chí Minh bên Lào hay ngoài Bắc để phá hoại và phát hiện sự di chuyển của Cộng quân.

Vì cọp ưa hùng cứ một phương, trông dữ dằn, lại thích bắt súc vật nên người ta thường gọi các tham quan ô lại, cường hào ác bá cậy thể ức hiếp dân chúng tại địa phương là cọp. Nhiều gánh hát cải lương đi lưu diễn tại những địa phương nhỏ cũng phải lo đút lót để tránh nạn “coi hát cọp" tức quịt không trả tiền.

Tuy cọp rất dữ dằn, chuyên ăn sống nuốt tươi khiến ai cũng phải sợ nhưng vì là tượng trưng cho sức mạnh vô song nên lại là một đề tài rất phổ thông trong văn chương cũng như trong các truyện dân gian Việt Nam. Những truyện phiêu lưu, mạo hiểm đường rừng đều ít nhiều nhắc đến cọp như truyện 'Vàng và Máu' của Thế Lữ. Nhà văn này cũng là người được đã nổi tiếng với bài thơ "H ổ Nhớ Rừng" diễn tả tâm trạng của một con hổ bị nhốt trong sở thú.

Văn học Việt Nam cuối triều Lê đầu triều Nguyễn cũng ghi lại nhiều giai thoại liên quan tới nữ sĩ HồXuân Hương và ông Chiêu Hổ tức Phạm Đình Hổ. Trong dân gian cũng có nhiều truyện cổ tích liên quan tới cọp, thí dụ truyện "Trí khôn loài người", k ể trường hợp một anh nông phu dùng trí khôn để đánh lừa cọp.

Qua phương Tây, chúng ta đã biết chuyện Tarzan được bày khỉ nuôi nên biết leo trèo như khỉ và trở thành chúa sơn lâm; nhưng còn chuyện cậu bé Mowgli trong “Truyện Rừng Xanh” (The Jungle Book) của Rudyard Kipling cũng hấp dẫn không kém. Mowgli bị con hổ gian ác tên là Shere Khan bắt, may thay cậu được báo đen Bagheera cứu rồi gửi cho một gia đình sói nuôi dưỡng. Câu chuyện này đã là nền tảng của bầy Sói Con trong tổ chức Hướng Đạo. Mặt khác, cọpTigger trong truyện Winnie the Pooh của A. A. Milne, lại là con cọp luôn luôn đem lại may mắn, không phải sự sợ hãi. Gần đây nhất, nhà văn Yann Martelngười Canada đã đoạt giải Man Booker Prize năm 2002 với tiểu thuyết “Cuộc Đời Của Pi” (Life of Pi) nóivề cuộc phiêu lưu của cậu bé Ấn Độ trên Thái Bình Dương với con hổ Bengal.

Cá dưới biển cũng có loại mang tên cọp. Cá mập là loài ăn thịt rất hung hãn không thua gì cọp trên đất liền cũng chia ra nhiều chủng loại như cọp. Một trong những loại cá mập mang tên "Tiger Shark" (cá Mập Cọp) vì giống này có răng nanh to và sắc như nanh Cọp. Loại rắn độc và nguy hiểm nhất là rắn hổ. Bươm bướm và sâu bọ cũng có loài mang tên cọp vì có sọc vằn và màu sắc giống như lông cọp. Các loại bướm như Jersey Tiger, Plain Tiger, Wood Tiger đều có màu sắc và vằn rất rực rỡ. Tiger Beetle với tên khoa học “Cinin-deladae” có sọc và vằn glổng như da cọp. Về hoa, có loại “tiger lily tên khoa học là “Lilium tigtinium” và loại “Tigerlilia tembilis” có cánh hoa trông giống như những con cọp nhỏ chụm lại. Những người thường đi du lịch đánh bài hay xem show tại Las Vegas chắc rất quen thuộc với nhưng con cọp trắng tại sòng bài nổi tiếng Mirage.

