Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

“Không hối lộ, Chống áp bức”

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, Luật Sư Lê Thị Công Nhân lại bị công an Cộng Sản bắt cóc đem về “bót,” chỉ có mấy ngày sau khi được thả. Họ thay nhau thẩm vấn cô hơn 4 giờ, cuối cùng chỉ cốt để ngăn cản không cho tiếp một phóng viên ngoại quốc đã hẹn gặp để phỏng vấn cô. Hành động của công an Cộng Sản vẫn chứng tỏ chế độ này không có một khái niệm nào về liêm sỉ, không biết xấu hổ, không biết ngượng. Nó cũng chứng tỏ họ sợ thông tin, sợ sự thật, sợ những người dám nói sự thật.

Cô Lê Thị Công Nhân là một người đáng khâm phục. Cô là mẫu người bất khuất. Vì cô nhiệt thành tin vào mục đích của cuộc đời mình. Bước ra khỏi nhà tù Cộng Sản, cô vẫn tươi cười, thản nhiên, vẫn quyết dấn thân suốt đời tranh đấu cho dân Việt Nam được sống tự do. Thanh niên Việt Nam có thể noi gương cô. Nhìn vào tấm gương của cô, thế hệ trẻ ở nước ta sẽ vững tin sẽ có ngày mọi người đều được sống tự do dân chủ.

Niềm tin đó rất cần thiết. Vì hiện nay thanh niên nước ta đang bị lôi kéo vào cuộc sống đam mê vật chất, để chỉ nghĩ đến mình, không quan tâm đến người khác. Trong cuốn Lạc Ðường của nhà văn Ðào Hiếu, một nhân vật tuyên bố: “Hồi trẻ tôi thường nghĩ: Làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ... Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy. Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay... khi lịch sử đã chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách...” Ông Ðào Hiếu đã lớn lên ở miền Nam, học trong hệ thống trường học chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chính trong hệ thống học đường đó, ông được các thầy cô dậy sống theo một lý tưởng. Ông đã theo mấy giáo sư mà tin tưởng vào đảng Cộng Sản, hoạt động nội thành có công, được gia nhập đảng. Sau năm 1975 ông có lúc được trọng dụng, nhưng hoạn lộ không bằng phẳng vì tính bộc trực, không chịu luồn cúi. Nhưng tại sao một người trên 65 tuổi đó lại tỏ ý chán chường như câu “lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách”? Nhà văn còn kêu gọi mọi người, “Ðừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả... (C)ả lũ chúng ta đang bị lừa.” (Lạc Ðường, in 2008, trang 118).

Ðời sống của cô Lê Thị Công Nhân là những lời khẳng khái bác bỏ ý tưởng bi quan yếm thế đó. Thái độ bình tĩnh và nụ cười tự nhiên của cô là một thông điệp hùng hồn nhưng rất giản dị: Chúng ta có thể sống với lý tưởng. Trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những vụ lừa đảo, những vụ lừa đảo hàng loạt, lừa đảo cả một thế hệ, lừa đảo một nửa loài người cũng được. Nhưng cuối cùng, suốt lịch sử, loài người vẫn giữ niềm tin vào những giá trị cao hơn cuộc sống cá nhân mình. Cứ té ngã rồi lại đứng dậy. Loài người vẫn nuôi nhiều giấc mộng lý tưởng. Và đó là lý do chúng ta vẫn tiếp tục sống, tiếp tục mưu cầu hạnh phúc, xây dựng một xã hội loài người tốt đẹp hơn.

Chúng ta cảm ơn những người như Lê Thị Công Nhân, vì cô đang tặng cho tuổi trẻ Việt Nam một thứ mà xã hội đang thiếu: Niềm vui sống với một lý tưởng. Dân ta đang cần sống với niềm tin. Nói theo kiểu Phan Bội Châu đời xưa, chúng ta vẫn cần “Chấn Dân Khí.”

Hơn một thế kỷ trước đây, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, từ quần đảo Lưu Cầu), năm 1903, Phan Bội Châu nói tới ba nhu cầu thay đổi của nước ta: Học thuật, Nhân tài, và Dân khí. Ðổi Học thuật, giống như ngày nay chúng ta nói phải học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ của nhân loại. Dưỡng Nhân tài, cũng giống như nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là (việc cần làm) trước hết.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản 1990, cuốn 1, trang 145).

Cụ Phan nhận thấy: “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ.” Cụ nêu lên các triệu chứng: Quen thói sợ hãi; thiếu hiểu biết; người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.” Tình trạng dân khí đầu thế kỷ 20 như thế. Hiện nay có thấy tốt hơn hay không, chỉ các nhà trí thức trong nước Việt Nam mới trả lời được.

Phan Bội Châu mô tả tình trạng Dân Khí tồi tệ, nói có những kẻ “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết.”

Phản ứng của các lãnh tụ đảng Cộng Sản khi thấy Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân đứng lên dõng dạc đòi dân Việt Nam được quyền sống như những con người; đúng là họ khiếp sợ như nghe sấm sét! Ðám công an Cộng Sản thấy các ông Nguyễn Thanh Hải, cô Phạm Thanh Nghiên bầy tỏ ý kiến chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng kinh ngạc không khác gì những con chó ở nước Thục cất tiếng sủa khi trông thấy mặt trời, con chó ở nước Việt thì sủa vang lên khi thấy tuyết; vì những loài chó này ít khi được nhìn thấy các “vật lạ” đó.

Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã đặt câu hỏi: Muốn chấn dân khí, phải làm thế nào? Một điều bất ngờ đối với những người Việt sống sau Cụ Phan 100 năm, là câu trả lời của Cụ Phan rất có tính thời sự. Cụ chỉ nêu lên hai việc phải làm. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.”

Khi đọc hai câu trong tựa đề bài này, chắc nhiều vị độc giả không nghĩ đó là những phương thuốc trị bệnh cho nước Việt Nam do Phan Bội Châu đề nghị từ thế kỷ trước:

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.”

Cụ Phan không nêu lên hai việc cần thiết đó như là những khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp, hoặc chống triều đình nhà Nguyễn nhu nhược hủ lậu. Nhưng cụ coi đó là 2 việc cần làm để giúp cho “dân khí” nước ta phấn chấn. Chấn Dân Khí nghĩa là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền. Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng.

Phan Bội Châu coi chống tham nhũng là phương tiện: Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ. Liêm sỉ mới là cứu cánh. Trong một xã hội mà giới trẻ lớn lên thấy muốn gì cũng phải có tiền; và nếu có tiền thì cái gì cũng mua được; trong xã hội như vậy, thanh niên sẽ mất hết khái niệm về đức liêm sỉ. Trước đây nửa năm, công an Lâm Ðồng bắt đầu tấn công quậy phá các tăng ni trẻ tu tập ở Tu viện Bát Nhã; lúc đó đã có người đánh tiếng rằng vụ rắc rối này có thể thu xếp được. Người ta đưa điều kiện là phải đưa ra một triệu đô la Mỹ. Nhưng các thiền sinh trẻ tuổi ở Tu viện Bát Nhã đã từ chối. Nếu ngỏ lời kêu gọi lạc quyên, thì dù nêu ra bất cứ lý do nào, họ có thể được Phật tử khắp thế giới quyên góp, chắc cũng đủ gần triệu Mỹ kim, có thể mặc cả. Nhưng họ không làm.

Vì họ không thể đóng vai những người đi đưa tiền hối lộ, “cho tiện công việc”. Họ đang tập lối sống chính trực, lương thiện, và muốn khuyến khích mọi người sống chính trực, lương thiện. Nếu đưa tiền hối lộ thì chẳng khác gì tự phủ nhận lý tưởng sống của mình! Họ ở lại tu viện Bát Nhã để làm gì nếu chính lý tưởng của mình đã bị mất? Họ không đưa tiền hối lộ, vì họ yêu nước Việt Nam. Theo đúng lời khuyên của cụ Phan Bội Châu, họ chứng tỏ ở trong nước Việt Nam hiện nay còn rất nhiều người vẫn giữ vững liêm sỉ. Trên đời không phải cái gì cũng mua được! Các tăng ni Bát Nhã đã làm gương cho giới trẻ Việt Nam. Phan Bội Châu viết rõ ràng: “Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được!” (Toàn Tập, cuốn 1, trang 146).

Cô Lê Thị Công Nhân, trong một hoàn cảnh khác, cũng nêu tấm gương sáng cho giới trẻ nước ta, theo đúng lời khuyên thứ hai của Phan Bội Châu. Cô và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang đòi chính quyền Cộng Sản bớt áp bức những người dân bị oan khuất và các nhà trí thức bất đồng ý kiến. Chính họ đang “cổ võ ý khí cương cường” cho thế hệ các thanh niên đang lớn lên. Nói theo lối cụ Phan, những cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của giới trí thức nước ta, từ Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế hay Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý đều “chống áp bức” để giúp cho người dân Việt Nam hết sợ hãi. Khi đó, “công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim; búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được.” (trang 147)

Phan Bội Châu viết lá thư “Lưu Cầu” này ở Huế, nhưng mượn tên hòn đảo Nhật Bản này vì số phận của dân họ cũng giống nước Việt Nam lúc đó. Lưu Cầu, Riu Kiu, vốn là một vương quốc độc lập không thuộc giống dân Nhật, đã bị Nhật Bản chiếm nhiều lần và bị sáp nhập từ năm 1879, đổi tên là quần đảo Xung Thằng (Okinawa), họ mất nước từ đó tới nay.

Nhiều người Việt Nam cũng đang lo mối nguy mất nước, lúc này đọc lại những lời huyết lệ của cụ Phan còn thấy hợp. Muốn nước đứng vững và tiến lên, trước hết phải chấn hưng “dân khí.” Phải nâng cao tinh thần tự tin và nuôi dưỡng lý tưởng của thanh niên. Lý tưởng không phải là “những cái giẻ rách.” Lý tưởng có thật. Nó giúp cho đôi mắt của Lê Thị Công Nhân lúc nào cũng sáng ngời. Lý tưởng biến các tăng ni trẻ Bát Nhã thành những hạt giống Bồ Ðề. Và chính vì những lý tưởng vị tha, Ðức Giám Mục Ngô Quang Kiệt khuyên các giáo dân từ Vinh lên đưa tiễn ngài hãy thắng mọi sợ hãi. “Chúng ta phụng vụ trong Ðức Tin chứ không phải trong sợ hãi.” Trên đường sang Roma chữa bệnh ngài cũng yêu cầu mọi người hãy can đảm “nói sự thật” mà không sợ đàn áp. Ðó là những bản tuyên ngôn “Chấn dân khí” gửi đến tuổi trẻ Việt Nam.

Chúng ta thấy ở trong nước Việt Nam còn bao nhiêu người nuôi đức tin mãnh liệt, tin vào vào lẽ phải và sự thật, tin tưởng vào phẩm giá con người, tin con người có khả năng hướng vào điều thiện. Tất cả chúng ta có thể lạc quan. Thanh niên Việt Nam có thể sống với lý tưởng; và họ rất đáng sống với lý tưởng. Năm 1903 Phan Bội Châu còn phải chứng kiến nước ta sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và lũ quan lại hủ bại nhà Nguyễn. Nửa thế kỷ sau, dân Việt Nam đã đứng lên phá bỏ gông xiềng. Chế độ Cộng Sản sẽ tàn lụi không khác gì các chế độ thực dân và phong kiến.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vì sao Cộng Sản lùi hai bước?

