Bình Luận Thời Sự
Rủi ro và bảo hiểm
Thursday, March 04, 2010
Ngô Nhân Dụng Sống ở đời không bao giờ hết những chuyện khiến mình lo lắng. Vì lo lắng không biết tương lai ra sao, người ta mới mua bảo hiểm. Hôm nay đọc trên một mạng lưới ở Mỹ, thấy chuyện bà Rosalina Gomez ở tiểu bang Minnesota đang lo lắng không biết có thoát được cảnh nhà bị tịch biên hay không, chuyện này thì bà không mua bảo hiểm. Câu chuyện của bà được tung lên báo chí, hy vọng bà sẽ gặp may mắn hơn, không mất nhà. Nhưng còn chuyện bảo hiểm y tế của bà, không chịu trả tiền cho những căn bệnh có sẵn thì bà đành chịu. Mối lo đó không có thuốc chữa, trừ khi thay đổi luật lệ.
Rosalina Gomez mua một căn nhà ở thành phố Minneapolis, bà vay nợ, trả góp, như tất cả mọi người Mỹ khác. Bà có việc làm, nghề quét dọn, lau chùi nhà cửa, tiếng Mỹ gọi là “gia ni tơ,” (janitor). Lương bà 13 đô la một giờ, bình thường được 26,000 một năm. Gia đình hai vợ chồng đi làm, với một con có thể coi thuộc hàng trung lưu. Nhưng tại sao bà lo bị mất nhà? Vì bị bệnh.
Sinh, lão, bệnh, tử là những nỗi khổ trên đời, ai cũng phải chịu. Nhưng bà Gomez bị thêm những nỗi khổ khác do các ngân hàng cho vay và chế độ bảo hiểm y tế.
Bà Gomez, 48 tuổi, có việc làm cho nên có bảo hiểm y tế, quyền lợi của bà được một nghiệp đoàn các công nhân dịch vụ bảo vệ. Vì thế, trước đây bà không thể nào nghĩ là có lúc mình bị bệnh mà lại không được chữa trị.
Cho đến năm 2005 khi bà bị đau bụng, đi khám bệnh, biết trong bao tử bị ung nhọt.
Bệnh phát ra, bà phải đi chữa trị, nhưng hãng bảo hiểm đã từ chối không trả tiền. Họ có lý do chính đáng: Cái ung nhọt trong bụng của bà tuy mới phát lớn lên gần đây nhưng đã có sẵn trong bao tử trước khi bà mua bảo hiểm với họ. Luật lệ cho phép hãng bảo hiểm từ chối như vậy.
Một hãng bảo hiểm xe hơi chỉ bồi thường cho ông, bà về những tai nạn hư xe xảy ra “sau khi mua bảo hiểm.” Chắc chắn họ không chịu trách nhiệm nếu xe quý vị bị méo mó trước khi họ bán bảo hiểm cho quý vị. Các công ty bảo hiểm y tế ở Mỹ có quyền từ chối không trả tiền chữa các căn bệnh mà thân chủ mắc trước khi ký hợp đồng. Nếu biết thân chủ có bệnh sẵn họ có quyền từ chối không bán bảo hiểm.
Tất nhiên, trước một bệnh nhân gặp nguy, các bác sĩ vẫn mổ cái ung nhọt trong bao tử bà Gommez. Thông thường, nếu bệnh nhân quá nghèo mà không được bảo hiểm trả tiền thì sẽ tìm một quỹ của chính phủ trả công cho bác sĩ. Nhưng nếu bệnh nhân còn có tài sản và lương bổng thì phải tự mình trả tiền. Biên lai tiền chữa bệnh lên tới 26,000 đô la, bằng lương một năm của bà Gomez trước khi đóng thuế. Vợ chồng bà Gomez đã phải tính kế tìm cho ra số tiền đó.
Ðây là những lúc cuộc đời chúng ta dính dáng đến các ngân hàng. Năm 2006, thị trường địa ốc còn cao, nhiều người thấy giá trị ngôi nhà mình ở tăng gấp đôi, có cơ hội cầm thế cái nhà để vay một món nợ mới trả nợ cũ, số tiền vay nhiều hơn để dư lấy tiền xài, gọi là“tái tài trợ.”
Hai vợ chồng bà Gomez đã đến ngân hàng Chase xin tái tài trợ căn nhà mình, có một số tiền dư trả nợ chữa bệnh. Một điều mà họ không được giải thích rõ, hoặc sơ ý không tìm hiểu kỹ, là họ tưởng sẽ trả lãi suất cố định trên món nợ mới. Nhưng không phải như vậy, tháng 10 năm 2008, họ kinh ngạc khi biết món tiền trả nợ hàng tháng sẽ tăng lên, mỗi tháng thêm 100 đô la nữa. Sáu tháng sau, lãi suất lại tăng lên lần nữa. Hai vợ chồng thấy ngân sách gia đình thiếu hụt, bàn nhau và quyết định phải bỏ căn nhà mà đi ở thuê thôi. Họ bắt đầu ngưng trả tiền nhà, và từ tháng 5 năm 2009, họ khai phá sản cá nhân theo thủ tục của Chương 7 trong Luật Phá Sản.
Ngân hàng Chase xiết nợ và rao bán căn nhà của bà Gomez, người sắp mua là cho US Bank, một ngân hàng khác ở Minneapolis, vào tháng 9 năm ngoái. Ðây là ngân hàng lớn thứ sáu trên nước Mỹ. Chủ tịch CEO ngân hàng này là ông Richard Davis, cũng ở Minneapolis. Ngân hàng US Bank đã được chính phủ liên bang trợ giúp 6.6 tỷ Mỹ kim trong chương trình giúp các ngân hàng năm 2008. Tháng trước, ông Davis được một tờ báo kinh doanh trong thành phố tặng huy hiệu “Nhà quản đốc lỗi lạc,” họ tổ chức một buổi lễ trao huy chương long trọng.
Nghiệp đoàn các công nhân quét dọn ở đây khám phá ra rằng bà Rosalina Gomez chính là người vẫn đến lau nhà cho ông Richard Davis! Cùng lúc đó, nghiệp đoàn lại đang tranh đấu đòi tăng lương cho các công nhân lau nhà quét nhà, cho nên họ thấy đây là một tin tức phổ biến ra sẽ có lợi. Hai hình ảnh tương phản: Một công nhân lau nhà lương 26,000 đô la một năm mà bị mất nhà; người đứng thuê công ty lau quét nhà cửa lại là chủ tịch tổng giám đốc của ngân hàng đã đứng ra mua ngôi nhà bị xiết nợ! Lương ông ta 2 triệu một năm, với bảo hiểm y tế hạng tốt nhất! Tình cảnh bà Gomez được nghiệp đoàn mô tả là tiêu biểu cho các công nhân lau quét nhà cửa tại Minneapolis. Nghiệp đoàn đề nghị bà Gomez viết một bức thư cho ông Davis để xin ngân hàng thu xếp giúp bà khỏi bị mất nhà - mặc dù gia đình bà đã tính thuê một căn hộ (appartment) một phòng ngủ rồi. Và bà sẽ đến trao lá thư này tận tay ông Davis ngay trong buổi lễ trao huy chương vào ngày cuối tháng 2, 2010, gần hai tuần trước ngày gia đình bà Gomez phải ra khỏi nhà!
Một blogger là HuffPost đã tung tin này ra, và ngân hàng US Bank bèn phản ứng ngay để bà Gomez đừng tới làm cho buổi phát giải thưởng mất vui. Họ đã thu xếp để hai ngân hàng, Chase và US Bank, cùng với nghiệp đoàn, và hai ngân hàng đồng ý hoãn việc tịch biên ngôi nhà trong thời gian 60 ngày, để tìm một giải pháp trong đó ngân hàng chủ nợ có thể sửa đổi hợp đồng vay nợ để số tiền trả hàng tháng vừa với túi tiền của gia đình này.
Hy vọng là những khó khăn giữa bà Gomez và các ngân hàng sẽ chấm dứt, bà sẽ trả nợ dần dần, ngân hàng sẽ không bị thiệt thòi vì họ vẫn đòi được nợ mà không phải trả những chi phí lôi thôi khi bán đổ bán tháo một ngôi nhà sai áp. Nghiệp đoàn đã giúp bà hy vọng trở lại sống trong nhà mình; ngược lại bà giúp cho nghiệp đoàn tạo thanh thế tranh đấu thắng lợi. Công ty thầu lau quét chịu ký hợp đồng lao động mới tăng lương và cải thiện bảo hiểm y tế cho các công nhân quét dọn!
Nhưng còn một vấn đề khó khăn mà bà Gomez vẫn chưa tránh được, không khác gì hầu hết những người Mỹ khác: Các hãng bảo hiểm y tế không trả tiền cho những bệnh đã bắt đầu trước khi ký hợp đồng bảo hiểm. Chúng ta mua bảo hiểm là để tránh rủi ro, nhưng có vẻ thứ rủi ro này không tránh được!
Một thứ rủi ro mà ai cũng có thể phải chịu là: Chúng ta không biết được trong mình có những mầm bệnh nào, từ bao giờ, trước hay sau ký hợp đồng mua bảo hiểm! Ở những nước có chương trình bảo hiểm y tế toàn dân thì không có mối lo này, vì ai cũng có bảo hiểm, bệnh trước hay bệnh sau không khác gì nhau cả.
Chưa hết, còn thêm một thứ rủi ro nữa, là mất việc. Phần lớn người sống tại Mỹ mua bảo hiểm y tế qua nơi mình làm việc, trừ những xí nghiệp nhỏ quá không đủ sức tổ chức bảo hiểm cho nhân viên. Vì mua bảo hiểm nơi làm việc, ai cũng phải chịu một thứ rủi ro, là không biết bao giờ mình bị mất việc, khi mất việc thì cũng không còn bảo hiểm y tế nữa. Khi tìm được việc mới, ký hợp đồng mua bảo hiểm y tế, họ lại không chịu những bệnh mà mình có từ trước, thì sẽ phải trả thêm bao nhiêu để được bảo hiểm? Một người bị bệnh tiểu đường mà bị mất việc, khi có việc mới cũng không thể mua bảo hiểm y tế! Vì chữa bệnh cho người này tốn kém quá, hãng bảo hiểm có điên đâu mà chấp nhận một hợp đồng chỉ lỗ lớn mà không hy vọng một đồng lời? Cuối cùng, mối rủi ro này chính bệnh nhân phải chịu.
Bệnh nhân không may mắn đó là ai? Ðó là những người mất việc, tìm được việc làm mới nhưng lại có một căn bệnh cũ đang chữa hoặc chưa được phát hiện. Bà Gomez là một trường hợp. Nhưng mọi người sống ở Mỹ ai cũng có thể rơi vào một hoàn cảnh tương tự. Khi mới sinh ra đời không ai biết trước mình sẽ bị những bệnh nào và mắc bịnh vào lúc nào. Sở dĩ chúng ta chịu đóng tiền hàng tháng là để “mua bảo hiểm,” lúc nào mình bệnh thì được chữa trị.
Nếu ai cũng biết trước đúng ngày nào, tháng nào mình sẽ bị bệnh thì đến ngày đó đi tìm bác sĩ, không còn gọi là bảo hiểm nữa! Nếu biết trước cả đời mình sẽ không bao giờ bị bệnh thì chúng ta cũng không tội gì mua bảo hiểm. Phải mua bảo hiểm y tế vì chúng ta đứng trước những bất trắc về bệnh tật. Nhưng hiện nay ở Mỹ có trên 50 triệu người không có bảo hiểm, và hàng chục triệu người khác không đủ bảo hiểm, tức là hãng bảo hiểm hạn chế nhiều dịch vụ y tế họ không trả tiền. Những người đang có bảo hiểm đầy đủ và bảo hiểm tốt, như người viết bài này, có thể yên tâm là mình không nằm trong con số 50, 60 triệu đó. Như vậy thì việc cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế không phải là chuyện quan trọng nhất và cần thiết nhất.
Nhưng có ai biết chắc là mình sẽ không bao giờ rơi vào hoàn cảnh giống như bà Rosalina Gomez? Có ai bán cho chúng ta một thứ bảo hiểm để tránh không bao giờ rơi vào tình cảnh đó hay không?
Thursday, March 04, 2010
Ngô Nhân Dụng Sống ở đời không bao giờ hết những chuyện khiến mình lo lắng. Vì lo lắng không biết tương lai ra sao, người ta mới mua bảo hiểm. Hôm nay đọc trên một mạng lưới ở Mỹ, thấy chuyện bà Rosalina Gomez ở tiểu bang Minnesota đang lo lắng không biết có thoát được cảnh nhà bị tịch biên hay không, chuyện này thì bà không mua bảo hiểm. Câu chuyện của bà được tung lên báo chí, hy vọng bà sẽ gặp may mắn hơn, không mất nhà. Nhưng còn chuyện bảo hiểm y tế của bà, không chịu trả tiền cho những căn bệnh có sẵn thì bà đành chịu. Mối lo đó không có thuốc chữa, trừ khi thay đổi luật lệ.
Rosalina Gomez mua một căn nhà ở thành phố Minneapolis, bà vay nợ, trả góp, như tất cả mọi người Mỹ khác. Bà có việc làm, nghề quét dọn, lau chùi nhà cửa, tiếng Mỹ gọi là “gia ni tơ,” (janitor). Lương bà 13 đô la một giờ, bình thường được 26,000 một năm. Gia đình hai vợ chồng đi làm, với một con có thể coi thuộc hàng trung lưu. Nhưng tại sao bà lo bị mất nhà? Vì bị bệnh.
Sinh, lão, bệnh, tử là những nỗi khổ trên đời, ai cũng phải chịu. Nhưng bà Gomez bị thêm những nỗi khổ khác do các ngân hàng cho vay và chế độ bảo hiểm y tế.
Bà Gomez, 48 tuổi, có việc làm cho nên có bảo hiểm y tế, quyền lợi của bà được một nghiệp đoàn các công nhân dịch vụ bảo vệ. Vì thế, trước đây bà không thể nào nghĩ là có lúc mình bị bệnh mà lại không được chữa trị.
Cho đến năm 2005 khi bà bị đau bụng, đi khám bệnh, biết trong bao tử bị ung nhọt.
Bệnh phát ra, bà phải đi chữa trị, nhưng hãng bảo hiểm đã từ chối không trả tiền. Họ có lý do chính đáng: Cái ung nhọt trong bụng của bà tuy mới phát lớn lên gần đây nhưng đã có sẵn trong bao tử trước khi bà mua bảo hiểm với họ. Luật lệ cho phép hãng bảo hiểm từ chối như vậy.
Một hãng bảo hiểm xe hơi chỉ bồi thường cho ông, bà về những tai nạn hư xe xảy ra “sau khi mua bảo hiểm.” Chắc chắn họ không chịu trách nhiệm nếu xe quý vị bị méo mó trước khi họ bán bảo hiểm cho quý vị. Các công ty bảo hiểm y tế ở Mỹ có quyền từ chối không trả tiền chữa các căn bệnh mà thân chủ mắc trước khi ký hợp đồng. Nếu biết thân chủ có bệnh sẵn họ có quyền từ chối không bán bảo hiểm.
Tất nhiên, trước một bệnh nhân gặp nguy, các bác sĩ vẫn mổ cái ung nhọt trong bao tử bà Gommez. Thông thường, nếu bệnh nhân quá nghèo mà không được bảo hiểm trả tiền thì sẽ tìm một quỹ của chính phủ trả công cho bác sĩ. Nhưng nếu bệnh nhân còn có tài sản và lương bổng thì phải tự mình trả tiền. Biên lai tiền chữa bệnh lên tới 26,000 đô la, bằng lương một năm của bà Gomez trước khi đóng thuế. Vợ chồng bà Gomez đã phải tính kế tìm cho ra số tiền đó.
Ðây là những lúc cuộc đời chúng ta dính dáng đến các ngân hàng. Năm 2006, thị trường địa ốc còn cao, nhiều người thấy giá trị ngôi nhà mình ở tăng gấp đôi, có cơ hội cầm thế cái nhà để vay một món nợ mới trả nợ cũ, số tiền vay nhiều hơn để dư lấy tiền xài, gọi là“tái tài trợ.”
Hai vợ chồng bà Gomez đã đến ngân hàng Chase xin tái tài trợ căn nhà mình, có một số tiền dư trả nợ chữa bệnh. Một điều mà họ không được giải thích rõ, hoặc sơ ý không tìm hiểu kỹ, là họ tưởng sẽ trả lãi suất cố định trên món nợ mới. Nhưng không phải như vậy, tháng 10 năm 2008, họ kinh ngạc khi biết món tiền trả nợ hàng tháng sẽ tăng lên, mỗi tháng thêm 100 đô la nữa. Sáu tháng sau, lãi suất lại tăng lên lần nữa. Hai vợ chồng thấy ngân sách gia đình thiếu hụt, bàn nhau và quyết định phải bỏ căn nhà mà đi ở thuê thôi. Họ bắt đầu ngưng trả tiền nhà, và từ tháng 5 năm 2009, họ khai phá sản cá nhân theo thủ tục của Chương 7 trong Luật Phá Sản.
Ngân hàng Chase xiết nợ và rao bán căn nhà của bà Gomez, người sắp mua là cho US Bank, một ngân hàng khác ở Minneapolis, vào tháng 9 năm ngoái. Ðây là ngân hàng lớn thứ sáu trên nước Mỹ. Chủ tịch CEO ngân hàng này là ông Richard Davis, cũng ở Minneapolis. Ngân hàng US Bank đã được chính phủ liên bang trợ giúp 6.6 tỷ Mỹ kim trong chương trình giúp các ngân hàng năm 2008. Tháng trước, ông Davis được một tờ báo kinh doanh trong thành phố tặng huy hiệu “Nhà quản đốc lỗi lạc,” họ tổ chức một buổi lễ trao huy chương long trọng.
Nghiệp đoàn các công nhân quét dọn ở đây khám phá ra rằng bà Rosalina Gomez chính là người vẫn đến lau nhà cho ông Richard Davis! Cùng lúc đó, nghiệp đoàn lại đang tranh đấu đòi tăng lương cho các công nhân lau nhà quét nhà, cho nên họ thấy đây là một tin tức phổ biến ra sẽ có lợi. Hai hình ảnh tương phản: Một công nhân lau nhà lương 26,000 đô la một năm mà bị mất nhà; người đứng thuê công ty lau quét nhà cửa lại là chủ tịch tổng giám đốc của ngân hàng đã đứng ra mua ngôi nhà bị xiết nợ! Lương ông ta 2 triệu một năm, với bảo hiểm y tế hạng tốt nhất! Tình cảnh bà Gomez được nghiệp đoàn mô tả là tiêu biểu cho các công nhân lau quét nhà cửa tại Minneapolis. Nghiệp đoàn đề nghị bà Gomez viết một bức thư cho ông Davis để xin ngân hàng thu xếp giúp bà khỏi bị mất nhà - mặc dù gia đình bà đã tính thuê một căn hộ (appartment) một phòng ngủ rồi. Và bà sẽ đến trao lá thư này tận tay ông Davis ngay trong buổi lễ trao huy chương vào ngày cuối tháng 2, 2010, gần hai tuần trước ngày gia đình bà Gomez phải ra khỏi nhà!
Một blogger là HuffPost đã tung tin này ra, và ngân hàng US Bank bèn phản ứng ngay để bà Gomez đừng tới làm cho buổi phát giải thưởng mất vui. Họ đã thu xếp để hai ngân hàng, Chase và US Bank, cùng với nghiệp đoàn, và hai ngân hàng đồng ý hoãn việc tịch biên ngôi nhà trong thời gian 60 ngày, để tìm một giải pháp trong đó ngân hàng chủ nợ có thể sửa đổi hợp đồng vay nợ để số tiền trả hàng tháng vừa với túi tiền của gia đình này.
Hy vọng là những khó khăn giữa bà Gomez và các ngân hàng sẽ chấm dứt, bà sẽ trả nợ dần dần, ngân hàng sẽ không bị thiệt thòi vì họ vẫn đòi được nợ mà không phải trả những chi phí lôi thôi khi bán đổ bán tháo một ngôi nhà sai áp. Nghiệp đoàn đã giúp bà hy vọng trở lại sống trong nhà mình; ngược lại bà giúp cho nghiệp đoàn tạo thanh thế tranh đấu thắng lợi. Công ty thầu lau quét chịu ký hợp đồng lao động mới tăng lương và cải thiện bảo hiểm y tế cho các công nhân quét dọn!
Nhưng còn một vấn đề khó khăn mà bà Gomez vẫn chưa tránh được, không khác gì hầu hết những người Mỹ khác: Các hãng bảo hiểm y tế không trả tiền cho những bệnh đã bắt đầu trước khi ký hợp đồng bảo hiểm. Chúng ta mua bảo hiểm là để tránh rủi ro, nhưng có vẻ thứ rủi ro này không tránh được!
Một thứ rủi ro mà ai cũng có thể phải chịu là: Chúng ta không biết được trong mình có những mầm bệnh nào, từ bao giờ, trước hay sau ký hợp đồng mua bảo hiểm! Ở những nước có chương trình bảo hiểm y tế toàn dân thì không có mối lo này, vì ai cũng có bảo hiểm, bệnh trước hay bệnh sau không khác gì nhau cả.
Chưa hết, còn thêm một thứ rủi ro nữa, là mất việc. Phần lớn người sống tại Mỹ mua bảo hiểm y tế qua nơi mình làm việc, trừ những xí nghiệp nhỏ quá không đủ sức tổ chức bảo hiểm cho nhân viên. Vì mua bảo hiểm nơi làm việc, ai cũng phải chịu một thứ rủi ro, là không biết bao giờ mình bị mất việc, khi mất việc thì cũng không còn bảo hiểm y tế nữa. Khi tìm được việc mới, ký hợp đồng mua bảo hiểm y tế, họ lại không chịu những bệnh mà mình có từ trước, thì sẽ phải trả thêm bao nhiêu để được bảo hiểm? Một người bị bệnh tiểu đường mà bị mất việc, khi có việc mới cũng không thể mua bảo hiểm y tế! Vì chữa bệnh cho người này tốn kém quá, hãng bảo hiểm có điên đâu mà chấp nhận một hợp đồng chỉ lỗ lớn mà không hy vọng một đồng lời? Cuối cùng, mối rủi ro này chính bệnh nhân phải chịu.
Bệnh nhân không may mắn đó là ai? Ðó là những người mất việc, tìm được việc làm mới nhưng lại có một căn bệnh cũ đang chữa hoặc chưa được phát hiện. Bà Gomez là một trường hợp. Nhưng mọi người sống ở Mỹ ai cũng có thể rơi vào một hoàn cảnh tương tự. Khi mới sinh ra đời không ai biết trước mình sẽ bị những bệnh nào và mắc bịnh vào lúc nào. Sở dĩ chúng ta chịu đóng tiền hàng tháng là để “mua bảo hiểm,” lúc nào mình bệnh thì được chữa trị.
Nếu ai cũng biết trước đúng ngày nào, tháng nào mình sẽ bị bệnh thì đến ngày đó đi tìm bác sĩ, không còn gọi là bảo hiểm nữa! Nếu biết trước cả đời mình sẽ không bao giờ bị bệnh thì chúng ta cũng không tội gì mua bảo hiểm. Phải mua bảo hiểm y tế vì chúng ta đứng trước những bất trắc về bệnh tật. Nhưng hiện nay ở Mỹ có trên 50 triệu người không có bảo hiểm, và hàng chục triệu người khác không đủ bảo hiểm, tức là hãng bảo hiểm hạn chế nhiều dịch vụ y tế họ không trả tiền. Những người đang có bảo hiểm đầy đủ và bảo hiểm tốt, như người viết bài này, có thể yên tâm là mình không nằm trong con số 50, 60 triệu đó. Như vậy thì việc cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế không phải là chuyện quan trọng nhất và cần thiết nhất.
Nhưng có ai biết chắc là mình sẽ không bao giờ rơi vào hoàn cảnh giống như bà Rosalina Gomez? Có ai bán cho chúng ta một thứ bảo hiểm để tránh không bao giờ rơi vào tình cảnh đó hay không?
Một cựu điệp viên Bắc Triều Tiên tiết lộ nhiều bí mật của Bình Nhưỡng
Trọng Nghĩa,RFI Năm nay đã 75 tuổi, trước khi đào thoát, Kim Jong Ryul mang cấp bậc đại tá. Trong một quyền sách mang tựa đề ''Phục vụ nhà độc tài'' vừa công bố tại Áo, cựu điệp viên Bắc Triều Tiên đã tiết lộ rất nhiều bí mật liên quan đến chế độ Bình Nhưỡng
Ông đã từng ngược xuôi Châu Âu trong vòng 20 năm để đặt mua súng ống và xa xỉ phẩm cho các lãnh đạo Bắc Triều Tiên. Chính cuộc sống xa hoa phè phỡn của giới lãnh đạo Bình Nhưỡng, trong lúc dân chúng bị lâm vào hoàn cảnh đói khổ đã thúc đảy ông từ bỏ chế độ.
Sau hai mươi năm chuyên đi mua các loại hàng hóa sang trọng và vũ khí cho các nhà độc tài Bắc Triều Tiên, ông Kim Jong Ryul đã đào thoát và sinh sống tại Vienna, Áo từ năm 1994.
Cuốn sách mang tựa « Phục vụ cho nhà độc tài » vừa xuất bản tuần này đã làm ông bỗng chốc bước ra ánh sáng, với nguy cơ tính mạng bị đe dọa. Vốn là đảng viên trung thành và nói thông thạo tiếng Đức, đại tá Kim Jong Ryul trong những chuyến đi châu Âu đã tìm mua được các loại thiết bị gián điệp tinh vi, vũ khí, máy bay loại nhỏ.
Bên cạnh đó còn có những chiếc xe hơi sang trọng, những chiếc thảm đẳt tiền, thậm chí một khẩu súng mạ vàng cho nhà độc tài Kim Il Sung. Ông thường đi Áo vì tại đây ngân hàng giữ bí mật thông tin, thương mại tự do và kiểm tra tại sân bay lơi lỏng hơn.
Những thiết bị do thám bị cấm xuất khẩu, súng săn và điện thoại gây nhiễu thường được trữ trong tầng hầm của đại sứ quán Bắc Triều Tiên tại Vienna. Các mặt hàng này sau đó được thay bao bì, đưa ra khỏi Áo nhờ các giấy tờ giả và hối lộ cho các nhân viên hải quan.
Chán ghét sự dối trá của Bình Nhưỡng, cuộc sống xa hoa của giới lãnh đạo trong lúc nhân dân đói khổ, trong một chuyến đi Áo ông đã dùng kế giả chết để ở lại Vienna, mà không cho gia đình hay biết. Ông hy vọng sau cái chết của nhà độc tài Kim Il Sung năm 1994, chế độ cộng sản sẽ sụp đổ và sẽ được trở về nước.
