Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Tản Mạn Về Phụ Nữ Ngày Nay
Phạm Thị Quang Ninh


Trong các lời chúc tụng của người Việt ta ngày xưa có một câu chúc cho các cặp vợ chồng trẻ, xem ra không hợp với thời đại này nữa, đó là “Chúc đầu năm con trai, cuối năm con gái”. Tuy nhiên, nếu ta ngẫm nghĩ một lúc thì thấy câu này hàm một triết lý sâu sắc là sự cân bằng giới tính trong xã hội của ta.

Thật ra, cái thời tôi còn trẻ, tôi cũng đã bị ảnh hưởng của các cụ là lấy chồng thì “phải có con trai” nối dõi tông đường cho nhà chồng. Nhưng thật ra cái “phải có” ấy là do trời chứ đâu có do mình. Quan niệm đầy thành kiến “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, một người con trai đã kể là có, mà mười người con gái cũng kể như không, làm cho mọi người xem trọng con trai hơn.

Tuy phong tục là thế nhưng khi có con, trai hay gái cha mẹ nào cũng thương yêu đồng đều, không phân biệt. Nếu cha mẹ săn sóc con cái đầy đủ như nhau thì khi lớn lên trai hay gái đều sẽ có cơ hội tiến thân để trở thành người hữu ích cho xã hội.

Đứng ở vị thế một người mẹ, tôi còn thấy con gái dễ thông cảm khi người mẹ tâm sự những lúc buồn hơn là con trai. Khi bàn đến chuyện này, các bạn tôi cũng đều nghĩ thế.

Mới đây, đài Á Châu Tự do đã loan một tin liên quan đến giới tính của các em bé. Một cuộc nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc báo động tình trạng bất quân bình về giới tính của Việt Nam sẽ xảy ra trong vòng mười năm nữa. Theo tờ Strait Times, tỉ lệ là 100 bé gái thì có 120 bé trai. Điều này sẽ đem đến tệ nạn trai thừa, gái thiếu như nước Trung hoa hiện tại.

Theo phúc trình của quỹ Dân Số Thế Giới vào tháng 10 năm 2007, thì ở Việt Nam dân số đã hạ thấp và có sự bất quân bình giới tính. Nguyên do đưa đến sự chênh lệch này là nhiều cặp vợ chồng thích con trai, lợi dụng kỹ thuật tân tiến siêu âm, biết được giới tính của bào thai và đã nhẫn tâm cho phá những bào thai con gái. Cũng theo tổ chức này thì việc phá thai gần như được khuyến khích.

Một nhật báo bên Trung quốc loan tin, hàng năm có khoảng 1.5 triệu phụ nữ Việt Nam đi nạo thai. Khi phá thai thì thể chất và tinh thần của người mẹ chắc chắn bị tổn thương không ít thì nhiều. Viện Phụ sản Trung ương ở Hànội đã cho biết cứ 5 ngày lại có một phụ nữ chết vì phá thai.

Thật khủng khiếp và vô nhân đạo!

Hãy nhìn sang thế giới văn minh, họ không phân biệt giới tính của trẻ em. Vì quan niệm rộng rãi như thế, phụ nữ không bị mặc cảm và trở nên những người đàn bà giúp ích nhiều cho gia đình và xã hội. Không những họ chu toàn việc nhà mà còn chứng tỏ họ có nhiều khả năng đa dạng bên ngoài nữa.

Mặc dù vẫn còn một vài nước lạc hậu, xã hội công khai xem đàn bà là “công dân hạng hai,” “trọng nam khinh nữ” nhưng không ai phủ nhận được trong giai đoạn này người phụ nữ trên thế giới tự do đã thành công trong nhiều lãnh vực. Sự thành công của họ là do tinh thần cầu tiến.

Đọc tin tức hàng ngày, chị em bạn gái chắc phải hãnh diện về những thành quả này. Phụ nữ đã thành công trên mọi mặt, kể cả những lãnh vực mà rất khó chen chân với nam giới. Đã có phái nữ được dân của họ bầu để lãnh đạo đất nước. Các vị nữ tổng thống, thủ tướng trên thế giới, như Aquino, Arroyo của Phi Luật Tân; Thatcher của Anh, Gandhi của Ấn, Merkel của Đức, Bhutto của Pakistan, Bachelet của Chili và hàng trăm nữ lưu đã và đang lãnh đạo quốc gia của họ. Ngoài ra còn một nhà nhân quyền nổi tiếng, bà Aung San Suu Kyi được toàn thế giới kính phục và đang bị quản chế tại nhà bởi tập đàn quân phiệt cầm quyền Miến Điện.

Xa hơn, theo tin AFP, các phụ nữ lãnh đạo toàn cầu đã họp thượng đỉnh lần đầu tiên (International Women Leaders Global Security Summit) tại Nữu Ước ngày 16, 17 tháng 11 năm nay. Họ không những quan tâm về những vấn đề liên quan đến phụ nữ mà còn những vấn đề của thế giới như độ nóng toàn cầu, khủng bố vv…

Tại Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, cựu đệ nhất phu nhân, thượng nghị sĩ, ứng cử viên tổng thống của nước Mỹ là một đảng viên sáng giá của đảng Dân chủ. Tuy không được đại diện cho đảng, bà là ngôi sao sáng của phần lớn người dân Hoa Kỳ. Gần đây nhất, một đệ nhất phu nhân trẻ đẹp, trí thức của xứ Argentina, bà Cristina Fernandez de Kirchner mới đắc cử tổng thống. Và bà là vị nữ tổng thống đầu tiên của nước này.

Thật sự bà Kirchner không phải là người phụ nữ đầu tiên cầm quyền tại Argentina. Trước bà, một đệ nhất phu nhân khác, tuy không được dân bầu nhưng lại có nhiều quyền lực. Đó là bà Isabel Peron, còn được gọi là Evita. Mỗi người một cảnh, bà Evita không được may mắn khi còn bé vì là con ngọai hôn. Thời đó, những người con không chính thức bị xã hội khinh bỉ nên mẹ con bà sống rất nghèo khổ. Từ cái nỗi khổ đó, bà có tâm thức vươn lên.

Bà Evita đã bỏ miền quê lên tỉnh lập nghiệp. Sau bà trở thành ca sĩ, vũ nữ không nổi tiếng. Nhưng nhờ có sắc đẹp, bà có cơ hội may mắn được làm vợ một tướng lãnh, sau ông đắc cử tổng thống Argentia.

Trong thời gian ông tổng thống Peron cầm quyền, bà là người rất gần với người nghèo, và giai cấp lao động. Bà dùng quyền lực để chia sẻ của cải người giàu cho kẻ nghèo. Bà xây nhà thương, trường học và viện dưỡng lão. Dân chúng thương yêu và tôn sùng bà với cái danh hiệu là “Lady of Hope”, tuy rằng bà không được tôn trọng ở vài quốc gia khác vì ông chồng là một nhà độc tài. Nhưng ít ra dân Argentina cũng còn may mắn hơn nhiều nước độc tài khác vì vị đệ nhất phu nhân đã biết thương dân.

Cuộc đời của bà Evita quá đặc biệt nên đã được dựng thành phim. Phim “Evita”, do ca sĩ Madona đóng vai chính với bài hát bất hủ “Don’t Cry for Me Argentina”.

Theo tôi, phim ảnh không những để giải trí, mà còn cho khán giả biết thêm về lịch sử hay hiện trạng xã hội trong thời điểm nào đó.

Nhà đạo diễn Guy Jacobsen mới cho trình chiếu phim Holly (2007), nói về thảm cảnh các bé gái Việt Nam bị bán sang Cambodia làm gái mãi dâm. Trước khi thực hiện, ông Jacobsen đã đi tới tận nơi để sưu tầm sự thực. Sau đó ông cùng với ông Gay Moshe viết thành truyện phim.
Image
Trong phim Holly (2007), tài tử Ron Livingston đóng vai
một Mỹ Kiều sống ở Cam-Bốt muốn cứu một bé gái Việt Nam
12 tuổi ra khỏi nghề mãi dâm


Phim Holly hiện đang trình chiếu, và tất hẳn làm khán giả bàng hoàng và quan tâm. Những hoàn cảnh đau thương của trẻ em trên thế giới, nhất là trẻ em Việt Nam được những cơ quan truyền thông đăng tải nhiều, nhưng hình như tệ nạn không có gì thay đổi.

Tôi vô cùng cảm phục những nhà làm phim đã can đảm phơi bày sự thật như phim Holly. Do đó tôi tin rằng phim ảnh còn có tác dụng giáo dục và đánh động lương tâm con người, nhất là các cấp lãnh đạo Việt Nam hiện tại, nếu họ còn lương tâm. Tục ngữ tây phương có câu “một bức hình bằng cả ngàn lời nói”. Theo tôi, một cuốn phim cũng có giá trị bằng cả ngàn bài diễn thuyết.

Trở về với thế giới tự do bây giờ, các ngôi sao phụ nữ đã và đang sáng chói trên nền trời. Riêng người Việt Nam là di dân mới nhất, hơn ba mươi năm, thế hệ thứ hai, thứ ba cũng đã thành công trong nhiều lãnh vực. Đặc biệt nhất là người trẻ đã vào được dòng chính của các quốc gia tạm dung.

Ở hải ngoại, chúng ta đã có nhiều luật sư, bác sĩ, kỹ sư vv… và đã có những nhà nữ dân cử gốc Việt trên nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Hoa kỳ, chúng ta còn có các nữ khoa học gia lẫy lừng trong chính quyền. Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh vừa được Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ vinh danh là người đã góp nhiều công sức cho lợi ích quốc gia. Tổ chức phi chính phủ The Service To America Medals đã kỹ lưỡng chọn người xứng đáng nhất để trao huy chương. Bà Dương Nguyệt Ánh đã thắng trên hàng trăm nhân vật tài ba nhất nước Mỹ. Đặc biệt, bà là một người đàn bà có cuộc sống bình thưòng. Bà vẫn chu toàn bổn phận người vợ, người mẹ trong gia đình.

Một tổ chức phi chính phủ khác tại Mỹ, tổ chức MacArthur Foundation đã trao một giải thưởng cao quí nhất về khoa học cho một nữ thiên tài trẻ gốc Việt Nam. Đó là nữ khoa học gia tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng đã được tổ chức này cho giải MacArthur Fellowship 2007, giải thiên tài với năm trăm ngàn Mỹ kim. Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng hiện làm việc trong phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos.
Image
Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng trong hình chụp ở nhà riêng,
Los Alamos, New Mexico


Đọc tiểu sử của hai nhà khoa học gia gốc Việt nổi tiếng này, ai cũng phải cảm phục. Họ đến Mỹ không có vốn liếng tiếng Anh như người bản xứ nhưng trí tuệ và niềm tự ái dân tộc đã thúc đẩy họ thành công trong sự nghiệp. Đó chỉ là vài thí dụ, còn biết bao phụ nữ Việt sống ở hải ngoại thành công trên mọi lãnh vực nữa.

Từ những ngôi sao rực rỡ của nền trời tự do, nhìn vào cái chấm nhỏ Cộng sản trên bản đồ thế giới, sự âm u bao phủ hơn tám chục triệu người Việt Nam. Trong cái tối tăm đó, sáng rực lên những ngôi sao hiếm hoi. Đó là phụ nữ đủ các lớp tuổi, chen cánh với nam giới để tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.

Điển hình là luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và những bà vợ hiền của các nhà tranh đấu dân chủ, luôn luôn sát cánh bên chồng khi hoạn nạn.

Nói về luật sư Lê Thị Công Nhân, cô còn rất trẻ và là phát ngôn nhân của đảng Thăng Tiến Việt Nam, người đang bị CS cầm tù. Cô vừa được Tổ Chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam trao giải Nhân Quyền 2007. Luật sư Lê Thị Công Nhân có những lời tuyên bố bất khuất “Một lần nữa tôi xin khẳng định tôi không bao giờ đầu hàng, không bao giờ thoả hiệp với CSVN….”

Thân bé bỏng liễu mềm trước gió
Hồn thép gang thách đố bạo quyền

(Trích bài thơ tặng LS Lê Thị Công Nhân của Ngô Đức Diễm)

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cũng là một anh thư, dám đứng lên tranh đấu cho dân oan. Bà bị CS đấu tố, trù dập và bị ngồi tù. Bà có nhiều bài viết hùng hồn, châm biếm chế độ Công Sản rải rác trong báo chí hải ngoại và “báo chui” trong nước. Vì tranh đấu cho dân chủ, nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ đã được tổ chức Human Rights Watch trao giải thưởng cao quí Hellman-Hammett. Mới đây bà còn được tổ chức Văn Bút Quốc Tế mời làm hội viên danh dự. Những bài viết của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đã được in thành sách, “Viết Từ Hang Đá, Nhỏ Lệ Cùng Dân”. Trong đó có mấy vần thơ khí khái :

Nếu tôi chết hãy ghi lên huyệt mộ
Rằng đây là người yêu nước thương dân

(thơ TKTT)

Dù các nhà tranh đấu dân chủ như nhưng vì sao sáng nhưng họ đã sống trong xã hội Cộng sản chập chùng đầy bóng tối, nên những vì sao ấy vẫn không soi nổi được vào lương tâm của những kẻ cầm quyền.

Theo thói thường, cái gì có tự do thì được phát triển. Trí tuệ cũng vây. Bác sĩ Robert Butler, rất uy tín về lão khoa, sau nhiều năm nghiên cứu đã tìm ra rằng trí óc người ta không bị suy yếu khi tuổi già mà chỉ bị yếu đi khi không suy nghĩ. Như vậy ta có thể giải thích tại sao có những cụ già còn rất minh mẫn mà người trẻ hơn lại bị lú lẫn. Bác sĩ Butler cho biết rằng nếu để con người sống cô lập với thế giới bên ngoài và không dùng trí óc thì một thời gian sau người đó sẽ trở nên thụ động.