Ngô Nhân Dụng

Một tuần lễ sau khi phải thả Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cường quyền Cộng Sản lại quyết định “tạm tha” cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Có thể coi là họ đã chịu lùi 2 bước.

Mặc dù cô Lê Thị Công Nhân được ra khỏi cái nhà tù nhỏ vì bản án của cô hết hạn, nhưng nếu đảng Cộng Sản muốn họ vẫn có thể bịa ra bất cứ lý do nào để giữ cô trong nhà giam, như họ vẫn làm từ xưa tới nay đối với những người đòi dân chủ. Cho nên trả tự do cho cô là Cộng Sản chấp nhận một bước lùi. Còn cha Nguyễn Văn Lý thì được đưa về cho Tòa Tổng Giám Mục Huế săn sóc lấy lý do vì bị bệnh; nhưng trong thực tế ông đã lâm trọng bệnh từ lâu mà gần đây cũng không có triệu chứng nào nặng nề hơn đến nỗi không thể đem vào giam trong nhà thương của công an. Vì lý do nào mà một người bị xử án 3 lần, tổng cộng 14 năm tù, lại được đưa “về nhà” chữa bệnh? Cho nên, có thể coi việc Cộng Sản trả tự do cho cô Lê Thị Công Nhân và Linh Mục Nguyễn Văn Lý là những bước lùi bất đắc dĩ của chế độ Cộng Sản. Tại sao họ chịu lùi, và tại sao lại chịu lùi vào lúc này?

Chúng ta không thể tin là đảng Cộng Sản đã thay đổi chính sách. Không thể tin họ đã chấp nhận từ nay cho người dân Việt Nam, những người như Cha Lý và cô Công Nhân, được tranh đấu công khai cho quyền làm người và thể chế dân chủ. Ðường lối đảng Cộng Sản trước sau như một là độc tài chuyên chính, theo lời Hồ Chí Minh từ nửa thế kỷ trước.

Như vậy thì chỉ có thể giải thích là đảng Cộng Sản đã đã lùi hai bước ngay trong lúc này vì họ sợ áp lực của dư luận quốc tế. Nhưng các áp lực đó đã có từ lâu chứ không mới xẩy ra; cho nên cũng có thể là trong thực chất đảng Cộng Sản chẳng có chính sách, chủ trương nào lâu dài cả. Mọi quyết định của họ đều tùy tiện, nhất thời, do nhu cầu từng giai đoạn. Họ không có một đường lối nhất quán, trông bên ngoài thấy những hành động mâu thuẫn với nhau. Giả thuyết đáng tin nhất là đảng Cộng Sản hiện giờ có nhiều cái đầu, những cái đầu độc lập với nhau và những cánh tay không do một bộ não duy nhất chỉ huy. Các quyết định được đưa ra như thể “ngẫu nhiên,” không phải một bộ máy có người nắm quyền kiểm soát; ngược lại từ bên trong và bên ngoài có quá nhiều lực đẩy.

Những lực đẩy từ bên ngoài có thật và càng ngày càng mạnh. Những phiên xử án Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân đã gây ra những làn sóng phản đối khắp thế giới, từ phía các chính quyền cũng như các hội đoàn trong xã hội công dân. Hình ảnh bình tĩnh thản nhiên của Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân khiến cả loài người có lương tâm kính trọng, khiến người ta càng có lý do khinh thường chế độ độc tài Cộng Sản, khiến nước Việt Nam cũng bị khinh lây. Riêng Linh Mục Nguyễn Văn Lý thì bức hình của ông trong “phiên tòa bịt miệng” đã trở thành biểu tượng cho cuộc tranh đấu đòi quyền làm người của dân tộc Việt Nam hiện nay, trước sự đàn áp thô bạo của chế độ Cộng Sản.

Tháng Bảy năm ngoái, 37 vị nghị sĩ Quốc Hội Mỹ đã ký thư yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam trả tự do cho ông “ngay lập tức và vô điều kiện.” Tới đầu tháng này, ông phụ tá ngoại trưởng Mỹ Kurt Compbell, lại lên tiếng yêu cầu lần nữa, khi được tin linh mục bị bệnh. Cuối tuần trước, Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế đã can thiệp yêu cầu chính phủ Mỹ xếp chính quyền Cộng Sản Việt Nam trở lại vào danh sách các chế độ vi phạm tự do tôn giáo “cần quan tâm đặc biệt.” Và trên thế giới, cộng đồng người Việt khắp nơi liên tiếp vận động các vị đại biểu Quốc Hội nơi họ sống tạo áp lực buộc chính quyền Cộng Sản phải tôn trọng quyền sống tự do dân chủ của người Việt Nam.

Những áp lực đó chắc chắn có hiệu quả; bằng cớ là đảng Cộng Sản đã phải lùi ngay hai bước trong vòng một tháng, khi họ phải trả tự do cho cô Lê Thị Công Nhân và Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Mặc dù cô Công Nhân vẫn tiếp tục bị quản thúc, và Cha Lý chỉ được “tạm trao cho Nhà Chung” để chữa bệnh; nhưng đối với Cộng Sản thì rõ ràng là nếu không bị bắt buộc không đời nào họ nhượng bộ liền hai bước như thế.

Bởi vì, khi chịu lùi hai bước, họ biết sẽ còn phải chịu thêm áp lực để lùi nữa. Hiện nay đảng Cộng Sản đang chịu rất nhiều áp lực từ các tầng lớp dân chúng sống trong nước. Phong trào các nông dân đòi đất bị chiếm đoạt chưa nguôi vì không có một cách giải quyết thỏa đáng; thì các thành phần thanh niên và trí thức đã tự biến thành những thế đối kháng trên các mặt trận truyền thông. Ðảng Cộng Sản bị tấn công tới tấp vì không bảo vệ được chủ quyền dân tộc đối với biên cương và hải phận, không bảo vệ được ngư dân đánh cá bị “hải tặc” mặc binh phục Trung Cộng đánh đập, cướp bóc. Giới trí thức Việt Nam khắp nước và khắp thế giới bầy tỏ nỗi phẫn nộ vì những vụ cho Trung Cộng khai thác bô xít, cho thuê rừng. Trong khung cảnh “tứ bề bị vây hãm, tấn công” như vậy, người suy nghĩ bình thường cũng thấy không nên trả tự do cho những người tranh đấu đối kháng mạnh bạo nhất, như Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Làm như vậy không khác nào thả cọp về rừng và tiếp tay cho “các lực lượng thù nghịch.”

Một cách giải thích là chế độ Cộng Sản hiện nay rất lúng túng. Trong khi thành phố Hà Nội đang kỷ niệm Một Ngàn Năm ngày Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long thì dân chúng thủ đô đã bất bình từ nhiều năm qua vì pho tượng Lý Thái Tổ ở bên bờ Hồ Hoàn Kiếm thấy rõ ràng chỉ mô phỏng hình ảnh một ông vua Tàu trong phim bộ Trung Quốc! Khác với hình ảnh những ông vua đời Lý, đời Trần mà sử sách cho biết vẫn còn giữ phong tục Việt Nam và rất gần gũi với người dân bình thường. Chưa hết, gần đây lại có tin chính quyền Cộng Sản đã đưa một đoàn quay phim sang Tàu để quay một cuốn phim về Lý Thái Tổ! Ai cho phép các cán bộ nắm đầu 10 tỉnh cho các công ty Trung Quốc thuê đất trồng rừng với hợp đồng 50 năm trong lúc cả nước đã nổi giận vì vụ khai thác bô xít? Những hành động này chỉ có thể nói là “Hết khôn, dồn ra dại!”

Những phản ứng của cô Lê Thị Công Nhân và cha Nguyễn Văn Lý cho thấy việc tạm phóng thích họ chỉ làm cho chế độ Cộng Sản bị thiệt hại thêm chứ không được lợi gì cả. Ngay khi ra khỏi tù, Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã nhắc lại một lập trường chính đáng của ông là không công nhận luật lệ của đảng Cộng Sản, không công nhận tòa án Cộng Sản, cho nên ông từ chối không chấp nhận bị coi là một “phạm nhân.” Cô Lê Thị Công Nhân cũng xác định cô cương quyết tranh đấu đến cùng cho mọi người Việt Nam được sống tự do dân chủ và cô nhất định không thỏa hiệp với cường quyền áp bức. Tất cả các nhà tranh dấu dân chủ ở Việt Nam, từ giới thanh niên tới các nhà trí thức, cả các đảng viên Cộng Sản sẽ coi đó làm gương cho họ.

Cho nên có thể kết luận rằng đảng Cộng Sản Việt Nam đã lùi hai bước liên tiếp chính vì họ không dám cưỡng lại các áp lực quốc tế. Linh Mục Nguyễn Văn Lý may mắn sống vào thời đại này, hơn 20 năm sau khi các chế độ Cộng Sản ở Âu Châu đã sụp đổ. Trước tấm gương sụp đổ đó, các công an Cộng Sản ở Việt Nam cũng không dám tự tung tự tác bạo hành như các đồng nghiệp của họ ở Âu Châu 30 năm trước. Và nhờ áp lực kinh tế của các nước tư bản cho nên những người tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam cũng không bị thủ tiêu, may mắn hơn những người Ba Lan vào giữa thập niên 1980.

vào những năm đó, chế độ Cộng Sản Ba Lan đã giải tán công đoàn độc lập Solidarnos và ra lệnh thiết quân luật. Họ bắt cóc và thủ tiêu Linh Mục Jerzy Popieluszko, là một cán bộ công đoàn. Cha Popieluszko đi trốn nhưng vẫn tổ chức mỗi tháng một buổi thánh lễ ở họ đạo St. Stanislaw, ngày càng đông người tới tham dự. Ba sĩ quan công an Cộng Sản đã bắt cóc Linh Mục Popieluszko, cùng với một người tài xế, nhưng bác tài đã nhẩy qua cửa sổ trốn thoát. Mấy ngày sau thì người ta thấy xác Linh Mục Popieluszko trên dòng sông Vistula.

Nhờ người tài xế bạn ông còn sống nên tin tức được truyền đi làm dân Ba Lan phẫn nộ, cuối cùng chế độ Cộng Sản phải đưa ba sĩ quan công an và một đại tá chỉ huy họ ra tòa và kết án tù. Phải tới 5 năm sau, khi chế độ Cộng Sản tan rã, những viên tướng trùm công an và trùm mật vụ mới bị đem ra tòa xét xử về vụ ám sát, thủ tiêu này.

Ðám công an Cộng Sản ở Việt Nam hiện nay cũng biết số phận của các đồng nghiệp Ba Lan, Ðông Ðức của họ. Cho nên trong mấy năm qua, các người tù vì lương tâm ở Việt Nam đã được đối xử một cách lịch sự, tử tế hơn. Một chế độ đang tan rã cũng giống như một chiếc tàu sắp chìm, những con chuột cũng bỏ chạy. Ðây là một cơ hội để tiếp tục đẩy mạnh việc tranh đấu đòi tự do dân chủ cho mọi người Việt Nam.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Áo đỏ tưới máu trước tư gia thủ tướng Thái


Kế hoạch biểu tình thứ Tư 17/3 mang tính lặp lại những gì người áo đỏ làm hôm thứ Ba. Một ngày trước phe áo đỏ tưới máu người xuống cửa Dinh Thủ tướng,và trụ sở của đảng Dân chủ, đảng của ông Abhisit.Trước đó trong ngày nhiều ngàn người áo đỏ xếp hàng đợi hiến máu, để dùng vào việc phản đối chính trị. Natthawut Saikua một lãnh đạo của người áo đỏ nói: "Máu của dân, từ nhiều tầng lớp, hòa trộn với nhau để đấu tranh cho dân chủ.”


