Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Nếu Trung Quốc loại bỏ Google, chúng ta sẽ loại bỏ máy tính của họ
Dịch theo gợi ý của anhbasam.com: Các báo nên cho dịch ngay bài nầy: If China Throws Out Google, We Should Throw Out their Computers (The Huffington Post) Khái niệm bình đẳng song phương trong kinh doanh có một lịch sử lâu dài, và là một khái niệm mà ngày nay ta vẫn phải nhớ. Chẳng hạn, nếu chúng ta cho phép sản phẩm của cỗ máy công nghiệp khổng lồ Trung Quốc xâm nhập thị trường,
mang lại việc làm cho 100 triệu công nhân Trung Quốc (số dân Trung Quốc làm việc trong lĩnh vực sản xuất) thì họ cần phải cho phép những công ty sáng tạo của chúng ta xâm nhập thị trường, ví dụ như Google.
Nhưng không chỉ riêng Google đang bị ép ra ngoài bởi một chuỗi những hành động và âm mưu của chính quyền Trung Quốc, mà YouTube, một nhánh của Google, không bao giờ được cho phép tại Trung Quốc. Nó đã bị khóa thường trực bởi tường lửa. Phần lớn các website khác của Hoa Kỳ cũng không được tự do trên thị trường Trung Quốc. eBay đã rời Trung Quốc. Nhiều tờ báo mạng thường xuyên bị kiểm duyệt. Những công ty Trung Quốc sẵn lòng chấp nhận sự kiểm duyệt và độc tài của chính quyền Trung Quốc, như Baidu và Alibaba, là những tay chơi máu mặt trên thế giới mạng của nước này. Đây không chỉ là một vấn đề về tự do ngôn luận. Nó còn là một hàng rào mậu dịch và một vấn đề kinh tế nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ. Chỉ riêng Google đã có trên 20,000 nhân viên, nhiều người ở ngay Hoa Kỳ, và họ và công ty đã bị cắt giảm vì những hành động trên, cũng giống như nhân viên tại eBay và các công ty website khác.
Chúng ta đang chiến đấu để xây dựng lại lĩnh vực sản xuất của chúng ta, nhưng mặt khác, chúng ta cần phải đảm bảo các công ty như Google được hoạt động toàn vẹn trên thị trường lớn nhất thế giới, Trung Quốc. Nếu một công ty không thể xâm nhập vào thị trường lớn nhất thế giới để bán sản phẩm của mình, nó sẽ mất đi khoản thu khổng lồ. Và vì quy luật lợi thế kinh tế theo quy mô (economy of scale) và khả năng đi xuống trên đường học hỏi (learning curve) công ty sẽ chịu những bất lợi so với các địch thủ khác đang ngoi lên.
Từng có một sự thỏa thuận bất thành văn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về internet. Hoa Kỳ đồng ý giảm tất cả các khoản thuế đối với các sản phẩm công nghệ cao xuống mức zero, và chúng ta từng cho phép tất cả những gì Trung Quốc có thể mang sang đây bán, không vấn đề gì. Và kết quả là gì? Kết quả là một số lượng lớn máy tính ở Hoa Kỳ là hàng Trung Quốc. Chúng ta thậm chí còn cho phép nhà sản xuất máy tính đầu tiên của Hoa Kỳ, IBM, bán nhánh PC của mình cho Levono, một công ty Trung Quốc. Lẽ ra vụ mua bán này có thể bị ngăn chặn, dưới một luật Hoa Kỳ gọi là luật Exon-Florio, nhưng chúng ta không những không ngăn chặn nó, mà chúng ta thậm chí còn không đặt vấn đề về nó.
Tại sao? Bởi vì chúng ta từng tin rằng, vì Trung Quốc trên quá trình công nghiệp hóa và đi trên xa lộ kinh tế và tri thức, họ sẽ trở thành một thị trường lớn đối với những sản phẩm vốn là lợi thế của chúng ta, như công cụ tìm kiếm, video phát trực tiếp (streaming video), và các trang web sáng tạo (innovative website).
Nhưng họ lại không phải như vậy. Vì vậy chúng ta đang ở thế hoàn toàn không cố thủ được. Phần cứng internet, máy vi tính, ổ đĩa, đồ bán dẫn… toàn bộ là sản xuất tại Trung Quốc, không phải tại đây. Rất nhiều phần mềm internet, được sản xuất, nâng cao và liên tục cải tiến ở đây thì bị cấm tại Trung Quốc. Bởi vậy các ngành công nghiệp của họ phát triển, họ có thêm nhiều việc làm, nền kinh tế của họ tránh khỏi khủng hoảng. Nền kinh tế của chúng ta co lại, số việc làm giảm xuống, và những công ty sáng tạo của chúng ta bị ảnh hưởng vì không được phép xâm nhập vào thị trường internet lớn nhất thế giới.
