Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

VC Sẽ Sụp Vì Tư Bản Gia Tộc,
Kinh Tế Tư Doanh VN Vẫn Do Đảng Viên Nắm


SAIGON (VB) -- Mạng lưới quyền lực của nhà nước CSVN đã cấu kết chặt với mạng lưới tài sản, và bàn tay cứng rắn của CSVN có thể sẽ biến các tiến bộ kinh tế tại VN vào một thảm họa xã hội.
Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (www.foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.

Nhà phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dâu là Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu, chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.
Image
Nguyễn Thanh Phượng

Image
Nguyễn Bảo Hoàng
Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.
Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuôc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.

Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.
Image
Truong Gia Binh
Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là ngưòi duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gái cuả tướng Võ Nguyên Giáp.
Image
Trương Ngọc Anh - 1981. Con gái Chủ tịch FPT Trương Gia Bình.
Cháu ngọai Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đang sống và làm việc ở
Mỹ. Sỡ hữu khoảng 3000 cổ phiếu FPT
.

Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đaị Học Harvard. Đầu thập niên 1990s, khi Ngân Hàng thế Giới muốn kích động nền kinh tế tư doanh ở VN, mới cấp học bổng cho tuổi trẻ, trong đó có Hoa. Khi về VN, Hoa sử dụng kiến thức để lập công ty có tên là Galaxy Communications, bây giờ sở hữu một hãng PR (tiếp thị quảng cáo), chủ hầu hết các hệ thông tiệm ăn kiểu Tây Phương tại VN, một rạp hát lớn ở Sài Gòn, và cả một hãng sản xuất phim ảnh.
Image
Đinh Thị Hoa

Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh thành công. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoại Giao.

Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của World Bank -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.

Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).

Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khoảng khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để đưa kinh tế đen này trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?

Giới lãnh đaọ đảng CSVN có thể đứng kình với các công dân mới giàu đó hay không, và để đòi hỏi họ phải trao lại một phần tài sản xuyên qua đánh thuế để sẽ tạo phúc lợi cho những người nghèo ở các tỉnh xa hay không? Vụ kết án các nhà dân chủ tuần này có phảỉ là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát? Nếu thế, đồng tiền mới của VN có thể sụp đổ ngay dưới sức nặng của nó.

*****
Vietnam's New Money

An influx of wealth and privilege is shaking up this socialist country.
But, as pro-democracy activists are jailed and the network of power tightens, the Communist Party's strong hand may be turning economic progress into a social disaster.
BY BILL HAYTON | JANUARY 21, 2010


Bling and Repression in Vietnam

On Nov. 16, 2008, two of Vietnam's new entrepreneurs were married in the Caravelle, Ho Chi Minh City's first luxury hotel, once home to journalists covering the "American War." The groom was 36-year-old Nguyen Bao Hoang, managing general partner of an investment firm, IDG Ventures Vietnam, and his bride was 27-year-old Nguyen Thanh Phuong, chairperson of another investment firm, VietCapital. Between them, their two companies controlled around $150 million of investments in Vietnam.
But the wedding wasn't just another story about new money in Vietnam. Nguyen Thanh Phuong isn't just an investment banker -- she's the daughter of the prime minister, Nguyen Tan Dung. The man she was marrying is an American citizen, the child of parents who fled Vietnam in 1975 to escape the communists -- now returned to wed the daughter of one of them.

Their union encapsulates many elements of the new Vietnam where, despite an influx of new wealth, the Communist Party still dominates both the public and private sectors. Many "private" businesses are either former state-owned enterprises (SOEs) or still have some state ownership, and most are still run by party members. Most of the controllers of the commanding heights of the private sector are party appointees, their family, or their friends. The Communist Party elite are turning Vietnamese capitalism into a family business. And if this week's conviction of four pro-democracy activists on subversion charges is any sign, the consolidation of party power is a very frightening development for Vietnam's future.

There are many examples of the family relationship between money and power in today's Vietnam: One of Vietnam's richest men, Truong Gia Binh, is chairman of the country's biggest indigenous IT firm, FPT. He's also the only man in Vietnam routinely referred to with the prefix "former son-in-law" because he was once married to the daughter of Vo Nguyen Giap -- war hero, retired army commander, and former deputy prime minister. During the 1990s, if a business needed contacts in the army's extensive array of companies, or in construction or communications, Giap was the man to see.

Another example is Dinh Thi Hoa, Vietnam's first Harvard University MBA graduate. In the early 1990s, when the World Bank wanted to stimulate private-sector development in Vietnam, it awarded many scholarships to young people, including Hoa. On her return, Hoa used her newfound knowledge to found a company called Galaxy that now owns a PR agency, most of the good Western-style restaurant chains in the country, a big cinema in Ho Chi Minh City, and a film production company. In many ways it's a model of private-sector success. But Galaxy didn't just spring up out of nowhere. It's one of the many firms created by the children of the party elite. When the World Bank chose Hoa for the scholarship, her father was deputy foreign minister.

The story of Vietnam's economic liberalization has been, to quote Ho Chi Minh on national unity, "success, success, great success." In 1993, according to government figures, almost 60 percent of the population lived below the poverty line. By 2004 that figure was down to 20 percent. The country has met most of its Millennium Development Goals, development targets set by the United Nations, escaping the ranks of the poorest countries to join the group of "middle-income states." People's living standards are soaring, their horizons are widening, and their ambitions are growing.

But the state's control over Vietnam's expansion is troublesome. The marriage between party and private interest is distorting the economy toward the wants of the few rather than the needs of the many. And networks of crony socialism are becoming a threat to Vietnam's future stability. Vietnam risks the fate of many of the World Bank's previous poster children -- boom followed by bust.

The biggest state corporations are setting up unaccountable funding channels to finance projects with minimal economic logic. By June 2008, 28 SOEs had spent around $1.5 billion establishing or buying controlling stakes in fund management companies, stock brokerages, commercial banks, and insurance firms. Three-quarters of Vietnam's finance companies are now owned by the biggest SOEs (those known as general corporations) . Many also have bought securities companies dealing in shares. Add all this together, and several of Vietnam's biggest general corporations have the potential to become self-financing black boxes with opaque funding arrangements.

Although the days of the soft loan from a state bank are largely past, there are plenty of other ways to channel money to SOEs. The state's Vietnam Development Bank (subsidized by aid from foreign governments) and its Social Insurance Fund (expected to become the biggest investor in the country by 2015) seem to act as unaccountable slush funds for the benefit of the state sector. Clearly SOEs have a significant, if not necessarily bright, future ahead.

The Vietnamese Communist leadership wants to run the country along the lines of Gaullism in France -- where the commanding heights of the public and private sectors are coordinated by an elite trained in such institutions as the École Nationale d'Administration. Under "Vietnamese Gaullism," a behind-the-scenes elite (the party) is supposed to set the overall direction of policy and then delegate its implementation to the state (which is controlled by the party). The government then draws up the laws and uses whatever resources are available to it -- the state bureaucracy, SOEs, the private sector, foreign investors, international donors, etc. -- to see the policy executed. Behind the scenes, the party monitors, corrals, and presses the various actors to make sure that its policy is followed. That, at least, is what the party would like to have happen. The reality is usually something quite different.

With easy money around, it's not hard to bribe patrons, officials, and regulators to turn a blind eye to breaches of the law. The party members in charge of the SOE tail end up wagging the party policy dog. But this isn't the whole story. What is remarkable about Vietnam is the way, at moments of crisis, the Communist Party can discipline its errant members and bring the economy back under central control. But how much longer can it do so?

Until recently, Vietnam had shared the benefits of growth more equitably than any of its neighbors. The party's socialist orientation still meant something. But in the future, redistribution will mean taking wealth away from the party's biggest supporters. Does the party leadership have the ability to stand up to its newly rich citizens and demand they hand over part of their wealth through taxation to benefit poorer people in faraway provinces? Do the convictions this week signal that the corrupt networks of party, power, and privilege have already gotten out of control? If so, Vietnam's new money could collapse under its own weight.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh ! Vào ngày cưới của tôi, tôi đã ôm vợ trên đôi tay của mình. Xe đưa dâu dừng tại trước tổ uyên ương của chúng tôi. Đám bạn thân của tôi nhất quyết bắt tôi phải đưa nàng ra khỏi xe trên đôi tay của mình.

Do vậy, tôi đã bế nàng vào nhà. Lúc đó, nàng là một cô dâu tròn trĩnh và e thẹn, còn tôi là một chú rể rất sung sức và tràn trề hạnh phúc.

