Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Điều đó rồi cũng qua đi
(Vua Salomon trong Kinh Thánh được vang danh vì sự khôn ngoan, giầu có và các trước tác của mình. Ông lên làm vua vào khoảng 967 trước Công Nguyên. Quốc gia Do thái của ông, lúc đó, trải dài từ ven sông Euhrates trên miền Bắc, vùng Lưỡng Hà, xuống đến tận vùng cực Bắc của Ai Cập, phía Nam.)

Một ngày nọ, Vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình...
Vua bèn nói với ông: "Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ Sukkot và ta cho ông sáu tháng để tìm thấy chiếc vòng đó. "

Benaiah trả lời: "Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy chắc phải có gì đặc biệt? "

Nhà Vua đáp: "Nó có những sức mạnh diệu kỳ. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó, sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn, nhìn vào nó sẽ thấy vui". Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.



Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ Sukkot, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi "Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không? ". Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng rỡ một nụ cười.

Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mừng lễ hội Sukkot.

"Nào, ông bạn của ta, " Vua Salomon nói, "Ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa? ". Tất cả những cận thần đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: "Nó đây thưa đức vua". Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó khắc dòng chữ: "Điều đó rồi cũng qua đi"

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó, ông cũng chỉ là cát bụi ... .

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Âm mưu Bắc thuộc kiểu mới

Võ Long Triều

Trong một số bình luận, chúng tôi đã trình bày với khán thính giả và đồng bào về nguy cơ Bộ Chính Trị Cộng Sản Hà Nội tự nguyện làm tay sai cho Trung Quốc, biến Việt Nam thành chư hầu. Trung Cộng không cần phải dùng võ lực xâm chiếm. Nước ta sẽ bị quan thầy cai trị như Tân Cương và Tây Tạng. Mười lăm ông ngồi trong Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ là những quan “Thái Thú” vâng theo lệnh của Bắc Kinh.

Chúng tôi cũng có phân tích trên truyền thông báo chí 16 chữ vàng, “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai.” Và 4 tốt, “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.” Những chữ vàng và cái tốt đó tác hại vô cùng to lớn đối với đất nước và lợi ích quốc gia. Sự nhún nhường, khiếp sợ, hèn nhát hay là thuận ý tiếp tay của Hà Nội, cho phép Trung Cộng gây nguy hại cho nền kinh tế bằng cách đưa hàng hóa, bị thế giới chê trả vì khám phá có độc, tràn sang Việt Nam vừa làm cho nền công kỹ nghệ nước nhà bị đình trệ vừa đầu độc dân chúng. Ấy vậy mà một tên tham vụ kinh tế quèn của Tòa Ðại Sứ Trung Quốc, Hồ Tỏa Cẩm, họp báo lớn tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội phải cảnh cáo và có biện pháp đối với báo chí và vị giám đốc Cục Kiểm Soát Thực Phẩm Việt Nam dám chê hàng Trung Quốc. Tên này lớn giọng nói, “Hiện chúng ta có quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước xã hội chủ nghĩa cho nên báo chí phải làm theo sự thỏa thuận của hai chính phủ.”

Mặc khác, hàng trăm ngư dân Việt Nam đánh cá trong hải phận của mình, bị tàu Trung Quốc chận bắt người, cướp cá, phá lưới, phá tàu và giam cầm đòi tiền chuộc! Những chiếc tàu đó chính thức mang cờ Trung Quốc có tên hiệu tàu đầy đủ, thế mà phát ngôn viên cộng sản Hà Nội không dám nêu dích danh tàu của ai, chỉ dám gọi “tàu lạ”! Ngược lại, ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá trong vùng biển Việt Nam, Hải Quân Hà Nội chỉ dám cảnh cáo và dẫn độ họ ra hải phận quốc tế, không dám bắt giữ như chính phủ Phi Luật Tân đã làm và đòi Trung Quốc phải công khai lãnh về, bảo đảm không tái phạm. Riêng Việt Nam không dám có một lời phản đối mạnh mẽ.

Gần đây ngày 6 tháng 11, 2009, trong bài “Cộng Sản Hà Nội Hán Hóa Việt Nam” đăng trên nhật báo Người Việt, tôi trích dẫn lời kêu gọi của Trường Chinh, tổng thư ký đảng Lao Ðộng, sau là tổng bí thư đảng cộng sản như sau, “Việt Nam của chúng ta là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung Quốc. Ðồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Tây, hãy trở về với chữ của ông bà ta là chữ nho của Trung Quốc. Vả chăng người Trung Hoa, bạn của ta - mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa - ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế. Ta hãy bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu.” (Truyền đơn số 284/LD, báo Tiếng Dội số 426 ngày 24 tháng 8, 1951 của miền Nam tự do đăng lại để vạch mặt bọn bán nước, hiện còn lưu trữ tại British Museum-London Anh Quốc) .

Sau Trường Chinh đến Phạm Văn Ðồng ký bản văn nhìn nhận quyền Trung Quốc nới rộng hải phận.

Ðến lược Nguyễn Tấn Dũng “triều cống” cao nguyên cho Trung Quốc mà ngay cả Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, một công thần khả kính lừng danh viết thơ phản kháng cũng không được. Sự kiện mà ký giả David Filling của báo Financial Times dùng chữ “pay tribute” (cống vật) để diễn tả. Và tệ hại hơn nữa là có tiếng đồn Trung Quốc hối lộ cho Dũng 250 triệu US đô la. Có hay không chỉ một mình ông Dũng và người đưa tiền biết.

Ngày 25 tháng 5, năm 2009, Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh tiếp Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Dương Khiết Trì, xác định liên hệ Việt-Trung mãi mãi dựa trên 16 chữ vàng và 4 cái tốt. Mạnh lại còn hứa nâng “hợp tác toàn diện” lên mức độ cao hơn!

Nhìn lại quá khứ, báo chí đã từng đưa tin, chỉ đích danh nhiều xã, huyện, tỉnh, có công nhân Trung Quốc tập trung đông đúc, lập đường sá đặt tên bằng chữ Hán. Người Việt phạm pháp bị chúng bắt giữ và tự ý xử trị. Công an Việt Nam đòi trả người, chúng không giao. Nhiều nơi công nhân Trung Quốc rượu chè say sưa ăn uống không trả tiền bị chủ nhân người Việt lôi kéo ấu đả, cả trăm công nhân Trung Quốc kéo nhau đánh đập dân làng công an không dám can thiệp. Thực tế đã có nhiều xứ “tiểu Trung Quốc” rải rác khắp nơi. Trong khi đó nhà cầm quyền Hà Nội lại cho phép người Trung Hoa tự do ra vào Việt Nam không cần có hộ chiếu hay giấy tờ tùy thân. Ðúng như Phó Thủ Tướng Tố Hữu khẳng định:

“Bên nầy biên giới là nhà,

bên kia biên giới cũng là quê hương”

Cộng sản Bắc Việt còn có bài ca như sau, “Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Ðông, mối tình hữu nghị sáng như rạng đông. Ðêm sông núi cùng một dòng, tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây, chúng ta sống chung nghe tiếng gà gáy cùng. Chung một ý, chung một lòng, Ðường ta đi hồng màu cờ thắng lợi. Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Ðông.”

Rõ ràng là công sản Hà Nội đã thuận lòng dâng cả nước cho Trung Cộng rồi. Từng bước, Trung Quốc lấn dần bằng cách bỏ tiền đầu tư vào mọi ngành nghề, đấu thầu thực hiện mọi thứ công tác mà nhà cầm quyền Việt Nam từ địa phương đến trung ương phải có bổn phận cho họ trúng thầu như thực tế đã chứng minh.

Ngày nay, lại thêm việc chín tỉnh phía Bắc và một tỉnh phía Nam cho mướn đất dài hạn 50 năm, nói là để trồng cây gây rừng. Thật là một tai hại vô cùng khủng khiếp xét về nhiều mặt. Tôi tin chắc không thể nào 15 thành viên của Bộ Chính Trị không thấu hiểu điều đó. Tôi cũng tin chắc rằng sự nhận xét của chuyên gia Vũ Ngọc Tiến là không đúng khi ông cho rằng, “Dưới không dám phê bình trên, để cho trên muốn làm gì mặc ý thì trên cũng thả lỏng cho dưới tha hồ đem tài sản quốc gia trao đổi bán chác kiếm miếng lợi riêng.” Ngược lại tôi tin là trên dưới cấu kết bao che nhau với mục đích cùng chung phục vụ quan thầy, bán nước cầu vinh trục lợi!

Những tai hại trước mắt: Thứ nhứt là đốn cây phá rừng để trồng lại sẽ ảnh hưởng đến môi trường, gây lụt lội bất thường, điều này đã xẩy ra cho các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng mà vì nhà cầm quyền địa phương ở đó cho khai thác khoáng sản bừa bãi. Kết quả thấy liền là trâu bò ở các tỉnh đó đã chết vì thiếu cỏ và thời tiết quá lạnh, đó là theo bản tin đài SBTN loan tải ngày 22 tháng 2, 2010. Tai hại thứ hai là đốn cây hay trồng cây gây rừng cần nhân công, do đó sẽ có một cuộc di dân ào ạt vì các công ty Trung Quốc đưa nhân công của họ sang lập làng xã riêng biệt như họ đã từng làm từ trước đến nay. Tai hại thứ ba là những mảnh đất sát biên giới sẽ trở thành đất của Trung Quốc bằng cớ là việc cấm mốc phân ranh biên giới phía Bắc có rất nhiều nơi người Trung Hoa vào sâu trong đất Việt canh tác mang danh tính là thành viên của hợp tác xã Tàu, do đó ranh giới Tàu phải ăn sâu vào đất Việt. Bộ Chính Trị đảng và nhà cầm quyền Hà Nội không thể quên điều đó. Năm mươi năm sau, với sự lưu manh tráo trở và trâng tráo ỷ mạnh hiếp yếu của đồng chí Bắc Kinh, bản đồ Việt Nam sẽ đổi dạng một cách bi thảm. Tai hại thứ tư là các nhà doanh nghiệp đầu tư Hồng Kông, Ðài Loan, Trung Quốc đều là người Hoa. Với chiêu bài trồng rừng, mướn đất 50 năm họ có quyền khai thác những quặng mỏ quan trọng quí giá như sulfua đa kim giàu chất vàng bạc, uranium. Sự nghiên cứu địa chất của người Pháp và Việt trên những vùng đất thật cổ này cho biết kết quả có rất nhiều khoáng sản và kim loại quí. Ðiều mà Trung Quốc bỏ tiền của ra mua hay mướn đất ở nhiều xứ Châu Phi và Châu Mỹ La-Tinh để tìm kiếm những quặng mỏ mà Trung Quốc có nhu cầu ngày càng cao. Cũng giống như trữ lượng khổng lồ dầu khí nằm dưới lòng đáy biển của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khiến cho Bắc Kinh sinh lòng tham và đẩy mạnh chính sách bành trướng bá quyền. Tai hại thứ năm, do hai vị tướng lãnh giàu kinh nghiệm, Ðồng Sĩ Khuyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, nói lên, là các vùng đất địa đầu có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng. Hai ông đưa ra những đề nghị hữu lý nhưng Bộ Chính Trị phớt lờ cũng như đã từng khinh khi lời cảnh giác của Tướng Võ Nguyên Giáp phản đối việc cho Trung Quốc chiếm đóng cao nguyên. Tướng Ðồng Sĩ Khuyên và Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã từng tố cáo Tổng Cục II và T4, một vụ án quan trọng gây chia rẽ nội bộ đảng không ít, nhưng Nông Ðức Mạnh cầm đầu Bộ Chính Trị đã “khoanh lại” không dám khui vì hai trọng tội là Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười nổi tiếng là “bạn bè tốt” nhứt và “đồng chí tốt” nhứt của thế lực Bắc Kinh.

Sự bất mãn oán hờn tràn lan trong xã hội đến nỗi một blogger trẻ tuổi biến đổi 16 chữ vàng thành 16 chữ oán, “Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai.”

Ngày 6 tháng 1, năm 2010, Ðại Sứ Ðặc Mệnh Toàn Quyền Trung Quốc Tôn Quốc Tường họp báo chuẩn bị cho các hoạt động của Năm Hữu Nghị Việt-Trung giải thích việc tranh chấp biển Ðông nói rằng, “Hai nước đều là xã hội chủ nghĩa, do đảng cộng sản lãnh đạo với thể chế một đảng cầm quyền nên sẽ dễ giải quyết vấn đề tranh chấp.” Ông Tường còn đưa ra lời hăm dọa “Hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại.” Chủ nghĩa bá quyền của Bắc Kinh đã hiện rõ, và sự quy lụy hèn nhát, bán nước cầu vinh trục lợi của Hà Nội đã được chứng minh qua nhiều sự việc. Viễn tượng mất nước và âm mưu “Bắc Thuộc” đang được thực hiện dần dần qua sự tiếp tay của đảng Cộng Sản Việt Nam. Chỉ khi nào đồng bào trong và ngoài nước không còn sợ hãi, vùng lên xóa bỏ chế độ độc tài, hay khi nào lòng yêu nước và tự ái dân tộc của quân đội cộng sản thúc đẩy họ đứng lên lật đổ bọn cầm quyền bán nước thì mới hy vọng đoàn kết được toàn dân chống Trung Cộng xăm lăng.

Võ Long Triều

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Phấn Trắng Bảng Đen Và Lòng Biết Ơn

Tác Giả : Tạ Xuân Thạc


Có bao giờ quý vị nhớ đến cái bảng đen đầy phấn trắng có lần đã rơi trên tóc thầy cô giáo của chúng ta không?

"Nhất tự vi sư bán tự vi sư
Phi sư phụ phi đáo nhân
Dù chỉ học thầy một chữ
Hay nửa chữ cũng ghi ơn” ...

Chuyện cổ tích ngày xưa kể rằng khi nước Nam chưa có chữ quốc ngữ theo hệ thống mẫu tự ABC mà còn dùng Hán tự viết nét bằng cọ: Có một anh học trò thấy một đàn kiến khi kéo nhau bắc cầu qua sông, cả lũ kiến gần như sắp bị dòng nước lũ cuốn đi, anh động lòng từ tâm liền bẻ một cành cây bắc cầu cho kiến di chuyển. Kỳ thi Hương năm đó anh làm bài thi, rủi ro một chữ anh viết thiếu một nét nên nếu đọc thì khác nghĩa, chắc chắn giám khảo đánh rớt, nhưng may mắn thay, chữ mà thiếu nét đã được những con kiến bám chặt vào, nên nét chữ thiếu thành đủ. Giám khảo đã chấm điểm cho anh đậu khoa thi năm đó. Người đời cho rằng kiến đã trả ơn cứu mạng của anh học trò từ tâm ấy nên công danh anh được hanh thông.

Sự thực câu chuyện trên đây chỉ là dụ ngôn, mà đã là dụ ngôn thì không có thật, nhưng nó cũng đem đến cho ta một ý nghĩ “biết ơn” nào đó và cách xử sự trong đời.

Trên sân khấu của nhà hàng Hương Xưa, tôi nhìn người nam ca sĩ có gương mặt quen thuộc, có cái nhân dáng quen thuộc và lời ca tiếng hát đó lại cũng quen thuộc nữa. Xin thưa đó chính là một giáo sư trước đây cách hơn phần tư thế kỷ đã là thầy tôi. Tôi vui lắm khi nghe tiếng ca ngọt ngào, du dương mang một ước mơ về tình yêu mà người thi sĩ gửi gấm trong thơ, người nhạc sĩ ký thác nỗi cảm tác trong từng nốt nhạc, cũng như người ca sĩ cố gắng lột tả trọn vẹn nỗi bâng khuâng, khi nhân vật trong bài ca là tình nhân, hay là nỗi dịu dàng khi nhân vật ấy gần người yêu, rồi nhớ đến ánh trăng khuya của một thuở hẹn họ tình tự mà đã có khi còn ở Sài Gòn trong ký ức dấu yêu.

Trong nỗi cảm nhận miên man của cử tọa đang lắng nghe, tôi cho là cả bộ ba Du Tử Lê, Phạm Đình Chương và thầy cũ của tôi đang đứng hát thật là một sự kết hợp tuyệt diệu. Bài "Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn", hình như nó là một trong những nhạc phẩm mà ông thích thú nên khi hát, ông đã diễn tả đúng mức khi hát bài này. Tuy ông là ca sĩ tài tử, nhưng lại bắt nhịp ca trong nỗi đắm say, ông ngân dài như đưa chúng tôi về với Sài Gòn trong quyến luyến, y như cái tâm trạng mà lúc tôi đau xót rời xa chốn này:

“Đêm về trên bánh xe lăn
Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây
Ngỡ hồn tu xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa
Đời tan, tan nát chiêm bao
Tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào …”

Thầy tôi, người mang bản tính năng động, ông luôn luôn vui vẻ và thích dí dỏm khi làm MC, ông trẻ trung trong giọng nói, và ông cũng trẻ trung trong tâm hồn. Lúc vừa qua ông hát, đã như lột hết tâm tình về những kỷ niệm quê hương như thầm nói:

"Các anh chị em thân mến, ngày xưa tôi đứng trước các em và đằng sau là bảng đen và phấn trắng, ngày hôm nay phía trước tôi đây cũng là các em, nhưng đằng sau tôi không còn phấn và bảng đen nữa, thay vào đó là ban nhạc đệm cho tôi hát lên những ca khúc ân tình, những hoài niệm của hoài hương và của dĩ vãng còn rong ruổi trong vùng ký ức cũ của tôi, hay cũng là của chúng ta.

Chỉ tiếc rằng những ngày cũ đó không được kéo dài lâu hơn mà phải đợi hơn một phần tư thế kỷ sau mới được nối tiếp. Thú thực rằng ngày nào tôi còn gặp lại các anh chị là ngày ấy vẫn là hạnh phúc cho tôi. Cái hạnh phúc kế tiếp là tôi được hát những ca khúc mà anh chị em thích. Như thế thì chúng ta đã có những hạnh phúc chung, hay nói khác đi là sở thích hay văn hóa chung, có đúng như vậy không các anh chị?"

Có bao giờ quý vị nhớ đến cái bảng đen đầy phấn trắng có lần đã rơi trên tóc thầy cô giáo của chúng ta không? Có chứ! Nhưng nhiều người không được may mắn như chúng ta, vì họ học ở trường đời nhiều hơn trường lớp, nhưng họ cũng học được lòng biết ơn các nhà mô phạm từ những câu chuyện nhỏ, như câu chuyện của Fred Bauer kể dưới đây:

“Hôm đó có người giãi bày tâm sự rằng họ nhận thức được dường như ít khi bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân sống gần gũi, hay xóm giềng lân cận đã dành cho họ nhiều điều ưu ái. Điều này nói lên rằng tất nhiên là chúng ta không nên đợi đến những ngày lễ lộc, kỷ niệm để mới nói lên lời cảm ơn đối với người thân hay ân nhân mà mình đã từng mang ơn”.

Giá như tôi học được điều gì đó về nghệ thuật cám ơn thì đó chính là: Hãy cám ơn ngay bây giờ, vì khi nói lên lời cám ơn không những chỉ làm rạng rỡ, mát lòng ân nhân mà còn thể hiện tính văn minh lịch sự của người thọ ơn. Nếu bạn cảm thấy bị hắt hủi, xua đuổi, bạn đừng vội bi quan, yếm thế mà hãy ra tay cứu vớt người khác. Rất có thể đó là phương thuốc giúp bạn tìm lại niềm lạc quan, yêu đời.

Trước khi trở thành nhà văn nổi tiếng, A.J. Cronin từng là một bác sĩ. Hồi ấy, có nhiều bệnh nhân đến yêu cầu Cronin điều trị cho họ chứng bệnh lo âu, hồi hộp, sợ sệt, hay mất niềm tin hoặc luôn ngờ vực. Quý vị nghĩ Cronin xử trí làm sao không? Ông ghi cho họ toa thuốc thật lạ lùng: Toa thuốc “biết nói lời cám ơn” rồi căn dặn bệnh nhân: “Trong vòng sáu tuần, bạn phải nói lời cám ơn mỗi khi nhận được sự giúp đỡ của bất cứ ai dù đó chỉ là việc mọn. Và để tỏ ra rằng lời cám ơn kia xuất phát từ tấm lòng thành, bạn hãy mỉm cười với ân nhân khi thốt lên hai tiếng “cám ơn”. Lạ thay, sau sáu tuần điều trị, hầu hết bệnh nhân của Cronin đều cảm thấy bệnh của mình thuyên giảm một cách rõ rệt.

Trong nhiều trường hợp, chúng ta không thể bày tỏ ngay lòng biết ơn của mình. Nếu rơi vào hoàn cảnh này, bạn không nên thụ động, giữ im lặng mãi mà hãy mạnh dạn nói lời cám ơn ân nhân của mình ngay khi gặp lại họ.