Nếu ai ưa chuộng thể thao, nhất là món đánh cù (Golf) đều biết đấu thủ nổi tiếng Tiger Wood, người trẻ tuổi nhất đã đoạt giải PGA với số điểm kỷ lục. Tiger Wood là người Mỹ da đen lai Thái Lan. Tên Tiger do cha anh đặt không phải vì anh có bộ vó dữ dằn hay màu da rằn rện giống cọp, nhưng để nhớ đến người bạn lính Việt Nam (nghe nói cấp bậc Đại Tá) đã đánh giặc rất hăng hái nên có biệt danh là cọp khi cùng cha anh chiến đấu tại Việt Nam.

Đối với những chiến sĩ Hải Quân QLVNCH, chắc không xa lạ gì với hải đảo Hòn Cọp (Tiger Island) ngoài khơi Cửa Việt. Cách đất liền chừng vài ba chục hải lý ngay trên vĩ tuyến 17. Hòn đảo này nằm trong lãnh hải Bắc Việt và được gọi là Cồn Cỏ, thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Đồng Hới. Đây là một căn cứ rất quan trọng của Việt Cộng dùng để quan sát và thwo dõi các hoạt động của chiến hạm Hải Quân VNCH cũng như Hoa Kỳ trong vùng. Đã có một dạo Hải Quân VNCH và Hoa Kỳ phong tỏa hải đảo này khiến lính Việt Cộng trên đảo gần như chết đói vì không được tiếp tế.

Trong cuộc chiến tranh lạnh sau thế chiến thứ hai, lãnh tụ Trung Cộng là Mao Trạch Đông thường xúi bẩy thủ tướng Khrutcl:ev của nước bạn xã nghĩa Nga Sô gây chiến với Hoa Kỳ để Tàu ở giữa hưởng lợi. Mao có lần khích bác lãnh tụ Nga, nói việc gì mà sợ vì “Mỹ chỉ là mới con cọp giấy”. Ý Mao muốn nói Mỹ chỉ dọa nạt chứ không giám gây chiến. Nhưng Khrutchev cũng chẳng vừa gì, biết rằng Mao xúi dại mính, và lực lượng Hoa Kỳ rất mạnh có thể tiêu diệt Nga dễ dàng nên trả lời Mao: “Mỹ đúng là con cọp giấy, nhưng nó có răng nanh nguyên tử". Mao nghe nói cũng sợ luôn, nên dù Trung Cộng có dân sổ trên 1 tỷ người cũng không giám chọc giận con cọp giấy có răng nanh nguyên tử này.

Qua lãnh vực thuốc men trị bệnh, tại Á Đông, người Trung Hoa và Việt Nam vẫn còn lầm tưởng rằng cơ phận của dã thú là những vị thuốc hay làm tăng sức khỏe hay chữa được nhiều bệnh hiểm nghèo. Các vua chúa hay người giầu có thường mua sừng tê giác, tay gấu, mật gấu, chân hùm, xương cọp v.v... để chế thành thuốc cho rằng có hiệu lực bồi bổ cơ thể và tăng thêm sức mạnh. Riêng cọp là loài dã thú được giới đông y chú trọng nhất vì tin rằng dùng cọp để làm thuốc sẽ khiến người cũng mạnh mẽ và can đảm như cọp. Có thề nói hầu như cơ phận nào của cọp cũng được các các thầy lang cho là “nên thuốc", vì cọp là một loài vật rất sinh động và hoàn hảo, cơ phận nào cũng được cấu tạo đặc biệt để đạt hiệu năng tối đa nên mỗi cử động đều gọn gàng, chính xác và hữu dụng.

