Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Image

Nỗi buồn đàn ông
(Chuyện phụ nữ và trẻ em không nên đọc)

- Trên bàn nhậu, các ông thường bàn về chuyện gì?

Đây là một câu hỏi mà tôi tin rằng 99% quý bà haycó chồng đi nhậu thường thắc mắc...

Khi tửu nhập thì ngôn xuất từ chuyện cơ quan, bạn bè, chuyện vợ nhà (với đủ thứ thói xấu như tiền đong, gạo phát; ghen tuông trật chỗ - chỗ đáng ghen thì không ghen, lại ghen chỗ khác)... Và, sau cùng, một đề tài thường hay nói đến, nhất là ở bàn nhậu của các ông có tuổi trên 50 là nỗi buồn đàn ông.

Nếu quý bà không tin thì xin mời hãy tham dự một bàn nhậu đầu xuân mà thơ ca là phương tiện thanh tao, cao cả để diễn tả một đề tài rất ư là... trần thế và trần trụi. Tất nhiên, quý ông trong bàn nhậu này đều không phải là nhà thơ, nhưng chính họ lại là người thuộc nhiều thơ và đọc thơ rất là diễn cảm.

Một ông có hàng tiền đạo trống vắng, những cái răng còn lại thì run lẩy bẩy nhưng cố trệu trạo nói:

- Mấy ông biết không, về vụ có thể gọi là tóm tắt nhất cái bản chất của đàn ông thì bài thơ này là “nămbờ oan”... Mà bài thơ này do các bậc tiền bối ngày xưa truyền lại, có in vào sách trào phúng dân gian nữa nghe, chứ không phải là thơ sáng tác bây giờ đâu! Nói rồi, ông “thiếu răng” đọc sang sảng. Có lẽ nhờ hàm răng cửa thiếu và yếu, nên có gió đẩy đưa nghe sao mát dạ:

“Ngẫm rằng con tạo ý ra răng
... sao mà mọc trước răng
Lúc nhỏ cần răng thì mọc...
Khi già còn... lại không răng
Già nua hết thú, chèo queo..
Lọm khọm cần nhai rụng quách răng
Ngán ngẩm cho răng, buồn với...
Nghĩ rằng con tạo ý ra răng...”.


Cả bàn nhậu vỗ tay. Một tay gầy nhom như bộ xương trong bảo tàng viện châm biếm:

- Ông “thiếu răng” đọc bài này đầy tâm trạng. Bài thơ này diễn tả ông thiếu... cả hai thứ... Ha... ha...

Ông Thiếu Răng hơi ức bèn khiêu khích:

- Bạch cốt linh tinh đại gia có thể cho tiểu đệ nghe bài thơ nào hay hay được chăng?

Ông gầy “Bạch cốt linh tinh” hắng giọng:

- Chuyện nhỏ. Nghe nè... Hồi

“Sáng nay ngồi nấu nồi chè
Nhớ lại chuyện cũ nó đè trong tim
Ngồi buồn ngó xuống con..
Xưa sao hùng dũng, nay im thế này
Lắc đi lắc lại mỏi tay
Mà sao nó vẫn ngây ngây khờ khờ
Bây giờ dù có ai rờ
Mà sao nó vẫn khờ khờ ngây ngây...


Một ông mập, lùn, với một cái mũi to và trán hói nên gương mặt hơi giống Trư Bát Giới - bạn hữu gọi ông ta là lão Trư - chen vào:

- Ốm nhom, ốm nhách như con cò ma, khờ khờ là phải rồi. Tớ đây, mập khỏe mà cũng có bài thơ diễn tả đúng tâm trạng và hoàn cảnh nha:

“Bây giờ sống cũng như không
Thôi rồi cái kiếp làm chồng làm cha
Bây giờ có sống đến già
Cho dù béo tốt cũng là công toi
Bây giờ pháo đã tịt ngòi
Gia tài còn lại một vòi nước trong
Suốt ngày nó chảy long tong
Đến khi hữu sự nó cong cái vòi...


Bạch cốt linh tinh lên tiếng:

- Ủa, đây là bài thơ nói về con heo bị thiến mà?

Ông Thiếu Răng huýt gió:

- Thì thằng lão Trư nói về nó mà! Chẳng thà ốm như mày mà “lắc đi lắc lại” là vì không có sức khỏe, còn nó mập, béo như thế mà khóc ròng thì chỉ có nước là bị thiến mà thôi...

“Thiến heo đây... thiến heo đây...”.

Quay qua người bạn ngồi cạnh bên đang im lìm như người đau bệnh trĩ (vì ông ta hay ngồi cà niễng một bên ghế), ông Thiếu Răng mời mọc:

- Sao rồi, Thằng Hề đại nhân đã rặn ra bài nào chưa? Bản mặt buồn như cải úng, Thằng Hề đại nhân lên tiếng:

- Có rồi. Bài này tôi mới được nghe giới giang hồ truyền tụng như là bài khẩu quyết của bọn đàn ông còn trẻ (í... ẹ) chúng ta. Hãy nghe đây mà ngậm ngùi:

“Ngày xưa sung sức thì nghèo
Bây giờ rủng rỉnh thì teo mất rồi/
Bây giờ sức khỏe tuyệt vời
Nhưng mà nó có đàn hồi nữa đâu
Ngày xưa sức khỏe như trâu
Bây giờ “công cụ” nát nhàu như dưa
Ngày xưa chẳng kể sớm trưa
Bây giờ loáng thoáng lưa thưa buồn lòng
Ngày xưa như sắt như đồng
Như đinh đóng cột như rồng phun mưa
Bây giờ như cải muối dưa
Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu
Trải qua một cuộc bể dâu
Cái thời oanh liệt còn đâu nữa mà...!”.


Cả bàn nhậu cùng làm một dàn đồng ca:

- Nay mai về với ông bà
Nấp sau nải chuối ngắm gà khỏa thân...


Rốt cuộc, mỗi khi xuân đến thì chuyện leo lên bàn thờ càng gần, nhưng chỉ buồn một cái khi về với cát bụi, đàn ông chỉ được ngắm gà khỏa thân. Phải chi được ngắm cẳng dài cho đời nó đỡ tủi!

LÊ VĂN

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nhà báo Bill Hayton rung chuông báo động _

Bùi Tín
Một bài báo đầu năm 2010 trên tạp chí Mỹ Foreign Policy được độc giả khắp nơi chú ý, đọc và trích dẫn, nhan đề: "Vietnam New Money"- "Tài sản Mới ở Việt Nam". Người viết là Bill Hayton từng là phóng viên hãng BBC - Anh ở Đông Nam Á và Việt Nam. Ông viết hay, và viết khỏe, phân tích tình hình sâu, có những nhận định độc đáo, khác người.

Ngay từ những năm "ổn định", "huy hoàng" của người hùng Suharto ở Indonesia và của người hùng Marcos ở Philippines, B.Hayton đã chỉ ra kết thúc bi thảm không tránh khỏi của 2 chế độ độc tài phản dân chủ này.

Trong bài báo đầu năm về Việt Nam vừa kể, B.Hayton chỉ ra những đặc điểm về kinh tế tài chính ở Việt Nam những năm gần đây. Nổi bật nhất là sự câu kết giữa những cơ sở quốc doanh hùng mạnh với những cá nhân mang danh "tư nhân", nhưng hầu hết là đảng viên có quyền lực lớn qua con em, người thân của họ.

Theo luật, mọi tư nhân đều có quyền kinh doanh hợp pháp, và pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các kiểu sở hữu: quốc doanh, hợp doanh, tập thể (hợp tác xã) và tư nhân, nhưng trên thực tế không phải vậy.