Nhưng ông đã thất vọng sau 15 năm chờ đợi, và cuốn sách trên đây cùng viết với hai nhà báo Áo là một sự an ủi cho ông. Tuy nhiên ông cũng bày tỏ nỗi lo ngại sẽ bị Bắc Triều Tiên bắt giữ hay sát hại, và cho biết có thể sẽ sống trốn tránh như cũ.
Trọng Nghĩa,RFI Năm nay đã 75 tuổi, trước khi đào thoát, Kim Jong Ryul mang cấp bậc đại tá. Trong một quyền sách mang tựa đề ''Phục vụ nhà độc tài'' vừa công bố tại Áo, cựu điệp viên Bắc Triều Tiên đã tiết lộ rất nhiều bí mật liên quan đến chế độ Bình Nhưỡng
Ông đã từng ngược xuôi Châu Âu trong vòng 20 năm để đặt mua súng ống và xa xỉ phẩm cho các lãnh đạo Bắc Triều Tiên. Chính cuộc sống xa hoa phè phỡn của giới lãnh đạo Bình Nhưỡng, trong lúc dân chúng bị lâm vào hoàn cảnh đói khổ đã thúc đảy ông từ bỏ chế độ.
Sau hai mươi năm chuyên đi mua các loại hàng hóa sang trọng và vũ khí cho các nhà độc tài Bắc Triều Tiên, ông Kim Jong Ryul đã đào thoát và sinh sống tại Vienna, Áo từ năm 1994.
Cuốn sách mang tựa « Phục vụ cho nhà độc tài » vừa xuất bản tuần này đã làm ông bỗng chốc bước ra ánh sáng, với nguy cơ tính mạng bị đe dọa. Vốn là đảng viên trung thành và nói thông thạo tiếng Đức, đại tá Kim Jong Ryul trong những chuyến đi châu Âu đã tìm mua được các loại thiết bị gián điệp tinh vi, vũ khí, máy bay loại nhỏ.
Bên cạnh đó còn có những chiếc xe hơi sang trọng, những chiếc thảm đẳt tiền, thậm chí một khẩu súng mạ vàng cho nhà độc tài Kim Il Sung. Ông thường đi Áo vì tại đây ngân hàng giữ bí mật thông tin, thương mại tự do và kiểm tra tại sân bay lơi lỏng hơn.
Những thiết bị do thám bị cấm xuất khẩu, súng săn và điện thoại gây nhiễu thường được trữ trong tầng hầm của đại sứ quán Bắc Triều Tiên tại Vienna. Các mặt hàng này sau đó được thay bao bì, đưa ra khỏi Áo nhờ các giấy tờ giả và hối lộ cho các nhân viên hải quan.
Chán ghét sự dối trá của Bình Nhưỡng, cuộc sống xa hoa của giới lãnh đạo trong lúc nhân dân đói khổ, trong một chuyến đi Áo ông đã dùng kế giả chết để ở lại Vienna, mà không cho gia đình hay biết. Ông hy vọng sau cái chết của nhà độc tài Kim Il Sung năm 1994, chế độ cộng sản sẽ sụp đổ và sẽ được trở về nước.
Nhưng ông đã thất vọng sau 15 năm chờ đợi, và cuốn sách trên đây cùng viết với hai nhà báo Áo là một sự an ủi cho ông. Tuy nhiên ông cũng bày tỏ nỗi lo ngại sẽ bị Bắc Triều Tiên bắt giữ hay sát hại, và cho biết có thể sẽ sống trốn tránh như cũ.
Sự cần thiết khách quan
Nguyễn Ðạt Thịnh
Hôm thứ Sáu 26 tháng Hai, trong lúc đi thăm Ấn Ðộ và bị hãng thống tấn Express India hỏi về chế độ độc đảng Việt Cộng đang áp dụng tại Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch quốc hội Việt Cộng, nói là Việt Cộng “chưa thấy có sự cần thiết khách quan để phải có chế độ đa đảng.”
Câu này có nghĩa là gì? Và sự cần thiết khách quan là gì?
Câu nói của Trọng có nghĩa là nếu người Việt Nam không tạo được nhu cầu bắt buộc Việt Cộng thay đổi chính sách, mở rộng bộ máy cầm quyền của chúng cho những người không cộng sản tham dự, thì Việt Cộng cứ mãi mãi ngồi đấy cai trị Việt Nam.
Và 4 chữ “cần thiết khách quan” có nghĩa là những nhu cầu hiện thực, không liên quan đến xúc động, căn cứ trên những sự kiện có thể thấy được; nói cách khác Trọng bảo anh phóng viên Ấn, và bảo dư luận thế giới là người Việt Nam chưa tạo được áp lực nào cụ thể, chưa đẩy được Việt Cộng vào cái thế thiệt thòi hầu bắt chúng chấp nhận chế độ đa đảng để không bị đào thải.
Chúng ta cần phân tách thực tế hiện tại để hiểu cái thế ù lì tự mãn của Việt Cộng, do chính miệng một trong những tên đầu xỏ Việt Cộng nói lên, để từ đó tự tìm hiểu những điều chúng ta chưa làm, hoặc chưa làm đúng mức, hầu thay đổi chiến thuật chống Việt Cộng hữu hiệu hơn, bắt chúng phải chấp nhận chế độ đa đảng.
Chúng ta đã làm gì?
Trong quốc nội, hàng chục chiến sĩ tự do đã can đảm đứng lên, bất chấp đàn áp và lao tù Việt Cộng; chúng rất sợ ảnh hưởng của những vị anh hùng này, nhưng chúng tin tưởng là biện pháp đàn áp bắt giam những người cầm đầu phong trào là đã đủ để giữ cho khối đông đảo quần chúng không dám đứng lên chống đối chúng.
Chúng kiêng dè không dám bắt giam giữ nhiều tu sĩ công giáo vì nể sợ cái thế đoàn kết giữa giáo dân và tu sĩ. Ðiều này cho chúng ta thấy Việt Cộng nể sợ những vị lãnh tụ có thực lực hơn là những vị chỉ có kiến thức.
Khác biệt giữa những vị lãnh tụ Việt Nam có thực lực lớn lao và những vị có kiến thức bao quát là thời gian cần thiết để xây dựng hậu thuẫn bền chắc trong quần chúng. Xin đơn cử một thí dụ: Việt Cộng dám đàn áp luật sư Lê Công Ðịnh mà không dám bắt giam tổng giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt, cũng chỉ vì chúng sợ thế lực nhân dân sau lưng TGM Kiệt. Sau lưng ông Ðịnh, cô Công Nhân, chỉ có gia đình họ.
Dĩ nhiên sau lưng những chiến sĩ dân chủ luôn luôn có chúng ta, người Việt Nam quốc nội và hải ngoại; chúng ta hết lòng ủng hộ việc làm của quý vị chiến sĩ dân chủ, nhưng sự hết lòng đó chưa thể so sánh với những cuộc cầu nguyện tập thể, những cuộc biểu tình bảo vệ thánh giá.
Giáo dân sẵn sàng đương đầu với công an Việt Cộng, đầu bò Việt Cộng; quyết tâm của họ đối phó với mọi đàn áp của Việt Cộng là một cần thiết khách quan mà ông Trọng đề cập đến. Ngày nào tinh thần Ðồng Chiêm, Tam Tòa, Thái Hà lan rộng khắp nước thì ngày đó Việt Cộng sẽ mở rộng cơ chế cai trị, chấp nhận sự tham chính của những người Việt Nam không cộng sản.
Ða đảng là yếu tố khắc kỵ Việt Cộng, ngày nào có đa đảng là ngày đó nguy cơ Việt Cộng bị triệt tiêu bắt đầu.
Thiên Chúa Giáo cần đến 2 thế kỷ và rất nhiều cán bộ tôn giáo chấp nhận hy sinh, thủa ban đầu hy sinh cả đến tính mạng, sau đó là hy sinh chấp nhận ép mình theo luật Chúa, đem cuộc sống thanh bần của chính mình làm gương mẫu và tạo tin tưởng trong lòng người tín hữu. Phong trào đòi tự do, dân chủ cho nguòi Việt Nam không thể chờ 2 thế kỷ, chúng ta phải đốt giai đoạn, phải tìm một giá trị khác thay cho yếu tố thời gian.
Giá trị đó là tạo sự hiểu biết chính xác về tình hình chính trị để đánh động khối đồng bào quốc nội. Lợi khí giúp chúng ta là internet: nhiều mạng tin tức, bình luận đã ra đời trong quốc nội và hoạt động rất mạnh. Nhưng Việt Cộng cũng rất mạnh tay đối phó với những blogs quốc nội, chúng cầm tù bloggers, quấy phá hệ thống phát sóng của blogs.
Một điều đáng lo nữa là những hãng truyền thông điện tử như Google, Yahoo, đang gặp khó khăn tại hải ngoại; Google phải hạ tối hậu thư cho Trung Cộng đòi hoặc chính phủ nước này ngừng quấy phá, hoặc Google sẽ rút lui ra khỏi Trung Hoa nếu họ không có tự do để làm việc được tại đó.
Mặt khác chính phủ Ý bắt giam 3 viên chức của Google, buộc họ chịu trách nhiệm về nội dung những bài viết do những người khác sử dụng hệ thống Google để phổ biến. Chính phủ Ý coi Google như một tờ báo, do đó bắt họ chịu trách nhiệm về những bài đăng trên báo. Google phản bác, nói là phải ví họ như người phát thư, chỉ có trách nhiệm chuyển mọi lá thư đến đúng địa chỉ của người nhận; nội dung lá thư là trách nhiệm của người viết thư, không phải trách nhiệm của người đưa thư. Tuy khó khăn của Google có thể trở thành khó khăn của chúng ta, những người Việt Nam đang tranh đấu cho tự do, nhưng việc đó chưa xẩy ra ngay trong năm nay hay một vài năm tới.
Tại hải ngoại, nhiều mạng lưới Việt Nam đã ý thức việc loan tin trung thực là một trong những vũ khí ít ỏi chúng ta có trong tay để yểm trợ cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền trong nước.
Do đó họ tích cực hoạt động, và giờ này mạng lưới truyền thông kiến hiệu đến mức, trong mỗi cuộc xuống đường, mỗi hoạt động dân chủ đều có những thông tín viên thiện nguyện, có mặt tại chỗ, lấy tin, chụp hình, đôi khi còn quay phim gửi ra cho những đài hải ngoại. Việt Cộng có chống cự, nhưng hiệu quả không được bao nhiêu, quần chúng quốc nội vẫn nhận đủ tin tức trung thực; thành quả vận động của phương thức truyền thông điện tử đang ngày một loang rộng hơn.
Một biện pháp chống đỡ khác của Việt Cộng là đánh vào thành trì chống cộng hải ngoại; khai thác sức mạnh của truyền thông điện tử, chúng cho bọn tay sai post mọi thứ bẩn thỉu lên mạng để phá hoại uy tín của những chiến sĩ chống cộng
Ngoài vũ khí truyền thông, người Việt hải ngoại còn yểm trợ cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền trong nước bằng những cuộc vận động chính trị với các chính trị gia của những nước chúng ta đang cư ngụ.
Nhưng chúng ta làm chưa đủ và chưa đúng cách; trong một bài báo viết vài tháng trước, tôi trình bày với độc giả là việc mượn tay người khác giúp đỡ chúng ta là việc rất tốt, nhưng không tốt bằng chính chúng ta bước vào chính trường Hoa Kỳ, trở thành nghị sĩ, dân biểu Hoa Kỳ để có diễn đàn lớn đấu tranh cho tự do, nhân quyền trên quê hương chúng ta.
Tôi có nêu lên trường hợp điển hình của khối người Mỹ gốc Cuba, một sắc dân đang sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ có rất nhiều nét tương đồng với khối người Việt hải ngoại đang sống tại Mỹ.
Cuộc kiểm kê dân số năm 2000 ghi nhận có 1,241,685 người Cuba sống trên đất Mỹ, đến năm 2007, con số này tăng lên 1,611,478 người Mỹ gốc Cuba. Gần 1 triệu người (983,147) sinh đẻ tại Cuba, 628,331 sinh đẻ tại Hoa Kỳ. Trong tổng số 1.6 triệu người có 415,212 người không mang quốc tịch Mỹ. Trong số 1.2 triệu có quốc tịch, có bao nhiêu người có quyền bầu cử?
Tôi không tìm được tài liệu này, nhưng số cử tri người Mỹ gốc Cuba tròm trèm nửa triệu đã bầu vào hạ viện liên bang 4 dân biểu, Lincoln Diaz-BAlart, Mario Diaz-Balart, Ileana Ros-Lehtinen, Albio Sires, và 2 nghị sĩ: Mel Martinez, đại diện Florida, Bob Menendez, đại diện New Jersey. Về phía hành pháp ông cựu tổng trưởng thương mại liên bang Carlos M. Gutierrez, cũng là người Mỹ gốc Cuba.
Dưới thời tổng thống Bush, ông Eduardo Aguirre giữ chức vụ phó chủ tịch Ngân Hàng Xuất Nhập Cảng của Hoa Kỳ cũng là người Mỹ gốc Cuba, sau này ông trở thành giám đốc sở Di Trú; năm 2006 ông làm đại sứ Hoa Kỳ tại Spain. Ông John H. Sununu, tham mưu trưởng Bạch Cung cũng là người Mỹ gốc Cuba. Năm 2006 dân biểu tiểu bang Marco Rubio, một người Mỹ gốc Cuba, giữ vai trò chủ tịch hạ viện Florida.
Trong ngành tư pháp ông Danny Boggs hiện là thẩm phán tối cao của tòa phá án Hạt Sáu, và ông Raoul G. Cantero, III làm chánh án tối cao pháp viện của Florida đến năm 2008.
Nếu chúng ta có một thế lực chính trị mạnh như vậy thì cuộc vận động chính trị của chúng ta chắc chắn sẽ uy tín hơn, rộng rãi và kiến hiệu hơn là tình trạng hiện nay: chúng ta hớn hở quảng bá với nhau trên mạng việc Dân Biểu Loretta Sanchez, Dân Biểu Zoe Lofgren, và nghị sĩ Barbara Boxer gửi thư cho Chủ Tịch Việt Cộng, Nguyễn Minh Triết, để lên tiếng bênh vực cô Phạm Thanh Nghiên và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.
Chúng ta reo mừng vì nghị sĩ Jim Webb, Chủ Tịch Tiểu Ban Á Châu Thái Bình Dương – lên tiếng về vụ xử 4 chiến sĩ Ðịnh, Trung, Thức, và Long. Ông Webb nói các phiên tòa trong thời gian qua cho thấy Hoa Kỳ cần tiếp xúc trên cấp cao với chính phủ Việt Cộng về chủ đề nhân quyền.
Ông kêu gọi chính quyền Obama tiếp tục nêu lên chủ đề tự do lập hội và thực hiện chế độ pháp trị với chính phủ Việt Cộng, kiên trì hậu thuẫn việc bảo vệ các quyền làm người vốn được quốc tế công nhận.
Tất cả những cuộc vận động đó đều đúng, đều rất hay, nhưng chúng ta còn có thể làm hay hơn nếu chúng ta cũng làm được như người Cuba: đưa người vào chính giới Hoa Kỳ để tự tay chúng ta giải quyết vấn đề Việt Nam.
Tự tạo cho chúng ta một thực lực chính trị mạnh hơn là giải pháp giải phóng quê hương hữu hiệu nhất, và là cái cần thiết khách quan mà Việt Cộng đang chờ để chỉ thay đổi sau khi nhìn thấy là chúng không thể ngồi lỳ trên lưng người Việt Nam với tin tưởng được Trọng phát biểu là"Một Đảng vẫn hiệu quả nhất"
Trọng còn dài lời giải thích với hãng thông tấn Express India, khi phóng viên của hãng này hỏi ông, "Chủ tịch có nghĩ rằng, đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có hệ thống đa đảng hay không?”
Trọng trả lời :
"Chúng tôi quan niệm là kinh tế và hệ thống chính trị bao giờ cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chúng tôi chủ trương phát triển kinh tế đồng thời cũng đổi mới từng bước hệ thống chính trị một cách vững chắc cho phù hợp. Và đã rút ra kinh nghiệm là đổi mới kinh tế phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.
Thực tiễn các bạn thấy là đất nước chúng tôi về chính trị xã hội ổn định, nhân dân được làm chủ. Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ. Các đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm vụ phản biện và giám sát xã hội, đất nước vẫn đang phát triển, đang đi lên. Từ thực tế thì thấy là chúng tôi thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất.”
Trong thế mạnh của kẻ cầm quyền, Trọng ngụy biện với dư luận Ấn về chế độ độc đảng, cũng như Dũng và Triết ngụy biện với Ðức Giáo Hoàng về tự do tín ngưỡng tại Việt Nam; lập luận của chúng có giá trị khả tín của quyền lực, nếu chúng ta không tạo ra được một lời đính chánh minh bạch, rõ rệt, cũng của một quyền lực.
Thử lấy một thí dụ, nếu dân biểu Cao Quang Ánh nói lên việc chị ông bị công an mời đi làm việc chỉ vì đã đến sứ quán Hoa Kỳ để gặp ông, hoặc việc ông bị cấm đoán không được gặp các chiến sĩ dân chủ, thì lời nói có gang, có thép trong miệng kẻ sang đó sẽ có sức mạnh gấp bao nhiêu lần những hoạt động của bà dân biểu Loretta Sanchez hay nghị sĩ Jim Webb.
Chúng ta cần tích cực hơn nữa, cần sáng suốt hơn nữa, và xin bạn đọc quan tâm đến quan điểm của giới trẻ muốn bước vào gánh vác việc nước, quan điểm mà bài viết của cô Diệu Hương (tôi trích đăng trong mục “góc nhìn” số báo này) nêu lên rất rõ.
Ðó là cách giúp chúng ta tạo ra điều cần thiết khách quan mà Việt Cộng đòi chúng ta phải có chúng mới bắt đầu nhượng bộ chấp nhận một chế độ đa đảng, chấp nhận viên thuốc độc cyanure kết thúc chế độ bạo tàn của chúng hiện nay.
Xin cùng nhau sửa mình để bắt đối phương thay đổi.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh
Hôm thứ Sáu 26 tháng Hai, trong lúc đi thăm Ấn Ðộ và bị hãng thống tấn Express India hỏi về chế độ độc đảng Việt Cộng đang áp dụng tại Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch quốc hội Việt Cộng, nói là Việt Cộng “chưa thấy có sự cần thiết khách quan để phải có chế độ đa đảng.”
Câu này có nghĩa là gì? Và sự cần thiết khách quan là gì?
Câu nói của Trọng có nghĩa là nếu người Việt Nam không tạo được nhu cầu bắt buộc Việt Cộng thay đổi chính sách, mở rộng bộ máy cầm quyền của chúng cho những người không cộng sản tham dự, thì Việt Cộng cứ mãi mãi ngồi đấy cai trị Việt Nam.
Và 4 chữ “cần thiết khách quan” có nghĩa là những nhu cầu hiện thực, không liên quan đến xúc động, căn cứ trên những sự kiện có thể thấy được; nói cách khác Trọng bảo anh phóng viên Ấn, và bảo dư luận thế giới là người Việt Nam chưa tạo được áp lực nào cụ thể, chưa đẩy được Việt Cộng vào cái thế thiệt thòi hầu bắt chúng chấp nhận chế độ đa đảng để không bị đào thải.
Chúng ta cần phân tách thực tế hiện tại để hiểu cái thế ù lì tự mãn của Việt Cộng, do chính miệng một trong những tên đầu xỏ Việt Cộng nói lên, để từ đó tự tìm hiểu những điều chúng ta chưa làm, hoặc chưa làm đúng mức, hầu thay đổi chiến thuật chống Việt Cộng hữu hiệu hơn, bắt chúng phải chấp nhận chế độ đa đảng.
Chúng ta đã làm gì?
Trong quốc nội, hàng chục chiến sĩ tự do đã can đảm đứng lên, bất chấp đàn áp và lao tù Việt Cộng; chúng rất sợ ảnh hưởng của những vị anh hùng này, nhưng chúng tin tưởng là biện pháp đàn áp bắt giam những người cầm đầu phong trào là đã đủ để giữ cho khối đông đảo quần chúng không dám đứng lên chống đối chúng.
Chúng kiêng dè không dám bắt giam giữ nhiều tu sĩ công giáo vì nể sợ cái thế đoàn kết giữa giáo dân và tu sĩ. Ðiều này cho chúng ta thấy Việt Cộng nể sợ những vị lãnh tụ có thực lực hơn là những vị chỉ có kiến thức.
Khác biệt giữa những vị lãnh tụ Việt Nam có thực lực lớn lao và những vị có kiến thức bao quát là thời gian cần thiết để xây dựng hậu thuẫn bền chắc trong quần chúng. Xin đơn cử một thí dụ: Việt Cộng dám đàn áp luật sư Lê Công Ðịnh mà không dám bắt giam tổng giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt, cũng chỉ vì chúng sợ thế lực nhân dân sau lưng TGM Kiệt. Sau lưng ông Ðịnh, cô Công Nhân, chỉ có gia đình họ.
Dĩ nhiên sau lưng những chiến sĩ dân chủ luôn luôn có chúng ta, người Việt Nam quốc nội và hải ngoại; chúng ta hết lòng ủng hộ việc làm của quý vị chiến sĩ dân chủ, nhưng sự hết lòng đó chưa thể so sánh với những cuộc cầu nguyện tập thể, những cuộc biểu tình bảo vệ thánh giá.
Giáo dân sẵn sàng đương đầu với công an Việt Cộng, đầu bò Việt Cộng; quyết tâm của họ đối phó với mọi đàn áp của Việt Cộng là một cần thiết khách quan mà ông Trọng đề cập đến. Ngày nào tinh thần Ðồng Chiêm, Tam Tòa, Thái Hà lan rộng khắp nước thì ngày đó Việt Cộng sẽ mở rộng cơ chế cai trị, chấp nhận sự tham chính của những người Việt Nam không cộng sản.
Ða đảng là yếu tố khắc kỵ Việt Cộng, ngày nào có đa đảng là ngày đó nguy cơ Việt Cộng bị triệt tiêu bắt đầu.
Thiên Chúa Giáo cần đến 2 thế kỷ và rất nhiều cán bộ tôn giáo chấp nhận hy sinh, thủa ban đầu hy sinh cả đến tính mạng, sau đó là hy sinh chấp nhận ép mình theo luật Chúa, đem cuộc sống thanh bần của chính mình làm gương mẫu và tạo tin tưởng trong lòng người tín hữu. Phong trào đòi tự do, dân chủ cho nguòi Việt Nam không thể chờ 2 thế kỷ, chúng ta phải đốt giai đoạn, phải tìm một giá trị khác thay cho yếu tố thời gian.
Giá trị đó là tạo sự hiểu biết chính xác về tình hình chính trị để đánh động khối đồng bào quốc nội. Lợi khí giúp chúng ta là internet: nhiều mạng tin tức, bình luận đã ra đời trong quốc nội và hoạt động rất mạnh. Nhưng Việt Cộng cũng rất mạnh tay đối phó với những blogs quốc nội, chúng cầm tù bloggers, quấy phá hệ thống phát sóng của blogs.
Một điều đáng lo nữa là những hãng truyền thông điện tử như Google, Yahoo, đang gặp khó khăn tại hải ngoại; Google phải hạ tối hậu thư cho Trung Cộng đòi hoặc chính phủ nước này ngừng quấy phá, hoặc Google sẽ rút lui ra khỏi Trung Hoa nếu họ không có tự do để làm việc được tại đó.
Mặt khác chính phủ Ý bắt giam 3 viên chức của Google, buộc họ chịu trách nhiệm về nội dung những bài viết do những người khác sử dụng hệ thống Google để phổ biến. Chính phủ Ý coi Google như một tờ báo, do đó bắt họ chịu trách nhiệm về những bài đăng trên báo. Google phản bác, nói là phải ví họ như người phát thư, chỉ có trách nhiệm chuyển mọi lá thư đến đúng địa chỉ của người nhận; nội dung lá thư là trách nhiệm của người viết thư, không phải trách nhiệm của người đưa thư. Tuy khó khăn của Google có thể trở thành khó khăn của chúng ta, những người Việt Nam đang tranh đấu cho tự do, nhưng việc đó chưa xẩy ra ngay trong năm nay hay một vài năm tới.
Tại hải ngoại, nhiều mạng lưới Việt Nam đã ý thức việc loan tin trung thực là một trong những vũ khí ít ỏi chúng ta có trong tay để yểm trợ cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền trong nước.
Do đó họ tích cực hoạt động, và giờ này mạng lưới truyền thông kiến hiệu đến mức, trong mỗi cuộc xuống đường, mỗi hoạt động dân chủ đều có những thông tín viên thiện nguyện, có mặt tại chỗ, lấy tin, chụp hình, đôi khi còn quay phim gửi ra cho những đài hải ngoại. Việt Cộng có chống cự, nhưng hiệu quả không được bao nhiêu, quần chúng quốc nội vẫn nhận đủ tin tức trung thực; thành quả vận động của phương thức truyền thông điện tử đang ngày một loang rộng hơn.
Một biện pháp chống đỡ khác của Việt Cộng là đánh vào thành trì chống cộng hải ngoại; khai thác sức mạnh của truyền thông điện tử, chúng cho bọn tay sai post mọi thứ bẩn thỉu lên mạng để phá hoại uy tín của những chiến sĩ chống cộng
Ngoài vũ khí truyền thông, người Việt hải ngoại còn yểm trợ cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền trong nước bằng những cuộc vận động chính trị với các chính trị gia của những nước chúng ta đang cư ngụ.
Nhưng chúng ta làm chưa đủ và chưa đúng cách; trong một bài báo viết vài tháng trước, tôi trình bày với độc giả là việc mượn tay người khác giúp đỡ chúng ta là việc rất tốt, nhưng không tốt bằng chính chúng ta bước vào chính trường Hoa Kỳ, trở thành nghị sĩ, dân biểu Hoa Kỳ để có diễn đàn lớn đấu tranh cho tự do, nhân quyền trên quê hương chúng ta.
Tôi có nêu lên trường hợp điển hình của khối người Mỹ gốc Cuba, một sắc dân đang sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ có rất nhiều nét tương đồng với khối người Việt hải ngoại đang sống tại Mỹ.