Vừa mới đây, tôi có dịp về thăm lại quê nhà trong một thời gian ngắn. Trong khi tôi đếm bước dọc theo đường làng quen thuộc, kỷ niệm thời thơ ấu bỗng dạt dào đến trong tâm trí tôi. Rồi bỗng nhiên trên đường về làng, tôi gặp lại cô giáo Hương. Cô đã gợi trong tôi thời tôi còn mài đũng quần trên ghế trường trung học. Năm ấy, tôi ngồi lớp chín. Tôi mê chơi môn đá bóng hơn là chú tâm vào việc học. Hậu quả là tôi bị tụt hậu môn tiếng Pháp. Khi phát giác ra môn yếu kém của tôi, cô giáo Hương nói: “Ồ, học tiếng Pháp có khó khăn gì đâu, rất thú vị nữa là đằng khác. Sau bữa cơm chiều nay, em sang nhà cô, cô sẽ chứng minh cho em thấy điều đó”.

Trong nhiều tuần lễ kế tiếp, cô dạy kèm tôi học tiếng Pháp cho đến khi tôi theo kịp chúng bạn. Năm ấy tôi tròn 14 tuổi. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhận ra rằng cô giáo Hương khả kính, vừa tích cực giảng dạy ở trường vừa làm tròn nhiệm vụ trong gia đình, lại còn dành riêng mỗi ngày một giờ để dạy kèm tôi học tiếng Pháp nữa. Sự cố gắng giúp đỡ tôi của cô giáo Hương lúc ấy, tôi xem như là chuyện rất bình thường. Nhưng giờ đây, khi gặp lại cô, tôi bỗng nhận thức một cách sâu sắc rằng cố gắng của cô dành riêng để dạy tôi học tiếng Pháp trước đây quả là sự hy sinh vô bờ bến mà hàng năm dài tôi hầu như quên lãng. Tôi chạy đến ôm choàng lấy cô, giọng thổn thức: “Những điều mà cô dành cho em trước đây đã vượt xa nhiệm vụ bình thường của một cô giáo. Xin cô nhận lòng biết ơn chân thành của người học trò cũ, dù cho lời cám ơn được thốt lên muộn màng.” Cô đáp lời tôi bằng nụ cười ấm áp, mãn nguyện và đôi mắt rạng rỡ niềm tin.

Nếu nhà văn lớn A. J. Cronin viết ra những cám ơn nhân đã dạy dỗ mình nên người thì tôi lại sực nhớ câu chuyện của người bạn Iran (Ba Tư) mà tôi mới quen. Anh ta kể sau khi Shah hoàng bị lật đổ, chính quyền mới hồi giáo lên thay thế, người lôi thầy giáo ra tra tấn chính là anh, anh bị bắt buộc nếu không làm việc này thì anh sẽ bị chính quyền mới hành quyết tức khắc, khi thuật lại câu chuyện trên anh buồn lắm và nói anh là nạn nhân của một chế độ vô luân. Người thầy mà anh xúc phạm đến là người thầy tốt, ông đã cố dạy những đứa trẻ tinh nghịch, ông xử phạt chúng theo kỷ luật nghiêm minh của nhà trường. Khi đất nước thay đổi thì người bạn tôi, và người thầy giáo của đám học trò tinh nghịch đã gây cho người thầy cũ cái cảm giác chán chường, rồi cả hai cùng về sống ở vùng băng tuyết phía bắc gần nước Canada, ông thầy thì sống ẩn dật.

Người Việt Nam chúng ta có những câu nói mà người học trò lớn nhỏ đều được giáo huấn như "Không thầy đố mày làm nên", sau này người học sinh đã lớn tuổi lại tìm thấy ý nghĩa của câu nói tôi cho là rất chí lý: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư".

Thật ra mọi việc trong cuộc sống con người cũng tùy thuộc vào môi trường của đứa trẻ sinh sống, hiền lành hay ngỗ nghịch là do tình trạng gia cảnh, môi trường của xóm giềng chung quanh hay bạn bè mà chúng kết thân. Có đứa thay đổi tâm trạng hiểu thầy cũ, thì cũng có đứa ương ngạnh, vẫn cố chấp những chuyện cũ trong vùng ký ức.

Rèn luyện để làm con người đã khó rồi, mà làm sao cho đám học trò tinh nghịch, lêu lổng trở nên người hữu dụng cho xã hội lại càng khó hơn, chỉ vì sự hẹp hòi, ích kỷ đã in hằn sâu trong tâm thức của chúng.

Cùng với cái tâm tình dành cho những ai đã thất bại vì nạn đổi đời của tháng Tư Đen 75 tại quê hương VN của tôi, họ đã chịu đựng nhiều nỗi cay đắng truân chuyên. Thầy tôi ca bài hát mang nhiều tính chất triết lý của cuộc sống. Đó là bài "Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa", nhạc của Lê Uyên Phương sáng tác, lời thơ Nguyễn Hoàng Đoan. Tôi nghe trong nỗi chua xót và đắng cay, tôi cảm thấy cay đắng vì lũ học trò xưa phản thầy, họ vong ơn với vị thầy cũ, và hình như họ vong ơn với nhiều người. Mắt tôi đã cay vì nước mắt tuôn trào khi nhớ đến hoàn cảnh vị thầy trong khung cảnh băng giá kia, hình ảnh ấy vẫn chập chờn trong suy nghĩ của tôi. Giọng ca của thầy tôi bây giờ lại chuyên chở cả một kiếp nhân sinh mà hai người thi sĩ và nhạc sĩ đã đưa vào bài hát này:

"... Không phải là bông hồng
Dành cho người hạnh phúc
Những người không biết khóc
Những người không biết cười
Những người tim bằng đất
Không phải là bông hồng
Dành cho những búp bê
Những búp bê biết khóc
Những búp bê biết cười
Búp bê tim bằng nhựa
Đây là một bông hồng
Gửi về người ngã ngựa."

Sống tại Hoa Kỳ hằng năm người ta có ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) , mục đích của nó như tên gọi, là tạ ơn đối với những ai giúp đỡ, cưu mang cho cuộc sống này được khá hơn. Nó có thể bao gồm cho tình thầy trò. Bởi vì: "Không thầy đố mày làm nên”. Người bạn láng giềng nhà tôi lúc trước, nay cư ngụ trong vùng Northwest Houston thuật cho tôi nghe chuyện cũ khi còn ở Sài Gòn, là một sinh viên sư phạm đã kể lại những “buồn nhiều hơn vui” trong đời dạy học của mẹ mình, anh suy tư đôi phút rồi kể như sau:

“Tôi còn nhớ rất rõ lúc tôi ngồi trầm ngâm trước lá đơn xin thi vào trường đại học cách đây ba năm. Mẹ tôi (một nhà giáo tóc đã bạc, gần ba mươi năm trong nghề) đứng cạnh tôi, nói nhỏ nhẹ: “Con ạ, dẫu sao nghề giáo vẫn là một nghề cao quí”. Mẹ tôi nói hai chữ “cao quí” thật nhỏ và mắt mẹ rưng rưng. Tôi thấu hiểu ước muốn của mẹ tôi. Không cần đắn đo, tôi ghi vào lá đơn: Trường Đại Học Sư Phạm. Tất nhiên trong chọn lựa cũng có phần của tôi.

Sau tháng Tư Đen năm 75, nhà tôi dọn về ở trong một con hẻm sâu. Có một đêm nọ gần chín giờ, một người đàn ông tóc muối tiêu dắt chiếc xe đạp vào hẻm và hỏi tìm nhà cô giáo Hạnh. Khi mẹ tôi ra mở cửa, người đàn ông cúi hẳn người xuống, rụt rè: “Thưa cô, cô còn nhớ em không, em là trò Huân đây...”. Mẹ tôi ngờ ngợ, có lẽ không nhớ ra. Khi vào nhà nói chuyện, chú Huân kể lại: “Hồi em học lớp 9, ngồi đầu bàn, thường tinh nghịch để chân thẳng ra ngoài. Cô đi lên đi xuống giảng bài say sưa, đụng phải chân em, cô vấp té, đầu va vào bàn... Cô nhớ không? Hồi đó, sợ quá em không nói được một lời xin lỗi với cô. Thế cho nên em ân hận mãi cho tới bây giờ. Hơn 25 năm rồi, cô nhỉ?”.

Ở ngoài Trung chú Huân chạy xe ôm, có dịp vào thành phố chú quyết tìm cho được người thầy cũ là mẹ tôi. Để thăm và nói một lời... và chỉ một lời để xin lỗi. Khi trao những chiếc bánh nổ của quê hương miền Trung cho mẹ tôi, chú Huân bùi ngùi nói: “Em có chút quà của miền Trung... để cô nhớ đến tụi em”. Đêm đó là một trong những đêm vui của mẹ tôi.

Có một lần mẹ tôi bị bệnh nằm ở bệnh viện Bình Dân, một bác sĩ khoảng 40 tuổi cứ ở bên mẹ tôi. Khi mẹ xuất viện, mỗi đêm người bác sĩ ấy lại lội vào con hẻm đến nhà theo dõi sức khỏe cho mẹ tôi. Đó là một học trò cũ của mẹ. Anh ấy cứ nhắc đi nhắc lại: “Không có cô, đời em chưa biết ra sao...”. Anh ấy kể: hồi học cấp III, gia đình quá khó khăn, đã nhiều lần anh đã quyết định nghỉ học, nhưng mẹ tôi đến, giúp đỡ, khuyên bảo và anh lại tiếp tục đi học, nay anh đã đậu làm bác sĩ cũng là nhờ mẹ tôi.

Thỉnh thoảng mẹ tôi nhận được những lá thư, những thiệp chúc tết, thiệp báo hỉ... từ phương xa gửi đến. Tất cả đều ghi những lời trân trọng, ân tình. Mẹ tôi dành riêng một ngăn tủ gìn giữ tất cả và thỉnh thoảng mẹ tôi lại giở ra xem, và tôi thấy bà mỉm cười hạnh phúc.

Nhưng đời dạy học của mẹ tôi cũng có quá nhiều những đắng cay, ngậm ngùi thậm chí đến tủi nhục. Có một lần đi dạy về, vừa bước vào cửa mẹ ôm mặt òa khóc. Tôi hỏi mãi, mẹ mới chịu kể lại rằng: “Mẹ đang dạy trong lớp thì một người sang trọng đến hành lang, gật đầu ra hiệu muốn gặp mẹ. Mẹ bước ra, người ấy trao cho mẹ một xấp vải và chiếc phong bì, nói: “Xin cô cho cháu nó vào học lại”. Mẹ từ tốn trả lời: “Trường hợp cháu đã quá nhiều lần vi phạm kỷ luật, ban giám hiệu đã quyết định cho nghỉ học. Có gì xin ông gặp ban giám hiệu”. Người ấy cứ dúi quà vào tay: “Cô nhận đi, không sao đâu, miễn là lo được cho cháu”. Mẹ nghiêm giọng: “Xin lỗi ông, tôi không lo được, xin ông cứ mang lên ban giám hiệu”. Người ấy bỏ đi và thòng theo câu nói: “Rách mà làm phách!”. Mà đúng vậy, mẹ càng đeo đuổi nghề, càng ngày càng rách thật. Rách đến mức hồi tôi còn nhỏ, mẹ đã từng phải cắt chiếc áo dài cưới của mẹ để may cho tôi một chiếc áo mới, để tôi đến trường ngày khai giảng... Lần ấy mẹ tôi xót nhưng không đau. Lần này vừa đau vừa xót vì có người đã xúc phạm đến danh dự của bà.

Tôi băn khoăn tự hỏi sao ngành giáo chức của mẹ tôi thê lương và bẽ bàng đến thế. Sách vở thì lại cho là nghề giáo cao quí lắm mà. Tôi tự hỏi và rồi tự suy nghĩ . . .

Một lần khác, một phụ huynh tổ chức đám cưới cho con trong một nhà hàng sang trọng ở đường Trần Hưng Đạo đã mời mẹ tôi tới dự. Mẹ lọt ở giữa những khách khứa hào nhoáng, mẹ tôi trao chiếc phong bì là quà mừng cho đôi lứa tân hôn. Vị phụ huynh ấy đẩy tay mẹ tôi ra và từ chối, rồi nói một câu rất tự nhiên: “Tiền bạc đâu mà cô mừng cho cháu. Mời cô cốt là để cô bồi dưỡng cho sức khoẻ”. Nghe xong câu nói đó mẹ tôi cúi mặt, xấu hổ tê tái người và mẹ đã tìm cách lẳng lặng ra về. Đến nhà, vào phòng, mẹ kéo chiếc chăn đắp lên ngực, mắt mở lớn nhìn lên trần nhà, và nước mắt cứ tuôn trào ...

Tôi không nhớ hết được bao nhiêu lần mẹ tôi đã khóc như vậy. Cứ sau mỗi lần ấy, mẹ lại kéo chiếc hộc tủ có nhiều kỷ niệm đẹp của đời dạy học của mình ra và mẹ im lặng đọc từng lá thư, ngắm từng chiếc thiệp. Hình như lòng mẹ thanh thản trở lại, nhưng cuộc sống lúc đó cứ không để yên cho lòng mẹ thanh thản, lại muôn vàn đắng cay, muôn vạn điều nhức nhối. Vậy mà mẹ vẫn muốn tôi trở thành cô giáo. Năm sau đó tôi ra trường, cũng đứng trên bục giảng trong lớp. “Dẫu sao mẹ nói rằng đó vẫn là một nghề có ích nhất cho đời. Người thầy luôn mở rộng tấm lòng bao la, quảng đại để chấp nhận những thử thách khó khăn nhất xảy ra cho đời mình, và với tấm lòng vị tha, người thầy luôn để lại những dấu ấn đẹp cho mỗi cuộc đời...”

Trong những ý tưởng bâng quơ, vui lẫn buồn, tôi ngẫm nghĩ sống mà không biết yêu thương, ơn nghĩa thì “Sanh Bất Nhược Tử” (Sống mà như chết), chết mà còn để lại cho đời những tấm gương sáng thì “Tử Bất Nhược Sanh” (Chết mà như sống). Vậy thì người ta tri ân những nhà triệu phú hay tri ân những nhà giáo nghèo? Hỏi tức là đã trả lời, nhà triệu phú cũng sẽ được tri ân như vậy nếu như họ biết làm việc từ thiện mà không khoe khoang cho mọi người biết. Riêng tôi, cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì còn được nói hai tiếng “cám ơn” chứ không phải nói lời “rất tiếc”.

Đó là đôi dòng về người thầy cũ của tôi, hay về vị thầy giáo oan khiên bôn ba sau thời vận Shah hoàng, về cô giáo Hạnh, mẹ của người bạn tôi. Nếu ở đời có những đứa trẻ tinh nghịch, lớn lên bằng ý tưởng hẹp hòi và cố chấp thì xã hội cũng có người học trò cũ tinh nghịch của cô giáo Hạnh lớn lên trong ý thức biết ơn và bao dung.

Tôi nhìn về hướng vị thầy cũ mang dáng trí thức với đôi kính cận như dạo nào, ông bước xuống sân khấu sau khi hát hai nhạc phẩm nhắc nhớ những kỷ niệm quê hương. Và thông thường thì ai trong chúng ta cũng có những vị ân sư để mình nhớ về dĩ vãng và để tạ ơn các ngài.

Nhân đọc sách của nhà đại văn hào A.J. Cronin, tôi có ngẫu hứng viết bài này kính tặng các nhà giáo, các bạn hữu hiện có mặt trên khắp mặt địa cầu và nhất là đến với những thành viên trong nhóm Đồng Tâm nay đã kết thân thành một đại gia đình đã trải rộng, dài trên nhiều nước của thế giới.

Lời sau cùng tôi muốn nói là cám ơn bố mẹ đã sinh thành dưỡng dục để tôi có được ngày hôm nay, cám ơn các thầy cô đã góp phần dạy dỗ để tôi thành người hữu dụng, cám ơn quê cha đất tổ Việt Nam đã cho tôi những tình tự văn hóa dân tộc, và cũng xin cám ơn phấn trắng bảng đen cho tôi những dòng cảm nghĩ trong bài viết này.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Nguyên Sa
Màu kỷ niệm khó phai

Image
Hôm đó, lũ học trò chúng tôi lao xao trước lớp chờ thầy tới. Không hiểu sao, hôm đó tôi lại láu táu hỏi giật các bạn:

“Lan phệ đến chưa?”

Lan phệ là hỗn danh lũ học trò con gái vẫn gọi lén thầy Lan. Tiếng trả lời ngay phía sau làm tôi bủn rủn tay chân trong tiếng khúc khích của chúng bạn:

“Nó đây rồi!”

Người trả lời là Trần Bích Lan, ông thầy dạy triết mà vóc dáng lại chẳng có vẻ gì khô cằn khắc khổ của triết gia như lũ học trò vẫn hình dung. Ông tỉnh khô bước vào lớp.

Tuổi học trò có kỷ niệm khó quên như vậy là nhờ những ông thầy triết nhân kiêm thi sĩ. Thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan đến với chúng tôi ở lứa tuổi đó. Giờ đây nếu chẳng còn nhớ gì về môn triết thì thơ ông vẫn khơi dậy những cảm xúc học trò. Ðây là nói về thơ Nguyên Sa thời trước, chứ sau này, cho đến khi ông gần mất, thơ ông đã vươn ra những không gian khác.

Tuổi ấu thơ của chúng tôi trùng hợp với tuổi xuân của Việt Nam Cộng Hòa, của miền Nam tự do sau Genève. Lúc đó, mọi người như đều khao khát cái mới, có lẽ một phần để đoạn tuyệt với một nửa đau thương bên kia Bến Hải. Phần nữa là do sự thôi thúc của miền Nam, vùng đất có sự khoáng đạt rất mới. Lúc đó, hình như một thế hệ nhà thơ đã xuất hiện, trong đó có người du học từ Pháp về. Nguyên Sa là một, và có lẽ nổi bật nhất, trong lớp người đó.

Image
Nguyên Sa và phu nhân trong Jardin du Luxembourg Pháp, 1954
Hình Trương Trọng Trác

Nguyên Sa từ Paris về lại thổi vào Sài Gòn hương vị dịu mát của Hà Nội. Bài Áo Lụa Hà Ðông có tác dụng đến như vậy mà không lạ sao? Từ bài đó, tôi tin rằng khi nghe thơ Nguyên Sa người di cư từ miền Bắc đều nhớ về Hà Nội hoặc khí hậu tưởng như Hà Nội. Không mấy ai băn khoăn về Paris nữa dù lúc đó rất thời thượng, có một ma lực với người làm thơ ở Sài Gòn. Với Nguyên Sa, Paris có lẽ đã là tiền kiếp. Chứ Hà Nội, chứ miền Bắc và kỷ niệm ấu thời trước buổi di cư mới là hiện tại trong thơ.

Ðọc thơ Nguyên Sa - lúc đó, mới đọc thôi, chưa nghe và chưa hát - đọc thơ Nguyên Sa, lũ học trò đều thấy bồi hồi đến nóng đôi má vì ông viết thơ tình mà không hiểu sao, chúng tôi nhất quyết rằng đó là thơ tình cho học trò. Giờ này đây tôi vẫn nghĩ vậy và chỉ mong là thế hệ nào cũng có mấy cậu học trò pha mực làm thơ, khiến các cô gái đến tuổi đôi tám lại phân vân khi chọn màu áo đi học.

Thời đó, hầu như đứa nào trong chúng tôi cũng giấu trong cặp vài bài thơ, không Nguyên Sa thì Nhất Tuấn. Các nhà thơ ấy làm thơ cho lũ con gái kẹp tóc thời Sài Gòn còn thanh bình, và với tôi, kỷ niệm ấm êm đó vẫn là những gì đáng nhớ nhất. Không phải vậy sao, mỗi khi thấy mưa rào nổi bong bóng trên sân là mình lại nhớ về quê nhà, về tuổi mộng mơ còn vầy mưa ngoài ngõ, và thơ Nguyên Sa lại khua trong trí nhớ cả một trời ấu thơ đã mất.

Một điều phải nói ngay là thơ Nguyên Sa được phổ nhạc không nhiều bằng một số nhà thơ khác, nhưng bài nào đã được đưa vào nhạc là ngự trị mãi ở một vị trí rất cao.

Quỳnh Giao nghĩ rằng thơ Nguyên Sa khó phổ nhạc hơn nhiều bài khác vì tự nó đã có nét nhạc riêng, ở tiết tấu nhịp điệu riêng. Có bài đọc lên là đã như hát rồi. Mưa Tháng Sáu là một ví dụ làm tôi liên tưởng tới một bài luân vụ dìu dặt nhịp. Bài Cần Thiết cũng có giai điệu riêng, đọc lên đã thấy chất nhạc rất mới ở ý thơ. Người nhạc sĩ thật rất khó phả thêm hồn nhạc vào bài thơ đã có sẵn cái thần của nó.