Và tình hình ngày càng tệ hơn. Ngày càng nhiều nhà sản xuất chuyển xưởng của họ sang Trung Quốc, do các khoản trợ cấp, lao động rẻ mạt, tiêu chuẩn vệ sinh môi trường thấp. Thật mỉa mai, chỉ cách đây ít lâu chúng ta còn nghĩ rằng máy tính và đồ bán dẫn là những ngành công nghiệp sáng tạo mà chúng ta sẽ luôn giữ tại Mỹ. Nhưng về cơ bản các ngành này đã rời khỏi bờ biển của chúng ta, mặc dù phần sáng tạo hơn thì vẫn chưa. Khu vực sản xuất máy tính lớn nhất thế giới là tại tỉnh Quảng Đông, phía bắc Hồng Kông, nơi Foxconn có 200,000 người làm nhà thầu phụ cho nhiều nhãn hiệu Hoa Kỳ và các nước khác. Trong khi đó, hàng nghìn kỹ sư và công nhân dây chuyền lắp ráp Hoa Kỳ bị thất nghiệp.
Chính phủ Trung Quốc muốn thương mại hoàn toàn một chiều, trong đó Trung Quốc tích lũy kiến thức và tiềm lực công nghiệp và dự trữ thương mại còn chúng ta thì không được gì. Nếu có bất cứ một lĩnh vực nào đó mà chúng ta có lợi thế rõ rệt thì đó là địa hạt phức tạp và đòi hỏi sáng tạo cao của Google.
Năm 2009 Trung Quốc xuất khẩu 126 tỷ dollar Mỹ máy tính và thiết bị điện sang Hoa Kỳ. Chúng ta chỉ xuất khẩu một khoản khá bèo, 14 tỷ dollar Mỹ sang nước họ. Khi xem xét những lợi thế thương mại này, người ta có thể cho rằng họ sẽ nể mặt các công ty internet của chúng ta, nhưng họ lại không.
Đòi hỏi bình đẳng song phương không phải là bảo hộ thương mại và không thể vấp phải sự chỉ trích nào từ phía Trung Quốc, WTO hay ngay cả những thành phần tự do nhất. Bình đẳng song phương là quy luật chung của tất cả các thỏa thuận thương mại trên thế giới. Chúng tôi để anh bán trên thị trường của chúng tôi những hàng hóa mà anh có thể sản xuất hiệu quả hơn. Anh để cho chúng tôi bán trên thị trường của anh những hàng hóa và dịch vụ mà chúng tôi sản xuất. Nếu Trung Quốc loại bỏ những công ty internet của chúng ta, chúng ta cần loại bỏ phần cứng của họ.
Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/gilbert-b ... 01217.html
Dịch theo gợi ý của anhbasam.com: Các báo nên cho dịch ngay bài nầy: If China Throws Out Google, We Should Throw Out their Computers (The Huffington Post) Khái niệm bình đẳng song phương trong kinh doanh có một lịch sử lâu dài, và là một khái niệm mà ngày nay ta vẫn phải nhớ. Chẳng hạn, nếu chúng ta cho phép sản phẩm của cỗ máy công nghiệp khổng lồ Trung Quốc xâm nhập thị trường,
mang lại việc làm cho 100 triệu công nhân Trung Quốc (số dân Trung Quốc làm việc trong lĩnh vực sản xuất) thì họ cần phải cho phép những công ty sáng tạo của chúng ta xâm nhập thị trường, ví dụ như Google.
Nhưng không chỉ riêng Google đang bị ép ra ngoài bởi một chuỗi những hành động và âm mưu của chính quyền Trung Quốc, mà YouTube, một nhánh của Google, không bao giờ được cho phép tại Trung Quốc. Nó đã bị khóa thường trực bởi tường lửa. Phần lớn các website khác của Hoa Kỳ cũng không được tự do trên thị trường Trung Quốc. eBay đã rời Trung Quốc. Nhiều tờ báo mạng thường xuyên bị kiểm duyệt. Những công ty Trung Quốc sẵn lòng chấp nhận sự kiểm duyệt và độc tài của chính quyền Trung Quốc, như Baidu và Alibaba, là những tay chơi máu mặt trên thế giới mạng của nước này. Đây không chỉ là một vấn đề về tự do ngôn luận. Nó còn là một hàng rào mậu dịch và một vấn đề kinh tế nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ. Chỉ riêng Google đã có trên 20,000 nhân viên, nhiều người ở ngay Hoa Kỳ, và họ và công ty đã bị cắt giảm vì những hành động trên, cũng giống như nhân viên tại eBay và các công ty website khác.
Chúng ta đang chiến đấu để xây dựng lại lĩnh vực sản xuất của chúng ta, nhưng mặt khác, chúng ta cần phải đảm bảo các công ty như Google được hoạt động toàn vẹn trên thị trường lớn nhất thế giới, Trung Quốc. Nếu một công ty không thể xâm nhập vào thị trường lớn nhất thế giới để bán sản phẩm của mình, nó sẽ mất đi khoản thu khổng lồ. Và vì quy luật lợi thế kinh tế theo quy mô (economy of scale) và khả năng đi xuống trên đường học hỏi (learning curve) công ty sẽ chịu những bất lợi so với các địch thủ khác đang ngoi lên.
Từng có một sự thỏa thuận bất thành văn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về internet. Hoa Kỳ đồng ý giảm tất cả các khoản thuế đối với các sản phẩm công nghệ cao xuống mức zero, và chúng ta từng cho phép tất cả những gì Trung Quốc có thể mang sang đây bán, không vấn đề gì. Và kết quả là gì? Kết quả là một số lượng lớn máy tính ở Hoa Kỳ là hàng Trung Quốc. Chúng ta thậm chí còn cho phép nhà sản xuất máy tính đầu tiên của Hoa Kỳ, IBM, bán nhánh PC của mình cho Levono, một công ty Trung Quốc. Lẽ ra vụ mua bán này có thể bị ngăn chặn, dưới một luật Hoa Kỳ gọi là luật Exon-Florio, nhưng chúng ta không những không ngăn chặn nó, mà chúng ta thậm chí còn không đặt vấn đề về nó.
