Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

NGỌC LAN, CÁNH HOA MONG MANH…
Tuần rồi có dịp xuống Orange County dợt nhạc, mình cố tình đi sớm hơn một tị, mua một bó hoa nhỏ ghé thăm Ngọc Lan.

Đầu tháng 3, Nam Cali hay có những cơn mưa nhỏ, trời thật buồn. Buồn như cái ngày nào mình đang lái xe freeway trên đường đến lớp mà nghe tin Ngọc Lan mất.
Khi ấy mình nhớ trời chiều xâm xẩm, mây vần vũ, đang lái xe trên cây cầu vòng cung mình thấy như cây cầu như chao đảo. Phải tấp vào lề để lấy lại bình tĩnh.
Mình bỏ buổi học ra biển ngồi tuy chương trình học đang rất nặng, bỏ buổi học 4 tiếng hôm sau có thể không bắt kịp với mọi người & có thể sẽ phải lấy lại lớp đó. Nhưng mình biết đi vô lớp mình cũng sẽ không nghe, không thấy gì…
Trời tháng 3 năm ấy cũng còn lạnh, lạnh lắm & thêm gió.
Mình với chiếc áo thung mong manh, co ro, nhưng mắt không muốn rời những cơn sóng. Không hút thuốc nhưng giá lúc đó có một gói thuốc, có thể mình sẽ liên tu hút vàng tay…
Nói mình khóc cũng không đúng. Mình không khóc với nước mắt, nhưng có một cái gì đó nghèn nghẹn trong ngực, ở ngay cổ. Hình như cái đó là khóc ở trong. Một cảm giác thật không dễ chịu lúc nào…
Buồn thật buồn…
Tại sao người tốt lại ra đi sớm đến như thế?
Thật sự, mình không gần với Ngọc Lan nhiều, nhưng qua những lần đi diễn xa chung với nhau, mình cảm được & biết cô là người hiền lành & tốt.

Nhớ lại, lần đầu tiên mình hát chung với Ngọc Lan, năm 89, ở phòng trà Mini Club, San Jose. Khi ấy chả ai biết mình. Còn Ngọc Lan thì đang nổi tiếng, nổi ghê lắm.
Ngọc Lan quên đôi bông tai. Dợt nhạc xong cô biến mất. Tới phiên mình dợt xong thì cô trở lại, xòe đôi bông tai mới sắm từ đâu đó, ướm lên tai & hỏi: “Don coi thử nhìn có hợp với Lan không?”. Dĩ nhiên đẹp. Khỏi hỏi, Ngọc Lan đeo gì mà chả đẹp!
Đêm diễn hôm đó thật đông khách. Ngọc Lan ngọt ngào tỏa sáng trên sân khấu. Cô sang trọng, quí phái & kiêu sa, nhưng có một cái gì đó cũng rất mong manh, dễ vỡ. Cô hát nhạc Tây, cô hát nhạc Việt, cô hát New Wave, nhạc gì cũng tuyệt. Khán giả đầy sàn chìm đắm trong tiếng hát của thiên thần không đôi cánh. Cô thân thiện nhưng cũng thật đứng đắn…

Rồi những năm sau đó, mình cũng dần bắt đầu được ít nhiều biết đến & cũng có thêm nhiều dịp diễn chung với Ngọc Lan. Cô vẫn giữ vững vị trí thần tượng hàng đầu của bao người & có phần nổi tiếng hơn trước.
Một lần diễn chung ở Winnipeg, Canada. Chỉ có mình & Ngọc Lan. Đêm đó rạp diễn không có phòng thay đồ. Ca sĩ kiếm chỗ đứng canh cho nhau thay trang phục sau những tấm màn sân khấu. Và dĩ nhiên là trong ánh sáng mập mờ của đèn màu sân khấu rọi vào, tối lắm! Lúc ra về, mình trở vô kiểm soát lại thì thấy đồ ai lỉnh kỉnh rớt tùm lum trên mặt đất. Lượm lên, nào vòng, nào áo, rõ ràng là đồ diễn, không phải đồ thường.
Mình đưa ra & hỏi. Cô cười tươi: “Ô, của Lan đấy, cám ơn Don nhiều lắm”.
Mình đâu biết khi ấy thị giác của Ngọc Lan đã sút do căn bệnh hiểm nghèo đang đeo theo. Nhưng quả thật những lần đi chung sau đó mình có để ý dùm cô hơn vì nghĩ có thể Ngọc Lan hay vô ý. Mà đồ diễn thì mắc tiền, có khi mất rồi có tiền cũng không kiếm lại được thứ mình thích nữa.

Một thời gian sau, Ngọc Lan lấy Mai Đăng Khoa, một người bạn cùng trong ban nhạc Boléro của mình. Đám cưới của hai người không xa hoa phô trương mà ấm cúng đầy thân mật. Mình mừng cho Khoa, cho Ngọc Lan. Cho 2 người có nhau. Mình bớt … khoảng cách, nhích gần lại Ngọc Lan hơn trước.

Ngọc Lan ngày càng bệnh hơn nhưng không ai biết, hay đúng hơn mình không biết… Có lúc Ngọc Lan vắng bóng trên sân khấu một thời gian ngắn không ai biết lý do. Mình cứ nghĩ cô muốn bớt trình diễn lại để giữ giá trị của mình hơn.

Khoảng năm 98, Ngọc Lan trở lại Âu châu sau 7 năm dân bên Âu Châu mòn mỏi yêu cầu.
Một loạt 12 shows diễn trong 14 ngày. Dĩ nhiên là mệt lắm. Âu Châu mà, những nước san sát nhau, không bay đâu vì vé mắc, chỉ có lái xe thôi. Hát ở thành phố này xong là khăn gói lên xe lái ngay tới thành phố khác. Nhiều khi 7, 8 giờ sáng mới tới, vô khách sạn ngủ được vài tiếng là lại phải dậy sửa soạn diễn tiếp. Giờ rảnh là phải “tranh thủ” ngủ lấy sức thôi, không ngắm cảnh ngắm kiếc gì cả.
Ca sĩ có khoảng 7, 8 người, toàn thứ gộc. Ngọc Lan là cái đinh kéo khách của chuyến đi đó vì khách Âu Châu mong đợi cô từ nhiều năm rồi. Anh Trịnh Nam Sơn nhận làm người điều khiển chương trình nên ban tổ chức yêu cầu anh phải hát đầu luôn.
Chẳng ai muốn hát đầu lúc khách chưa vào đủ, âm thanh chưa chỉnh hay. Anh Trịnh Nam Sơn hát đầu cho đến show thứ tư thì mình thấy kỳ kỳ, không công bằng, tuy anh không nói ra. Mình xung phong lãnh ra hát thế cho anh từ đó trở đi.
Tới show thứ 8 thì tới phiên mình mệt mỏi. Những người ca sĩ đi cùng có thể hát thế đỡ cho mình một. vài lần - nhưng ai cũng, hoặc không để ý, hoặc im rơ …lờ đi! Chẳng ai dại!
Show thứ 9, Ngọc Lan lên tiếng: “Thôi từ show này trở đi, Lan sẽ hát đầu cho. Don hát đầu như vậy đủ rồi!”. Rồi cô xăm xăm đi vào phòng thay áo & làm mặt. Mọi người ai cũng đuối lắm rồi. Ngọc Lan với căn bệnh trong người còn đuối hơn, cô vẽ mắt thật lem nhem. Lâm Thúy Vân & chị Hương Lan la lên: “Trời ơi, Ngọc Lan vẽ mắt kiểu gì vậy?” Rồi 2 người xúm lại chùi & làm mặt lại cho cô.
Và dĩ nhiên không ai để cô ra đầu. Cô là sự mong đợi của mọi người khách mà. Và dĩ nhiên mình lại ra đầu cho những show còn lại nhưng mình như khỏe hẳn lên. Mình cảm động, nhưng giữ trong lòng. Mấy show trước mình đỡ cho anh Trịnh Nam Sơn. Những show còn lại mình vui hẳn, coi giống như là mình đỡ cho Ngọc Lan vậy…

Càng về sau do ảnh hưởng của những loại thuốc, Ngọc Lan hay quên hơn trước. Có những lần đi qua máy rà ở phi trường, cô đi luôn, bỏ quên bóp lại. Đi về tay không, mất hết tiền show, mất luôn cả giấy tờ.
Bạn tôi, Khoa, nhờ tôi để mắt tới Ngọc Lan dùm trong những lần đi chung. Thế là tôi để tâm hơn.
Có những lần sau giờ diễn, Ngọc Lan & tôi ngồi nói chuyện vớ vẩn với nhau trong phòng vì Ngọc Lan sợ ma, không ngủ được. Tôi mệt quá ngủ gục. Khi thức dậy không thấy Ngọc Lan đâu, tưởng đã về phòng ngủ. Hôm sau mới biết Ngọc Lan đi kiếm người khác nói chuyện vì tôi ngủ mất, Ngọc Lan vẫn sợ ma nhưng không dám đánh thức…

Chuyến cuối cùng đi với Ngọc Lan lại ở Âu Châu. Chuyến này có Khoa - chồng - đi theo kèm. Ngọc Lan hát giọng xuống vì sức khỏe kém. Tin đã đồn ra ngoài là mắt Ngọc Lan yếu không còn thấy gì. Ở vài show đầu tôi tận mắt thấy vài khán giả vô ý thức đứng trước sân khấu quơ hai tay qua lại trước mặt khi cô đang diễn để xem cô có thấy không?
Xót xa… Tôi thấy.
Ca sĩ khác thấy.
Chắc Khoa cũng thấy. Nhưng hy vọng Ngọc Lan không thấy và không biết cho khỏi đau lòng…
Tôi lại càng bảo vệ & chú ý tới Ngọc Lan hơn tuy có Khoa ngay bên cạnh.

Show ở Đức, Khoa đứng trong thầm thì chỉ trước cho Ngọc Lan lối đi lên cầu thang sân khấu & chỉ những đống dây điện ngoằn ngoèo tối hù dưới đường đi để Ngọc Lan tránh. Ngọc Lan vẫn không thấy rõ. Hai người tiến dần ra ngoài vùng sáng hơn. Khán giả chú ý, bắt đầu chỉ chỏ cho nhau. Hai người không để ý vẫn thầm thì chỉ nhau. Khán giả cũng rì rầm xôn xao… Tôi tiến vội ra & khẽ nhắc Khoa lùi lại vào trong chỗ tối hơn. Khoa gay gắt nạt tôi tại chỗ, nói chuyện của Khoa để Khoa lo. Ơ hay, khi trước Khoa nhờ tôi để ý tới dùm mà??? Thế là tôi giận vì ý tốt bị hiểu lầm, bỏ ngay vào trong, kệ 2 người với nhau.
Nghe nói đêm đó hát xong, Ngọc Lan hấp tấp chạy vào té xõng xoài trên đống dây điện. Tôi hối hận….
Image
Cuốn CD đầu tôi hát cùng Ngọc Lan cho Ngọc Lan Musique - “Những Lời Mê Hoặc”, Khoa hòa âm & thâu âm luôn. Tôi không biết làm sao Ngọc Lan thâu được. Chắc là lâu & cực lắm vì không thấy rõ thì làm sao đọc được bài hát! Phải học thuộc một đống bài như thế mà thâu thì ngay cả khỏe mạnh như tôi chắc cũng mất khá nhiều thời gian.
CD này được đón nhận bao nhiêu tôi cũng không biết & cũng không hỏi.

Khoa hỏi tôi giúp cuốn CD thứ hai. Tôi cũng đồng ý ngay, không cần suy nghĩ. Cái gì tôi cũng giúp được mà nói chi … thâu băng, tuy lúc ấy tôi đang độc quyền giọng hát với Trung Tâm Thúy Nga. Tôi vì bạn làm liều. Mà cũng may Thúy Nga làm lơ bỏ qua dùm. Thủy, Thi của Thúy Nga cũng là bạn của Khoa, tôi nghĩ họ cũng muốn giúp không bằng cách này thì bằng cách khác. Chứ không thôi lúc ấy tôi đã … mất việc rồi .

Một tối tới thâu, hiếm hoi gặp Ngọc Lan đang ngồi trong phòng khách. Khoa đặt tay lên vai khẽ nói: “Lan, Don đến nè”. Ngọc Lan quay lại nhìn. Người thì ở đó mà ánh mắt ở …đâu đâu! Dường như Ngọc Lan không còn nhận ra tôi. Cô cười vu vơ. Nước mắt tôi bỗng rươm rướm. Tôi quay vội mặt đi, giả lả chào rồi dục Khoa lên thâu không thôi hết giờ. Tôi không muốn Khoa thấy, cũng không muốn Khoa bẽ bàng…
Bài thâu đêm đó cũng thật buồn. Bài “Tình Buồn Chinh Chiến” nhạc Pháp do Thảo, em gái của Ngọc Lan dịch. Tôi không khóc trong nước mắt, tôi khóc trong câu hát. CD thứ hai không bao giờ ra. Ngọc Lan không còn thâu được nữa!

Và đó cũng là lần cuối cho tới khi tôi tới thăm Ngọc Lan trong phòng thăm của nghĩa trang Peak Family. Hình như gia đình muốn dấu tin Ngọc Lan mất nhưng tin vẫn bị xì ra ngoài với tốc độ chóng mặt. Người ra vô thăm lần cuối nườm nượp. Người thân có. Fans của cô có. Cả những người tò mò cũng có luôn.
Tôi ngồi xa xa với Ngọc Lan cả buổi, cũng chú ý tới Khoa để coi bạn mình có gì cần giúp đỡ.

Ngày chôn cô cũng đông nghẹt người viếng. Lại có cả …quay video….
Chúng tôi, một nhóm bạn đứng xa xa. Tới lúc quan tài cô được hạ xuống huyệt, đất được lấp lên. Chiếc xe xúc đất gầm máy, dộng rầm rầm trên huyệt để nện đất xuống cho chặt thì không ai còn kềm được, bật khóc nức nở…
Người nhà cô gào lên. Bố mẹ cô như muốn xụm xuống thật tội…
Tại sao cái xe ấy không chờ cho tới lúc chúng tôi về hết rồi hẵng làm việc ấy nhỉ??? Chúng tôi còn xót như thế thì người nhà của cô còn đau tới mức nào?!!

Nhưng rồi mọi việc cũng xong. Sau đó một lần, tôi ghé viếng. Khi ấy bia mộ bằng đá đen có in hình Ngọc Lan cũng đã được đặt tại chỗ. Đây đó cũng có những bó hoa ai mang tới.

Đời sống vẫn trôi. Bận rộn & bận rộn… Cho tới hôm này cũng đầu tháng 3, tôi không còn nhớ chính xác ngày giỗ Ngọc Lan, nhưng nhớ khoảng khoảng thời gian này. Tôi mò lại nghĩa trang “Chúa Chiên Lành” để thăm cô. Tôi nghĩ nhắm mắt cũng vẫn kiếm được mộ nhưng đã lầm to! Ở Cali, mộ bịa gắn ngay trên mặt đất, ai cũng giống ai, ai cũng một miếng đá bằng nhau chỉ có khác tên.
Bối rối… Số điện thoại của Khoa tôi cũng mất sau vài lần Khoa đổi số!
Tôi nhớ có con dốc nhỏ & cái cây nghiêng nghiêng gần mộ… Nhưng bây giờ chỗ có dốc thì lại không có cây! Chỗ có cây lại không có dốc!
Thôi thì chỗ nào có cây là tôi dừng xe và đi dọc kiếm tìm.
Từng hàng mộ bia thẳng tắp nối nhau. Trời mới mưa hôm qua nên có những bia mộ bị cát văng lên che hơn nửa. Cũng có nhiều bia mộ bóng loáng không một hạt cát, chắc người nhà mới đến thăm & quét dọn.
Nhiều tên người Việt Nam thật. Nhiều người lớn tuổi & cũng không ít những người thật trẻ. Mọi người đều nằm chung với nhau trong một không gian thật yên bình. Tôi tìm mãi không ra tên Lê Thanh Lan. Thật sự có khấn trong lòng nhờ Ngọc Lan chỉ đường cho tôi kiếm ra, nhưng… không may mắn.