Ngược lại, thơ của ông còn đòi hỏi nơi nhạc sĩ một sự hy sinh lớn, đó là dụng công làm nổi chất nhạc vốn có của bài thơ. Trước có Phạm Ðình Chương và sau có Ngô Thụy Miên là đã thành công như vậy. Nếu có yêu Màu Kỷ Niệm của Phạm Ðình Chương hay Áo Lụa Hà Ðông của Ngô Thụy Miên, chúng ta nên cám ơn sự cố gắng đầy tài hoa của hai nhạc sĩ này. Vì họ đem nhạc làm đẹp cho bài thơ, chứ không dùng bài thơ diễn tả chất nhạc của mình.

Hai điều đó khác nhau rất xa, và khi trình bày các ca khúc này, ca sĩ là người trước tiên cảm được điều đó.

Những người quen Nguyên Sa thường nói rằng ông chính là một enfant terrible mà làm gì cũng phải thành công thì thôi, chứ không phải là con người thơ, lãng mạn với thơ tình. Quỳnh Giao không dám luận bàn về mấy điều ấy và cho rằng Nguyên Sa đi tới thành công ở thơ.

Ông là người làm thơ đã thổi vào tuổi thơ của nhiều thế hệ chúng tôi những rung động đầu đời, khi thấy cây lá xôn xao nơi sân trường. Và điều đó là đáng kể nhất. Nguyên Sa không còn nữa, nhưng cầm thơ ông trên tay, đọc thơ ông ở trong trí, hát thơ ông khi nhìn ra khoảnh vườn, Quỳnh Giao thấy màu xanh của kỷ niệm vẫn nuột nà mơn mởn.

Nguyên Sa để lại một cây cầu vẫn đưa chúng tôi về quê hương và tuổi thanh xuân của mình...

Quỳnh Giao

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

YÊU THƯƠNG ĐỜI

Quyên Di
Ngày xưa, có lần một cậu học trò nói với tôi: ''Thầy ạ, em thích nhạc Lê Hựu Hà, nhưng có một câu hát em không đồng ý.'' Tôi hỏi, ''Em không đồng ý câu gì?'' Cậu học trò đáp: ''Đó là câu: Bạn thân ơi, cố gắng yêu thương đời... Em nghĩ, yêu là một tình cảm rất tự nhiên, yêu là tự lòng mình yêu, tự trái tim mình rung động. Yêu mà lòng phải ép uổng, yêu mà bảo trái tim phải cố gắng rung động, em nghĩ không phải là yêu nữa!"

Tôi đã nhìn thật sâu vào đôi mắt cậu học trò để cố tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra cho cậu, khiến cậu không muốn ''cố gắng yêu thương đời'' như thế. Cậu học trò người miền Trung, hiếu học và đa tài, cha mất sớm chỉ còn mẹ. Bà mẹ quê muốn con có tương lai mà không biết phải làm gì với sự hiểu biết hạn hẹp của mình, bà để mặc cho con tự định liệu. Cậu bé rời bỏ miền Trung khô cằn tìm đến Sài Gòn hoa lệ. xin vào sống trong cô nhi viện Lâm Tì Ni do các ni cơ Phật giáo coi sóc, rồi chạy vạy kiếm tiền đi học trường tư. Cuộc sống đặc biệt hơn những bạn bè cùng lớp khiến cậu trưởng thành sớm, hay suy tư và thường có những câu hỏi về ý nghĩa đời người. Tôi biết chắc rằng cậu đã gặp nhiều đắng cay, chua chát trong cuộc sống.

Ngày hôm ấy, tôi không trả lời cậu học trò. Tôi cảm thấy phần nào đó cậu có lí. Mới hai mươi mấy tuổi, tôi không đủ kinh nghiệm trường đời để trả lời cho cậu học trò chỉ kém mình bảy, tám tuổi yề một vấn đề sâu xa của kiếp người. Tôi rủ cậu đi uống cà phê, và để cho câu nhận xét về chuyện ''cố gắng yêu thương đời '' của cậu bé theo những giọt cà phê đắng thấm vào tâm can tôi.

Chuyện xảy ra đã hai mươi năm. Bây giờ tôi đã lớn, đã sống cuộc sống của tôi, qua bao nhiêu đoạn đường, bao nhiêu thăng trầm trôi nổi, bao nhiêu ngọt ngào cay đắng, bao nhiêu thương ghét, vui buồn... và tôi khám phá ra rằng có thứ tình yêu tự nhiên, nhưng bên cạnh đó, cũng có thứ tình yêu phải cố gắng. Cả hai thứ tình yêu này đều có giá trị riêng và đều đáng quí. Người biết yêu là người không từ chối, hay nói đúng hơn, không để lòng mình hạn hẹp ở trong, một thứ tình yêu nào cả.

Yêu cha, yêu mẹ, với tôi là một tình yêu tự nhiên, không có vấn đề cố gắng hay không cố gắng. Yêu cha mẹ, điều ấy đương nhiên quá. Nhưng nếu phân tích ra, thì tình yêu ấy đương nhiên, trước hết vì Thiên Chúa đã đặt một mối dây thân tình ruột thịt giữa cha mẹ và con cái. Sợi dây ấy vô hình nhưng ràng buộc cha mẹ, con cái một cách bền chặt, sâu đậm. Thứ nữa, vì cha mẹ tôi yêu tôi quá, tốt với tôi quá hi sinh cho tôi nhiều quá ... làm sao tôi không yêu cha mẹ tôi cho được.

Rồi khi có người tình, tôi yêu người tình say đắm, yêu khi người ấy dễ thương với tôi, và cả khi người ấy dễ ghét. Tôi như khám phá ra tôi, tìm được chính bản thể tôi trong người ấy. Lắm khi tôi lạ lùng tự hỏi, tại sao mình yêu người ấy đến như thế, dù người ấy không gần gũi tôi như cha mẹ tôi, không có một thời gian sống cạnh nhau lâu dài để mà biểu lộ lòng hi sinh cao độ như cha mẹ tôi đã biểu lộ, cũng chưa từng chia sẻ với tôi một cách tận cùng những khó khăn, cực nhọc trong cuộc sống. Thế mà tôi vẫn cứ yêu, yêu đắm say, cuồng nhiệt. Sau này, tôi biết được trong tình yêu nam nữ, có ba loại tình. Thứ nhất là tình ''nếu''. Tôi yêu người ấy, nếu người ấy thế này hay thế khác. Tình "nếu'' chỉ là thứ bánh vẽ, thực ra thì tôi không yêu, bởi vì người ấy có như thế đâu ? Thứ hai là tình ''vì''. Tôi yêu người ấy, vì người ấy thế nọ, thế kia. Tình ''vì'' là thứ tình có điều kiện, và thường là vụ lợi. Nếu người ấy không còn những cái mà ''vì '' nó, tôi yêu người ấy, thì có nghĩa là khi người ấy mất những cái đó, tôi không còn yêu nữa! Thứ ba là tình ''mặc dầu'', tôi yêu người ấy, ''mặc dầu'' người ấy sẽ như thế nào đi nữa. Tình ''mặc dầu'' là tình vô điều kiện, tình quảng đại và vững bền. Tôi nghĩ tình của tôi dành cho người tình là thứ tình "mặc dầu" ấy.

Tôi yêu vợ con, với thứ tình vừa nồng nàn của ảnh yêu, vừa êm đềm gắn bó của tình nghĩa. Một thứ bổn phận, trách nhiệm ràng buộc tôi với vợ con. Tôi mang bổn phận, trách nhiệm ấy như mang một thứ ''ách êm ái, nhẹ nhàng'' khiến cho cuộc sống của tôi có ý nghĩa. Tôi là một người cần thiết, là chỗ tựa nương cho người khác, mà những ''người khác'' ấy lại chính là những người tôi rất mực yêu thương, trân trọng. Điều ấy làm cho tôi vui và hãnh diện. Tình tôi dành cho vợ con đúng là thứ tình ''mặc dầu '' trọn vẹn nhất.

Và tôi yêu thương bạn bè. Tình bạn là một tặng phẩm quí giá Thiên Chúa dành cho tôi. Tôi có nhiều bạn và rất quí bạn. Tôi cũng thích chiều bạn và vui khi thấy bạn vui. Chiều bạn và không đòi hỏi điều gì quá đáng nơi bạn, đó là nguyên tắc giúp tôi giữ được tình bạn lâu dài. Tôi có bạn đồng tâm và bạn đồng chí. Bạn đồng tâm là người bạn mà tôi có thể kể hết những khúc mắc trong lòng, những bí mật của cuộc sống một cách tự nhiên, tín cẩn, không hề e ngại, không sợ bị hiểu lầm, phản bội. Tôi cũng sẵn lòng nghe bạn tâm sự và sẵn lòng cảm thông với bạn. Bạn đồng chí là những người bạn gần tôi trong lí tưởng. Chúng tôi nương vào nhau để cùng hướng về đích điểm, cùng đạt mục tiêu. Chúng tôi chia sẻ với nhau những gian lao vất vả, cùng nắm tay nhau tiến bước, nâng đỡ, khuyến khích nhau trong hành động. Cũng có khi bạn đồng chí sau này trở thành bạn đồng tâm và ngược lại. Là bạn đồng chí, chúng tôi có thể cười với nhau, nhưng khi là bạn đồng tâm, chúng tơi còn có thể khóc với nhau. Tôi thấy yêu bạn thật là dễ, không mấy khi phải cố gắng.

Và chung quanh tôi còn biết bao nhiêu người đáng yêu đáng mến, những người tôi cảm thấy sung sướng, hạnh phúc khi được gần họ. Những người mà nếu được gặp họ, tôi thấy ngày hôm ấy vui hơn, dễ thương hơn, tươi đẹp hơn.

Nếu thực sự tình yêu là cái gì tự nhiên, không cần rán sức cố gắng gì cả, thì ngần đó người đã đủ cho tôi yêu thương, quí mến. Nhưng bên cạnh những người ấy, còn có những điều và những người, mà theo sự tự nhiên, không những tôi không yêu, mà còn phải ghét.

Cái đầu tiên, theo lẽ tự nhiên là đáng ghét, chính là cuộc đời. Đời sống đúng là nỗi ưu phiền cay đắng của tôi. Tôi hi vọng, cuộc đời làm cho tôi thất vọng. Tôi ước mơ hạnh phúc, cuộc đời đem lại cho tôi nỗi đớn đau. Tôi muốn sống bình an, cuộc đời đẩy đưa tôi đi vào sóng gió. Tôi mong được nếm hương vị ngọt ngào, cuộc đời dâng tặng tôi toàn những đắng cay chua chát. Tôi muốn được cư xử bình đẳng, cuộc đời đối xử với tôi một cách bất công. Tôi cần được thông cảm, cuộc đời khắt khe lên án tôi. Tôi cần được ủi an nâng đỡ, cuộc đời cho tôi sự lạnh lùng và vùi dập. Tôi thích sống chân thật, cuộc đời đây những giả trá điêu ngoa. Tôi muốn sống yêu thương, cuộc đời cho tôi hận thù. Dĩ nhiên, phải công bình mà nói, nhiều khi cuộc đời cũng cho tôi niềm vui và hạnh phúc, nhưng nếu đem ra mà cân thì đĩa cân đựng những buồn phiền bất như ý bao giờ cũng nặng hơn. Chẳng thế, mà bao giờ người ta cũng nói về cuộc đời, thế gian, trần gian... kèm theo một tiếng thở dài.

Cuộc đời nói cho cùng là những hoàn cảnh sống do chính con người tạo nên. Và bởi vì có nhiều người không tốt nên có nhiều cảnh đời đáng buồn. Khi nói rằng ''cố gắng yêu thương đời'' thì cũng có nghĩa là "cố gắng yêu thương người'. Người đáng ghét, người không dễ thương, cho nên muốn yêu thương người, tôi cần phải cố gắng.

Vấn đề là ở chỗ: tôi có nên, có cần phải cố gắng để yêu thương người hay không. Và yêu một cách cố gắng như vậy tình yêu có giá trị không? .

Người ta được sinh ra đời, chia sẻ với nhau kiếp người. Nghe đến chữ ''kiếp người" hay ''kiếp nhân sinh'', không cần phải hiểu sâu xa cho lắm, ai cũng thấy cái ''kiếp'' ấy đầy những đau buồn, đó là một cái ''thấy'' vừa do kinh nghiệm vừa do trực giác nên nó đúng lắm. Muốn cho cái kiếp ấy đỡ đau buồn, chỉ có một cách là có nhiều người sống đẹp, cư xử tốt với những người khác. Mà ta đừng chờ mong người khác sống đẹp trước, cư xử tốt trước. Chính ta là người phải thực hiện điều ấy trước người khác. Ở một xã hội có nhiều người đám đi bước trước trong cách sống đẹp, dám có can đảm chấp nhận thiệt thòi mà không đôi co hơn thiệt, xã hội ấy sẽ đẹp hơn, dễ thương hơn, hay ít nhất là cũng dễ thở hơn.

Sống đẹp, cư xử tốt là cách nói khác của chữ ''yêu thương''. Trong khi ta yêu thương người, mà người chưa theo kịp ta để cũng sống yêu thương, thì một là ta bỏ cuộc, hai là ta phải cố gắng. Chuyện rất đơn giản.

Thường người ta cảm thấy người khác khó thương, không tha thứ được, khi cái khó thương của họ ảnh hưởng trực tiếp trên ta. Một người làm điều xấu cho một người khác, ta có thể thông cảm được, hay ít nhất là chê trách rồi cũng bỏ qua được. Nhưng khi người ấy làm hại chính ta, ta không thể bỏ qua, không thể chấp nhận được hành động ấy. Đó là phản ứng chung của con người, và điều ấy biểu lộ lòng thiếu quảng đại. Người ''cố gắng yêu thương đời'' là người tập sống quảng đại, tập sống vượt lên trên cái bản chất bình thường của một con người. ''Cố gắng yêu thương đời'' tức là đang tập sống với thứ tình yêu ''mặc dầu'': mặc dầu đời không yêu ta, mặc dầu đời bao gian dối, mặc dầu đời cay đắng như vôi... thì ta vẫn cứ yêu thương đời như thường! Sống như thế, yêu như thế tức là chọn thái độ can đảm, không bỏ cuộc.

Yêu thương người đời cũng chính là yêu thương mình. Bởi vì mình cũng là một sinh vật đầy những khuyết điểm như những con người khác. Khi ta biết thông cảm với người và yêu thương người, ta cũng dễ thông cảm với chính ta và yêu thương ta. Thông cảm và yêu thương một cách ý thức, chứ không phải là dễ dàng bỏ qua tất cả những cái xấu xa của mình và tìm tư lơi cho mình chỉ vì tính vị kỉ.

Như thế thì cố gắng yêu thương đời, yêu thương người là điều nên làm lắm và tình yêu ấy cũng có giá trị lắm. Tôi cảm thấy tình yêu tự nhiên giống như một bông hoa, tỏa hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ, còn tình yêu do sự cố gắng giống như một trái cây, trải qua nhiều phen mưa nắng, qua bao đợt trưởng thành từ chát qua chua, từ chua sang ngọt. Qua bao nhiêu ngày phơi mình dưới ánh nắng mặt trời gay gắt, trái cây ấy chín, thơm tho ngon ngọt, đem lại khoái cảm cho khứu giác và vị giác con người.

Tôi mong ước một ngày nào đó, được gặp lại cậu học trò cũ, và chia sẻ với cậu về kinh nghiệm "cố gắng yêu thương đời'' của mình. Tôi muốn nói với cậu học trò ấy rằng sự cố gắng trong tình yêu có một giá trị đặc biệt và có vẻ đẹp riêng của nó. Nhưng, cũng có thể tôi không cần nói gì cả. Cậu học trò nhỏ ngày nào bây giờ nếu gặp lại, cũng là một người trưởng thành với số tuổi băm lăm, băm sáu. Cậu đã sống cuộc đời của cậu, và tôi nghĩ cậu đã không bỏ cuộc trong đời sống tình cảm con người. Nếu không bỏ cuộc, thì tất nhiên cậu cũng trải qua kinh nghiệm ''cố gắng yêu thương đời '' như tôi vậy. Có lẽ thầy trò tôi sẽ ngồi bên nhau, và chúng tôi sẽ cùng lẩm nhẩm với nhau lên hát: ''Bạn thân ơi, cố gắng yêu thương đời, dù đời không yêu ta...

Chỉ có một điều, tôi muốn chia sẻ với cậu, và nhất định sẽ chia sẻ nếu gặp lại cậu, mặc dầu cậu là một Phật tử và đã có một giai đoạn được các ni cô tại cô nhi viện Lâm Tì Ni dẫn dắt về mặt tâm linh. Điều tôi muốn chia sẻ là lời nói của Chúa Giê su, khi Ngài giảng cho con người về ý nghĩa và giá trị của lòng yêu thương:

''Anh em hãy yêu thù địch, hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy cầu nguyện cho kẻ bắt bớ và vu cáo anh em. Như thế, anh em được nên con cái Cha ở trên trời, là Đấng làm cho mặt trời mọc lên cho kẻ lành và kẻ dữ, cùng làm ma xuống cho kẻ công chính và kẻ gian ác. Nếu anh em yêu kẻ yêu mình thì anh em có công phúc gì... Và nếu anh em chào hỏi bà con mình thôi, thì nào có hơn gì người khác? (Mạt 5, 44-47)

Tôi sẽ nói với cậu học trò rằng: rõ ràng Chúa Giê su muốn người ta ''cố gắng yêu thương đời'' và yêu thương với thứ tình ''mặc dầu''

Nhà Văn Quyên Di

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

NGUYỄN NGỌC NGẠN: ngoài đời và trên video

Image

I - Nguyễn Ngọc Ngạn ngoài đời...
Nguyễn Ngọc Ngạn là một người nổi tiếng, trong lãnh vực văn chương cũng như trong vai trò MC. Điều đó ai cũng biết. Sự nổi tiếng của anh đưa tới lòng yêu thích nơi nhiều người và ngược lại cũng không tránh được tình trạng trái ngược hoặc có khi là sự dửng dưng. Một người được coi là “người của đám đông” chắc chắn không sao tránh khỏi những dị biệt nơi vấn đề tình cảm ở phiá độc giả hoặc khán thính giả dành cho mình. Ái mộ anh hoặc không là một chuyện khác, tưởng chẳng nên đề cập tới.

Nhưng dù thế nào, không ai phủ nhận được những đóng góp của anh trong giới chữ nghĩa.. Và nhất là từ 12 năm qua, anh đã trở thành một người điều khiển chương trình – thường được gọi là MC – vững vàng với một con đường đi riêng biệt.

Tuy nhiên, cuộc sống ngoài đời của anh cùng những sinh hoạt của anh, đặc biệt trong những sinh hoạt trình diễn có những điều ít hoặc chưa được biết tới. Có lẽ đây là thời điểm để có được một số khám phá về Nguyễn Ngọc Ngạn, do chính anh kể...

“Tôi không có e-mail, không có computer và là người nghệ sĩ duy nhất trên thế gian này không có Cell phone. Tôi không biết computer là gì. Người ta cứ bảo tôi là e-mail, tôi không hiểu e-mail là gì . Người ta hỏi ông có vào internet không? Tôi bảo không biết internet là cái gì mà vào”.

Lời Nguyễn Ngọc Ngạn vừa nói hẳn cũng đáng được coi như một khám phá thú vị về một người được coi như ở trong thành phần những nghệ sĩ nổi tiếng nhất, không những ở hải ngoại mà còn ở cả trong nước.

Việc không sử dụng những phương tiện hiện đại trong một xã hội văn minh, tân tiến của Nguyễn Ngọc Ngạn cũng đã khiến cho ban giám đốc trung tâm anh hợp tác từ 12 năm nay là Thúy Nga lưu ý, khi có việc cần liên lạc gấp.. Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc Ngạn có một lý do xác đáng cho việc không dùng điện thoại di động chẳng hạn:“Thủy với ông Lai bảo tôi là làm việc hàng ngày mà sao không có e-mail, không có Cell phone. Tôi trả lời là thứ nhất tôi không ra khỏi nhà, tôi xài cell phone làm chi?”

Như vậy, những khán thính giả của Nguyễn Ngọc Ngạn còn có được thêm một khám phá về một con người mà họ cho rằng rất bận rộn trong việc giao tế và có những tiếp xúc rất rộng rãi.. Nhưng thật ra con người đó sống một cách gần như biệt lập cùng vợ và một con trai trong một ngôi nhà khang trang tại thành phố Toronto , là nơi chỉ tiếp đón những bạn bè thân.

