Bình Luận Thời Sự
Trồng cây hay trồng người?
Ngô Nhân Dụng
Hai vị tướng về hưu ở Hà Nội mới đưa ra công khai một bức thư yêu cầu đảng Cộng Sản chấm dứt ngay việc cho người Trung Hoa thuê đất rừng Việt Nam để khai thác trồng cây. Họ viết những lời lên án và cảnh cáo giận dữ nặng nề: Tự sát! Cố tình phá hoại! Gieo tai họa cho dân! Thâm độc và tàn bạo!
Tại sao phải nổi giận như vậy? Hai tác giả bức thư đã nói đến hành động “bán rừng,” “mua rừng” nhưng có thể khiến người đọc nghĩ đến hai chữ “bán nước.” Nếu có quốc gia nào âm mưu “mua rừng” của nước ta thì thâm độc và tàn bạo thật!
Theo lá thư ngỏ trên, mười tỉnh ở khắp ba miền Việt Nam đã cho người ngoại quốc thuê tổng cộng hơn 300 ngàn mẫu (ha) đất rừng, trong dài hạn 50 năm. Trong số đó, gần 90% đất rừng là cho những người thuê đến từ lục địa Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông, nói chung là các công ty của người Trung Hoa. Phần lớn các khu đất rừng cho thuê nằm ở vùng biên giới. Riêng trong tỉnh Lạng Sơn, sẽ cho thuê hơn 70 ngàn mẫu tây rừng, bằng một phần tư tổng số rừng cho thuê khắp nước. Lạng Sơn là nơi quân đội Trung Hoa đã phá tan thị xã thành bình địa trong cuộc chiến năm 1979.
Hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.” Hai ông cũng ám chỉ đến một âm mưu lâu dài khi viết thêm: “Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.” Cho nên họ tố cáo, “Các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo.”
Trước những những lời tố cáo của hai ông “tướng về hưu” trên, giới lãnh đạo đảng Cộng Sản và bộ máy chính quyền trung ương, như thường lệ, không ai thèm trả lời. Giống như họ từng bỏ qua không thèm trả lời mấy trăm nhà trí thức phản đối về vụ Bauxite. Họ gần như mặc nhiên coi việc cho người ngoại quốc thuê khai thác rừng là thuộc trách nhiệm của những cán bộ ký hợp đồng cho thuê, tức là các quan chức cấp tỉnh, hay thấp hơn!
Một lần nữa, chúng ta đứng trước một vấn đề luật pháp về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, mà chế độ hiện nay cố ý giữ chặt di sản từ thời Hồ Chí Minh để lại, sau khi làm cải cách ruộng đất. Nhà nước cộng sản đã tịch thâu tất cả đất đai của toàn dân với quy tắc “nhân dân làm chủ,” tạo cơ hội cho các cán bộ cộng sản mặc sức lạm dụng, tham nhũng vì họ nắm toàn quyền quyết định! Lạm dụng cơ chế để làm giầu là một đặc quyền của các đảng viên cộng sản; nhưng khi đặc quyền đó lại có thể tác hại đến chủ quyền đất nước và gây hại lâu dài thì mọi người dân Việt Nam phải thắc mắc, như hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh.
Luật pháp cộng sản coi tất cả đất đai đều thuộc quyền quản lý của nhà nước, không người dân nào có quyền làm chủ đất. Nhưng ai là người nắm quyền cấp giấy phép cho dân sử dụng đất, theo những điều kiện nào? Luật pháp không rõ ràng đầy đủ, tạo cơ hội cho các quan chức địa phương giải quyết tùy tiện, áp dụng linh động. Một công ty ngoại quốc muốn thuê đất làm trụ sở hoặc dựng nhà máy, cơ xưởng có thể phải chạy chọt với quan chức cấp huyện hay cấp tỉnh, hay phải xin phép từ trung ương, điều này tùy thuộc “mối làm ăn” lớn hay nhỏ. Việc cho thuê đất rừng chắc cũng theo lối này.
Quan chức cộng sản cấp tỉnh tại Lạng Sơn đã bác bỏ lời lên án “bán rừng” của hai vị tướng về hưu. Một viên giám đốc trong tỉnh nói rằng “Không có chuyện mua bán đất đai. Không chuyển nhượng sở hữu, mà chỉ có cho thuê!”
Nói như vậy là đáng bùn sang ao, cũng như không nói gì cả. Tất nhiên là ở trong nước Việt Nam bây giờ không ở đâu có chuyện mua bán đất đai hay chuyển nhượng quyền sở hữu đất đai. Vì theo hiến pháp tất cả đất đai trên toàn quốc là “của tòan dân,” không ai có quyền sở hữu để mà mua hay bán! Nhưng trong thế giới bây giờ, ngay tại những nước tư bản, “quyền sở hữu” không quan trọng bằng “quyền sử dụng.” Ban giám đốc các công ty như IBM, Bank of America, Coca Cola nắm nhiều quyền hơn hầu hết, nếu không nói là tất cả chủ nhân các cổ phần!
Trên nguyên tắc toàn dân Việt Nam chung nhau quyền sở hữu đất đai, nhưng đảng Cộng Sản chiếm độc quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” quyền hành to lớn hơn tất cả các ban giám đốc của những công ty tư bản, vì không ai có thể thay đổi ban giám đốc như trong các đại hội cổ đông! Cho nên đảng Cộng Sản nắm độc quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng tất cả đất đai trong nước, từ đất xây nhà ở đến đất làm ruộng hay trồng rừng, đào ao thả cá hay dùng làm nghĩa địa!
Như vậy thì các công ty Trung Quốc không cần phải “mua đất” trồng rừng ở Việt Nam! Vì trong chế độ xã hội chủ nghĩa này không có ai “bán đất” cả. Các ông chủ người Tầu chỉ cần “thuê đất” thì họ cũng có quyền hạn không khác gì những nông dân Việt Nam đang được nhà nước cho phép sử dụng đất cầy ruộng! Đất để xây nhà cũng là đất được nhà nước cho phép dân sử dụng, mà quyền sử dụng không có gì bảo đảm là vĩnh viễn, không biết lúc nào nhà nước đòi lại để làm việc khác hay cho người khác dùng. Thời hạn tối đa người nông dân Việt Nam được phép sử dụng đất cũng là 50 năm, không lâu dài hơn các ông chủ Trung Quốc thuê rừng 50 năm! Nếu vậy thì các ông chủ Tầu có quyền sử dụng đất rừng Việt Nam lâu dài không khác gì các nông dân Việt Nam đang làm ruộng. Nếu họ mạnh vì gạo, vì tiền, thì họ còn nắm quyền thuê đất trồng cây lâu hơn nữa!
Cho nên hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh mới cảnh cáo: “Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.” Họ là những người đã trông thấy hàng triệu đồng đội chết vì những lời kêu gọi lòng yêu nước. Bây giờ họ đứng trước mối họa mất nước!
Đó là chưa kể một điều đáng lo khác: Mối nguy trồng người! Bức thư ngỏ của hai ông tướng về hưu đã nói đến “mối nguy di dân” khi các công ty Đài Loan, Hồng Kông hay Trung Quốc đem người Tầu sang làm việc!
Hiện tượng trồng người đang diễn ra. Hiện nay ở Việt Nam đã có những làng của công nhân người Hoa làm trong các dự án do người Trung Quốc đứng thầu. Đã xẩy ra nhiều vụ xung đột với dân bản xứ người Việt. Tháng Sáu năm ngoái, 200 công nhân người Trung Quốc đã tấn công dân chúng một làng ở Thanh Hóa, sau một vụ ẩu đả giữa một công nhân và người chồng của một bà chủ quán.
Cuối năm ngoái, nhật báo New York Times đã viết cả một bài về việc ”xuất cảng lao động” của Trung Quốc tại Việt Nam. Họ lấy thí dụ công trường xây cất nhà máy nhiệt điện chạy bằng than ở Trung Sơn, Hải Phòng. Trong bốn năm xây dựng, chỉ có mấy trăm người Việt Nam kiếm được việc làm ở đó, còn hầu hết là người Hoa, có lúc lên đến 1,500 công nhân Tầu. Họ sống trong những cư xá riêng, với các cơ sở cung cấp dịch vụ cho họ cũng do người Trung Hoa trông coi, bốn chung quanh kín cổng cao tường. Có cả một “nhà tắm hơi đấm bóp” mà người ta biết ở trong có những “dịch vụ đen tối” khác, treo bảng chiêu khách bằng chữ Hán! Phóng viên Thời báo New York viết: “Cả một thế giới Trung Hoa mọc lên,” (an entire Chinese world has sprung up). Có cả một con đường treo bảng tên Quảng Tây Lộ! Tiệm ăn Tầu mang tên Quảng Tây treo bảng viết chữ Hán, quảng cáo, thực đơn bằng chữ Hán. Một nhóm công nhân người Hoa ngồi nhậu say sưa trong quán này, một anh họ Lâm nói với phóng viên Edward Wong của báo Times: “Tôi được gửi qua đây làm việc, để tròn bổn phận đối với tổ quốc” (I was sent here, and I am fulfilling my patriotic duty). Tất nhiên, anh ta nói đến tổ quốc Trung Hoa của anh.
Đó là mối họa di dân có thực. Chính quyền cộng sản vẫn mập mờ về chuyện giấy phép làm việc của các công nhân Trung Hoa sang Việt Nam. Phạm Chi Lan, cựu chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam nói với nhà báo Mỹ: Hiện nay có những làng hoàn toàn Trung Quốc. Chúng tôi chưa bao giờ thấy một hiện tượng như vậy trong các dự án của công ty người nước khác.” Trong một nước Việt Nam mà nạn thất nghiệp vẫn trầm trọng khiến phải “xuất cảng” nửa triệu người ra ngoại quốc kiếm ăn, sự có mặt của gần 40,000 công nhân Trung Quốc để làm những công việc không chuyên môn là điều không thể hiểu nổi.
Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn nhẫn nhịn chấp nhận cho tư bản Trung Quốc và lao động Trung Quốc vào khai thác đất đai, hầm mỏ Việt Nam. Trong bài phóng sự trên Thời báo New York ngày 21 tháng 12 năm 2009, ký giả Wong cho biết ban giám đốc nhà máy điện sắp hoàn tất ở Hải Phòng còn kêu gọi chính quyền hãy cho thêm công nhân người Hoa vào làm những công việc không chuyên môn, để “hoàn tất dự án” kịp thời hạn. Đó là kiến thức và quan niệm của các quan chức cộng sản nước ta; họ chỉ nhìn vào cái lợi trước mắt. Người Trung Hoa thường tính kế lâu dài. Quản Tử nói, “Kế hoạch 10 năm không gì bằng trồng cây; kế hoạch 100 năm không gì bằng trồng người.” Trồng người có thể hiểu theo nghĩa bóng là giáo dục, còn nghĩa đen là đem “cấy người” vào sống trong những vùng đất mới.
Trong lịch sử, người Việt đã từng xâm chiếm đất đai của các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, bằng cách di dân theo lối “tầm ăn dâu.” Giữa hai cuộc chiến tranh, trong lúc hòa hiếu tạm thời, bao nhiêu thế hệ người Việt đã đi qua các nước trên, khai phá đất đai và lập thôn lập xóm, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là một thứ kế “trồng người” theo nghĩa đen. Chúng ta đã biết kết quả của kế hoạch trồng người đó ra sao. Cho nên có thể hiểu tại sao hai ông tướng về hưu Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh lại cảm thấy cay đắng và giận dữ trước một hoàn cảnh tương tự. Vì họ phải lo lắng thấy người Việt Nam có thể sẽ phải đóng vai giống như người Chàm và người Khờ Me đời trước.
Ngô Nhân Dụng
Hai vị tướng về hưu ở Hà Nội mới đưa ra công khai một bức thư yêu cầu đảng Cộng Sản chấm dứt ngay việc cho người Trung Hoa thuê đất rừng Việt Nam để khai thác trồng cây. Họ viết những lời lên án và cảnh cáo giận dữ nặng nề: Tự sát! Cố tình phá hoại! Gieo tai họa cho dân! Thâm độc và tàn bạo!
Tại sao phải nổi giận như vậy? Hai tác giả bức thư đã nói đến hành động “bán rừng,” “mua rừng” nhưng có thể khiến người đọc nghĩ đến hai chữ “bán nước.” Nếu có quốc gia nào âm mưu “mua rừng” của nước ta thì thâm độc và tàn bạo thật!
Theo lá thư ngỏ trên, mười tỉnh ở khắp ba miền Việt Nam đã cho người ngoại quốc thuê tổng cộng hơn 300 ngàn mẫu (ha) đất rừng, trong dài hạn 50 năm. Trong số đó, gần 90% đất rừng là cho những người thuê đến từ lục địa Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông, nói chung là các công ty của người Trung Hoa. Phần lớn các khu đất rừng cho thuê nằm ở vùng biên giới. Riêng trong tỉnh Lạng Sơn, sẽ cho thuê hơn 70 ngàn mẫu tây rừng, bằng một phần tư tổng số rừng cho thuê khắp nước. Lạng Sơn là nơi quân đội Trung Hoa đã phá tan thị xã thành bình địa trong cuộc chiến năm 1979.
Hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước.” Hai ông cũng ám chỉ đến một âm mưu lâu dài khi viết thêm: “Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.” Cho nên họ tố cáo, “Các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo.”
Trước những những lời tố cáo của hai ông “tướng về hưu” trên, giới lãnh đạo đảng Cộng Sản và bộ máy chính quyền trung ương, như thường lệ, không ai thèm trả lời. Giống như họ từng bỏ qua không thèm trả lời mấy trăm nhà trí thức phản đối về vụ Bauxite. Họ gần như mặc nhiên coi việc cho người ngoại quốc thuê khai thác rừng là thuộc trách nhiệm của những cán bộ ký hợp đồng cho thuê, tức là các quan chức cấp tỉnh, hay thấp hơn!
Một lần nữa, chúng ta đứng trước một vấn đề luật pháp về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, mà chế độ hiện nay cố ý giữ chặt di sản từ thời Hồ Chí Minh để lại, sau khi làm cải cách ruộng đất. Nhà nước cộng sản đã tịch thâu tất cả đất đai của toàn dân với quy tắc “nhân dân làm chủ,” tạo cơ hội cho các cán bộ cộng sản mặc sức lạm dụng, tham nhũng vì họ nắm toàn quyền quyết định! Lạm dụng cơ chế để làm giầu là một đặc quyền của các đảng viên cộng sản; nhưng khi đặc quyền đó lại có thể tác hại đến chủ quyền đất nước và gây hại lâu dài thì mọi người dân Việt Nam phải thắc mắc, như hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh.
Luật pháp cộng sản coi tất cả đất đai đều thuộc quyền quản lý của nhà nước, không người dân nào có quyền làm chủ đất. Nhưng ai là người nắm quyền cấp giấy phép cho dân sử dụng đất, theo những điều kiện nào? Luật pháp không rõ ràng đầy đủ, tạo cơ hội cho các quan chức địa phương giải quyết tùy tiện, áp dụng linh động. Một công ty ngoại quốc muốn thuê đất làm trụ sở hoặc dựng nhà máy, cơ xưởng có thể phải chạy chọt với quan chức cấp huyện hay cấp tỉnh, hay phải xin phép từ trung ương, điều này tùy thuộc “mối làm ăn” lớn hay nhỏ. Việc cho thuê đất rừng chắc cũng theo lối này.
Quan chức cộng sản cấp tỉnh tại Lạng Sơn đã bác bỏ lời lên án “bán rừng” của hai vị tướng về hưu. Một viên giám đốc trong tỉnh nói rằng “Không có chuyện mua bán đất đai. Không chuyển nhượng sở hữu, mà chỉ có cho thuê!”
Nói như vậy là đáng bùn sang ao, cũng như không nói gì cả. Tất nhiên là ở trong nước Việt Nam bây giờ không ở đâu có chuyện mua bán đất đai hay chuyển nhượng quyền sở hữu đất đai. Vì theo hiến pháp tất cả đất đai trên toàn quốc là “của tòan dân,” không ai có quyền sở hữu để mà mua hay bán! Nhưng trong thế giới bây giờ, ngay tại những nước tư bản, “quyền sở hữu” không quan trọng bằng “quyền sử dụng.” Ban giám đốc các công ty như IBM, Bank of America, Coca Cola nắm nhiều quyền hơn hầu hết, nếu không nói là tất cả chủ nhân các cổ phần!
Trên nguyên tắc toàn dân Việt Nam chung nhau quyền sở hữu đất đai, nhưng đảng Cộng Sản chiếm độc quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” quyền hành to lớn hơn tất cả các ban giám đốc của những công ty tư bản, vì không ai có thể thay đổi ban giám đốc như trong các đại hội cổ đông! Cho nên đảng Cộng Sản nắm độc quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng tất cả đất đai trong nước, từ đất xây nhà ở đến đất làm ruộng hay trồng rừng, đào ao thả cá hay dùng làm nghĩa địa!
Như vậy thì các công ty Trung Quốc không cần phải “mua đất” trồng rừng ở Việt Nam! Vì trong chế độ xã hội chủ nghĩa này không có ai “bán đất” cả. Các ông chủ người Tầu chỉ cần “thuê đất” thì họ cũng có quyền hạn không khác gì những nông dân Việt Nam đang được nhà nước cho phép sử dụng đất cầy ruộng! Đất để xây nhà cũng là đất được nhà nước cho phép dân sử dụng, mà quyền sử dụng không có gì bảo đảm là vĩnh viễn, không biết lúc nào nhà nước đòi lại để làm việc khác hay cho người khác dùng. Thời hạn tối đa người nông dân Việt Nam được phép sử dụng đất cũng là 50 năm, không lâu dài hơn các ông chủ Trung Quốc thuê rừng 50 năm! Nếu vậy thì các ông chủ Tầu có quyền sử dụng đất rừng Việt Nam lâu dài không khác gì các nông dân Việt Nam đang làm ruộng. Nếu họ mạnh vì gạo, vì tiền, thì họ còn nắm quyền thuê đất trồng cây lâu hơn nữa!
Cho nên hai ông Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh mới cảnh cáo: “Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.” Họ là những người đã trông thấy hàng triệu đồng đội chết vì những lời kêu gọi lòng yêu nước. Bây giờ họ đứng trước mối họa mất nước!
Đó là chưa kể một điều đáng lo khác: Mối nguy trồng người! Bức thư ngỏ của hai ông tướng về hưu đã nói đến “mối nguy di dân” khi các công ty Đài Loan, Hồng Kông hay Trung Quốc đem người Tầu sang làm việc!
Hiện tượng trồng người đang diễn ra. Hiện nay ở Việt Nam đã có những làng của công nhân người Hoa làm trong các dự án do người Trung Quốc đứng thầu. Đã xẩy ra nhiều vụ xung đột với dân bản xứ người Việt. Tháng Sáu năm ngoái, 200 công nhân người Trung Quốc đã tấn công dân chúng một làng ở Thanh Hóa, sau một vụ ẩu đả giữa một công nhân và người chồng của một bà chủ quán.
Cuối năm ngoái, nhật báo New York Times đã viết cả một bài về việc ”xuất cảng lao động” của Trung Quốc tại Việt Nam. Họ lấy thí dụ công trường xây cất nhà máy nhiệt điện chạy bằng than ở Trung Sơn, Hải Phòng. Trong bốn năm xây dựng, chỉ có mấy trăm người Việt Nam kiếm được việc làm ở đó, còn hầu hết là người Hoa, có lúc lên đến 1,500 công nhân Tầu. Họ sống trong những cư xá riêng, với các cơ sở cung cấp dịch vụ cho họ cũng do người Trung Hoa trông coi, bốn chung quanh kín cổng cao tường. Có cả một “nhà tắm hơi đấm bóp” mà người ta biết ở trong có những “dịch vụ đen tối” khác, treo bảng chiêu khách bằng chữ Hán! Phóng viên Thời báo New York viết: “Cả một thế giới Trung Hoa mọc lên,” (an entire Chinese world has sprung up). Có cả một con đường treo bảng tên Quảng Tây Lộ! Tiệm ăn Tầu mang tên Quảng Tây treo bảng viết chữ Hán, quảng cáo, thực đơn bằng chữ Hán. Một nhóm công nhân người Hoa ngồi nhậu say sưa trong quán này, một anh họ Lâm nói với phóng viên Edward Wong của báo Times: “Tôi được gửi qua đây làm việc, để tròn bổn phận đối với tổ quốc” (I was sent here, and I am fulfilling my patriotic duty). Tất nhiên, anh ta nói đến tổ quốc Trung Hoa của anh.
Đó là mối họa di dân có thực. Chính quyền cộng sản vẫn mập mờ về chuyện giấy phép làm việc của các công nhân Trung Hoa sang Việt Nam. Phạm Chi Lan, cựu chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam nói với nhà báo Mỹ: Hiện nay có những làng hoàn toàn Trung Quốc. Chúng tôi chưa bao giờ thấy một hiện tượng như vậy trong các dự án của công ty người nước khác.” Trong một nước Việt Nam mà nạn thất nghiệp vẫn trầm trọng khiến phải “xuất cảng” nửa triệu người ra ngoại quốc kiếm ăn, sự có mặt của gần 40,000 công nhân Trung Quốc để làm những công việc không chuyên môn là điều không thể hiểu nổi.
Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn nhẫn nhịn chấp nhận cho tư bản Trung Quốc và lao động Trung Quốc vào khai thác đất đai, hầm mỏ Việt Nam. Trong bài phóng sự trên Thời báo New York ngày 21 tháng 12 năm 2009, ký giả Wong cho biết ban giám đốc nhà máy điện sắp hoàn tất ở Hải Phòng còn kêu gọi chính quyền hãy cho thêm công nhân người Hoa vào làm những công việc không chuyên môn, để “hoàn tất dự án” kịp thời hạn. Đó là kiến thức và quan niệm của các quan chức cộng sản nước ta; họ chỉ nhìn vào cái lợi trước mắt. Người Trung Hoa thường tính kế lâu dài. Quản Tử nói, “Kế hoạch 10 năm không gì bằng trồng cây; kế hoạch 100 năm không gì bằng trồng người.” Trồng người có thể hiểu theo nghĩa bóng là giáo dục, còn nghĩa đen là đem “cấy người” vào sống trong những vùng đất mới.
Trong lịch sử, người Việt đã từng xâm chiếm đất đai của các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, bằng cách di dân theo lối “tầm ăn dâu.” Giữa hai cuộc chiến tranh, trong lúc hòa hiếu tạm thời, bao nhiêu thế hệ người Việt đã đi qua các nước trên, khai phá đất đai và lập thôn lập xóm, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là một thứ kế “trồng người” theo nghĩa đen. Chúng ta đã biết kết quả của kế hoạch trồng người đó ra sao. Cho nên có thể hiểu tại sao hai ông tướng về hưu Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh lại cảm thấy cay đắng và giận dữ trước một hoàn cảnh tương tự. Vì họ phải lo lắng thấy người Việt Nam có thể sẽ phải đóng vai giống như người Chàm và người Khờ Me đời trước.
Hội Ðồng Liên Tôn và chuyện người đồng tính luyến ái diễn hành Tết

Nhóm đồng tính luyến ái trong cuộc Diễn Hành Tết Canh Dần trên đường Bolsa. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)
(*) Tác giả gởi bài viết này tới tòa soạn qua email. Như tất cả bài viết khác, tòa soạn có biên tập và đặt tựa lại cho bài này.
Derek Trần (*)
Tôn giáo nào tuy hình thức có khác nhau, nhưng chắc chắn vẫn ít nhiều có chung một đường lối, một tôn chỉ dành cho những người hành đạo: Mang con người lại gần với nhau, và mang con người tới gần với Thượng Ðế.
Ðối với Thiên Chúa Giáo trong đó có cả Công Giáo lẫn các hội thánh Tin Lành, hai sứ mạng này thấy rõ ràng qua biểu tượng của cây thập tự giá, vẫn thường được gọi là cây Thánh giá: Thanh dọc tượng trưng cho sự nối kết giữa con người và Thượng Ðế, và thanh ngang tượng trưng cho sự nối kết giữa con người và con người với nhau.
Ðối với triết lý nhà Phật, hình ảnh gần gũi của Ðức Phật Thích Ca khi ngài đã thành chánh quả, được cả triệu dân tôn sùng, được sự hậu thuẫn tôn giáo tuyệt đối của hoàng tộc nơi ngài xuất thân là một thái tử, vẫn an nhiên, áo vải, chân trần, đi vào những thôn làng nghèo khổ hẻo lánh để khất thực, để nhận tất cả những phẩm vật cho dù hèn mọn nhất của mọi người. Hành động khất thực của một đấng chơn tu này, ngoài nhiệm vụ cảnh tỉnh con người, còn là một tấm gương cho lối sống dung dị chan hòa và tình người giữa con người và con người với nhau.
Hơn thế nữa, dù là Ðức Phật hay Chúa Jesus, khi còn tại thế, còn hành đạo giữa vòng con người, hai ngài đã luôn luôn đi vào mọi tầng lớp con người để mang tình yêu thương đến với họ, chớ không xa lánh, ngăn cách, khinh bỉ họ, cho dù họ là những người mang thương tật thể xác như những người phong cùi, ghẻ lở; những người bệnh hoạn tâm linh như những người điên loạn, người bị quỷ ám; cho tới những thành phần bị xã hội lên án nguyền rủa như trộm cắp, đĩ điếm, nghiện ngập, những tên cướp, tử tội, v.v... Cái ví dụ “người đàn bà ngoại tình” là một ví dụ điển hình cho những cố gắng mang con người lại với nhau của Chúa Jesus. Một nhóm người đại diện cho tôn giáo mang một người đàn bà vừa bị bắt vì tội ngoại tình đến trước mặt Chúa Jesus, chỉ với mục đích là thử thách ngài. Theo giới luật tôn giáo thời bấy giờ, người đàn bà này phải bị đám đông ném đá đến chết. Chúa không trả lời cho đến khi những người này hỏi ngài đến lần thứ 3 thì Chúa mới đáp, “những ai trong vòng các ông tự cảm thấy mình chưa hề phạm tội thì hãy ném viên đá đầu tiên vào người này đi.” Chúa đã vạch ra sự đạo đức giả của những người tự cho mình là “lãnh đạo tinh thần” của đám đông, và kêu gọi sự cảm thông, kêu gọi tình người giữa người và người với nhau, hơn là hành xử theo giáo điều theo luật lệ cứng ngắc.