Trong đông y, tròng mắt cọp được dùng để chữa bệnh động kinh, đuôi trị bệnh ngoài da, mật chữa trẻ con sài đẹn. Râu cọp chữa đau răng nhưng khi nghiền thành bột lại là một loại thuốc kịch độc. Tại Đông Dương, người ta tin rằng nếu ăn phải một cụm măng rừng có râu cọp cắm vào chắc chắn sẽ bị xuất huyết trong bụng mà chết lần mòn. Người Indonesia tin rằng râu cọp có mãnh lực trị bệnh bất lực. Óc cọp chữa bệnh lười biếng hay khờ khạo. Xương cọp là vị thuốc phổ thông và được dùng nhiều nhất. Người Trung Hoa đã dùng xương cọp làm vị thuốc từ hàng ngàn năm nay. Thói quen này sau đó lan tràn qua các nước láng giềng như Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam cùng với ảnh hưởng của người Hoa. Xương cọp được nghiền ra thành bột rồi trộn với các vị thuốc bắc khác thành thuốc viên (hoàn) để trị bệnh phong thấp và các bệnh về khớp xương. Xương cọp cũng được dùng để ngâm rượu uống cho tăng cường sinh lực và trị phong hàn cảm mạo. Chúng ta hãy thử tưởng tượng Trung Hoa với gần 2 tỷ dân, nếu mỗi người chỉ cần uống một liều thuốc xương cọp mỗi ngày thì tất cả cọp trên thế giới sẽ bị tuyệt chủng trong nháy mắt!

Người Việt và Hoa còn dùng xương cọp để nấu cao, gọi là cao hổ cốt có công dụng bổ xương và gia tăng sức khỏe cho những người lớn tuổi, tương tự như sừng nai non (nhung). Xương cọp được cắt thành khúc, ngâm rửa sạch sẽ rồi cho vào nồi nấu thật lâu cho đến khi chảy ra thành chất nhựa màu trong đen như hổ phách. Chất nhựa này sau đó được đổ ra thành từng bánh để khô lại gọi là bánh cao. Người dùng có thể cắt bánh cao này ra thành những mảnh nhỏ để ngậm hay ngâm rượu. Cả người Trung Hoa lẫn Việt Nam tin rằng ăn "cao hổ" sinh lực sẽ được bồi bổ, khí huyết lưu thông, sẽ trở thành mạnh mẽ như cọp! Ngoài cao hổ, đông y còn có loại cao nấu bằng sừng hươu gọi là cao ban long. Sâm, nhung và cao được coi là những vị thuốc đại bổ, có công hiệu chứa trị nhiều chứng bệnh của người già và chống lão hóa.

Tại Ấn Độ, mỡ cọp được dùng để chữa bệnh cùi và phong thấp. Người Lào. Miên và Việt coi móng và nanh cọp là bùa trừ tà giống như nanh heo rừng. Vì vậy chúng ta thường thấy những nanh cọp, móng cọp được bịt vàng hay bạc bán rất mắc tại các tiệm kim hoàn để các bà mẹ mua về đeo vào cổ cho con cái.

Hiệu quả bồi bổ sức khỏe thật sự của các loại sâm, nhung, cao đơn hoàn tán này ra sao thật rất khó biết và cũng còn tùy theo người dùng. Tuy nhiên chúng ta thấy vì những tin tưởng không bằng chứng đó mà có vô số thú rừng như cọp, gấu, tê giác v.v… bị săn bắt đến gần tuyệt chủng. Ngoài ra, các vua chúa ngày xưa không thiếu gì những của ngon vật lạ để bồi bổ, nhưng ít người sống được tới “ngũ tuần đại khánh”!

