Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

10 điều nên biết cho đời luôn đẹp
1. Khi gặp được người mà bạn thật sự yêu thương:
Hãy nỗ lực giành lấy cơ hội trở thành một nửa của người ấy bởi vì nếu người ấy ra đi, tất cả sẽ không còn kịp nữa.

2. Khi gặp một người bạn có thể tin tưởng được:
Cần giữ quan hệ tốt với người đó vì trong cuộc đời mỗi người, gặp được tri kỷ không phải là điều dễ.

3. Khi gặp người đã từng giúp đỡ bạn:
Nhớ tỏ thái độ cảm kích đối với người ấy vì họ đã mang lại sự thay đổi trong cuộc đời bạn.

4. Gặp người đã từng yêu bạn:
Nên nở nụ cười cảm kích với họ vì đã giúp bạn hiểu thêm về tình yêu.

5. Gặp người từng ghét cay ghét đắng bạn:
Nên cười xã giao với họ vì họ làm bạn trở nên kiên cường hơn.

6. Gặp người đã từng phản bội bạn:
Nên nói chuyện với họ vì nếu như không phải họ, ngày hôm nay bạn sẽ không hiểu biết gì về thế giới này.

7. Gặp người bạn đã từng yêu:
Nên chúc phúc cho họ, bởi vì khi yêu, bạn chẳng đã từng mong muốn họ vui vẻ hạnh phúc đó

8. Gặp người đi qua vội vàng cuộc đời bạn:
Cần cảm ơn họ đã đi qua cuộc đời này của bạn, bởi vì họ là một bộ phận sắc màu trong cụôc sống phong phú và đa dạng của bạn.

9. Gặp người đã từng hiểu lầm bạn:
Hãy nhân thể giải quyết sự ngộ nhận, bởi vì bạn có thể chỉ có một cơ hội này để giải thích mà thôi.

10.Và hãy cảm ơn một nửa của bạn hiện nay bởi vì người ấy đã yêu bạn, vì bạn và người ấy đang hạnh phúc.

Hãy yêu đời yêu người và yêu chính mình.

Sưu tầm Trên Net

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Mẹ và Vợ Cứu Ai Mẹ và vợ ngã xuống sông cùng một lúc, nếu cứu mẹ thì vợ sẽ chết hoặc cứu vợ thì mẹ sẽ chết. Vậy nên cứu mẹ hay cứu vợ hoặc là không cứu cả hai?

Bạn thì sao ? Còn đây là một số nhân vật lịch sử với sự lựa chọn của họ bạn có thể đọc tham khảo nhá hí hí…

MẠNH TỬ:

Bố chết từ khi còn nhỏ, mẹ nuôi nấng, dạy dỗ ta rất khó nhọc. Mẹ phải ba lần dọn nhà để tránh những ảnh hưởng xấu, dành món ngon cho ta ăn, mua áo đẹp cho ta mặc, tất cả là để cho ta có thể ngẩng cao đầu nhìn thiên hạ. Mẹ và vợ cùng ngã xuống sông, tất nhiên ta phải cứu mẹ rồi. Lấy chữ hiếu làm đầu, vợ chết thì lấy vợ khác, mẹ chết làm gì có mẹ nữa!
Trên thế gian này chỉ có Mẹ là tốt nhất. Không có mẹ, con trẻ như cỏ cây, biết bấu víu vào đâu? Mẹ! Con sẽ cứu mẹ! Mạnh tử nhảy ùm xuống sông.

CHU U VƯƠNG:

Vợ và mẹ cùng ngã xuống sông, tất nhiên là phải cứu vợ trước. Nghĩ lại ngày trước ta đùa giỡn với nàng, nhìn nàng cười, đến cả giang sơn lẫn sinh mạng nhỏ bé của ta cũng chẳng nghĩa lý gì, huống hồ là mẹ! Khi lập Thái tử, bà ấy còn định bỏ ta làm ta suýt mất cả ngôi báu.
"Tình cảm đằm thắm, ta yêu nàng rất nhiều, ta sẽ cứu nàng!" Chu U vương cũng nhảy ùm xuống sông.

LƯU BỊ:

Anh em như chân tay, vợ con như áo mặc; áo rách có thể vá, chân tay gãy không thể lành. Chỉ cần Nhị đệ và Tam đệ của ta không ngã xuống sông là được, những kẻ khác ta không thèm để ý.
"Mẹ ơi! Nàng ơi! Các người chết thật thê thảm!" Lưu Bị đứng trên bờ sông khóc lớn.

TÀO THÁO:

Thà rằng ta phụ người chứ không để người phụ ta, mẹ ta hay vợ ta cũng thế thôi, chỉ cần ta không ngã xuống sông là được rồi.
"Ta nhẹ nhàng đi cũng như khi ta nhẹ nhàng đến, ta vẫy tay chào không một chút vấn vương." Tào Tháo vừa ngâm thơ vừa chầm chậm bước đi.

KHUẤT NGUYÊN:

Thế gian này u ám quá, triều đại này thật hủ bại! Sống cũng chẳng còn có ý nghĩa gì, chi bằng chết cho trong sạch. Song anh có thể rửa mặt và rửa chân cho ta.
Khoảng trời hiện tại là khoảng trời u ám, chẳng còn có thể nhìn tinh tú trên trời. Mẹ ơi! Nàng ơi! Ta cùng nhau chết ở nơi đây!" Khuất Nguyên vừa hát vừa từ từ nhảy xuống sông.

TRANG TỬ:

Sinh về đâu và chết sẽ về đâu? Mẹ và vợ ta chết cứ chết, chẳng qua chỉ là từ trạng thái hữu hình trở về trạng thái vô hình, có gì phải đau đớn, có gì phải xót thương? Chẳng cần phải cứu ai cả! Trang tử ngồi xuống, tay nắm một mảnh sành vừa gõ nhịp vừa hát, mắt nhìn mẹ và vợ chìm đần xuống sông, nét mặt mãn nguyện.

HOÀ THÂN:

Ai ngã xuống sông thì cứ ngã, cái ta yêu là tiền bạc. Tiền bạc là mẹ ta, là vợ ta. Sao trước khi ngã, các người không mặc ít quần áo thôi, điều đáng tiếc nữa là trâm vàng, khuyên bạc còn ở trên đầu các người.
"Có tiền là có tất cả!" Hoà Thân đứng trên bờ vùa nhìn mẹ và vợ dần dần chìm xuống sông vừa thở dài.

VƯƠNG BỘT:

Lòng bàn tay và mu bàn tay đều là thịt. Vợ là người ta yêu nhất, mẹ là người thân thiết nhất. Vậy phải làm thế nào đây? Thôi cứ nhảy xuống sông, thấy ai ở gần thì cứu. Vương Bột vội nhảy ùm xuống sông. "Chết rồi! Ta quên mất là ta cũng không biết bơi!" Vương Bột vẫy vùng một cách tuyệt vọng rồi từ từ chìm xuống sông.

LỜI BÀN :

1. Mạnh Tử: Thương mẹ hơn vợ thì chắc là lai………VIỆT NAM !
2. Chu U Vương: Yêu vợ nồng nàn nên chắc lai…….PHÁP QUỐC !!
3. Lưu Bị: Lo cho anh em đồng chí hơn gia đình là lai………..NGA SÔ (tinh thần quốc tế vô sản)
4.Tào Tháo: Thấy chết không cứu phớt tỉnh……….ĂNG LÊ ( ENGLAND )!!
5. Khuất Nguyên: Tự sát chết theo là tinh thần võ sĩ đạo xứ Phù Tang ( JAPAN )
6. Trang Tử: Giống Tào Tháo lai ………Anh Cát Lợi
7. Hòa Thân: Thực tế kiểu…………….MỸ !
8. Vương Bột: Không biết trời cao đất rộng nhắm mắt liều mạng thì là chính gốc………Tàu .


Siu Tầm

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

34 Năm Sau và Họ Là Ai ?

Lão Gà Tre
Ba mươi bốn năm (34) so với chiều dài lịch sử của một triều đại thời xưa thì ngắn, nhưng với một đời người thì dài lắm, nhất là đối với những ai quan tâm đến thời cuộc, đến vận mệnh khổ đau của dân tộc Việt Nam thì nó lại càng dài hơn.

Ba mươi bốn năm trôi qua quả thật như một giấc mơ hãi hùng! Máu, nước mắt, khổ lụy, nghiệt ngã vẫn còn đây! Những cuộc vượt thoát vô tiền khoáng hậu của người Việt trốn chạy cộng sản – mà cả thế giới đều biết – vẫn còn ghi đậm trong lịch sử nhân loại. Riêng đối với người Việt tị nạn, làm sao có thể quên được những ngày tháng hãi hùng ấy. Có lẽ nó sẽ nằm sâu, nằm mãi trong tiềm thức của mỗi chúng ta.

Ba mươi bốn năm rồi mà người đi vẫn đi, không còn đi được bằng cách vượt biển, vượt biên thì cũng tìm cơ hội khác để đi: ODP (đoàn tụ), lấy vợ, lấy chồng, du học, chạy chọt làm sao để rời xa cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa” . Chính ngay những người theo cộng sản cả đời, những người được hưởng ơn mưa móc như núi, nhưng nếu có cơ hội ra đi là họ đi ngay để trốn khỏi cái “thiên đường” quái đản ấy.

Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách hùng hồn rằng con người không thể sống dưới chế độ cộng sản. Khổ thay, Việt Nam là một trong bốn nước cộng sản còn lại mà loay hoay mãi vẫn không thể nào thoát khỏi cái thiên đường mù đầy oan nghiệt ấy! Nếu miền Nam Việt Nam không bị bán đứng vào tay cộng sản vào 1975, thì chắc chắn, sau sự sụp đổ của khối cộng sản Ðông Âu và Nga Sô, toàn cõi Việt Nam bây giờ đã là một xứ tự do, giàu mạnh như bao nhiêu quốc gia văn minh khác. Ít ra cũng bằng Nam Hàn với nền văn minh nhân bản như ngày nay..

Khỏi cần phải tố cáo hay chê bai chế độ; khỏi cần luận tội tập đoàn cộng sản lãnh đạo đất nước đã tàn phá quê hương như thế nào sau 34 năm thống nhất hai miền Nam-Bắc; khỏi cần so sánh với các nước láng giềng và các quốc gia khác trên thế giới – cũng bằng ấy thời gian đã vươn lên như đi hia bảy dặm – mà cứ nhìn vào xã hội tan nát, luân thường đạo lý tiêu tan, thị trường cung cầu quái dị, con người chạy theo vật chất một cách điên cuồng là biết ngay.

Khỏi cần phải nghe những luận điệu vì cảm tính của một số người về thăm quê hương rồi trở lại hồ hỡi ca ngợi: “Ðất nước ngày nay khá rồi, thôn quê đã có điện nước, người dân có quyền đi lại và có quyền chửi luôn cán bộ cộng sản”. Thế sao? Chỉ có ba bóng đèn thắp sáng trong vài túp lều thô sơ, nghèo khổ, lạc hậu; chỉ có vài người vụt miệng chửi đổng cán bộ là đã có tự do, là đất nước khá rồi hay sao? Trong khi đó đa số các quốc gia tự do trên thế giới đã và đang tiến vào một đời sống sung túc và văn minh nhất của con người lại không đem ra so sánh!

Ðúng! Việt Nam đã có tự do, nhưng đó là thứ tự do của giai cấp cai trị được “tự do” ăn trên ngồi trước, “tự do” trấn lột quần chúng để thụ hưởng những xa hoa, phù phiếm trên nỗi thống khổ của toàn dân, vốn đã quá khổ trong một thế kỷ qua vì chiến tranh bom đạn. Phải, Tự là “tự” họ quyết định sự sống của người khác bằng họng súng và Do là “do” họ tạo nên những thủ đoạn đê hèn để áp đảo người dân, tước đoạt mọi thứ quyền tự do căn bản của con người.

Ðúng! Có tiến bộ, nhưng là thứ tiến bộ lừa đảo, mưu mô xảo quyệt cướp giựt để đàn áp mọi sự chống đối của người dân – khao khát hít thở không khí tự do – đã và đang đứng lên đòi tự do tôn giáo, tự do được sống làm người.

Nói tới chính trị là phải chứng minh bằng dữ kiện, bằng đường lối cai trị của một chế độ đang điều hành guồng máy quốc gia. Chế độ ấy như thế nào thì chúng ta đã thừa biết, khỏi cần nhắc lại làm gì cho tốn giấy tốn mực. Nếu họ thật tâm lo lắng cho quyền lợi của quê hương đất nước, cho người dân được hưởng những quyền tối thiểu của con người thì 34 năm qua đất nước đã khá lên rồi. Nếu họ có thật tâm xây dựng đất nước thì tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi, phải tiếp tục ra đi cho đến ngày nay, và phải chấp nhận sống chết trong đường tơ kẽ tóc để tìm tự do? Vì thế, những luận điệu nông cạn thiếu suy nghĩ ấy chỉ là mớ lý luận có lợi cho cục tuyên vận của CSVN.

Vậy, họ là ai?

Họ là những thành phần ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, miễn sao có một đời sống sung túc trên xứ người là đã thỏa mãn. Còn quê nhà, bà con làng xóm có sống như thời kỳ “đồ đá” thì cũng mặc. Miễn sao lâu lâu ta về thăm cái xứ lạc hậu ấy để thí cho một vài đồng đô, vừa được tiếng, vừa được những người thọ ơn ca tụng cho thỏa cái tự ái vị kỷ của mình.

Họ là ai?

Họ là thành phần cán bộ được cộng sản cấy theo đoàn người tỵ nạn, nằm vùng khắp mọi nơi, đóng vai quốc gia trá hình, chờ cơ hội là bò dậy tấn công vào hàng ngũ người Việt Quốc Gia, vốn đã chia rẽ trầm trọng do bản chất vị kỷ, phi chính trị của những người sinh hoạt ngoài công cộng.

Họ có mặt sinh hoạt nội gian, nội gián trong mọi tổ chức, đảng phái chính trị. Mục tiêu chính của họ là phá nát các tổ chức chính trị chống cộng, bày mưu, chước kế đâm bên này, thọc bên kia, gây mâu thuẫn nội bộ, tung những nguồn tin giật gân ra ngoài làm cho quần chúng mất niềm tin... Mục tiêu của họ chỉ có thế thôi. Khi đã thành công vì phá được các tổ chức chính trị đi đến tình trạng gần như bị tê liệt thì họ đi đâu và làm gì? Dĩ nhiên là họ đã lặn thật kỹ, viện cớ chán ngán thế sự, lui về ngồi rung đùi đếm tiền và hưởng nhàn, ôm theo một đống tiền, gọi là công tác phí trọn đời.

Họ là ai?

Thà rằng tỏ rõ thái độ đầu hàng như một ông tướng, ông nhạc sĩ “nhớn” đã quay về với đảng và nhà nước, ăn năn sám hối để được hưởng “lộc” cuối đời. Dù xú danh muôn thuở, người đời nguyền rủa, nhưng ít ra họ đã biểu lộ thái độ chính trị dứt khoát theo cộng để người ta phân biệt lằn ranh biên giới rõ ràng giữa họ và chúng ta. Còn hơn những tên nằm vùng sống với nhiều mặt nạ khác nhau để quậy phá các tổ chức chính trị, hội đoàn, cộng đồng; thậm chí trong giới cầm bút cũng không thiếu những tên tự xưng là người cầm bút, nhưng bất xứng, lại háo danh, hám lợi.. Chính họ là một thứ bồi bút không hơn không kém, viết lách theo đơn đặt hàng, núp bóng trong tổ chức Văn Bút, để “cố đấm ăn xôi” một cách quyết liệt với mục đích xé nát tổ chức nhằm xóa bỏ dấu tích còn lại của người Việt quốc gia trên diễn đàn quốc tế.. Họ cố đấm dù không ăn được xôi đến độ một cách phi lý, phi văn hóa mà bất cứ ai có chút suy nghĩ cũng phải nghi ngờ chắc chắn đàng sau họ phải có một sức đẩy nào đó. Họ chính là “những kẻ vô lại may mắn” như nhà văn Phạm Ngũ Yên đã đặt tên trong một loạt bài tố cáo đích danh những tên vô lại này trước công luận vào năm 2008.

Họ là ai?

Họ cũng là những người vượt biển vượt biên ra đi tìm tự do, nhưng sống “với vật chất và vì vật chất” nên theo thời gian, thời thế thế thời phải thế. Họ đã quay lưng, cúi đầu phục vụ trực tiếp, hay gián tiếp cho cục tuyên vận CSVN, sẵn sàng đâm vào vết thương lòng của tập thể người Việt tỵ nạn để kiếm lợi.

Họ là ai?