Người Cộng sản tìm cách ngu dân để dễ trị nên không cho dân có tự do. Khi không có tự do và bị áp chế, người ta sợ hãi nên không suy nghĩ, bảo sao nghe vậy. Trong trường học, các sinh viên chỉ biết có một chiều về những gì mà nhà nước dạy. Vì không suy nghĩ nên trí óc của người dân thành ù lì, không mở mang.

Các quốc gia có văn minh là nhờ người dân được tự do. Cho nên muốn xã hội thăng tiến phải thay đổi chế độ, nâng cao dân trí, đất nước sẽ phát triển theo nền văn minh thế giới.

Những ngôi sao sáng như luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và những nhà dân chủ khác là những bông hoa hiếm quí có trí tuệ và lương tri. Như lời luật sư Lê Thị Công Nhân đã nói “Sống thế nào thì sống, vẫn phải giữ lòng tự trọng và lương tâm của mình…”

Câu nói để đời của LS Lê Thị Công Nhân đáng để cho tuổi trẻ Việt Nam lấy làm phương châm cho quan niệm sống.

Nếu những người con gái nổi tiếng ở trong nước vì cái danh tài tử, ca sĩ, người mẫu biết chọn LS Lê Thị Công Nhân làm thần tượng, sẽ không bao giờ lạc hướng, trụỵ lạc như bây giờ. Họ sẽ biết tự trọng. Những cô gái dùng nhan sắc để sống dâm ô, trác táng là những người thiếu giáo dục. Làm ra “sex scancal”, làm gái mua vui cho đàn ông… là những điều đáng khinh bỉ.

Những cô gái Việt lạc hướng này, theo như báo chí đăng tải củng là những người có cắp sách đến trường. Vậy ai giáo dục họ như vây? Phải chi họ có liêm sỉ, suy nghĩ cẩn thận, biết tôn trọng sắc đẹp của mình để giúp mình và giúp người, thì không chừng họ trở thành “Evita Việt Nam”, cứu vớt được bao nhiêu cô gái nhà nghèo ít học khác. Nhưng thật buồn, nhiều cô gái sống trong xã hội CS đang hư hỏng.

Mới đây ông đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael Michalak nói sẽ cho nhiều sinh viên Việt Nam sang du học tại Hoa Kỳ. Ông nói “ Hai mươi năm sau chúng ta sẽ không nói Mỹ đã vào Việt Nam để kiếm tiền, mà chúng ta sẽ nói rằng hơn 75% của nội các Việt là những người đã sang Mỹ du học”. Nghe vậy, tôi rất hồi hộp.

Tôi lo rằng Cộng Sản sẽ mánh mung để đưa con cháu họ sang Hoa Kỳ. Nếu toàn con cán bộ công an sang du học, mục đích chỉ để chuyển ngân mua nhà, mua cửa, ăn chơi trác táng thì vô cùng tai họa. Họ sẽ làm gương xấu cho các sinh viên trẻ và làm mang tiếng cho cộng đồng người Việt. Nếu thành phần này lại sẽ là giai cấp lãnh đạo thì đất nước Việt Nam càng nát bấy. Đã có nhiều phóng sự cho thấy các học sinh du học trở nên “thân tàn ma dại” vì chơi bời và rượu chè, nhất là nữ sinh viên.

Nhưng tôi lại nghĩ nước ta còn nhiều thanh niên, thanh nữ ưu tú. Nếu được đi học nước ngoài họ sẽ có cơ hội phát triển tài năng giúp nước. Tôi mong Hoa kỳ sẽ công bằng tuyển lựa sinh viên Việt Nam cầu tiến sang du học, trong đó có những nữ sinh viên. Và tôi cầu nguyện người Mỹ thành công trong cuộc “khai sáng” cho giới trẻ Việt Nam, để họ nhận biết thế nào là dân chủ và dân quyền của thế giới tự do.

Nếu Hoa Kỳ tuyển chọn những sinh viên hiếu học và cầu tiến, tôi tin chắc giới trẻ này sẽ có tâm thức, biết chọn lựa những tinh hoa nước ngoài mang về nước. Họ sẽ thay thế chế độ hiện tại để lập lại nền giáo dục quần chúng, cải tổ xã hội, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ và trẻ em, bảo vệ môi sinh, bảo vệ lãnh thổ và những vấn đề xã hội khác nữa. Như vậy thì sớm muộn chế độ Cộng sản Việt Nam phải sụp đổ.

Trong khi chờ đợi sự thành công mong muốn đó, dân trong nước vẫn phải sống chung với những tệ nạn chung quanh, dưới chế độ Cộng Sản.

Đài Á Châu Tự Do đã nói đến một trong những tệ nạn đó. Theo đài, “nước Việt Nam Cộng sản đang có tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em. Đó là một hình thức nô lệ mới”. Nước Việt Nam đã từng bị nô lệ người Tầu, người Tây nhưng đây là lần đầu tiên phụ nữ và trẻ em gái bị hạ nhục như vậy. Theo tôi, tệ nạn nào cũng phải núp dưới cái dù nào đó. Mà cái dù đó chắc chắn phải rất lớn, rất quyền lực và cái dù đó phải được nhiểu lợi nhuận.

Vì có tệ nạn này, giới nghèo ở vùng quê, vì miếng cơm manh áo, cha mẹ, ông bà đã nhẫn tâm bán con, bán cháu gái mình cho bọn bất lương. Thật là những hành động của những kẻ mất hết lý trí và lương tâm. Quá ghê sợ! Tình người dưới chế độ CS duy vật đã cạn hết rồi chăng?

Theo linh muc Tonlop Sophai, người đang phục vụ tại Battambang, Cambodia, những đứa trẻ gái bị bán sang Cambodia phần lớn là các em bé gái Viêt Nam còn rất nhỏ. Tình trạng này nhiều đến nỗi người Cambodia phải khinh bỉ mà nói rằng họ nghèo nhưng không bao giờ bán con gái như người Việt Nam.

Rất đúng là những hành động vô nhân tính ấy là vì nghèo quá và không được giáo dục nên mất lương tri, nhưng ai đã làm nên nỗi? Ai đã phá sản nền đạo đức của một nước có hàng ngàn năm văn hiến để trở về thời man dã, lạc hậu? Có phải vì người cầm quyền vô tài, thiếu đức? Hay là tại cái chủ thuyết ma quái duy vật? Hay tại cái cơ chế xã hội độc tài, độc đảng lạc hậu đưa đến tham nhũng, cướp cạn đất đai và của cải của người dân? Hỏi mà chính là đã trả lời.

Người ta nói tuổi trẻ là tương lai của đất nước. Nhìn cách sống cuả tuổi trẻ tại Việt Nam bây giờ, con cái cán bộ thì trác táng, dùng tiền tham nhũng của cha mẹ ra ăn chơi, tung đô la qua cửa sổ. Mà tiền ấy chắc có phần nào của người hải ngoại.

Con gái tỉnh thành có nhan sắc, không túng thiếu vẫn tự bán mình, gạt gẫm đàn ông để có thêm tiền. Con gái quê, nhà nghèo thì chịu cảnh oan khiên, thất học bị lợi dụng, bị bán buôn như nô lệ. Con gái có cơ hội được học hành tới nơi tới chốn thì ích kỷ và bàng quan trước những tệ nạn xã hội, đất nước. Cứ như thế này mãi, đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu?

Hơn lúc nào hết, đất nước chúng ta cần nhiều, thật nhiều ngôi sao sáng. Chính quyền CS đã bất tài, bất lực, bất lương thì cờ phải vào tay tuổi trẻ trí thức và có tri thức, như Lê thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thuỷ và các người trẻ đang tranh đấu cải tổ xã hội, đòi hỏi nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam, như lời thơ của thi sĩ Ngô Minh Hằng:

Xin nối tiếp những công trình hiển hách
Gương anh hùng bất khuất của Cha Ông

———

Và hỡi sóng, cuốn phăng đời tàn bạo
Cứu giống nòi và quang phục giang sơn”

(Xin Nối Tiếp Công Trình, thơ NMH)

Tôi tin rằng, với bốn ngàn năm văn hiến, nước Việt Nam còn rất nhiều nhân tài, giòng giõi bà Trưng, bà Triệu đang ở đâu đó sẽ nhập cuộc. Các thanh nữ sẽ đi theo gương sáng của LS Lê Thị Công Nhân, biết tự trọng, tự cứu mình và cứu người. Xã hội Việt Nam sẽ sống trong Công Bằng và Nhân Ái như hoài bão của bà mẹ Việt Nam Trần Thị Lệ, thân mẫu của LS Lê thị Công Nhân. Bà đã giáo dưỡng con gái thành một nữ lưu phi thừơng, được mọi người kính trọng.

Và sau hết, cầu mong các thanh niên, thanh nữ ưu tú trong nước cũng như hải ngoại, mở rộng nhãn quan cùng nhau tìm ra sinh lộ cho Việt Nam. Những lãnh tụ tương lai sẽ không tự tôn, tự ti, biết tổ chức qui mô và hành động hữu hiệu, để cứu lấy mảnh đất thân yêu ra khỏi sự lãnh đạo lạc hậu của CSVN.

Trong biến cố Trung cộng xâm chiếm lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, thanh niên, thanh nữ, trí thức trong và ngoài nước, cùng đồng bào đã nổi dậy biểu tình oai hùng chống lại nước Cộng sản phương Bắc. Tuổi trẻ Việt Nam trong nước chứng tỏ họ không ươn hèn như những người CS đang lãnh đạo.

Khi tuổi trẻ trí thức đã nhận trách nhiệm, thì chắc chắn sẽ có ánh sáng cuối đường hầm cho dân tộc Việt.

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Một “Cánh đồng bất tận” trong thơ? Trong những ngày qua, dư luận trong giới văn nghệ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xôn xao trước thông tin bài thơ "Trăng nghẹn" của nhà thơ Hoài Tường Phong (Cần Thơ) bị rút giải nhất trong cuộc thi thơ ĐBSCL 2009.
Xôn xao bởi lẽ đây là chuyện chưa từng có ở đây. "Kịch bản" của vụ việc cũng na ná như lần xảy ra với tác phẩm "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư. Cũng ý kiến cho rằng tác phẩm mô tả diện mạo ĐBSCL quá u ám. Liệu lần này nữa, tác phẩm lại đứng vững và trở nên nổi tiếng?

Lỡ hẹn ngày trao giải

Ngày 20.2 vừa qua, tại Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (LHVHNT) TP.Cần Thơ (đơn vị đăng cai cuộc thi thơ ĐBSCL 2009, được tổ chức 3 năm 1 lần), Ban tổ chức và Ban chung khảo đã công bố kết quả cuộc thi. Theo đó, “Trăng nghẹn” của nhà thơ Hoài Tường Phong đoạt giải nhất. Dự kiến lễ phát giải diễn ra vào dịp kỷ niệm Ngày thơ VN.

Tuy nhiên, ngay sau đó có ý kiến cho rằng bức tranh trong bài thơ này là quá u ám, chẳng hạn như các câu thơ: “Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê/Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu/Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu/Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi/Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi/Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất/Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất/Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa”.

Theo một thành viên trong BTC, sau khi lắng nghe dư luận, những người có trách nhiệm đã xem xét và nhận thấy nội dung bài thơ không có gì nghiêm trọng, vẫn tổ chức trao giải theo kế hoạch, chỉ có điều tại lễ trao giải sẽ không diễn ngâm bài thơ “Trăng nghẹn”. Thế nhưng, sau đó dư luận càng gay gắt, BTC đã phải đình lại lễ trao giải. Để rồi ngày 3.3, Ban Thường vụ Hội LHVHNT TP.Cần Thơ tổ chức cuộc họp mở rộng để xem xét lại vụ việc và thiên về ý kiến không trao giải nhất cho “Trăng nghẹn”.

Ngày 5.3, ông Phan Huy – Chủ tịch Hội LHVHNT TP.Cần Thơ, Trưởng BTC cuộc thi thơ ĐBSCL 2009 – cho biết, đến thời điểm này ông vẫn chưa ký quyết định rút giải nhất đối với “Trăng nghẹn”. Ông thừa nhận Ban Thường vụ Hội LHVHNT TP.Cần Thơ có họp và đề xuất việc này, nhưng trưởng BTC mới là người có quyền quyết định cuối cùng.

Trả lời câu hỏi liệu có sức ép nào đó hay không, ông Phan Huy khẳng định chưa, nhưng dư luận phản ánh thì phải lắng nghe. Còn tác giả bài “Trăng nghẹn” cho biết, ông đã được người có trách nhiệm mời gặp và vận động rút khỏi giải thưởng, với lý do “chưa nghiên cứu kỹ nên viết bài dự thi có vài điểm không phù hợp với tiêu chí cuộc thi”. Tuy nhiên sau 4 lần gặp (trực tiếp hoặc qua điện thoại), tác giả vẫn giữ lập trường: “Kết quả chấm là của Ban giám khảo, quyền quyết định là của BTC, tác giả không có ý kiến”.

Trong khi đó, một thành viên trong Ban chung khảo cuộc thi cho biết, dù không được yêu cầu chính thức, nhưng có được gợi ý xem xét lại kết quả chấm thi. Thế nhưng, cả 3 thành viên trong Ban chung khảo đều bảo lưu kết quả của mình. Theo họ, bài “Trăng nghẹn” có chất lượng vượt trội so với các tác phẩm đoạt giải khác, cả 3 thành viên đều đánh giá cao. Nhà văn Khai Phong – Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Cần Thơ, Phó BTC cuộc thi – cho biết, ông luôn tôn trọng sự thẩm định của Ban giám khảo, gồm những nhà thơ có uy tín. Ông hy vọng sẽ không có gì thay đổi, giải nhất sẽ được trao cho “Trăng nghẹn”.

“Cánh đồng bất tận” trong thơ?