Vậy mang con người lại gần với nhau rõ ràng là một trọng trách, một sứ mạng cao cả nhất mà những người mệnh danh “lãnh đạo tâm linh” phải luôn tâm niệm và hành xử. Việc Hội Ðồng Liên Tôn kêu gọi tẩy chay cuộc diễn hành nếu có sự có mặt của nhóm đồng tính luyến ái rõ ràng đi ngược lại tôn chỉ đạo pháp mà các Ðấng Linh Thiêng đã dạy bảo. Cụ thể, quí vị đã gián tiếp xua đuổi, xô đẩy những người con, người anh, người chị, người cậu, dì chú bác đồng tính luyến ái trong gia đình ra khỏi chính gia đình của họ, ra khỏi chính cộng đồng của họ, cô lập và không chấp nhận họ. Phải chăng đó là những hành động bất nhẫn thiếu tình người?
Còn nếu quí vị viện dẫn rằng sự có mặt của nhóm đồng tính luyến ái sẽ mang lại những hình ảnh “Xấu Xa” trong mắt của cộng đồng bản xứ, sẽ gây những ảnh hưởng tâm lý không tốt cho giới trẻ, và cần phải “đẹp khoe xấu che,” thì rõ ràng quí vị đang giẫm theo bước chân của nhà lãnh tụ độc tài Iran Ahmadinejad với câu tuyên bố lừng danh của ông này tại trường Ðại Học Columbia hồi năm ngoái, “Ở đất nước chúng tôi, không có những người đồng tính luyến ái.” Lời tuyên bố rặt mùi vị giả dối, đạo đức giả, mang đầy sự kỳ thị khinh miệt đối với người đồng tính luyến ái của ông này được xem như một trò hề của thế kỷ được phát ra không chỉ từ cửa miệng của một nhà độc tài thế kỷ, mà còn từ miệng của một thằng ngốc thế kỷ!
Thiết nghĩ, sự hiện diện của nhóm đồng tính luyến ái mang lại rất nhiều tốt đẹp cho cộng đồng, nhất là đối với giới trẻ. Ðối với các em dị tính luyến ái, nó mang lại hình ảnh của sự tôn trọng khác biệt trong xã hội (xin nhớ là khác biệt chớ không phải là dị biệt), tôn trọng nhân phẩm và giá trị của con người. Còn đối với các em vốn sinh ra với bản chất đồng tính luyến ái đang giấu kín trong người, đang hoang mang, đang bối rối với gia đình bạn bè và xã hội, sự hiện diện đông đảo đầy tự tin của nhóm đồng tính luyến ái biết đâu sẽ mang lại ít nhiều lòng tự tin, khích lệ lòng dũng cảm của các em, để các em có thể mạnh dạn bước ra cuộc đời, sống thẳng thắn với giới tính cha sinh mẹ đẻ của mình, để không phải sống một cuộc sống hai mặt, giả trá, dằn vặt, và đương nhiên, không hề có hạnh phúc. Chắc quí vị không muốn con em mình sống một cuộc đời dối trá, không có hạnh phúc như vậy chớ?
Hơn thế nữa, những cụm từ mà Hội Ðồng Liên Tôn đã dành cho người ÐTLA như, “nhóm người đó...,” “phản lại thuần phong mỹ tục,” “những thứ xấu xa...,” là những xúc phạm lăng mạ trắng trợn đến danh dự và lòng tự ái của không chỉ một cá nhân, mà cho cả một cộng đồng đồng tính luyến ái. Nó hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ yêu thương mà các đấng Linh Thiêng các tôn giáo mà quí vị đang hành đạo đã đưa ra. Chúa Jesus đã dạy rõ ràng trong mọi sách Phúc Âm của kinh thánh Tân Ước, “Các ngươi đừng phán xét ai. Ðừng chỉ vào sợi lông trong mắt người mà quên đi cây đà trong mắt mình.”
Cuối cùng thì ngày diễn hành Tết cộng đồng nhiều sóng gió có mặt nhóm của anh chị em đồng tính luyến ái đã tới. Sáng hôm đó, có lẽ cũng nhờ vào nỗ lực kêu gọi tẩy chay, sách động ráo riết của quí vị trong Hội Ðồng Liên Tôn, cảnh sát Westminster cũng đánh hơi được không khí bạo hành có thể xảy ra, đã cho nhiều cảnh sát chìm trong thường phục để bảo vệ an toàn cho cả đoàn diễn hành. Bất chấp mọi thứ, anh chị em cả nhóm vẫn ngẩng cao đầu bước đều, với nụ cười trong sáng và ánh mắt ngời sáng như bầu trời Little Sài Gòn vào xuân. Họ bước tự tin, mạnh mẽ, trong những bộ áo dài quốc phục. Và thật ngỡ ngàng, họ được sự ủng hộ lớn lao, mạnh mẽ của bà con ta, lẫn các cộng đồng bạn đứng ở hai bên đường. Các chú cao niên trong quân phục Việt Nam Cộng Hòa giơ tay vẫy chào đầy thiện cảm; giới trẻ thì reo hò cổ vũ; thậm chí có vài em bé Việt Nam mang hoa chạy ra tặng cho đoàn diễn hành. “Người Việt mình vẫn nhân hậu, hiểu biết và yêu thương,” các anh chị em trong đoàn đồng tính luyến ái tự nhủ trong xúc động lẫn hạnh phúc. Thành thật mà nói, trước lúc xuất phát, đã có vài cá nhân lo sợ, hồi hộp, thậm chí muốn thối lui trước áp lực, đưa tới từ những lời kêu gọi tẩy chay của Hội Ðồng Liên Tôn. Nhưng các anh chị em đã nhắm mắt lại tự trấn an, “Thôi, một liều ba bảy cũng liều,” “vì danh dự của cả nhóm,” “vì lẽ công bằng trong cuộc sống”... Thật đáng yêu và đáng tự hào biết bao!
Trở lại với cái cớ “đẹp khoe xấu che” để binh vực cho chiến dịch sách động tẩy chay của quí vị. Tự nhiên nó làm tôi nhớ lại vụ xấu hổ đáng chê trách của ban tổ chức dưới sự chỉ đạo của nhà cầm quyền Bắc Kinh trong buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội Olympic mùa Hè 2 năm trước. Một cô bé cực kỳ xinh đẹp cất cao giọng hát tuyệt vời dưới sân vận động, khán giả trầm trồ trước nét xinh đẹp và giọng hát mãnh liệt của cô bé. Chỉ vài ngày sau, báo chí phương tây lật tẩy trò ăn gian này: Giọng hát là của một cô bé khác, với sắc diện kém hơn nhiều so với cô bé tưởng là hát live nhưng thật ra chỉ nhép miệng đả lừa cả thế giới. Tại sao họ lại làm vậy thế nhỉ? Câu trả lời y chang như cái cớ của Hội Ðồng Liên Tôn đã dùng: “đẹp khoe xấu che.” Chính quyền đạo đức giả Bắc Kinh chỉ muốn cho thế giới thấy vẻ đẹp “hoàn chỉnh tuyệt đối” giả tạo của người dân Trung Quốc, mà không kể gì đến tự ái bị tổn thương nghiêm trọng của cô bé bị thay thế. Ở đây cũng vậy, Hội Ðồng Liên Tôn chỉ muốn “đẹp khoe xấu che” mà không nề hà gì đến tự ái, danh dự của anh chị em đồng tính luyến ái. Ðể rồi, khi giới truyền thông bản xứ vào cuộc (OC Register, ABC,...) cái đẹp cái hay nào được họ nhìn thấy không biết, chỉ thấy cái bất nhẫn bị họ nhìn thấy trong chiến dịch tẩy chay nầy.
Tôi thiết nghĩ, từ chuyện vội vàng lên án, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự của người đồng tính luyến ái, cho đến việc khởi động chiến dịch kêu gọi sách động tẩy chay cuộc diễn hành của quí vị nếu có sự tham dự của các anh chị em đồng tính luyến ái, đều không phù hợp với tôn chỉ và tư cách của những người mệnh danh là “lãnh đạo tâm linh” của cộng đồng. Hành động và lời nói của quí vị đã làm tổn thương nghiêm trọng đến danh dự của cộng đồng đồng tính luyến ái từ lâu vốn đã chịu đựng quá nhiều bất công và thiệt thòi về mọi mặt trong cuộc sống. Quí vị đang nợ cộng đồng đồng tính luyến ái chúng tôi một lời xin lỗi. Nếu không, đương nhiên chúng tôi phải tự đặt ra cho mình một câu hỏi, “liệu quí vị có thật sự đại diện về mặt tâm linh cho toàn thể những người Việt tỵ nạn đang sinh sống tại một thủ phủ tỵ nạn lớn nhất thế giới, những người Việt Nam với bản chất yêu thương, gắn bó, hiền hòa tương kính, và tôn trọng nhân quyền, nhân phẩm con người, hay không?”

Nhóm đồng tính luyến ái trong cuộc Diễn Hành Tết Canh Dần trên đường Bolsa. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)
(*) Tác giả gởi bài viết này tới tòa soạn qua email. Như tất cả bài viết khác, tòa soạn có biên tập và đặt tựa lại cho bài này.
Derek Trần (*)
Tôn giáo nào tuy hình thức có khác nhau, nhưng chắc chắn vẫn ít nhiều có chung một đường lối, một tôn chỉ dành cho những người hành đạo: Mang con người lại gần với nhau, và mang con người tới gần với Thượng Ðế.
Ðối với Thiên Chúa Giáo trong đó có cả Công Giáo lẫn các hội thánh Tin Lành, hai sứ mạng này thấy rõ ràng qua biểu tượng của cây thập tự giá, vẫn thường được gọi là cây Thánh giá: Thanh dọc tượng trưng cho sự nối kết giữa con người và Thượng Ðế, và thanh ngang tượng trưng cho sự nối kết giữa con người và con người với nhau.
Ðối với triết lý nhà Phật, hình ảnh gần gũi của Ðức Phật Thích Ca khi ngài đã thành chánh quả, được cả triệu dân tôn sùng, được sự hậu thuẫn tôn giáo tuyệt đối của hoàng tộc nơi ngài xuất thân là một thái tử, vẫn an nhiên, áo vải, chân trần, đi vào những thôn làng nghèo khổ hẻo lánh để khất thực, để nhận tất cả những phẩm vật cho dù hèn mọn nhất của mọi người. Hành động khất thực của một đấng chơn tu này, ngoài nhiệm vụ cảnh tỉnh con người, còn là một tấm gương cho lối sống dung dị chan hòa và tình người giữa con người và con người với nhau.
Hơn thế nữa, dù là Ðức Phật hay Chúa Jesus, khi còn tại thế, còn hành đạo giữa vòng con người, hai ngài đã luôn luôn đi vào mọi tầng lớp con người để mang tình yêu thương đến với họ, chớ không xa lánh, ngăn cách, khinh bỉ họ, cho dù họ là những người mang thương tật thể xác như những người phong cùi, ghẻ lở; những người bệnh hoạn tâm linh như những người điên loạn, người bị quỷ ám; cho tới những thành phần bị xã hội lên án nguyền rủa như trộm cắp, đĩ điếm, nghiện ngập, những tên cướp, tử tội, v.v... Cái ví dụ “người đàn bà ngoại tình” là một ví dụ điển hình cho những cố gắng mang con người lại với nhau của Chúa Jesus. Một nhóm người đại diện cho tôn giáo mang một người đàn bà vừa bị bắt vì tội ngoại tình đến trước mặt Chúa Jesus, chỉ với mục đích là thử thách ngài. Theo giới luật tôn giáo thời bấy giờ, người đàn bà này phải bị đám đông ném đá đến chết. Chúa không trả lời cho đến khi những người này hỏi ngài đến lần thứ 3 thì Chúa mới đáp, “những ai trong vòng các ông tự cảm thấy mình chưa hề phạm tội thì hãy ném viên đá đầu tiên vào người này đi.” Chúa đã vạch ra sự đạo đức giả của những người tự cho mình là “lãnh đạo tinh thần” của đám đông, và kêu gọi sự cảm thông, kêu gọi tình người giữa người và người với nhau, hơn là hành xử theo giáo điều theo luật lệ cứng ngắc.
Vậy mang con người lại gần với nhau rõ ràng là một trọng trách, một sứ mạng cao cả nhất mà những người mệnh danh “lãnh đạo tâm linh” phải luôn tâm niệm và hành xử. Việc Hội Ðồng Liên Tôn kêu gọi tẩy chay cuộc diễn hành nếu có sự có mặt của nhóm đồng tính luyến ái rõ ràng đi ngược lại tôn chỉ đạo pháp mà các Ðấng Linh Thiêng đã dạy bảo. Cụ thể, quí vị đã gián tiếp xua đuổi, xô đẩy những người con, người anh, người chị, người cậu, dì chú bác đồng tính luyến ái trong gia đình ra khỏi chính gia đình của họ, ra khỏi chính cộng đồng của họ, cô lập và không chấp nhận họ. Phải chăng đó là những hành động bất nhẫn thiếu tình người?
Còn nếu quí vị viện dẫn rằng sự có mặt của nhóm đồng tính luyến ái sẽ mang lại những hình ảnh “Xấu Xa” trong mắt của cộng đồng bản xứ, sẽ gây những ảnh hưởng tâm lý không tốt cho giới trẻ, và cần phải “đẹp khoe xấu che,” thì rõ ràng quí vị đang giẫm theo bước chân của nhà lãnh tụ độc tài Iran Ahmadinejad với câu tuyên bố lừng danh của ông này tại trường Ðại Học Columbia hồi năm ngoái, “Ở đất nước chúng tôi, không có những người đồng tính luyến ái.” Lời tuyên bố rặt mùi vị giả dối, đạo đức giả, mang đầy sự kỳ thị khinh miệt đối với người đồng tính luyến ái của ông này được xem như một trò hề của thế kỷ được phát ra không chỉ từ cửa miệng của một nhà độc tài thế kỷ, mà còn từ miệng của một thằng ngốc thế kỷ!
Thiết nghĩ, sự hiện diện của nhóm đồng tính luyến ái mang lại rất nhiều tốt đẹp cho cộng đồng, nhất là đối với giới trẻ. Ðối với các em dị tính luyến ái, nó mang lại hình ảnh của sự tôn trọng khác biệt trong xã hội (xin nhớ là khác biệt chớ không phải là dị biệt), tôn trọng nhân phẩm và giá trị của con người. Còn đối với các em vốn sinh ra với bản chất đồng tính luyến ái đang giấu kín trong người, đang hoang mang, đang bối rối với gia đình bạn bè và xã hội, sự hiện diện đông đảo đầy tự tin của nhóm đồng tính luyến ái biết đâu sẽ mang lại ít nhiều lòng tự tin, khích lệ lòng dũng cảm của các em, để các em có thể mạnh dạn bước ra cuộc đời, sống thẳng thắn với giới tính cha sinh mẹ đẻ của mình, để không phải sống một cuộc sống hai mặt, giả trá, dằn vặt, và đương nhiên, không hề có hạnh phúc. Chắc quí vị không muốn con em mình sống một cuộc đời dối trá, không có hạnh phúc như vậy chớ?
Hơn thế nữa, những cụm từ mà Hội Ðồng Liên Tôn đã dành cho người ÐTLA như, “nhóm người đó...,” “phản lại thuần phong mỹ tục,” “những thứ xấu xa...,” là những xúc phạm lăng mạ trắng trợn đến danh dự và lòng tự ái của không chỉ một cá nhân, mà cho cả một cộng đồng đồng tính luyến ái. Nó hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ yêu thương mà các đấng Linh Thiêng các tôn giáo mà quí vị đang hành đạo đã đưa ra. Chúa Jesus đã dạy rõ ràng trong mọi sách Phúc Âm của kinh thánh Tân Ước, “Các ngươi đừng phán xét ai. Ðừng chỉ vào sợi lông trong mắt người mà quên đi cây đà trong mắt mình.”
Cuối cùng thì ngày diễn hành Tết cộng đồng nhiều sóng gió có mặt nhóm của anh chị em đồng tính luyến ái đã tới. Sáng hôm đó, có lẽ cũng nhờ vào nỗ lực kêu gọi tẩy chay, sách động ráo riết của quí vị trong Hội Ðồng Liên Tôn, cảnh sát Westminster cũng đánh hơi được không khí bạo hành có thể xảy ra, đã cho nhiều cảnh sát chìm trong thường phục để bảo vệ an toàn cho cả đoàn diễn hành. Bất chấp mọi thứ, anh chị em cả nhóm vẫn ngẩng cao đầu bước đều, với nụ cười trong sáng và ánh mắt ngời sáng như bầu trời Little Sài Gòn vào xuân. Họ bước tự tin, mạnh mẽ, trong những bộ áo dài quốc phục. Và thật ngỡ ngàng, họ được sự ủng hộ lớn lao, mạnh mẽ của bà con ta, lẫn các cộng đồng bạn đứng ở hai bên đường. Các chú cao niên trong quân phục Việt Nam Cộng Hòa giơ tay vẫy chào đầy thiện cảm; giới trẻ thì reo hò cổ vũ; thậm chí có vài em bé Việt Nam mang hoa chạy ra tặng cho đoàn diễn hành. “Người Việt mình vẫn nhân hậu, hiểu biết và yêu thương,” các anh chị em trong đoàn đồng tính luyến ái tự nhủ trong xúc động lẫn hạnh phúc. Thành thật mà nói, trước lúc xuất phát, đã có vài cá nhân lo sợ, hồi hộp, thậm chí muốn thối lui trước áp lực, đưa tới từ những lời kêu gọi tẩy chay của Hội Ðồng Liên Tôn. Nhưng các anh chị em đã nhắm mắt lại tự trấn an, “Thôi, một liều ba bảy cũng liều,” “vì danh dự của cả nhóm,” “vì lẽ công bằng trong cuộc sống”... Thật đáng yêu và đáng tự hào biết bao!
Trở lại với cái cớ “đẹp khoe xấu che” để binh vực cho chiến dịch sách động tẩy chay của quí vị. Tự nhiên nó làm tôi nhớ lại vụ xấu hổ đáng chê trách của ban tổ chức dưới sự chỉ đạo của nhà cầm quyền Bắc Kinh trong buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội Olympic mùa Hè 2 năm trước. Một cô bé cực kỳ xinh đẹp cất cao giọng hát tuyệt vời dưới sân vận động, khán giả trầm trồ trước nét xinh đẹp và giọng hát mãnh liệt của cô bé. Chỉ vài ngày sau, báo chí phương tây lật tẩy trò ăn gian này: Giọng hát là của một cô bé khác, với sắc diện kém hơn nhiều so với cô bé tưởng là hát live nhưng thật ra chỉ nhép miệng đả lừa cả thế giới. Tại sao họ lại làm vậy thế nhỉ? Câu trả lời y chang như cái cớ của Hội Ðồng Liên Tôn đã dùng: “đẹp khoe xấu che.” Chính quyền đạo đức giả Bắc Kinh chỉ muốn cho thế giới thấy vẻ đẹp “hoàn chỉnh tuyệt đối” giả tạo của người dân Trung Quốc, mà không kể gì đến tự ái bị tổn thương nghiêm trọng của cô bé bị thay thế. Ở đây cũng vậy, Hội Ðồng Liên Tôn chỉ muốn “đẹp khoe xấu che” mà không nề hà gì đến tự ái, danh dự của anh chị em đồng tính luyến ái. Ðể rồi, khi giới truyền thông bản xứ vào cuộc (OC Register, ABC,...) cái đẹp cái hay nào được họ nhìn thấy không biết, chỉ thấy cái bất nhẫn bị họ nhìn thấy trong chiến dịch tẩy chay nầy.
Tôi thiết nghĩ, từ chuyện vội vàng lên án, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự của người đồng tính luyến ái, cho đến việc khởi động chiến dịch kêu gọi sách động tẩy chay cuộc diễn hành của quí vị nếu có sự tham dự của các anh chị em đồng tính luyến ái, đều không phù hợp với tôn chỉ và tư cách của những người mệnh danh là “lãnh đạo tâm linh” của cộng đồng. Hành động và lời nói của quí vị đã làm tổn thương nghiêm trọng đến danh dự của cộng đồng đồng tính luyến ái từ lâu vốn đã chịu đựng quá nhiều bất công và thiệt thòi về mọi mặt trong cuộc sống. Quí vị đang nợ cộng đồng đồng tính luyến ái chúng tôi một lời xin lỗi. Nếu không, đương nhiên chúng tôi phải tự đặt ra cho mình một câu hỏi, “liệu quí vị có thật sự đại diện về mặt tâm linh cho toàn thể những người Việt tỵ nạn đang sinh sống tại một thủ phủ tỵ nạn lớn nhất thế giới, những người Việt Nam với bản chất yêu thương, gắn bó, hiền hòa tương kính, và tôn trọng nhân quyền, nhân phẩm con người, hay không?”
CSVN Cho TQ Thuê Rừng Để Bán Mỏ Uranium
Nhà Khoa Học Vũ Ngọc Tiến Từ Hà Nội Báo Nguy

Rừng Lào Cai. - Ảnh: nongnghiep.vn
HANOI (VB) — Tại sao Trung Quốc muốn thuê hàng trăm hecta rừng đầu nguồn của Việt Nam? Có phải là để trồng cây, khai thác rừng… như một kiểu kinh doanh bình thường? Theo một nhà khoa học tại Hà Nội, người từng hoạt động trên Bộ Tài Nguyên Môi Trường VN, có thể tin rằng Trung Quốc đang muốn dò tìm và khai thác mỏ phóng xạ uranium tại các rừng đầu nguồn VN.
Trang web Boxit.net của giới trí thức quốc nội hôm Thứ Sáu đăng bài viết nhan đề “Nấp sau chiêu bài thuê đất trồng rừng là gì?” của nhà khoa học Vũ Ngọc Tiến đã nêu minh bạch về các mỏ phóng xạ uranium trên các rừng đầu nguồn VN.
Lời giới thiệu của trang Bauxite Việt Nam viết, trích:
“Vấn đề đáng lạ không phải chỉ là 10 tỉnh tự tiện cho nước ngoài thuê đất trồng rừng đầu nguồn. Vấn đề là một tình trạng “quân hồi vô phèng” đối với bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc. Dưới không dám phê bình trên, để cho trên muốn làm gì mặc ý thì trên cũng thả lỏng cho dưới tha hồ đem tài sản của toàn dân ra cứ thế “đổi trao bán chác” để kiếm miếng lợi về mình…”Nhà khoa học Vũ Ngọc Tiến viết bài báo nguy đúng Ngày Mồng Một Tết Canh Dần từ Hà Nội, trong đó nêu rõ về các mỏ quý của VN — kể cả mỏ uranium, một chất hiếm để dùng làm bom nguyên tử — với tình hình trích như sau:
“Một chiều giáp Tết, bỗng dưng điện thoại nhà riêng của tôi liên tục đổ chuông. Bạn bè khắp nơi gọi đến (GS Nguyễn Xuân Hãn, cựu phóng viên chiến trường Phí Văn Chiến… ở HN; nhà văn Hà Văn Thùy, nhà tình báo quân đội lão thành – cụ Nguyễn Vũ Hiệp ở TP HCM; rồi cả chị bạn đạo diễn Việt Linh bên Pháp…) tất thảy đều đặt cho tôi những câu hỏi cùng một chủ đề: VNT đã đọc bài của hai vị tướng Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh trên trang mạng Bauxite Việt Nam chưa? Bằng góc nhìn của “ba nhà” cộng lại (nhà văn – nhà báo – nhà địa vật lý), VNT hãy thử mổ xẻ tin này cho bạn bè nghe thử?…
Tôi đã đọc kỹ bài viết của hai vị tướng lão thành, khả kính và rất đồng cảm với mối lo ngại sâu sắc của các ông trước sự thật hãi hùng: Gần 300 ngàn ha rừng đầu nguồn, trong đó có 264 ngàn ha thuộc 10 tỉnh biên giới xung yếu đã được cắt đất cho người Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê trong thời hạn 50 năm (!?) Khỏi cần bàn đến nguy cơ tiềm ẩn về an ninh quốc phòng bởi tướng Nguyên, tướng Vĩnh đã phân tích ngắn gọn, nhưng rất đầy đủ, sắc lẹm như dao chém chuối. Nguy cơ về môi trường cũng đã được thực tế chứng minh qua mấy mùa mưa lũ gần đây.