Kiếm mãi hoa mắt & cũng gần tới giờ tôi có hẹn dợt nhạc, tôi gởi bó hoa ở trên mộ bia của một em gái nhỏ. Tôi gởi để cho mộ bia em có thêm màu sắc cho em vui thêm tí thôi, hy vọng em thông cảm!

Trời cũng bắt đầu chập choạng tối, tôi lái xe ra khỏi nghĩa trang thầm gởi lời tạ lỗi tới Ngọc Lan. Một ngày rất gần tôi sẽ tới sớm hơn & kiếm Ngọc Lan cho bằng được. Tôi sẽ kể cho Ngọc Lan nghe về sự tiếc thương & yêu thương của rất nhiều người đến Ngọc Lan mà tôi đã nghe được. Chắc Ngọc Lan sẽ rất hạnh phúc lắm, đã bao nhiêu năm rồi mà cô còn được bao nhiêu người yêu mến & nhắc nhở. Tiếng hát của cô vẫn làm bạn đồng hành của bao nhiêu người….
Mà nhiều khi chẳng cần tôi kể Ngọc Lan cũng đã biết trước từ lâu rồi. Đâu phải chỉ mình tôi mới đi thăm Ngọc Lan đâu. Có biết bao nhiêu người có khi còn đi thăm Ngoc Lan hàng ngày đó chứ…

Hạnh phúc quá há Ngọc Lan. Người ca sĩ chỉ mong được có thế…

Don Hồ

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Kỹ Nghệ Nuôi Cá Hồi Của Cộng Sản VN Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá chốt, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.
Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời… tha phương cầu thực.

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới. Mạng lưới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu đem con bỏ chợ, để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chước. Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân trôi sông lạc chợ này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô la, hay nhiều hơn nữa.

Tuổi Trẻ Online, đọc được vào ngày 7 tháng 1 năm 2010, cho biết: “Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31-12-2009 kiều hối chuyển về đạt 6,283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Riêng tại TP.HCM, kiều hối năm 2009 đạt 3,2 tỉ USD. Như vậy, kiều hối đã không giảm mạnh do suy thoái kinh tế như dự báo trước đó.”

Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.
Thiệt khoẻ!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Huy Chương Tham Nhũng

Trần Khải


Các viên chức Việt Nam đã tham nhũng cỡ nào? Đối với bản thăm dò mới phổ biến hôm Thứ Hai, nhà nước Việt Nam được huy chương đồng tham nhũng Châu Á. Nghĩa là, đứng hạng thứ ba.
Bản tin Reuters hôm Thứ Hai 8-3-2010 cho biết Indonesia đứng đầu tham nhũng trong bản thăm dò thực hiện bởi cơ quan Political & Economic Risk Consultancy, có trụ sở chính ở Hồng Kông. Thăm dò thực hiện nhắm vào 16 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương đối với cộng đồng giới đầu tư. Nghĩa là, dưới mắt những người ôm tiền vào các nước này đầu tư.
Bản tin Reuters viết rằng Indonesia đoạt huy chương vàng tham nhũng, điểm là 9.07 trên 10 điểm, theo bản thăm dò 2010, tăng từ 7.69 điểm hồi một năm về trước.
Bản thăm dò khảo sát 2,174 nhà lãnh đaọ doanh nghiệp cao cấp và trung cấp tại Châu Á, Châu Úc và Hoa Kỳ.
Cam Bốt đoạt huy chương đồng tham nhũng, nghĩa là nhiều hạng nhì, sau đó là Việt Nam, rồi Phi Luật Tân, Thaí Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Mã Lai, Đaì Loan, Nam Hàn, Macao, Nhật Bản, Mỹ, Hồng kông, Úc Châu và -- được kể là ít tham nhũng nhất -- là Sinagpore.
Vậy rồi ai có thể chống tham nhũng? Một bà cụ ở Hà Nội, được chính phủ CSVN ca ngợi là có nhiệt tâm và quyết tâm đã chống tham nhũng tuyệt vời hơn cả Tổng Cục Chống Tham Nhũng (nếu có cơ quan nào như thế) lần naỳ không nghe ai nhắc gì tới. Có thể là bà cụ đang “tàng hình nơi các mỏ bô xít và rừng đầu nguồn” để xem có quan chức nào nhận tiền hối lộ để bán rừng, bán mỏ?
Điều chúng ta vẫn luôn luôn thắc mắc là vì sao mấy năm trước, chính phủ vinh danh một bà cụ ngồi viết thư tay để tố tham nhũng, trong khi laị tống giam hai nhà báo đã khui ra vụ tham nhũng PMU 18?
Nếu bạn đọc còn nhớ, vào tháng 10-2008, hai phóng viên của tờ Thanh Niên, Nguyễn Việt Chiến và Tuổi Trẻ, Nguyễn Văn Hải đã ra tòa với tội danh ''lợi dụng quyền tự do dân chủ '' vì đã tham gia điều tra về vụ tham nhũng PMU 18. Nhà báo Nguyễn Việt Chiến đã bị tuyên án 2 năm tù giam, còn Nguyễn Văn Hải được trả tự do, nhưng bị phạt hai năm cải tạo. Phiên xử này đã bị các tổ chức nhân quyền quốc tế và các chính phủ phương Tây cực lực chỉ trích.
Còn trường hợp khổng lồ kiểu như con voi giữa nhà: Huỳnh Ngọc Sĩ bị tòa án Nhật chỉ đích danh là ăn tiền đầu tư ODA gần cả triệu đô la, bây giờ vẫn chưa thấy tòa án Việt Nam nào xét xử. Vụ này được đài RFI mô tả trong một bản tin năm 2008 là, chính các quan chức của công ty Nhật Bản đã hối lộ cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ, giám đốc Ban quản lý dự án Đại lộ Đông Tây, để nhận được các hợp động tư vấn cho dự án này. Tổng số tiền PCI hối lộ cho ông Huỳnh Ngọc Sĩ lên tới lên tới 820 ngàn đôla. Phía Nhật đã bắt bốn cựu quan chức của PCI liên quan đến vụ hối lộ này. Vấn đề ở chổ là vụ án đã được báo chí Nhật Bản đăng tải từ tháng 6-2008, nhưng mãi đến tháng 11-2008, phía Việt Nam mới có phản ứng bằng cách đình chỉ công tác ông Huỳnh Ngọc Sĩ ''để phục vụ điều tra''.
Rồi còn vụ Lương Ngọc Anh được báo Úc chỉ đích danh là thân tín của Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ăn tiền để móc nối in giấy bạc nhựa polymer cho cả nước VN xóa sổ tiền giấy cũng êm luôn.
Trong khi đó, chính Báo Đất Việt cũng từng ghi nhận qua bài “Việt Nam: Chung sống với tham nhũng để được việc” rằng tham nhũng là cái giá để cho được việc.
Có nghĩa là giá để bôi trơn. Baó naỳ lúc đó viết là có tới 96% các doanh nghiệp Việt Nam đang chấp nhận chung sống với tham nhũng miễn sao “được việc” trong kinh doanh, theo kết quả thăm dò thực hiện bởi tổ chức kiểm toán hàng đầu thế giới Ernst & Young công bố tại Hà Nội.
Lúc đó, báo Đất Việt kể, là cuộc khảo sát gian lận trên toàn cầu lần thứ 10 (chu kỳ hai năm) được Ernst & Young tiến hành với 1.186 cuộc phỏng vấn lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp ở 33 quốc gia năm 2008, trong đó có Việt Nam.
Theo đó, có tới 96% các doanh nghiệp Việt Nam được phỏng vấn đã từng có liên quan đến việc hối lộ hay tham nhũng trong vòng hai năm trở lại đây. Tỷ lệ này gần gấp đôi mức trung bình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và gấp gần bốn lần mức trung bình toàn cầu.
Thôi thì, xem như trời mưa, trời nắng vậy, có nên chăng?
Không thấy ai đo được chính xác là khi biển, rừng, và mỏ đã bốc hơi kèm theo các khoản tiền tham nhũng, rồi dân tộc mình và các thế hệ sau sẽ còn lại gì?
Nhưng tại sao thế giới không tổ chức lễ trao huy chương tham nhũng? Nên thấy, cũng khó mà lấy huy chương đồng tham nhũng như chính phủ Hà Nội làm được, đã phải qua mặt biết là bao nhiêu chính phủ khác...

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Hạt ngọc quý của nhân dân

Image
Luật Sư Lê Thị Công Nhân tại nhà sau khi ra khỏi tù Thanh Hóa. (Hình: nuvuongcongly.net)
Bùi Tín

Xuân Canh Dần, một tin vui nữ luật sư trẻ Lê thị Công Nhân được trả tự do sau đúng 3 năm tù giam.

Ðiều trớ trêu là chế độ giăng khắp nơi khẩu hiệu “không có gì quý hơn Ðộc lập Tự do” lại bỏ tù một nữ thanh niên chỉ vì cô quyết đòi tự do cho dân tộc mình, cho nhân dân mình. Còn được nhớ mãi lời tuyên bố của cô luật sư trẻ, “Tôi quyết đấu tranh đòi nhân quyền cho bản thân tôi để từ đó đòi quyền sống tự do cho toàn thể nhân dân ta; cho dù chỉ còn một mình tôi, tôi cũng không bỏ cuộc.”

Nếu như những người lãnh đạo cũng thật lòng tôn trọng tự do của nhân dân, cô Luật Sư Công Nhân ắt sẽ được trọng dụng để cùng phục vụ xã hội, để nhân dân được hưởng tự do về mọi mặt, nhất là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do ứng cử và bầu cử, tự do tôn giáo, hiện đang quá hiếm hoi, còn là trái cấm trong một xã hội đội lốt cách mạng.

Một luật sư có công tâm, có trình độ - cô là thành viên của Ðoàn Luật Sư Hà Nội, cũng là hội viên Hội Luật Sư Quốc Tế - có tâm huyết, là một nhân tài đặc biệt, một hạt ngọc hiếm của xã hội, sao lại có thể bị bỏ tù suốt 3 năm trời, với một lời kết tội không sao giải thích nổi vì thiếu bằng chứng hiển nhiên, “âm mưu lật đổ chính quyền” (!).Chỉ có một chính quyền mất tự tin, luôn lo sợ trước sự khinh thường và phẫn nộ của nhân dân, mới có cách xử sự mù quáng, vùi dập hạt ngọc quý hiếm của dân tộc xuống tận bùn đen bất công như vậy.

Hôm nay, hạt ngọc quý trở về trong bàn tay thương yêu quý mến của toàn dân. Tất cả lực lượng đấu tranh cho tự do và dân chủ ở trong và ngoài nước hồi hộp dang tay đón cô Luật Sư Lê Thị Công Nhân vào lòng mình, trong nụ cười mở rộng và trong nước mắt thương yêu.

Chúng ta đau lòng vì không đủ sức bảo vệ cô khỏi tù đày lâu đến 3 năm!

Chúng ta lại vui, rất vui, rất mừng vì cô đã trở về, trở lại hàng ngũ đấu tranh giữa lúc lực lượng đấu tranh cho dân chủ tự do đã nhân lên nhiều lần, với khí thế đấu tranh cũng vững mạnh hơn so với lúc cô vào tù.

Cô sẽ rất vui khi biết rõ có biết bao nam nữ luật sư đã trước sau cùng cô dấn thân cho công bằng xã hội. Ðó là lão tướng luật gia Trần Lâm hơn 80 tuổi từng là thẩm phán tòa án tối cao, Luật Sư Lê Trần Luật gắn bó với nỗi oan ức của nông dân bị cướp đất, Luật Sư Trần Ðình Triển vừa làm một cuộc phá án ngoạn mục ở Hà Giang phơi bày bộ mặt dâm ô súc vật của bọn quan chức CS đầu tỉnh từng dùng một tên hiệu trưởng trùm ma cô để hòng biến các em nữ sinh ngây thơ làm bầy nô lệ tình dục, và nổi bật là Luật Sư Cù Huy Hà Vũ quyết dùng vũ khí pháp luật để kiện người đứng đầu chính phủ vì thảm họa thảm khốc môi trường bùn đỏ có thể gây ra cho đất nước trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Cô sẽ rất vui khi giới trí thức mà cô là một thành viên ưu tú đã có cả một mạng Bauxite VN bất khuất, có 20 triệu lượt độc giả, với lực lượng tham gia công khai danh tính là hơn 4 ngàn nhân vật - giáo sư, kỹ sư, luật sư, bác sĩ, nhà nghiên cứu, xã hội học, văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà kinh doanh. Tôi dự đoán cô sẽ sớm ghi tên mình vào bản kiến nghị tâm huyết chống khai thác bauxite, nhân danh một luật sư vừa được trả tự do, tăng thêm uy thế cho tập thể, cũng tạo thêm thế mạnh cho cá nhân mình khi gắn bó với tập thể, điều mà chính quyền quay lưng với nhân dân rất lo ngại.

Cô Lê Thị Công Nhân sẽ nhận rõ những sự thật cô bị họ che giấu suốt trong 3 năm tù. Ðó là thái độ “hèn với bành trướng, ác với nhân dân” qua những phiên tòa xử 17 chiến sĩ dân chủ mới đây. Ðó là thêm hàng chục tàu thuyền với gần một trăm ngư dân ta bị bọn bành trường bắt giữ, đánh đập, sỉ nhục, phá hủy ngư cụ, đòi tiền chuộc... ở ngay trên vùng biển của ta, nhưng nhà cầm quyền chỉ phản đối nhẹ nhàng, cho qua chuyện.

Cô sẽ thấy chính những ông tướng cộng sản Ðồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh đã đứng về phía nhân dân và dân tộc tố cáo hiểm họa bán đất bán rừng cho bọn bành trướng.

Rồi những vụ Thái Hà, vụ Bát Nhã, vụ Tam tòa, vụ Ðồng Chiêm... chính quyền huy động cảnh sát, công an, kết hợp với bọn lưu manh xã hội đen “làm chiến tranh một phía với dân thuộc mọi tôn giáo,” có thể gọi là một kiểu chiến tranh chống nhân dân, có súng, có đạn, dùi cui, lựu đạn cay, có chó berger, có thuốc nổ của quân đội để nổ tan Thánh giá, trước đây chưa từng có.

Cô Lê Thị Công Nhân sẽ tận mắt thấy rõ xã hội có vẻ giàu sang hơn, nhà cao cửa rộng hơn, nhưng thực chất đạo đức suy đồi, xã hội băng hoại từ trên xuống, bất công ghê gớm là đặc điểm nổi nhất, kẻ cầm quyền trên cao giàu sụ gấp trăm lần đại địa chủ, tư bản thực dân, vua quan thời xưa. Có nhà quan sát nước ngoài nói “đây là chế độ 1 người làm việc, 9 người phá của.” “ngân sách - do tài nguyên và vay mượn - bị xà xẻo, chia chác vô tội vạ như nông dân làm thịt con bò,” “ thị trường tự do định hướng XHCN là ghép cái xấu nhất của chủ nghĩa tư bản là chạy theo siêu lợi nhuận bất cứ giá nào kể cả tội ác với cái xấu nhất của CNXH là nền chuyên chế tàn bạo độc đảng; trong khi đó loại bỏ cái tốt đẹp nhất của chủ nghĩa tư bản là cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật, cơ hội đồng đều cho mọi công dân, đồng thời loại bỏ cái đẹp nhất của CNXH là mong muốn hạn chế và loại bỏ bóc lột.” Thành ra một quái thai xã hội đầu Ngô mình Sở, không ra cái mô hình gì.