Tại Bangkok ủng hộ viên áo đỏ hiến máu để đấu tranh chính trị.
Những người biểu tình áo đỏ đã ném các túi ny lông đựng máu nơi gần tư gia của thủ tướng Thái Lan tại Bangkok, hành động tượng trưng phản đối quyền cai trị.

Image
Lực lượng an ninh đồng ý cho một vài người áo đỏ xả máu bên ngoài khu biệt thự của thủ tướng Abhisit Vejjajiva.
Trước đó người ta lo ngại sẽ có đụng độ giữa áo đỏ và nhân viên an ninh. Hôm nay là ngày thứ tư của cuộc biểu tình quy mô lớn và nhiều ngàn người áo đỏ tụ tập quanh tư gia của thủ tướng Thái đòi ông từ chức.

Phong trào áo đỏ, với nhiều người ủng hộ cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra, muốn ông Abhisit giải tán quốc hội và tổ chức bầu cử mới.

Sau đó những người áo đỏ kéo đến con đường nơi đại sứ quán Anh và Mỹ tọa lạc, nói lên tiếng nói phản đối của họ và giải tán.

Áo đỏ nói rằng họ không hài lòng trước tin đưa, là tình báo nước ngoài từng cảnh báo chính phủ về khả năng cuộc biểu tình biến thành bạo động.

Trong ngày thứ tư của cuộc biểu tình quy mô lớn, người áo đỏ dự tính tưới máu thu được từ các ủng hộ viên trước tư gia của người đứng đầu chính phủ Thái Lan, như để tăng thêm sự bất ngờ đối với cuộc tập hợp của họ.

Người áo đỏ nói chính phủ Abhisit được dựng lên một cách bất hợp pháp và lẽ ra phải được giải tán.

Phái viên cho hay cả ông Abhisit và gia đình đều không có mặt tại tư gia, căn biệt thự tại vùng giàu có của Bangkok. Anh ninh xung quanh vùng này và con đường dẫn tới căn nhà đang được xiết chặt.

Chính phủ điều thêm nhiều trăm cảnh sát và binh lính tới hỗ trợ lực lượng đang có sẵn xung quanh căn nhà, báo The Nation đưa tin.

Tờ báo tiếng Anh cho hay Phó thủ tướng Suthep Thaugsuban đã ban hành luật An ninh Nội an để cấm người biểu tình lại gần con đường dẫn đến nhà ông Abhisit. Vài ngàn người áo đỏ đã tụ hợp tại vùng này.

Kể từ khi cuộc biểu tình bắt đầu, ông Abhisit chuyển đến tạm trú tại một trại lính ở phía Bắc Bangkok. Nơi này là đại bản doanh của Tiểu đoàn Bộ binh số 11.

Tưới máu

Người ta có thể thấy đoàn xe chở người áo đỏ tiến về tư gia của ông Abhisit nằm trên đường Sukhumvit, một trong các vùng thương mại sầm uất của Bangkok. Biểu tình vẫn diễn ra trong không khí ôn hòa, ầm ĩ và vui vẻ.

Phái viên BBC tại Bangkok, Rachel Harvey nói số người biểu tình áo đỏ có vẻ giảm, tuy vậy sự hăng hái hầu như chưa giảm sút. Phát biểu hay đòi hỏi của họ đang trở nên lớn tiếng hơn trước.

Chiều thứ Ba 16/3 có 90.000 người áo đỏ biểu tình, giảm khoảng 10.000 người so với hai ngày trước, theo một sĩ quan cảnh sát.

Hãng AP đưa tin ngay cả lãnh đạo áo đỏ cũng không biết hành động tiếp theo của họ là gì. Ông Veera Musikapong, một trong các chỉ huy tại cuộc biểu tình nói, "Ước gì tôi biết địa điểm phản đối kế tiếp.”

Ông nói phe áo đỏ họp hàng ngày để đề ra chiến lược cho ngày hôm sau.

Kế hoạch biểu tình thứ Tư 17/3 mang tính lặp lại những gì người áo đỏ làm hôm thứ Ba. Một ngày trước phe áo đỏ tưới máu người xuống cửa Dinh Thủ tướng, và trụ sở của đảng Dân chủ, đảng của ông Abhisit.

Trước đó trong ngày nhiều ngàn người áo đỏ xếp hàng đợi hiến máu, để dùng vào việc phản đối chính trị.

Natthawut Saikua một lãnh đạo của người áo đỏ nói: "Máu của dân, từ nhiều tầng lớp, hòa trộn với nhau để đấu tranh cho dân chủ.”

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2 ... ouse.shtml

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Mặt Trận Afghanistan

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Bọn Taliban ở Afghanistan đã mở cuộc tấn công đánh bom dữ dội vào thành phố Kandahar ở miền Nam, rồi đến sáng chủ nhật vừa qua đã ra tuyên bố cảnh cáo Đại tướng Stanley McChrystal lãnh đạo quân NATO rằng chúng đã sẵn sàng trước cuộc tấn công quy mô sắp tới của quân đồng minh. Một loạt những quả bom nổ đã phá hoại nhiều tòa nhà và giết chết ít nhất 35 người - trong đó có 10 người đang dự một đám cưới, khiến Thống đốc tỉnh Kandahar phải yêu cầu quân đồng minh gia tăng bảo vệ an ninh ở vùng này. Trong khi đó, cư dân thành phố lo sợ nói họ không có mấy tin tưởng về khả năng của đồng minh cũng như quân của chính phủ bảo vệ an toàn cho họ.

Như tin trước đây đã cho biết tướng McChrystal tuyên bố quân đồng minh sẽ mở một cuộc hành quân lớn đánh sào huyệt của Taliban ở Kandahar vào cuối năm nay. Phát ngôn nhân Ahmadi của Taliban tuyên bố cuộc tấn công đánh bom tối thứ Bẩy cho thấy quân của chúng vẫn có khả năng đánh lớn mặc dù quân đồng minh và quân chính phủ đang tăng cường chuẩn bị tấn công vào Kandahar. Tuy nhiên Phát ngôn nhân Bashary của bộ Nội vụ chính quyền Afghanistan nói những cuộc tấn công của Taliban đã thất bại vì chúng không đạt được mục tiêu chính yếu là làm giống như chúng đã tấn công bằng bom tự sát năm 2008 ở cửa nhà tù để giải thoát hàng trăm can phạm và những nghi can nổi loạn. Vụ đám cưới có người bị bom chết đã diễn ra ở gần cửa khám đường Kandahar. Bashary nói chính quyền trung ương đang cứu xét lời yêu của Thống đốc tỉnh này.
Riêng thủ phủ Kandahar có 800,000 dân. Nơi đây là trụ sở của chính phủ Taliban khi chúng cai trị Afghanistan, chúng đặt ra chế độ thần quyền cai trị trong suốt 5 năm cho đến khi chúng bị quân đội Mỹ lật đổ vào năm 2001. Tỉnh Kandahar hiện là căn cứ của Taliban, bọn phiến loạn kiểm soát hầu hết các thôn xóm làng mạc ở xung quanh thủ phủ Kandahar. Dân chúng trong thành phố nói bọn Taliban muốn làm gì thì làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi. Javed Ahmad, một người dân 40 tuổi nói: "Chúng tôi cảm thấy không có an toàn với sự hiện diện của quân lực chính quyền, sống trong trạng thái này thật ghê rợn. Chúng tôi không có an toàn khi ở trong nhà và khi đi ra ngoài đường".

Trong vụ tấn công tối thứ Bẩy có 13 Cảnh sát và 22 thường dân trong đó có 6 phụ nữ và 3 trẻ em, phần lớn chết ở Trụ sở Cảnh sát và trong đám cưới. Mohammad Anwar, 30 tuổi, bán hàng trong tiệm có một thân nhân chết trong vụ đánh bom nói với một ký giả Mỹ: "Tối Thứ Bẩy vừa qua cũng giống như ngày tận thế cho tất cả người dân Afgha chúng tôi". Ông ta nói cư dân ở đây trách cứ quân Mỹ và đồng minh đã không diệt trừ bọn Taliban một cách đầy đủ: "Chúng muốn giết dân và loại trừ chế độ chăng? Chính quyền hiện nay quá yếu để ngăn chặn chúng".

Cuộc tấn công quy mô của Mỹ, NATO và quân chính phủ dự trù vào cuối năm nay nhằm diệt trừ Taliban là tiếp nối cuộc tấn công hồi tháng Hai mới đây nhằm vào Thị trấn Majah trong tỉnh Helmand ở miền Tây Nam Afghanistan. Cuộc tấn công này là cuộc thí nghiệm đầu tiên của Đại tướng McChrystal nhằm diệt trừ bọn Taliban đang chiếm đóng nơi này để thành lập một chính quyền địa phương mới của Tổng Thống Karzai đồng thời bảo đảm an toàn cho dân chúng, xúc tiến viện trợ để lấy lại niềm tin và lòng trung thành của người dân. Thị trấn Majah nay đã ổn định.

Tuần này tại Majah, các lực lượng Cảnh sát quốc gia đã được bố trí với sự yểm trợ của một số quân Gia Nã Đại và Mỹ, xây dựng một lực cảnh sát địa phương 2,000 người. Việc huấn luyện Cảnh sát là ưu tiên hàng đầu của quân đội đồng minh tạo uy tín cho chính quyền Karzai mà người ta hy vọng sau này, chính quyền Afghanistan sẽ tự gánh vác việc giữ gìn an ninh cho dân chúng. Số quân Gia Nã Đại 2,800 người hiện đang dự cuộc đánh Majah sẽ rút khỏi Afghanistan vào năm tới.

Cũng tuần này có tin đáng chú ý là tại tỉnh Herat ở phía Tây (tiếp giáp Iran), 30 quân Taliban đã đem vũ khí ra hàng Ủy hội Hòa bình của chính phủ. Mặc đồ quốc phục Afgha vai đeo súng và hàng tràng đạn, họ cam kết từ này sẽ không đánh lại quân chính phủ. Cố nhiên còn phải chờ một thời gian mới biết đây là hàng thật hay hàng giả. Tổng Thống Karzai đang thúc đẩy một chương trình gọt tỉa dần các tay súng Taliban với hứa hẹn cấp công ăn việc làm. Ông sẽ triệu tập một cuộc hội nghị hòa bình vào tháng tới tại Thủ đô Kabul, đạt giấy mời các lãnh tụ Taliban đến thương lượng. Cho đến nay các tay cầm đầu Taliban vẫn bác bỏ các cuộc điều đình cho đến khi quân đội ngoại quốc rút hết khỏi Afghanistan.