Cuộc kiểm kê dân số năm 2000 ghi nhận có 1,241,685 người Cuba sống trên đất Mỹ, đến năm 2007, con số này tăng lên 1,611,478 người Mỹ gốc Cuba. Gần 1 triệu người (983,147) sinh đẻ tại Cuba, 628,331 sinh đẻ tại Hoa Kỳ. Trong tổng số 1.6 triệu người có 415,212 người không mang quốc tịch Mỹ. Trong số 1.2 triệu có quốc tịch, có bao nhiêu người có quyền bầu cử?
Tôi không tìm được tài liệu này, nhưng số cử tri người Mỹ gốc Cuba tròm trèm nửa triệu đã bầu vào hạ viện liên bang 4 dân biểu, Lincoln Diaz-BAlart, Mario Diaz-Balart, Ileana Ros-Lehtinen, Albio Sires, và 2 nghị sĩ: Mel Martinez, đại diện Florida, Bob Menendez, đại diện New Jersey. Về phía hành pháp ông cựu tổng trưởng thương mại liên bang Carlos M. Gutierrez, cũng là người Mỹ gốc Cuba.
Dưới thời tổng thống Bush, ông Eduardo Aguirre giữ chức vụ phó chủ tịch Ngân Hàng Xuất Nhập Cảng của Hoa Kỳ cũng là người Mỹ gốc Cuba, sau này ông trở thành giám đốc sở Di Trú; năm 2006 ông làm đại sứ Hoa Kỳ tại Spain. Ông John H. Sununu, tham mưu trưởng Bạch Cung cũng là người Mỹ gốc Cuba. Năm 2006 dân biểu tiểu bang Marco Rubio, một người Mỹ gốc Cuba, giữ vai trò chủ tịch hạ viện Florida.
Trong ngành tư pháp ông Danny Boggs hiện là thẩm phán tối cao của tòa phá án Hạt Sáu, và ông Raoul G. Cantero, III làm chánh án tối cao pháp viện của Florida đến năm 2008.
Nếu chúng ta có một thế lực chính trị mạnh như vậy thì cuộc vận động chính trị của chúng ta chắc chắn sẽ uy tín hơn, rộng rãi và kiến hiệu hơn là tình trạng hiện nay: chúng ta hớn hở quảng bá với nhau trên mạng việc Dân Biểu Loretta Sanchez, Dân Biểu Zoe Lofgren, và nghị sĩ Barbara Boxer gửi thư cho Chủ Tịch Việt Cộng, Nguyễn Minh Triết, để lên tiếng bênh vực cô Phạm Thanh Nghiên và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.
Chúng ta reo mừng vì nghị sĩ Jim Webb, Chủ Tịch Tiểu Ban Á Châu Thái Bình Dương – lên tiếng về vụ xử 4 chiến sĩ Ðịnh, Trung, Thức, và Long. Ông Webb nói các phiên tòa trong thời gian qua cho thấy Hoa Kỳ cần tiếp xúc trên cấp cao với chính phủ Việt Cộng về chủ đề nhân quyền.
Ông kêu gọi chính quyền Obama tiếp tục nêu lên chủ đề tự do lập hội và thực hiện chế độ pháp trị với chính phủ Việt Cộng, kiên trì hậu thuẫn việc bảo vệ các quyền làm người vốn được quốc tế công nhận.
Tất cả những cuộc vận động đó đều đúng, đều rất hay, nhưng chúng ta còn có thể làm hay hơn nếu chúng ta cũng làm được như người Cuba: đưa người vào chính giới Hoa Kỳ để tự tay chúng ta giải quyết vấn đề Việt Nam.
Tự tạo cho chúng ta một thực lực chính trị mạnh hơn là giải pháp giải phóng quê hương hữu hiệu nhất, và là cái cần thiết khách quan mà Việt Cộng đang chờ để chỉ thay đổi sau khi nhìn thấy là chúng không thể ngồi lỳ trên lưng người Việt Nam với tin tưởng được Trọng phát biểu là"Một Đảng vẫn hiệu quả nhất"
Trọng còn dài lời giải thích với hãng thông tấn Express India, khi phóng viên của hãng này hỏi ông, "Chủ tịch có nghĩ rằng, đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có hệ thống đa đảng hay không?”
Trọng trả lời :
"Chúng tôi quan niệm là kinh tế và hệ thống chính trị bao giờ cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chúng tôi chủ trương phát triển kinh tế đồng thời cũng đổi mới từng bước hệ thống chính trị một cách vững chắc cho phù hợp. Và đã rút ra kinh nghiệm là đổi mới kinh tế phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.
Thực tiễn các bạn thấy là đất nước chúng tôi về chính trị xã hội ổn định, nhân dân được làm chủ. Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ. Các đoàn thể cũng có tiếng nói và đang làm nhiệm vụ phản biện và giám sát xã hội, đất nước vẫn đang phát triển, đang đi lên. Từ thực tế thì thấy là chúng tôi thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất.”
Trong thế mạnh của kẻ cầm quyền, Trọng ngụy biện với dư luận Ấn về chế độ độc đảng, cũng như Dũng và Triết ngụy biện với Ðức Giáo Hoàng về tự do tín ngưỡng tại Việt Nam; lập luận của chúng có giá trị khả tín của quyền lực, nếu chúng ta không tạo ra được một lời đính chánh minh bạch, rõ rệt, cũng của một quyền lực.
Thử lấy một thí dụ, nếu dân biểu Cao Quang Ánh nói lên việc chị ông bị công an mời đi làm việc chỉ vì đã đến sứ quán Hoa Kỳ để gặp ông, hoặc việc ông bị cấm đoán không được gặp các chiến sĩ dân chủ, thì lời nói có gang, có thép trong miệng kẻ sang đó sẽ có sức mạnh gấp bao nhiêu lần những hoạt động của bà dân biểu Loretta Sanchez hay nghị sĩ Jim Webb.
Chúng ta cần tích cực hơn nữa, cần sáng suốt hơn nữa, và xin bạn đọc quan tâm đến quan điểm của giới trẻ muốn bước vào gánh vác việc nước, quan điểm mà bài viết của cô Diệu Hương (tôi trích đăng trong mục “góc nhìn” số báo này) nêu lên rất rõ.
Ðó là cách giúp chúng ta tạo ra điều cần thiết khách quan mà Việt Cộng đòi chúng ta phải có chúng mới bắt đầu nhượng bộ chấp nhận một chế độ đa đảng, chấp nhận viên thuốc độc cyanure kết thúc chế độ bạo tàn của chúng hiện nay.
Xin cùng nhau sửa mình để bắt đối phương thay đổi.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Thái Lan sẽ ban bố tình trạng khẩn cấp
Chính phủ Thái Lan thông báo họ sẽ áp dụng luật An ninh nội địa tại thủ đô Bangkok và 7 tỉnh lân cận từ ngày 11 tới 23/3.
Người ủng hộ cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra tập trung để nghe diễn thuyết về dân chủ tại tỉnh Chachoengsao ở phía đông thủ đô Bangkok vào ngày 4/3. Ảnh: Reuters. Quyết định của chính phủ được đưa ra nhằm đối phó với kế hoạch biểu tình khổng lồ của phe áo đỏ - những người ủng hộ cựu thủ tướng lưu vong Thaksin Shinawatra. Cuộc biểu tình được tổ chức sau khi tòa án Thái Lan tuyên bố tịch thu 1,4 tỷ trong số 2,2 tỷ USD tài sản của cựu thủ tướng Thaksin Sinawatra do cho rằng ông này lạm quyền để có tài sản đó khi còn làm thủ tướng.
Luật An ninh nội địa cho phép chính phủ đặt quân đội trong tình trạng sẵn sàng hành động, ban bố tình trạng giới nghiêm, cấm tụ tập đông người và lập các trạm kiểm soát.
BBC cho hay, Thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva vừa quyết định hủy bỏ chuyến thăm Australia để đối phó tình hình. Theo tờ Bangkok Post, có thể ông Vejjajiva cùng các quan chức sẽ ở trong một nơi an toàn để theo dõi tình hình biểu tình và ban hành các mệnh lệnh. Thủ tướng Thái Lan tin mục đích của phe áo đỏ là buộc chính phủ từ chức và tổ chức bầu cử, nhưng ông cho rằng họ sẽ không thể đạt được điều đó.
Liên minh Dân chủ chống độc tài (UDD) - tổ chức lãnh đạo phe áo đỏ - khẳng định cuộc biểu tình lần này sẽ diễn ra trong hòa bình. Các cuộc tuần hành và "lớp học" về dân chủ đang được tổ chức tại nhiều tỉnh trước khi các đoàn xe chở người biểu tình tiến về thủ đô vào cuối tuần.
Hiện chưa ai có thể dự đoán cuộc biểu tình sẽ kéo dài bao nhiêu lâu và mức độ nghiêm trọng như thế nào. Tuy nhiên, theo tờ nhật báo The Nation thì chính phủ đã chuẩn bị cho kịch bản xấu nhất - bạo lực và bạo loạn.
Chính quyền Bangkok tuyên bố sẽ "làm tất cả các biện pháp" để ngăn chặn bạo lực trong cuộc biểu tình của phe đối lập. Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Korn Chatikavanij nói thủ tướng tôn trọng quyền biểu tình hòa bình của người dân và sẽ "kiên nhẫn đến hết mức có thể".
"Nhưng chính phủ cũng quyết tâm sử dụng mọi phương cách mà quyền hạn cho phép, theo đúng luật pháp, để đảm bảo an toàn cho tính mạng và tài sản của công dân", ông khẳng định.
Ông Chatikavanij thừa nhận hòa giải chính trị vẫn là giấc mơ xa vời đối với người dân Thái Lan.
"Trên thực tế, tình hình trong vài năm tới có thể cho chúng ta thấy những khác biệt chính trị tăng lên", BBC dẫn lời bình luận của ông Chatikavanij.
Minh Long
Chính phủ Thái Lan thông báo họ sẽ áp dụng luật An ninh nội địa tại thủ đô Bangkok và 7 tỉnh lân cận từ ngày 11 tới 23/3.
Người ủng hộ cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra tập trung để nghe diễn thuyết về dân chủ tại tỉnh Chachoengsao ở phía đông thủ đô Bangkok vào ngày 4/3. Ảnh: Reuters. Quyết định của chính phủ được đưa ra nhằm đối phó với kế hoạch biểu tình khổng lồ của phe áo đỏ - những người ủng hộ cựu thủ tướng lưu vong Thaksin Shinawatra. Cuộc biểu tình được tổ chức sau khi tòa án Thái Lan tuyên bố tịch thu 1,4 tỷ trong số 2,2 tỷ USD tài sản của cựu thủ tướng Thaksin Sinawatra do cho rằng ông này lạm quyền để có tài sản đó khi còn làm thủ tướng.
Luật An ninh nội địa cho phép chính phủ đặt quân đội trong tình trạng sẵn sàng hành động, ban bố tình trạng giới nghiêm, cấm tụ tập đông người và lập các trạm kiểm soát.
BBC cho hay, Thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva vừa quyết định hủy bỏ chuyến thăm Australia để đối phó tình hình. Theo tờ Bangkok Post, có thể ông Vejjajiva cùng các quan chức sẽ ở trong một nơi an toàn để theo dõi tình hình biểu tình và ban hành các mệnh lệnh. Thủ tướng Thái Lan tin mục đích của phe áo đỏ là buộc chính phủ từ chức và tổ chức bầu cử, nhưng ông cho rằng họ sẽ không thể đạt được điều đó.
Liên minh Dân chủ chống độc tài (UDD) - tổ chức lãnh đạo phe áo đỏ - khẳng định cuộc biểu tình lần này sẽ diễn ra trong hòa bình. Các cuộc tuần hành và "lớp học" về dân chủ đang được tổ chức tại nhiều tỉnh trước khi các đoàn xe chở người biểu tình tiến về thủ đô vào cuối tuần.
Hiện chưa ai có thể dự đoán cuộc biểu tình sẽ kéo dài bao nhiêu lâu và mức độ nghiêm trọng như thế nào. Tuy nhiên, theo tờ nhật báo The Nation thì chính phủ đã chuẩn bị cho kịch bản xấu nhất - bạo lực và bạo loạn.
Chính quyền Bangkok tuyên bố sẽ "làm tất cả các biện pháp" để ngăn chặn bạo lực trong cuộc biểu tình của phe đối lập. Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Korn Chatikavanij nói thủ tướng tôn trọng quyền biểu tình hòa bình của người dân và sẽ "kiên nhẫn đến hết mức có thể".
"Nhưng chính phủ cũng quyết tâm sử dụng mọi phương cách mà quyền hạn cho phép, theo đúng luật pháp, để đảm bảo an toàn cho tính mạng và tài sản của công dân", ông khẳng định.
Ông Chatikavanij thừa nhận hòa giải chính trị vẫn là giấc mơ xa vời đối với người dân Thái Lan.
"Trên thực tế, tình hình trong vài năm tới có thể cho chúng ta thấy những khác biệt chính trị tăng lên", BBC dẫn lời bình luận của ông Chatikavanij.
Minh Long
“Không hối lộ, Chống áp bức”
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, Luật Sư Lê Thị Công Nhân lại bị công an Cộng Sản bắt cóc đem về “bót,” chỉ có mấy ngày sau khi được thả. Họ thay nhau thẩm vấn cô hơn 4 giờ, cuối cùng chỉ cốt để ngăn cản không cho tiếp một phóng viên ngoại quốc đã hẹn gặp để phỏng vấn cô. Hành động của công an Cộng Sản vẫn chứng tỏ chế độ này không có một khái niệm nào về liêm sỉ, không biết xấu hổ, không biết ngượng. Nó cũng chứng tỏ họ sợ thông tin, sợ sự thật, sợ những người dám nói sự thật.
Cô Lê Thị Công Nhân là một người đáng khâm phục. Cô là mẫu người bất khuất. Vì cô nhiệt thành tin vào mục đích của cuộc đời mình. Bước ra khỏi nhà tù Cộng Sản, cô vẫn tươi cười, thản nhiên, vẫn quyết dấn thân suốt đời tranh đấu cho dân Việt Nam được sống tự do. Thanh niên Việt Nam có thể noi gương cô. Nhìn vào tấm gương của cô, thế hệ trẻ ở nước ta sẽ vững tin sẽ có ngày mọi người đều được sống tự do dân chủ.
Niềm tin đó rất cần thiết. Vì hiện nay thanh niên nước ta đang bị lôi kéo vào cuộc sống đam mê vật chất, để chỉ nghĩ đến mình, không quan tâm đến người khác. Trong cuốn Lạc Ðường của nhà văn Ðào Hiếu, một nhân vật tuyên bố: “Hồi trẻ tôi thường nghĩ: Làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ... Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy. Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay... khi lịch sử đã chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách...” Ông Ðào Hiếu đã lớn lên ở miền Nam, học trong hệ thống trường học chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chính trong hệ thống học đường đó, ông được các thầy cô dậy sống theo một lý tưởng. Ông đã theo mấy giáo sư mà tin tưởng vào đảng Cộng Sản, hoạt động nội thành có công, được gia nhập đảng. Sau năm 1975 ông có lúc được trọng dụng, nhưng hoạn lộ không bằng phẳng vì tính bộc trực, không chịu luồn cúi. Nhưng tại sao một người trên 65 tuổi đó lại tỏ ý chán chường như câu “lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách”? Nhà văn còn kêu gọi mọi người, “Ðừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả... (C)ả lũ chúng ta đang bị lừa.” (Lạc Ðường, in 2008, trang 118).
Ðời sống của cô Lê Thị Công Nhân là những lời khẳng khái bác bỏ ý tưởng bi quan yếm thế đó. Thái độ bình tĩnh và nụ cười tự nhiên của cô là một thông điệp hùng hồn nhưng rất giản dị: Chúng ta có thể sống với lý tưởng. Trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những vụ lừa đảo, những vụ lừa đảo hàng loạt, lừa đảo cả một thế hệ, lừa đảo một nửa loài người cũng được. Nhưng cuối cùng, suốt lịch sử, loài người vẫn giữ niềm tin vào những giá trị cao hơn cuộc sống cá nhân mình. Cứ té ngã rồi lại đứng dậy. Loài người vẫn nuôi nhiều giấc mộng lý tưởng. Và đó là lý do chúng ta vẫn tiếp tục sống, tiếp tục mưu cầu hạnh phúc, xây dựng một xã hội loài người tốt đẹp hơn.
Chúng ta cảm ơn những người như Lê Thị Công Nhân, vì cô đang tặng cho tuổi trẻ Việt Nam một thứ mà xã hội đang thiếu: Niềm vui sống với một lý tưởng. Dân ta đang cần sống với niềm tin. Nói theo kiểu Phan Bội Châu đời xưa, chúng ta vẫn cần “Chấn Dân Khí.”
Hơn một thế kỷ trước đây, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, từ quần đảo Lưu Cầu), năm 1903, Phan Bội Châu nói tới ba nhu cầu thay đổi của nước ta: Học thuật, Nhân tài, và Dân khí. Ðổi Học thuật, giống như ngày nay chúng ta nói phải học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ của nhân loại. Dưỡng Nhân tài, cũng giống như nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là (việc cần làm) trước hết.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản 1990, cuốn 1, trang 145).
Cụ Phan nhận thấy: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng: Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết; người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” Tình trạng dân khí đầu thế kỷ 20 như thế. Hiện nay có thấy tốt hơn hay không, chỉ các nhà trí thức trong nước Việt Nam mới trả lời được.
Phan Bội Châu mô tả tình trạng Dân Khí tồi tệ, nói có những kẻ “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết.”
Phản ứng của các lãnh tụ đảng Cộng Sản khi thấy Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân đứng lên dõng dạc đòi dân Việt Nam được quyền sống như những con người; đúng là họ khiếp sợ như nghe sấm sét! Ðám công an Cộng Sản thấy các ông Nguyễn Thanh Hải, cô Phạm Thanh Nghiên bầy tỏ ý kiến chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng kinh ngạc không khác gì những con chó ở nước Thục cất tiếng sủa khi trông thấy mặt trời, con chó ở nước Việt thì sủa vang lên khi thấy tuyết; vì những loài chó này ít khi được nhìn thấy các “vật lạ” đó.
Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã đặt câu hỏi: Muốn chấn dân khí, phải làm thế nào? Một điều bất ngờ đối với những người Việt sống sau Cụ Phan 100 năm, là câu trả lời của Cụ Phan rất có tính thời sự. Cụ chỉ nêu lên hai việc phải làm. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.”
Khi đọc hai câu trong tựa đề bài này, chắc nhiều vị độc giả không nghĩ đó là những phương thuốc trị bệnh cho nước Việt Nam do Phan Bội Châu đề nghị từ thế kỷ trước:
“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.”
Cụ Phan không nêu lên hai việc cần thiết đó như là những khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp, hoặc chống triều đình nhà Nguyễn nhu nhược hủ lậu. Nhưng cụ coi đó là 2 việc cần làm để giúp cho “dân khí” nước ta phấn chấn. Chấn Dân Khí nghĩa là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền. Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng.
Phan Bội Châu coi chống tham nhũng là phương tiện: Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ. Liêm sỉ mới là cứu cánh. Trong một xã hội mà giới trẻ lớn lên thấy muốn gì cũng phải có tiền; và nếu có tiền thì cái gì cũng mua được; trong xã hội như vậy, thanh niên sẽ mất hết khái niệm về đức liêm sỉ. Trước đây nửa năm, công an Lâm Ðồng bắt đầu tấn công quậy phá các tăng ni trẻ tu tập ở Tu viện Bát Nhã; lúc đó đã có người đánh tiếng rằng vụ rắc rối này có thể thu xếp được. Người ta đưa điều kiện là phải đưa ra một triệu đô la Mỹ. Nhưng các thiền sinh trẻ tuổi ở Tu viện Bát Nhã đã từ chối. Nếu ngỏ lời kêu gọi lạc quyên, thì dù nêu ra bất cứ lý do nào, họ có thể được Phật tử khắp thế giới quyên góp, chắc cũng đủ gần triệu Mỹ kim, có thể mặc cả. Nhưng họ không làm.
Vì họ không thể đóng vai những người đi đưa tiền hối lộ, “cho tiện công việc”. Họ đang tập lối sống chính trực, lương thiện, và muốn khuyến khích mọi người sống chính trực, lương thiện. Nếu đưa tiền hối lộ thì chẳng khác gì tự phủ nhận lý tưởng sống của mình! Họ ở lại tu viện Bát Nhã để làm gì nếu chính lý tưởng của mình đã bị mất? Họ không đưa tiền hối lộ, vì họ yêu nước Việt Nam. Theo đúng lời khuyên của cụ Phan Bội Châu, họ chứng tỏ ở trong nước Việt Nam hiện nay còn rất nhiều người vẫn giữ vững liêm sỉ. Trên đời không phải cái gì cũng mua được! Các tăng ni Bát Nhã đã làm gương cho giới trẻ Việt Nam. Phan Bội Châu viết rõ ràng: “Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được!” (Toàn Tập, cuốn 1, trang 146).
Cô Lê Thị Công Nhân, trong một hoàn cảnh khác, cũng nêu tấm gương sáng cho giới trẻ nước ta, theo đúng lời khuyên thứ hai của Phan Bội Châu. Cô và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang đòi chính quyền Cộng Sản bớt áp bức những người dân bị oan khuất và các nhà trí thức bất đồng ý kiến. Chính họ đang “cổ võ ý khí cương cường” cho thế hệ các thanh niên đang lớn lên. Nói theo lối cụ Phan, những cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của giới trí thức nước ta, từ Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế hay Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý đều “chống áp bức” để giúp cho người dân Việt Nam hết sợ hãi. Khi đó, “công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim; búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được.” (trang 147)
Phan Bội Châu viết lá thư “Lưu Cầu” này ở Huế, nhưng mượn tên hòn đảo Nhật Bản này vì số phận của dân họ cũng giống nước Việt Nam lúc đó. Lưu Cầu, Riu Kiu, vốn là một vương quốc độc lập không thuộc giống dân Nhật, đã bị Nhật Bản chiếm nhiều lần và bị sáp nhập từ năm 1879, đổi tên là quần đảo Xung Thằng (Okinawa), họ mất nước từ đó tới nay.
Nhiều người Việt Nam cũng đang lo mối nguy mất nước, lúc này đọc lại những lời huyết lệ của cụ Phan còn thấy hợp. Muốn nước đứng vững và tiến lên, trước hết phải chấn hưng “dân khí.” Phải nâng cao tinh thần tự tin và nuôi dưỡng lý tưởng của thanh niên. Lý tưởng không phải là “những cái giẻ rách.” Lý tưởng có thật. Nó giúp cho đôi mắt của Lê Thị Công Nhân lúc nào cũng sáng ngời. Lý tưởng biến các tăng ni trẻ Bát Nhã thành những hạt giống Bồ Ðề. Và chính vì những lý tưởng vị tha, Ðức Giám Mục Ngô Quang Kiệt khuyên các giáo dân từ Vinh lên đưa tiễn ngài hãy thắng mọi sợ hãi. “Chúng ta phụng vụ trong Ðức Tin chứ không phải trong sợ hãi.” Trên đường sang Roma chữa bệnh ngài cũng yêu cầu mọi người hãy can đảm “nói sự thật” mà không sợ đàn áp. Ðó là những bản tuyên ngôn “Chấn dân khí” gửi đến tuổi trẻ Việt Nam.
Chúng ta thấy ở trong nước Việt Nam còn bao nhiêu người nuôi đức tin mãnh liệt, tin vào vào lẽ phải và sự thật, tin tưởng vào phẩm giá con người, tin con người có khả năng hướng vào điều thiện. Tất cả chúng ta có thể lạc quan. Thanh niên Việt Nam có thể sống với lý tưởng; và họ rất đáng sống với lý tưởng. Năm 1903 Phan Bội Châu còn phải chứng kiến nước ta sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và lũ quan lại hủ bại nhà Nguyễn. Nửa thế kỷ sau, dân Việt Nam đã đứng lên phá bỏ gông xiềng. Chế độ Cộng Sản sẽ tàn lụi không khác gì các chế độ thực dân và phong kiến.
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, Luật Sư Lê Thị Công Nhân lại bị công an Cộng Sản bắt cóc đem về “bót,” chỉ có mấy ngày sau khi được thả. Họ thay nhau thẩm vấn cô hơn 4 giờ, cuối cùng chỉ cốt để ngăn cản không cho tiếp một phóng viên ngoại quốc đã hẹn gặp để phỏng vấn cô. Hành động của công an Cộng Sản vẫn chứng tỏ chế độ này không có một khái niệm nào về liêm sỉ, không biết xấu hổ, không biết ngượng. Nó cũng chứng tỏ họ sợ thông tin, sợ sự thật, sợ những người dám nói sự thật.
Cô Lê Thị Công Nhân là một người đáng khâm phục. Cô là mẫu người bất khuất. Vì cô nhiệt thành tin vào mục đích của cuộc đời mình. Bước ra khỏi nhà tù Cộng Sản, cô vẫn tươi cười, thản nhiên, vẫn quyết dấn thân suốt đời tranh đấu cho dân Việt Nam được sống tự do. Thanh niên Việt Nam có thể noi gương cô. Nhìn vào tấm gương của cô, thế hệ trẻ ở nước ta sẽ vững tin sẽ có ngày mọi người đều được sống tự do dân chủ.
Niềm tin đó rất cần thiết. Vì hiện nay thanh niên nước ta đang bị lôi kéo vào cuộc sống đam mê vật chất, để chỉ nghĩ đến mình, không quan tâm đến người khác. Trong cuốn Lạc Ðường của nhà văn Ðào Hiếu, một nhân vật tuyên bố: “Hồi trẻ tôi thường nghĩ: Làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ... Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy. Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay... khi lịch sử đã chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách...” Ông Ðào Hiếu đã lớn lên ở miền Nam, học trong hệ thống trường học chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chính trong hệ thống học đường đó, ông được các thầy cô dậy sống theo một lý tưởng. Ông đã theo mấy giáo sư mà tin tưởng vào đảng Cộng Sản, hoạt động nội thành có công, được gia nhập đảng. Sau năm 1975 ông có lúc được trọng dụng, nhưng hoạn lộ không bằng phẳng vì tính bộc trực, không chịu luồn cúi. Nhưng tại sao một người trên 65 tuổi đó lại tỏ ý chán chường như câu “lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách”? Nhà văn còn kêu gọi mọi người, “Ðừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả... (C)ả lũ chúng ta đang bị lừa.” (Lạc Ðường, in 2008, trang 118).