Trước đây, khi “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư ra đời, cũng đã từng bị phản ứng gay gắt vì những gam màu tối trong bức tranh ĐBSCL. Người ta cho rằng tác phẩm đã “phóng đại cái xấu” ở ĐBSCL. Nhà thơ Lê Chí – thành viên Hội đồng Thơ thuộc Hội Nhà văn VN kiêm Trưởng liên chi hội Nhà văn VN khu vực ĐBSCL – cho rằng, những phản ứng với “Trăng nghẹn” hiện nay và “Cánh đồng bất tận” trước đây là do chúng ta có thói quen ngại nhìn vấn đề trái chiều”.

Ông nhận xét: Trăng nghẹn dẫu chỉ là lát cắt vùng đất này bằng nỗi đau sâu thẳm trong lòng, nhưng tiếc là lát cắt khá sâu và có phần nhấn mạnh, làm người đọc dễ hụt hẫng. Nhưng dù sao “Trăng nghẹn” cũng đem đến cho chúng ta những điều không dễ gì quên và thật đáng suy ngẫm”.

Kỳ Quan

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Chopin, Quê Hương và Âm Nhạc

Quỳnh Giao

Image
Bức tượng bán thân nhạc sĩ thiên tài Ba Lan, Frederic Chopin, được trưng bày tại cuộc triển lãm “Chopin, một người Châu Âu,” từ ngày 9 tháng 3, đến 6 tháng 6, 2010.
(Hình: Olivier Laban-Mattei/AFP/Getty Images)

Trong một bài tạp ghi về Gilbert Bécaud - Ta Sẽ Làm Chi Ðời Ta - để nhớ đến bài “Et Maintenant”, Quỳnh Giao nhắc đến ca khúc “Người đánh dương cầm tại Varsovie” do Bécaud soạn nhạc và Pierre Delanoé viết lời. Ðấy là ca khúc nghệ thuật không mấy phổ biến trong giới yêu nhạc phổ thông của Pháp, và không được thế giới quen biết bằng bài “Et Maintenant” dưới tên Anh ngữ là “What Now My Love”...

Bài “Người đánh đàn dương cầm tại Varsovie” gợi nhớ đến Chopin và đất nước Ba Lan.

Chopin là nhạc sĩ sinh tại Ba Lan, thân phụ là người Pháp, và nổi danh khắp Âu Châu là từ Paris, khi ấy là kinh đô hoa lệ của cả lục địa. Năm nay, từ tháng 3, cả thế giới tổ chức nhiều sinh hoạt kỷ niệm hai trăm năm ngày sinh của Chopin, nhưng ca khúc của Gilbert Bécaud khiến chúng ta nhớ đến một người đánh dương cầm tại Varsovie. Trong cảm hứng của Bécaud, có khi chính là ông thầy của Fréderic Chopin trước khi Ba Lan chìm trong máu lửa và trước khi Chopin trở thành nhạc sĩ thiên tài.

Uống nước nhớ nguồn, xin trước tiên trở lại ông thầy đàn tại Varsovie...

Chopin hay tổ chức mừng sinh nhật vào ngày mùng 1 tháng 3, dù giấy rửa tội tại nhà thờ thì ghi là ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1810. Sau cuộc cách mạng Pháp năm 1789, thân phụ ông qua lập nghiệp tại Ba Lan khi mới 16 tuổi và trở thành người có học, có hiểu biết. Hình như ông cũng hiểu là đứa con thứ nhì của mình, Fréderic, có năng khiếu phi thường về nhạc, như đã được học nhạc từ tiền kiếp. Thân mẫu của Chopin cũng thế. Cha là thầy dạy Pháp văn, mẹ là một dương cầm thủ, và hai ông bà nuôi nấng năng khiếu của Frédéric từ khi còn bé.

Có người giải thích rằng cho đến khi lên bảy, một đứa trẻ vẫn còn có thể nhớ lại những gì tiếp nhận từ tiền kiếp nếu được nuôi nấng trong hướng ấy. Nếu không, đứa trẻ sẽ quên dần, và có khi mất luôn, để rồi sẽ... đi lại từ đầu. Fréderic Chopin có duyên may từ cha mẹ nên năm tuổi đánh đàn, sáu tuổi học nhạc và bảy tuổi viết nhạc, tám tuổi trình diễn, làm mọi người, từ bậc vương tôn cho tới thứ dân của Âu Châu đều khâm phục.

Duyên may thứ hai là Chopin có một ông thầy dạy đàn xuất chúng, đó là Jósef Elsner.

Ông Elsner này biết môn sinh của mình thuộc loại thiên tài và muốn Chopin được bung khỏi lối mòn đã cũ, kể cả khi viết nhạc lẫn đánh đàn, và nhất là không chỉ sử dụng dương cầm. Về sau, Chopin vẫn chuyên về dương cầm, trở thành một diệu thủ virtuoso mà trong một thế kỷ thì nhân loại chỉ có được một hai người. Người kia là Franz Listzt, một bạn thân và cũng là kỳ phùng địch thủ trên phím đàn của Chopin. Chuyện này, kỳ khác thì Quỳnh Giao sẽ lại... tạp ghi.

Nhưng, Chopin có học được phép phóng túng mà thầy Jósef Elsner khuyến khích khi viết nhạc. Nên ông trở thành nhạc sĩ đã thổi một sinh khí mới trong dòng nhạc lãng mạn của Âu Châu, trên cung bậc của cây đàn dương cầm. Ông thầy xuất chúng này không chỉ có vậy.

Ngày tiễn môn sinh rời khỏi Varsovie vào cuối năm 1830, Jósef Elsner điều khiển một dàn hợp xướng hát lên những khúc khánh ca, cantate, để mừng Chopin lên đường. Hành lý của chàng thanh niên ở tuổi đôi mươi có một chén bạc đựng một dúm đất của quê hương. Trong đầu là một lời căn dặn của thầy: có thể phục vụ cho sự quang vinh của Ba Lan bằng nghệ thuật. Chứ không cần bằng cách tòng quân nhập ngũ. Ảnh hưởng của ông thầy cũ vẫn còn được thấy qua thư từ hai người viết cho nhau.

Sở dĩ Josef Elsner có lời khuyên đó vì Ba Lan khi ấy bị dìm trong ách thống trị của Ðế quốc Nga và dân chúng đang chuẩn bị nổi dậy trong biển máu. Chopin ra đi vào đúng giai đoạn bi thương ấy và cho đến chết, vẫn không có dịp hồi hương. Quê hương của ông là âm nhạc và Tổ quốc của ông là Ba Lan. Cả hai đã quyện làm một và là nỗi ám ảnh không rời...

Khi Gilbert Bécaud đánh dương cầm trên giai điệu gợi nhớ Chopin và ngợi ca ông thầy dạy đàn tại Varsovie, rồi kết thúc với tiếng nhạc hùng tráng của bài Polonaise Héroique, “Ba Lan anh dũng,” có lẽ ông muốn kể lại chuyện ông thầy này tại Varsovie. Nhớ lại thì mình càng thấy sự cảm động đầy nghệ thuật của ca khúc.

Ngoài tình yêu thiêng liêng cao quý với âm nhạc và quê hương Ba Lan, Chopin cũng có những mối tình thật đẹp với các nhân vật tài sắc nhất của thời đại. Bền lâu và đẫm lệ là với nữ sĩ George Sand, nhà văn đầy tính chất “phá cách” và phá phách của văn chương Pháp. Thời ấy mà bà ăn mặc và lấy bút hiệu của đàn ông, lại phì phèo xì gà thuốc lá thì quả là ngổ ngáo!

Hơn Chopin có sáu tuổi, George Sand yêu Frédéric Chopin như một thần tượng, một người tình, một người em, thậm chí một người con! Có thể là George Sand mang “Mặc cảm Jocaste” của tâm phân học, và bảo bọc Chopin như một người mẹ...

Mà thiên tài này quả là cần được chăm sóc, bảo bọc.

Người ta thường nói rằng Frédéric Chopin bị lao từ sớm và tạ thế vào tháng 10 năm 1849 tại Paris. Trong thế kỷ 20, giới khoa học ngưỡng mộ ông nên cố tìm hiểu thêm về bệnh lý của thiên tài và nêu giả thuyết là ông bị nhiễm độc nội tạng từ bẩm sinh khiến cơ thể suy yếu dần, nhất là vào mùa lạnh, rồi mất sớm, trước tuổi bốn mươi. Phải chăng cũng như Mozart, các thiên tài không chịu ở lâu hơn với chúng ta? Phải chăng, thể chất yếu ớt khiến nhạc của Chopin có sự lung linh của ngọn đèn trước gió và nét ủy mị của một loài bướm đêm? Nhưng đôi tay trên phím đàn thì vũ bão như muốn trút hết sinh lực vào nhạc, để ra đi trong một đêm Ðông...

Trong 39 năm tại thế, Chopin sống ở quê nhà được hai chục năm. Còn lại thì sống nhiều nhất, tổng cộng là 17 năm, ở Paris. Ông dạy dương cầm, soạn nhạc và kết giao với những nghệ sĩ nổi tiếng nhất tại Pháp. Ông trở thành một biểu tượng cho sự văn minh và nghệ thuật của cả một thời đại và được dân Pháp tôn vinh như một báu vật. Sau khi tạ thế, Chopn được chôn cất tại Paris, nhưng con tim được đưa về chôn dưới chân một nhà thờ tại Varsovie.

Kỷ niệm hai trăm năm ngày sinh của Chopin, chính quyền Pháp muốn đưa di hài của ông vào điện Panthéon của các anh hùng dân tộc Pháp để làm lễ vinh danh, trước khi cùng Ba Lan tổ chức sinh hoạt tưởng niệm và thắt chặt tình đoàn kết giữa hai nước. Một hiện tượng rất đẹp...

Chúng ta có thể còn phải viết nhiều về Chopin, viết cả năm chưa hết. Các sinh hoạt kỷ niệm hai trăm năm cũng vậy, sẽ tưng bừng trong suốt năm nay. Từ Chopin, âm nhạc cổ điển đã đổi khác và nghệ thuật sử dụng dương cầm cũng thế. Quê hương của Chopin thì không, vì sau rất nhiều thăng trầm, vẫn trở thành một xứ sở anh dũng đáng kính.

Nhưng, nói đến Ba Lan quật khởi và Ba Lan vĩnh cửu, người ta không thể không nhớ tới Chopin.

Và nhớ đến lời căn dặn của ông thầy đàn tại Varsovie: Làm cho quê hương vinh quang cũng là thể hiện lòng yêu nước...

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

BẾN CŨ

Hao Nhien Nguyen Tan Ich
Huy gặp Diệp lần đâu tiên trong buổi lễ kỷ niệm ngày thành lập binh chủng Không quân. Anh được đơn vị bình chọn là phi công đạt nhiều thành tích nổi bật trong năm. Là một phi công trẻ, bô trai, hào hoa nên Huy được giới nữ sinh xếp vào loại “người yêu lý tưởng”. Anh có chiều cao vô địch trong nhóm phi công, vì thế bạn bè thường gọi anh là “Huy Bamboo”. Huy còn là tay chơi đàn dương cầm nổi đình đám trong các buổi trình diễn văn nghệ do đơn vị Không quân tổ chức.

Phần trao hoa cho các chiến sĩ xuất sắc do toán nữ sinh trường Trung học Sao Mai phụ trách. Lúc choàng vòng hoa cho Huy, Diệp không thể nào với tới, bởi anh cứ trong tư thế đứng nghiêm, thẳng lưng, ngẩng cao đầu. Bản Lục Quân Hành Khúc do ban quân nhạc hòa tấu đã chấm dứt. Mỗi quân nhân xuất sắc đều có vòng hoa trên cổ, riêng cặp Huy Diệp vẫn còn đứng tại chỗ giương mắt nhìn nhau. Sĩ quan phụ trách đến bên Huy nhắc khéo : “Đưa đầu cho cô bé tròng vòng... vào cổ đi”. Huy lấy mũ, cúi xuống đặt trán mình trên mái tóc của Diệp, cả hàng quân cười khúc khích, khiến nàng ngượng chín người. Thực ra, Huy cố ý trêu cô nữ sinh có mái tóc dài đen tuyền che một phần khuôn mặt trái soan với má lúm đồng tiền trông rất “liêu trai”. Hai người quen nhau từ đó. Sau khi đậu bằng tú tài, Diệp ghi tên vào đại học Huế. Qua năm thứ hai họ làm lễ cưới. Dự tính lấy xong bằng cử nhân văn chương, Diệp mới chiụ sinh con. Nhưng vận rủi âp xuống. Cuối tháng 3/75, Vùng 1 chiến thuật mất vào tay cộng sản Bắc Việt. Chuyến bay cuối cùng không may bị đạn cộng quân bắn trúng, trực thăng của Huy phải đáp khẩn cấp và anh bị quân Bắc Việt bắt làm tù binh. Dù bị kẹt lại trong lao tù cộng sản, nhưng lòng Huy vẫn cảm thấy thỏa mãn vì đã kịp thời gởi vợ anh, Trương Hoàng Diệp ra đảo đảo Lý Sơn để di chuyển vào Sài Gòn. Diệp được bạn của Huy tận tình đưa nàng ra hạm đội sớm sủa. Đến Hoa kỳ, nàng được một gia đình người Mỹ da trắng ở tiểu bang Washington bảo trợ. Thời gian đầu, cuộc sống tuy có phần chật vật, nhưng đỡ hơn nhiều so với những gia đình còn ở trong khu tạm trú. Dù phải qua những năm dài vất vả vừa làm vừa học, Diệp đã tốt nghiệp và đựơc giới thiệu vào làm trong hãng Boeing.
Ngày ra tù, cha mẹ vợ báo cho Huy biết Diệp vừa lấy chồng. Như mũi dao đâm vào tim, tay chân anh rụng rời, chẳng còn lòng dạ nào ở lại dùng cơm tối với gia đình vợ. Huy ra về với cõi lòng tan nát. Không có lý do gì để trách Diệp, anh chỉ buồn cho số phận hẩm hiu của mình. Huy đã có dự định sẽ vượt biên để được đoàn tụ với vợ. Giờ thì niềm hy vọng ấy đã tiêu tan. Nhưng lòng khao khát tự do vẫn không ngừng thôi thúc anh ra đi.