Giới cầm quyền độc đảng dùng nhà tù để ra oai và đe dọa. Nhưng nhiều chiến sĩ dân chủ khi vào tù cho đến khi ra tù lại kiên định hơn xưa. Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Bùi Minh Quốc, Phạm Quế Dương, Dương Thu Hương, Hà Sỹ Phu, Lê Hồng Hà, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khuê, Nguyễn Văn Lý,... là những dẫn chứng rõ rệt nhất.

Cộng đồng người Việt ở Paris cách đây 2 năm từng tiếp đón bà Trần Thị Lệ, mẹ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, với tình quý mến sâu sắc nhất. Bà từng kể khi sinh ra cô, ba má cô đã cân nhắc đặt tên là gì, chọn tên những bông hoa thơm, để cuối cùng chọn tên có ý nghĩa cho xã hội, chọn 2 chữ Công và Nhân, với nghĩa là Công bằng và Nhân ái. Công bằng trong xã hội và Nhân ái giữa con người. Bà má tin yêu cô con gái của mình không kể xiết. Từ Paris bà còn sang Bỉ để nói chuyện cho các giới chức Nghị Viện Châu Âu hiểu rõ về trường hợp con gái bà và đánh động lương tri thế giới.

Cô Công Nhân, hạt ngọc hiếm quý của nhân dân, của dân tộc càng thêm rực sáng sau 3 năm thử thách trong nhà tù cộng sản.

Cầu mong cô Công Nhân mau hồi phục sức khỏe, tận hưởng niềm vui trở về trong lòng Má thân thương, giữa bạn bè quý mến ngày càng đông đảo.

Hãy giữ vững niềm tin: Công Bằng và Nhân Ái mà cô mang tên sẽ được thực hiện trên quê hương Việt Nam ta, qua con đường của Tự do và Dân chủ.

Có món quà nào quý hơn cho cô nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cho nữ giới nước ta là tự do cho cô được dành lại ngay trước ngày Phụ nữ Quốc tế 8-3, cùng với dịp kỷ niệm cuộc nổi dậy của 2 Bà Trưng.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Bún Bò Huế

Image

Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế”. Kiểu Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng.. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!”(Lê Văn Lân dịch).

Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế... mà tên người lại dài lướt thướt như mái tóc mây dài chấm gót: Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành, Tôn Thất Quỳnh Phương... Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn” như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha. Cái dấy loạn bão liệt nhưng nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh thâu le lói ở phương nào.

Tô bún bò Huế cũng là một biểu hiện của văn hóa Huế vì đây cũng là một sự “dấy nghĩa” trong truyền thống nấu ăn khi cho bò nổi heo chìm trong cùng một nồi, trộn lẫn hai tính chất mâu thuẩn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” thành một thể hài hòa. Huế đã dùng sả để “chuyên trị” thịt bò chứ không dùng ngũ vị hương để chuyên trị như truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và miền Bắc. Tô bún Huế mang hưong vị “rất Huế” để mà cảm nhận và thưởng thức như cảm nhận và thưởng thức mùi khói sóng buổi chiều trên sông Hương. Tự nhiên như: “Nó ngon thì tại nó ngon. Có chồng thì phải nuôi con, thờ chồng”. Cái dễ giận nhất của người Huế là "mình cảm thấy..." mà không cần lý luận. Bởi vậy, hình như càng đem lý tính để phân tích các món ăn Huế, cái hiểu về hương vị thực tế càng xoải cánh bay xa...

Bún Bò Huế. Ai ở xa nghe như thể Huế là vùng đất thổ sản của bò, giống miền Nam Mỹ Texas . Thật ra, tìm một trại bò trên đất Huế cũng khó như tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Tô bún bò Huế cũng là phản ánh cái tham vọng thu nhỏ của người Huế vì muốn dùng cái “lượng” giới hạn để đạt tới cái “phẩm” vô cùng. Bởi vậy, ngoài những chất liệu cay chua ngọt bùi của trần gian, tô bún Huế còn được “nêm” thêm ít nhiều gia vị vô hình của cái tâm chủ quan và cái linh của hoàn cảnh Bà Bún.

Suốt cả thời thơ ấu, tôi sống ở làng, quanh năm chỉ có “Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên...” là đẹp nhất.
Hàng năm, sau dịp Tết, người trong làng lại bắt đầu chuẩn bị lễ đầu năm. Mẹ tôi lễ vào ngày 19 tháng giêng để kịp ngày 20 đi coi giò gà và dự lễ tế Bà Bún tại làng Vân Cù.

Mỗi năm, tôi được ăn bún khá nhiều lần nhưng hai lần trọng đại nhất và ngon nhất là trong dịp lễ đầu năm của mẹ tôi và trong ngày lễ tế Bà Bún tại Vân Cù.

Làm sao tôi quên được những buổi sáng hai mươi tháng giêng. Từ sáng tinh mơ còn lạnh cóng, mẹ tôi đã cẩn trọng nhúng bộ giò gà khô queo trong tô rượu trắng, gói trong giấy bổi, lâm râm cầu nguyện rồi chuẩn bị lên đường bói quẻ đầu năm.. Tôi là con trai út, nên được thương nhất nhà và thường bị gọi là “cái đuôi của mạ” vì mẹ tôi đi đâu tôi cũng lon ton dòi chạy theo.

Sau vụ coi giò gà tại nhà thầy Kiên ở Hương Cần thì mặt trời đã lên quá đọt tre. Mẹ tôi tiếp tục cuộc hành hương cuốc bộ đầu năm về làng Vân Cù. Từ Hương Cần về Vân Cù phải qua một cánh đồng lúa rộng, tôi phải chạy lúp xúp theo mẹ mướt mồ hôi, mặc dầu trời tháng giêng trên quê tôi lạnh đến nỗi “giêng hai cắn tay không ra máu!”. Sau nầy tôi bỗng khám phá ra thêm một bí mật về cái ngọn tuyệt vời của bún xáo Vân Cù trong ngày lễ Bà Bún một phần cũng là do cánh đồng trống nầy vì vượt qua cho được dặm trường thiên lý nầy thì cái bụng đã trống trơn.


Image

Muốn nói đến Bún Bò Huế thì đừng quên trước hết phải nói đến con bún, vì tô bún là một tổng hợp hài hòa giữa con bún và nước bún. Thiếu một trong hai là kể như có Adam mà không có Eva, có Phạm Lãi mà thiếu Tây Thi! Và, nói đến con bún Huế thì không thể không nhắc đến chiếc nôi của bún là làng Vân Cù.. Làng Vân Cù nằm cạnh sông Bồ, là con sông ăn thông với sông Hương qua nhánh sông Đào. Vân Cù cách Huế chừng 10 cây số về phía Tây Bắc. Từ xưa, Vân Cù là lò bún tập thể cung cấp bún cho cả Huế, Thừa Thiên, ra tới Quảng Trị và có khi vào đến Quảng Nam, Đà Nẵng. Hầu hết người làng Vân Cù tuy sống về nghề nông nhưng ai cũng có lò bún trong nhà.


Cũng như rất nhiều nghề thủ công khác ở Huế như nghề Thợ Rèn ở Làng Hiền Lương, nghề Đan Thúng Mủng ở làng Bồ La, nghề Thợ Vàng ở làng Kế Môn, nghề Nuôi Tằm ở làng Dương Sơn, nghề Chằm Nón ở làng Hương Cần, nghề Đan Nôi Bội ở làng Liễu Hạ, nghề Gạch Ngói ở làng Nam Thanh... nghề Làm Bún ở làng Vân Cù là một công việc làm ăn truyền thống và độc đáo riêng của từng đơn vị sản xuất gia đình trong làng, có tính cách cha truyền con nối từ đời nầy qua đời khác.. Tất cả dây chuyền sản xuất đều làm bằng tay với những dụng cụ thô sơ, nhưng thành phẩm thường đạt đến mức tinh luyện mà người khác làng khó lòng bắt chước nổi.



Thủy tổ của nghề làm bún tại Vân Cù là một bà, tục gọi là Bà Bún. Thời gian đã xoá nhòa danh sách của những người muôn năm cũ nên chẳng còn ai nhớ tên thật của Bà Bún. Trong những câu chuyện dân gian truyền miệng về cuộc đời của Bà Bún, tôi còn nhớ mãi chuyện kể của bác Cửu Am với mẹ tôi rằng:


Vào một thời xa lắc xa lơ, khi có những người Đàng Ngoài theo chân chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, có một nhóm người đến định cư trong vùng những Tháp Chàm cổ xưa đã đổ nát nên sau này có tên là làng Cổ Tháp, thuộc huyện Hương Điền. Trong số đó có một người thiếu nữ đẹp, có lẽ cũng mắt lá răm, môi cắn chỉ, má lúm đồng tiền... nên rất được nhiều người mến chuộng. Trong lúc mọi người chuyên sống bằng nghề canh tác làm ruộng thì người thiếu nữ nầy miệt mài chuyên nghề làm bún. Bún nàng ngon quá hay vì nàng xinh quá mà làm cho bao người ăn quên cả đường về. Rượu không say bún say mới ngại... Vì vậy nên nhiều người ganh tỵ. Rồi một dạo dân trong vùng bị mất mùa liên tiếp 3 năm. Người ta cúng, tế cầu thần linh cứu giúp. Gặp cơ hội nầy, kẻ xấu bụng tung tin rằng, mất mùa là do thần linh quở phạt vì Cô Bún đã đem gạo là “hạt ngọc của Trời, phơi mao ngậm sữa” ra mà ngâm, mà chà, mà xát, mà nghiến nát ra để làm bún. Thế là nhà nông bắt đầu nổi giận. Hội Đồng Thị Tộc của làng họp bàn và ra lệnh cho Cô Bún phải bỏ nghề làm bún hay sẽ bị trục xuất ra khỏi làng, nhưng Cô Bún quyết sống chết với nghề nên chấp nhận ra đi.


Vì bản chất hiền lương và thuần hậu nên Cô Bún được làng ban ân cho phép chọn lựa hướng đi và cử năm người thanh niên mạnh nhất trong làng theo áp tải. Mỗi thanh niên sẽ cõng cái cối đá làm bún của Cô đi một chặng đuờng cho đến khi mệt đuối sức thì người khác tới thay cho đến hết người thứ năm là vùng đất mới của Cô Bún. Cứ thế, đoàn người đi về hướng Đông cặp theo sông Bồ không nghỉ. Nơi người trai làng thứ năm khuỵu xuống với cái cối đá trên vai là làng Vân Cù sau nầy. Nơi đây đã trở thành “đất lành chim đậu” cho Bà Bún lập nghiệp và truyền nghề làm bún đời đời qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của đất nước và dân tộc..


Người ta thường ví von “mềm như bún” nhưng cái mềm Đông Phương lại là cái dẻo dai bền bỉ để sống còn trên bước đường vạn dặm. Thân gái dặm trường, Bà Bún đã vượt Hoành Sơn vào Huế. Chim đã về núi, Bà đã về đất nhưng Bún Huế vẫn còn tươi rói với nhân gian như có người đã hát nửa chơi, nửa thiệt: “Hoành sơn nhất đái chim về cội. Vạn đại dung thân đọi bún bò”.


Một “xưởng bún” điển hình ở làng Vân Cù thường bao gồm một cái xay để xay bột, một cái cối có chày đạp, lò nấu , chảo lớn, rây bột, khuôn bún và một số dụng cụ để khuấy, vớt, đong, đựng bột và bún trong từng chặng đường sản xuất.


Từ hột gạo măng tơ biến ra con bún nõn nà cũng phải cần đến bàn tay, không phép mầu nhưng cũng phải khéo léo và cần cù, của bà tiên lao động. Sợi bún bắt đầu từ hột gạo. Gạo trắng ngâm nước lạnh qua đêm sẽ “mục” ra và được đem xay hay giã nhuyễn thành bột. Tiếp theo, bột gạo được “rây” để lọc ra phần mịn nhất tinh bột của gạo. Bột gạo nguyên chất được rưới nước sôi để nhồi thành một khối bột gọi là “trái bột”. Trái bột gạo được luộc chín sơ, rồi vớt ra và đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ cứ 30 lon gạo (khoảng 10 ki-lô), trộn với 2 ki-lô bột lọc. Tổng hợp bột gạo và bột lọc nầy lại được giã, trộn rất nhuyễn cho tới khi trái bột đạt tới mức “vừa dai, vừa dẻo” là đuợc. Giai đoạn cuối cùng là khối bột mượt mà và dẻo quẹo được đưa vào khuôn bún. Dưới sức ép, những đường bột tuôn ra theo lỗ đục sẵn dưới đáy khuôn bún, rơi vào nồi nước sôi và chín thành bún. Bún được vớt ra, xả sạch với nước lạnh và sẵn sàng để ăn.


Bún tự nó đã là một món ăn thanh đạm của người Huế, nhất là vùng quê. Bún Vân Cù được làm ra dưới ba hình thức: Bún con, bún lá và bún mớ.


Bún con hay bún vắt là một lọn bún quấn lại với nhau, dài vừa nắm tay như cuộn chỉ thêu, rất tiện lợi cho việc ăn uống đơn giản và đạm bạc trên nương, ngoài đồng, giữa đường. Chỉ cần một chút nước mắm ớt và năm, bảy con bún vắt thì bác nông phu trên đường về, chị chủ quán rộn ràng giữa chợ, em bán hàng rong lang thang... có thể tay cầm con bún chấm vào nước mắm ăn ngon lành ngay trên “hiện trường” vừa ngon miệng, vừa ấm lòng, vừa khỏi lơ là công việc..


Bún lá là một lớp bún trải trên lá chuối tươi, cuộn tròn cỡ bằng cái bánh tráng trung bình. Bún trắng nổi trên lá xanh mang vẻ đẹp trinh nguyên nên vừa bắt mắt, vừa bắt miệng. Bún lá thường là đơn vị bún cho cá nhân và gia đình: Mỗi người một rá, mỗi lá một tô.


Bún mớ, còn gọi là bún “ngảo” hay bún kí-lô. “Ngảo” là cái rổ nhỏ thường dùng như một đơn vị đo lường ở các vùng quê của Huế trong khi “kí lô” là đơn vị đo lường mới xuất hiện sau này. Bún mớ là bún sản xuất đại trà với số lượng lớn để buôn bán, đổi chác trên thị trường.


Thật ra cả ba loại bún cơ bản là giống nhau, đều có màu ngà đục khi sống và màu trắng trong khi đã luộc chín. Người ta thường dùng danh từ “bún tươi” để chỉ bún mang trực tiếp ra từ lò và “bún luộc” để chỉ con bún được luộc chín từ bún khô. Con bún Huế điển hình có độ dai vừa phải, không “đai hoai” như bột lọc nhưng cũng không bở rệt như bột gạo. Thường người ta dùng đinh 3 phân ( khoảng 1/8 inch) để đục lỗ thoát trong khuôn bún hay để ước lượng độ lớn của con bún. Trong thực tế, bún lớn hay nhỏ là do bàn tay khéo léo của người cầm “rây”. Muốn sợi bún nhỏ, ngay khi những con bún sống đang chảy xuống nồi nước sôi để thành bún chín, chỉ cần đưa cái khuôn đầy bột lên cao; muốn có con bún to thì hạ khuôn xuống thấp. Bún nhỏ là bún kim để làm bún khô hay bún Tàu dùng nấu canh và bún to hơn là bún thô dùng để xào trộn thức ăn trong những dịp giỗ, Tết. Bún con và bún lá thường được cho là ngon hơn có lẽ vì được sản xuất đầu nước nên láng lẩy và tươi tắn hơn: “Bún đầu nước thì ngon, con đầu nước thì dại (?)”.