Ðời sống của cô Lê Thị Công Nhân là những lời khẳng khái bác bỏ ý tưởng bi quan yếm thế đó. Thái độ bình tĩnh và nụ cười tự nhiên của cô là một thông điệp hùng hồn nhưng rất giản dị: Chúng ta có thể sống với lý tưởng. Trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những vụ lừa đảo, những vụ lừa đảo hàng loạt, lừa đảo cả một thế hệ, lừa đảo một nửa loài người cũng được. Nhưng cuối cùng, suốt lịch sử, loài người vẫn giữ niềm tin vào những giá trị cao hơn cuộc sống cá nhân mình. Cứ té ngã rồi lại đứng dậy. Loài người vẫn nuôi nhiều giấc mộng lý tưởng. Và đó là lý do chúng ta vẫn tiếp tục sống, tiếp tục mưu cầu hạnh phúc, xây dựng một xã hội loài người tốt đẹp hơn.
Chúng ta cảm ơn những người như Lê Thị Công Nhân, vì cô đang tặng cho tuổi trẻ Việt Nam một thứ mà xã hội đang thiếu: Niềm vui sống với một lý tưởng. Dân ta đang cần sống với niềm tin. Nói theo kiểu Phan Bội Châu đời xưa, chúng ta vẫn cần “Chấn Dân Khí.”
Hơn một thế kỷ trước đây, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, từ quần đảo Lưu Cầu), năm 1903, Phan Bội Châu nói tới ba nhu cầu thay đổi của nước ta: Học thuật, Nhân tài, và Dân khí. Ðổi Học thuật, giống như ngày nay chúng ta nói phải học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ của nhân loại. Dưỡng Nhân tài, cũng giống như nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là (việc cần làm) trước hết.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản 1990, cuốn 1, trang 145).
Cụ Phan nhận thấy: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng: Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết; người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” Tình trạng dân khí đầu thế kỷ 20 như thế. Hiện nay có thấy tốt hơn hay không, chỉ các nhà trí thức trong nước Việt Nam mới trả lời được.
Phan Bội Châu mô tả tình trạng Dân Khí tồi tệ, nói có những kẻ “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết.”
Phản ứng của các lãnh tụ đảng Cộng Sản khi thấy Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân đứng lên dõng dạc đòi dân Việt Nam được quyền sống như những con người; đúng là họ khiếp sợ như nghe sấm sét! Ðám công an Cộng Sản thấy các ông Nguyễn Thanh Hải, cô Phạm Thanh Nghiên bầy tỏ ý kiến chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng kinh ngạc không khác gì những con chó ở nước Thục cất tiếng sủa khi trông thấy mặt trời, con chó ở nước Việt thì sủa vang lên khi thấy tuyết; vì những loài chó này ít khi được nhìn thấy các “vật lạ” đó.
Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã đặt câu hỏi: Muốn chấn dân khí, phải làm thế nào? Một điều bất ngờ đối với những người Việt sống sau Cụ Phan 100 năm, là câu trả lời của Cụ Phan rất có tính thời sự. Cụ chỉ nêu lên hai việc phải làm. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.”
Khi đọc hai câu trong tựa đề bài này, chắc nhiều vị độc giả không nghĩ đó là những phương thuốc trị bệnh cho nước Việt Nam do Phan Bội Châu đề nghị từ thế kỷ trước:
“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.”
Cụ Phan không nêu lên hai việc cần thiết đó như là những khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp, hoặc chống triều đình nhà Nguyễn nhu nhược hủ lậu. Nhưng cụ coi đó là 2 việc cần làm để giúp cho “dân khí” nước ta phấn chấn. Chấn Dân Khí nghĩa là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền. Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng.
Phan Bội Châu coi chống tham nhũng là phương tiện: Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ. Liêm sỉ mới là cứu cánh. Trong một xã hội mà giới trẻ lớn lên thấy muốn gì cũng phải có tiền; và nếu có tiền thì cái gì cũng mua được; trong xã hội như vậy, thanh niên sẽ mất hết khái niệm về đức liêm sỉ. Trước đây nửa năm, công an Lâm Ðồng bắt đầu tấn công quậy phá các tăng ni trẻ tu tập ở Tu viện Bát Nhã; lúc đó đã có người đánh tiếng rằng vụ rắc rối này có thể thu xếp được. Người ta đưa điều kiện là phải đưa ra một triệu đô la Mỹ. Nhưng các thiền sinh trẻ tuổi ở Tu viện Bát Nhã đã từ chối. Nếu ngỏ lời kêu gọi lạc quyên, thì dù nêu ra bất cứ lý do nào, họ có thể được Phật tử khắp thế giới quyên góp, chắc cũng đủ gần triệu Mỹ kim, có thể mặc cả. Nhưng họ không làm.
Vì họ không thể đóng vai những người đi đưa tiền hối lộ, “cho tiện công việc”. Họ đang tập lối sống chính trực, lương thiện, và muốn khuyến khích mọi người sống chính trực, lương thiện. Nếu đưa tiền hối lộ thì chẳng khác gì tự phủ nhận lý tưởng sống của mình! Họ ở lại tu viện Bát Nhã để làm gì nếu chính lý tưởng của mình đã bị mất? Họ không đưa tiền hối lộ, vì họ yêu nước Việt Nam. Theo đúng lời khuyên của cụ Phan Bội Châu, họ chứng tỏ ở trong nước Việt Nam hiện nay còn rất nhiều người vẫn giữ vững liêm sỉ. Trên đời không phải cái gì cũng mua được! Các tăng ni Bát Nhã đã làm gương cho giới trẻ Việt Nam. Phan Bội Châu viết rõ ràng: “Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được!” (Toàn Tập, cuốn 1, trang 146).
Cô Lê Thị Công Nhân, trong một hoàn cảnh khác, cũng nêu tấm gương sáng cho giới trẻ nước ta, theo đúng lời khuyên thứ hai của Phan Bội Châu. Cô và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang đòi chính quyền Cộng Sản bớt áp bức những người dân bị oan khuất và các nhà trí thức bất đồng ý kiến. Chính họ đang “cổ võ ý khí cương cường” cho thế hệ các thanh niên đang lớn lên. Nói theo lối cụ Phan, những cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của giới trí thức nước ta, từ Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế hay Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý đều “chống áp bức” để giúp cho người dân Việt Nam hết sợ hãi. Khi đó, “công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim; búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được.” (trang 147)
Phan Bội Châu viết lá thư “Lưu Cầu” này ở Huế, nhưng mượn tên hòn đảo Nhật Bản này vì số phận của dân họ cũng giống nước Việt Nam lúc đó. Lưu Cầu, Riu Kiu, vốn là một vương quốc độc lập không thuộc giống dân Nhật, đã bị Nhật Bản chiếm nhiều lần và bị sáp nhập từ năm 1879, đổi tên là quần đảo Xung Thằng (Okinawa), họ mất nước từ đó tới nay.
Nhiều người Việt Nam cũng đang lo mối nguy mất nước, lúc này đọc lại những lời huyết lệ của cụ Phan còn thấy hợp. Muốn nước đứng vững và tiến lên, trước hết phải chấn hưng “dân khí.” Phải nâng cao tinh thần tự tin và nuôi dưỡng lý tưởng của thanh niên. Lý tưởng không phải là “những cái giẻ rách.” Lý tưởng có thật. Nó giúp cho đôi mắt của Lê Thị Công Nhân lúc nào cũng sáng ngời. Lý tưởng biến các tăng ni trẻ Bát Nhã thành những hạt giống Bồ Ðề. Và chính vì những lý tưởng vị tha, Ðức Giám Mục Ngô Quang Kiệt khuyên các giáo dân từ Vinh lên đưa tiễn ngài hãy thắng mọi sợ hãi. “Chúng ta phụng vụ trong Ðức Tin chứ không phải trong sợ hãi.” Trên đường sang Roma chữa bệnh ngài cũng yêu cầu mọi người hãy can đảm “nói sự thật” mà không sợ đàn áp. Ðó là những bản tuyên ngôn “Chấn dân khí” gửi đến tuổi trẻ Việt Nam.
Chúng ta thấy ở trong nước Việt Nam còn bao nhiêu người nuôi đức tin mãnh liệt, tin vào vào lẽ phải và sự thật, tin tưởng vào phẩm giá con người, tin con người có khả năng hướng vào điều thiện. Tất cả chúng ta có thể lạc quan. Thanh niên Việt Nam có thể sống với lý tưởng; và họ rất đáng sống với lý tưởng. Năm 1903 Phan Bội Châu còn phải chứng kiến nước ta sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và lũ quan lại hủ bại nhà Nguyễn. Nửa thế kỷ sau, dân Việt Nam đã đứng lên phá bỏ gông xiềng. Chế độ Cộng Sản sẽ tàn lụi không khác gì các chế độ thực dân và phong kiến.
Tổ quốc trên hết
Hương Trà Xin bắt đầu bài viết này bằng lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn: “Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ tự cho mình cái quyền nói một đằng, làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải, các chuyện đó khiến ta nghĩ đến những chuyện khác lớn hơn, tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra cái cớ tranh chấp, không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta. Dần dần họ sẽ biến giang sơn của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.
Thật đau buồn khi những lời di chúc đầy tinh thần dân tộc này của vị vua Trần Nhân Tôn, ngày nay đã bị quên lãng dần trong lòng dân tộc, nhất là hầu hết học sinh, sinh viên dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa do Đảng CSVN lãnh đạo cũng hoàn toàn xa lạ với những công lao to lớn của tiền nhân. Thật vậy, vì luôn luôn đặt quyền lợi của Tổ quốc, quyền lợi của dân tộc lên trên hết cho nên, vua Trần Nhân Tôn đã mở ra hội nghị Diên Hồng để lấy ý kiến nên hòa hay đánh của toàn dân trước ngoại xâm. Cuối cùng với tinh thần đoàn kết và thống nhất được ý chí dân tộc mà nhà vua đã đánh bại hoàn toàn giặc Tàu xâm lược.
Nhìn lại lịch sử VN từ xưa đến nay, chưa có một triều đại nào cam tâm dâng đất, dâng biển của đất nước cho ngoại bang TQ như triều đại của ĐCSVN hiện nay. Lịch sử cũng như ngay cả ĐCSVN vẫn thường lên án Lê Chiêu Thống là cổng rắn cắn gà nhà. Nhưng dưới thời Lê Chiêu Thống cai trị đất nước, lãnh thổ VN vẫn được bảo toàn không bị mất dù chỉ một tấc đất. Trong thời đại thông tin rộng mở như bây giờ, từng sự thật về những hành động của các nhà lãnh đạo CSVN đối với Tổ quốc và nhân dân ngày càng được phơi bày ra ánh sáng cho, dù đảng đã dùng mọi thủ đoạn để bưng bít thông tin. Mục đích của bài viết này là cũng chỉ muốn đưa ra những sự thật trong muôn ngàn sự thật mà các nhà lãnh đạo CSVN đã, đang và sẽ làm đối với quê hương đất nước để cho các chiến sĩ trong lực lượng quân đội, công an và những ai còn trung thành với đường lối và sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo hiện nay phải nhìn lại việc làm của mình, để sau này khỏi mang tội với Tổ quốc và nhân dân.
Chúng tôi không tham gia bất cứ một đảng phái hoặc tổ chức nào, chúng tôi chỉ là thành phần trẻ, là công dân của đất nước, với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu quê hương đất nước bắt buộc chúng tội phải lên tiếng, cũng như sẵn sàng chấp nhận mọi nguy hiểm sau này. Đã là con người thì hành động cũng có lúc đúng, lúc sai. Nhưng cốt yếu là phải nhận ra được cái lỗi lầm để mà khắc phục, hầu tránh tái phạm. Tuy bây giờ là muộn màng, nhưng cũng chưa quá muộn để những kẻ đã đánh mất lương tri, đang lầm đường lạc lối, phải thức tỉnh lương tâm mình trên trên bước đường dân chủ hóa đất nước, để một nước Việt Nam có thể phát triển hùng mạnh, sánh vai với các nước trên toàn thế giới. Chỉ có thế mới có thể gác qua một bên quá khứ, xoa dịu nỗi đau của hàng trăm ngàn vong linh của những người dân vô tội bị chết oan trong chính sách cải cách ruộng đất và phong trào nhân văn giai phẩm ở miền bắc (1953-1957), cùng với những mồ chôn tập thể ở Huế (1968) và các trại tập trung cải tạo sau năm 1975 do ĐCSVN thực hiện. Đây chính là nỗi đau không của riêng ai, mà là của toàn thể dân tộc Việt Nam! Lịch sử Việt Nam mãi mãi khắc ghi những hình ảnh đau thương này.
Không ai chủ trương tiêu diệt ĐCSVN, kể cả các phong trào và những người đang đấu tranh bất bạo động cho dân chủ nhân quyền hiện nay, cũng như những công dân yêu nước đang bị đảng giam cầm, những tội danh mà đảng đưa ra để bỏ tù những công dân yêu nước này là do tòa án của đảng tự đặt ra để kết án họ, chớ thật ra việc làm của họ là phù hợp với hiến pháp của đảng (điều 69 Hiến Pháp) và những điều khoản trong các công ước quốc tế mà chính quyền CSVN đã ký và tình nguyện tham gia. Cương lĩnh của các đảng phái và các phong trào tranh đấu cũng chỉ đòi hỏi một sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng với ĐCSVN thông qua việc ứng cử và bầu cử tự do để nhân dân chọn lựa. Hiện nay, các nhà lãnh đạo đảng đang xiết chặc vòng dây kiểm soát hệ thống Internet, chặc đứt mọi nguồn kinh tế của các nhà đấu tranh dân chủ, bắt buộc những người sử dụng điện thoại di động phải đăng ký tên và số Chứng Minh Nhân Dân (CMND) để theo dõi, mọi việc giao dịch với ngân hàng để vay tiền sản xuất của người dân đều phải qua sự kiểm soát và giới thiệu của các cấp chính quyền, thông tin báo chí đều phải đi bên lề phải do đảng đề ra, mọi quyền hành lãnh đạo trong tất cả các ban ngành đoàn thể trong hệ thống chính quyền từ cơ quan nhỏ nhất cũng đều phải là đảng viên của ĐCSVN…v.v…. Đây là những việc làm không thể chấp nhận được trong một đất nước vừa là thành viên WTO, thành viên LHQ, chủ tịch luân phiên ASEAN mà Việt Nam đang thụ hưởng.
Đất nước đang thực sự lâm nguy vì những hành động ươn hèn để giữ vững địa vị cá nhân của các nhà lãnh đạo chóp bu của ĐCSVN, đây là một sự thật quá rõ ràng. Hành động trên thực tế của các cấp lãnh đạo đảng từ trung ương xuống địa phương đều thể hiện sự thật này. Ngoài việc vùng đất địa đầu Ải nam quan, 2/3 thác bãn Giốc cùng bãi Tục Lãm và trên 10.000km2 vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã thực sự về tay Trung Quốc qua các hiệp định, hiệp ước tháng 12/1999 và tháng 12/2000 mà chính quyền CSVN đã ký với TQ, nhưng cho đến hôm nay nhân dân cũng không được biết nội dung các bản hiệp định, hiệp ước này. Còn quần đảo Hoàng Sa nơi có cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH với hải quân TQ đầu năm 1974 thì đã được thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm tháng 9/1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi phần lớn quần đảo Trường Sa thì đã bị Trung Quốc xâm chiếm năm 1988, mà hiện nay bọn người TQ đã xây dựng xong các phi trường và căn cứ quân sự rồi. Còn nhớ trước đây, TQ đã hăm dọa và ngăn cản không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Hoa kỳ hoạt động trên vùng biển VN theo hợp đồng giữa VN và các công ty này, thì hôm nay ngày 26/2/2010 vừa qua, TQ đã đưa lực lượng và phương tiện kỹ thuật đến để dò tìm và khai thác dầu hỏa trên vùng biển đó trước sự im lặng của các nhà lãnh đạo VN.
Trong năm vừa qua Trung tâm thương mại Hồng Vận thành phố Móng Cái do người TQ xây dựng đã ngừng thi công bởi vì Việt Nam phát hiện phía Trung Quốc đã bí mật đào đường hầm xuyên qua biên giới VN. Các nhà lãnh đạo CSVN đã dùng quyền lực của mình để thực hiện cho bằng được dự án khai thác Bauxite ở Tây nguyên, một dự án đã được ông đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lãnh khác trong đảng, các đại biểu Quốc hội cùng trên 3000 nhà trí thức bao gồm từ các giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà khoa học ưu tú trong và ngoài nước phản đối bằng những kiến nghị và đưa ra những tư liệu, phân tích chuyên môn về một đại họa cho môi trường, cho cuộc sống của nhân dân, cho nền văn hóa lâu đời của Tây nguyên, nhất là ảnh hưởng đến sự mất nước trong tương lai nếu đại dự án bô xít vẫn được tiếp tục cho TQ khai thác bởi vì, theo như sự nhận định của đại tướng Võ nguyên Giáp: ai làm chủ được Tây nguyên có nghĩa là sẽ làm chủ cả Đông dương. Nhưng với những con người lãnh đạo đất nước bất tài, không có tư duy và tầm nhìn chiến lược như hiện nay, việc khai thác bô xít vẫn ngang nhiên tiến hành. Tây nguyên đang giẫy chết vì sự khai thác Bô xít, vì sự quậy phá của hàng trăm ngàn công nhân TQ, toàn dân VN đang đau khổ vì tình trạng lạm phát gia tăng, vì sự mất đất do các cán bộ cùng cơ quan nhà nước lạm dụng quyền hành lấy đất của dân, nhất là tình trạng bao che tham nhũng, tiêu cực đang lan tràn công khai trong xã hội. Những đại nạn đang xảy ra cho nhân dân và đất nước chưa khắc phục được, thì mới đây dư luận trong và ngoài nước lại biết đến cái tin động trời: 2 tỉnh giáp biên giới Trung Quốc: Lạng Sơn và Quảng Ninh cùng với 8 tỉnh khác đã âm thầm ký cho Hồng Kong, Trung Quốc và Đài loan thuê trên 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn trong thời hạn 50 năm. Trong đó, riêng phần của Trung Quốc là 264 ngàn hecta khiến cho trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cùng đứng đơn kiến nghị lên trung ương đảng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Nông nghiệp-Môi trường trong đó có đoạn: “Đây là hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Mất của còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Các tỉnh cho thuê rừng dài hạn là tự sát, còn các nước thuê rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo”. Riêng bài viết của cựu thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (người đã từng làm đại sứ VN tại TQ 15 năm) có tựa đề: cảnh giác với thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc được đăng trên trang web bô xít và các trang web khác. Cuối bài ông kêu gọi: “Trước những hành động của ông láng giếng hữu nghị trên biển đông cũng như trên đất liền VN. Hàng triệu người VN yêu nước đang bức xúc và sôi gan. Chúng ta phải làm gì đây?”.
Nhìn qua những việc làm của các nhà lãnh đạo CSVN trong thời gian qua. chúng ta có thể nhận thấy ngay rằng: rồi đây VN là một Tây Tạng thứ 2 của Trung Quốc thứ 2 của Trung Quốc là điều chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì, không phải ngẫu nhiên mà những sự việc khó tin nhưng có thật này lại xảy ra.
- Trang web thương mại hợp tác VN và TQ, nhưng tên miền…vn lại để cho phía TQ sử dụng hàng mấy năm liền để họ tự do đăng những bài nói xấu VN, đến khi các nhà trí thức biết được và phãn đối thì mới chịu ngưng.
- Trang web điện tử của ĐCSVN do ông Đào Duy Quát làm Tổng Biên Tập, lại đăng nguyên văn bài của các trang web TQ về cuộc tập trận của hải quân TQ trên vùng biển Đông thuộc hải phận VN mà họ từng tuyên bố là của họ gồm cả HS-TS của VN mà không có lời bình luận nào cả. Đến khi gặp sự phản đối quyết liệt của các nhà trí thức cư dân mạng thì mới chịu gỡ xuống. Hành động nối giáo cho giặc này của ông Quát chỉ bị phạt hành chính là 30 triệu đồng VN. Trong khi đó, người con gái Phạm Thanh Nghiên ngồi tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “HS-TS là của VN” thì bị bắt giam, ra tòa lãnh bản án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Còn nhà báo tự do điếu cày Nguyễn Văn Hải thì bị chính quyền vu khống là trốn thuế với 3 năm tù, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thì bị công an dàn cảnh đánh trọng thương để có cớ bắt chị với tội danh đánh người, cuối cùng chị phải nhận lãnh bản án 42 tháng tù và 3 năm quản chế.
- Những pano kỹ niệm 65 năm thành lập QĐNDVN được trưng bày trên các ngã đường của thành phố HCM, dưới lá cờ VN lại là hình ảnh của đoàn quân TQ. Khi phóng viên đài RFA phỏng vấn ông Nguyễn Thành Rum (GĐ sở VH-TT) thì ông này trả lời: đó là hình ảnh của đoàn quân TQ được nhân viên của ông lấy từ các trang web của TQ và đã được chỉnh sửa lại, đến khi phóng viên hỏi tại sao ngày lễ kỷ niệm QĐNDVN mà lại không in hình của đoàn quân VN thì ông Rum không trả lời mà cúp điện thoại.
- Song song với những lời tuyên bố đầy khiêu khích và xem thường VN của phát ngôn viên TQ Jiang Ju ngày 5/1/2010: “những tuyên bố của VN chẳng hề trở ngại lớn lao gì đến kế hoạch phát triển của TQ trong khu vực, cũng chẳng gây thiệt hại đáng kể gì đến quan hệ song phương của 2 nước”, cùng lời đe dọa của đại sứ TQ tại VN Tôn quốc Cường ngày 6/1/2010: “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại,… VN nên tạm gác lại tranh chấp với TQ, chờ thời gian chính mùi rồi sẽ giải quyết”. Nhật báo giải phóng quân TQ đăng bài viết về biên giới như sau: “Nơi nào mà lợi ích của quốc gia chúng ta mở đến, thì đó là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang của chúng ta”.
Với những lời nói của kẻ bề trên như thế, nhưng các nhà lãnh đạo CSVN vẫn im lặng không dám phản đối, ngược lại lúc nào cũng tuyệt đối trung thành với châm ngôn: “16 chữ vàng và 4 tốt” do TQ đề ra. Đã vậy mà TQ cũng chưa vừa ý, còn đưa Dương Khiết Trì (UVBCT) thay mặt ĐCSTQ qua Hà Nội họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để đưa thêm 4 mối tương quan nữa cho 2 nước Việt-Trung thực hiện đó là:
- Sơn thủy tương liên dịch - Sông núi liền nhau
- Văn hóa tương thông ---- - Văn hóa hiểu nhau
- Lý tưởng tương đồng ---- - Lý tưởng giống nhau
- Mệnh vận tương quan ---- - Vận mệnh gắn bó
- Trong khi TQ lúc nào cũng tìm cách chiếm đoạt nước ta, ngang nhiên bắt bớ, tịch thu tài sản và đánh đập ngư dân của ta để đòi tiền chuộc khiến cho ông Nguyễn Việt Thắng (chủ tịch hiệp hội hải sản VN) bức xúc tuyên bố: “TQ thường xuyên bắt tàu đánh cá của VN, ngay cả khi tàu đánh cá VN không hoạt động trong các vùng biển mà họ cấm, nhưng TQ vẫn bắt và đòi tiền chuộc”. TQ đã ngang nhiên tuyên bố những lời nói trịch thượng và đe dọa VN như thế, nhưng các nhà lãnh đạo VN lúc nào cũng trung thành và ca ngợi TQ bằng chứng là, ngày 17/1/2010 trên trang web điện tử của chính phủ CSVN có điện văn chúc mừng kỷ niệm 60 năm quan hệ VN-TQ có đoạn: “Nhân dân VN luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc, sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của đảng, chính phủ và nhân dân TQ anh em đã dành cho nhân dân VN trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ trên cơ sở phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt đã tạo động lực mới quan trọng đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới”.
Vì lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ của TQ mà ngày nay đất nước phải mất đi những phần đất cùng các hải đảo và vùng biển thiêng liêng nhất mà tiền nhân xưa đã phải hy sinh xương máu để gìn giữ. Cũng vì lòng biết ơn sâu sắc mà đại dự án bô xít Tây nguyên (một dự án cực kỳ nguy hiểm cho tương lai đất nước) giao cho TQ khai thác, cùng với 264 ngàn hecta rừng nguyên liệu đầu nguồn cũng dành cho TQ thuê thời gian 50 năm. Trong tương lai không biết với phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt cùng 4 mối tương quan mà TQ vừa thêm vào, đất nước VN sẽ ra sao trong mục tiêu đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới của chính quyền CSVN.
Thiết nghĩ nếu CNCS Marx-Lenin mà tuyệt vời và thực hiện được như những lời giảng dạy của các gíao viên trong hệ thống giáo dục VN, như những lời tuyền truyền của cán bộ chính quyền trong nhân dân, thì các nước CS đông âu và ngay cả Liên Xô nơi sinh ra ông Lê-Nin không bao giờ từ bỏ nó, cũng như tất cả các nước văn minh và tiên tiến trên thế giới đâu có nước nào theo CNCS. Một thực tế đã cho mọi người thấy rằng, 4 nước CS còn sót lại trên thế giới đều phải nhờ vào sự giúp đỡ và đầu tư của các nước dân chủ đa nguyên, ngay cả con cái của các nhà lãnh đạo CS vẫn gởi con du học tại các nước tư bản này mà VN là điển hình. Như vậy, có phải CNCS đã thực sự lỗi thời trong nền văn minh của nhân loại?
Các tướng lãnh, các đảng viên cao cấp, các nhà ngoại giao của đảng, các nhà trí thức VN, đang mạnh dạn phê phán những chính sách sai lầm của các nhà lãnh đạo CSVN, họ không bao giờ bị sự xúi giục của các thế lực nước ngoài, càng không phải là thành phần phản động như sự suy nghĩ của đảng. Vì sự tồn vong của đất nước, vì lợi ích lâu dài của toàn dân, vì nhận thấy con đường CNCS là không tưởng cho nên, họ mới chấp nhận hiểm nguy để dấng thân vào con đường chính nghĩa của dân tộc.
Chúng tôi xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của 2 nhà lãnh đạo ĐCSVN đã từng cống hiến hết mình cho đảng:
1/ - Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt: “….. Tổ quốc là của mình, đất nước là của mình, quốc gia là của mình, VN là của mình chớ không phải là của riêng của người CS hay bất cứ tôn giáo hay phe phái nào….., một quốc hội có người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách thực sự tự do, công bằng thì sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ…”.
2/ - ông Lữ Phương (cựu thứ trưởng bộ văn hóa chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN): “…. Ngày xưa nếu ĐCSVN đã cứu nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính CNTB sẽ cứu nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu”.
