Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Image

Bên đời hiu quạnh
Tùy bút Của Khánh Ly
Tôi không bao giờ nghĩ rằng có một lúc nào đó như lúc này, cuộc sống của ca sĩ Hải Ngoại và Việt Nam lại được mang ra mổ xẻ rạch ròi, tới tấp như thế. Có lẽ, trong đầu óc đơn giản của tôi, ca sĩ ở đâu cũng là ca sĩ…. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ đặc biệt chung cho mọi người, ở mọi nơi, mọi phía. Không có biên giới…. Nhạc đã được khẳng định như vậy, lẽ nào người hát lại bị loại ra ngoài.

Tôi không hề phân biệt ca sĩ trong hay ngoài nước. Có chăng, điều bị chỉ trích là cách sống của những người cùng chung một nghiệp dĩ ở hai bờ đại dương. Những ca sĩ lớn lên hay thành danh ở trong nước dường như không có một khái niệm nào về nghệ thuật và quá trình của lớp người đi trước họ cả một phần tư thế kỷ. Và cũng không ai nói cho họ nghe về một thời bình an, đẹp đẽ của sân khấu Miền Nam, trước mùa Xuân 75.

Chúng tôi, lớp người đã được quần chúng chấp nhận trước 75, thật sự đã trải qua bao nhiêu khó khăn, bằng chính năng khiếu của mình. Chỉ có một ít may mắn đủ trình độ văn hoá Đại học và tốt nghiệp Quốc Gia Âm Nhạc như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Đức Huy, Quỳnh Giao, Mai Hương…. Còn lại, đa số chỉ đến Trung học, chưa bao giờ bước chân vào Quốc Gia Âm Nhạc. Lên sân khấu, với năng khiếu Trời cho và may mắn được chấp nhận.

Thời đó, ca sĩ rất ít và không phải bất cứ ai bước lên sân khấu, là đều được coi là ca sĩ… Quần chúng phải chấp nhận. Các ca sĩ phải chấp nhận. Các trung tâm thâu băng, đĩa phải chấp nhận. Các đài phát thanh phải chấp nhận, chúng tôi mới có được… tạm coi như là ca sĩ và vẫn nằm trong sự kiểm soát, nghe ngóng, chăm sóc của các Trung Tâm mà trung gian là nhạc sĩ.

Chỉ một bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng”, Thanh Tuyền lúc đó mới 15 tuổi đã trở nên mỏ vàng của Hãng đĩa. Chỉ với “Chuyện Một Chiếc Cầu Gảy” Hoàng Oanh, cô sinh viên văn khoa không hề thua kém Thanh Tuyền của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Không ai có thể hát lại chị Bạch Yến bài Đêm Đông. Không ai có thể làm xao xuyến người nghe như chị Lệ Thanh với Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn. Chị Trúc Mai bài “Hàn Mặc Tử”. Chị Lệ Thu với Ngậm Ngùi và cô Thái Thanh gần như “độc quyền” nhạc Phạm Duy.

Không ai có thể thay thế ai. Vì sao thế, vì thời đó, các nhạc sĩ… đo ni may áo cho ca sĩ. Không thể trật đi đâu được và vì thế, bài hát làm nên ca sĩ. Trúng một cái, cả nhạc sĩ lẫn ca sĩ đều như sóng dội. Thời đó nhạc sĩ nhiều hơn ca sĩ. Ngoài công việc chính, họ chỉ chú tâm sáng tác và chọn những giọng hát hợp với bài hát. Phần chúng tôi, mỗi người có một chất giọng riêng. Nghe là biết ai ngay. Chúng tôi đủ thông minh để không giẫm chân người khác.

Năm 69, ông Thiêng, ông Quân có 2 bài… hai bài này chỉ có Khánh Ly, đó là “Kinh Khổ” và “Trên Hoang Tàn Đổ Nát”… Ông Minh Bằng giao cho tôi… “Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ”. Kim Loan với “Căn Nhà Ngoại Ô”. Giao Linh với “Những Đóm Mắt Hoả Châu”. Phương Hồng Quế có bài “Giờ Này Anh Ở Đâu”. Mai Lệ Huyền và Hùng Cường có một loại nhạc riêng, quen gọi là nhạc kích động.

Chỉ hát một nơi với bài “Mùa Thu Cho Em”, Xuân Sơn đã làm bao người điêu đứng, chưa kể đến bài “Trăng Sáng Vườn Chè”- dẫu sau này Ái Vân dựng lại bằng nhạc cảnh – cũng không làm người nghe quên nổi Xuân Sơn. Carol Kim hát “Hãy Khóc Đi Em”. Ông Sơn bảo… chỉ có Carol Kim hát bài đó trội nhất… Duy Quang trình làng “Thà Như Giọt Mưa”. Elvis Phương bài “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang”… Còn ông Chế Linh thì bài nào vào tay ông là lập tức trở thành của ông.

10 năm đầu, tôi chỉ nhận được 2 bài hát của ông Sơn “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên”, “Một Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”. Cả hai đều bị giam, cấm phổ biến. Dĩ nhiên tác giả cũng không thể ngồi yên. Lý do đơn giản thôi… viết cho KL. Mấy năm sau đó, một bài hát nữa cũng của T.C.S bị dập, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội”… cũng lại vì KL. Tôi nhận được bài hát từ những người vượt biển. Cũng khoảng thời gian đó, từ Pháp gởi qua cho tôi một số bài hát ký tên Hồng Ngọc, trong số đó có bài “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Thực tế bài hát đó có tựa nguyên thuỷ là “Nước Mắt Cho Sài Gòn”. Ông Võ Văn Ái đã đổi tựa và viết thêm lời hai, Hồng Ngọc là bút hiệu của Nguyễn Đình Toàn, và trong bài viết có câu “đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly”.

Nhưng phải nói rõ, ngay từ những ngày mới tới Mỹ, khi mà mọi người còn bị chia ra, sống riêng lẻ mỗi người một nơi, khó có thể tìm ra nhau từ những trang trại rộng lớn, nằm khuất sau những dãy núi cao mà ngay khi chạy qua trên các xa lộ, chúng ta không thể nhìn thấy được, “Sàigòn Ơi Vĩnh Biệt” của Nam Lộc đã được viết trong thời gian đó. Một ca khúc đơn giản xuất phát từ nỗi lòng của một người vừa rời xa quê hương. Không cầu kỳ văn hoa chải chuốt nhưng rất thật thà nói lên sự tiếc thương, nỗi đau xót và mơ ước ngày trở về, cho dẫu đã nói lên lời vĩnh biệt.

Đức Huy trình làng “Đường Xa Ướt Mưa” năm 1979 cùng lúc với Tùng Giang “Tôi Với Trời Bơ Vơ” và Nam Lộc “Người Di Tản Buồn”. Linh Giang “Tôi Muốn”. Phạm Duy “Nguyên Vẹn Hình Hài”, Hoàng Quốc Bảo “Mưa Trên Thành Phố Cũ”, Nguyễn Đức Nam với “Buồn Tháng Mưa”… trong khi đó nhạc Vàng ở VN bị xoá sổ. “Rơi Lệ Ru Người” viết từ năm 75 (khi nghe tin tôi chết trên biển) phải chờ đến năm 1992 khi gặp ở Canada, ông Sơn mới chép in cho tôi bài đó.

Giữa thập niên 80, một số ca sĩ ở VN mới được phép hát lại, nhưng vẫn chỉ loanh quanh ở những tỉnh nhỏ. Nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân từ Nhật Ngân lập đoàn gồm Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Lan… bữa đói, bữa no, ngủ đình, ngủ chợ, mong được hát cho nhiều hơn là kiếm miếng ăn dẫu rằng ai cũng đói. Nhã Phương và Bảo Yến nổi lên, rồi Ngọc Bích, Thanh Lan ở tù liên miên vì tội vượt biên. Nhưng một số ca sĩ may mắn hơn Thanh Lan là Lệ Thu, Ngọc Minh, Hoàng Thi Thao, Lê Uyên và Phương đã đi được. Thanh Tuyền, Giao Linh, Chế Linh cũng thoát. Vài năm sau đó có Thái Thanh đến Mỹ. Như thế, lớp ca sĩ cũ của chúng tôi còn ở VN là Hồng Vân, Lan Ngọc, Nhật Thiên Lan, Mộng Xuân Lan, Ngân Hà, Giang Tử, Anh Khoa… và rất nhiều nhạc sĩ.

Sau thời VN tưng bừng “mở cửa” rồi tưng bừng “khép lại”. Bài tình ca đầu tiên được viết ở trong nước, ra Hải Ngoại và lọt vào lỗ tai tôi là bài “Giọt Nắng Bên Thềm” rồi bài “Em Ơi Hà Nội Phố”, bài này, trong nước coi như… rửa mặt cho Hà Nội sau mấy chục năm. Và từ đó trở đi, nhạc tình được viết với tốc độ khá nhanh bởi những tác giả trẻ và xa lạ - ngoại trừ Quốc Dũng, Bảo Chấn và Bảo Phúc tung ra Hải Ngoại những khuôn mặt lạ, trẻ và một kiểu hát như nhau, chất giọng như nhau, đến nỗi có đôi khi chợt nghe, tôi không thể phân biệt ai là ai.

Tôi không nghĩ những bài hát được sáng tác ở trong nước là dở - có lẽ tại tôi bảo thủ quá chăng – nhưng với một thành phần nhạc sĩ đông đảo, sáng tác liên tục không ngưng nghỉ trong một môi trường thuận tiện, rộng lớn – 70 triệu người nghe. Nói thật lòng, tôi chỉ nghe được “Giọt Nắng Bên Thềm”, “Em Ơi Hà Nội Phố”, “Thuyền Và Biển”, “Phượng Hồng”, “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa”, “Tháng Tám Mùa Thu”, “Quê Hương”. Và chỉ có như thế (tôi không nói về nhạc T.C.S). Những bài hát khác không hề ở lại trong đầu tôi. Nó có một chút gì của Mỹ. Một chút gì của Nhật. Một chút gì của Tầu. Một chút gì của Đại Hàn. Một chút gì của Thái.Tất cả có chung một lối hoà âm.

Khoảng trong 2 năm đầu khi những bài hát ở VN tràn ra Hải Ngoại, nhiều người điên cuồng tìm mua nghe, tưởng như nhạc trong nước đã đè bẹp, giết chết nhạc Hải Ngoại phá nát thị trường băng nhạc ở đây. Bạn bè xôn xao hỏi. Tôi nói không bi quan cũng không chủ quan… rồi cũng qua nhanh như lửa rơm… Chỉ đơn thuần là ý nghĩ của tôi với những bài hát viết từ trong nước tôi đã nghe không phải một lần. Vả lại trong số những tác giả trẻ, có người tôi biết trước năm 75.

Các trung tâm cũng xôn xao. Tại sao thế nhỉ… Có nhiều TT ở đây phát hành băng đĩa VN cơ mà. Họ bán 10 đồng 3 cuốn CD rồi 10 đồng 4 cuốn. Nếu CD của chúng tôi bị in giả tại VN lan tràn từ Nam ra Bắc, từ hàng thịt chó tới hàng bún chả, đến phòng tắm hơi, đến những quán karaoke. Từ taxi đến xe đò thì tại sao ở đây không? Một cuốn master thực hiện ở VN giá thành không bao nhiêu và khi được tung ra thị trường thì lại không chỉ dành cho một TT nào mà là cho cả chục người, rồi ai muốn bán kiểu nào, giá nào thì bán.

Bà con mình vốn tính luôn thích của lạ. Lạ mà rẻ, ai lại bỏ qua nhất là nó lại mới lại lạ (như mấy ông chồng bị ăn mãi cơm nhà, quà vợ, nay bỗng thấy người lạ, dẫu không đẹp, cũng vẫn thèm). Bèn mua về nhà ngay - giống phong trào phim bộ năm nào – và mê ngay. Có lạ gì đâu, 27 năm nằm gai nếm mật xứ người, nghe chừng đó ca sĩ, thuộc mặt từng người, coi bộ cũng… mệt mỏi rồi. Thích là phải. Đương nhiên thôi. Bao lâu thì chưa biết nhưng cứ thích, cứ mua cái đã. Thị hiếu của quần chúng đối với một thị trường lạ, tưởng không cần phải bàn ra tán vào, dài dòng, mất thì giờ.

Hai năm trôi qua – như tình yêu vậy, không còn gì mới lạ nữa. Những bài hát theo gió cuốn đi.

Sau mùa Xuân năm 75, đồn rằng tất cả nhạc vàng đều bị thiêu huỷ, ai giữ trong nhà như giữ đồ quốc cấm. Sách, truyện cũng cùng chung số phận. Phim ảnh dù bị hủy hoại cũng còn những bản phụ ở nước ngoài. Mọi người bị lùa đi học tập cải tạo không hứa hẹn ngày trở về. Ca nhạc sĩ bắt buộc phải trình diện gọi là bồi dưỡng chính trị. Những tà áo xanh, đỏ rực rỡ bỗng nhiên biến mất, chỉ còn quần đen áo cánh trắng hoặc nâu cho đúng với tôn chỉ cách mạng. Bao nhiêu khuôn mặt xinh đẹp, nổi tiếng của Sài Gòn nay e dè nhìn nhau như thăm hỏi… Họ nói cái gì thế nhỉ… Người nói cứ nói, người ngồi nghe như vịt nghe sấm, lòng thì cứ như đi đẩu, đi đâu. Nghĩ đến bạn bè ai đi thoát, ai kẹt lại… cái gì đã xảy ra cho SàiGòn… cái người đang giảng giải cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội kia là ai, ở đâu ra thế… tất cả bàng hoàng hoặc lo âu. Lo cho mình thì ít, cho gia đình thì nhiều bởi đa số ca nhạc sĩ đều có con em cha chồng là quân nhân, là có… nợ máu với nhân dân. Đã gọi là nợ thì phải trả nhưng trả thế nào đây?

Thật ra thì các ca nhạc sĩ không bị đày ải quá lâu với những chương trình bồi dưỡng chính trị. Họ khổ vì bị cấm hát. Suốt mấy năm trời cả miền Nam đều phải nghe một loại nhạc, một kiểu hát cùng một giọng giống nhau.