Mặt khác theo tin báo chí Mỹ, với chương trình bề ngoài là thâu lượm tin tức, một giới chức Quốc phòng đã thiết lập một đường liên lạc qua Internet với các công ty thầu khoán Mỹ đang hoạt động ở Afghanistan và Pakistan, để nhắm theo dõi và diệt trừ các nghi can thuộc các phe phản loạn ở hai nước đó. Giới chức này là ông Michael Furlong, mướn các nhà thầu của các công ty an ninh tư đã dùng các cựu nhân viên CIA và lực lượng đặc biệt. Chỉ có điều trở ngại là ở Pakistan, nơi bọn al-Qaida và Taliban đang ẩn náu, việc bí mật sử dụng các nhà thầu tư nhân có thể bị coi là một cách qua mặt chính quyền Pakistan hiện đang cấm không cho phép quân đội Mỹ hoạt động trên lãnh thổ nước này. Furlong là một sĩ quan Không quân Mỹ hồi hưu, nhưng bây giờ là một viên chức dân sự cao cấp trong quân đội Mỹ.
Một tin mới nhất từ Afghanistan cho biết chính phủ nước này bác bỏ tin nói đã mở cuộc mật đàm về hòa bình với nhân vật số 2 của Taliban là Ghani Barada khi ông này bị bắt ở Pakistan hồi tháng Hai 2010. Theo nguồn tin của Thông tấn Reuter Tổng Thống Karzai đã từng yêu cầu Taliban từ bỏ vũ khí để đến Kabul mở cuộc hòa đàm dự liệu vào cuối tháng Tư hay đầu tháng Năm năm nay. Các giới chức Mỹ nói hiện chưa có tiến bộ cụ thể nhưng họ hy vọng có thể sẽ có hòa đàm nội trong năm nay, sau khi quân Mỹ và đồng minh tạo thêm áp lực tại mặt trận với số quân Mỹ gia tăng thêm 30,000 người như TT Obama đã quyết định.

Từ khi Barada bị bắt, Karzai tìm cách thuyết phục Pakistan trao Barada cho chính phủ Afgha. Các giới chức Afgha nói Pakistan đã đồng ý giải Barada qua Afghanistan, nhưng một tòa án Pakistan đã quyết định không trục xuất Barada qua nước ngoài. Thực hư ra sao chưa rõ, nhưng những tin tức trên cho thấy mặt trận Afgha chắc chắn sẽ có những biến chuyển mới trong những tháng tới.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Mỹ chuyển bom chuẩn bị đánh Iran?
Hoài Linh (Theo PTI, Haretz)

Số hàng được chuyển đi gồm 195 quả bom thông minh,...


Mỹ đang vận chuyển hàng trăm quả bom phá boongke tới một căn cứ không quân ở đảo Diego Garcia (Anh) tại Ấn Độ Dương để chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào các căn cứ hạt nhân của Iran.(Ảnh Haretz)

Theo bản tin ngày 17/3 của tờ Sunday Herald, Scotland, chính phủ Mỹ hồi tháng 1 đã ký hợp đồng với dịch vụ hàng hải để chuyển 10 congteno từ Concord, California tới đảo Diego Garcia.

Số hàng được chuyển đi gồm 195 quả bom thông minh, có dẫn đường loại Blu-110 và 192 quả bom loại Blu-117 nặng 900kg. Cả hai loại bom này đều có thể dùng để tấn công những công trình ngầm hoặc kiên cố.
Hiện thời, cả Mỹ và Israel đều không loại trừ việc dùng quân sự nếu biện pháp ngoại giao không thể giải quyết được tranh cãi lâu nay về tham vọng hạt nhân gây tranh cãi của Iran.

Chi tiết về hợp đồng chuyển hàng Hải quân Mỹ được đăng trên trang web bỏ thầu quốc tế. "Họ đang tăng tốc để hủy diệt Iran", Dan Plesch, giám đốc Trung tâm nghiên cứu quốc tế và ngoại giao tại trường đại học London nói. "Hiện giờ, các máy bay ném bom Mỹ đã sẵn sàng phá hủy 10.000 mục tiêu tại Iran chỉ trong vòng vài giờ".
Plesch là đồng tác giả của một nghiên cứu về việc Mỹ đang chuẩn bị tấn công Iran.

Quyết định cuối cùng về việc có tấn công Iran hay không còn phụ thuộc vào Tổng thống Mỹ Obama. Ông Obama có thể quyết định rằng tốt hơn hết, Mỹ sẽ tấn công Iran chứ không phải là Israel, Plesch cho hay.
"Mỹ không công khai quy mô của công tác chuẩn bị để ngăn chặn Iran có vũ khí hạt nhân mà họ chỉ thể hiện rằng có thể có đối đầu. Mỹ đang sử dụng lực lượng của mình như một phần của chiến lược tổng thể trong việc hoạch định những kế hoạch với Iran".

Diego Garcia là một phần lãnh thổ của Anh, cách nam Ấn Độ và Sri Lanka khoảng 1.600km. Hòn đảo này được Mỹ dùng làm căn cứ quân sự theo một thỏa thuận giữa hai nước vào năm 1971.

Trong quá khứ, Bộ Quốc phòng Anh từng nói, Mỹ phải được nước này cho phép mới có thể dùng Diego Garcia để làm căn cứ tấn công. Đảo này cũng được dùng để phát động chiến dịch chống Iraq trong cuộc chiến Vùng Vịnh năm 1991 và 2003.

Bộ Quốc phòng Mỹ không phản hồi với đề nghị bình luận về bài báo này.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trung Quốc với 40 triệu 'quang côn'

Ngô Nhân Dụng
Người Tầu đọc là “Guang-gun,” đọc lối Việt là Quang Côn. Quang là sáng, cũng nghĩa là trống trải, như khi ta nói “phong quang, quang đãng.” Côn là cây gậy dùng để đánh nhau, “Côn quyền ra sức lược thao gồm tài.” Quang côn là cây gậy trơ trụi, là cành cây không lá không hoa, người nói tiếng Anh dịch là Bare Branches. Hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer đã viết cuốn sách mang tựa đề “Bare Branches,” dịch từ hai chữ Quang Côn, trình bày tình trạng nhiều đàn ông ở nước Tầu “không thể kiếm được vợ.” Sách do nhà xuất bản Ðại Học MIT in năm 2004. Trong từ điển Hán Việt cũng ghi nghĩa chính rất thông dụng đó: quang côn là đàn ông con trai chưa có vợ, độc thân, cũng gọi là ế vợ.

Ðề tài cuốn sách này có vẻ không đáng chú ý, vì người Việt chỉ lo con trai nhà mình khó kiếm vợ, chẳng ai cần quan tâm đến tình trạng đàn ông bên Tầu ế vợ! Nhưng khi đọc thấy con số 40 triệu đàn ông con trai độc thân dự đoán trong mười năm tới ở lục địa Trung Hoa thì thấy cũng đáng suy nghĩ. Gần đây, một tuần báo Anh viết một bài dài, nhấn mạnh đến cảnh đàn ông ế vợ ở nhiều nước, đặc biệt là ở Trung Cộng, khi họ trình bày tình trạng phá thai hoặc giết trẻ gái sơ sinh khắp thế giới. Hàng trăm triệu em bé gái đã bị giết ngay trong bụng mẹ vì cha mẹ không muốn có con gái. Một hậu quả là cảnh đàn ông ế vợ vì nhiều trai, ít gái quá, ở những nước như Trung Hoa, Ấn Ðộ, Armenia, Georgia, vân vân. Người Việt phải chú ý đến chuyện bên Tầu.

Theo báo Nhà Kinh Tế (The Economist, March 6, 2010) thì Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (CASS) vào đầu năm 2010 đã tiên đoán trong mười năm nữa ở nước Tầu cứ 5 thanh niên đến tuổi cưới vợ sẽ có một chàng không thể tìm được cô nào để “rước về” cả. Họ tính ra con số trên dựa trên tỷ lệ số trẻ em trai và gái sinh ra trong khoảng từ 5, 10 năm trước tới nay. Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở xuống, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là không thể kiếm được vợ.

Ðể độc giả thấy rõ con số đó lớn hay nhỏ ra sao, báo Economist đã so sánh: Con số 40 triệu này lớn bằng tất cả số thanh niên ở nước Mỹ vào năm 2020, có vợ hoặc chưa có vợ. Con số đó cũng cao gần gấp đôi số thanh niên trẻ ở ba nước Ðức, Pháp và Anh quốc cộng lại, ba nước đông dân nhất Âu Châu. Trong lịch sử, chưa bao giờ có một quốc gia nào trên thế giới lại “chứa” một lực lượng đàn ông độc thân và ế vợ cao đến thế, trong thời gian không có chiến tranh. Nếu so sánh với Việt Nam thì con số 40 triệu đó cũng sấp sỉ một nửa dân số nước ta, tức là gần bằng tổng số người đàn ông, con trai người Việt, kể từ trẻ sơ sinh tới các cụ già.

Nhưng đối với người Việt Nam thì con số 40 triệu này có phải một điều đáng lo nghĩ hay một mối đe dọa hay không?

Có, nếu chúng ta tin một số quy luật dân số học trong quá khứ có thể được lập lại trong tương lai. Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khi dân số một nước tăng lên nhanh hơn khả năng sản xuất, đặc biệt là khi số thanh niên trai tráng lên cao, có nhiều người trong tuổi lao động bị thất nghiệp, đặc biệt hơn nữa là trong số đó có quá nhiều người không thể nào kiếm được vợ vì thừa trai thiếu gái, thì một hệ quả là các nước ế vợ thường hay gây chiến với lân bang. Có thể họ thấy đó là một cách giải quyết số đàn ông thặng dư này, nhất là để tránh không cho đám thanh niên “bức xúc” bất mãn đó không còn thời giờ mà phạm tội, hoặc quay ra làm cách mạng, nổi loạn chống chính quyền nữa. Không phải cuộc chiến tranh nào cũng xẩy ra vì quá nhiều thanh niên ế vợ; nhưng trong một xã hội mà số đàn ông thặng dư đông quá thì những người cầm quyền thường hay gây chiến, nhất là khi kinh tế suy yếu.

Hy vọng là thế giới nay đã thay đổi, chuyện này sẽ không diễn ra trong tương lai. Vì hiện nay loài người đã văn minh hơn, kinh tế toàn cầu hóa, các nước tôn trọng tự do mậu dịch; sẽ không để cho nước nào thiếu việc làm hay thiếu thực phẩm. Miễn là có trao đổi thương mại, có công việc làm là ai cũng có gạo ăn và có đủ trò giải trí.

Nhưng theo Valerie Hudson và Andrea den Boer thì có những hậu quả khác khó tránh được khi số thanh niên ế vợ tăng cao quá. Một, là số người phạm tội sẽ gia tăng; cho nên, chế độ chính trị sẽ thiên về đường lối độc tài để đối phó với mối lo bất ổn.

Bình thường, những người phạm tội và bạo động trong xã hội đa số vẫn là giới trẻ. Những người trẻ ế vợ, không phải gánh trách nhiệm đối với vợ và con thì dễ phạm tội hơn, lý do cũng dễ hiểu. Trong nhiều xã hội, những thanh niên ế vợ quá lâu còn bị mọi người chung quanh coi thường, nếu không nói là coi khinh, gạt ra ngoài lề xã hội, họ càng có lý do để nổi loạn. Hai chữ “quang côn,” cành cây trụi lá, chứa ý nghĩa khinh thường, ai cũng thấy - cũng giống như người Việt Nam gọi họ là “bị sao Mộc Ðức (tức là đực, mốc) chiếu mạng!”

Tất cả các yếu tố đó dễ thúc đẩy đám thanh niên bị gạt ra bên lề xã hội sinh ra bạo động và phạm tội. Nhiều người sẽ gia nhập băng đảng, để được kính trọng hơn, và để thể hiện “nam tính” của mình. Ở các xã hội thừa trai thiếu gái, những vụ hiếp dâm, bắt cóc phụ nữ ép làm vợ, và nạn mãi dâm đều cao hơn các xã hội bình thường.

Ðể đối phó với đám thanh niên bất mãn dễ gây tội và dễ làm loạn đó, Valerie Hudson và Andrea den Boer nhận xét, các chính quyền thường quay sang khuynh hướng độc tài. oHaiHHai

Hudson và den Boer viết, các chính phủ “phải giảm bớt mối đe dọa của những chàng trai trẻ này đối với xã hội. Hậu quả là họ trở nên độc đoán hơn để đối phó với các tội phạm như băng đảng, buôn lậu, vân vân.”