Nhưng đó là cảnh của mười năm trước. Những chuỗi ngày sau đó cũng giản dị như một cốc nước tinh khiết: chúng tôi có con, tôi bước vào thương trường và cố gắng kiếm thật nhiều tiền. Khi của cải trong gia đình chúng tôi mỗi lúc một nhiều hơn cũng là lúc tình cảm giữa hai chúng tôi suy giảm dần.

Vợ tôi là một công chức nhà nước. Mỗi sáng chúng tôi cùng ra khỏi nhà với nhau và hầu như về nhà cùng một lúc.. Con chúng tôi thì học tại một trường nội trú. Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi nhìn bề ngoài hạnh phúc đến nỗi nhiều người phải ganh tị. Nhưng thật ra cuộc sống yên ấm đó gần như bị xáo trộn bởi những đổi thay không ngờ...

Dew đã bước vào cuộc đời tôi.

Đó là một ngày đầy nắng. Tôi đứng trước một ban công rộng lớn. Dew ôm vòng sau lưng tôi. Con tim tôi, một lần nữa, lại đắm chìm trong dòng suối yêu đương cùng nàng.. Đây là căn hộ tôi mua cho cô ấy.

Dew nói: “Anh là mẫu đàn ông có sức cuốn hút với đàn bà nhiều nhất”. Câu nói của Dew đột nhiên nhắc tôi nhớ đến vợ mình. Hồi chúng tôi mới cưới, nàng nói: " Đàn ông như anh, khi thành đạt sẽ rất quyến rũ với phụ nữ". Nghĩ đến lời nói đó của vợ mình, tôi thoáng do dự. Tôi hiểu mình đang phản bội lại nàng. Nhưng tôi đã không thể cưỡng lại chính mình.

Kéo tay Dew sang một bên, tôi nói: “Em đi mua mấy món đồ nội thất nhé? Anh có vài việc phải làm ở công ty”. Hiển nhiên là nàng thất vọng rồi bởi vì tôi đã hứa sẽ cùng đi với nàng. Ngay lúc ấy, ý nghĩ phải ly hôn xuất hiện trong tâm trí tôi mặc dù trước đây ly hôn là một điều tưởng chừng không thể.

Nhưng tôi nhận ra khó mà mở lời với vợ về chuyện này. Cho dù tôi có đề cập nó một cách nhẹ nhàng đến đâu chăng nữa, cô ấy chắc chắn sẽ bị tổn thương sâu sắc.

Công bằng mà nói, cô ấy là một người vợ tốt. Tối nào, cô ấy cũng bận rộn chuẩn bị bữa ăn tối, trong khi tôi ngồi phía trước màn ảnh TV. Bữa ăn tối thường xong sớm. Sau đó, chúng tôi cùng xem TV. Không thì, tôi lại thơ thẩn bên máy tính, mường tượng thân thể của Dew. Đó là cách tôi thư giãn.

Một ngày nọ, tôi nửa đùa nửa thật nói với vợ tôi, “Giả dụ chúng ta phải ly hôn, em sẽ làm gì?”. Cô ấy nhìn chằm chặp tôi phải đến vài giây mà không nói lời nào. Hiển nhiên cô ấy tin rằng ly hôn là một cái gì rất xa vời với cô ấy. Tôi không hình dung được vợ tôi sẽ phản ứng thế nào một khi biết rằng tôi đang nói nghiêm túc về chuyện đó.

Lúc vợ tôi bước vào phòng làm việc của tôi ở công ty thì Dew cũng vừa bước ra.. Hầu như tất cả nhân viên ở văn phòng tôi đều nhìn vợ tôi với ánh mắt ra chiều thông cảm và cố giấu giếm chút gì đó khi nói chuyện với nàng. Vợ tôi dường như có nghe phong phanh vài lời bóng gió. Cô ấy chỉ mỉm cười dịu dàng với đám nhân viên, nhưng tôi đọc được nỗi đau trong đôi mắt ấy.

Một lần nữa, Dew lại nói với tôi: "Ninh, anh ly dị cô ấy đi? Rồi chúng mình sẽ cùng chung sống với nhau”. Tôi gật đầu. Tôi biết mình không thể chần chừ thêm được nữa.

Khi vợ tôi dọn ra bàn chiếc dĩa cuối cùng, tôi nắm lấy tay cô áy. “Anh có điều này muốn nói với em”, tôi nói... Cô ấy ngồi xuống, lặng lẽ ăn.

Tôi lại nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt nàng. Đột nhiên, tôi không biết phải mở miệng như thế nào. Nhưng tôi phải nói cho cô ấy biết những gì tôi đang suy nghĩ thôi. “Anh muốn ly hôn”. Cuối cùng thì tôi cũng đặt vấn đề hết sức nặng nề này một cách thật nhẹ nhàng.

Cô ấy tỏ ra không khó chịu lắm với lời tôi nói mà chỉ hỏi nhỏ “Tại sao?”. “Anh nói thật đấy”, tôi tránh trả lời câu hỏi của cô ấy. Cái gọi là câu trả lời của tôi đã khiến cô ta giận dữ. Cô ấy ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi “Anh không phải là đàn ông!”.

Đêm đó, chúng tôi không nói chuyện với nhau. Cô ấy khóc lóc. Tôi hiểu cô ấy muốn biết chuyện gì đã xảy ra với cuộc hôn nhân của chúng tôi.. Nhưng tôi khó đưa ra được câu trả lời thỏa đáng bởi vì trái tim tôi đã nghiêng về Dew.

Trong tâm trạng tội lỗi tột cùng, tôi thảo đơn ly hôn ghi rõ cô ấy sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi và 30% cổ phần trong công ty tôi. Nhìn lướt qua tờ đơn, cô ấy xé nó ra từng mảnh.. Tôi cảm thấy tim mình đau nhói. Người phụ nữ chung sống với tôi suốt mười năm nay bỗng trở nên xa lạ chỉ trong một ngày. Nhưng, tôi không thể rút lại những lời đã nói.

Cuối cùng, điều tôi mong đợi đã đến.. Cô ấy òa khóc trước mặt tôi.. Tiếng khóc của cô ấy thực sự là liều thuốc an thần cho tôi. Ý định ly hôn dằn vặt tôi suốt nhiều tuần qua giờ đây dường như càng trở nên rõ rệt và mạnh mẽ.

Trời khuya, tôi về nhà sau tiệc chiêu đãi khách hàng.. Tôi nhìn thấy vợ tôi đang cắm cúi viết tại bàn làm việc. Tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Nửa đêm, tỉnh giấc, tôi thấy cô ấy vẫn ngồi viết. Tôi trở mình và ngủ tiếp.

Vợ tôi đưa ra điều kiện ly hôn: Cô ấy không cần bất cứ thứ gì của tôi, nhưng tôi phải cho cô ấy thời gian một tháng trước khi chính thức ly hôn; và trong thời gian một tháng đó, chúng tôi phải sống với nhau một cuộc sống bình thường. Lý do chỉ đơn giản vì: tháng sau con trai của chúng tôi sẽ kết thúc kỳ nghỉ hè và cô ấy không muốn nó phải chứng kiến cuộc hôn nhân của chúng tôi đổ vỡ.

Cô ấy đưa cho tôi thư thỏa thuận cô ấy soạn sẵn và hỏi: “Anh còn nhớ em đã vào phòng cô dâu trong ngày cưới như thế nào không?”. Câu hỏi này chợt làm sống tại trong tôi tất cả những kỷ niệm tuyệt vời ngày ấy. Tôi gật đầu và nói: “Anh còn nhớ”.

“Lúc đó, anh đã bế em trên đôi tay của anh”, cô ấy tiếp tục, “do vậy, em có một yêu cầu là anh phải bế em ra vào ngày chúng ta ly hôn. Từ giờ đến hết tháng này, anh phải bế em từ giường ngủ đến cửa nhà mình vào mỗi sáng”. Tôi mỉm cười đồng ý. Tôi biết cô ấy đang nhớ lại những chuỗi ngày ngọt ngào hạnh phúc và muốn cuộc hôn nhân của mình kết thúc lãng mạn.

Tôi kể cho Dew nghe về điều kiện ly hôn của vợ mình. Cô ấy cười to và cho rằng đó là một yêu cầu ngu xuẩn. “Cho dù cô ta có đưa ra mánh khóe gì chăng nữa, thì vẫn phải đối mặt với kết cục ly hôn mà thôi”, cô ấy nói một cách khinh bỉ. Lời nói đó của Dew ít nhiều khiến tôi cảm thấy khó chịu.