Các tập đoàn quốc doanh (gần 20 Tổng công ty) và gần 100 công ty quốc doanh do nhà nước, chính phủ của đảng CS sở hữu và quản lý chi phối phần lớn nền kinh tế tài chính của quốc gia. Các ngành ngân hàng, điện, nước, khai khoáng, giao thông, vận tải đường bộ, biển, hàng không, bưu điện, giáo dục, y tế, xuất nhập khẩu, buôn bán lương thực, dịch vụ lớn các loại đều do các Tập đoàn tổng công ty và công ty quốc doanh nắm giữ, gần như độc quyền.

Còn phần của tư nhân? Đây mới là thực chất của vấn đề. Từ khi "đổi mới"chính quyền trong nước đã buộc phải từ bỏ độc quyền kinh tế-kinh doanh trong khi duy trì độc quyền chính trị quản lý đất nước, nhưng ngay trong lĩnh vực kinh tế-tài chính - kinh doanh, mọi người dân thường, mọi công dân, mọi nhà tư nhân đâu đã có thật sự quyền tự do kinh doanh, đâu đã có quyền cạnh tranh bình đẳng ngang nhau.

Từ khi "đổi mới" năm 1986, rồi từ khi vào WTO năm 2006, đúng là khu vực tư nhân phát triển khá, tỷ lệ giá trị ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân, nhưng các doanh gia tư nhân ấy là ai? Họ đã được đảng CS chọn lọc kỹ.

Đó là những "con ông cháu cha" của giới quyền lực cấp cao, là phu nhân, họ hàng thân thiết của các quan chức cao cấp ở trung ương, ở các tỉnh, thành phố, là người nhà, bạn bè, phe cánh của anh Hai, chị Ba, chú Tư, dì Năm, bác Sáu, cụ Mười...trong Bộ chính trị, trong trung ương đảng, theo các kiểu quan hệ thư tay, điện thoại, gửi gắm, nhấm nháy, qua trung gian tin cậy và ám hiệu riêng, chỉ trỏ cho nhau các món làm ăn béo bở nhất, để chia chác, lại quả, hoa hồng...

Nhà báo Bill Hayton cảnh báo nguy cơ đất nước nằm ngay ở đó. Bất công ngày càng nặng, giàu nghèo càng mở rộng toang hoác vô độ là ở đó, tham ô ngày càng rộng tăng cao vô hạn là ở đó, tài sản quốc gia bị xà xẻo vô tội vạ là ở đó, bộ mặt quan chức lấm lem nhơ nhuốc là ở đó, "con cháu các cụ cả " phá nát đạo lý gia phong là ở đó. Đồng tiền, đồng đô la ngự trị, chi phối mọi mối quan hệ trong và ngoài nước là ở đó.

Mô hình đặc trưng nói trên của thời kỳ tư bản đỏ "hậu cộng sản" nhưng vẫn dính chặt với cái đuôi cộng sản là nền chuyên chính vô sản, là để giới cầm quyền lợi dụng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phục vụ riêng cho họ - một tầng lớp cầm quyền mới cực kỳ tham lam và hung bạo - thẳng tay đàn áp mọi thế lực và cá nhân dám vạch mặt, can ngăn hành động phi pháp vô luân của họ.

Cái nền tảng xã hội đang rung rinh và có nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào là tình trạng bất công lan tràn như bão lụt, kẻ bất tài vô luân nắm cả 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, những hiền tài yêu nước khảng khái bị trù dập, nhà kinh doanh tư nhân có tài kinh bang tế thế bị thất thế không sao dựng nghiệp nổi vì thiếu cạnh tranh bình đẳng trong pháp luật với các nhà tư bản đỏ gian manh.

Tạp chí Mỹ Forbes ước tính ở Trung Quốc, tư bản đỏ, còn gọi là "tư bản thân ôhữu", "tư bản bồ bịch","cộng sản phe cánh"- crony capitalism, crony commies - hiện chiếm 0,6 % số dân, tức là 5 triệu trên 1 tỷ 300 triệu dân, vậy mà chiếm đến 70 % tài sản quốc gia. Với tỷ lệ tương đương, ở Việt Nam, tầng lớp tư bản đỏ ước tính là 65 vạn người ngự trị trên sự thiếu thốn, nghèo đói, bệnh tật của trên 84 triệu đồng bào mà họ cai trị, bóc lột và thẳng tay đàn áp.

Nhà báo B. Hayton kết luận chế độ "tư bản đỏ" kiểu Việt Nam như hiện nay không thể đứng vững, nền tảng của nó đang lung lay, không sao tránh khỏi phá sản và lao xuống dốc do cái nền tảng bất công, phi pháp và hại dân của nó.

B. Hayton còn lật tẩy sự câu kết giữa tư bản đỏ Việt Nam với các nhà tư bản Mỹ tham lợi nhuận phi pháp, khi đưa ra dẫn chứng tiêu biểu là cuộc kết hôn tại Sài Gòn tháng 11-2008 của nhà tư bản Nguyễn Bảo Hoàng, Tổng giám đốc hãng IDG - Ventures ở Mỹ, với cô Nguyễn Thanh Phượng, Giám đốc hãng Viet Capital ở trong nước, con gái của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vốn của 2 nhà tư bản xanh+đỏ này gộp lại là 150 triệu đô-la Mỹ.

Bài báo của B. Hayton rất nên được dịch cho các đảng viên CS trong nước đọc nhân đại hội đảng các cấp sắp tới, rất nên đến tay các sỹ quan và binh sỹ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân... Cũng xin mời hơn 60 giáo sư, tiến sỹ Học viện chính trị và hành chính quốc gia Hồ Chí Minh vui lòng lên tiếng phản biện.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Một bài viết hay dành cho những người Việt tại Hoa Kỳ... Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi
đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là
người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.
Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.
Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là
sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.
Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.
Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu. Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi... nghĩ lại.
Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.
Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.
Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là "ấn tượng". Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ! So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói:
Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?
Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.

Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả. Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.
Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặpcha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!
Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình.
Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.
Khi về đổi họ thay tên. Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng. (tmt)

Kim Thu tùy bút

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Giữ tiền thì dễ...Giữ tình....thì ..... Tiền bạc và hạnh phúc là những điều mà gần như trong cuộc sống hiện đại người ta luôn khao khát tìm kiếm
Nhắc chuyện tiền bạc, chợt nhớ câu chuyện không vui của một chị bạn đồng nghiệp. Là vợ một sếp bên ngân hàng, đang có cuộc sống sung túc, niềm mơ ước của nhiều người, vậy mà hôm nọ chị buột miệng than: “Sao lúc này chán quá, vợ chồng như chó với mèo, suốt ngày cãi nhau.

Ngày xưa ở xóm nghèo chật chội mà lúc nào vợ chồng cũng có nhau, giờ ở biệt thự mà cứ mạnh ai nấy sống...”. Một người nghe vậy, thốt lên: “Thôi đi, liệu quay lại cuộc sống tập thể lúc trước, bà có chịu không? Được cái này thì mất cái kia chứ!”.

Vài người đồng tình: “Đúng đó, ổng đã lo làm ăn thì sao ở bên cạnh vợ con hoài được, thời buổi này cứ ở nhà “hai quả tim vàng” thì có mà húp cháo...rùa !”... Ô hay, thế có nghĩa là phần đông vô hình trung thừa nhận một “chân lý”: tiền và hạnh phúc không thể là bạn đồng hành?
Image
Về bến mơ - Ảnh: ĐOÀN HOÀI TRUNG(PNC/TruNuong)
Đúng là con người luôn cần tiền bởi đó là phương tiện chi tiêu và trao đổi hàng hóa rất tiện lợi. Nếu không có tiền, khó hoặc không thể thực hiện hoạt động giao thương trong xã hội. Xuất phát từ những điều này mà nhiều người quan niệm “làm gì cũng phải có tiền”. Nhưng vậy thì phải chăng “có tiền mới có hạnh phúc?”. Muốn trả lời được câu này, có lẽ phải xem lại người ta quan niệm hạnh phúc là gì? Thế nào là hạnh phúc?