Họ là những nhà “làm chính trị” theo kiểu lập dị, với mớ lý luận thiên tả, ưa bềnh bồng, không định hướng như con thuyền không bến. Họ sống bên này với thế giới tự do văn minh, phủ phê vật chất nhưng luôn luôn mơ mộng ở một “thiên đường” khác: thiên đường của hoang tưởng, thiên đường của không tưởng. Nhưng nếu họ được sống thực trong cái “thiên đường” ấy, chắc chắn là họ phải lên cơn điên và trở thành người điên sớm nhất. Tiếc thay, khi va chạm với thực tế trong cái xã hội tha hóa ấy thì hối hận cũng đã muộn màng!

Họ là ai?

Họ là thành phần làm chính trị theo kiểu salon, thích đọc diễn văn “xa đấm, gần đâm”. Nghĩa là ở xa thì hô hào “Ðấm” đá, nhưng ở gần thì “Ðâm” đầu bỏ chạy. Họ cứ tưởng sẽ hòa hợp được với cộng sản bằng một mớ kiến thức về kỹ thuật mà họ học được từ hải ngoại. Về nước họ sẽ được trọng dụng và đảng cộng sản sẽ nghe theo họ. Ðúng là hoang tưởng!

Họ là ai?

Họ là những thương gia, với quan niệm “chỉ làm thương mại, không làm chính trị”. Giấc mơ của họ là giấc mơ của những “đại gia” thời mới, đượỳc nhà nước ca tụng và tâng bốc trên tận mây xanh. Trước khi đặt vấn đề đầu tiên là “tiền đâu”; dĩ nhiên là họ phải chạy theo giai cấp thống trị, làm theo lệnh của bạo quyền để kiếm lợi. Vì vậy, với thành phần chỉ biết mua bán để kiếm lợi thì trách họ làm gì cho bận tâm. Với họ. quê hương dân tộc không bằng một quả chanh, khi vắt hết nước là liệng vỏ ngay. Gần đây, nhiều “đại gia” đổ tiền về làm ăn vì được đảng nâng bi ca tụng hết mình, nhưng chỉ một thời gian sau thì những đại gia này đều bị trấn lột sạch sành sanh... kêu Trời không thấu! Cái giá “không làm chính trị, chỉ biết làm ăn” họ đã phải trả một cách cay đắng.

Lời kết:
May thay, dân tộc Việt trường tồn qua mấy ngàn năm nay cũng nhờ vào hồn thiêng tổ tiên phù trợ, nên thành phần “Họ Là Ai” nói trên chỉ là thiểu số ung nhọt, sâu mọt trong đại gia đình dân tộc Việt mà thời nào cũng có trong lịch sử.. Còn đại đa số những người bỏ nước ra đi tìm tự do thật sự từ năm 1975 đến nay, vẫn một lòng, một chí hướng, đó là giải thể chế độ cộng sản để đưa đất nước tiến lên trong tự do dân chủ. Ngày nào còn bóng dáng cộng sản là còn đấu tranh đòi quyền sống cho đồng bào ruột thịt đang chịu đựng trăm đắng ngàn cay ở quê nhà.

Ba mươi bốn năm rồi, mặc dù những hiện tượng chia rẽ trong hàng ngũ của chúng ta đã xảy ra vì địch và vì chính chúng ta tạo nên cũng có, nhưng những chiến sĩ can trường đã và đang âm thầm hay công khai đấu đầu với CSVN ở khắp mọi nơi vẫn kiên trì, bất khuất, vẫn một lòng với đại cuộc đấu tranh chống cộng. Ở quốc nội, các vị chân tu của các tôn giáo, các nhà đấu tranh cho dân chủ vẫn không sờn lòng đứng lên đòi quyền sống, quyền hành đạo, quyền được phát biểu tư tưởng, mặc dù bị bắt bớ giam cầm dã man trong suốt 34 năm qua. Ở hải ngoại, vẫn những chiến sĩ xung trận ngăn chặn mọi sự xâm nhập của CSVN trên mọi chiến tuyến. Xin cầu chúc “chân cứng đá mềm” tới những tấm lòng bất khuất mà thời nào họ cũng đứng lên trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt.

Là những người may mắn thoát khỏi nanh vuốt của tập đoàn cộng sản, chúng ta không thể nào ngồi yên để hưởng thụ, mà đã đến lúc phải góp sức vào công cuộc chung, tiếp tay với những anh hùng đang xả thân vì nước bằng cách vận động, góp tinh thần – dù chỉ là lời nói – cho quí vị lãnh đạo tinh thần, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước đang ngày đêm gian khổ, sống chết trước sự đàn áp dã man của bạo quyền cộng sản.

Có như thế thì chúng ta mới không phụ lòng những anh hùng liệt sĩ đã nằm xuống cho chính chúng ta được sống. Có như thế thì mới không hổ thẹn với chính lương tâm mình mỗi khi nhìn lại chặng đường lưu lạc gian khổ suốt ba mươi bốn năm qua: “Ta đã làm được gì cho quê hương dân tộc”? Có như thế mới làm gương cho thế hệ trẻ trong việc gìn giữ nguồn gốc và tinh thần trách nhiệm đối với sự sinh tồn của dân tộc. Một Brian Doan, một Madison Nguyễn, một John Nguyễn... cũng chỉ là một thiểu số nhỏ bé, bé hơn cả những hòn sỏi khi ném xuống mặt hồ yên lặng, vẫn chưa đủ sức làm gợn sóng lăn tăn. Thế nhưng, mặt khác của vấn đề là sự tỉnh thức của chúng ta, của tập thể người Việt không cộng sản, đó là đoàn kết và cố gắng chăm sóc cho thế hệ nối tiếp gìn giữ truyền thống giáo dục gia đình.

Nhân mùa quốc nạn, xin được thắp nén hương lòng gửi đến hồn thiêng của các anh linh tử sĩ, đồng bào vượt biển, vượt biên đã anh dũng nằm xuống cho đất mẹ sớm nở hoa tự do. Ðồng thời cũng xin được nguyện cầu bình an cho những anh hùng dân tộc đang ngày đêm chiến đấu một mất một còn với CSVN trên mọi mặt trận.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

NỤ CƯỜI THANH THẢN TÂM TƯ
Việt Hải

Người cao niên, lớn tuổi khi giữ mãi nụ cười trên môi thì tâm hồn của họ sẽ trẻ trung, ngừời trung niên vui cười thì họ sẽ xóa bớt lo âu, phiền não của gánh nặng cuộc sống, còn trẻ thơ khi cười thì cuộc đời các em thật sự hồn nhiên và vô tư khiến người lớn vui lây. Do đó mà nhà triết học Bertrand Russel đã nói là:
"Nụ cười ít tốn kém nhất và là liều thuốc kỳ diệu nhất."
http://d93.k12.id.us/~tech/smile.html

Con người sinh ra là đã biết cười. Trẻ em cười trung bình khoảng 400 lần mỗi ngày. Với các em thì cười là hành động tự nhiên thể hiện niềm sung sướng. Nhưng điều ngược lại đáng buồn là càng lớn tuổi, chúng ta càng ít cười hơn. Theo các cuộc thăm dò thì người lớn cười trung bình khoảng 14 lần mỗi ngày. Các chuyên gia tâm lý và tâm thần đã khám phá ra mối liên hệ giữa hài hước như yếu tố gây ra tiếng cười và sức khỏe thể chất. Cười mang lại nhiều lợi ích tích cực cho sức khỏe. Các nghiên cứu khoa học chứng minh cho thấy cuộc sống sẽ tốt hơn khi con người cười. Đây là một số tác dụng đối với sức khỏe của nụ cười:

- Tăng sự tiết ra các hormone tích cực như endophins làm giảm đau tự nhiên hay loại hormone serotonin làm điều hòa trạng thái của tâm hồn.
- Tăng sức đề kháng vì cười làm giảm các hormone tiêu cực và tăng hormone tích cực. Nụ cười còn làm tăng số lượng và mức độ hoạt động của các kháng thể chống lại các yếu tố viêm hay nhiễm các cơ quan nội tạng trong cơ thể.
- Có tác dụng đem mức máu hạ cho người mang bệnh cao huyết áp vì nó giúp ta một tâm hồn hân hoan thư dãn và giảm bớt căng thẳng.
- Làm tăng mức độ hô hấp hít thở và cải thiện chức năng của phổi.
- 20 giây cười thoải mái tương đương với tác dụng của 5 phút tập thể dục chèo thuyền.
- Kích thích nhiều vùng não làm việc khiến cho não bộ có sự linh hoạt sáng tạo và giúp cho trí nhớ minh mẫn, tránh bệnh lú lẫn.
- Những người hay cười thường phục hồi bệnh tật mau hơn hoặc sau khi chịu phẫu thuật sẽ bình phục nhanh hơn. Một số nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có tính hoạt bát vui vẻ sử dụng thuốc gây mê ít hơn các bệnh nhân sầu não.
- Người sầu não, hay lo âu có nguy cơ mắc bệnh tim mạch nhiều hơn.
- Khi ta cười càng nhiều khiến tâm trạng càng vui hơn và đời sống lý thú hơn.

Chung qui thì nụ cười chẳng mất tiền mua mà có ích lợi cho ta rất nhiều. Câu nói của triết gia Bertrand Russel vẫn là chân lý cho cuộc sống chúng ta về triết lý của nụ cười. Vậy tại sao ta không nuôi dưỡng với óc ý nhị của nụ cười ?
Vã lại nụ cười không làm nghèo người phát ra nó mà còn làm giàu người nhận nó. Một người cười chỉ nở trong khoảng khắc, nhưng có khi làm cho người ta nhớ nó suốt đời. Người giàu sang phú quí mà không có nó thì họ cũng vẫn còn nghèo, còn những ai nghèo hèn tới đâu mà sẵn sàng cho nó thì vẫn còn cái vốn liếng hữu ích vô tận trong cuộc sống.

Trên bình diện xã hội rộng lớn nụ cười gây hạnh phúc cho các đơn vị nhỏ gia đình, nhiều gia đình cười làm thành một cộng động vui tươi, nhiều cộng động biết thưởng ngoạn ý khôi hài thì cả xã hội bớt bệnh hoạn, bớt già nua đi. Nụ cười tự bản chất của nó có nguồn gốc cho những hảo ý trong thương trường, thương nghiệp và là dấu hiệu của tình thân thiện, tình bạn bè thắm thiết với nhau hơn. Nụ cười như chất dưỡng tố bồi bổ cho con người giảm mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh xóa đi những chán nản, ngã lòng, là nắng xuân loại trừ đi những cơn buồn rầu, sầu não và là liều thuốc màu nhiệm nhất của tạo hoá để chữa lo âu trong cuộc đời xung quanh chúng ta.

Trên phương dện bình luận về nụ cười người ta hằng tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực ngợi ca và tri ân nó trong cuộc sống. Nụ cười không thể mua được bằng chính bản thể của nó, không thể xin xỏ hay không vay mượn được, mà cũng như không thể nài ép gượng gạo được. Nụ cười vốn bắt nguồn do bản năng tự nhiên tự lòng người. Vì nếu ta ôm nó khư khư thì có thể nó chẳng có giá trị gì, nhưng nếu ta bộc lộ thể hiện biếu tặng nó cho người với sự chân tình của ta thì giá trị của nó sẽ cao cả hay ý nghĩa vô cùng. Thế nên khi bạn gặp một người bệnh hoạn, tâm thần sa sút và mệt nhọc, không còn ý muốn vui cười với bạn được thì bạn hãy mĩm cười với người đó đi, hãy tặng người nụ cười như hoa nở trên bờ môi, vì người nào không còn lấy nụ cười để tặng kẻ khác thì theo tôi thiết nghĩ chắc hẳn người đó cần nhận một nụ cười hơn ai hết.


Người Âu Mỹ cười ra sao?


Các nhà tâm lý học làm bản nghiên cứu về nụ cười giữa hai dân tộc Anh và Mỹ, họ cười ra sao. Người Anh cười bằng cách cắn môi và để lộ ra hàm răng bên dưới, thì người Mỹ lại chỉ đơn giản cười xuề xòa hé môi và nhếch hai bờ môi khoe cả mồm. Đó là điểm khác biệt rỏ rệt mà các nhà tâm lý học đã phân tích tìm ra sau khi nghiên cứu các bức hình nụ cười của hai dân tộc có liên hệ gắn bó trong lịch sử.
Theo bản nghiên cứu do giáo sư tiến sĩ tâm lý học Dacher Keltner thuộc viện đại học California tại Berkeley thực hiện. Ông đã phân tích các trường hợp khi mà con người sử dụng nụ cười trong những trạng thái tâm lý khác nhau như lúc trao đổi đàm thoại vui vẽ, xã giao quyến rủ, hay an ủi âu yếm, cảm thông. Ông tìm thấy là người Anh thường nhếch hai gò má lên khi cười và để lộ. Những vết nhăn nơi khoé mắt. Nó tạo ra môt nụ cười thân thiện, chân thật.

Keltner đã đặt tên cho nụ cười kiểu người Anh là "nụ cười Thái tử Charles", bởi ông cho rằng hoàng tử xứ Wales có nụ cười Anh điển hình nhất cho vương quốc Anh. Keltner cho là hoàng tử Charles để lộ rỏ nét cười từ hàm răng dưới, hé mở nhẹ chạy dọc quanh mồm. Đó là cách biểu hiện sự hài lòng một cách lịch thiệp và hòa nhã. Nhưng nó cũng là một kiểu cười bảo thủ kiểu cổ điển. Có lẽ nó bắt nguồn từ thuở ban đầu sơ khai khi tổ tiên người Anh mở mồm cười để mời chào sự hợp tác thay vì gây hấn đánh nhau như trong lịch sử lập quốc của họ.

Ngược lại, Keltner tìm thấy hầu hết người Mỹ có nụ cười mang tính cách trình diễn cảm thông, mà ông gọi là nụ cười "Pan-Am" tiêu biểu cho sự trình diễn từ một cử chỉ chào khách, theo lối cổ điển truyền thống trên các chuyến bay Pan-Am. Nó ảnh hưởng các bắp thịt từ vùng gò má xuống quanh cằm, nên được gọi là nụ cười Botox, bởi vì nó giống như loại mỹ phẩm nổi danh này, nó làm cho con người có khoé mắt bất động. Cũng theo Keltner thì vị Thủ tướng Anh Tony Blair đã ảnh hưởng bởi đường lối chính trị của nước Mỹ, tuy vậy nụ cười của ông vẫn còn mang đặc tính Anh quốc. Về nụ cười của tổng thống Mỹ George W. Bush thì mang nét hoài nghi hơn là hài lòng.

Trong chính giới Mỹ, chúng ta vẫn không quên nét cười của 3 vị tổng thống tiền nhiệm là nụ cười toe toét trên gương mặt của tổng thống Jimmy Carter mà các tranh hí họa thường vẽ nét khôi hài khi ông cười như khoe cả 32 cái răng trên các trang báo chí. Còn cái cười của tổng thống Ronald Reagan rất tươi tắn khi ra ông xuất hiện trước ống kính truyền hình trả lời báo chí. Ông làm chính trị nhưng lại mang cái cười trình diễn của người tài tử từ phim trường Hollywood. Còn như tổng thống Bill Clinton thì thế nào ? Ông cười mím môi che dấu như sự bí hiểm, cần sự thông cảm cho qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống.

Cái cười của những nhà lãnh đạo được giới TV, phim ảnh Hollywood khai thác tận tình, được lập đi lập lại thì vô hình chung nó ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, và cho tới lúc nào đó nó nghiễm nhiên trở thành nụ cười Mỹ quốc chăng ?


Người Việt Nam cười ra sao ?


Cụ Nguyễn Văn Vĩnh viết một bài khảo luận về cái cười của người Việt Nam qua bài mang tên "Gì cũng cười", bài dăng trong Đông Dương tạp chí hồi đầu thế kỷ 20. Hãy nghe cụ viết:

"An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì; quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang. Có kẻ bảo cười hết cả, cũng là một cách của người hiền. Cuộc đời muôn việc chẳng qua là trò phường chèo hết thảy không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày mà nghĩ ngợi. Ví dù được y như vậy, thì ra nước An Nam ta cả dân là người hiền. Nếu thế tôi đâu dám đem lời phường chèo mà nhủ người nhếch mép bỏ tính tự nhiên mà làm bộ đứng đắn lại, nghiêm nhìn những cuộc trẻ chơi.
Nhưng mà xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cái láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà gièm trước ý tưởng người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta" .

Cụ viết tiếp:

"Ta phải biết rằng, khi người ta nói với ta, là để hỏi tình ý ta thế nào. Ai nói với mình thì mình phải đáp. Tùy ý mình muốn tỏ tình ý cho người ta biết thì nói thực; không hiểu thì hỏi lại; mà không muốn nói tình ý cho người ta biết, thì khéo lấy lời lịch sự mà tỏ cho người ta hiểu rằng câu hỏi khi phạm đến một điều kín của mình. Hoặc là có khôn thì lựa lời mà tỏ cho người ta biết những điều mình muốn cho biết mà thôi, và khiến câu chuyện cho người ta không khỏi căn vặn được mình nữa. Nhưng phàm người ta hỏi, mình đã lắng tai nghe, là mình nợ người ta câu đáp."