Vợ tôi và tôi đã không đụng chạm gì về thể xác kể từ khi tôi có ý định ly hôn. Chúng tôi đối xử với nhau như hai người xa lạ. Vì vậy ngày đầu tiên tôi bế cô ấy, cả hai chúng tôi tỏ ra khá lóng ngóng, vụng về. Đứa con trai vỗ tay theo sau chúng tôi: “Cha đang ôm mẹ trên tay”. Lời nói của con trẻ làm tim tôi đau nhói. Từ phòng ngủ đến phòng khách, sau đó mới đến cửa ra vào, tôi đã đi bộ trên mười mét với cô ấy trên tay. Cô ấy nhắm mắt và nói nhẹ nhàng, "Chúng ta sẽ bắt đầu từ hôm nay đừng nói gì cho con hay”. Tôi gật đầu và cảm thấy chút gì đổ vỡ. Tôi đặt cô ấy xuống ở cửa ra vào. Cô ấy đứng đó chờ xe buýt, còn tôi lái xe đến công ty.

Vào ngày thứ hai, chúng tôi “diễn” dễ dàng hơn. Cô ấy dựa vào ngực tôi. Chúng tôi quá gần nhau đến nỗi tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của nàng. Tôi nhận ra rằng đã lâu lắm rồi tôi không nhìn kỹ người phụ nữ thân yêu của mình. Tôi nhận ra vợ tôi không còn trẻ nữa. Đã xuất hiện một vài nếp nhăn trên gương mặt của nàng.

Ngày thứ ba, cô ấy thì thầm vào tai tôi: "Vườn ngoài kia đang bị xói mòn đấy. Anh cẩn thận khi đi qua đó nghe". Ngày thứ tư khi tôi nâng cô ấy lên, tôi có cảm giác chúng tôi vẫn còn là một đôi uyên ương khăng khít và tôi đang ôm người yêu trong vòng tay âu yếm của mình. Những tơ tưởng về Dew trở nên mờ nhạt dần.

Đến ngày thứ năm và thứ sáu, cô ấy tiếp tục dặn dò tôi vài thứ, nào là cô ấy để chiếc áo sơ mi vừa ủi ở đâu, nào là tôi phải cẩn thận hơn trong lúc nấu nướng. Tôi đã gật đầu. Cảm giác thân thiết, gần gũi lại trở nên mạnh mẽ nhiều hơn.

Nhưng tôi không nói với Dew về điều này.. Tôi cảm thấy bế cô ấy dễ dàng hơn. Có lẽ mỗi ngày đều luyện tập như vậy đã làm tôi mạnh mẽ hơn. Tôi nói với cô ấy: “Có vẻ bế em không còn khó nữa”.

Vợ tôi đang chọn váy đi làm. Tôi thì đứng đợi để bế cô ấy. Cô ấy loay hoay một lúc nhưng vẫn không tìm ra chiếc váy nào vừa vặn cả. Rồi, cô ấy thở dài, “Mấy cái váy của em đều bị rộng ra cả rồi”. Tôi mỉm cười. Nhưng đột nhiên tôi hiểu rằng thì ra cô ấy đã ốm đi nên tôi mới bế cô ấy dễ dàng, chứ không phải vì tôi mạnh khỏe hơn trước. Tôi biết vợ mình đã chôn giấu tất cả niềm cay đắng trong tim. Tôi lại cảm thấy đau đớn. Theo phản xạ tự nhiên, tôi đưa tay chạm vào đầu cô ấy.

Đúng lúc đó, thằng con chúng tôi chạy đến "Cha à, đến giờ bế mẹ ra rồi" - nó nói. Đối với nó, hình như nhìn thấy cha bế mẹ ra đã là một phần tất yếu trong cuộc sống của nó rồi. Vợ tôi ra hiệu cho nó lại gần và ôm nó thật chặt. Tôi quay mặt đi vì sợ rằng mình sẽ thay đổi quyết định vào phút chót.

Tôi ôm cô ấy trong vòng tay, bước từ phòng ngủ qua phòng khách, qua hành lang. Tay cô ấy vòng qua cổ tôi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm cô ấy thật chặt, tưởng tượng như chúng tôi đang trở về ngày tân hôn. Nhưng tôi thật sự buồn vì vợ tôi đã gầy hơn xưa rất nhiều.

Vào ngày cuối cùng, tôi thấy khó có thể cất bước khi ôm cô ấy trong vòng tay. Con trai chúng tôi đã lên trường. Vợ tôi bảo: “Thực ra, em mong anh sẽ ôm em trong tay đến khi nào chúng ta già".. Tôi ôm cô ấy thật chặt và nói: "Cả em và anh đã không nhận ra rằng cuộc sống của chúng mình từ lâu đã thiếu vắng quá nhiều những thân mật, gần gũi".

Tôi phóng ra khỏi xe thật nhanh mà không cần khóa cả cửa xe. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào của mình sẽ khiến tôi đổi ý. Tôi bước lên tàu. Dew ra mở cửa. Tôi nói với cô ấy: “Xin lỗi, Dew, anh không thể ly hôn. Anh nói thật đấy”.

Cô ấy kinh ngạc nhìn tôi. Sau đó, Dew sờ trán tôi. “Anh không bị sốt chứ”, cô ấy hỏi. Tôi gỡ tay cô ấy ra. “Dew, anh xin lỗi”, tôi nói. “Anh chỉ có thể xin lỗi em. Anh sẽ không ly dị. Cuộc sống hôn nhân của anh có lẽ tẻ nhạt vì cô ấy và anh không nhận ra giá trị của những điều bé nhỏ trong cuộc sống lứa đôi, chứ không phải bởi vì anh và cô ấy không còn yêu nhau nữa. Bây giờ, anh hiểu rằng bởi anh đưa cô ấy về nhà, bởi cô ấy đã sinh cho anh một đứa con, nên anh phải giữ cô ấy đến suốt đời. Vì vậy anh phải nói xin lỗi với em”.

Dew như choàng tỉnh. Cô ta cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và khóc nức nở. Tôi xuống cầu thang và lái xe đến thẳng công ty. Khi đi ngang tiệm hoa bên đường, tôi đặt một lẵng hoa mà vợ tôi yêu thích. Cô bán hàng hỏi tôi muốn viết lời chúc gì vào tấm thiệp. Tôi mỉm cười và viết “Anh sẽ bế em ra, vào mỗi sáng cho đến khi chúng ta già”.

Vô Danh

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Thái Độ Đối Diện Cuộc Đời

Như Nguyện

Có người phụ nữ mời một người thợ sơn về sơn mấy bức tường nhà cô ta để chuẩn bị đón xuân, người thợ vừa bước vào cổng nhìn thấy chồng của cô ta bị mù cả hai mắt, lập tức tỏ vẻ thương hại.

Nhưng người bị mù mắt đó luôn luôn vui vẻ lạc quan yên đời, nên người thợ sơn làm việc ở đó mấy ngày và họ chuyện trò rất ăn ý với nhau, người thợ sơn cũng không nói gì về những điều đáng tiếc của người mù đó.

Khi công việc kết thúc, người thợ sơn đưa ra tờ hóa đơn tính tiền, người phụ nữ phát hiện giá tiền phải trả so với mức thỏa thuận ban đầu ít hơn rất nhiều, cô vội vàng hỏi người thợ: “Vì sao ông tính bớt đi quá nhiều như vậy?”

Người thợ nói: “Mấy ngày nay tôi sống chung với chồng cô trong lòng tôi cảm thấy rất vui, thái độ sống của anh ta đối với cuộc đời khiến cho tôi cảm thấy tình cảnh và cuộc đời của tôi chưa đến nỗi quá tệ, cho nên tôi bớt đi một phần xem như tôi bày tỏ một chút tình, cảm ơn đối với anh ấy, bởi vì anh ta làm cho tôi không xem công việc của tôi là quá khổ!”

Người thợ sơn thán phục chồng người phụ nữ, làm cho cô ta cảm động rơi nước mắt, vì người thợ sơn rộng lượng đó cũng chỉ có một cánh tay.

Thái độ cũng như nam châm, bất luận là tư tưởng của chúng ta ở mặt chánh hay mặt phụ, chúng ta đều bị nó dắt dẫn, bị nó làm ảnh hưởng.

Mà tư tưởng thì giống như bánh xe, làm cho chúng ta có một phương hướng nhất định mà tiến đến.

Tuy nhiên, chúng ta không thể thay đổi được nhân sinh nhưng chúng ta có thể thay đổi nhân sinh quan của chúng ta; chúng ta tuy không thay đổi được hoàn cảnh nhưng chúng ta thay đổi được tâm cảnh.