Sau những chuyện vừa kể về cọp, nhân dịp đầu năm cũng nên nói qua về vận mạng chung của con người. Năm nay các bà các cô được sao Bạch Hổ chiếu mệnh nên luôn luôn may mắn, trẻ ra, đẹp thêm, trong khi nam phái cần thận trọng n ếu không sẽ bị cọp vồ! Nhìn chung về số mạng, cọp là chúa sơn lâm, không dễ bị ăn hiếp! Tuổi cọp sanh ra đã là lãnh đạo, quyến rũ và kiêu hãnh. Tuổi này có tướng mạo oai phong khiến người khác phải tuần phục, đúng như ý muốn. Phái đẹp tuổi cọp dáng dấp quí phái và được nhiều người săn đón. Tuổi cọp khiến cho người khác phái phải mê mệt tức khắc, nhưng cần đầm tánh khi giao du và giải quyết công chuyện. Tuổi cọp “tam hạp” với tuổi Ngọ (con Ngựa) và tuổi Tuất (con Chó), nhưng khắc/kỵ “tứ xung” với tuổi Tỵ (con Rắn), tuổi Thân (con Khỉ) và tuổi Hợi (con Heo)..

Về số mạng trong năm, tuổi Dần công việc có chút đổi thay. Tình cảm gia đạo có tin vui, có sự gặp gỡ, đoàn tụ người thân hoặc có đình đám, tiệc vui về hôn nhân, sinh nở. Thuận lợi cho việc đi xa, xuất ngoại, làm ăn. Quan hệ bè bạn, cộng sự đều gặp điều tốt lành, có thêm người trong nhà, công sở, có bạn mới.

Kính thưa quí độc giả, thành thực cám ơn quí vị đã quan tâm theo dõi bài phiếm luận cho tới giờ phút này, hy vọng quí vị đã có những giờ phút không đến nỗi quá nhàm chán trong dịp đầu xuân. Nếu có những lời lẽ hoặc điều gì không hay không phải, mong được miễn thứ. Một ìần nữa, kính chúc qúi vị cùng bửu quyến năm mới an khang thịnh vượng, ăn nên làm ra, thắng "bầu cua cá cọp" lớn nếu đi Las Vegas, và sức khỏe dồi dào để yêu đời, yêu mình và yêu người.

Cung Chúc Tân Xuân

Trần Đỗ Cẩm

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Lợi ích của việc đi bộ


Từ lâu các nhà khoa học đã biết được tác động hữu ích của việc đi bộ đối với sức khoẻ.
Đi bộ làm giảm nguy cơ các loạibệnh tiểu đường loại 2, áp huyết cao, nhồi máu cơ tim, đột quỵ.

Ngày nay, những thí nghiệm mới nhất lại cho thấy đi bộ còn mang lại lợi ích trong việc tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện các chứng rối loạn sinh dục và gia tăng trí lực.

Lối sống tĩnh tại và nhiều áp lực tâm lý của thời đại công nghiệp đã làm gia tăng nhanh tỷ lệ các loại bệnh liên quan đến hội chứng chuyển hoá như béo phì, xơ vữa động mạch, áp huyết cao, tiểu đường.
Trong những nổ lực để ngăn chận tình trạng nầy, đi bộ là một biện pháp đơn giản, không tốn kém đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Trong một loạt bài viết về những ích lợi của sự đi bộ, bà Wendy Bumgardener, một nhà khoa học người Mỹ chuyên nghiên cứu về lãnh vực nầy, đã dùng một đề tài khá hay “Đi bộ hay là chết, hình thức vận động ở tuổi trung niên để ngăn chận nguy cơ tử vong.” Bà Bumgardner cho rằng đi bộ với bước đi từ trung bình đến nhanh, từ 30 đến 60 phút mỗi ngày đủ đốt cháy mỡ và gia tăng mức độ chuyển hoá sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ những bệnh tim mạch, ung thư vú, ung thư ruột già, tiểu đường và đột quỵ.

Đi bộ giúp giảm các hội chứng chuyển hoá, giảm nguy cơ tử vong do những bệnh tiểu đường, tim mạch

Nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau đều cho thấy các hình thức vận động nhẹ bao gồm đi bộ nếu được thực hành đều đặn đều có khả năng tăng cường chuyển hoá, làm giảm lượng cholesterol xấu (LDL), tăng lượng cholesterol tốt (HDL), hạ thấp triglycerides (triglyceride là một loại mỡ xấu trong máu), qua đó có thể cải thiện độ mỡ trong máu và tăng cường sự dẻo dai của thành mạch để điều hoà huyết áp. Ngoài ra, đi bộ còn tăng cường sự lưu thông khí huyết, giúp bắp thịt săn chắc, kích thích tiêu hoá giúp ăn ngon, ngủ sâu.