Ngoài cơm và khoai sắn, có thể nói rằng, bún nói chung là món ăn truyền thống được phổ biến rộng rãi nhất đối với người Việt Nam ở trong nước cũng như khắp năm châu. Các loại bún truyền thống miền Bắc thì có bún riêu, bún thang, bún mộc, bún ốc.... Bún từ Đàng Ngoài đã theo bước chân Nam tiến đi vào Đàng Trong, rồi chọn đất Thuận Hóa làm nơi nghỉ bước và đâm chồi nẩy lộc thành bún Huế. Bún Huế gồm nhiều loại, mỗi loại có một lịch sử và tính chất độc đáo khác nhau: Bún nước mắm, bún mắm nêm, bún giấm nuốc, bún riêu, bún xáo, bún măng, bún thịt nướng, bún chả tôm, bún bò, bún giò... và bún bò giò heo.. Bún bò Huế, tức là bún bò giò heo được ưa chuộng và phổ biến nhất.


Theo thời gian và không gian, bún bò Huế có lúc và có nơi chỉ còn là một cái tên nhưng phẩm chất, đặc tính, mùi vị... đã hoàn toàn biến đổi. Nhiều người vẫn tẩn mẩn tự hỏi, không biết tô bún bò Huế thời vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và tô bún thời vua Bảo Đại thoái trào năm 1954 có gì khác nhau trong cung đình và ngoài phố chợ. Có điều rõ ràng là khách ăn bún Huế sẽ cảm thấy tô bún An Hoà khác hẳn tô bún An Cựu, nơi nầy có thêm lát chả, nơi kia có thêm miếng huyết, nơi nọ có chút rau thơm và chuối cây xắt mỏng lơ thơ. Càng đi xa, tô bún ở Đà Nẵng không giống tô bún Sài Gòn; tô bún Huế Ca-li khác xa tô bún Huế Texas .


Trước 1975, tôi có một người ông bà con, quê ở làng Lương Quán, Nguyệt Biều. Mọi người kêu ông là “Ôn Tứ”, có lẽ vì ông làm quan tứ phẩm của triều đình. Cứ một năm vài ba lần, ông sai tôi chở qua cung An Định để vấn an “Đức Từ”, đó là bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại. “Ôn Tứ” tuổi trên 70 mà vẫn còn đẹp lão như một tiên ông với da dẻ hồng hào và tóc trắng như mây, nhưng hễ cứ mỗi lần tôi khen ông là ông lại nói với giọng nửa như tự hào, nửa như ăn năn:


- Ôn sống thọ đây là tại trời đày vì tội phạm thượng, dám ăn đồ ăn của vua!


Ai cũng biết thuở trước, ông là người hầu cận thân tín của vua Bảo Đại từ Việt Nam qua đến Pháp.. Tôi nghe lạ, hỏi ông, ông giải thích:

- Ngài Ngự làm vua, nhưng là người Tây học. Ngài xử sự công bằng và lịch sự với tất cả mọi người. Hồi còn ở trong Đại Nội, thường có các cận thần hay hoàng thân quốc thích nấu đủ món sơn hào hải vị dâng lên Ngài ăn khuya. Ngài nhận, nhưng sau đó sợ bị mập nên Ngài cứ đưa hết cho ôn ăn. Con coi, ôn ăn hoài cao lương mỹ vị của hoàng đế, “tội to” như rứa mà Trời không phạt răng được!

Trong những lần ngồi đợi ông vấn an đức Từ Cung, trong cái mát lạnh thâm u của cung An Định, tôi có dịp nghe các cuộc mạn đàm của giới thân cận cung đình về các món ăn Huế mà giới quý tộc quan tâm. Bún bò Huế vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất. Đặc biệt là cuộc thi nấu các thức ăn đem ra đấu xảo tại chợ Tết Gia Lạc có từ thời Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra. Chợ Gia Lạc nằm giữa chợ Mai và chợ Nam Phổ ngày nay và cũng là vùng đất có Tùng Thiện Vương và Tuy LýVương, hai vị hoàng thân nghệ sĩ đã vang bóng một thời. Lúc đầu chợ chỉ mở ra cho các người trong thân nhân phủ đệ, sau thấy đông vui hấp dẫn, dân thường trong vùng lân cận như Dương Nổ, Nam Phổ, Thế Lại, Ngọc Anh... tìm đến và cũng được các ông hoàng bà chúa cho vào tham gia buôn bán và tổ chức các trò chơi. Hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp, chợ Mai đông buổi sáng và chợ Nam Phổ đông buổi chiều để nhường chỗ cho chợ Gia Lạc tưng bừng vui hội Tết. Đông vui và nhộn nhịp nhất là trong ba ngày mồng một, mồng hai và mồng ba Tết Nguyên Đán. Đây là phiên chợ của hàng con vua cháu chúa, nhưng đồng thời cũng mở rộng ra cho bàng dân thiên hạ đến vui Xuân. Theo tương truyền, trong một năm, món bún bò giò heo của Mệ Lựu đã chiếm giải nhất và được phê là “Thập toàn. Ngũ đắc”. Thập toàn là mười diều hoàn thiện của một món ăn ngon, đại khái như: ngọt ngào, thơm tho, đậm đà, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo chọn, khéo tay, khéo nấu, khéo bày, bún bò Huế còn được đánh giá cao là vì tính chất bình dân và phổ thông trong bá tính: Mọi người ai cũng biết được, ai cũng ăn được, ai cũng nấu được, ai cũng tìm được vật liệu ngay tại địa phương, ai cũng có thể có dịp mua được (ngũ đắc). Phải chăng vì bún bò giò heo cũng mang tính truyền thống dân gian như bánh chưng, bánh dày thuở trước.


Nếu gặp một người Huế nào đó ở vào lứa tuổi trung niên hoặc già hơn mà hỏi thăm thế nào mới thật là bún bò Huế và bún bò nơi mô ở Huế là ngon nhất, chắc chắn sẽ có hơn chín mươi phần trăm trả lời là, "bún bò Mụ Rớt".

“Bún bò Mụ Rớt có nêm sâm nhung quế phụ vô hay răng mà ngon dữ rứa?”. Một lần nào đó đã có người tò mò lên tiếng. Rồi cũng có người đáp lại, “Có chi mô, mụ Rớt cũng ra chợ Đông Ba mua rau, mua thịt như mình nhưng mụ nấu ngon vì có hoa tay”. Hoa tay? Hoa tay của ông đồ Vũ Đình Liên là để thảo những nét chữ như rồng bay, phượng múa, nhưng hoa tay của mụ Rớt là để nấu những tô bún bò thanh nhã, ngọt ngào “ăn ngậm mà nghe”.




Chừ ri hỉ....!
Cứ tưởng tượng mình đang ở Huế.
Vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa, một buổi trưa không biết ở thời nào, một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ... Và, có tiếng ve đất cuối mùa kêu sau vườn nhưng nghe như xa lắc. Nắng xế cuối mùa của Huế thường phai như màu tóc muối tiêu. Rồi có tiếng xe đạp của ai đó phanh lại trước sân, ba bốn đứa bạn thân rủ nhau đi ăn bún. Con đường Chi Lăng dẫn về Gia Hội chen giữa hai hàng phố cũ với những căn nhà xưa kiểu Tàu pha một căn hai chái, cột mệ cột con đề huề trông thâm nghiêm nhưng thấp bé một cách tội tình. Trước khi rẽ qua đuờng Ngự Viên đi ngang "mả ông trạng" sau lưng chùa Diệu Đế, hãy ghé lại một căn nhà dãy phố bên phải: Đó là tiệm bún bò Mụ Rớt. Huế làm ăn theo lối "hữu xạ tự nhiên hương", không bảng hiệu, không quảng cáo mà chỉ cần nghe tiếng tìm vào.


Khách vô tiệm tự nhiên và lặng lẽ như ghé lại bến đò. Cứ tìm bàn nào trống, ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu không có chỗ dựa lưng, ngó một loáng bâng quơ người quen và người lạ, sẽ có người hỏi:

- Mấy o, mấy cậu thời bún chi?




Khách chỉ có lựa chọn giữa bún khô và bún nước:
- Dạ, cho mấy tô bún nước


Lát sau, mấy tô bún bò giò heo bốc khói, mùi thơm tỏa ra dìu dịu, được bưng ra đặt trên bàn. Bún được nấu nướng từ sau bức tường của dãy nhà ngang trông vào có vẻ phòng the hơn là bếp núc.


Tô bún bò Huế mới thoạt nhìn, có vẻ đạm bạc và thanh lịch như chiếc áo dài phin trắng nõn nà. Tô bún chỉ lớn hơn bàn tay búp măng xoè ra một tí. Nước bún trong để lộ những tép bún trắng nằm sóng soải vươn lên miệng tô. Nước bún không mỡ màng, không bị vẩn đục vì gia vị. Vài loáng ớt màu đỏ nhạt, quyện với dầu sả nổi đốm sao trên mặt tô không che được miếng giò heo búp, mỏng bằng hai phần lóng tay. Miếng giò heo trắng ngả màu vàng với lớp da mỏng, ôm khoanh thịt nạc và mảnh xương tròn ở giữa như nhụy hoa nằm bắt mắt và mời gọi, nửa chìm nửa hở trong tô bún. Che mái cho tô bún là ba bốn lát thịt bò bắp xắt mỏng, những lát bò bắp với thớ thịt chắc nịch nâu đỏ và những đường vân vàng nhạt của nạm, gầu, gân, sách.

Trên bàn đã có sẵn đũa tre, muỗng sành, nước mắm, ớt tương và rau hành chanh múi. Một dĩa nhỏ hành củ trắng phau và hành lá, rau thơm xanh mưót điểm thêm ngò ta xắt mỏng để rắc lên mặt tô bún cho thêm nồng nàn hương vị. Rau hành của bún không phải là rau sống cuả phở, rau chỉ đóng vai trò “nước hoa” cho tô bún. Trên một góc dĩa là ớt tươi xắt lát. Cái cay của ướt tươi là đậm đà, mọng nước, đủ sức khống chế những cao thủ ớt đã nếm đủ vị giang hồ mà vẫn còn thấy nhạt. Cạnh đó là dĩa ớt tương nhỏ xíu màu huyết dụ; ớt tương của bún bò Mụ Rớt cũng được liệt vào hàng "gia vị bún bò bắc đẩu", nhìn thì có cái vẻ mềm như nhung với màu đỏ sẫm, điểm những hột ớt vàng hoe nhưng nếm vào mới biết thế nào là cái “hiền” của Huế. Gắp một tí ớt tương đầu múi đũa bỏ vào tô là ớt từ từ bung ra như nhụy hoa trên mặt nước bún. Hoa hồng thường có gai, nên nhụy hoa bún cũng làm cho biết bao người cay giọt ngắn, giọt dài!


Cung cách nêm tô bún trước khi ăn cũng thể hiện phần nào phong thái của người ăn. Vẻ e dè chờ đợi của khách mới, dáng khoan thai của giới nhàn du, sự xông xáo của người đói bụng, cách lịch lãm của kẻ từng quen... là những biểu hiện thường tình trước tô bún.


Khi đã nêm xong, húp một muỗng nước bún khai vị để cảm nhận được cái chất ngọt thanh pha đủ mùi gia vị. Mùi sả, mùi ruốc, mùi xương hầm, mùi thịt luộc, mùi chanh, mùi rau, mùi tiêu hành nước mắm... đã biến chất, đã quyện vào nhau tạo thành mùi bún bò có sức hấp dẫn lạ lùng riêng của nó. Miếng giò heo thanh nhã trong tô bún với lớp da mỏng có bìa da úp quanh miếng thịt nạc như đài hoa chưa nở nên thường gọi là giò “búp”. Cắn miếng giò, những sợi thịt trắng vừa béo, vừa ngọt vẫn còn thơm mùi thịt tươi mới chín nhẹ nhàng bốc hơi trên hai cánh mũi. Gắp lát thịt bò bắp. Lát thịt bò mỏng với những đường gân, sứa thịt và viền mỡ dòn tan giữa hai kẻ răng và vị ngọt béo miên man trên đầu lưỡi. Tô bún bò Huế vơi dần nửa như thách thức, nửa như mời gọi khách rằng, chưa cạn hết tô chưa gác đũa.


Tô bún bò Mụ Rớt được xem là đặc trưng cho tô bún Huế là vì nó mang những nét thanh đạm và đơn giản. Có thể nói cái thanh của bún Huế ví như những nét đan thanh của tà áo trắng, tà áo dài mỏng manh cửa đóng then gài ngỡ như là tử cấm thành của phái đẹp thần kinh, nhưng lại kín đáo phô bày trọn vẹn những nét đẹp trên thân thể của người mặc. Người mặc áo Kimono của Nhật chỉ cần một khuôn mặt đẹp, nhưng người mặc áo dài Việt Nam khó mà che dấu được những nét mỹ miều hay thô thiển của thân hình.. Cũng tương tự như vậy, một tay nấu bún “hạng lông” có thể nấu một tô bún thập cẩm với tấp nập thịt thà rau cải rềnh rang như chiếc áo Kimono, nhưng lại khó có thể nấu một tô “bún-bò-áo-trắng” kiểu Huế thoạt nhìn tưởng như là quá đơn giản mà ẩn dấu lắm công phu.

Linh hồn của tô bún bò Huế là nước bún. Nước bún là nước được hầm từ xương heo, xương bò, gà tươi, và có khi là cây, củ... Phần khó nhất trong việc nấu nước bún là giữ cho nước trong, ngọt thanh, không mỡ màng, không lềnh bềnh gia vị. Những “trường phái” bún bò khác nhau ở Huế thường dấu bí quyết nấu nước bún vừa trong vừa ngọt, nhưng tất cả đều có điểm cơ bản khá giống nhau là cách chọn xương hầm, cách luộc tái rồi đổ nước đầu tiên, cách vớt và lọai bỏ bọt thải đúng lúc, đúng điệu, thường là yếu tố quyết định trình độ cao thấp của “tay nghề”.
Bún sợi thật sự là bún tươi, trắng ngà, có độ dẻo và độ lớn vừa phải.




Thịt heo trong tô bún chỉ đơn giản một lát giò có đủ da, đủ nạc và xương. Giò luộc vừa chín, không quá lửa làm cong queo, mềm nhũn, thoang thoảng gia vị vừa ăn; thơm nhưng không mất mùi thịt heo nguyên thủy.
Thịt bò trong tô bún là bò bắp luộc vừa chín, xắt lát mỏng, xào nhẹ lại với đồ màu và tránh tình trạng quá lửa làm “bò teo, heo nở”.


Gia vị chủ lực của bún bò Huế là sả, ruốc và ớt, nước mắm. Tinh dầu của cây sả có mùi thơm rất nồng, đủ mạnh để làm trung hòa mùi ruốc và giúp cho mùi thịt trộn tiêu hành nước mắm trở nên dịu và ngào ngạt hơn. Dầu sả nhẹ hơn dầu mỡ nên làm cho nước bún nổi sao óng ánh, tránh được những váng mỡ nặng nề làm cho người ăn ái ngại. Một cây sả tươi cần chọn đoạn giữa vừa thơm, vừa phong phú tinh dầu. Đừng quên sả gốc nồng và chát, sả ngọn ít thơm và dễ làm cho nước bún nhiễm màu xanh của lá..