Quyền lợi của Tổ quốc, của quốc gia dân tộc là trên hết, còn quyền lợi của các cá nhân và của ĐCSVN và các đảng phài khác chỉ là một trong các thành phần của xã hội mà thôi. Đã đến lúc các nhà lãnh đạo CSVN phải thay đổi tư duy để còn tiếp tục tồn tại trong lòng dân tộc. Dĩ nhiên, là con người thì không ai muốn đất nước mình phải rơi vào tay nước khác, dân tộc mình phải sống cuộc đời nô lệ, và nếu những gì mà chúng tôi nêu ra là đúng sự thật thì các cá nhân và các lực lượng quân đội, công an phải biết rằng: con đường phục vụ của mình là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước và quyền lợi của nhân dân. Nếu tiếp tục trung thành với đường lối của các nhà lãnh đạo CSVN như hiện nay, tức là phản bội Tổ quốc và nhân dân.
Sài Gòn ngày 8/3/2010
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com)
Hương Trà Xin bắt đầu bài viết này bằng lời di chúc của vị vua anh minh Trần Nhân Tôn: “Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ tự cho mình cái quyền nói một đằng, làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải, các chuyện đó khiến ta nghĩ đến những chuyện khác lớn hơn, tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra cái cớ tranh chấp, không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta. Dần dần họ sẽ biến giang sơn của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn: một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.
Thật đau buồn khi những lời di chúc đầy tinh thần dân tộc này của vị vua Trần Nhân Tôn, ngày nay đã bị quên lãng dần trong lòng dân tộc, nhất là hầu hết học sinh, sinh viên dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa do Đảng CSVN lãnh đạo cũng hoàn toàn xa lạ với những công lao to lớn của tiền nhân. Thật vậy, vì luôn luôn đặt quyền lợi của Tổ quốc, quyền lợi của dân tộc lên trên hết cho nên, vua Trần Nhân Tôn đã mở ra hội nghị Diên Hồng để lấy ý kiến nên hòa hay đánh của toàn dân trước ngoại xâm. Cuối cùng với tinh thần đoàn kết và thống nhất được ý chí dân tộc mà nhà vua đã đánh bại hoàn toàn giặc Tàu xâm lược.
Nhìn lại lịch sử VN từ xưa đến nay, chưa có một triều đại nào cam tâm dâng đất, dâng biển của đất nước cho ngoại bang TQ như triều đại của ĐCSVN hiện nay. Lịch sử cũng như ngay cả ĐCSVN vẫn thường lên án Lê Chiêu Thống là cổng rắn cắn gà nhà. Nhưng dưới thời Lê Chiêu Thống cai trị đất nước, lãnh thổ VN vẫn được bảo toàn không bị mất dù chỉ một tấc đất. Trong thời đại thông tin rộng mở như bây giờ, từng sự thật về những hành động của các nhà lãnh đạo CSVN đối với Tổ quốc và nhân dân ngày càng được phơi bày ra ánh sáng cho, dù đảng đã dùng mọi thủ đoạn để bưng bít thông tin. Mục đích của bài viết này là cũng chỉ muốn đưa ra những sự thật trong muôn ngàn sự thật mà các nhà lãnh đạo CSVN đã, đang và sẽ làm đối với quê hương đất nước để cho các chiến sĩ trong lực lượng quân đội, công an và những ai còn trung thành với đường lối và sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo hiện nay phải nhìn lại việc làm của mình, để sau này khỏi mang tội với Tổ quốc và nhân dân.
Chúng tôi không tham gia bất cứ một đảng phái hoặc tổ chức nào, chúng tôi chỉ là thành phần trẻ, là công dân của đất nước, với tinh thần trách nhiệm và lòng yêu quê hương đất nước bắt buộc chúng tội phải lên tiếng, cũng như sẵn sàng chấp nhận mọi nguy hiểm sau này. Đã là con người thì hành động cũng có lúc đúng, lúc sai. Nhưng cốt yếu là phải nhận ra được cái lỗi lầm để mà khắc phục, hầu tránh tái phạm. Tuy bây giờ là muộn màng, nhưng cũng chưa quá muộn để những kẻ đã đánh mất lương tri, đang lầm đường lạc lối, phải thức tỉnh lương tâm mình trên trên bước đường dân chủ hóa đất nước, để một nước Việt Nam có thể phát triển hùng mạnh, sánh vai với các nước trên toàn thế giới. Chỉ có thế mới có thể gác qua một bên quá khứ, xoa dịu nỗi đau của hàng trăm ngàn vong linh của những người dân vô tội bị chết oan trong chính sách cải cách ruộng đất và phong trào nhân văn giai phẩm ở miền bắc (1953-1957), cùng với những mồ chôn tập thể ở Huế (1968) và các trại tập trung cải tạo sau năm 1975 do ĐCSVN thực hiện. Đây chính là nỗi đau không của riêng ai, mà là của toàn thể dân tộc Việt Nam! Lịch sử Việt Nam mãi mãi khắc ghi những hình ảnh đau thương này.
Không ai chủ trương tiêu diệt ĐCSVN, kể cả các phong trào và những người đang đấu tranh bất bạo động cho dân chủ nhân quyền hiện nay, cũng như những công dân yêu nước đang bị đảng giam cầm, những tội danh mà đảng đưa ra để bỏ tù những công dân yêu nước này là do tòa án của đảng tự đặt ra để kết án họ, chớ thật ra việc làm của họ là phù hợp với hiến pháp của đảng (điều 69 Hiến Pháp) và những điều khoản trong các công ước quốc tế mà chính quyền CSVN đã ký và tình nguyện tham gia. Cương lĩnh của các đảng phái và các phong trào tranh đấu cũng chỉ đòi hỏi một sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng với ĐCSVN thông qua việc ứng cử và bầu cử tự do để nhân dân chọn lựa. Hiện nay, các nhà lãnh đạo đảng đang xiết chặc vòng dây kiểm soát hệ thống Internet, chặc đứt mọi nguồn kinh tế của các nhà đấu tranh dân chủ, bắt buộc những người sử dụng điện thoại di động phải đăng ký tên và số Chứng Minh Nhân Dân (CMND) để theo dõi, mọi việc giao dịch với ngân hàng để vay tiền sản xuất của người dân đều phải qua sự kiểm soát và giới thiệu của các cấp chính quyền, thông tin báo chí đều phải đi bên lề phải do đảng đề ra, mọi quyền hành lãnh đạo trong tất cả các ban ngành đoàn thể trong hệ thống chính quyền từ cơ quan nhỏ nhất cũng đều phải là đảng viên của ĐCSVN…v.v…. Đây là những việc làm không thể chấp nhận được trong một đất nước vừa là thành viên WTO, thành viên LHQ, chủ tịch luân phiên ASEAN mà Việt Nam đang thụ hưởng.
Đất nước đang thực sự lâm nguy vì những hành động ươn hèn để giữ vững địa vị cá nhân của các nhà lãnh đạo chóp bu của ĐCSVN, đây là một sự thật quá rõ ràng. Hành động trên thực tế của các cấp lãnh đạo đảng từ trung ương xuống địa phương đều thể hiện sự thật này. Ngoài việc vùng đất địa đầu Ải nam quan, 2/3 thác bãn Giốc cùng bãi Tục Lãm và trên 10.000km2 vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã thực sự về tay Trung Quốc qua các hiệp định, hiệp ước tháng 12/1999 và tháng 12/2000 mà chính quyền CSVN đã ký với TQ, nhưng cho đến hôm nay nhân dân cũng không được biết nội dung các bản hiệp định, hiệp ước này. Còn quần đảo Hoàng Sa nơi có cuộc hải chiến giữa hải quân VNCH với hải quân TQ đầu năm 1974 thì đã được thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm tháng 9/1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi phần lớn quần đảo Trường Sa thì đã bị Trung Quốc xâm chiếm năm 1988, mà hiện nay bọn người TQ đã xây dựng xong các phi trường và căn cứ quân sự rồi. Còn nhớ trước đây, TQ đã hăm dọa và ngăn cản không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Hoa kỳ hoạt động trên vùng biển VN theo hợp đồng giữa VN và các công ty này, thì hôm nay ngày 26/2/2010 vừa qua, TQ đã đưa lực lượng và phương tiện kỹ thuật đến để dò tìm và khai thác dầu hỏa trên vùng biển đó trước sự im lặng của các nhà lãnh đạo VN.
Trong năm vừa qua Trung tâm thương mại Hồng Vận thành phố Móng Cái do người TQ xây dựng đã ngừng thi công bởi vì Việt Nam phát hiện phía Trung Quốc đã bí mật đào đường hầm xuyên qua biên giới VN. Các nhà lãnh đạo CSVN đã dùng quyền lực của mình để thực hiện cho bằng được dự án khai thác Bauxite ở Tây nguyên, một dự án đã được ông đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lãnh khác trong đảng, các đại biểu Quốc hội cùng trên 3000 nhà trí thức bao gồm từ các giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà khoa học ưu tú trong và ngoài nước phản đối bằng những kiến nghị và đưa ra những tư liệu, phân tích chuyên môn về một đại họa cho môi trường, cho cuộc sống của nhân dân, cho nền văn hóa lâu đời của Tây nguyên, nhất là ảnh hưởng đến sự mất nước trong tương lai nếu đại dự án bô xít vẫn được tiếp tục cho TQ khai thác bởi vì, theo như sự nhận định của đại tướng Võ nguyên Giáp: ai làm chủ được Tây nguyên có nghĩa là sẽ làm chủ cả Đông dương. Nhưng với những con người lãnh đạo đất nước bất tài, không có tư duy và tầm nhìn chiến lược như hiện nay, việc khai thác bô xít vẫn ngang nhiên tiến hành. Tây nguyên đang giẫy chết vì sự khai thác Bô xít, vì sự quậy phá của hàng trăm ngàn công nhân TQ, toàn dân VN đang đau khổ vì tình trạng lạm phát gia tăng, vì sự mất đất do các cán bộ cùng cơ quan nhà nước lạm dụng quyền hành lấy đất của dân, nhất là tình trạng bao che tham nhũng, tiêu cực đang lan tràn công khai trong xã hội. Những đại nạn đang xảy ra cho nhân dân và đất nước chưa khắc phục được, thì mới đây dư luận trong và ngoài nước lại biết đến cái tin động trời: 2 tỉnh giáp biên giới Trung Quốc: Lạng Sơn và Quảng Ninh cùng với 8 tỉnh khác đã âm thầm ký cho Hồng Kong, Trung Quốc và Đài loan thuê trên 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn trong thời hạn 50 năm. Trong đó, riêng phần của Trung Quốc là 264 ngàn hecta khiến cho trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cùng đứng đơn kiến nghị lên trung ương đảng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Nông nghiệp-Môi trường trong đó có đoạn: “Đây là hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Mất của còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Các tỉnh cho thuê rừng dài hạn là tự sát, còn các nước thuê rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo”. Riêng bài viết của cựu thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (người đã từng làm đại sứ VN tại TQ 15 năm) có tựa đề: cảnh giác với thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc được đăng trên trang web bô xít và các trang web khác. Cuối bài ông kêu gọi: “Trước những hành động của ông láng giếng hữu nghị trên biển đông cũng như trên đất liền VN. Hàng triệu người VN yêu nước đang bức xúc và sôi gan. Chúng ta phải làm gì đây?”.
Nhìn qua những việc làm của các nhà lãnh đạo CSVN trong thời gian qua. chúng ta có thể nhận thấy ngay rằng: rồi đây VN là một Tây Tạng thứ 2 của Trung Quốc thứ 2 của Trung Quốc là điều chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì, không phải ngẫu nhiên mà những sự việc khó tin nhưng có thật này lại xảy ra.
- Trang web thương mại hợp tác VN và TQ, nhưng tên miền…vn lại để cho phía TQ sử dụng hàng mấy năm liền để họ tự do đăng những bài nói xấu VN, đến khi các nhà trí thức biết được và phãn đối thì mới chịu ngưng.
- Trang web điện tử của ĐCSVN do ông Đào Duy Quát làm Tổng Biên Tập, lại đăng nguyên văn bài của các trang web TQ về cuộc tập trận của hải quân TQ trên vùng biển Đông thuộc hải phận VN mà họ từng tuyên bố là của họ gồm cả HS-TS của VN mà không có lời bình luận nào cả. Đến khi gặp sự phản đối quyết liệt của các nhà trí thức cư dân mạng thì mới chịu gỡ xuống. Hành động nối giáo cho giặc này của ông Quát chỉ bị phạt hành chính là 30 triệu đồng VN. Trong khi đó, người con gái Phạm Thanh Nghiên ngồi tọa kháng tại nhà với biểu ngữ “HS-TS là của VN” thì bị bắt giam, ra tòa lãnh bản án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Còn nhà báo tự do điếu cày Nguyễn Văn Hải thì bị chính quyền vu khống là trốn thuế với 3 năm tù, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thì bị công an dàn cảnh đánh trọng thương để có cớ bắt chị với tội danh đánh người, cuối cùng chị phải nhận lãnh bản án 42 tháng tù và 3 năm quản chế.
- Những pano kỹ niệm 65 năm thành lập QĐNDVN được trưng bày trên các ngã đường của thành phố HCM, dưới lá cờ VN lại là hình ảnh của đoàn quân TQ. Khi phóng viên đài RFA phỏng vấn ông Nguyễn Thành Rum (GĐ sở VH-TT) thì ông này trả lời: đó là hình ảnh của đoàn quân TQ được nhân viên của ông lấy từ các trang web của TQ và đã được chỉnh sửa lại, đến khi phóng viên hỏi tại sao ngày lễ kỷ niệm QĐNDVN mà lại không in hình của đoàn quân VN thì ông Rum không trả lời mà cúp điện thoại.
- Song song với những lời tuyên bố đầy khiêu khích và xem thường VN của phát ngôn viên TQ Jiang Ju ngày 5/1/2010: “những tuyên bố của VN chẳng hề trở ngại lớn lao gì đến kế hoạch phát triển của TQ trong khu vực, cũng chẳng gây thiệt hại đáng kể gì đến quan hệ song phương của 2 nước”, cùng lời đe dọa của đại sứ TQ tại VN Tôn quốc Cường ngày 6/1/2010: “hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại,… VN nên tạm gác lại tranh chấp với TQ, chờ thời gian chính mùi rồi sẽ giải quyết”. Nhật báo giải phóng quân TQ đăng bài viết về biên giới như sau: “Nơi nào mà lợi ích của quốc gia chúng ta mở đến, thì đó là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang của chúng ta”.
Với những lời nói của kẻ bề trên như thế, nhưng các nhà lãnh đạo CSVN vẫn im lặng không dám phản đối, ngược lại lúc nào cũng tuyệt đối trung thành với châm ngôn: “16 chữ vàng và 4 tốt” do TQ đề ra. Đã vậy mà TQ cũng chưa vừa ý, còn đưa Dương Khiết Trì (UVBCT) thay mặt ĐCSTQ qua Hà Nội họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để đưa thêm 4 mối tương quan nữa cho 2 nước Việt-Trung thực hiện đó là:
- Sơn thủy tương liên dịch - Sông núi liền nhau
- Văn hóa tương thông ---- - Văn hóa hiểu nhau
- Lý tưởng tương đồng ---- - Lý tưởng giống nhau
- Mệnh vận tương quan ---- - Vận mệnh gắn bó
- Trong khi TQ lúc nào cũng tìm cách chiếm đoạt nước ta, ngang nhiên bắt bớ, tịch thu tài sản và đánh đập ngư dân của ta để đòi tiền chuộc khiến cho ông Nguyễn Việt Thắng (chủ tịch hiệp hội hải sản VN) bức xúc tuyên bố: “TQ thường xuyên bắt tàu đánh cá của VN, ngay cả khi tàu đánh cá VN không hoạt động trong các vùng biển mà họ cấm, nhưng TQ vẫn bắt và đòi tiền chuộc”. TQ đã ngang nhiên tuyên bố những lời nói trịch thượng và đe dọa VN như thế, nhưng các nhà lãnh đạo VN lúc nào cũng trung thành và ca ngợi TQ bằng chứng là, ngày 17/1/2010 trên trang web điện tử của chính phủ CSVN có điện văn chúc mừng kỷ niệm 60 năm quan hệ VN-TQ có đoạn: “Nhân dân VN luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc, sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của đảng, chính phủ và nhân dân TQ anh em đã dành cho nhân dân VN trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ trên cơ sở phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt đã tạo động lực mới quan trọng đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới”.
Vì lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ của TQ mà ngày nay đất nước phải mất đi những phần đất cùng các hải đảo và vùng biển thiêng liêng nhất mà tiền nhân xưa đã phải hy sinh xương máu để gìn giữ. Cũng vì lòng biết ơn sâu sắc mà đại dự án bô xít Tây nguyên (một dự án cực kỳ nguy hiểm cho tương lai đất nước) giao cho TQ khai thác, cùng với 264 ngàn hecta rừng nguyên liệu đầu nguồn cũng dành cho TQ thuê thời gian 50 năm. Trong tương lai không biết với phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt cùng 4 mối tương quan mà TQ vừa thêm vào, đất nước VN sẽ ra sao trong mục tiêu đưa quan hệ 2 nước phát triển lên tầm cao mới của chính quyền CSVN.
Thiết nghĩ nếu CNCS Marx-Lenin mà tuyệt vời và thực hiện được như những lời giảng dạy của các gíao viên trong hệ thống giáo dục VN, như những lời tuyền truyền của cán bộ chính quyền trong nhân dân, thì các nước CS đông âu và ngay cả Liên Xô nơi sinh ra ông Lê-Nin không bao giờ từ bỏ nó, cũng như tất cả các nước văn minh và tiên tiến trên thế giới đâu có nước nào theo CNCS. Một thực tế đã cho mọi người thấy rằng, 4 nước CS còn sót lại trên thế giới đều phải nhờ vào sự giúp đỡ và đầu tư của các nước dân chủ đa nguyên, ngay cả con cái của các nhà lãnh đạo CS vẫn gởi con du học tại các nước tư bản này mà VN là điển hình. Như vậy, có phải CNCS đã thực sự lỗi thời trong nền văn minh của nhân loại?
Các tướng lãnh, các đảng viên cao cấp, các nhà ngoại giao của đảng, các nhà trí thức VN, đang mạnh dạn phê phán những chính sách sai lầm của các nhà lãnh đạo CSVN, họ không bao giờ bị sự xúi giục của các thế lực nước ngoài, càng không phải là thành phần phản động như sự suy nghĩ của đảng. Vì sự tồn vong của đất nước, vì lợi ích lâu dài của toàn dân, vì nhận thấy con đường CNCS là không tưởng cho nên, họ mới chấp nhận hiểm nguy để dấng thân vào con đường chính nghĩa của dân tộc.
Chúng tôi xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của 2 nhà lãnh đạo ĐCSVN đã từng cống hiến hết mình cho đảng:
1/ - Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt: “….. Tổ quốc là của mình, đất nước là của mình, quốc gia là của mình, VN là của mình chớ không phải là của riêng của người CS hay bất cứ tôn giáo hay phe phái nào….., một quốc hội có người tự ứng cử và được dân bầu lên một cách thực sự tự do, công bằng thì sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ…”.
2/ - ông Lữ Phương (cựu thứ trưởng bộ văn hóa chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN): “…. Ngày xưa nếu ĐCSVN đã cứu nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính CNTB sẽ cứu nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu”.
Quyền lợi của Tổ quốc, của quốc gia dân tộc là trên hết, còn quyền lợi của các cá nhân và của ĐCSVN và các đảng phài khác chỉ là một trong các thành phần của xã hội mà thôi. Đã đến lúc các nhà lãnh đạo CSVN phải thay đổi tư duy để còn tiếp tục tồn tại trong lòng dân tộc. Dĩ nhiên, là con người thì không ai muốn đất nước mình phải rơi vào tay nước khác, dân tộc mình phải sống cuộc đời nô lệ, và nếu những gì mà chúng tôi nêu ra là đúng sự thật thì các cá nhân và các lực lượng quân đội, công an phải biết rằng: con đường phục vụ của mình là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước và quyền lợi của nhân dân. Nếu tiếp tục trung thành với đường lối của các nhà lãnh đạo CSVN như hiện nay, tức là phản bội Tổ quốc và nhân dân.
Sài Gòn ngày 8/3/2010
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com)
Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Văn Bút Quốc Tế đòi trả tự do tức khắc và vô điều kiện
cho nhà văn Trần Khải Thanh Thủy
và tất cả tù nhân ngôn luận và lương tâm
Trong một Thông cáo/Kháng Nghị thư phổ biến toàn cầu ngày 10 tháng 3 năm 2010, Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (International PEN CODEP/WIPC) đã cực lực phản đối bản án 3 năm 6 tháng tù giam áp đặt đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Văn Bút Quốc Tế khẳng định rằng nữ văn hữu Trần Khải Thanh Thủy bị trừng phạt bằng án tù giam chỉ vì hành xử ôn hòa quyền tự do để diễn đạt quan điểm của mình. Cho nên Văn Bút Quốc Tế đòi bà phải được trả tự do tức khắc và vô điều kiện, tuân theo Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR) mà nhà nước Việt Nam CS đã ký kết.
Từng là hội viên Hội nhà Văn và Câu lạc bộ nhà Thơ Hà Nội, bà Trần Khải Thanh Thủy là một nhà văn được công nhận, có tinh thần độc lập, viết nhiều tác phẩm giá trị, dưới một số bút hiệu khác nhau (Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Quý Dân, Nguyễn Hải, Võ Quế Dương, Trần Thị Thanh Hằng, Phạm Xuân Mai, Mai Xuân Thưởng, v.v.). Bà còn là một nhà thơ, nhà viết tiểu luận, phóng viên và cộng tác biên tập với nhiều tờ báo, như bán nguyệt san Tổ Quốc (báo bị cấm, in không giấy phép CS). Bà là tác giả Nhật Ký Ngục Tù, Hang Đá, Đối Thoại cùng Sông và mấy mươi tác phẩm thơ văn, bài báo khác. Bằng ngòi bút bén nhạy, tinh tế, ngay thẳng, bà bênh vực những nạn nhân của bất công xã hội. Bà viết về các trường hợp cán bộ viên chức tham nhũng và lạm quyền, cướp đất chiếm nhà của hàng trăm nông dân không có khả năng tự vệ và chống đối. Bởi vậy bà Trần Khải Thanh Thủy trở thành đối tượng của nhiều cuộc sách nhiễu hung bạo và bắt giam để thẩm vấn của công an mật vụ. Kể từ tháng 9 năm 2006, bà là một tù nhân bị công an mật vụ sách nhiễu và canh chừng nghiêm ngặt tại nhà. Ngày 21 tháng 4 năm 2007, trong lúc bà bị mắc bệnh lao phổi nặng và bệnh tiểu đường, bà bị bắt giam cho đến ngày 31 tháng giêng năm 2008. Bà chỉ ra khỏi trại tù sau khi tòa CS tuyên phạt bà 9 tháng 10 ngày tù giam (bằng thời gian bà đã bị nhốt) và 3 năm quản chế vì ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Ban đầu, bà Trần Khải Thanh Thủy bị truy tố về "tội tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN’’, theo Điều 88/Hình luật CS. ‘’Tội’’ của bà: đã phổ biến nhiều bài tiểu luận mà chế độ kiểm duyệt CS không ngăn chận được. Bà còn bị cáo buộc là hội viên hoạt động của Khối 8406, hỗ trợ Ủy Ban Nhân Quyền độc lập và tham gia tổ chức một Công đoàn bất hợp pháp đối với nhà nước CS. Cuối cùng, vì áp lực quốc tế và một số lý do khác, tòa CS đã biến cải cáo trạng nêu trên thành ra tội ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Về nhà, bà còn mang những vết thẹo rất rõ trên mặt và trên chân bà, hậu quả của 9 tháng 10 ngày bị đày đọa, hành hung, ngược đãi.
Ngày 25 tháng 9 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy phổ biến bài viết ‘’Trò Hề Xã Hội Chủ Nghĩa’’. Truyện kể lại quang cảnh đồng bào, bà con, thân nhân nhiều tù nhân ngôn luận và lương tâm sáng ngày 24 tháng 9 năm 2009 chen chúc đứng chờ phiên tòa CS Hà Nội xử nhà dân chủ đối kháng Phạm Văn Trội. Rốt cuộc, phiên xử đã bị hoãn đến tháng 10 nhưng không có thông tri cho dân chúng biết. Ngày 8 tháng 10 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy đi Hải Phòng để ủng hộ thân nhân gia đình những nhà dân chủ đối kháng sắp bị tòa CS xét xử. Chưa đến thành phố hải cãng thì bà đã bị Công an CS chận lại và buộc bà trở về Hà Nội. Chiều hôm đó, bà và chồng bà đã bị những kẻ ‘’lạ mặt’’ đến tận nhà gây sự, khiêu khích để lấy cớ đánh đập vợ chồng bà khiến bà bị thương ở đầu, máu chảy ướt hết tóc, đổ xuống vai áo và nền gạch trước nhà. Nhưng công an CS lại bắt giam bà Trần Khải Thanh Thủy, ngụy tạo hình ảnh (ngày chụp ảnh 28 tháng 2 năm 2005 đổi thành ngày 9 tháng 10 năm 2009), tung tin trên báo rằng bà đã gây thương tích cho một người có mặt lúc đó. Thế giới đều biết dưới chế độ CS không có báo chí tự do và nhà báo độc lập được phép hành nghề. Cho nên, dù chi tiết tin tức về biến cố chưa đầy đủ và rõ ràng, các quan sát viên trung thực đều tin rằng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là nạn nhân của một vụ bạo hành có tổ chức và điều khiển trong bóng tối. Chẳng khác vụ nhà báo nước Tunisie Taoufik Ben Brik bị bắt giữ mới đây vì bị cáo là ‘’đã hành hung một phụ nữ trên đường phố’’. Phóng Viên Không Biên Giới xác quyết rằng tổng thống (độc tài) Zine El Abidine Ben Ali không bao giờ dung thứ ông Taoufik Ben Brik vì những bài báo ông viết chỉ trích chế độ Tunis . Bà Trần Khải Thanh Thủy bị nhốt lại tại trại Hỏa Lò Mới (Cầu Diễn Hà Nội), nơi mà hai năm trước, giữa những điều kiện lao lung tồi tệ, bà còn bị tù thường phạm nhốt chung hành hung và sỉ nhục.