Thông qua việc kiểm soát béo phì và làm tăng độ nhạy của tế bào đối với insulin, đi bộ là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa cũng như điều trị bệnh tiểu đường loại 2.

Về mặt nội tiết, đi bộ đều đặn không những làm giảm nội tiết tố stress mà còn giúp tăng tiết serotonin và dopamin, những chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng làm cho tinh thần phấn chấn, lạc quan giúp chống trầm cảm. Do đó, đi bộ là một liệu pháp chữa trầm cảm có hiệu quả chẳng khác gì các loại thuốc uống. Như vậy, ngoài việc cải thiện mạch máu, đi bộ còn giúp giảm nguy cơ bệnh tim, thần kinh, giảm stress và tăng cường các nội tiết tố .

Tính cường cơ và dòng máu lưu thông tốt còn có vai trò quan trọng trong cơ chế gây cương. Do đó, tác dụng làm săn chắc bắp thịt, cải thiện chức năng của thành mạch máu và điều hoà hoạt động nội tiết của đi bộ còn tác động tốt đến các chứng rối loạn sinh dục.

Các nhà nghiên cứu còn cho biết đi bộ còn kích thích các tế bào thành mạch máu phóng thích nhiều chất nitric oxide, một chất hoá học quan trọng làm giãn nở mạch máu giúp máu lưu thông tốt đến các thể hang trong hoạt động dương cương.


Do đó, phối hợp với chế độ ăn uống hợp lý, ít chất béo bão hoà, nhiều chất arginine, mỗi ngày đi bộ khoảng trên 2 cây số là một biện pháp chữa rối loạn dương cương khá hiệu quả. Arginine là một hợp chất hữu cơ, một loại amino acid, là chất liệu cần thiết để được chuyển hoá thành nitric oxide. Arginine có nhiều trong thịt, trứng, các loaị cá, đậu nành, đậu phộng, hạt mè, hạt bí rợ, hạt hướng dương.

Một nghiên cứu về tác động làm giảm nguy cơ tử vong của hoạt động đi bộ qua sự phối hợp giữa trường Đại học Y khoa Michigan và tổ chức VA Ann Arbor Health Care System. Đối tượng nghiên cứu gồm 9.611 người ở độ tuổi từ 51 đến 61 tuổi.


Kết quả được công bố trên tập san Medicine and Science in Sports and Exercise số tháng 11/2004 đã cho thấy những người hay đi bộ có thể làm giảm 35% nguy cơ tử vong do tim mạch trong khoảng 8 năm sắp đến.

Đối với những người đang có những yếu tố nguy cơ như áp huyết cao, tiểu đường hoặc hút thuốc thì tỷ lệ giảm bớt sẽ là 45% so với những người ít đi bộ. Có một thực tế là những người bệnh tim ít vận động dù là vận động nhẹ như đi bộ vì e ngại đi bộ nhiều sẽ làm gia tăng sự mệt mỏi cho tim. Ngược lại các chuyên gia tim mạch khuyên những người nầy càng cần phải đi bộ. Tiến sĩ Caroline Richardson, M.D., người chủ trì cuộc nghiên cứu đã đặc biệt nhấn mạnh “Đối với nguy cơ dẫn đến tử vong do tim mạch, mọi người đều được hưởng lợi từ việc đi bộ. Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất, sự giảm bớt lớn nhất là ở những người đang có nguy cơ cao.”
Image Ích lợi của đi bộ trên hoạt động trí tuệ

Hai kết quả nghiên cứu độc lập nhau được đăng tải trên tạp chí của Hội Y học Mỹ (Journal of the American Medical Association) đã cho thấy đi bộ có thể duy trì hoạt động linh hoạt và sự nhạy bén của bộ não.