Trong nồi bún, nếu sả quyết định cho hương thì ruốc quyết định cho vị. Ruốc phải đánh loãng và thải hết chất bã. Ruốc nêm lúc nước còn lạnh để khỏi nặng mùi. Ruốc nêm đúng phân lượng sẽ làm cho nước bún có vị ngọt đậm đà và mùi thơm phảng phất chất mắm muối quen thuộc của đồ ăn Việt Nam. Ruốc nêm thiếu, nước bún sẽ “ỏn”, nghĩa là lạt lẽo, kém vị, thiếu mùi như nước ốc. Ruốc nêm thừa, nước bún sẽ “hăng”, nghĩa là mùi vị nặng nề, không tỏa ngát quanh tô bún mà có vẻ như chìm lỉm trong nồi nước bún.


Bên cạnh kỹ thuật và kinh nghiệm của người nấu, chất liệu cũng đóng một vai trò quan trọng cho hương vị của tô bún Huế. Chẳng hạn như thịt heo nấu bún Huế thường lấy từ thịt heo cỏ. Đó là giống heo nhỏ nuôi bằng rau, chuối nấu với cám gạo cốt để vừa lấy phân, vừa lấy thịt. Heo càng lớn càng dài ra và thịt rắn lại chứ không phát triển “sồ sề” như giống heo mẹo nuôi trong kỹ nghệ lấy thịt sau nầy. Giò heo do đó vừa chắc, vừa thơm, vừa ít mỡ. Giò heo lý tưởng cho tô bún là giò sau: “Nấu giò sau, cho nhau giò trước”.


Ngoài ra, rau hành, gia vị... thường được các bà Huế nêm theo kiểu “luyện công” nên mọi thứ đều được tính toán chi li vừa đủ phân lượng cần thiết. Có dịp nhìn một bà Mỹ vào bếp với dáng kích động như muốn nhảy “Disco” với xoong chảo, một bà Nam nếm đồ ăn trên lò, miệng chưa tắt nụ cười vui sau câu cải lương mùi mẫn.... mới thấy được hình ảnh tay cầm đũa, mắt đăm đăm, môi chút chíp nêm đi nếm lại như đang “truyền tâm ấn” của một bà Huế trước nồi bún đang sôi là “thục nữ thần kinh”. Chính yếu tố địa phương, hoàn cảnh và tâm lý đã làm cho tô bún bò Huế trở thành ngon và độc đáo hơn vì nó được chuẩn bị, phục vụ và thưởng thức trong mức độ vừa đủ về lượng cũng như về phẩm.


Sự dễ dãi về hoàn cảnh sinh hoạt và phong phú về điều kiện vật chất có vẻ như có một tác dụng nghịch chiều cho tiến trình tạo nên cái vẻ thanh nhã truyền thống của tô bún bò Huế. Bún bò Huế càng tiến về Nam càng được thêm thắt như tà áo trắng biến thành áo gấm với phượng vẽ rồng thêu. Bún Huế chỉ cần vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng là đã đổi khác: Tô lớn hơn, mỡ màng và thịt, gân, rau hành nhiều hơn. Bún Huế tiến vào Sài Gòn thành tô “phở bún” xe lửa tàu bay với nước béo, rau sống, giá sống, thịt chả ê hề.. Chính bún bò Mụ Rớt Huế vào Nam cũng đã chuyển mình thành “bún bò Mụ Rớt Nam Bộ”. Bún bò Huế càng được chiếu cố rộng rãi chừng nào, sự “sáng tạo” và biến thể càng nẩy mầm trăm hoa dua nở chừng đó. Đến nỗi, một người thích “khảo” về các món ăn miền Trung gần đây như ông Đinh Miên đã phải lên tiếng “xóa óa” khi nhắc về bún bò Huế tại Mỹ trong bài “Cơm Việt, Quê Người”: “Đi đâu cũng nghe bún bò Huế chính gốc mà không biết gốc gì, nên gốc gì cũng đặng!” (Việt IX - 95). Ông Đinh Miên thuộc về trường phái “chịu chơi” khi luận về bún Huế. Ông cởi mở đón nhận sự chuyển mình của tô bún với vẻ cười cợt hồn nhiên như người đã biết là không thể tắm hai lần trên cùng một giòng sông. Cũng có người muốn “ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng” lên tiếng cho rằng, tại sao những món ăn truyền thống của thế giới như Pizza của Ý, Kabob của Ba Tư, Taco của Mễ, Kentucky Fried Chicken của Mỹ, Mì Triều Châu của Tàu... đi đâu cũng nghe cùng một hương vị, mà Bún Bò Huế lại có người nấu Sở kẻ nêm Tần như vậy, sợ một ngày kia “mất giống” tìm đâu!? Có lẽ không ai trả lời được câu hỏi đó vì món ăn là một phần của văn hóa mà gốc của văn hóa là con người. Khi đất nước và con người còn đó thì ngại gì tô bún đổi thay.

Tuổi già của Huế thích lui về sống ẩn dật với quê hương, gần gũi với bà con làng xóm và mồ mã tổ tiên, nhưng tuổi trẻ lại thích bay xa tới những phương trời mơ ước. Niềm ước mơ của một đứa trẻ lớn lên sau lũy tre làng như tôi là làm sao được lên Huế học. Thành phố Huế cách làng tôi chưa đầy một giờ đi xe đạp nhưng đối với tôi thời nhỏ nó vừa thực vừa mộng như một vùng đất hứa. Có những buổi chiều đứng đầu ngõ nhìn những người lên Huế sắm hàng với các món đồ gói trong giấy, trong hộp đầy màu sắc gọi là “đi Dinh mới về”, tôi ước chi mình sẽ được lên Dinh
Tuy không có quy định thành văn nhưng con đường duy nhất để được lên Dinh ăn học đối với tuổi trẻ ở làng như tôi là phải thi đậu “Càng Cua” (concours) trước đã, đó là kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất trường công mà trong toàn tỉnh Thừa Thiên chỉ có thành phố Huế mới có. Mẹ tôi thường nhắn gởi: “ Chuyến ni mà con thi đậu "càng cua", cực mấy mạ cũng gắng lo cho con lên Dinh học”.


Mẹ tôi dắt tôi lên Huế hai ngày trước khi thi “càng cua”, đi qua đi lại trước trường Hàm Nghi (ngày xưa là Quốc Tử Giám) nhiều lần cho quen đường đi nước bước. Tôi ở lại nhà chị Quyến tôi nơi đường Ô Hồ. Buổi sáng ngủ dậy, chị kêu gánh bún vào ăn điểm tâm.. Gánh bún õng ẹo trên đôi vai o gánh bún, có khói và hơi bốc nhè nhẹ xung quanh như một đầu máy xe lửa xuống đèo. Nghe chị đặt hàng, tôi có cảm giác hơi là lạ:


- O múc cho tô “trung”, bún vừa, nước xắp xắp thôi. Cho giò nạc búp, thêm cái ngoéo. Đổi huyết lấy bò bắp xắt vô. Khoát bớt ớt màu, bỏ hành rau răm rươi rươi thôi, ớt tương nước mắm bỏ riêng...

Người bán bún chừng như đã quá quen thuộc với lối đặt hàng rắc rối đó nên làm thinh múc bún. Nồi bún nóng thân tròn, miệng uốn trông như chiếc lư đồng cổ không nắp không chân, đặt trên lò lửa riu riu đỏ. Tay o cầm cái vá cán dài, quây một vòng trong nồi bún với dáng tay nhẹ nhàng và điệu nghệ như cô vũ nữ Thái múa điệu cánh sen. Cái vá dừng ở đâu trong nồi nước bún là “bắt” được ngay miếng thịt, miếng giò đang cần, chính xác như ra-đa tìm thủy lôi.


Một lát sau o mới hỏi:
- Ai ăn rứa?


Chị tôi trả lời một cách hãnh diện:
- Thằng em tôi dưới làng lên ở lại thi “càng cua”..


Tự nhiên o bán bún coi bộ quan tâm:
- Nì, nói chuyện vô duyên chơ học trò đi thi không nên ăn giò búp: búp hoài không nở thì mần ăn chi nữa. Để tui múc cho một cặp giò ngoéo: ngoéo trước, ngoéo sau thì rớt đi mô được, thi đậu chắc nụi!


Chị tôi coi bộ cảm động ra mặt vì gặp được “Thầy”... bún, nên nhiệt liệt ủng hộ ngay:
- May có o nhắc chớ không thì khổ em tui rồi. Rứa! Múc ngoéo vô đi o!


Thật tôi không ngờ bún Huế “linh” như vậy, nên hôm đó ăn tô bún Huế mà cảm thấy trân trọng và ngất ngây như uống rượu thánh.


Về làng, tôi thường ăn bún với nước mắm ớt.. Mẹ tôi có mấy lu ruốc bự bành ky để ở nhà dưới, nước mắm nhĩ trong vắt nằm một lớp trên mặt. Đem lúa đổi lấy bún vắt hay bún lá, rồi múc nước mắm nhĩ từ trong lu ruốc, ra vườn hái ớt xé vào. Bún tươi chấm với nước mắm nhĩ pha thêm ớt trái mùa Xuân ăn ngon “nhức răng”. Thêm vào đó, một năm đôi ba lần được ăn bún với nước xáo lòng gà, thịt bò nên chú bé quê trong tôi cũng đã bằng lòng lắm với cuộc đời đầy đãi ngộ nầy rồi. Nay được ăn tô bún Huế với những thịt thà thơm phức, với cách nấu bún công phu, cách múc bún điệu nghệ... làm cho tôi cảm thấy được “lây” cái văn minh sang cả của người thành phố.
Ngày đi thi, tôi dậy sớm trước khi gà gáy lại, hồi hộp chờ trời sáng để tới trường thi, nhưng trong lòng cũng cảm thấy thinh thích khi nghĩ đến tô bún Huế với cặp giò ngoéo có lớp da mềm mềm bao quanh những thớ gân dòn tan như ăn ổi đỏ ở làng. Hình như mới có hai buổi sáng trôi qua mà tôi nghe như đã bị phố phường cám dỗ. Buổi sớm tôi nghe mẹ tôi bàn bạc to nhỏ với chị tôi, rồi tiếp theo đó có người gánh gánh xôi vào trước hiên. Nhìn dĩa xôi đậu xanh chấm muối mè bày ra trước mặt, tôi bắt đầu hoang mang. Mẹ tôi hối:
- Ráng ăn xôi đậu muối mè đi con!


Khi tôi ngao ngán ngáp dài kêu mệt quá và muốn ăn bún chứ xôi đậu, muối mè khô khan quá nuốt không vô, mẹ tôi dịu dàng an ủi:
- Con thi xong rồi, ưng ăn bún cả gánh mạ cũng cho. Con di thi “càng cua” mà ăn bún vô trơn, nói trời không nghe lỗ miệng, chớ nó truột đi thì thi hỏng mất! Lúc trước mấy cậu con thi chi hỏng nấy là vì không nghe lời mệ ngoại, cứ dè ngày thi cử mà ăn bún không kiêng cữ nên thi trợt tuốt luốt, phải xếp sách vở về quê đi cày. Chừ con gắng ăn xôi đậu, xôi muối mè dính mô chắc nấy, trời mới cho con đậu.


Tôi rướn cổ nuốt cho hết dĩa xôi mè vì thương mẹ hơn là sợ thi trượt. Tới ngày treo bảng, nghe loa đọc tên nhưng tôi không tin là mình đậu “càng cua” thứ nhì trường Hàm Nghi trong số hơn một nghìn thi sinh dự tuyển và có hai trăm trúng tuyển năm đó.


Suốt một đời, tôi không làm sao quên được hình ảnh mẹ tôi với hai hàng nước mắt sung sướng chảy dài trên đôi má phong trần vì lặn lội gieo neo nuôi con. Mẹ tôi nói như đã nắm được bí mật cuộc đời:
- Chộ chưa! Con nghe lời mạ, ăn xôi đậu nên mới thi đậu. Còn thằng Tý xóm Bàu, thằng Rô xóm Cụt, Thằng Lúi lò rèn to béo xắp hai con, nghe nói mỗi đứa ăn hai tô bún để đi thi nên trượt tuốt luốt..


Tôi muốn nói cho mẹ tôi biết bọn thằng Tý, thằng Rô, thằng Lúi... suốt cả mùa Xuân trốn học, thu sách vở trong bụi tre lá ngà đầu làng đi chơi; trong khi tôi học thuộc cháo sách Sử Ký của Trần Đinh, giải hết 1000 bài toán đố của Một Nhóm Giáo Viên, đọc nhuyễn 50 Bài Luận Mẫu và Tâm Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh... Thế nhưng nghĩ sao tôi lại thôi, vì mẹ cũng có một khung trời riêng của mẹ mà tôi chỉ dám núp sau áo mẹ để lặng im chiêm ngưỡng chứ không dám thả cánh chim lý luận làm huyên náo khung trời đó và làm mẹ buồn lòng.

Từ đó về sau nầy, tôi thường cố “cữ” ăn bún mỗi lần có thi cử. Ngay cả hơn 30 năm sau, khi tóc đã điểm bạc trên bước đường lưu lạc ở quê người, có những lần đi thi chuyên môn, đi phỏng vấn việc làm, đi thi tốt nghiệp trong trường đại học Mỹ, tôi vẫn “kiêng” ăn bún nhưng chỉ tìm cách né tránh âm thầm chứ không dám nói ra vì sợ bị chọc quê. Thật ra, mỗi lần đụng đến thi cử là tôi lại nhớ mẹ đến quặn lòng, nên tôi cữ ăn bún để được cái cảm giác ấm áp thiêng liêng như hôm đó mình đang có mẹ thật gần




Đến khi lên Huế học, những huyền thoại về bún bò Huế càng có vẻ mọc cành mọc lá sum sê hơn. Thế giới học trò cũng nhỏ bé và xinh xinh như thành phố. Phía sau trường Hàm Nghi của tôi là Viện Bảo Tàng và nhà thờ Nguyễn Phước Tộc hay là Tôn Nhân Phủ.. Bên kia đường là cửa Hiển Nhơn vào Đại Nội. Kế đó, có hai trường văn nghệ nhất Huế, đó là trường Quốc Gia Âm Nhạc và Cao Đẳng Mỹ Thuật mà lũ học sinh nghịch ngợm của chúng tôi thường chọc mấy anh chị sinh viên bằng cách gọi là “Trường Kèn” và “Trường Cọ”. Sinh viên hai trường Kèn Cọ thường la cà ở quán cà phê Tôn, nơi đó, thật ra chỉ là một chiếc xe kiểu xe sinh tố đặt mé trái trước Tôn Nhân Phủ do vợ chồng bác Tôn đứng bán bún bò và cà phê. Giới nghệ sĩ lang thang thường bàn luận một cách công khai rằng, ngày nào vợ chồng bác Tôn không cãi nhau là ngày đó bún bò không ngon vì thiếu đi cái “tinh thần hào sảng” của cặp vợ chồng bác Tôn khi nấu bún.


Giới văn nghệ sĩ cà phê Tôn còn đi xa hơn khi kháo nhau rằng nếu lỡ một mai kia, lịch sử thành thơ đưa họ lên làm lãnh tụ, thì họ sẽ đặt tên con đưòng từ Vỹ Dạ lên Ga Huế là "Đường Cơm Hến" và đường từ cầu An Cựu lên cầu Trường Tiền là "Đại Lộ Bún Bò" vì mỗi buổi sáng tinh sương, dọc trên con đường nầy có cả đoàn bún gánh phát xuất từ An Cựu tỏa ra khắp thành phố Huế. Khói xanh đun nồi bún bay phơ phất trên đường như một sự mời gọi êm đềm: Bún bò An Cựu, cơm hến Đò Cồn, trứng lộn Chợ Dinh, bánh canh Nam Phổ... Cũng may hay cũng buồn, lịch sử không phải là thơ nên tuy Huế có những con đường tình cảm mang tên kỷ niệm và giai nhân bất thành văn như đường Hàng Me, đường Áo Trắng, nhưng vẫn chưa có tên đại lộ Bún Bò.