Tại sao? Bởi vì chúng ta từng tin rằng, vì Trung Quốc trên quá trình công nghiệp hóa và đi trên xa lộ kinh tế và tri thức, họ sẽ trở thành một thị trường lớn đối với những sản phẩm vốn là lợi thế của chúng ta, như công cụ tìm kiếm, video phát trực tiếp (streaming video), và các trang web sáng tạo (innovative website).
Nhưng họ lại không phải như vậy. Vì vậy chúng ta đang ở thế hoàn toàn không cố thủ được. Phần cứng internet, máy vi tính, ổ đĩa, đồ bán dẫn… toàn bộ là sản xuất tại Trung Quốc, không phải tại đây. Rất nhiều phần mềm internet, được sản xuất, nâng cao và liên tục cải tiến ở đây thì bị cấm tại Trung Quốc. Bởi vậy các ngành công nghiệp của họ phát triển, họ có thêm nhiều việc làm, nền kinh tế của họ tránh khỏi khủng hoảng. Nền kinh tế của chúng ta co lại, số việc làm giảm xuống, và những công ty sáng tạo của chúng ta bị ảnh hưởng vì không được phép xâm nhập vào thị trường internet lớn nhất thế giới.
Và tình hình ngày càng tệ hơn. Ngày càng nhiều nhà sản xuất chuyển xưởng của họ sang Trung Quốc, do các khoản trợ cấp, lao động rẻ mạt, tiêu chuẩn vệ sinh môi trường thấp. Thật mỉa mai, chỉ cách đây ít lâu chúng ta còn nghĩ rằng máy tính và đồ bán dẫn là những ngành công nghiệp sáng tạo mà chúng ta sẽ luôn giữ tại Mỹ. Nhưng về cơ bản các ngành này đã rời khỏi bờ biển của chúng ta, mặc dù phần sáng tạo hơn thì vẫn chưa. Khu vực sản xuất máy tính lớn nhất thế giới là tại tỉnh Quảng Đông, phía bắc Hồng Kông, nơi Foxconn có 200,000 người làm nhà thầu phụ cho nhiều nhãn hiệu Hoa Kỳ và các nước khác. Trong khi đó, hàng nghìn kỹ sư và công nhân dây chuyền lắp ráp Hoa Kỳ bị thất nghiệp.
Chính phủ Trung Quốc muốn thương mại hoàn toàn một chiều, trong đó Trung Quốc tích lũy kiến thức và tiềm lực công nghiệp và dự trữ thương mại còn chúng ta thì không được gì. Nếu có bất cứ một lĩnh vực nào đó mà chúng ta có lợi thế rõ rệt thì đó là địa hạt phức tạp và đòi hỏi sáng tạo cao của Google.
Năm 2009 Trung Quốc xuất khẩu 126 tỷ dollar Mỹ máy tính và thiết bị điện sang Hoa Kỳ. Chúng ta chỉ xuất khẩu một khoản khá bèo, 14 tỷ dollar Mỹ sang nước họ. Khi xem xét những lợi thế thương mại này, người ta có thể cho rằng họ sẽ nể mặt các công ty internet của chúng ta, nhưng họ lại không.
Đòi hỏi bình đẳng song phương không phải là bảo hộ thương mại và không thể vấp phải sự chỉ trích nào từ phía Trung Quốc, WTO hay ngay cả những thành phần tự do nhất. Bình đẳng song phương là quy luật chung của tất cả các thỏa thuận thương mại trên thế giới. Chúng tôi để anh bán trên thị trường của chúng tôi những hàng hóa mà anh có thể sản xuất hiệu quả hơn. Anh để cho chúng tôi bán trên thị trường của anh những hàng hóa và dịch vụ mà chúng tôi sản xuất. Nếu Trung Quốc loại bỏ những công ty internet của chúng ta, chúng ta cần loại bỏ phần cứng của họ.
Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/gilbert-b ... 01217.html
Chủ nghĩa dạ dày_
Joyce Anne Nguyen
Bạn sẽ không tìm thấy định nghĩa của "cụm từ" “chủ nghĩa dạ dày” ở đâu cả. Bởi vốn dĩ nó không tồn tại. Nhưng tôi dùng nó, theo cách nói bỡn cợt của bác Trần Công Sung, vì thực tế chẳng có cụm từ nào thích hợp hơn nữa. Chủ nghĩa dạ dày. Tôi sẽ không áp đặt nó vào bất kỳ dân tộc hay đất nước nào cả, vì bản thân tôi không cho phép chính mình gán ghép bịa đặt khi không biết gì.
Nhưng nó hiện hữu, nó tồn tại trong xã hội VN ta, trong dân tộc ta, trong người dân VN ta.