Chỉ xin lưu ý, vào những năm giữa của thập niên 90 thế kỷ trước, tôi cùng cố Kỹ sư Lưu Xuân Viện, nhà văn Bùi Bình Thi tham gia Ban Giáo dục truyền thông về môi trường, thuộc Ủy ban quốc gia về nước sạch – vệ sinh môi trường do GS Bộ trưởng Phạm Song làm Chủ nhiệm. Hồi đó, với sự giúp đỡ của GS Phạm Song, tôi đã có cơ hội khảo sát kỹ nguyên nhân gây lũ lụt, đặc biệt là những trận lũ bùn đất diễn ra khủng khiếp ở Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Tuyên Quang, Kon Tum. Trong hàng loạt bài báo công bố trên các tờ Nhân dân, Lao động, Pháp luật, Văn nghệ… tôi đã phân tích cụ thể tình trạng phá rừng đầu nguồn và khai thác khoáng sản bừa bãi bằng hình thức “khai thác thổ phỉ”, được chính quyền sở tại dung túng hoặc thâm chí ăn chia. Đó cũng chính là 2 nguyên nhân chính dẫn đến thảm họa lũ bùn đất. Ngoài ra, bằng quan hệ riêng của anh Lưu Xuân Viện, tôi đã gửi 2 bản báo cáo chi tiết lên Văn phòng Chính phủ, kiến nghị kiểm soát chặt chẽ rừng đầu nguồn và đề xuất một số giải pháp chấm dứt ngay tình trạng khai thác thổ phỉ ở các mỏ quặng thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc. Song những kiến nghị ấy hầu như ném đá ao bèo, chìm trong im lặng! Nay nhân bài viết của tướng Nguyên, tướng Vĩnh, tôi muốn đi sâu vào khía cạnh thất thoát tài nguyên khoáng sản, điều mà 2 vị tướng quân chưa bàn xét tới.
Quy luật phân bố khoáng sản, nhất là kim loại màu và kim loại quý hiếm cho thấy chúng thường xuất hiện nhiều ở các vùng “núi già”, tức vùng có địa tầng rất cổ thuộc thời kỳ Pro-te-ro-zoi và Pa-le-o-zoi. Trên bản đồ địa chất nước ta, đó là các vùng thuộc khối nâng Việt Bắc, khối nâng Kon Tum (Tây Nguyên) và đới khâu Con Voi (Lào Cai, Yên Bái), đới khâu Sơn La – Điện Biên. Người không có chuyên môn địa chất chỉ cần nghe qua các thuật ngữ khoa học trên cũng mường tượng ra khả năng Kon Tum và các tỉnh biên giới phía Bắc có nhiều mỏ quặng kim loại màu và kim loại quý hiếm. Kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp, Nga, Việt Nam hơn 100 năm (1905 – 1985) đã chỉ ra hàng trăm mỏ, điểm quặng ở các vùng lãnh thổ này, trong đó đặc biệt quan trọng là các mỏ sulfua đa kim, đất hiếm, thậm chí có cả Uranium…
“…Tôi ngờ rằng, trong 264 ngàn ha rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới đã cho người nước lạ thuê kia không chỉ có gỗ mà còn có cả khoáng sản và đó mới là mục đích sâu sa, thâm hiểm của ông bạn nước lạ chăng? Điều này kiểm tra không khó, nhưng Chính phủ có dám làm, dám xử lý không vẫn còn đang bỏ ngỏ. Tuy nhiên, nếu khả năng này xảy ra thì sự tàn phá rừng đầu nguồn, kết hợp với đào bới quặng sẽ là hai tác nhân gây ra thảm họa lũ bùn đất như đã từng xảy ra ở sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng mà hơn 10 năm trước tôi đã từng đến tận nơi điều ta, nghiên cứu và cảnh báo…”
Chưa thâý có trả lời chính thức nàò từ phía chính phủ Hà Nội trước thông tin về các mỏ quý kim, kể cả phóng xạ uranium, đem cho TQ khai thác. Trong khi đó trang web chính của Bauxite VN hiện vẫn còn bị tin tặc đánh phá.
Nhà Khoa Học Vũ Ngọc Tiến Từ Hà Nội Báo Nguy

Rừng Lào Cai. - Ảnh: nongnghiep.vn
HANOI (VB) — Tại sao Trung Quốc muốn thuê hàng trăm hecta rừng đầu nguồn của Việt Nam? Có phải là để trồng cây, khai thác rừng… như một kiểu kinh doanh bình thường? Theo một nhà khoa học tại Hà Nội, người từng hoạt động trên Bộ Tài Nguyên Môi Trường VN, có thể tin rằng Trung Quốc đang muốn dò tìm và khai thác mỏ phóng xạ uranium tại các rừng đầu nguồn VN.
Trang web Boxit.net của giới trí thức quốc nội hôm Thứ Sáu đăng bài viết nhan đề “Nấp sau chiêu bài thuê đất trồng rừng là gì?” của nhà khoa học Vũ Ngọc Tiến đã nêu minh bạch về các mỏ phóng xạ uranium trên các rừng đầu nguồn VN.
Lời giới thiệu của trang Bauxite Việt Nam viết, trích:
“Vấn đề đáng lạ không phải chỉ là 10 tỉnh tự tiện cho nước ngoài thuê đất trồng rừng đầu nguồn. Vấn đề là một tình trạng “quân hồi vô phèng” đối với bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc. Dưới không dám phê bình trên, để cho trên muốn làm gì mặc ý thì trên cũng thả lỏng cho dưới tha hồ đem tài sản của toàn dân ra cứ thế “đổi trao bán chác” để kiếm miếng lợi về mình…”Nhà khoa học Vũ Ngọc Tiến viết bài báo nguy đúng Ngày Mồng Một Tết Canh Dần từ Hà Nội, trong đó nêu rõ về các mỏ quý của VN — kể cả mỏ uranium, một chất hiếm để dùng làm bom nguyên tử — với tình hình trích như sau:
“Một chiều giáp Tết, bỗng dưng điện thoại nhà riêng của tôi liên tục đổ chuông. Bạn bè khắp nơi gọi đến (GS Nguyễn Xuân Hãn, cựu phóng viên chiến trường Phí Văn Chiến… ở HN; nhà văn Hà Văn Thùy, nhà tình báo quân đội lão thành – cụ Nguyễn Vũ Hiệp ở TP HCM; rồi cả chị bạn đạo diễn Việt Linh bên Pháp…) tất thảy đều đặt cho tôi những câu hỏi cùng một chủ đề: VNT đã đọc bài của hai vị tướng Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh trên trang mạng Bauxite Việt Nam chưa? Bằng góc nhìn của “ba nhà” cộng lại (nhà văn – nhà báo – nhà địa vật lý), VNT hãy thử mổ xẻ tin này cho bạn bè nghe thử?…
Tôi đã đọc kỹ bài viết của hai vị tướng lão thành, khả kính và rất đồng cảm với mối lo ngại sâu sắc của các ông trước sự thật hãi hùng: Gần 300 ngàn ha rừng đầu nguồn, trong đó có 264 ngàn ha thuộc 10 tỉnh biên giới xung yếu đã được cắt đất cho người Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê trong thời hạn 50 năm (!?) Khỏi cần bàn đến nguy cơ tiềm ẩn về an ninh quốc phòng bởi tướng Nguyên, tướng Vĩnh đã phân tích ngắn gọn, nhưng rất đầy đủ, sắc lẹm như dao chém chuối. Nguy cơ về môi trường cũng đã được thực tế chứng minh qua mấy mùa mưa lũ gần đây.
Chỉ xin lưu ý, vào những năm giữa của thập niên 90 thế kỷ trước, tôi cùng cố Kỹ sư Lưu Xuân Viện, nhà văn Bùi Bình Thi tham gia Ban Giáo dục truyền thông về môi trường, thuộc Ủy ban quốc gia về nước sạch – vệ sinh môi trường do GS Bộ trưởng Phạm Song làm Chủ nhiệm. Hồi đó, với sự giúp đỡ của GS Phạm Song, tôi đã có cơ hội khảo sát kỹ nguyên nhân gây lũ lụt, đặc biệt là những trận lũ bùn đất diễn ra khủng khiếp ở Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Tuyên Quang, Kon Tum. Trong hàng loạt bài báo công bố trên các tờ Nhân dân, Lao động, Pháp luật, Văn nghệ… tôi đã phân tích cụ thể tình trạng phá rừng đầu nguồn và khai thác khoáng sản bừa bãi bằng hình thức “khai thác thổ phỉ”, được chính quyền sở tại dung túng hoặc thâm chí ăn chia. Đó cũng chính là 2 nguyên nhân chính dẫn đến thảm họa lũ bùn đất. Ngoài ra, bằng quan hệ riêng của anh Lưu Xuân Viện, tôi đã gửi 2 bản báo cáo chi tiết lên Văn phòng Chính phủ, kiến nghị kiểm soát chặt chẽ rừng đầu nguồn và đề xuất một số giải pháp chấm dứt ngay tình trạng khai thác thổ phỉ ở các mỏ quặng thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc. Song những kiến nghị ấy hầu như ném đá ao bèo, chìm trong im lặng! Nay nhân bài viết của tướng Nguyên, tướng Vĩnh, tôi muốn đi sâu vào khía cạnh thất thoát tài nguyên khoáng sản, điều mà 2 vị tướng quân chưa bàn xét tới.
Quy luật phân bố khoáng sản, nhất là kim loại màu và kim loại quý hiếm cho thấy chúng thường xuất hiện nhiều ở các vùng “núi già”, tức vùng có địa tầng rất cổ thuộc thời kỳ Pro-te-ro-zoi và Pa-le-o-zoi. Trên bản đồ địa chất nước ta, đó là các vùng thuộc khối nâng Việt Bắc, khối nâng Kon Tum (Tây Nguyên) và đới khâu Con Voi (Lào Cai, Yên Bái), đới khâu Sơn La – Điện Biên. Người không có chuyên môn địa chất chỉ cần nghe qua các thuật ngữ khoa học trên cũng mường tượng ra khả năng Kon Tum và các tỉnh biên giới phía Bắc có nhiều mỏ quặng kim loại màu và kim loại quý hiếm. Kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp, Nga, Việt Nam hơn 100 năm (1905 – 1985) đã chỉ ra hàng trăm mỏ, điểm quặng ở các vùng lãnh thổ này, trong đó đặc biệt quan trọng là các mỏ sulfua đa kim, đất hiếm, thậm chí có cả Uranium…
“…Tôi ngờ rằng, trong 264 ngàn ha rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới đã cho người nước lạ thuê kia không chỉ có gỗ mà còn có cả khoáng sản và đó mới là mục đích sâu sa, thâm hiểm của ông bạn nước lạ chăng? Điều này kiểm tra không khó, nhưng Chính phủ có dám làm, dám xử lý không vẫn còn đang bỏ ngỏ. Tuy nhiên, nếu khả năng này xảy ra thì sự tàn phá rừng đầu nguồn, kết hợp với đào bới quặng sẽ là hai tác nhân gây ra thảm họa lũ bùn đất như đã từng xảy ra ở sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng mà hơn 10 năm trước tôi đã từng đến tận nơi điều ta, nghiên cứu và cảnh báo…”
Chưa thâý có trả lời chính thức nàò từ phía chính phủ Hà Nội trước thông tin về các mỏ quý kim, kể cả phóng xạ uranium, đem cho TQ khai thác. Trong khi đó trang web chính của Bauxite VN hiện vẫn còn bị tin tặc đánh phá.
Ngàn nghĩa, vạn tình của Hồ Chí Minh
Ngô Nhân Dụng
Một lá thư từ trong nước chuyển đi cho biết trong đêm Giao Thừa, năm Canh Dần, có mấy đài truyền hình ở Việt Nam chiếu cảnh liên hoan, với bài “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Ðông...” Bài này sáng tác trong thời kỳ Hồ Chí Minh đang cổ võ về “tình nghĩa” giữa hai đảng cộng sản. Cuối bài, một nam ca sĩ người Tầu và một nữ ca sĩ Việt cùng song ca điệp khúc, “Dân Nam ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Ðông” giống như một khẩu hiệu để ghi nhớ mãi mãi.
Người viết lá thư cho đây là một cảnh rất đau lòng, khó tin nhưng có thật. Trong lúc các sinh viên Việt Nam đã biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và bị đàn áp, nhà trí thức đang báo động đồng bào về mối họa các công ty Trung Quốc sang khai thác bô xít ở Việt Nam, các mạng lưới bị phá và nhiều người bị bắt giam, ngay sau khi hai cựu tướng lãnh cảnh cáo việc cho người Trung Hoa thuê rừng trồng cây gây mối nguy về di dân bất hợp pháp, mà các cơ quan tuyên truyền của chính phủ Hà Nội lại ca ngợi những tình nghĩa của giữa ông Mao và ông Hồ, thì đây là một chuyện khó tin thật. Trong dịp Giao Thừa vừa qua, một nhà khoa học Việt Nam còn cho biết những dự án “thuê rừng” của người Trung Quốc có thể che đậy âm mưu tìm và khai thác uranium ở nước ta!
Tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam có thể “vô tri, vô giác” đối với những mối lo của người Việt Nam mà cứ liên hoan Mao Hồ như vậy?
Chỉ có thể đoán đây là một sáng kiến của các đồng chí Trung Quốc và các quan chức cộng sản nước ta không thể từ chối được. Chính phủ Bắc Kinh biết có thể sử dụng hình ảnh Hồ Chí Minh để “động viên” tinh thần của nhiều người Việt Nam thật thà, chất phác, nhiều người sống ở nông thôn vẫn đặt hình ông Hồ lên bàn thờ tổ tiên. Ðem ông Hồ ghép với ông Mao sẽ chinh phục được nhiều người Việt Nam mê ngủ. Vì chính lúc ông Hồ còn sống, ông đã chấp nhận và cho phổ biến những câu Chế Lan Viên viết,
“Bác Mao không ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao.”
Ðem Hồ với Mao ghép chung trong một câu hát, có thể vong linh ông Hồ còn hãnh diện nữa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam khó từ chối bài hát giao thừa “hữu nghị” này, vì họ không thể chối cãi được là suốt đời Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở mọi đảng viên rằng họ phải biết ơn đảng Cộng Sản Trung Hoa. Không những thế, còn phải công nhận cả nghĩa lẫn tình với các đồng chí phương Bắc nữa. Xưa nay người Việt Nam thường dùng hai chữ “tình nghĩa” khi nói đến anh em, vợ chồng. Hồ Chí Minh là người thứ nhất sử dụng hai chữ đó trong việc bang giao giữa hai nước.
Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”... “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 tháng 7, năm 1961.
Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng Sản Trung Quốc đối với đảng Cộng Sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng cách mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác- Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.
Ngoài ra, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu hoạt động cũng ở bên Tầu và Cộng Sản Tầu còn giúp họ nhiều dịp khác. Ông Hồ lần lượt kể những mối ơn không thể chối cãi được đó.
Hồ Chí Minh đã tóm tắt những công ơn này với hai câu thơ,
Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,
Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!”
Ông Hồ là người nói năng khôn ngoan, đắn đo, cân nhắc từng chữ. Khi viết trên tờ báo chính thức của đảng thì chắc chắn ông còn thận trọng gấp bội. Khi ông nói Cộng Sản Việt Nam “chịu ơn Trung Quốc 100 phần, nhưng còn nặng nghĩa 1,000 lần và có tình đến 10,000 lần” thì chúng ta phải hiểu ông đã đo đếm, tính toán rất kỹ. Chịu ơn, người ta có thể trả ơn, chịu nghĩa cũng có thể đền đáp được, nhưng mối “tình một vạn” thì suốt đời cũng không bao giờ quên được.
Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “...tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta...” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.” Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chảy máu, nhưng bây giờ lại được các đồng chí Trung Quốc lập lại. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng Sản Việt Nam không thể từ chối được!
Vào năm 1961 đó, Trung Cộng vừa mới thất bại trong chiến dịch “Bước Nhẩy Vọt” của Mao Trạch Ðông, một chương trình kinh tế không tưởng làm hai chục triệu người Trung Hoa chết đói, có nơi nông dân phải ăn thịt lẫn nhau, nhưng Hồ Chí Minh vẫn hết lời ca tụng với Lưu Thiếu Kỳ, “Công cuộc vĩ đại xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo đúng đắn của đảng Cộng Sản đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Ðông đã làm gương sáng cho nhân dân Việt Nam chúng tôi.” Ông Hồ cũng nhắc lại, “những thắng lợi cực kỳ vẻ vang của Trung Quốc đã cổ vũ những người cách mạng Việt Nam phất cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác-Lênin...” Dân miền Bắc Việt Nam thời đó thoát chết vì trong lúc đó Hồ Chí Minh đã bắt đầu chương trình xâm nhập quân đội và vũ khí “chiếu cố miền Nam;” cho nên ông không thể thi hành một “Bước Nhẩy Vọt” ở phía trên vĩ tuyến 17, giống như ông đã theo ông Mao làm cải cách ruộng đất. Nếu ông rảnh tay “xây dựng chủ nghĩa xã hội” theo gương Mao Chủ Tịch thì chắc nhiều nông dân Việt Nam cũng phải chết đói, đoàn kết với các đồng chí Trung Quốc ở dưới suối vàng!
Ðiểm đáng chú ý là Hồ Chí Minh không những ca ngợi tình nghĩa giữa ông ta với cộng sản Trung Quốc, hay tương quan giữa hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc; nhưng ông ta còn kéo cả nước Việt Nam vào trong mối quan hệ đó. Ðây là một chủ trương ngoại giao rất nguy hiểm.
Nhưng Hồ Chí Minh có một tình cảm thắm thiết đối với Cộng Sản Trung Hoa, điều này chính ông đã nói ra. Những tình cảm này rất sâu sắc. Chính vì vậy nên ông mới nói đến “trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình.”
Trong bài viết chúc mừng 40 năm thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1961, Hồ Chí Minh đã viết một trang dài “Riêng về phần tôi...” để kể lại những tình nghĩa cũ càng đó. Ông thuật lại trong những năm 1924-1927, ông đến Quảng Châu, “tham gia công việc do Ðảng Cộng Sản Trung Quốc giao phó.” Ông cho biết đã “được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc tuyên truyền đối ngoại.” Trong cuốn “Hồ Chí Minh: Những năm còn sót” của bà Quinn Judge, bà cho biết trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh lấy những tài liệu được phép thông dịch đó để gửi về báo cáo cho Stalin, coi đó là công tác tuyên truyền của chính mình. Ðó cũng là một mánh khóe để xin tiền của Ðệ Tam Quốc tế.
Khoảng cuối năm 1938, Hồ lại sang Trung Quốc lần nữa, và lần này, chính ông kể lại trong bài báo trên, “Là một người binh nhì trong 'Bát lộ quân' tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó được bầu làm bí thư chi bộ của một đơn vị ở Hành Dương.” Tức là ông Hồ đã từng đi lính cho ông Mao, và làm đến chức binh nhì như ông tự giới thiệu (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, trang 367).
Nhưng công ơn của Cộng Sản Trung Quốc lớn hơn nữa. Cũng trong bài báo trên, Hồ Chí Minh cho biết, “Trong lúc đó, các đồng chí Trung Quốc ra sức giúp tôi chắp liên lạc với trong nước ta. Ðây là một công ơn lớn,” vì ông Hồ kể một đồng chí trong nước đã sang Tầu tìm gặp ông Hồ nhưng đã bị một người bạn xoáy hết tiền, phải quay trở về. May mắn, “Nhưng sau đó, các đồng chí Trung Quốc vẫn giúp tôi chắp được liên lạc để về nước hoạt động.”
Vì vậy cho nên Hồ Chí Minh không những chịu ơn Cộng Sản Trung Quốc mà ông còn cảm thấy có nghĩa và có tình nữa. Có nghĩa, vì chính Cộng Sản Trung Quốc nhận ông làm lính rồi “chắp được liên lạc” cho ông trở về Việt Nam. Có tình, một thứ tình “huynh đệ chi binh” vì ông đã làm binh nhì trong Ðệ Bát Lộ Quân. Một bác sĩ Trung Quốc kể lại nụ cười cuối cùng của Hồ Chí Minh trước khi qua đời là lúc ông yêu cầu được nghe một bài dân ca Trung Quốc, và một cô y tá người Trung Hoa đã hát cho ông nghe. Sau đó, ông mê man, không bao giờ cười nữa.
Trong đoạn kết luận bài báo năm 1961, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh một lần nữa là hai đảng cộng sản “có cảm tình khắng khít thương yêu nhau như anh em một nhà” (Sách trên, trang 368). Ðó chính là nguồn gốc của những mối họa mà các nhà trí thức trong nước, kể cả các vị tướng về hưu, đã báo động.
Trong bang giao quốc tế, một điều ai cũng biết, là các quốc gia không coi nước nào là bạn, mà cũng không coi ai là kẻ thù; họ chỉ nghĩ đến quyền lợi đối với nhau thôi. Khi kéo quốc gia mình, bắt cả nước phải làm bạn “ngàn nghĩa vạn tình” với một quốc gia khác, là tự trói tay trói chân, không cho đồng bào mình tự do hành động nữa. Các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh đã mắc phải lầm lỡ nặng nề này. Họ gây ra cuộc chiến Nam Bắc trong 20 năm cũng chỉ vì muốn cộng sản hóa cả nước Việt Nam, theo chương trình của cộng sản quốc tế do Nga và Trung Quốc lãnh đạo. Ngày nay, họ vẫn gắn bó với Trung Quốc bằng “16 chữ vàng” cũng chỉ vì đã bị ràng buộc bởi những “ngàn nghĩa, vạn tình,” di sản do Hồ Chí Minh để lại.
Ngô Nhân Dụng
Một lá thư từ trong nước chuyển đi cho biết trong đêm Giao Thừa, năm Canh Dần, có mấy đài truyền hình ở Việt Nam chiếu cảnh liên hoan, với bài “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Ðông...” Bài này sáng tác trong thời kỳ Hồ Chí Minh đang cổ võ về “tình nghĩa” giữa hai đảng cộng sản. Cuối bài, một nam ca sĩ người Tầu và một nữ ca sĩ Việt cùng song ca điệp khúc, “Dân Nam ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Ðông” giống như một khẩu hiệu để ghi nhớ mãi mãi.
Người viết lá thư cho đây là một cảnh rất đau lòng, khó tin nhưng có thật. Trong lúc các sinh viên Việt Nam đã biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và bị đàn áp, nhà trí thức đang báo động đồng bào về mối họa các công ty Trung Quốc sang khai thác bô xít ở Việt Nam, các mạng lưới bị phá và nhiều người bị bắt giam, ngay sau khi hai cựu tướng lãnh cảnh cáo việc cho người Trung Hoa thuê rừng trồng cây gây mối nguy về di dân bất hợp pháp, mà các cơ quan tuyên truyền của chính phủ Hà Nội lại ca ngợi những tình nghĩa của giữa ông Mao và ông Hồ, thì đây là một chuyện khó tin thật. Trong dịp Giao Thừa vừa qua, một nhà khoa học Việt Nam còn cho biết những dự án “thuê rừng” của người Trung Quốc có thể che đậy âm mưu tìm và khai thác uranium ở nước ta!
Tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam có thể “vô tri, vô giác” đối với những mối lo của người Việt Nam mà cứ liên hoan Mao Hồ như vậy?
Chỉ có thể đoán đây là một sáng kiến của các đồng chí Trung Quốc và các quan chức cộng sản nước ta không thể từ chối được. Chính phủ Bắc Kinh biết có thể sử dụng hình ảnh Hồ Chí Minh để “động viên” tinh thần của nhiều người Việt Nam thật thà, chất phác, nhiều người sống ở nông thôn vẫn đặt hình ông Hồ lên bàn thờ tổ tiên. Ðem ông Hồ ghép với ông Mao sẽ chinh phục được nhiều người Việt Nam mê ngủ. Vì chính lúc ông Hồ còn sống, ông đã chấp nhận và cho phổ biến những câu Chế Lan Viên viết,
“Bác Mao không ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao.”
Ðem Hồ với Mao ghép chung trong một câu hát, có thể vong linh ông Hồ còn hãnh diện nữa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam khó từ chối bài hát giao thừa “hữu nghị” này, vì họ không thể chối cãi được là suốt đời Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở mọi đảng viên rằng họ phải biết ơn đảng Cộng Sản Trung Hoa. Không những thế, còn phải công nhận cả nghĩa lẫn tình với các đồng chí phương Bắc nữa. Xưa nay người Việt Nam thường dùng hai chữ “tình nghĩa” khi nói đến anh em, vợ chồng. Hồ Chí Minh là người thứ nhất sử dụng hai chữ đó trong việc bang giao giữa hai nước.
Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”... “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 tháng 7, năm 1961.
Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng Sản Trung Quốc đối với đảng Cộng Sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng cách mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác- Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.
Ngoài ra, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu hoạt động cũng ở bên Tầu và Cộng Sản Tầu còn giúp họ nhiều dịp khác. Ông Hồ lần lượt kể những mối ơn không thể chối cãi được đó.
Hồ Chí Minh đã tóm tắt những công ơn này với hai câu thơ,
Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,
Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!”
Ông Hồ là người nói năng khôn ngoan, đắn đo, cân nhắc từng chữ. Khi viết trên tờ báo chính thức của đảng thì chắc chắn ông còn thận trọng gấp bội. Khi ông nói Cộng Sản Việt Nam “chịu ơn Trung Quốc 100 phần, nhưng còn nặng nghĩa 1,000 lần và có tình đến 10,000 lần” thì chúng ta phải hiểu ông đã đo đếm, tính toán rất kỹ. Chịu ơn, người ta có thể trả ơn, chịu nghĩa cũng có thể đền đáp được, nhưng mối “tình một vạn” thì suốt đời cũng không bao giờ quên được.
Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “...tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta...” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.” Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chảy máu, nhưng bây giờ lại được các đồng chí Trung Quốc lập lại. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng Sản Việt Nam không thể từ chối được!