Bản thân tôi từ một vùng quê ruộng đồng lên tỉnh học, sau mấy năm học đòi văn hóa Huế, cũng bị nhiễm bún bò rất nặng.. Tôi đã ưu tư nhiều về sự hiện diện của bún bò giò heo kể từ khi làm quen với một cô hàng xóm nhân dịp cô đi xe đạp, vạt áo dài tung bay phất phới và cuốn theo chiều gió mà quấn vào trong giây "sên", trong "ổ líp". Tôi bèn ra tay cứu khổn phò nguy gỡ áo em ra và không quên bôi thêm dầu sên lên tay lên mặt cho ra vẻ lẫm liệt, can trường. Tên cô là Mộng Hoàng, tất nhiên có cái họ đi trước rất chi là thế gia vọng tộc. Chỉ mới cái tên thôi cũng đủ biến tôi thành Trương Chi bên cạnh Mỵ Nương đi xe đạp mất rồi. Về làng, tôi đi từ xóm trong ra xóm ngoài để sưu tầm những tên giai nhân đẹp nhất thì cũng chỉ có những Nguyễn Thị Gái, Trần Thị Chắt, Lê Thị Dẹp... đào đâu ra có Mộng, có Hoàng.


Những buổi sáng, tôi và Hoàng vẫn đạp xe đạp song song chung đường từ Thành Nội, qua cầu Trường Tiền, rồi Hoàng vào Đồng Khánh và tôi vào Quốc Học. Đôi ba lần Hoàng quay sang phía tôi cười, một phiến ớt màu bún bò tí ti đỏ chói nằm trong góc chiếc răng khểnh trắng nõn nà của Hoàng. Tự nhiên tôi cảm thấy hơi mất đi cái cảm giác thanh thoát khi nhìn sự hiện diện vô duyên của ớt màu nằm trên chiếc răng khểnh duyên dáng đã làm tôi xao xuyến bao lần. Tôi lên tiếng, nhẹ nhàng như nắng, sợ làm vỡ những giọt sương tình cảm long lanh. Rồi cả hai đứa dừng lại, đứng khuất sau gốc cây long não, tôi xé mảnh giấy trắng nhất trong tập vở học trò, vo lại thành cây tăm và nín thở khêu chút ớt màu bún bò vô tình nằm chênh vênh không đúng chỗ. Hai đứa nói nhỏ như ngại hàng long não đứng nghe... Hoàng vùng vằng sợ tôi nhìn sâu hơn đáy mắt:
- Ngó dữ chưa tề, dị chết!


Tôi thanh minh như Vương Tử Trực:
- Coi tề, không ngó chộ mô mà khêu!


Khi lên xe đạp đi tiếp, Hoàng phàn nàn, cái phàn nàn mà tôi cho rằng đáng lẽ ra là một sự biết ơn:
- Me phiền dễ sợ! Sáng mô cũng bắt Hoàng ăn bún bò ớn phát sợ luôn.


Cái "ớn phát sợ" của Hoàng lại là cái ước mơ ngoài tầm tay của đám học trò nghèo như tôi. Cứ tưởng tượng mỗi buổi sáng, khi trời Huế còn lành lạnh mà được ăn một tô bún bò giò heo, có váng mỡ vàng mơ ngã hồng trên mặt, nêm thêm một "múi đũa" ớt tương màu huyết dụ chắc sẽ sáng mắt sáng lòng mà học một nhớ mười. So với một chén cháo gạo với muối trắng của tôi hay một chén cơm chan chút nước mắm ớt của tụi bạn cùng hoàn cảnh ăn điểm tâm trước khi đi học, tự nhiên một cảm giác hơi buồn buồn pha chút tủi thân lặng lẽ dâng lên trong lòng. Bún bò tự nó không có giai cấp, nhưng giai cấp tự nó có bún bò: Phận nghèo bấm bụng nằm co. Giàu thời nem chả, bún bò giò heo!


Tuổi trẻ của Huế êm đềm và dễ hòa diệu sống như giòng sông Hương. Tôi đã quên rất nhanh hình ảnh tô bún bò của Hoàng và chén cháo gạo của tôi. Hai đứa chưa bao giờ dám nói thương nhau mà chỉ lửng lơ nói chuyện đã cùng "thương con đường đi học".. Mỗi cô gái Huế đều có một bà chúa trong hồn và mỗi cậu con trai Huế đều có một ông hoàng trong bụng. Bà chúa thì thích sang mà ông hoàng thì thích ngọt, cho nên tôi đã nhẹ dạ nghe Hoàng dỗ ngọt mà hẹn hò lần đầu lên chùa Thiên Mụ và về ăn bún bò Kim Long. Chúng tôi đã phạm vào hai điều tối kỵ làm tan vỡ bao nhiêu mối tình đầu đẹp như mơ của Huế: Đó là hẹn hò lần đầu không được lên chùa Thiên Mụ và không được ăn bún. Đồi Linh Mụ là đất thần kinh, nơi để chiêm bái chứ không phải là nơi tính chuyện ân tình hò hẹn.. Tình cảm trai gái chớm mầm trên đất thánh thì sẽ không bén rễ trong tim người. Còn ăn bún là trơn tru, không níu kéo như gừng cay muối mặn, nên cuộc tình rồi cũng theo bún mà trôi đi! Rất có thể bà Linh Mụ đã nhìn thấy tôi và Hoàng hò hẹn, cho nên mới "xui" về Kim Long ăn bún. Bởi vậy, nên tới Hè, Hoàng giã từ Đồng Khánh, chuyển qua Jeanne d'Arc để chuẩn bị đi Tây.


Kỷ niệm chia tay cũng êm đềm mà nhức buốt như những cơn mưa phùn tháng Giêng của Huế. Hoàng gởi cho tôi cuốn sổ lưu bút có giấy pơ-luya màu xanh, màu trắng, màu hồng; có thắt nơ tím với câu thơ tiếng Tây quá quen thuộc với tuổi học trò của Huế ghi nắn nót ở trang đầu: "Partir, c'est mourir un peu!... Ra đi là chết trong lòng một ít. Biết nói sao bây giờ?!". Tôi là học trò ban B (Toán - Lý Hóa toàn ròn) nên trong đầu lúc nào cũng lùng bùng ròng những đạo hàm và ẩn số của thầy Trần Tuệ và thầy Hồng Giũ Lưu. Huế lại là vùng đất ưa hò vay trả. Đào đâu cho ra chút văn chương man mác nòi tình mà đáp lại cho Hoàng đây. Tôi bỏ cả việc đi trại Hè để cố đào cho ra dăm câu thơ nếu không “ác liệt” thì ít ra cũng có vẻ môn đăng hộ đối với Hoàng. Bên tê dẫn thơ Tây thì bên ni phải trích thơ Mỹ. Tôi vô thư viện, tìm mục thơ tình lãng mạn để kiếm vài câu làm thuốc. Thơ tình chết tiệt rủ nhau trốn đâu mất cả. Bí quá, bỗng vớ được vài câu thơ đề tựa cuốn sách của Helen Steiner Rice, tôi thấy như mở cờ trong bụng: “Somebody loves you than you know. And will always be with you wherever you go!” (Ai nào thấu hết tình ai.. Chân mây góc biển thương hoài ngàn năm). Và, để phụ đề Việt ngữ tôi chọn hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, đọc đi đọc lại đắc ý nổi da gà: “Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!”.
Kèm với thơ thẩn là cái lược bằng gỗ trầm hương, vật kỷ niệm của mẹ, tôi xin và tặng lại cho Hoàng mà bỗng tự cảm thấy mình sâu sắc như một người tình trong chuyện thần thoại; Năm 1992 về lại con đường cũ, đọc thơ Xuân Hoàng mà nhớ bâng khuâng đốm ớt bún bò và nét cười răng khểnh:


Tôi đi trên đường Lê Lợi dọc sông Hương
Nắng trong suốt lọc qua hai hàng long não
Đất nước đổi thay qua bao mùa giông bão
Con đường xưa vẫn dáng dấp diệu kỳ...


Hơn mười năm, tôi mới có dịp trở lại chen chân trên đường phố Huế vào một buổi chiều 29 Tết. Đi trong nắng cuối Đông dìu dịu thương quen của Huế mà cứ ngỡ như mình mới xa Huế hôm qua. Nghĩ đến mai xa Huế tự nhiên tôi có cảm gíác như mình là kẻ phụ tình với Huế. Huế vẫn lặng lẽ chờ đợi như người tình trăm năm mà tôi thì cứ dứt áo ra đi lang bạt kỳ hồ.


Rồi quả đất cũng tròn và thế giới nầy cũng nhỏ nên “những kẻ phụ tình với Huế” vẫn có lúc gặp nhau ở quê người như một sự tình cờ của định mệnh. Hơn 30 năm sau, rất tình cờ, tôi gặp lại Mộng Hoàng ở Little Sàigòn, Quận Cam Ca-li. Tôi nhận ra Hoàng, bà chủ tiệm ăn có tên vừa Tây vừa Huế, nhờ chiếc răng khểnh "thương bắt chết" vẫn tô điểm cho nụ cười duyên dáng ngày xưa. Tất nhiên, tôi từ phương xa ghé vào đây cũng vì món "bún bò Huế chính gốc". Nhắc chuyện cũ, cả hai đứa cùng cười ngặt nghẽo. Giọng Hoàng tuy phảng phất một chút âm vang trời Tây nhưng vẫn chưa phai màu Huế:
- Thời nớ, răng tụi mình dễ thương dễ sợ hí!


Tôi cười cười nhắc lại:
-Sau nớ, còn ai khêu ớt trên răng cho Hoàng nữa không?


Mắt Hoàng bỗng thoáng một chút trầm tư "nhắc làm chi sương khói thuở xa xăm" và ánh lên màu kỷ niệm:
- Lạ chưa tề. Nhắc chi nữa, dị chết!


Tôi nhìn Hoàng. Mắt bâng quơ đậu trên vài ba sợi tóc loà xòa điểm bạc. Hoàng biết và ngúng nguẩy che đi. Hoàng nói thật bất ngờ, giọng trang đài như đọc câu thơ tình thời cổ:
- Chải lược trầm hương nên sớm thành tóc bạc!


Tôi hiểu Hoàng nói gì nhưng phản ứng như anh học trò cả ngố:
- Thơ của ai rứa Hoàng?


Hoàng trả lời “mần đày”:
-Thơ ai? Thơ ông cai bến đò!


Đàn bà Huế mà đã “mần đày” thì Tần Thủy Hoàng cũng phải biết rằng mình đã lỡ vô tình, cần lẳng lặng chui vào ổ rơm nằm ngủ qua đêm.


Rứa đó! Dân Huế suốt đời vẫn là những đứa trẻ thơ mỗi lần nhớ Huế, nhớ những kỷ niệm đã thiu thiu ngủ trong ký ức và trên quê mẹ của mình.


Xa quê, rủ nhau ăn một tô bún bò Huế nấu bằng heo Mỹ, bò Anh, ruốc Tàu, bún Nhật.... Miếng ăn có thể khác nhau vì ngon hay dở, nhưng nỗi nhớ quê nhà thì vẫn hiu hắt giống nhau trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng.. Bún bò Huế đã vượt sông Mỹ Chánh ra Bắc, vượt đèo Hải Vân vô Nam, vượt trùng dương sang Âu tới Mỹ. Giữa những phố phường xa lạ quê người, đọc trên một tấm biển của một tiệm ăn nào đó có ghi “Bún Bò Huế”, người Việt tha hương nào mà khỏi thấy lòng mình ấm lại. Bún Bò Huế không còn là riêng của Huế mà hương sả nồng, vị ớt cay, mùi ruốc mặn đã thấm vào mạch đất quê hương và lòng dân tộc Việt đầy yêu thương nhưng cũng lắm đoạn trường chưa có ngày sum họp.

Xuân Hoàng

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

National Geographic Nhượng Bộ Nửa Vời


Bà Leidel cũng đã gửi điện thư đến NTHF, cho biết về một thông cáo báo chí trên website của họ (*).
Thông cáo này trình bày quan điểm và chính sách của Hội Địa Lý về các chú thích Paracel Islands, Hoàng Sa, và Xisha Qundao trên các bản đồ do họ xuất bản.
Theo thông cáo này, đối với một số bản đồ có tỷ lệ thích ứng cho việc ghi chú, thì Hội Địa Lý vẫn giữ nguyên lập trường đối với các chú thích: "Trung Hoa quản lý" và "Việt Nam đòi chủ quyền."


THÔNG CÁO
17.03.2010

V/v: Tiếp xúc với Hội Địa Lý Hoa Kỳ (National Geographic Society)
Sáng nay, ngày 17 tháng 3 năm 2010, cô Nguyễn Hoài Nhã Trân, trưởng ban báo chí của Nguyễn Thái Học Foundation (NTHF), đã chính thức tiếp xúc với bà Cindy Beidel, đại diện phòng truyền thông của Hội Địa Lý Hoa Kỳ (National Geographic Society).

Sau khi trình bày về phản ứng của người Việt và lý do cuộc vận động ký tên yêu cầu Hội Địa Lý cắt bỏ tên Trung Hoa (Trung quốc - China) ở quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ của họ, thì Bà Leidel cho cô Nhã Trân biết rằng bản đồ đã in nên không sửa được.

Tuy nhiên, khi đề cập đến bản đồ hiện đang lưu hành trên mạng Internet thì bà Leidel không có câu trả lời dứt khoát. Bà chỉ nói rằng Hội Địa Lý có chính sách riêng của Hội.

Cũng trong cuộc điện đàm này, cô Nhã Trân đã nhấn mạnh với người đại diện của Hội Địa Lý rằng:

"Nếu Hội Địa Lý Hoa Kỳ không điều chỉnh bản đồ như yêu cầu thì e rằng sẽ làm gia tăng nỗi bất bình của người Việt khắp mọi nơi. Và sự bất bình của họ có thể sẽ được thể hiện trong những ngày sắp tới."

Đồng thời trưởng ban báo chí của NTHF cũng báo cho bà Leidel hay rằng trong vòng vài ngày nữa, NTHF sẽ gửi đến cho Hội Địa Lý lá thư yêu cầu của 10.000 người Việt khắp nơi trên thế giới cùng với chữ ký của họ trong đợt đầu tiên này.

Bà Leidel cũng đã gửi điện thư đến NTHF, cho biết về một thông cáo báo chí trên website của họ (*). Thông cáo này trình bày quan điểm và chính sách của Hội Địa Lý về các chú thích Paracel Islands, Hoàng Sa, và Xisha Qundao trên các bản đồ do họ xuất bản. Theo thông cáo này, đối với một số bản đồ có tỷ lệ thích ứng cho việc ghi chú, thì Hội Địa Lý vẫn giữ nguyên lập trường đối với các chú thích: "Trung Hoa quản lý" và "Việt Nam đòi chủ quyền."


Kết luận là cho đến nay Hội Địa Lý Hoa Kỳ chưa hề sửa bất kỳ bản đồ nào mà người Việt đang yêu cầu.

Ban Báo Chí
Nguyễn Thái Học Foundation (NTHF)

http://www.nguyenthaihocfoundation.org/

NTHFoundation@yahoo.com

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Trò Hề Không Ai Chịu Nổi

Bùi Tín (viết riêng cho VOA Thứ Tư, 17 tháng 3 2010)


Sáng 17-3, phiên tòa phúc thẩm của Toà án ở Sài Gòn đã tuyên án xử ông Huỳnh Ngọc Sĩ 6 năm tù giam, ông Lê Quả 5 năm tù giam, về tội danh "lợi dụng quyền hạn trong khi thi hành công vụ ".
Huỳnh Ngọc Sỹ nguyên là phó giám đốc Sở giao thông Sài Gòn kiêm Trưởng ban quản lý dự án Đại lộ Đông-Tây; Lê Quả là phó ban quản lý dự án.