Ngoài những chuyến lưu diễn cho các “live shows” hoặc thu hình cho trung tâm Thúy Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn chỉ dành thì giờ cho việc đọc sách, viết sách hoặc coi phim: “Nhất là phim thì tôi phải coi thường xuyên, gần như ngày nào cũng phải coi những shows Mỹ để có thể học hỏi ở đó rất nhiều“.

Chính nhờ sự học hỏi và tìm tòi đó, Nguyễn Ngọc Ngạn đã có thêm được nhiều kinh nghiệm để bổ sung cho hai nghề nghiệp chính của anh từ nhiều năm qua là viết văn và điều khiển chương trình.. Nghề sau này càng ngày càng tỏ ra lấn lướt nghề trước là nghề anh bắt đầu theo đuổi từ năm 1979...

Nguyễn Ngọc Ngạn sinh ngày 9 tháng 3 năm 1946 tại Sơn Tây và là người con thứ ba trong một gia đình có 6 người con, 5 trai và một gái. Năm lên 8, anh theo gia đình xuống Hà Nội, sau đó ra Hải Phòng để theo “tầu há mồm” di cư vào Nam năm 1954. Những năm đầu tiên, gia đình anh cư ngụ trong một xóm Công Giáo gần Củ Chi.

Nhờ có một trí nhớ tốt cùng với một đầu óc quan sát tinh tế từ khi còn nhỏ, nên những sinh hoạt diễn ra trong cái giáo xứ nhỏ bé và nghèo nàn thời đó đã in sâu trong đầu một cậu thiếu niên chưa quá 10 tuổi. Bối cảnh đó sau này đã được Nguyễn Ngọc Ngạn khai thác để viết thành tiểu thuyết “Xóm Đạo”:“ Trời sinh cho tôi được một trí nhớ rất là đặc biệt tức là có những chuyện gì tôi đọc qua hoặc tôi nghe người ta kể qua một lần thì có thể mấy chục năm sau tôi vẫn nhớ “.

Mặc dù không nuôi giấc mơ đến với lãnh vực văn chương, nhưng Nguyễn Ngọc Ngạn công nhận là do sự mê đọc sách từ khi còn nhỏ đã giúp anh rất nhiều trong nghề viết văn mà anh bước vào một cách thật tình cờ sau khi rời Việt Nam:“Đặc biệt là tôi mê đọc tiểu thuyết từ nhỏ. Bố mẹ cấm, tôi cũng trùm mền đọc. Thí dụ những cuốn đầu tiên là của Tự Lực Văn Đoàn trong khi tôi học năm đệ Thất, đệ Lục. Dù bố mẹ có cấm cũng đi ra lề đường Lê Văn Duyệt để mua sách đọc. Nhiều khi gia đình ngủ rồi,tôi vẫn ra ngoài hè đọc sách một mình dưới trời sáng trăng hay thắp ngọn đèn dầu ngồi đọc lén. Thời bấy giờ bố mẹ khó khăn, cấm đọc tiểu thuyết mà! Phải công nhận là tôi đã có năng khiếu về văn chương từ nhỏ “.

Cũng do có một khả năng ghi nhận đặc biệt, cộng với một trí nhớ tốt, mặc dù không sống nhiều ở Việt Nam sau biến cố tháng 4 năm 75, nhưng qua những chuyện kể lại từ những người quen biết về những trường hợp “đổi đời” mang nhiều nét châm biếm trong một xã hội đổi thay, cùng với 3 năm đi tù cải tạo, Nguyễn Ngọc Ngạn đã có một số vốn liếng tích lũy – về ngôn từ cũng như những câu chuyện thật được kể lại hay do chính mắt thấy tai nghe - dồi dào để đưa vào những tác phẩm của anh sau này.

Đó là do “sự quan sát, do những tiếp xúc, do đọc báo và từ 3 năm ở trại cải tạo. 3 năm ở trại cải tạo thì hàng ngày mình lên lớp, phải nghe cán bộ giảng thì để ý tới những từ đó nhiều hơn. Tôi về được có mấy tháng rồi vượt biển, đâu có sống ở trong nước”.

Với cách sử dụng ngôn ngữ dí dỏm và lối hành văn gọn gàng và xúc tích, Nguyễn Ngọc Ngạn đã gây được nhiều cbú ý ngay từ tập sách được phát hành đầu tiên của anh tại hải ngoại là “Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn”.

Vào năm 57, gia đình Nguyễn Ngọc Ngạn di chuyển vào Sài Gòn và cư ngụ trên đường Thoại Ngọc Hầu, vùng ngã ba Ông Tạ. Những năm trung học, Nguyễn Ngọc Ngạn theo học trường Nguyễn Bá Tòng đến năm đệ nhị. Nhờ đậu cao kỳ thi Tú Tài 1, anh được nhận vào trường Chu Văn An và lấy được mảnh bằng Tú Tài 2 tại đây.

Một điểm đặc biệt là trong những năm theo học trường Nguyễn Bá Tòng, anh luôn được giữ vai trò trưởng ban kịch của lớp. Ít người ngờ rằng một nhà văn, một MC nổi tiếng như Nguyễn Ngọc Ngạn khi còn trẻ lại nuôi một giấc mơ là bước vào lãnh vực kịch mặc dù tự nhận có năng khiếu về văn chương“Lúc trẻ tôi có 2 giấc mộng. Thứ nhất là kịch, tôi mong trở thành một người viết kịch hay một người diễn kịch, chứ giấc mộng nhà văn nó mờ nhạt lắm.”

Khi lên đệ Tam, Nguyễn Ngọc Ngạn chuyển qua ban Văn Chương để được giáo sư Pháp Văn là nhạc sĩ Lê Thương chú ý đến khả năng đóng kịch nên đã khuyến khích anh theo học bộ môn này tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Do sự khuyến khích đó, Nguyễn Ngọc Ngạn đã ghi danh theo học kịch vào năm đệ Nhị, là thời kỳ mà hai nghệ sĩ Trần Quang và Bích Thủy vừa tốt nghiệp về kịch nghệ.

Nhưng sau hai tháng theo học, anh nhận ra mình bị hạn chế rất nhiều do bị cận thị nặng, trong khi thời đó chưa có sự xuất hiện của “contact lens”. Sau khi quan sát những vai trò trên sân khấu, anh cho rằng nếu có đóng kịch thì chỉ có vai trò... thầy giáo là thích hợp nhất đối với mình do cặp kính cận dầy cộm. Trong khi đó thân phụ anh - cùng với thân mẫu anh mở một tiệm bán tạp hoá ngay tại nhà - khuyên anh nên để tâm vào việc học hành để phải lấy cho được mảnh bằng Tú Tài toàn phần hơn là đi theo con đường văn nghệ..

Nhưng trước khi giã từ trường Quốc Gia Âm Nhạc, Nguyễn Ngọc Ngạn còn chuyển qua lớp chèo cổ một thời gian ngắn “Là vì có mấy cô gái học chèo cổ rủ tôi sang, tôi cũng sang, cũng học vài câu chèo cổ như “ông Giăng khuyết chứ ông Giăng lại tròn này kia! Tôi học chèo cổ thêm được mấy tháng nữa. Rồi bố tôi bảo sắp thi thì đi về, tôi mới đành về đấy chứ !”

Cũng vì yêu thích văn nghệ, Nguyễn Ngọc Ngạn đã tự học nhạc lấy qua sách vở, để có một thời gian được mời dạy nhạc cho các trường Lê Bảo Tịnh và Saint Thomas .

Hết trung học, Nguyễn Ngọc Ngạn theo học đại học Văn Khoa và sau đó trở thành giáo sư ngoại ngạch cho một số trường công.

Ngoài giấc mơ trở thành một diễn viên hay một nhà viết kịch lúc còn trẻ, Nguyễn Ngọc Ngạn còn mong muốn thực hiện được những công tác xã hội “Thí dụ như thích xây một ngôi trường hoặc xây một cái cô nhi viện. Ngay từ nhỏ tôi đã thích làm được những việc như vậy...”

Nhưng riêng về việc làm MC thì anh chưa bao giờ nghĩ tới. Nhất là thời đó chưa có nghề MC hay làm talk show tại Việt Nam ngoài những người được gọi là hoạt náo viên hay giới thiệu chương trình.

Năm 1970, Nguyễn Ngọc Ngạn bước vào đời sống quân ngũ, sau khi lập gia đình với một nữ sinh trường Saint Thomas tên Lê Thị Tuyết Lan. Đầu tiên anh ở Sư Đoàn 9 Bộ Binh, sau đó được đổi về Tiểu Khu Định Tường, nhưng không về tiểu khu mà về tiểu đoàn tác chiến ở quận Cái Bè.

Đến năm 74 , khi anh mới có con được nửa năm thì được bộ giáo dục biệt phái về dạy học tiếp với cấp bậc trung úy. Sau khi dạy được đúng một niên khoá thì xẩy ra biến cố tháng 4 năm 75.

Nhớ lại cuộc đời quân ngũ, Nguyễn Ngọc Ngạn có rất nhiều kỷ niệm, nhưng anh nhớ nhất là những kỷ niệm trong thời gian phục vụ tại Tiểu Đoàn Địa Phương Quân Tác Chiến: ”Gần như cả một tiểu đoàn không có một người nào là người Bắc cả. Cho nên ông tiểu đoàn trưởng không cần nhớ tên tôi. Ông ấy cứ kêu tôi là thiếu úy Bắc Kỳ”.

Tại đây, “thiếu úy Bắc Kỳ” giữ chức vụ trung đội trưởng vũ khí nặng, coi về súng cối và đại bác 75 ly không giật, mặc dù cận thị nặng 5 độ rưỡi và nhất là ốm yếu “như Hoài Linh bây giờ”, như lời anh nói đùa.

Thời gian này là năm 1972. sau đó anh được làm đại đội phó và một thời gian sau được chuyển về bộ chỉ huy và cuối cùng được làm sĩ quan quản trị nhân viên, coi quân số của tiểu đoàn.


Và cũng như tất cả những sĩ quan khác, sau biến cố tháng 4 năm 75, Nguyễn Ngọc Ngạn phải đi tù, tại những nơi được goi là “trại cải tạo”. Anh được trả tự do sau 3 năm. Trở về vào năm 78, Nguyễn Ngọc Ngạn tìm đường vượt biên ngay với người vợ đầu tiên cùng con trai lúc đó được hơn 4 tuổi.

Nguyễn Ngọc Ngạn là người đầu tiên trong gia đình vượt biển một cách bán chính thức vào muà Giáng Sinh năm 78 đúng vào mùa có nhiều bão lớn, với vợ lúc đó mới 26 tuổi với một con tên Nguyễn Trần Lê Chân, được đặt tên theo địa danh Tống Lê Chân, nơi xẩy ra những trận đánh khốc liệt vào năm 74 “Lúc đó là những ngày mà đài phát thanh quân đội loan những tin về vụ đánh đồn ở Lê Chân. Tôi cứ nghe đài phát thanh suốt ngày nói về Tống Lê Chân. Để nhớ cái thời gian mà tôi trong quân đội và lúc đang có biến cố về đồn Lê Chân nên tôi đặt tên cháu là Lê Chân”.

Khi chiếc tầu chở khoảng 300 người, trong đó có tiểu gia đình Nguyễn Ngọc Ngạn, đến gần Mã Lai thì bị cảnh sát Mã Lai ở trong bắn ra. Do tình trạng cuống quít của tài công nên đã loay hoay khiến tầu bị lật úp do bị sóng lớn khiến 161 người bị chết, trong số có vợ và con anh. Anh chỉ nhìn thấy được xác đứa con thân yêu bị sóng cuốn đi, trong khi không được thấy tận mắt hình ảnh cuối cùng của người vợ trẻ.

Những người sống sót của chiếc tầu định mệnh đó được đưa vào trại tỵ nạn trên đảo Kota Baru ở Mã Lai. Tại đây, Nguyễn Ngọc Ngạn được bầu làm phó trưởng trại, từ tháng 12 năm 78 đến tháng 5 năm 79. Trong thời gian này cái chết của vợ và con đã là một nỗi ám ảnh ghê gớm với Nguyễn Ngọc Ngạn, để từ đó mang nhiều suy tư khi hồi tưởng về thân phận những người phụ nữ.

Và cũng từ đó, anh đã không ngờ là mình bắt đầu bước vào nghề viết văn, trước đó rất mờ nhạt trong đầu óc, với tiểu thuyết đầu tay “Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại”, theo lời anh kể “Khi bà xã tôi mất với lại cháu mất thì tôi ngồi trên đảo thì tương đối tôi cũng nhàn vì là phó trưởng trại. Tôi mới ngồi tôi nghĩ lại một điều quan trọng trong đầu tôi lúc đó là trong cuộc chiến VN thì hoá ra người đàn ông không khổ bằng người đàn bà. Là bởi rằng đàn ông dù sao tuy là ra mặt trận, kề cận cái chết nhưng không như người phụ nữ ở hậu phương vừa nuôi con, vừa, lương của chồng lại ít quá. Đôi khi lại phải làm dâu, nhiều khi lại chạy loạn vì chiến tranh. Rồi sau đó khi người chồng đi vào cải tạo thì người vợ ở nhà lại phải đi tiếp tế chồng ở trong trại cải tạo. Sau đó chồng được thả về thì có nhiều người đàn bà lại phải hy sinh, dành dụm lo cho chồng vượt biên trước, mình ở lại sau là bởi biết rằng chồng ở lại thì vất vả hơn. Thì tôi mới nghĩ lại là trong cuộc chiến và hậu chiến của mình thì người đàn bà VN là khổ nhất chứ không phải là đàn ông, cho nên vì cái ý nghĩ đó tôi mới xin giấy bút để viết truyện dài đầu tiên mà tôi chưa viết bao giờ. Tôi xin giấy bút của bà Sơ trong trại để viết truyện dài đầu tiên lấy tên là “Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại “.

Tiểu thuyết “Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại“ được viết liên tục trong vòng 3 tháng, dưới cái nóng như thiêu đốt trên đảo Kota Baru. Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết anh viết tác phẩm đầu tay này vừa để tưởng niệm cái chết của vợ và con, vừa để thông cảm với những người đàn bà còn ở trong nước.

Khi mang bản thảo tiểu thuyết này sang hải ngoại, anh cho nhiều người đọc và họ rất thích thú. Vì vào thời đó những chuyện về VN còn lạ đối với những người ở hải ngoại, ra đi từ những ngày đầu vì được viết trong bối cảnh sau năm 75. Nhiều người có ý ủng hộ anh để xuất bản, trong số có ông Nguyễn Thế Năng, chủ nhân tiệm vàng nổi tiếng ở Sài Gòn trước kia.. Ông Nguyễn Thế Năng viết thơ cho nhà xuất bản Dziên Hồng đề nghị xuất bản, nhưng được những người chủ trương là các giáo sư Lê Bá Kông và Lê Bá Khanh trả lời là còn người thân ở VN nên không tiện xuất bản mặc dù rất thích.

Sau đó anh giao đưá con tinh thần của mình cho nhà báo Quốc Nam, nhưng mãi đến năm 87 mới ra mắt độc giả, sau khi một số tác phẩm của anh đã thành hình và đã tạo được tên tuổi cho Nguyễn Ngọc Ngạn. Đó là những tác phẩm: Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn, Nước Đục, Biển Vẫn Đợi Chờ, vv... Tổng cộng cho đến nay đã có 32 tựa sách được phát hành, phần lớn là truyện dài, mang tên tác giả là Nguyễn Ngọc Ngạn.

Trả lời cho câu hỏi tại sao chọn Canada làm nơi cư trú, Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết ”Nhưng mà tôi thấy tôi ngồi lâu quá tôi cũng sốt ruột. Mà thứ hai nữa là buồn bã. Coi như hàng tuần tôi phải tiếp các phái đoàn thì tôi thấy phái đoàn Canada rất là lịch sự. Họ hỏi tôi là có muốn đi Canada không thì chúng tôi bốc ông đi ngay. Thì tôi nói là vâng, ông kiếm cho tôi một vùng nào ấm, thì họ bảo vậy thì ông đi Vancouver , có vậy thôi.“

Thế là Nguyễn Ngọc Ngạn được đưa về một đảo gần Vancouver là Prince Rupert cho đến năm 86, anh chuyển về sống tại Toronto cho đến nay. Sau khi đặt chân đến thành phố này, anh dành ra hai năm để ôn lại Anh Ngữ vì được một số thân hữu có ý định giới thiệu anh vào làm cho đài VOA tại Washington, D.C. và BBB ở Luân Đôn. Cuối cùng vì có những quan hệ ở Toronto nên anh quyết định lưu lại đây để đi làm cho công ty bảo hiểm Canada Life, ngoài việc viết sách và hoạt động trong lãnh vực văn chương, báo chí cho đến khi được mời cộng tác với trung tâm Thúy Nga vào năm 1992...

Image
II - Nguyễn Ngọc Ngạn trên video...
Nguyễn Ngọc Ngạn đến với trung tâm Thúy Nga trong một trường hợp rất bất ngờ, đến chính anh cũng không biết lý do: ”Tôi không hiểu tại sao một hôm 10 tháng 5 năm 92 khi đi làm về thì thấy ở trong máy nhắn có một người nói là trung tâm Thúy Nga mời tôi sang Paris giới thiệu chương trình. Về sau tôi mới biết đó là ông Tô Văn Lai...“

Thật ra, Nguyễn Ngọc Ngạn được ban giám đốc của trung tâm Thúy Nga để ý và muốn mời cộng tác vì lúc đó anh đã là một người viết văn nổi tiếng, có được một số độc giả đông đảo. Cùng một lúc, họ muốn tìm một đường hướng mới cho vai trò MC mà trước đó qua những chương trình video chưa được đặt lên hàng quan trọng.

Thời gian này Nguyễn Ngọc Ngạn đang đi làm cho một công ty bảo hiểm. Ngoài ra anh còn làm thêm về thông dịch và cùng với người vợ sau tại một thư viện ở Toronto . Trước lời mời bất ngờ trong một lãnh vực quá mới lạ đối với anh, Nguyễn Ngọc Ngạn trả lời cần có thời gian suy nghĩ. Trước đó từ năm 87 ngoài việc sáng tác, Nguyễn Ngọc Ngạn còn hợp tác với một người Đài Loan tên Chiêu, làm tại thư viện trung ương Toronto, để viết truyện song ngữ thiếu nhi Anh Việt như Hoa Mộc Lan, Tôn Ngộ Không, vv...

Ông Chiêu nhận thấy sách của Nguyễn Ngọc Ngạn được hỏi mượn rất nhiều ở thư viện nên nẩy ra ý định mời anh cộng tác. Tổng cộng anh đã viết được khoảng 50 quyển sách loại này, hiện vẫn được lưu giữ trong các thư viện... Trước khi đến với Thuý Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn đã chính thức bước vào nghề viết văn khi còn ở đảo Prince Rupert , tại Vancouver , Canada . Anh cũng là người tỵ nạn đầu tiên có sách viết bằng tiếng Anh được xuất bản. Ngoài ra anh còn giữ chức chủ tịch đầu tiên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Trong lãnh vực văn chương, chỉ trong một thời gian ngắn, Nguyễn Ngọc Ngạn đã trở thành “nổi đình nổi đám “ với những Nước Đục, Cõi Đêm, vv.... và được rất nhiều báo chí và nhà xuất bản mời viết. Chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Diễn Đàn thời đó là nhà báo Chử Bá Anh từng ngỏ ý muốn lo giấy tờ cho anh qua Mỹ để giữ vai trò chủ bút cho tờ báo này. Ngoài ra chủ nhiệm tờ Ngày Nay là Lê Hồng Long cũng đưa ra cùng đề nghị, nhưng anh đã từ chối tất cả những lời mời đó vì còn “rụt rè lắm” như lời anh nói.

Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết thêm có lẽ anh ảnh hưởng tính không thích bon chen của thân phụ nên đã có quyết định như vậy. Nhưng số mệnh đã đưa đẩy Nguyễn Ngọc Ngạn đến một lãnh vực hoàn toàn xa lạ, chắc chắn anh không bao giờ nghĩ tới, ngoài sự đưa đẩy của số mệnh để “tôi nằm ở đây mà có người bưng tôi lên sân khấu chứ tôi không có tìm, thành thử về sau, tôi mới tin người ta phải có số”.

Nguyễn Ngọc Ngạn tâm sự thêm: “Thật sự ra trước khi tôi làm Paris By Night và nhất là trước khi xẩy ra vụ cuốn video Mẹ thì tôi không tin lắm... Nhưng sau, tôi nhờ những ông thầy giỏi coi tử vi cho thì tôi thấy y chang”.

Cũng về số mệnh, Nguyễn Ngọc Ngạn có lần tình cờ hỏi nhạc phụ anh là một người giỏi về khoa tử vi về tương lai của mình và được cho biết là “tên tuổi như vậy có ăn thua gì đâu, vài năm nữa sẽ lừng lẫy”, trong khi anh cho là nổi tiếng như anh vào thời đó đã là quá đủ. Nhưng sau khi cộng tác với trung tâm Thúy Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn mới nghiệm thấy rất đúng vì dù sao viết văn cũng chỉ có một số độc giả cũng hạn chế, không sao so được với khán thính giả đông đảo của những chương trình Paris By Night.