Vào năm 1961 đó, Trung Cộng vừa mới thất bại trong chiến dịch “Bước Nhẩy Vọt” của Mao Trạch Ðông, một chương trình kinh tế không tưởng làm hai chục triệu người Trung Hoa chết đói, có nơi nông dân phải ăn thịt lẫn nhau, nhưng Hồ Chí Minh vẫn hết lời ca tụng với Lưu Thiếu Kỳ, “Công cuộc vĩ đại xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo đúng đắn của đảng Cộng Sản đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Ðông đã làm gương sáng cho nhân dân Việt Nam chúng tôi.” Ông Hồ cũng nhắc lại, “những thắng lợi cực kỳ vẻ vang của Trung Quốc đã cổ vũ những người cách mạng Việt Nam phất cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác-Lênin...” Dân miền Bắc Việt Nam thời đó thoát chết vì trong lúc đó Hồ Chí Minh đã bắt đầu chương trình xâm nhập quân đội và vũ khí “chiếu cố miền Nam;” cho nên ông không thể thi hành một “Bước Nhẩy Vọt” ở phía trên vĩ tuyến 17, giống như ông đã theo ông Mao làm cải cách ruộng đất. Nếu ông rảnh tay “xây dựng chủ nghĩa xã hội” theo gương Mao Chủ Tịch thì chắc nhiều nông dân Việt Nam cũng phải chết đói, đoàn kết với các đồng chí Trung Quốc ở dưới suối vàng!
Ðiểm đáng chú ý là Hồ Chí Minh không những ca ngợi tình nghĩa giữa ông ta với cộng sản Trung Quốc, hay tương quan giữa hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc; nhưng ông ta còn kéo cả nước Việt Nam vào trong mối quan hệ đó. Ðây là một chủ trương ngoại giao rất nguy hiểm.
Nhưng Hồ Chí Minh có một tình cảm thắm thiết đối với Cộng Sản Trung Hoa, điều này chính ông đã nói ra. Những tình cảm này rất sâu sắc. Chính vì vậy nên ông mới nói đến “trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình.”
Trong bài viết chúc mừng 40 năm thành lập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1961, Hồ Chí Minh đã viết một trang dài “Riêng về phần tôi...” để kể lại những tình nghĩa cũ càng đó. Ông thuật lại trong những năm 1924-1927, ông đến Quảng Châu, “tham gia công việc do Ðảng Cộng Sản Trung Quốc giao phó.” Ông cho biết đã “được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc tuyên truyền đối ngoại.” Trong cuốn “Hồ Chí Minh: Những năm còn sót” của bà Quinn Judge, bà cho biết trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh lấy những tài liệu được phép thông dịch đó để gửi về báo cáo cho Stalin, coi đó là công tác tuyên truyền của chính mình. Ðó cũng là một mánh khóe để xin tiền của Ðệ Tam Quốc tế.
Khoảng cuối năm 1938, Hồ lại sang Trung Quốc lần nữa, và lần này, chính ông kể lại trong bài báo trên, “Là một người binh nhì trong 'Bát lộ quân' tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó được bầu làm bí thư chi bộ của một đơn vị ở Hành Dương.” Tức là ông Hồ đã từng đi lính cho ông Mao, và làm đến chức binh nhì như ông tự giới thiệu (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, trang 367).
Nhưng công ơn của Cộng Sản Trung Quốc lớn hơn nữa. Cũng trong bài báo trên, Hồ Chí Minh cho biết, “Trong lúc đó, các đồng chí Trung Quốc ra sức giúp tôi chắp liên lạc với trong nước ta. Ðây là một công ơn lớn,” vì ông Hồ kể một đồng chí trong nước đã sang Tầu tìm gặp ông Hồ nhưng đã bị một người bạn xoáy hết tiền, phải quay trở về. May mắn, “Nhưng sau đó, các đồng chí Trung Quốc vẫn giúp tôi chắp được liên lạc để về nước hoạt động.”
Vì vậy cho nên Hồ Chí Minh không những chịu ơn Cộng Sản Trung Quốc mà ông còn cảm thấy có nghĩa và có tình nữa. Có nghĩa, vì chính Cộng Sản Trung Quốc nhận ông làm lính rồi “chắp được liên lạc” cho ông trở về Việt Nam. Có tình, một thứ tình “huynh đệ chi binh” vì ông đã làm binh nhì trong Ðệ Bát Lộ Quân. Một bác sĩ Trung Quốc kể lại nụ cười cuối cùng của Hồ Chí Minh trước khi qua đời là lúc ông yêu cầu được nghe một bài dân ca Trung Quốc, và một cô y tá người Trung Hoa đã hát cho ông nghe. Sau đó, ông mê man, không bao giờ cười nữa.
Trong đoạn kết luận bài báo năm 1961, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh một lần nữa là hai đảng cộng sản “có cảm tình khắng khít thương yêu nhau như anh em một nhà” (Sách trên, trang 368). Ðó chính là nguồn gốc của những mối họa mà các nhà trí thức trong nước, kể cả các vị tướng về hưu, đã báo động.
Trong bang giao quốc tế, một điều ai cũng biết, là các quốc gia không coi nước nào là bạn, mà cũng không coi ai là kẻ thù; họ chỉ nghĩ đến quyền lợi đối với nhau thôi. Khi kéo quốc gia mình, bắt cả nước phải làm bạn “ngàn nghĩa vạn tình” với một quốc gia khác, là tự trói tay trói chân, không cho đồng bào mình tự do hành động nữa. Các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh đã mắc phải lầm lỡ nặng nề này. Họ gây ra cuộc chiến Nam Bắc trong 20 năm cũng chỉ vì muốn cộng sản hóa cả nước Việt Nam, theo chương trình của cộng sản quốc tế do Nga và Trung Quốc lãnh đạo. Ngày nay, họ vẫn gắn bó với Trung Quốc bằng “16 chữ vàng” cũng chỉ vì đã bị ràng buộc bởi những “ngàn nghĩa, vạn tình,” di sản do Hồ Chí Minh để lại.
Đêm kinh hoàng ở Chile
Cả đất nước Chile run rẩy trong bóng tối khi trận động đất mạnh tới 8,8 độ Richter ập đến hôm 27/2.
Nạn nhân động đất sưởi ấm bên ngoài tòa nhà đổ nát ở thành phố Valparaiso, miền trung Chile. Ảnh: AFP. Trận động đất kéo dài khoảng 90 giây song sức mạnh của nó dữ dội tới mức nhiều người tưởng như nó không bao giờ dừng lại. Có 214 người đã thiệt mạng trong cơn địa chấn và các dư chấn sau đó.
Tiếng thủy tinh vỡ, tiếng bát đĩa rơi loảng xoảng và âm thanh những vật dụng khác rơi xuống sàn nhà hằn trong trí nhớ người dân. Đường dây điện bị cắt đứt khiến cả Chile rơi vào bóng tối. Người dân hét lên hoảng hốt sau đó vội vàng tìm nơi trú ẩn, chờ đợi các cơn dư chấn tiếp theo.
"Tôi đang ở cùng một nhóm bạn trên tầng 15 của một tòa nhà thì thấy sàn nhà rung chuyển. Đĩa DVD văng khỏi giá và vết nứt xuất hiện trên trần nhà và cầu thang", nhà báo Cristian Farfan nói với BBC. "Bạn gái tôi chắc mẩm chúng tôi chuẩn bị chết và cô ấy không chịu đựng được ý nghĩ về cái chết kinh hoàng này".
Farfan so sánh trận động đất với cơn địa chấn năm 1985 khiến hơn 170 người chết và 1 triệu người mất nhà cửa. "Tôi chỉ có chút ít ký ức mờ nhạt về trận động đất năm 1985, nhưng lần này nó giống như ngày tận thế", anh nói. "Cảm giác này thật kinh khủng, tôi rất hoảng sợ. Không thể tưởng tượng động đất mạnh cỡ này xảy ra. Lúc đó, người ta nhớ tới tất cả người thân, bạn bè".
Carlos Escobar cũng cho hay đây là lần đầu tiên trong 65 năm sống trên đời ông gặp động đất mạnh thế này. "Tôi chưa từng phải đối mặt với điều gì kinh khủng đến thế. Trái đất rung chuyển, nhà cửa lung lay. Tôi và bà nhà tôi nghĩ đã đến lúc nói lời vĩnh biệt", ông nói.
Sau địa chấn, ông đi khắp một số con đường ở thủ đô Santiago. "Chúng tôi thấy một chiếc xe hơi bị tường đè bẹp dí. Kinh khủng nhất là một tòa nhà chung cư 3 tầng, xác thì còn nguyên mà mọi thứ thì bị phá hủy. Dân chúng bên trong sơ tán đồ và bỏ đi", ông nói.
Các tòa nhà ở khu Carlos Valdovinos tại Santiago từng bị ảnh hưởng nghiêm trọng năm 1985 và nhiều người cho rằng chúng không thể qua nổi một trận động đất lớn nữa. "Tòa nhà đã có nhiều vết nứt và sẽ không thể qua nổi các cơn dư chấn. Nó sẽ sập trong trận động đất cấp độ hai", Macarena, một phụ nữ có hai cô con gái nhỏ, nói.
Nhiều người phải đốt lửa sưởi ấm bên ngoài các tòa nhà bị phá hủy. Sáng ra, tàn dư của các đống lửa xuất hiện khắp nơi. Nội dung các cuộc trò chuyện của họ đều là về động đất. Nhiều người khóc lóc vì những nhà thờ như Divina Providencia bị sập. Các fan hâm mộ bóng đá thì tiếc cho các trận cầu bị hoãn còn những người yêu âm nhạc lại than đã bỏ lỡ đêm bế mạc festival ở đây. Ai nấy đều nói đến đêm kinh hoàng và nhiều người vẫn lo sợ các dư chấn.
Hải Ninh
Cả đất nước Chile run rẩy trong bóng tối khi trận động đất mạnh tới 8,8 độ Richter ập đến hôm 27/2.
Nạn nhân động đất sưởi ấm bên ngoài tòa nhà đổ nát ở thành phố Valparaiso, miền trung Chile. Ảnh: AFP. Trận động đất kéo dài khoảng 90 giây song sức mạnh của nó dữ dội tới mức nhiều người tưởng như nó không bao giờ dừng lại. Có 214 người đã thiệt mạng trong cơn địa chấn và các dư chấn sau đó.
Tiếng thủy tinh vỡ, tiếng bát đĩa rơi loảng xoảng và âm thanh những vật dụng khác rơi xuống sàn nhà hằn trong trí nhớ người dân. Đường dây điện bị cắt đứt khiến cả Chile rơi vào bóng tối. Người dân hét lên hoảng hốt sau đó vội vàng tìm nơi trú ẩn, chờ đợi các cơn dư chấn tiếp theo.
"Tôi đang ở cùng một nhóm bạn trên tầng 15 của một tòa nhà thì thấy sàn nhà rung chuyển. Đĩa DVD văng khỏi giá và vết nứt xuất hiện trên trần nhà và cầu thang", nhà báo Cristian Farfan nói với BBC. "Bạn gái tôi chắc mẩm chúng tôi chuẩn bị chết và cô ấy không chịu đựng được ý nghĩ về cái chết kinh hoàng này".
Farfan so sánh trận động đất với cơn địa chấn năm 1985 khiến hơn 170 người chết và 1 triệu người mất nhà cửa. "Tôi chỉ có chút ít ký ức mờ nhạt về trận động đất năm 1985, nhưng lần này nó giống như ngày tận thế", anh nói. "Cảm giác này thật kinh khủng, tôi rất hoảng sợ. Không thể tưởng tượng động đất mạnh cỡ này xảy ra. Lúc đó, người ta nhớ tới tất cả người thân, bạn bè".
Carlos Escobar cũng cho hay đây là lần đầu tiên trong 65 năm sống trên đời ông gặp động đất mạnh thế này. "Tôi chưa từng phải đối mặt với điều gì kinh khủng đến thế. Trái đất rung chuyển, nhà cửa lung lay. Tôi và bà nhà tôi nghĩ đã đến lúc nói lời vĩnh biệt", ông nói.
Sau địa chấn, ông đi khắp một số con đường ở thủ đô Santiago. "Chúng tôi thấy một chiếc xe hơi bị tường đè bẹp dí. Kinh khủng nhất là một tòa nhà chung cư 3 tầng, xác thì còn nguyên mà mọi thứ thì bị phá hủy. Dân chúng bên trong sơ tán đồ và bỏ đi", ông nói.
Các tòa nhà ở khu Carlos Valdovinos tại Santiago từng bị ảnh hưởng nghiêm trọng năm 1985 và nhiều người cho rằng chúng không thể qua nổi một trận động đất lớn nữa. "Tòa nhà đã có nhiều vết nứt và sẽ không thể qua nổi các cơn dư chấn. Nó sẽ sập trong trận động đất cấp độ hai", Macarena, một phụ nữ có hai cô con gái nhỏ, nói.
Nhiều người phải đốt lửa sưởi ấm bên ngoài các tòa nhà bị phá hủy. Sáng ra, tàn dư của các đống lửa xuất hiện khắp nơi. Nội dung các cuộc trò chuyện của họ đều là về động đất. Nhiều người khóc lóc vì những nhà thờ như Divina Providencia bị sập. Các fan hâm mộ bóng đá thì tiếc cho các trận cầu bị hoãn còn những người yêu âm nhạc lại than đã bỏ lỡ đêm bế mạc festival ở đây. Ai nấy đều nói đến đêm kinh hoàng và nhiều người vẫn lo sợ các dư chấn.
Hải Ninh
‘’Nhẫn hơn nữa là Mất Nước.
Điều ấy, với nhân dân Việt Nam là không thể được’’.
Nguyễn Thùy
Câu trên (được dùng làm nhan đề bài viết nầy) là của nhà văn Hoàng Lại Giang trong ‘thư ngỏ gởi hai ông Đại sứ Trung Quốc tại VN’ được Trần Văn, phóng viên đài RFA phỏng vấn nhà văn,sau cuộc họp báo lần 2 của tên Đại sứ Tàu Cộng Tôn Quốc Tường được giới thiệu trên trang Web báo Điện tử Thế giới của Bộ Ngoại giao Việt Cộng qua bài ‘’Quan hệ Trung - Việt mãi mãi xanh tươi’’(Đại sứ trung Quốc, tiền nhiệm của Tôn Quốc Tường là Dương Công Tố). Theo nhà văn Hoàng Lại Giang, đại sứ Trung Quốc lần nầy có vẻ mềm mỏng hơn lần họp báo vào đầu năm 2010. Nhưng cũng theo nhà văn, quan điểm của viên Đại sứ cũng chỉ là ‘nhai lại’ luận điệu cũ xưa nay của nhà cầm quyền Bắc Kinh tuy lời lẽ có mềm mỏng hơn chút ít. Trong bài ‘’Quan hệ Việt-Trung mãi mãi xanh tươi’’, ngoài 16 chữ vàng đã có trước, đại sứ Tàu Cộng còn nêu thêm 16 chữ vàng khác là : ‘’Sơn thủy tương liên, Văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, Vận mệnh tương quan’’. Nhà văn Hoàng Lại Giang nhận định 16 chữ nầy chỉ nhằm ‘’tiếp tục khẳng định rằng việc không ngừng củng cố và tăng cường hữu nghị, hợp tác toàn diện là điều phù hợp với lợi ích của hai nước, cũng như nguyện vọng của nhân dân hai nước’’ và nhà văn không cùng ‘cái nhìn lịch sử’ theo hướng đó của Bắc Kinh.
Qua cuộc phỏng vấn và qua bài ‘’Không thể nhìn lịch sử cùng một hướng’’ (mail của Bùi Trung Trực ngày 28/02/2010) câu người viết chú ý nơi lời nhà văn Hoàng Lại Giang và dùng làm nhan đề cho bài viết nầy là :‘’Nhẫn hơn nữa là mất nước’’. Câu nầy khiến người viết liên tưởng đến một câu chuyện được một người bạn kể cho nghe về chữ ‘Nhẫn’ lúc còn ở Sài-Gòn, cách đây gần 30 năm. Đại khái, câu chuyện như sau :
« Một con rắn tu luyện lâu năm có thể hóa thành người. Chỗ rắn ở gần một ngôi chùa, đêm đêm nghe tiếng chuông ngân, rắn thấy êm ả, thanh thoát .. Một hôm, rắn hóa thành một thiếu nữ áo trắng, lên chùa, nghe Sư thuyết pháp. Buổi thuyết pháp hôm đó, Sư nói về chữ ‘Nhẫn’ qua chuyện Đức Phật bảo đệ tử Ca Diếp :
‘’ -Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã la ó́, chửi rủa, mắng nhiếc đủ điều thậm tệ…
-Bạch Thầy, Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta mới la ó, chửi rủa, mắng nhiếc chứ chưa dùng gạch đá ném vào con.
-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã dùng gạch đá ném vào con…
-Con xin sẵn sàng đến nơi đó vì người ta mới chỉ dùng gạch đá ném vào con chứ không dùng gậy gộc đánh đập con.
-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã dùng gậy gộc đánh đập con…
-Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta chỉ dùng gậy gộc đánh đuổi con chứ không dùng dao mac, gươm đao giết hại con….
-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con, dùng ngay gươm đáo giết hại con…
-Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta dùng gươm dáo giết hại con, như thế là người ta đã giải thoát con khỏi cảnh đời đầy tham ái, khổ đau…
-Tốt lắm. Nhưng con khỏi cần đi đến những nơi đó vì với cái Tâm đó, con đã tự giải thoát cho con rồi !’’.
Rắn ta sung sướng nghe lời thuyết pháp và tự hứa sẽ theo gương ‘nhẫn’ trên. ̣ Hôm sau, rắn ta bò ven một bờ cỏ tìm thức ăn. Một tốp trẻ chừng là hoc̣ sinh đang đi trên đường, một đứa loạng choạng nơi lề, thấy rắn, hốt hoảng la lên. Cả bọn hùa nhau nhặt sỏi, nhặt đá ném vào rắn. Bị một số đá ném phải, rắn đau lắm, định phải cắn một tên, nhưng nhớ lại chữ ‘Nhẫn’, rắn nhịn đau, ráng bò xuống ruộng. Một hai ngày hết đau, rắn lại hóa thân thành thiếu nữ áo trắng đến chùa. Đợi mọi người ra về hết sau buổi tụng giảng của nhà Sư, rắn ngần ngừ định gặp. Thấy lạ, nhà Sư hỏi chuyện. Rắn thuật lại ‘vì chữ Nhẫn, rắn đã không cắn một tên trẻ nào. Nhà Sư khen rắn hết lời, rắn vui vẻ lắm.
Hôm sau, rắn bò ngang mặt đường, qua bờ bên kia vì bên nầy, rắn không tìm được thức ăn nào. Đang bò qua đường, bỗng một bà gánh hàng rong vừa đi đến, thấy rắn, bà hoảng hốt tháo lui quá gấp khiến gánh hàng đổ ra đường ít nhiều. Tức giận, bà dùng chiếc đòn gánh phang lia lịa vào mình rắn. Rắn đau không thể tả , định quay đầu cắn bà nhưng lại nhớ đến chữ ‘Nhẫn’, rắn cố lết nhanh xuống ruộng. Một tuần sau, rắn mới hết đau, lại lên chùa, thuật sự việc cho vị Sư. Vị Sư khen rắn hết lời. Rắn sung sướng lắm.
Hôm sau, rắn không bò nơi lề đường hay qua mặt đường mà tìm thức ăn nơi một đám ruộng. Vừa lúc một nông dân đang thúc hối con trâu đi nhanh hơn. Nhưng trâu bỗng nhiên dừng lại đột ngột vì thấy rắn đang bò trước mặt. Người nông phu bị khựng lại bất ngờ, nhìn thấy rắn, liền dùng roi đánh trâu đánh lia chia vào mình rắn. Đầu chiếc roi lại có một sợi dây dài nên dây quấn vào mình rắn tung lên cao rồi rớt ngay sat chân người nông phu. Đau vô cùng, rắn định cắn một miếng, bỗng nhớ đến chữ Nhẫn nên lại thôi. Người nông dân lại đánh vào rắn, lần nầy sợi dây quấn chặt thân rắn, tung lên rất cao và rất xa. Rắn bị rớt xuống, quằn quại rồi nằm im. Người nông dân thấy rắn phơi bụng, nghĩ rắn đã chết nên tiếp tục giục trâu kéo cày. Lát sau, rắn như hồi sức, cố trườn lết qua đám ruộng, cả ngày mới về đến ổ. Lần nầy, rắn phải qua hơn cả tháng trời mời bình phục. Rắn lại lên Chùa, tin chắc, lần nầy vị Sư sẽ khen rắn bằng những lời tốt đẹp nhất. Không ngờ, nghe rắn thuật xong sự việc, vị Sư chẳng nói gì mà bước vội vào hậu viện, khép cửa đánh rầm một tiếng, cùng lúc rắn nghe lời Sư từ trong vọng ra : ‘’Vê ̀ đi, đồ ngu ! Chết rồi còn ‘nhẫn’ với ai ?!’’ ». (Người viết nhớ mang máng như thế. Có thể nàõ người bạn của người viết ́ dựa vào một truyện nào nơi một trước tác về Phật giáo rồi hư cấu nên câu truyện - Chữ ‘Nhẫn’ của nhà Phật áp dụng vào câu truyện, người viết không rõ có đúng với Phật pháp không).
Tập đoàn Cộng sản Việt Nam đã ‘nhẫn’ ( !) với Tàu Cộng quá nhiều kể từ Công hàm của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai năm 1958 rồi đến những nam 1999, 2000 đã nhượng đất, nhượng biển, nhượng một số đảo ngoài khơi cho Tàu Cộng. Cộng sản VN đã ‘nhẫn’ với Tàu Cộng bằng cách để Tàu Cộng tự do khai thác Bô-Xít tại vùng Tây nguyên bất chấp tình trạng ô nhiễm môi trường tàn phá thiên nhiên, núi rừng, ruộng đồng, nương rẩy, cả các loài thú vật, cá tôm và đe dọa sinh mạng đồng bào VN về lâu về dài. Cộng sản VN còn để dân Tàu Cộng tự do vào lập phố, lập làng ngay trên đất nước VN, ngang ngược xem thường xem khinh người Việt, cướp hết công ăn việc làm của dân chúng VN. Gần đây còn để cho Tàu Cộng, Tàu Đài Loan và Hong Kong thuê’ dài hạng hàng ngàn hec-ta đất tại nhiều Tỉnh để chúng khai thác, làm giàu trên bần cùng của dân Việt. Bản đồ ‘lưỡi bò’ của Tàu Cộng đã tước bỏ phần lớn chủ quyền lãnh hải VN, bao nhiêu phần đất màu mỡ, tốt đẹp của VN đã bị CSVN ’nhẫn’ với Tàu Cộng, dâng hiến cho Tàu Cộng : thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Ải Nam Quan và bao bao nữa. Nhưng Tàu Cộng đâu đã vừa ý, chúng còn bắt CSVN phải ‘nhẫn’ nhiều hơn nữa bằng cách trù giập, truy sát, trừng trị những người dân yêu nước dám lên tiếng phản đối bọn xâm lăng Bắc phương. Cộng sản VN còn ‘nhẫn’ với Tàu Cộng bằng cách dựng đài, dựng tượng tôn vinh ‘liệt sĩ’ Tàu Cộng (?) đã xâm lược VN vào năm 1979, trong lúc hàng vạn chiến sĩ và đồng bào VN phải hy sinh, phải bị tàn sát thảm thương để chống lại cuộc xâm lăng của Tàu Cộng thì lại bị quên đi, cấm không được nhắc nhở, tưởng niệm.
Cứ thế, tập đoàn CS VN tiếp tục ‘nhẫn’ với Tàu Cộng để nay mai toàn thể đất nước VN trở thành quận huyện của Tàu Cộng, nhân dân VN trở thành tôi tớ, nô lệ cho giặc Bắc phương. Đất nước đã ‘mất’ một phần rồi, ‘Nhẫn thêm nữa là mất nước. Điều nầy, ‘với nhân dân VN thì không thể được’. Nhà văn Hoàng Lại Giang đã nói lên ý chí của toàn dân VN. Nhưng liệu tập đoàn CS VN có nghe ra một khi chúng chỉ vì mong được vững vàng ngôi vị ‘độc tài trị nước, độc quyền trị dân’ để độc tôn hưởng thụ một cách bất nhân, nhơ nhớp thì chúng còn tiếp tục ‘nhẫn’ với bọn cướp nước phương Bắc. Nhưng liệu chúng có giữ mãi được cái vị trí độc đảng, độc quyền trị nước đó được không ? Hay sẽ bị bọn Hán tộc hất cẳng nay mai lúc chúng hoàn thành cuộc khống chế, đô hộ VN. ̃ ‘Đồ ngu, chết rồi thì còn nhẫn với ai ?’, liệu tập đoàn CS VN có nghe ra lời nầy ?
Nhân dân VN không chấp nhận cái ‘nhẫn’ nhục nhã đó của tập đoàn CSVN. Hàng bao nhiêu người yêu nước, già trẻ, nam nữ, trí thức, bình dân dù có bì trù giập, sát hại, giam cầm tàn nhẫn vẫn cương quyết chống lại cái ‘nhẫn’ đê hèn đó. Hàng ngũ tín đồ các Tôn giáo dù có bị cướp đất, cướp nhà, cướp nơi thờ tự, dù có bị đánh đập, xua đuổi tàn nhẫn, Thánh giá có bị đập nát (tại Đồng Chiêm), tượng Phật có bị phạt ngang đầu (ở một ngôi chùa tại Úc Châu), hình Đức Thầy có bị vẽ lem luốc quăng ném dưới đường, dưới sá (trong ngày kỷ niệm Đức Huỳnh Phú Sổ vừa qua) thì cũng nhất quyết ngăn chặn cái lối ‘nhẫn’ nhục nhã đó của CSVN với Tàu Cộng.