Trong khi một số môn vận động như chèo thuyền, bơi lội, đi xe đạp, aerobic có cường độ vận động mạnh hoặc có thiên hướng thể thao, có thể không thích hợp với người già thì việc đi bộ thường tỏ ra an toàn, thuận tiện và dễ điều chỉnh theo tình trạng sức khoẻ của người tập.

Một nghiên cứu trên 18.000 người, nguyên là nữ nhân viên điều dưỡng tuổi từ 70 trở lên đã cho thấy những người đi bộ nhiều, ít nhất 1 giờ rưởi mỗi tuần, đều đạt được chỉ số cao hơn về khả năng suy nghỉ, sự chú tâm và mức độ ghi nhớ các từ so với những người đi bộ ít hơn 40 phút mỗi tuần. Hơn nữa, đối với những trở ngại về mặt nhận thức, những phụ nử năng động cũng tốt hơn 20% so với những người bình thường.

Tương tự, một nghiên cứu được thực hiện trên 2.000 người đàn ông ở Hawaii đã cho biết thường đi bộ có thể làm giảm đáng kể sự phát triển của các chứng rối loạn trí nhớ, bao gồm cả bệnh Alzheimer (bệnh suy giảm và mất dần trí nhớ). Những nhà khoa học nầy nghi ngờ phải chăng việc cải thiện tuần hoàn máu đến tim và não nhờ hoạt động đi bộ gây ra đã tác động tốt đến chức năng của não?

Một nghiên cứu khác tại trường Đại học Illinois tại Urbana-Champagne, Mỹ đã được công bố ngày 20/11/2006 cũng cho thấy tập thể dục nhẹ có thể đảo ngược (reverse) quá trình lão hoá của não. Nghiên cứu được thực hiện bởi 2 Tiến sĩ Arthur F.Kramer và Ed Mc. Auley.

Người được thí nghiệm là những người có cuộc sống tĩnh tại tuổi từ 60 đến 79 tuổi. Những người nầy được tập hợp 3 lần mỗi tuần trong thời gian 6 tháng để tham gia tập thể dục. Họ được chia làm 2 nhóm. Nhóm tập các bài tập aerobic nhẹ gần giống như đi bộ và nhóm tập các bài tập căng cơ (toning and stretching exercises). Các nhà khoa học đã quan sát, đối chiếu bộ não của những người tham gia thí nghiệm trước và sau chương trình tập thể dục qua hình ảnh được chụp bằng cộng hưởng từ. Kết quả cho thấy có sự gia tăng khối lượng não đáng kể ở những người tập aerobic so với những người chỉ tập căng cơ. Phần vỏ não trước, phần thường có sự thoái hoá liên quan đến tuổi già, là phần có sự thay đổi nhiều nhất từ những bài tập aerobic.

Bác sĩ Arthur F.Kramer cho biết “Tập thể dục đúng cách có thể cải thiện chức năng của não. Thậm chí ngay cả các hoạt động nhẹ cũng rất có lợi cho não. Nó cải thiện lưu thông máu trong não và kích thích hình thành những tế bào mới”. Ông còn nói thêm "Bạn không cần phải là một người chạy marathon; bơi lội, đi xe đạp, đi bộ đều là những cách thức có thể mang lại lợi ích chống lão hoá não”.
Đi bộ giúp tăng sức đề kháng và giảm nguy cơ tử vong do ung thư