Chưa từng ai chính thức đặt cho nó một cái tên. Nên bây giờ sẽ tạm gọi nó là chủ nghĩa dạ dày. Những người theo chủ nghĩa này, đơn giản lắm, chỉ quan tâm đến cái dạ dày của họ. Tức là quan tâm đến những cái họ đưa vào dạ dày. Thế là hết. Cuộc sống chỉ có thế. Mỗi ngày ăn 3 bữa, mỗi bữa ních đủ dạ dày, không chết đói, thế là đủ. Chẳng cần gì hơn. Họ không quan tâm đến những việc diễn ra cách quá 100 m cái dạ dày của họ. [Dĩ nhiên tôi không nói nghĩa đen]
Thực sự tôi nghĩ, lẽ ra họ đã phải suy nghĩ sâu hơn. Thế này nhé, họ yêu cái dạ dày của họ, thế thì họ tất phải quan tâm đến những thứ họ tống vào dạ dày. Vậy đó là cái gì? Là thức ăn. Nhưng thức ăn ấy, trước tiên tôi quan tâm, có hợp vệ sinh không? Không hợp vệ sinh ư? Vì sao? Vì thời nay cái gì cũng độc hại cả. Ăn bất kỳ cái gì, nếu bạn nghi ngờ nghĩ đến những gì bạn đã đọc trên báo chí, về sự độc hại của hóa chất, thuốc trừ sâu, mầm bệnh, virus, chất lượng vệ sinh nơi nuôi trồng và nấu nướng, chất lượng hàng hóa sản phẩm bày bán tại cửa hàng…, và bạn sợ, bạn lo, bạn sẽ không còn gì để ăn nữa. Thế là bạn đành tránh nghĩ đến cái công đoạn nó được chế biến và sản xuất, và cứ thế nhắm mắt bỏ vào miệng. Rồi cũng sống qua ngày cả mà, ai cũng thế.
Vậy đấy. Họ yêu cái dạ dày của họ, nhưng chính họ cũng chẳng buồn quan tâm đến chuyện họ đưa cái gì vào dạ dày. Liệu nó có sạch sẽ không, hay sẽ gây ra những căn bệnh tiềm ẩn trong cơ thể họ, và một ngày kia giết chết họ.
Họ không quan tâm cũng chỉ bởi họ ý thức được họ không thể làm gì được. Nếu ùa lên những cơn dịch, những trận cúm, như cúm gia cầm, cúm heo… họ sẽ sợ. Nhưng những thực phẩm độc hại thông thường, chẳng hạn như nước tương gây ung thư đi, hoặc phở có hàn the đi, hoặc rau cỏ dư thừa thuốc trừ sâu đi, mới đầu họ đều sợ cả, nhưng rồi qua thời gian mọi việc lại đâu vào đấy. Họ vẫn ăn. Nhắm mắt mà ăn, đừng nghĩ nữa, cứ nghĩ sẽ chẳng còn gì để ăn nữa. Nếu ăn vào vài chục năm sau có nguy cơ bị ung thư chết. Nhưng nếu không ăn sẽ lăn ra chết đói ngay bây giờ. Chi bằng cứ ăn vào.
Họ không quan tâm. Mất khả năng quan tâm.
Tôi nghĩ có lẽ bây giờ quý vị bắt đầu hơi chán rồi, và thầm nghĩ, nó muốn gì đây, lại một bài thuyết giảng về an toàn thực phẩm à. Thưa không, đó chỉ là một lối mở đề (hơi dài dòng) của tôi. Ở đây tôi đang muốn hướng đến một cái phía sau nó, phía sau cụm từ “chủ nghĩa dạ dày”. Lâu dần, qua thời gian, trong người VN có hình thành một khả năng chịu đựng không phải dân tộc nào cũng có được. Thử ngẫm xem, chịu đựng hàng tiếng đồng hồ mắc kẹt trong dòng giao thông ùn tắc, mồ hôi bê bết áo, nhích lê từng chút, từng chút một giữa khói bụi và tiếng ầm ĩ còi xe, đặc biệt khi trưa nắng chang chang hoặc giờ cao điểm đi học hoặc đi làm về sau một ngày kiệt sức ở trường học hoặc sở làm. Chịu đựng việc chứng kiến hàng tá những phi lý và bất công diễn ra hàng ngày xung quanh, như những vụ sập nhà do rút ruột công trình, chuyện “lô cốt” xây đầy đường bít kín lối đi kéo ròng rã từ năm này sang năm khác và không có vẻ gì sẽ sớm hoàn thành, chuyện đủ thứ những ý định và cải cách điên rồ của cấp cao… mỗi khi mở tờ báo ra đọc mỗi ngày. Chịu đựng việc nai lưng ra làm việc mà vẫn không giàu có, trong khi các cô chiêu cậu ấm, con cái quan to vung tiền ra cửa sổ không tiếc, đồng hồ Gucci 600 đô mỗi tuần một cái, hay nổi giận đập nát điện thoại rồi hôm sau mua cái xịn hơn, hay tặng bạn bè mỗi đứa một cái @... như báo chí từng đăng, về sự chênh lệch giàu nghèo khủng khiếp ở nước ta. Chịu đựng việc các website yêu thích bị chặn với lời huyễn hoặc đó là sự cố kỹ thuật không đáng có, chịu đựng việc không được bầu, không được biểu tình, không được phát biểu ý kiến… Nói tóm lại, mỗi ngày chịu đựng, và cả đời chịu đựng.