Tại hải ngoại ngày hôm nay, các băng video được hưởng ứng nồng nhiệt cho thấy người Việt chúng ta vốn thích cười bên cạnh màn ảnh nhỏ hay những buổi đại nhạc hội mà những danh hài hầu như xuất hiện nhiều hơn theo thời gian và kỹ thuật pha trò có phần tăng cao hơn về phẩm và lượng. Tôi thăm dò những cuộn băng video tại hải ngoại, nhiều kho cười hoạt náo màn ảnh Ti Vi cho khán giả những pha cười quên thời gian. Điểm qua vài khuôn mặt tiêu biểu như Văn Chung, Việt Thảo, Vân Sơn, Bảo Liêm, Hoài Linh, Chí Tài, Quang Minh, Hồng Đào, Trang Thanh Lan, Hồng Vân,... và các tài năng trẻ đang lên còn nhiều.

Thực vậy, người ta nhận thấy hình như Thượng Đế ban cho người Việt Nam có một bộ óc khôi hài, thích thưởng ngoạn nụ cười, từ những cái cười trong văn học, phim ảnh, kịch nghệ đến những nụ cười dân gian qua những câu đồng dao hay như cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã nhận xét.


Cười có ích lợi cho tim mạch của bạn:

Theo một nghiên cứu mới đây của trường Đại Học Y khoa Maryland cho biết: “Cứ mỗi mười lăm phút cười thoải mái mỗi ngày sẽ tăng cường sự khỏe mạnh của mạch máu trong cơ thể. Tác dụng này giống như khi bạn tập thể dục ba lần mỗi tuần, mỗi lần bạn tập 30 phút. Bản nghiên cứu này do bác sĩ Michael Miller thuộc Trung Tâm Y Khoa Maryland, đã công bố ngày 7 tháng 3 năm 2004 tại hội nghị của Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ. BS Miller đã cho 20 tình nguyện viên xem các đoạn băng của cuốn phim hài King Pin. Trước và sau khi xem phim, ông sử dụng làn sóng siêu âm để đo dòng máu và độ dãn nở của động mạch nằm trong cánh tay. Kết quả cho thấy là sau khi xem phim mạch máu của 19 tình nguyện viên dãn ra và dòng máu di chuyển tự do hơn bình thường trong vòng 30 đến 45 phút.

Điều ngược lại là khi những tình nguyện viên trên xem những đoạn phim kinh dị, hãi hùng trong cuốn phim chiến tranh Saving Private Ryan. Thành mạch của 14 người bị co thắt lại, làm giảm lượng máu lưu thông. Tính về tổng thể, dòng máu giảm 35% sau khi họ xem phim kinh dị căng thẳng và tăng 22% khi xem phim vui cười. Như vậy kết quả nghiên cứu cho thấy nụ cười có thể làm cho thành động mạch khỏe mạnh hơn, nên nó làm giảm nguy cơ cho các chứng bệnh tim mạch. Cũng theo BS Miller thì chỉ nụ cười cũng đem lại bao ích lợi khi bù lắp được sự căng thẳng về tinh thần. Căng thẳng về tinh thần đem đến tổn hại cho thành động mạch trong cơ thể của chúng ta.

Để giải thích cho lý do tại sao cười lại có lợi cho mạch máu, thì có thể là yếu tố vui cười làm cho cơ thể bài tiết chất endorphins, hormone được tiết ra sau khi luyện tập và góp phần sửa chữa mạch máu. Một khả năng nữa là khi cười tiết ra nitric oxide, một chất hóa học làm dãn mạch máu:

"Cười lên đi nhe cái răng vàng sáng chói
Hỡi cô em xinh có răng vàng le lói"



Khi bạn đang mải khúc khích cười lúc xem một bộ phim hài thì trong cơ thể của chúng ta sẽ làm dòng máu đột nhiên lưu thông dễ dàng hơn. Như dã trình bày, BS Michael Miller đã so sánh ảnh hưởng của phim vui hài và phim gây căng thẳng đối với hệ thống tim mạch của con người. Theo nhóm nghiên cứu này, nụ cười khiến cho các mô cấu thành lớp niêm mạc trên thành mạch máu dãn nở và làm tăng dòng chảy. Lớp niêm mạc này có tác dụng điều tiết dòng máu, kiểm soát độ đông đặc của máu, đồng thời tiết ra một số hóa chất để phản ứng với các vết thương, sự lây nhiễm hoặc kích thích. Lớp niêm mạc này còn đóng vai trò quan trọng đối với bệnh tim mạch. Sự suy thoái chức năng của nó là dấu hiệu đầu tiên của các biến cố về tim mạch.
"15 phút cười thoải mái và 30 phút tập thể dục mỗi ngày là cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe về tim mạch", trưởng nhóm nghiên cứu là BS Michael Miller đã kết luận như vậy.


Nụ cười là Ngôn ngữ đại đồng:



Tôi đọc bài khảo luận viết rất công phu bàn về nụ cười dân gian của tác giả Angela Bennett dưới tựa đề "Universal language" (hay "Ngôn ngữ đại đồng"). Bài viết thuộc loại biên khảo về nguồn gốc của nụ cười, sự đóng góp của nó cho xã hội loài người, nụ cười được phân tích theo môn y khoa và tâm lý,... Tôi xin tóm luợt trích dẫn như sau.


Nụ cười (laughter) hay sự khôi hài (humor) đã xuất hiện từ lâu lắm rồi. Ta hãy trở về nguyên thủy thì Kinh Cựu Ước thì câu 17:22 nói là: "Con tim trở nên vui thì là một liều thuốc bổ, nhưng một tâm hồn tuyệt vọng sẽ làm cho xương tủy ta trở nên khô héo". Tham chiếu theo từ thuở Khai thiên lập địa thì Thượng Đế đã khuyến khích chúng ta hãy có nụ cười.
Vào thế kỷ 14 bác sĩ người Pháp Henri de Mondeville viết là: "Hãy để cho bác sĩ của bạn làm điều hòa cuộc sống của bệnh nhân thêm vui tươi và hạnh phúc, để bà con thân thuộc hay bằng hữu dem đến bệnh nhân niềm vui và hãy kể cho bệnh nhân những chuyện khôi hài". Thực vậy, tâm lý bệnh nhân thường lo âu, buồn chán, họ cần dược an ủi, cần những nguồn vui của cuộc đời, nếu những nguồn vui hữu hiệu nhất không phải là những chuyện hài hước hay một vở kịch tếu lâm hay một cuốn phim vui nhộn cho quên cuộc đời u ám hay sao ?”.

Sang thế kỷ 16, nhà tôn giáo Martin Luther áp dụng hình thức chửa trị tâm lý buồn nản, yếm thế, tuyệt vọng bằng chuyện vui làm cho người bệnh thêm phấn khởi.
Mỗi dân tộc có một nền văn hóa đặc thù riêng, nên nụ cười sẽ bị ảnh hưởng phần nào đó bởi những mẫu chuyện phiếm hài. Bác sĩ Brian Luke Seaward bàn về văn hóa và nụ cười. Có những nơi người ta dùng chuyện phiếm hài, vui cười trị bệnh hay nâng cao tâm thần của bệnh nhân cho vui lên. Tuy vậy không phải lúc nào cũng được xem là phương thuốc trị bênh. Trong quá khứ dưới thời Thanh giáo (Puritans) khắc nghiệt tại Anh quốc lại cho là nụ cười đồng hóa với tội lỗi trong bất cứ trường hợp nào, và nó bị cấm chỉ. Điều này nói lên quan niệm hay chủ thuyết cá biệt của một nền văn hóa quá khích.


Trong y học có chữ lành bệnh là "heal", mà nó ngay từ nguyên thủy thoát thai từ chữ Hy Lạp "haelen" mang ý nghiã "làm lại toàn bộ" mà nhà hiền triết Socrates thuở trước lập luận trong lý thuyết y khoa như là sự lành bệnh bao hàm ý nghĩa từ đôi mắt đến cả phần đầu, từ đầu đến cơ thể, và cơ thể dến tâm linh. Đó là sự toàn bộ của sự lành bệnh.
Trong nền văn hóa Á đông, người Tàu và Nhật cho là nụ cười tốt cho phần "Qi", tức phần khí, năng lực khi tăng cao. Do đó nụ cười cũng có vai trò trong đông y học vậy.


Nụ cười Hollywood và Âu châu:



Sang thế kỷ thứ 20 con người càng tiến bộ, sự thưởng ngoạn nụ cười vươn lên tột đỉnh của nó. Bao gánh xiệc mở ra phải có những màn hề giúp vui. Kỹ nghệ kịch hay phim ảnh khai thác tối đa nụ cười ta có Charlie Chaplin (hề Charlot), Laurel & Hardy (Stan Laurel và Oliver Hardy), Jerry Lewis, Woody Allen,… Điện ảnh Pháp có vua hề Louis de Funes, và bên Anh có tay chọc cười Benny Hill.


Trong phạm vi TV Mỹ sau này phát sinh ra bao tay hề của màn ảnh nhỏ từ Johnny Carson, Bill Maher, Conan O'Brien, David Letterman, Jay Leno, Roseanne Barr, đến tay chọc cười giả giọng chuyên nghiệp Darrell Hammond hay Jon Stewart. Khi xã hội tự do, dân chủ thăng tiến, sự phiếm hài diễu cợt thói hư tật xấu của nhà lãnh đạo, nụ cười đóng góp cho tư cách hay hành động sai quấy của nhà lãnh đạo. Darrel Hammond nổi danh nhờ thủ vai tổng thống Bill Clinton hay phó tổng thống Al Gore trong show "Saturday’s Nightlive" trên đài NBC vào chiều tối thứ 7, cho khán giả Những pha cười nghiêng ngữa. Còn Jon Stewart là người trông coi "The Daily Show" khá ăn khách trên Ti Vi, anh có nét giống tổng thống Bill Clinton khi bắt chước với đôi mắt mơ huyền và giọng nói mang âm hưởng người miền nam Hoa Kỳ. Một tay chọc cười ý nhị nổi danh khác của đài NBC là Jay Leno. Tôi nhớ xem xem show của Leno anh kể chuyện về sự thiếu hụt ngân sách giữa tiểu bang Cali và liên bang Hoa Kỳ. Khi Jay Leno nghe tin thống đốc Arnold Schwarzenegger đi lên Hoa Thịnh Đốn cầu viên Tổng thống GW Bush giúp đỡ sự thiếu hụt ngân sách của Cali, Jay đùa là: "Arnold Schwarzenegger tuyên bố sẽ yêu cầu Tổng thống Bush giúp đỡ về ngân sách. Có phải tốt hơn hết thương lượng với sự khiếm hụt 38 tỷ mỹ kim hơn là đi hỏi ông liên bang mang nợ như chúa chổm đến 450 tỷ mỹ kim".
Thống đốc Arnold vốn là một tay dân chơi, ông là một tài tử nổi danh, lại có tính dê xồm với đôi tay táy máy thích bốc hốt phụ nữ, khi ông ra tranh chức thống đốc bao nhiêu nạn nhân cũ của ông đem chuyện cũ ra tố giác. Jay Leno đùa tiếp: "Có 6 phụ nữ đã ra mặt tố khổ Arnold Schwarzenegger phạm tội sờ mó không có sự đồng ý của đương sư. Điều này chứng tỏ ông là người thống đốc có kinh nghiệm", mà tiếng Anh lại là "Six women have come forward that say Arnold Schwarzenegger groped them without their consent. This proves he would be a hands-on governor."

Rồi lần khác Jay đùa về Arnold và người vợ Maria Shriver thuộc gia đình Kennedy: "Rỏ ràng cách đây 26 năm, Arnold được báo Oui phỏng vấn về đời sống tình dục. Bản tin tốt là anh ta cưới Maria Shriver và bây giờ anh ta bị một sex scandale, nên gia dình Kennedy cuối cùng chấp nhận ông ta làm rể". Mọi người đều biết gia đình Kennedy vốn nổi tiếng bao nhiêu sex scandale vây quanh.
Đó là phạm trù chính trị và nụ cười liên quan tới một tài tử điện ảnh Hollywood. Thần tượng của Arnold Schwarzenegger cũng là một tài tử Hollywood và là tổng thống thứ 40 của nước Mỹ, đó là Ronald Reagan. Reagan được xem như vị tổng thống duyên dáng thường nói đùa trước công chúng. Trước khi bắt đầu những cuộc họp báo với báo chí, ông thường mang chuyện vui ra kể làm cho những sự căng thẳng được thư thái hơn sau tiếng cười. Khi ông mất cả thế giới thương tiếc ông, trong tuần lễ đưa tiễn ông người ta kể về chuyện vui Reagan (Reagan’s jokes).

Tổng thống George H. Bush, thứ 41 của Hoa Kỳ, người từng sát cánh với TT Reagan, khi đi dự tang lễ của TT Reagan đã kể chuyện vui về TT Reagan như sau:
"Trong vai trò phó TT trong 8 năm, tôi học rất nhiều điều hay từ TT Ronald Reagan hơn bất cứ ai mà tôi đã từng cộng tác trong suốt quá trình công vụ của tôi. Tôi học đức tính đôn hậu của ông cũng như chúng ta tất cả đã làm. Tôi học lòng quả cảm của ông cũng như quốc gia của chúng ta đã làm. Ai có thể quên được cái ngày khủng hoảng tháng 3 năm 1981, TT Reagan nhìn hết các bác sĩ trong phòng cấp cứu và ông nói: "Tôi hy vọng là tất cả các ông là người của đảng Cộng Hòa” (Tiếng cười vang lên)... TT Reagan vốn thích chuyện vui. Khi tôi hỏi ông buổi họp với giám mục Tutu ra sao. Ông trả lời: "So-so". (Tiếng cười vang lên)... Và khi ông rời Tòa Bạch Cung vào ngày cuối cùng ông treo một tấm bản nhỏ bên ngoài cánh cửa Phòng Bầu Dục (Oval office) thông báo cho mấy chú sóc. Ông rất yêu quý loài sóc này. Và tấm bản này cho biết là "Coi Chừng Chó Dử", vì con chó Millie của chúng tôi khi vào toà nhà này sẽ ăn tươi nuốt sống những chú sóc nhỏ của ông. Nhưng rồi bên trên tấm bản ông lại đề "Nhưng mà đừng vì thế mà chết nhát". Vâng, đó là bản tính thích đùa của TT Reagan với loài thú vật. Trong mẫu chuyện TT Bush thuật lại khi cái ý nhị của nghiã bóng của âm Tutu là "Too-too", nghe như tương dương với chữ lóng "So-so", một lối chơi chữ khôi hài. Ngày khủng hoảng Tòa Bạch Cung năm xưa khi ông bị tên hung thủ John Hinckley toan ám sát vào ngày 30-03-1981. Ông may mắn thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Còn kỷ niệm chuyện vui TT Reagan do con trai Michael Reagan nhắc lại trong tình gia đình. TT Reagan rất thích viết thơ, thơ ông viết chân tình cho người thân và bằng hữu, ông rất thích viết đùa. Michael kể lại tại đám tang chôn cất cha mình: "Ông thường biên thơ thăm con cháu. Dù rằng ông không thể làm tròn cái chức ông nội như nhiều quý vị làm, vì công việc của của ông quá bề bộn. Và vì thế ông chỉ còn mỗi cách là viết thơ thăm cháu mà thôi. Ông viết thơ thăm con trai Cameron của tôi như sau: "Cameron con, có người dã bán chữ ký ông nội của con được $10,000. Lá thơ này có thể giúp con trả tiền học phí đại học, con à". Rồi ông ký tên ông trên lá thơ, "Ông nội của con. Tùy bút: Ông nội của con là tổng thống thứ 40 của nước Mỹ, Ronald Reagan".


Những Nụ Cười Hái Ra Tiền:


Chuyện TT Reagan kể cho người cháu nội cho ta thấy xã hội Mỹ đã khai thác nụ cười tận tình. Nhà tâm lý học Paul McGhee là một cố vấn ngành khôi hài(humor consultant), ông làm trong ngành này rất thành công trong vòng 20 năm. Khi các hãng kỹ nghệ cần đến ông, ông đến mở những khóa luyện cho nhân viên, khi họ bị căng thẳng về công ăn việc làm, ông đem kinh nghiệm tâm lý của mình, nhất là đề tài cười cho quên đi những căng thẳng, những vất vã, cho ngày bớt dài, và cuộc đời dược dài thêm vì đời rất đáng sống khi ta biết cách lèo lái nó theo quan niệm của Paul McGhee.