Cũng theo sự giải đoán của nhạc phụ anh, thời kỳ cung mệnh của Nguyễn Ngọc Ngạn gặp hạn Thái Tuế, là giai đoạn anh rất nổi tiếng, nhưng sẽ rất vất vả bởi những điều thị phi nên sẽ gặp phải những tranh luận, cãi vã đưa đến vấn đề pháp luật. Nghiệm lại, anh thấy rất phù hợp với giai đoạn xẩy ra vụ video “Mẹ” (Paris By Night 40), từng gây nhiều sôi nổi...

Đúng 10 năm trước khi cộng tác với trung tâm Thúy Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn lập gia đình lần thứ hai vào ngày 19 tháng 6 năm 1982 với một thiếu nữ tên Diệp, khi đó 28 tuổi. Diệp vượt biển và được đoàn tụ tại Paris với gia đình gồm bố mẹ và các em vào năm 80. Người anh cả của chị cùng đi với gia đình sang trại tỵ nạn ở Hoa Kỳ từ năm 75, nhờ làm việc cho cơ quan D.A.O của Mỹ nên được mang theo 10 người trong gia đình. Diệp phải ở lại với người chị đã có chồng. Từ trại tỵ nạn, song thân chị sang Pháp định cư, trong khi các em chọn Mỹ và người anh chọn Calgary , Canada làm nơi cư ngụ. Người anh cả sau đó đã qua đời do ung thư khi được đúng 40 tuổi.

Sau khi tới Paris , Diệp được thân mẫu đưa sang Calgary để thăm mộ anh.. Và chính tại đây, Nguyễn Ngọc Ngạn gặp người vợ tương lai của mình lần đầu tiên, qua sự giới thiệu của một người bạn đi cùng tầu vượt biển với Diệp, nhờ anh đi đón giùm hai mẹ con vì cả hai còn quá xa lạ với nơi đặt chân tới.

Nguyễn Ngọc Ngạn đã đi đến một quyết định rất nhanh: khi mới quen Diệp vào ngày thứ Sáu, qua đến ngày Chúa Nhật đã ngỏ lời xin cưới “tại vì tôi nghĩ là bây giờ hai người ở hai phương trời cách biệt. Bà ấy ở Paris , tôi ở Canada dễ gì gặp lại nhau. Mà lúc đó thì nghèo rớt mồng tơi, mới sang đâu có đồng bạc nào. Làm bao nhiêu thì lại phải tuôn về Việt Nam hết thành thử đâu có tiền mà đi tới đi lui. Nhân dịp có bà già ở đây thì hỏi béng cho rồi”.

Thân mẫu Diệp cho biết sẽ về hỏi ý kiến chồng, trong khi Diệp đã nhận lời cầu hôn của Nguyễn Ngọc Ngạn. Nên dù ở Paris có nhiều người theo đuổi chị vẫn không đổi ý, dù mẹ chị không tán thành. Ý bà không muốn con gái lấy một người ở tận Canada vì sẽ khó lòng khi muốn gặp sau này.. Nhưng Diệp vẫn giữ lời hứa để cùng Nguyễn Ngọc Ngạn chung sống cho đến nay và có với nhau một con trai, năm nay 21 tuổi.

Sau khi thành hôn, Nguyễn Ngọc Ngạn bảo lãnh vợ sang Canada , về Prince Rupert ( Vancouver ) sinh sống. Trong 10 năm kế, năm nào chị Diệp cũng đưa con về Paris thăm Mẹ, nhưng Nguyễn Ngọc Ngạn không đi theo bao giờ vì bận công việc, nhất là trong thời gian đầu cần giúp đỡ gia đình còn lại Việt Nam . Cho đến năm 92, nhân dịp Thúy Nga mời sang Paris , lúc đó anh mới đi cùng với vợ về thăm gia đình bên ngoại.

Dịp này, Nguyễn Ngọc Ngạn mới tìm đến trung tâm Thúy Nga – là một cửa tiệm bán băng nhạc ở quận 13 Paris, trong khi trung tâm chính được đặt tại nam California từ lâu mà anh không biết - với mục đích cám ơn ông Tô Văn Lai đã gửi tặng một số video, trong khi anh vẫn chưa quyết định có nhận lời cộng tác hay không.

Khi vào đến tiệm, anh cũng không hề biết mặt vợ chồng người điều hành trung tâm. Anh hỏi muốn gặp ông Lai qua bà Thúy, vợ ông. Anh tự giới thiệu là người đã được mời làm MC cho một chương trình video sắp tới.. Nguyễn Ngọc Ngạn nhận thấy sự mừng rỡ trong ánh mắt của ông Tô Văn Lai trong lần gặp gỡ đầu tiên, ít ra là qua cách ăn mặc tươm tất, tóc tai gọn ghẻ, có thể khác với sự hình dung về một nhà văn trước đó của ông giám đốc trung tâm Thuý Nga, “Rồi tôi thấy ống ấy chạy vô nói nhỏ với bà Thúy là “Thúy ơi, ông này coi còn được”. Sau khi thảo luận trong bữa ăn tối, Nguyễn Ngọc Ngạn vẫn còn lưỡng lự trước lời mời làm người điều khiển chương trình, “vì trong văn giới đã có tiếng, bây giờ làm MC mà không được thì kỳ.”

Với lý do đó, Nguyễn Ngọc Ngạn khất ông Lai thêm một thời gian. Trong khi đó, anh dò hỏi ý kiến những người cháu trong gia đình cùng một số học trò cũ gặp tại Paris thì tất cả đều phản đối. Ngay cả mấy người em vợ và chính vợ anh cũng không ủng hộ cho việc nhận lời làm MC của anh...

Nhưng chỉ có một người duy nhất ủng hộ anh là nhạc sĩ Ngọc Trọng, người em út trong gia đình, với lý do muốn bố còn ở Việt Nam thấy mặt anh, dù là qua hình ảnh và chỉ cần xuất hiện trên một chương trình video, rồi sau đó ngưng luôn cũng được. Vợ anh, trước lý do xác đáng đó cũng đã khuyên anh nên nhận lời.

Từ những khuyến khích với lý do nặng về tình cảm đó, Nguyễn Ngọc Ngạn gọi điện thoại cho ông Tô Văn Lai, đồng ý xuất hiện trong chương trình Paris By Night 17, thu hình tại Paris, ”Nhưng không biết có làm lâu dài hay không, nên tôi dứt khoát không may quần áo mới, tôi mặc bộ đồ tôi vẫn đi làm ở thư viện thường ngày. Tôi vẫn mang cái kính cũ, tôi đi đôi giầy cũ, tôi không có thay một cái gì cả. Và tóc tai là tôi cũng tự chải chứ không để ai chải đầu, làm tóc hết. Vì không biết người ta có mướn mình làm nưã hay không và mình cũng không có ý định làm lâu, thành ra tôi không có gì thay đổi”.

Chỉ sau khi nói vài lời mở đầu và sau đó giới thiệu nhạc phẩm “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương do Ái Vân và Hương Lan trình bầy trên Paris By Night 17, ban giám đốc trung tâm Thúy Nga đã đề nghị Nguyễn Ngọc Ngạn cộng tác độc quyền.

Với một giọng nói “ăn micro” cùng một đường hướng khác biệt với những người đi trước, Nguyễn Ngọc Ngạn đã ít nhiều gây được một ấn tượng tốt. Anh kể: ”Tôi chỉ biết là khi lên sân khấu, tôi chỉ mới nói mấy câu mở đầu thôi, nhờ cái giọng tôi ăn micro lắm nên gây được ấn tượng cho người ta. Thứ hai là lối nói của tôi có vẻ thầy giáo. Tôi nghĩ trong đầu là những người MC trước họ cười nhiều quá. Bây giờ mình phải làm ngược là không cười. Họ nói những chuyện bình thường trong đời sống, bây giờ tôi phải đưa một chút văn chương và một chút triết học vào”.

Ngay trong chương trình video đầu tiên, Nguyễn Ngọc Ngạn đã đưa vào phần giới thiệu chương trình một số câu thơ của Thanh Tâm Tuyền vì muốn làm một điều gì khác biệt với trước đó như anh đã nói, nhất là muốn khai thác kiến thức về văn chương của mình.. Theo anh, đó là một cách thử, nhưng không ngờ lại gây được chú ý. Trước đó, chính vợ anh cũng không tỏ ra tin tưởng mấy khi anh đảm nhiệm một vai trò quá mới lạ. Khi tiễn chân Nguyễn Ngọc Ngạn ra cửa trong lần đi thu hình đầu tiên, chị Diệp cho rằng chuyến này anh đi sẽ “ôm đầu máu “ trở về, theo lời anh kể.

Sau khi video Paris By Night 17 phát hành, đã có một số trung tâm gọi đến mời anh đảm nhiệm vai trò MC, nhưng anh đều từ chối vì đã nhận lời cộng tác độc quyền với Thuý Nga vì nhận thấy trung tâm này thích hợp với đường lối của mình. Với đường lối đó, “Ông giáo làng Nguyễn Ngọc Ngạn“ đã chứng tỏ được điều “hữu chiêu thắng vô chiêu”, như nhạc sĩ Song Ngọc đã nhận xét về anh sau khi cuốn video trên phát hành trong một bài báo ngắn.

Trước khi gặp Nguyễn Ngọc Ngạn, trung tâm Thuý Nga đã mời Đỗ Văn làm MC cho video 18 với chủ đề Phạm Duy. Ngoài ra cũng đã mời Kim Anh – Trần Quốc Bảo cho chương trình đặc biệt Giáng Sinh; Lê Văn cho chương trình Phạm Duy 2 và La Thoại Tân cho một chương trình khác. Cho nên dù đã nhận lời cộng tác độc quyền nhưng anh muốn Thúy Nga giữ lời hứa với những người đã mời nên anh đã chỉ xuất hiện sau đó từ chương trình Paris By Night 20 trở đi.

Tổng cộng tính đến chương trình Paris By Night 72 anh đã có mặt trên 70 chương trình, hầu hết là đảm trách phần MC với Kỳ Duyên, ngoài một vài chương trình “độc diễn”, như chương trình 21 với chủ đề Ngô Thuỵ Miên hoặc 22 dành cho Lam Phương.

Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết anh không hài lòng một chương trình nào một cách trọn vẹn, do đầu óc luôn căng thẳng vì những chương trình thu hình thường kéo quá dài. Nhiều khi có những chương trình được thu hình 2 xuất trong một ngày, chỉ cách nhau chừng hai tiếng với sự thay đổi về thành phần ca sĩ.

Anh luôn cố gắng làm thế nào để những khán giả tham dự xuất thứ hai có cảm tưởng mới lạ đối với những diễn biến trên sân khấu mặc dù trước đó không lâu, trong cùng một ngày, cũng chương trình đó đã được diễn ra với anh là người điều khiển chương trình, cùng với Kỳ Duyên.

Đặc biệt mỗi lần thay đổi cảnh trí đối với những chương trình thu hình “live”, Nguyễn Ngọc Ngạn luôn phải tìm cách “câu giờ”, tùy theo thời gian chuyển cảnh giữa những tiết mục, nhưng “khó ở chỗ là nói làm sao để khán giả không biết là đang câu giờ “, theo anh nói.

Thời gian ngắn nhất để chuyển cảnh khoảng 3 phút và dài nhất có khi lên đến 10 phút hoặc hơn. Không ít khán thính giả thắc mắc về việc bằng cách nào người MC biết được cảnh trí đã được dàn dựng xong, sẵn sàng cho tiết mục kế tiếp, để ngưng câu chuyện đang kể trên sân khấu.

Điều này được Nguyễn Ngọc Ngạn giải thích: ”Ở giữa hoặc ở cuối rạp có một người cầm đèn pin mà khán giả không nhìn thấy. Người ta cho mình biết anh đó sẽ ngồi ở đâu. Thí dụ ngồi ở chân camera nào hay là ở hàng ghế thứ mấy. Anh ta đeo một headphone và trên sân khấu có stage manager cũng đeo một headphones. Khi nào trên stage manager dọn xong sân khấu ở sau bức màn, sẽ báo cho đạo diễn biết để ở trên sẽ nói xuống cho anh cầm đèn pin. Anh cầm đèn pin sẽ bấm hai cái thì tôi với cô Kỳ Duyên nhìn thấy. Nếu đang kể chuyện dở dang thì mình gấp rút kết luận để chuyển mục. Cho nên có nhiều chuyện định kể hoặc chưa kịp nói thì bỗng dưng thấy chớp đèn rồi thì mình mừng quá, mình vào luôn”.

Qua lời kể của Nguyễn Ngọc Ngạn, khán giả đã nhận biết được tầm mức quan trọng của một người được gọi là MC trong một chương trình video hoặc một “live show”. Ngoài tài ứng biến nhậm lẹ, thích ứng tức khắc với những thay đổi chương trình vào giờ chót cùng những lời đối đáp duyên dáng, vv...; người MC cần có một số vốn kiến thức về nhiều lãnh vực liên quan đến thời sự, xã hội, văn chương, vv... qua sự để tâm tìm tòi và nghiên cứu nhằm tạo thành “bài bản” để tạo cho người theo dõi những giây phút thích thú hay những nụ cười thoải mái.

Sau 12 năm lăn lộn trong nghề, không ai phủ nhận là Nguyễn Ngọc Ngạn có được đầy đủ những yếu tố đó. Nhưng không phải từng có nhiều kinh nghiệm mà anh không còn cảm thấy khó khăn với một số chương trình: ”Có nhiều cuốn tôi không hài lòng là những cuốn nói chung không có đề tài để nói, chẳng hạn như chương trình gồm Thế Sơn-Nguyễn Hưng-Don Ho.. Tức là chủ đề chỉ có 3 ca sĩ đó thôi, mà ba ca sĩ đó thì bao nhiêu lời mình giới thiệu trong 10 năm nó đã đủ quá rồi, bây giờ không thể nhắc lại được nữa. Những cái cuốn đại khái như vậy là những cuốn khó khăn nhất cho tôi. Nói chung là những cuốn mà không có đề tài để nói là những cuốn khó khăn nhất”.

Ngược lại, Nguyễn Ngọc Ngạn cảm thấy dễ dàng hơn trong vai trò MC với những chương trình video có một chủ đề rõ ràng như: ”chủ đề về Tình Yêu hay là Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương, Cây Đa Bến Cũ, vv... đại khái như vậy hoặc những chủ đề rõ ràng như Tiền, hay Đàn Bà, hay là 20 Năm Nhìn Lại ,vv... Những cuốn đó thì dễ soạn bài”.

Với người đồng đảm nhiệm phần MC với anh là Kỳ Duyên, Nguyễn Ngọc Ngạn thường bỏ ra nguyên một ngày để cùng soạn “script” cho một chương trình thu hình: “Tụi này có thói quen là cứ thứ Bẩy trình diễn thì bắt buộc phải dành trọn ngày thứ Tư làm việc. Qua đến thứ Năm, thứ Sáu ai rảnh thì ngồi coi. Coi để thêm đuợc cái gì thì thêm. Nhưng dĩ nhiên gọi là làm mất một ngày đó thì trong cái đầu mình phải tìm tòi, gom góp những chất liệu... Kiến thức đâu có phải là cái một sớm một chiều mà xong, nó là cái chuyện tích tụ từ lâu rồi. Rồi đến lúc gặp một tình huống hay một cái gì vui vui thì trong đầu mình nẩy ngay ra ý tưởng thích hợp”.

Tuy nhiên có những trường hợp tuy đã soạn “script” sẵn, nhưng khi lên sân khấu lại phải thay đổi để thích nghi với diễn biến trên sân khấu vì “có khi đổi cảnh nhanh quá, mình chưa kịp nói thì đã đổi xong. Khi đèn pin nó chớp tức là đổi cảnh xong thì phải giới thiệu ngay vào tiết mục kế tiếp”.

Đối với Nguyễn Ngọc Ngạn, mỗi khi hoàn tất vai trò MC cho một chương trình, anh đều cảm thấy “nhẹ bụng như đẻ xong đứa con”, vì đã phải trải qua những giây phút quá nặng nề khiến đầu óc luôn bị căng thẳng. Nhất là những chương trình lớn như “Thuý Nga 20th Anniversary” thực hiện ở San Jose vào tháng 8 năm 2003. Như trong trường hợp quay bằng hình thức MTV thì nếu hư thì sẽ thu hình lại dễ dàng, nhưng đây là một buổi thu hình có sự tham dự của khán giả nên rất khó khăn.

Nhất là khán giả tham dự một chương trình thu hình “live” có tính cách tổng hợp gồm nhiều thành phần với những thị hiếu về nghệ thuật khác biệt: ”Theo tôi, khán giả tham dự những buổi trình diễn văn nghệ là một sự tổng hợp. Thí dụ có những người chỉ thích loại nhạc do Khánh Hà, Khánh Ly, Ý Lan, vv... trình bầy, thì khi nghe những ca sĩ khác thì coi như họ đành ngồi nghe thôi. Ngược lại, có những người chỉ thích loại nhạc trình bày bởi Trường Vũ, Như Quỳnh, Phi Nhung, Mạnh Quỳnh mà không thích loại nhạc tiền chiến. Nên khi những ca sĩ hát loại nhạc tiền chiến ra thì họ cũng phải chịu đựng, ngồi đó thôi. Cho nên chen vào giữa các bài hát mà mình không làm được cái gì để cho không khí vui lên thì sẽ làm khổ khán giả”.

Những gì Nguyễn Ngọc Ngạn phải thực hiện khi làm MC không chỉ dừng lại ở đó mà anh còn được giao phó một số vai trò khác “như tôi phải làm ảo thuật, phải làm xiệc thì phải tập dượt trước. Rồi những màn như trước đây tôi đu trực thăng hay là nhảy xuống Niagara Falls , vv... Bên cạnh đó, tôi và cô Kỳ Duyên cũng có khi đóng những tiểu phẩm nhỏ. Thí dụ như Phi Nhung-Mạnh Quỳnh hát cải lương xong kêu tôi bằng ba, tôi phải đi ra. Có nhiều thứ lắm, không phải MC của Thuý Nga chỉ đứng giới thiệu không mà thôi. Thành ra chiếm rất nhiều thì giờ và đầu óc của mình”.

Ngoài Kỳ Duyên, trong những lần tham dự những chương trình “live show” tại khắp nơi, Nguyễn Ngọc Ngạn đã từng làm MC bên cạnh Thụy Trinh, Mai Phương, Quỳnh Hương, Khánh Ly, vv...Với bất cứ ai, anh cũng có khả năng tạo được một sự ăn khớp nhịp nhàng, nhờ biết nương theo cách ứng xử của từng người.. Hiện nay, ngoài phần làm MC độc quyền cho những chương trình video Paris By Night, Nguyễn Ngọc Ngạn thường xuyên nhận được lời mời đi show khắp nơi tại Bắc Mỹ, Âu Châu cũng như Úc Châu.

So với những ca sĩ nổi tiếng, anh đi show không nhiều bằng - mặc dù có những tháng anh nhận tới 5 shows - vì có những vũ trường hay những chương trình nhỏ của các hội đoàn không cần đến vai trò MC. Nhưng anh nhận được rất nhiều lời mời làm MC cho những tiệc cưới, tiệc kỷ niệm thành hôn, vv... nhưng anh không nhận lời, ngoài một vài chương trình do những bạn bè thân tổ chức mà không đòi hỏi một khoản thù lao nào. Đặc biệt hơn cả là có lần anh được mời làm MC cho một... đám ma, theo lời trối trăn của người quá cố, muốn anh đọc điếu văn, nhưng anh cũng không nhận lời. Anh nói đùa thêm là “thật sự nếu làm MC cho đám ma thì sướng hơn vì không phải kể jokes !”

Đối với người MC nhiều năm kinh nghiệm này, vấn đề khó khăn nhất hiện nay chính là vấn đề tìm kiếm để có được những mẩu chuyện vui để kể trên sân khấu, vì những câu chuyện thích hợp với khán thính giả Việt Nam càng ngày càng cạn. Tuy anh có cả một tủ sách truyện vui cười của Mỹ, nhưng khi dịch sang tiếng Việt đã không áp dụng được với khán giả người Việt do cách chơi chữ đặc biệt hoặc mang tính cách thời sự, không thích hợp với các khán thính giả Việt Nam . Cũng đã từng có rất nhiều người đóng góp những chuyện vui cười với anh, qua trung tâm Thuý Nga, nhưng vấn đề tuyển chọn không phải là dễ dàng để hoạ hoằn mới có một chuyện được dùng.