Bắt đầu phức tạp hơn rồi đây. Với tiền, ai cũng hiểu đơn giản đó là phương tiện thanh toán nhưng còn với hạnh phúc, nhận thức đúng về nó không hề đơn giản.

Có người lý giải hạnh phúc là được làm những gì mình thích, là được sống bình an, là đầy đủ vật chất - tinh thần, là có mục tiêu để theo đuổi..., song nói chung, được nhiều người đồng tình hơn cả là suy nghĩ: “Hạnh phúc là bằng lòng với những gì mình có”. Quan niệm này cũng gần với định nghĩa trong từ điển rồi: “Hạnh phúc là cuộc sống trạng thái sung sướng do đáp ứng được mọi ý nguyện”.

Thế nhưng ý nguyện đó của con người là gì? Còn nhớ, đạo diễn Điền trước khi về thế giới bên kia từng có ý nguyện giúp đỡ những bệnh nhân ung thư. Ý nguyện đó chỉ có thể thực hiện trọn vẹn nhờ vào số tiền phúng điếu đám tang anh.
Image
Giấc mơ hoa - Ảnh: PHAN THANH MINH(TZ/HT)

Nhớ tới nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á, người vừa có cuộc triển lãm ấn tượng bộ ảnh Họ đã sống như thế, đem đến cho đời những bài học về Chân - Thiện - Mỹ. Anh đã tốn khá nhiều tiền cho bộ ảnh này, đổi lại là hạnh phúc cho chính chủ thể và biết bao trái tim khác nữa.

Con người học tập...lớn là để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân. Và đồng tiền lại là phương tiện để giúp con người trao đổi được những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó. Một khi chúng ta cần quá nhiều thứ cho cuộc sống thì tất yếu nhu cầu kiếm tiền sẽ nảy sinh. Chính lúc này đây, đồng tiền có thể làm cho con người đánh rơi hạnh phúc.
Image
Ngày cưới - Ảnh: ĐOÀN HOÀI TRUNG(TC/BB)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Năm Dần tìm hiểu về Hổ

Ở nhiều nơi trên thế giới người ta tin rằng sau khi hổ chết linh hồn chúng xâm nhập vào lòng đất và biến thành hổ phách.
Trong các câu chuyện thần thoại của Trung Quốc, hổ có thể biến thành người.

Image
Phần lớn hổ có bộ lông màu cam với những sọc đen. Lông ở bụng và má của chúng có màu trắng. Ảnh: savechinastigers.org.
Hổ đực có thể giết chết và thậm chí ăn thịt con của những con đực khác trước khi chiếm "vợ" của chúng.

Thị lực của hổ trong bóng tối gấp 6 lần thị lực người.

Hổ không rên khẽ giống như mèo, nhưng móng vuốt của chúng cũng có thể thu gọn vào bàn chân. Chúng có 5 ngón ở hai chân trước và 4 ngón ở hai chân sau. Hai chân trước khỏe hơn hai chân sau để hổ có thể bắt những con mồi lớn. Hổ trưởng thành có 30 răng.

Đuôi hổ có chiều dài trung bình 1,2 m - tương đương một nửa chiều dài cơ thể. Nó giúp hổ giữ thăng bằng khi chạy và giao tiếp với đồng loại.

Hổ Hoa Nam có ít sọc vằn nhất.

Hai chân ở cùng một bên của hổ di chuyển gần như đồng thời khi chúng bước.

Phần lớn hổ có bộ lông màu cam với những sọc vằn màu đen. Lông ở bụng và má chúng có màu trắng. Hổ có lông trắng không phải là những con mắc bệnh bạch tạng. Giới khoa học tin rằng tất cả hổ trắng là hậu duệ của một con hổ Bengal đực có tên Mohan.

Hổ hoạt động mạnh nhất vào lúc bình minh và hoàng hôn.

Ở nhiều nơi trên thế giới người ta tin rằng khi hổ chết linh hồn chúng xâm nhập vào lòng đất và biến thành hổ phách. Trong các câu chuyện thần thoại của Trung Quốc, hổ có thể biến thành người.

Hổ chỉ là con mồi của một kẻ săn mồi duy nhất: Người. Tuy vậy, mỗi năm có khoảng 50 người chết vì hổ.
Image
Hổ trắng không phải là những con hổ bị bạch tạng như nhiều người vẫn tưởng. Ảnh: mossprojects.co.nz.
Các bộ phận trên cơ thể hổ được dùng làm thuốc đông y trong hơn 1.000 năm qua. Nhưng tới nay người ta chưa tìm ra bất kỳ bằng chứng khoa học nào cho thây những loại thuốc đó thực sự có tác dụng. Thậm chí một số loại thuốc còn có thể gây nguy hiểm cho người bệnh.

Răng, móng, da và các bộ phận khác của hổ cũng được dùng làm bùa, vật trang trí, đồ trang sức để xua đuổi tà ma.

Tại châu Á các trang trại nuôi hổ bất hợp pháp cung cấp các bộ phận của hổ cho các cơ sở chế biến thuốc đông y.

Vào năm 1959 vẫn còn khoảng 4.000 con hổ Hoa Nam tại Trung Quốc trong môi trường tự nhiên. Nhưng cùng năm đó chúng bị liệt vào danh sách những động vật có hại và cần phải tiêu diệt. Phong trào săn bắn hổ Hoa Nam diễn ra khắp nơi trên lãnh thổ Trung Quốc. Hậu quả là từ cuối thập niên 70 tới nay không ai nhìn thấy bất kỳ một cá thể hổ Hoa Nam nào. Giới bảo tồn cho rằng có thể phân loài hổ này đã tuyệt chủng.

Số lượng hổ nuôi nhốt hiện nay lớn hơn số lượng hổ trong môi trường hoang dã.

Với tốc độ biến mất như hiện nay, hổ hoang dã có thể biến mất hoàn toàn trong 5 năm tới.

Minh Long

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

ÐÓA HOA CHO TÌNH YÊU

Huy Phương
Thời niên thiếu, tôi có đọc ở đâu đó một câu chuyện về hoa và ngày lễ Tình Yêu. Trong một lớp học mẫu giáo, nhân ngày lễ Tình Yêu, trong lớp nhiều học sinh đã đem hoa, kẹo và quà cho cô giáo. Riêng một em nhỏ nhà nghèo đã không có tiền mua hoa hay quà, em mặc cảm lủi thủi đứng riêng một mình. Em đã đi quanh sân, trong ý nghĩ non nớt, muốn tìm một món gì đó để tặng cô giáo của em. Mắt em sáng lên khi nhìn thấy trong thùng rác một bó hoa đã héo tàn mà ai đó đã vứt bỏ. Em mừng rỡ nhặt lên, hối hả chạy vào lớp, rụt rè đưa cao bó hoa tàn lên tặng cô giáo. Cả lớp trông thấy bó hoa cùng cười ồ lên trong khi em bé xấu hổ nước mắt ràn rụa. Nhưng cô giáo đã ôm bó hoa cũng như em bé vào lòng, mắt cô cũng ngấn lệ. Khi cả lớp đã im lặng, cô giáo nói với các em học sinh: "Trong đời cô, đây là bó hoa đẹp nhất mà cô đã nhận được."