Bệnh trầm cảm (anxiety) hay bệnh buồn sầu hay buồn chán, xuống tinh thần (depression), lo lắng căng thẳng (stress) hàng năm tốn cho nước Mỹ $150 tỷ mỹ kim. Theo công ty MarketData Enterprises, Ltd. cho biết sự thăm dò có gần 23 triệu người bị những vấn đề căng thẳng bởi việc làm. Do vậy kỹ nghệ mang nụ cười cho thiện hạ rất rộng lớn khi mà xã hội tiêu pha hằng trăm tỷ mỹ kim hằng năm cho nụ cười, dù nụ cười chỉ mua vui cho mục tiêu giải khuây hay nụ cười làm cho bớt căng thẳng, bớt đau bệnh trong lãnh vực y khoa. Cô y tá Patty Wooten phục vụ trong phòng cấp cứu khẩn cấp tại nhà thương vùng San Diego, cô thường xuyên chứng kiến cảnh chết chóc hay đau khổ trong phòng cấp cứu (ER) của nhà thương, cộng thêm sự căng thẳng, vất vã của nghề nghiệp, cô còn chịu hoàn cảnh ly dị trong gia đình. Để tự cứu vãn mình cũng như cho các bệnh nhân cô đưa ra phương cách khôi hài tạo nguồn vui cho sự kiểm soát thần kinh căng thẳng (stress management). Cô cũng hiểu khi con người trong trạng thái căng thẳng thì chất hormone andrenaline dâng cao làm cho áp huyết tăng. Do đó nguy cơ của căn bệnh tim mạch. Bên ngoài việc cấp thuốc cho bệnh nhân, bệnh nhân còn được truyền kinh nghiệm đối phó với tâm lý, đem nguồn vui đến cho chính mình. Trong 30 năm làm việc Patty Wooten đã gặt hái thành công về danh tiếng và cũng như về tài chánh.
Hai bác sĩ Lee Berk và BS Stanley Tan thuộc nhà thương Loma Linda vùng Nam Cali cũng thành công trong ngành được gọi là sức mạnh của nụ cười trong y khoa.

Cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay không thể thiếu tiếng cười. Nó là một nhu cầu làm nhẹ nhõm tâm hồn, cho ta niềm vui của sự sống để chúng ta thư thái thoãi mái và yêu đời hơn. Như vậy tại sao chúng ta không nuôi dưỡng nụ cười trên bờ môi nhỉ ? Trong cái ý tưởng của Bertrand Russel cho thấy nụ cười là viên thuốc bổ mầu nhiệm. Cũng như từ thuở xa xưa của con người, Kinh Cựu Ước cho là khi con tim vui vẽ là một liều thuốc khỏe cho chúng ta, rồi lại ý niệm của sự lành bệnh của nụ cười theo Socrates cho đến về sau liên tục được giới y khoa như bác sĩ Henri de Mondeville, BS Michael Miller, BS Lee Berk hay BS Stanley Tan cho thấy sự cần thiết của nụ cười trong cuộc sống. Người viết bài này xin quý vị giữ mãi nụ cười tin yêu để thanh thản tâm hồn mình, quý vị nhé.

Việt Hải, Los Angeles.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Việt Nam, tin và không tin

Image
Blogger Joyce Anne Nguyễn năm nay 16 tuổi. (Hình: Joyce Anne Nguyễn Facebook)
Joyce Anne Nguyễn
Lời tòa soạn: Bài viết dưới đây của tác giả Joyce Anne Nguyễn, một Blogger 16 tuổi hiện đang sống cùng gia đình tại Na Uy. Người Việt trân trọng giới thiệu đến độc giả bài viết này với sự đồng ý của tác giả.

Khi viết bài này trong chuyến tàu đi từ Prague đến Warsaw, tôi không có hy vọng sẽ tạo nên một sự thay đổi về quan điểm của người đọc, không hy vọng lớp trẻ VN đang sống tại VN có thể có cách nhìn khác hơn về hệ thống xã hội VN, đơn thuần là tôi viết chỉ để viết, viết quan điểm và cách nhìn của tôi. Tôi đã cố gắng để không bị xem là phiến diện nhưng quan điểm cần rõ ràng hoặc bên này hoặc bên nọ, không có thói quen đứng dạng chân cùng lúc 2 quan điểm.

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, và lớn lên ở Sài Gòn. Và tôi rời Sài Gòn ngày 22/4/2009, đến Na Uy ngày 23/4. Tương đối đủ để hiểu về cuộc sống của con người tại VN, để thấy những ngóc ngách khía cạnh khác nhau của xã hội VN mà nhiều người VN sinh tại nước ngoài chỉ về một vài lần không thể thấy hết được. Trong cách nghĩ của tôi, sống trong một thời gian dài và ghé thăm vài lần, mỗi lần vài tuần là 2 việc hoàn toàn khác nhau. Những người sống trong nước có thể không biết nhiều về chính trị nhưng thấy rõ những mặt xấu và hạn chế trong môi trường mình đang sống.

Ở đây tôi nói về việc tin và không tin trong xã hội VN.

Khi tôi sinh ra và bắt đầu đến trường, tôi đã được dạy về Bác Hồ, được dạy đó là vị Thánh sống hoàn hảo không vợ không con cả đời hy sinh vì quốc gia dân tộc, không một xu trong tay rời khỏi nước tìm đường cứu nước.

Tôi đã được dạy xã hội VN tốt đẹp tự do và tôn trọng con người ra sao.

Tôi đã được dạy về những điều vỹ đại siêu việt của chủ nghĩa Marx- Lenin tôi phải học trong môn triết tại trường, được dạy về chiến tranh, về tinh thần đấu tranh bền bỉ bất khuất của con người VN đánh đuổi ngoại xâm.

Khi ấy tôi vẫn còn nhỏ và tôi tin những gì tôi đã học tại trường. Tôi không nghĩ ta có thể lừa gạt con nít và nhồi nhét những điều dối trá cho trẻ thơ. Tôi đã nghĩ dân tộc VN là dân tộc hào hùng không bao giờ nhún nhường trước bọn xâm lược. Tôi đã nghĩ những điều ấy thật tuyệt vời và đáng tự hào. Tôi đã nghĩ…

Nhưng rồi tôi được đến nước ngoài. Tôi sống tại Na Uy, tôi đi qua Pháp, qua Đức, qua Tiệp Khắc và sắp tới sẽ là Ba Lan. Tôi phải tự hỏi, nếu chế độ này hoàn mỹ đến thế, tại sao nó lại sụp đổ ở hàng loạt các nước Đông Âu và trên thế giới?

Ở những nước Đông Âu đã từ bỏ chế độ cộng sản, tôi có thể thấy rõ cuộc sống của họ trở nên tốt hơn rất nhiều so với trước kia. Con người không dễ dàng bằng lòng chấp nhận số phận thụ động mà chủ động đứng lên đấu tranh vì nhân quyền và tự do dân chủ, khi họ được quyền đến sự thật thay vì những lời tuyên truyền dối trá và được phản kháng và cất lên tiếng nói của mình.

Xã hội VN hay TQ có thể tiếp tục tồn tại vì họ từ lâu đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội ban đầu - cái xã hội lý tưởng không giai cấp, và đi theo nền kinh tế tư bản. Rất nhiều người đã nói với tôi về công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa và đất nước ta đang đi theo con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, thế nhưng họ đã bênh vực mù quáng mà không nhìn lại một chút để nhận ra sự tương phản 180 độ giữa mô hình chủ nghĩa xã hội và những gì nhà nước đang thực hiện. Kêu gọi công nghiệp hoá, hiện đại hoá và khuyến khích mọi người làm giàu, ấy là tư bản. Đó là lý do TQ, VN có thể tồn tại.

Yêu nước?

Tôi đã được dạy về tinh thần yêu nước không khuất phục của con người VN. Nhưng khi cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra chống đối TQ liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, họ bị đàn áp và bắt giữ. Mẹ tôi cũng đã bị bắt vì biểu tình chống TQ. Chỉ vì yêu nước.

Những công an bắt giữ mẹ tôi và những người khác nói rằng mẹ tôi bị bắt vì lý do tụ tập không xin phép (không dùng từ “biểu tình”), nhưng không nói được muốn tụ tập phải xin phép ở đâu. Và từ sau đó họ bắt đầu chú ý đến gia đình tôi. Họ đọc mail, họ nghe điện thoại, họ theo dõi.

Khi mẹ tôi bắt đầu viết blog, tình hình trở nên khác đi. Đôi khi công an đến nhà tôi và hỏi về giấy tờ và hộ khẩu, một cách bất thường. Và đôi khi công an gọi mẹ tôi thuyết phục, bảo biểu tình như thế là ảnh hưởng đến an ninh, đến quan hệ ngoại giao của VN và TQ. Một người công an khi ở quán cà phê cũng nói thẳng, thật ra những gì mẹ tôi viết là không có gì sai, nhưng không nên viết trên blog như thế cho người khác thấy, nếu bức xúc mẹ tôi có thể viết nhật ký.

Tình hình không đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến việc học của tôi. Tôi vẫn được đến trường như bình thường và cũng không ai xuất hiện để dạy dỗ và gây khó dễ. Tôi cũng không nghĩ họ có nói gì với các giáo viên hoặc nhân viên trong trường.

Nhưng mẹ tôi không thể tiếp tục làm việc. Công việc đang làm dở bị ngưng nửa chừng, không một lý do rõ ràng, chỉ vài lời giải thích nhập nhằng mơ hồ khoả lấp. Có giai đoạn mẹ tôi hoàn toàn không có việc làm, và nợ càng lúc càng dồn. Mỗi khi mẹ tôi đến nơi làm mới, họ đều đến nói đôi lời với tổng giám đốc để dặn dò.

Có lẽ người khác sẽ không tin và cho rằng đó là điều dối trá. Trong xã hội VN, người ta có câu “Một điều dối trá nói trăm lần, ngàn lần sẽ trở thành sự thật.” Những điều nhà nước bắt ta phải tin, dần dần ta tin không cần đắn đo suy nghĩ để kiểm chứng mức độ xác thực. Ta tin vì ta đang sống trong xã hội này, ta tin vì ta đang ở dưới chế độ này. Ta tin để tiếp tục sống. Còn nhiều điều khó tin rút cuộc lại là sự thật. Những điều tôi vừa kể, nếu được nghe từ ai đó xa lạ, có lẽ tôi sẽ không bao giờ tin. Nhưng vì đó là những chuyện đang thực sự xảy ra và tôi đã tận mắt có mặt, chứng kiến và trải qua.

Tôi cũng đã thấy họ bôi nhọ danh dự mẹ tôi cùng những người khác bất đồng chính kiến bằng những lời bôi xấu trước báo chí hoặc trên chính báo chí. Tôi đã được học trong chính nền giáo dục VN về xã hội phong kiến khi người phụ nữ không được nói lên suy nghĩ của mình, không được đặt câu hỏi thắc mắc và phản kháng. Nhưng ngày nay rút cuộc trong chính xã hội hiện tại, không chỉ phụ nữ mà tất cả mọi người nói chung không được phép tự do nói lên cách nghĩ của họ, không được phản kháng và biểu tình chống đối.

Nhìn ra ngoài

Bây giờ tôi đang sống trong một nước khác và thời gian vừa qua may mắn tôi đã có cơ hội đến thăm một số nước tại Châu Âu. Tôi đã nhìn, đã thấy, đã quan sát và so sánh.

Tôi thấy họ tôn trọng mạng sống, tôn trọng dân họ. Tại Na Uy, người thất nghiệp không thể tìm việc làm, dân tỵ nạn, người điên, chậm phát triển, tàn tật, người già… đều được nhà nước cấp tiền nuôi. Có những trường hợp người bệnh, nhà nước bỏ tiền đưa người mẹ từ nước khác sang săn sóc con. Họ cấp tiền cho người tâm thần mua rượu và thuốc lá, nghe có lẽ hơi kỳ lạ, nhưng theo cách họ nghĩ, đó là nhu cầu bình thường của người tâm thần. Tôi đã từng cười việc họ thổi phồng, viết báo và phỏng vấn con gái một người đàn ông bị tù 3 ngày trong Thế chiến thứ 2, nhưng rút cuộc nó chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân: họ tôn trọng dân họ, từng cá nhân trong đất nước họ, và số lượng người chết quá ít.

Tại một nước Bắc Âu, một lần một thị trưởng phải đứng lên xin lỗi nhân dân trong thành phố vì một con đập mở ra và đóng lại đều đặn mỗi ngày, một lần sớm hoặc trễ vài phút chẹt chết một con thiên nga, ảnh hưởng đến sinh thái.

Tại Pháp, mỗi khi giá cả xuống thấp, nông dân đi biểu tình và nhà nước đền bù một số tiền nhất định cho họ.

Tại Đức, một lần các ôtô đều được thông báo về việc có trẻ con trên tuyến đường dành riêng cho xe ôtô chạy tốc độ cao, đây là một cậu bé 9 tuổi trễ xe buýt quyết định tự đi bộ đến trường, sau vài phút xe cảnh sát đến và đưa thẳng cậu bé đến trường học.

Tại VN. Cháy nhà. Sập nhà khi vừa thi công công trình. Lũ và dự báo thời tiết sai. Sập cầu. Cây đổ. Dây điện rớt. “Lô cốt” chắn đường. Tai nạn giao thông. Ung thư vì thức ăn kém vệ sinh và môi trường ô nhiễm. Vướng vào cột điện và ngắt điện quá trễ… Người ta có thể chết vì hàng trăm hàng nghìn cách khác nhau.

Nói sự thật

Ở đây tôi không muốn chê bai chỉ trích đất nước tôi và vọng ngoại tâng bốc nước ngoài. Đơn thuần tôi chỉ nói lên sự thật. Nói lên những gì tôi đã nhìn thấy, đã quan sát tận mắt.

Và tôi tự hỏi, một nhà nước có tốt không khi mạng người xem như cỏ rác, bao nhiêu người chết họ không quan tâm, đôi khi vì số lượng quá lớn họ phải đứng ra nói vài lời sáo rỗng cho qua và đền bù vài triệu cho xong? Một nhà nước có tốt không khi họ đàn áp từ công nhân đến nông dân, từ Công giáo sang Phật giáo? Một nhà nước có tốt không khi họ phải theo dõi, bôi xấu, vu khống, chặn đường kinh tế, đàn áp và bắt giữ những người bất đồng chính kiến ?

Tôi đã đi, đã gặp và trò chuyện với rất nhiều người Việt ở Đông Âu, và họ đều chỉ muốn về chơi chứ không muốn về sống. Và rất nhiều người VN tôi biết không muốn trở về.

Nói thẳng thắn, tôi cũng không muốn về. Tôi không về được và cũng không muốn về. Đó không phải là không yêu nước. Đó không phải là không muốn góp phần xây dựng đất nước. Mỗi người chúng ta đều muốn làm gì đó cho đất nước, nhưng rút cuộc công sức sẽ chỉ tan thành tro bụi và đổ sông đổ biển vì bạn có thể xây dựng được gì trong xã hội một thằng xây 9 thằng phá này?

Đây không phải là xã hội chủ nghĩa như cái họ đang rao giảng nhồi nhét tuyên truyền cho mọi người, khi có những người làm việc cực khổ, nợ nần chất đống đến độ phải tìm những công ty môi giới tìm cách sang các nước Đông Âu làm việc cho nhà máy (tôi đã gặp họ). Trong khi có những người có thể bay một chuyến từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ để ngủ một đêm để đổi không khí, có những người đồng hồ 800 đô mỗi tuần thay một cái và đến sinh nhật tặng bạn bè mỗi đứa một cái.

Và tôi tự hỏi. Tại sao chúng ta lại phải cam chịu chấp nhận? Tại sao chúng ta không thể lên tiếng phản đối? Tại sao chúng ta không thể đứng lên đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn? Tại sao chúng ta không làm gì đó cho đất nước, thay vì chịu đựng hoặc bỏ sang nước ngoài và không cần quan tâm đến VN nữa?

Tại Ba Lan công nhân đình công và thổi bùng cách mạng với sự dẫn dắt của Giáo Hoàng. Quân cờ domino đổ đầu tiên dẫn đến hàng loạt các quân cờ khác đổ một loạt tại các nước Đông Âu. Người dân biểu tình hoà bình vì nhân quyền và tự do dân chủ, và người lính hạ súng từ chối bắn vào nhân dân họ. Tại Đức, khao khát tự do người ta tìm cách vượt qua bức tường từ Đông sang Tây (như dân VN trước đây hàng loạt kéo nhau vượt biên gây chấn động Thế Giới) dẫn đến kết quả cuối cùng là giật đổ cả bức tường.

Họ đã đứng lên. Nổi dậy. Phản kháng. Cất lên tiếng nói và đòi hỏi cho tự do dân chủ.