Cần nhắc lại, từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 năm 2009, một chiến dịch thể hiện ‘’truyền thống văn hóa’’ phi nhân, đồi bại và quái đản, hiếm thấy trên thế giới, được tổ chức để ném phân người và xác chết thú vật vào cửa và mặt tiền căn nhà của bà Trần Khải Thanh Thủy. Sau khi bà Trần Khải Thanh Thủy bị giam cầm độc đoán đầu năm 2007, hội Nhà Văn Hà Nội dưới sự lãnh đạo của đảng CS đã xóa tên bà trong danh sách hội viên. Một hành vi làm kinh tởm các nhà văn hội viên Văn Bút Quốc Tế vì bà Trần Khải Thanh Thủy là hội viên danh dự của Trung Tâm Văn Bút Anh. Hành vi của hội Nhà Văn Hà Nội làm nhớ đến phong cách của hội Nhà Văn Liên Sô thời bạo chúa Staline ngự trị tại "thành trì tổ quốc xã hội chủ nghĩa". Đài Quan Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch) trao tặng bà Trần Khải Thanh Thủy Giải Tự do Phát biểu Lillian Hellman/Dashiell Hammet năm 2007. Năm 2009, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và mục sư Nguyễn Công Chính đồng lãnh Giải Nhân Quyền của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam .
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy từng được Văn Bút Quốc Tế tuyên dương nhân dịp thế giới cữ hành Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3 năm 2007. Cùng với nhà văn và nhà báo Nga Politkosvkayav, nhà báo Umida Niyazo, nước Ouzbékistan, nhà báo Serkalem Fasi, nước Éthiopie, bà Trần Khải Thanh Thủy tiêu biểu cho những nhà nữ trí thức chân chính, những người cầm bút dấn thân, bất khuất, mà tù ngục, hăm dọa và cả đến giết hại không hủy diệt được tiếng nói chỉ trích bạo quyền và bạo lực.
Năm nay - 2010 - đánh dấu 50 năm thành lập Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (1960). Trong một thông cáo đặc biệt phổ biến vào Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy lại được Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới nhắc đến, cùng với 14 nhà văn và nhà báo phụ nữ được tuyên dương vì là biểu tượng lòng can đảm của hàng ngàn người cầm bút nam lẫn nữ từng bị dọa giết, bị tra tấn và tù đày, bị sát hại hoặc mất tích trong nửa thế kỷ qua :
Nhà văn Nawal El-Saadawi, nước Ai Cập; nhà văn Alaíde de Foppa de Solórzano, nước Guatamala; nhà thơ Alicia Partnoy, nước Argentine; nhà văn Nien Cheng, nước Trung Hoa (mất năm 2009); nhà văn Lydia Cacho Ribeiro, nước Mễ Tây Cơ; nhà văn Shahrnush Parsipour, nước Ba Tư; nhà văn Maria Elena Cruz Varela, nước Cuba; nhà báo Martha Kumsa, nước Ethiopie; nhà văn Taslima Nasrin, nước Bangladesh; nhà báo Sihem Bensedrine, nước Tunisie; nhà thơ Irina Ratushinskaya, nước Nga dưới chế độ Cộng sản Liên Sô; nhà báo Anna Politkovskaya, nước Nga (bị ám sát năm 2006); nhà văn Aung San Suu Kyi, nước Miến Điện; nhà báo Natalia Khoussaïnovna Estemirova, nước Nga (bị bắt cóc và sát hại ở Tchétchénie năm 2009) và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nước Việt Nam (dưới chế độ CS).
Văn Bút Quốc Tế không quên nhắc đến cháu An Khuê mười ba tuổi, con gái út của bà Trần Khải Thanh Thủy và ông Đỗ Bá Tân, người chồng tình nghĩa thủy chung, hết lòng bênh vực và ủng hộ bà. Nhà giáo Đỗ Bá Tân bị phạt 2 năm tù giam treo và 47 tháng tù quản chế trong cùng một phiên tòa xử nhà văn vợ ông ngày 5 tháng 2 năm 2010 tại quận Đống Đa, Hà Nội. Văn Bút Quốc Tế còn nhấn mạnh rằng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là một trong số ít nhứt là 19 nhà văn dân chủ đối kháng bị nhốt tù ở Việt Nam . Văn Bút Quốc Tế cũng bày tỏ sự quan ngại sâu xa về tình trạng sức khỏe của bà Trần Khải Thanh Thủy vì được biết bà mắc bệnh tiểu đường và bệnh lao phổi.
Văn Bút Quốc Tế kêu gọi các Trung Tâm Văn Bút gởi ngay Kháng Nghị để
- thúc giục nhà cầm quyền CS phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cùng tất cả những người hiện còn bị giam cầm ở Việt Nam (tù nhân ngôn luận và lương tâm như bà Trần Khải Thanh Thủy). Và nhấn mạnh rằng hành vi trấn áp đó của nhà cầm quyền CS vi phạm Điều 19 Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ đã ký kết;
- đòi đảm bảo cho nhà văn nữ tù nhân Trần Khải Thanh Thủy được săn sóc và trị bệnh với đầy đủ thuốc men cần thiết.
(Nguồn tin và tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, thành viên Ủy Ban Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù, hội viên Trung Tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc - Genève).
Genève ngày 12 tháng 3 năm 2010
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland.
Kháng Nghị thư của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù còn được phổ biến toàn cầu trên hệ thống IFEX Action Alert Network (International Freedom of Expression Exchange/Trao Đổi Quốc Tế Quyền Tự Do Phát Biểu Quan Điểm) .
International PEN Writers in Prison Committee (PEN WIPC)
Brownlow House, 50/51 High Holborn, London WC1V 6ER,
RAPID ACTION NETWORK 9 March 2010 RAN 24/07 Update #2
VIETNAM: Award-winning writer and journalist Tran Khai Thanh Thuy (f) sentenced; health concerns.
The Writers in Prison Committee of International PEN strongly protests the three and a half year prison sentence handed to writer and journalist Tran Khai Thanh Thuy. PEN considers Tran Khai Thanh Thuy to be convicted solely for peacefully exercising her right to free expression, and calls for her immediate and unconditional release in accordance with the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) to which Vietnam is a signatory.
According to International PEN’s information, Tran Khai Thanh Thuy, a novelist, poet, essayist and editor of the underground dissident magazine To Quoc (Fatherland), was sentenced by the People’s Court in Dong Da District of Ha Noi to three and a half years in prison and 47 months of probationary detention, on 5 February 2010. The verdict was given after a one day trial and was based on Article 104 of the Penal Code. At the same trial, Thuy’s husband was given a two year suspended prison sentence and 47 months of probation, but has been allowed to remain at home to care for the couple’s youngest daughter, aged thirteen.
Tran Khai Thanh Thuy was arrested on 8 October 2009, after publicly expressing her support for six dissidents facing trial. On the day of her arrest an incident took place near Thuy’s home, in which two men reportedly attacked Thuy’s husband, and she intervened on his defence. She was subsequently questioned and charged with assault, although it is widely believed that she herself was in fact the victim of the attack. Thuy suffers from diabetes and tuberculosis, and there are serious concerns that her health is deteriorating in prison. She is held at Hoa Lo Number 1 Detention Camp (Cau Dien), Ha Noi.
Background
Tran Khai Thanh Thuy has been under heavy surveillance and harassment since September 2006 for her writings published online. She was arrested at her home in April 2007, where she had already been under house arrest for six months for her critical writings. She is a member of the Union of Writers and the Club of Women Poets of Hanoi, and is a recipient of the 2008 Hellman Hammet Award. She is among at least nineteen dissident writers currently detained in Vietnam.
BBC report: http://news.bbc.co.uk/1/hi/8500462.stm
Monsters and Critics: http://www.monstersandcritics.com/news/ ... lt-Roundup[1
Please send appeals:
Calling for the immediate and unconditional of Tran Khai Thanh Thuy and all those currently detained in Vietnam in violation of Article 19 of the International Covenant on Civil and Political Rights, to which Vietnam is a signatory;
Seeking assurances that she is given full access to all necessary medical care whilst in prison. (...)
Văn Bút Quốc Tế đòi trả tự do tức khắc và vô điều kiện
cho nhà văn Trần Khải Thanh Thủy
và tất cả tù nhân ngôn luận và lương tâm
Trong một Thông cáo/Kháng Nghị thư phổ biến toàn cầu ngày 10 tháng 3 năm 2010, Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (International PEN CODEP/WIPC) đã cực lực phản đối bản án 3 năm 6 tháng tù giam áp đặt đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Văn Bút Quốc Tế khẳng định rằng nữ văn hữu Trần Khải Thanh Thủy bị trừng phạt bằng án tù giam chỉ vì hành xử ôn hòa quyền tự do để diễn đạt quan điểm của mình. Cho nên Văn Bút Quốc Tế đòi bà phải được trả tự do tức khắc và vô điều kiện, tuân theo Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR) mà nhà nước Việt Nam CS đã ký kết.
Từng là hội viên Hội nhà Văn và Câu lạc bộ nhà Thơ Hà Nội, bà Trần Khải Thanh Thủy là một nhà văn được công nhận, có tinh thần độc lập, viết nhiều tác phẩm giá trị, dưới một số bút hiệu khác nhau (Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Quý Dân, Nguyễn Hải, Võ Quế Dương, Trần Thị Thanh Hằng, Phạm Xuân Mai, Mai Xuân Thưởng, v.v.). Bà còn là một nhà thơ, nhà viết tiểu luận, phóng viên và cộng tác biên tập với nhiều tờ báo, như bán nguyệt san Tổ Quốc (báo bị cấm, in không giấy phép CS). Bà là tác giả Nhật Ký Ngục Tù, Hang Đá, Đối Thoại cùng Sông và mấy mươi tác phẩm thơ văn, bài báo khác. Bằng ngòi bút bén nhạy, tinh tế, ngay thẳng, bà bênh vực những nạn nhân của bất công xã hội. Bà viết về các trường hợp cán bộ viên chức tham nhũng và lạm quyền, cướp đất chiếm nhà của hàng trăm nông dân không có khả năng tự vệ và chống đối. Bởi vậy bà Trần Khải Thanh Thủy trở thành đối tượng của nhiều cuộc sách nhiễu hung bạo và bắt giam để thẩm vấn của công an mật vụ. Kể từ tháng 9 năm 2006, bà là một tù nhân bị công an mật vụ sách nhiễu và canh chừng nghiêm ngặt tại nhà. Ngày 21 tháng 4 năm 2007, trong lúc bà bị mắc bệnh lao phổi nặng và bệnh tiểu đường, bà bị bắt giam cho đến ngày 31 tháng giêng năm 2008. Bà chỉ ra khỏi trại tù sau khi tòa CS tuyên phạt bà 9 tháng 10 ngày tù giam (bằng thời gian bà đã bị nhốt) và 3 năm quản chế vì ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Ban đầu, bà Trần Khải Thanh Thủy bị truy tố về "tội tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN’’, theo Điều 88/Hình luật CS. ‘’Tội’’ của bà: đã phổ biến nhiều bài tiểu luận mà chế độ kiểm duyệt CS không ngăn chận được. Bà còn bị cáo buộc là hội viên hoạt động của Khối 8406, hỗ trợ Ủy Ban Nhân Quyền độc lập và tham gia tổ chức một Công đoàn bất hợp pháp đối với nhà nước CS. Cuối cùng, vì áp lực quốc tế và một số lý do khác, tòa CS đã biến cải cáo trạng nêu trên thành ra tội ‘’phá rối trật tự công cộng’’. Về nhà, bà còn mang những vết thẹo rất rõ trên mặt và trên chân bà, hậu quả của 9 tháng 10 ngày bị đày đọa, hành hung, ngược đãi.
Ngày 25 tháng 9 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy phổ biến bài viết ‘’Trò Hề Xã Hội Chủ Nghĩa’’. Truyện kể lại quang cảnh đồng bào, bà con, thân nhân nhiều tù nhân ngôn luận và lương tâm sáng ngày 24 tháng 9 năm 2009 chen chúc đứng chờ phiên tòa CS Hà Nội xử nhà dân chủ đối kháng Phạm Văn Trội. Rốt cuộc, phiên xử đã bị hoãn đến tháng 10 nhưng không có thông tri cho dân chúng biết. Ngày 8 tháng 10 năm 2009, bà Trần Khải Thanh Thủy đi Hải Phòng để ủng hộ thân nhân gia đình những nhà dân chủ đối kháng sắp bị tòa CS xét xử. Chưa đến thành phố hải cãng thì bà đã bị Công an CS chận lại và buộc bà trở về Hà Nội. Chiều hôm đó, bà và chồng bà đã bị những kẻ ‘’lạ mặt’’ đến tận nhà gây sự, khiêu khích để lấy cớ đánh đập vợ chồng bà khiến bà bị thương ở đầu, máu chảy ướt hết tóc, đổ xuống vai áo và nền gạch trước nhà. Nhưng công an CS lại bắt giam bà Trần Khải Thanh Thủy, ngụy tạo hình ảnh (ngày chụp ảnh 28 tháng 2 năm 2005 đổi thành ngày 9 tháng 10 năm 2009), tung tin trên báo rằng bà đã gây thương tích cho một người có mặt lúc đó. Thế giới đều biết dưới chế độ CS không có báo chí tự do và nhà báo độc lập được phép hành nghề. Cho nên, dù chi tiết tin tức về biến cố chưa đầy đủ và rõ ràng, các quan sát viên trung thực đều tin rằng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là nạn nhân của một vụ bạo hành có tổ chức và điều khiển trong bóng tối. Chẳng khác vụ nhà báo nước Tunisie Taoufik Ben Brik bị bắt giữ mới đây vì bị cáo là ‘’đã hành hung một phụ nữ trên đường phố’’. Phóng Viên Không Biên Giới xác quyết rằng tổng thống (độc tài) Zine El Abidine Ben Ali không bao giờ dung thứ ông Taoufik Ben Brik vì những bài báo ông viết chỉ trích chế độ Tunis . Bà Trần Khải Thanh Thủy bị nhốt lại tại trại Hỏa Lò Mới (Cầu Diễn Hà Nội), nơi mà hai năm trước, giữa những điều kiện lao lung tồi tệ, bà còn bị tù thường phạm nhốt chung hành hung và sỉ nhục.
Cần nhắc lại, từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 năm 2009, một chiến dịch thể hiện ‘’truyền thống văn hóa’’ phi nhân, đồi bại và quái đản, hiếm thấy trên thế giới, được tổ chức để ném phân người và xác chết thú vật vào cửa và mặt tiền căn nhà của bà Trần Khải Thanh Thủy. Sau khi bà Trần Khải Thanh Thủy bị giam cầm độc đoán đầu năm 2007, hội Nhà Văn Hà Nội dưới sự lãnh đạo của đảng CS đã xóa tên bà trong danh sách hội viên. Một hành vi làm kinh tởm các nhà văn hội viên Văn Bút Quốc Tế vì bà Trần Khải Thanh Thủy là hội viên danh dự của Trung Tâm Văn Bút Anh. Hành vi của hội Nhà Văn Hà Nội làm nhớ đến phong cách của hội Nhà Văn Liên Sô thời bạo chúa Staline ngự trị tại "thành trì tổ quốc xã hội chủ nghĩa". Đài Quan Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch) trao tặng bà Trần Khải Thanh Thủy Giải Tự do Phát biểu Lillian Hellman/Dashiell Hammet năm 2007. Năm 2009, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và mục sư Nguyễn Công Chính đồng lãnh Giải Nhân Quyền của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam .
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy từng được Văn Bút Quốc Tế tuyên dương nhân dịp thế giới cữ hành Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3 năm 2007. Cùng với nhà văn và nhà báo Nga Politkosvkayav, nhà báo Umida Niyazo, nước Ouzbékistan, nhà báo Serkalem Fasi, nước Éthiopie, bà Trần Khải Thanh Thủy tiêu biểu cho những nhà nữ trí thức chân chính, những người cầm bút dấn thân, bất khuất, mà tù ngục, hăm dọa và cả đến giết hại không hủy diệt được tiếng nói chỉ trích bạo quyền và bạo lực.
Năm nay - 2010 - đánh dấu 50 năm thành lập Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù (1960). Trong một thông cáo đặc biệt phổ biến vào Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8 tháng 3, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy lại được Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới nhắc đến, cùng với 14 nhà văn và nhà báo phụ nữ được tuyên dương vì là biểu tượng lòng can đảm của hàng ngàn người cầm bút nam lẫn nữ từng bị dọa giết, bị tra tấn và tù đày, bị sát hại hoặc mất tích trong nửa thế kỷ qua :
Nhà văn Nawal El-Saadawi, nước Ai Cập; nhà văn Alaíde de Foppa de Solórzano, nước Guatamala; nhà thơ Alicia Partnoy, nước Argentine; nhà văn Nien Cheng, nước Trung Hoa (mất năm 2009); nhà văn Lydia Cacho Ribeiro, nước Mễ Tây Cơ; nhà văn Shahrnush Parsipour, nước Ba Tư; nhà văn Maria Elena Cruz Varela, nước Cuba; nhà báo Martha Kumsa, nước Ethiopie; nhà văn Taslima Nasrin, nước Bangladesh; nhà báo Sihem Bensedrine, nước Tunisie; nhà thơ Irina Ratushinskaya, nước Nga dưới chế độ Cộng sản Liên Sô; nhà báo Anna Politkovskaya, nước Nga (bị ám sát năm 2006); nhà văn Aung San Suu Kyi, nước Miến Điện; nhà báo Natalia Khoussaïnovna Estemirova, nước Nga (bị bắt cóc và sát hại ở Tchétchénie năm 2009) và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nước Việt Nam (dưới chế độ CS).
Văn Bút Quốc Tế không quên nhắc đến cháu An Khuê mười ba tuổi, con gái út của bà Trần Khải Thanh Thủy và ông Đỗ Bá Tân, người chồng tình nghĩa thủy chung, hết lòng bênh vực và ủng hộ bà. Nhà giáo Đỗ Bá Tân bị phạt 2 năm tù giam treo và 47 tháng tù quản chế trong cùng một phiên tòa xử nhà văn vợ ông ngày 5 tháng 2 năm 2010 tại quận Đống Đa, Hà Nội. Văn Bút Quốc Tế còn nhấn mạnh rằng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy là một trong số ít nhứt là 19 nhà văn dân chủ đối kháng bị nhốt tù ở Việt Nam . Văn Bút Quốc Tế cũng bày tỏ sự quan ngại sâu xa về tình trạng sức khỏe của bà Trần Khải Thanh Thủy vì được biết bà mắc bệnh tiểu đường và bệnh lao phổi.
Văn Bút Quốc Tế kêu gọi các Trung Tâm Văn Bút gởi ngay Kháng Nghị để
- thúc giục nhà cầm quyền CS phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cùng tất cả những người hiện còn bị giam cầm ở Việt Nam (tù nhân ngôn luận và lương tâm như bà Trần Khải Thanh Thủy). Và nhấn mạnh rằng hành vi trấn áp đó của nhà cầm quyền CS vi phạm Điều 19 Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ đã ký kết;
- đòi đảm bảo cho nhà văn nữ tù nhân Trần Khải Thanh Thủy được săn sóc và trị bệnh với đầy đủ thuốc men cần thiết.
(Nguồn tin và tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, thành viên Ủy Ban Văn Bút Thụy Sĩ Pháp Thoại Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù, hội viên Trung Tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc - Genève).
Genève ngày 12 tháng 3 năm 2010
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue Vietnamienne des Droits de l'Homme en Suisse
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland.
Kháng Nghị thư của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù còn được phổ biến toàn cầu trên hệ thống IFEX Action Alert Network (International Freedom of Expression Exchange/Trao Đổi Quốc Tế Quyền Tự Do Phát Biểu Quan Điểm) .
International PEN Writers in Prison Committee (PEN WIPC)
Brownlow House, 50/51 High Holborn, London WC1V 6ER,
RAPID ACTION NETWORK 9 March 2010 RAN 24/07 Update #2
VIETNAM: Award-winning writer and journalist Tran Khai Thanh Thuy (f) sentenced; health concerns.
The Writers in Prison Committee of International PEN strongly protests the three and a half year prison sentence handed to writer and journalist Tran Khai Thanh Thuy. PEN considers Tran Khai Thanh Thuy to be convicted solely for peacefully exercising her right to free expression, and calls for her immediate and unconditional release in accordance with the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) to which Vietnam is a signatory.
According to International PEN’s information, Tran Khai Thanh Thuy, a novelist, poet, essayist and editor of the underground dissident magazine To Quoc (Fatherland), was sentenced by the People’s Court in Dong Da District of Ha Noi to three and a half years in prison and 47 months of probationary detention, on 5 February 2010. The verdict was given after a one day trial and was based on Article 104 of the Penal Code. At the same trial, Thuy’s husband was given a two year suspended prison sentence and 47 months of probation, but has been allowed to remain at home to care for the couple’s youngest daughter, aged thirteen.
Tran Khai Thanh Thuy was arrested on 8 October 2009, after publicly expressing her support for six dissidents facing trial. On the day of her arrest an incident took place near Thuy’s home, in which two men reportedly attacked Thuy’s husband, and she intervened on his defence. She was subsequently questioned and charged with assault, although it is widely believed that she herself was in fact the victim of the attack. Thuy suffers from diabetes and tuberculosis, and there are serious concerns that her health is deteriorating in prison. She is held at Hoa Lo Number 1 Detention Camp (Cau Dien), Ha Noi.
Background
Tran Khai Thanh Thuy has been under heavy surveillance and harassment since September 2006 for her writings published online. She was arrested at her home in April 2007, where she had already been under house arrest for six months for her critical writings. She is a member of the Union of Writers and the Club of Women Poets of Hanoi, and is a recipient of the 2008 Hellman Hammet Award. She is among at least nineteen dissident writers currently detained in Vietnam.
BBC report: http://news.bbc.co.uk/1/hi/8500462.stm
Monsters and Critics: http://www.monstersandcritics.com/news/ ... lt-Roundup[1
Please send appeals:
Calling for the immediate and unconditional of Tran Khai Thanh Thuy and all those currently detained in Vietnam in violation of Article 19 of the International Covenant on Civil and Political Rights, to which Vietnam is a signatory;
Seeking assurances that she is given full access to all necessary medical care whilst in prison. (...)
Bắc Kinh chuẩn bị cho Nguyễn Chí Vịnh?
Trung Điền Đầu tháng 3 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam đã thăm viếng Bắc Kinh và có cuộc tiếp xúc đặc biệt với Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc. Đây là chuyến đi thăm Trung Quốc đầu tiên của Nguyễn Chí Vịnh kể từ sau khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng quốc phòng vào tháng 2 năm 2009. Tuy nhiên, chuyến đi Trung Quốc của Nguyễn Chí Vịnh đã không được báo chí tại Việt Nam đề cập nhiều, thậm chí không nói rõ mục tiêu và thời gian thăm viếng của Nguyễn Chí Vịnh tại Bắc Kinh.
Trong khi đó, báo chí Trung Quốc lại thổi lớn việc Nguyễn Chí Vịnh dẫn một phái đoàn quân sự thăm viếng Trung Quốc với mục tiêu thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước nhân dịp đánh dấu 60 năm quan hệ Trung Việt. Báo chí Trung Quốc còn cho biết là trong buổi tiếp xúc, Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc, đã hết lòng khen ngợi Nguyễn Chí Vịnh và mong mỏi Nguyễn Chí Vịnh góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ trao đổi song phương và hợp tác để hiểu biết sâu sắc hơn, đồng thời gia tăng mối quan hệ chiến lược giữa hai nước.
Từ đầu năm 2010 đến nay, có lẽ Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật cao cấp nhất của Hà Nội viếng thăm Trung Quốc. Việc Bắc Kinh mời Nguyễn Chí Vịnh thăm viếng đúng vào lúc cả hai chế độ cộng sản anh em này đang tổ chức các buổi lễ kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao cho thấy là Bắc Kinh đang chuẩn bị tư thế chính trị cho Nguyễn Chí Vịnh. Tại sao?
Nguyễn Chí Vịnh và Tô Huy Rứa được coi là hai nhân vật “thân tín” nhất của Trung Quốc trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay. Tô Huy Rứa đang được Bắc Kinh hỗ trợ để trở thành một lý thuyết gia “Mác-xít” cuối mùa tại Việt Nam; giống như Liên Xô đã từng uốn nắn Đào Duy Tùng trở thành lý thuyết gia “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” vào những năm cuối thập niên 80. Tô Huy Rứa hiện nay là Ủy viên bộ chính trị, Trưởng ban tuyên giáo, nắm trong tay toàn bộ công cụ báo chí tuyền thông và các cơ sở giáo dục. Tô Huy Rứa còn là Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, một cơ quan trá hình để tổ chức những buổi học tập bồi dưỡng chính trị và tư tưởng cho các cán bộ cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam qua sự giảng dạy của cán bộ chính trị từ Trung Quốc.
Nguyễn Chí Vịnh đang được Bắc Kinh chuẩn bị nắm vị trí số một trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Nguyễn Chí Vịnh sinh năm 1957, con trai của tướng Nguyễn Chí Thanh. Sau khi Nguyễn Chí Thanh chết ở trong Nam thì Nguyễn Chí Vịnh được gia đình Lê Đức Thọ nuôi nấng. Năm 1977, Nguyễn Chí Vịnh nhập ngũ và tốt nghiệp sĩ quan thông tin. Năm 1979, Nguyễn Chí Vịnh vào làm việc cho cục Nghiên cứu Bộ quốc phòng. Tháng 2 năm 1995, Nguyễn Chí Vịnh giữ nhiệm vụ chỉ huy Cục 12, Tổng cục 2. Năm 1997, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Phó tổng cục 2. Đây là thời kỳ Nguyễn Chí Vinh đã cấu kết với phe nhóm Lê Đức Anh ngụy tạo một số bản tin tình báo mật của cơ quan CIA Hoa Kỳ, cáo buộc là CIA đã móc nối một số nhân vật cao cấp của Cộng sản Việt Nam, trong đó có các ông Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt và cả Võ Nguyên Giáp, với âm mưu làm loạn để lật đổ chính quyền cộng sản. Ông Võ Nguyên Giáp đã viết thư tố cáo những ngụy tạo này và yêu cầu điều tra Nguyễn Chí Vịnh nhưng Lê Đức Anh đã gạt ra.
Nhờ những việc làm nói trên, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Thiếu tướng vào tháng 7 năm 1999 và 3 năm sau được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục 2 vào tháng 8 năm 2002, thay thế Trung tướng Đặng Vũ Chính là bố vợ của Vịnh về hưu. Kể từ khi nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh đã trở nên thân thiết với Bắc Kinh nhiều hơn và hai phía đã có những hợp tác trao đổi về các tin tức tình báo. Nguyễn Chí Vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam có cảm tình hoặc không có cảm tình đối với Bắc Kinh. Dựa trên danh sách này, Trung Quốc đã tìm cách mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Trong mối quan hệ này, Nguyễn Chí Vịnh được coi là “con thoi” giữa Nông Đức Mạnh với lãnh đạo Bắc Kinh. Đặc biệt, Nguyễn Chí Vịnh được Nông Đức Mạnh giao cho nhiệm vụ liên lạc về vấn đề khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Tháng 12 năm 2004, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Trung Tướng.