Chúng ta không thể điều chỉnh hoàn cảnh một cách hoàn mỹ để phù hợp với cuộc sống của chúng ta, nhưng chúng ta có thể điều chỉnh thái độ sống để phù hợp với tất cả mọi hoàn cảnh xung quanh ta.

Thật ra, để cuộc đời đáp ứng mọi nhu cầu của bạn và làm cho bạn vừa lòng, quả thật không thể có, bởi con người chúng ta không biết dừng lại bao giờ, được cái này thì cầu cái khác và luôn cảm thấy thiếu thốn.

Vì thế, giàu càng muốn giàu thêm, có rồi lại muốn có nữa, nếu không đạt được như mong muốn thì than vãn oán trời trách người cho là trời thần bất công...

Cùng một sự việc không may nào đó xảy ra, nhưng nếu người có cái nhìn lạc quan sẽ đối diện sự thật và vui vẻ nhận lãnh, vì họ biết điều chỉnh bản thân họ cho phù hợp với những gì cuộc sống mang đến, họ có thái độ nhìn sự vật nhìn cuộc đời một cách lạc quan.

Còn ngược lại, nếu là người luôn bắt cuộc đời phục vụ cho họ thì khi sự việc không may xảy đến người đó sẽ đau khổ tuyệt vọng thậm chí tự vận vì họ không biết điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp với những gì của cuộc sống và cũng không biết chấp nhận sự thật, đồng thời họ cũng không có cái nhìn lạc quan với cuộc đời.

Xét đến cùng, cuộc sống của bạn tuyệt nhiên không phải hoàn toàn do những sự việc phát sanh của cuộc sống quyết định, mà là do thái độ của chính bạn đối với cuộc sống cùng với tâm linh và thái độ nhìn sự việc của bạn để quyết định.

Nhân dịp xuân về, thành tâm kính chúc quý độc giả “Năm mới an khang thịnh vuợng, vạn sự cát tường như ý!”.

Như Nguyện

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

“...Các anh có hãnh diện không?”

Huy Phương
Trong bài “Ðêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” tuần trước trên Nhật Báo Người Việt, ký giả Ðông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, rằng “con gái Việt Nam đẹp lắm.” Khốn nạn thay câu nói này cũng đã phát ra từ cửa miệng một ông chủ tịch nước, Nguyễn Minh Triết trước đây. Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Câu hỏi này đáng cho chúng ta chảy nước mắt. Lẽ cố nhiên câu trả lời là trăm nghìn lần không! Nhưng có một bọn người hãnh diện với câu rao mời trên, đó là những cái mặt mo như Nguyễn Minh Triết. Mặt mo vì không biết đến nỗi đau xót của thân phận đàn bà, là chị, là em, là đồng bào ruột thịt của chúng ta, vì vô phúc, phải sống dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, “đem thân cho thiên hạ mua cười” từ xứ sở này đến quốc gia khác. Chúng tôi đánh giá nhân cách của một “con đĩ” hơn các ông chính khách của đảng Cộng Sản nhiều, vì họ còn biết liêm sỉ, còn biết thế nào là tủi nhục cho mình và cho đất nước hơn các ông.

Chuyện khổ đau của phụ nữ Việt Nam và cũng là điều ô nhục của cả dân tộc từ lâu nay đã được các cơ quan truyền thông hải ngoại kể cả trong nước thông tin đầy đủ, tuy vậy nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước vẫn ngủ yên ù lì như những con gấu Mùa Ðông, không hề biết đến xót xa, khổ đau của đồng loại. Nói ra thì cũng chuyện thường tình, mà không nói ra, phải nuốt điều uất nghẹn vào lòng cũng là điều không chịu được.

Chỉ trong năm 2000, có khoảng nửa triệu phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán qua Trung Hoa, Macao, Ðại Hàn, Cao Miên, Thái Lan và nhiều nước khác. Năm 2003 phụ nữ Việt Nam bị đăng bán đấu giá trên Ebay Taiwan Website với giá bắt đầu là $5,400. Riêng trong năm 2005, theo bản tin của cơ quan UNICEF và Bộ Tư Pháp Việt Nam cho biết có 400,000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán ra ngoại quốc (10% của tổng số nạn nhân khắp thế giới). Cũng trong năm này, nhiều thiếu nữ Việt Nam bị đem ra trưng bày như món hàng sale, ngồi trong những tủ kính để khách qua lại lựa chọn ở Trade Fair ở Singapore.

Chỉ tính riêng con số phụ nữ Việt lấy chồng Ðài Loan là bao nhiêu? Theo thống kê chính thức Hà Nội, tính đến cuối năm 2003, có hơn 65,000 phụ nữ Việt Nam được cấp giấp phép (!)nhập cảnh vào Ðài Loan để “làm dâu...”, nhưng theo đại diện của chính phủ Ðài Loan ở Sàigòn trong thời gian đó, thì “Hiện nay có khoảng 77,000 cô dâu Việt Nam tại Ðài Loan. Dự tính trong khoảng hai năm nữa con số cô dâu Việt Nam tại Ðài Loan sẽ lên tới khoảng 100,000 người”. Chỉ riêng tại Cần Thơ mỗi năm có khoảng 2,500 phụ nữ lấy chồng Ðài Loan, đó là con số thống kê từ năm 2000 đến 2004, được chính Hội Phụ Nữ Cần Thơ nêu ra. Con số ấy tính đến năm 2010 là bao nhiêu?

Ðàn ông ngoại quốc có thể bỏ tiền mua phụ nữ Việt Nam đem về nước làm người giúp việc không công kiêm nô lệ tình dục, hay cả hai. Tại các cơ sở môi giới, đàn bà đôi khi cầm bảng số đi trình diễn, hay cởi trần truồng cho người mua chọn lựa. Trên danh nghĩa là đi lấy chồng ngoại nhưng khi cô dâu đã theo chồng ra ngoại quốc, họ đã trở thành nô lệ bị giam giữ, không có quyền đi lại vì không có giấy tờ tùy thân, họ cũng có thể làm vợ cho cả gia đình hay bị mua đi bán lại như một món hàng để tiếp tục sa chân vào những ổ mãi dâm. Ðau đớn hơn là số trẻ em Việt Nam hiện nay đang ở trong các động điếm tại Phnom Penh, Kampuchea trong 15 ngàn gái mãi dâm, 52% là thiếu nữ và trẻ em Việt Nam.

Theo nguồn tin địa phương Prague, Tiệp Khắc được hãng thông tấn Việt Nam thuật lại chỉ trong vòng thời gian 15 tháng, các tổ chức mãi dâm đã đưa khoảng 50 cô gái Việt vào nước này. Các cô gái này phải trả từ $5,000 để được đưa lậu từ việt Nam sang với các hứa hẹn là giúp họ tìm được việc làm tại Ðông Âu. Họ có biết trước là sẽ bị đưa vào hang động của các tổ chức mãi dâm hay không, hay dù biết trước, thì đó cũng là lối thoát tốt đẹp nhất mà họ đã chọn.

Cảnh tượng hàng trăm cô gái xếp hàng cho bọn đàn ông Ðại Hàn, Ðài Loan đến xem mắt, lựa chọn đã là chuyện thường tình ở Saigon, đâu có gì mới lạ, không gây khó chịu hay làm ai động lòng xúc cảm. Cả một hệ thống làm tiền trên thân xác còm cõi của những cô gái đáng thương này, từ ma cô, công an, cảnh sát, nhân viên phường khóm cho đến các tổ chức làm giấy tờ xuất cảnh, khám bệnh, chích ngừa... Ðây là một dịch vụ béo bở lâu nay được thả nổi, không được chính phủ kiểm soát hoặc được địa phương làm ngơ để chia chác, thủ lợi, nên Việt Nam loan báo, lần đầu tiên sẽ thành lập một công ty “tư vấn hôn nhân quốc tế” tại Saigon nhằm “bảo vệ quyền lợi của phụ nữ”, nghĩa là nhà nước sẽ điều hành chính thức việc bán phụ nữ ra nước ngoài ở đợ hay làm đĩ.