Nhưng liệu nhân dân VN sẽ tranh đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn hay tiếp tục cam chịu những mục ruỗng thối nát của chế độ với quan niệm đánh đồng yêu quê hương Tổ quốc và yêu nhà nước và suy nghĩ an ủi xã hội đang dần dần phát triển?

Nhà nước này và những người tự nhận mình yêu nước hơn người khác chỉ vì bênh vực Đảng và chế độ luôn tìm ra cách giải thích và biện minh cho mọi sự kiện và vấn đề, nhưng tại sao thay vì tìm cớ, tìm cách giải thích khoả lấp cho qua chuyện, chúng ta không tìm giải pháp và làm gì đó để cải thiện những mặt không tốt ấy?

Tại sao thay vì chờ đợi cho một điều không bao giờ đến - sự can thiệp của một nước khác, chúng ta không tự quyết định cho số phận của chính mình?

Tại sao thay vì cam chịu sống cùng những mục ruỗng lũng đoạn của xã hội và những lời giải thích khập khiễng, chúng ta không đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn?

Những điều tôi đã nói, các bạn không tin và hỏi tôi bằng chứng thuyết phục đâu, thế các bạn đã bao giờ thắc mắc và nghi vấn về những điều các bạn đã được dạy dỗ bao lâu nay chưa?

Các bạn có bao giờ nghi ngờ tính xác thực của những điều ấy hay trong quan niệm của bạn, nhà nước không thể tuyên truyền áp đặt dối trá cho dân chúng? Và rằng bạn sống trong đất nước này, các bạn cần phải đặt lòng tin tuyệt đối vào nhà nước này và bạn tin (hoặc thuyết phục bản thân phải tin) rằng ban lãnh đạo đều đang cố gắng hết sức mình để làm những điều tốt đẹp nhất cho xã hội Việt Nam.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

CUỘC ĐỜI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI

"Đời tôi là một chuyến đi, đi tìm hạnh phúc vô biên".

Có lẽ mỗi người chúng ta cũng có cảm tưởng như bài ca ở trên: cảm thấy đời mình là một chuyến đi. Đi từ ngày này sang ngày khác, đi từ khát vọng này sang khát vọng khác. Chẳng lúc nào chúng ta không ước mơ, và không điều gì làm chúng ta thỏa mãn hoàn toàn. Trong những ước muốn nhỏ to đó, chúng ta đi tìm một hạnh phúc vô biên, ban đầu chúng ta không hiểu là Thiên Chúa. Như thế dù muốn hay không, suốt đời chúng ta đi tìm Thiên Chúa. Chúng ta có thể tìm Thiên Chúa bằng nhiều cách: Có người đi tìm Thiên Chúa qua việc đọc kinh, xưng tội, rước lễ, suy gẫm và nhiều cách khác nữa, nhưng thử hỏi họ đã gặp được Thiên Chúa chưa? Không phải một vị Thiên Chúa xa lạ mơ hồ, nhưng là một Thiên Chúa thân mật sống động, một Thiên Chúa tình yêu. Thử hỏi có cách nào tốt nhất để gặp được Thiên Chúa hay không? Để giải đáp cho câu hỏi này chúng ta thử nhìn lên ảnh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên đồi Golgotha, nơi đó ta có thể nhìn thấy nhiều hạng người đến nhìn xem Chúa, nhưng họ không gặp được Ngài.

Hạng người thứ nhất đã không gặp được Chúa là những kẻ qua đường. Phúc Âm ghi lại rằng: "Có những kẻ qua đường thấy Chúa bị đóng đinh thì cười chê và nói: ông này có tiếng hay làm phép lạ, ông bảo: hãy phá đền thờ đi, và ông sẽ xây lại trong ba ngày, sao lúc này ông không tự cứu mình đi. Nghe thế Đức Giêsu làm thinh không trả lời gì và những kẻ qua đường chỉ nhìn thấy Chúa như là một kẻ đáng khinh, họ không nhận ra Ngài là một Thiên Chúa". Tại sao vậy? Thưa vì họ nhẫn tâm. Gặp một người đang đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần mà họ không biết xót thương lại còn nỡ lòng chế nhạo. Thái độ nhẫn tâm này cản trở họ gặp được Thiên Chúa.

Hạng người thứ hai không gặp được Chúa là những tư tế và luật sĩ. Theo Phúc Âm, thì các trưởng tế và luật sĩ đã thách thức rằng: "Nếu ông là vua Israel thì hãy xuống khỏi thập giá đi rồi chúng ta sẽ tin". Những người này đã không gặp được Chúa vì họ có ác tâm.

Và hạng người thứ ba không gặp được Chúa là những binh lính Roma thi hành án lệnh giết Chúa. Họ nhìn thấy Chúa như một tử tội và không gặp được Ngài như một vị Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế, vì họ có dã tâm. Đành rằng họ phải hành động theo lệnh của thượng cấp, nhưng họ đã đi quá giới hạn của mình. Không ai buộc họ phải khích bác Chúa, nhưng họ đã làm như thế vì mị dân và dã tâm. Thái độ này đã cản trở họ gặp Chúa.

Hạng người thứ tư đã không gặp được Chúa đó là người trộm bên tay tả Chúa Giêsu. Anh ta đã nói khích Chúa rằng: "Nếu ông là con Thiên Chúa thì hãy cứu mình đi và cứu tôi với". Anh ta đã không gặp được Chúa vì anh ta có lòng tiểu tâm, ích kỷ.

Có một người đã gặp được Chúa, đó là anh trộm bị đóng đinh phía bên tay hữu Chúa Giêsu. Bí quyết giúp anh gặp được Chúa là chính tâm hồn biết thương người. Anh thấy bên cạnh mình có một người bị kết án oan nên lên tiếng bênh vực, cả khi đám đông gần đó hò reo lên án. Anh dám nói trong khi không một ai, dù các người thân tình nhất của Chúa cũng không dám hé môi nói nửa lời an ủi Chúa. Thấy anh có lòng thương người như vậy, Chúa Giêsu liền ban ơn và đáp lại rằng: "Hôm nay anh sẽ về Thiên đàng với Ta". Thế là anh trộm lành đã gặp được Chúa.

Mùa chay mời gọi mọi người trở về với Thiên Chúa, trở về với chính cõi lòng thâm sâu của mình. Hãy nhìn lại thái độ sống của mình trong những tháng ngày qua, mình là ai trong bốn hạng người trên? Có thể xưa nay ta cũng đã thoải mái sống như họ? Nghĩa là nhìn thấy Chúa bên cạnh nhưng không gặp được Ngài. Mỗi khi ta đối xử tệ bạc với người khác, đó là lúc ta đối xử tệ bạc với Chúa, đó là lý do tại sao ta không gặp được Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết thương người, vì đó là con đường dẫn chúng con đến gặp Chúa. Chúa đang chờ đợi chúng con đằng sau những con người đau khổ. Xin giúp chúng con yêu thương họ và gặp được Chúa nơi họ. Amen!

Ngọc Nga (Sưu Tầm)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Phong Cách Hà-Nội

Huy Phương
Thời niên thiếu, đối với tôi, Huế vẫn đẹp và đầy chất thơ nhưng quả thật Hà Nội vẫn là một thành phố trong mơ ước. Ðó là thành phố của đường Cổ Ngư, đê Yên Phụ, hồ Hoàn Kiếm, ba mươi sáu phố phường với Hàng Bông, Hàng Bạc, Hàng Ðào...trong thế giới của Tự Lực Văn Ðoàn.
Những thiếu nữ Hà-Nội với“...áo lụa ngà óng ả, thoáng khăn san nũng-nịu với heo may” trong thơ Hoàng Anh Tuấn của một thời Hà-Nội thanh lịch, một Hà Nội đẫm chất mùi hoàng lan hay hương cốm mới.
Những danh từ “sĩ phu Bắc Hà”, “Hà Nội nghìn năm văn vật” cũng như những địa danh, nhân vật trong tác phẩm của Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng luôn còn ám ảnh hồn Tôi.

Tháng Bảy năm 1954 khi chia cắt đất nước, Tôi biết rằng khó có thể gặp lại Hà-Nội của ngày Xưa trong thế-giới đầy tưởng-tượng của Tôi, những lời hát xót xa khi người ta mất Hà-Nội như 21 năm sau, Chúng Ta đã mất Sài Gòn.
Những lời hát như những tiếng kêu thảng thốt “Hà-Nội ơi, tóc thề thả gió lê thê, biết đâu ngày ấy anh về” của Hoàng Dương đã làm cho một người tuổi mười bảy, chưa một lần đặt chân đến Hà Nội cũng rơm rớm nước mắt.
Rồi Chúng Ta mất Sài Gòn, mất Huế, những thành phố cũ chỉ còn là những tiếng kêu: “Sài Gòn ơi! Vĩnh Biệt!” hay “Huế của Tôi ơi!” Cũng như Tôi đã từng than khóc “Huế không còn người cũ, chỉ còn cảnh xưa xót xa hoang tàn và vô hồn” (Huế ơi!) thì có khác chi, Hà Nội bây giờ cũng vậy.

Người ta nói:Hà Nội không còn người Xưa thanh-lịch, mà bây giờ chỉ còn là những người “Hà...Lội” và cán bộ khu IV ra cai trị để biến Hà-Nội “văn vật” ngày Xưa thành Hà-Nội của “đỉnh cao trí tuệ” ngày nay.
Năm 54, nhiều người đã ra đi, nhiều người đã bị đày lên miền thâm sơn cùng cốc để cuối cùng bị đồng hóa với các dân tộc thiểu số, những người Hà-Nội còn lại đã bị biến chất hay tình nguyện biến chất để phù hợp với Con Người mới của chế độ mới để có thể sống còn.

Phong cách Hà-Nội thể hiện từ cách đi đứng, lối ăn mặc đến tiếng chửi. Nét đặc-trưng của Hà-Nội bây giờ cái nón cối của người qua lại trên đường, bộ đội hay không bộ đội, người dân đói khổ vẫn còn phải dùng đến đôi dép và chiếc nón của một thời thắt lưng buộc bụng. Hà-Nội bây giờ với những lối kiến trúc lố nhố, lênh khênh Tây pha Tàu, nửa Thái Lan nửa Ðại Hàn.

Hà Nội có những quán phở “tự bưng.” Khách vào ăn xếp hàng trước xe phở cũng là cái bếp trước cửa tiệm, Bạn đọc tên thứ phở muốn ăn, trả tiền trước tại chỗ. Phở được múc ra và bạn đỡ lấy (coi chừng nóng hay đổ ra ngoài), xong tự đi kiếm lấy một chỗ ngồi trong tiệm,tự đi tìm đũa muỗng, chanh ớt và ăn cho nhanh vì người khác còn phải bưng tô phở nóng đứng chờ chỗ ngồi.

Ðiều cần thiết là phải trả tiền trước, nếu không sẽ xẩy ra những vụăn “phở chạy.” Hàng quán lòng lề đường lềnh khênh là phong cách mới củaHà-Nội, toàn dân đều phải kiếm sống. Chè (nước trà) và thuốc lào có ở khắp nơi, món căn bản có từ thời chiến tranh, nhưng chớ có dại mà ngồi chồm hổm ở ghế này lại chồm qua quán kia mua một điếu thuốc hay đĩa bánh cuốn, sẽ bị bà chủ quán chửi thẳng mặt.

Báo chí trong nước đã nói đến những hàng “phở quát,” “cơm chửi,” nhưng chuyện này không hề vi phạm pháp luật và chẳng liên quan gì đến khu phố văn-hóa.
Nỗi buồn của Tôi hôm nay là phong cách Hà Nội bắt đầu lan ra quốc ngoại theo chân lớp người có tiền của, tìm nơi làm ăn gây dựng cơ sở, “củng cố đời con” với những số vốn đầu tư mới nghe qua đã chóng mặt.
Tôi vào một tiệm phở Hà-Nội ở Mỹ, bát phở bưng ra chưa vắt chanh mà đã đủ chua vì giọng nói Hà-Nội của Cô chủ nhà hàng nghe quen quen, hình như Tôi đã nghe đâu đó nhiều lần qua các loa phóng thanh ở Việt Bắc hay Huế sau ngày tàn cuộc chiến khoảng chừng mười năm. Trên vách các tiệm ăn, tiệm cà phê bây giờ đầy những tranh ảnh gái đẹp Hà-Nội đứng ngồi, nghiêng ngửa, áo hoa hay yếm đào, quả là con gái Việt Nam thời mở cửa, chân dài, mắt ướt, vai trần, đã làm mê mệt những khách “Việt kiều”, những Tây Ba Lô.

Phong cách Hà-Nội bây giờ có “phở đâm”, một món phở nghe khá lạ tai, thì ra cũng một lối “tái băm” ở Little Saigon. Thịt bò ngày trước là bò cầy của hợp tác xã, về già, mất sức lao động phải đem ra xẻ thịt, thịt dai như dây chão, phải băm, đâm ra cho mềm mới nuốt được. Lâu lắm, ở Mỹ, bò Úc, bò Mỹ không nghe ai nói đến đâm chém gì cả, bây giờ chúng ta mới có thứ bò đâm, bò băm nhập cảng theo phong trào du sinh đến Mỹ.

Lúc tính tiền cho Tôi tại quầy, Tôi nghe Cô vừa lẩm nhẩm vừa bấm trên máy tính: “hành giấm hai đồng, nước trà một đồng...”
Lúc lấy order, bốn người khách Chúng Tôi, ba đã uống cà phê, còn một uống trà, nhà hàng bưng ra một bình trà và bốn cái tách, cứ mỗi cái tách là 25 cents. Sau Tháng Tư 1975, Tôi nghe chuyện vào nhà hàng ăn xong, gọi nước trà phải trả tiền đã lấy làm lạ.
Ngày Xưa, chúng ta đã từng ngồi ở mấy cái quán cóc, theo truyền thống Nam bộ, khách có khi chỉ uống một ly cà phê, ngồi tán dóc suốt buổi, chủ quán vẫn vui vẻ châm trà đều đều mà không hề tỏ ra một cử chỉ muốn đuổi ma khách, mà hồi đó cũng không thấy khách để lại đồng tiền “tip” nào. Rồi cái kiểu, giá trụng, hành trần, nước béo, ngò gai...như lối ăn tiểu tư sản của vài người Bạn Tôi, chắc cái bill tính tiền phải dài ra thêm mấy dòng nữa.

Tôi trách Cô chủ nhà hàng khôn mà không khéo, giá như Cô tăng tô phở lên 50 xu mỗi tô để tính vào cái món thất thu như hành giấm, nước trà, thì Chúng Tôi ăn bát phở mà cảm thấy vui, còn có chút cảm tình.

Ðây cũng là lối làm ăn của các hãng hàng không nội địa nước Mỹ bây giờ, giá vé có đắt thêm mười đồng, hành khách cũng không quan tâm, chứ mỗi chuyến bay đường đài, chỉ có mỗi ly nước, một bao đậu phụng, còn những thứ khác phải bỏ tiền ra mua.
Ðó là chưa nói đến chuyện nếu khách đi, người bới theo nắm xôi, kẻ lôi trong túi ra chiếc bánh mì kẹp thì quang cảnh trên máy bay trông chẳng đẹp mắt tí nào.

Ở hãng máy bay, người điều học hành có bằng cấp, biết điều khôn ngoan, lợi hại, Mình chỉ là khách qua đường, phát biểu theo cảm tính nhiều khi không đúng với nghề buôn bán. Nhưng đó là Mỹ, còn theo truyền thống Việt Nam, đãi khách một tách trà, loại trà dỏm rẻ tiền trong các quán phở, đâu có đáng là bao. Có ai đi tìm hương vị của một tách trà thơm trong
một quán ăn ồn ào đầy thực khách như những quán phở. Ðó chính là lối đãi khách được nhập cảng từ Hà-Nội.

Lối Văn Hóa đánh nhau ngoài đường không ai can, thấy đám ma đi ngang không ai ngả nón chào, không phải miếng trầu mà câu chửi là đầu câu chuyện, tuổi trẻ lớn lên chỉ biết chạy theo tiền, danh giá nhân cách không ai buồn nói đến, thứ Văn Hóa “vô cảm” khiến người Hà-Nội ngày Xưa trở về phải đau lòng. Những năm sau Tháng Năm 1975, nhà cầm quyền đã nông thôn hóa được thành thị, đã Hà-Nội hóa được Sài-Gòn, bây giờ phong cách Hà-Nội đang lan dần ra hải ngoại bằng con đường buôn bán, làm ăn.

Chúng ta thường nghe tỵ nạn chính trị, tỵ nạn kinh tế nhưng một người bạn trẻ của Tôi lại có ý nghĩ muốn đem con ra khỏi đất nước để tỵ nạnVăn Hóa. Quả là lần đầu tiên Tôi nghe đến loại tỵ nạn này.