Tại sao có tình trạng 30 đến 40 triệu “quang côn,” đàn ông ế vợ, ở nước Trung Hoa trong vòng 10 năm tới? Người ta nghi rằng đó là do nhiều bậc cha mẹ đã phá thai khi biết bào thai sẽ sinh ra là một em gái; và tệ hơn nữa, có người giết trẻ em gái ngay lúc lọt lòng. Nhiều cô mụ đỡ đẻ được trả tiền để làm việc này. Một tác giả người Trung Hoa đang sống ở Anh đã mô tả cảnh tượng đó, mà cô là người chứng kiến. Có những người mẹ sau đó hối hận đã tìm cách tự tử. (Cuốn sách là Message from an Unknown Chinese Mother của Xinran Xue).

Chính sách thời Mao Trạch Ðông hạn chế mỗi gia đình chỉ được có một con chỉ là một trong nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng tội lỗi này. Vì người ta đã thấy khắp thế giới, không riêng gì ở Trung Cộng đã xẩy ra tình trạng nhiều con trai, ít con gái. Và tại Trung Hoa, những tỉnh có chính sách dễ dãi trong việc hạn chế số con, nhiều khi cho phép các cặp vợ chồng có 2 con, thì chính ở những tỉnh đó tỷ lệ sinh con trai cao hơn sinh con gái còn nặng nề hơn ở các tỉnh khác. Những vùng kinh tế phát triển cao thì tỷ lệ chênh lệch cũng cao hơn, những nơi nhiều người có học, biết dùng các phương pháp dò để biết trước thai nhi là trai hay gái, thì tỷ lệ chênh lệch cũng cao hơn nữa.

Trong các xã hội bình thường, cứ 100 trẻ em gái sinh ra thì có từ 103 đến 106 trẻ sơ sinh con trai. Vì trẻ em con trai dễ bị chết yểu hơn con gái, cho nên khi chúng lớn lên đến tuổi lập gia đình thì số trai gái cao sấp sỉ bằng nhau. Nhưng tại nhiều nước hiện nay tỷ lệ 100 gái/105 trai không còn giữ được nữa. Trong những năm từ 1985 đến 1989, tỷ lệ nam nữ ở Trung Hoa đã chênh lệch thành 100/108, tức là 100 bé gái thì có 108 bé trai. Trong những năm từ 2000 đến 2004, tỷ lệ càng nghiêng lệch thêm, 100 bé gái sinh ra thì sinh 124 bé trai. Tại nhiều tỉnh ở miền Nam và trung nước Tầu, tỷ lệ này lên tới 100/130 hay 140.

Tỉnh Quảng Ðông là một nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai, trong mười lăm, hai mươi năm nữa, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ. Quảng Ðông ở ngay sát nước ta. Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh này, thuộc loại trù phú nhất Trung Quốc, mà có dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Nam hay không?

Ảnh hưởng hay không còn tùy thuộc vào chính sách của những người cầm quyền ở Việt Nam. Người Trung Hoa có thể đối phó với nạn hàng chục triệu đàn ông ế vợ bằng cách đi mua hay dụ dỗ, bắt cóc phụ nữ ở các nước đem về. Những phụ nữ này có thể bị mua hoặc ép làm vợ, hay bị khai thác làm nghề mại dâm. Chính phủ của họ có thể làm ngơ, các chính quyền địa phương có thể khuyến khích những hành động phi pháp và vô đạo này. Những nước chung quanh, trong đó có Việt Nam, phải biết tự vệ. Những nước nghèo tất nhiên phải ngăn ngừa cẩn thận hơn nạn buôn người, xuất cảng phụ nữ.

Một lối thoát khác của thanh niên ế vợ ở Trung Hoa là đem họ ra nước ngoài làm việc. Hiện nay trong nước Tầu đang có cảnh nhiều ngành công nghiệp thiếu nhân lực, nhưng chính phủ Trung Cộng vẫn khuyến khích việc đem các công nhân Trung Hoa đi làm việc ở nước ngoài. Nhiều công trình xây dựng hạ tầng cơ sở, phi trường, nhà máy, do các công ty Trung Cộng phụ trách sử dụng toàn người Trung Hoa từ lục địa đem qua. Nay lại thêm các chương trình thuê đất trồng rừng hoặc trồng cây kỹ nghệ của người Trung Hoa, đó cũng là những nơi sử dụng công nhân Trung Cộng. Nếu chính phủ các nước biết thì họ phải đưa ra chính sách ngăn ngừa những công nhân ngoại quốc bất hợp pháp này. Nếu không thì đây cũng là một cách giải quyết nạn “quang côn” quá đông của người Trung Hoa.

Nếu như lời tiên đoán của hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer đáng chú ý thì người Việt Nam còn phải tính trước đề phòng với một nước Trung Hoa nằm dưới một chế độ cộng sản càng ngày càng độc tài hơn, vì họ lo sợ cảnh hỗn loạn, bạo động do các “quang côn” gây ra. Một nước Trung Hoa tự do dân chủ sẽ không có tham vọng bành trướng mạnh mẽ như một nước Trung Hoa độc tài chuyên chế. Vì các chính quyền độc đoán bao giờ cũng gây tình trạng thù nghịch với các nước khác để kích thích tự ái quốc gia, đánh lạc nỗi bất mãn của dân. Một chính phủ tự do dân chủ khó gây chiến tranh, vì rất khó thuyết phục dân chúng đồng ý; còn một chính quyền độc tài thì họ không cần hỏi ý kiến dân. Khi nước Trung Hoa có 30 tới 40 triệu thanh niên không tìm đâu ra vợ thì các nước chung quanh đều phải lo ngại, nhưng Việt Nam đáng lo nhất. Vì chính phủ cộng sản ở hai nước đều độc tài chuyên chế, và họ đang coi nhau là đồng chí và anh em. Chính sách ngoại giao của hai đảng không cho phép một định chế độc lập nào của người dân để kiểm soát; mà dân chúng cũng không có quyền tự do ngôn luận để góp ý kiến.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm họa Trung Quốc?

Image
Một pháo đài của Trung Quốc trên rặng Ðá Vành Khăn (Mischief Reef) trong quần đảo Trường Sa. (Hình: Getty Images)
Lê Xuân Khoa


Sang năm mới Canh Dần, tình hình chính trị Việt Nam đáng bi quan hơn trước. Trước “quốc nạn” tham nhũng tiếp tục hoành hành, tình trạng xuống cấp đến mức báo động của giáo dục, và sự gia tăng các tệ nạn xã hội, người Việt Nam trong và ngoài nước còn phải đối diện với hai mối quan tâm hết sức nghiêm trọng:

1. Tiếp theo những vụ lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải đã được chính thức hóa bằng những văn bản thỏa hiệp với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc vẫn ngang nhiên tiến hành kế hoạch thôn tính Việt Nam bằng những hành động xác lập quyền sở hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực hiện những dự án khai thác tài nguyên mang tính chiến lược trên cả hai mặt kinh tế và quân sự.

2. Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam vừa tiếp tục ca ngợi mối quan hệ tốt với Trung Quốc qua những khẩu hiệu “bốn tốt” và “16 chữ vàng”, vừa gia tăng ngăn cấm những quyền tự do căn bản của con người, đồng thời mạnh tay trừng phạt những công dân dám công khai bày tỏ lòng yêu nước hoặc yêu cầu cải thiện chế độ chính trị và thực hiện công bằng xã hội.

Nhiều nhà bình luận ở hải ngoại đã phân tích và nhận định khá chi tiết về hai mối quan tâm đặc biệt này, nhưng phần đông vẫn chỉ nhằm kể tội lãnh đạo cộng sản, hô hào đoàn kết chống cộng và cầu mong chế độ sớm bị sụp đổ. Gần đây mới có một số trí thức đề cập đến những phương thức cụ thể và tích cực hơn, như thành lập cơ quan nghiên cứu chiến lược dân chủ và phát triển (think tank), vận dụng các nguồn lực vào tiến trình dân chủ hóa Việt Nam, nhấn mạnh vào vai trò xây dựng xã hội công dân của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hay vai trò của cộng đồng hải ngoại như một lực lượng đối lập. Ðây là những kế sách lâu dài có hiệu lực chuyển hóa chế độ chính trị ở trong nước, nhưng công cuộc thực hiện đòi hỏi nhiều thời gian, phương tiện tài chánh và nhân sự, nhất là sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng.

Trong khi theo đuổi những mục tiêu lâu dài, chúng ta cần gấp rút tìm cách đối phó với những vấn đề trước mắt, ưu tiên là hai mối quan tâm nghiêm trọng đã nêu trên. Xét cho cùng, mối quan tâm thứ hai có liên quan với mối quan tâm thứ nhất và những biện pháp mạnh của nhà cầm quyền đối với mọi tiếng nói phát biểu lòng yêu nước và nguyện vọng chính đáng của người dân đều là hệ quả của tinh thần lệ thuộc Trung Quốc, với mục đích bảo vệ quyền lực và quyền lợi của Ðảng và Nhà nước. Những biện pháp này đều rập theo khuôn mẫu của Trung Quốc, từ những phiên tòa “kangaroo” với những bản án đã có sẵn dành cho những người bất đồng chính kiến và những người đòi đối xử công bằng cho những nạn nhân bị chính quyền tước đoạt đất đai, cho đến những hành động đàn áp tín đồ các tôn giáo không nằm trong hệ thống kiểm soát của nhà nước. Nếu không có gì thay đổi bất thường, đại đa số trong bộ máy lãnh đạo Ðảng sau Ðại Hội XI vào Tháng Giêng 2011 sẽ là những đảng viên thân Trung Quốc.

Ðể có thể tồn tại với chế độ độc tài đảng trị, Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn Trung Quốc làm mô hình trị nước và hội nhập với cộng đồng quốc tế “theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Việc giao thiệp với Hoa Kỳ và các nước dân chủ khác trên căn bản “đôi bên cùng có lợi” chủ yếu là làm giàu cho Ðảng để củng cố bộ máy nhà nước. Chính phủ tìm mọi cách ngăn chặn mọi nguồn thông tin mở rộng sự hiểu biết của người dân và đưa đến những đòi hỏi dân chủ hóa chế độ. Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 25 tháng 6, năm 2009, của Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa” đã đích danh kết tội “các thế lực thù địch,” đặc biệt là chính phủ Mỹ và các tổ chức “phản động” của người Việt ở nước ngoài. Những chương trình viện trợ phát triển của USAID, chương trình học bổng Fulbright và Vietnam Education Foundation (VEF), chương trình giao lưu văn hóa và hợp tác văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, cùng với các chương trình nhân đạo của các tổ chức phi chính phủ (NGO), đều bị tố cáo là nhắm mục tiêu “xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hóa Việt Nam” (?).Ðáng chú ý là bản chỉ thị này đã báo động về “xu hướng tự diễn biến, tự chuyển hóa” đang “có chiều hướng gia tăng, có mặt trầm trọng, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân.”