Những bài hát của miền Bắc mà dân Sàigòn phải nghe đã được sáng tác lâu rồi, giờ mới có dịp tung ra. Chỉ một loạt bài đó thôi sau năm 75, hầu như nhạc sĩ miền Bắc không viết loại nhạc ấy nữa vì người Sàigòn không muốn nghe. Nghe không vô cũng như họ phải chịu đựng những bảng hiệu tên đường ngô nghê, buồn cười, chẳng ra làm sao…đường Nguyễn Văn Bánh, đường Võ Thị Sáu… những người là ai… Khai quốc công thần của nhà Nguyễn chăng… Những bài hát cứ ồm ồm tra tấn lỗ tai người Sàigòn. Những con đường cũ làm cho người ta… khi hẹn nhau, ta lạc lối tìm… chắc cũng họp hành dữ lắm. Nghị quyết này, nghị quyết kia… tôi thấy thế này, tôi thấy thế nọ vân vân. Thanh Lan thành tích vượt biên nhiều quá. Cấm. Hồng Vân, Lan Ngọc tàn tích cũ. Cấm. Thế nhưng các tiếng hát miền Bắc lại không được Sàigòn chấp nhận. Bảo Yến và Nhã Phương lên tiếng đánh bạt các giọng ca… có dấm càng thêm chanh… Ngọc Bích cũng lên tiếng mạnh mẽ lẫy lừng một thời, cô là con gái của nghệ sĩ Ngọc Hùng, Ngọc Nuôi. Cô đã từng là giọng ca chính của ban nhạc The Crazy Dogs thì đương nhiên cô phải nổi bật.

Nhà nước cũng cho mời các nghệ sĩ nổi danh cũ, cho phép thành lập đoàn hát. Cho tập dượt tại nhà hàng Queen Bee. Có ban nhạc Shortguns, ông Lê Uyên Phương có Thái Thanh… Tập cho đã đến chừng phúc khảo ra mắt các quan to sừng dài thì… không đủ tiêu chuẩn (ông Lê Uyên Phương kể lại) thật cay đắng cho những tên mối lớn ở Saigòn. Ông Trịnh Công Sơn đi thực tập, học trồng sắn, trồng lúa, nuôi heo, ông đi theo con trâu ông chủ nhà tốt bụng cho mượn… tôi thấy chú tội nghiệp tôi thương, nơi đó là cả một bãi mìn, ngày mô cũng có người chết, chừ tôi cho chú mượn con trâu, chú cưỡi theo chân nó mà đi… Thời gian này, ông sáng tác bài “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”… Mình cứ vừa cày ruộng, trồng khoai vừa hát cho mình nghe – có thế mới sống nổi chứ. Ấy thế mà bài hát bị cấm… Đất nước thống nhất rồi, anh không đủ vui hay sau mà phải tự chọn cho mình một niềm vui?

Sau khi đã giữ chân mấy trăm ngàn người trong trại cải tạo. Làm bà con ta điêu đứng sau mấy đợt đổi tiền. Nhạc tình bắt đầu ngoi ngóp bằng những bài hát. Nửa mùa, quốc không quốc, cộng không ra cộng. Loại nhạc thăm dò dư luận cấp lãnh đạo. Cửa đã hé mở đón Việt kiều hồi hộp về thăm dân cho biết sự tình. Thanh Lan vượt biển hoài mà đường đi không đến bèn leo lên sân khấu hát lại. Cẩm Vân hừng sáng với giọng trầm, ấm áp, rõ ràng. Hồng Hạnh giọng mỏng hơn nhưng xinh đẹp, song nghiệp hát không lâu dài. Các ca sĩ được chú ý vẫn là Nhã Phương, Bảo Yến, Cẩm Vân, thỉnh thoảng mới có đề cập đến Lan Ngọc, Hồng Vân, Anh Khoa. Nhạc sĩ Duy Hải qua đời, nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang qua đời trong tù. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 gần như đóng cửa ở ẩn, không cộng tác với đoàn hát nào. Cô Thái Thanh, nhạc sĩ Hoài Trung bị cấm hát vĩnh viễn sau cái buổi phúc khảo tại nhà hàng Queen Bee. Một thời gian ngắn sau đó, nhạc sĩ Hoài Bắc vượt biên, nhạc sĩ Văn Phụng, cô Châu Hà cũng đi thoát….

Bài “Quê Hương” là bài tôi thích, bài “Thuyền Và Biển” do Cao Minh hát. Đùng một cái tôi thấy bà con trong và ngoài nước đua nhau hát… bằng lòng đi em… về với quê anh… nghe cũng có vẻ mời gọi lắm nhưng với tôi, nó có vẻ quê quê thế nào ấy. Bài “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” ấy thế mà tôi lại nghe được. Thì ra “Thuyền Và Biển” thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu. “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả bài “Dư Âm” ngày xưa…. Rồi sau đó là bông điên điển, là rau đắng, rau ngọt, rau mồng tơi. Lá sầu riêng, chôm chôm… thì thề… đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh… Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. Tôi nghe mà còn khóc thì bảo sao bà con không đổ xô đi mua, không đè xấp, đè ngữa nhau giành chỗ trên những chuyến bay đi tìm những chùm khế ngọt. Đi để… thành người.

Sau đợt Cẩm Vân, Hồng Hạnh, Ngọc Bích, Nhã Phương, Bảo Yến là những Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Phương Thanh, Thu Hà, Trần Thu Hà là những ca sĩ, nghe nói có được đào tạo trường lớp hẳn hòi và những ca sĩ này sáng tạo ra một lối hát giống nhau nhưng không giống ai. Không giống ai là điều tốt bởi mỗi người phải có cái riêng của mình như các lớp ca sĩ trước. Thanh Tuyền cất tiếng hát là biết ngay Thanh Tuyền. Lệ Thu vừa… nắng chia nửa bãi…. thì đó là Lệ Thu… Em tan trường về, anh theo Ngọ về…. là cô Thái Thanh. Bang bang, em bắn ngay anh… là Thanh Lan. Những ca sĩ không qua một trường đào tạo nào, họ qua… trường đời và họ có cá tính, có cái chất giọng riêng để phù hợp với các bài hát các nhạc sĩ viết riêng cho họ.

Tôi thường hay bị… đố nhạc… Đố chị biết ai hát đấy… và bao giờ tôi cũng thua vì cùng trường, cùng thầy, cùng một cách đào luyện ca sĩ trẻ ở VN hát giống nhau. Bốn năm người hát mà nghe như chỉ một người. Trường lớp có cái hay mà cũng có cái dở và cái sai lại quá lớn. Chẳng còn biết ai là ai mặc dù họ hát vững, kỹ thuật cao, chất giọng tốt và khoẻ nhưng mà ai mới được chứ. Cái… là ai… mới quan trọng. Theo trường lớp để biết kỹ thuật trình diễn, học hát để biết cách hát, biết cách ngân, biết cách lấy hơi chỗ nào, biết cách nhưng sao cho đúng đó là chưa nói đến vấn đề thầm âm. Người ca sĩ phải có cái lỗ tai tốt, nghe nhạc mới chính xác, bát cũng bị chênh. Một người ca sĩ, ngoài tiếng hát nếu biết rõ về nhạc lý thì càng tốt, tốt lắm lắm (nếu không, trường nhạc mở ra để làm gì) như các chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và bác sĩ Bích Liên.

Âm nhạc và nhất là các ca sĩ trình diễn không thể bị đóng khung bởi những điều trường lớp dạy. Khi đã có căn bản, phải tự mình tìm cho mình lối trình diễn riêng và sử dụng tiếng hát của mình theo lối riêng lợi điểm của các anh chị không giỏi nhạc… như tôi chẳng hạn. Ngoài các thầy cô ở trường, khi ra tranh đua với đời, ta cũng nên tìm một người thầy hướng dẫn cho mình con đường nào tốt nhất. Đôi khi người thầy đó không giỏi nhạc nhưng họ có cái lỗ tai của người nghe, cái nhìn xa trông rộng giúp cho ca sĩ chọn đúng bài, cách trình diễn và cách hát. Người thông minh có thể không cần ai giúp vẫn tìm được cho mình một đường riêng, tuy nhiên điều này hơi hiếm. Phần lớn, các ca sĩ sau khi tốt nghiệp thường tự cho mình là giỏi, không cần ai nữa. Điều này thì nhiều.

Tôi viết những cảm nghĩ của một người nghe nhạc chứ không phải của một ca sĩ có 40 năm trên sân khấu. Tôi cảm thấy một nỗi thất vọng mênh mang khi cứ tình cờ phải nghe… nghèo 1 rồi nghèo 2 (đến nghèo 3 là sạt nghiệp)… Chim sáo ngày xưa 1, rồi chắc chim còn bay nên lại… chim sáo ngày xưa 2, (nếu không có chim 3 thì có nghĩa con chim này đã nằm trên đĩa). Chim này bắt chước chim đa đa, chim đa đa... đi mất thì đừng trách chim. Tôi nghe ông Song Ngọc hát… ngày chị sinh ứ…ư trời cho tôi làm thơ…ứ ư nhưng chữ ứ… ư này tôi không dám viết ra sợ bà con mắng. Tôi nghe bạn bè bảo bài… Nếu anh nói yêu em là thật ra anh đang dối lòng… là lời của một bản nhạc Mỹ nhưng tôi chưa nghe, không dám bàn tới, tuy nhiên, đó là một bài hát thành công của Bảo Chấn. Trần Tiến tướng tá bậm trợn, to như một đô vật nhưng lại thương cho một lá Diêu Bông, lại thương cho tóc gió thôi bay, lại làm riêng một bài hát về ông TCS. Nhìn ông TCS ngồi cạnh Trần Tiến, tôi nghĩ, đúng là…ở hai đầu nỗi nhớ….
Thì cứ cho là vì sống xa quê hương vì sự sống, các nhạc sĩ ở Hải Ngoại cạn hứng không có sáng tác nào đáng kể. Điều đó lầm. Ông Lê Minh Hằng đó chi. Ông Tuấn Khanh đó chi. Nghe “Nỗi Niềm”, “Nhạt Nhoà” mà không ngây ngất sao, nghe “Dĩ Vãng” của TNS mà không ngẩn ngơ sao. Nghe “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc mà không chảy nước mắt sao. Nghe “Có Những Niềm Riêng” của Lê Tín Hương mà không ngậm ngùi sao. Nghe “Tôi Muốn Hỏi Vì Sao” của Diệu Hương mà không thương cảm sao. Nghe “Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương” của Trần Duy Đức mà không thấy lòng ??? ??? sao. Nghe “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”, “Một Ngày Việt Nam - Những Bước Chân Việt Nam”, “Cám Ơn Anh”, “Cờ Bay Trên Phố Bolsa” của TrầmTử Thiêng mà không thấy xót xa sao. Nghe đi. Nghe “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông” của Trúc Hồ - Trầm Tử Thiêng để thấy tấm lòng VN ở Hải Ngoại lớn lao, bao dung và nhân hậu biết bao nhiêu. Nhạc hay là nhạc đến rồi ở lại trong lòng chúng ta. Ở đây, mọi người cần phẩm, không cần lượng. Đối với người nghe nhạc như tôi, nhạc thế mới xứng đáng gọi là nhạc phẩm.

Việt Nam trên 70 triệu người, có bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác và những bài hát của họ giờ đi về đâu. Nhà nước vốn kỵ nhạc vàng, đốt sạch hết nhạc vàng năm 75 sao giờ đây lại cho… chim bay tùm lum, lại than nghèo chí chạp, lại khuyến khích nhạc sĩ lấy nhạc Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Nhật Bản… viết lời Việt làm thành của mình, toàn những lời thương mây khóc gió, yêu thương vung vít.Tuổi trẻ VN bây giờ được quyền… bỏ học đi hát karaoke, không cần thi vẫn đậu. Cả nước được quyền xem phim bộ và nghe nhạc vàng… Là tại sao?

Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ VN ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke. Dĩ nhiên không phải các em nhỏ ở đây đều ở trong thư viện còn các em ở VN đi hát, hoặc đi chích hoặc ra trường rồi nhưng đang đi lang thang xin việc làm. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Vì các anh chê chúng tôi nên nói…chơi cho vui. Nhạc các anh làm ra, bên này bán tự do 10 đô 4 cuốn, đổ đống ra, tha hồ mà lựa. Rồi 10 đồng 5 cuốn, mua về nghe không hay, không thích. Dụt. Coi như mất 2 tô phở.

Nhạc của chúng tôi lọt được về VN thật là thiên nan vạn nan, bài nào không có lợi, chủ tiệm băng bèn cắt, bỏ vào đó một bài khác. Bìa băng và tựa băng đổi luôn và như thế, làm sao người nghe có thể nghe được bài hát có giá trị. Các anh chơi như thế là không công bằng, không fair, hoặc là các anh… rét, không muốn phổ biến những bài hát đó. Ở Hải Ngoại chúng tôi có một dúm người, các anh có hơn 70 triệu dân. Chúng tôi không sợ nhạc của các anh làm ảnh hưởng đến đời sống của chúng tôi, sao các anh sợ.

Các bạn của tôi giờ không ngại gì nữa. Nhạc Việt bây giờ là nhạc… lai căng (chính báo của Đảng CSVN đã than vãn việc này).

Tôi mơ ước được nghe lại những sáng tác đầy sáng tạo và đẹp đẽ của các nhạc sĩ ở trong nước cũng như chúng tôi ưu ái tiếng hát của các ca sĩ ở Việt Nam.

Khánh Ly

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Những ‘khúc ruột’ Việt Nam trôi trên dòng Tonlé Sap

Image
Những 'khúc ruột' thế này trên biển hồ Tonlé Sap mà nhà cầm quyền Việt Nam không hề muốn nhận. (Hình: Trần Mộng Tú)

Image
Lớp học tiếng Việt cho trẻ em nhưng không thấy các học trò có sách vở, bút viết. (Hình: Trần Mộng Tú)


Bút ký của Trần Mộng Tú

(Viết riêng cho Người Việt)

Từ hai tháng trước, khi sửa soạn chuyến đi Việt Nam, chúng tôi cũng đã có chương trình đi thăm Angkok Wat, và tôi đã dự tính trong lòng, thế nào cũng phải thăm ngôi làng nổi của người Việt trên Biển Hồ Tonlé Sap, thuộc Siêm Rệp (Siem Reap.)

Hơn hai mươi năm trước, có người nói với tôi về ngôi làng nổi lưu vong này, tôi chỉ mong có một ngày mình thu xếp được một chuyến đi đến đó cho thỏa lòng. Trong trí tưởng tượng của tôi, có một khoang thuyền nhỏ nào đó, có một ông cụ, ngồi dạy trẻ em đánh vần quốc ngữ Việt Nam; ở khoang thuyền khác có một ông ngồi bắt mạch hốt thuốc cho đám “nhân ngư”; rồi ở một cái thuyền khác tươm tất hơn, là nơi người ta tụ họp làm chốn thờ phụng, chốn tang ma, cưới hỏi theo từng tôn giáo. Bây giờ tôi sắp được nhìn tận mắt một nơi như thế rồi, hỏi sao tôi không nôn nả.