Huy Phương
Hà-Nội về đêm ngày 11 Tháng Năm, 2009.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Huyền Thoại Kim Ngân Hoa

Linh Bảo chuyển ngữ
Truyện kể rằng ngày xưa, rất xưa ở một làng hẻo lánh gần rừng núi có hai vợ chồng nông phu rất phúc hậu. Họ sống nghèo nàn nhưng rất thương yêu quí mến nhau. Và dù phải làm lụng vất vả để sinh sống họ vẫn thấy tràn đầy hạnh phúc.

Nỗi khổ tâm duy nhất là tuy kết hôn đã lâu năm vẫn chưa có con. Hai người ngày đêm cầu nguyện cũng như tìm thầy xin thuốc khắp nơi để mong được hoài thai.

Không biết lời cầu nguyện của vợ chồng nông phu được đáp ứng, hay uống thuốc hữu hiệu, một năm sau sinh đôi được hai gái. Dù sao họ tin tưởng là Trời Phật đã cảm lòng thành nên sung sướng vô cùng, đặt tên cô chị là Kim Hoa, và cô em là Ngân Hoa.

Kim Ngân Hoa được cha mẹ cưng chiều, nhưng rất ngoan và khỏe mạnh quanh năm không hề có bệnh tật gì.

Ngày tháng trôi qua, hai cô càng lớn càng xinh đẹp, làng trên xóm dưới đều nghe danh tiếng. Suốt ngày mối mai tấp nập.

Những người giàu sang quyền quí cũng như bạn bè thân sơ của cha mẹ Kim Ngân Hoa đều muốn cưới một trong hai cô về làm con dâu nhà mình. Vợ chồng nông phu thương con nên không theo phong tục cổ gả chồng sớm cho con. Hai cô càng lớn càng xinh đẹp và càng nhất quyết không sống rời xa nhau, nên cũng từ chối tất cả những lời cầu hôn.

Đến năm 16 tuổi, một hôm khí trời sang thu lạnh, Kim Hoa bỗng sinh bệnh. Ban đầu cô cảm thấy đầu nặng chân nhẹ, toàn thân rất đau đớn khó chịu. Ban ngày tuy nói cười được nhưng ban đêm thì lên cơn sốt nóng như lửa đốt. Miệng và lưỡi đều khô bỏng nức nở, cả thân mình hiện đầy chấm mụn đỏ lở loét.

Vợ chồng nông phu kinh hoảng lo lắng, đón mời thầy thuốc đến thăm bệnh. Thầy nào thăm xong cũng chỉ nhìn, cho vài vị thuốc cầm chừng lắc đầu bảo bệnh nặng quá, chỉ còn nhờ Trời.

Kim Hoa uống thuốc gì cũng không bớt, trái lại bệnh càng nặng thêm. Ngân Hoa săn sóc chị ngày đêm không rời.
Kim Hoa bảo em tránh xa mình vì thầy lang bảo bệnh này sẽ bị truyền nhiễm. Ngân Hoa quyết tâm ở lại cạnh chị săn sóc, chỉ tiếc rằng không thay được chị chia sẻ bớt đau khổ. Kim Hoa nhất định đuổi em ra khỏi phòng bệnh, bảo em phải sống để phụng dưỡng cha mẹ già. Ngân Hoa vẫn không vâng lời, ở lại săn sóc chị và nhắc chị lời thề “Sống cùng giường, chết cùng mồ”, mà hai chị em đã hứa với nhau.

Chỉ mấy hôm sau Ngân Hoa bị lây bệnh và cùng chị nói lời trối cuối cùng với bố mẹ: “Chúng con chết rồi nhất định sẽ biến thành một thứ dược thảo, để cứu sống những người mắc bệnh đậu mùa. Chúng con xin bố mẹ tha tội chúng con đi trước, chúng con sẽ đợi bố mẹ ở thế giới bên kia, và xin cảm đội công ơn bố mẹ nuôi dưỡng.”

Vợ chồng nông phu trong sự đau đớn cùng cực, chôn hai con gái chung một mồ để hai cô giữ trọn lời nguyền.

Cách ít lâu, từ trong mộ của Kim Hoa và Ngân Hoa mọc ra một thứ cây leo. Chỉ vài tháng sau, cây trưởng thành, lá màu lục đậm rất sum suê. Đến mùa hạ, cây nở ra thứ hoa đối chiếu nhau màu vàng và màu trắng sóng đôi.

Hoa rất xinh đẹp, rất hòa hợp nở từ cạnh của cành dây leo, và cũng rất dễ bị tổn thương vì hoa quá mong manh.

Người làng đến thăm mộ Kim Ngân Hoa để xem giống hoa lạ, và mách miệng nhau lời thề nguyện của hai chị em: “Chết rồi sẽ biến thành một thứ dược thảo để cứu người” nên đặt tên hoa ấy là Kim Ngân Hoa.

Dược Thảo Kim Ngân Hoa

Dược thảo Kim Ngân Hoa cũng có tên Nhẫn Đông vì chịu được khí lạnh của mùa đông. Hoa hái lúc mới chớm nở từ tháng 3 đến tháng 6. Lá hái quanh năm. Phơi hoặc sấy khô để dành pha thay trà uống chống dị ứng, thanh nhiệt, giải độc. Có tác dụng kháng khuẩn,chữa mụn nhọt, lỡ ngứa, ban sởi, đậu mùa, rôm sảy, thấp khớp, viêm mũi dị ứng, thấp khớp .

Theo Trung y, Kim Ngân vị ngọt, tính hàn, không độc, đi vào 4 kinh Phế, Vị, Tâm và Tỳ.

Dùng chữa bệnh ngày từ 4 đến 8g hoa, hoặc 10 đến 20g cành có lá, dùng như cách sắc thuốc , cao thuốc hoặc ngâm rượu .

Kim Ngân Hoa tươi hay khô, hoa hay lá đều có thể dùng như trà .

Cháo Kim Ngân Hoa dùng khi muốn thanh nhiệt, giải độc .

Cháo trắng nấu riêng . Kim Ngân Hoa nấu riêng . Khi ăn, hâm cháo sôi lên, pha thêm trà Kim Ngân Hoa đã nầu riêng vào cháo . Ăn ngọt mặn tùy thích .
Những người Tỳ Vị hư hàn, không có nhiệt độc không nên dùng.

Cho đến bây giờ, không biết đã qua bao nhiêu trăm năm, vào khoảng tháng 5, tháng 6 lúc Kim Ngân Hoa hàm tiếu, thơm ngát cả một vùng trời, những bà mẹ quê lại kể huyền thoạI Kim Ngân Hoa cho các con nghe, để học tính chất một dược thảo và cũng để nhắc nhỡ các con là tình chị em sâu đậm đến chết không phai

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

ĂN CHAY

Chuyện phiếm của Gã Siêu

Ăn chay là một trong số những việc làm đạo đức quan trọng mà hầu như tôn giáo nào cũng thực hiện. Tuy nhiên, cách thức giữ chay lại khác biệt tuỳ theo chủ trương của mỗi tôn giáo.

Chẳng hạn theo Phật giáo, ăn chay là ăn và uống những thứ có nguồn gốc từ thực vật, không được ăn thịt cá hay những thứ có nguồn gốc từ động vật vì liên quan đến việc sát sinh.

Thực vậy, với quan niệm về luân hồi, sau khi chết, tuỳ theo công phúc mình đã làm khi còn sống, mà được đầu thai làm kiếp loài vật hay loài người, cho tới khi được lên cõi Niết Bàn.

Thời gian ăn chay được gọi là trai kỳ, nhiều hay ít tuỳ theo lòng mộ mến của mỗi người:

* Nhị trai là ăn chay 2 ngày mỗi tháng: Mùng 1 và 15 âm lịch.

* Tứ trai là ăn chay 4 ngày mỗi tháng: Mùng 1,14,15 và 30, nếu tháng thiếu, thì lấy ngày 29.

* Lục trai là ăn chay 6 ngày mỗi tháng: Mùng 1,8,14,15,23 và 30, nếu tháng thiếu thì lấy ngày 29.

* Thập trai là ăn chay 10 ngày mỗi tháng: Mùng 1,8,14,15,18, 23,24,28, 29 và 30, nếu tháng thiếu thì lấy các ngày 27.28. và 29.

* Nhất nguyệt trai là ăn chay suốt một tháng.

* Tam nguyệt trai là ăn chay suốt ba tháng.

* Ăn chay trường là ăn chay suốt cả đời.

Phật tử được khuyến khích ăn chay vào những ngày 1,14,15 và 30 vì đó là những ngày mở cửa âm và các linh hồn được tự do!

Đối với Hồi giáo, thì có tháng “Ramadan”. Tháng này được bắt đầu một cách thống nhất, từ ngày 13.9 cho toàn thể cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới. Nhiều người thường gọi một cách đơn giản tháng Ramadan là “tháng nhịn ăn”, hoặc “tháng ăn chay”, nhưng cả hai cách gọi đều không chính xác cho lắm, bởi vì các tín đồ Hồi giáo thực sự không ăn chay và cũng không nhịn ăn, bởi vì nếu nhịn ăn suốt cả một tháng, thì e rằng khó mà sống nổi.

Trong tháng này, tất cả các tín đồ Hồi giáo đều thực hiện nghiêm túc qui định: Không ăn, không uống, không hút…nghĩa là không được đưa bất cứ thứ gì vào miệng. Tuy nhiên, qui định này chỉ được áp dụng vào ban ngày, cụ thể là từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn mà thôi. Ngoài ra, luật cũng qui định: những người đau ốm, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi…đều được miễn trừ, không phải nhịn.

Việc nhịn ăn và nhịn uống như thế có mục đích tạo sự thông cảm với những người nghèo đói, đồng thời tập luyện sự tiết chế, chống lại những cám dỗ về vật chất. Chúng ta thử tưởng tượng xem: Với thời tiết nóng và khô của sa mạc, thế mà suốt ngày trong cả tháng không được động đến một giọt nước, thì đó phải là một hy sinh to lớn.

Tuy nhiên khi mặt trời đã lặn và tiếng loa từ các giáo đường vang lên, người ta lại được phép tổ chức tiệc tùng và ăn uống linh đình, như kiểu xứ ta ăn tết. Theo một thống kê của Ai Cập, thì lượng thực phẩm tiêu thụ trong tháng Ramadan thường gấp 2, gấp 3 lần các tháng khác trong năm.

Rồi vào lúc 2 hay 3 giờ sáng, mỗi khu phố lại có một người mang một cái trống nhỏ, tiếng rất đanh, vừa đi vừa đánh theo nhịp ngũ liên, lại vừa hô to để đánh thức mọi người thức dậy, lo nấu nướng cho kịp ăn uống trước khi mặt trời mọc, để bắt đầu một ngày nhịn mới.

Còn bên Do Thái giáo, thì ăn chay, cầu nguyện và làm phúc bố thí là ba sinh hoạt chính trong đời sống đạo đức. Người Do Thái có một cuộc “đại chay”, nhân ngày lễ xá tội. Đây là một việc bắt buộc mang tính cách cá nhân đối với mọi thành phần Dân Chúa. Đồng thời họ cũng có những cuộc chay tịnh khác mang tính cách tập thể, chẳng hạn vào các ngày quốc hận. Ngoài ra, những người đạo đức còn ăn chay vì lòng sốt sắng, như các môn đệ của Gioan Tẩy giả và những người Biệt Phái, họ thường ăn chay mỗi tuần hai lần.

Sau cùng là Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng. Ăn chay là rèn luyện cho bản thân cách thức chống lại những ham muốn xác thịt và tỏ lòng sám hối ăn năn, quay trở về cùng Thiên Chúa. Người Công giáo phân biệt giữa “ăn chay” và “kiêng thịt”, nhưng trong thực tế hai việc này lại thường đi đôi với nhau.

Ăn chay là giới hạn phần lương thực được tiếp nhận vào cơ thể. Chỉ được ăn một bữa no và hai bữa đói mà thôi. Còn kiêng thịt là không được ăn thịt những động vật máu nóng như heo, bò, gà…nhưng lại được phép ăn cá, tôm, cua, ếch và các thứ hải sản vì chúng thuộc vào loại máu lạnh! Tuy nhiên trứng, sữa và những chế phẩm từ thịt có máu nóng, đều không phải kiêng.

Giáo Hội luôn đề cao tinh thần của việc ăn chay, đôi khi ăn ít hơn hay ăn đạm bạc hơn bình thường cũng được cho là một hình thức ăn chay. Đồng thời Giáo Hội khuyến khích nên dùng số tiền do việc hy sinh ăn uống này, để giúp cho những người nghèo túng.

Những người đạo đức sốt sắng có thể ăn chay ngày thứ sáu trong tuần và 40 ngày trong suốt cả mùa chay. Tuy nhiên hiện nay, chỉ buộc phải giữ hai ngày, đó là thứ tư Lễ tro và thứ sáu Tuần Thánh mà thôi. Mặc dầu mỗi năm chỉ có hai ngày ăn chay, thế nhưng người ta lại hay bị “cám dỗ” để rồi mất chay, hay mất ý nghĩa của ngày ăn chay.

Đúng thế, bên Tây phương, người ta thường cử hành lễ hội “Mardi gras”, tức là “Thứ ba béo”, ngày cuối cùng trước khi bước vào mùa chay. Trong ngày này, người ta tổ chức tiệc tùng linh đình, ăn uống cho thật đã, để bù lỗ cho bốn mươi ngày khắc khổ sắp tới. Người ta múa hát tưng bừng, nhảy nhót cho thật xả láng, để bù lỗ cho cái bầu khí ảm đạm của mùa chay. Có những nước đã tổ chức lễ hội này thật hoành tráng, chẳng hạn như Brasil với những trò giả trang và vũ điệu Samba, đã thu hút được rất nhiều du khách đến tham quan.

Tất cả những tiệc tùng và nhảy múa được kết thúc vào lúc 24 giờ ngày thứ ba, để rồi sau đó người ta bước sang ngày thứ tư Lễ tro, khởi đầu cho mùa chay, với màu tím tê tái nơi tâm hồn, với khuôn mặt ủ rũ như treo cờ tang, với luật buộc ăn chay và kiêng thịt.

Còn đối với người Việt Nam, nhất là vào những năm tháng xa xưa, khi đời sống còn thấp kém. Trong bữa cơm gia đình, quanh đi quẩn lại, thì cũng chỉ có cà ghém mắm tôm, canh cua mồng tơi, hay rau muống luộc...Thỉnh thoảng lắm mới có tí cá, hay tí thịt. Thành thử, những người nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thì hầu như mỗi ngày của họ đều ăn chay và kiêng thịt, cuộc đời họ vốn dĩ đã là một mùa chay kéo dài.

Vào ban sáng, có người chỉ uống một ly cà phê, có người chỉ ăn một chút, gọi là “điểm tâm”, rồi làm việc cho đến trưa mới dùng bữa mà vẫn vui vẻ khoẻ mạnh. Thế nhưng trong ngày ăn chay, ban sáng cũng vẫn theo thói quen bình thường, thế mà mới hơn 9 giờ, đã cảm thấy đói ngấu đói nghiến. Mới nhịn nhim nhím có tí xíu, thế mà đã cảm thấy như kiến bò bụng, đói cồn đói cào.

Một khi bụng đã đói, thì mắt liền mờ tịt và tay chân bỗng bủn rủn, thậm chí con ruồi đậu vào mép cũng chẳng buồn xua. Và người lớn thường bảo:

-‘ Đó là chước mốc ma quỉ.’

Ở nông thôn, vào ngày ăn chay kiêng thịt, người ta cũng thường kiêng luôn cả việc xác, bởi vì bụng đói thì làm sao có thể kham nổi những công việc đồng áng nặng nhọc. Và thế là ngoài những lúc đến nhà thờ tham dự thánh lễ hay ngắm nguyện, các cụ có tí tuổi, thường hay tổ chức “kiệu lá”, tức là…ăn gỏi cá. Các cụ chuẩn bị cho việc kiệu lá, cho việc ăn gỏi một cách rất công phu.

Ngay từ ngày hôm trước, các cụ đã bảo con cháu đi chợ mua cá, hay kéo lưới dưới ao để bắt cá. Cá dùng để ăn gỏi thường là cá chép, cá rô, hay cá lóc…

Rồi sáng hôm ăn chay, người thì rang gạo để giã làm thính. Người thì thái cá. Thịt cá thái xong, được đặt và gói trong những tấm giấy bản để thấm nước cho thịt được khô. Người thì làm nước chấm. Nước chấm được làm bằng mẻ nấu với cá băm nhuyễn. Người thì đi kiếm rau gồm các thứ lá như: Lá mơ, lá đinh lăng, lá sung, lá tầm duộc, lá cóc…Phải chăng cũng vì thế, các cụ thường gọi ăn gỏi là “kiệu lá”. Xem ra một bữa ăn gỏi, một lần kiệu lá như vậy vừa hoành tráng, vừa tốn kém lại vừa vui vẻ hơn một đám tiệc bình thường!