Ðể cho cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình có thể thành công, Ðảng và Nhà nước cần phải dựa vào Trung Quốc, hiện đang là quốc gia phát triển kinh tế nhanh nhất trên thế giới và cũng là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Vì cùng chung chế độ và cùng chung chí hướng, cộng sản Việt Nam coi Trung Quốc là đồng minh vững chắc và điểm tựa an toàn nhất để chống lại mọi nỗ lực dân chủ hóa chế độ. Lãnh đạo Việt Nam không phải không biết đến hiểm họa Trung Quốc nhưng họ đã ưu tiên đặt quyền lợi và sự sống còn của Ðảng lên trên vận mệnh tương lai của đất nước. Cộng Sản Việt Nam luôn luôn giữ lễ với Trung Quốc cho nên mọi lời tuyên bố của lãnh đạo và phát ngôn viên chính phủ đều chỉ dừng lại ở chỗ xác nhận chủ quyền và kêu gọi Trung Quốc đối xử tử tế với ngư dân Việt Nam. Không có một viên chức chính quyền nào lên tiếng phản đối Trung Quốc và đòi hỏi công lý cho những ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắt giữ, đánh đập, và bắt nộp tiền chuộc tàu thuyền và ngư cụ. Những tàu tuần Trung Quốc hành động trái phép và vô nhân đạo ấy đều được gọi là “tàu lạ,” một từ ngữ lần đầu tiên được sử dụng trong lịch sử bang giao giữa hai nước.


Hiểm họa Trung Quốc


Truyền thống bá quyền của người Hán bắt đầu trễ nhất là từ hai ngàn ba trăm năm trước, ngay sau cuộc thống nhất trung nguyên của Tần Thủy Hoàng vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Quân nhà Tần đã mở cuộc nam tiến chinh phục các bộ tộc Bách Việt và đồng hóa dân bị trị bằng những cuộc di dân vĩ đại của người Hán. Số dân Bách Việt không chịu bị đô hộ phải chạy xa xuống phía Nam, tản mát trong các nước Ðông Nam Á ngày nay. Riêng dân Lạc Việt đất Văn Lang đã kháng cự mãnh liệt, đẩy lui được nhiều đợt tấn công của các tướng nhà Tần như Ðồ Thư, Nhâm Ngao, Triệu Ðà và ngay cả của Tần Thủy Hoàng, rốt cuộc Ðồ Thư bị chặt đầu, Tần Thủy Hoàng lâm bệnh phải rút quân về nước mà chết (210 tr. TL). Anh hùng chiến thắng quân Tần là Thục Phán lên ngôi vua, xưng hiệu là An Dương Vương, thay tên nước Văn Lang là Âu Lạc, chấm dứt triều đại Hùng Vương đã tan rã dưới sức mạnh của quân Tần. Nước Âu Lạc tồn tại được 30 năm thì mất do việc An Dương Vương gả con gái là Mị Châu cho Trọng Thủy, con trai của vua nước Nam Việt là Triệu Ðà. Qua sự thông đồng của Trọng Thủy, Triệu Ðà đã đánh bại An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt.

Năm 111 tr. TL, triều đại nhà Hán đem quân chinh phục nước Nam Việt. Các triều đại kế tiếp đã thay nhau thống trị dân tộc ta trong suốt mười thế kỷ, nhưng mọi cố gắng đồng hóa dân tộc Việt và biến lãnh thổ của ta thành một tỉnh của Trung Quốc đều thất bại. Tuy nhiên, sau khi Khúc Thừa Dụ lật đổ sự thống trị của nhà Ðường năm 905, khôi phục nền độc lập cho dân tộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc vẫn tiếp tục xâm lược nước ta cho đến khi toàn bộ quân nhà Thanh bị vua Quang Trung đánh tan năm 1789. Những năm sau đó, vì phải lo chiến tranh với các nước Tây phương và vì Pháp đã chiếm đóng Ðông Dương, Trung Quốc không có cơ hội trở lại Việt Nam cho đến khi Mao Trạch Ðông ủng hộ Hồ Chí Minh trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ với thâm ý kéo Việt Nam vào quĩ đạo của Trung Quốc. Dã tâm đó thể hiện rõ rệt qua sự kiện Chu Ân Lai ép buộc Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng phải chấp nhận hiệp định Genève chia đôi đất nước. Sau đó họ Chu đã làm mất mặt các đồng chí Việt Nam khi mời đại diện Việt Nam Cộng Hòa Ngô Ðình Luyện đến dự tiệc chung với Phạm Văn Ðồng và thông báo ý muốn thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và chính phủ Ngô Ðình Diệm.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tự do ngôn luận

Nguyễn Ðạt Thịnh
Như mọi người, mỗi ngày tôi nhận hàng trăm cái e-mail, trong cơn sốt e-mail thời đại; tôi chỉ đọc thư người quen, và đọc vài bài viết được những nhà trung gian uy tín giới thiệu; những mail khác tôi “select all” và “delete”.
Tôi nghĩ đó là thái độ chung của người Việt hải ngoại đôi phó với những xe rác e-mail khổng lồ, nhiều cái mang nội dung vô cùng bẩn thỉu. Tôi từng đọc những chữ chỉ được phát ngôn trên những khuôn miệng giang hồ, anh chị, và tại những khu mạt hạng của xã hội; nhưng, vì thương yêu quyền tự do ngôn luận, tôi chấp nhận những rác rến đó trôi vào thùng thư của tôi. Ðổ rác âu cũng chỉ là cái giá mà tôi trả cho quyền tự do cao quý này, cái giá, nghĩ cho cùng, cũng không lấy gì làm đắt.

Một trong những nhà trung gian tôi tín nhiệm là ông Huy Hùng, một vị đại tá boss của tôi những ngày trước 1975; tôi kính trọng đại tá Hùng, không chỉ vì cấp bực, mà còn vì tư cách rất thánh thiện của ông. Suốt nhiều năm làm việc dưới quyền ông, tôi chưa thấy ông có một tiếng xàm xỡ.

Nhưng lần này tôi trách ông đã giới thiệu bài “THÁNH NỮ, Đứa Con của Thằng Cuội”, tác giả là ông Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất. Ông Duyên Lãng viết bài này để chỉ trích cô Lê thị Công Nhân và Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Trong số những người của hai tổ chức mẹ con này (Khối 8406 và Thăng Tiến) có hai nhân vật nòng cốt là Lm Nguyễn Văn Lý và Ls Lê Thị Công Nhân, bị VGCS cho đi nằm ấp,” ông Duyên Lãng viết. “Hai người cùng vào một cái lò đúc của VGCS, và ra lò trong cùng một thời gian, trở thành hai “tác phẩm” khác nhau mỗi người một vẻ. Ông linh mục thành anh “thương binh chống nạng cầy bừa”. Còn cô gái, với hào quang “Người Con Của Thượng Đế”, xuất hiện trước đám quần chúng mà đa số thật là vô tư lự. Nhưng cũng đã có người tinh mắt nhìn ra cô gái chỉ là miêu duệ của dòng nhà cuội. Thật bất ngờ, tính chất cuội trong cái hào quang Người Con Của Thượng Đế của cô gái, không biết vì vô tình hay quá tự tin, lại do chính cô tự phô bầy ra.”

Nhận xét về hai chiến sĩ đấu tranh đòi hỏi tự do và nhân quyền cho người Việt Nam, vừa ra khỏi ngục tù Việt Cộng, bằng giọng nói khinh bạc, đểu cáng đến như vậy, thì quả là không còn tĩnh từ nào có thể đi đôi với cái tên Duyên Lãng của ông này.

Ông Duyên Lãng công bằng? hay ông Duyên Lãng yêu nước? Hai tĩnh từ “công bằng” và “yêu nước” đều không thích hợp, không đi đôi được với cái tên Duyên Lãng. Ông không công bằng khi vô cớ và thiếu chứng minh, chỉ trích hai nhân vật đáng kính phục hơn là đáng chỉ trích; và ông không yêu nước khi ông thui chột ý chí tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ bằng cách chỉ trích hai chiến sĩ tiên phong trong cuộc đấu tranh này.
Ông Duyên Lãng bảo Linh mục Nguyễn Văn Lý và luật sư Công Nhân ra khỏi tù (mà ông gọi là ra ‘”lò”) và “trở thành hai “tác phẩm” khác nhau, mỗi người một vẻ”!

Thưa ông, họ là tác phẩm của ai? Mặc dù không nói huỵch toẹt ra, nhưng rõ ràng ông ám chỉ là họ ra khỏi “lò đúc” Việt Cộng, và trở thành một sản phẩm của lò đúc này. Tôi nghĩ khác, và qua giọng văn của ông, tôi biết ông không đồng ý với tôi: tôi mãnh liệt tin tưởng hai vị anh hùng và liệt nữ này là tác phẩm của mẹ Việt Nam; vì yêu thương nước Việt Nam, yêu thương người Việt Nam mà họ tay không dấn thân vào cuộc đấu tranh với bạo quyền Việt Cộng, không chỉ hung ác, tàn nhẫn, mà còn vô cùng thâm độc, mưu mô, và nhiều thủ đoạn.

Chúng bôi nhọ hai chiến sĩ chúng không giam giữ được nữa.
Linh mục Lý bị stroke 3 lần, do đó ông đi đứng khó khăn và phải sử dụng một loại gậy xe có bánh. Ông Duyên Lãng diễu cợt tình trạng bệnh hoạn của Linh mục Lý bằng một câu hát của Phạm Duy: Ông linh mục thành anh “thương binh chống nạng cầy bừa”! Tôi đánh dấu chấm than sau câu nhận xét của ông Lãng, vì quả thật tôi không biết phải chê trách bằng chữ nào cho đủ.
Chưa một người Việt Nam nào nỡ nặng lời chế diễu một anh hành khất đi xe lăn, đến xin tiền người đi đường bị đèn đỏ chặn lại trước mỗi ngã tư; nguyên cớ nào khiến ông Duyên Lãng nỡ nặng lời với một chiến sĩ nhân quyền như vậy.

Bôi nhọ cô Công Nhân, ông Duyên Lãng viết, “Thế nhưng rất đáng tiếc, vật đã đổi, sao đã rời, Lê Thị Công Nhân hôm nay không còn phải là cô Lê Thị Công Nhân ngày hôm qua nữa. Cô đã khác, khác với người mà trước đây tôi khâm phục. Lê Thị Công Nhân khác thế nào, và tại sao lại ra khác, thì đó là những vấn đề người viết bàn tới trong bài này”.

Duyên Lãng không bàn ngay về việc cô Công Nhân “vật đổi, sao dời”; ông còn có nhiệm vụ dèm xiểm thêm nhiều nhân vật khác. Ông viết, “Chẳng hiểu làm sao mà trước đây có một thời kỳ, trong nước, ngoài nước, phong trào, tổ chức, đảng phái chính trị mọc ra như nấm. Người dân quèn cứ ngớ ra, tưởng phen này, nói theo Ls Đinh Thạch Bích, VC đã được Mỹ đỡ xuống khỏi lưng cọp, và chúng đã cho bầu cử đa đảng rồi. Nhưng, thời gian trôi cứ trôi, mọi chuyện vẫn cứ “vũ như cẩn”. Thuở trời đất trăm hoa đua nở đó, có Khối 8406 và đảng Dân Chủ là bề thế hơn cả. Đảng Dân Chủ gồm toàn họ hàng con cháu nhà Cuội, như cuội Hoàng Minh Chính, cuội Trần Khuê v.v. hợp tác với bọn chính khứa lưu manh tại hải ngoại, như Nguyễn Xuân Ngãi và đám lâu la Việt Tân (VT).