Vai trò MC nổi bật của Nguyễn Ngọc Ngạn hầu như đã khiến vai trò một người cầm bút của anh bị lu mờ phần nào. Mặc dù hiện nay anh vẫn viết đều, nhất là những chuyện được thu vào những “audio books” mà không ai ngờ là những sản phẩm được tiêu thụ rất mạnh hiện nay.

Sau 12 năm vui buồn với nghề ăn nói, Nguyễn Ngọc Ngạn không còn bao lâu sẽ bước vào lớp tuổi 60. Anh cho rằng cũng chẳng còn bao lâu nữa, sẽ đến lúc anh bước xuống sân khấu, từ giã ánh đèn mầu, bỏ lại phiá sau nghề MC cùng cái thế giới nghệ sĩ đối với anh có nhiều gắn bó. Anh luôn mang hy vọng trong thế hệ những MC tiếp nối con đường của mình sẽ có những khuôn mặt, những giọng nói nâng cao được giá trị của cái nghề xét ra không phải dễ dàng này...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Giấc mơ hồi hương

Image
Ngày nay, người ta đã có thể trở về Hà Nội. Nhưng giấc mơ
kia của Vũ Thành vẫn còn nguyên vẹn, vì Hà Nội đã đổi khác.
Hình minh họa.
(Hình: Ian Timberlake/AFP/Getty Images)


Quỳnh Giao
Ðôi khi với các nhạc sĩ sáng tác ca khúc, sự thành công có thể đến với họ khá bất ngờ.

Ðiều này thường xảy ra chứ không phải là hiếm, và làm chính tác giả ngạc nhiên. Thí dụ như Văn Phụng đã sáng tác từ trước 1954, và ca khúc đầu tiên của ông là “Ðóa Hồng Nhung” cho đến bây giờ không ai hát và biết đến. Ông kể rằng tự mình gửi vào đài phát thanh Pháp Á nhờ danh ca Minh Trang hát ca khúc đầu tay này, và khi ấy còn tưởng Minh Trang trẻ hơn mình nên đề tặng “mến tặng Minh Trang.” Ðến khi di cư vào Nam, lên đài phát thanh Quốc Gia để đàn cho ban nhạc thì mới gặp bà chị lớn hơn mình nhiều, bèn từ đó chị chị em em! Vậy mà ông vẫn chưa nổi tiếng lắm, cho đến khi “Ô Mê Ly” và “Trăng Sáng Vườn Chè” ra đời thì danh tiếng ông mới bốc như cồn...

Nhạc sĩ Hoàng Trọng viết nhạc từ cuối 1940, có riêng một ban nhạc trên đài phát thanh Hà Nội (Ban Bảo An) vậy mà đến 1951 mới nổi danh nhờ bài “Nhạc Sầu Tương Tư.” Nhạc sĩ Lam Phương khi còn là học trò của Hoàng Lang đã bắt đầu sáng tác, nhưng bài hát đem lại tên tuổi của ông chính là “Duyên Kiếp” mà trẻ con trong ngõ đứa nào cũng biết nghêu ngao “em ơi nếu mộng không thành thi sao???”

Và đây là trường hợp của Vũ Thành, do chính ông nói ra. Sáng tác ca khúc và là trưởng ban Việt Nhạc của đài phát thanh Hà Nội là một vị trí sáng chói thời đó khi nền tân nhạc đang chuyển từ thời phôi thai sang đến thời vàng son. Ca khúc đầu tay là “Tình Xuân” mở đầu cho những ca khúc nghệ thuật có âm hưởng bán cổ điển là nét độc đáo riêng của Vũ Thành. Sau đó là một loạt những tuyệt phẩm như “Nhớ Bạn,” “Hương Nhớ Nhung,” sau được đổi tựa lại là “Gửi Áng Mây Hàng,” rồi “Gió Thoảng Hương Duyên,” “Say Nhạc Canh Tàn,” “Ngày Tái Ngộ,” v.v...

Nhưng phải đợi đến khi “Giấc Mơ Hồi Hương” xuất hiện sau 1954, tên tuổi của ông mới bắt đầu quen thuộc với mọi thành phần thính giả. Trước đó Vũ Thành chỉ được một số thính giả nghe nhạc cổ điển hâm mộ mà thôi.

Ông bảo rằng điều đó không làm ông thấy hân hạnh gì mấy. Vì nếu ông nổi tiếng nhờ “Giấc Mơ Hồi Hương” qua lối trình bày thiếu trung thực, không đúng với những điều ông viết thì thành công đó là do lời ca hơn là vì nhạc! Tại sao Vũ Thành nói như vậy thì có lẽ giới thưởng ngoạn không hiểu. Riêng người viết có được ông thổ lộ mới dám ghi nhận lại điều này.

Kể ra thì nhạc sĩ Vũ Thành quá khó tính, chứ bài “Giấc Mơ Hồi Hương” của ông thuộc vào loại sáng tác nghệ thuật như tất cả các tác phẩm khác của ông. Bài hát được viết trên nhịp 3/4 Boston dìu dặt tha thiết, cung Do Trưởng. Mười sáu ô nhạc mở đầu với nhiều intervals rộng, từ nốt thấp là Sol dưới hai dòng kẻ lên tới nốt Mi cao ở khuông thứ tư càng làm rõ sóng lòng dâng ngập. Chuyển đoạn (modulation) của bài mới là tuyệt chiêu khi ông sử dụng những nốt liên ba (triolet) diễn tả nối nhớ nhung lên đến cực điểm.

Nét diễm kiều của Hà Nội trong trí nhớ và sự liên tưởng bàng hoàng nhờ từng câu nhạc. Khi thì lên cao, rồi chuyển từ Trưởng qua thứ, và xuống thật trầm để tả bóng đêm dần tàn mơ hồ... Bài hát hay quá, nên ca sĩ nào cũng thích hát. Dù bài hát soạn cho giọng soprano hay ténor mà thôi, nhưng ai mà dám can? Lối trình bày của đa số khi hát “Giấc Mơ Hồi Hương” thường là “ad lib,” tức là hát tự do, muốn ngừng lấy hơi lúc nào thì ngưng, muốn ngân chữ nào dài hơn hay ngắn hơn cũng được. Ngoài ra còn được đổi luôn nhịp, khi thì hát thành Slow, khi thì hát thành Boléro, và xuống hai ba cung là chuyện thường.

Vì thế mà Vũ Thành mới hối hận. Ông nói nếu lời từ là sự thành công của bài hát thì lời bài “Giấc Mơ Hồi Hương” được gợi ý từ một bài thơ đọc được trên một tạp chí văn nghệ, mà ông chỉ nhớ bài thơ và quên tên tác giả. Quỳnh Giao xin ghi lại bài thơ như sau:

Ðau đớn nhìn Hà Nội
Khuất dần sau sương rơi
Sông Nhị Hà sôi nổi
Cầu Long Biên xa rồi
Mắt nhìn hình ảnh cuối
Lòng thương nhớ khôn nguôi
Nghẹn ngào tâm sự cũ
Thôi rồi Hà Nội ơi...

Vũ Thành quả là người khiêm tốn, vì với Quỳnh Giao lời ca của “Giấc Mơ Hồi Hương” sâu xa và mới hơn ý của bài thơ nguyên thủy. Thời đó, gọi thành phố Hà Nội là “Em” mà không là mới sao? Và lãng mạn quá đi chứ!

Lấy cảm hứng từ bài thơ ấy, đây là lời ca của Vũ Thành, và Quỳnh Giao ghi thêm cả lời hai, được ông viết lại quãng năm 1970:

Lìa xa thành đô yêu dấu
Một sớm khi heo may về
Lòng khách tha hương vương sầu thương
Nhìn em mờ trong mây khói
Bước đi những chưa nỡ rời
Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly
Rồi đây dù lạc ngàn nơi
Ta hướng về phía xa vời
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai
Nghẹn ngào thương nhớ em, Hà Nội ơi!

Ta nhớ tới em một chiều chớm thu
Dáng yêu kiều của ngày đã qua
Thướt tha bên hồ liễu thưa
Lắng tiếng tiêu hồn của ngàn phím tơ
Thiết tha thề ước mối duyên hờ đã phai mờ

Trong bóng đêm mơ hồ...
Mơ ước thấy em một ngày sáng tươi
Tắm nắng hồng của một sớm mai
Say hương thanh bình khắp nơi
Lắng tiếng uy hùng của từng lớp trai
Cất cao lời hứa xây cuộc đời
Sầu tàn trong bóng đêm dài...

Ðoạn trở về điệp khúc, thay vì hát lại lời một, Vũ Thành soạn lời hai như sau:

Chiều nay nhìn về quê xưa
Hình bóng thân yêu chưa mờ
Gửi tới cố hương chút niềm thương
Tìm em qua bao năm tháng
Vó câu chinh nhân chưa mòn
Ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang
Rồi đây trên đường hồi hương
Vang tiếng cười chốn xa trường
Cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương
Ðể cùng xây giấc mơ hồi hương...


Lời ca của Vũ Thành đầy cảm xúc, với tâm tư và cảnh sắc lung linh choáng ngợp. Ca khúc đã được rất nhiều người hát, từ Ánh Tuyết, Thái Thanh, Kim Tước, Khánh Ngọc, Mai Hương của giọng nữ cho đến giọng nam của Anh Ngọc, Thanh Vũ, Hùng Cường, Ðoàn Chính, Bùi Thiện... Riêng lời hai của bài này chỉ có hai người hát do chính Vũ Thành đưa ra và yêu cầu là Anh Ngọc và... người viết bài.

Năm xưa, Anh Ngọc hát “Giấc Mơ Hồi Hương” cho chương trình đài Tự Do. Sau đó, khi lên máy bay đi tỵ nạn, Vũ Thành không mang hành lý nào ngoài cuốn tape thu một số bài hát với hòa âm của mình mà ông quý như bảo vật. Còn Quỳnh Giao thì ghi âm vào tape “Hát Cho Kỷ Niệm số 1” ở ngoài này mà chỉ để tặng chứ không bán, với lời giới thiệu của chính Vũ Thành. Giờ này nghe lại vẫn rớt nước mắt...

Ngày nay, người ta đã có thể trở về Hà Nội. Nhưng giấc mơ kia của Vũ Thành vẫn còn nguyên vẹn vì Hà Nội đã đổi khác.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Văn Hóa Cầm Nhầm…

Trần Văn Giang
Tạm quên cúm gà, cúm heo, cúm bà… bệnh dịch nghiêm trọng của thời đại là bệnh “cầm nhầm.”

Thật ra “cầm nhầm” chỉ là một tiếng lóng không có liệt kê trong tự điển Việt Nam đứng đắn. Theo cá nhân tôi, “cầm nhầm” là một động từ được hiểu theo nghĩa bình dân giáo dục, bên ngoài lớp học là:

“Vô tình (?) lấy làm của riêng những cái gì không phải của mình.”

Cầm nhầm cũng được dùng như một lời giải thích thật dễ thương, vô tội, vì cái nghĩa “nhầm,” chỉ vô tình thôi chứ có phải cố ý (!) gì đâu mà làm to chuyện?”

Lời giải thích dễ thương này dễ dàng được thông cảm, dễ tha thứ một khi hành động “cầm nhầm” bị phát giác, bị lật tẩy…

Trong khuôn khổ bài này, người viết xin bàn một cách giới hạn sự “cầm nhầm” sáng kiến và tư tưởng trên lãnh vực tạm gọi là “sản phẩm nghệ thuật và trí tuệ,” cùng với một ít ý kiến về việc “cầm nhầm tên tuổi” người khác.

Tùy giá trị (tính ra hiện kim hoặc gía trị tinh thần, tim óc…) của sự vật bị lấy đi làm của riêng không xin phép trước (hoặc đã có xin phép rồi nhưng sở hữu chủ đã từ chối, không bằng lòng cho phép sử dụng!) và cũng tùy hoàn cảnh, cách hành động và cường độ nghiêm trọng, “cầm nhầm” còn có các các tên gọi khác từ lịch sự, thanh nhã, rất ngây thơ vô tội đến xuồng xã trắng trợn như: đỡ nhẹ, thuổng, trộm, rinh ẩu, chôm, chỉa, đạo, ăn cắp, ăn cướp…

Để định nghĩa cho trọn vẹn hơn, tôi xin mạn phép được bổ túc thêm một chút vào ý nghĩa của chữ “cầm nhầm” như sau:

- Sửa chữa hoặc thay đổi sản phẩm, sáng kiến hay tư tưởng của người khác.

- Trực tiếp “cóp-pi,” sử dụng, cho mục đích cá nhân, những sáng kiến, tư tuởng của người khác rồi lại mập mờ ấm ớ không liệt kê, không khai báo nguồn gốc cho rõ ràng.

- Đưa ra một vấn đề, một sản phẩm, một tác phẩm… rồi tự quảng cáo là “mới” và “nguyên’ thủy” nhưng thực ra đã sửa chữa từ sáng kiến hay tư tưởng đã có sẵn, đã được biết từ truớc.

- Thuần túy ăn cắp; nếu võ lực có đi kèm theo sự ăn cắp thì được gọi là cướp, ăn cướp.

Như vậy, “cầm nhầm” cũng chỉ là một hình thức ăn trộm tài sản, trí tuệ của người khác một cách lén lút nhưng không kém phần nghiêm trọng...

Trên phương diện pháp lý, “cầm nhầm” là một tội phạm (Crime) tương đương với “lường gạt” (Fraud): Lấy của người khác một cách trái phép (Stealing); và sau đó khai gian, báo gian là của mình (Giving false report).

“Cầm nhầm,” nếu được khảo sát cho thật kỹ, là cả một công trình, sự tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng của hai giai đoạn: tiến (lấy trộm) và thoái (sắp đặt sẵn lời giải thích nếu bị phát giác).

Người biết cách “cầm nhầm” phải là người vừa thông minh, vừa gian sảo, vừa tham lam… Trong trường hợp không bị phát giác (rất hiếm!) người “cầm nhầm” giỏi sẽ trở thành nổi tiếng hoặc giầu có chỉ trong một thời gian ngắn vì đã đốt giai đoạn, đi đường tắt trên công sức và trí tuệ của người khác.

Thời buổi tân tiến này, nhờ các kỹ thuật khoa học và thông tin phổ cập, dễ dàng, mau chóng và thuận tiện, vấn đề “cầm nhầm” còn sâu, dầy và tràn lan hơn lúc trước khi cuộc cách mạng tin học ra đời. Chỉ cần một hai cái “tìm kiếm” (Googling search) và vài cái “bấm con chuột” (Mouse clicks) một tay “cầm nhầm” không cần phải chuyên nghiệp cũng có khả năng “cắt và dán” (Cut & Paste) vài ngàn trang giấy viết tay dễ như ăn “cơm sườn!”

Muốn đặt một nguyên tắc căn bản dùng để thẩm định vấn đề “cầm nhầm” tôi nghĩ không có gì chính xác hơn là nhìn vào các tài liệu có ghi chép các mốc thời gian sự xuất hiện lần đầu tiên của các “sản phẩm nghệ thuật và trí tuệ.” Từ các mốc đó, chúng ta có thể suy luận hay kết luận là “cái nào là ‘gốc’ cái nào là ‘đạo’? ai ‘cầm nhầm’ của ai?

1- Cầm nhầm Âm nhạc

Đạo thơ viết thành nhạc, đạo nhạc (melody), đạo lời nhạc (lyrics)… thấy nhan nhản trong sinh hoạt âm nhạc, trong đời sống hàng ngày chung quanh chúng ta. Trong tiết mục cầm nhầm âm nhạc phải bàn về 3 nhân vật tiêu biểu: Pham Duy, Diệu Hương và Bảo Chấn.
Image

Phạm Duy
Trên địa bàn sáng tác nhạc, có nhiều cảnh huống “cầm nhầm lời thơ” của người khác rồi “quên” không để tên tác giả vào… Nội cái mảng “cầm nhầm lời thơ” này thôi, có lẽ nhạc sĩ tên tuổi Phạm Duy nổi tiếng nhất.

Nên biết đầu thập niên ‘70 là giai đoạn mà miền Nam Việt Nam đang có những nỗ lực chống cộng rất sôi bỏng và những bất trắc chiến tranh, ngỡ ngàng về tương lai của tuổi trẻ thanh niên Việt Nam lên cao điểm; các bài hát nổi tiếng của Phạm Duy sáng tác được ưa chuộng rộng rãi và có ảnh hưởng văn hóa, chính trị sâu đậm trong dân gian, đều lọt vào thể loại “cầm nhầm lời thơ.”

Đầu tiên Phạm Duy đã “đỡ nhẹ” gần nguyên con bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” của thi sĩ Hoàng Linh Phương, rồi viết thành bản nhạc bất hủ “Kỷ vật cho em.”

Bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” khởi đăng trên trên trang thơ văn của tờ báo “Độc lập” của thi sĩ Trần Dạ Từ vào tháng 2 năm 1970.

Năm 1971, Pham Duy đã “sáng tác” và “phổ biến” bài nhạc “Kỷ vật cho em” dùng lời thơ của bài “Để trả lời một câu hỏi” mà tên thi sĩ Linh Phương không hề được đề cập đến. Nên biết chỉ trong vòng một năm, bài “Kỷ vật cho em” rất được ưa chuộng; bởi vì chiến tranh Việt Nam trở lên khốc liệt, lan rộng qua khỏi biên giới Việt Nam, có những cuộc hành quân qui mô đẫm máu như Lam Sơn 719 (ở Hạ Lào, tháng 2 và tháng 3, năm 1971), và hành quân tại phía Đông Cam-Bốt (Snoul – tháng 5 năm 1971). Tin tức chiến sự hàng ngày kèm theo các báo cáo về số chiến sĩ VNCH thương vong đáng kể trên chiến trường thì bài hát này không chỉ là đơn thuần là một bài hát về tình yêu đổ vỡ, định mệnh oan trái của con người mà còn gây lên một không khí phản chiến cao chưa từng thấy trước đây vì lời ca có nhiều đoạn được xem là “làm nản lòng chiến sĩ,” “bất lợi cho chính nghĩa chiến đấu bảo vệ lãnh thổ...” trong cuộc chiến chống CS của quân dân miền nam Việt Nam.

Dĩ nhiên bài nhạc “Kỷ vật cho em” bán rất chạy. Phạm Duy không hề đề cập gì đến tên thi sĩ Linh Phương trong lần đầu tiên xuất bản bài hát đã đành; mà đến ngay khi Phạm Duy xuất bản bài này trong tập nhạc “Kỷ vật cho chúng ta” (do nhà xuất bản “Gìn vàng giữ ngoc” phát hành); và sau đó bán bản quyển bài “Kỷ vật cho em” cho hãng đĩa Việt Nam, thì tên thi sĩ Linh Phương vẫn bị gạt ra chẳng thấy đâu…

Nhiều tờ báo lớn, báo nhỏ như Sống, Lập trường, Sân khấu truyền hình… bắt đầu lên tiếng “bất mãn dùm” cho thi sĩ Linh Phương. Theo lời của thi sĩ Linh phương trong “Hồi ký Linh Phương” thì một người bạn của thi sĩ là phóng viên Thiên Hải đã đưa lên trang nhất của một tờ nhật báo (?) đại ý lên tiếng là thi sĩ tác giả của bài “Để trả lời một câu hỏi” sẽ kiện Phạm Duy ra tòa vì vi phạm tác quyền. Khi bị báo chí trực tiếp chất vấn Phạm Duy về sự “nhầm” này, thì Phạm Duy trả lời là tỉnh bơ là:

“… vì tôi không biết thi sĩ là ai? và không biết tìm ở đâu?”

Lời biện minh ngây thơ vô tội này của “bố già” Phạm Duy nghe không ổn vì bài thơ đã được đăng nhiều lần qua các báo với tên tác giả Linh Phương rành rành. Thi sĩ Linh Phương cũng cho biết là:

“… Cuối cùng đưa đến việc Phạm Duy trực tiếp tiếp xúc và đồng ý trả số tiền tác quyền 50 ngàn đồng (giá vàng lúc đó là 10 ngàn đồng một lượng).”

Sau đó các ấn bản của bài “Kỷ vật cho em” mới thấy có đề tên Linh Phương đồng tác giả với Phạm Duy.

Mời quí vị đọc bài thơ gốc: “Để trả lời một câu hỏi” của thi sĩ Linh Phương đăng trên báo “Độc lập” vào tháng 2 năm 1970:

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Không bằng chiến thắng trận Pleime
Hay Đức Cơ - Đồng Xoài - Bình Giả
Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng
Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt
...

Và sau đây là lời bài “Kỷ Vật Cho Em” (phát hành lần đầu) do Phạm Duy “sáng tác” như sau:

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa (1),
Anh trở về trên chiếc băng ca (2)
Trên trực thăng sơn màu tang trắng (3).