Tháng Chín năm 1985, Huy cùng với bảy người bạn tâm đồng ý hợp nhất, tổ chức vượt biển trên chiếc xuồng một “lốc” mong manh giữa mùa mưa bão. Năm ngày lênh đênh trên biển, thuyền mang tám kẻ dũng cảm ấy tấp được vào bờ của một làng ven biển thuộc Mã-Lai. Họ được tàu của Mã-Lai đưa đến hải cảng Trengganu và chuyển qua đảo Pulau Bidong. Tại đây, Huyï chưa biết định cư tại quốc gia nào. Bất ngờ, được thư của Diệp gởi đến. Huy vô cùng ngạc nhiên, làm sao cô ấy biết được mình ở đây? Có thể Diệp cần chữ ký của mình trong đơn ly dị chăng? Huy hồi họp mở thư ra xem :

“Kính gởi anh Huy, Qua thư thầy me, em biết được anh đang ở trại tị nạn Pulau Bidong, nhưng không biết anh có được vào Mỹ không. Nếu anh muốn định cư tại Hoa Kỳ em sẵn sàng đứng ra bảo trợ cho anh với tư cách của một cousin. Như anh biết đó, em không thể nào sống đơn chiếc mãi. Đợi chờ anh chỉ là nỗi vô vọng. Càng nhớ anh, em càng thấy nỗi trống vắng xót xa. Cuộc sống lênh đênh của em trên xứ người, nhờ vào sự đỡ đầu của một người Mỹ và định mệnh đã đưa đẩy em vào một nẻo đường mới. Chồng em hiện nay là giám đốc trong phân xưởng Boeing, người đã nâng đỡ em ngay từ buổi đầu. Ông ấy ly dị vợ lúc năm mươi tuổi. Ban đầu chỉ là lòng kính trọng, sau thấy thương hại hoàn cảnh lẻ loi của ông, vì vậy em chấp nhận lời cầu hôn của ông ấy. Bà vợ cũ đã lấy chồng khác, giao lại đứa con gái cho ông chăm sóc. Hiện giờ nó đang học High school. Giai đoạn đầu ở Mỹ khó khăn lắm anh ạ, thật lòng em muốn giúp anh vượt qua chặn đường đó. Cuộc sống của em hiện giờ tương đối ổn định. Em hy vọng anh bỏ qua tự ái của người đàn ông thường tình mà nghĩ đến tương lai sáng lạn của mình. Hãy quên đi những kỷ niệm đã qua. Giờ xin anh xem em như một người em họ. Với danh nghĩa nầy, em hi vọng sẽ giúp anh có nhiều cơ hội thành công... Nhận được thư, anh nên trả lời gấp để em còn kịp làm thủ tục hồ sơ bảo trợ. Anh nhớ khai với Cao ủy tị nạn có người cousin là Diep Truong Thomas theo địa chỉ trong thơ. Em gởi anh cái check 500 USD để tiêu dùng. Mừng cho anh đã thoát được cảnh lao tù khổ nhục và giờ đây đất nước tự do đang chờ đón anh.

Em Trương Hoàng Diệp

Thẫn thờ đặt bức thư trên bàn, nét chữ của Diệp như nhảy múa trước mắt Huy. Hình ảnh của nàng vẫn còn đầy ắp trong trái tim nồng cháy của Huy, thế mà trong thư Diệp viết lại thản nhiên, như không vướng bận chút tình cảm nào, thẳng thắn và thực tế đến độ tàn nhẫn.
Từ ngày đến đảo, Huy chẳng thiết tha gì được vào đất Mỹ mà sẵn sàng chấp nhận đi bất cứ quốc gia Tây phương nào. Tuy nhiên, khi đọc thư của Diệp, anh lại quyết định đến Hoa Kỳ. Huy muốn gặp Diệp một lần và muốn nhìn xem tận mắt cuộc hôn nhân mới của nàng hiện giờ ra sao. Dẫu biết lần chạm mặt trước thực tế bẽ bàng nầy có thể gây thêm thương tích cho trái tim mình. Lòng nhớ thương và tính tò mò đã thôi thúc Huy đồng ý đề nghị của Diệp đứng ra bảo trợ.

Đúng ngày lễ Giáng sinh, Huy đến phi trường Seattle được Diệp cùng người chồng William Thomas và đứa con gái riêng của chồng, Christina đón tiếp. Cuộc hội ngộ với người “anh họ” khá niềm nở. Diệp ôm chàng trong phép xã giao của người Tây phương rất tự nhiên và chân tình như đứa em họ đích thực.

Kết hợp với lễ nửa đêm đón Chúa Hài Đồng là buổi tiệc tiếp đón Huy đầy thân tình. Khách mời, người nào cũng mang quà Christmas đến chúc mừng Huy. Diệp không mời khách nhiều, chỉ giới hạn một số bạn bè thân thiết của chồng. Trước cảnh gia đình hạnh phúc của Diệp, Huy nghe trái tim mình se thắt nhưng với lòng tự trọng, anh vẫn giữ thái độ bình thản. Mọi người hân hoan vào tiệc. Tiếng dương cầm ngân vang bản nhạc "Đêm Thánh Vô Cùng" do cô bé Christina độc tấu, rồi tuần tự là những bản nhạc tình du dương, âm thanh êm đềm như quyện vào men rượu nồng làm tăng thêm nỗi ngất ngây cho thực khách. Đã ngà ngà say, tâm hồn nghệ sĩ bị kích thích, Huy đứng dậy đến bên chiếc piano xin phép cô bé được đàn một bản. Dù đôi bàn tay bị chai sần sau những năm lao động khổ sai trong tù, dù đã mười năm không tập luyện, mười ngón tay anh lướt trên phím ngà bản nhạc Histoire d’un amour như xuất thần trỗi lên âm điệu réo rắt làm say đắm lòng người. Cô bé Christina trố mắùt nhìn Huy đầy thán phục. Trái tim Diệp không biết có còn rung động trước âm thanh mang đầy những kỉ niệm xưa mà hai người đã từng bên nhau “anh đàn em hát” ? Bản nhạc vừa dứt, cơn say ập tới, Huy gục đầu trên bàn phím. Ông Thomas dìu Huy vào phòng ngủ đã chuẩn bị sẵn từ mấy ngày qua.

Buổi sáng thức dậy, Huy ngạc nhiên trước căn phòng được trang hoàng khá sáng sủa. Mấy bộ áo quần mới treo trong tủ và một số đồ dùng hàng ngày được sắp đặt rất tươm tất trên các kệ. Huy dạo quanh một vòng. Đây là loại phòng dành cho người độc thân, có đủ tiện nghi từ phòng tắm đến bếp ga và cả lối đi riêng hoàn toàn biệt lập với căn nhà chính.

Hai ngày nghỉ lễ, William đưa Huy cùng với đứa con gái đi xem các thắng cảnh ở vùng Seattle được mệnh danh là thung lũng Hoa Hồng . Cô bé đi bên Huy líu lo giới thiệu tên của các thắng cảnh và về lịch sử của vài công trình xây dựng có tính tượng trưng cho thủ phủ của tiểu bang Washington. Diệp ở nhà mua sẵn thực phẩm để trong tủ lạnh cho Huy tự nấu ăn. Vào ngày lễ đầu năm dương lịch, Huy cùng gia đình ông bà Thomas đến dự tiệc tại nhà bạn thân của vợ chồng họ. Anh được giới thiệu là cousin của Diệp từ đảo mới qua, mọi người bắt tay chúc mừng.

Sau hai tuần lễ nghỉ ngơi, Huy ngỏ ý với Diệp sẽ tìm thuê một nhà khác. Nàng ân cần khuyên nhủ : “William rất quý mến anh. Ông ấy muốn giúp đỡ anh có hoàn cảnh thuận lợi để trở lại trường học. Nếu anh đặt nặng tương lai của mình và thắng được tự ái, chắc chắn anh sẽ có cơ hội tốt để tiến thân.” Diệp ngừng nói, nhìn Huy như dò ý rồi tiếp : “ Căn phòng đó là do ông ấy quyết định dành riêng cho anh ở hoàn toàn miễn phí. Khi nào cuộc sống ổn định, có việc làm hẳn hoi, chừng đấy anh muốn thế nào cũng được. Hôm qua Bill dự tính chờ khi anh lấy xong bằng lái xe sẽ tặng anh chiếc xe Ford đời cũ của ông để anh đi học và đi làm. Em thấy đó là phương tiện cần thiết đối với anh hiện giờ”. Qua những lời khuyên của Diệp, Huy cảm nhận được trong đáy lòng nàng, một tình cảm sâu kín nào đó bị ngăn chận vì hoàn cảnh. Diệp thật lòng không muốn Huy vấp ngã bởi những khó khăn mà nàng đã trải qua và những kinh nghiệm thất bại của những người đến trước. Đó là lý do chính đáng thúc đẩy chàng ở lại. Và giờ đây, Huy biết mình phải làm gì. Đối với anh, hiện tại là phương tiện, mà tương lai mới là cứu cánh. Cứu cánh đó sẽ là phần thưởng dành cho cả quãng đời còn lại của anh. Dường như trong tiềm thức, Huy không muốn xa Diệp và cả Diệp cũng không muốn rời Huy, dẫu cuộc sống của hai người đã có lằn ranh phân định và tình cảm của cả hai có bức tường đạo nghĩa ngăn cách.

Huy đã tìm được công việc làm bán thời gian và ghi tên học tại trường college. Sáng đi, tối về, Huy và Diệp ít khi gặp nhau. Thỉnh thoảng, Diệp tổ chức những bữa ăn thân mật cuối tuần mời Huy cùng với gia đình dùng cơm tối. Sau những bữa cơm như thế, Huy thường được ông Thomas và Christina yêu cầu chơi đàn. Có lần Huy giới thiệu bản nhạc Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn đã được dịch lời qua nhiều thứ tiếng trên thế giới. Huy vừa đàn vừa hát, đến điệp khúc: “..Trời còn làm mưa sao em không lại. Nhỡ mai trong cơn đau vùi làm sao có nhau , hằn lên nỗi đau bước chân xin em về mau? Diệp vội quay mặt nhìn qua khung cửa sổ. Huy vẫn tiếp tục hát : Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động, Làm sao em biết bia đá không đau, Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng, Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau !..” Diệp nhìn Huy với ánh mắt trách hờn, rồi bỏ vào phòng. Chỉ một lần ấy rồi thôi, Huy đã khước từ những bữa cơm sau nầy.

Cô con gái của William đã qua mấy khóa học piano, nhưng ngón đàn vẫn còn non kém, cô bé rất thích được nghe Huy đàn và nhờ anh chỉ vẽ thêm. Huy thì ngại ngùng mỗi lần vào phòng khách nên đã nhiều lần từ chối lời khẩn cầu của co bé . Christina vừa mới ghi tên vào đại học năm thứ nhất, nhưng sức học của nàng lại kém hơn Huy một bực. Vừa giỏi toán lại vững vàng về lý thuyết và thực hành môn đàn Piano nên Christina luôn quanh quẩn bên Huy , dần dà anh trở thành thầy dạy kèm bất đắc dĩ. Chiếc dương cầm ở phòng khách cũng được mang xuống phòng của Huy để Christina tập luyện hàng ngày. Vào những đêm cuối tuần, tiếng dương cầm thánh thót và giọng cười rộn rã của cô bé vang lên từ phòng của Huy đã làm dịu bớt nỗi quạnh vắng của tháng ngày qua.
Lắng nghe tiếng đàn ngày một điêu luyện của con gái, ông Thomas rất vừa lòng và thầm cảm ơn Huy đã giúp ông bớt phần lo lắng. Trong cuộc thi biểu diễn dương cầm toàn trường, Christina đoạt giải nhất về kỹ thuật và phong cách trình diễn. Hôm ấy, cô bé đã đích thân trao cho Huy một bó hoa hồng và cảm ơn chàng như một người thầy đã có công rèn luyện nàng tạo được thành tích ngày hôm nay. Ông Thomas xem chừng rất hãnh diện. Riêng Diệp, dường như nàng không được khỏe, nụ cười có vẻ gượng gạo, và gương mặt bớt phần tươi tắn.

Sau hai giờ làm bài tập và chỉ thêm toán cho cô bé, Huy ngồi vào chiếc đàn piano dạo bản L’amour c’est pour rien. Điệu nhạc tango làm xao xuyến tâm hồn, Christina bỏ viết đến phía sau lưng Huy rồi thản nhiên choàng tay ôm cổ chàng. Bản nhạc vừa chấm đứt, cô bé xoay người Huy về phía mình rồi đặt nụ hôn nồng cháy vào môi chàng. Màu mắt xanh ánh lên nỗi đam mê, cô bé nhìn anh với cơn kích thích. Huy bàng hoàng đứng lên, vội vã bắt tay chúc ngủ ngon và tiễn nàng ra khỏi cửa.

Hôm sau, Huy ngỏ ý với ông Thomas và Diệp sẽ dọn đi ở nhà khác với lý do cho tiện đường đến sở làm và gần trường hơn. Ngày lễ Thanksgiving, Christina bay qua Virginia thăm bà mẹ ruột đang sống với ông chồng sau. Nhân đó, Huy cũng dọn nhà sang chỗ ở mới. Ông William tỏ ý luyến tiếc. Phần Diệp, nàng chẳng nói gì, chỉ đưa mắt nhìn Huy ngờ vực khi chàng bắt tay ngỏ lời cảm ơn. Huy cố tình giấu Christina chỗ ở mới của mình, chỉ ghi riêng số điện thọai và địa chỉ để lại cho vợ chồng Diệp. Từ khi Huy ra đi, Christina thường hay buồn bực, gắt gỏng với mọi người. Mỗi một biến đổi tình cảm nhỏ nhặt của cô bé cũng không thể nào lọt qua mắt của Diệp. Việc dời nhà của Huy đã giúp cho Diệp tin vào suy đoán của nàng là đúng.