“ Bọn này cuội quá nên mất tín nhiệm với người dân ngay từ đầu. Trái lại, Khối 8406 và đứa con đẻ của nó là đảng Thăng Tiến VN, được hình thành do một vài nhà tu hành cùng với một số các bạn trẻ giầu lòng yêu nước, nên được quần chúng tin tưởng hơn. Thế nhưng, vỏ quít của người dân dầy thì VGCS lại có móng tay nhọn. Trong Khối 8406 và đảng Thăng Tiến, những thành phần chỉ có năng khiếu chạy cờ thì VGCS cứ để cho nhởn nhơ ở ngoài nhà tù mà chạy cờ. Còn những thành phần cốt cán, khó trị, thì chúng cho đi nằm ấp hết. Ở trong ấp, ai cải tạo được thì chúng cải tạo. Người không cải tạo nổi, thì hoặc bị chúng nhốt không có ngày ra, hoặc có trở về thì chắc chắn phải thành thân tàn ma dại, chỉ còn nước chờ ngày làm bạn với ông Sáu (tấm) là xong. VGCS xứng danh là lưu manh, bịp bợm số một trên thế giới ở chỗ là, sau khi đã triệt hạ thành phần lãnh đạo của Khối 8406, chúng không ra tay dẹp tổ chức đó, mà chúng cài người vào trong, để biến tổ chức thành công cụ phục vụ cho chúng. Nhìn vào thành phần lãnh đạo và các hoạt động của Khối 8406 hiện nay, người ta không còn nghi ngờ gì về chuyện này.”
Duyên Lãng muốn nói thành phần lãnh đạo của khối 8406 hiện nay là nguòi của Việt Cộng gài vào! Lại một dấu chấm than khác; tại sao Lãng lại ác độc cắm cờ đỏ lên nóc giáo đuờng? Tại sao anh ta lại muốn quần chúng hoài nghi tính chống Cộng của khối 8406? Chỉ có một cách trả lời: anh muốn làm tổ chức chống Cộng 8406 yếu đi.

Cắm ngọn cờ “công cụ phục vụ cho Việt Cộng” lên nóc nhà thờ xong, Lãng trở lại với cô Công Nhân và 3 năm tù của cô.
Lãng viết, “Vài ba năm tù, mười năm tù, hay lâu hơn nữa, thời gian ở tù không phải là cái thước đo giá trị của đấu tranh. Giá trị của một cuộc đấu tranh là mục tiêu tranh đấu, và sự kiên định lập trường cho mục tiêu này. Nguyễn Thái Học bị Pháp bắt và ở tù chỉ có 4 tháng (2-1930 đến 6-1930) rồi bị đưa lên đoạn đầu đài. Mặc dù cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái không thành, nhưng ông vẫn là một vị đại Anh Hùng của dân tộc, được toàn dân kính mến. Ls Lê Thị Công Nhân, sau khi ra tù, thường cứ nhắc đi nhắc lại, và hình như có ý khoe khoang cái thời gian 3 năm tù của cô. Điều này cũng là tâm lý tự nhiên, và cũng tốt thôi. Nhưng cái thực sự quan trọng trong công cuộc tranh đấu là lập trường của cô thì xem ra đã biến đổi nhiều. Tôi dùng chữ “xem ra” để nói lên sự dè dặt khi lên tiếng về một sự việc quan trọng. Chúng ta hãy nghe lời đanh thép của người tù Lê Thị Công Nhân khi cô bước chân vào nhà tù: “Tôi khẳng định với tất cả lương tâm và trách nhiệm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam tôi sẽ chiến đấu đến cùng dù chỉ còn một mình tôi đấu tranh”… “Và CSVN đừng có mong chờ bất cứ một điều gì, dù thoả hiệp chứ đừng nói là đầu hàng từ phiá tôi. ” Câu nói có thép và lửa này, nội dung không khác gì lời từ biệt đồng bào của anh hùng Nguyễn Thái Học trước khi ông bước lên máy chém: Không thành công cũng thành nhân. Nhưng ngưòi trí thức trẻ Lê Thị Công Nhân sau khi vừa bước chân ra khỏi cổng nhà tù, trong lời nói của cô lửa đã tắt ngúm, và thép đã hoá bùn.”

Nguyên nhân nào khiến ông Lãnh có thể võ đoán như vậy? Ông viết, “trong một cuộc trả lời phỏng vấn của nhà báo Dương Phục, cô nói: (vì âm thanh không tốt, chúng tôi không ghi được nguyên văn, nhưng đại để là) : Quốc-hội Mỹ và Quốc Hội VN cần phải giao lưu và làm việc với nhau. Mong Quốc Hội Mỹ hãy khoan hòa, bao dung, và giúp đỡ Quốc-hội VN, đừng đẩy họ vào con đường cùng. Cho dù 1 lấn, 2 lần, 5 lần hay 100 lần hoặc hơn nữa, Quốc Hội Mỹ cũng vẫn tiếp tục giúp đỡ Quốc-hội VN, như thế thì mới mong thay đổi được.”
Thật hết chỗ nói: chỉ vì một câu nghe lõm bõm (vì âm thanh không tốt) mà ông Lãng đã buộc cô Công Nhân vào tội “lửa đã tắt ngúm, thép đã hóa bùn.”

Tôi thấy không cần trích thêm những đoạn sau bài viết của Duyên Lãng, vì ngần đó lập luận của ông cũng đủ cho thấy dã tâm bôi nhọ hai chiến sĩ dân chủ vừa được trả tự do. Câu hỏi cần đặt ra là tại sao ông Lãng lại làm như vậy; ông ta thù oán gì linh mục Lý, cô Công Nhân, ông Hoàng Minh Chính, ông Trần Khuê, ông Nguyễn Xuân Ngãi?
Hay ông có nhu cầu mạ lỵ những người chống Việt Cộng để thỏa mãn một cái order đặt hàng?

Nguyễn Ðạt Thịnh

daudua
Posts: 77
Joined: Sat Oct 10, 2009 6:05 am

Post by daudua »

Image


Tiếc Cho Một Người Lầm Lỡ Vừa Nằm Xuống

Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương.


Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên

đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh

thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàn..g không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn

Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị

trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong t ương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:

- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;

- GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt NamCộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;

- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;

- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất

chánh để (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đần bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần le.ã Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Uùc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.” Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Uùc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng:” Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và d dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung - Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Mai Thanh Truyết

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image


Tổn phí y tế vẫn quá cao
Tuesday, March 23, 2010


Ngô Nhân Dụng

Ðạo luật Cải tổ Hệ thống Y tế mà Tổng Thống Barack Obama mới ký hôm qua là một biến cố lớn trong lịch sử chính trị nước Mỹ, đã được so sánh với các đạo luật thiết lập hệ thống An Sinh Xã Hội (Social Security) mà Tổng Thống Franklin D. Roosevelt ký năm 1935 và thành lập hệ thống Medicare lo sức khỏe người về hưu được Tổng Thống Lyndon Johnson ký năm 1965.

Cũng giống hai đạo luật quan trọng trên, Luật Cải tổ Y tế mới này gia tăng ảnh hưởng của chính phủ liên bang Mỹ trong đời sống người dân. Vì thế, cả ba đạo luật đã chia dân Mỹ làm hai phe, chống đối và ủng hộ. Khác hai đạo luật trước, khi đó các vị tổng thống đảng Dân Chủ được nhiều đại biểu Quốc Hội Cộng Hòa ủng hộ, lần này đảng Cộng Hòa tẩy chay hoàn toàn. Cho nên đạo luật mới này chắc chắn sẽ là đề tài chính cho các cử tri Mỹ phán đoán khi họ đi bỏ phiếu chọn đại biểu Quốc Hội vào Tháng Mười Một năm nay, mặc dù phần nhiều các điều khoản phải đợi tới những năm 2014 hoặc 2018 mới được thi hành.

Bên cạnh các trận đấu chính trị đó, có hai vấn đề mà các cuộc vận động cải tổ y tế vẫn nhắm tới. Thứ nhất là mở rộng mạng lưới bảo hiểm y tế cho hầu hết, nếu chưa phải là tất cả mọi người Mỹ. Thứ hai là kiểm soát không cho chi phí về y tế tăng lên quá cao.

Ðối với mục tiêu thứ nhất đạo luật mới đã thành công một phần, sau nhiều lần cố gắng từ 36 năm nay. Năm 1974 Tổng Thống Cộng Hòa Richard Nixon đã tính làm luật để mọi người Mỹ đều có bảo hiểm y tế, nhưng khi đó đảng Dân Chủ đã bỏ lỡ cơ hội, không ủng hộ ông Nixon vì họ tưởng sẽ có thể đòi hỏi nhiều điều hơn nữa. Hai chục năm sau Tổng Thống Bill Clinton lại muốn thực hiện y tế cho toàn dân, nhưng cũng vì muốn đạt được nhiều quá cho nên nhiều người chống lại, ngay trong đảng Dân Chủ. Ðạo luật năm 2010, đến năm 2019, sẽ cung cấp bảo hiểm y tế cho thêm 32 triệu người Mỹ nữa, bằng 2 phần 3 số người hiện nay không có bảo hiểm. Từ nay, trong số các nước tiến bộ kinh tế thuộc khối OECD, chỉ còn 2 quốc gia chưa thực hiện y tế cho toàn dân là Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhưng mục tiêu thứ nhì mà tất cả mọi cuộc cải tổ y tế đều phải nhắm tới là giảm bớt tốc độ chi phí y tế gia tăng, thì đạo luật mới không hứa hẹn sẽ đạt được điều gì đáng kể. Các cuộc bàn cãi chính trị chỉ chú ý nhấn mạnh đến số tiền chính phủ Mỹ sẽ chi. Bây giờ chúng ta có thể bỏ qua các cuộc tranh cãi có tính chất đảng phái để nhìn vào khía cạnh kinh tế. Một điều hiển nhiên là dân Mỹ chi tiêu quá nhiều về y tế mà không được hưởng những lợi ích tương xứng.

Năm 2007, trung bình mỗi người dân Mỹ chi 7,421 đô la về y tế. Trong năm 2006 bình quân chi 6,567 đô la một người, cao gấp 2 lần các nước như Úc (US$ 2,960), Ðức (3,247), Pháp (3,353), Canada (3,505), hoặc Nhật Bản (2,529 đô la) trong cùng năm đó. Trong khi đó, kết quả cho thấy dân Mỹ không khỏe mạnh hơn người dân các nước khác, khi tính đến tuổi thọ trung bình, số trẻ em chết yểu, vân vân. Cuộc nghiên cứu của một nhóm giáo sư Ðại Học Johns Hopkins đã so sánh Mỹ và bốn nước trong khối Thịnh vượng chung Anh. Họ dùng 21 chỉ số phẩm chất về săn sóc sức khỏe để đo lường, thí dụ tỷ lệ người bị ung thư thoát chết, tỷ số người còn sống năm năm sau khi trị bịnh, vân vân. Kết quả cho thấy nước Mỹ không hơn gì các nước khác. Thí dụ, ở Mỹ tỷ số người còn sống 5 năm sau khi thay thận là thấp nhất so với 4 nước kia. Bệnh nhân bị Hepatitis B. ở Mỹ có tỷ số cao nhất, một thứ bệnh mà các tác giả cho là có thể tránh được. Ngược lại, nước Mỹ đứng hạng nhất về tỷ số bệnh nhân còn sống 5 năm sau khi chữa ung thư ngực.

Một bản nghiên cứu của Henry J. Kaiser Family Foundation cho biết trong tổng số chi tiêu về y tế, công quỹ các cấp chính phủ Mỹ đã chi trả 46% - với các chương trình Medicare, Medicaid (hay Medical) và chương trình cho trẻ em CHIP. Các quỹ tư nhân trả 54%, trong đó các công ty bảo hiểm chiếm 35%. Ðến năm 2018, dù chưa có đạo luật cải tổ y tế năm nay, số tiền chi về y tế do công quỹ đài thọ sẽ lên trên 51%, phần của tư nhân sẽ xuống chỉ còn 49%. Có đạo luật Obama hay không, y tế Mỹ đã đi trên con đường ngày càng tùy thuộc vào chính phủ nhiều hơn tư nhân.