Vì họ đã học cách miễn nhiễm. Như thể họ xây một bức thành lũy kiên cố và vững chắc giữa họ và những điều xung quanh, và họ không còn quan tâm đến những gì đang diễn ra quanh họ nữa. Họ không quan tâm bản thân họ đang thực sự muốn gì, và cũng chẳng quan tâm điều gì đang tiếp diễn. Nói ngắn gọn, họ vô cảm.
Vô cảm.
Tôi kể một câu chuyện có thật như thế này. Khi mới qua Na Uy, chưa đến một năm trước, tôi được dẫn đến một trung tâm là Stiftelsen kontorsenter (nếu tôi nhớ không lầm cách viết), nơi đó trước kia là nơi giam giữ tù nhân Do Thái cũng như người Na Uy vào thời Đức quốc xã chiếm đóng ở thành phố này, giai đoạn Thế chiến thứ 2. Tôi đến đó, và những người làm việc ở đó giới thiệu cho tôi, và mẹ tôi một người đàn ông, trước kia từng là một tù nhân bị giam giữ trong thời kỳ này và sống sót. Sau này hàng năm vào lễ tưởng niệm, ông ấy vẫn thường hay lên phát biểu đôi lời. Họ cũng đưa cho tôi xem cả cuốn sách phỏng vấn nhiều người, trong đó có con gái người đàn ông này, về những suy nghĩ của cô khi ông ngồi tù. một cách đầy trang trọng và ngưỡng mộ, mẹ tôi hỏi, xin phép được biết ông bị tù bao lâu (chắc hẳn là rất dài). Câu trả lời khiến tôi gần như muốn bật ngửa khỏi ghế và phải cố gắng tạo vẻ mặt bình thường khi nín cười. 3 ngày. Bản thân chuyện ấy đem kể với người Na Uy chẳng có gì đáng cười cả. Tù là tù, 3 ngày cũng vẫn là ngồi tù. Đặc biệt khi ấy là giai đoạn chiến tranh. Nếu tôi đem kể với nhiều người VN, có lẽ họ cũng sẽ nói tôi so sánh khập khiễng, Na Uy ít dân nên phải trân trọng từng con người trong đất nước họ. Nên tôi đành thú thật thế này, tôi chẳng có ý định so sánh gì giữa VN và Na Uy cả. Điều duy nhất tôi muốn nói là, tôi đã muốn cười. Và tôi tin có nhiều người cũng muốn cười, và có thể cũng không tin khi nghe tôi kể. Đó là vì chúng ta đã nghe thấy quá nhiều người chết rồi. Hàng ngày mở báo ra thấy hàng trăm hàng ngàn cái chết với đủ hình thức khác nhau. Ta chai lỳ rồi. Trơ cứng rồi. Mất cảm giác rồi. Ta vô cảm rồi.
Vô cảm.
Vô cảm nên nhiều học sinh có thể ngồi đó nhìn một nữ sinh bị đạp, bị tống, bị túm tóc, bị dộng đầu… mà vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Vô cảm nên mới có thể đứng chung quanh quan sát và giơ máy quay hơn 5ph hình ảnh người công an bị xe cán đứt đôi người nhưng vẫn còn sống và nhúc nhích. Vô cảm nên người quản lý mới có thể lạnh lùng bỏ đi khi thấy một người đàn bà sắp bị đàn chó hung dữ cắn xé đến chết. Vô cảm nên lái xe cán lên chân một học sinh quay lại cán thêm 3 lần nữa cho chết hẳn….
Vô cảm nên mới thờ ơ với tình hình chính trị, an ninh lãnh thổ và chủ quyền đất nước. Vô cảm nên mới lãnh đạm với số phận dân tộc và đồng bào mình.Vô cảm nên mới tụ nhau than khóc Michael Jackson trong khi đồng bào bị đánh cướp ngoài hải đảo. Vô cảm nên mới bàng quan với những dự án nguy hiểm như dự án bauxite, điện hạt nhân, cho thuê rừng… và tự huyễn hoặc rằng nhà nước đã có cách xử lý và chính trị là việc lớn lao to tát dân thường chẳng cần bận tâm. Vô cảm nên mới cho mọi hành động vì tự do là dư thừa và xuẩn ngốc, bảo đất nước ta đã độc lập, tự do, hạnh phúc lắm rồi, còn chuyện dân nước người sống sướng hơn là việc không thể đem ra so sánh khập khiễng được. Vô cảm nên mới bằng lòng chấp nhận sống thiếu tự do còn hơn tranh đấu cho tự do thực sự. Vô cảm nên bảo rằng mình sẽ không làm được, nên từ bỏ đi và không làm nữa. Vô cảm nên chỉ lo cho cái dạ dày của mình, và sợ hãi, ngăn cản những người trong gia đình làm bất kỳ cái gì nguy hại cho nồi cơm của gia đình.
Vô cảm.