Thật tình tôi đã quên mất ngày Valentine. Bằng chứng là tối thứ ba ngày 14 tháng 2 năm nay, tôi đã không nhớ đây là một ngày lễ lớn của nước Mỹ, lại dại dột mời một người bạn ở tiểu bang miền đông về đi dùng cơm tối. Từ 6 giờ 30 tối, tôi đã lái xe tới ba nhà hàng nhưng không chỗ nào chen chân lọt, với một dãy dài người đứng đợi ở ngoài trời trong khi thời tiết khá 1ạnh. Cuối cùng thì chúng tôi phải chọn một nhà hàng Tàu để giải quyết bao tử, ở đó khách khứa còn lơ thơ, vì không ai muốn mời bạn bè hay người yêu đi dùng bữa tối ngày Valentine trong một khung cảnh không lấy gì làm ấm cúng và cũng chẳng "romantic" tí nào.

Nhưng chúng ta muốn "lãng mạn" sao được khi đang ngồi ăn dưới ánh đèn cầy, với ly rượu vang trên tay mà tiếp viên nhà hàng qua lại, chỉ muốn tống khứ lượt khách này đi để mở cửa mời lượt khách khác. "Romantic" sao nổi khi bao nhiêu người khách đang đứng lố nhố trước cửa nhà hàng, liếc qua cửa kính để trông có khách bàn nào đang xỉa răng, gọi nhà hàng tính tiền, chuẩn bị đứng dậy để nghe gọi tên mình vào điền chỗ ?

Biết bao nhiêu ngày đẹp trời khác để có thể mời người yêu đi dùng một bữa cơm tối, sao lại phải chen chúc xếp hàng để chờ vào cửa, đứng chực ở sau lưng người khác vừa ăn xong đứng dậy, để ngồi xuống một cái ghế còn ấm chỗ và trước một cái bàn vừa được lau vội vàng, có khi còn vướng vất mùi hóa chất nồng nặc. Công việc đó phải chăng là một công việc phải làm cho xong, làm lấy lệ, không thể không có được. Nếu không có một bữa ăn vào ngày Valentine thì tình yêu mất hết ý nghĩa chăng?

Sau lễ Giáng Sinh ngày Mother's Day, ngày thứ ba tuần lễ vừa rồi là một ngày lễ lớn. Theo National Retail Federation, nước Mỹ đã tiêu $13.7 tỷ cho ngày lễ Tình Yêu để mua sắm quà cáp cho vợ chồng hay người yêu của mình. Ðã có 36 triệu chiếc hộp đựng chocolate mang hình trái tim màu đỏ, và 180 triệu đóa hồng đã được bán ra. Cũng theo con số thống kê trên 56% phần trăm mua hoa hồng, 23% hoa đủ loại, 10% mua hoa cẩm chướng và 11% cho các thứ hoa khác. Có 22, 700 tiệm hoa trên nước Mỹ đã tất bật từ ba ngày hôm trước để sắp đặt, đơm kết hoa, và trong ngày lễ, từ sớm tinh mơ tới xế trưa, không có nghỉ ngơi, ăn uống để giao hoa, và hầu hết ai cũng muốn nhận hoa trước 12 giờ sáng.

Phái nam tiêu nhiều tiền hơn phụ nữ trong ngày lễ. Trung bình các ông tốn $128 trong khi quí bà chỉ tốn $74. Vào năm 2001, trung bình người ta chỉ xài $82.60, nhưng năm nay, 2006, phải xài tới $100.89, không biết càng ngày tình yêu càng được tôn vinh hay là vì giá cả càng ngày càng đắt đỏ hơn. Về phía quí ông có 71% đưa vợ hay bồ đi ăn tối ở nhà hàng, 65% mua hoa tặng, 52% có kim cương hay nữ trang để tặng nàng. Quí nương có tới 61% rủ bạn trai hay đãi chồng một bữa ăn tối ở ngoài, và đương nhiên không mua hoa hay hột xoàn để tặng người yêu, nhưng 53% mua băng nhạc hay sách và 42% mua kẹo làm quà.
Những người làm thương mãi ở Mỹ quả đã thành công vượt bực với những quảng cáo cho các ngày lễ lớn, để người tiêu thụ không ngần ngại dốc túi tiền đi mua sắm và văn hóa Mỹ có mãnh lực làm điên đảo nhiều quốc gia, ngay cả những quốc gia bài Mỹ. Cứ thấy các hình ảnh lễ Valentine ở các quốc gia Cộng Sản như Trung Quốc, Việt Nam mới thấy cơn sốt văn hóa Mỹ đã lây lan nhanh chóng như thế nào. Ngay cả cái thời miền Nam mang tiếng là lệ thuộc Mỹ, chúng ta không hề thấy Halloween, Valentine tràn ngập phố phường như hôm nay.

Theo bản thống kê trên về lễ Tình Yêu thì hình như tình yêu càng ngày càng phai nhạt, xuống dốc theo tuổi tác. Lớp tuổi 25-30 đã tốn $96 cho ngày lễ này, trong khi quí ông bà lớn tuổi 55-65 chỉ tiêu có $59. Ôi quả tim của chúng ta vào tới tuổi trên 60 cũng đã bắt đầu đập chậm lại, không còn sôi nổi như những ngày còn trai trẻ thuở trước. Ngoài tình yêu ra chúng ta còn có quá nhiều bạn đồng hành như cao máu, cao mỡ, tiểu đường. tim mạch, dạ dày, thấp khớp và cả nỗi buồn của tuổi già. Chúng ta không còn cả nỗi vui mừng với quả tim rộn ràng của tuổi thanh xuân, tình yêu hầu như có phần nào phai nhạt. Tiếng Em , tiếng Anh đã biến thành tiếng "Má Nó- Ba Nó" rồi tiếng "Bà Ngoại, Ông Ngoại ơi!" lúc nào không hay. Tôi biết nhiều ông bà đã ngủ riêng ra từ mười hai mươi năm nay. Rồi chúng ta mỗi ngày một xa nhau, hai chữ "Tình Yêu" không còn là cái gì nghe âu yếm, quen thân nữa mà như một thứ gì xa lạ, ngỡ ngàng chưa hề gặp mặt hay chung sống.

Như em bé tội nghiệp trong câu chuyện trên, không có nổi một đóa hoa để tặng cô giáo trong ngày lễ của Tình Yêu, thứ ba tuần rồi, tôi cũng không có nổi một hạt kim cương bé nhỏ để đeo vào ngón tay già nua, héo úa của em, hay nhớ để mua cho em một đóa hồng, nhưng làm sao chúng ta sống tử tế với nhau đến cuối cuộc đời, để lúc ra đi không có gì phải tiếc nuối hay ân hận về những điều đã ăn ở "không phải" với nhau.

Valentine 2010/Xuân Canh Dần 2010

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Bác sĩ, mà không là gì khác!

Huy Phương
Chỉ vì người mẹ muốn ép con trở thành một bác sĩ, một tấn thảm kịch đã xảy ra trong một gia đình người Việt ở Cali, khi đứa con trong một giây phút quẫn bức đã bóp cổ người mẹ yêu thương của mình. Người mẹ với ý muốn cho con mình sau này là một bác sĩ đã không còn nữa, và đứa con có thể trở thành một người tù chung thân với nỗi ân hận dày vò khôn nguôi.