Mỗi năm, số tiền mua bảo hiểm y tế tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng lương bổng. Từ năm 2000, tiền đóng (premium) bảo hiểm y tế tăng ít nhất 5%, tăng nhiều nhất là 14% trong vòng 7 năm; trong khi đó lương bổng chỉ tăng từ 2% đến 4%. Tính chung lợi tức cả quốc gia, vào năm 1960 dân Mỹ làm ra 100 đồng thì chỉ tiêu hơn 5 đồng vào y tế. Tới năm 2007, dân Mỹ làm ra 100 đồng thì chi hơn 16 đồng về sức khỏe. Ước tính đến năm 2018 tỷ lệ đó sẽ lên tới hơn 20%, một phần năm lợi tức toàn dân.

Tại sao người Mỹ chi về y tế nhiều như vậy, và chi vượt hẳn trên các nước tiên tiến khác? Có nhiều nguyên nhân khách quan. Một là tỷ số người già tăng lên, số người bị mập phì tăng, và nhiều chứng như bệnh tiểu đường, suyễn, bệnh tim hơn trước. Khi dân một nước giàu hơn thì thường họ cũng chi về y tế nhiều hơn, vì có những phương pháp điều trị và thuốc men mới, đắt tiền hơn.

Nhưng bên cạnh các nguyên nhân khách quan đó, có những nguyên nhân nằm trong hệ thống tổ chức y tế ở Mỹ khiến chi phí tăng. Lý do vì người ta “tiêu thụ” các sản phẩm và dịch vụ y tế nhiều hơn mặc dù không cần thiết. Ðó là những nguyên nhân gây ra phí phạm trong hệ thống, và có thể thay đổi được chúng, để tiết kiệm.

Thí dụ: Khi người tiêu thụ không phải trực tiếp trả tiền túi của mình ra trả thì họ dễ “mua hàng” nhiều hơn. Ðây là một định luật kinh tế ai cũng có thể hiểu được. Người ta “tiêu thụ” thêm những sản phẩm y tế như thuốc men, hoặc các dịch vụ y tế như thử nghiệm (tests), thời gian nằm bệnh viện, đòi gặp các chuyên gia thay vì chỉ gặp các bác sĩ tổng quát, và đòi các dịch vụ đắt tiền dù không chắc cần thiết. Các chương trình do chính phủ trả (Medicare, MediCal, CHIP, vân vân) đều có thể đưa tới hành vi “tiêu thụ quá mức cần thiết” này. Những người mua bảo hiểm y tế trong sở làm cũng chỉ đóng một phần tiền bảo hiểm, và thường không phải tự mình móc tiền túi trả thêm. Khi đó, họ cũng có khuynh hướng “tiêu thụ quá nhiều” các dịch vụ y tế.

Tình trạng trên đây đã gia tăng trong thời gian qua. Năm 1970, trung bình một người Mỹ phải móc túi trả 40% chi phí y tế cho mình, 60% còn lại do công ty bảo hiểm hoặc chính phủ trả. Tới năm 2007, người Mỹ chỉ còn trả 14% chi phí y tế bằng tiền túi mà thôi, 86% là do “đệ tam nhân” trả. Ðây là một nguyên nhân khiến số chi tiêu về y tế ở Mỹ tăng vọt trong gần 40 năm đó.

Hiện nay những người mua bảo hiểm y tế ở sở làm chỉ phải trả khoảng 30%, được chủ nhân trả trung bình 70% tiền mua bảo hiểm. Số tiền chủ nhân trả đó có thể coi như phụ cấp bên cạnh lương bổng, chỉ khác là người được hưởng không phải đóng thuế lợi tức trên số tiền được hưởng. Nếu số tiền đó được trả như lương bổng thì chính phủ có thể đánh thuế, sẽ thu được 250 tỷ Mỹ kim mỗi năm. Nói cách khác, hệ thống y tế hiện nay đã buộc chính phủ Mỹ trợ cấp 250 tỷ đô la cho các người may mắn có việc làm tốt. Tức là tất cả mọi người đóng thuế phải trợ cấp cho họ. Những người được thụ hưởng số tiền trợ cấp này không biết họ được trợ cấp. Và vì không phải trả tiền túi nên họ có thể sẽ tiêu thụ “quá nhiều” các dịch vụ y tế, đặc biệt là những người được hưởng “bảo hiểm cadillac” tốt nhất, vì họ làm ở các công ty lớn với các địa vị quan trọng. Họ có thể được dùng nhiều dịch vụ đắt tiền mà khỏi phải bỏ tiền túi.

Ðạo luật cải tổ y tế đã nhằm gây tác dụng bằng cách đánh thuế một nhóm người trong số này. Kể từ năm 2018, những người được công ty trợ cấp mua bảo hiểm y tế giá trên 27,500 đô la một năm sẽ phải đóng 40% thuế trên số tiền cao hơn con số đó. Từ nay đến năm 2018, các công ty bảo hiểm sẽ tìm cách giảm giá để không ai có bảo hiểm trên 27,500 đô la, để không ai phải trả thuế. Các công ty bảo hiểm sẽ cạnh tranh nhau để bán những chương trình bảo hiểm tốt nhưng dưới 27,500 đô la! Ðây là một hậu quả giúp tiết giảm chi phí y tế một cách gián tiếp, bằng khích lệ về kinh tế!

Không cần phải chuyên về kinh tế học chúng ta cũng biết có cạnh tranh là có lợi cho người tiêu thụ để tiết kiệm tiền chi tiêu. Trong thị trường bảo hiểm y tế hiện nay các công ty bảo hiểm chỉ cạnh tranh nhau để thu hút được những thân chủ khỏe mạnh nhất, tránh xa những thân chủ có nhiều bệnh, không thuộc loại cạnh tranh về giá cả và dịch vụ! Với điều luật cấm họ từ chối những người mua bảo hiểm có bệnh sẵn, việc cạnh tranh sẽ được hướng sang phía lành mạnh hơn. Tức là sẽ giảm giá và tăng số và phẩm chất các dịch vụ cung ứng. Người tiêu thụ hiện nay rất khó biết đủ tin tức để so sánh các chương trình bảo hiểm. Cho nên không thể so sánh cả hai yếu tố: giá cả và phẩm chất, như họ vẫn làm khi đi mua xe hơi hay chọn trường đại học cho con. Từ năm 2014 đạo luật cải tổ y tế sẽ lập ra một “thị trường bảo hiểm y tế” để mọi người có thể vào đó so sánh giá cả và các dịch vụ y tế do mỗi công ty bảo hiểm cung cấp, giống như các công chức chính phủ liên bang và Quốc Hội đang được hưởng.

Với sự ra đời của thị trường y tế này, các công ty bảo hiểm và tổ chức y tế sẽ phải cải tổ để cắt giảm chi phí tổng quát không liên hệ gì đến việc trị bệnh, ngõ hầu cạnh tranh với nhau. Có những công ty bảo hiểm phải chi phí 40% vào việc hành chánh, quảng cáo, trả hoa hồng cho người trung gian bán bảo hiểm, vân vân. Chương trình y tế công cộng ở Canada không chi đến 2% vào những việc hành chánh như vậy! Ðây là một sự phí phạm có thể cắt giảm được. Ở Mỹ có những người chỉ làm việc “làm hóa đơn đòi tiền” giúp cho các bác sĩ làm sao tính được nhiều tiền nhất, các chuyên viên này có thể kiếm nhiều tiền hơn, có khi gấp hai, ba lần lương các bác sĩ. Tình trạng này sẽ phải chấm dứt khi các công ty bảo hiểm và tổ chức y tế phải cạnh tranh mạnh mẽ hơn. Hiện nay tại nhiều tiểu bang, chỉ có một hoặc hai công ty bảo hiểm y tế hoạt động, gần như độc quyền, cho nên họ không lo cắt giảm chi phí như khi họ phải cạnh tranh.

Một nguyên nhân khác khiến chi phí y tế tăng vọt là cách trả tiền những người cung cấp dịch vụ y tế. Phần lớn các chi tiêu y tế ở Mỹ là trả cho các bệnh viện (vào năm 2007 là 31%), trả cho y sĩ (21%). Hiện nay, họ thường được trả tiền nhiều ít tùy theo theo số việc họ làm, hơn là kết quả trị liệu của các công việc đó. Cũng giống như các người bán vé xe hơi, xe bán càng đắt tiền thì càng được hưởng hoa hồng cao hơn. Chúng ta có thể bác bỏ ý kiến của người bán xe, nhưng ít ai phản đối các bác sĩ của mình. Nhất là mình không phải bỏ thêm tiền túi ra trả! Ðây là một trong những nguyên nhân khiến chi phí y tế tăng vọt.

Ðạo luật cải tổ y tế sẽ thay đổi cách trả công nhà thương và bác sĩ cho những bệnh kinh niên. Không trả tiền mỗi lần một bệnh nhân tiểu đường được đưa đến nhà thương cấp cứu, mà trả cho kết quả công việc trị liệu trong một khoản thời gian dài. Một ủy ban (IMAC) sẽ nghiên cứu giá cả và hiệu quả y tế để đề nghị các biện pháp cắt giảm chi phí. Ủy ban độc lập này sẽ tránh cho các đại biểu Quốc Hội không phải quyết định. Các tổ chức cung cấp dịch vụ y tế, các công ty bảo hiểm sẽ phải cắt giảm chi phí để đáp ứng những đòi hỏi giảm giá của IMAC, thay vì chỉ lo “lóp bi” các đại biểu Quốc Hội. Hy vọng tổng số tiền chi về y tế do đó sẽ giảm bớt!

Trên đây chỉ là một số điều dễ nhìn thấy nhất về kinh tế để hiểu tại sao chi phí y tế ở nước Mỹ lại đắt nhất thế giới. Ngoài những nguyên nhân khách quan như số người già đông hơn, số bệnh nhiều hơn vì nạn mập phì, vân vân, có những lý do nằm trong hệ thống mua dịch vụ và cách trả tiền. Ðó là những nguyên nhân thuộc phạm vi tổ chức kinh tế. Thay đổi các nguyên nhân đó, có thể giảm bớt số chi tiêu y tế.

Ðạo luật mà Tổng Thống Barack Obama mới ký ngày hôm qua, và dự luật bổ sung mà Thượng Viện Mỹ sẽ bàn trong tuần này, chỉ tấn công một cách yếu ớt vào vấn đề giảm bớt chi phí trong hệ thống y tế của Mỹ. Ðảng Dân Chủ, cũng như đảng Cộng Hòa, đều chú trọng tới số chi tiêu của chính phủ nhiều hơn là tổng số chi của toàn dân và những nguyên nhân khiến số chi lên cao quá.

Theo bài nghiên cứu của Kaiser Family Foundation thì trong năm 2006 một nửa số chi phí y tế ở Mỹ đã trả cho việc trị bệnh của 5% tổng số dân. Và 1% những người “tiêu thụ” nhiều dịch vụ y tế nhất đã sử dụng hơn 21% tổng số chi tiêu của cả nước. Các chương trình tiết giảm chi tiêu bằng cách cắt bớt những phí phạm cần nhắm vào những người tiêu thụ nhiều nhất này! Nhưng phải chú ý thay đổi cách “mua” và cách “trả công” các dịch vụ y tế thì mới trừ được những phí phạm từ gốc.

Post Reply