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh (4)
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi! (5)

Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đen
Em sang sông anh cho làm kỷ niệm
Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,
Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về nhìn nhau xa lạ
Anhh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen
Cố quên đi một lần trăn trối... Em ơi!
Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về


* Lời thứ hai của bài hát sau khi Phạm Duy sửa lại (để khỏi bị chính phủ VNCH cấm hát):

(1) Anh trở về có khi là một chiếc vòng hoa
(2) Anh trở về bằng khúc hoan ca
(3) Trên trực thăng vang trời thanh vắng
Em hòi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
(4) Poncho từng phủ kín đời anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
(5) Chiếc khăn tay ngăn dòng lệ ứa...em ơi...
...

Phạm Duy đã có lần lộng ngôn là: “… mọi người(?) chỉ hát các bài nhạc tôi viết trong lúc đi ỉa (?!)”

Chuyện “đi ỉa” là chuyện đời tư và vệ sinh cá nhân của Phạm Duy, tôi không có lý do gì cần phải bàn thêm; nhưng cái sở trường “đánh hơi trong lúc đi ỉa” đặc biệt của thiên tài Phạm Duy mới là chuyện đáng nói. Cũng năm 1971, Phạm Duy còn đánh hơi, bắt mạch được (thị trường) thị hiếu yêu nhạc của giới trẻ, tung ra một bản nhạc phổ thơ với triết lý “Có còn hơn không” của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên. Đó là bài “Thà như giọt mưa.”

Thật ra Phạm Duy đã “chôm” bài thơ “Khúc tình buồn” của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên nguyên văn như sau:

Người từ trăm năm
về qua sông rộng
ta ngoắc mòn tay
trùng trùng gió lộng

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

Người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân
nào hay đời cạn

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không

mưa ôm tượng đá)
Người từ trăm năm
về như dao nhọn
ngọt ngào vết đâm
ta chết âm thầm
máu chưa kịp đổ

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

Thà như giọt mưa
gieo xuống mặt người
vỡ tan vỡ tan
nào ta ân hận
bởi còn kịp nghe
nhịp run vồi vội
trên ngọn lông măng
(người từ trăm năm vì ta phải khổ)
(Khúc tình buồn – Nguyễn Tất Nhiên)


Rồi viết lại thành bài hát “Thà như giọt mưa:”

Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa khô trên tượng đá
thà như mưa gió đến ôm tượng đá
có còn hơn không, có còn hơn không
có còn hơn không, có còn hơn không

Người từ trăm năm về qua sông rộng
Người từ trăm năm về qua sông rộng
ta ngoắc mòn tay, ta ngoắc mòn tay
chỉ thấy sông lồng lộng, chỉ thấy sông chập trùng

Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa khô trên tượng đá
thà như mưa gió đến ôm tượng đá
có còn hơn không, có còn hơn không
có còn hơn không, có còn hơn không

Người từ trăm năm về khơi tình động
người từ trăm năm về khơi tình động
ta chạy vòng vòng ta chạy mòn chân
nào có hay đời cạn nào có hay cạn đời

Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa khô trên tượng đá
thà như mưa gió đến ôm tượng đá
có còn hơn không, có còn hơn không
có còn hơn không, có còn hơn không

Người từ trăm năm về như dao nhọn
người từ trăm năm về như dao nhọn
dao vết ngọt đâm ta chết trầm ngâm
dòng máu chưa kịp tràn
dòng máu chưa kịp tràn

Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa khô trên tượng đá
thà như mưa gió đến ôm tượng đá
có còn hơn không, có còn hơn không
có còn hơn không, có còn hơn không
(“Thà như giọt mưa” – Phạm Duy)


* Mời quí vị đọc lời của cả 2 bài trên để thấy và thưởng thức cái tài “ngửi” rồi “xào lại” của Phạm Duy như thế nào…

Nhạc phẩm “Thà như giọt mưa” được phát thanh liên tục mỗi ngày trên đài phát thanh Sài Gòn và trở thành một “hiện tượng” chưa hề xẩy ra trước đây trong giới thanh niên, học sinh sinh viên miền Nam tự do… Hoàn cảnh sáng tác của bài “Thà như giọt mưa” cũng y hệt như hoàn cảnh của bài “Kỷ vật cho em.” (“Đánh hơi” lúc trong đi ỉa! và “xào lại” chút đỉnh). Thành ra trường hơp này, tôi suy luận ra câu trả lời “dejà vu” của Phạm Duy có lẽ cũng lại là:

“… vì tôi không biết thi sĩ là ai? và không biết tìm ở đâu?”

Nguyễn Tất Nhiên phải vất vả hơn Hòang Linh Phương rất nhiều. Thứ nhất Nguyễn Tất Nhiên chỉ là một anh chàng thanh niên mới 18-19 tuổi khi bài thơ “Khúc tình buồn” bị “chôm.” Thứ hai Nguyễn Tất Nhiên không quen biết nhiều với giới báo chí truyền thông cho nên không có ai quởn để “bất mãn dùm” cho mình như trường hợp Linh Phương trước đây. Nguyễn Tất Nhiên phải chạy ngược chay xuôi “đi gõ cửa cầu cứu với giới báo chí “(nguyên văn theo lời chị Nguyễn Thị Minh Thủy, vợ cũ của Nguyễn Tất Nhiên) về vấn đề tác quyền. Cũng may, có Chu Tử của báo Sống (và một số báo khác sau đó) đã đứng về phía thi sĩ có thơ bị “cầm nhầm” phát động lại phong trào tác quyền của người làm thơ và đồng thời gây áp lực với giới làm nhạc về vấn đề tác quyền này… Kết quả Phạm Duy đã tìm Nguyễn Tất Nhiên và lên thăm thi sĩ tại nhà ở Biên Hòa để “nói một vài lời phải quấy” theo kiểu “jouer papa” chứ chuyện bồi thường chưa hề được đề cập đến trong lần gặp gỡ này. Cuối cùng gia đình thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên phải kiện Phạm Duy và hãng đĩa Việt Nam ra tòa. Kết quả phe nguyên cáo (gia đình Nguyễn Tất Nhiên) bãi nại và đồng ý nhận một số tiền bồi thường do hãng đĩa Việt Nam và Pham Duy dàn xếp.

Sau hai vụ “cầm nhầm” lớn rồi đưa đến sự nhượng bộ của Phạm Duy này, một bài thơ nổi tiếng khác của thi sĩ Vũ Hữu Định được Phạm Duy phổ thơ mà tôi không (chưa tìm ra!) nghe thấy sự phàn nàn trực tiếp nào của thi sĩ Vũ Hữu Định. Đó là bài “Còn một chút gì để nhớ.” Phạm Duy “ngửi” thấy bài này và phổ nhạc thành bài “Còn chút gì đề nhớ.” (Phạm Duy bỏ mất chữ “một” trong tựa bài) Bài hát này đã nổi tiếng và biến địa danh “Pleiku,” một thị trấn mới xa xôi ở cao nguyên sương mù, thành một nét đậm đáng ghi nhớ trên bản đồ Việt Nam:

Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương

Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên tóc em ướt và mắt em ướt
Da em mềm như mây chiều trong (Phạm Duy sửa là “Nên em…”)

Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng vẫn bâng khuâng

Xin cảm ơn thành phố có em
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc bên đồi biên giới (Phạm Duy sửa là “trên đồn”)
Còn một chút gì để nhớ để quên
(“Còn một chút gì để nhớ’ - Vũ Hữu Định)


Ngoài ra, còn một bài thơ nổi tiếng khác mà Phạm Duy đã phổ nhạc, (tôi lấy làm lạ là mà không thấy ai “ngửi” được cái mùi “cầm nhầm” lời thơ cố hữu của Phạm Duy?), đó là bài ‘Mùa thu chết” (Nhạc Phạm Duy sáng tác năm 1970 - Thơ G. Apolinaire – Ca sĩ Julie).

"Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho!
Em nhớ cho,
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này
Từ nay mãi mãi không thấy nhau
Từ nay mãi mãi không thấy nhau...

Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.
Vẫn chờ em, vẫn chờ em
Vẫn chờ....
Vẫn chờ... đợi em!"

Vâng! Tôi xin nói cho rõ là Phạm Duy đã có “chua” là lời thơ của Guillaume Apolinaire:

(nguyên văn)

L'adieu
Guillaume Apollinaire
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

.. Nhưng lời phần lời Việt thì Phạm Duy “tạm xem” như của chính mình(!). Trong khi, trước đó (năm 1969 cho chính xác) Bùi Giáng đã dịch bài “L’Adieu ” như sau:

Lời vĩnh biệt
Bản dịch của Bùi Giáng
(“ Ði vào cõi thơ,” trang 80-82, Ca Dao xuất bản, Sàigon, Việt Nam 1969)

… Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó ...
…

“Chuyên dài phổ thơ thành nhạc của Phạm Duy” đang ở chương cuối cùng; bởi lẽ Phạm Duy, vì lý do tuổi tác và sức khỏe, không còn vào buồng tắm tự nhiên thong thả như lúc trai trẻ, đồng thời khứu giác chắc có lẽ cũng hết bén rồi !!!

Image
Diệu Hương
Ở hải ngoại, ca nhạc sĩ “gia đình HO” Diệu Hương bỗng nhiên trở thành một hiện tượng âm nhạc.

Thứ nhất vì nhạc của Diệu Hương nghe “có hồn” mặc dù “lời nhạc” của Diệu Hương có ý nghĩa “mông lung” theo kiểu khó hiểu của tranh lập thể Picasso; và dùng hơi nhiều sáo ngữ (!) Tôi chỉ nghe độ 3-4 bài đầu trong CD “Tình Ca Diệu Hương 1” với chủ đề “Bài tình ca cho em” (phát hành năm 2001) thì tôi đã ghi được một số chữ tạm gọi là “mông lung” như sau:

“ôi xơ xác linh hồn tôi khắc khoải,”
“bóng tối chia phôi,”
“trăm năm như ngàn năm, người cùng đá băn khoăn
”

và một lô “sáo ngữ” như :

“trào dâng,”
“pha phôi,”
“đày đọa,”
“xuyến xao,”
“hoang phế,”
“quanh hiu,”
“thét gào,”
“giọt buồn…”


nghe thoáng qua thấy rất quen thuộc như đã nghe ở đâu đó rồi… giống như các từ ngữ đảo lộn ngớ ngẩn của vi-xi : “đảm bảo,” “ triển khai…,”

Thứ nhì, Diệu Hương được xem như là “hàng hiếm” trong ngành viết nhạc (cũng giống như trong ngành đầu bếp, trang điểm…) mà đại đa số “thợ“ giỏi là nam giới.

Về loại chữ “mông lung” và “sáo” này, Trịnh Công Sơn trước đây đã dùng rất nhiều:

“ôi tóc em dài đêm thần thoại,”
“ru em từng ngón xuân nồng,”
“rồi như đá ngây ngô,”
“nắng thủy tinh…”


… được rất nhiều người ưa chuộng và “ cóp-pi” tứ tung. Khi Trịnh Công Sơn dùng những loại chữ “mông lung” như vậy thì chúng hoàn toàn mới lạ với tai người thưởng lãm; chúng được xem như là chữ “gốc ;” bởi vì Trịnh Công Sơn không “cóp-pi” của người khác.

Thật ra, lời nhạc của Trịnh Công Sơn có rất nhiều đoạn thoáng nghe cứ tưởng là “mông lung” nhưng mãi về sau này có những người từng quen biết, gần gũi với Trịnh Công Sơn giải nghĩa thêm cho rõ mới hiểu ra những lời “mông lung” đều có ẩn ý “thật” (real thing) chứ không phải loại “mông lung” vớ vỉn, gượng ép. Thí dụ :

Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những chuyến xe
Còn đây âm vang não nề
Ngày đi đêm tới trăm tiếng mơ hồ.
...
Nhớ một người tình nào cũ,
Khóc lại một đời người quá ê chề.
...
Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những quán không
Bàn in hơi bên ghế ngồi
Ngày đi đêm tới đã vắng bóng ngườị
(“Nghe Những Tàn Phai” - Trịnh Công Sơn)


Tác giả bài “Văn hóa cầm nhầm” này đã có may mắn được nghe Khánh Ly trực tiếp nói (chứ không phải qua sự ghi chép “tam sao thất bản” từ các nguồn trên mạng) là chính Trịnh Công Sơn cho Khánh Ly biết bài “Nghe Những Tàn Phai” Trịnh Công Sơn viết về “tâm sự buồn” của một cô gái làng chơi đã về già, hết thời. Lời nhạc não nùng thật chứ không phải là chuyện “mông lung” vớ vẩn như chúng ta nghĩ...

Hoặc:

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi
....
Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không haỵ
(“Cát Bụi” - Trịnh Công Sơn)


Bà Đặng Tuyết Mai (vợ ông Nguyễn Cao Cầy) trong một dịp gặp gỡ văn nghệ, đã được Trịnh Công Sơn giải thích và mô tả sự khai sinh và khai tử (ghi lại trong bài hát “Cát bụi”) ở trong các làng xã xa xôi ở miền quê Việt Nam là:

“Khi một đứa bé được sinh ra thì bố mẹ đứa trẻ báo cho làng xã biết. Người ta ghi tên đứa bé vào một cuốn sổ bằng viết mực... thế rồi khi đứa bé lớn lên sau lũy tre xanh, trưởng thành, già... nếu chết đi thì người nhà cũng báo cho làng xã biết; người ta cũng lấy cái bút gạch tên người chết trong cuốn sổ đinh này là xong một đời người.”

Chính vì vậy mà sau khi một cuộc đời được chấm dứt câu “Vết mực nào xóa bỏ không hay” là thật chứ không phải là chuyện “mông lung” như chúng ta vẫn nghĩ...

Hoặc:

... Nhiều đêm thấy ta là thác đổ
Tỉnh ra có khi còn nghe.
(“Ðêm Thấy Ta Là Thác Đổ” - Trịnh Công Sơn)


Xin thưa, ông anh tôi, Bác sĩ Đặng Trần Hào, một người đã tập thiền cỡ “nhiều năm thâm niên công vụ,” tức là thiền mỗi ngày vài giờ trong vài chục năm qua, khi hàn huyên với tôi, Bác sĩ Hào đã phải buột miệng khen Trịnh Công Sơn:

“Trịnh Công Sơn phải là sư tổ môn thiền học mới ‘đạt’ được cái trạng thái ‘thác đổ’ này.”

Vì chính bản thân Bác sĩ Hào, sau vài chục năm thiền, mỗi khi thiền xong, mở mắt ra nghe thấy trong đầu còn có “âm vang như có tiếng thác đổ.”

Thành ra “Nhiều đêm thấy ta là thác đổ” cũng là thật chứ không phải là chuyện “mông lung...”

Tôi e rằng bàn về nhạc Trịnh Công Sơn thêm một tí nữa sẽ lạc đề. Bây giờ tôi xin trở lại sáng tác của Diệu Hương. Từ năm 2001 đến năm 2007, Diệu Hương phát hành liền tù tì một loạt 5 CD “Tình ca Diệu hương 1-2-3-4-5” gồm gần 60 bài hát mà bài nào nghe cũng rất “phê.” Nhưng (lại “nhưng!” Chữ “nhưng” thật tai hại!) đùng một cái, năm 2007 bắt đầu đã có tiếng “xì xèo” là Diệu Hương “đạo nhạc.”

Bài nhạc rất tiêu biểu (a signature song) được ưa chuộng của Diệu Hương là bài “Vì đó là em” (2001) có lời rất tha thiết, thành khẩn như sau:

“Không cần biết em từ đâu.
Không cần biết em ngày sau...
Yêu em khi chỉ biết đó là em... “


Bây giờ nghe lời nhạc mà nhóm Backstreet Boys hát trong bài “As long as you love me” (1997)

I don't know who you are,
I don't care where you come from.
As long as you love me...


Sao thấy nó giống nhau chi lạ: cũng tha thiết và thành khẩn không sai tí ti ông cụ nào? Tư tưởng lớn luôn luôn gặp nhau là vậy?!

Về giai điệu (melody) thì có nhiều người đã quả quyết 100% là bài “Tình vọng” do Diệu Hương viết năm 2004 (Tuấn ngọc hát) nghe y chang như bài nhạc “Caruso” rất nổi tiếng của nhạc sĩ Ý-đại-lợi Lucio Dalla sáng tác năm 1986 (ca sĩ Lara Fabian hát). Quí vị nên tìm nghe cả hai bài (đề nghị dùng “Google search”) để thấy tại sao có người dám “quả quyết là giống 100%” như vậy.

Một số đọc giả của các diễn đàn Việt ngữ còn cho biết thêm là đã “khám phá” ra các bài nổi tiếng khác của Diệu Hương liệt kê sau đây đều có “đạo” không ít thì nhiều về nhạc (melody) hay lời (lyrics). Xin quí vị tìm xem và nghe lại để tự tìm hiểu và tự thẩm định:

- “Bài tình ca của em” sao giống y chang bài “Đêm cô đơn” của Ngoc Trọng.

- “Lặng nhìn ta thôi” giống bài “Lời gọi thiên thu” của Trịnh Công Sơn.

- “Như một lần nhớ tiếc” giống bài “Hoa sữa” của Hồng Đăng.

Ôi Diệu Hương ơi! “Mình ơi!” Có phải Diệu Hương là “hàng hiếm” “made in China!” tìm thấy từ “Wal-mart…”

Image
Bảo chấn

Việt Nam (sau 1975) không có luật bảo vệ tác quyền (copy rights) cho nên “sự cố” “tình nghi” “cầm nhầm” “lan tỏa” rộng lớn trong mọi ngành sản xuất và sáng tác.

Riêng ngành sáng tác nhạc được các tay “nhạc sĩ” phần lớn là giới trẻ “cầm nhầm,” “cóp-pi,” “chôm…” tứ tung thiên địa từ nhạc “gốc” phần lớn từ nhạc Anh, Trung Hoa, Đại hàn, Nhật… Một khi bị giác hay có người tri hô lên là “cầm nhầm” thì cứ 10 ông nhạc sĩ trẻ có đủ 10 ông la làng theo cùng một bài ca (họ lại “cóp-pi” lẫn nhau ở phần trả lời báo chí mới óai oăm!) là:

“giai điệu giống nhau là chuyện bình thường,”

“quá sốc,”

“bị áp đặt,”

“không có cơ sở…”

Các trang mạng của Việt Nam trong ngày 19 tháng 1 năm 2005 đã liệt kê có ít nhất 70 ca khúc ở trong nước “bị tình nghi” là “đạo nhạc” từ “nhạc ngoại quốc.” Các “nhạc sĩ” ở thể loại này gồm cả những tên tuổi đương thời đang “ăn khách” ở Việt Nam như: Bảo Chấn, Phương Uyên, Quốc Bảo, Quang Huy, Lê Quang, Võ Thiện Thanh…

Trong khuôn khổ giới hạn của bài nhận định này, tôi xin nói qua về một nhạc sĩ điển hình có tên tuổi trong đám thợ “cầm nhầm” này. Đó là nhạc sĩ Bảo Chấn.

Bảo Chấn đã “sáng tác” bài nhạc thơ mộng “Tình thôi xót xa” khi nào?

Năm 1997, bài “Tình thôi xót xa” được ca sĩ Lam Trường và Hồng Nhung hát… bỗng dưng bài hát này rất được ưa chuộng và cả bài hát lẫn nhạc sĩ đều nổi tiếng… Nhưng cũng ngay sau đó thiên hạ bắt đầu bàn tán rùm lên là Bảo Chấn “cóp-pi” nhạc (melody) từ bài “Frontier” của nữ nhạc công Piano và nhạc sĩ người Nhật đã nổi tiếng quốc tế tên Keiko Matsui (tác giả của gần 20 albums nhạc Jazz). Bài “Frontier” là một bản nhạc hòa tấu nằm trong album “Chery blossom” của Cô phát hành năm 1992. Liền ngay sao đó, Bảo Chấn đã đưa ra lời giải thích với giới truyền thông báo chí trong nước rất ngon lành, nghe qua thấy rất “hợp tình hợp lý” như sau:

“Tôi cam đoan là không có chuyện ‘mượn’ giai điệu của nhạc Nhật (cho bài “Tình thôi xót xa”). Trong âm nhạc, sáng tác dựa theo ‘cảm xúc,’ và sự trùng hợp là chuyện rất bình thường. Tôi sáng tác bài ‘Tình thôi xót xa’ từ thập niên 80 dành cho bộ phim ‘Nước mắt học trò’ của đạo diễn Lý Hùynh… Tôi không dám nghĩ là phía Nhật ‘lấy’ giai điệu của tôi (!); nhưng tôi khẳng định là không hề có chuyện tôi lấy giai điệu từ họ (ám chỉ nhạc của Keiko Matsui).”