Biết bao nhiêu bậc cha mẹ Việt Nam đã muốn cho con mình trở thành bác sĩ, và chỉ là bác sĩ mà không là gì khác. Từ ước muốn, hướng dẫn, chỉ đường, đến răn đe, gây áp lực, giận dỗi và trách móc, phải nói là đa số cha mẹ người Việt chúng ta mang bệnh sùng bái địa vị này và mong muốn cho con cái trở thành một bác sĩ. Chuyện này không chỉ mới xảy ra lần đầu trong xã hội Việt Nam cũ kỹ thói đời và bám víu hư danh. Trước đây, đã có những đứa con tự tử vì không chịu nổi sức ép từ cha mẹ bắt con phải học hành và chọn nghề nghiệp theo ý muốn của mình.

Một người cha trong cộng đồng người Việt ở Mỹ có con vừa tốt nghiệp bác sĩ y khoa, và sợ không ai biết đến vinh dự này, để khoe danh, ông chỉ còn cách đăng một cột báo chúc mừng chính con ông. Cũng cách đây hai năm, trên đài SBTN, trong mục Tử Vi hàng tuần, một khán giả đã gọi vào. Câu hỏi của vị này là con trai ông sinh vào giờ này, ngày này, năm này, về sau khi lớn lên có học bác sĩ được không? Xin nói thêm là lúc đó cậu con trai mới ba tuổi rưỡi.

Bác sĩ là gì mà người ta ham muốn đến mức cuồng nhiệt như thế.

Nghề thầy thuốc mà ta thường gọi là thày lang dưới thời phong kiến xa xưa là nghề cứu nhân độ thế và dân chúng cũng chỉ gọi là Thầy, nghề Thầy Lang là ghế gia truyền, hay dược truyền dạy giới hạn, cũng cao quý như Thầy Dạy Học, và bệnh nhân đền đáp ơn Thầy bằng tình nghĩa, lấy lễ vật mà tạ ơn Thầy. Ðến thời Pháp thuộc, đem văn minh đến cho dân bản xứ, người Pháp mở bệnh viện Tây Y, đào tạo bác sĩ y khoa, con số bác sĩ lúc bấy giờ rất hiếm hoi, một số được du học từ Pháp, một số được đào tạo tại chỗ như trường Y sĩ Ðông Dương, Hà Nội. Vì trường dạy bằng tiếng Pháp, việc học tốn kém nên chỉ có con nhà giàu hay con cái quan chức thuộc địa mới có thể trở thành bác sĩ. Thời đó, một bệnh viện tỉnh may ra mới có một bác sĩ, được trọng nể, quyền hạn tối đa và người dân thường gọi là Quan Ðốc. Tâm lý của bệnh nhân, nhất là trong giới bình dân, ít học, gặp trường hợp thân nhân đau ốm nặng, nguy hiểm, “thập tử nhất sinh” sinh ra tâm lý cầu khẩn, kêu nài, van xin cứu mạng mà không nghĩ đó là bổn phận của người thầy thuốc ăn lương nhà nước. Tâm lý của bệnh nhân và sự ưu đãi của chính quyền dần dần đưa đến chỗ người bác sĩ coi bản thân mình là quan trọng, quyền uy, dù cả chục năm sau, ngay thời chúng ta đã thoát nô lệ, thành lập nền dân chủ. Người ta kể chuyện trong một đơn vị quân đội, một bác sĩ trưng tập mang cấp bậc trung úy, khi một người lính đến xin chữa bệnh, đã vô tình gọi ông là “Trung Úy” mà không gọi là “Bác Sĩ”, đã phán rằng: “Anh về kêu ông Trung Úy Ðại Ðội Trưởng của anh chữa bệnh cho anh đi!”

Xã hội Việt Nam dưới hai thời Cộng Hòa cho đến khi di cư ra nước ngoài cho đến bây giờ vẫn còn quá nhiều gia đình trọng vọng, cho bác sĩ là giới thượng lưu trí thức (kể cả việc kiếm nhiều tiền), nên theo lề thói này, cha mẹ hãnh diện có con ra trường bác sĩ, mỹ nhân cũng mơ ước có chồng bác sĩ, bác sĩ là “top ten” trong nấc thang danh vọng và địa vị trong xã hội. Ðó là quan niệm của một xã hội đã quá cũ, có thể nói là cổ hủ của những người lớn tuổi có thể hiện nay không còn thích hợp với trào lưu mới và khác với quan niệm của lớp trẻ lớn lên tại hải ngoại hiện nay. Ðể trở thành một Y Khoa Bác Sĩ, ngoài sự thôi thúc, ép buộc của cha mẹ, các vị bác sĩ tương lai phải trải qua nhiều thử thách hy sinh, và chịu đựng lớn lao mà ngay cả cha mẹ cũng khó thông cảm và hiểu cho con, đó là chưa nói đến số tiền nợ vay khổng lồ thường lên đến nhiều trăm nghìn đô la mà sau khi tốt nghiệp họ phải hoàn trả.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói đến những bác sĩ tốt nghiệp từ các Ðại Học Mỹ. Về khả năng học vấn, muốn học y khoa, sinh viên phải tốt nghiệp Cử Nhân (B.S.) ngành sinh học (Biology) mất 4 năm + 4 năm tại một trường y khoa + 4 đến 8 năm cho chương trình bác sĩ nội trú (residency), tùy theo ngành chuyên khoa (specialty). Thời gian nội trú là thời gian làm việc hầu như không công cho bệnh viện. Họ được trả lương, trung bình 45,000/năm, nhưng phải làm việc từ 80-120 giờ mỗi tuần. Bác sĩ nội trú làm việc rất căng thẳng, nhiều khi thiếu ngủ. Sớm lắm một bác sĩ ra trường cũng đã đến tuổi 32. Một thời gian dài vùi mình vào sách đèn, tốn kém, căng thẳng, gần như đốt hết tuổi thanh xuân.

Sinh viên phải có điểm trung bình GPA (Grade Point Average) từ 3.0 trở lên, là một trong những yếu tố cạnh tranh gay gắt lúc nạp đơn xin nhận vào trường Y. Muốn được nhận vào học, ứng viên phải có điểm MCAT (Medical College Admission Testing) thật cao vì chỗ học có giới hạn tùy theo trường. Nếu muốn chọn những trường danh tiếng (và học phí cao) như Harvard, John Hopkins, Princeton, University of Pennsylvania, v.v. ứng viên phải thật xuất sắc về mọi phương diện: Ðiểm GPA cao, điểm MCAT cao, thư giới thiệu (recommendations) của giáo sư hay những nhân vật kiệt xuất trong ngành Y có tính thuyết phục, bài luận văn (essay) tạo được ấn tượng nơi người đọc (các viên chức đảm trách việc xét đơn), ứng viên còn phải chứng minh tiềm năng và khả năng của mình qua một cuộc phỏng vấn (oral interview) gay go.

Yếu tố tài chánh cũng rất quan trọng: Khi chọn trường để nạp đơn, ứng viên phải có một số tiền lên đến hàng ngàn dollars: tiền nạp đơn (application fees), cho nhiều trường Y (từ 5 đến 7 trường) để chờ được phỏng vấn, chưa nói đến chi phí di chuyển và ăn ở trong vòng từ 3 đến 5 ngày cho mỗi nơi được gọi. Học Y ở giai đoạn này cần một số tiền lớn để trả học phí từ 25,000 đến 50,000/năm, tiền chi tiêu (nhà ở, ăn uống, tiêu vặt) và tiền mua sách. Tiền sách không phải là nhỏ, có khi còn tốn kém hơn cả tiền ăn tiêu là khác! Vì thế mà sinh viên Y khoa trông cậy vào Student loan, và sẽ nhắm mắt ký giấy vay nợ không một chút ngần ngại. Số tiền vay nợ này lên đến hàng trăm nghìn dollars. Ngay sau khi ra trường sinh viên phải hoàn trả số tiền nợ này cho đến hết.