Sau khi đi thăm các ngôi đền đá chạm trổ danh tiếng của xứ sở Cam Bốt như đền Angkok Wat, Bayon, Pre Khan, Woman Temple và Farmer Temple, chúng tôi đi thăm làng nổi Việt Nam.

Tonlé Sap hay Biển Hồ của Campuchia có nghĩa là sông nước ngọt lớn. Người Việt quen gọi là Biển Hồ, chỉ sự rộng lớn của sông không có bến bờ.

Từ thành phố Siêm Rệp, chúng tôi đi xe mất ba mươi phút để đến cửa sông đào nhập vào sông Tonlé Sap, khúc sông đào này dài khoảng tám cây số. Chúng tôi bốn người, hai vợ chồng tôi và hai ông anh tôi cùng đi với nhau, thăm những người Việt sống trong những ngôi nhà nổi trên mặt sông này.

Chiếc thuyền máy băng băng qua dòng nước đục ngầu bùn, mùi nước thải có lẽ từ các ống cống thành phố xuống khúc sông đào dài này, bay vào mũi chúng tôi khá lâu. Hai bên bờ bắt đầu xuất hiện thưa thớt những ngôi nhà nổi của người Miên, khi thuyền nhập được ra sông lớn mới thấy bắt đầu có mùi cá và nhà nổi đông đúc hơn.

Tôi nôn nao hỏi người lái thuyền:

- Ðâu, khu nhà của người Việt đâu?

Anh Sơn tôi, người đã đến trước đó một lần, cách nay đến mười lăm năm rồi, nói:

- Cứ từ từ, sắp đến rồi.

Nghe anh nói từ từ, nhưng tiếng đập trong ngực tôi không chịu từ từ, những tiếng đập như có hai, ba, bốn trái tim cùng đập một lúc. Kìa cái nhà nổi đầu tiên của người Việt Nam xuất hiện. Anh lái thuyền tắp thuyền sát vào cái mảng tre ở trước nhà, tôi thấy một phụ nữ trên dưới bốn mươi tuổi, nước da ngăm đen, đang ngồi trên một chiếc võng. Căn nhà không có cửa nên có thể nhìn thấy tất cả đồ đạc của gian phía trước. Một cái bàn thờ, có bát nhang, có hình Phật dán trên vách, một cái máy truyền hình nhỏ, một cái bàn thấp và một cái ghế. Tất cả đều sơ sài, giản dị.

Anh chèo thuyền nói:

- Bà hỏi gì thì hỏi đi.

Tôi ngập ngừng một lúc, không biết mình hỏi tiếng Việt, người nghe có hiểu không? Tiếng Cam Bốt thì mình không biết, nhưng chợt nhớ ra là ở đây vẫn duy trì tiếng Việt, nên tôi vồn vã hỏi han và chị cũng vui vẻ trả lời. Chị tên Nga, bốn mươi hai tuổi, chỉ đứa con gái lên chín đang chơi ở một tấm mảng tre nổi bập bềnh sát nhà (khoảng 6 mét vuông).

Chị nói, đã ở đây hai thế hệ, mẹ chị sanh chị trên sông nước này, bà mới mất cách đây hai năm, cha còn sống, đang đi lưới. Chị cho biết hôm qua chồng chị đi bán nước ngọt cho du khách bị lính bắt cả thuyền. Hôm nay nước lớn chị cũng không muốn cho con đi học. Chị chỉ tay về phía trước, nói, đi lên đó năm phút sẽ thấy ngôi trường dạy tiếng Việt. Hỏi chị sao không lên bờ ở, có bị cấm đoán gì không? Chị nói:

- Không ai cấm lên, nhưng trước tiên là không có giấy tờ, không ai sanh ở đây có giấy khai sanh cả, người chết vì thế cũng không có giấy khai tử; thứ hai là không có tiền, làm sao mua được đất cắm lều.

Tôi hỏi chị có bao giờ về Việt Nam chưa? Chị nói có, về thăm dòng họ. Hỏi chị, không có giấy tờ làm sao đi? Chị nói đi chui (sau này khi chúng tôi từ Cam Bốt trở về lại Sài Gòn mới hiểu ra tại sao, việc khám xét giấy tờ rất kỹ). Hỏi chị sao không ở lại Việt Nam, chị nói, giấy hộ khẩu không có, làm sao ở. Nhà nước Việt Nam đâu có chương trình cho mình tái định cư.

Tôi bâng khuâng tự hỏi: Chính phủ Việt Nam không nhận, chính phủ Cam Bốt cũng không nhận. Chắc chỉ có những con cá trên dòng Tonlé Sap cho chị sự sống thôi.

Chúng tôi chào chị, tiếp tục đi xa vào lòng sông. Nhà cửa người Việt bắt đầu đông đúc hơn, trẻ em tuổi từ lên hai đến lên mười chơi ở trên những cái mảng bập bềnh như chơi trên sân cỏ. Chúng chạy, nhảy từ mảng này, sang mảng khác rất nhuần nhuyễn, chúng không có đồ chơi, chỉ xô, kéo nhau, thế mà vẫn nghe tiếng chúng cười rất hạnh phúc. Tôi nhìn dòng nước đục đỏ mầu đất, cuồn cuộn sóng, hỏi người hướng dẫn về những tai nạn chết đuối của trẻ em, anh ta nói:

-Chết đuối cũng có, nhưng chết vì nước bẩn, thiếu vệ sinh thì nhiều. Trẻ em ở đây hay chết vì “dịch tả.”

Một khu nhà nổi lớn có nuôi cá sấu và bán đồ lưu niệm cho du khách do người Miên làm chủ hiện ra. Chúng tôi rời thuyền, lên tham quan. Chưa kịp đặt chân lên sàn nhà, đã thấy lập tức ba, bốn chiếc thuyền nhỏ tắp vào theo; trên thuyền là những phụ nữ và trẻ em Việt. Tất cả mấy đứa trẻ cùng nhao lên ăn xin. Chúng làm mặt mếu máo, bán nải chuối, xin thêm tiền, kể đói, kể khổ, bằng tiếng Việt.

Trong một cái thuyền có năm người ngồi chung; một nhóm ba mẹ con, người mẹ khoảng ngoài hai mươi, với ba đứa con; một cậu lên sáu, bé gái lên hai và một bé ba tháng đang bú mẹ, nhóm kia hai chị em độ lên bảy, lên bốn. Cậu bé lên sáu, nhưng bé như lên bốn thôi, cầm con rắn vắt ngang cổ cho du khách sờ và xin tiền; vừa cho chú một đô, chú giắt ngay vào cặp quần, xong lập tức xin tiếp: cho con xin một ngàn (tiền Cam Bốt) con không tiêu tiền Mỹ. Cô bé cùng thuyền kêu lên: thằng này lanh lắm, nó nói xạo đó.

Bà mẹ trẻ trên thuyền, một tay vạch vú tự nhiên cho con bú, một tay đưa ra xin, cô bé thứ hai lên ba, tóc vàng khè vì cháy nắng, bé như cái kẹo không biết nói, nhưng cũng đã biết ngửa tay xin. Chồng tôi cúi xuống thuyền bế em lên, em không lạ, không khóc; thằng anh nhẩy phóc lên bờ như một con sóc bám chặt lấy chân tôi, đưa con rắn to như một con trăn ra dứ dứ trước mặt tôi, xin thêm tiền. Tôi thấy chú này lanh quá vừa buồn vừa thương.

Chưa kịp hỏi mấy đứa nhỏ một vài câu thì nhìn ra mặt sông đã thêm hai chiếc thuyền nữa chở phụ nữ và trẻ em, ba, bốn cái khác vừa là thuyền thúng, vừa là một cái thau nhôm to, mỗi cái có một cậu bé đen đủi, quần xà lỏn, ở trần, hay mặc cái áo thun đỏ quạch mầu bùn, cầm chèo gỗ khua nước tiến đến. Tóc chúng đỏ hoe vì nắng, chúng gầy còm và còn làm bộ mặt nhăn nhó, hay giả khóc để xin tiền. Những bà mẹ trẻ thì bế những em rất bé, èo uột trên tay. Tất cả cùng nói một giọng giống nhau: Cô cho con tiền mua mấy kí gạo, đói mấy ngày nay rồi. Tôi cho mỗi thuyền mười đồng (Mỹ kim), vừa hết cạn số tiền lẻ có sẵn trong túi. Mấy chú nhỏ được một đồng, làm mặt nhăn nhó kêu khóc ầm lên: sao không cho con nhiều, cho một đồng ít quá! Tôi quýnh quáng chạy tuốt vào phía trong cửa hàng, để mặc cho chồng tôi lãnh nốt.

Chúng tôi rời chỗ đó mà buồn nẫu ruột, không biết những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào? Chắc chỉ có ông Trời biết được!

Cái bảng kẻ hàng chữ Trường Việt Ngữ mầu xanh trên một nóc nhà nổi, trông từ xa đã thấy, tôi háo hức được gặp một lớp học với đàn trẻ đang ê, a đánh vần; cái lớp học tôi vẫn mường tượng trong đầu, nhưng lớp học hơi làm tôi thất vọng. Có lẽ được anh hướng dẫn du lịch báo trước, ông thầy đã ra tận cửa đón chúng tôi, niềm nở mời vào. Một gian buồng ngang khoảng năm thước, dài khoảng bẩy thước, có một loạt băng gỗ, đã có sẵn độ hai mươi em ngồi đó, không thấy có vẻ gì là đang học, vì không có sách, bút trước mặt. Các em thấy chúng tôi vào thì đứng lên nói: Chúng con chào quý khách đến thăm trường, xong lại ngồi xuống nói chuyện với nhau.

Tôi hỏi chuyện thầy giáo, ông tên là Trần Văn Tư, ông cho biết, từ Tây Ninh sang đây làm thiện nguyện; tôi hỏi có phải ông là nhà giáo trước đây không? Ông nói tôi dạy “nghiệp dư” thôi. Trường có từ lớp một tới lớp bốn, chủ trương chỉ dạy cho biết đọc, biết viết. Tôi không hỏi tiếp về việc dạy nữa. Tôi hỏi các em đang ăn xin ở ngoài kia có đi học không? Ông nói, đó là quyền của cha mẹ chúng, ai muốn cho con đến trường thì đến, ai muốn cho con ở nhà đi xin thì tùy họ. Ông cho biết trường hoàn toàn trông vào tiền của du khách. Tôi đưa cho ông một số tiền, không biết là mình có cho đúng chỗ hay không? Nhưng thấy hái mươi em ngồi trong đó, cũng hy vọng các em học được một điều gì khác với điều chỉ học ăn xin ngoài kia. Khi chúng tôi ra về, các em lại đứng lên nói: Tạ ơn quý khách.

Ông Tư đưa cho tôi một tấm danh thiệp và nói, nếu tôi muốn giúp đỡ thêm thì gửi tiền về, địa chỉ của vợ ông ở Tây Ninh. (Về sau, tôi được những người có kinh nghiệm hơn cho biết, ngôi trường này là một cái bẫy du khách vì du khách mua sách vở, dụng cụ học sinh ở của hàng nuôi cá sấu đó cho trường, sau khi du khách về những thứ đó lại xuất hiện ở cửa hàng.)

Ðịa điểm kế tiếp là một ngôi giáo đường mới thành lập năm ngoái. Chúng tôi đến thì vị linh mục người Indonesia phục vụ cho họ đạo Cam Bốt đang đi làm lễ ở ngoài Siêm Rệp. Một cặp vợ chồng khoảng gần bốn mươi, anh chồng ở đây từ hai mươi năm, anh là người Nam Ðịnh (chắc anh thuộc lính Việt đánh Cam Bốt, rồi ở lại), cho chúng tôi biết: Tổng cộng số gia đình làng nổi ở đây là năm trăm gia đình, nhưng chỉ có hơn ba trăm là có giấy tờ được ở chính thức, tổng số trên khu sông nước là hai ngàn người. Trẻ em sanh ra không có khai sanh, nên không được đi học trên đất liền, muốn đi học tiếng của họ, trường của họ, thì phải có cha mẹ đỡ đầu người Miên. Ða số trẻ em đi ăn xin du khách. Nhà thờ mới thành lập, giáo dân mới có khoảng hai mươi người.

Theo Lonely Planet dân số Việt trên đất Cam Bốt chính thức hơn một trăm ngàn người. Tổng số không có giấy tờ hợp lệ có thể từ nửa triệu đến hai triệu người, họ là một cộng đồng khác quốc tịch lớn nhất ở Cam Bốt, và cũng là cộng đồng đóng góp tích cực nhất ở Cam Bốt về ngư nghiệp và kỹ nghệ. Tuy nhiên vẫn có một sự nghi kỵ rất trầm trọng giữa Việt-Miên, ngay cả với những người Việt đã sống ở đó qua nhiều thế hệ.

Tôi rời sông nước lên đất liền, lòng chao như sóng. Hình ảnh những phụ nữ trẻ, những em bé Việt Nam sống từ đời này, sang đời khác ở biển hồ này làm tôi đau lòng. Không lẽ cứ ăn mày trên sông nước từ bé đến già sao!

Ai đó đang kêu gào “Khúc ruột xa ngàn dặm” trở về, sao không vớt hộ những khúc ruột đang trôi bập bềnh trên dòng Tonlé Sap này. Hai ngàn người sống không khai sanh, lấy nhau không hôn thú, chết không khai tử đó, chắc thế nào cũng có lúc ngồi trên sóng nước mơ về mảnh đất liền của quê hương gốc mình.

Khúc ruột bên trời Âu, Mỹ có thể bay mấy chục ngàn dặm về được, còn họ chỉ hơn một trăm cây số đường bộ, nhưng khúc ruột vẫn bập bềnh trên dòng Tonlé Sap từ thế hệ này, qua thế hệ khác, không bao giờ được ai vớt lên bờ cho họ thực hiện được giấc mơ về quê hương đích thực của mình.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image


TÌNH GIÀ
Thái Quốc Mưu

Thời trai trẻ, tôi thấy nhiều ông bà già, đã già gần sụm bánh chè mà vẫn còn lấy nhau. Tôi vừa ngạc nhiên, vừa nực cười, tự nghĩ “già rồi còn làm ăn” gì được nữa mà bày đặt yêu đương!” Tôi đem ý nghĩ ấy nói với Ngoại tôi, lúc ấy bà gần bảy mươi. Ngoại tôi nói: “Cháu hổng biết, chớ chuyện tình yêu thì người nào đầu gối còn có máu thì còn muốn yêu và muốn được yêu.” Cách nay vài năm, tôi gặp người bạn vong niên, một nhà thơ lừng lẫy, tuổi gần chín chục, ông có người yêu ngoài sáu chục, tôi lại hỏi: “Anh già rồi còn gì nữa đâu mà yêu với yết?” Ông bạn tôi cười hồn nhiên, đáp: “Ở tuổi nào mà có người đề mình yêu và được người yêu mà> không thích anh?”