Mọi hình thức vận động đều có khả năng làm gia tăng sự lưu thông khí huyết. Theo Đông y, “thống tắc bất thông, thông tắc bất thống”. Đau nhức là do khí huyết ứ trệ, một khi khí huyết thông suốt, đau nhức sẽ không tồn tại. Đi bộ cải thiện tuần hoàn huyết, gia tăng sự trao đổi chất, làm tăng mật độ xương nên có tác dụng rất tốt trong việc phòng chống các chứng loãng xương và viêm khớp ở tuổi già. Qua vận động, khí huyết được lưu chuyển ra phần vệ khí biểu hiện thấy đổ mồ hôi, người nóng lên, tăng cường sức chống bệnh từ môi trườngbên ngoài. Một nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư Fred Hutchinson ở Seattle (Mỹ) được phổ biến trên tạp chí The American Journal of Medicine số tháng 11/2006 đã cho biết đi bộ đều đặn có thể làm tăng đáng kể sức đề kháng, ngăn chận cảm cúm và nhiều trường hợp nhiễm trùng khác.


Kết quả trên dựa vào một nghiên cứu trên 115 người phụ nữ đã mãn kinh, có cuộc sống tĩnh tại, cân nặng trên trung bình hoặc béo phì. Những người nầy được chia làm 2 nhóm. Nhóm đầu được chỉ định đi bộ nhanh 45 phút mỗi ngày, 5 lần mỗi tuần. Nhóm còn lại chỉ tập căng cơ 45 phút, mỗi tuần một lần. Kết quả cho thấy những người thuộc nhóm sau dễ bị cảm cúm, dị ứng hoặc một số trường hợp nhiễm trùng khác cao gấp 3 lần so với nhóm đầu.

Một báo cáo được trình bày tại cuộc hội thảo thường niên lần thứ 95 của Hội Nghiên Cứu Ung Thư Hoa Kỳ ngày 29.3.2004 cũng cho thấy thực hành đi bộ có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú, ung thư ruột già và ung thư tử cung. Nghiên cứu được công bố tại hội nghị đã cho thấy tỷ lệ sống còn của những người bị ung thư nầy đã tăng đến 54% nếu đi bộ từ 30 đến 60 phút mỗi ngày. Những nhà khoa học cho rằng đi bộ đã làm gia tăng các loại tế bào bạch cầu và những loại kháng thể chống lại sự xâm nhập hoặc phát triển cúa các loại vi trùng, vi khuẩn gây bệnh.


Xạ trị, hoá trị trong điều trị ung thư thường dẫn đến rối loạn tiêu hoá, kém ăn, suy giảm hệ miễn dịch. Trong những trường hợp nầy, ngoài việc bổ sung những chất dinh dưỡng, việc đi bộ đều đặn, uống nước cháo gạo lức rang xen kẻ với uống nước ép trái cây là những liệupháp bổ sung rất hửu ích. Vận động và uống nước cháo gạo lức rang đều có thể giúp kiện tỳ. Nước ép rau quả tăng cường những chất chống oxy hoá cần thiết để trung hoà bớt những gốc tự do sinh ra từ độc chất và giúp nâng cao sức miễn dịch.

Đi bộ và thiền hành

Đi bộ đều đặn hàng ngày tự nó đã có tác dụng điều hoà nội tiết, ổn định tâm lý. Ngoài ra, mỗi người đều có thể tận dụng thời gian đi bộ để hành thiền thông qua việc quan sát hơi thở vào và ra trong lúc đi. Trong lúc thiền hành (hành thiền trong lúc đi), vẫn có thể đi chậm hoặc đi nhanh tuỳ theo điều kiện sức khoẻ hoặc chương trình tập luyện Điều quan trọng là bước đi phải đồng bộ với hơi thở và luôn chú tâm để biết rõ từng bước chân ứng với hơi thở vào hoặc ra. Chẳng hạn khi bước đi khoan thai có thể nhẩm trong tâm hít (khi hít vào) và thở (khi thở ra), khi đi nhanh hơn có thể nhẩm hít, hít (ứng với 2 bước chân khi hít vào) và thở, thở (ứng với 2 bước chân khi thở ra). Giống như nhiều phương pháp thiền khác, thiền hành có thể giúp người tập phát triển chánh niệm, gia tăng năng lực tập trung tư tưởng và kiểm soát cảm xúc qua đó có thể nâng cao chỉ số thông minh cảm xúc (emotional quotient), một yếu tố quan trọng góp phầncho sự thành công trong cuộc sống nhiều áp lực của xã hội hiện nay.