Cuộc đời bác sĩ bắt đầu bằng những khó khăn khác, trước hết, phải hành nghề để có tiền trang trải món nợ khổng lồ họ vay mượn trong thời gian theo học. Có người chọn giải pháp hành nghề cho chính phủ trong một thời gian nhất định ở vùng xa xôi như Alaska chẳng hạn để được xóa nợ. Ðiều này có nghĩa là phải sống nhiều năm ở những nơi hẻo lánh, xa gia đình. Có một số khác may mắn hơn, được tuyển phục vụ cho quân đội để được xóa nợ hay giảm nợ. Phần còn lại hành nghề trong các bệnh viện, các tổ hợp bác sĩ hay mở phòng mạch riêng của mình. Và áp lực của việc hành nghề, mức thu nhập và việc trang trải nợ nần, chính là mối quan tâm hàng đầu của một bác sĩ y khoa. Chi phí bảo hiểm hành nghề (malpractice insurance) ngày càng cao chất ngất vì hậu quả của những vụ kiện bác sĩ cùng với số tiền bồi thường lên đến hàng triệu hoặc chục triệu dollars mỗi vụ, các công ty bảo hiểm không ngần ngại tăng tiền bảo hiểm. Có những ngành chuyên môn như sản phụ khoa (obstetrics-gynecology) bị ảnh hưởng nặng nề. Trong thập niên 1980-1990, nhiều bác sĩ sản phụ khoa đã phải bỏ nghề chuyên môn của mình chỉ vì không thể đóng nổi số tiền bảo hiểm! Áp lực làm ra tiền để trang trải nợ nần chi phí có lúc đã đẩy đưa các bác sĩ y khoa vào con đường phạm pháp: gian lận medicare, gian lận bảo hiểm, bán toa thuốc, đã xẩy ra trong cộng đồng. Rất may đây cũng chỉ là một số ít, nhưng cũng đã nói lên được mặt bên kia của đồng tiền!

Nhiều bậc cha mẹ đã không hiểu con, trước hết là quan điểm sống và những nghề nghiệp phù hợp với mỗi con người. Có cha mẹ bắt con học y khoa nhưng con sợ máu và sợ tử thi. Con cái có thể chọn nghề mà chúng thích chứ không phải nghề hái ra tiền theo quan niệm quá xưa của cha mẹ. Cái danh mà cha mẹ bắt con phải đạt đến không phải là cái tuổi trẻ ngày nay trong xã hội này đi tìm. Cha mẹ không hiểu tâm tính, nguyện vọng của con cái và ngược lại, đó là một trong những nguyên nhân tạo nên tấn bi kịch của gia đình. Phụ huynh ép con theo quan niệm của mình thì than thở rằng: xã hội, thời đại mới thay đổi, con cái phá hỏng truyền thống đạo đức, thành lũy gia đình.

Trong khi đó, các bạn trẻ thì thấy mình bị đè nén, bị hy sinh, bị tước mất tự do định đoạt cho đời mình và cần phải phản kháng. Phản kháng nào cũng gây nên thảm kịch.

Chúng tôi cũng biết rằng những bậc cha mẹ ép con phải học để trở thành bác sĩ cũng chỉ vì lo cho tương lai của con, mặc dù con đường đi đến tương lai không phải chỉ là một con đường duy nhất. Cha mẹ cũng không phải để cậy nhờ lúc con thành tài, mà chỉ vì cái danh “bác sĩ” đã nhiều năm trong xã hội Việt Nam, tích lũy thành một thứ hào quang, để hãnh diện, ganh đua, thôi thúc con cái đi theo con đường của mình mà quên mất bản sắc, cá tính cũng như những nguyện vọng của con là những người mà họ hết lòng thương yêu, lo lắng.

Thế hệ xưa cũ và những quan niệm lệch hướng của thời chúng ta đã qua rồi, nên để cho con cái của chúng ta quyết định lấy cuộc đời theo sở nguyện của chúng. Trở thành một bác sĩ y khoa, hay không, đâu phải là cái gì ghê gớm lắm cho một đời người.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Chuyện ngoại tình!
Ðêm khuya, trong một ngôi đền, một người một Phật, Phật ngồi người đứng...

Người : Thưa Ðức Phật thánh minh, con là một người đã có vợ, con hiện đang yêu say đắm 1 người đàn bà khác, con thật không biết nên làm thế nào.

Phật : Con có thể xác định người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng duy nhất trong cuộc đời con không?

Người : Thưa vâng.

Phật : Con ly hôn, sau đó lấy cô ấy.

Người : Nhưng vợ con hiện nay dịu dàng , lương thiện, thảo hiền. Con bỏ cô ấy liệu có phần tàn nhẫn không, có mất đạo đức không, thưa Ðức Phật?

Phật : Trong hôn nhân không có tình yêu mới là tàn nhẫn và mất đạo đức. Con hiện giờ đã yêu người khác, không yêu vợ nữa. Con làm như thế là đúng.

Người : Nhưng vợ con rất yêu con, quả thật yêu con lắm , thưa Ðức Phật.

Phật : Vậy thì vợ con hạnh phúc.

Người : Sau khi con chia tay vợ lấy người khác,vợ con sẽ rất đau khổ, tại sao lại hạnh phúc, thưa Ðức Phật?

Phật : Trong hôn nhân, vợ con vẫn có tình yêu đối với con, còn con đã mất đi tình yêu đối với vợ con, bởi vì con đã yêu người khác, chính vì có hạnh phúc, mất đi mới đau khổ, cho nên người đau khổ là con.

Người : Nhưng con cắt đứt vợ, sau đó cưới nguời khác, vậy là cô ấy đã mất con, cô ấy mới là người đau khổ.

Phật : Con nhầm rồi, con chỉ là người vợ con yêu thật sự trong hôn nhân. Khi một người như con không tồn tại, thì tình yêu thực sự của vợ con sẽ tiếp nối sang một người khác, bởi vì tình yêu thực sự của vợ con trong hôn nhân xưa nay chưa từng mất, cho nên vợ con mới hạnh phúc, con mới là người đau khổ.

Người : Vợ con đã từng nói, kiếp này chỉ yêu một mình con, cô ấy sẽ không yêu ai khác.

Phật : Con cũng đã từng nói thế phải không?

Người : Con...con... con...

Phật : Bây giờ con nhìn 3 ngọn nến trong lư hương trước mặt, xem ngọn nào sáng nhất?

Người : Quả thật con không biết, hình như đều sáng như nhau.

Phật : Ba ngọn nến ví như ba người đàn bà, một ngọn trong đó là người đàn bà hiện giờ con đang yêu. Ðông đảo chúng sinh, đàn bà đâu chỉ là mười triệu trăm triệu... Ngay đến một trong ba ngọn nến, ngọn nào sáng nhất con cũng không biết, cũng không tìm được người con hiện đang yêu, thì làm sao con xác định được người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con?

Người : Con...con... con...

Phật : Bây giờ con cầm một cây nến đặt ở trước mắt, để tâm nhìn xem ngọn nào sáng nhất?

Người : Ðương nhiên ngọn trước mắt này sáng nhất.

Phật : Bây giờ con đặt nó về chỗ cũ, lại xem xem ngọn nào sáng nhất.

Người : Quả thật con vẫn không nhìn ra ngọn nến nào sáng nhất.