Tháng 9-2009, phiên toà sơ thẩm đã xét xử và tuyên án ông Huỳnh Ngọc Sỹ 3 năm tù giam và ông Lê Quả 2 năm tù giam về tội nói trên, cụ thể là cho công ty nước ngoài thuê một diện tích công sở lấy tiền chia nhau.
Ông Sỹ và ông Quả đều kháng án, kêu oan và xin hạ bớt mức án và xin hưởng án treo.

Với việc tuyên án phúc thẩm sáng nay 17-3, chính quyền có thể "khoe mẽ " với nhân dân rằng, đó, thấy chưa, toà án ta công minh, nghiêm túc, phiên phúc thẩm tăng mức án của ông Sỹ lên gấp đôi (từ 3 năm lên 6 năm), của ông Quả lên hơn gấp đôi (từ 2 lên 5 năm).
Nhiều tờ báo trong nước như Tuổi Trẻ, Vietnam Net...đưa tin theo kiểu tâng bốc như thế.

Thật ra toà án mang tên "nhân dân" đã biểu diễn một trò hề vụng dại, trâng tráo và hớ hênh, coi thường nhân dân, công luận đến mức không ai hiểu biết có thể chịu nổi.

Đó là vì:
- Bộ Chính trị Ðảng Cộng sản chỉ đạo vụ xử các vụ án trọng điểm ( hiện có hơn 10 vụ án trọng điểm mà vụ Huỳng Ngọc Sỹ là một) đã cố tình đánh lộn sòng, đánh tráo vụ án chính to lớn sang một vụ án nhỏ, nhỏ hơn vài trăm lần.
- Vụ án thực sự là do phía Nhật Bản khui ra, do một số viên chức cấp cao Nhật của công ty tư vấn CPI thú nhận đã hối lộ cho ông Sỹ nhiều lần, tổng công hơn 3 triệu đôla, có đầy đủ bằng chứng là 820.000 đôla. Phía Nhật đã chuyển 3.000 trang hồ sơ cho Bộ Tư pháp Hà Nội. Một số đại biểu quốc hội đã chất vấn chính phủ và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Cả thủ tướng, tổng thanh tra chính phủ, bộ trưởng tư pháp, chánh án Toà án nhân dân tối cao đều hứa với quốc hội là sẽ nghiêm chỉnh, khẩn trương xét xử nghiêm minh vụ án này.
- Nay họ lờ vụ án "ăn hối lộ cực lớn" trên đây, đưa ra xử vụ án "cho thuê công sở", tham nhũng 1 tỷ 2 đồng, chỉ bằng 1 phần 400 giá trị của vụ án trên, để xập xí xập ngầu, hòng chạy tội cho bọn tội phạm lớn.
- Họ có thể nghĩ rằng cuộc họp Quốc hội sắp đến họ sẽ báo cáo ngon ơ là Vụ Huỳnh Ngọc Sỹ đã xử phúc thẩm xong, phá án xong một vụ án trọng điểm, để rồi tất cả Quốc hội sẽ ngoan ngoãn gật đầu hết cả ư? Xin hãy chờ xem. Khó ai chấp nhận cái trò hề này !
- Mới tháng 1- 2010 ông đại sứ Nhật Bản ở Hà Nội lại sốt ruột thúc giục Hà Nội hãy xử Vụ Huỳnh Ngọc Sỹ để họ còn báo cáo cho chính phủ, Quốc hội và công luận Nhật Bản. Dư luận Nhật rất bất bình khi biết tiền đóng thuế của họ cứ chảy vào túi tham của quan chức Nhật và nước ngoài. Hiện Nhật Bản đang đứng đầu các nước viện trợ và cho Việt Nam vay dài hạn với lãi xuất thấp. Phía Nhật sẽ nhẹ dạ cho qua cái trò hề đánh tráo của toà án Việt nam ư? Cũng chờ xem. Càng khó có người Nhật nào cho qua trò hề bẩn này!

Theo Luật phòng trừ tham nhũng VN, cứ ăn tham 1 tỷ đồng (bằng lao động phổ thông một đời người) là có thể bị tử hình. Vụ này xử nghiêm có thể rụng đến 400 cái đầu. Nhưng ông Sỹ đâu phải lo ! Vì nạn tham nhũng ở nước ta có bè có cánh, thề bồi sống chết có nhau. Khi hết phép mới thí mạng để giữ mình. Chẳng khác gì mafia Ý.

Chẳng lẽ trong báo cáo chính trị trước Đại hội XI vụ án xử Huỳnh Ngọc Sỹ sẽ được dẫn chứng như một thành tích nổi bật chống tham nhũng như chống giặc nội xâm, một thành tích xuất sắc xây dựng nền tư pháp công bằng và nghiêm minh, hoàn thành tốt đẹp, đầy đủ nghị quyết của Đại hội X 5 năm trước.

Bùi Tín
(Tác giải còn có trang Blog ở đaì VOA: http://www.voanews.com/vietnamese/news)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

ABBA được vinh danh tại Bảo tàng Rock and Roll

Một ban nhạc chơi dòng pop nhẹ với sự nổi tiếng bất tử của mình, hoàn toàn có thể sánh ngang với những quyền lực nhạc rock trong thế giới âm nhạc.

Ban nhạc Thụy Điển lừng danh cùng với các huyền thoại nhạc punk The Stooges và nhạc reggae Jimmy Cliff, Genesis, The Hollies,
sẽ được lưu giữ tên tuổi tại bảo tàng Tòa nhà Danh vọng Rock and Roll, Ohio (Mỹ).

Image
Ban nhạc ABBA. Ảnh: AFP/Scanpix.
Theo AFP, 500 chuyên gia về nhạc rock đã thảo luận và bỏ phiếu để chọn ra các ngôi sao trên.

“Những tên tuổi được tôn vinh là những đại diện tiêu biểu cho các thế hệ nghệ sĩ vĩ đại”, chủ tịch Quỹ Rock and Roll Hall of Fame, Joel Peresman, cho biết. “Họ đã có những đóng góp rất lớn cho ngành công nghiệp âm nhạc”.

ABBA là một trong những ban nhạc thành công nhất trong lịch sử nhạc pop. Họ liên tục đứng đầu các bảng xếp hạng âm nhạc khắp thế giới trong khoảng thời gian từ 1972 đến 1982. Những ca khúc do ABBA thể hiện rất quen thuộc với khán giả năm châu, như: Money, Money, Money, Mamma Mia, Chiquitita, Gimme Gimme Gimme, Dancing Queen, SOS, I have a dream, Happy New Year…
Image
Ca sĩ Jimmy Cliff trong buổi biểu diễn năm 2007 tại Anh. Ảnh: WireImage.
Lễ vinh danh sẽ diễn ra tại khách sạn Waldorf Astoria ở New York, trong khi tòa nhà Danh vọng nơi gắn tên các ngôi sao tọa lạc ở Cleveland, Ohio.

Ban nhạc đến từ Anh, The Hollies, và Jimmy Cliff sẽ biểu diễn trong đêm tôn vinh. ABBA sẽ không biểu diễn. Ban nhạc chưa từng tái hợp sau khi tan rã vào cuối năm 1982.
Image
Ban nhạc The Hollies gồm Allan Clarke, Bernie Calvert, Bobby Elliott, Tony Hicks và Graham Nash biểu diễn trong những năm 60. Ảnh: WireImage.


Ca sĩ chính của The Stooges, Iggy Pop, nói rằng ông sẽ mặc một “kiểu áo veste dành cho các bữa tối” để đến lễ tôn vinh. “Một thứ trang phục rất không có chất punk”, nam ca sĩ đùa.

“Ủy ban của chúng tôi đã xem xét ảnh hưởng của nghệ sĩ trong lịch sử nhạc rock and roll, độ lâu bền của sự nghiệp âm nhạc, và tầm quan trọng trong toàn bộ quãng thời gian đó và về sau”, website chính thức của bảo tàng cho biết.

Tòa nhà Danh vọng Rock and Roll nằm bên bờ hồ Erie thuộc khu trung tâm buôn bán Cleveland ở Ohio, Mỹ. Công việc chính của bảo tàng là ghi nhận những đóng góp của các nghệ sĩ, nhà sản xuất nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng nhất trong giới nhạc rock.

Tòa nhà Danh vọng đã vinh danh những ngôi sao như Eric Clapton, Madonna, các ban nhạc The Beatles, The Byrds, Simon và Garfunkel. Năm nay, ngoài các nghệ sĩ biểu diễn, còn có những người làm công việc khác trong ngành âm nhạc, như nhà sản xuất David Geffen, các nhạc sĩ Jesse Stone, Mort Shuman, Otis Blackwell…

Pham Mi Ly

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Số phận một dân tộc phụ thuộc vào người dân


Joyce Anne Nguyen

Theo blog Joyce Anne Nguyen
Nếu ta chỉ ngồi yên chờ đợi. Người này chờ người kia. Người kia chờ người nọ. Mọi người cùng chờ. Chờ đợi một điều hão huyền. Hoặc mong muốn một sự thay đổi nhưng ai đó sẽ làm thay mình, hoặc ai đó đi trước để mình đi theo. Mọi người cùng chờ. Và không điều gì xảy ra.




Số phận một cá nhân phụ thuộc vào tính cách cá nhân đó.

Số phận một dân tộc phụ thuộc vào tính cách của người dân ở đó.
Không ai có thể định đoạt cho dân tộc Việt Nam ngoài chính nhân dân VN.
Ta có thể đưa ra lý do lý giải. Nhưng đó chỉ là cái cớ. Chỉ là sự ngụy biện. Chỉ là lối đối đáp cho qua chuyện không giải quyết được gì như cách nhiều người chỉ cần cãi không cần lý lẽ, chỉ để cố đập lại lý lẽ người khác và biện minh cho những cái sai trái, sai lầm của ban lãnh đạo, và để những cái mục ruỗng thối nát tiếp tục thối nát mục ruỗng. không điều gì được thay đổi. không điều gì trở nên khá hơn.
Đừng nói rằng Việt Nam phải nhún mình chịu nhục trước Trung Quốc để phải chấp bút ký đồng ý tiến hành dự án bauxite và dự án điện hạt nhân, để Trung Quốc lấy Hoàng Sa, Trường Sa, thác Bản Giốc, biển Đông.. và để hàng chục nông dân bị cướp, bị bắt vì đánh cá trên chính biển Việt Nam vì Việt Nam là nước quá nhỏ so với TQ. Đó chỉ là một lối nói. một lối biện minh. một lối giải thích.
Hãy nhìn Campuchia với VN. Hãy nhìn Singapore với các nước lớn xung quanh. Hãy nhìn Ba Lan với Nga. Hãy nhìn…
Tôi có thể kể ra hàng loạt ví dụ phản chứng.
Chẳng qua bởi sự hèn nhát của ban lãnh đạo chỉ muốn giữ ghế giữ Đảng mà không cần quan tâm đến tình hình, số phận đất nước. Chẳng qua bởi sự tuyên truyền trong truyền thông bưng bít thông tin khiến rất nhiều người không được biết đến sự thật. Trong khi hàng chục ngư dân Việt Nam đang bị bắt, bị bắn ngoái biển Đông, dân Việt Nam ta đang tỉ tê khóc Micheal Jackson. Chẳng qua bởi nhân dân Việt Nam không làm gì cả, một bộ phận không biết, một bộ phận vờ như không biết, muốn lờ phát tất cả như không phải việc của mình với quan điểm đó là việc lớn lao nhà nước đã có chính sách mình không phải lo, một bộ phận biết và muốn làm gì đó nhưng không thể làm gì được khi mọi hành động và sự lên tiếng đều bị những người khác xem là điên khùng vớ vẩn dở hơi và bị ngăn chặn bởi chính những nhà cầm quyền VN. Chẳng hạn như việc biểu tình của dân Việt Nam chống Trung Quốc về sự kiện Hoàng Sa, Trường Sa, không giúp ích gì bao nhiêu nhưng đó là một cách thể hiện sự quan tâm đến tình hình an ninh lãnh thổ đất nước, một hình thức lên tiếng, lên tiếng với VN, với Trung Quốc và cả với TG, một cách khẳng định dân Việt Nam không đớn hèn khiếp nhược chấp nhận mất đảo. Biểu tình vì quyền lợi là điều rất bình thường và quen thuộc ở các nước khác, nó chỉ thành lạ, thành điên khùng dở ng, thành loạn trong những xã hội người dân không bao giờ được biểu tình như xã hội VN.
Số phận Việt Nam do chính người Việt Nam định đoạt. Tôi chỉ hỏi, ai có thể đinh đoạt số phận Việt Nam ngoài chính người dân VN? Ko, Trung Quốc không có cái quyền đó. Trung Quốc có thể muốn chiếm Việt Nam và sử dụng nhiều thủ đoạn để đạt được nhiều đó, nhưng vấn đề là Việt Nam chúng ta làm gì? Điều quan trọng là chúng ta làm gì?
Vừa rồi may mắn tôi đã có cơ hội ghé qua Đức, Tiệp Khắc và Ba Lan. Những nước từng theo chế độ cộng sản nhưng đã sụp đổ.
Tại Đức, khao khát tự do, người dân ùa nhau trèo tường chạy từ Đông Đức sang Tây Đức, họ trèo tường, phá tường tới mức giật đổ bức tường Berlin.
Tại Tiệp Khắc, giới trí thức đã lên tiếng và biểu tình vì xã hội kiểm soát không có tự do dân chủ.
Tại Ba Lan, mở đầu, các công nhân đình công và sau đó phong trào nổ ra với sự dẫn dắt của Giáo hoàng.
Chế độ cộng sản sụp đổ.
Người ta có câu “Freedom is not free.” Tự do không phải cho ko. Tự do không phải trái sung tự rụng. Tự do không phải cái từ trên trời rơi xuống. Trong bài phát biểu của nữ thủ tướng Đức vào lễ kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin, bà đã rất nhiều lần nhắc đến điều đó. Tự do không tự đến. Tự do phải tranh đấu để đạt được.
Cùng một chế độ cộng sản, cùng thiếu tự do dân chủ, cùng một hoàn cảnh, tại các nước Đông Âu nhân dân không thể chịu được đã nổi dậy đấu tranh để có thể tự do nói lên quan điểm riêng của mình và làm mọi thứ cho cuộc sống tốt đẹp hơn, cho tự do thực sự. Ở TQ, VN, Bắc Hàn hay Cuba, ngược lại, họ chấp nhận hoàn cảnh với lời an ủi xã hội đang ngày càng tiến bộ và phát trin»ƒn và họ cũng không cần quan tâm họ có quyền nói lên quan điểm của mình hay ko. Họ không cần tự do dân chủ, không cần được đi bầu, không cần được biểu tình, không cần đòi hỏi cho quyền lợi của mình, không cần góp ý kiến và phản đối những chính sách họ cảm thấy có hại cho họ hoặc cho đất nước, họ không cần phản kháng. Đơn thuần chấp nhận. Và họ cho rằng như thế là yêu nước. Cho rằng những người như tôi là phản động, là không yêu nước, là bạc bẽo vô ơn, là kẻ đòi hỏi đất nước làm gì đó cho mình mà không nhìn lại xem mình đã làm gì cho đất nước… Những điều đó tôi đã nghe qua rât nhiều lần.
Cho tự do và độc lập bền vững thực sự, chúng ta không thể chờ đợi bất kỳ ai. Bản thân chúng ta phải tự ý thức và đứng dậy. Thoát khỏi cái ách của TQ. Trở thành một đất nước thực sự độc lập không phụ thuộc và đứng trên đôi chân của mình. Đừng bao giờ hy vọng vào Mỹ, như nhiều người đã hy vọng sự can thiệp từ phía Mỹ. Quá lạc quan thiếu thực tế, toàn mơ mộng hão huyền. Tôi chỉ muốn hỏi, giữa Việt Nam và TQ, tại sao họ phải đứng về phía Việt Nam để chống lại một nước lớn như TQ? Rút cuộc họ cũng sẽ nghĩ đến quyền lợi của nước họ và chọn đứng bên ngoài như cách Mỹ đã bỏ rơi miền Nam trước kia. Mỹ sẽ không bao giờ can thiệp. Hãy nhìn Tây Tạng. Hãy nhìn Tân Cương. Quốc tế cùng lên tiếng nhưng lên tiếng chỉ là lên tiếng. Tây Tạng, Tân Cương vẫn tiếp tục bị đàn áp. Và từ ngày Obama lên, và trong suốt thời gian qua nhìn những gì Obama đang làm, tôi thấy càng không có hy vọng vào sự giúp đỡ của Mỹ bởi Obama đang ngày càng có những dấu hiệu hèn nhát và yếu đuối trước Trung Quốc trong việc không dám tiếp Dalai Lama và khẳng định sẽ không để những vấn đề về nhân quyền ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao giữa 2 nước.
Và ai lại giúp đỡ một đất nước mà bản thân người dân nước đó cũng bàng quan lãnh đạm trước số phận dân tộc họ?
Bức tường Berlin đã sụp đổ. Bức tường ở Việt Nam vẫn chưa.