Tại Việt Nam, nạn mãi dâm bị coi là bất hợp pháp nhưng trên thực tế, tình trạng gái chơi, gái gọi dưới nhiều hình thức, công khai hay giấu kín đã lan tràn, phổ biến. Từ các thành phố lớn cho đến những vùng nông thôn, rừng núi, bãi biển xa xôi ở đâu cũng có nạn mãi dâm. Cuối năm 2002, chính phủ Việt Nam nói là Việt Nam có 14 ngàn gái mại dâm, nhưng con số do giới truyền thông ước tính lại là 37 ngàn người. Con số này, chính quyền lấy ở đâu, phải chăng là trên những con số do địa phương báo cáo lấy lệ hay con số đã đưa vào trại “phục hồi nhân phẩm”? Trong đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc, đâu là không có đĩ điếm, đâu là không có các dịch vụ “ôm”. Phụ nữ Việt Nam hẳn là món hàng rẻ nhất thế giới? Con gái Việt Nam đẹp lắm! Nhưng con gái Việt Nam cũng rẻ lắm -“Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Con gái Việt Nam quả tình là đẹp, chẳng đẹp sao dám đem phô bày dưới nhãn hiệu “Duyên Dáng Việt Nam” đi trình diễn khắp nơi, không đẹp sao dám tổ chức hoa hậu toàn cầu, hoa hậu quốc gia, hoa hậu Biển, hoa hậu Núi mà người bỏ cả vài nghìn đô la để mua vé vào xem? Con gái Việt Nam đẹp lắm, không đẹp sao đàn ông tứ xứ đểu đổ xô đến Việt Nam để mua dâm hay đem về làm vợ?

Sao số phận đàn bà con gái Việt Nam lại ra nông nỗi này? Tại sao đến nay lại có hiện tượng cả một phong trào con gái Việt Nam coi rẻ nhân phẩm mình, đổ xô chạy theo đồng tiền, ra đi lấy chồng xứ lạ hay tự nguyện bán thân ngay ở trong nước. Ca sĩ, người mẫu, hoa hậu, sinh viên đại học đều có thể là gái bao, gái gọi. Vì sao trước khi Cộng Sản vào miền Nam con gái lấy Mỹ, lấy Phi, lấy Tây... đều bị xã hội lên án và coi rẻ. Còn bây giờ con gái lấy Ðài Loan, Ðại Hàn đều hãnh diện, tự hào. Người ta nêu ra những nguyên nhân kinh tế: gia đình khó khăn (78.94%), thất nghiệp (65.5%), cần tiền để giải quyết những nhu cầu trước mắt (62.56%), và do tâm lý hãnh diện được lấy chồng ngoại quốc (47.1%).

Tôi mạn phép xin nhắc lại, lời một đứa bé Việt Nam ăn xin ca cẩm, mà tôi đã viết trên trang này: “Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5,000 đồng, con cầu nguyện Bà cho con gái ngoại lấy được chồng Ðài Loan! Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5,000 đồng, con...”

Chỉ có một xã hội nền đạo đức suy đồi mới xẩy ra những thảm họa như thế.

- “Con gái Việt Nam đẹp lắm! Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Qua cuộc đời bất hạnh, khốn nạn của những người con gái Việt Nam sinh lầm trong chế độ, phải bán thân đi mười phương, câu hỏi này đáng ném vào mặt bọn lãnh tụ hôm nay. Câu hỏi khiến cho những người còn chút liêm sỉ phải đau lòng, nhưng bọn chúng thì không?

Tôi xin lập lại: “Chúng tôi đánh giá nhân cách của một ‘con đĩ’ hơn các ông chính khách của đảng Cộng Sản nhiều, vì họ còn biết liêm sỉ, còn biết thế nào là tủi nhục cho mình và cho đất nước hơn các ông”.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

ĐỂ SỬ DỤNG HAY ĐỂ YÊU THƯƠNG.

Trong khi 1 người đàn ông đang đánh bóng chiếc xe của ông ta, thì đứa con trai lớn 4 tuổi của ông ta nhặt lên 1 viên sỏi và vẽ nhiều đường lằn lên phía bên kia cạnh chiếc xe của ông ta.
Trong lúc giận dữ, người đàn ông đó đã nắm lấy bàn tay của đứa con và đánh mạnh nhiều mà không nhận rằng ông ta đang dùng 1 cái cờ lê vặn vít để đánh

Kết quả là trong bệnh viện, đứa con trai của ông ta đã mất đi hết các ngón tay của mình do quá nhiều chỗ gãy.
Khi đứa con trai nhìn thấy đôi mắt bố mình biểu lộ sự đau đớn, đứa bé bèn hỏi: “Bố ơi ! Khi nào các ngón tay của con mới có thể mọc trở lại ?”
Người bố cảm thấy rất đau đớn và không nói được lời nào; ông ta trở lại chiếc xe của mình và đá nó thật nhiều.

Trong khi đang bị lương tâm dằn vặt và đang ngồi đối diện phía hông của chiếc xe đó, ông ta chợt nhìn thấy những vết xước do chính đứa con trai của ông ta đã vẽ rằng: “ Bố ơi ! Con yêu Bố nhiều lắm !”

Và 1 ngày sau đó, người đàn ông đó đã quyết định tự sát….

Cơn giận và Tình yêu không bao giờ có giới hạn; nên xin hãy chọn Tình Yêu để có được 1 cuộc sống tươi đẹp và đáng yêu, và xin hãy nhớ điều này:
Đồ vật thì để sử dùng, còn con người thì để yêu thương.

Vấn đề của thế giới ngày nay thì ngược lại: con người thì để sử dụng, còn đồ vật thì để yêu thương.
Hãy luôn cố nhớ những ý nghĩa này nha:

Hãy cẩn thận với những ý nghĩ của bạn, vì bạn sẽ nói chúng.
Hãy cẩn thận với những lời nói của bạn, vì bạn sẽ thực hiện chúng.
Hãy cẩn thận với những hành động của bạn, vì chúng sẽ là thói quen của bạn.
Hãy cẩn thận với những thói quen của bạn, vì chúng sẽ là cá tính của bạn.
Hãy cẩn thận với những cá tính của bạn, vì chúng sẽ quyết định số mệnh của bạn.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Thái Độ Đối Diện Cuộc Đời

Như Nguyện

Có người phụ nữ mời một người thợ sơn về sơn mấy bức tường nhà cô ta để chuẩn bị đón xuân, người thợ vừa bước vào cổng nhìn thấy chồng của cô ta bị mù cả hai mắt, lập tức tỏ vẻ thương hại.

Nhưng người bị mù mắt đó luôn luôn vui vẻ lạc quan yên đời, nên người thợ sơn làm việc ở đó mấy ngày và họ chuyện trò rất ăn ý với nhau, người thợ sơn cũng không nói gì về những điều đáng tiếc của người mù đó.

Khi công việc kết thúc, người thợ sơn đưa ra tờ hóa đơn tính tiền, người phụ nữ phát hiện giá tiền phải trả so với mức thỏa thuận ban đầu ít hơn rất nhiều, cô vội vàng hỏi người thợ: “Vì sao ông tính bớt đi quá nhiều như vậy?”

Người thợ nói: “Mấy ngày nay tôi sống chung với chồng cô trong lòng tôi cảm thấy rất vui, thái độ sống của anh ta đối với cuộc đời khiến cho tôi cảm thấy tình cảnh và cuộc đời của tôi chưa đến nỗi quá tệ, cho nên tôi bớt đi một phần xem như tôi bày tỏ một chút tình, cảm ơn đối với anh ấy, bởi vì anh ta làm cho tôi không xem công việc của tôi là quá khổ!”

Người thợ sơn thán phục chồng người phụ nữ, làm cho cô ta cảm động rơi nước mắt, vì người thợ sơn rộng lượng đó cũng chỉ có một cánh tay.

Thái độ cũng như nam châm, bất luận là tư tưởng của chúng ta ở mặt chánh hay mặt phụ, chúng ta đều bị nó dắt dẫn, bị nó làm ảnh hưởng.

Mà tư tưởng thì giống như bánh xe, làm cho chúng ta có một phương hướng nhất định mà tiến đến.

Tuy nhiên, chúng ta không thể thay đổi được nhân sinh nhưng chúng ta có thể thay đổi nhân sinh quan của chúng ta; chúng ta tuy không thay đổi được hoàn cảnh nhưng chúng ta thay đổi được tâm cảnh.

Chúng ta không thể điều chỉnh hoàn cảnh một cách hoàn mỹ để phù hợp với cuộc sống của chúng ta, nhưng chúng ta có thể điều chỉnh thái độ sống để phù hợp với tất cả mọi hoàn cảnh xung quanh ta.

Thật ra, để cuộc đời đáp ứng mọi nhu cầu của bạn và làm cho bạn vừa lòng, quả thật không thể có, bởi con người chúng ta không biết dừng lại bao giờ, được cái này thì cầu cái khác và luôn cảm thấy thiếu thốn.

Vì thế, giàu càng muốn giàu thêm, có rồi lại muốn có nữa, nếu không đạt được như mong muốn thì than vãn oán trời trách người cho là trời thần bất công...