Phật : Thật ra cây nến con vừa cầm giống như người đàn bà cuối cùng con đang yêu hiện nay, tình yêu nảy sinh từ trái tim, khi con cảm thấy yêu nó, để tâm ngắm nghía, con sẽ thấy nó sáng nhất, khi con để nó về chỗ cũ, con lại không tìm được một chút cảm giác sáng nhất. Thứ gọi là tình yêu cuối cùng và duy nhất của con chỉ là hoa trong gương, trăng dưới nước, suy cho cùng chỉ là con số không, một cuộc tình trống rỗng.

Người : Ồ, con hiểu rồi, không phải Ðức Phật bảo con phải ly hôn với vợ, Ðức Phật đang niệm chú làm cho con ngộ đạo.

Phật : Nhìn thấu sẽ không nói trắng ra, con đi đi!

Người : Bây giờ con đã biết thật sự con yêu ai, người đó chính là vợ con hiện nay , thưa Ðức Phật.

Phật : A di đà phật...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Năm mới đọc báo Xuân

Ngọc Lan/Người Việt

Khi nghe sếp giao cho công việc điểm báo Xuân 2010, tôi hí ha hí hửng nhận lời ngay lập tức, không chút đắn đo, không chút câu nệ, không chút phụng phịu, không chút mè nheo.

Không chỉ khệ nệ ôm hết trong vòng tay ba anh em nhà Việt, gồm Việt Herald, Việt Báo, Việt Tide, mà tôi rinh luôn Chí Linh, Viễn Ðông, và cả Người Việt về nhà.

Sắp 6 tờ báo ra sàn nhà, nhìn qua nhìn lại, nhìn tới nhìn lui, tôi bỗng nhận ra rằng tôi đang ôm bom tấn! Có hối cũng đã muộn.

Như bàn tay ngón dài ngón ngắn, nếu Người Việt, Viễn Ðông, Việt Hearald và Chí Linh nằm thẳng đều tăm tắp cùng ngang cùng dài như nhau, thì Việt Báo với trang bìa đỏ rực hơi lùn một chút và béo một chút. Trong khi đó Việt Tide lại nhỏ nhắn thanh mảnh khoác trên mình chiếc áo đẹp nhất, theo tôi. Năm nay là năm Cọp, bìa Việt Tide là hình ảnh của một gia đình cọp, biểu tượng cho sự sum vầy, lẫn sung túc khi cả cọp cha, cọp mẹ, cọp con đều ngồi trên một đống tiền vàng. Cành mai vàng rực, cùng bao đỏ lì xì cho ngày Xuân Canh Dần 2010 cũng không thiếu trên trang bìa ấy.

Nếu như mỗi cuộc đời là một câu chuyện, câu chuyện đó có thể buồn chán với người này nhưng lại là nguồn cảm hứng cho người khác, thì những tờ báo Xuân tôi có trong tay cũng là như thế. Mỗi tờ mỗi vẻ, mỗi tờ mỗi nét, thể hiện đầy đủ quan điểm, cách nhìn và thái độ của những người chủ trương tờ báo. Tựu chung lại, vẫn là mang đến những món ăn tinh thần đa dạng, phong phú, độc đáo nhất cho tất cả độc giả trong những ngày đầu năm con Cọp.

Nếu tôi dành ra hai tiếng để đọc hết tờ Chí Linh, thì tôi phải mất cả ngày để đọc lướt hết Người Việt, bởi lượng bài viết quá nhiều, cái nào cũng muốn đọc, cái nào cũng muốn xem. Thế nhưng tôi lại thích cách sắp xếp mục lục của tờ Việt Báo: 35 năm Ðổi đời, Thăng Long Ngàn Dặm, Viết về nước Mỹ, Âm nhạc và Nghệ thuật, Thơ, Truyện và Ký, Y học và Ðời sống, Tử vi Lý số... Rành mạch, rõ ràng, muốn đọc gì cứ dò ngay vào đấy mà tìm.

Năm nay là năm của Ông Ba Mươi, nên như lẽ đương nhiên, ông Cọp sẽ chễm chệ trên mỗi tờ báo, dưới nhiều hình thức, nhiều góc nhìn, nhiều góc khám phá.

Ai muốn cùng nhà báo Bùi Bảo Trúc “Nói Chuyện Hổ Năm Dần” thì mời xem Việt Tide, sẵn đó đọc luôn bài viết “Ông Ba Mươi” của tác giả nào chẳng thấy để tên bên dưới lẫn bên trên. Hay bắt đầu từ trang 6 của Viễn Ðông để hiểu tại sao tác giả Hoài Mỹ bỗng la lên “Cọp! Cọp! Cọp!” Hoặc thử cùng nhà du lịch Trịnh Hảo Tâm tìm hiểu “Lai Lịch Chúa Sơn Lâm” trên báo Người Việt. Sau khi nghe tác giả Hồ Hữu Tường kể chuyện “Cọp Hú” trong Việt Herald, nên chăng tìm đọc luôn “Bài Thuốc Cu Cọp” - một tiêu đề rất “ấn tượng” của Nguyễn Thượng Chánh trên Việt Báo, để rồi nếu muốn có được “hàng độc” đó thì phải tìm tác giả Ðặng Tiến của tờ Chí Linh để hỏi thêm “Tục săn Cọp” như thế nào.

Xuân Canh Dần 2010 trùng với thời điểm kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, nên lượng bài viết liên quan đến chuyện thành quách cũ cũng rất đáng kể.

Nếu “Nhớ Tổ Tiên Một Ngàn Năm Trước” của nhà bình luận Ngô Nhân Dụng trên Người Việt cho tôi cái nhìn tổng quát về lịch sử ngàn năm trước còn được nuôi dưỡng, vun trồng đến ngày nay thì bài viết “Ðặt tên ‘Thăng Long’: Ðòn tuyên truyền chính trị của Lý Thái Tổ?” của Vũ Quí Hạo Nhiên, cũng trên Người Việt, lại giúp tôi có cái nhìn mới mẻ hơn về một vấn đề lịch sử. Nói đúng hơn, tôi cảm thấy rất thú vị với chuyện “Ðược một con rồng ‘bảo kê’ (cho dù là rồng sa cơ hiện trên thuyền vua), nhà Lý trị vì tới 200 năm” mà tác giả đã gợi ra.

Những người quan tâm đến chuyện thế giới chính trị sẽ không thể bỏ qua “2000-2009 thập niên của Khủng Bố và Khủng Hoảng” của nhà báo Lê Phan, hay “2010 một năm hứa hẹn nhiều khó khăn cho ông Obama” của nhà báo Lê Mạnh Hùng trên tờ Việt Tide.

Tôi chưa có điều kiện đến White House nên cũng rất tò mò muốn biết nhà báo Nguyễn Văn Khanh trong suốt “Một Năm Nhìn Lại Tòa Bạch Ốc” ông đã nhìn ra được những gì. Rất ngạc nhiên khi biết điều ông Nguyễn Văn Khanh nhìn ra là các vị lãnh đạo Hoa Kỳ của chúng ta cũng văng tục chẳng kém gì thường dân. Ðọc trang 202 Giai phẩm Xuân Người Việt sẽ hiểu thêm “Làm càng lớn, chửi thề càng dữ” là như thế nào.

Báo Xuân ngày Tết, đương nhiên phải nhắc chuyện ăn chuyện uống, xem hò xem hát, và xem hình người đẹp!