Vừa rồi, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có lưu ý Báo chí và Truyền thông trong nước là ‘Báo chí cần chủ động thông tin về việc bảo vệ chủ quyền’. Qua câu đó, có thể nào, ông ta đã biết ‘dừng lại’, không được ‘nhẫn’ thêm với giặc Bắc phương ? Làm sao tin được lòng dạ tên Thủ tướng nầy. Trong lần gặp ông Tướng Võ Nguyên Giáp, hắn bảo là ‘sẽ lắng nghe lời Đại tướng’ (Võ Nguyên Giáp yêu cầu ngưng ngay việc cho Tàu Cộng khai thác Bô-Xít), thế mà hôm sau lại tuyên bố : ‘Việc khai thác Bô Xít là quyết định của Đảng và Nhà nước’. Ai chả biết CS VN là bọn tráo trở, mị dân. Lưu ý báo chí ‘cần chủ động thông tin về việc bảo vệ chủ quyền’ liệu chỉ là đòn gở rối để thoa dịu lòng dân hoậc để có thể lên ngôi vị ‘Tổng Bí thư Đảng’ hay giữ lại được cương vị Thủ Tướng trong cuộc bầu bán Đại Hội khóa XI của Đảng vào năm 2011? Từ ngày Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư và Nguyễn Minh Triết cùng Nguyễn Tấn Dững ‘cầm cương’ Nhà nuớc CHXHCN VN thì càng lúc Trung Cộng càng ngang bướng bắt chúng tuân phục nhiều hơn, đất nước thêm mất chủ quyền, tiếng nói của trí thức càng bị ngăn cấm nhiều hơn, người yêu nước càng bị tống vào nhà lao nhiều hơn, giới tu sĩ và quần chúng tôn giáo càng bị trù giập, sát hại nhiều hơn, đất đai, nhà cửa, ruộng đồng, nương rẩy, núi rừng của dân chúng càng bị tước đoạt nhiều hơn, hối lộ, tham nhũng càng lộng hành hơn, kinh tế càng suy sụp hơn, bao trò ăn chơi trác táng, phung phí, hưởng lạc của các đại gia cùng con cháu chúng càng nhầy nhụa, nhơ nhớp hơn ; dân chúng càng đói nghèo, cơ cực hơn. Mai đây, sau Đại Hội Đảng khóa XI, thành phần nhân sự Đảng và Nhà nước có thay đổi thế nào thì cũng chẳng ai tin tưởng là tập đoàn CSVN ngưng ‘nhẫn’ với Tàu Cộng được. Vì sinh mạng của chúng hầu như chúng đã trao vào tay Tàu Cộng rồi và chúng ‘sung sướng’ được là tôi tớ, tay sai của giặc Bắc phương do Tàu Cộng cho họ được ‘ăn trên ngồi trốc’, được cho tiền, được giàu sang hưởng lac.
Nhưng ‘điều nầy, với nhân dân VN thì không thể được’. Tập đoàn CS VN ‘nhẫn’ với Tàu Cộng nhưng nhân dân VN không ‘nhẫn’ theo lối đó với Tàu Cộng được. Thời điểm ‘cùng tắc biến’ nhất định sẽ đến với nhân dân ta. Nội lực VN sẽ bùng dậy để quét sạch cái lối ‘nhẫn’ đê hèn, nham nhở đó, nếu chưa đủ điều kiện để thanh toán bọn mãi quốc cầu vinh thì cũng sẽ bắt CS VN ngưng ‘nhẫn’ với kẻ thù để quay về ‘nhẫn’ với nhân dân. Có như thế, họ mới thoát được cái thân phận đầy tớ, nô lệ cho giặc Tàu và là lối thoát tốt đẹp cho họ
France, 28/02/2010
Nguyễn Thùy
Điều ấy, với nhân dân Việt Nam là không thể được’’.
Nguyễn Thùy
Câu trên (được dùng làm nhan đề bài viết nầy) là của nhà văn Hoàng Lại Giang trong ‘thư ngỏ gởi hai ông Đại sứ Trung Quốc tại VN’ được Trần Văn, phóng viên đài RFA phỏng vấn nhà văn,sau cuộc họp báo lần 2 của tên Đại sứ Tàu Cộng Tôn Quốc Tường được giới thiệu trên trang Web báo Điện tử Thế giới của Bộ Ngoại giao Việt Cộng qua bài ‘’Quan hệ Trung - Việt mãi mãi xanh tươi’’(Đại sứ trung Quốc, tiền nhiệm của Tôn Quốc Tường là Dương Công Tố). Theo nhà văn Hoàng Lại Giang, đại sứ Trung Quốc lần nầy có vẻ mềm mỏng hơn lần họp báo vào đầu năm 2010. Nhưng cũng theo nhà văn, quan điểm của viên Đại sứ cũng chỉ là ‘nhai lại’ luận điệu cũ xưa nay của nhà cầm quyền Bắc Kinh tuy lời lẽ có mềm mỏng hơn chút ít. Trong bài ‘’Quan hệ Việt-Trung mãi mãi xanh tươi’’, ngoài 16 chữ vàng đã có trước, đại sứ Tàu Cộng còn nêu thêm 16 chữ vàng khác là : ‘’Sơn thủy tương liên, Văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, Vận mệnh tương quan’’. Nhà văn Hoàng Lại Giang nhận định 16 chữ nầy chỉ nhằm ‘’tiếp tục khẳng định rằng việc không ngừng củng cố và tăng cường hữu nghị, hợp tác toàn diện là điều phù hợp với lợi ích của hai nước, cũng như nguyện vọng của nhân dân hai nước’’ và nhà văn không cùng ‘cái nhìn lịch sử’ theo hướng đó của Bắc Kinh.
Qua cuộc phỏng vấn và qua bài ‘’Không thể nhìn lịch sử cùng một hướng’’ (mail của Bùi Trung Trực ngày 28/02/2010) câu người viết chú ý nơi lời nhà văn Hoàng Lại Giang và dùng làm nhan đề cho bài viết nầy là :‘’Nhẫn hơn nữa là mất nước’’. Câu nầy khiến người viết liên tưởng đến một câu chuyện được một người bạn kể cho nghe về chữ ‘Nhẫn’ lúc còn ở Sài-Gòn, cách đây gần 30 năm. Đại khái, câu chuyện như sau :
« Một con rắn tu luyện lâu năm có thể hóa thành người. Chỗ rắn ở gần một ngôi chùa, đêm đêm nghe tiếng chuông ngân, rắn thấy êm ả, thanh thoát .. Một hôm, rắn hóa thành một thiếu nữ áo trắng, lên chùa, nghe Sư thuyết pháp. Buổi thuyết pháp hôm đó, Sư nói về chữ ‘Nhẫn’ qua chuyện Đức Phật bảo đệ tử Ca Diếp :
‘’ -Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã la ó́, chửi rủa, mắng nhiếc đủ điều thậm tệ…
-Bạch Thầy, Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta mới la ó, chửi rủa, mắng nhiếc chứ chưa dùng gạch đá ném vào con.
-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã dùng gạch đá ném vào con…
-Con xin sẵn sàng đến nơi đó vì người ta mới chỉ dùng gạch đá ném vào con chứ không dùng gậy gộc đánh đập con.
-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con đã dùng gậy gộc đánh đập con…
-Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta chỉ dùng gậy gộc đánh đuổi con chứ không dùng dao mac, gươm đao giết hại con….
-Ta sẽ đưa con đến một nơi mà người ta vừa thấy con, dùng ngay gươm đáo giết hại con…
-Con xin sẵn sàng đi đến nơi đó vì người ta dùng gươm dáo giết hại con, như thế là người ta đã giải thoát con khỏi cảnh đời đầy tham ái, khổ đau…
-Tốt lắm. Nhưng con khỏi cần đi đến những nơi đó vì với cái Tâm đó, con đã tự giải thoát cho con rồi !’’.
Rắn ta sung sướng nghe lời thuyết pháp và tự hứa sẽ theo gương ‘nhẫn’ trên. ̣ Hôm sau, rắn ta bò ven một bờ cỏ tìm thức ăn. Một tốp trẻ chừng là hoc̣ sinh đang đi trên đường, một đứa loạng choạng nơi lề, thấy rắn, hốt hoảng la lên. Cả bọn hùa nhau nhặt sỏi, nhặt đá ném vào rắn. Bị một số đá ném phải, rắn đau lắm, định phải cắn một tên, nhưng nhớ lại chữ ‘Nhẫn’, rắn nhịn đau, ráng bò xuống ruộng. Một hai ngày hết đau, rắn lại hóa thân thành thiếu nữ áo trắng đến chùa. Đợi mọi người ra về hết sau buổi tụng giảng của nhà Sư, rắn ngần ngừ định gặp. Thấy lạ, nhà Sư hỏi chuyện. Rắn thuật lại ‘vì chữ Nhẫn, rắn đã không cắn một tên trẻ nào. Nhà Sư khen rắn hết lời, rắn vui vẻ lắm.
Hôm sau, rắn bò ngang mặt đường, qua bờ bên kia vì bên nầy, rắn không tìm được thức ăn nào. Đang bò qua đường, bỗng một bà gánh hàng rong vừa đi đến, thấy rắn, bà hoảng hốt tháo lui quá gấp khiến gánh hàng đổ ra đường ít nhiều. Tức giận, bà dùng chiếc đòn gánh phang lia lịa vào mình rắn. Rắn đau không thể tả , định quay đầu cắn bà nhưng lại nhớ đến chữ ‘Nhẫn’, rắn cố lết nhanh xuống ruộng. Một tuần sau, rắn mới hết đau, lại lên chùa, thuật sự việc cho vị Sư. Vị Sư khen rắn hết lời. Rắn sung sướng lắm.
Hôm sau, rắn không bò nơi lề đường hay qua mặt đường mà tìm thức ăn nơi một đám ruộng. Vừa lúc một nông dân đang thúc hối con trâu đi nhanh hơn. Nhưng trâu bỗng nhiên dừng lại đột ngột vì thấy rắn đang bò trước mặt. Người nông phu bị khựng lại bất ngờ, nhìn thấy rắn, liền dùng roi đánh trâu đánh lia chia vào mình rắn. Đầu chiếc roi lại có một sợi dây dài nên dây quấn vào mình rắn tung lên cao rồi rớt ngay sat chân người nông phu. Đau vô cùng, rắn định cắn một miếng, bỗng nhớ đến chữ Nhẫn nên lại thôi. Người nông dân lại đánh vào rắn, lần nầy sợi dây quấn chặt thân rắn, tung lên rất cao và rất xa. Rắn bị rớt xuống, quằn quại rồi nằm im. Người nông dân thấy rắn phơi bụng, nghĩ rắn đã chết nên tiếp tục giục trâu kéo cày. Lát sau, rắn như hồi sức, cố trườn lết qua đám ruộng, cả ngày mới về đến ổ. Lần nầy, rắn phải qua hơn cả tháng trời mời bình phục. Rắn lại lên Chùa, tin chắc, lần nầy vị Sư sẽ khen rắn bằng những lời tốt đẹp nhất. Không ngờ, nghe rắn thuật xong sự việc, vị Sư chẳng nói gì mà bước vội vào hậu viện, khép cửa đánh rầm một tiếng, cùng lúc rắn nghe lời Sư từ trong vọng ra : ‘’Vê ̀ đi, đồ ngu ! Chết rồi còn ‘nhẫn’ với ai ?!’’ ». (Người viết nhớ mang máng như thế. Có thể nàõ người bạn của người viết ́ dựa vào một truyện nào nơi một trước tác về Phật giáo rồi hư cấu nên câu truyện - Chữ ‘Nhẫn’ của nhà Phật áp dụng vào câu truyện, người viết không rõ có đúng với Phật pháp không).
Tập đoàn Cộng sản Việt Nam đã ‘nhẫn’ ( !) với Tàu Cộng quá nhiều kể từ Công hàm của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai năm 1958 rồi đến những nam 1999, 2000 đã nhượng đất, nhượng biển, nhượng một số đảo ngoài khơi cho Tàu Cộng. Cộng sản VN đã ‘nhẫn’ với Tàu Cộng bằng cách để Tàu Cộng tự do khai thác Bô-Xít tại vùng Tây nguyên bất chấp tình trạng ô nhiễm môi trường tàn phá thiên nhiên, núi rừng, ruộng đồng, nương rẩy, cả các loài thú vật, cá tôm và đe dọa sinh mạng đồng bào VN về lâu về dài. Cộng sản VN còn để dân Tàu Cộng tự do vào lập phố, lập làng ngay trên đất nước VN, ngang ngược xem thường xem khinh người Việt, cướp hết công ăn việc làm của dân chúng VN. Gần đây còn để cho Tàu Cộng, Tàu Đài Loan và Hong Kong thuê’ dài hạng hàng ngàn hec-ta đất tại nhiều Tỉnh để chúng khai thác, làm giàu trên bần cùng của dân Việt. Bản đồ ‘lưỡi bò’ của Tàu Cộng đã tước bỏ phần lớn chủ quyền lãnh hải VN, bao nhiêu phần đất màu mỡ, tốt đẹp của VN đã bị CSVN ’nhẫn’ với Tàu Cộng, dâng hiến cho Tàu Cộng : thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Ải Nam Quan và bao bao nữa. Nhưng Tàu Cộng đâu đã vừa ý, chúng còn bắt CSVN phải ‘nhẫn’ nhiều hơn nữa bằng cách trù giập, truy sát, trừng trị những người dân yêu nước dám lên tiếng phản đối bọn xâm lăng Bắc phương. Cộng sản VN còn ‘nhẫn’ với Tàu Cộng bằng cách dựng đài, dựng tượng tôn vinh ‘liệt sĩ’ Tàu Cộng (?) đã xâm lược VN vào năm 1979, trong lúc hàng vạn chiến sĩ và đồng bào VN phải hy sinh, phải bị tàn sát thảm thương để chống lại cuộc xâm lăng của Tàu Cộng thì lại bị quên đi, cấm không được nhắc nhở, tưởng niệm.
Cứ thế, tập đoàn CS VN tiếp tục ‘nhẫn’ với Tàu Cộng để nay mai toàn thể đất nước VN trở thành quận huyện của Tàu Cộng, nhân dân VN trở thành tôi tớ, nô lệ cho giặc Bắc phương. Đất nước đã ‘mất’ một phần rồi, ‘Nhẫn thêm nữa là mất nước. Điều nầy, ‘với nhân dân VN thì không thể được’. Nhà văn Hoàng Lại Giang đã nói lên ý chí của toàn dân VN. Nhưng liệu tập đoàn CS VN có nghe ra một khi chúng chỉ vì mong được vững vàng ngôi vị ‘độc tài trị nước, độc quyền trị dân’ để độc tôn hưởng thụ một cách bất nhân, nhơ nhớp thì chúng còn tiếp tục ‘nhẫn’ với bọn cướp nước phương Bắc. Nhưng liệu chúng có giữ mãi được cái vị trí độc đảng, độc quyền trị nước đó được không ? Hay sẽ bị bọn Hán tộc hất cẳng nay mai lúc chúng hoàn thành cuộc khống chế, đô hộ VN. ̃ ‘Đồ ngu, chết rồi thì còn nhẫn với ai ?’, liệu tập đoàn CS VN có nghe ra lời nầy ?
Nhân dân VN không chấp nhận cái ‘nhẫn’ nhục nhã đó của tập đoàn CSVN. Hàng bao nhiêu người yêu nước, già trẻ, nam nữ, trí thức, bình dân dù có bì trù giập, sát hại, giam cầm tàn nhẫn vẫn cương quyết chống lại cái ‘nhẫn’ đê hèn đó. Hàng ngũ tín đồ các Tôn giáo dù có bị cướp đất, cướp nhà, cướp nơi thờ tự, dù có bị đánh đập, xua đuổi tàn nhẫn, Thánh giá có bị đập nát (tại Đồng Chiêm), tượng Phật có bị phạt ngang đầu (ở một ngôi chùa tại Úc Châu), hình Đức Thầy có bị vẽ lem luốc quăng ném dưới đường, dưới sá (trong ngày kỷ niệm Đức Huỳnh Phú Sổ vừa qua) thì cũng nhất quyết ngăn chặn cái lối ‘nhẫn’ nhục nhã đó của CSVN với Tàu Cộng.
Vừa rồi, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng có lưu ý Báo chí và Truyền thông trong nước là ‘Báo chí cần chủ động thông tin về việc bảo vệ chủ quyền’. Qua câu đó, có thể nào, ông ta đã biết ‘dừng lại’, không được ‘nhẫn’ thêm với giặc Bắc phương ? Làm sao tin được lòng dạ tên Thủ tướng nầy. Trong lần gặp ông Tướng Võ Nguyên Giáp, hắn bảo là ‘sẽ lắng nghe lời Đại tướng’ (Võ Nguyên Giáp yêu cầu ngưng ngay việc cho Tàu Cộng khai thác Bô-Xít), thế mà hôm sau lại tuyên bố : ‘Việc khai thác Bô Xít là quyết định của Đảng và Nhà nước’. Ai chả biết CS VN là bọn tráo trở, mị dân. Lưu ý báo chí ‘cần chủ động thông tin về việc bảo vệ chủ quyền’ liệu chỉ là đòn gở rối để thoa dịu lòng dân hoậc để có thể lên ngôi vị ‘Tổng Bí thư Đảng’ hay giữ lại được cương vị Thủ Tướng trong cuộc bầu bán Đại Hội khóa XI của Đảng vào năm 2011? Từ ngày Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư và Nguyễn Minh Triết cùng Nguyễn Tấn Dững ‘cầm cương’ Nhà nuớc CHXHCN VN thì càng lúc Trung Cộng càng ngang bướng bắt chúng tuân phục nhiều hơn, đất nước thêm mất chủ quyền, tiếng nói của trí thức càng bị ngăn cấm nhiều hơn, người yêu nước càng bị tống vào nhà lao nhiều hơn, giới tu sĩ và quần chúng tôn giáo càng bị trù giập, sát hại nhiều hơn, đất đai, nhà cửa, ruộng đồng, nương rẩy, núi rừng của dân chúng càng bị tước đoạt nhiều hơn, hối lộ, tham nhũng càng lộng hành hơn, kinh tế càng suy sụp hơn, bao trò ăn chơi trác táng, phung phí, hưởng lạc của các đại gia cùng con cháu chúng càng nhầy nhụa, nhơ nhớp hơn ; dân chúng càng đói nghèo, cơ cực hơn. Mai đây, sau Đại Hội Đảng khóa XI, thành phần nhân sự Đảng và Nhà nước có thay đổi thế nào thì cũng chẳng ai tin tưởng là tập đoàn CSVN ngưng ‘nhẫn’ với Tàu Cộng được. Vì sinh mạng của chúng hầu như chúng đã trao vào tay Tàu Cộng rồi và chúng ‘sung sướng’ được là tôi tớ, tay sai của giặc Bắc phương do Tàu Cộng cho họ được ‘ăn trên ngồi trốc’, được cho tiền, được giàu sang hưởng lac.
Nhưng ‘điều nầy, với nhân dân VN thì không thể được’. Tập đoàn CS VN ‘nhẫn’ với Tàu Cộng nhưng nhân dân VN không ‘nhẫn’ theo lối đó với Tàu Cộng được. Thời điểm ‘cùng tắc biến’ nhất định sẽ đến với nhân dân ta. Nội lực VN sẽ bùng dậy để quét sạch cái lối ‘nhẫn’ đê hèn, nham nhở đó, nếu chưa đủ điều kiện để thanh toán bọn mãi quốc cầu vinh thì cũng sẽ bắt CS VN ngưng ‘nhẫn’ với kẻ thù để quay về ‘nhẫn’ với nhân dân. Có như thế, họ mới thoát được cái thân phận đầy tớ, nô lệ cho giặc Tàu và là lối thoát tốt đẹp cho họ
France, 28/02/2010
Nguyễn Thùy
Làm sao kiếm đủ 217 phiếu?
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm nay Tổng Thống Barack Obama sẽ đọc một thông điệp về dự luật cải tổ y tế để thúc đẩy dân Mỹ ủng hộ một đạo luật mà Quốc Hội sắp thông qua, nếu đảng Dân Chủ có thể thu xếp đủ số phiếu cần thiết ở Hạ Viện.
Việc thu đủ phiếu này không dễ dàng, mặc dù đảng Dân Chủ chiếm đa số 255 phiếu so với 178 phiếu của đảng Cộng Hòa; vì các đại biểu Quốc Hội Mỹ không nghe lệnh đảng mà nghe theo ý dân. Bà Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi nói rằng bà đã đếm và thấy có ít nhất 216 phiếu ủng hộ, nhưng nhiều người chưa tin. Vì nhiều dân biểu cùng đảng với bà đang lo sẽ giải thích làm sao với các cử tri trong cuộc tranh cử năm nay, khi họ bỏ phiếu. Chỉ còn 8 tháng nữa dân Mỹ sẽ bầu lại dân biểu Hạ Viện, và một phần ba các nghị sĩ ở Thượng Viện. Ông Obama lên ti vi nói chuyện chính là để giúp cho các đại biểu Dân Chủ còn lưỡng lự ngả sang phía những người ủng hộ dự luật cải tổ y tế của đảng. Muốn vậy, ông tổng thống phải cung cấp cho các đại biểu thuộc đảng ông những lý lẽ để mai mốt còn đi giải thích với dân chúng trong đơn vị của mình.
Ðảng Dân Chủ vẫn mong thực hiện được một đạo luật cải tổ y tế từ nhiều năm qua và đối với ông Obama thì nếu thành công, đạo luật này sẽ đánh dấu một thành tựu quan trọng trong nhiệm kỳ của ông. Ông đã tranh cử với khẩu hiệu “Thay đổi” và nhiều đại biểu Quốc Hội cũng hô cùng khẩu hiệu đó với ông. Ðảng Dân Chủ lại chiếm đa số ở cả hai viện Quốc Hội từ đầu năm 2009. Cho nên nếu sau 2 năm, một nhiệm kỳ của các dân biểu, mà không đạt được một đạo luật cải tổ y tế thì có thể coi như là cả đảng đã thất bại vì bất lực. Sự thất bại đó, nếu xẩy ra, sẽ khiến các dân biểu đảng Dân Chủ bị các cử tri ủng hộ họ chất vấn, nhiều người sẽ chán họ mà bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa. Nhưng đối với nhiều dân biểu Dân Chủ đại diện cho những đơn vị bảo thủ, dân chúng lại có thể từ chối họ mà bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa nếu họ ủng hộ một dự luật cải tổ y tế mà chính các cử tri này không thích. Ðó là nỗi khó khăn của nhiều đại biểu Dân Chủ mà ông Obama phải giúp họ giải quyết.
Sở dĩ đảng Dân Chủ lâm vào tình cảnh này là vì vào Tháng Giêng vừa qua đảng Dân Chủ đã mất một ghế nghị sĩ sau khi tiểu bang Massachusetts bầu một nghị sĩ Cộng Hòa. Nếu đảng Dân Chủ vẫn có đủ 60 phiếu ở Thượng Viện, thì mọi sự dễ dàng hơn. Hai viện Quốc Hội đã thông qua hai dự luật y tế khác nhau. Họ đang họp lại để bàn về một bản dự luật thỏa hiệp giữa đôi bên. Sau khi thỏa hiệp, sẽ đưa dự luật chung này ra trước mỗi viện để biểu quyết một lần nữa, rồi chuyển qua Tòa Bạch Ốc cho ông tổng thống ký.
Con đường tuần tự này đã bị phá hỏng sau khi đảng Cộng Hòa thắng ghế nghị sĩ ở Massachusetts. Vì nếu đưa một dự luật mới ra Thượng Viện thì các nghị sĩ Cộng Hòa có thể sẽ dùng thủ tục thảo luận triền miên, đảng Dân Chủ không đủ 60 phiếu để chấm dứt cuộc thảo luận mà bỏ phiếu!
Cho nên, đảng Dân Chủ sẽ phải tránh không đưa một dự luật mới ra trước Thượng Viện, chỉ vì mất một ghế nghị sĩ. Muốn vậy, họ sẽ theo một “đường tắt,” sử dụng một thủ tục đặc biệt mà các nghị sĩ Cộng Hòa đã bắt đầu lên tiếng phản đối. Ban lãnh đạo đảng Dân Chủ bỏ qua việc thỏa hiệp tìm một dự luật mới. Họ sẽ cho Hạ Viện bỏ phiếu chấp thuận dự luật cũ mà Thượng Viện đã thông qua trước lễ Giáng Sinh năm 2009; như thế là đủ thủ tục để chuyển dự luật qua cho ông tổng thống ký. Ðể cho các dân biểu ở Hạ Viện có thể góp thêm ý kiến vào dự luật của Thượng Viện, cả hai viện, mỗi viện bỏ phiếu riêng, sẽ biểu quyết một dự luật đính kèm, lấy danh nghĩa là “thỏa hiệp về ngân sách,” (budget reconciliation). Theo thủ tục Quốc Hội, khi bàn các vấn đề “thỏa hiệp về ngân sách” thì vị chủ tọa Thượng Viện có quyền hạn chế thời gian thảo luận trước khi bỏ phiếu. Thủ tục này được áp dụng ở Thượng Viện từ năm 1974, vì muốn các cuộc thảo luận về ngân sách không bị kéo dài bất tận khi có trên 40 nghị sĩ muốn cản đường chính phủ. Với việc áp dụng thủ tục này, đảng Dân Chủ sẽ chỉ cần trên 50 phiếu ủng hộ mà không cần đủ 60 nghị sĩ nữa.
Con đường tắt trên đây coi giản dị, nhưng sự thực không dễ dàng. Vì có rất nhiều dân biểu đã bỏ phiếu thuận dự luật cải tổ của Hạ Viện hồi Tháng Mười Một năm ngoái nhưng lại không chấp nhận được dự luật mà Thượng Viện đã thông qua. Thí dụ Dân Biểu Cao Quang Ánh tiểu bang Louisiana là đại biểu Cộng Hòa duy nhất đã bỏ phiếu thông qua dự luật cải tổ y tế vì đa số cử tri của ông ủng hộ. Nhưng ông Cao chỉ bỏ phiếu thuận sau khi dự luật trên được sửa để nói rõ “cấm không được dùng công quỹ trợ cấp y tế trong việc phá thai.” Bây giờ, nếu bỏ phiếu cho dự luật đã được Thượng Viện thông qua thì điều cấm đoán trên không còn rõ ràng và mạnh mẽ như những điều mà Hạ Viện đã biểu quyết. Ông Cao Quang Ánh sẽ bỏ phiếu chống, và nhiều dân biểu đảng Dân Chủ cũng làm như ông vì vấn đề lương tâm chứ không phải vì chính trị nữa.