Hồi đó, nghe Ngoại nói, tôi không phản đối, nhưng không tránh được tức cười thầm. Tôi muốn hỏi: “ông Ngọai mất lâu rồi, bà Ngoại có muốn yêu ai nữa không?” Nghĩ là vậy, nhưng tôi chẳng có gan đồng nên không dám hỏi.

Bây giờ tôi đã sáu lăm, có mười đứa con, với đàn cháu nội, ngoại gần bốn mươi đứa. Tôi đến Mỹ, vừa mười sáu năm. Tôi nhớ rõ như vậy là năm tôi đến Mỹ cũng là năm bà Nội bà Ngoại lũ cháu qua đời. Tôi quạnh quẽ từ đó. Ở vào cái tuổi xấp xỉ năm mươi mà “mồ côi”, lại mồ côi vợ trên cái xứ dư thừa vật chất, nhiều cám dỗ nầy. Lòng tôi rất khó chịu và phải tranh đấu thường xuyên trước sự cám dỗ quái ác kia.

Tôi chịu đựng như vậy gần tám, chín năm. Thời gian ấy là một chuỗi dài đáng kinh sợ cho một con người còn sung mãn về thể lực, nhưng lại thiếu thốn về tình cảm. Một thứ tình cảm đòi hỏi phải được đáp ứng từ một người không cùng giới tính.

Như mọi sự vật, sức chịu đựng trong lòng tôi cũng có giới hạn. Một hôm lòng khao khát trong tôi phát hiện ra nhược điểm của biên giới đó, nó len lỏi chui ra ngoài và chẳng đặng đừng, tôi quyết định đăng báo tìm bạn bốn phương, với hi vọng tìm được người bạn già cùng cảnh ngộ sớm hôm tâm sự cho đỡ buồn. Nếu có thể cùng tiến tới để hủ hỉ bên nhau.

Sau khi viết nội dung lời rao tìm bạn, gởi cho tờ tạp chí địa phương. Trở vào phòng, lòng tôi cảm thấy vui vui, đứng trước gương ngắm nghía, tôi thấy vóc dáng mình cũng còn “ngon lành ra phết”, gương mặt cũng đầy đặn, mái tóc vẫn tiêu nhiều hơn muối, râu ria nhẵn nhụi, chung chung cũng còn tí “có lý với đời”. Tôi mỉm cười rồi chợt giật mình, cái hàm răng chỉ còn hơn mười cái. Tôi nghĩ, mình phải làm lại hàm răng. Thế là sáng hôm sau, tôi đi tìm một ông nha sĩ.

Ngày tạp chí Kiến Thức Phổ Thông Dân Việt phát hành, đúng vào ngày hẹn tôi đến phòng mạch nha sĩ, nên quên phức nó đi. Khi về, tôi vừa bước vào nhà thấy trên chiếc sofa đôi ở phòng khách, vợ chồng thằng con Út đang ngồi bên nhau. Đứa cháu nội ba tuổi chạy tới chạy lui bên cha mẹ nó. Thấy tôi, chúng nhìn tôi rồi ngó nhau tủm tỉm cười có vẻ khác lạ. Tôi làm như không quan tâm định bước vào phòng thì vợ thằng Út nói:

- Thưa Ba, có tờ Dân Việt mới nè ba!

Trong khi tôi đưa tay lấy cuốn tạp chí từ tay con dâu Út thì thằng chồng nó nhìn tôi cười, nói:

- Con đọc thấy lời rao tìm bạn của Ba, nhưng con nghĩ Ba viết như vậy chưa đủ.

Tôi mở tờ báo, chọn mục “Tìm bạn bốn phương”, dò lời rao của mình, đọc nhẩm: “Đàn ông 65 tuổi, góa vợ 16 năm. Hiện đang sống với người con Út. Kinh tế, tài chính trung bình. Tìm bạn gái cùng lứa tuổi, cùng hoàn cảnh. Nếu hợp sẽ tiến xa hơn. Thư về…”

Đọc xong, tôi nhìn nó, hỏi:

- Ba đăng như vậy là đủ rồi. Con nói thiếu là thiếu chỗ nào?

Trong khi thằng con Út tôi cười ngặt nghẽo, thì vợ nó vừa cười vừa đáp thay chồng:

- Hồi nãy, đọc báo thấy Ba rao tìm bạn, ảnh nói với con, sao Ba không ghi thêm câu “Để ngắm nhau trong lúc vui và khi chết có thêm người khóc!”

Tôi bật cười vì lời châm chọc của tụi nó. Và tôi chợt nghĩ, cái tư tưởng của thằng Út nhà tôi, “để ngắm khi vui và…” Sao mà nó giống hệt với cái ý của tôi gần năm mươi năm về trước, “già rồi còn làm ăn gì được mà bày đặt…”

Tôi không nhớ rõ bao lâu, dường như hai tuần sau thì phải, tôi nhận được bốn lá thư của “những người bạn gái cùng cảnh ngộ như tôi”. Trong đó có một lá đáng chú ý nhất, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Người đẹp viết:

“Ngày..

Kính gởi ông,

“Hân hạnh biết ông qua mục “tìm bạn bốn phương”. Lần đầu tiên đặt bút viết cho một người không quen biết, tôi cảm thấy e ngại thế nào ấy. Sở dĩ bức thư nầy gởi đến ông vì tôi muốn được giao thiệp với ông để trao đổi tâm tư và học hỏi thêm những điều hay, ý đẹp của bốn phương. Hy vọng thư tôi đến sẽ đem lại cho ông một niềm vui nho nhỏ và ông sẽ hồi âm với tất cả lòng chân thành.
Mặc dầu chưa được biết ông lần nào, nhưng tôi hy vọng ông sẽ là người bạn tốt của tôi sau nầy. Tôi không ao ước gì hơn là có được một người bạn tri kỷ cùng chung lý tưởng, hiền lành, thành thật để dìu nhau trên bước đường đời còn lại trên mảnh đất tha hương. Ngoài ra, tôi không ước gì hơn nữa. Vì suốt đời tôi đã trải qua nhiều đau khổ đắng cay nên mãi đến bây giờ vẫn cô đơn buồn chán.

Tôi nghĩ tiền tài, danh vọng không bao giờ đem lại hạnh phúc lâu dài mà chỉ có sự chân thật mới đem lại cho chúng ta một tình bạn cao đẹp đáng quý trọng mà thôi. Riêng tôi, với những tánh tình sẵn có của một người phụ nữ Á Đông thuần túy hiền lành, đảm đang và chung thủy, hy vọng sẽ được làm người bạn gái của ông sau nầy và mãi mãi…

Tôi là cựu nữ sinh trường trung học Gia Long ngày xưa, sau khi tốt nghiệp đại học, lập gia đình với một thương gia xuất nhập cảng và đã tan vỡ từ năm 1974, vì không chịu đựng được sự đau khổ triền miên của ông chồng hào hoa, nhiều nhân tình…

Tôi và các con qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do người chị ruột bảo lãnh trên 25 năm nay. Hiện các con tôi đã thành tài và có sự nghiệp, lập gia đình, nhà cửa khang trang. Tôi không còn lo lắng gì cho chúng nữa. Duy có một điều là tôi vẫn còn cô đơn và buồn chán vì từ trước đến nay, tôi chưa hề tìm được bạn tri kỷ như tôi đã từng ao ước. Cái ao ước nhỏ bé có được một người bạn đời chân thật, chỉ thế thôi ông ạ!

Đó là sự thật của lòng tôi. Tôi không dám viết gì nhiều hơn sợ làm phiền ông chăng? Vả lại, việc làm đầu tiên bao giờ cũng khó, khi ta chưa biết đường đi nước bước của nó. Dù sao tôi cũng rất mong nhận được thư ông một ngày gần đây để chúng ta có dịp hàn huyên cùng nhau trong những lúc cô đơn buồn thảm…


Xin phép ông cho tôi dừng bút. Hẹn những cánh thư sau sẽ dài và vui vẻ hơn.
Thành thật chúc ông nhiều may mắn trên đường đời.

Người bạn mới của ông

Trần Ngọc Lan Hương”

Tôi đọc đi đọc lại lá thư nhiều lần. Nội dung của nó làm tôi thích thú. Người đẹp trong trang thư có những đặc điểm tương đồng về học lực, hoàn cảnh, cô đơn… và nhất là cũng mong có một người bạn thành thật để chia sẻ vui buồn… cũng như tôi. Tôi “chấm” ngay người đẹp có cái tên đẹp đẽ nầy.

Tôi vào phòng, khóa cửa, tránh sự quấy phá từ thằng cháu nội. Tôi viết thư cho người đẹp mới quen. Vì muốn trải tâm tư qua trang giấy, tìm lại chút dư âm của thời trước bục giảng đại học. Tuy già nhưng chúng tôi cũng biết lãng mạn chứ bộ! Tình yêu không phân biệt tuổi tác nên ở bất cứ lứa tuổi nào cũng nôn nao, rạo rực như nhau.

Chúng tôi thỏa thuận không phone mà chỉ thư cho nhau. Hệ thống bưu điện ở Hoa Kỳ làm cho cả hai chúng tôi rất hài lòng.
Mỗi xế chiều chúng tôi được thư nhau. Thư đi thư lại chừng hơn tháng, tình cảm biểu hiện, rõ nét qua từng cánh thư. Chúng tôi gởi ảnh cho nhau. Khi gởi tấm ảnh đến “cô Cử” gần bốn mươi năm về trước, tôi cẩn thận chọn một tấm ảnh vừa ý nhất, “bô trai” nhất rồi cặm cụi viết vào đó, “Trao Lan Hương, người đem đến cho anh nguồn vui và hạnh phúc.”

Đối lại, tôi cũng nhận được tấm ảnh của người thương. Trong ảnh, dưới lăng kính lúp, tôi thấy người phụ nữ xinh đẹp, tuổi trên dưới năm mươi, mặc thời trang, mái tóc dài chảy xuống ngập bờ lưng, kiểu tóc gợi nhớ giảng đường đại học xa xưa. Trong ảnh, người đẹp đứng trên lan can nhà.

Tôi rất thích thú vì ước vọng của mình đã đạt thành. Tôi viết thư cho nàng, hẹn ngày gặp mặt. Hôm sau, tôi nhận được hồi đáp. Nàng viết:

“Anh của em,

Không gì vui sướng bằng khi nhận được thư anh. Hương mong anh từng giờ đó! Anh biết không anh?

Đã lâu lắm rồi trên ba chục năm nay, Hương chưa bao giờ biết mong đợi ai mà bây giờ Hương đang mong chờ anh, chứng tỏ tình Hương đối với anh như thế nào. Anh ơi, Hương hồi hộp quá..!

Theo ý anh, Hương quyết định chọn ngày… chúng mình gặp nhau. Hương sẽ dành trọn vẹn ngày ấy bên anh.

Nhớ anh nhé, giờ ấy, ngày ấy nha anh!

Đêm về anh ngủ, mộng nhớ em nha!

Hôn nhiều,

Lan Hương của anh.”

Đọc thư xong, tôi thấy lòng rộn ràng khôn tả. Nói ra sợ lũ trẻ chúng cười, chẳng hiểu sao lòng tôi lúc bấy giờ rạo rực y chang như hồi mới biết yêu lần đầu. Tôi chợt nhớ đến lời của bà Ngoại tôi, và tôi thầm phục chính mình đã không hỏi Ngoại: “Già rồi, còn “làm ăn” gì được mà bày đặt yêu đương!”

Tôi ngắm gương, tóc hơi dài, tôi đi cắt ngay. Chỉ còn khoảng mười tám tiếng đồng hồ nữa là chúng tôi gặp nhau. Tôi chọn sẵn bộ veston đẹp nhất, chiếc càvạt xinh nhất, tìm quanh không biết cái kẹp càvạt biến đâu rồi. Tôi phóng xe ra tiệm, nhân tiện đi rửa luôn chiếc xe.

Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm. Trước gương, những sợi râu lún phún trên cằm bị tôi tận tình cạo nhẵn nhụi, cạo đi cạo lại nhiều lần, cạo đến nỗi da mặt nghe ran rát mới thôi. Tôi lấy hàm răng giả ra, săm soi, lau chùi lần nữa, gắn vào hàm, mỉm miệng cười, hàm răng đều đặn trắng bóng nhô ra. Tôi hài lòng về nó. Xịt lên đầu chút keo, tôi chải đi, chải lại những sợi tóc hiếm hoi, cố tình che dấu mái đầu hói của mình, nhưng tôi thất vọng. Thôi kệ, trời sinh sao chịu vậy! Tôi tự an ủi, “dầu sao tướng tá của mình vẫn còn có lý với đời”.

Tôi định bước ra cửa, thằng Út đang ngồi vừa xem TV vừa uống cà phê sáng. Nó thấy tôi ăn mặc tươm tất, dáng điệu lăng xăng, bèn cười hỏi:

- Hôm nay ba đi gặp Mommi hả ba?

Tôi làm giọng nghiêm khắc:

- Chuyện của ba, con đừng có xen vào.

Vậy mà nó còn cười tiếp:

- Con có dám nói gì đâu! Thấy Ba vui, con chúc mừng Ba mà! Ba cho con gởi lời chào Mommi nha Ba!

Rồi nó ôm con nó vào lòng nói nựng:

- Con ngoan! Bữa nay ông Nội đi coi mắt vợ, ít lâu nữa ông rước bà Nội về cho con. Hôm nay, con hổng được vào phòng lục lạo thư từ của bà Nội nha!
Nói xong nó nhìn tôi cười, đứng lên dang rộng hai tay hát:


“Tình yêu, ôi tình yêu,
Tình yêu làm cho lòng ta xôn xao,
Làm cho lòng ta nôn nao,
Làm cho giờ đây ta chao dao
Vì đêm qua ta không ngủ
Ta cám ơn tình yê…ê…êu…u!

Tôi không biết nó “sáng tác” lời ca quỷ quái đó hồi nào. Nhưng qua lời nó “dặn dò” đứa cháu nội, tôi biết chắc một điều là nó đã lén đọc thư Lan Hương> gởi cho tôi. Đúng là “thằng con chết bầm”!

Mới đặt tay vào nấm cửa, tôi lại nghe con dâu nói với chồng nó:

- Anh kỳ quá, cứ “phá” Ba hoài. Mình nên thông cảm tuổi già cô đơn của Ba chứ anh!