Ngày Giáng sinh đã về, đánh dấu ba năm tròn trên đất Mỹ, Huy đã vượt qua được một cách dễ dàng những khó khăn ban đầu. Giờ đây, anh đang học năm thứ ba kỹ sư điện tại trường Đại học UW. Huy đã lấy được giải học bổng của hãng Boeing dành cho sinh viên xuất sắc trong hai năm cuối cùng Đại học. Sáng Chúa Nhật, tâm trí thảnh thơi, Huy đang ngồi nhâm nhi ly cà phê và đọc tờ báo địa phương, chợt có tiếng gõ cửa thúc bách, anh vội vàng mở hé cánh cửa nhìn ra, Christina đột ngột tông cửa vào, với ánh mắt rực lửa cô nàng hét lên: "Tại sao anh trốn em ? Tại sao anh bỏ em ? Tại sao ? Tại sao” ? Vừa nói nàng vừa đẩy Huy lùi về phía sau. Anh cố đứng trụ lại, cô nàng càng xông tới. Miệng Huy không ngớt van lơn : “Xin cô bình tĩnh, xin cô bớt nóng..”. Nhưng Christina chẳng ngừng tay, vẫn ra sức xô chàng. Đến cuối phòng, Huy bị chiếc sofa cản chân nên cú đẩy sau cùng khiến anh ngã nằm lên ghế. Christina nhào tới nằm đè lên mình Huy và ôm lấy đầu anh hôn tới tấp trên mắt, trên môi rồi úp mặt mình vào vai Huy. Cô bé thì thào trong hơi thở đứt quãng, nghẹn ngào : “Em yêu anh và anh biết em yêu anh đến mức nào, sao nhẫn tâm với em”

Huy cảm thấy mềm lòng, đưa tay vuốt mái tóc vàng óng mượt của cô bé, khuyên giải : “Cô còn quá trẻ và có cả một tương lai sáng lạn đang chờ phía trước, còn tôi chỉ là bóng đêm mịt mùng, ngày mai là những tháng năm dài lao đao. Cô chẳng được gì khi vướng víu vào tình yêu không cân xứng”. Christina vụt đứng lên, chạy đến khóa cánh cửa còn hé mở từ lúc nàng vào và nhanh tay cởi bỏ hết áo quần. Một thân thể nở nang đầy hấp lực, lồ lộ làn da mịn màng với bộ ngực căng đầy như tượng thần Vệ Nữ đứng trước mặt Huy thách thức. Anh vừa trở thế nằm dự định đứng lên. Không để vuôt mất cơ hội, Christina sấn tới và tự tay lột bỏ bộ pyjama của chàng đang mặc. Huy hoàn toàn bị khuất phục bởi những kích thích tột độ của nàng. Từ hôm đó, sau giờ tan học, Christina thường ghé vào nhà trọ của Huy mãi đến khuya mới về nhà. Thấy con gái độ nầy đi về thất thường, ông Thomas dò hỏi, cô bé cho biết đến nhà Huy nhờ hướng dẫn toán. Tin ở con gái mình và người anh họ của vợ, ông cảm thấy an tâm.

Ra khỏi sở làm, Diệp lái xe thẳng đến nhà trọ của Huy. Nàng đứng tần ngần một chặp lâu rồi đưa tay gõ vào cánh cửa. Christina xuất hiện nơi khung cửa. Diệp lạnh lùng hỏi :
- Cô làm gì ở đây ?
- Thăm anh Huy.
- Đâu cần cô thăm?
Christina bốp chát
- Tại sao không !
- Tôi cấm cô.
- Ô hay, bà ghen đấy à ?
Diệp dang tay tát vào má Christina toé lửa. Cô bé trố mắt kinh ngạc rồi dùng cả hai tay tấn công trả đũa. Từ trong phòng Huy nghe tiếng cãi vã và tiếng đánh nhau, vội vàng chạy ra. Huy thấy Diệp ôm mặt khóc, còn Christina giận dữ đóng sầm cửa lại, ra khỏi nhà. Huy hấp tấp đến bên Diệp hỏi :
- Nó đã làm gì em ?
Thay vì trả lời, nàng đấm vào ngực Huy thùm thụp, tức tối la lên :
- Anh vô tình ! Anh tàn nhẫn ! Anh độc ác !
Huy nắm lấy đôi tay Diệp giữ lại nhưng nàng cố vùng ra rồi ôm chầm lấy Huy, vùi mặt vào ngực chàng khóc tức tưởi. Huy ôm chặt Diệp vào lòng, lặng lẽ nghe hơi ấm của người yêu ngấm vào trái tim giá lạnh suốt mười bốn năm của mình . Từng giọt lệ nóng âm thầm lăn trên má chàng. Nước mắt tình yêu của hai người đã được chắt lọc từ trái tim thử thách ở hai phương trời giờ đây kết tụ.
* * *
Gia đình ông bà Trương Hoàng Mẫn đến phi trường Đà Nẵng đón vợ chồng cô con gái Trương Hoàng Diệp từ Mỹ về thăm quê hương sau mười tám năm xa cách. Ánh nắng của tiết trời sắp vào Xuân nhuộm vàng cả phi cảng. Chiếc máy bay Hàng Không Việt Nam vừa hạ cánh trên phi đạo, mọi người hồi hộp đợi chờ. Ông bà Mẫn hết đứng lại ngồi, mắt đăm đăm nhìn ra phi đạo khi chiếc máy bay vừa dừng bánh. Hành khách lần lượt xuất hiện trên cửa phi cơ. Những khuôn mặt rạng rỡ của người Việt ly xứ sắp được đoàn tụ với gia đình nổi bật giữa đám người địa phương trầm mặc. Trong đoàn người hối hả rời sân bay tiến vào khu hành khách, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của một người Mỹ mà gia đình ông bà Mẫn đặc biệt chú mục. Chợt Diệp đột ngột xuất hiện trong khu nhận hành lý, một tay kéo chiếc va li nhỏ, tay kia với túi xách đựng tả lót và bình sữa. Nàng đang dớn dác tìm người nhà, bỗng người em gái của Diệp reo lên :
- “ Chị Diệp kia kìa !”
Cùng lúc cả nhà nhận ra, gọi to lên :
- “Cô Diệp ! Chị Diệp ! Thầy Me đứng đây nè !”
Trước nỗi vui mừng đoàn tụ không ai để ý đến Huy đang bồng con đứng phía sau vợ. Bà Mẫn ôm con gái vào lòng để rơi những giọt nước mắt mừng mừng tủi tủi. Ông Mẫn là người đầu tiên nhận ra sự có mặt của Huy, vội vàng đến siết chặt tay chàng : -

“Con Diệp về thầy me chỉ mừng một, khi thấy con cùng về là niềm vui tăng lên gấp mười lần hơn cho gia đình ta”. Bà Mẫn bồng cháu ngọai từ tay Huy trao qua, vừa nựng cháu vừa trách yêu :
“Bố mẹ cháu hư lắm, cái việc trọng đại một đời mà giấu ông bà suốt mấy năm nay”.
Diệp nhoẻn miệng cười với mẹ : - “Chúng con bàn tính với nhau là dành cho thầy me một dịp bất ngờ, như một món quà để tạ lỗi thầy me suốt bao năm đã phải trăn trở về việc con lấy chồng khác.” Diệp âu yếm nhìn Huy rồi quay sang me, tiếp :
- “Ông William Thomas là ân nhân của con, vì vậy con đặt ơn nghĩa lên trên tình yêu dành cho ông ấy. Cách đây ba năm, đứa con gái của ông bỗng nhiên bỏ nhà ra đi, ông lên cơn nhồi máu cơ tim rồi qua đời.”
Mẹ Diệp thì thầm :
“Nguyện cầu Thiên Chúa dìu dắt linh hồn ông ấy sớm về cõi thiên đàng”. Ông Mẫn cùng làm dấu Thánh giá với vợ rồi nói với vợ chồng Diệp : “Âu cũng là định mệnh” !

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

“Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn lần đầu tiên xuất hiện

Được cho là người tình đầu tiên của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, nhân vật “bí ẩn” đã đi vào huyền thoại trong sáng tác “Diễm xưa”
của chàng thi sĩ họ Trịnh, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

Image
Giáo sư Thái Kim Lan (bên phải) giới thiệu Ngô Thị Bích Diễm với mọi người

Xuất phát cho ý tưởng độc đáo này là giáo sư Thái Kim Lan, hiện đang công tác tại CHLB Đức. Qua lời mời của cô Lan, Ngô Thị Bích Diễm (Diễm) đã đồng ý về Huế gặp gỡ một buổi duy nhất với công chúng. Tuy nhiên khách được mời hạn chế qua điện thoại, chỉ những người thân quen, một thời gắn bó với Trịnh.

Cuộc gặp gỡ quá đặc biệt không được thông báo trước đã diễn ra tại trung tâm văn hóa Liễu Quán, TP Huế, tối 12/3 vừa qua.


“Sau khi Trịnh Công Sơn mất, Diễm đã trở thành một huyền thoại. Từ đó đến giờ, rất ít ai biết hình bóng cô Diễm trong tuyệt phẩm Diễm xưa là ai. Hôm nay, sự im lặng đó được phá vỡ”, Thái Kim Lan tâm sự.
Image
"Diễm" ngày xưa đã trở về...
Image
...và đã thu hút sự quan tâm của khách mời, bạn bè tại buổi giao lưu
Image
Bà Diễm tâm sự những điều chưa nói đã quá lâu. Kể từ khi Trịnh Công Sơn mất, bà hoàn toàn im lặng với quá khứ
Nhà văn hóa Huế, giáo sư Bửu Ý, đã kể lại một câu chuyện tình về Sơn và Diễm. “Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu “hương hoa” kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ”, lời kể của giáo sư Bửu Ý.

Tao ngộ Huế sau bao nhiêu năm “ẩn dấu”, bà vẫn mặc một áo dài Huế xưa, chân đi hài. Nét mặt hiền, nhân ái và hay cười nhẹ. Độ tuổi 60 vẫn không làm mất đi nhan sắc thuở nào của “Diễm”. Sự có mặt của Diễm đã làm thỏa lòng toàn bộ mọi người có mặt trong khán phòng.
Image
Trên nền, đầy lá và hoa...
Một chất giọng Bắc xưa nhè nhẹ cất lên, Bích Diễm đã thổ lộ cùng khán giả “Huế đối với tôi thật bình yên. Trong Huế có một tình yêu. Từ lâu tôi đã giữ im lặng. Quá nhiều kỷ niệm từ thời thơ ấu tại Huế. Dù đi xa đã lâu nhưng tôi vẫn yêu nơi đây như ngày ban đầu. Trong con người quý nhất là tình cảm. Anh Sơn đã lồng hết những cung bậc đó vào nhạc. Xin cảm ơn anh Sơn, cảm ơn Huế vì sự đón tiếp nồng hậu”. Những câu nói bị ngắt ý giữa chừng vì xúc động của bà đã làm không ít người đồng điệu rơi nước mắt.

Trên nền guitar và piano sâu lắng, nhiều người bạn đã hát tặng “Diễm xưa” những ca khúc tên tuổi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, mà trong đó không thể thiếu ca khúc Diễm xưa.

Bài, ảnh: Đại Dương

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Nữ sinh Trung Quốc có '1000 bạn trai'

Hàng nghìn thanh niên đã đổ về một tòa nhà ký túc xá sau khi một nữ sinh ở đây thể hiện ước muốn tìm bạn trai.

Image
Nữ sinh Zhang Mengqian. Ảnh: Rex Features.
Trường đại học Công nghệ và khoa học điện tử của Trung Quốc ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, có tỷ lệ nam nữ là 25/1. Telegraph cho hay, vào ngày 8/3, trường đã đưa cho mỗi sinh viên nữ một phiếu để điền vào điều ước của mình và tất cả được dán lên một bức tường.

Trong phiếu của mình, cô gái Zhang Mengqian đã thể hiện mong muốn các "ứng cử viên" sẽ đến phòng cô vào ngày giờ nhất định và hét to tên cô.

Vào ngày giờ ghi trong phiếu, đã có hàng nghìn thanh niên tụ tập. Tuy nhiên chỉ có một số đủ dũng cảm để kêu tên cô.
Image
Hàng nghìn thanh niên tụ tập sau khi đọc "điều ước" của Mengqian. Ảnh: Rex Features.
Hải Minh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Diễm xưa viết về Huế nhiều hơn về Diễm

Bà Ngô Vũ Bích Diễm ghé Huế trong thời gian rất ngắn, song đã dành cho TTO cuộc phỏng vấn về những gì liên quan đến Diễm xưa,
về câu chuyện khi bà chính là nhân vật trong bài tình ca nổi tiếng đó.

Image
Bà Ngô Vũ Bích Diễm với nhà văn - dich giả Bửu Ý,
một người bạn rất thân với cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn ở Huế
(Ảnh: Thái Lộc)

* Chị nghĩ như thế nào khi mình là nhân vật trong bài hát nổi tiếng bậc nhất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn?

- Tại vì câu chuyện nó quá đẹp, bản thân tôi cũng nghĩ nó là huyền thoại, nó vượt qua sự tưởng tượng của mình… Đó chỉ là tình cờ thôi. Bản thân tôi không biết tại sao, có phải vì nó đẹp quá nên không biết có thật hay không.