Vào năm 2006, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đều muốn đưa Nguyễn Chí Vịnh vào Trung ương Đảng nhân đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 vào tháng 4 năm 2006. Nhưng Nguyễn Chí Vịnh đã bị tấn công dữ dội về vụ Tổng Cục 2 làm tay sai cho Trung Quốc. Đồng thời uy tín của Nông Đức Mạnh bị suy giảm một cách thê thảm sau khi phe Nguyễn Tấn Dũng khui ổ tham nhũng PMU 18 thuộc Bộ giao thông từ cuối năm 2005, vì thế mà tên của Nguyễn Chí Vịnh đã không được để vào danh sách ứng viên Trung ương đảng để cho các đại biểu chọn lựa trong đại hội X vào tháng 4 năm 2006.
Nguyễn Chí Vịnh không được vào Trung ương đảng nhiệm kỳ X là một thất bại lớn của Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh, vì Vịnh bị chống đối quá mạnh trong nội bộ. Rút kinh nghiệm đau thương này, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đã giúp cho Nguyễn Chí Vịnh cách chuẩn bị khác. Tháng 2 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng bộ quốc phòng và đến tháng 8 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh thôi kiêm nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục 2; người thay thế là Trung tướng Lưu Đức Huy, đàn em của Vịnh.
Sau khi không còn nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh được sửa soạn xuất hiện ra bên ngoài với một tư thế mới như: Chủ tọa buổi lễ công bố sách trắng Bộ Quốc Phòng vào tháng 12 năm 2009; Chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ, trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Cộng sản Việt Nam trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1 năm 2010; gặp gỡ và trả lời câu hỏi của báo chí quốc tế về tình hình an ninh vào tháng 2 năm 2010; dẫn một phái đoàn quân sự cao cấp viếng thăm Bắc Kinh vào cuối tháng 2 năm 2010.
Những diễn tiến “thăng quan tiến chức” của Nguyễn Chí Vịnh nói trên, cho thấy là Vịnh đã được chuẩn bị khá kỹ. Với đà này, vài năm nữa, Nguyễn Chí Vịnh sẽ leo vào Bộ chính trị và lên nắm chức Bộ trưởng quốc phòng thay thế Phùng Quang Thanh, thân Phương Tây. Hiện nay trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam có 5 Thứ truởng, chỉ có một mình Nguyễn Chí Vịnh là chưa vào được Trung ương đảng; do đó, nhiều phần phe Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh sẽ phải chạy nhiều cửa để vận động cho Vịnh được đề bạt vào Trung ương đảng trong đại hội đảng lần thứ XI vào tháng 1 năm 2010.
Nguyễn Chí Vịnh năm nay mới 53 tuổi. Vịnh còn đến hơn 10 năm nữa để “phấn đấu” leo lên làm thành viên Bộ chính trị và làm Bộ trưởng quốc phòng nếu đảng Cộng sản Việt Nam còn sống lâu đến đó. Đương nhiên, Bắc Kinh sẽ giúp tiền cho Vịnh để chạy đúng cửa như đã từng giúp cho nhiều cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay vào Trung ương đảng và Bộ chính trị. Sau khi vào rồi họ phải làm tay sai cho quan thầy. Nguyễn Chí Vịnh không thể đi ra ngoài quỹ đạo của Bắc Kinh.
Trung Điền
Ngày 11/3/2010.
Trung Điền Đầu tháng 3 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam đã thăm viếng Bắc Kinh và có cuộc tiếp xúc đặc biệt với Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc. Đây là chuyến đi thăm Trung Quốc đầu tiên của Nguyễn Chí Vịnh kể từ sau khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng quốc phòng vào tháng 2 năm 2009. Tuy nhiên, chuyến đi Trung Quốc của Nguyễn Chí Vịnh đã không được báo chí tại Việt Nam đề cập nhiều, thậm chí không nói rõ mục tiêu và thời gian thăm viếng của Nguyễn Chí Vịnh tại Bắc Kinh.
Trong khi đó, báo chí Trung Quốc lại thổi lớn việc Nguyễn Chí Vịnh dẫn một phái đoàn quân sự thăm viếng Trung Quốc với mục tiêu thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước nhân dịp đánh dấu 60 năm quan hệ Trung Việt. Báo chí Trung Quốc còn cho biết là trong buổi tiếp xúc, Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc, đã hết lòng khen ngợi Nguyễn Chí Vịnh và mong mỏi Nguyễn Chí Vịnh góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ trao đổi song phương và hợp tác để hiểu biết sâu sắc hơn, đồng thời gia tăng mối quan hệ chiến lược giữa hai nước.
Từ đầu năm 2010 đến nay, có lẽ Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật cao cấp nhất của Hà Nội viếng thăm Trung Quốc. Việc Bắc Kinh mời Nguyễn Chí Vịnh thăm viếng đúng vào lúc cả hai chế độ cộng sản anh em này đang tổ chức các buổi lễ kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao cho thấy là Bắc Kinh đang chuẩn bị tư thế chính trị cho Nguyễn Chí Vịnh. Tại sao?
Nguyễn Chí Vịnh và Tô Huy Rứa được coi là hai nhân vật “thân tín” nhất của Trung Quốc trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay. Tô Huy Rứa đang được Bắc Kinh hỗ trợ để trở thành một lý thuyết gia “Mác-xít” cuối mùa tại Việt Nam; giống như Liên Xô đã từng uốn nắn Đào Duy Tùng trở thành lý thuyết gia “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” vào những năm cuối thập niên 80. Tô Huy Rứa hiện nay là Ủy viên bộ chính trị, Trưởng ban tuyên giáo, nắm trong tay toàn bộ công cụ báo chí tuyền thông và các cơ sở giáo dục. Tô Huy Rứa còn là Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, một cơ quan trá hình để tổ chức những buổi học tập bồi dưỡng chính trị và tư tưởng cho các cán bộ cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam qua sự giảng dạy của cán bộ chính trị từ Trung Quốc.
Nguyễn Chí Vịnh đang được Bắc Kinh chuẩn bị nắm vị trí số một trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Nguyễn Chí Vịnh sinh năm 1957, con trai của tướng Nguyễn Chí Thanh. Sau khi Nguyễn Chí Thanh chết ở trong Nam thì Nguyễn Chí Vịnh được gia đình Lê Đức Thọ nuôi nấng. Năm 1977, Nguyễn Chí Vịnh nhập ngũ và tốt nghiệp sĩ quan thông tin. Năm 1979, Nguyễn Chí Vịnh vào làm việc cho cục Nghiên cứu Bộ quốc phòng. Tháng 2 năm 1995, Nguyễn Chí Vịnh giữ nhiệm vụ chỉ huy Cục 12, Tổng cục 2. Năm 1997, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Phó tổng cục 2. Đây là thời kỳ Nguyễn Chí Vinh đã cấu kết với phe nhóm Lê Đức Anh ngụy tạo một số bản tin tình báo mật của cơ quan CIA Hoa Kỳ, cáo buộc là CIA đã móc nối một số nhân vật cao cấp của Cộng sản Việt Nam, trong đó có các ông Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt và cả Võ Nguyên Giáp, với âm mưu làm loạn để lật đổ chính quyền cộng sản. Ông Võ Nguyên Giáp đã viết thư tố cáo những ngụy tạo này và yêu cầu điều tra Nguyễn Chí Vịnh nhưng Lê Đức Anh đã gạt ra.
Nhờ những việc làm nói trên, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Thiếu tướng vào tháng 7 năm 1999 và 3 năm sau được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục 2 vào tháng 8 năm 2002, thay thế Trung tướng Đặng Vũ Chính là bố vợ của Vịnh về hưu. Kể từ khi nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh đã trở nên thân thiết với Bắc Kinh nhiều hơn và hai phía đã có những hợp tác trao đổi về các tin tức tình báo. Nguyễn Chí Vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam có cảm tình hoặc không có cảm tình đối với Bắc Kinh. Dựa trên danh sách này, Trung Quốc đã tìm cách mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Trong mối quan hệ này, Nguyễn Chí Vịnh được coi là “con thoi” giữa Nông Đức Mạnh với lãnh đạo Bắc Kinh. Đặc biệt, Nguyễn Chí Vịnh được Nông Đức Mạnh giao cho nhiệm vụ liên lạc về vấn đề khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Tháng 12 năm 2004, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Trung Tướng.
Vào năm 2006, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đều muốn đưa Nguyễn Chí Vịnh vào Trung ương Đảng nhân đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 vào tháng 4 năm 2006. Nhưng Nguyễn Chí Vịnh đã bị tấn công dữ dội về vụ Tổng Cục 2 làm tay sai cho Trung Quốc. Đồng thời uy tín của Nông Đức Mạnh bị suy giảm một cách thê thảm sau khi phe Nguyễn Tấn Dũng khui ổ tham nhũng PMU 18 thuộc Bộ giao thông từ cuối năm 2005, vì thế mà tên của Nguyễn Chí Vịnh đã không được để vào danh sách ứng viên Trung ương đảng để cho các đại biểu chọn lựa trong đại hội X vào tháng 4 năm 2006.
Nguyễn Chí Vịnh không được vào Trung ương đảng nhiệm kỳ X là một thất bại lớn của Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh, vì Vịnh bị chống đối quá mạnh trong nội bộ. Rút kinh nghiệm đau thương này, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đã giúp cho Nguyễn Chí Vịnh cách chuẩn bị khác. Tháng 2 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng bộ quốc phòng và đến tháng 8 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh thôi kiêm nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục 2; người thay thế là Trung tướng Lưu Đức Huy, đàn em của Vịnh.
Sau khi không còn nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh được sửa soạn xuất hiện ra bên ngoài với một tư thế mới như: Chủ tọa buổi lễ công bố sách trắng Bộ Quốc Phòng vào tháng 12 năm 2009; Chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ, trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Cộng sản Việt Nam trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1 năm 2010; gặp gỡ và trả lời câu hỏi của báo chí quốc tế về tình hình an ninh vào tháng 2 năm 2010; dẫn một phái đoàn quân sự cao cấp viếng thăm Bắc Kinh vào cuối tháng 2 năm 2010.
Những diễn tiến “thăng quan tiến chức” của Nguyễn Chí Vịnh nói trên, cho thấy là Vịnh đã được chuẩn bị khá kỹ. Với đà này, vài năm nữa, Nguyễn Chí Vịnh sẽ leo vào Bộ chính trị và lên nắm chức Bộ trưởng quốc phòng thay thế Phùng Quang Thanh, thân Phương Tây. Hiện nay trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam có 5 Thứ truởng, chỉ có một mình Nguyễn Chí Vịnh là chưa vào được Trung ương đảng; do đó, nhiều phần phe Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh sẽ phải chạy nhiều cửa để vận động cho Vịnh được đề bạt vào Trung ương đảng trong đại hội đảng lần thứ XI vào tháng 1 năm 2010.
Nguyễn Chí Vịnh năm nay mới 53 tuổi. Vịnh còn đến hơn 10 năm nữa để “phấn đấu” leo lên làm thành viên Bộ chính trị và làm Bộ trưởng quốc phòng nếu đảng Cộng sản Việt Nam còn sống lâu đến đó. Đương nhiên, Bắc Kinh sẽ giúp tiền cho Vịnh để chạy đúng cửa như đã từng giúp cho nhiều cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay vào Trung ương đảng và Bộ chính trị. Sau khi vào rồi họ phải làm tay sai cho quan thầy. Nguyễn Chí Vịnh không thể đi ra ngoài quỹ đạo của Bắc Kinh.
Trung Điền
Ngày 11/3/2010.
Gặp nhau ngỡ ngàng ngay trong Tòa Bạch Ốc
Saturday, March 13, 2010
Nguyễn Văn Khanh
Tất cả 43 vị dân biểu da đen của Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ đều hiện diện. Trước mặt họ là vị tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ. Ðề tài được nói đến là những thử thách cộng đồng da đen toàn quốc đang phải đối phó do suy thoái kinh tế gây nên.
Mặc dù thông cáo của Tòa Bạch Ốc nói cuộc họp chiều hôm qua “diễn ra trong tinh thần thẳng thắn, xây dựng và cởi mở” nhưng tin tức ghi nhận được từ hành lang Quốc Hội lại cho thấy Tổng Thống Barack Obama “ù tai” vì những lời chỉ trích, phê bình của các vị dân cử cùng màu da. Nhìn chung, các ông bà dân biểu da đen của nước Mỹ cho rằng hai năm trước đây họ hết lòng ủng hộ ông, hy vọng ông sẽ “đáp ứng được nguyện vọng của khối cử tri thường xuyên gặp khó khăn và chịu nhiều khó khăn nhất”, nhưng 14 tháng sau ngày tuyên thệ nhậm chức tổng thống tốn quá nhiều thì giờ “vào những chuyện đâu đâu” thay vì phải chú tâm “giải quyết kinh tế và tạo thêm việc làm cho dân chúng”, đặc biệt là giúp tập thể người da đen đang phải gánh chịu quá nhiều mất mát trong giai đoạn hiện giờ.
“Chuyện đâu đâu” được các vị dân biểu nói đến chính là kế hoạch cải tổ bảo hiểm y tế toàn dân, di sản chính trị ông Obama muốn để lại cho lịch sử của nước Mỹ. Dân Biểu Charles Rangel của tiểu bang New York bảo thẳng qua những cuộc tiếp xúc với cử tri, “họ nói với tôi là họ cần việc làm chứ không phải tối ngày cứ nghe tổng thống bàn chuyện bảo hiểm y tế”. Dân Biểu John Conyers của tiểu bang Michigan cũng nặng lời khi đưa ra nhận xét “dường như Tòa Bạch Ốc đã đi sai đường, chuyện phải làm thì không làm tới nơi tới chốn” và “những ý kiến chúng tôi đóng góp không được lắng nghe”. Dân Biểu Alcee Hasting của tiểu bang Florida thì than phiền “không được Tòa Bạch Ốc tiếp xúc cũng chẳng hề được thông báo đầy đủ những điều hành pháp muốn làm, nên dù có muốn ủng hộ chúng tôi cũng chẳng biết phải trình bày thế nào với dân chúng”.
Theo các nhân viên những vị dân cử được mời vào Tòa Bạch Ốc kể lại, thất nghiệp là điều được nói đến nhiều nhất trong buổi gặp gỡ kéo dài đúng một tiếng đồng hồ. Tổng Thống Obama và ông Chánh Văn Phòng Rahm Emanuel nhắc đi nhắc lại chuyện tháng 2 năm ngoái có 700,000 mất việc làm, tháng 2 năm nay con số đã giảm xuống còn có 36,000 thôi. Lời giải thích này không làm Dân Biểu Emanuel Cleaver của Misouri hài lòng, bảo ngay “những điều tổng thống nói chưa đủ để mọi người an tâm”.
Không khí trong buổi họp gây cấn đến độ chính bà cố vấn Valerie Jarrett (cũng người da đen) phải tìm cách giúp giảm bớt căng thẳng, nhắc lại tân chính quyền “thừa hưởng một di sản quá tệ” và tình hình “đang dần dần tốt hơn” cũng như “Tổng thống lúc nào cũng nói đến kinh tế và việc làm chứ đâu phải chỉ nói tới bảo hiểm y tế”, Dân Biểu G.K. Butterfield phản pháo ngay bằng câu “dân chúng không làm chính trị, cử tri ở các đơn vị phần đông là người da đen đòi hỏi nhà nước phải có kế hoạch tích cực hơn, muốn thấy kết quả cụ thể hơn”. Vị dân cử của tiểu bang North Carolina trình bày thêm “tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng da đen toàn quốc không còn ở mức đáng ngại như các chính trị gia đang ngồi ở Tòa Bạch Ốc thường hay nói” mà “phải nói là tình trạng giờ đã tới mức kinh hoàng rồi, Tòa Bạch Ốc không thể bắt người dân phải chờ thêm nữa”.
* * *
Giới thạo tin ở Washington D.C., nói đây không phải lần đầu tiên va chạm giữa Tổng Thống Obama và khối Dân Biểu đa đen ở Hạ Viện xảy ra. Trong thời gian còn tranh cử, ông Obama đặt trọn hy vọng vào các vị dân cử cùng màu da, họ cũng hết lòng vận động giúp ông kiếm phiếu. Sau khi vào Tòa Bạch Ốc ông hầu như không ngó ngàng gì tới tập thể này, giao hẳn công việc cho ông Chánh Văn Phòng Rahm Emanuel và bà cố vấn Valerie Jarrett. Trước khi về làm việc ở Tòa Bạch Ốc, Dân Biểu Emanuel và Khối Dân Biểu Da Ðen đã không thuận thảo với nhau; bà Jarrett xuất thân từ Chicago, không có kinh nghiệm chính trường thủ đô và cũng chẳng hề có quan hệ với các vị dân cử cùng màu da.
Ít nhất 2 nguồn tin khác nhau cho hay các vị dân cử da đen không hài lòng với lối làm việc của cả ông chánh văn phòng lẫn bà cố vấn. Các nguồn tin này nói bà Jarrett “8 lần liên tiếp hủy bỏ buổi ăn trưa với các vị dân cử” và “rất ít khi trả lời điện thoại họ gọi”. Không nói chuyện trực tiếp với bà cố vấn, các vị dân cử để lại lời nhắn nhưng “cũng phải rất lâu bà ta mới trả lời, ngay cả ông Chánh Văn Phòng Emanuel cũng thế”.
Chuyện bùng nổ lớn hơn hồi tháng 8 năm ngoái khi bà Jarrett gọi điện thoại yêu cầu Dân Biểu Keith Ellison của tiểu bang Minnesota bỏ phiếu ủng hộ ngân khoản dành riêng cho Iraq và Afghanistan. Hai bên lời qua tiếng lại với nhau tới mức các nhân viên làm việc với ông Ellison phải thú nhận là “chưa bao giờ thấy căng thẳng như vậy”. Không rõ bà Jarrett báo cáo như thế nào với tổng thống, chỉ biết vài phút đồng hồ sau đó đích thân ông Obama gọi điện thoại cho Dân Biểu Ellison, nêu thắc mắc “tại sao ông lại gây khó khăn cho nhân viên của tôi?”
Hai tháng sau đó khi ông Obama loan báo đưa thêm 30,000 binh sĩ sang Afghanistan, lần này đến lượt Dân Biểu John Conyers lãnh “búa tạ” chỉ vì công khai lên tiếng chỉ trích chính sách của hành pháp. Cũng đích thân Tổng Thống Obama gọi điện thoại nói chuyện với ông Conyers, bảo thẳng “chê bai Tòa Bạch Ốc, phản đối chính sách của hành pháp và chỉ trích tổng thống là điều không nên làm” vì “có thể gây hiểu lầm” trong lúc ông đang phải chống trả với sự chống đối của đảng Cộng Hòa.
* * *
Buổi gặp gỡ giữa tổng thống và các vị dân cử da đen kết thúc với kết quả Tòa Bạch Ốc hứa cứu xét đề nghị “làm mạnh hơn nữa”, thúc đẩy Thượng Viện thảo luận lại và thông qua Chương Trình Việc Làm Mùa Hè (Summer Jobs Program) để giúp cộng đồng da đen và các cộng đồng thiểu số khác tìm được việc làm tạm thời trong lúc chờ tình hình kinh tế sáng sủa hơn.
Bà Dân Biểu Trưởng Khối Barbara Lee cho báo chí biết “hai phía bàn thảo rất nhiều về chương trình này, phía chúng tôi đưa hẳn một số đề nghị với tổng thống, nhắc lại là ông có rất nhiều uy thế và phải vận dụng những lợi thế đang có để thúc đẩy cho những chương trình có lợi cho những cộng đồng thiểu số”. Bà Lee cũng bảo dù chung mầu da “nhưng chúng tôi không hề đòi hỏi được hưởng những quyền lợi đặc biệt, chỉ muốn tổng thống làm hơn những gì ông đã làm trong một năm qua”.
Khi được báo chí hỏi là nghe nói phiên họp “căng” lắm, bà Dân Biểu Lee trả lời “đó chỉ là những lời đồn đãi không đúng sự thật”. Vẫn theo lời bà trưởng khối: “Tổng thống và phía dân cử chúng tôi thảo luận rất hòa nhã, chẳng hiểu tại sao mà bên báo chí lại nghe thấy có sấm sét!!!”
Saturday, March 13, 2010
Nguyễn Văn Khanh
Tất cả 43 vị dân biểu da đen của Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ đều hiện diện. Trước mặt họ là vị tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ. Ðề tài được nói đến là những thử thách cộng đồng da đen toàn quốc đang phải đối phó do suy thoái kinh tế gây nên.
Mặc dù thông cáo của Tòa Bạch Ốc nói cuộc họp chiều hôm qua “diễn ra trong tinh thần thẳng thắn, xây dựng và cởi mở” nhưng tin tức ghi nhận được từ hành lang Quốc Hội lại cho thấy Tổng Thống Barack Obama “ù tai” vì những lời chỉ trích, phê bình của các vị dân cử cùng màu da. Nhìn chung, các ông bà dân biểu da đen của nước Mỹ cho rằng hai năm trước đây họ hết lòng ủng hộ ông, hy vọng ông sẽ “đáp ứng được nguyện vọng của khối cử tri thường xuyên gặp khó khăn và chịu nhiều khó khăn nhất”, nhưng 14 tháng sau ngày tuyên thệ nhậm chức tổng thống tốn quá nhiều thì giờ “vào những chuyện đâu đâu” thay vì phải chú tâm “giải quyết kinh tế và tạo thêm việc làm cho dân chúng”, đặc biệt là giúp tập thể người da đen đang phải gánh chịu quá nhiều mất mát trong giai đoạn hiện giờ.
“Chuyện đâu đâu” được các vị dân biểu nói đến chính là kế hoạch cải tổ bảo hiểm y tế toàn dân, di sản chính trị ông Obama muốn để lại cho lịch sử của nước Mỹ. Dân Biểu Charles Rangel của tiểu bang New York bảo thẳng qua những cuộc tiếp xúc với cử tri, “họ nói với tôi là họ cần việc làm chứ không phải tối ngày cứ nghe tổng thống bàn chuyện bảo hiểm y tế”. Dân Biểu John Conyers của tiểu bang Michigan cũng nặng lời khi đưa ra nhận xét “dường như Tòa Bạch Ốc đã đi sai đường, chuyện phải làm thì không làm tới nơi tới chốn” và “những ý kiến chúng tôi đóng góp không được lắng nghe”. Dân Biểu Alcee Hasting của tiểu bang Florida thì than phiền “không được Tòa Bạch Ốc tiếp xúc cũng chẳng hề được thông báo đầy đủ những điều hành pháp muốn làm, nên dù có muốn ủng hộ chúng tôi cũng chẳng biết phải trình bày thế nào với dân chúng”.
Theo các nhân viên những vị dân cử được mời vào Tòa Bạch Ốc kể lại, thất nghiệp là điều được nói đến nhiều nhất trong buổi gặp gỡ kéo dài đúng một tiếng đồng hồ. Tổng Thống Obama và ông Chánh Văn Phòng Rahm Emanuel nhắc đi nhắc lại chuyện tháng 2 năm ngoái có 700,000 mất việc làm, tháng 2 năm nay con số đã giảm xuống còn có 36,000 thôi. Lời giải thích này không làm Dân Biểu Emanuel Cleaver của Misouri hài lòng, bảo ngay “những điều tổng thống nói chưa đủ để mọi người an tâm”.
Không khí trong buổi họp gây cấn đến độ chính bà cố vấn Valerie Jarrett (cũng người da đen) phải tìm cách giúp giảm bớt căng thẳng, nhắc lại tân chính quyền “thừa hưởng một di sản quá tệ” và tình hình “đang dần dần tốt hơn” cũng như “Tổng thống lúc nào cũng nói đến kinh tế và việc làm chứ đâu phải chỉ nói tới bảo hiểm y tế”, Dân Biểu G.K. Butterfield phản pháo ngay bằng câu “dân chúng không làm chính trị, cử tri ở các đơn vị phần đông là người da đen đòi hỏi nhà nước phải có kế hoạch tích cực hơn, muốn thấy kết quả cụ thể hơn”. Vị dân cử của tiểu bang North Carolina trình bày thêm “tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng da đen toàn quốc không còn ở mức đáng ngại như các chính trị gia đang ngồi ở Tòa Bạch Ốc thường hay nói” mà “phải nói là tình trạng giờ đã tới mức kinh hoàng rồi, Tòa Bạch Ốc không thể bắt người dân phải chờ thêm nữa”.
* * *
Giới thạo tin ở Washington D.C., nói đây không phải lần đầu tiên va chạm giữa Tổng Thống Obama và khối Dân Biểu đa đen ở Hạ Viện xảy ra. Trong thời gian còn tranh cử, ông Obama đặt trọn hy vọng vào các vị dân cử cùng màu da, họ cũng hết lòng vận động giúp ông kiếm phiếu. Sau khi vào Tòa Bạch Ốc ông hầu như không ngó ngàng gì tới tập thể này, giao hẳn công việc cho ông Chánh Văn Phòng Rahm Emanuel và bà cố vấn Valerie Jarrett. Trước khi về làm việc ở Tòa Bạch Ốc, Dân Biểu Emanuel và Khối Dân Biểu Da Ðen đã không thuận thảo với nhau; bà Jarrett xuất thân từ Chicago, không có kinh nghiệm chính trường thủ đô và cũng chẳng hề có quan hệ với các vị dân cử cùng màu da.
Ít nhất 2 nguồn tin khác nhau cho hay các vị dân cử da đen không hài lòng với lối làm việc của cả ông chánh văn phòng lẫn bà cố vấn. Các nguồn tin này nói bà Jarrett “8 lần liên tiếp hủy bỏ buổi ăn trưa với các vị dân cử” và “rất ít khi trả lời điện thoại họ gọi”. Không nói chuyện trực tiếp với bà cố vấn, các vị dân cử để lại lời nhắn nhưng “cũng phải rất lâu bà ta mới trả lời, ngay cả ông Chánh Văn Phòng Emanuel cũng thế”.