Lời giải thích thật hào sảng, oai hùng (có cả ngụ ý: “biết đâu Nhật đã ‘cóp-pi’ từ nhạc Việt!!!” Nếu lời biện minh của Bảo Chấn đúng thì thật vẻ vang cho nền âm nhạc Việt Nam…) Nhưng (lại chữ “nhưng” thật tai hại!) khi những người quan tâm nhìn kỹ vào các cuốn phim của Lý Huỳnh mà Bảo Chấn (và em là Bảo Phúc) viết nhạc nền như “Nước mắt học trò,” “Cơn lốc cuộc đời…” từ năm 1991 đến bây giờ thì chẳng thấy tăm hơi bài “Tình thôi xót xa” ở đâu cả??? Tìm kỹ càng hơn một tí nữa loanh quanh đâu đấy thì thấy bài “Tình thôi xót xa” được trình bày lần đầu tiên trong phim “Truy nã tội phạm quốc tế” của hãng phim Phương Đông (hợp tác với Đài loan) sản xuất không phải năm 1991; mà là năm 1997 (cũng là năm mà Lam Trường và Hồng Nhung hát bài này). Sau các phát giác cụ thể dựa trên các mốc thời gian này thì Bảo Chấn “khai bịnh” vào nhà thương nằm “nghỉ” một thời gian vì “gặp phải năm hạn!” Thật xui xẻo cho nhạc sĩ trẻ tài hoa muốn nổi tiếng nhanh chóng trên công sức của người khác!!! Người gian lâu lâu mắc nạn vậy mà có gì mà to chuyện!!!

Đám “hót sĩ” trong nước như Đàm Vĩnh Hưng, Quang Linh, Đan Trường… cũng cùng nhau “vô tư” “rinh” nhạc Việt do “ngụy” sáng tác từ hải ngoại đem về nước rồi tự tiện đổi tên tựa bài hát, hoặc cả tên tác giả rồi thản nhiên cho vào các “albums” của họ… Chỉ có “nghệ nhân” của “đỉnh cao trí tuệ” mới có “khả năng” “làm việc” như vậy… Đảng và nhà nước ta đã đề xuất phương châm: “Nhà ngụy ta ở! Vợ ngụy ta lấy...” thì bây giờ “nhạc ngụy ta cũng lấy nốt ” thì có tội vạ gì??? Không chừng còn được đảng và nhà nước ta ban cho huân chương “nghệ sĩ nhân dân,” “nghệ sĩ ưu tú.” Các nhạc sĩ “phản động” ở hải ngoại chỉ có nước thở dài. Chuyện kiện cáo các “hót sĩ” này có khác gì kiện củ khoai vì “nhà nước ta” không có luật “tác quyền” để bảo vệ tài sản trí tuệ của chính người của “cách mạng;” nói chi đến chuyện diệu vợi bảo vệ tài sản trí tuệ của đám “ngụy sĩ.…”

2- Cầm nhầm Văn chương / bài Khảo cứu

Đứng đầu danh sách đạo văn có tính cách lịch sử toàn cầu là Hồ Chí Minh. “Bác” Hồ Chí Minh, lãnh đạo “kiệt xuất” của XHCNVN, đã phát minh ra kỹ thuật “Cắt và Dán” (Cut & Paste) từ năm 1945 (tức là gần 50 năm trước khi bác “biu gết” làm ra Window 95). “Chính sử của đảng cộng sản và nhà nươc XHCN Việt Nam” đã khẳng định là “Bác Hồ” đã “tự ý soạn thảo” ra và đọc “Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” trên lễ đài sáng 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội như sau:

“Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…" (Trích “Hồ Chí Minh toàn tập”)

Trong khi bản “Tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ” công bố năm 1776 đã được viết là:

“All the peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right to live, to be happy and free.”

(Declaration of Independence of the United States of America 1776)

Những ai biết đọc và viết Anh ngữ thì thấy 2 câu Việt ngữ và Anh ngữ, nếu đem để sát bên nhau, không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên… mà là một sự sao chép tinh vi của “đỉnh cao trí tuệ.”

Về vấn đề đạo thơ, Bác Hồ đã “cắt” 5 câu thơ khác nhau của 5 thi hào nổi tiếng thành và “dán” lại thành ra bài thơ “hay nhất thế kỷ” của “Bác:” Bài thơ “Nguyên Tiêu.” (Xin mời đọc thêm chi tiết “cắt và dán” này qua bài “Đọc bài thơ Nguyên Tiêu của HCM” – bằng Unicode 8 - cũng do TVG viết trong website sau đây: http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... t&sid=3454

Giáo sư Lê hữu Mục còn biên khảo thành cả một cuốn sách dầy tựa đề: “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký” để chứng minh rằng:

“Hồ Chí Minh chỉ là kẻ đạo văn, mượn đầu heo nấu cháo, ăn cắp nguyên con một cách lố bịch và trơ trẽn tập ‘Ngục Trung Nhật Ký’ của một người bạn tù người tầu rồi để tên mình là tác giả…”

3- Cầm nhầm Tên tuổi


“Cầm nhầm Tên tuổi” đôi khi còn được gọi nôm na là “thấy người sang bắt quàng làm họ.” Những con cá kèo, những “small fries,” vô danh nhưng nhiều thủ đoạn muốn “nổi” cho mau thường dùng kiểu “cầm nhầm” này: đi đường tắt bằng cách mượn một tên tuổi lớn có sẵn để quá giang cho tới bến cho mau chóng.

Nguyễn Ái Quốc: Đầu tiên, tên gọi “Nguyễn Ái Quốc,” theo chính sử của đảng Cộng sản và nhà nước XHCN Việt Nam, vẫn được xem là tên riêng của một mình Nguyễn Tất Thành (sau đó đổi tên nhiều lần trở thành Hồ Chí Minh). Bản “Yêu sách của người An Nam,” viết bằng tiếng Pháp với tựa đề “Revendications du peuple annamite,” xưa nay vẫn được xem là công của một mình Hồ Chí Minh gửi lên Hội Nghị Versailles. Nhưng sử gia Sophie Judge-Quinn quả quyết “Yêu sách của người An Nam” năm 1919 ký tên “Nguyễn Ái Quốc” là của một mình Phan Văn Trường vì lúc đó Nguyễn Tất Thành không thể có đủ trình độ viết và nói tiếng Pháp thông thạo như Phan Van Trường (Luật sư).

Một trong những người đầu tiên xác định bút hiệu “Nguyễn Ái Quốc” là của chung nhiều người là sử gia Pháp Daniel Hémery, trong “Ho Chi Minh, de l'Indochine au Vietnam,” xuất bản năm 1990. Đồng thời sử gia Nguyên Thế Anh trong “L'intinéraire politique de Hô Chi Minh” đã ghi Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường cũng đứng tên “Nguyễn Ái Quốc” (Nguyên Thế Anh không có liệt kê tên ông Nguyễn Thế Truyền). Nhưng theo sử gia Daniel Hémery, những người đã dùng bút hiệu “Nguyễn Ái Quốc” gồm có Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Trong số 4 người dùng tên Nguyễn Ái Quốc chỉ có Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Sinh Cung - Hồ Chí Minh) là học hành kém cỏi nhất - chưa học xong bậc tiểu học - còn 3 người còn lại của nhóm đều là khoa bảng lớn (Phan Văn Trường là Luật sư, Phan Chu Trinh là Phó Bảng, Nguyễn Thế Truyền có 2 bằng kỹ sư Hóa học và cử nhân Triết).

Mặc dù kém học, tài hèn nhưng vì có sẵn thủ đoạn, thấy tên Nguyễn Ái Quốc có vẻ “ăn khách” cho nên Nguyễn Tất Thành giữ luôn làm của riêng cho mình; dùng nó để làm bàn đạp thăng tiến sự nghiệp “cách mạng...”

Vũ Trọng Phụng: Dân mít ta học đến bực trung học thì có ai mà không biết tên tuổi của nhà văn Vũ Trọng Phụng, tác gỉa của những truyên xã hội nổi tiếng như Giông tố, Số đỏ, Cơm thầy cơm cô…

Gần đây có một nhân vật xuất hiện trên môt chương trình phỏng vấn của đài truyền hình Việt Nam SBTN ở Nam Califirnia tự xưng là Đại tá biệt kích (?) Vũ Trọng Khanh, biệt hiệu là Vũ Lăng (?) tốt nghiệp khóa 4 võ bị Đà lạt (?) là con trai của Vũ Trọng Phụng (?) Me xừ Vũ Trọng Khanh còn khai tới luôn là mẹ ông là em gái của Luật sư Trần Văn Tuyên… Ối chà chà! Sao chẳng có ai hay biết về ông Đại tá biệt kích này. Thật là một thiếu sót lớn!!!

Nhà văn Hoàng Hải Thủy cho biết chính ông và các bạn văn khác đều biết là Vũ Trong Phụng chỉ có một người con gái thôi, không có con trai. Năm 1975 đã có một người cả gan tự nhận là Vũ Trọng Khanh, con trai của Vũ Trọng Phụng đến gặp ông tại Sài gòn qua sự giới thiệu của một bạn văn của Hoàng Hải Thủy tên Phù Hư. Hoàng Hải Thủy lần đầu tiên (1975) nghe tên “Vũ Trọng Khanh” đã nghi ngờ rồi. Tháng 3 năm 2008 nhìn hình ảnh của ông “Vũ Trọng Khanh” trên màn ảnh Truyền hình SBTN thì Hòang Hải Thủy thấy ông này không phải là ông “Vũ Trọng Khanh” ông gặp năm 1975 (?)

Đồng thời, Luật sư Trần Từ Huyền, trưởng nam của luật sư Trần Văn Tuyên phải gởi cậy đăng trên nhiều báo chí Việt ngữ một “thư ngỏ” là gia đình ông không hề biết ông Vũ Trọng Khanh này; cũng như gia phả nhà ông không có dấu vết gì của me xừ Vũ Trọng Khanh. Đại tá Vũ Lăng quăng xứng đáng được nhận một bằng tưởng lục “Có cố gắng!!!”

Hu-ke Đặng Văn Củ Ấu: Cách đây khoảng 3 tuần lễ, có me xừ Hu-Ke Đặng Văn Củ Ấu (?) nào đó tôi không rõ (xin quí vị niệm tình tha lỗi cho bệnh lãng trí cấp tính của tôi) đã cho phổ biến rộng rãi trên mạng một lá thư cá nhân loại củ ấu trên các điễn đàn Việt ngữ nhằm mục đích “giải độc” cho “kép độc” Nguyễn cao cầy. Tôi xin trích nguyên văn 5-6 giòng đầu tiên của lá thư củ ấu như sau:

“Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, ngày 11 tháng 2 năm 2010

Thưa anh Nguyễn Ngọc Linh,

Lâu lắm mới nhận được email của anh. Hôm Giáng sinh vừa qua, tôi gửi email báo tin cho anh Bùi Diễm, anh Tôn Thất Thiện và anh hay rằng anh tôi – anh Đặng văn Châu – đã qua đời mà không thấy anh hồi đáp thì tôi nghĩ rằng anh có điều gì buồn phiền tôi…”

Mới đọc 3 giòng đầu của lá thơ thôi, bác củ ấu nhà ta đã quàng vào sơ sơ một lúc 3 cái tên lớn của Chính phủ VNCH: Nguyễn Ngọc Linh cựu Giám đốc Việt tấn xã, Bùi Diễm cựu Đại sứ Việt Nam tại Hoa kỳ, Bác sĩ Tôn Thất Thiện cựu Tổng Truởng thông tin… để đọc hù dọa độc giả… 3 người này chỉ là người trong nhà của củ ấu… đấy nhá! Mãi bây giờ bàng dân thiên hạ mới biết kích thước củ ấu nhà ta to cỡ nào? Oai thật!

Củ ấu còn khoe là chỉ có một mình củ ấu là biết là quen lớn với kép độc Nguyễn cao cầy; vì vậy chỉ có củ ấu mới biết được Hoàng gia Mã lai (?) đã phong cho Nguyễn cao cầy chức cà “Tủn.” Để làm bằng chứng cho cái danh vị cà “tủn” oai nghi này, bác củ ấu còn trưng một tấm ành của Nguyễn cao cầy trong sắc phục oai phong như một anh bồi khiêng hành lý ở khách sạn (bell boy). Danh giá thiệt!!! Đúng là cà tủn!!!

Tả pín lù

Bây giờ đang có một phong trào rất rầm rộ “nhận vơ” là họ hàng, con rơi, người tình… loại “cầm nhầm” các tên tuổi của các nhân vật nổi tiếng hoặc hòang gia, quí tộc…

Diêu Hương đã nhiều lần tuyên bố trong các buổi tiệc: Diệu Hương là “người yêu” duy nhất của Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn không lấy được Diệu Hương thì nhất định không lấy ai (?) Có người trong “circle” của Trịnh Công Sơn đã khai là Trịnh Công Sơn liệt… thì có lỡ yêu và lỡ lấy phải Diệu Hương cũng chỉ “rồi như đá ngây ngô” thôi chứ vinh quang gì mà vội hô hoán lên cho thiên hạ sợ???

Môt thi sĩ tài hoa Bùi HT nào đó gốc gác ở Đà lạt đã tự loan tin thi sĩ là “con rơi” của thi sĩ Bùi Giáng (?) “Con rơi” thì có gì vẻ vang danh giá đâu mà cũng cố gắng bắt quàng làm họ… Ngoài ra Bùi Giáng nghe đâu cũng liệt… như Trịnh Công Sơn thì lấy đâu mà nặn ra con rơi??? Give us a break!!!

Tôi có môt anh bạn tên Tôn Thất H. Thỉnh thoảng anh H. cũng nói nửa đùa nửa thật rằng anh là một hoàng thân của hoàng gia họ Nguyễn. Tình cờ tôi thấy trên giấy tờ là anh H. sinh quán ở Quảng Ngãi. Tôi hỏi đùa chọc quê anh H. là:

“Tại sao mày là giòng họ hoàng tộc mà lại sinh ở Quảng Ngãi?”

Anh bạn Tôn Thất H. trả lời là:

“Có gì mà ồn ào? Tại vì Vua đến thăm và ngủ lại ở Quảng ngãi chỉ có một đêm thôi à!”

Chỉ có một đêm thôi thì cũng chẳng nên “ cầm nhầm” làm gì.

Có cố gắng !!!

Trần Văn Giang (03/03/2010)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Sự Bình Yên

Một vị vua treo giải thưởng cho họa sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công.. Nhà vua ngắm tất cả những bức tranh, nhưng ông chỉ thích có hai bức, và phải chọn lấy một..

Trong hai bức tranh đó, một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ với những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng bồng bềnh, trôi lững lờ. Tất cả những ai ngắm bức tranh đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi, nhưng là những ngọn núi trần trụi và lởm chởm đá. Bên trên, bầu trời giận dữ đổ mưa như trút, kèm theo sấm chớp ầm ầm. Bên vách núi là dòng thác cuồn cuộn nổi bọt trắng xóa. Thật chẳng bình yên chút nào!

Nhưng sau khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Nơi đó, giữa dòng thác trút nước xuống một cách giận dữ, có con chim mẹ đang thản nhiên đậu trên tổ của mình, bên cạnh đàn chim con ríu rít… Bình yên thật sự…

“Ta chấm bức tranh này!” – nhà vua công bố. “Sự bình yên không có nghĩa là không ồn ào, không giận dữ. Bình yên có nghĩa là ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp, ta vẫn cảm thấy còn có sự yên tĩnh hiện diện trong trái tim mình. Đó mới là ý nghĩa thực sự của sự bình yên”.


…Có khi nào bạn cảm thấy thật cô đơn, mặc dù xung quanh bạn vô cùng ồn ào, náo nhiệt? Bởi vì bạn chẳng nhận được chút thân thiện nào từ đám đông ấy cả…

…Nhưng cũng có lúc bạn cảm thấy vô cùng ấm áp, hạnh phúc, dù bên cạnh bạn chỉ có một người? Đó là khi trái tim bạn vừa nhận được một tín hiệu thân thương từ người ấy – một người mà bạn vô cùng yêu mến…

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Mấy ai học được chữ ngờ _

Trịnh Hội


Có thể nói khoảng thời gian ấy là khoảng thời gian tôi cảm thấy khó xử và thương xót nhất mỗi khi phải gặp các anh. Từng cặp vợ chồng bước vào văn phòng gặp tôi để rồi phải nhìn nhau và chẳng biết phải nói sao nên lời.Chính phủ Úc, chính phủ Mỹ từ chối hồ sơ của tôi chỉ vì tôi có vợ, con Phi? Họ gặng hỏi. Đúng vậy. Tôi gật đầu trả lời.

Có thể nói khoảng thời gian ấy là khoảng thời gian tôi cảm thấy khó xử và thương xót nhất mỗi khi phải gặp các anh. Từng cặp vợ chồng bước vào văn phòng gặp tôi để rồi phải nhìn nhau và chẳng biết phải nói sao nên lời.

Chính phủ Úc, chính phủ Mỹ từ chối hồ sơ của tôi chỉ vì tôi có vợ, con Phi? Họ gặng hỏi.

Đúng vậy. Tôi gật đầu trả lời.

Và nếu bây giờ tôi không còn thương vợ tôi nữa, chúng tôi quyết định chia tay nhau thì hồ sơ sẽ ra sao?

Thì đương nhiên anh sẽ được đi. Một lần nữa tôi lại phải xác nhận một thực tế quá phủ phàng trước mặt người vợ Phi đã không còn kềm được nước mắt.

Nếu chưa có con cái thì câu chuyện còn có thể tương đối dể dàng cân nhắc (vì không có luật lệ nào cấm những đôi vợ chồng cũ tái hôn sau này nếu họ muốn!).

Nhưng nếu đã có hai, ba mặt con thì quả thật quá đau lòng.

Nếu bằng lòng cam tâm chấp nhận thực tế thì xem như cả gia đình, con cái ai cũng sẽ phải đối diện với một tương lai mù mịt. Vì tuy sinh ra ở Phi nhưng nếu cha là người Việt tỵ nạn thì các bé vẫn bị cho là người vô quốc gia, không phải là người Phi.

Nhưng nếu như họ quyết định chia tay để cho người chồng tự cứu mình đi trước thì… biết ra sao ngày sau?

Đến lúc ấy tôi mới hiểu được một phần nào nỗi khổ đau vò xé tâm can của những người vợ, người mẹ phải đành lòng cho chồng, cho con lên thuyền vượt biển xa gia đình, xa quê hương sau ngày Sài Gòn sụp đổ.

Một lần đi là một lần vĩnh biệt. Một lần đi mà chẳng biết đến khi nào mới gặp lại nhau. Lúc ba tôi lên thuyền vượt biển tôi chỉ mới được 9 tuổi. Làm sao tôi có thể hiểu rõ nỗi lòng của ông và mẹ tôi lúc ấy? Tôi đã phải đợi đến trên 20 năm sau mới cảm nhận được chút nào nỗi khổ đau của những người đi trước.

Và cũng là của những người đã chậm bước đi sau đang ngồi trước mặt tôi.
…

Đã có những đôi vợ chồng vì lẽ đó tình cảm đã bị sứt mẻ, phải chia tay nhau mãi mãi trong cảnh kẻ ở, người đi.

Cũng có những đôi vợ chồng cùng nhau quyết định cho người chồng đi trước để hứa rằng trong tương lai họ sẽ lại tìm đến nhau.

Nhưng cũng có những cặp vợ chồng đã quyết định cùng nhau ở lại có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chia. Nếu có chết họ cũng muốn ở gần nhau mãi mãi.

Lúc ấy đã có một số người, trong đó có tôi, nghĩ rằng họ đã hơi ngây thơ, không biết tự tìm cách cứu mình và cứu cả gia đình khi hoàn cảnh đã quá tuyệt vọng. Vì chính tôi là người đang đi vận động các nước để thâu nhận họ cũng không tin rằng phép lạ sẽ xảy ra.

Vậy mà nó vẫn xảy ra. Cách đây gần 3 năm về trước khi chính phủ Canada thay đổi chính sách và tuyên bố sẽ cứu xét tất cả mọi hồ sơ còn kẹt lại của những gia đình tỵ nạn chồng Việt vợ Phi.

Rõ là ở đời khó có ai biết được trước chữ ngờ phải không bạn?

Thế là một lần nữa chúng tôi đã gặp lại nhau. Nhưng lần này không phải là ở tại văn phòng của tôi ở Manila. Và cũng chẳng có ai phải rơi nước mắt. Lần đầu tiên chúng tôi đã có một buổi họp mặt ăn uống tràn đầy tiếng cười rộn rã và đã cùng nhau nghêu ngao hát karaoke đến 3, 4 giờ sáng ở Edmonton, quê hương thứ hai của họ.

Cảm ơn các anh em đã cho tôi có một đêm đáng nhớ. Và một bài học về tình thương yêu vợ chồng cho dù có gặp cảnh trái ngang

Post Reply