Cho nên bà Pelosi phải tính toán bà sẽ còn bao nhiêu phiếu ủng hộ.
Trong cuộc bỏ phiếu tại Hạ Viện Tháng Mười Một năm 2009, có 220 phiếu thuận (trong đó có lá phiếu của ông Cao Quang Ánh) và 215 phiếu chống (trong đó có 39 dân biểu đảng Dân Chủ). Nay con số phiếu thuận cũ đã bị giảm mất 4, vì ông Ánh quay sang chống, 2 dân biểu Dân Chủ đã từ chức và một vị mới qua đời. Tính lại thì nếu các dân biểu bỏ phiếu như cũ, sẽ có 215 người ủng hộ và 216 người chống, bà Pelosi sẽ thua!
Nhưng bà hy vọng là các dân biểu không bỏ phiếu như cũ. Trong số 39 đại biểu Dân Chủ đã chống lại dự luật của Hạ Viện vào năm ngoái, nhiều người chống vì nó tốn tiền quá. Nhưng dự luật của Thượng Viện thì đỡ tốn kém hơn, hy vọng là hàng chục người sẽ đổi ý kiến mà bỏ phiếu thuận. Hy vọng kiếm thêm phiếu của một chục các dân biểu Dân Chủ trên, nhưng bà Pelosi sẽ lo bị mất phiếu của những người cương quyết chống phá thai, đứng đầu là Dân Biểu Bart Stupak. Ông Stupak đoán sẽ có từ 12 đến 15 người sẽ bỏ phiếu chống dự luật của Thượng Viện nếu không có đính kèm những điều mới bảo đảm không cho dùng công quỹ vào việc phá thai. Bà Pelosi sẽ phải tính toán để không bị mất lá phiếu của các đại biểu chống phá thai này, đồng thời thu hút thêm các đại biểu trước đây chống ngân sách chi nhiều quá.
Ðiều khó khăn là làm thế nào để tạo ra được một bản văn lập pháp gọi là “thỏa hiệp về ngân sách,” mà trong đó lại nói chuyện chống phá thai? Các đại biểu Dân Chủ sẽ phải biến ý kiến chóng phá thai thành các con số về ngân sách, và đây sẽ là một sáng tác độc đáo trong lịch sử lập pháp thế giới.
Nhưng sau cùng, nếu bản “thỏa hiệp về ngân sách” tìm cách chứa đủ các điều làm thỏa mãn các dân biểu Dân Chủ hiện nay còn chưa dứt khoát ủng hộ dự luật cải tổ y tế, thì vẫn còn vấn đề các nghị sĩ Cộng Hòa phản đối vì họ nói một đạo luật cải tổ toàn diện hệ thống y tế là một công trình lập pháp rất quan trọng, không thể dùng thủ tục “thỏa hiệp về ngân sách” mà thông qua được. Họ sẽ đòi đem thảo luận như thường lệ, và khi đó phía Cộng Hòa có thể dùng 41 phiếu nghị sĩ để kéo dài các cuộc thảo luận không bao giờ ngừng.
Trước lý luận trên, phía đảng Dân Chủ có cách trả lời. Trên nhật báo Wall Street, một tờ báo bảo thủ thường ủng hộ đảng Cộng Hòa, đã nêu lên nhiều lần Quốc Hội Mỹ đã sử dụng thủ tục“thỏa hiệp về ngân sách” để thông qua nhiều đạo luật rất quan trọng, trong đó có nhiều luật thuộc phạm vi cải tổ y tế. Từ năm 1981 đến nay Quốc Hội Mỹ đã dùng thủ tục này 19 lần để làm các đạo luật thay đổi toàn diện chính trị nước Mỹ. Thí dụ, năm 1996, đạo luật cải tổ an sinh xã hội được thông qua bằng thủ tục “thỏa hiệp về ngân sách,” các đạo luật cắt thuế lớn năm 2001 và 2003 cũng vậy.
Cho nên, nếu đếm đủ phiếu ở Hạ Viện, đảng Dân Chủ sẽ tiến tới để thông qua đạo luật cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế mà nước Mỹ vẫn chờ đợi từ hơn 40 năm qua. Vấn đề là làm cách nào để những dân biểu bỏ phiếu thuận có đủ lời lẽ để giải thích với cử tri khi tranh cử trong năm nay. Họ sẽ phải trả lời những công kích của ứng cử viên đảng Cộng Hòa, và những thắc mắc của những cử tri độc lập. Ngày hôm nay ông Obama sẽ cung cấp cho các đại biểu Dân Chủ những lý lẽ biện hộ cho việc họ bỏ phiếu thuận.
Ông Obama sẽ đưa vào dự luật bổ sung nhiều ý kiến mà các nghị sĩ và dân biểu Cộng Hòa đã nêu lên trong cuộc họp thượng đỉnh tuần trước. Ông và các ứng cử viên đảng Dân Chủ sẽ có cớ để khoe rằng họ chấp nhận đối thoại và nhượng bộ rất nhiều, chứ không quyết định độc đoán như đối phương chỉ trích. Họ có thể khoe một nhượng bộ lớn của đảng Dân Chủ là trong dự luật của Thượng Viện không hề có chương trình bảo hiểm y tế do chính phủ phụ trách, một điều mà các đại biểu Cộng Hòa chống kịch liệt nhất.
Cuối cùng, bà Pelosi sẽ phải tìm đủ 217 phiếu dân biểu để thông qua dự luật cải tổ y tế của Thượng Viện, trước khi dân bỏ phiếu tìm người thay thế 3 dân biểu Dân Chủ đã chết hoặc từ chức.
Bà có thể dùng khả năng thuyết phục hoặc những trao đổi trong hậu trường với từng đại biểu còn đang lưỡng lự. Muốn đủ phiếu thông qua một đạo luật, người ta phải “hối lộ” các đại biểu bằng những điều tạo thêm lợi ích cho các cử tri đã bầu họ lên. Có thể là ngân sách xây trường, có thể là tăng trợ cấp xã hội hoặc y tế. Tuy nhiên, nhiều khi các thủ đoạn hậu trường có thể gây tác dụng ngược. Năm ngoái, ban lãnh đạo đảng Dân Chủ đã tìm cách “mua chuộc” mấy nghị sĩ cùng đảng để cho đủ 60 phiếu, họ mặc cả với từng người một, ba bốn người tỏ thái độ lưỡng lự. Sau cùng, dự luật của Thượng Viện chứa nhiều điều khoản “hẩu lốn” để làm những “món quà” mang lợi ích riêng cho dân chúng một số tiểu bang. Chính các thỏa hiệp hậu trường giữa giới lãnh đạo đảng Dân Chủ với Nghị Sĩ Ben Nelson, tiểu bang Nebraska để tăng tiền cho tiểu bang này, đã làm các cử tri Massachusetts khinh bỉ, một lý do khiến họ bỏ phiếu cho ứng cử viên đối lập. Có thể trong bài diễn văn của Tổng Thống Obama hôm nay, ông sẽ đề nghị xóa bỏ tất cả những “món quà” do các cuộc mặc cả ở Thượng Viện đem lại. Thí dụ, một số tiểu bang được tăng phần tiền trợ cấp y tế của liên bang cao hơn thường lệ vì có các nghị sĩ “khéo gây áp lực,” nay sẽ phải chịu sự công bằng như người khác!
Ở Mỹ nhiều người thích ăn món gọi là “hot dog” nhưng bảo nhau không bao giờ nên coi trong xưởng thịt người ta làm các món “xúc xích” như thế nào. Coi rồi có thể sẽ từ luôn, không bao giờ dám ăn các thứ “xúc xích” nữa.
Nhiều nhà chính trị lại ví cảnh các đại biểu Quốc Hội làm luật cũng giống như cảnh trong lò thịt làm xúc xích vậy. Một điều may là ở nước Mỹ có tự do ngôn luận cho nên các đại biểu Quốc Hội chỉ có thể xoay xở, mặc cả để đem lợi về cho các cử tri của mình, chứ không dám bán lá phiếu cho lợi ích cá nhân. Mà dân chúng trong các địa hạt thì dễ tha thứ các đại biểu khi thấy họ mang lại những lợi ích cụ thể cho mình. Nhiều đạo luật pha trộn những khoản lợi ích nhỏ cho nhiều tiểu bang không đáng đem vào trong luật. Vì vậy, việc làm luật mới giống việc làm xúc xích!
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm nay Tổng Thống Barack Obama sẽ đọc một thông điệp về dự luật cải tổ y tế để thúc đẩy dân Mỹ ủng hộ một đạo luật mà Quốc Hội sắp thông qua, nếu đảng Dân Chủ có thể thu xếp đủ số phiếu cần thiết ở Hạ Viện.
Việc thu đủ phiếu này không dễ dàng, mặc dù đảng Dân Chủ chiếm đa số 255 phiếu so với 178 phiếu của đảng Cộng Hòa; vì các đại biểu Quốc Hội Mỹ không nghe lệnh đảng mà nghe theo ý dân. Bà Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi nói rằng bà đã đếm và thấy có ít nhất 216 phiếu ủng hộ, nhưng nhiều người chưa tin. Vì nhiều dân biểu cùng đảng với bà đang lo sẽ giải thích làm sao với các cử tri trong cuộc tranh cử năm nay, khi họ bỏ phiếu. Chỉ còn 8 tháng nữa dân Mỹ sẽ bầu lại dân biểu Hạ Viện, và một phần ba các nghị sĩ ở Thượng Viện. Ông Obama lên ti vi nói chuyện chính là để giúp cho các đại biểu Dân Chủ còn lưỡng lự ngả sang phía những người ủng hộ dự luật cải tổ y tế của đảng. Muốn vậy, ông tổng thống phải cung cấp cho các đại biểu thuộc đảng ông những lý lẽ để mai mốt còn đi giải thích với dân chúng trong đơn vị của mình.
Ðảng Dân Chủ vẫn mong thực hiện được một đạo luật cải tổ y tế từ nhiều năm qua và đối với ông Obama thì nếu thành công, đạo luật này sẽ đánh dấu một thành tựu quan trọng trong nhiệm kỳ của ông. Ông đã tranh cử với khẩu hiệu “Thay đổi” và nhiều đại biểu Quốc Hội cũng hô cùng khẩu hiệu đó với ông. Ðảng Dân Chủ lại chiếm đa số ở cả hai viện Quốc Hội từ đầu năm 2009. Cho nên nếu sau 2 năm, một nhiệm kỳ của các dân biểu, mà không đạt được một đạo luật cải tổ y tế thì có thể coi như là cả đảng đã thất bại vì bất lực. Sự thất bại đó, nếu xẩy ra, sẽ khiến các dân biểu đảng Dân Chủ bị các cử tri ủng hộ họ chất vấn, nhiều người sẽ chán họ mà bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa. Nhưng đối với nhiều dân biểu Dân Chủ đại diện cho những đơn vị bảo thủ, dân chúng lại có thể từ chối họ mà bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa nếu họ ủng hộ một dự luật cải tổ y tế mà chính các cử tri này không thích. Ðó là nỗi khó khăn của nhiều đại biểu Dân Chủ mà ông Obama phải giúp họ giải quyết.
Sở dĩ đảng Dân Chủ lâm vào tình cảnh này là vì vào Tháng Giêng vừa qua đảng Dân Chủ đã mất một ghế nghị sĩ sau khi tiểu bang Massachusetts bầu một nghị sĩ Cộng Hòa. Nếu đảng Dân Chủ vẫn có đủ 60 phiếu ở Thượng Viện, thì mọi sự dễ dàng hơn. Hai viện Quốc Hội đã thông qua hai dự luật y tế khác nhau. Họ đang họp lại để bàn về một bản dự luật thỏa hiệp giữa đôi bên. Sau khi thỏa hiệp, sẽ đưa dự luật chung này ra trước mỗi viện để biểu quyết một lần nữa, rồi chuyển qua Tòa Bạch Ốc cho ông tổng thống ký.
Con đường tuần tự này đã bị phá hỏng sau khi đảng Cộng Hòa thắng ghế nghị sĩ ở Massachusetts. Vì nếu đưa một dự luật mới ra Thượng Viện thì các nghị sĩ Cộng Hòa có thể sẽ dùng thủ tục thảo luận triền miên, đảng Dân Chủ không đủ 60 phiếu để chấm dứt cuộc thảo luận mà bỏ phiếu!
Cho nên, đảng Dân Chủ sẽ phải tránh không đưa một dự luật mới ra trước Thượng Viện, chỉ vì mất một ghế nghị sĩ. Muốn vậy, họ sẽ theo một “đường tắt,” sử dụng một thủ tục đặc biệt mà các nghị sĩ Cộng Hòa đã bắt đầu lên tiếng phản đối. Ban lãnh đạo đảng Dân Chủ bỏ qua việc thỏa hiệp tìm một dự luật mới. Họ sẽ cho Hạ Viện bỏ phiếu chấp thuận dự luật cũ mà Thượng Viện đã thông qua trước lễ Giáng Sinh năm 2009; như thế là đủ thủ tục để chuyển dự luật qua cho ông tổng thống ký. Ðể cho các dân biểu ở Hạ Viện có thể góp thêm ý kiến vào dự luật của Thượng Viện, cả hai viện, mỗi viện bỏ phiếu riêng, sẽ biểu quyết một dự luật đính kèm, lấy danh nghĩa là “thỏa hiệp về ngân sách,” (budget reconciliation). Theo thủ tục Quốc Hội, khi bàn các vấn đề “thỏa hiệp về ngân sách” thì vị chủ tọa Thượng Viện có quyền hạn chế thời gian thảo luận trước khi bỏ phiếu. Thủ tục này được áp dụng ở Thượng Viện từ năm 1974, vì muốn các cuộc thảo luận về ngân sách không bị kéo dài bất tận khi có trên 40 nghị sĩ muốn cản đường chính phủ. Với việc áp dụng thủ tục này, đảng Dân Chủ sẽ chỉ cần trên 50 phiếu ủng hộ mà không cần đủ 60 nghị sĩ nữa.
Con đường tắt trên đây coi giản dị, nhưng sự thực không dễ dàng. Vì có rất nhiều dân biểu đã bỏ phiếu thuận dự luật cải tổ của Hạ Viện hồi Tháng Mười Một năm ngoái nhưng lại không chấp nhận được dự luật mà Thượng Viện đã thông qua. Thí dụ Dân Biểu Cao Quang Ánh tiểu bang Louisiana là đại biểu Cộng Hòa duy nhất đã bỏ phiếu thông qua dự luật cải tổ y tế vì đa số cử tri của ông ủng hộ. Nhưng ông Cao chỉ bỏ phiếu thuận sau khi dự luật trên được sửa để nói rõ “cấm không được dùng công quỹ trợ cấp y tế trong việc phá thai.” Bây giờ, nếu bỏ phiếu cho dự luật đã được Thượng Viện thông qua thì điều cấm đoán trên không còn rõ ràng và mạnh mẽ như những điều mà Hạ Viện đã biểu quyết. Ông Cao Quang Ánh sẽ bỏ phiếu chống, và nhiều dân biểu đảng Dân Chủ cũng làm như ông vì vấn đề lương tâm chứ không phải vì chính trị nữa.
Cho nên bà Pelosi phải tính toán bà sẽ còn bao nhiêu phiếu ủng hộ.
Trong cuộc bỏ phiếu tại Hạ Viện Tháng Mười Một năm 2009, có 220 phiếu thuận (trong đó có lá phiếu của ông Cao Quang Ánh) và 215 phiếu chống (trong đó có 39 dân biểu đảng Dân Chủ). Nay con số phiếu thuận cũ đã bị giảm mất 4, vì ông Ánh quay sang chống, 2 dân biểu Dân Chủ đã từ chức và một vị mới qua đời. Tính lại thì nếu các dân biểu bỏ phiếu như cũ, sẽ có 215 người ủng hộ và 216 người chống, bà Pelosi sẽ thua!
Nhưng bà hy vọng là các dân biểu không bỏ phiếu như cũ. Trong số 39 đại biểu Dân Chủ đã chống lại dự luật của Hạ Viện vào năm ngoái, nhiều người chống vì nó tốn tiền quá. Nhưng dự luật của Thượng Viện thì đỡ tốn kém hơn, hy vọng là hàng chục người sẽ đổi ý kiến mà bỏ phiếu thuận. Hy vọng kiếm thêm phiếu của một chục các dân biểu Dân Chủ trên, nhưng bà Pelosi sẽ lo bị mất phiếu của những người cương quyết chống phá thai, đứng đầu là Dân Biểu Bart Stupak. Ông Stupak đoán sẽ có từ 12 đến 15 người sẽ bỏ phiếu chống dự luật của Thượng Viện nếu không có đính kèm những điều mới bảo đảm không cho dùng công quỹ vào việc phá thai. Bà Pelosi sẽ phải tính toán để không bị mất lá phiếu của các đại biểu chống phá thai này, đồng thời thu hút thêm các đại biểu trước đây chống ngân sách chi nhiều quá.
Ðiều khó khăn là làm thế nào để tạo ra được một bản văn lập pháp gọi là “thỏa hiệp về ngân sách,” mà trong đó lại nói chuyện chống phá thai? Các đại biểu Dân Chủ sẽ phải biến ý kiến chóng phá thai thành các con số về ngân sách, và đây sẽ là một sáng tác độc đáo trong lịch sử lập pháp thế giới.
Nhưng sau cùng, nếu bản “thỏa hiệp về ngân sách” tìm cách chứa đủ các điều làm thỏa mãn các dân biểu Dân Chủ hiện nay còn chưa dứt khoát ủng hộ dự luật cải tổ y tế, thì vẫn còn vấn đề các nghị sĩ Cộng Hòa phản đối vì họ nói một đạo luật cải tổ toàn diện hệ thống y tế là một công trình lập pháp rất quan trọng, không thể dùng thủ tục “thỏa hiệp về ngân sách” mà thông qua được. Họ sẽ đòi đem thảo luận như thường lệ, và khi đó phía Cộng Hòa có thể dùng 41 phiếu nghị sĩ để kéo dài các cuộc thảo luận không bao giờ ngừng.
Trước lý luận trên, phía đảng Dân Chủ có cách trả lời. Trên nhật báo Wall Street, một tờ báo bảo thủ thường ủng hộ đảng Cộng Hòa, đã nêu lên nhiều lần Quốc Hội Mỹ đã sử dụng thủ tục“thỏa hiệp về ngân sách” để thông qua nhiều đạo luật rất quan trọng, trong đó có nhiều luật thuộc phạm vi cải tổ y tế. Từ năm 1981 đến nay Quốc Hội Mỹ đã dùng thủ tục này 19 lần để làm các đạo luật thay đổi toàn diện chính trị nước Mỹ. Thí dụ, năm 1996, đạo luật cải tổ an sinh xã hội được thông qua bằng thủ tục “thỏa hiệp về ngân sách,” các đạo luật cắt thuế lớn năm 2001 và 2003 cũng vậy.
Cho nên, nếu đếm đủ phiếu ở Hạ Viện, đảng Dân Chủ sẽ tiến tới để thông qua đạo luật cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế mà nước Mỹ vẫn chờ đợi từ hơn 40 năm qua. Vấn đề là làm cách nào để những dân biểu bỏ phiếu thuận có đủ lời lẽ để giải thích với cử tri khi tranh cử trong năm nay. Họ sẽ phải trả lời những công kích của ứng cử viên đảng Cộng Hòa, và những thắc mắc của những cử tri độc lập. Ngày hôm nay ông Obama sẽ cung cấp cho các đại biểu Dân Chủ những lý lẽ biện hộ cho việc họ bỏ phiếu thuận.
Ông Obama sẽ đưa vào dự luật bổ sung nhiều ý kiến mà các nghị sĩ và dân biểu Cộng Hòa đã nêu lên trong cuộc họp thượng đỉnh tuần trước. Ông và các ứng cử viên đảng Dân Chủ sẽ có cớ để khoe rằng họ chấp nhận đối thoại và nhượng bộ rất nhiều, chứ không quyết định độc đoán như đối phương chỉ trích. Họ có thể khoe một nhượng bộ lớn của đảng Dân Chủ là trong dự luật của Thượng Viện không hề có chương trình bảo hiểm y tế do chính phủ phụ trách, một điều mà các đại biểu Cộng Hòa chống kịch liệt nhất.
Cuối cùng, bà Pelosi sẽ phải tìm đủ 217 phiếu dân biểu để thông qua dự luật cải tổ y tế của Thượng Viện, trước khi dân bỏ phiếu tìm người thay thế 3 dân biểu Dân Chủ đã chết hoặc từ chức.
Bà có thể dùng khả năng thuyết phục hoặc những trao đổi trong hậu trường với từng đại biểu còn đang lưỡng lự. Muốn đủ phiếu thông qua một đạo luật, người ta phải “hối lộ” các đại biểu bằng những điều tạo thêm lợi ích cho các cử tri đã bầu họ lên. Có thể là ngân sách xây trường, có thể là tăng trợ cấp xã hội hoặc y tế. Tuy nhiên, nhiều khi các thủ đoạn hậu trường có thể gây tác dụng ngược. Năm ngoái, ban lãnh đạo đảng Dân Chủ đã tìm cách “mua chuộc” mấy nghị sĩ cùng đảng để cho đủ 60 phiếu, họ mặc cả với từng người một, ba bốn người tỏ thái độ lưỡng lự. Sau cùng, dự luật của Thượng Viện chứa nhiều điều khoản “hẩu lốn” để làm những “món quà” mang lợi ích riêng cho dân chúng một số tiểu bang. Chính các thỏa hiệp hậu trường giữa giới lãnh đạo đảng Dân Chủ với Nghị Sĩ Ben Nelson, tiểu bang Nebraska để tăng tiền cho tiểu bang này, đã làm các cử tri Massachusetts khinh bỉ, một lý do khiến họ bỏ phiếu cho ứng cử viên đối lập. Có thể trong bài diễn văn của Tổng Thống Obama hôm nay, ông sẽ đề nghị xóa bỏ tất cả những “món quà” do các cuộc mặc cả ở Thượng Viện đem lại. Thí dụ, một số tiểu bang được tăng phần tiền trợ cấp y tế của liên bang cao hơn thường lệ vì có các nghị sĩ “khéo gây áp lực,” nay sẽ phải chịu sự công bằng như người khác!
Ở Mỹ nhiều người thích ăn món gọi là “hot dog” nhưng bảo nhau không bao giờ nên coi trong xưởng thịt người ta làm các món “xúc xích” như thế nào. Coi rồi có thể sẽ từ luôn, không bao giờ dám ăn các thứ “xúc xích” nữa.
Nhiều nhà chính trị lại ví cảnh các đại biểu Quốc Hội làm luật cũng giống như cảnh trong lò thịt làm xúc xích vậy. Một điều may là ở nước Mỹ có tự do ngôn luận cho nên các đại biểu Quốc Hội chỉ có thể xoay xở, mặc cả để đem lợi về cho các cử tri của mình, chứ không dám bán lá phiếu cho lợi ích cá nhân. Mà dân chúng trong các địa hạt thì dễ tha thứ các đại biểu khi thấy họ mang lại những lợi ích cụ thể cho mình. Nhiều đạo luật pha trộn những khoản lợi ích nhỏ cho nhiều tiểu bang không đáng đem vào trong luật. Vì vậy, việc làm luật mới giống việc làm xúc xích!
Trung Quốc Mộng (中国梦): "gấp rút trở thành số một thế giới".
Một sỹ quan cao cấp của Trung Quốc nói nước này phải xây dựng một nền quốc phòng hùng mạnh nhất thế giới và mau chóng truất ngôi "vô địch" của Hoa Kỳ.Các tham vọng dân tộc chủ nghĩa lại một lần nữa được nhấn mạnh trong một cuốn sách tiếng Hoa mới xuất bản, tựa đề Trung Quốc Mộng (中国梦),
của chuẩn tướng Giải phóng quân Trung Quốc Lưu Minh Phúc (刘明福). Trong cuốn sách, ông Lưu thẳng thắn kêu gọi Bắc Kinh không nên khiêm nhường nữa mà "gấp rút trở thành số một thế giới".
Ông nói việc Trung Quốc nổi lên sẽ khiến Washington lo ngại và dẫn tới nguy cơ chiến tranh, cho dù Trung Quốc chỉ muốn "trỗi dậy một cách h̀oa bình".
Một số trích dẫn từ cuốn Trung Quốc Mộng: "Mục tiêu to lớn của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là trở thành số một thế giới, cường quốc hàng đầu"; "Nếu như trong thế kỷ 21 mà Trung Quốc không trở thành số một và cường quốc hàng đầu được thì không thể tránh khỏi sẽ là kẻ tụt hậu bị cho ra rìa".
Quyển sách 303 trang tỏ rõ lập trường dân tộc, chống Mỹ, khá mạnh mẽ.
Tướng Lưu viết rằng nếu Trung Quốc tìm cách vươn lên vị trí siêu cường, thì "cho dù Trung Quốc có tư bản chủ nghĩa hơn Mỹ đi nữa, Mỹ vẫn tìm cách kiềm chế Trung Quốc".
Sự cạnh tranh giữa hai nước là cuộc thi tài để "trở thành quốc gia dẫn đầu", và là xung đột về vị thế thống trị thế giới.
Tuy nhiên cuốn Trung Quốc Mộng được nói là không đại diện cho quan điểm của chính phủ Bắc Kinh, vốn kín tiếng hơn về các tham vọng của mình.