Tôi xin chia sẻ một câu chuyện nhỏ thế này. Hồi đó sân vườn ở nhà tôi có cây dạ lan hương mà anh Sơn rất thích, anh Sơn đã nói rất nhiều về mùi hương này. Tôi có tặng anh một cành dạ lan hương rất lớn. Điều đó đã gây chấn động rất mạnh nơi anh - điều này hai người em của anh Sơn sau này nói với tôi.

Anh Bửu Ý có nói Trịnh Công Sơn có đến 23 người yêu trong mộng lẫn ngoài đời thật. Cho nên tôi không bao giờ dám nhận là Diễm trong Diễm xưa, tôi thấy nó lớn quá, lớn ngoài sức tưởng tượng của tôi. Tôi không biết chuyện đúng hay sai như thế nào, nhưng cũng như tất cả các quý vị ở đây, câu chuyện đó (bài hát Diễm xưa) là một mối tình rất đẹp, đã quá 50 năm rồi.

* Chị nghĩ như thế nào về tình cảm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dành cho mình?

- Tôi nghĩ anh Sơn là người của tất cả mọi người, và như nhiều sách báo đã nói, anh không dành riêng cho ai cả. Đó là suy nghĩ của tôi. Có thể anh có nỗi niềm sâu kín nào đó tôi không được biết chứ riêng tôi nhắc lại chuyện đó cũng như nhắc lại huyền thoại vậy, bởi bản thân tôi cũng không rõ lắm về tình cảm đó.

* Chị gặp và biết Trịnh Công Sơn trong trường hợp nào?

- Hồi đó tôi có người bạn thân là Nguyễn Việt Hằng, Hằng hồi đó có quen anh Đinh Cường, và mùa hè năm đó ở lại nhà tôi để học hè. Đinh Cường lúc đó qua thăm cô Hằng, anh Sơn đi cùng và gặp gỡ tại nhà tôi. Sau đó thấy anh Sơn quay trở lại, anh viết nhạc và anh có tặng tôi mấy bài. Hồi đó còn trẻ lắm nên cũng biết lơ mơ vậy thôi. Thời gian đầu chưa có bài Diễm xưa, sau này mới có.

* Trở lại bài hát Diễm xưa, Diễm trong đó là chị, chị thấy bài hát về mình như thế nào?

- Tôi rất yêu mến bài hát đó. Nhưng trong bài này nếu mọi người để ý thì dường như anh Trịnh Công Sơn viết về vẻ đẹp của Huế nhiều hơn là về tôi. Tôi nghĩ vậy. Bóng dáng của Thành nội cổ xưa, của con sông Hương xanh mát và huyền hoặc, không khí lãng đãng của thơ, của nhạc…, anh Sơn đã truyền đạt mọi cái trong đó.

* Về lại Huế sau nhiều năm, trong chị có suy nghĩ gì?

- Tôi sinh ra ở Hà Nội, lớn lên học hành tại Huế, trưởng thành ở Sài Gòn và sau đó đi du học, sau 1975 sang định cư ở Mỹ. Huế đối với tôi có một tình cảm vô cùng sâu sắc, tôi luôn luôn giữ im lặng về điều này. Bởi vì có những tình cảm không hẳn là trái ngược nhau, nhưng mà nó quá to lớn nên tôi không biết diễn tả bằng cách nào để nói về Huế. Huế đối với tôi là tình yêu.

Về lại Huế, tôi thấy Huế thay đổi quá nhiều, nhiều con đường tôi không nhận ra. Qua cầu Phủ Cam để đi về nhà cũ, mới bước mấy bước thì thấy đã đi quá nhà, tìm mãi mới ra nhờ còn số cũ 46 Phan Chu Trinh, mới biết đó là nhà xưa của mình. Về đây, tôi có suy nghĩ thế này: Tôi nghĩ các bạn trẻ vẫn yêu mến nhạc của anh Trịnh Công Sơn vì đó là những bản nhạc rất hay và gần như trở thành bất tử.

* Chị có thể kể về mình hiện nay?

- Hiện tôi vẫn sống một mình ở Mỹ. Tôi đang làm việc trong một bệnh viện tâm thần, công tác về tâm lý cho bệnh nhân ở Los Angeles, tiểu bang Caliornia, Hoa Kỳ.


Thái Lộc
(Trích từ Tuổi Trẻ online)


Phát biểu của nhà văn - dịch giả Bửu Ý, người bạn thân của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

“Hôm nay, xin nói thẳng, rất nhiều người tới đây để nhìn mặt Bích Diễm, tới để xem có hay không người yêu của Trịnh Công Sơn. Bích Diễm thừa biết không phải là một, và không phải chỉ có Bích Diễm. Song, Bích Diễm cũng nên vui (cười)! Lạ một điều là người yêu của anh chàng Trịnh Công Sơn này đa số là người Bắc, đây có lẽ là duyên nợ. Tôi có tính người yêu của Trịnh Công Sơn trên 20 người, đến 23 người, nhưng sợ còn bỏ sót. Song hình bóng Bích Diễm vẫn là xuyên suốt đi từ người số 1 cho đến người thứ 23. Tức là hễ có người yêu nào mới qua từng giai đoạn đời mình thì cứ như thế Trịnh Công Sơn vẫn luôn luôn kiếm tìm hình bóng của Bích Diễm qua từng người một. Và xin nói Bích Diễm là nguồn cảm hứng vô tận để Trịnh Công Sơn để lại cho đời vô số tình ca bất hủ!”.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Tâm Sự Ðàn Ông


Ước chi ..... không có đàn bà
Một mình thanh thản, cửa nhà êm ru
Ðầu óc chẳng phải lu bù
Sợ lời léo nhéo, gật gù làm theo
Cuộc sống mát mái, xuôi chèo
Chẳng lo va vấp, chẳng mèo mở chi
Ăn, ngủ, chơi ......, thích là đi
Chẳng lo tra hỏi : làm gì?, ở đâu?
Thật vui khi chẳng muốn sầu
Chẳng người yêu bước, lên tàu sang ngang
Một mình cuộc sống an nhàn
Ung dung thư thái, đàng hoàng cần chi ???
Tươi vui cuộc sống có khi
Kéo dài tuổi thọ, ít thì ..... gấp ba
Ước chi không có đàn bà
Ðàn ông một lủ, thế là khỏe ru .....


Tâm sự đàn bà

Ước chi ..... không có đàn ông
Thì đâu có cảnh chờ chồng đêm khuya
Mê nhậu, mê gái, mê bia .....
Ngất nga, ngất ngưởng .......đi hia một giờ
Về nhà là ngáy khò khò
Quên bài không trả ...., học trò lưu ban !
Thà sống cái kiếp hồng nhan
Còn hơn cứ phải điêu tàn héo hon
Quần áo, giầy dép, phấn son ....
Tha hồ chưng diện, chả còn ai ghen
Mỗi khi thành phố lên đèn,
Vui chơi nhảy nhót đêm đen mới về
Một mình vui thú chán chê
Gạo còn hay hết, chẳng hề lo toan
Thật là cuộc sống huy hoàng
Ðàn ông biến hết, chỉ toàn .... phe ta

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Người không nhận tội 1.
Tôi biết anh khi cùng đến trình diện “ học tập ” tại trường Pétrus Ký ngày 24 tháng 6 năm 1975. Anh sinh năm 1942, tốt nghiệp khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Sau khi ra trường anh bị động viên khóa 9/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi được biệt phái làm việc ở Kỹ Thương Ngân Hàng, tức Ngân hàng Quân Đội ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Anh là một thanh niên khỏe mạnh, to cao, chưa lập gia đình. Vì cận thị nên lúc nào cũng mang kính trắng. Trông anh ai cũng dễ nhận ra anh là một trí thức giàu tiềm năng, nhiều nghị lực. Anh có người chú ruột là kỹ sư làm bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ của chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Sở dĩ tôi biết nhiều về anh là do khi bị đưa vào trại tập trung ở Thành Ông Năm , Hốc Môn, cũng như khi ra Phú Quốc tôi lúc nào cũng được “ biên chế ” cùng tổ , đội với anh, chỗ nằm cũng sát bên anh, vì người ta căn cứ theo thứ tự A, B, C của tên mỗi người khi lập danh sách. Tên anh rất lạ và dễ nhớ : Kha Tư Giáo.

Khi mới vào trại tập trung, ngoài giờ lao động khổ nhọc, các “ cải tạo viên “ còn phải học mười (10) bài chánh trị. Sau mỗi bài học là những buổi thảo luận trong tổ, đội. Mỗi ngưởi phải viết “ bài thu họach ” những gì mình “ tiếp thu ” được sau những bài giảng của cán bộ tuyên truyền, được gọi là giáo viên. Sau bài học đầu tiên đề tài thảo luận đưa ra là mọi người phải “ liên hệ bản thân ”, xác định mình là người có tội với nhân dân, với “ cách mạng ”. Người cầm súng thì giết bao nhiêu cách mạng trong từng trận đánh. Bác sĩ thì chữa trị cho binh sĩ lành bệnh để đánh phá cách mạng như thế nào. Người làm ngân hàng ( như tôi và anh Kha Tư Giáo ) thì có tội phục vụ cho nền tài chánh, dùng tiền nuôi dưỡng chiến tranh. Cảnh sát thì đàn áp nhân dân ra làm sao, vân vân…Trại của chúng tôi đa số là sĩ quan biệt phái. Họ nói biệt phái là phái làm công tác đặc biệt. Thí dụ giáo viên biệt phái là những người lãnh lương hai đầu, một bên là quân đội, một bên là giáo dục, được phái về dạy học để đánh rớt học sinh, buộc học sinh phải đi lính, biệt phái ngân hàng là sĩ quan được đưa về làm công tác ngân hàng, kiếm thêm thu nhập cho người lính để có thêm sức cầm súng. Do đó, sĩ quan biệt phái là những người có tội rất nặng với cách mạng và nhân dân hơn những người khác. Anh KTG thì cho rằng anh và các bạn anh không ai là người có tội. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cầm súng chống lại bộ đội Bắc Việt và quân nằm vùng là để tự vệ mà không hề chống lại nhân dân, đồng bào ruột thịt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Riêng bản thân anh, sanh ra và lớn lên ở miền Nam, học hành và làm công tác chuyên môn ngân hàng để sống và phục vụ cho đất nước thì sao gọi là có tội. Lập trường anh Giáo không đáp ứng yêu cầu của Việt Cộng. Đó là tấn thảm kịch của anh. Anh bị bắt làm kiểm điểm liên tục còn những người khác thì cũng bị bắt phải “ giúp đỡ ” anh nhìn thấy được tội lỗi của mình để được cách mạng và nhân dân khoan hồng. Càng kiểm điểm anh càng thấy mình là người vô tội. Bài viết lúc đầu thì dài, về sau chỉ còn bốn chữ thật to chiếm hết trang giấy : TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Việt Cộng hỏi, anh trả lời những gì cần phải nói anh nói hết rồi. Bạn bè trong đội thấy anh giữ lập trường như thế thì rất nguy hiểm cho anh mà bạn bè cũng khổ. Vì sau giờ lao động cực nhọc đáng lẽ được nghỉ ngơi, lại phải ngồi kiểm điểm với anh đến mỏi mệt, chán chường. Nhiều người trách anh sao không biết “ nín thở qua sông ”, họ khuyên anh cứ viết đại vào giấy là mình có tội một cách chung chung, miễn là thực tế không làm gì hại nước, hại dân là được. Anh bảo như vậy là mắc lừa Cộng Sản và lương tâm không cho phép.