Quan sát hơi thở cũng đồng nghĩa với điều hòa hơi thở và tiết kiệm năng lượng. Điều nầy giúp đi được khoảng cách dài hơn hoặc thời gian lâu hơn. Hầu hết các vận động viên đều biết rằng kiểm soát hơi thở sẽ giúp họ vận động hiệu quả hơn và dai sức hơn.
Nói chung, mọi hình thức vận động, kể cả đi bộ, đều có tác dụng bảo vệ và phát triển sức khoẻ về nhiều mặt. Một loại thuốc có thể được thay thế bằng một loại thuốc khác, nhưng không một loại thuốc nào có thể thay thế cho vận động. Nếu có thể sản xuất ra một loại thuốc tổng hợp có đủ các tác dụng của sự đi bộ thì ắt hẳn đó sẽ là loại thần dược quý giá nhất.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Đến Một Lúc
Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.

Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.

Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.


Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.


Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc.

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình yên.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một quán tính khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân mình.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cầ thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất diệt bên trong.

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.

Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì lòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai..

Thích Thông Nhã

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Phở...và...cơmmmm...

Phở và cơm ....làm từ gạo tẻ
Phở ...ăn 'khoẻ'... giá rẻ...hơn cơm
Phở khỏi đơm...tay lùa ....miệng nuốt
Phở..là thuốc...'trau chuốt'....bệnh già
Phở ...chục tô...ăn hoài chẳng ngán
Cơm...nhàm chán...ngao ngán..thở dài...?

Phở ...miệt mài...húp chan...xùm xụp...
Cơm...lạy lục...tiếp tục...mà nhai...
Cơm ...nguội tanh....chỉ hoài...một món
Phở...được chọn...một món...ăn hoài
Cơm...vừa nhai...hai hàng ...lệ chảy
Phở...hết xảy...vừa nhảy...vừa nhai...


Cơm...ăn xong...phải chùi...đĩa,bát
Phở....húp xong...quẹt miệng...đi liền
Cơm...tính tiền ...bằng lương ...cả tháng...
Phở...ăn sáng..cuối tháng...trả tiền...
Cơm...dọn ra...nhâm nha với vợ
Phở...ngoài chợ...ăn với ...bạn bè

Cơm ...muối mè...vừa khô...vừa mặn
Phở...muôn mặt...gân, nạm, tái, vè....


Lý do đàn ông thích "phở"
Nếu xét về "thành phần cấu tạo" thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ... gạo tẻ.
Phở có thịt có hành thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn... hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và.... no lâu hơn.

Dân gian gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì hai "món" này đều có giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào.
Nhưng rõ ràng phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc "phở" xấu hoặc già hơn "cơm".

Một số lý do hài hước sau góp phần lý giải việc đàn ông thích phở nhưng vẫn không bỏ được cơm:

Ðàn ông thèm "phở" vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt, thì phải có tiền, có xe, trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.

Ðàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà, trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc.

No thì rất khó ăn thêm cơm. Còn phở, no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô.
Ăn phở xong có thể đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.

"Phở" không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào.
Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.

"Phở" có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với... bà nấu cơm.

Lúc ăn phở, có thể dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng.
Còn cơm, có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi".

Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể ăn tái, chín, nạm, gân.. tùy thực khách quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định.

Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, khách có thể ăn... nợ. Còn nếu không đưa tiền lương, "cơm" sẽ dừng ngay

Bỏ tiệm "phở" này, có thể dễ dàng tìm tiệm khác. Còn bỏ "cơm" thì phức tạp vô cùng.

Một lý do nữa là "phở" nhiều Nước, còn "Cơm" thì Khô queo. HaHaHa..!!!

Post Reply