Các nhà quan sát cho rằng sự ra đời của quyển sách này cho thấy áp lực của dư luận đòi hỏi ban lãnh đạo Trung Quốc phải chuyển các thành tựu kinh tế thành bước nhảy vọt về uy lực trước các quốc gia phương Tây.
Trỗi dậy về quân sự
Chuẩn tướng Lưu Minh Phúc là giảng viên Đại học Quốc phòng Trung Quốc và việc ông cho ra mắt cuốn sách cũng được nhìn nhận là nay giới chức quân đội đã bắt đầu tham gia vào gây áp lực đòi Bắc Kinh phải có thái độ cứng rắn hơn trước.
Trước đây, dường như các kêu gọi như thế này chỉ do các blogger vô danh đăng tải trên mạng internet.
Hãng tin Reuters trích lời ông Lưu nói: "Quyển sách chỉ nói lên quan điểm riêng của tôi, nhưng nó cũng phản ánh phần nào một làn sóng tư tưởng (trong nước Trung Quốc)".
Cuối tuần này Bắc Kinh sẽ thông báo ngân sách quốc phòng năm 2010, vốn đã được tăng gần 15% trong năm 2009.
Có nhận định Bắc Kinh sẽ tăng ngân sách quốc phòng để ra tín hiệu cho chính quyền Obama sau khi Mỹ quyết định thực thi hợp đồng bán vũ khí trị giá 6,4 tỷ đôla cho Đài Loan.
Ông Alan Romberg, chuyên gia về Trung Quốc và Đài Loan tại Trung tâm Henry L. Stimson ở Washington DC, được hãng Reuters trích lời nói rằng khi giới tướng lãnh lên tiếng thì chắc chắn lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ phải lắng nghe.
"Tuy nhiên tôi cho là nhà chức trách sẽ tìm cách kiểm soát các phản ứng trong dư luận, ngay cả khi họ chấp thuận xem xét các kiến nghị này."
Cuốn Trung Quốc Mộng xuất bản từ tháng 01/2010, nhưng nay mới được mang ra bán rộng rãi ở Bắc Kinh.
Năm ngoái, một cuốn sách mang nội dung dân tộc chủ nghĩa khác có tên Trung Quốc bất cao hứng cũng đã thu hút chú ý của dư luận.
Sách này chê trách thái độ thụ động và kêu gọi người Trung Quốc có hành động cổ súy uy tín quốc gia. ( BBC)
Một sỹ quan cao cấp của Trung Quốc nói nước này phải xây dựng một nền quốc phòng hùng mạnh nhất thế giới và mau chóng truất ngôi "vô địch" của Hoa Kỳ.Các tham vọng dân tộc chủ nghĩa lại một lần nữa được nhấn mạnh trong một cuốn sách tiếng Hoa mới xuất bản, tựa đề Trung Quốc Mộng (中国梦),
của chuẩn tướng Giải phóng quân Trung Quốc Lưu Minh Phúc (刘明福). Trong cuốn sách, ông Lưu thẳng thắn kêu gọi Bắc Kinh không nên khiêm nhường nữa mà "gấp rút trở thành số một thế giới".
Ông nói việc Trung Quốc nổi lên sẽ khiến Washington lo ngại và dẫn tới nguy cơ chiến tranh, cho dù Trung Quốc chỉ muốn "trỗi dậy một cách h̀oa bình".
Một số trích dẫn từ cuốn Trung Quốc Mộng: "Mục tiêu to lớn của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là trở thành số một thế giới, cường quốc hàng đầu"; "Nếu như trong thế kỷ 21 mà Trung Quốc không trở thành số một và cường quốc hàng đầu được thì không thể tránh khỏi sẽ là kẻ tụt hậu bị cho ra rìa".
Quyển sách 303 trang tỏ rõ lập trường dân tộc, chống Mỹ, khá mạnh mẽ.
Tướng Lưu viết rằng nếu Trung Quốc tìm cách vươn lên vị trí siêu cường, thì "cho dù Trung Quốc có tư bản chủ nghĩa hơn Mỹ đi nữa, Mỹ vẫn tìm cách kiềm chế Trung Quốc".
Sự cạnh tranh giữa hai nước là cuộc thi tài để "trở thành quốc gia dẫn đầu", và là xung đột về vị thế thống trị thế giới.
Tuy nhiên cuốn Trung Quốc Mộng được nói là không đại diện cho quan điểm của chính phủ Bắc Kinh, vốn kín tiếng hơn về các tham vọng của mình.
Các nhà quan sát cho rằng sự ra đời của quyển sách này cho thấy áp lực của dư luận đòi hỏi ban lãnh đạo Trung Quốc phải chuyển các thành tựu kinh tế thành bước nhảy vọt về uy lực trước các quốc gia phương Tây.
Trỗi dậy về quân sự
Chuẩn tướng Lưu Minh Phúc là giảng viên Đại học Quốc phòng Trung Quốc và việc ông cho ra mắt cuốn sách cũng được nhìn nhận là nay giới chức quân đội đã bắt đầu tham gia vào gây áp lực đòi Bắc Kinh phải có thái độ cứng rắn hơn trước.
Trước đây, dường như các kêu gọi như thế này chỉ do các blogger vô danh đăng tải trên mạng internet.
Hãng tin Reuters trích lời ông Lưu nói: "Quyển sách chỉ nói lên quan điểm riêng của tôi, nhưng nó cũng phản ánh phần nào một làn sóng tư tưởng (trong nước Trung Quốc)".
Cuối tuần này Bắc Kinh sẽ thông báo ngân sách quốc phòng năm 2010, vốn đã được tăng gần 15% trong năm 2009.
Có nhận định Bắc Kinh sẽ tăng ngân sách quốc phòng để ra tín hiệu cho chính quyền Obama sau khi Mỹ quyết định thực thi hợp đồng bán vũ khí trị giá 6,4 tỷ đôla cho Đài Loan.
Ông Alan Romberg, chuyên gia về Trung Quốc và Đài Loan tại Trung tâm Henry L. Stimson ở Washington DC, được hãng Reuters trích lời nói rằng khi giới tướng lãnh lên tiếng thì chắc chắn lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ phải lắng nghe.
"Tuy nhiên tôi cho là nhà chức trách sẽ tìm cách kiểm soát các phản ứng trong dư luận, ngay cả khi họ chấp thuận xem xét các kiến nghị này."
Cuốn Trung Quốc Mộng xuất bản từ tháng 01/2010, nhưng nay mới được mang ra bán rộng rãi ở Bắc Kinh.
Năm ngoái, một cuốn sách mang nội dung dân tộc chủ nghĩa khác có tên Trung Quốc bất cao hứng cũng đã thu hút chú ý của dư luận.
Sách này chê trách thái độ thụ động và kêu gọi người Trung Quốc có hành động cổ súy uy tín quốc gia. ( BBC)
Cuộc chiến không bom đạn
Ngày này 35 năm trước, cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975 bắt đầu khởi động. Những người dân Ban Mê Thuột đã đào xong hầm trú bom cho mỗi nhà. Ngày 10 tháng 3 Đắk Lắk thất thủ. Chỉ trong 55 ngày đêm, với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”, toàn bộ miền Nam được/bị “giải phóng”. Cuộc chiến bom đạn chấm dứt. Xác người thôi còn phơi khô trên những đại lộ kinh hoàng. Việt Nam thống nhất. Những chiến sĩ quân đội nhân dân ngồi dọc vỉa hè ngước nhìn thành phố Sài Gòn tráng lệ. Có người ôm mặt khóc.
35 năm trôi qua. Trong từng năm tháng ấy, xác người dọc theo quốc lộ đã được thay thế bằng hàng vạn thây người trên những hải trình xuyên biển Đông. Các cuộc tổng tấn công quân sự được đổi lại bằng những đại chiến dịch tập trung cải tạo, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp. “Ý thức đoàn kết dân tộc lại một lần nữa bị phần nào xao nhãng bởi bệnh chủ quan và say sưa vì chiến thắng, bởi những cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi chuyện phân biệt thắng – thua, bởi những kỳ thị ta – ngụy..”. (cố TT Võ Văn Kiệt). Trong im lặng hòa bình, trong thống nhất đất nước nhưng phân ly lòng người, một cuộc chiến không bom đạn đã khởi đầu. “Ngụy quân, ngụy quyền” được thay thế bằng “bè lũ phản động”. Chiến tranh xâm lược được thay trang đổi phục thành diễn tiến hòa bình. Những khẩu súng AK47 được thế chỗ bởi những điều 79, 88… Những quả bom trải thảm B52 của đế quốc Mỹ đã nhường chỗ cho những ngọn hải đăng, tàu chiến và khoan dầu hiện đại của đế quốc Trung Hoa. Và những chiến sĩ quân đội nhân dân bây giờ già nua, lặng nhìn cơ đồ và vận mạng của tổ quốc. Chắc hẳn phải có người ôm mặt khóc.
Khi nói đến chiến tranh, người ta đo lường mức độ tàn phá khốc liệt và sự đau khổ bằng điêu tàn đổ nát, bằng những quan tài phủ bọc quốc kỳ, hay những hố chôn người tập thể, hoặc hình ảnh đứa bé gái trần truồng chạy khóc trên con đường khói lửa. Che đậy bởi mảnh vải hòa bình, bịt mắt bằng tấm khăn đen thống nhất, cuộc chiến không tên không tuổi của 35 năm qua đã kéo dài trong im lặng nhưng tàn khốc.
Nó đã bắt đầu:
Khi chiếc xe bít bùng chở cả gia đình đến rừng U Minh Thượng. Người mẹ cùng đàn con ngơ ngác giữa hoang vu với đời sống kinh tế mới và người chồng “ngụy quân” vẫn còn đang bị lưu đày ở trại cải tạo Cổng trời.
Khi người cha thắt cổ tự tử trong căn nhà ở Chợ Lớn sau khi bị cướp trắng tay bởi chiến dịch cải tạo công thương nghiệp; đàn con 9 đứa lăn lóc ở công trường Quách Thị Trang sau ngày căn hộ đã bị niêm phong và người mẹ quấn tròn chiếc chiếu quanh người để làm vệ sinh buổi sáng giữa phố thị đông người.
Khi mỗi người phải đứng trước chọn lựa đi hay ở, vào cái thời mà cột đèn có chân cũng muốn vượt biên; khi người cha bất lực nhìn đứa con gái 15 tuổi gào thét dưới man rợ của tên hải tặc người Thái; khi người anh rửa những hạt bắp trong nhúm phân người khô rốc cho đứa em trai 9 tuổi ăn để sống trên con đường vượt biên giới Việt Miên.
Cuộc chiến đã bắt đầu với Câu Lạc Bộ Kháng Chiến Cũ, với “Nửa Đời Nhìn Lại“, “Đêm Giữa Ban ngày“, với “Mặt Thật” và “Hoa Xuyên Tuyết“, với “Chia tay ý thức hệ“, “Nhật Ký Rồng Rắn” và “Những Thiên Đường Mù“… Một cuộc chiến giữa bám víu vinh quang quá khứ và đối diện thực tại phũ phàng, giữa lương tâm và lẽ phải với biện minh, tiếc nuối cho những cống hiến của tuổi thanh xuân. Một cuộc chiến dù bắt đầu nhen nhúm từ buổi sáng ngồi rơi nước mắt ở vỉa hè Sài Gòn, hoặc muộn màng vào lúc cuối đời, vẫn là cuộc chiến âm ĩ bạc đầu của nhiều người đã từng cống hiến cuộc đời của mình từ “thuở ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim” (Từ Ấy – Tố Hữu).
Cuộc chiến đã khởi đi từ vụ án Vinh Sơn, đàn áp văn nghệ sĩ, tiếp nối với bản án tử hình dành cho người sinh viên bất khuất Trần Văn Bá, sang đến Lời Kêu Gọi Cuối Năm và khẩu hiệu Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết được dựng lên tại giáo xứ nhỏ bé Nguyệt Biều… Và cứ như thế cho đến nay, những công dân Việt Nam đầy lòng ái quốc, từ thế hệ 4x, 5x cho đến 8x, 9x, đã lần lượt vào tù.
35 năm trôi qua. Ẩn dưới mặt hồ gợn đỏ của đất nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc là những tàn phá kinh hoàng hơn cả 21 năm nội chiến 54-75. Một thiểu số thống trị giàu có ngoài sức tưởng tượng độc quyền kiểm soát sinh hoạt, tư tưởng của người dân. Những giá trị đạo đức văn hóa bị xuống cấp chưa từng thấy. Cán bộ hủ hóa, tham nhũng, mua dâm, cờ bạc, rượu chè nhưng vẫn tiếp tục đọc bài diễn văn ca tụng điều nhân nghĩa lẫn chính nghĩa. Sự ti tiện được tiếp nối bởi những bài văn sinh nhai ca tụng những bài diễn văn và con người trơ tráo đó. Mức độ chênh lệch giàu nghèo đã leo thang tới mức kỷ lục. Những đầy tớ của nhân dân trở thành tỉ phú và nhiều chủ nhân ông của đất nước chỉ mong một ngày có được 2, 3 chục ngàn để sống. Con người cùng khổ đã phải tạm gác nhân phẩm qua một bên, chui háng chủ nhân ngoại quốc, lấy chồng người Đài, cam phận kiếp sống Ô sin, gửi con gái sang Xiêm Rệp làm đĩ, xếp hàng làm đơn mong trở thành món hàng xuất khẩu lao động.
35 năm trôi qua. Những chiến trường Bình Trị Thiên, Khe Sanh, Bình Giả, An Lộc… đã được thay thế bằng mặt trận Dân oan, Dân báo, Đình công, Tôn giáo… bằng những địa danh Nguyệt Biều, Thái Hà, Đồng Chiêm… Tự do, Dân chủ, Nhân quyền là khẩu hiệu xung phong. Cho đến lúc “con voi đã chui qua lỗ kim” như tựa đề của một bài viết trên báo điện điện tử Vitinf, đa phần quần chúng nhân dân mới bàng hoàng: lãnh hải, lãnh thổ, đất đai, rừng đầu nguồn đã bị xâm lấn bởi ngoại bang. Trận chiến 35 năm (và vẫn chưa thấy bóng thanh bình) đã bước vào một khúc quanh, một mặt trận mới: đối đầu với bá quyền bành trướng phương Bắc bên ngoài và chống trả với độc tài mang não trạng tay sai bên trong.
Ở mặt trận mới này, phải nhìn hình ảnh cả nghìn thanh niên sinh viên xuống đường biểu tình chống TQ trong vụ Trường Sa, Hoàng Sa mới cảm được lòng ái quốc vẫn luôn mãnh liệt. Phải đọc trăn trở, tâm huyết của nhiều người, từ những bloggers thế hệ 7x, 8x sinh ra và lớn lên dưới mái nhà xã hội chủ nghĩa, từ những con người đã từng phục vụ trong chế độ cũ, cho đến những nhà trí thức trong guồng máy hiện tại, các vị tướng lãnh lão thành mới thấy được hiểm họa xâm lăng đã kết hợp lòng người về một mối: Tổ Quốc Trên Hết.
Trận chiến 35 năm cũng đã bước vào một bước ngoặc mới với sự phá sản toàn diện về tư thế đại diện dân tộc và chính nghĩa của đảng cầm quyền. Nếu trước đây có nhiều người vẫn còn tin vào thiện chí và vai trò phục vụ dân tộc của đảng CSVN thì ngày nay bộ mặt thật của đảng cầm quyền đã lộ nguyên hình. Cho dù huyền thoại Cách mạng Mùa thu vẫn còn đâu đó trong lòng một số người, nhưng dù thế đi nữa thì cũng phải học được bài học lịch sử là không thể bám vào hào quang của đức Lê Thái Tổ mà biện minh cho sự tồn tại của Lê Chiêu Thống.
Cuộc chiến 35 năm cũng đang bước vào một giai đoạn phức tạp.
Ai là bạn ? ai là thù trong nội bộ đảng CSVN trước họa xâm lăng ? Thái độ khách quan không cho phép vơ đủa và chụp lên đầu tất cả hơn 3 triệu đảng viên CSVN đều là những người vô tâm làm mất đất tổ tiên. Phải có những con người đang biết mình là công dân Việt Nam trước khi là đảng viên cộng sản. Phải có những người lính, sĩ quan, tướng lãnh đảng viên đang ngậm ngùi nhớ đến những đồng đội đã hy sinh ở mặt trận Việt Trung. Phải có những chuyên viên, trí thức đang phục vụ trong guồng máy thấy rõ hơn ai hết những hiểm họa lâu dài. Nhưng biết ai là bạn ai là thù khi không lên tiếng nói ? Đây cũng là một mặt trận của cuộc chiến giữa lương tâm, trách nhiệm, lòng can đảm và quyền lợi cá nhân, vị kỷ, sự hèn nhát.
Ai là chiến hữu, kẻ nào là tay sai ? Tháng giêng, nhà nước Việt Nam đứng đầu là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết án và bỏ tù hàng loạt nhà dân chủ. Ngày 11 tháng 2, trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Ngày 23 tháng 2 ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền”. Ngày 28 tháng 2, ông thủ tướng trao huy hiệu 70 tuổi đảng cho Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Đầu tháng ba, báo chí trong nước sau khi được bật đèn xanh đã ào ạt đăng đàn, phỏng vấn hai tướng lãnh, đưa tin sự bành trướng TQ ở rừng đầu nguồn và chỉ trích chính sách nhà nước. Bàn cờ thế sự mới đã bắt đầu chuyển động !!!
*
35 năm. Một cuộc chiến không bom đạn vẫn tiếp diễn. Đất nước đi trọn một vòng với nhiều oan khiên để trở lại bài toán ban đầu: Độc lập, Tự do. Điều rõ ràng nhất của bài học 35 năm là Tự do của toàn dân tộc không thể giải quyết bằng con đường di tản hay thủ tục xin cho; Dân chủ chỉ là bánh vẽ và tuyên truyền hão với điều Bốn của hiến pháp và chúng ta phải tìm cách chấm dứt tình trạng “tư thế hóa” vai trò lãnh đạo đất nước bằng lá phiếu dù là miễn cưỡng của mỗi người. Bởi vì hệ quả của nó là vận mạng của dân tộc, trong đó có chủ quyền của đất nước, đã được chính danh giao trọn vào tay của những độc quyền cai trị, lấy tư cách đại diện dân tộc để ký kết với ngoại bang.
35 năm. Một cuộc chiến không bom đạn vẫn tiếp diễn. Bởi vì ai trong chúng ta cũng biết rằng Việt Nam chẳng bao giờ có ngày hội Đống Đa, đã chẳng oai hùng đối đầu với triều đình nhà Thanh bằng tự hào dân tộc của Quang Trung nếu Lê Chiêu Thống vẫn tiếp tục ngồi ở Thăng Long vái lạy thiên triều phương bắc. Vì thế nên người này vào tù thì có kẻ khác tiếp tục đứng lên cho đến khi người dân Việt thực sự làm chủ vận mạng của đất nước này.
Những ngày vào xuân, nhìn vạn vật đang đâm chồi nở nụ với dòng sống mới, tôi ghi ơn những gian truân quá khứ, những cuộc đời đã nằm xuống để gìn giữ quê hương. Ghi ơn những người lính hải quân VNCH đã bỏ mình trong trận hải chiến Hoàng Sa, những chiến sĩ quân đội nhân dân đã nằm xuống trên núi rừng Việt Bắc. Ghi ơn những con người dũng cảm đã đánh đổi tự do của mình cho tự do của dân tộc.
Mùa xuân, lẫn lộn giữa những tin tức dồn dập về việc các công ty nước ngoài khai thác rừng đầu nguồn tôi lại cảm được vận hội mới của dân tộc đang gần kề. Trong cảm nhận đó, tôi ước mơ và hy vọng cuộc chiến không bom đạn này sớm chấm dứt, con người Việt Nam sẽ cùng nhau xây dựng một cuộc sống bình an, không cần vĩ đại, không cần đỉnh cao, chỉ cần là một nước bình thường, tự chủ, có tự do, công bằng và sống nhân ái với nhau.
Vũ Đông Hà
Ngày này 35 năm trước, cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975 bắt đầu khởi động. Những người dân Ban Mê Thuột đã đào xong hầm trú bom cho mỗi nhà. Ngày 10 tháng 3 Đắk Lắk thất thủ. Chỉ trong 55 ngày đêm, với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”, toàn bộ miền Nam được/bị “giải phóng”. Cuộc chiến bom đạn chấm dứt. Xác người thôi còn phơi khô trên những đại lộ kinh hoàng. Việt Nam thống nhất. Những chiến sĩ quân đội nhân dân ngồi dọc vỉa hè ngước nhìn thành phố Sài Gòn tráng lệ. Có người ôm mặt khóc.
35 năm trôi qua. Trong từng năm tháng ấy, xác người dọc theo quốc lộ đã được thay thế bằng hàng vạn thây người trên những hải trình xuyên biển Đông. Các cuộc tổng tấn công quân sự được đổi lại bằng những đại chiến dịch tập trung cải tạo, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp. “Ý thức đoàn kết dân tộc lại một lần nữa bị phần nào xao nhãng bởi bệnh chủ quan và say sưa vì chiến thắng, bởi những cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi chuyện phân biệt thắng – thua, bởi những kỳ thị ta – ngụy..”. (cố TT Võ Văn Kiệt). Trong im lặng hòa bình, trong thống nhất đất nước nhưng phân ly lòng người, một cuộc chiến không bom đạn đã khởi đầu. “Ngụy quân, ngụy quyền” được thay thế bằng “bè lũ phản động”. Chiến tranh xâm lược được thay trang đổi phục thành diễn tiến hòa bình. Những khẩu súng AK47 được thế chỗ bởi những điều 79, 88… Những quả bom trải thảm B52 của đế quốc Mỹ đã nhường chỗ cho những ngọn hải đăng, tàu chiến và khoan dầu hiện đại của đế quốc Trung Hoa. Và những chiến sĩ quân đội nhân dân bây giờ già nua, lặng nhìn cơ đồ và vận mạng của tổ quốc. Chắc hẳn phải có người ôm mặt khóc.
Khi nói đến chiến tranh, người ta đo lường mức độ tàn phá khốc liệt và sự đau khổ bằng điêu tàn đổ nát, bằng những quan tài phủ bọc quốc kỳ, hay những hố chôn người tập thể, hoặc hình ảnh đứa bé gái trần truồng chạy khóc trên con đường khói lửa. Che đậy bởi mảnh vải hòa bình, bịt mắt bằng tấm khăn đen thống nhất, cuộc chiến không tên không tuổi của 35 năm qua đã kéo dài trong im lặng nhưng tàn khốc.
Nó đã bắt đầu:
Khi chiếc xe bít bùng chở cả gia đình đến rừng U Minh Thượng. Người mẹ cùng đàn con ngơ ngác giữa hoang vu với đời sống kinh tế mới và người chồng “ngụy quân” vẫn còn đang bị lưu đày ở trại cải tạo Cổng trời.
Khi người cha thắt cổ tự tử trong căn nhà ở Chợ Lớn sau khi bị cướp trắng tay bởi chiến dịch cải tạo công thương nghiệp; đàn con 9 đứa lăn lóc ở công trường Quách Thị Trang sau ngày căn hộ đã bị niêm phong và người mẹ quấn tròn chiếc chiếu quanh người để làm vệ sinh buổi sáng giữa phố thị đông người.
Khi mỗi người phải đứng trước chọn lựa đi hay ở, vào cái thời mà cột đèn có chân cũng muốn vượt biên; khi người cha bất lực nhìn đứa con gái 15 tuổi gào thét dưới man rợ của tên hải tặc người Thái; khi người anh rửa những hạt bắp trong nhúm phân người khô rốc cho đứa em trai 9 tuổi ăn để sống trên con đường vượt biên giới Việt Miên.
Cuộc chiến đã bắt đầu với Câu Lạc Bộ Kháng Chiến Cũ, với “Nửa Đời Nhìn Lại“, “Đêm Giữa Ban ngày“, với “Mặt Thật” và “Hoa Xuyên Tuyết“, với “Chia tay ý thức hệ“, “Nhật Ký Rồng Rắn” và “Những Thiên Đường Mù“… Một cuộc chiến giữa bám víu vinh quang quá khứ và đối diện thực tại phũ phàng, giữa lương tâm và lẽ phải với biện minh, tiếc nuối cho những cống hiến của tuổi thanh xuân. Một cuộc chiến dù bắt đầu nhen nhúm từ buổi sáng ngồi rơi nước mắt ở vỉa hè Sài Gòn, hoặc muộn màng vào lúc cuối đời, vẫn là cuộc chiến âm ĩ bạc đầu của nhiều người đã từng cống hiến cuộc đời của mình từ “thuở ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim” (Từ Ấy – Tố Hữu).
Cuộc chiến đã khởi đi từ vụ án Vinh Sơn, đàn áp văn nghệ sĩ, tiếp nối với bản án tử hình dành cho người sinh viên bất khuất Trần Văn Bá, sang đến Lời Kêu Gọi Cuối Năm và khẩu hiệu Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết được dựng lên tại giáo xứ nhỏ bé Nguyệt Biều… Và cứ như thế cho đến nay, những công dân Việt Nam đầy lòng ái quốc, từ thế hệ 4x, 5x cho đến 8x, 9x, đã lần lượt vào tù.