Ôi tôi sợ cái ngày ấy, khi tôi không còn chút cảm xúc nào, nhìn người chết trước mặt mà thản nhiên bỏ đi, sợ cái lúc tôi sẽ không còn là con người nữa, và tồn tại như một thây ma, tống thức ăn vào dạ dày như cái máy mà chẳng màng đó là cái gì! “Education makes machines which act like men, and men who act like machines.”- Erich Fromm. http://www.vietnamreview.com/modules.ph ... 3831488141
Joyce Anne Nguyen
Bạn sẽ không tìm thấy định nghĩa của "cụm từ" “chủ nghĩa dạ dày” ở đâu cả. Bởi vốn dĩ nó không tồn tại. Nhưng tôi dùng nó, theo cách nói bỡn cợt của bác Trần Công Sung, vì thực tế chẳng có cụm từ nào thích hợp hơn nữa. Chủ nghĩa dạ dày. Tôi sẽ không áp đặt nó vào bất kỳ dân tộc hay đất nước nào cả, vì bản thân tôi không cho phép chính mình gán ghép bịa đặt khi không biết gì.
Nhưng nó hiện hữu, nó tồn tại trong xã hội VN ta, trong dân tộc ta, trong người dân VN ta.
Chưa từng ai chính thức đặt cho nó một cái tên. Nên bây giờ sẽ tạm gọi nó là chủ nghĩa dạ dày. Những người theo chủ nghĩa này, đơn giản lắm, chỉ quan tâm đến cái dạ dày của họ. Tức là quan tâm đến những cái họ đưa vào dạ dày. Thế là hết. Cuộc sống chỉ có thế. Mỗi ngày ăn 3 bữa, mỗi bữa ních đủ dạ dày, không chết đói, thế là đủ. Chẳng cần gì hơn. Họ không quan tâm đến những việc diễn ra cách quá 100 m cái dạ dày của họ. [Dĩ nhiên tôi không nói nghĩa đen]
Thực sự tôi nghĩ, lẽ ra họ đã phải suy nghĩ sâu hơn. Thế này nhé, họ yêu cái dạ dày của họ, thế thì họ tất phải quan tâm đến những thứ họ tống vào dạ dày. Vậy đó là cái gì? Là thức ăn. Nhưng thức ăn ấy, trước tiên tôi quan tâm, có hợp vệ sinh không? Không hợp vệ sinh ư? Vì sao? Vì thời nay cái gì cũng độc hại cả. Ăn bất kỳ cái gì, nếu bạn nghi ngờ nghĩ đến những gì bạn đã đọc trên báo chí, về sự độc hại của hóa chất, thuốc trừ sâu, mầm bệnh, virus, chất lượng vệ sinh nơi nuôi trồng và nấu nướng, chất lượng hàng hóa sản phẩm bày bán tại cửa hàng…, và bạn sợ, bạn lo, bạn sẽ không còn gì để ăn nữa. Thế là bạn đành tránh nghĩ đến cái công đoạn nó được chế biến và sản xuất, và cứ thế nhắm mắt bỏ vào miệng. Rồi cũng sống qua ngày cả mà, ai cũng thế.
Vậy đấy. Họ yêu cái dạ dày của họ, nhưng chính họ cũng chẳng buồn quan tâm đến chuyện họ đưa cái gì vào dạ dày. Liệu nó có sạch sẽ không, hay sẽ gây ra những căn bệnh tiềm ẩn trong cơ thể họ, và một ngày kia giết chết họ. Họ không quan tâm cũng chỉ bởi họ ý thức được họ không thể làm gì được. Nếu ùa lên những cơn dịch, những trận cúm, như cúm gia cầm, cúm heo… họ sẽ sợ. Nhưng những thực phẩm độc hại thông thường, chẳng hạn như nước tương gây ung thư đi, hoặc phở có hàn the đi, hoặc rau cỏ dư thừa thuốc trừ sâu đi, mới đầu họ đều sợ cả, nhưng rồi qua thời gian mọi việc lại đâu vào đấy. Họ vẫn ăn. Nhắm mắt mà ăn, đừng nghĩ nữa, cứ nghĩ sẽ chẳng còn gì để ăn nữa. Nếu ăn vào vài chục năm sau có nguy cơ bị ung thư chết. Nhưng nếu không ăn sẽ lăn ra chết đói ngay bây giờ. Chi bằng cứ ăn vào.
Họ không quan tâm. Mất khả năng quan tâm.
Tôi nghĩ có lẽ bây giờ quý vị bắt đầu hơi chán rồi, và thầm nghĩ, nó muốn gì đây, lại một bài thuyết giảng về an toàn thực phẩm à. Thưa không, đó chỉ là một lối mở đề (hơi dài dòng) của tôi. Ở đây tôi đang muốn hướng đến một cái phía sau nó, phía sau cụm từ “chủ nghĩa dạ dày”. Lâu dần, qua thời gian, trong người VN có hình thành một khả năng chịu đựng không phải dân tộc nào cũng có được. Thử ngẫm xem, chịu đựng hàng tiếng đồng hồ mắc kẹt trong dòng giao thông ùn tắc, mồ hôi bê bết áo, nhích lê từng chút, từng chút một giữa khói bụi và tiếng ầm ĩ còi xe, đặc biệt khi trưa nắng chang chang hoặc giờ cao điểm đi học hoặc đi làm về sau một ngày kiệt sức ở trường học hoặc sở làm. Chịu đựng việc chứng kiến hàng tá những phi lý và bất công diễn ra hàng ngày xung quanh, như những vụ sập nhà do rút ruột công trình, chuyện “lô cốt” xây đầy đường bít kín lối đi kéo ròng rã từ năm này sang năm khác và không có vẻ gì sẽ sớm hoàn thành, chuyện đủ thứ những ý định và cải cách điên rồ của cấp cao… mỗi khi mở tờ báo ra đọc mỗi ngày. Chịu đựng việc nai lưng ra làm việc mà vẫn không giàu có, trong khi các cô chiêu cậu ấm, con cái quan to vung tiền ra cửa sổ không tiếc, đồng hồ Gucci 600 đô mỗi tuần một cái, hay nổi giận đập nát điện thoại rồi hôm sau mua cái xịn hơn, hay tặng bạn bè mỗi đứa một cái @... như báo chí từng đăng, về sự chênh lệch giàu nghèo khủng khiếp ở nước ta. Chịu đựng việc các website yêu thích bị chặn với lời huyễn hoặc đó là sự cố kỹ thuật không đáng có, chịu đựng việc không được bầu, không được biểu tình, không được phát biểu ý kiến… Nói tóm lại, mỗi ngày chịu đựng, và cả đời chịu đựng.