Còn dân bợm nhậu, thì chỉ mong sao cho ngày ăn chay và kiêng thịt qua mau, đề rồi còn tụ lại, gầy độ và lai rai với nhau nữa chứ. Chuyện rằng: Vào tối ngày thứ tư lễ tro, mấy ông bợm nhậu cùng nhau mần thịt một con chó. Họ chờ cho đúng không giờ ngày thứ năm là bắt đầu nhậu. Họ làm như đã thật lâu không gặp nhau, đã thật lâu không được cụng ly với nhau, cũng như đã thật lâu không đụng đũa tới món cờ tây. Ngồi chờ hút thuốc lào vặt cũng sốt ruột, lợi dụng lúc mọi người lui hui dưới bếp, một anh bạn vội vặn chiếc kim đồng hồ treo trên tường, vì anh ta thầm nghĩ rằng:

- Thà một người chết cho toàn dân được nhờ, thà một kẻ chịu tội cho bè bạn được sớm lai rai.

Người ta ăn để mà sống, đó là chuyện đời thường, nhưng đời thường vốn có những cái nghịch lý của nó. Vì thế, không thiếu gì những kẻ sống để mà ăn. Họ đi tìm những khoái cảm trong việc ăn uống. Có những bữa tiệc thâu đêm suốt sáng, kéo dài từ ngày này qua ngày khác. Ăn no uống đủ nhưng vẫn chưa đã. Và thế là ‘’a-lê-hấp’’ móc cổ họng cho chó ăn chè để tiếp tục nhậu nữa. Tiệc một chưa đủ, bèn rủ nhau gầy sòng làm tiệc hai. Tăng một chưa đã, bèn mần tiếp tăng hai.

Bên cạnh những kẻ thiếu ăn, có những bàn tiệc mâm cao cỗ đầy, thức ăn thừa mứa, mà mỗi khẩu phần trị giá bằng cả một năm lao động cực nhọc của những kẻ khố rách áo ôm. Đúng là tác phong ném tiền qua cửa sổ. Thánh kinh diễn tả rất đúng về hạng người thừa tiền và rửng mỡ này, khi gọi họ là những kẻ chỉ biết lấy cái bụng của mình làm chúa, ‘’quorum deus venter est’’ !

Thượng Đế đã ban cho con người một cái miệng và như chúng ta đã biết: Công dụng của cái miệng là để ăn và nói. Rất nhiều lần chúng ta đã phải khổ sở vì những lời dèm pha đầy ác ý. Lưỡi người còn sắc hơn cả gươm giáo và độc hơn cả nọc ong. Số người chết vì cái lưỡi còn nhiều hơn vì những cuộc chiến tranh tương tàn. Lời nói có thể làm cho chúng ta bị thân bại danh liệt, tiêu tan sự nghiệp, như ca dao diễn tả:

-‘ Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo,

Miệng không vành, miệng méo tứ tung.’

Còn về cái khoản ăn cũng không kém phần nhiêu khê và rắc rối. Người ta lao động quần quật cũng để tìm kiếm của ăn đút vào miệng. Cái miệng con người đã làm cho bao súc vật bị tuyệt chủng, bao cây cối đi đến chỗ xác xơ tiêu điều… và đến núi cũng phải lở. Rồi những cuộc chiến tranh giữa người với người đã xảy ra cũng chỉ vì miếng ăn. Và miếng ăn quả là miếng nhục!

Giá như con người không phải ăn nữa thì sẽ lợi biết bao nhiêu. Lợi được thời gian. Lợi được công sức. Lợi được tiền bạc. Nhưng mà có lẽ lúc bấy giờ cuộc đời cũng sẽ buồn đi rất nhiều. Vì thế, gã vẫn cứ phải chịu khó ăn để mà sống mỗi ngày, cho dù là ăn những của đắng đót.

Gã không biết Thượng đế có bé cái lầm hay không khi trao ban cho mỗi người chúng ta một cái miệng trong khi đó lại có những hai con mắt, hai lỗ tai và hai lỗ mũi. Phải chăng Ngài muốn chúng ta nghe nhiều hơn, nhìn nhiều hơn, hít thở nhiều hơn, còn ăn và nói thì nên giảm bớt, “sì tốp” lại phần nào.

Và theo gã nghĩ đó cũng chính là sống tinh thần chay tịnh. Thực vậy, nếu hiểu sống tinh thần chay tịnh là kiêng, là nhịn, là dẹp bỏ, là chấp nhận hy sinh, thì một tác giả nào đó đã đưa ra những cách giúp chúng ta sống tinh thần chay tịnh như sau :

- Dẹp bỏ những lời nói phạm và lấp đầy cõi lòng bằng những lời cảm thông, an ủi và khích lệ.

- Dẹp bỏ những thái độ khó chịu và lấp đầy cõi lòng bằng những tâm tình biết ơn.

- Dẹp bỏ những hiềm khích và lấp đầy cõi lòng bằng sự tha thứ và kiên nhẫn.

- Dẹp bỏ thái độ bi quan và lấp đầy cõi lòng bằng niềm hy vọng và sự lạc quan.

- Dẹp bỏ những băn khoăn lo lắng và lấp đầy cõi lòng bằng niềm tin tưởng vào Chúa trong khoảng khắc hiện tại.

- Dẹp bỏ những chiếm hữu và lấp đầy cõi lòng bằng những điều đơn giản của cuộc đời.

- Dẹp bỏ những ý tưởng hời hợt và lấp đầy cõi lòng bằng những suy gẫm và những lời cầu nguyện.

- Dẹp bỏ những phê bình chỉ trích và lấp đầy lòng bạn bằng hình ảnh Đức Kitô nơi những người chung quanh.

- Dẹp bỏ tính ích kỷ và lấp đầy lòng bạn bằng tình yêu thương đối với người khác.

- Dẹp bỏ những hận thù oán ghét và lấp đầy cõi lòng bạn bằng một thái độ hoà giải.

- Dẹp bỏ thói quen nói quá nhiều và lấp đầy cõi lòng bạn bằng sự thinh lặng và lắng nghe người khác.

Sống tinh thần chay tịnh như thế, chắc chắn cuộc đời chúng ta sẽ ngập tràn bình an, yêu thương và hạnh phúc./.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Hương Ngọc Lan và Định Kiến

Đông A

Hồi bé tôi thường được nghe câu ca dao « Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ». Tôi được nghe giải thích rằng nó tượng trưng cho nếp sống người Hà Nội, thanh cao mà dịu dàng như hoa nhài. Tôi thích hoa ngọc lan hơn, dù hoa nhài cũng thơm một cách rất dễ chịu và khó quên. Tuy vậy mỗi khi nghe câu ca trên, tôi luôn cảm thấy bị dị ứng. Trước hết là vì khen lối sống của người Hà Nội, mà lại nói Tràng An, kinh đô cũ của nước Tầu: thật là vô lý. Giử thử nói câu này khen người Trung Quốc ở Tràng An lịch sự, thì dù rằng chẳng biết đúng sai, ít ra còn có thể thông cảm về mặt ngữ nghĩa. Đằng này, viết Tràng An mà lại bảo Hà Nội vì « cùng là kinh đô », thì quả là một sự nhập nhằng, thậm chí một sự nhận vơ đáng xấu hổ. Huống hồ, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, tôi thấy đây chỉ là một định kiến vì người Hà Nội không luôn thanh lịch như lời ca dao dẫn.

Nếu nói đúng, phải nói là người Hà Nội có những nét thanh lịch không thể phủ nhận, nhưng cũng còn có nhiều thứ khác, khá lủng củng và đôi khi không thể giải thích. Để dẫn chứng, mời bạn đi dạo chợ Đồng Xuân từ khu ba mươi sáu phố phường. Tôi tin bạn sẽ phải dựng tóc gáy vì văn hóa chợ búa ở đây. Mua hàng bị cân thiếu và được ăn chửi là chuyện bình thường. Mà đã lăng mạ nhau thì rất lắm khi giữa cả người bán lẫn người mua. Thời kỳ bao cấp, cứ chỗ nào có vui chơi là có ăn trộm tụ tập, nổi tiếng nhất tại Bờ Hồ và vườn hoa Giám. Ngày hôm nay Bờ Hồ đã được « giải phóng », vườn hoa Giám được quy hoạch khang trang thành khu Văn miếu, nhưng vô số tệ nạn khác lại phát sinh ở khắp nơi. Các công viên buổi đêm vẫn là những tụ điểm của xì ke, nghiện hút, những người không lương thiện. Các con đường vẫn là những nơi xả rác vô tư, và các bờ hồ buổi tối bị biến thành những « chợ tình » bất đắc dĩ. Với tôi, Hà Nội đã và luôn là nơi chất chứa của vô số các tầng văn hóa, từ vô công rồi nghề, đến chợ búa, tiểu thương, hàn lâm, học sỹ. Nó chưa bao giờ thể hiện một sự thanh lịch tinh khiết, nhưng cũng không thể vì thế mà có thể đánh đồng nó với một thói xấu hoàn toàn. Tuy tồn tại và có thể cảm nhận được, nhưng nếp sống Hà Nội chỉ là một khái niệm không định hình. Khái niệm ấy vẫn bị tha hồ nhào nặn để người ta có thể chê bai hoặc khen khống nó, tùy theo tâm lý người nói chuyện với mình. Ôi, thành phố của tôi, thủ đô ngàn năm văn hiến.

Những người có đủ dũng cảm để viết ôn hòa về những thói xấu của Hà Nội vẫn là rất hiếm. Thông tin về Hà Nội luôn nằm giữa hai thái cực. Một bên là những bài văn lung linh hoành tráng mà trong đó Hà Nội hiện lên với những nét mờ ảo thiêng liêng, hào hùng, không đợm tì vết. Bên kia là vô số những tin vặt, tin giật gân, tin 3 dòng viết về những tệ nạn thành phố. Trong những mẩu tin này, chẳng ai nêu đích danh Hà Nội, chẳng ai dám gắn nó với nếp sống người Hà Nội, tất cả đều là tự hiểu. Tệ hơn nữa, có thể bắt gặp cả những lời chê bai cũng đầy định kiến của những người không sống tại Hà Nội. Nhưng để hiểu Hà Nội, và yêu nó, cần phải biết vứt bỏ các định kiến.

Dẫu không phải là người Hà Nội gốc, nhưng tôi vẫn thích mùi ngọc lan, hương thơm dịu dàng rất dễ chịu, khó quên mà hồi bé tôi vẫn được nghe giải thích là trượng trưng cho Hà Nội, nếp sống người Hà Nội thanh lịch, cũng giống như hoa nhài. Thật khó cho một đứa trẻ như tôi hình dung được nếp sống thanh tao ấy.

Nhưng lớn lên rồi, tôi vẫn không tài nào định hình được nét thanh lịch trong dòng ngỗn ngang đủ thứ tạp nhàng của Hà Nội hôm nay. Nếp sống người Hà Nội mang đầy chê bai, định kiến, từ chính những người ngược xuôi trong lòng Hà Nội và cả những người không ở Hà Nội.

Cố công tìm hiểu bề dày lịch sử của Hà Nội để hiểu thêm về nếp sống người Hà Nội, để định nghĩa được thế nào người Hà Nội, và rộng hơn là để biết điều gì làm nên văn hóa Nội thành, tôi chợt nhận ra rằng khái niệm nếp sống Hà Nội là một điều bí ẩn vì thiếu cơ sở lịch sử minh chứng, biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền ; và như thế, tạo nên định kiến đối với những người di cư vào Hà Nội đang làm nên Hà Nội. Và một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch...(*)
***
Hà Nội có một bề dày lịch sử mà không phải ai cũng cố công tìm hiểu. Do đó nếu nhận xét nó mà không đặt vào một cái nhìn bao quát lịch sử, thì nhầm lẫn sẽ là chuyện thường tình. Là thủ đô được vinh danh rồng bay thời vua Lý, là nơi thành không nhà trống chống quân Nguyên thời Trần, là nơi phế đô bị quên lãng ngắn ngủi đời nhà Hồ, rồi là nơi hội tụ hiền tài và tinh hoa đời vua Lê, Hà Nội đã ghi lại những biến động lịch sử lớn nhất của nước Việt. Đây là nơi hoàng đế Quang Trung đã đánh tan hơn hai mươi vạn quân Tàu, dạy cho chúng biết nước Nam là có chủ. Đây cũng là nơi Hoàng Diệu tử tiết, đánh dấu cho việc người Pháp thôn tính Việt Nam làm thuộc địa kéo dài suốt 80 năm. Hà Nội đã không ngừng thay đổi, không ngừng được xây dựng và phát triển. Nếu như nền văn hiến được thật sự đánh dấu bằng việc mở Quốc tử giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nét thanh lịch của người dân được dần dần quy tắc hóa trong suốt nhiều thế kỷ sau đó để trở thành môt tập hợp các cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày. Đó, trước hết, là đạo đức của sự hiếu học và văn hóa tôn trọng người thầy, được rèn rũa trong tiến trình văn minh của Hà Nội. Tôi vẫn nghe kể, và chính mình đã được học những quy tắc lễ nghi gia giáo. Phải lễ phép với người lớn, phải vâng dạ rõ ràng, đi đâu phải chào hỏi, khách đến nhà phải mời ngồi, mời nước …vân vân và vân vân.

Tập hợp các quy tắc này hẳn đã phải chịu thất lạc và thay đổi để thích ứng với các giao đoạn lịch sử. Cũng như địa giới hay dân số, nếp sống ở Hà Nội luôn thay đổi và không phải bao giờ cũng nằm trong khuôn thanh lịch. Do đó nói người Hà Nội thanh lịch có nguy cơ gặp phải hai lần lỗi. Lỗi thứ nhất là vì Hà Nội không hề là duy nhất, trước sau như một. Nó luôn là nó mà lại không phải là nó. Cũng như thế, thành phần dân số nơi đây luôn biến động. Vì thế khái niệm người Hà Nội cũng còn là một khái niệm mập mờ và không được nắm bắt kỹ lưỡng. Không hề có người Hà Nội chuẩn mực. Lỗi thứ hai là vì những người sống tại Hà Nội cũng không hoàn toàn thanh lịch, mà cũng còn có vô số thói hư tật xấu khác. Kết quả của hai yếu tố này là ta hoàn toàn có thể:

a. bị sốc vì người Hà Nội không thanh lịch, đơn giản vì trót có định kiến họ thanh lịch và

b. khen người Hà Nội thanh lịch mà không biết rằng họ chưa chắc đã là « người Hà Nội » theo cách hiểu đơn phương và chủ quan của chính mình.

Câu hỏi được đặt ra là cần xác định Hà Nội như thế nào, để sau đó xác định thế nào là người Hà Nội ? Để có thể trả lời, chúng ta cần biết hai yếu tố. Thứ nhất là không gian địa lý của Hà Nội. Trong suốt thời gian tồn tại của mình, đô thị Hà Nội không ngừng được xây dựng, được thay đổi. Quá trình đô thị hóa lan dần từ hoàng thành, trung tâm Hà Nội ra các không gian sản xuất và trao đổi xung quanh, biến chúng thành các khu dân cư. Từ đó hình thành bộ mặt của thành phố. Cho đến tận cuối thế kỷ XIX, Hà Nội vẫn rất ít được xây dựng và bao gồm vô số các làng cổ. Xác định được không gian sống của người Hà Nội là điều không hề đơn giản. Thứ hai là phải dùng đối tượng dân cư nào để xác định người Hà Nội ? Liệu chỉ có thể tính những người dân đã sống tại đây từ nhiều đời, hay có thể tính cả những cư dân từ nơi khác dời đến đây sống ?

Trước hết hãy nói về yếu tố địa lý. Một thói quen thường thấy khi nói về Hà Nội cổ xưa, là dẫn chiếu đến khu 36 phố phường, khu hoàng thành, và Hồ Gươm, nghĩa là không tính các khu sản xuất. Chúng ta biết rằng sau khi được khai sinh, Thăng Long vươn ra từ các khu phụ cận với hoàng thành. Giảng võ đường, là nơi huấn luyện võ nghệ cho binh sỹ, Quốc tử giám, là trường đại học đầu tiên của Việt nam. Bản đồ 1 (trang 69, Papin). Ngày hôm nay, Hà Nội cổ ở mức ấy chỉ còn là vết tích các công trình xây dựng cũ: một mảnh tường thành cửa Bắc, cổng Ô Quan Chưởng, và rùa đá ở Văn Miếu. Khu hoàng thành cũ bị sử dụng làm là doanh trại quân đội. Hồ Gươm và 36 phố phường vẫn còn đó, nhưng bị biến thành những khu buôn bán và du lịch. Nhà cửa chật hẹp, cổ lỗ, các điều kiện vệ sinh và điện nước không đảm bảo một không gian sống. Nếu dừng lại ở giới hạn công trình xây dựng, thì Hà Nội quả là quá nhỏ hẹp. Nó chỉ là sự tập hợp của một nhúm người sống trong những địa điểm có chiều dày kiến trúc lịch sử. Khó lòng có thể tưởng tượng được nếp sống của họ thanh lịch như hoa nhài, và nhất là liệu có thể chấp nhận họ là đại diện cho những người Hà Nội gốc ?