35 năm trôi qua. Ẩn dưới mặt hồ gợn đỏ của đất nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc là những tàn phá kinh hoàng hơn cả 21 năm nội chiến 54-75. Một thiểu số thống trị giàu có ngoài sức tưởng tượng độc quyền kiểm soát sinh hoạt, tư tưởng của người dân. Những giá trị đạo đức văn hóa bị xuống cấp chưa từng thấy. Cán bộ hủ hóa, tham nhũng, mua dâm, cờ bạc, rượu chè nhưng vẫn tiếp tục đọc bài diễn văn ca tụng điều nhân nghĩa lẫn chính nghĩa. Sự ti tiện được tiếp nối bởi những bài văn sinh nhai ca tụng những bài diễn văn và con người trơ tráo đó. Mức độ chênh lệch giàu nghèo đã leo thang tới mức kỷ lục. Những đầy tớ của nhân dân trở thành tỉ phú và nhiều chủ nhân ông của đất nước chỉ mong một ngày có được 2, 3 chục ngàn để sống. Con người cùng khổ đã phải tạm gác nhân phẩm qua một bên, chui háng chủ nhân ngoại quốc, lấy chồng người Đài, cam phận kiếp sống Ô sin, gửi con gái sang Xiêm Rệp làm đĩ, xếp hàng làm đơn mong trở thành món hàng xuất khẩu lao động.
35 năm trôi qua. Những chiến trường Bình Trị Thiên, Khe Sanh, Bình Giả, An Lộc… đã được thay thế bằng mặt trận Dân oan, Dân báo, Đình công, Tôn giáo… bằng những địa danh Nguyệt Biều, Thái Hà, Đồng Chiêm… Tự do, Dân chủ, Nhân quyền là khẩu hiệu xung phong. Cho đến lúc “con voi đã chui qua lỗ kim” như tựa đề của một bài viết trên báo điện điện tử Vitinf, đa phần quần chúng nhân dân mới bàng hoàng: lãnh hải, lãnh thổ, đất đai, rừng đầu nguồn đã bị xâm lấn bởi ngoại bang. Trận chiến 35 năm (và vẫn chưa thấy bóng thanh bình) đã bước vào một khúc quanh, một mặt trận mới: đối đầu với bá quyền bành trướng phương Bắc bên ngoài và chống trả với độc tài mang não trạng tay sai bên trong.
Ở mặt trận mới này, phải nhìn hình ảnh cả nghìn thanh niên sinh viên xuống đường biểu tình chống TQ trong vụ Trường Sa, Hoàng Sa mới cảm được lòng ái quốc vẫn luôn mãnh liệt. Phải đọc trăn trở, tâm huyết của nhiều người, từ những bloggers thế hệ 7x, 8x sinh ra và lớn lên dưới mái nhà xã hội chủ nghĩa, từ những con người đã từng phục vụ trong chế độ cũ, cho đến những nhà trí thức trong guồng máy hiện tại, các vị tướng lãnh lão thành mới thấy được hiểm họa xâm lăng đã kết hợp lòng người về một mối: Tổ Quốc Trên Hết.
Trận chiến 35 năm cũng đã bước vào một bước ngoặc mới với sự phá sản toàn diện về tư thế đại diện dân tộc và chính nghĩa của đảng cầm quyền. Nếu trước đây có nhiều người vẫn còn tin vào thiện chí và vai trò phục vụ dân tộc của đảng CSVN thì ngày nay bộ mặt thật của đảng cầm quyền đã lộ nguyên hình. Cho dù huyền thoại Cách mạng Mùa thu vẫn còn đâu đó trong lòng một số người, nhưng dù thế đi nữa thì cũng phải học được bài học lịch sử là không thể bám vào hào quang của đức Lê Thái Tổ mà biện minh cho sự tồn tại của Lê Chiêu Thống.
Cuộc chiến 35 năm cũng đang bước vào một giai đoạn phức tạp.
Ai là bạn ? ai là thù trong nội bộ đảng CSVN trước họa xâm lăng ? Thái độ khách quan không cho phép vơ đủa và chụp lên đầu tất cả hơn 3 triệu đảng viên CSVN đều là những người vô tâm làm mất đất tổ tiên. Phải có những con người đang biết mình là công dân Việt Nam trước khi là đảng viên cộng sản. Phải có những người lính, sĩ quan, tướng lãnh đảng viên đang ngậm ngùi nhớ đến những đồng đội đã hy sinh ở mặt trận Việt Trung. Phải có những chuyên viên, trí thức đang phục vụ trong guồng máy thấy rõ hơn ai hết những hiểm họa lâu dài. Nhưng biết ai là bạn ai là thù khi không lên tiếng nói ? Đây cũng là một mặt trận của cuộc chiến giữa lương tâm, trách nhiệm, lòng can đảm và quyền lợi cá nhân, vị kỷ, sự hèn nhát.
Ai là chiến hữu, kẻ nào là tay sai ? Tháng giêng, nhà nước Việt Nam đứng đầu là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết án và bỏ tù hàng loạt nhà dân chủ. Ngày 11 tháng 2, trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Ngày 23 tháng 2 ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền”. Ngày 28 tháng 2, ông thủ tướng trao huy hiệu 70 tuổi đảng cho Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Đầu tháng ba, báo chí trong nước sau khi được bật đèn xanh đã ào ạt đăng đàn, phỏng vấn hai tướng lãnh, đưa tin sự bành trướng TQ ở rừng đầu nguồn và chỉ trích chính sách nhà nước. Bàn cờ thế sự mới đã bắt đầu chuyển động !!!
*
35 năm. Một cuộc chiến không bom đạn vẫn tiếp diễn. Đất nước đi trọn một vòng với nhiều oan khiên để trở lại bài toán ban đầu: Độc lập, Tự do. Điều rõ ràng nhất của bài học 35 năm là Tự do của toàn dân tộc không thể giải quyết bằng con đường di tản hay thủ tục xin cho; Dân chủ chỉ là bánh vẽ và tuyên truyền hão với điều Bốn của hiến pháp và chúng ta phải tìm cách chấm dứt tình trạng “tư thế hóa” vai trò lãnh đạo đất nước bằng lá phiếu dù là miễn cưỡng của mỗi người. Bởi vì hệ quả của nó là vận mạng của dân tộc, trong đó có chủ quyền của đất nước, đã được chính danh giao trọn vào tay của những độc quyền cai trị, lấy tư cách đại diện dân tộc để ký kết với ngoại bang.
35 năm. Một cuộc chiến không bom đạn vẫn tiếp diễn. Bởi vì ai trong chúng ta cũng biết rằng Việt Nam chẳng bao giờ có ngày hội Đống Đa, đã chẳng oai hùng đối đầu với triều đình nhà Thanh bằng tự hào dân tộc của Quang Trung nếu Lê Chiêu Thống vẫn tiếp tục ngồi ở Thăng Long vái lạy thiên triều phương bắc. Vì thế nên người này vào tù thì có kẻ khác tiếp tục đứng lên cho đến khi người dân Việt thực sự làm chủ vận mạng của đất nước này.
Những ngày vào xuân, nhìn vạn vật đang đâm chồi nở nụ với dòng sống mới, tôi ghi ơn những gian truân quá khứ, những cuộc đời đã nằm xuống để gìn giữ quê hương. Ghi ơn những người lính hải quân VNCH đã bỏ mình trong trận hải chiến Hoàng Sa, những chiến sĩ quân đội nhân dân đã nằm xuống trên núi rừng Việt Bắc. Ghi ơn những con người dũng cảm đã đánh đổi tự do của mình cho tự do của dân tộc.
Mùa xuân, lẫn lộn giữa những tin tức dồn dập về việc các công ty nước ngoài khai thác rừng đầu nguồn tôi lại cảm được vận hội mới của dân tộc đang gần kề. Trong cảm nhận đó, tôi ước mơ và hy vọng cuộc chiến không bom đạn này sớm chấm dứt, con người Việt Nam sẽ cùng nhau xây dựng một cuộc sống bình an, không cần vĩ đại, không cần đỉnh cao, chỉ cần là một nước bình thường, tự chủ, có tự do, công bằng và sống nhân ái với nhau.
Vũ Đông Hà
Đối Thoại Dân Chủ
Trần Khải Đối thoại là một nhu cầu cần thiết của con người. Nhu cầu này đặc biệt cần thiết cho các xã hội đang cần bước đi những chặng đường mới. Chỉ có các xã hội như Bắc Hàn mới thiếu vắng đối thoại, và nơi đó triệu người như một, không ai dám thốt lên một lời nghịch ý lãnh đạo. Trường hợp Việt Nam, nhu cầu đối thoại đã được nêu ra không chỉ từ người ở lề trái, mà ngay cả từ những người có quan tâm tới sự ổn định quyền lực của Đảng CSVN.
Trong những người đặt vấn đề về nhu cầu đối thoại mới nhât trên báo Tuần Việt Nam, có Tiến Sĩ Mai Liêm Trực khi trả lời phỏng vấn baó này qua bài có nhan đề: “Vấn đề "nhạy cảm" hay là sự né tránh trách nhiệm?”
Báo này ghi nhận rằng, “TS. Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông được coi là người mở đường cho bùng nổ Internet tại Việt Nam.
Mới đây ông đã được CLB Nhà báo CNTT Việt Nam bình chọn là một trong số 10 nhân vật có đóng góp tích cực nhất cho sự phát triển CNTT-TT thập kỷ qua.
Chính ông sớm nhận thức ra xu hướng phát triển Internet, đã thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt Nam cho mở Internet và tạo điều kiện về mặt quản lý nhà nước cho Internet phát triển, với một quan điểm quản lý mang tính đột phá lúc đó là “Năng lực quản lý phải theo kịp với yêu cầu phát triển”, thay cho tư duy quản lý cũ là “quản lý được đến đâu, mở ra đến đó”...”(hết trích)
Điều nguy hiểm được báo động bởi Tiến Sĩ Mai Liêm Trực là bản văn kiện soạn thảo cho đạị hội đảng sắp tới có đầy tính bảo thủ, khước từ đối thoại với các ý kiến người dân và lộ vẻ muốn “siết lại làm quả bóng nó thêm căng.”
Cụ thể, Tiến Sĩ Mai Liêm Trực nói:
“...Để các văn kiện tiếp thu được tất cả những tinh hoa và giá trị của toàn dân tộc thì trước hết những người thực hiện phải có năng lực để mà đưa ra những cách thức thu hút người dân tham gia góp ý cho văn kiện. Mặt khác, những người đó cũng phải có năng lực để tiếp nhận và xử lý thông tin.
Nhưng tôi có cảm giác rằng hình như việc tổ chức soạn thảo các văn kiện hiện nay vẫn là những đội ngũ đã làm nhiều kỳ các văn kiện trước đây và sức tiếp thu những tư duy mới có vẻ hạn chế....
Dân tộc mình đã theo Đảng bao nhiêu năm, Đảng của mình là đảng duy nhất lãnh đạo và xứng đáng với điều ấy. Nhưng đứng về tâm trạng tôi cảm thấy nguy cơ tụt hậu vẫn tiếp tục còn.
Chúng ta đang cố gắng thoát khỏi thân phận một nước nghèo nhưng ngay như bản thân tôi không thể tránh khỏi cảm giác có lỗi khi những ngày gần tết mở cửa ra vẫn thấy những bà mẹ già gánh từng bó rau đi bán, không thể không cảm thấy xấu hổ và sốt ruột khi thấy phụ nữ Việt Nam phải xếp hàng cho đàn ông Hàn Quốc chọn vợ.
Công cuộc Đổi mới của chúng ta có những lúc bị lựng khựng, lúng túng và thường những vấn đề bức xúc cứ để lại nhiệm kỳ sau làm cho sức mạnh của Đảng, của Dân tộc chưa được phát huy hết.
Tôi cho rằng những biện pháp để đất nước phát triển, để bảo vệ chế độ có lẽ nên bằng hình thức xì hơi giải tỏa những bức xúc xã hội, bằng đối thoại dân chủ hơn là siết lại làm cho quả bóng nó thêm căng...” (hết trích)
Thật là hiếm hoi được nghe tới nhu cầu đối thoạị dân chủ. Nhưng nếu chỉ để “xì hơi giải tỏa những bức xúc xã hội,” thì thực tế nhà nước đã cung cấp cho dân truyền hình, các cuộc thi hoa hậu, ca nhạc hội, quán rượu, spa, sòng bài biên giới... tha hồ để “xì hơi giải tỏa.”
Điều chúng ta tin rằng Tiến Sĩ Mai Liêm Trực muốn nói tới nhu cầu khác hơn, phải là một suy tư về cơ nguy sinh tử của dân tộc – thí dụ như Biển Đông, như rừng biên giới, như Bô Xít Tây Nguyên. Có thể là lời chưa nói hết? Hay vì chưa tiện công khai lên mặt báo? Nhưng thâý rõ là, Tiến Sĩ Mai Liêm Trực quan tâm về dấu mốc đạị hội Đảng CSVN, nơi có thể có hướng đi tích cực hơn.
Nhà văn ký tên “Người Buôn Gió” trên blog của ông, được trang Bô Xít VN (www.boxitvn.net) đăng lại, đã nêu lên vấn đề nhu cầu phát triển trường kỳ bị bỏ quên bởi các lãnh đạo trong bài viết nhan đề “Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?” đã tìm cách đối thoại dân chủ bằng cách nêu rõ các quan tâm về mỏ, về rừng. Trích như sau:
“Dự án khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên của Chính phủ gặp nhiều ý kiến phản đối trong mọi giai tầng nhân dân. Nhưng vì sự thống nhất từ Bộ Chính trị mà dự án này đột nhiên được thông báo là tiếp tục triển khai vì lợi ích kinh tế khu vực Tây Nguyên và được sự đồng thuận cao trong nhân dân?
Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ.
Lý do đưa ra vẫn muôn thuở – phát triển kinh tế khu vực.
Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn.
Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ?
Có lẽ cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước”.
Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp… để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm? Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.
Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đất đai, tài nguyên, chủ quyền, văn hóa…” (hết trích)
Từ trong nước đã nói như thế. Từ chỗ nói nhẹ nhàng như Tiến Sĩ Mai Liêm Trực, tới chỗ nói thẳng mục tiêu như Người Buôn Gió. Nếu Đảng CSVN muốn đối thoại dân chủ, tất có nhiều bàn họp nên được mở ra để cung thỉnh người góp ý.
Từ hải ngoại, một tiếng nói khác cũng nêu lên nỗi lo -- thực sự, tác giả Bùi Tín viết là hiểm họa, chứ không phảỉ nỗi lo. Bài viết nhan đề “Hai lão tướng chỉ ra hiểm họa trên trang Bùi Tín Blog ở Đàỉ VOA (www.voanews.com/vietnamese) nêu lên lời của hai vị tướng baó nguy, trích:
“Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, từ năm 2004, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được Trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng Bộ chính trị do ông Nông Ðức Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng yêu nước, thương dân đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết những thỏa thuận với 10 doanh nghiệp Trung Quốc đóng tại Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài. Các tỉnh đó là: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Các thoả thuận đều có hiệu lực giá trị trong thời gian 50 năm,và có thể sẽ được gia hạn thêm sau đó.
Hai viên lão tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, nay 94 tuổi. Hai ông báo động: Các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, môi trường sẽ bị huỷ hoại. Hai ông kết luận: đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước...” (hết trích)
Lời của nhà báo Bùi Tín mạnh bạo hơn. Từ lời nhắc nhẹ nhàng của Tiến Sĩ Mai Liêm Trực về nhu cầu đối thoại dân chủ, cho tới lời quan ngại của Người Buôn Gió về viễn ảnh 40 năm sau Việt Nam chẳng còn gì, cho tới lời cụ thể của nhà báo Bùi Tín khi diễn lạị lời của 2 vị tướng là “một cuộc tự sát của quê hương đất nước...”
Nói thống thiết như thế, mà nhà nước có nghe chăng? Hay là, chính phủ không cần đối thoại?
Một bản tin trên đài BBC sáng Thứ Hai 1-3-2010 cho biết:
“Gia đình luật sư bất đồng chính kiến Lê Thị Công Nhân cho hay chị sẽ mãn hạn tù và trở về nhà vào thứ Bảy tới (06/03).
Hôm 11/05/2007, Lê Thị Công Nhân bị Tòa án TP Hà Nội xử 4 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88 Bộ Luật Hình sự. Tuy nhiên sau đó án phạt này đã được giảm 1 năm, còn 3 tù giam và 3 năm quản chế tại phiên phúc thẩm 27/11/2007.” (hết trích)
Cần nhắc rằng, luật sư Lê Thị Công Nhân là người nhiều năm trước đã bày tỏ một khát vọng đối thoại, và đã trực tiếp nêu lên nhu cầu đối thoại dân chủ. Và lúc đó, Đảng CSVN đã trả lời cho lời đòi hỏi đối thoại này bằng một bản án tù.
Không có bao nhiêu người dám trả giá cho đòi hỏi đối thoại dân chủ như luật sư Lê Thị Công Nhân. Những dòng chữ nơi đây xin được đón mừng luật sư họ Lê ra tù, và xin nêu lên ước mơ rằng khát vọng đối thoại dân chủ vẫn cháy bỏng trong tim của vị nữ anh thư này và của hàng chục triệu người dân.
TRẦN KHẢI
Trần Khải Đối thoại là một nhu cầu cần thiết của con người. Nhu cầu này đặc biệt cần thiết cho các xã hội đang cần bước đi những chặng đường mới. Chỉ có các xã hội như Bắc Hàn mới thiếu vắng đối thoại, và nơi đó triệu người như một, không ai dám thốt lên một lời nghịch ý lãnh đạo. Trường hợp Việt Nam, nhu cầu đối thoại đã được nêu ra không chỉ từ người ở lề trái, mà ngay cả từ những người có quan tâm tới sự ổn định quyền lực của Đảng CSVN.
Trong những người đặt vấn đề về nhu cầu đối thoại mới nhât trên báo Tuần Việt Nam, có Tiến Sĩ Mai Liêm Trực khi trả lời phỏng vấn baó này qua bài có nhan đề: “Vấn đề "nhạy cảm" hay là sự né tránh trách nhiệm?”
Báo này ghi nhận rằng, “TS. Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông được coi là người mở đường cho bùng nổ Internet tại Việt Nam.
Mới đây ông đã được CLB Nhà báo CNTT Việt Nam bình chọn là một trong số 10 nhân vật có đóng góp tích cực nhất cho sự phát triển CNTT-TT thập kỷ qua.
Chính ông sớm nhận thức ra xu hướng phát triển Internet, đã thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt Nam cho mở Internet và tạo điều kiện về mặt quản lý nhà nước cho Internet phát triển, với một quan điểm quản lý mang tính đột phá lúc đó là “Năng lực quản lý phải theo kịp với yêu cầu phát triển”, thay cho tư duy quản lý cũ là “quản lý được đến đâu, mở ra đến đó”...”(hết trích)
Điều nguy hiểm được báo động bởi Tiến Sĩ Mai Liêm Trực là bản văn kiện soạn thảo cho đạị hội đảng sắp tới có đầy tính bảo thủ, khước từ đối thoại với các ý kiến người dân và lộ vẻ muốn “siết lại làm quả bóng nó thêm căng.”
Cụ thể, Tiến Sĩ Mai Liêm Trực nói:
“...Để các văn kiện tiếp thu được tất cả những tinh hoa và giá trị của toàn dân tộc thì trước hết những người thực hiện phải có năng lực để mà đưa ra những cách thức thu hút người dân tham gia góp ý cho văn kiện. Mặt khác, những người đó cũng phải có năng lực để tiếp nhận và xử lý thông tin.
Nhưng tôi có cảm giác rằng hình như việc tổ chức soạn thảo các văn kiện hiện nay vẫn là những đội ngũ đã làm nhiều kỳ các văn kiện trước đây và sức tiếp thu những tư duy mới có vẻ hạn chế....
Dân tộc mình đã theo Đảng bao nhiêu năm, Đảng của mình là đảng duy nhất lãnh đạo và xứng đáng với điều ấy. Nhưng đứng về tâm trạng tôi cảm thấy nguy cơ tụt hậu vẫn tiếp tục còn.
Chúng ta đang cố gắng thoát khỏi thân phận một nước nghèo nhưng ngay như bản thân tôi không thể tránh khỏi cảm giác có lỗi khi những ngày gần tết mở cửa ra vẫn thấy những bà mẹ già gánh từng bó rau đi bán, không thể không cảm thấy xấu hổ và sốt ruột khi thấy phụ nữ Việt Nam phải xếp hàng cho đàn ông Hàn Quốc chọn vợ.
Công cuộc Đổi mới của chúng ta có những lúc bị lựng khựng, lúng túng và thường những vấn đề bức xúc cứ để lại nhiệm kỳ sau làm cho sức mạnh của Đảng, của Dân tộc chưa được phát huy hết.
Tôi cho rằng những biện pháp để đất nước phát triển, để bảo vệ chế độ có lẽ nên bằng hình thức xì hơi giải tỏa những bức xúc xã hội, bằng đối thoại dân chủ hơn là siết lại làm cho quả bóng nó thêm căng...” (hết trích)
Thật là hiếm hoi được nghe tới nhu cầu đối thoạị dân chủ. Nhưng nếu chỉ để “xì hơi giải tỏa những bức xúc xã hội,” thì thực tế nhà nước đã cung cấp cho dân truyền hình, các cuộc thi hoa hậu, ca nhạc hội, quán rượu, spa, sòng bài biên giới... tha hồ để “xì hơi giải tỏa.”
Điều chúng ta tin rằng Tiến Sĩ Mai Liêm Trực muốn nói tới nhu cầu khác hơn, phải là một suy tư về cơ nguy sinh tử của dân tộc – thí dụ như Biển Đông, như rừng biên giới, như Bô Xít Tây Nguyên. Có thể là lời chưa nói hết? Hay vì chưa tiện công khai lên mặt báo? Nhưng thâý rõ là, Tiến Sĩ Mai Liêm Trực quan tâm về dấu mốc đạị hội Đảng CSVN, nơi có thể có hướng đi tích cực hơn.
Nhà văn ký tên “Người Buôn Gió” trên blog của ông, được trang Bô Xít VN (www.boxitvn.net) đăng lại, đã nêu lên vấn đề nhu cầu phát triển trường kỳ bị bỏ quên bởi các lãnh đạo trong bài viết nhan đề “Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?” đã tìm cách đối thoại dân chủ bằng cách nêu rõ các quan tâm về mỏ, về rừng. Trích như sau:
“Dự án khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên của Chính phủ gặp nhiều ý kiến phản đối trong mọi giai tầng nhân dân. Nhưng vì sự thống nhất từ Bộ Chính trị mà dự án này đột nhiên được thông báo là tiếp tục triển khai vì lợi ích kinh tế khu vực Tây Nguyên và được sự đồng thuận cao trong nhân dân?
Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ.
Lý do đưa ra vẫn muôn thuở – phát triển kinh tế khu vực.
Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn.
Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ?
Có lẽ cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước”.
Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp… để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm? Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.
Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đất đai, tài nguyên, chủ quyền, văn hóa…” (hết trích)
Từ trong nước đã nói như thế. Từ chỗ nói nhẹ nhàng như Tiến Sĩ Mai Liêm Trực, tới chỗ nói thẳng mục tiêu như Người Buôn Gió. Nếu Đảng CSVN muốn đối thoại dân chủ, tất có nhiều bàn họp nên được mở ra để cung thỉnh người góp ý.
Từ hải ngoại, một tiếng nói khác cũng nêu lên nỗi lo -- thực sự, tác giả Bùi Tín viết là hiểm họa, chứ không phảỉ nỗi lo. Bài viết nhan đề “Hai lão tướng chỉ ra hiểm họa trên trang Bùi Tín Blog ở Đàỉ VOA (www.voanews.com/vietnamese) nêu lên lời của hai vị tướng baó nguy, trích:
“Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, từ năm 2004, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được Trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng Bộ chính trị do ông Nông Ðức Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng yêu nước, thương dân đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết những thỏa thuận với 10 doanh nghiệp Trung Quốc đóng tại Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài. Các tỉnh đó là: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Các thoả thuận đều có hiệu lực giá trị trong thời gian 50 năm,và có thể sẽ được gia hạn thêm sau đó.
Hai viên lão tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, nay 94 tuổi. Hai ông báo động: Các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, môi trường sẽ bị huỷ hoại. Hai ông kết luận: đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước...” (hết trích)
Lời của nhà báo Bùi Tín mạnh bạo hơn. Từ lời nhắc nhẹ nhàng của Tiến Sĩ Mai Liêm Trực về nhu cầu đối thoại dân chủ, cho tới lời quan ngại của Người Buôn Gió về viễn ảnh 40 năm sau Việt Nam chẳng còn gì, cho tới lời cụ thể của nhà báo Bùi Tín khi diễn lạị lời của 2 vị tướng là “một cuộc tự sát của quê hương đất nước...”
Nói thống thiết như thế, mà nhà nước có nghe chăng? Hay là, chính phủ không cần đối thoại?
Một bản tin trên đài BBC sáng Thứ Hai 1-3-2010 cho biết:
“Gia đình luật sư bất đồng chính kiến Lê Thị Công Nhân cho hay chị sẽ mãn hạn tù và trở về nhà vào thứ Bảy tới (06/03).
Hôm 11/05/2007, Lê Thị Công Nhân bị Tòa án TP Hà Nội xử 4 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Điều 88 Bộ Luật Hình sự. Tuy nhiên sau đó án phạt này đã được giảm 1 năm, còn 3 tù giam và 3 năm quản chế tại phiên phúc thẩm 27/11/2007.” (hết trích)
Cần nhắc rằng, luật sư Lê Thị Công Nhân là người nhiều năm trước đã bày tỏ một khát vọng đối thoại, và đã trực tiếp nêu lên nhu cầu đối thoại dân chủ. Và lúc đó, Đảng CSVN đã trả lời cho lời đòi hỏi đối thoại này bằng một bản án tù.
Không có bao nhiêu người dám trả giá cho đòi hỏi đối thoại dân chủ như luật sư Lê Thị Công Nhân. Những dòng chữ nơi đây xin được đón mừng luật sư họ Lê ra tù, và xin nêu lên ước mơ rằng khát vọng đối thoại dân chủ vẫn cháy bỏng trong tim của vị nữ anh thư này và của hàng chục triệu người dân.
TRẦN KHẢI