Quay nhìn tôi, nó tiếp:

- Con chúc ba đi chơi vui vẻ. Ba lái xe cẩn thận nha Ba!

Đúng là con dâu của tôi hiếu thảo, khôn ngoan ra phết. Nó biết nói những lời làm vừa ý “ông già chồng”. Tôi bước ra ngoài, kéo cửa ập lại. “Hổng dè, con vợ thằng Út coi vậy mà biết điều. Đúng là khi chọn cưới nó cho thằng nhỏ, mình đã không lầm.” Tôi nghĩ, lòng cảm thấy vui vui.

Trời Đông năm nay thật lạnh, lạnh dai dẳng, lạnh lạ lùng.

Lòng tôi thì khác, ấm áp làm sao!

Tôi lên xe nổ máy. Chỉ gần ba mươi phút nữa, nó – chiếc xe, sẽ có người đẹp ngồi chiếc ghế bên cạnh “lão tài xế”. Trên đường tôi huýt sáo một bản nhạc tình, lòng cảm thấy khoan khoái vô cùng. Tôi phóng xe với tốc độ mà mỗi khi có việc hai tía con cùng đi, ngồi bên cạnh thằng Út, tôi thường nhắc nhở nó, “Con chạy vừa thôi, đâu cần chạy nhanh như vầy!”

Xe vào Exit chỉ dẫn, tôi lấy tờ giấy hướng dẫn lộ trình thủ sẵn trong túi ra xem, bất ngờ tay lái chao đảo, chiếc xe hơi lệch trên đường. Tôi nhẩm đọc, “… quẹo trái, đến đường A, quẹo phải, gặp đường……… Đây rồi, số Z đúng
rồi…”
Xuống xe, cẩn thận như chàng trai đi làm rể trước khi vào cổng nhà nhạc gia, tôi vuốt ve áo quần cho thẳng thớm, giữ thái độ bình thản, sửa tướng, “đường bệ” đi vào. Ngôi nhà thật sang trọng, theo lời dặn của người đẹp, không cần bấm chuông, tôi gõ nhẹ vào cửa. Chỉ tiếng gõ đầu, cánh cửa mở ra. Nàng chờ sẵn.

Trước mắt tôi, người đàn bà khoảng sáu chục, vóc người mảnh khảnh, làm da trắng ngần, mặc đầm dài, trang điểm nhẹ, nét quý phái biểu hiện trên gương mặt mà nét thanh tú ngày nào còn phưởng phất đâu đây.Chiếc mũi thon, thẳng, kín đáo trên gương mặt trái soan đầy đặn, sáng sủa, trí thức dưới chiếc kính lão đắc tiền.

Tôi hỏi:

- Chào bà. Thưa bà tôi muốn gặp Lan Hương.

Người đàn bà nói:

- Xin chào ông, xin lỗi, ông là…

Tôi tiếp lời:

- Tôi là Tân, Nguyễn Đại Tân.

Người đàn bà cười khoe hàm răng trắng, đều như hạt bắp:

- Hân hạnh được gặp anh. Em là Lan Hương.

Tôi hơi giật mình, thoáng chút ngỡ ngàng. “Bà cụ” trước mặt tôi phưởng phất nét đẹp người trong ảnh mà Lan Hương đã gởi tôi, nhưng thể chất già hơn nhiều. Còn tấm ảnh cho thấy “người đẹp của tôi” chỉ khoảng trên dưới năm ba. Ai ngờ… Có lẽ Lan Hương nhận ra ý tôi, nàng cười nói:

- Tấm hình em gởi đến anh, chụp hồi em năm mươi hai tuổi, gần mười năm nay em không có chụp hình. Xin lỗi anh!

Đúng là nàng đã dối. Nhưng tôi chẳng dối nàng là gì! Khi gởi ảnh nàng tôi cũng lựa, chọn tấm ảnh “bô nhất” chụp hơn mười năm trước. “Đúng là vỏ quýt dày gặp móng tay… sắt”. Mà hổng sao, nàng của mình rất đẹp lão. Tôi nghĩ.

Chúng tôi cùng ngồi xuống. Trong khi tôi còn phân tâm, Lan Hương cất tiếng. Giọng nàng êm như lời văn trên những cánh thư gởi đến tôi. Nàng khéo léo:

- Em có cảm tưởng, dường như anh già dặn hơn tấm hình em có được.

Tôi không biết nàng nói thật hay là để trách khéo tôi, “anh cũng như em thôi, vậy mà còn trách người ta.” May thay! nàng đã giúp tôi trả lời:

- Sáu lăm tuổi mà trông anh còn trẻ, khỏe mạnh như trên năm mươi. Em rất mừng!

Tôi tiếp lời người đẹp:

- Em rất đẹp và quý phái. Được em chấp nhận anh làm người bạn đời, anh rất vui mừng!

Lan Hương khoe vành môi không son bóng mọng trong nụ cười duyên dáng:

- Cảm ơn anh! Mời anh dùng nước.

Tôi đứng lên, đến bên nàng. Lan Hương cũng đứng lên. Tôi nắm tay nàng rồi bất thần ôm trọn thân hình thon gọn ấy vào lòng. Nàng áp đầu vào vai tôi, lim dim đôi mắt đón nhận tình yêu như thuở xuân thời. Tôi tìm môi nàng, Lan Hương đáp nhận. Bốn cánh môi gặp nhau, quấn quýt.

Hai hàm răng giả mới gắn mấy ngày chưa quen, tôi cảm thấy khó chịu. Ngoảnh qua, tôi vội gỡ nó cho vào túi quần, lại tiếp tục đường môi. Toàn thân Lan Hương mềm nhũn, run bần bật, chẳng khác gì người tình đầu của tôi hơn bốn mươi năm trước.

Tôi vuốt tóc nàng, Lan Hương đưa tay giữ chặt, nói trong hơi thở thều thào:

- Đừng anh ! Em xuống tóc (cạo đầu) cầu nguyện Trời Phật ban cho em được gặp anh là người mà em nghĩ rằng, anh đến với em bằng tất cả lòng thành thật. Và chúng ta sẽ dìu nhau đi hết quãng đời còn lại. Đừng buồn em nghen anh!

Tôi chết lịm vì những lời ngọt ngày ấy, nhưng tôi không buồn vì mái đầu trọc của nàng, ngược lại tôi xúc động, lòng cảm thấy rưng rưng đón nhận mối chân tình của người “lão bà” đáng yêu đáng quý nầy./-


Thái Quốc Mưu

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thánh Chiến Hết Linh
Những tổ chức tôn giáo đem quân đi tác chiến thường dùng danh từ Thánh chiến (Holy war) để nêu cao ý nghĩa thần thánh cho cuộc chiến họ phát động. Từ ngữ này đã có từ Thế kỷ 11, Hồi giáo gọi đó là Jihad khi họ đánh chiếm thành phố Jerusalem. Đối lại Công giáo La Mã, gọi là Crusade với ý nghĩa Thập tự chinh, để lấy lại thành phố này. Jerusalem từ thời xa xưa cho đến nay đã có những di tích của Thiên chúa giáo bắt nguồn từ Do thái giáo. Về phía Hồi giáo sau khi xuất hiện vào Thế kỷ 7,đã mang quân chiếm thành phố này, khiến các cuộc thánh chiến đã xẩy ra từng đợt nhiều lần trong 4 thế kỷ liên tiếp.
Hãy nhìn lại vài nét lịch sử về mối liên hệ giữa hai tôn giáo này. Ky-tô giáo xuất hiện từ Thế kỷ 1 với sự tích chúa Ky-tô, con của Thiên chúa giáng sinh tại Nazareth, thuộc vùng Galilee, hiện là miền Bắc nước Israel của dân tộc Do thái. Ky-tô giáo, nay được gọi là Công giáo, đã bắt đầu từ đây. Hồi giáo thành hình 7 thế kỷ sau đó, do Mohammad sáng lập ở Mecca, nay thuộc Saudi Arabia. Các tín đồ Hồi giáo tin rằng Mohammad cũng là một đấng Tiên tri, kế tiếp các tiên tri Adam, Abraham, Moses. Nếu Do thái giáo thờ Abraham và Issac, Hồi giáo lại thờ Abraham và Ishmael, người con đầu nhưng sinh ra bởi bà vợ nhỏ Hagar gốc Ai Cập. Trong Thánh Kinh Koran của Hồi giáo, tên của Abraham được nói đến trong 25 chương trong 114 chương của kinh này.
Đến Thế kỷ 11, tình hình thế giới đã đổi thay, xã hội các nước Âu châu tiến hóa rất nhanh và mạnh hơn xã hội các nước ở Trung Đông nơi xuất phát Hồi giáo. Đặc biệt Công giáo La Mã thành hình từ Thế kỷ 1 với sự tích chúa Ky-tô giáng trần đã lan tràn rất mạnh ở Trung Đông trước khi đạo Hồi thành hình. Đến thế kỷ 13, các cuộc thánh chiến chấm dứt vì khi nền văn minh của các nước Âu châu tràn vào Trung Đông, xã hội loài người đã tiến bộ rất nhiều.
Tới thời nay Thế kỷ 20, quân đội Liên Sô tấn công và chiếm Afghanistan vào cuối thập niên 70, những người Hồi giáo nổi lên đánh du kích để chống chế độ Cộng sản trong suốt 10 năm. Đây là lúc từ ngữ Jihad được xuất hiện trở lại và đến năm 1987-89, quân Liên Sô phải bỏ chạy về nước, các toán du kích Taliban lên cầm quyền. Đến năm 2001, sau khi tổ chức khủng bố al-Qaida của Osama bin Laden cướp phi cơ đánh vào New York, quân đội Mỹ và đồng minh NATO tấn công chiếm Afghanistan. Cuộc chiến kéo dài đến ngày nay.
Từ Thế kỷ 11 đến nay 1,000 năm đã trôi qua, từ ngữ Thánh chiến (Jihad hay Crusade) đã hết linh, bởi vì trí tuệ của loài người đã tiến bộ rất nhiều. Trước hết đây không phải là chiến tranh tôn giáo, vì bất cứ tôn giáo nào cũng lấy từ bi bác ái làm đầu. Ngày nay chỉ có những nhóm tổ chức vì lý do chính trị đã lợi dụng tôn giáo gây chiến tranh với với một chiến thuật tàn bạo quái đản chưa từng thấy trong lịch sử loài người là thủ đoạn "đánh bom tự sát" của bọn al-Qaida do bin Laden cầm đầu.
Trước nạn khủng bố đánh bom tự sát quân Mỹ và NATO (nói chung là quân đồng minh do Mỹ chỉ huy) phải làm gì? Quân đồng minh tham chiến không nhân danh tôn giáo mà chỉ nhằm tiêu diệt một mầm mống di họa đến cả thế giới là bọn khủng bố jihad. Hiểm họa không phải nhỏ, vì trên Thế giới ngày nay Hồi giáo có 1.5 tỷ tín đồ, sống ở hơn 150 nước trên Thế giới. Nếu chủ thuyết jihad được nhiều người Hồi tán trợ, khối Tây Âu sẽ đứng trước một sự đụng độ khốc liệt về văn hóa với máu và nước mắt không biết đến bao giờ mới hết. Tuy nhiên với tình hình ở Iraq, Afghanistan và Pakistan từ năm 2009, người ta đã thấy hiện tượng gió đã đổi chiều của những người đạo Hồi ôn hòa ra mặt chống lại bọn khủng bố trong mối đạo của họ, và rất có thể còn nhiều người khác cũng chống nhưng vì lý do an ninh không dám bộc lộ ra ngoài.
Với biến chuyển âm thầm đó, người ta không còn lo ngại sẽ có trường hợp một nước Hồi giáo lớn, có nhiều nguồn tài nguyên lọt vào tay bọn al-Qaida hay một tổ chức nào mang tên khác dưới sự lãnh đạo của Osama bin Laden và đồng bọn. Một số nước lớn Hồi giáo ở Trung Đông kể cả ở Nam và Đông Nam Á đã ổn định được chế độ và xã hội của họ, cô lập được bọn chủ trương cực đoan. Đây không phải là những nước tự do dân chủ theo kiểu Tây phương, nhưng các lực lượng thế quyền hiện đại đã làm chủ được đất nước của họ, được cả khối Hồi giáo trên thế giới hoan nghênh. Thành ra mối quan tâm của Thế giới nói chung giờ đây chỉ còn nhắm vào các nhóm nhỏ Thánh chiến cuồng tín sống rời rạc trên thế giới.
Trước tình hình đó, chúng tôi thiết nghĩ Mỹ và Đồng minh cần phải thay đổi cả chiến lược lẫn chiến thuật trên những chiến trường chống khủng bố. Về chiến lược, ưu tiên là cần phải bảo vệ người dân ở những nơi đang có chiến tranh. Để đạt được sự bảo vệ đó, dù có phải hy sinh những chiến thắng ngay trước mắt ở trận tiền, các tư lệnh quân đội đồng minh cũng phải chấp nhận và thi hành.
Trong khung cảnh chiến lược đó, về mặt chiến thuật các vị chỉ huy cần phải quên đi nguyên lý căn bản là giết cho thật nhiều bọn ôm bom tự sát và những kẻ ghi tên trong danh sách đi học nghề khủng bố. Trước hết, kẻ đã đeo bom tự sát hiển nhiên chỉ là những thây ma biết đi, vậy giết chúng có ích gì? Nếu đã biết có kẻ tình nghi ôm bom tự sát đi lẫn trong đám đông, việc tốt nhất là phải kín đáo làm cho nghi can rời khỏi đám đông trước khi bom có thể nổ.
Tóm lại chiến tranh chống bọn khủng bố không nhằm tấn công thể xác mà nhằm vào phần hồn của chúng, để làm thức tỉnh lương tri con người những kẻ đó. Cố nhiên đây không phải là một trận đánh quân sự chớp nhoáng mà là một trận tâm lý chiến kéo dài trong thời gian. Thời gian này chắc chắn không dài quá lâu vì nhũng biến cố gần đây nhất, trong đó có cả những phát minh khoa học kỹ thuật kỳ diệu trong 10 năm qua, cho thấy trí tuệ của loài người đã tiến bằng những bước khổng lồ vô cùng kỳ diệu, gạt bỏ hẳn những thói mê tin dị đoan, u mê ám chướng của con người một ngàn năm trước còn lưu cữu ít nhiều cho đến ngày nay.


SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Khủng bố dự tính nổ bom New York giờ đông người
Wednesday, February 24, 2010
Báo Người Việt


Image

Najibullah Zazi trong thời gian bị FBI thẩm vấn ở Denver, Colorado. (Hình:AP)





NEW YORK (AP) - Kẻ nhận đã âm mưu nổ bom hệ thống xe điện ngầm ở New York định sẽ thực hiện điều này với sự hỗ trợ của ít nhất hai người khác trong giờ cao điểm, để có thể giết chết nhiều người, theo nguồn tin của cảnh sát thành phố hôm Thứ Ba.

“Ðây là điều thật đáng lo ngại,” giám đốc cảnh sát Raymond Kelly cho biết. “Ý định của người này là cho nổ bom ở trên các xe điện vào giờ cao điểm và hạ sát người dân New York. Không có gì nghi ngờ về điều này.”

Nghi can Najibullah Zazi, 25 tuổi, hôm Thứ Hai nhận các tội truy tố, kể cả tội âm mưu dùng võ khí hủy diệt và hỗ trợ al-Qaeda, từng huấn luyện người này ở Pakistan.

Zazi, hiện đang bị giam, đã hợp tác với nhà chức trách và cung cấp các chi tiết về âm mưu bổ bom hồi đầu tháng này, một giới chức cảnh sát cho hay. Anh ta có thể bị án tù chung thân khi bị tuyên án vào tháng Sáu tới đây, dù rằng việc hợp tác với giới hữu trách có thể giúp được sự khoan hồng.

Một giới chức cảnh sát thông thạo về vụ này cho hay giới hữu trách đặc biệt lưu ý đến khoảng thời gian Zazi ở Pakistan và khi al-Qaeda tuyển mộ anh ta. Viên chức này nói rằng giới hữu trách muốn biết chi tiết về thành phần lãnh đạo và hệ thống tổ chức của nhóm đã tuyển mộ anh ta, chiến thuật của al-Qaeda và tên của những người liên lạc.

Giới hữu trách không tìm kiếm các nghi can khác trong vụ này, theo lời viên chức trên.

Ông Kelly hứa sẽ công bố thêm các chi tiết về âm mưu khủng bố khi những người khác bị đưa ra trước tòa. Ông cho hay giới chức an ninh tin rằng họ đã tìm ra được những người tham dự vào âm mưu khủng bố.

Những người khác bị truy tố trong vụ này có cha và chú của Zazi cùng Zarein Ahmedzay và Adis Medunjanin, hai người bạn từng cùng với Zazi sang Pakistan năm 2008. (V.Giang)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Trình độ học vấn của bộ trưởng Việt Nam, Mĩ và Úc


Nguyễn Văn Tuấn
31.01.2010

Một trong những đặc điểm đáng chú ý trong giới quan chức Việt Nam là họ thường có bằng cấp rất cao. Thật vậy, chỉ nhìn qua những danh thiếp của cấp thứ trưởng, vụ trưởng, hay thỉnh thoảng đọc báo về chức danh của các bộ trưởng, chúng ta thấy họ thường là tiến sĩ hay thạc sĩ. Ngược lại, đối với giới quan chức nước ngoài, ấn tượng tôi có qua các danh thiếp của họ là trình độ học vấn trung bình, thường thường là bậc cử nhân, rất hiếm thấy bộ trưởng các nước phương Tây có bằng tiến sĩ. Nhưng đó chỉ là ấn tượng, chứ chưa có bằng chứng nào để so sánh cụ thể. Theo tôi biết, cho đến nay, vẫn chưa có ai làm thống kê để biết trình độ học vấn của quan chức Việt Nam và ngoại quốc như thế nào. Có được những thông tin này tôi thiết nghĩ cũng thú vị vì nó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về trình độ của các quan chức chính phủ.

Tôi chọn các quan chức cấp bộ trưởng, vì thông tin về các vị này tương đối đầy đủ hơn. Các thông tin về chức vụ, năm sinh, trình độ học vấn của các bộ trưởng (hay quan chức tương đương cấp bộ trưởng) của Việt Nam, Mĩ, và Úc được thu thập cho từng cá nhân. Riêng trường hợp Việt Nam, tôi còn thu thập thêm thông tin về quê quán để xem sự phân phối giữa 3 miền ra sao.

Kết quả cho thấy nội các của Việt Nam có 26 thành viên, ít hơn Úc (28 người), nhưng đông hơn Mĩ (23 người). Tuy nhiên, có sự mất cân đối nghiêm trọng về phân bố giới tính. Trong số 26 thành viên nội các chính phủ Việt Nam, chỉ có 1 nữ duy nhất: đó là bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Trong khi đó, nội các chính phủ Mĩ có đến 7 người là nữ, và con số này chiếm gần 1/3 chính phủ Obana, nhiều hơn cả chính phủ Úc với 4/28 thành viên (hay 14%) là nữ giới.

Về tuổi tác, các bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam tương đối cao tuổi hơn so với đồng nghiệp của họ ở Mĩ và Úc. Tuổi trung bình của các bộ trưởng Việt Nam là 59, kế đến là Mĩ (tuổi trung bình 56) và Úc (50 tuổi). Người trẻ nhất trong chính phủ Việt Nam là ông Hoàng Trung Hải (50 tuổi), nhưng người trẻ tuổi nhất trong chính phủ Úc chỉ 33 tuổi (Kate Ellis, bộ trưởng thể thao), còn bộ trưởng trẻ nhất của Mĩ cũng chỉ 42 tuổi (ông Peter R. Orszag, giám đốc ngân sách quốc gia, với bằng tiến sĩ từ London School of Economics).

Về trình độ học vấn, chính phủ Việt Nam có trình độ cao nhất so với Mĩ và Úc. Trong số 26 thành viên trong nội các chính phủ Việt Nam, có đến 50% (13 người) có bằng tiến sĩ, 10 người có bằng cử nhân, và 3 người có bằng thạc sĩ. Phân tích kĩ hơn thì tôi thấy trong số 13 tiến sĩ bộ trưởng Việt Nam, phần lớn là tiến sĩ về kinh tế (7 người, gồm các ông Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Khôi Nguyên, Vũ Huy Hoàng, Lê Doãn Hợp, Trần Văn Tuấn, Cao Đức Phát, và Nguyễn Văn Giàu), phần còn lại là xã hội học (ông Nguyễn Quốc Triệu), luyện kim (ông Phạm Gia Khiêm), điều khiển học (ông Nguyễn Thiện Nhân), luật (ông Hà Hùng Cường), kiến trúc (ông Nguyễn Hồng Quân), và toán lí (ông Hoàng Văn Phong).

Ở Úc, trong số 28 thành viên chính phủ, chỉ có 1 người duy nhất có bằng tiến sĩ (ông Craig Emerson), 5 người có bằng thạc sĩ, và đa số (22 người ) có bằng cử nhân. Nội các chính phủ Obama có trình độ học vấn cao hơn Úc một chút, nhưng vẫn còn thua xa so với Việt Nam. Trong số 23 thành viên, 7 người có bằng tiến sĩ, 8 người với bằng thạc sĩ, và 8 người với bằng cử nhân.

Nếu [tạm] tính PhD là 10 năm theo học đại học, thạc sĩ 6 năm, và cử nhân 4 năm, thì tính trung bình mỗi bộ trưởng hay thành viên trong nội các chính phủ VN có 7.2 năm học đại học, kế đến là Mĩ (6.5 năm), và thấp nhất trong nhóm là Úc (4.6 năm).

Phân tích theo vùng. Nói đến Việt Nam là phải nói đến chính trị vùng. Tình hình phân bố các thành viên và trình độ học vấn trong nội các chính phủ Việt Nam không đồng đều giữa 3 vùng. Trong số 26 thành viên, đa số là từ miền Bắc (12 người, hay 46%), miền Trung và miền Nam mỗi miền có 7 người. Điều thú vị ở đây là trong số 12 thành viên từ miền Bắc, có đến 8 người (67%) có bằng tiến sĩ. Số thành viên có bằng tiến sĩ từ miền Trung là 3/7 (43%), và miền Nam là 2/7 (28%).

Vài nhận xét

Trong loạt bài về những bất cập trong việc đào tạo tiến sĩ trên Sài Gòn Giải Phóng, tác giả viết như sau: “Nhà khoa học, nhà quản lý các nước cũng sẽ rất ngạc nhiên khi biết được trong đội ngũ cán bộ của ta hiện nay, tỷ lệ TS rất cao! […] Trên các nước, TS nếu có trong bộ máy quản lý nhà nước thì cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất ít.” Những phân tích trong bài này phù hợp với nhận xét đó. Phân nửa các bộ trưởng (hay quan chức tương đương bộ trưởng) Việt Nam có bằng tiến sĩ, và con số này cao hơn so với chính phủ Mĩ và Úc, hai nước mà trình độ dân trí cao hơn Việt Nam. Tôi chưa có bằng chứng, nhưng tôi nghi rằng tỉ lệ tiến sĩ trong chính phủ Việt Nam có lẽ là cao nhất thế giới.

Ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lí lạ lùng: muốn đề bạt chức vụ nào đó thì phải có bằng cấp tương xứng. Chẳng hạn như điều kiện tiên quyết cho chức vụ giám đốc sở thì phải là bằng cử nhân hay thạc sĩ, trưởng khoa một bộ môn trong bệnh viện thì cần phải có bằng tiến sĩ và … đảng viên. Do đó, người ta đổ xô nhau đi “làm” tiến sĩ, tìm mọi cách và mọi giá để có một cái bằng tiến sĩ chỉ để thăng quan tiến chức, hơn là phục vụ cho khoa học. Chú ý là người ta “làm” tiến sĩ, chứ không hẳn là “học” tiến sĩ. Động từ “làm” ở đây bao gồm nhiều hành động, kể cả “bôi trơn” với những cái giá khá cụ thể tùy theo ngành học và tùy vào trung tâm đào tạo.

Tuy nhiên, qui định bằng cấp và chức vụ đó là ở cấp địa phương và cơ sở, còn đối với các cấp bộ trưởng hay tương đương thì tôi nghĩ không có qui định bằng cấp càng cao mới được bổ nhiệm chức cao, vì ở cấp này, vị thế và thành tích chính trị đóng vai trò quan trọng hơn là bằng cấp. Nhưng trước khi làm bộ trưởng thì các vị này cũng đã trải qua các chức vụ thấp hơn, nên nhu cầu bằng cấp lúc đó ắt phải có. Điều này có nghĩa là phong trào tiến sĩ và chức vụ đã xảy ra trước đây, và bây giờ chính là giai đoạn gặt hái thành quả. Hiểu theo nghĩa này, tôi nghĩ trong tương lai chúng ta sẽ còn thấy nhiều tiến sĩ trong chính phủ hơn nữa. Nhiệm kì tới biết đâu con số bộ trưởng có bằng tiến sĩ không phải là 50% như bây giờ mà có thể là 2/3.

Tiến sĩ là học vị cao nhất trong hệ thống bằng cấp đại học. Thông thường, con số người có bằng tiến sĩ thấp hơn con số thạc sĩ, và số người với bằng thạc sĩ ít hơn số người với bằng cử nhân. Đó là xu hướng mà chúng ta thấy ở Mĩ và Úc. Ở Úc, chỉ có 1 bộ trưởng duy nhất có bằng tiến sĩ. Nhưng trong chính phủ Việt Nam thì ngược lại: số người có bằng tiến sĩ nhiều hơn số người có bằng cử nhân và thạc sĩ. Đó là một sự phân bố bất bình thường. Sự bất bình thường đó đặt ra câu hỏi có phải bằng tiến sĩ ở Việt Nam quá dễ “lấy”. Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng những lem nhem và bất cập về cách đào tạo tiến sĩ ở trong nước mà báo chí phản ảnh trong thời gian qua làm cho xã hội đánh một dấu hỏi lớn.

Thật ra, nhìn một cách tích cực hơn, chính phủ có nhiều tiến sĩ là một tín hiệu tốt. Con số 50% bộ trưởng có bằng tiến sĩ cho thấy nước ta đúng là nước có trình độ học vấn cao, có lẽ cao nhất thế giới. Phần lớn các tiến sĩ bộ trưởng học về kinh tế, và điều này nói lên rằng chúng ta có thể tin tưởng rằng kinh tế VN sẽ phát triển bượt bực nay mai. Trong khi chưa có bằng chứng cho phát biểu đó, chúng ta hãy cứ tin và hi vọng vậy.

Ở các nước tiên tiến, phần lớn tiến sĩ làm việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu, với một thiểu số nhỏ làm việc trong ngành quản lí. Ở Việt Nam thì ngược lại: phần lớn tiến sĩ làm trong ngành quản lí hành chính, rất ít người giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Thật vậy, chỉ có khoảng ~20% giảng viên trong các đại học lớn ở VN có văn bằng tiến sĩ. Trong khi đó, 50% bộ trưởng VN có bằng tiến sĩ. Một câu hỏi khác cũng cần đặt ra là chính phủ có cần nhiều tiến sĩ như thế hay không trong khi các trường đại học rất thiếu giảng viên ở trình độ tiến sĩ?
Nguồn: Tuan's blog

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

KÍNH MỜI QUÝ VỊ HÃY NOI GƯƠNG SÚC VẬT :
CHỈ CÓ TÌNH THƯƠNG CAO CẢ MỚI THẤU ĐẠT ĐƯỢC TỪ BI CỦA ĐỨC PHẬT, ĐẠO LÀM NGƯỜI “TRUNG HIẾU ĐẠO”
Một bức thư vô cùng linh nghiệm

Bạn hãy xem xong rồi forward đi cho những người bạn của bạn, bạn sẽ hạnh phúc cả mấy kiếp người!

Đừng bao giờ từ bỏ những người bạn bạn đã yêu thương!

Hãy gửi câu chuyện này tới mỗi người bạn bạn đã từng tiếp xúc trong cuộc đời này, trong 96 tiếng đồng hồ bạn nhất định phải gửi đi nhé!

Ở Nhật xảy ra một câu chuyện có thực 100% như thế này: Có một người vì muốn sửa lại nhà nên dỡ tường ra; tường nhà kiểu kiến trúc Nhật thường đế một tấm gỗ ở giữa, hai bên trát xi măng, nhưng thực chất bên trong để rỗng.

Khi anh ta dỡ tường ra, phát hiện có một chúthạch sùng đang ngủ ở trong đó, đuôi nó bị đóng vào vào tường bởi một chiếc đinh được đóng từ ngoài vào trong. Anh này thấy tình cảnh đó vừa thấy thương thạch sùng vừa thấy tò mò, anh ta chăm chú quan sát chiếc đinh, trời ạ! đây là chiếc đinh được đóng khi xây nhà 10 năm trước.