Cùng một sự việc không may nào đó xảy ra, nhưng nếu người có cái nhìn lạc quan sẽ đối diện sự thật và vui vẻ nhận lãnh, vì họ biết điều chỉnh bản thân họ cho phù hợp với những gì cuộc sống mang đến, họ có thái độ nhìn sự vật nhìn cuộc đời một cách lạc quan.

Còn ngược lại, nếu là người luôn bắt cuộc đời phục vụ cho họ thì khi sự việc không may xảy đến người đó sẽ đau khổ tuyệt vọng thậm chí tự vận vì họ không biết điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp với những gì của cuộc sống và cũng không biết chấp nhận sự thật, đồng thời họ cũng không có cái nhìn lạc quan với cuộc đời.

Xét đến cùng, cuộc sống của bạn tuyệt nhiên không phải hoàn toàn do những sự việc phát sanh của cuộc sống quyết định, mà là do thái độ của chính bạn đối với cuộc sống cùng với tâm linh và thái độ nhìn sự việc của bạn để quyết định.

Nhân dịp xuân về, thành tâm kính chúc quý độc giả “Năm mới an khang thịnh vuợng, vạn sự cát tường như ý!”.

Như Nguyện

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Đến Lúc:

Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.

Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.

Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc...

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình yên.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một quán tính khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân mình.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cần thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất diệt bên trong..

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.

Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì lòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai..

Thich Thong Nha

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


Nguyên nhân tục đốt vàng mã
Phàm ở đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, dưới đây sẽ biện bạch rõ cái nguyên nhân của tục đốt vàng mã.

Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng: Tục chôn người chết của nước Tầu về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khanh phần mộ chi cả. Đến đời vua Hoàng đế (2679 trước Tây lịch) cho rằng:
Con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất.
Trải qua đời Hoàng đế đến đời Đường Ngu, cái lệ tục chôn cất người chết chỉ có thế thôi.
Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 trước Tây lịch), người Tầu mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo .. để đem theo người chết.
Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quý khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy.
Rồi đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất phải có người hầu hạ người chết, người ta mới lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo với người chết.
Đến đời nhà Ân (1765 trước Tây lịch), lại không dùng mâm bát đồ đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa. Thay vào cái đồ tế khí, dùng toàn đồ thật chôn theo.

Đời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), người Tàu đã bắt đầu văn minh; Cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, giữa người chết với người chết đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc lễ nghi chôn cất.
Số là từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật thật theo lệ nhà Ân để đem theo các vua chúa đã chết, còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc một thứ đồ giả thôi.
Nếu người hèn hạ nào mà dùng nghi lễ ngang với người sang tức khắc phải tội "Tiếm lễ.”
Không những thế mà thôi, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những “Tuẫn Táng,” nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết

. Việc này chúng ta được thấy sự thật đã chép ở sách “Tả Truyện” rằng:
"Đời vua Văn Công thứ 6, vua Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ-xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công, vì Mục Công khi còn sống, yêu quý nhất ba anh em họ Tứ-xa. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ-xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai.
Trong thơ đại ý nói: ‘Ba anh em họ Tứ-xa đều là người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi!

Sao nỡ đem chôn sống để đi theo với người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay.
’ Về sau người ta cũng biết đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ ‘Sô-linh,’ sau vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ ‘Mộc ngẫu’ như trước
. Sách Trang Tử chép rằng: Vua Mục vương nhà Chu (1001 trước Tây lịch) có người tên là Yến-sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết.
Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền nổi lòng phẫn uất mà thống mạ rằng: ‘Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân
.’ Thầy Mạnh Tử cũng ác cảm với tục hình nhân thế mệnh mà nguyền một câu độc rằng: ‘Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự.’ ”

Đến đời nhà Hán, giới tri thức Nho học cảm động với nhời tuyệt cự thống thiết của ngài Khổng, Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ “Tuẫn Táng,” không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đã chết ra để ấp mộ.
Còn các thức đồ ăn, mặc, hành dùng của người chết kia, khi còn sống dùng những thức gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vẻ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ nữa.

Đến đây chúng ta sẽ lại tìm thấy nguyên nhân của tục đốt vàng mã giấy. Đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy vỏ cây dó và rẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy,
Vì đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo .. đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách “Thông giám cương mục" có chép:
Vì vua Huyền tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hạng Thuỷ tổ nghề vàng mã được.”

Đức Phật Thích Ca Ngài không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên.
Tại sao ngày rằm tháng bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo mà thấy một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên? Chính nghĩa ngày rằm tháng bảy của Phật giáo là thế này:
“Ngài Mục Kiền Liên là bực đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đã tu chứng được 6 phép thần thông, mắt trông thấy thân mẫu Ngài là Bà Thanh Đề phải đày đoạ ở địa ngục, mà Ngài không sao cứu được mới cầu cứu đến Đức Phật.
Đức Phật dạy rằng: ‘Dầu ông thần thông đến đâu chăng nữa, cũng không có thể cứu được tội nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư Tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được.
Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây, nó sẽ là ngày của chư Phật hoan hỷ, ngày của chư Tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư Tăng. Các Ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát.’ ”
Chính ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém.
Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên về ngày rằm tháng bảy đâu?
Tại sao lại có tục lệ mê tín di đoan ấy? Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng bảy là thế này:
“Triều vua Đạt tôn nhà Đường (762) nhằm lúc Phật giáo cực thịnh ở Tầu, vị sư tên là: Đạo-Tăng muốn cho dân chúng Tầu vì ngày rằm tháng bảy mà bồng bột theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của nhân dân Tầu vào tâu với vua Đạt tôn rằng:
Rằm tháng bảy là ngày vua Diêm vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo tăng liền hạ chiếu cho thiên hạ, thế là nhân dân nước Tàu lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày 15/7 để kính biếu gia tiên.
Nhưng chẳng bao lâu lại bị chư tăng công kích bài trừ về việc đốt vàng mã vào ngày trọng lễ của Phật giáo làm cho cái lệ ngày 15/7 không còn có chính nghĩa nữa.”

Phần lớn dân chúng Tầu hồi đó, hầu tỉnh ngộ cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề nghiệp vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người Vương Luân dòng dõi của Vương Dũ là đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.
Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã trong bọn họ.
Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống.

Đương khi mọi người họ mạc, xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với một lũ người tất tưởi đem trăm nghìn thứ đồ mà đến có cả hình nhân thế mệnh nữa.
Đem đến để làm gì? Bầy đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ. Chả! Chả! Phép quỷ thần màu nhiệm quá nhỉ! Thiêng liêng quá nhỉ! Khi mọi người đương suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên.
Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài, liền mở nắp quan tài ra. Chàng giả cách chết kia cũng lò dò ngồi dậy, giả vờ lù dù, trông trước, trông sau, mới bước từ ra khỏi quan tài!

Vàng mã ở kinh sách nào? Nếu các ngài tìm thấy, bần tăng này xin cam tâm vào địa ngục để chịu lấy tội vong hữu.
Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giáo truyền dạy, một lần nữa bần tăng thiết tha yêu cầu các ngài bỏ tục đốt vàng mã đi, lại sẽ khuyến hoá mọi người bỏ tục đốt vàng mã đi, vì tục đốt vàng mã là bọn Vương Dũ và Vương Luân đầu độc dân Tàu làm cho dân Việt Nam chúng ta cũng bị hại lây.
Nay chúng ta cùng nhau bài trừ mê tín tục đốt vàng mã, quyết nhiên giữa dân tộc Việt Nam này để dành cho chúng ta viên thành một công nghiệp kiến quốc vậy.

Trần Văn Giang (Rag Chu)Stầm

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Một Góc Bolsa
Phổ Lập
Nhắc đến tên gọi Bolsa, hầu hết người Việt hải ngoại đều đã nghe qua, thăm viếng, thậm chí sống theo từng "hơi thở" của Bolsa. Bolsa muôn màu, muôn vẽ. Bolsa, thủ đô tỵ nạn. Bolsa, gió tanh mưa máu. Bolsa làm biết bao nhiêu người trăn trở. Khách phương xa, nhất là người VIệt ở những tiểu bang xa xôi hay ở ngoại quốc (đối với Hoa Kỳ) đều có cái háo hức muốn một lần thăm viếng Bolsa.