Khi tất cả cán bộ ở trại đều bất lực thì cán bộ cao cấp từ Sài Gòn được cử xuống. Những người này tỏ ta có tay nghề hơn. Nghe đâu là sư trưởng VĐG từng là thành viên của phái đoàn đàm phán Bắc Việt tham dự hội nghị Paris năm 1973, cùng với một đại tá chánh ủy sư đoàn ( ?). Họ không trấn áp anh mà tỏ ra lắng nghe và chịu đối thọai. Anh Giáo đã chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những câu hỏi đặt ra mà họ không trả lời được. Ngược lại, anh còn phản công, vạch trần tội ác của họ. Từ vai một người tù, một tội nhân anh trờ thành một công tố viên trước tòa, luận tội Việt Cộng. Bằng một giọng đầm ấm và trầm tĩnh, anh Giáo nói :
- Chúng tôi là những người sanh ra và lớn lên ở miền Nam. Nhờ hạt gạo của đồng bào miền Nam nuôi lớn và trưởng thành từ nền văn hóa và giáo dục khoa học, nhân bản và khai phóng. Chúng tôi có lý tưởng của chúng tôi cũng như các anh có lý tưởng của các anh. Lý tưởng của các anh là dùng bạo lực để lật đổ chánh phủ hợp hiến, hợp pháp Việt Nam Cộng Hòa để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản. Lý tưởng của chúng tôi là bảo vệ Tự Do, Dân Chủ. Các anh từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam, buộc lòng dân quân miền Nam phải cầm súng tự vệ. Chúng tôi có câu “ giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Chẳng lẽ một công dân cầm súng chống lại kẻ thù để bảo vệ bà con mình, gia đình mình, tổ quốc mình thì có tội ?
Hai cán bộ Việt Cộng im lặng, chỉ gật gật cái đầu. Một lúc sau, viên đại tá chính ủy lên tiếng :
- Các anh chỉ là tay sai đế quốc Mỹ. Ở đâu có Mỹ, có bom đạn Mỹ thì chúng tôi đánh. Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…
Anh Giáo ngắt lời :
- Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, chớ gì ? Các anh chỉ biết lặp lại mà không biết gì về quốc tế công pháp. Tôi nhắc lại, hiệp định Genève năm 1954 mà các anh đã ký ngày 20/7/1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận
Tên sư trưởng phản ứng :
- Các anh là công cụ Đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn đất nước. Còn chúng tôi đánh Mỹ là để thống nhất đất nước, mang lại Độc Lập cho Tổ Quốc, Tự Do, Hạnh Phúc cho đồng bào.
Anh KTG :
- Nên nhớ, các anh mới là người âm mưu cùng thực dân Pháp chia cắt đất nước bằng hiệp định Genève năm 1954. Chúng tôi không hề ký vào hiệp định đó. Đồng minh chúng tôi không phải chỉ có Mỹ mà có Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi và tất cả quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Các anh mới là tay sai Liên Xô và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương bành trướng, xâm lược, nhuộm đỏ toàn thế giới chớ không riêng gì Việt Nam.
Tên sư trưởng :
- Người Cộng Sản làm cách mạng là để giải phóng các dân tộc khỏi áp bức, bóc lột mà đầu sỏ là đế quốc Mỹ để mang lại công bằng xã hội, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.
- Tôi thiết nghĩ những người cần được giải phóng là nhân dân miền Bắc đang thiếu Tự Do, Dân Chủ, đang sống đời lầm than cơ cực. Chúng tôi không cần các anh giải phóng.
Bất ngờ, tên đại tá chánh ủy đập tay xuống bàn cái rầm. Ly nước trước mặt hắn ngã đổ tung tóe :
- Quân phản động !
Anh KTG vẫn giữ điềm tĩnh và im lặng. Thời gian trôi qua nặng nề. Tên sư trưởng dịu giọng :
- Các anh ôm chân đế quốc, bị đầu độc bởi vật chất xa hoa và văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa tư bản thối tha nên không nhìn thấy tội lỗi của mình.
Bằng một giọng ôn tồn mà cương quyết, anh Giáo trả lời :
- Chúng tôi là người Việt quốc gia, không theo chủ nghĩa nào cả. Chủ nghĩa chỉ là lý thuyết, là giáo điều do con người đặt ra để phục vụ cho những mục tiêu chánh trị nhất định trong một giai đọan lịch sử nhất định. Đến lúc nào đó nó sẽ bị đào thải do không theo kịp sự tiến hóa không ngừng của xã hội. Còn chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là chủ nghĩa ngoại lai, duy vật và sai lầm khi chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc, đi ngược lại bản chất con người, ngược lại truyền thống duy tâm , trọng đạo và nền văn hóa cổ truyền của người Việt. Nó quá tàn nhẫn và sai lầm khi chủ trương đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản. Tôi cho rằng nó sẽ không tồn tại lâu dài.
Thấy hai tên Việt Cộng vẫn im lặng, anh Giáo nói tiếp :
- Trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968 các anh đã đồng ý hưu chiến để đồng bào an tâm vui đón ba ngày lễ cổ truyền của dân tộc. Vậy mà các anh lại tấn công vào các đô thị miền Nam, gieo rắc kinh hoàng, chết chóc cho người dân vô tội. Khi các anh rút lui khỏi Huế lại nhẫn tâm sát hại, chôn sống hàng ngàn dân lành. Các anh ký hiệp định Paris năm 1973 để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc nào các anh cũng giương cao ngọn cờ chống Mỹ cứu nước như chánh nghĩa đấu tranh của mình, nhưng khi Mỹ rút đi rồi thì các anh dốc toàn lực đánh chiếm miền Nam. Vậy mà các anh nói được là hòa bình, hòa giải dân tộc !
Nói tới đây anh Giáo ngừng lại trong giây phút, rồi bất ngờ anh chỉ tay về phía hai cán bộ Việt Cộng :
- Vậy thì giữa chúng tôi và các anh, ai mới là người có tội ?
Bấy giờ thì hai tên Việt Cộng giận run, nét mặt đanh lại, xám ngắt. Chúng không trả lời câu hỏi của anh Giáo mà đuổi anh ra khỏi phòng.

Bằng đủ mọi cách đấu tranh buộc anh Giáo nhận tội không kết quả, bọn Việt Cộng để cho phong trào lắng xuống. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy đến cho anh KTG. Việt Cộng có thể mang anh ra bắn công khai về tội phản động như họ đã từng làm ở trại này mà anh Giáo cũng như mọi người trong trại đều biết. Thời gian này anh Giáo cho biết các em của anh đi học tập cùng đợt đã được ông chú bảo lãnh về hết, trong đó có người em ở trại kế bên, chỉ cách nhau một hàng rào dây thép gai. Ngày hai anh em chia tay nhau bên hàng rào, anh Giáo dặn em hãy về lo cho mẹ và gia đình và đừng lo gì cho anh, chắc là lâu lắm anh mới được về. Phần anh vẫn vui vẻ sống cùng anh em với tinh thần bình thản, một đôi khi còn tiếu lâm, khôi hài nữa. Anh thường hay hát những bài như Hà Nội, Niềm tin và Hy vọng, Anh lính quân bưu vui tính…Tôi hỏi sao không hát những bản nhạc của mình, anh nói hãy cố giữ nội quy của họ để họ không nói được mình. Anh Giáo là thế, lúc nào cũng tự trọng. Mười bài học chánh trị rồi cũng qua. Chúng tôi có nhiều giờ rảnh hơn vì lúc này không còn phải ngồi hàng giờ để thảo luận và “ giúp đỡ ” anh Giáo nữa. Nghĩ lại,Việt Cộng dùng từ cũng ngộ, như từ “giúp đỡ ” được dùng trong trường hợp này. Chúng tôi xét thấy chẳng có ai đủ tư cách để giúp đỡ anh Giáo, ngược lại rất nể trọng anh và được anh giúp đỡ rất nhiều .
Vào những buổi chiều sau khi cơm nước xong, anh và tôi thường hay đi bách bộ dưới tàng những cây sứ có hoa màu trắng, tỏa hương thơm ngát. Chúng tôi thường trao đổi với nhau về chuyện ngân hàng và những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm.Thấy anh nhặt rất nhiều bông sứ, tôi hỏi :
- Chi vậy ?
- Mai mốt về tặng người yêu- Anh trả lời.
- Chắc là cô bạn rất thích hoa này ?
- Vì nó trắng tinh khiết và thơm dịu dàng.
- Sợ tới chừng đó nó sẽ phai màu đi – Tôi e ngại.
- Không sao. Dù hoa có phai màu nhưng chắc sẽ giữ được tình cảm của mình trong đó !
- Anh lãng mạn quá – Tôi nhận xét.
Anh Giáo cười để lộ hai cái răng khểnh và một đồng tiền dưới khóe miệng bên phải. Trông anh dễ thương hơn bao giờ hết !
Có lần trong lúc trò chuyện anh nói hiện nay anh ghét nhất là cái khẩu hiệu “ Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội ”. Bản thân chủ nghĩa xã hội không ra gì thì làm sao mà yêu cho được. Theo anh Giáo, yêu nước là yêu nước. Không thể và không nên gán ghép nước Việt Nam với bất cứ một chủ nghĩa nào, dù là Chủ Nghĩa Xã Hội, Cộng Sản hay Tư Bản. Nếu những chủ nghĩa này sụp đổ thì không yêu nước nữa hay sao ?

2.
Đêm 21 tháng 6 năm 1976 chúng tôi được chở bằng Motolova đến Tân Cảng xuống tàu há mồm 503 ra Phú Quốc. Chuyến đi thật kinh hoàng như địa ngục trần gian mà con người có thể tưởng tượng được. Hàng ngàn người bị dồn trên con tàu đóng kín cửa. Ăn uống, ói mửa, tiểu tiện chỉ có một chỗ, cho vào thùng phuy. Khi tàu cập bến Phú Quốc có nhiều tù nhân bị xỉu, những người còn lại đều kiệt sức. Tù nhân phải dùng chính những thùng phuy này để nấu cháo ăn ngay trong đêm. Cho tới hôm nay là ba muơi bốn năm, hình ảnh hãi hùng này vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi ghi vào nhật ký :
Đau đớn thay những linh hồn cháy lửa
Suốt đêm ngày tắm rửa với mồ hôi
Với cao tay quờ quạng chút hơi người
Miệng gào thét những âm thanh khiếp đảm

Ở Phú Quốc ngoài việc trồng rau để “ cải thiện ” bửa ăn, việc lên rừng đốn củi là công tác thường xuyên và cực nhọc nhất. Nhiều anh em nghe lời Việt Cộng, đi tìm vác những cây to để chứng tỏ mình là người “ tiến bộ ”. Anh Giáo thì không. Lúc nào anh cũng ung dung, tự tại. Anh chỉ tìm vác những cây vừa sức mình. Khi thấy cần phải nghỉ thì anh dừng lại nghỉ, mặc cho bọn vệ binh ôm súng canh giữ cho tới lúc hết mệt anh mới đứng lên đi tiếp. Anh khuyên anh em phải biết giữ gìn sức khỏe vì thời gian “ học tập” hãy còn dài. Giờ đây ngồi ghi lại những dòng này, cảnh tượng của năm nào lại hiện ra trước mặt : Trong một buổi chiều ảm đạm, gió thổi ào ào. Một bên là biển, một bên là rừng. Đoàn tù cả trăm người, dài hơn cây số, xếp hàng đôi, áo quần lôi thôi lếch thếch, vai vác những thân cây nặng nề, mồ hôi lã chã, chậm chạp lê bước trên những con dốc ngoằng ngoèo, trơn trợt. Nhiều người té lên té xuống. Hai bên và phía sau là những tên vệ binh ôm súng AK thúc giục.Tới đầu một con dốc, anh Giáo đặt thân cây xuống, ngồi trên đó nghỉ mệt. Khi một ngừời không đi nổi thì cả đoàn phải dừng lại chờ. Điều này bọn cai tù Việt Cộng không muốn. Tên chỉ huy đến chỗ anh Giáo bắt phải đứng lên đi tiếp Anh Giáo trả lời mệt quá nên phải nghỉ. Tên cán bộ không chịu. Thế là cuộc đấu trí bắt đầu. Đến khi đuối lý, tên cán bộ rút khẩu K 54 ra khỏi vỏ. Cả đoàn tù hồi hộp. Cả khu rừng như nín thở. Tên cán bộ đến bên anh , nghiêm sắc mặt :
- Anh có đứng lên không ?
- Tôi còn mệt.
- Anh không chấp hành lệnh phải không ?
- Tôi đã nói là tôi còn mệt. Bao giờ hết mệt tôi sẽ đi.
Tên cán bộ hướng khẩu K54 về phía anh Giáo :
- Anh không đứng lên tôi bắn.
Anh Giáo vẫn ngồi bất động, lạnh lùng đáp :
- Anh cứ bắn đi !
Tên cán bộ Việt Cộng bóp cò. Hai tiếng nổ chát chúa vang động cả khu rừng. Một bầy chim bay lên tán lọan, kêu quang quác…Nhiều người tù gục xuống, ôm ngực :
- Lại Chúa tôi.

Sự việc diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhưng đã nói lên tất cả nét bi hùng của cuộc chiến sau “ Hòa bình ” mà kẻ có vũ khí trong tay đã thua, đồng thời tính chất anh hùng của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong hoàn cảnh sa cơ thất thế vẫn sáng ngời, chói lọi. Người tù đã thắng! Không biết vì sợ hãi hay run tay mà đường đạn nhắm vào anh Giáo đã đi trượt một bên tai, làm bể nát phần thân cây mà anh Giáo đang ngồi trên đó. Tôi thì sửng sốt, bàng hoàng, tưởng như mình vừa trải qua một giấc mơ, vừa chứng kiến một cảnh chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh, truyền hình !
Anh Giáo thường hay kể truyện Tam Quốc, truyện Thần Điêu Đại Hiệp, truyện Tây Du Ký cho chúng tôi nghe. Hết truyện Tàu đến truyện tiếu lâm, làm cho đời sống tù tội bớt căng thẳng. Sau một thời gian ở Phú Quốc, Việt Cộng nhiều lần cho họp liên trại, phát động lại chiến dịch đấu tranh bắt anh Giáo nhận tội, nhưng rồi không thể nào lay chuyển được tư tưởng của anh.
Riêng đám tù binh chúng tôi bấy giờ rất thoải mái chớ không còn căng thẳng như lúc ở Hốc Môn. Người ta chỉ tổ chức đấu tranh với anh Giáo cho có lệ. Những lần như thế chúng tôi khỏi phải lên rừng vác củi, được nghỉ lao động, lại thích hơn.

Nhưng thời khắc định mệnh đã tới ! Một hôm trong lúc xếp hàng điểm danh cuối ngày, cán bộ Việt Cộng ra lệnh cho anh Giáo phải bỏ kính ra. Anh trình bày vì cận thị từ lâu nên không bỏ ra được. Chỉ chờ có thế, chúng ra lệnh nhốt anh vào cũi sắt làm bằng dây thép gai, thứ mà chúng ta hay gọi là chuồng cọp, diện tích rất hẹp, nằm không được mà ngồi cũng không được. Chuồng cọp để giữa trời , không có mái che mưa che nắng. Ngay từ năm 1930, khi thành lập đảng Cộng Sản, họ đã có chính sách “ Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc bốc tận rễ ”. Anh KTG là một trí thức mặc dầu thua trận vẫn cương quyết giữ vững lập trường chống Cộng và quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc Gia thì sẽ bị tiêu diệt là điều khó tránh khỏi. Tiến sĩ toán ĐXH, cá nhân tôi và biết bao anh em khác cùng đội cũng mang kính trắng giống như anh KTG mà không hề bị làm khó dễ. Điều này được giải thích như thế nào đây ? Mỗi ngày Việt Cộng chỉ cho anh Giáo nửa chén cơm lạt. Anh lại tuyệt thực để đấu tranh và phản đối chính sách dã man và sự trả thù hèn hạ của chúng. Ngoài tuyệt thực, anh Giáo còn dùng lời ca, tiếng hát để làm vũ khí đấu tranh. Bài hát anh Giáo sử dụng là bài Đêm Nguyện Cầu, trong đó có những câu :
“ Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối…
Nghẹn ngào cho non nước tôi, trăm ngàn ưu phiền…”
Có lẽ trong giờ phút đó, anh Giáo biết rằng mình đã ở vào thế hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ có thể nguyện cầu mà thôi. Đây là lần đầu tiên mà có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi nhìn thấy một người hát bằng tất cả linh hồn như vậy. Anh Giáo thường cất tiếng hát của mình vào những đêm khuya thanh vắng. Giọng hát của anh bay vào không gian, vào từng lán, trại, có lúc thật cảm xúc, có lúc nghe rợn người như âm thanh phát ra từ cõi chết. Nhiều người nghe anh hát thì ngủ không được, nhiều người đang ngủ thì bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Bài Đêm Nguyện Cầu là của Lê- Minh- Bằng. Anh Bằng năm nay vẫn còn sống ở Mỹ, chắc anh không ngờ sáng tác của anh lại có người sử dụng trong hoàn cảnh đắng cay như vậy. Giờ đây mỗi lần nghe lại bài hát này tôi không cầm được nước mắt vì nhớ tới người bạn của mình. Lời ca của anh Giáo rồi thì cũng yếu dần và tôi không nhớ cho đến khi nào thì tắt lịm. Anh bị xuống sức rất nhanh. Từ một thanh niên khỏe mạnh cao hơn một thước bảy, chỉ trong vòng một tháng anh chỉ còn là một bộ xương, duy có đôi mắt là còn tinh anh, sáng ngời, khiến cho nhiều người không dám nhìn thẳng vào mắt anh, nhất là cán bộ Việt Cộng.

Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Việt Cộng cho di chuyển một số tù nhân từ Phú Quốc về Long Giao, Long Khánh. Anh Giáo di chuyển đợt đầu, tôi thì đi đợt kế tiếp. Trong lúc di chuyển, anh Giáo bị còng tay, lúc nào cũng có vệ binh ôm súng canh chừng. Ngay khi về tới Long Giao tôi vội đi tìm anh Giáo. Khi gặp được anh thì anh đang hấp hối. Tôi nắm tay anh, bàn tay lạnh ngắt Lời nói cuối cùng anh nhắn lại với tôi là khi nào được về thì nói tất cả sự thật cho gia đình anh biết. Tôi hỏi địa chỉ ở đâu thì anh thều thào trong hơi thở rất yếu. Hình như anh thốt ra hai chữ Huyền Trân. Sau này khi đi lao động tình cờ tôi gặp được nấm mộ của anh, phủ đầy cỏ dại ở một góc sân banh hoang vắng. Trên mộ có tấm bảng gỗ nhỏ có đề tên anh, nét chữ nhạt nhòa.

3.
Tôi được tha về cuối năm 1977. Mặc dầu phải đương đầu với biết bao khó khăn trong đời sống hàng ngày đối với một người vừa mới ra tù, tôi vẫn để tâm đi tìm gia đình anh Kha Tư Giáo. Theo quyết định ra trại, tôi chỉ được tạm trú ở nhà một tháng, sau đó phải chịu sự điều động của địa phương đi “Kinh Tế Mới ”. Nhờ may mắn, tôi xin được giấy chứng nhận là thuộc diện sử dụng vào công việc của thành phố. Từ đó tôi xin được việc làm và dần dần ổn định được đời sống. Tôi đã tìm khắp mọi nẻo đường, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nhất là đường Huyền Trân Công Chúa, đường có hai chữ Huyền Trân mà tôi đã nghe anh Giáo thốt ra trong lúc lâm chung. Nhưng con đường này toàn là biệt thự, có vẻ là công sở hơn là nhà tư nhân. Tôi cứ đi qua, đi lại con đường này không biết bao nhiêu lần. Khi tôi vào hỏi đều nhận được cái lắc đầu của chủ nhà. Cũng có lần tôi cầu may lên Thành Ủy Sài Gòn ở đường Trương Định , quận Ba để hỏi thăm về đồng chí KVC, Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng tôi không qua được cổng bảo vệ vì khi được hỏi quan hệ như thế nào với đồng chí bộ trưởng thì tôi trả lời quanh co mà không chứng minh được gì cả.

Trong suốt hai mươi năm ở SàiGòn không tìm được gia đình anh Giáo thì tôi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ, định cư ở Chicago vào cuối năm 1997. Sang Mỹ tôi vẫn tìm cách thực hiện nguyện vọng cuối cùng của người bạn quá cố. Tôi cố gắng dò hỏi trong số bạn bè mà tôi liên lạc được xem có ai biết gia đình họ Kha ở đâu không. Một lần nữa tôi không có tin vui. Điều tôi làm được là cuối tháng 12 năm 2001 tôi viết lại câu chuyện về anh Kha Tư Giáo, đặt tựa đề Người Không Nhận Tội và gửi cho tờ Việt Báo ở California, mục “ Viết về nước Mỹ ”. Tôi chọn mục này vì đây là diễn đàn có số độc giả rất lớn, ở khắp nơi trên thế giới, biết đâu gia đình anh Giáo sẽ đọc được. Hy vọng của tôi rất mong manh vì bài của tôi không nói gì về nước Mỹ mà chỉ viết về người bạn của mình đã ngã gục trong tù Cộng Sản. Vậy mà không ngờ, bài viết cũng được chọn đăng và được phổ biến trên hệ thống thông tin toàn cầu. Tôi lại hồi hộp chờ đợi bài viết của mình đến với gia đình anh KTG. Ngày 23 tháng 1 năm 2002 tôi nhận được email của Ban Chủ Nhiệm Việt Báo chuyển cho cùng với bức điện thư của anh KTC, em của anh KTG gửi từ Autin, Texas, báo tin gia đình anh đã đọc được bài viết của tôi. Bức điện thư ngắn ngủi nhưng đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một niềm vui lớn. Bạn hãy tưởng tượng cũng biết được là tôi hạnh phúc như thế nào khi nỗi niềm đã được giải tỏa, khi ước mơ 25 năm đã thực hiện được, nhất là ước mơ đó là của người quá cố, nên có tính cách linh thiêng.

Chiều chủ nhật 27 tháng 1 năm 2002, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thọai từ Texas :
- Hello ! Tôi là KHT, em ruột anh Kha Tư Giáo. Xin lỗi có phải…
- Tôi, Duy Nhân đây.
- Chào anh Duy Nhân ! Có phải anh là tác gỉa bài viết Người Không Nhân Tội ?
- Tôi đây chị.
- Hân hạnh được nói chuyện với anh. Gia đình tôi đọc được bài viết của anh trên Internet. Không ngờ sự thật như vậy..
Tới đây thì tiếng nói đứt quãng. Tôi nghe được cả sự nghẹn ngào bên kia đầu dây. Chị HT quá xúc động. Tôi cũng vậy. Tôi giữ được im lặng trong một phút, rồi nói :
- Đây là giây phút mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm nay.
- Gia đình chúng tôi cám ơn anh nhiều lắm.
- Tôi chỉ làm nhiệm vụ đối với anh Giáo, một người bạn của tôi.
- Bài viết của anh nói lên được nhiều điều. Qua đó, gia đình tôi hiểu rõ sự thật về anh Giáo, về Cộng Sản mà nhiều cán bộ cao cấp theo Cộng Sản suốt đời cũng không hiểu được.

Tôi lại nghe tiếng nức nở bên kia đầu dây. Chị HT lại khóc. Sau đó chị kể cho tôi nghe những sự kiện tiếp theo cái chết của anh Giáo. Chín tháng sau khi anh Giáo chết thì Việt Cộng mới báo tin về gia đình, Họ có hoàn lại cho gia đình một số vật dụng cá nhân, trong đó có cặp kính trắng. Bây giờ tới phiên tôi đau lòng và xót xa khi nghe nhắc tới cặp kính trắng. Đó chứng tích của sự trả thù hèn mọn và một chính sách sai lầm đối với trí thức, đối với người thuộc chế độ cũ mà tôi là nhân chứng từ đầu tới cuối. Khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh Giáo thì mẹ và các em đi gặp cán bộ có chức quyền để hỏi tin tức. Họ nói anh Giáo nhịn ăn cho tới chết. Mẹ anh hỏi lý do gì khiến anh Giáo phải tuyệt thực, anh Giáo có tội gì phải biệt giam, đề nghị cho xin bản án hoặc biên bản về cái chết của anh Giáo. Việt Cộng không trả lời. Mặc dầu uất ức nhưng mẹ anh cố kiềm nước mắt không bật khóc trước mặt Việt Cộng. Đến khi mẹ anh Giáo đề nghị được dẫn đi tìm mộ thì bọn Việt Cộng lại tỏ ra khó chịu và đòi hối lộ. Cuối cùng, bà và các em phải đi tìm một mình và dĩ nhiên là không thể nào tìm được ! Vì quá đau buồn, mẹ anh Giáo qua đời sau đó ít lâu. Khi tôi nhắc đến tên Huyền Trân thì chị nói đó không phải là tên đường mà là tên của chị. Có lẽ trong lúc lâm chung anh Giáo gọi tên chị mà tôi tưởng là tên đường. Chị HT nói cho tới bây giờ gia đình chị không ai biết anh Giáo nằm ở đâu. Tôi thì biết rất rõ. Ngôi mộ quay đề về hướng Đông ở một góc sân banh. Trên mộ có xuất hiện một cây hoa dại có bông rất lạ. Ngày xưa mỗi lần đi lao động về ngang qua ngôi mộ tôi đề bứt vài bông đem về cắm trong lọ mà tưởng tượng anh Giáo như còn sống. Anh Giáo đã chết một cách vô danh mà anh hùng như loài hoa kia đã dũng cảm vươn lên giữa khô cằn và gai góc.
Sau chi HT thì anh KTH, em kế anh Giáo từ bên Pháp đã liên lạc với tôi bằng thư và nói chuyện qua điện thọai. Anh cho biết rõ hơn về tính tình ngay thẳng, cương trực của anh Giáo. Anh H tỏ ra rất hãnh diện và tự hào về người anh của mình, đã chọn cái chết mà không phải ai cũng làm được. Anh đã thanh thản đi vào trang sử bi hùng của Quân Lực VNCH và dân tộc.

Anh Kha Tư Giáo ơi ! Ở một nơi nào đó chắc là anh đã mãn nguyện vì ước muốn sau cùng của anh đã được thực hiện, dầu có muộn màng. Bài mà tôi viết về anh người ta đã lấy dựng thành kịch (1), cho phổ biến, trình chiếu khắp nơi mà không xin phép tác giả. Thôi thì hãy ngậm cười mà tha thứ cho họ, tha thứ tất cả. Tha thứ cho những kẻ đã hành hạ anh, những kẻ bỏ đói anh, tha thứ luôn cho cái chuồng cọp nhốt anh đêm ngày và cái còng sắt siết chặt tay anh rớm máu ! Bây giờ đã là ba mươi bốn năm, vậy mà tôi tưởng như mới ngày nào…Lịch sử vẫn đang ghi nhận những sự thay đổi, những bước tiếp diễn lạnh lùng của nó. Có những điều anh nhận định, anh mong mỏi bây giờ đã là sự thật, ngọai trừ Tự Do và Hạnh Phúc cho mọi người. Gia đình anh có nhiều thay đổi : Mẹ anh đã qua đời, ông chú anh cũng đã ra đi. Người ta dùng tên chú anh để đặt tên một con đường nhỏ ở Thủ Đức nhưng lại viết sai chính tả ! Anh còn lại những người thân nhưng đã phân tán mỗi người mỗi ngã. Có người còn ở Việt Nam, có người ở Pháp, ở Mỹ…Tôi vẫn đang liên lạc với họ, vẫn nghe tiếng họ nói mà chưa một lần gặp mặt. Vậy mà cảm thấy như đã thân quen tự thuở nào. Về phần tôi, khi nào điều kiện cho phép tôi sẽ về lại Việt Nam. Tôi sẽ đi tìm ngôi mộ của anh, sẽ thắp lên đó một nén hương và trồng bên cạnh đó một cây sứ có bông màu trắng.

GHI CHÚ :
(1) Bài viết Người Không Nhận Tội đã được Trung Tâm Băng Nhạc Asia dàn dựng với cùng tựa đề, do Ban kịch Sống – Túy Hồng trình diễn trong cuốn Asia số 36 ( chủ đề Người Lính ) tưởng niệm 27 năm tháng 4 đen (30/4/1975 – 30/4/ 2002). Bài này được viết lại tháng 4 năm 2010 để tưởng niệm 35 năm ngày mất nước.
Duy Nhân

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Đấu giá ảnh Đệ nhất phu nhân Pháp không mặc quần

Image
Đệ nhất phu nhân Pháp Carla Bruni. Ảnh: totalbeauty.com.
Một bức ảnh Đệ nhất phu nhân Pháp Carla Bruni chụp từ phía sau, không mặc quần, sẽ được mang ra đấu giá ở London vào ngày mai.


Bức ảnh do nhiếp ảnh gia Helmut Newton chụp năm 1992, được định giá khởi điểm là 7.500 USD.

Theo tờ Huffingtonpost, cuộc đấu giá mang tên "Sex", có mục đích "thúc đẩy đối thoại về nghệ thuật đương đại, tính dục và tác động qua lại giữa chúng bằng cách giới thiệu các tác phẩm thách thức khái niệm về khao khát, giới tính và cách thức tiếp nhận những bức ảnh nhục dục". Tất cả người tham gia đều phải trên 18 tuổi.

Trước khi trở thành Đệ nhất phu nhân Pháp, Carla Bruni từng là siêu mẫu người Italy hàng đầu thế giới. Tháng 6/2009, một bức ảnh khoả thân của Bruni được bán với giá 19.600 USD tại Berlin. Tuy nhiên, cũng năm ngoái, vào tháng 11, một bức ảnh khoả thân khác của bà bị rút khỏi buổi đấu giá ở Paris vì được trả giá quá thấp.

Hải Minh

Post Reply