Rút cục là có chuyện gì thế này nhỉ? Chú thạch sùng này đã mặc kẹt trên tường màvẫn sống được trọn 10 năm! Sống được 10 năm trong bức tường tối, thật không đơn giản chút nào. Có gì đó bất thường thì phải? Anh ta tiếp tục tục nghĩ ngợi, đuôi nó bị đóng chặt, không thể xê dịch được, thế nóđã sống được nhờ vào điều gì mười năm qua? Anh ta quyết định chưa sửa công trình của mình vội, muốn quan sát xem chú thạch sùng này đã ăn gì? Anh muốn nghiên cứ tìm hiểu xem sao.

Một lát sau, không biết từ đầu bò ra một chúthạch sùng khác, miệng nó ngoặm miếng thức ăn… ồ! Anh ta lặng người đi. Thế này làsao nhỉ? Vì một bạn thạch sùng bị đinh đóng vào đuôi không thể đi lại được, một bạn thạch sùng khác đã kiếm tìm thức ăn mớm cho bạn trong suốt mười năm qua. Tôi nghe xong thấy xúc động vô cùng và thực sự cũng không nghĩ thêm về mối quan hệ của chúng nữa.

Các bạn ạ, cùng với sự phổ cập của máy tính trong xã hội con người, tốc độ những thông tin mà chúng ta có được từ người thân, bạn hữu, đồng nghiệp, … ngày một nhanh hơn, nhưng khoảng cách giữa con người với con người chúng ta với nhau phải chăng cũng ngày một gần nhau hơn ? … Cho nên đừng bao giờ từ bỏ những người màchúng ta yêu thương nhé!


Hãy gửi câu chuyện này tới mỗi người bạn bạn đã từng tiếp xúc trong cuộc đời này, nhất định phải gửi trong vòng 96 tiếng đồng hồ đấy nhé!

Cách làm này khởi nguồn từ nước Anh, nóđã từng làm cho trái đất này đảo lộn cả chục lần, bây giờ vận may đang đến với bạn, nếu như bạn làm theo đúng yêu cầu, trong bốn ngày bạn sẽ gặp may mắn, không phải làchuyện đùa đâu nhé, bạn nhất định sẽ gặp may mắn đấy, bạn không cần phải gửi tiền, bởi vì vận mệnh là vô giá!

Bạn đừng giữ lại thông tin này, nhất định phải gửi đi trong vòng 96 tiếng đồng hồ.

Bạn hãy copy thành 20 bức và gửi đi, hãy chú ý xem trong vòng 4 ngày sẽ có chuyện gì xảy ra với bạn?
Bức thư này là do Anthony viết và do Vinilon gửi đi. Vì bức thư này cần được copy lưu chuyển khắp hành tinh cho nên bạn nhất định phải copy gửi cho bạn bè mình, ít hôm sau sẽ xảy ra chuyện làm bạn vô cùng kinh ngạc đó, có thể bạn không tin, nhưng đây làchuyện có thật 100%.

Hãy chú ý sự thực dưới đây!!!

Một người Philippin sau khi nhận được bức thư như thế này, anh ta đã không gửi nó đi, anh bị mất đi người vợ của mình, sau đó anh đã làm theo, và trước khi vợ chết anh ta kiếm được 7.775 vạn bảng Anh.
Năm 1987, Kostan. Ousi sau khi nhận được bức thư này, anh nhờ thư ký copy ra 20 bản và gửi đi, vài hôm sau anh này trúng xổ số 2.000.000 bảng Anh.
Một người trẻ tuổi nước Anh (约卷相), nhận được bức thư này nhưng anh ta quên mất là phải gửi nó đi trong vòng 96 tiếng, và anh đã bị mất việc, sau đó anh tìm lại bức thư, lập tức gửi đi 20 bản copy, ba ngày sau anh được nhận chức vụ cao cấp trong chính phủ, sau này anh trở thành nhân vật số một ở Anh.  
Năm 1987 một phụ nữ Califorlia nhận được bức thư này, mặc dù bà đã quyết định gõ lại và gửi đi nhưng sau đó bà đã không làm như thế, sau đó bà gặp phải vô vàn những chuyện phức tạp, ví như phải trả rất nhiều tiền vào việc sửa xe, và bà đã in lại bức thư và gửi đi, ngay sau đó bà có được chiếc xe mới.

Hãy nhớ bạn không cần gửi tiền! và đừng không thèm để ý gì tới bức thư này! Đây làmột bức thư tình yêu chuyền tay, trong bốn ngày bạn nhất định phải chuyển cho 20 người đấy nhé.
Sau 15 ngày, bạn sẽ gặp vận may! Từ năm 1877 tới nay chưa bao giờ sai

--
Ven. Thich Nguyen Tang
Quang Duc Buddhist Monastery
105 Lynch Road
Fawkner, VIC 3060. Australia
Tel: 61. 412 794 254

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

“NGƯỜI CON GÁI VIỆT NAM DA VÀNG...” (TCS)

GIAO CHỈ, SAN JOSE.

Anh em nhà họ Lâm.
Tối chủ nhật vừa qua chúng tôi có dịp tham dự bữa ăn có văn nghệ giúp vui quả thật là đặc biệt.
Nếu được hỏi về lý do và nội dung, không biết phải trả lời làm sao. Lời mời qua Email của chị Trương gia Vy tóm tắt như thế này. “Xin mời quí vị tham dự cơm tối tổ chức gấp rút để tiễn đưa cô bác sĩ đi nhà thương. Quý vị, phần lớn trong gia đình y khoa gồm các ca sĩ tài tử sẽ hát nhạc Trịnh công Sơn. Vì cô bác sĩ đi chữa bệnh nan y lại thích nhạc của ông họ Trịnh. Câu chuyện thật đơn giản như vậy nhưng đã quy tụ được khá nhiều người tham dự. Vai chính hết sức xa lạ nhưng là nhân vật làm thành câu chuyện đau thương trong cộng đồng Việt Nam từ mấy tuần qua. Cô bác sĩ độc thân 37 tuổi mắc bệnh nan y phải vào nhà thương điều trị tên là Lâm Việt".
Chị Trương gia Vy và chị Hoàng Mộng Thu đã kể đi kể lại câu chuyện buồn của Lâm Việt trên báo chí, Radio và TV tại San Jose.
Xin được nhắc lại như sau.

Anh em họ Lâm sinh trưởng ở Mũi Né, Phan Thiết. Cha mẹ chia tay. Cha có gia đình khác vào Saigon đem theo 2 con lớn là Lâm Bình và Lâm Tuyết Ni. Hai chị em cô nhỏ Lâm Mỹ Việt và Lâm Mỹ Linh ở lại với mẹ.
Năm cô út Mỹ Việt 4 tuổi, mẹ qua đời. Người anh 13 tuổi từ Sài Gòn trở về Mũi Né đùm bọc các em. Khi Bình 18 tuổi dẫn 2 em Mỹ Linh 14 và Mỹ Việt 11 “canh me” vượt biên. Các em thành công và đến Hoa Kỳ. Hai em gái nhỏ được các gia đình nhận làm cha mẹ nuôi bảo trợ về Michigan. Cậu Lâm Bình đã trưởng thành tự lo lấy thân đã ghi danh vào Job Corps.

Từ đó các cô gái nhỏ của miền quê nghèo Mũi Né lầm lũi xây dựng cuộc đời. Không ai biết được rằng trải qua hơn 20 năm đèn sách, cả hai đều tốt nghiệp bác sĩ. Mỹ Linh là bác sĩ gây mê, làm việc tại San Francisco và Mỹ Việt là bác sĩ nội thương làm việc tại Kaiser, San Rafael.

Hoa Kỳ quả thực là đất đãi người hiếu học. Anh em họ Lâm đến Mỹ năm 1985, hai mươi năm sau đã mở cánh cửa vàng bước vào Cali với những ước mơ thành sự thực...


Image
Bác sĩ Lâm Mỹ Việt khi tốt nghiệp

Riêng cô út Lâm Việt năm 2006 tốt nghiệp bác sĩ y khoa 33 tuổi đã nguyện suốt đời sẽ theo đuổi 1 ngành cao quý nhất của xã hội. Nhưng chỉ 2 năm sau, 2008 cô phát hiện bị bệnh ung thư máu, căn bệnh y hệt câu chuyện tình Love Story đã từng làm Hoa Kỳ và cả thế giới nhỏ lệ khóc thương.
Tại nhà thương Kaiser, cô bác sĩ trẻ trở thành bệnh nhân. Suốt 2 năm theo đuổi hóa trị, nhưng bây giờ hy vọng rất mong manh. Giai đoạn cuối là đang trông cậy vào việc tìm người hiến tủy. Giấc mơ cũng tương tự như trúng số vì hàng triệu người mới có 1 người trùng hợp và vui lòng hiến tủy.
Hy vọng nhiều nhất trong khối người Việt và người Á châu. Với hàng trăm triệu người trên thế giới, phải có 1 người trùng hợp, nhưng người đó bây giờ ở đâu?

Trong khi chờ đợi, tối chủ nhật tháng 2 năm 2010, trời mưa tầm tã, những ca sĩ tài tử của gia đình y khoa lên hát Trịnh Công Sơn cho “Người con gái Việt Nam da vàng” thưởng thức. Ngồi cùng bàn với cô Lâm Việt là bà con xa gần của Phan Thiết mới tìm lại được qua câu chuyện buồn trên tin tức truyền thông. Ðồng thời có cả cô chị cả Lâm Tuyết Ni, hiện là bác sĩ thú y từ Việt Nam qua thăm em. Như vậy cả gia đình có 3 chị em thì cả ba đều là bác sĩ.

Người con gái Việt Nam da vàng:
Trước khi gặp mặt cô Lâm Việt, được nghe kể rằng cô bác sĩ này dù bị bệnh hết sức hiểm nghèo nhưng vẫn vui vẻ lạ thường. Chúng tôi nghe thì biết vậy, nhưng lòng những phân vân. Tuổi trẻ đứng trước chuyện tử sinh, có thể bên ngoài thấy vậy nhưng không phải vậy. Lại được biết rằng, em rất thích nhạc Trịnh công Sơn. Chuyện này xem ra cũng khác thường.

Cô bé miền duyên hải, mồ côi mẹ năm lên 4 , lủi thủi một mình cho đến năm 11 vượt biên. Rồi lần lượt vào ở với 4 gia đình nhận nuôi trẻ vị thành niên. Tuổi thơ đầy những kỷ niệm buồn tủi. Sau đó nội trú đại học Mỹ. Ngày đêm lo học ngành y, thì giờ đâu mà thong thả. Từ nhà các bà mẹ nuôi của sở xã hội cho đến khuôn viên đại học, bạn Việt Nam không có, tiếng Việt quên dần. Còn chỗ nào cho Trịnh công Sơn.

Image
BS.Lâm Việt trước khi bị bệnh

Image
BS. Lâm Việt hiện tại


Nhưng trong buổi tối chủ nhật đó, ngồi cùng bàn với Lâm Việt, tôi thấy quả thực là chuyện lạ. Cô bác sĩ bệnh nhân ung thư máu hết sức hồn nhiên và vui vẻ. Niềm vui với sức sống mãnh liệt hoàn toàn chân thực. Và cô nàng quả nhiên mê nhạc Trịnh công Sơn. Trên sân khấu các ca sĩ trình bày. Dưới bàn Lâm Việt theo dõi từng lời ca với ánh mắt long lanh.

Bầy tỏ riêng với tôi, Lâm Việt nói là rất tiếc chưa thấy mọi người thật vui và chưa hết lòng nghe từng bài hát. Ở góc chúng tôi ngồi, khán giả hơi ồn ào, không giữ yên lặng để thưởng thức.


Image
BS. Lâm Việt và Dân biểu Bắc Cali McHugh đang nghe nhạc TCS.

Riêng hình ảnh Lâm Việt cho tôi thấy cô gái này hết sức kiên cường dù sống với niềm vui tính từng ngày. Và cô có quen thuộc nhạc Trịnh công Sơn.
Tại sao lại yêu được nhạc Việt, và tại sao lại Trịnh công Sơn. Tôi sẽ phải đi tìm cho được câu trả lời.

“Yêu quê hương như yêu đồng lúa mới...”
Chiều thứ hai, ngay sau khi đi lấy máu thử nghiệm thêm 1 lần nữa trong số hàng trăm lần từ bao năm qua, Lâm Việt gọi điện thoại lại cho bác Giao Chỉ.

Xem ra từ khi về Cali, tiếng Việt của Lâm Việt đã khá rồi. Bác hỏi thực, tại sao tên cháu lại như tên con trai vậy. Cô tiết lộ bí mật. Con là út, ở nhà chỉ gọi là út em. Tên mẹ đặt là Thuận. Khi vượt biên, anh Bình muốn em út nhớ nguồn gốc nên làm giấy tờ cho con là Việt. Ông nội con là người Hoa, lấy bà nội người Việt. Cha mẹ con là người Việt. Và bây giờ con chắc chắn mình là người Việt. Không phải Mỹ, không phải Hoa. Con là Lâm Việt. Cảm ơn anh Bình. Em là Việt.

Tôi chẳng biết anh Lâm Bình là ai, nhưng 12 tuổi khi mẹ chết đã từ Saigon trở về Mũi Né nuôi 2 em nhỏ. Năm 18 tuổi dẫn 2 em vượt biên, đến trại làm ngay giấy tờ khai cho em út lấy tên là Việt. Ở đâu ra mà có được đứa bé ngon lành như thế. Em gái Lâm Việt tiếp tục ca ngợi anh chị trong 1 hoàn cảnh gia đình hết sức đoàn kết thương yêu nhau.
Bác lại hỏi con theo đạo gì. Lâm Việt nói rằng lúc còn nhỏ cháu biết cha mẹ theo đạo Phật, nhưng rất mơ hồ. Qua Mỹ cháu theo gia đình cha mẹ nuôi đi nhà thờ Tin Lành, nhưng bây giờ cháu muốn trở về đạo Phật, thực sự muốn về lại cội nguồn.

Lại hỏi cháu gặp nhạc Trịnh công Sơn ở đâu, và em nhớ gì về quê hương.
Lâm Việt dường như cố tập trung để tìm câu trả lời trong ký ức và cũng cố dẫn giải bằng Việt Ngữ. Mẹ em chết năm em 4 tuổi. Mẹ chết cùng đứa em bé của em chưa sinh ra đời. Lúc đó em khóc theo anh chị. Từ đó cho đến năm 11 tuổi em có tuổi thơ bên quê nhà Mũi Né, rất nghèo nàn nhưng không gian tràn ngập mùi thơm nước mắm.
Em nhớ biển, nhớ bãi cát, con cua, vựa cá và nhất là nước mắm rồi đến những bài ca Trịnh Công Sơn của anh Bình. Qua đến Hoa Kỳ, may còn 2 chị em cùng sống trong gia đình bảo trợ, Người anh thần tượng và chỗ dựa duy nhất đã tách lìa. Chị em đi học. Tiểu học rồi trung học. Một thế giới xa lạ rồi quen dần, Nhưng vẫn còn nhớ nước mắm Phan Thiết quay quắt. Chị em mua xì dầu vì nhà Mỹ không chịu được mùi Phan Thiết. Và cũng đôi khi tìm nghe nhạc Trịnh công Sơn. Ở Michigan không dễ gì kiếm được.