Chuyện bùng nổ lớn hơn hồi tháng 8 năm ngoái khi bà Jarrett gọi điện thoại yêu cầu Dân Biểu Keith Ellison của tiểu bang Minnesota bỏ phiếu ủng hộ ngân khoản dành riêng cho Iraq và Afghanistan. Hai bên lời qua tiếng lại với nhau tới mức các nhân viên làm việc với ông Ellison phải thú nhận là “chưa bao giờ thấy căng thẳng như vậy”. Không rõ bà Jarrett báo cáo như thế nào với tổng thống, chỉ biết vài phút đồng hồ sau đó đích thân ông Obama gọi điện thoại cho Dân Biểu Ellison, nêu thắc mắc “tại sao ông lại gây khó khăn cho nhân viên của tôi?”
Hai tháng sau đó khi ông Obama loan báo đưa thêm 30,000 binh sĩ sang Afghanistan, lần này đến lượt Dân Biểu John Conyers lãnh “búa tạ” chỉ vì công khai lên tiếng chỉ trích chính sách của hành pháp. Cũng đích thân Tổng Thống Obama gọi điện thoại nói chuyện với ông Conyers, bảo thẳng “chê bai Tòa Bạch Ốc, phản đối chính sách của hành pháp và chỉ trích tổng thống là điều không nên làm” vì “có thể gây hiểu lầm” trong lúc ông đang phải chống trả với sự chống đối của đảng Cộng Hòa.
* * *
Buổi gặp gỡ giữa tổng thống và các vị dân cử da đen kết thúc với kết quả Tòa Bạch Ốc hứa cứu xét đề nghị “làm mạnh hơn nữa”, thúc đẩy Thượng Viện thảo luận lại và thông qua Chương Trình Việc Làm Mùa Hè (Summer Jobs Program) để giúp cộng đồng da đen và các cộng đồng thiểu số khác tìm được việc làm tạm thời trong lúc chờ tình hình kinh tế sáng sủa hơn.
Bà Dân Biểu Trưởng Khối Barbara Lee cho báo chí biết “hai phía bàn thảo rất nhiều về chương trình này, phía chúng tôi đưa hẳn một số đề nghị với tổng thống, nhắc lại là ông có rất nhiều uy thế và phải vận dụng những lợi thế đang có để thúc đẩy cho những chương trình có lợi cho những cộng đồng thiểu số”. Bà Lee cũng bảo dù chung mầu da “nhưng chúng tôi không hề đòi hỏi được hưởng những quyền lợi đặc biệt, chỉ muốn tổng thống làm hơn những gì ông đã làm trong một năm qua”.
Khi được báo chí hỏi là nghe nói phiên họp “căng” lắm, bà Dân Biểu Lee trả lời “đó chỉ là những lời đồn đãi không đúng sự thật”. Vẫn theo lời bà trưởng khối: “Tổng thống và phía dân cử chúng tôi thảo luận rất hòa nhã, chẳng hiểu tại sao mà bên báo chí lại nghe thấy có sấm sét!!!”
Ai chống tham nhũng bằng Chu Nguyên Chương?
Ngô Nhân Dụng
Các nhà kinh tế biết rằng nạn tham nhũng làm cho quốc gia chậm phát triển. Tham nhũng là một thứ thuế “phụ thu” làm nản lòng người đầu tư. Tham nhũng là thêm một yếu tố bất trắc khiến người ta ngại làm ăn. Một quốc gia đầy tham nhũng như Congo, Việt Nam, Campuchia, nếu nạn tham nhũng giảm bớt được một nửa thì kinh tế có thể phát triển nhanh thêm được 2 đến 3% một năm.
Nhưng ít có kinh tế gia nào nhìn vào vấn đề tham nhũng mà thấy như Phan Bội Châu: Có bài trừ tham nhũng thì người dân một quốc gia mới phục hồi được lòng liêm sỉ.
Giữa hai mục tiêu “phát triển kinh tế” và “phục hồi liêm sỉ,” bên nào quan trọng hơn? Ðối với một người từng làm nghề nghiên cứu và dậy môn kinh tế học, thì tôi xin trả lời rằng: Phục hồi liêm sĩ quan trọng hơn. Bởi vì dân có liêm sỉ thì kinh tế có triển vọng tiến nhanh hơn; ngược lại, kinh tế tiến bộ chưa chắc đã làm cho người ta có đức liêm sỉ.
Kinh tế thị trường đặt cơ sở trên lòng tin tưởng, tin vào con người và tin vào các định chế xã hội. Những nước kinh tế phát triển cao nhất như Mỹ, Nhật Bản, Ðức Quốc cũng là những nước mà lòng tin cậy giữa con người với nhau trong xã hội cũng cao nhất. Ngược lại, có những nước kinh tế cũng khá cao nhưng xã hội không xây dựng được một niềm tin chung mạnh mẽ thì trình độ phát triển cũng bị giới hạn, sớm muộn sẽ “đụng trần” không lên được nữa. Khi người dân một nước sống không biết liêm sỉ thì chính nền kinh tế của họ sẽ khó phát triển. Không phải các nhà đọa đức nói như thế mà chính các kinh tế gia phải công nhận điều đó.
Cho nên, chúng tôi muốn nhắc lại những ý kiến của Phan Bội Châu viết trước đây hơn một thế kỷ, trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư. Cụ Phan viết, “Phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Năm 1903 khi cụ viết lá thư này, đức liêm sỉ vẫn còn được dùng làm thước đo giá trị trong xã hội, những người liêm sỉ còn rất được kính trọng. Ngày nay, trên báo chí ở nước ta ít người nói đến hai chữ liêm sỉ. Tình trạng tham nhũng hối lộ thời cụ Phan, đầu thế kỷ 20 chắc chắn không rộng, sâu, và những tham quan không trâng tráo ngang ngược chiếm đoạt của công như bây giờ.
Nhưng 100 năm trước hay là bây giờ, vấn đề khó nhất vẫn là: Làm sao để giảm bớt nạn tham nhũng, hối lộ?
Phan Bội Châu thời đó là một nhà Nho lỗi lạc nhưng không sống trong guồng máy chính quyền; thật ra, cả cuộc đời cụ không trải qua kinh nghiệm “làm quan.” Cho nên, ngoài đề nghị giảm bớt thuế cho dân nghèo, những lời kêu gọi “huyết lệ” của cụ thường chỉ nhắm vào mặt đạo đức cá nhân. Cụ khuyến cáo hãy “thắt chặt tình trên dưới (giữa quan và dân), mở rộng đường thẳng ngay... phải lấy công tâm mà làm việc...” vân vân.
Ðó cũng là lối chống tham nhũng, chống hối lộ suốt ngàn năm trong xã hội cổ truyền ở Á Ðông. Trương Ðình Thưởng là một tể tướng thanh liêm vào thế kỷ thứ 8 bên Tầu. Khi nhậm chức, ông ra lệnh cấp dưới phải tra cứu lại một vụ án liên can tới nhân sĩ Vô Cô, một người ông kính trọng. Ông yêu cầu trong 10 ngày phải cho biết kết quả xem vụ án có điều gì sai trái hay không. Ngày thứ hai, ông ra công đường, thấy một mảnh giấy đặt trên bàn viết mấy câu: Xin biếu ngài ba vạn quan tiền. Xin đừng hỏi lại vụ án này nữa. Trương Ðình Thưởng lặng lẽ xé vụn mảnh giấy, không cần hỏi tới. Sang ngày thứ ba, lại thấy một mảnh giấy khác: Xin biếu ngài 5 vạn quan. Trương Ðình Thưởng nổi giận! Bèn rút ngắn thời hạn, ra lệnh các “thanh tra” trong hai ngày phải xét xong vụ án cũ rồi phúc trình đầy đủ. Ðến ngày tư, trên bàn lại có mảnh giấy khác: Xin biếu ông mười vạn.
Lúc đó Thưởng mới giật mình, “Tiền đến 10 vạn là phải có phép thuật quỷ thần! Ta sắp mang họa đến nơi rồi!”
Bèn bỏ không tra cứu vụ án cũ nữa. Câu chuyện trên được Kỳ Ngạn Thần kể, cho biết đã đọc trong cuốn Cổ Vũ U Nhàn của Trương Cố đời Ðường. Không rõ có ai giao số tiền 10 vạn hay không, chúng tôi đoán là không. Một người nắm quyền tể tướng trong sạch và cương quyết như Trương Ðình Thưởng, cuối cùng chịu thua không chống nổi tham nhũng khi biết mình “đụng tới quỷ thần.” Quỷ thần là thứ quyền hành tuyệt đối, cao hơn mạnh hơn guồng máy pháp luật của quốc gia. Ðó là chuyện lịch sử thời Trung Ðường bên Trung Quốc; đến thời Hậu Hồ ở Việt Nam bây giờ lịch sử cũng ghi nhiều chuyện ngưng điều tra khác, kể ra không hết được. Ai đọc truyện đời nay tới đoạn Nguyễn Việt Tiến PMU 18 được phục hồi danh vọng, các nhà báo bị bắt bỏ tù; hoặc nghe vụ Hành Lang Ðông Tây Sài Gòn thấy Huỳnh Ngọc Sỹ bình tĩnh thản nhiên mặc dù công ty PCI Nhật Bản khai đã đưa lót tay ông ta hàng triệu Mỹ kim, cũng có thể suy ra rằng mọi cuộc điều tra, mọi hoạt động của guồng máy tư pháp đều bắt buộc phải ngưng lại. Cũng vì đã “đụng tới quỷ thần” rồi!
Ðời xưa, quỷ thần là do quyền hành tuyệt đối của ông vua mà sinh ra. Vì quyền vua tuyệt đối, không bị giới hạn mà cũng không được định nghĩa rõ ràng, cho nên không ai đoán trước được nó như thế nào. Nên mới sinh ra quỷ thần. Rất nhiều người có thể dựa hơi ông vua mà bỗng nhiên có quyền thế ngất trời. Bố một người đầu bếp giúp vua hài lòng vì ăn ngon miệng; hay em ruột một phi tần được nhà vua sủng ái; hàng trăm hàng ngàn người giống như vậy, người nào cũng có thể có cơ hội xin vua gia ân hoặc giáng họa cho người khác. Dù ông vua muốn làm sạch chế độ của ông ta, nhưng nếu ông tể tướng đụng tới quyền lợi của những người này là sẽ thất bại. Ðúng là đụng tới quỷ thần!
Ngày nay, quyền hành của Ðảng Cộng Sản cũng tuyệt đối không khác gì quyền ông vua đời xưa. Ðảng Cộng Sản nguy hiểm hơn vì nó rất mập mờ bí ẩn, khó nhận diện, và vô trách nhiệm. Không có một ông vua cụ thể nào đứng ra nói “tôi quyết định.” Ai chịu trách nhiệm khi tòa án Nhật Bản truy tố các nhà kinh doanh Nhật hối lộ ở Việt Nam? Không thấy ai trong cái bộ máy tối cao vô hình đó cả. Ðảng Cộng Sản đúng là một thứ quỷ thần vô danh vô tướng.
Ví thử có một ông tổng bí thư cộng sản quyết tâm muốn bài trừ tham nhũng, liệu ông hay bà ta có khả năng làm hay không? Trong cuốn tiểu thuyết Thiên Nộ (Cơn giận của Trời) của Trần Phong, kể chuyện guồng máy tham nhũng tại thành phố Bắc Kinh, một nhân vật nói, “Hoàng đế nhà Minh, Minh Thái tổ, bắt được quan lại tham nhũng thì đem lột da rồi trưng bầy bộ da cho các quan chức coi mà sợ, đừng tham nhũng nữa.” Nhưng anh ta, một cán bộ trong sạch trong guồng máy, nhận xét, “Biện pháp đó không ăn thua gì cả. Tại sao? Vì cả hệ thống cai trị sinh ra tham nhũng. Mà điều quan trọng nhất là: Không có một hệ thống kiểm tra nào của dân, độc lập với nhà nước để theo dõi.” Kết luận: “Chu Nguyên Chương chỉ thi hành các biện pháp chắp vá để chống tham nhũng!” Ngay cả việc lột da các quan ăn hối lộ cũng chỉ là chắp vá! “Muốn thành công chúng ta phải có cách nhìn toàn bộ,” cuốn tiểu thuyết khuyến cáo!
Cách nhìn toàn bộ nào? Phải thay đổi toàn thể hệ thống, nghĩa là phải bãi bỏ tình trạng chuyên chế độc tài của một đảng! Chính cái đảng cầm quyền tuyệt đối, trên đầu không có ai, chính nó là nguồn gốc sinh ra tham nhũng. Dù có thay thế cái đảng đó bằng một đảng khác, dùng toàn những bộ mặt mới, con người mới, nhưng nếu vẫn giữ cơ chế độc quyền và quyền hành tuyệt đối, thì vẫn hỏng. Cơ chế vẫn như cũ, thì làm gì cũng vẫn chỉ là biện pháp chắp vá mà thôi! Chính cơ cấu độc quyền chuyên chế đẻ ra nạn tham nhũng, chứ không phải vì có những con người xấu mà sinh ra tham nhũng. Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối.
Chúng ta sống sau cụ Phan 100 năm, hiểu rõ hơn về xã hội cũng như guồng máy chính trị của loài người, cho nên biết những lời khuyến cáo đạo đức rất quý báu nhưng không đủ. Phải tìm trị căn nguyên của bệnh tham nhũng và hối lộ do các định chế chính trị sinh ra. Chuyên chính là nguồn gốc của tham nhũng, vì nó trao quyền hành tuyệt đối vào tay một nhóm người không chịu trách nhiệm với ai cả. Năm 1958, ngày 28 tháng 1, ông Hồ Chí Minh nói chuyện với các “học sinh” Trường Công An Trung Ương, ông hỏi họ, “Các cô các chú có muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội hay không?” Và ông nhắc đi nhắc lại một khẩu hiệu rất nhiều lần, “Dân Chủ và Chuyên Chính đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thật sự phải chuyên chính thật sự... Có chuyên chính thật sự, có dân chủ thật sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được...” (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 9, trang 29).
Ðó là chủ nghĩa Lê Nin. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải gột rửa tư tưởng Lê Nin Nít đó trước hết. Chỉ khi nào trong cơ cấu chính trị quốc gia có phân quyền, có các cơ quan quyền lực ngang hàng để cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, chúng ta mới hy vọng bắt đầu chống tham nhũng. Khi nào người dân được tự do nói, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử, thì mới thiết lập được các định chế phân quyền. Nếu chưa có các điều kiện đó, nói gì cũng chỉ là nói xạo mà thôi.
Nghe nói xạo mãi, người dân khinh bỉ bọn cầm quyền. Nhưng chính người dân cũng bị tác hại: Nghe nói dối quen, người ta mất cả khái niệm về danh dự, về liêm sỉ. Ngày xưa Phan Bội Châu khuyên dân tộc Việt Nam phải bài trừ tham nhũng để người dân phục hồi đức liêm sỉ. Một thế kỷ sau, điều này còn khẩn cấp hơn thời cụ Phan viết Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư gấp trăm, gấp ngàn lần!
Ngô Nhân Dụng
Các nhà kinh tế biết rằng nạn tham nhũng làm cho quốc gia chậm phát triển. Tham nhũng là một thứ thuế “phụ thu” làm nản lòng người đầu tư. Tham nhũng là thêm một yếu tố bất trắc khiến người ta ngại làm ăn. Một quốc gia đầy tham nhũng như Congo, Việt Nam, Campuchia, nếu nạn tham nhũng giảm bớt được một nửa thì kinh tế có thể phát triển nhanh thêm được 2 đến 3% một năm.
Nhưng ít có kinh tế gia nào nhìn vào vấn đề tham nhũng mà thấy như Phan Bội Châu: Có bài trừ tham nhũng thì người dân một quốc gia mới phục hồi được lòng liêm sỉ.
Giữa hai mục tiêu “phát triển kinh tế” và “phục hồi liêm sỉ,” bên nào quan trọng hơn? Ðối với một người từng làm nghề nghiên cứu và dậy môn kinh tế học, thì tôi xin trả lời rằng: Phục hồi liêm sĩ quan trọng hơn. Bởi vì dân có liêm sỉ thì kinh tế có triển vọng tiến nhanh hơn; ngược lại, kinh tế tiến bộ chưa chắc đã làm cho người ta có đức liêm sỉ.
Kinh tế thị trường đặt cơ sở trên lòng tin tưởng, tin vào con người và tin vào các định chế xã hội. Những nước kinh tế phát triển cao nhất như Mỹ, Nhật Bản, Ðức Quốc cũng là những nước mà lòng tin cậy giữa con người với nhau trong xã hội cũng cao nhất. Ngược lại, có những nước kinh tế cũng khá cao nhưng xã hội không xây dựng được một niềm tin chung mạnh mẽ thì trình độ phát triển cũng bị giới hạn, sớm muộn sẽ “đụng trần” không lên được nữa. Khi người dân một nước sống không biết liêm sỉ thì chính nền kinh tế của họ sẽ khó phát triển. Không phải các nhà đọa đức nói như thế mà chính các kinh tế gia phải công nhận điều đó.
Cho nên, chúng tôi muốn nhắc lại những ý kiến của Phan Bội Châu viết trước đây hơn một thế kỷ, trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư. Cụ Phan viết, “Phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Năm 1903 khi cụ viết lá thư này, đức liêm sỉ vẫn còn được dùng làm thước đo giá trị trong xã hội, những người liêm sỉ còn rất được kính trọng. Ngày nay, trên báo chí ở nước ta ít người nói đến hai chữ liêm sỉ. Tình trạng tham nhũng hối lộ thời cụ Phan, đầu thế kỷ 20 chắc chắn không rộng, sâu, và những tham quan không trâng tráo ngang ngược chiếm đoạt của công như bây giờ.
Nhưng 100 năm trước hay là bây giờ, vấn đề khó nhất vẫn là: Làm sao để giảm bớt nạn tham nhũng, hối lộ?
Phan Bội Châu thời đó là một nhà Nho lỗi lạc nhưng không sống trong guồng máy chính quyền; thật ra, cả cuộc đời cụ không trải qua kinh nghiệm “làm quan.” Cho nên, ngoài đề nghị giảm bớt thuế cho dân nghèo, những lời kêu gọi “huyết lệ” của cụ thường chỉ nhắm vào mặt đạo đức cá nhân. Cụ khuyến cáo hãy “thắt chặt tình trên dưới (giữa quan và dân), mở rộng đường thẳng ngay... phải lấy công tâm mà làm việc...” vân vân.
Ðó cũng là lối chống tham nhũng, chống hối lộ suốt ngàn năm trong xã hội cổ truyền ở Á Ðông. Trương Ðình Thưởng là một tể tướng thanh liêm vào thế kỷ thứ 8 bên Tầu. Khi nhậm chức, ông ra lệnh cấp dưới phải tra cứu lại một vụ án liên can tới nhân sĩ Vô Cô, một người ông kính trọng. Ông yêu cầu trong 10 ngày phải cho biết kết quả xem vụ án có điều gì sai trái hay không. Ngày thứ hai, ông ra công đường, thấy một mảnh giấy đặt trên bàn viết mấy câu: Xin biếu ngài ba vạn quan tiền. Xin đừng hỏi lại vụ án này nữa. Trương Ðình Thưởng lặng lẽ xé vụn mảnh giấy, không cần hỏi tới. Sang ngày thứ ba, lại thấy một mảnh giấy khác: Xin biếu ngài 5 vạn quan. Trương Ðình Thưởng nổi giận! Bèn rút ngắn thời hạn, ra lệnh các “thanh tra” trong hai ngày phải xét xong vụ án cũ rồi phúc trình đầy đủ. Ðến ngày tư, trên bàn lại có mảnh giấy khác: Xin biếu ông mười vạn.
Lúc đó Thưởng mới giật mình, “Tiền đến 10 vạn là phải có phép thuật quỷ thần! Ta sắp mang họa đến nơi rồi!”
Bèn bỏ không tra cứu vụ án cũ nữa. Câu chuyện trên được Kỳ Ngạn Thần kể, cho biết đã đọc trong cuốn Cổ Vũ U Nhàn của Trương Cố đời Ðường. Không rõ có ai giao số tiền 10 vạn hay không, chúng tôi đoán là không. Một người nắm quyền tể tướng trong sạch và cương quyết như Trương Ðình Thưởng, cuối cùng chịu thua không chống nổi tham nhũng khi biết mình “đụng tới quỷ thần.” Quỷ thần là thứ quyền hành tuyệt đối, cao hơn mạnh hơn guồng máy pháp luật của quốc gia. Ðó là chuyện lịch sử thời Trung Ðường bên Trung Quốc; đến thời Hậu Hồ ở Việt Nam bây giờ lịch sử cũng ghi nhiều chuyện ngưng điều tra khác, kể ra không hết được. Ai đọc truyện đời nay tới đoạn Nguyễn Việt Tiến PMU 18 được phục hồi danh vọng, các nhà báo bị bắt bỏ tù; hoặc nghe vụ Hành Lang Ðông Tây Sài Gòn thấy Huỳnh Ngọc Sỹ bình tĩnh thản nhiên mặc dù công ty PCI Nhật Bản khai đã đưa lót tay ông ta hàng triệu Mỹ kim, cũng có thể suy ra rằng mọi cuộc điều tra, mọi hoạt động của guồng máy tư pháp đều bắt buộc phải ngưng lại. Cũng vì đã “đụng tới quỷ thần” rồi!
Ðời xưa, quỷ thần là do quyền hành tuyệt đối của ông vua mà sinh ra. Vì quyền vua tuyệt đối, không bị giới hạn mà cũng không được định nghĩa rõ ràng, cho nên không ai đoán trước được nó như thế nào. Nên mới sinh ra quỷ thần. Rất nhiều người có thể dựa hơi ông vua mà bỗng nhiên có quyền thế ngất trời. Bố một người đầu bếp giúp vua hài lòng vì ăn ngon miệng; hay em ruột một phi tần được nhà vua sủng ái; hàng trăm hàng ngàn người giống như vậy, người nào cũng có thể có cơ hội xin vua gia ân hoặc giáng họa cho người khác. Dù ông vua muốn làm sạch chế độ của ông ta, nhưng nếu ông tể tướng đụng tới quyền lợi của những người này là sẽ thất bại. Ðúng là đụng tới quỷ thần!
Ngày nay, quyền hành của Ðảng Cộng Sản cũng tuyệt đối không khác gì quyền ông vua đời xưa. Ðảng Cộng Sản nguy hiểm hơn vì nó rất mập mờ bí ẩn, khó nhận diện, và vô trách nhiệm. Không có một ông vua cụ thể nào đứng ra nói “tôi quyết định.” Ai chịu trách nhiệm khi tòa án Nhật Bản truy tố các nhà kinh doanh Nhật hối lộ ở Việt Nam? Không thấy ai trong cái bộ máy tối cao vô hình đó cả. Ðảng Cộng Sản đúng là một thứ quỷ thần vô danh vô tướng.
Ví thử có một ông tổng bí thư cộng sản quyết tâm muốn bài trừ tham nhũng, liệu ông hay bà ta có khả năng làm hay không? Trong cuốn tiểu thuyết Thiên Nộ (Cơn giận của Trời) của Trần Phong, kể chuyện guồng máy tham nhũng tại thành phố Bắc Kinh, một nhân vật nói, “Hoàng đế nhà Minh, Minh Thái tổ, bắt được quan lại tham nhũng thì đem lột da rồi trưng bầy bộ da cho các quan chức coi mà sợ, đừng tham nhũng nữa.” Nhưng anh ta, một cán bộ trong sạch trong guồng máy, nhận xét, “Biện pháp đó không ăn thua gì cả. Tại sao? Vì cả hệ thống cai trị sinh ra tham nhũng. Mà điều quan trọng nhất là: Không có một hệ thống kiểm tra nào của dân, độc lập với nhà nước để theo dõi.” Kết luận: “Chu Nguyên Chương chỉ thi hành các biện pháp chắp vá để chống tham nhũng!” Ngay cả việc lột da các quan ăn hối lộ cũng chỉ là chắp vá! “Muốn thành công chúng ta phải có cách nhìn toàn bộ,” cuốn tiểu thuyết khuyến cáo!
Cách nhìn toàn bộ nào? Phải thay đổi toàn thể hệ thống, nghĩa là phải bãi bỏ tình trạng chuyên chế độc tài của một đảng! Chính cái đảng cầm quyền tuyệt đối, trên đầu không có ai, chính nó là nguồn gốc sinh ra tham nhũng. Dù có thay thế cái đảng đó bằng một đảng khác, dùng toàn những bộ mặt mới, con người mới, nhưng nếu vẫn giữ cơ chế độc quyền và quyền hành tuyệt đối, thì vẫn hỏng. Cơ chế vẫn như cũ, thì làm gì cũng vẫn chỉ là biện pháp chắp vá mà thôi! Chính cơ cấu độc quyền chuyên chế đẻ ra nạn tham nhũng, chứ không phải vì có những con người xấu mà sinh ra tham nhũng. Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối.
Chúng ta sống sau cụ Phan 100 năm, hiểu rõ hơn về xã hội cũng như guồng máy chính trị của loài người, cho nên biết những lời khuyến cáo đạo đức rất quý báu nhưng không đủ. Phải tìm trị căn nguyên của bệnh tham nhũng và hối lộ do các định chế chính trị sinh ra. Chuyên chính là nguồn gốc của tham nhũng, vì nó trao quyền hành tuyệt đối vào tay một nhóm người không chịu trách nhiệm với ai cả. Năm 1958, ngày 28 tháng 1, ông Hồ Chí Minh nói chuyện với các “học sinh” Trường Công An Trung Ương, ông hỏi họ, “Các cô các chú có muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội hay không?” Và ông nhắc đi nhắc lại một khẩu hiệu rất nhiều lần, “Dân Chủ và Chuyên Chính đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thật sự phải chuyên chính thật sự... Có chuyên chính thật sự, có dân chủ thật sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được...” (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 9, trang 29).
Ðó là chủ nghĩa Lê Nin. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải gột rửa tư tưởng Lê Nin Nít đó trước hết. Chỉ khi nào trong cơ cấu chính trị quốc gia có phân quyền, có các cơ quan quyền lực ngang hàng để cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, chúng ta mới hy vọng bắt đầu chống tham nhũng. Khi nào người dân được tự do nói, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử, thì mới thiết lập được các định chế phân quyền. Nếu chưa có các điều kiện đó, nói gì cũng chỉ là nói xạo mà thôi.
Nghe nói xạo mãi, người dân khinh bỉ bọn cầm quyền. Nhưng chính người dân cũng bị tác hại: Nghe nói dối quen, người ta mất cả khái niệm về danh dự, về liêm sỉ. Ngày xưa Phan Bội Châu khuyên dân tộc Việt Nam phải bài trừ tham nhũng để người dân phục hồi đức liêm sỉ. Một thế kỷ sau, điều này còn khẩn cấp hơn thời cụ Phan viết Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư gấp trăm, gấp ngàn lần!