Một khuynh hướng thứ hai là dẫn chiếu đến Hà Nội bao gồm tất cả các khu kiến trúc nói trên, và thêm vào đó Hồ Tây và các làng cổ phụ cận phục vụ sản xuất hàng hóa sinh hoạt thiết yếu. Đây hẳn phải là một cách dẫn chiếu hợp lý nhất vì nó làm cho đô thị (agglomeration) hiện hữu một cách tự thân đầy đủ. Đây cũng là cách dẫn chiếu được các nhà quy hoạch hiện đại sử dụng nhiều nhất, theo đó một đô thị có thể bao gồm thành phố trung tâm và các không gian kinh tế và không gian sống phụ thuộc vào nó. Các không gian này cung cấp hàng hóa, dịch vụ và sức lao động cho khu vực trung tâm.

Nếu sử dụng cách dẫn chiếu này thì Hà Nội sẽ bao gồm tất cả các làng cổ và làng nghề thủ công. Bản đồ của người Pháp vẽ Hà Nội vào thế kỷ XVIII, cuối thế kỷ XIX cho thấy các làng này còn chiếm một phần rất lớn địa giới của Hà Nội. Ngoài khu 36 phố phường, Hà Nội sẽ bao gồm lên các làng hoa ở Ngọc Hà, Quảng Bá, làng đào ở Nhật Tân, các làng mai ngày nay không còn tồn tại nhưng dễ dàng được nhận ra nhờ tên gọi cũ : Bạch Mai, Hoàng Mai, Mai Động…, các làng trồng rau ở Láng, làm giấy ở Yên Thái, Cầu giấy, làm lụa ở Nghi Tàm, đúc đồng Ngũ Xã. Nếu đi xa hơn nữa, ra hẳn ngoài ranh giới chính thức của nội đô, ta có thể tìm thấy ở Bát Tràng, Thanh Trì, Định Công, Vạn Phúc, Ngọc Hồi, dấu tích các làng cổ khác. Sự hình thành các làng cổ này tương ứng với thời điểm mà Hà Nội trở thành một điểm giao thương lớn của cả nước, nguồn gốc của cái tên Kẻ Chợ.

Khó khăn lớn nhất ở đây là phải biết liệu các làng này có tồn tại như những quần thể tương đối độc lập ? hay bị hòa nhập với toàn bộ Hà Nội như là một bộ phận của đô thị ? Nghĩa là nếu tính các làng cổ này, thì phải chỉ ra được chúng là những làng nào? được coi là Hà Nội từ những thời điểm nào ? Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày hôm nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. Đấy là chưa kể các làng nghề khác ở xa hơn chỉ trở thành một phần Hà Nội rất lâu sau này. Bao nhiêu người liệu có thể nói được các làng cổ cổ đến mức nào ? Tự bao giờ chúng là một phần chính thức của Hà Nội? Đến khi nào chúng không còn giữ những chức năng ban đầu của mình - Nghi Tàm thôi dệt lụa, Giảng võ ngừng thao luyện và Ngọc Hà hết đất trồng hoa ? Vào những thời điểm đó, những người sống tại các làng này đến từ đâu ? và có được coi là người Hà Nội hay không ? Sự thiếu vắng cơ sở xác định những yếu tố trên đã góp phần biến khái niệm nếp sống Hà Nội trở thành một điều bí ẩn, và biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền.

Một điều có thể chắc chắn là nếu tính những làng cổ, thì số dân trồng hoa, trồng rau và làm thủ công phải lớn hơn nhiều lần số người thanh lịch biết uống trà thưởng hoa thanh nhã. Điều này thiết tưởng cũng không lấy gì làm lạ vì về bản chất, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp. Trong quá khứ, Hà Nội có thể đã là một nơi đô thị sầm uất hơn hẳn nơi khác, nhưng tránh khỏi nếp sống nông nghiệp là điều không thể. Đành rằng các làng trồng hoa không hẳn đã là nông dân như người kéo cày trồng lúa, nhưng cũng không vì thế mà không có sự nhọc nhằn vất vả. Sự vất vả của nghề nông có lẽ chính là một nguyên nhân đã làm biến mất nghề trồng hoa ở nội đô. Nhìn từ góc độ xã hội và với sự tôn trọng rất lớn những nghề nghiệp này, người ta không thể không nghi ngờ hai chữ thanh lịch khi chúng đại diện cho người Hà Nội. Đấy là chưa kể sự phát triển của chợ sẽ kèm theo sự ra đời của những hệ lụy không hay như rác rưởi bừa bãi, và các tệ nạn như cò con, lừa đảo, và trộm cướp.

Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ có một đoạn rất thú vị viết về nạn lừa đảo và trộm cướp, xin được trích dẫn ở đây. « Phường Diên Hưng (Hàng Ngang) và phường Đồng Lạc (Hàng Đào) là nơi phố hàng áo, bán các thứ tơ lụa vóc nhiễu rất nhiều. Phiên chợ là những ngày: mồng một, mồng sáu, mười một, mười bốn, rằm, hai mươi mốt, hai mươi sáu, ba mươi. Phiên chợ phường Bạch Mã (Hàng Buồm) cũng là một chỗ buôn bán rất huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm cho ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc áo người ta, hoặc khuân đồ vật hàng hóa. Có khi chúng huyên truyền là voi lồng ngựa sổ để các người chợ búa và người đi đường xô nhau chạy, hàng hóa đồ vật vứt bừa bãi; lúc biết là chúng huyên truyền láo thì quân kẻ cắp đã phỗng hết cả rồi. Một hôm, ở phường Đông Các (Hàng Bạc) có một bà lớn đi võng mành mành cánh sáo, đầy tớ lính hầu rậm rịch, đến trước cửa một nhà hàng bạc, truyền thị tỳ dừng võng lại để hỏi mua mấy chục nén bạc. Mà cả giá chưa xong, bà lớn ngồi trên võng truyền vú già hãy cầm chục nén bạc đem về dinh, trình quan lớn xem qua, sẽ định giá. Chủ nhà hàng cũng không ngờ gì. Một lát, thị tì và lính hầu lẻn dần đi hết, hai tên lính khiêng võng cũng cút mất. Trời đã gần tối, chờ mãi chẳng thấy người vú già cầm bạc trở lại, nhà chủ mới đến trước võng hỏi bà lớn để đòi bạc. Mở mành mành xem thì té ra là một mụ lão ăn mày, mù cả hai mát, mặc áo nhiễu điều, ngồi chễm chệ trong võng, mơ màng không biết nói ra sao. Nhà chủ cho đi tìm hết mọi nơi, không còn thấy tăm hơi đâu cả, chỉ bắt được có cái võng cũ nát, giá không đáng mấy quan tiền. Ấy, những lối ăn cắp lừa dối như thế rất nhiều, không thể kể hết được. Cái tài giỏi của kẻ gian cũng lắm lối rất buồn cười, xem thế đủ hiểu cái thịnh suy của đời thăng bình vậy ».

Ngày hôm nay, việc xác định Hà Nội chỉ còn có thể dựa vào tiêu chí cuối cùng là mốc địa giới của Nhà nước. Vấn đề là tiêu chí này chỉ làm việc nhận chân nếp sống Hà Nội là càng không thể. Trước kia, Đống Đa hoàn toàn là nơi ngoại ô (nằm ngoài cửa ô), hôm nay là một quận đông dân nhất thành phố. Sóc sơn, Gia Lâm trước là ngoại tỉnh, nay đã là những huyện ngoại thành. Và Hà Nội sẽ còn phải mở rộng nhiều để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia. Khi chính phủ vừa quyết định đưa địa giới Hà Nội về Hà Tây và Hòa Bình, liệu chúng ta đã sẵn sàng để coi người dân những vùng này là người Hà Nội? Nếp sống Hà Nội càng lúc càng trở thành một khái niệm không thuần nhất. Bạn đọc xin đừng cho rằng tôi phê phán điều đó. Tôi chỉ muốn nói rằng không hề có một nếp sống thuần Hà Nội để có thể gọi nó là thanh lịch. Xin đừng quên Hòa Bình và Hà Tây cũng có những nét văn hóa riêng, và dù tốt, dù xấu trong mắt nhiều người, những luồng văn hóa này chưa chắc đã cần phải gắn mác Hà Nội để có thể tồn tại.

« Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. »

Bây giờ xin đề cập đến yếu tố dân số. Dân số Hà Nội vào ngày tiếp quản thủ đô là 53,000 người, vào năm 1990 là 2,6 triệu người, vào năm 2009 là hơn 6 triệu người. Số chênh lệnh di dân hơn 10 000% đó đã làm nên sự thịnh vượng của thủ đô. Họ từ đâu đến ? Từ một vùng quê nào đó của nước Việt. Họ có phải người Hà Nội không ? Làm sao có thể nói không khi cuộc sống của họ gắn liền với cuộc sống của thủ đô ? Những con số này buộc chúng ta phải nghi vấn khái niệm người Hà Nội ? phải là người Hà Nội gốc ư ? Hay chỉ cần sống một thời gian đủ dài tại Hà Nội. Tôi ngả về tiêu chí thứ hai bởi vì lịch sử của Hà Nội là lịch sử của sự hội tụ. Những người đã làm nên Hà Nội đâu phải đều là người Hà Nội. Lịch sử của mảnh đất này được viết nên bằng máu của tất cả những người đã gìn giữ nó, và gìn giữ đất nước. Đó là những anh hùng dân tộc như Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương. Hay những danh nhân như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Lương Văn Can, Võ Nguyên Giáp. Trong số này, không có ai là người Hà Nội « gốc ».

Suy nghĩ rằng người Hà Nội thanh lịch phải là người xuất thân từ phố cổ và làng cổ, cứ như thể chỉ những nơi này mới là chuẩn mực cho một nếp sống Hà Nội, như vậy rõ ràng không có tính thuyết phục xã hội. Có người nói muốn biết có phải người Hà Nội gốc hay không, phải xem gốc gác 3 đời. Theo tiêu chí này nếu đời ông bà là người Hà Nội, bố mẹ là người Hà Nội, và bạn sinh ra lớn lên ở Hà Nội, thì mới được tính là người Hà Nội. Đây quả là một kiểu phân loại lố bịnh và đầy ý niệm giai cấp, được lịch sử phong kiến để lại. Ông bà ngoại tôi là người Hải Dương, ông bà nội tôi ở Nam Định, mẹ tôi sinh ở Hà Giang và bố tôi ở Thái Lan. Sinh ra tại Hà Nội, nếu tôi không phải người Hà Nội thì sẽ là người ở đâu bây giờ?

Ở Hà Nội còn có bao nhiêu người vô danh không thể « đếm mặt, đặt tên ». Đó là những người bán hoa, bán hàng rong, bán quà sáng, những em bé đánh giày, bán báo, những anh xe ôm, đạp xích lô. Họ không phải người Hà Nội ư ? Cũng có thể. Vấn đề là một khi cuộc đời họ đã gắn bó với Hà Nội, nếp sống của họ sẽ hòa vào dòng chảy văn hóa nơi đây. Vì sao chối bỏ nó, vì sao ruồng rẫy nó ? Nếu thiếu nó thì Hà Nội cũng đâu còn là Hà Nội. Có hề hấn gì không khi ta không phải người Hà Nội gốc, nhưng hàng ngày vẫn sống cùng với nhịp đập của thành phố ? Tôi tin rằng, bởi vì Hà Nội luôn mở rộng vòng tay với tất cả mọi người, mà nó đón nhận được những người con tinh anh của dân tộc. Và vì thế nó mới là nơi lắng được hồn núi sông ngàn năm, nơi biểu tượng của thủ đô văn hiến.

Hà Nội, thành phố ở trong sông, cái tên ấy thật đẹp. Nhưng ngày hôm nay, Hà Nội không còn là thành phố ở bên trong sông. Con sông Hồng bãi lở bãi bồi đã từ lâu rồi lọt vào tầm ngắm quy hoạch dự án xây dựng. Những vườn hoa đào đang mất dần, thay vào đấy là những dự án lấy đất làm chung cư và khu giải trí. Một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ. Nó sẽ phủ rộng từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ doanh nghiệp đến tiểu thương, từ thất nghiệp đến văn phòng, từ ăn mày đến hàn lâm, nghệ sỹ. Nó đang bị biến trở thành một thứ văn hóa của siêu đô thị trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nó trộn vào cuộc sống hiện đại sự du nhập của văn hóa tiêu thụ phương Tây, văn hóa hào nhoáng lòe loẹt của Trung Quốc, văn hóa gia phong khép kín của lịch sử, văn hóa chợ búa lừa đảo. Trong cái đống hỗn độn ấy của tắc đường, của chen lấn và khói bụi ấy, làm sao giữ được mùi hương ngọc lan? làm sao gìn giữ được những nét thanh lịch hào hoa mà chúng ta đang cố định hình ?
***
Tôi có quen một người Pháp đã giúp đỡ rất nhiều sinh viên Việt Nam du học tại Paris. Vốn sẵn máu phiêu lưu lại làm về quan hệ quốc tế nên ông đã có dịp đặt chân lên rất nhiều nơi trên thế giới. Thuộc týp người chỉ cần một balô trên vai và một chiếc máy ảnh trên cổ để đi từ những cánh đồng tuyết Siberi tới những đỉnh cao của dãy Himalaya, ông chụp rất nhiều ảnh. Ông đã cho tôi xem những bức ảnh của phố cổ Hà Nội những năm 1990, ngay đầu thời kỳ đổi mới. Ông có hơn 1500 bức ảnh chụp Hồ Gươm cũng vào cùng giai đoạn. Tôi thích lắm vì nó gợi lại cả một ký ức tuổi thơ khi tôi mới lớn, những thứ mà tôi đã được nhìn, nhưng chẳng bao giờ còn được nhìn lại. Ông thản nhiên nói với tôi rằng, Hà Nội là thành phố đẹp nhất châu Á không thể bàn cãi. Câu nói đó vô tình làm sống lại trong tôi tình yêu và kỷ niệm của quê hương. Tôi nhớ cái lạnh đầu đông Hà Nội. Tôi nhớ mùi hương ngọc lan. Tôi nhớ những con phố phủ đầy lá rụng trên vết rêu phong. Tôi nhớ chiều 30 Tết, tôi và em được cô đơn chiêm ngưỡng những vườn hoa đào bạt ngàn không bóng người ở Nhật Tân, những luống violet, hoa hồng, hoa cúc, hoa layơn muôn sắc. Cả Hà Nội đã bỏ trốn, để lại mình chúng tôi trên cánh đồng.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch như Paris, London hay những thành phố lớn khác mà tôi đã đi qua. Nhưng tôi chán ngán với những sự thanh lịch giả dối. Kết cục của sự giả dối là sự pha trộn tạp nham những điệu bộ kịch cỡm, những cái bắt tay hững hờ và những ngôn ngữ cử chỉ trần trụi, vô học. Và tôi không muốn nhìn thấy một Hà Nội là con rồng cất cánh vật vờ thiếu bản sắc giữa một thế giới của quy luật tư bản đơn điệu. Những kiến trúc hào nhoáng, những trung tâm shopping liên hoàn, và những ngọn tháp chọc trời không biến sa mạc Arập Xêút thành nơi hội tụ văn hóa. Những cây phong, cây bàng, cây cơm nguội, những mái nhà rêu phủ, những cô gái xinh đẹp như hoa lan, nụ cười trong như nước, với tôi đấy mới là Hà Nội. Ở nơi đây một cành hoa mai trắng mong manh trong vườn, một nụ cười thân thiện, những tiếng cám ơn giữa hai người không quen biết đã và đang biến mất dần. Làm thế nào để sống với Hà Nội mà không có những thứ đó ? Tôi chợt nghĩ đến một câu nói nổi tiếng mà không nhớ chính xác của ai: « Văn hóa là những gì học suốt đời vẫn không đủ. Văn hóa là những gì còn sót lại khi tất cả đã bị lãng quên ».

Đông A (Ngày 29/01/2010)

Nguồn tài liệu tham khảo: Wikipedia tiếng Việt, mục Hà Nội. Cập nhật ngày 28 tháng 1 năm 2010
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hà_Nội
Vũ Trung tùy bút, Phạm Đình Hổ. Bản dịch của NXB văn học 1972
http://www.sachxua.net/forum/index.php?topic=74.0
- Lịch sử của Hà Nội, Philippe Papin – Trường Viễn đông Bác Cổ, NXB Fayard, 2001 (Nguyên văn : Histoire de Hanoi)
(*) lời dẫn do biên tập viên thêm vào.

Post Reply