Nhưng khi vào nội trú đại học thì mua cả chai nước mắm về chan với cơm. Tưởng hồn ai bay về Mũi Né. Nhạc Trịnh Công Sơn réo rắt đêm ngày. Nhạc tình, nhạc chiến tranh, nhạc quê hương đủ cả. Vì vậy cháu nói với chị Vy là nguyện ước được nghe mọi người hát nhạc Trịnh công Sơn.

Ðêm chủ nhật vừa qua là món quà đẹp đẽ nhất mà cháu nhận được từ mọi người.
Từng bàn và từng bàn, mọi người đến với em. Những bài ca của Trịnh công Sơn réo rắt trên sân khấu về khuya. Nhà hàng Thành Ðược dọn thực đơn Việt Nam. Hương vị nước mắm quê nhà, nào ai biết là Phan Thiết, Phước Tĩnh hay Phú Quốc.

“Cháu ơi! đừng tuyệt vọng”
- Bây giờ bác mới hỏi cháu về chuyện bệnh tật. Cháu có dịp xem phim Love Story chưa?

- Thưa bác, cách đây khoảng 8 tháng, tình cờ cháu thấy anh Bình có phim đó. Hoàn toàn vô tình, cháu đem ra xem. Ai ngờ thấy cô đó bị bệnh giống mình. Xem xong cháu muốn quên ngay. Cháu không muốn gặp kết cục như vậy. Từ năm 2008, khi bắt đầu thử nghiệm, thấy kết quả ung thư, cháu cho rằng lầm lẫn, không thể như thế được. Mình khỏe mạnh đâu có gì là bệnh đâu. Nhưng rồi thử đi thử lại, đành phải chấp nhận. Nhưng cháu quyết chiến đấu đến cùng. Cháu không biết sẽ còn được bao lâu và sẽ ra sao, nhưng cháu quyết không chịu thua. Không đầu hàng. Bây giờ vẫn còn tiếp tục chữa bệnh ở Kaiser. Khi hiến tủy thì sẽ lên Stanford. Bác hỏi cháu nếu qua khỏi được sẽ làm gì. Hiện nay cháu theo ngành y là đã quyết 1 lòng cho nghề y. Nhưng nếu qua khỏi bệnh này chắc cháu sẽ trở thành 1 người khác. Khác làm sao, chưa biết được. Nhưng sẽ cố tốt hơn, hiểu biết bệnh nhân nhiều hơn. Và cháu sẽ trở về cội nguồn. Cội nguồn Việt Nam ngay tại Hoa Kỳ.


- Cháu đã có bạn trai chưa?
- Thưa bác cháu đã từng có bạn trai những năm trước, nhưng nay đã chia tay rồi...

Sau khi bác cháu nói chuyện xong. Lâm Việt điện thoại trở lại và khẩn khoản nói rằng:
- Xin bác nhắn gửi mọi người hãy hướng về ý nghĩa chung để cùng yểm trợ chương trình nhân đạo trong y khoa, nhưng không phải cho riêng cháu.
Tôi ghi nhận thiện ý của em, nhưng tiếp tục trở về câu chuyện.
-Cháu có nghĩ rằng bệnh của cháu có thể ngày càng xấu đi không?
-Chắc chắn có ra sao thì cháu cũng phải chấp nhận, nhưng cháu không nghĩ đến chuyện đó. Cháu phải nỗ lực từng ngày, sẽ phải sống vui từng ngày, để đáp lại sự bảo trợ thương yêu của anh chị em, của mọi người.
Tôi nói rằng:
- Cháu làm như vậy là đúng đấy.Nếu đã thích nhạc Trịnh công Sơn thì phải nhớ những lời này. Ðây là lời bài Tôi ơi!đừng tuyệt vọng mà chị Vy đã chuẩn bị hát cho Lâm Việt, nhưng nghẹn ngào chẳng nên lời.

Ðừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng.
Em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh.
Có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ.
Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu đêm...


***

Ðừng tuyệt vọng, Cháu ơi! đừng tuyệt vọng...

GIAO CHỈ, SAN JOSE

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image
BẢY THỨ QUÍ HƠN VÀNG

Có nhiều người cho rằng
VÀNG là thứ quí nhất

Điều đó thì chưa chắc
Vì đời còn nhiều thứ
Có thể quí hơn VÀNG !

1 SỨC KHỎE không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ!
Có VÀNG nhưng ốm đau
Lúc nhất sinh thập tử
VÀNG quí? SỨC KHỎE quí ?

Ai chết, mang VÀNG theo???

2 TỰ DO không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ!
Có VÀNG nhưng tội tù
Suốt ngày nằm một xó
Khi nước mất nhà tan
Nhục nhằn thân nô lệ

Những khi ấy thử hỏi :

VÀNG quí hay TỰ DO ???

3 BÌNH AN không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ !

Thà rằng ít của cải
Mà thờ Đức Chúa Trời
Đặng BÌNH AN tự tại
Còn hơn lắm tiền bạc
Mà rối rắm tơi bời !!!

Sách Châm Ngôn có câu :
“Thà ăn bát canh rau
Mà đầm ấm thương yêu
Còn hơn ăn bò mập
Mà gấu ó lẫn nhau !”

[Châm ngôn 15:16-17]

Xem vậy thì đủ biết :
Sự BÌNH AN là quí
Chứ VÀNG chẳng quí đâu !!!

4 ĐẠO LÝ không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ!
ĐẠO LÝ dạy con người
Sống khác với loài thú !!!
Nhờ ánh sáng ĐẠO LÝ
Con người nên giá trị
Khác với bọn ngu si !!!

ĐẠO LÝ Đức Chúa Trời
Là đỉnh điểm tuyệt vời
VÀNG sao so sánh đặng
Với ĐẠO LÝ của Ngài ???

5 LINH HỒN không quí sao ?

Hẳn là quí lắm chứ !
Lời Chúa phán rất rõ :
“Ích lợi chi cho kẻ
Chiếm được cả thế gian
Nhưng LINH HỒN sứt mẻ?”

[Mác cô 8:36-37]

Có VÀNG, mất LINH HỒN
Khác gì bầy ác quỉ
Biến quê hương giàu đẹp
Thành địa ngục trần gian ???

6 DANH DỰ không quí sao ?

Hẳn là quí lắm chứ !
Lời Chúa là ánh sáng
Qua đó Ngài hé lộ
Cho mọi người biết rằng :

“Danh tiếng tốt quí hơn
BẠC VÀNG và tiền của !”
[Châm ngôn 22:1]

Có VÀNG, mất DANH DỰ
Kẻ chê, người chưởi rũa
Mang tiếng xấu để đời
Còn gì buồn hơn nữa ???

Vậy VÀNG hay DANH DỰ ?
Thứ nào quí báu hơn ???

7 THIÊN ĐƯỜNG không quí sao ?

Hẳn là quí lắm chứ !

Có VÀNG mà hung dữ
Cứ giết người, cướp của
Cứ tham lam, ích kỷ
Cuộc đời như địa ngục
VÀNG sao sánh THIÊN ĐƯỜNG ???

Phải, THIÊN-ĐƯỜNG-là-đây
Là-bây-giờ, lúc-này
Là-LINH-HỒN, ĐẠO-LÝ
Là-BÌNH-AN, SỨC-KHỎE,
Là-DANH-DỰ, TỰ-DO

Ai cho VÀNG là quí
Hơn những thứ vừa kể
Là kẻ ấy lầm to!!!

VÀNG, theo sách KHẢI HUYỀN :
Nhiều nơi trong Nước Chúa
Chỉ là loại vật liệu Được dùng để trải đường !

[Khải Huyền 21:21]

Saigòn, ngày 13.8.1985
Thuận Châu PHAN VĂN KHẢI
(Phỏng theo một bài giảng của MS. Quoc Fok Wo – Singapore)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

NGUỴ

Tác giả : Tiểu Tử

Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng "ngụy" – nghĩa là "giả" – ít thấy có ai dùng tới. Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ "chánh cống", không phải thứ "có cầu chứng tại tòa"... là người ta gọi hoạch tẹt là "đồ giả", chớ không ai gọi là "đồ ngụy" hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả... vv. Bởi vì từ ngữ hồi đó rất... thật !

Sau tháng tư 1975, tiếng "ngụy" đã theo gót... dép râu (Xin lỗi ! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất... tả chân. Không thể viết "theo gót giày" như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả !) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng...

Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi "học tập" ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng "ngụy". Và nghe... đầy lỗ tai !

Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng "ngụy" được... nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách "ngang xương", không cần… trưng cầu dân ý ! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích... ngang như cua thôi !

Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng "ngụy" một cách rất... tự do, và sử dụng tiếng "ngụy" rất... rộng rãi (được "giải phóng", có khác !). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành "ngụy" ráo. Để phân biệt với "cách mạng" !.. Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, "hàm-bà-lằng" ngụy... Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: "Hể thấy không có đ óng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc !".

Thật ra, khi dán cái nhãn "ngụy" lên miền Nam, "Đảng và Nhà Nước" muốn nhân dân – chủ yếu là nhân dân miền Bắc – hiểu theo định nghĩa "ngụy" là giả – giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả yêu nước thương dân – "ngụy" là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn... Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều... mở mắt, tiếng "ngụy" ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy !

Viết dài dòng để... "đả thông tư tưởng" trước khi vào chuyện.

…Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng tham mưu. Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết. Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: "Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh ! Tội nghiệp ! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy !". Rồi bà kết luận: "Tánh tình nó tốt lắm !".

Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ "người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em".

Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của "ngoài đó". Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: "Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà...". Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh "hết giặc" ra làm sao và chưa kịp gặp lại đứa con làm tướng...

... Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con – ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai – đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động...

Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.

Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.

Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:

- To thế thì ở làm gì cho hết ? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn nhăm người đấy !
Hôm sau, ông H được người anh khuyên:

- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai, bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ !

Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: "Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân". Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá... cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì ! Khu vườn Nhụt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ... xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng !

Ông anh – tên R – làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi trình diện khai lý lịch , tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga, bà sợ làm như vậy nó... ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng củi bằng lá khô... Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt... cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng ! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: "Cô thật là sớm giác ngộ !".

Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: "Đem theo tiền ăn cho một tháng". Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:

- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.

Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:

- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.

... Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:

- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi !

Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm... dài dài... Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:

- Họ chở nhà tôi đi mất rồi...

- Đi đâu mà mất ? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất ? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.

- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.

- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô ! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi ! Nói thế chứ... để tôi xem có làm gì được không.
Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:

- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.

- Vậy, mình phải làm sao ?

- Dễ thôi ! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.

- Vô đó để làm cái gì, thưa bác ?

- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.

Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý... xung phong. Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn... Nhà Nước đi một nước cờ thật cao !

Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày ! Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động !
Một hôm, ông anh bảo người em dâu:

- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà ? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.

Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.

- Ừ ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.

Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ – nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ – không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng (Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải "có lý do chánh đáng" và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở ! Khi đã được nơi sắp dọn đến chấp thuận – có ký tên đóng dấu – đương sự phải vác đơn đó về trình cho chánh quyền nơi đang ở để... xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận – ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi ! Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất "có trình độ": "Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh... đi đâu ?". Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến "đằng kia" trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất "có trình độ" không kém: "Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được ? Phải có đi rồi mới có đến chớ ! Dễ hiểu thôi !". Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn. Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là "trần ai gian khổ" !).Ông tướng có "động viên" một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét – cũng của cơ quan – nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.

Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành "tổ gạo", còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác !

Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ vv... và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:

- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không ?

- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ !

- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu giếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao ?

Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: "Đi đâu đó nữa ? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại giùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng... mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà !". Giọng người con trai: "Bộ má tưởng con đi chơi hả ?". Giọng bà hàng xóm: "Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi !". Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng: "Con-đi-phục-vụ-nhân-dân !". Giọng bà hàng xóm, tức tối: "Phục vụ nhân dân ! Phục vụ nhân dân ! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè ! Mầy phục vụ cho nó đi ! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ !". Ngừng một lúc, lại nói: "Cha... Lúc này nói giọng cách mạng quá há ! Phải mà ! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà ! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn ! Nó ép mầy học để mầy khôn ! Nó ác ôn quá phải hông ? Nó ngụy quá phải hông ? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông ?"
Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:

- Ăn với nói ! Rõ là không có trình độ !

Rồi ông đứng lên:

- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.

Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt ! Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: "Rồi đó ! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó !". Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: "Dữ hôn ! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt ! Thôi ! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy nà y nó nấu cơm cho mà ăn".

... Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ...

Bà hàng xóm – tên là bà Năm – có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén... ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng hồi trước). Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được... xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi "phục vụ nhân dân" cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo – bà chỉ bán có buổi sáng – bà thâu xếp dọn dẹp một mình, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp !).

Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:

- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.

- Ối... Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ "báo công báo tội". Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn ! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai !

- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à ! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.

- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh ? Há ?

Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy !

... Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:
- Dữ hôn ! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn ! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi ?

- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau...

- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao ?

Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:

- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...

Bà H xúc động, lí-nhí "cám ơn" mà nước mắt chảy quanh. Lạ quá ! Chỉ có mấy tiếng "mình với nhau" mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. "Mình với nhau" là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. "Mình với nhau" nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. "Mình với nhau" là tình người không phân biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...

Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:

- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.

Bà H "cám ơn" mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc ! Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:

- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen !

Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng !

... Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:

- Sao, cô Hai ? Khổ lắm phải không ?

Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:

- Mẹ bà nó ! Quân ác ôn !

Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:

- Ảnh... ốm... đến nỗi... tôi... nhìn... ảnh... không ra...

Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà
chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang vỗ về người em gái.

Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao lâu nay – theo lời kể lại của ông H – thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.

Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.

Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:

- Ai đấy ?

- Dạ... tôi.

Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:

- Chị muốn gì ?

- Thưa... Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ...

- Đồng chí R à ? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế... chị là gì của đồng chí ấy ?

Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:

- Dạ... Tôi... À... Không !

Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:

- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi !

Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tay – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ !

Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay ! Bà chỉ cảm thấy một sự câm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn ! Phải rồi ! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi. Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình... mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn... Bà muốn...

Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.

... Mấy năm sau, ông H vẫn "còn được cải tạo", bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con nghe giống như bà chửi Nhà Nước !

Post Reply