Bolsa có đủ những sinh hoạt của người Việt; nơi đây là một trung tâm truyền thông, báo chí, truyền hình đông đảo nhất nước Mỹ. Mọi sinh hoạt từ thông tin, văn hóa, văn nghệ, chính trị, ra mắt sách, hội luận chính trị v.v…đều đổ dồn về đây. Bolsa quy tụ tất cả hỉ, nộ, ái, ố…của con người.
Tóm lại, có thể nói Bolsa là một xã hội Việt Nam thu hẹp ở ngoài đất nước. Tác giả Chu Tất Tiến đã từng viết "Bolsa có gì lạ không em", nói lên nhiều khía cạnh của cuộc sống, những dằn co, cọ sát giữa con người với nhau từ vợ chồng, con cái, đến bè bạn, thậm chí đến các bậc trường thượng, chức sắc tôn giáo cũng không tránh được những tiếng bấc tiếng chì…

Nhưng có một khía cạnh của Bolsa dường như không được người dân Bolsa lưu ý đến. Đó là người già, những người bất hạnh, hoặc tàn tật, hay vì một lý do nào khác… sống âm thầm trong hàng chục nursing home rãi rác chung quanh Bolsa. Đây là một thế giới đơn độc chen lẫn với cái hỗn độn của Bolsa.

Họ là ai?

Họ là những người già, không còn khả năng tự chăm sóc lấy mình, nhưng vì sống cô đơn, không thân nhân hoặc con cháu vì một lý do gì đó(?) không thể chăm sóc tại gia.

Họ là những người mất hết khả năng để làm một người bình thường do cuộc chiến Việt Nam, dù tuổi họ chưa già.

Họ là những người bị tàn phế vì bịnh nan y hay tai nạn xe cộ.
Nói cho cùng, dù dưới hoàn cảnh nào, họ đã và đang sống trong một xã hội khép kín, hầu như không còn biết đến thế giới bên ngoài, một Bolsa năng động.

Họ đã sống với cái "routine" ngày ba bữa ăn, mỗi sáng có y tá đến hỏi thăm, lấy nhiệt độ, cho uống thuốc. Thỉnh thoảng được ra phòng khách, phòng ăn, hay được đẩy ra sân cỏ… cho thoáng khí…

Những người còn có con cháu thì thỉnh thoảng được con cháu vào thăm trong giây lát, đút cho ăn một vài miếng cơm hay trái cây…Người viết đã từng chứng kiến một hoạt cảnh là một bà cụ khoảng 80 tuổi, ngồi xe lăn đang ngồi ở phòng khách lớn của một nhà dưỡng lão. Một thiếu phụ trạc độ 50 mang trái cây đã cắt sẳn vào cho mẹ (người viết biết được điều nầy là vì nghe tiếng gọi của thiếu phụ gọi bà cụ là mẹ). Thiếu phụ dường như có điều gì cần phải làm sau đó cho nên có vẻ hối hả trong việc cho bà cụ ăn, hối thúc bà cụ nhai cho mau…Người viết chứng kiến một cách đau lòng là nhiều lần bà cụ vì cố nuốt cho mau nên bị sặt và ói ra ngoài. Thế là một màn cằn nhằn xảy ra, thiếu phụ vội lau miệng bà cụ, và dọn dẹp đồ đạc. Sau đó cho bà cụ uống nước và vội vã chia tay mẹ..

Đây là một hoạt cảnh ở Bolsa, chúng ta cùng suy gẩm. Tình mẫu tử của một người con sống ở một xứ văn minh nhất thế giới như thế nầy sao?
Nhưng mục đích của bài viết nhân ngày Tết Con Cọp không nằm trong những hình ảnh tiêu cực của một số người Việt trong cộng đồng, người viết muốn nói đến một khía cạnh tích cực hơn, để chúng ta còn nhìn thấy, cảm được những hình ảnh đẹp còn vương vấn trong lòng người Việt xa xứ.
Đó là những nhóm, toán, cá nhân, hay tập thể bền bĩ và âm thầm đi thăm viếng các viện dưỡng lão vào dịp cuối tuần hay trong ngày làm việc.

Họ là ai?

Nói chung, họ là những người còn có tấm lòng nghĩ đến tha nhân. Họ có thể là một em học sinh, sinh viên, một người nội trợ, một anh thợ may, một người đang còn hoạt động, hay một người đã hưu trí. Tất cả họ gặp nhau ở cùng một điểm chung là xoa dịu nỗi đau của người bất hạnh. Họ không có tên của nhóm, của đoàn. Họ không đăng báo quảng cáo. Và họ cũng không cần lời giới thiệu tên tuổi mỗi khi đi viếng nơi nào. Họ âm thầm làm việc, hẹn hò nhau để tụ họp lại, cũng như chia phiên ra để đi thăm nhiều nhà dưỡng lão hơn.

Họ làm gì?

Việc làm của họ thật là giản dị, đem tấm lòng thành trang trãi qua lời ca tiếng hát, mặc dù họ không là ca sĩ hay nhạc sĩ. Nếu chúng ta có dịp đến thăm một nhà dưỡng lão vào ngày nầy, chúng ta sẽ thấy những cặp mắt tuy không còn rạng rỡ, đôi khi còn "nhìn mông lung", nhưng hầu như mọi người đều vui mừng cùng tham gia lời ca tiếng hát chung. Có đến đây thăm, rồi mới thấy được niềm vui của những người sống ở nhà dưỡng lão, mới thấy được giây phút "đợi chờ" của họ đối với những thiện nguyện viên vô danh. Có đến đây thăm mới thấy được không khí sống động, xóa tan sự im lặng và buồn tẽ của nhà dưỡng lão hàng ngày.

Một lời ca cũ, một khúc nhạc xưa làm cho họ gợi nhớ lại nhiều kỷ niệm cách xa từ thuở nào. Người viết đã từng chứng kiến một cụ ông 70 tuổi, chỉ lớn hơn một thiện nguyện viên 2 tuổi. Ông cụ nầy bị stroke, ngồi xe lăn, chỉ nói được một vài tiếng và từng là Sỉ quan quân đội VNCH. Khi anh thiện nguyện viên cầm bài hát Quyết tiến đứng bên cạnh cụ, thấy vẽ mặt cụ hân hoan và cùng hát theo tiếng nhạc với tiếng còn tiếng mất. Trong hoàn cảnh nấy, ai cũng thấy được nét hân hoan của cụ, một thoáng chốc sống lại với dỉ vãng oai hùng của mình khi xưa. Chính những giây phút ngắn ngũi ấy, mới cảm nhận được nhu cầu của những người bất hạnh phải sống trong viện dưỡng lão.

Những bài hát xa xưa, mặc dù được hát do những ca sĩ bất đắc dĩ nhưng cũng đem lại sự an ủi cho họ, cộng thêm những lời hỏi thăm sức khỏe, những lời trấn an mà họ đã thiếu vắng vì đơn chiếc hay vì con cháu "chậm" đến thăm..

Tất cả nói lên một tấm lòng giữa người và người mà họ đã không có được tùy theo hoàn cảnh.
Còn những người nằm bất động không còn khả năng ra ngoài hội trường để tham gia những buổi "ca nhạc" thì sao?
Thưa Quý bạn. Họ không bị lãng quên đâu. Còn có những Bà tiên, Ông hiền đến tận giường an ủi.

Một câu chuyện thương tâm xin được kể ra nơi đây có thể xem như là một phép lạ. Một anh lính VNCH, tuổi khoảng 50 ngoài, nằm bất động ở một nhà dưỡng lão do một tai nạn xe hơi.
Anh không có thân nhân, và đang ở trạng thái gần như coma từ nhiều tháng qua. Một thiện nguyện viên cũng tình cờ đến thăm, nói chuyện, trấn an anh, nhưng vẫn không được anh có cử chỉ nào báo hiệu cho biết là đã nghe. Vào một ngày khác, người thiện nguyện viên nầy đến thăm nữa. cũng nói bao nhiêu lời; nhưng lần nầy thấy mắt anh lính VNCH chớp chớp. Điều nầy làm chính cô y tá của viện cũng ngạc nhiên vì cô ta, người chăm sóc anh, chưa thấy bao giờ. Sau đó, anh lính, qua cách làm dấu thánh giá một cách vụng về và cặp mắt bắt đầu hé mở, chứng tỏ anh hiểu những gì người thiện nguyện viên nói. Mọi người vui mừng ra về.