Vấn đề hiện nay của Việt Nam không chỉ là bức tường lửa của nhà nước chặn lại những luồng thông tin khác để người dân không được biết đến những tin tức khác, không chỉ là bàn tay che mặt trời. Mà còn là bức tường vô hình do chính người dân Việt Nam tự tạo ra làm rào cản bao bọc chính mình và từ chối quan tâm đến chính trị xã hội. Tự xây cho mình rào cản, họ cho rằng chính trị là cái gì đó rất to tát và phức tạp bản thân họ không hiểu nổi mà không biết rằng mọi vấn đề trong một đất nước suy tận cùng đều bắt nguồn từ chế độ, từ thể chế chính trị. Họ tự nhủ đó là những vấn đề lớn lao họ không thể làm gì được và không cần để ý đến vì đã có nhà nước lo hộ. Tin tưởng nhà nước đã có chính sách giải quyết và cải thiện những vấn đề đó dù đã sống trong Việt Nam bao nhiêu năm và không hề thấy chút dấu hiệu của điều này. Miễn là họ còn có cơm ăn áo mặc, còn có thể đi chơi, giải trí, có điều kiện đi học hoặc đi làm, thế là đủ, họ không muốn quan tâm đến chính trị hay lãnh thổ. Thậm chí nguy cơ mất nước cũng không gây ảnh hưởng gì đến cuộc sống của họ, ít nhất là hiện nay trong suy nghĩ của họ, có lẽ việc mất nước sẽ không xảy ra vì họ tin vào truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta, không nhận ra rằng bây giờ với VN, Trung Quốc không cần kéo quân sang hùng hổ đánh chiếm, thế này dễ hơn nhiều, nuốt từ từ, nhâm nhi nhấm nháp không nuốt trộng. Ta đã mất đảo. Đã mất biển. Và sẽ mất cao nguyên. Và sẽ mất tất cả.
Nếu ta chỉ ngồi yên chờ đợi.
Người này chờ người kia.
Người kia chờ người nọ.
Mọi người cùng chờ. Chờ đợi một điều hão huyền. Hoặc mong muốn một sự thay đổi nhưng ai đó sẽ làm thay mình, hoặc ai đó đi trước để mình đi theo.
Mọi người cùng chờ. Và không điều gì xảy ra.
Gát·p người Việt ở Đức, Ba Lan và Tiệp Khắc, trực tiếp gặp và nói chuyện với họ, ngoài thực tế đáng buồn là cộng đồng Việt rất khép kín, không hội nhập với đất nước họ đang sống (bởi danh nghĩa sống tạm thời: tạm thời 10 năm, 20 năm, 30 năm...) mà chỉ co cụm với nhau trong cộng đồng người Việt ăn thức ăn Việt nói tiếng Việt, tôi còn thấy một sự thật khác, họ không xem gì ngoài VTV4 và An ninh Thế Giới. Ta không thể nói đó là vì “bức tường lửa” của nhà nước Việt Nam cản trở con người tiếp cận những luồng thông tin phong phú đa dạng, nhưng đó là “bức tường vô hình”. không ai cấm cản hay áp đặt họ phải xem VTV4 và đọc An ninh TG, ở nước người họ hoàn toàn tự do, nhưng họ chỉ có thế. Họ không cần biết gì thêm, không cần quan tâm thêm. Thế đã đủ, điều duy nhất họ quan tâm là cuộc sống mưu sinh, là tiền bạc, là đời sống. Trong bữa ăn họ cùng chửi nhà nước, chửi đường lối của Đảng, chửi ban lãnh đạo.. Nhưng rút cuộc họ cũng chỉ xem VTV4, đọc An ninh TG, bởi họ sợ. Họ sợ. Họ vẫn muốn về nước. Họ không muốn về đến cửa khẩu lại bị trục xuất hoặc thậm chí bị bắt vì tội danh “phản động”. Nỗi sợ luôn luôn ở đó, luôn tồn tại, nỗi sợ đã từ lâu ngấm vào máu họ và kiểm soát, chi phối họ. Nỗi sợ khiến họ im lặng chấp nhận không lên tiếng, không phản kháng và điều duy nhất họ có thể làm là tìm mọi cách ra nước ngoài để có cuộc sống tốt hơn. Hàng trăm hàng ngàn cách khác nhau để người Việt Nam rời khỏi nước trong suốt 34 năm nay. Vượt biên, lao động hợp tác, môi giới lao động, du học theo học bổng hoặc tự túc, bảo lãnh, làm giấy tờ đăng ký kết hôn giả, hôn nhân, đăng ký giấy phép kinh doanh sang Nga và vượt rừng sang Ba Lan hoặc Tiệp Khắc sống bất hợp pháp không giấy tờ…


Ngoài những lý do là sự hèn nhát bạc nhược sợ hãi một thứ quyền lực vô hình và ảnh hưởng quá nặng nề của nhồi sọ, người Việt Nam chấp nhận cuộc sống này và cho rằng như thế đã tốt, không cần đấu tranh là vì họ không cần tự do dân chủ. Họ không cần. Bởi họ không hiểu được giá trị và sự quan trá.ng của tự do dân chủ. Bao lâu nay sống trong xã hội độc tài đã khiến họ mất đi khao khát tự do nói lên quan điểm của mình. Con chim bị nhốt quá lâu trong lồng đến khi tự do lại thấy hãi sợ và không hạnh phúc, trong phạm vi chật hẹp của cái lồng, nó cảm thấy an toàn, không có điều gì đe dọa. Và đã từ lâu nó mât đi cảm giác hứng thú với việc bay nhảy giữa TG rộng lớn không kìm kẹp giới hạn.
Ngay từ trong nền giáo dục đã vậy. Đến trường học Văn họ có thể có nhiều ý và chi tiết khác nhau nhưng quan điểm luôn theo sgk và gv. Với một bài thơ dở, ta vẫn phải viết là nó hay vì sgk bảo nó hay. Cả một guồng 12 năm phổ thông lên đến ĐH, đó là cả một hệ thống và đã từ lâu hs trở nên quen với cách sống đó. Và tới một lúc nào đó họ không còn nghĩ đến việc đó nữa và cho rằng đó là điều bình thường, thậm chí tốt, khi họ không có chút cảm giác gì với một bài thơ hoặc bài văn, họ có thể bê toàn bộ sách vở vào. Rất an toàn. Giờ Sử hs đứng lên căn vặn về vấn đề “nhạy cảm”, giáo viên vòng vo nói nó “nhạy cảm” và lảng sang chuyện đông chuyện tây.
Khi đã sống quá lâu không được quyền nói lên quan điểm riêng của mình, dần dần con người không cần đến quyền ấy, và thậm chí họ cũng không còn khả năng tư duy độc lập có suy nghĩ riêng, ý kiến riêng và tự phán xét điều gì đúng điều gì sai từ việc đọc, quan sát và đánh giá thực tế, chỉ còn lắng nghe một luồng thông tin duy nhất họ vốn luôn được nghe và tin vào những điều họ đã luôn được dạy. Họ đóng cửa không cần biết đến những cách suy nghĩ khác và cũng không cần quan tâm đến điều gì đang xảy ra. Cuộc sống tiếp diễn, ăn no mặc ấm, ăn ngon mặc đẹp, là đủ. Và khi không còn thấy giá trị và sự quan trọng của tự do dân chủ, của việc nói lên ý kiến riêng và đòi hỏi cho quyền lợi của bản thân mình, của việc biểu tình, chống đối và phản kháng những điều họ cảm thấy không đúng, họ không còn đấu tranh vì nó.
Rồi dần dần họ trở nên vô cảm và vô tình với mọi thứ. không còn gì là chuyện của họ. Đồng bào sống chết ra sao không phải việc của họ. Chính trị xã hội không phải việc của họ. An ninh lãnh thổ không phải việc của họ. Việc sống còn của đất nước không phải việc của họ.
Việc của họ giới hạn trong bán kính bản thân họ, gia đình họ và công việc của họ.


Họ sợ bị ảnh hưởng. Sợ bị liên lụy. Thấy người quen bắt đầu bị nhà nước “quan tâm” vì lên tiếng, họ rụt lại và không dám gọi hỏi thăm dù chỉ một cú điện thoại.
Mỗi con người Việt Nam đều biết xã hội đã nát bét như thế nào. Biết nhà nước cùng ban lãnh đạo đã tồi tệ đến mức nào. Như chỉ một số muốn có một sự thay đổi. Số còn lại thích ứng và không nghĩ đến, để tiếp tục tồn tại.
Họ quên rằng họ là người VN. Họ đang sống ở VN. Họ ở Việt Nam và phải chịu những vấn đề, khó khăn và hạn chế của VN. Họ phải chịu sự bất công và bất ổn tại VN.
Họ quên rằng nếu mất nước họ sẽ không còn là người Việt Nam và không còn đất nước VN. Họ quên rằng nếu có chuyện trầm trọng xảy ra với VN, họ cũng sẽ phải hứng chịu. Họ quên rằng nếu họ đứng lên đấu tranh, kết quả sẽ đem lại tự do thực sự và cuộc sống tốt đẹp thuận lợi hơn cho họ. Họ quên rằng họ đã được học rất nhiều về tinh thần chiến đấu bền bỉ kiên gan của dân Việt Nam trong quá khứ chống lại kẻ thù xâm lược từ xa xưa và Việt Nam vẫn luôn là Việt Nam với ngôn ngữ riêng của người Việt Nam dù Trung Quốc đã rất nhiều lần xâm lược, và Việt Nam đã thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc còn giờ đây ta đang từ từ và dần dần mất từng tấc đất.
Họ quên rằng chỉ người Việt Nam mới có thể quyết định số phận của Việt Nam và chỉ có họ có thể đứng lên chứ không thể hy vọng vào sự can thiệp của bất kỳ quốc gia nào. Họ quên rằng không ai giúp đỡ một quốc gia mà thân người dân nước đó còn lãnh đạm thờ ơ với dân tộc mình.
Số phận dân tộc Việt Nam do chính người Việt Nam định đoạt.
If u don't stand up for your rights, who will? If u don't struggle for your better life, who will? If u don't fight for democracy, who will? Don’t keep waiting, do sth!
Joyce Anne Nguyen
2g18ph sáng, Na Uy

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Số phận của Cải tổ Y tế tới chỗ định đoạt

Image
Tranh luận giữa người biểu tình bênh và chống Cải tổ Y tế

WASHINGTON – Chiều Thứ Năm bản dự luật Cải tổ Y tế được điều chỉnh đã được công bố và Hạ viện sẽ biểu quyết vào ngày Chủ Nhật.

Nhiều điều khoản được sửa đổi hoặc thêm bớt, nhằm dung hòa những quan điểm khác biệt quá gay gắt và tạo điều kiện cho cho một số Dân biểu đảng Dân Chủ đã không đồng ý bây giờ có thể chấp nhận.

Một số những sửa đổi đáng chú ý:

- Gia tăng tài trợ khoảng $25 tỷ trong một thập niên để giúp những người lần đầu tiên phải bắt buộc mua bảo hiểm

- Để làm nhẹ lo lắng của các Thống đốc, thêm $8 tỷ cho 11 tiểu bang và thủ đô Washington, những nơi hiện nay đã cung cấp bảo hiểm Medicaid như đòi hỏi của đạo luật tương lai.

- Thêm $250 bù cho khoản tiền mua thuốc mà Medicare không bảo đảm cho người cao niên.

Dự luật cải tổ y tế nhắm mở rộng bảo hiểm cho 32 triệu dân Mỹ chưa có bảo hiểm, ngăn cấm các công ty bảo hiểm từ chối khách hàng căn cứ trên tình trạng y khoa đã sẵn có từ trước và giảm bớt thâm hụt công quỹ khoảng $138 tỷ trong vòng 10 năm tới.

Là chương trình ưu tiên hàng đầu của Tổng thống Obama cùng đảng Dân Chủ, với những nỗ lực hoạch định, tranh luận và vận động suốt 16 tháng, sẽ được định đoạt ở Hạ viện ngày Chủ Nhật. Đạo luật cải tổ y tế nều đạt tới sẽ là một thành tích lịch sử mà qua hơn nửa thế kỷ đã chưa một chính quyền nào thực hiện được.

Bà Nancy Pelosi, Chủ tịch Hạ viện, có thêm một số đáp ứng tích cực trong mấy ngày gần đây, lạc quan tin tưởng dự luật sẽ được thông qua. Tuy nhiên việc Tổng thống Obama quyết định đình hoãn chuyếnđi Indonesiavà Autraliatới tháng 6, để ở lại Washington theo dõi tiến triển cũng nhưvận động vào phút chót, cho thấy kết quả biểu quyết hãy còn bấp bênh.

Tổng thống Obama và giới lãnh đạo Dân Chủ tập trung nỗ lực vận động vào hai nhóm Dân Biểu Dân Chủ: 37 người đã bỏ phiếu chống dự luật cuối năm ngoái và 40 người chỉ đồng ý sau khi được bảo đảm có giới hạn chặt chẽ về phá thai, điều khoản này trong dự luật mới đã được điều chỉnh theo hướng đó.

Theo dự đoán toàn thể các Dân Biểu Cộng Hòa sẽ bỏ phiếu chống, có thể kể cả Dân Biểu Joseph Cao, người Cộng Hòa duy nhất trước đây đã bỏ phiếu ủng hộ. Cần phải có 216 phiếu để thông qua dự luật, đảng Dân Chủ có 253 Dân Biểu và như vậy số chống đối nội bộ không thể cao hơn 37. Theo CNN vẫn còn ít nhất 28 Dân Biểu Dân Chủ sẽ bỏ phiếu chống.

Thể thức mà Quốc Hội Dân Chủ hiện nay đang áp dụng để thông qua Dự luật Y tế là Hạ viện không trực tiếp biểu quyết Dự luậtnguyên thủyThượng viện đã chấp thuận,mà biểu quyết dự luật được chấn chỉnh. Biểu quyết với đa số quá bán.

Sau đó Thượng viện sẽ chấp nhận những điểm chấn chỉnh, bằng biểu quyết đa số quá bán 51/100 (thủ tục “conciliation”), không cần qua thủ tục '60/100 phiếu đốngýđưa ra biểu quyết', vượt qua sự ngăn trở bởi chiến thuật filibuster của Cộng Hào. (HC)

Post Reply