Vì họ đã học cách miễn nhiễm. Như thể họ xây một bức thành lũy kiên cố và vững chắc giữa họ và những điều xung quanh, và họ không còn quan tâm đến những gì đang diễn ra quanh họ nữa. Họ không quan tâm bản thân họ đang thực sự muốn gì, và cũng chẳng quan tâm điều gì đang tiếp diễn. Nói ngắn gọn, họ vô cảm.
Vô cảm.
Tôi kể một câu chuyện có thật như thế này. Khi mới qua Na Uy, chưa đến một năm trước, tôi được dẫn đến một trung tâm là Stiftelsen kontorsenter (nếu tôi nhớ không lầm cách viết), nơi đó trước kia là nơi giam giữ tù nhân Do Thái cũng như người Na Uy vào thời Đức quốc xã chiếm đóng ở thành phố này, giai đoạn Thế chiến thứ 2. Tôi đến đó, và những người làm việc ở đó giới thiệu cho tôi, và mẹ tôi một người đàn ông, trước kia từng là một tù nhân bị giam giữ trong thời kỳ này và sống sót. Sau này hàng năm vào lễ tưởng niệm, ông ấy vẫn thường hay lên phát biểu đôi lời. Họ cũng đưa cho tôi xem cả cuốn sách phỏng vấn nhiều người, trong đó có con gái người đàn ông này, về những suy nghĩ của cô khi ông ngồi tù. một cách đầy trang trọng và ngưỡng mộ, mẹ tôi hỏi, xin phép được biết ông bị tù bao lâu (chắc hẳn là rất dài). Câu trả lời khiến tôi gần như muốn bật ngửa khỏi ghế và phải cố gắng tạo vẻ mặt bình thường khi nín cười. 3 ngày. Bản thân chuyện ấy đem kể với người Na Uy chẳng có gì đáng cười cả. Tù là tù, 3 ngày cũng vẫn là ngồi tù. Đặc biệt khi ấy là giai đoạn chiến tranh. Nếu tôi đem kể với nhiều người VN, có lẽ họ cũng sẽ nói tôi so sánh khập khiễng, Na Uy ít dân nên phải trân trọng từng con người trong đất nước họ. Nên tôi đành thú thật thế này, tôi chẳng có ý định so sánh gì giữa VN và Na Uy cả. Điều duy nhất tôi muốn nói là, tôi đã muốn cười. Và tôi tin có nhiều người cũng muốn cười, và có thể cũng không tin khi nghe tôi kể. Đó là vì chúng ta đã nghe thấy quá nhiều người chết rồi. Hàng ngày mở báo ra thấy hàng trăm hàng ngàn cái chết với đủ hình thức khác nhau. Ta chai lỳ rồi. Trơ cứng rồi. Mất cảm giác rồi. Ta vô cảm rồi.
Vô cảm.
Vô cảm nên nhiều học sinh có thể ngồi đó nhìn một nữ sinh bị đạp, bị tống, bị túm tóc, bị dộng đầu… mà vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Vô cảm nên mới có thể đứng chung quanh quan sát và giơ máy quay hơn 5ph hình ảnh người công an bị xe cán đứt đôi người nhưng vẫn còn sống và nhúc nhích. Vô cảm nên người quản lý mới có thể lạnh lùng bỏ đi khi thấy một người đàn bà sắp bị đàn chó hung dữ cắn xé đến chết. Vô cảm nên lái xe cán lên chân một học sinh quay lại cán thêm 3 lần nữa cho chết hẳn….
Vô cảm nên mới thờ ơ với tình hình chính trị, an ninh lãnh thổ và chủ quyền đất nước. Vô cảm nên mới lãnh đạm với số phận dân tộc và đồng bào mình.Vô cảm nên mới tụ nhau than khóc Michael Jackson trong khi đồng bào bị đánh cướp ngoài hải đảo. Vô cảm nên mới bàng quan với những dự án nguy hiểm như dự án bauxite, điện hạt nhân, cho thuê rừng… và tự huyễn hoặc rằng nhà nước đã có cách xử lý và chính trị là việc lớn lao to tát dân thường chẳng cần bận tâm. Vô cảm nên mới cho mọi hành động vì tự do là dư thừa và xuẩn ngốc, bảo đất nước ta đã độc lập, tự do, hạnh phúc lắm rồi, còn chuyện dân nước người sống sướng hơn là việc không thể đem ra so sánh khập khiễng được. Vô cảm nên mới bằng lòng chấp nhận sống thiếu tự do còn hơn tranh đấu cho tự do thực sự. Vô cảm nên bảo rằng mình sẽ không làm được, nên từ bỏ đi và không làm nữa. Vô cảm nên chỉ lo cho cái dạ dày của mình, và sợ hãi, ngăn cản những người trong gia đình làm bất kỳ cái gì nguy hại cho nồi cơm của gia đình.