Viễn Ðông tiếp tục phát huy tay nghề bếp núc thường ngày qua “Món ngon Nam bộ ‘Ðộc chiêu’”. Chỉ là những hình ảnh bánh xèo ăn với đủ thứ đọt, rau; cá thác lác muối xả ớt ăn với cơm cháy chấm kho quẹt, Còi biên mai nướng đậu bắp; Cá lóc nướng trui, Chuột đồng nướng lu... đủ làm quay quắt lòng người nhớ về một miệt vườn ở Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, hay tận Cà Mau.

Chí Linh thì đưa người đọc về với “Phở, Bún Chả, Bún ốc, Bánh cuốn Hà Nội thời xưa” để tìm về cảm giác của những “món ăn thuần túy.”

“Gói Bánh Ít Ăn Tết” ở Việt Herald, “Nấu Bánh Chưng, Bánh Tét Ngày Xuân” nơi Việt Tide cũng góp phần làm thoang thoảng đâu đây mùi của lá chuối, lá dong, của thịt, của nếp, của đỗ.

Ăn uống, xem ca nhạc và lòng nhớ về những cái Tết xa xưa, nay thỉnh thoảng dội về trong ký ức.

“Sài Gòn Mùa Thương Nhớ” của Song Nguyên trên tờ Người Việt vẽ ra trước mắt người đọc cái không khí của phố phường, cái mùi hương trên bàn thờ, cái cảm giác nôn nao, chộn rộn những ngày giáp Tết. “Hương vị Tết ngày xưa trên quê hương miền Bắc” của tác giả Huy Trâm trên tờ Việt Herald lại đưa lòng người tìm cảm giác Tết nơi chốn văn vật ngàn năm.

“Nhớ những cái Tết ‘Chợ Trời’ sau 1975” của nhà báo Ðinh Quang Anh Thái khiến người đọc có thể vừa bật cười vừa đưa tay quẹt nước mắt. Vào trang 58 của giai phẩm Xuân Người Việt để thấy “còn nguyên đó thôi, trong nỗi nhớ thường xuyên của bạn bè,” những người bạn đã cùng nhau có mặt trong chốn “chợ trời” nhiễu nhương của một thời khốn khó.

“Trũng mù sương” của tác giả Trần Hồng Linh trên tờ Việt Báo lại lôi tuột ký ức những thuyền nhân trở về năm tháng sống nơi những trại tị nạn. Những kỷ niệm thấm đẫm máu và nước mắt năm nào, giờ được nhìn trong ánh mắt và nụ cười độ lượng, bởi dẫu gì “chúng ta đã qua trũng mù sương,” để thấy yêu thương và trân trọng giá trị cuộc sống hiện tại của mình.

Cuối cùng, với người khác thì sao không biết, nhưng với tôi thì không gì thú vị hơn khi đọc những điều các nhà chiêm tinh bói toán dự đoán cho số phận mình trong năm mới!

Mà càng hấp dẫn hơn nữa khi xem cùng là tuổi mình đó, sao mình đó, mạng mình đó nhưng mỗi nhà chiêm tinh của mỗi tờ báo nói cho mình nghe những điều đôi khi trái ngược nhau hoàn toàn. Ai muốn tin sao cũng được. Riêng tui thì tờ nào nói số tui năm nay “may mắn, phúc lộc dồi dào, làm ít hưởng nhiều,” không bị chủ bút và tổng thư ký bắt sửa đi sửa lại bài viết là tui thấy tin liền vào dự đoán đó!

Cũng như tất cả các tờ báo đều kết thúc nội dung báo Xuân bằng mục Tử vi Lý số, tôi cũng xin dừng công việc điểm báo của mình ở đây.

Ngoài đường pháo đã nổ rền nhiều lắm. Tiếng lân tiếng trống cũng khiến tôi phải nhấp nhỏm chạy ra xem.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

1000 Con Hạc Giấy !!
Sự hiểu lầm có thể làm cho con người ta mất đi vĩnh viễn 1 thứ gì đó mà ta rất yêu quý, để rồi, khi nhận ra thì đã quá muộn...

Có một chàng trai đã gấp 1.000 con hạc giấy tặng người anh yêu. Mặc dù lúc đó anh chỉ là một nhân viên quèn trong công ty, tương lai chẳng có vẻ gì sáng lạng nhưng họ vẫn luôn rất hạnh phúc bên nhau.

Rồi cho đến một hôm người yêu của anh nói rằng nàng sẽ đi Paris, sẽ không bao giờ còn có dịp gặp lại anh nữa. Nàng rất lấy làm tiếc về điều này và an ủi chàng rằng rồi nỗi đau của chàng cũng sẽ trở thành dĩ vãng. Hãy để cho nó ngủ yên trong ký ức của mỗi người.

Chàng trai đồng ý nhưng trái tim tan nát. Anh lao vào làm việc quên cả ngày đêm, cuối cùng anh đã thành lập được công ty của riêng mình. Nó không chỉ giúp anh vươn đến những điều mà trước đây vì thiếu nó mà ngưới yêu đã rời bỏ anh, nó còn giúp anh xua đuổi khỏi tâm trí mình một điều gì đó của những tháng ngày xưa cũ.

Một ngày mưa tầm tã, trong lúc lái xe, chàng trai tình cờ trông thấy một đôi vợ chồng già cùng che chung một chiếc ô đi trên hè phố. Chiếc ô không đủ sức che cho họ giữa trời mưa gió. Chàng trai nhận ngay ra đó là cha mẹ của cô gái ngày xưa. Tình cảm trước đây anh dành cho họ dường như sống lại.

Anh chạy xe cạnh đôi vợ chồng già với mong muốn họ nhận ra anh. Anh muốn họ thấy rằng anh bây giờ không còn như xưa, rằng anh bây giờ đã có thể tự mình tạo dựng một công ty riêng, đã có thể ngồi trong một chiếc xe hơi sang trọng. Vâng, chính anh, chính người mà trước đây con gái họ chối từ đã làm được điều đó.

Đôi vợ chồng già cứ lầm lũi bước chậm rãi về phía nghĩa trang. Vội vàng, anh bước ra khỏi xe và đuổi theo họ. Và anh đã gặp lại người yêu xưa của mình, vẫn với nụ cười dịu dàng, đằm thắm nàng từng đem đến cho anh, đang dịu dàng nhìn anh từ bức chân dung trên bia mộ.

Cạnh cô là món quà của anh, những con hạc giấy ngày nào,
đến lúc này anh mới biết một sự thật: nàng đã không hề đi Paris. Nàng đã mắc phải căn bệnh ung thư và không thể qua khỏi.

Nàng đã luôn tin rằng một ngày nào đó anh sẽ làm được nhiều việc, anh sẽ còn tiến rất xa trên bước đường công danh. Và nàng không muốn là vật cản bước chân anh đến tương lai của mình. Nàng mong ước cha mẹ sẽ đặt những con hạc giấy lên mộ nàng, để một ngày nào đó khi số phận đưa anh đến gặp nàng một lần nữa, anh có thể đem chúng về bầu bạn.

Chàng trai bật khóc.

Chúng ta cũng vậy, như chàng trai kia, cũng chỉ nhận ra giá trị lớn lao về sự có mặt của một người mà cuộc đời đã ban tặng cho cuộc sống của chúng ta khi một sáng mai thức giấc, người ấy đã không còn ở bên ta nữa. Có thể họ đã chẳng yêu bạn như cách mà bạn mong đợi ở họ nhưng điều này không có nghĩa rằng họ không dâng hiến tình yêu của họ cho bạn bằng tất cả những gì họ có.

Một khi bạn đã yêu, bạn sẽ mãi mãi yêu. Những gì trong tâm trí bạn có thể sẽ ra đi, nhưng những gì trong tim bạn thì mãi mãi ở lại.

Sưu tầm

Post Reply