Nhiều ngày sau đó, cô thiện nguyện viên lại đến thăm và được cô y tá cho biết là anh lính VNCH có vẻ mong chờ. Hôm nay, cô mang chiếc thánh giá, do một người bạn công giáo cho, đến biếu anh lính. Và phép lạ đã xảy ra khi tay anh cầm chiếc thánh giá: anh đã mở mắt lớn hơn và nói được hai tiếng cám ơn, tiếng nói, theo lời cô y tá, đã im bặt từ ngày anh được mang vào viện dưỡng lão. Anh còn cố gắng ra dấu để cho cô thiên nguyện viên biết là anh cần một quyển thánh kinh. Dĩ nhiên là ước nguyện của anh đã được chiếu cố. Và từ khi có quyển thanh kinh đặt trên ngực, khí sắc anh lính VNCH tươi hơn, và gương mặt không còn "đứng im" như trước nữa, mặc dù anh vẫn còn nằm bất động. Ở một lần khác, một thiện viên gốc Hải quân vào thăm anh. Khi anh lính Hải quân chào anh theo kiểu nhà binh, không biết anh có thấy được hay không, nhưng khi nghe tiếng hai chiếc đế giầy chạm vào nhau, anh lính VNCH khẽ nhết môi và viềng mắt anh chớp chớp. Thật cảm động!

Qua câu chuyện vừa kề trên, chúng ta thấy rằng tình tha nhân có thể biến đổi một phần nào tình trạng sống của con người. Chúng tôi không thể nói chắc chắn đây là một phép lạ, nhưng với một niềm tin vào sức mạnh tâm linh nào đó, có thể khơi dậy được tâm thức người bịnh và làm cho họ nhận thức được sự hiện hữu của họ.

Việc làm âm thầm của những thiện nguyện viên đáng được ghi công vào một góc Bolsa để từ đó mỗi người trong chúng ta tự chiêm nghiệm rằng mình đã "đóng góp" gì cho "đời" chưa, chứ chưa nói gì đến tổ quốc.
Bolsa có nhiều tệ trạng. Bolsa có nhiều hình ảnh đẹp. Bolsa cần nhiều bàn tay âm thầm có thể xoa dịu hay khỏa lấp được phần nào nỗi đau của đồng hương bất hạnh nơi đây. Bolsa cần sự tiếp tay của nhiều, nhiều hơn nữa thiện nguyện viên.

Xin hãy ghé thăm một lần bất cứ viện dưỡng lão nào, chúng ta cũng sẽ thấy biết bao khuôn mặt Việt Nam đau khổ, nằm bất động hay ngồi trên xe lăn, biết đâu trong số đó có bạn bè hay thân nhân của chính mình!. Một cử chỉ thân ái bằng vạn lời nói đầu môi chót lưỡi. Một nắm tay xiết nhẹ có thể làm cho họ quên đi nỗi buồn vì con cái không đến thăm viếng. Một lời ca cũng có thể làm sống lại một thời xa xưa.

Họ, những người bất hạnh trong các viện dưỡng lão đang cần chúng ta.
Mọi sự bất hạnh nào cũng cần được giúp đở. Quê nhà bị bão lụt, một đứa trẻ di tật, một ngôi làng thiếu mái trường…tất cả điều cần được giúp đở của chúng ta. Và thữ nghĩ, những chuyện thương tâm trên cần sự giúp đở của chúng ta trước hay là do trách nhiệm của những người quản lý đất nước. Tình thương cần phải đặt đúng vi trí , như vậy mới có đầy đủ ý nghĩa. Nhưng thiết nghĩ, bên cạnh chúng ta đây cũng còn có nhiều người bất hạnh chỉ cần một ít thì giờ cũng có thể xoa dịu được phần nào niềm u uẩn nơi họ.
Ưu tiên nào chúng ta phải làm?

Xin dành câu trả lời cho mỗi chúng ta và người viết hy vọng mỗi người trong chúng ta sẽ tự viết lên "New Year Resolution" cho năm Con Cọp nầy.

Phổ Lập
Kỷ niệm Năm Canh Dần-2010

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

HẠNH PHÚC LÀ GÌ ?

khuyết danh


Hạnh phúc phải chăng là những nụ cười, niềm vui không tắt? Hạnh phúc có phải là một sự đánh đổi hay nằm trong tay một ai đó mà mỗi phán quyết là định nghiệp của đời con? Hạnh phúc thật ra là gì?

Con một lần nhìn lại đời mình, tự hỏi mình có hay không hạnh phúc? Và để nước mắt rơi thương mình bất hạnh. Và để nói rằng hạnh phúc thật mong manh. Phải chăng con đã tìm thấy hạnh phúc, bằng xương thịt hoá thân là những người con thương yêu, mà nay thay đổi khiến con không còn nhận ra bóng hình của hạnh phúc? Nếu đó là hạnh phúc đích thực, thì dù mang tướng nào bản chất vẫn không hề thay đổi. Có nghĩa là vĩnh viễn mang lại niềm vui trọn vẹn cho con. Nếu hạnh phúc ấy, còn có thể không là hạnh phúc, người hay cảnh hạnh phúc ấy chưa thuộc về con, thì chưa là chân hạnh phúc. Nói cách khác, hạnh phúc đến từ bên ngoài, dù thọ lượng bao nhiêu cũng có ngày không còn tướng đến. Vì có đến tất có đi, có tướng là có hoại. Hạnh phúc nào từ chính mình phát ra nuôi dưỡng mình, làm ánh sáng cho mình, hoàn toàn thuộc về mình, không có ngày bị một hoàn cảnh nào một con người nào mang đi, là hạnh phúc vĩnh viễn vượt thời gian.



Vậy thì, hạnh phúc có phải là sự ích kỷ, thương yêu chính cái tôi của con? Không đâu con, chính sự chia hai này, Tôi và ý thức về tôi, làm mất đi hạnh phúc. Tôi, Ngã của con được chia hai, mang hai bộ mặt và bộ mặt này được che dấu hay không đem đến sự thoả mãn cho bộ mặt kia, thay thế cho Hạnh phúc đến từ người khác. Nhưng đâu chỉ là dối gạt chồng lên dối gạt, tự tâm mình chứng kiến từng giờ sự vô vị của thứ hạnh phúc bình an giả tạm này. Hạnh phúc là một trạng thái, cho nên không thể chỉ dùng lý trí mà đến được trong hạnh phúc. Một trạng thái thì tùy duyên mà có sắc thái.

Nếu hạnh phúc không là Tôi chia chẽ, không là người hay hoàn cảnh nào thì Hạnh phúc ở đâu? Trước hết, tạm tìm xem trạng thái hạnh phúc có thể mang tướng biểu lộ nào. Ðó là trạng thái vui vẻ, tràn đầy và không bao giờ mất hay gián đoạn. Như vậy, hạnh phúc phải mang một tướng tuyệt đối nào đó rồi. Và chính vì lý trí không là hiện thân của hạnh phúc, nên trạng thái biết mình hạnh phúc trong hạnh phúc là tỉnh thức trong hạnh phúc. Hay Tỉnh thức (của Chân Hạnh phúc).

Sự tỉnh thức trong một niềm vui bất tận hay an lạc, không hề bị bất cứ điều gì chi phối, niềm vui hoàn toàn thuộc về mình, dù chính con không hề có ý thức sở hữu chính là thấy pháp thân của mỗi người và sống trong hạnh phúc, chính là sống với pháp thân mình. Sống với pháp thân là sống với Phật tánh. Bất cứ một người nào còn đau khổ, đều muốn đến với hạnh phúc, dù mình họ chưa rõ chân dung, muốn hạnh phúc là muốn đến với pháp thân của mình và trong vô tận thời gian, có tướng đi tất có tướng đến, mỗi người sẽ đến với Phật tánh của mình.

Sau bao nhiêu cuộc bôn ba giữa những đỉnh non hay vực thẳm của tâm mình, con hãy tìm bóng mát bình yên của hạnh phúc chân như là Pháp thân bất diệt, bằng con đường bao hành giả đã đi qua, sau khi đã trên khổ đau và hạnh phúc như con bây giờ. Hãy đi đến đích. Hạnh phúc bất tận (hiện hữu từ kiếp sống chết này sang kiếp sống chết khác), phải chăng là pháp thân Như Lai bất diệt đó ư?

Vậy thì Phật quốc chẳng ở đâu xa, con đã đến với cả một thế giới hạnh phúc, bình yên. Làm sao để sống được với Pháp thân? Thường hạ tâm mình, thường kính trọng người. Hành trì một thời gian con sẽ ly dần tánh chúng sanh, là nguyên nhân của mọi đau khổ. Khi ấy, ánh sáng của pháp thân sẽ từng bước theo nhịp tâm mà soi đường hạnh phúc. Con sẽ là nguồn sáng chan hoà cùng muôn ánh sáng của hằng hà sa số Phật tâm mang chân hạnh phúc lan tỏa từ tâm mình xoa dịu bao nỗi đau trần thế.

Con hãy tin và tìm hạnh phúc bằng mọi nỗ lực của con

Post Reply