Vô cảm.
Ôi tôi sợ cái ngày ấy, khi tôi không còn chút cảm xúc nào, nhìn người chết trước mặt mà thản nhiên bỏ đi, sợ cái lúc tôi sẽ không còn là con người nữa, và tồn tại như một thây ma, tống thức ăn vào dạ dày như cái máy mà chẳng màng đó là cái gì! “Education makes machines which act like men, and men who act like machines.”- Erich Fromm. http://www.vietnamreview.com/modules.ph ... 3831488141
Tôn giáo và Chính trị
Thái Phiên
Đã sống hơn quá nửa đời người, tôi tin rằng chẵng phải riêng mình mà có rất nhiều người khác, đến nay vẫn không biết nên thực sự hiểu như thế nào cho đúng về ý nghĩa của hai chữ Tôn giáo và Chính trị. Đặc biệt là khi nghe các nhân vật lãnh đạo tinh thần của một Tôn giáo nào đó tuyên bố: Tôn giáo không làm Chính trị! Đây không phải lần đầu chúng ta nghe những lời phát biểu như vậy, mà hầu như nó trở thành một điệp khúc trong đời sống, ở nhiều thời điểm, hoàn cảnh và không gian khác nhau nhưng có tác dụng rất mạnh mẽ đến quyết định của các tín hữu mỗi khi họ muốn góp phần làm thăng tiến Đất nước và Con người.
Nhớ lại từ thuở lọt lòng mẹ cho đến khi được cắp sách đến trường ở phần đất mà người dân được hít thở không khí dân chủ, tôi nhận thức rằng mình may mắn được cha mẹ rất mực thương yêu và lại được các bậc thầy cô trang bị thêm cho bản thân một nền văn hóa nhân bản của dân tộc Việt nam, đặc biệt là đức tính nhân ái. Đến lúc trưởng thành, khi nghe các Cha, Thầy luôn nhắc nhở về lòng khoan dung, sự tha thứ cho kẻ khác trong những bài giảng ở thánh lễ nơi nhà thờ hay chùa chiền tôi thực sự biết ơn và hãnh diện, tự hào vì Thượng đế đã tạo dựng cho mình được làm người Việt nam cao qúy. Từ đó tôi sống sung sướng trong vòng tay yêu thương, đùm bọc của cha mẹ cùng mọi người thân yêu và tuyệt nhiên không hề nhận thấy điều gì phản lại truyền thống hiếu hòa của dân tộc hay đi ngược lại lời giảng của các bậc chân tu hoặc sự giáo dục nơi nhà trường.
Biến cố tháng 4, 1975. Cơn địa chấn chính trị khủng khiếp nhất trong lịch sử đất nước đổ ập và bao trùm lên đầu của toàn thể người dân miền Nam. Ảnh hưởng khốc liệt của cuộc đổi đời nầy còn nặng nề và lớn lao gấp bội phần so với cuộc di cư vào Nam tìm tự do của hơn một triệu đồng bào miền Bắc năm 1954, bởi vì kể từ nay đất nước tôi biến thành một nhà Tù thống nhất vĩ đại, nơi giam giữ gần 90 triệu con người. Mọi thành phần xã hội, bất luận là có cộng tác với chính quyền hay quân đội Việt nam Cộng hòa hay không đều trở thành đối tượng bị đàn áp, trả thù, hành hạ của Cộng sản Việt nam chỉ vì cái tội đã được sống hạnh phúc nhiều năm trong một thể chế Tự do! Hằng triệu con người từ già, trẻ bé lớn kể cả trẻ sơ sinh được cha mẹ bồng bế, bất chấp mọi hiểm nguy bởi sóng gió, hải tặc hay sự truy nã của Công an Việt cộng, trốn chạy “Thiên đường Xã hội Chủ nghĩa” qua các hình thức bằng đường bộ, đường biển. Lần nầy họ hiểu rằng, không chỉ rời bỏ nơi chôn nhao, cắt rún mà là có thể sẽ phải vĩnh viễn xa quê hương mến thương và người thân trong uất hận, nghẹn ngào nước mắt!!!
Trong số “boat people” được thế giới mở lòng nhân đạo cứu vớt và cho định cư trên nhiều quốc gia theo quy chế tỵ nạn chính trị có cả các bậc tu hành. Nếu hiểu theo cách thông thường thì thành phần nầy chỉ sống cuộc đời của mình cho việc phục vụ các nhu cầu tinh thần của con người dưới khía cạnh Tôn giáo, tức là không hề dính líu đến Chính trị. Lý do họ ra đi bởi vì nơi mãnh đất quê mẹ, dưới chế độ CS vô thần thì không còn điều kiện để thể hiện và sống cho đức tin, nếu không nói là bị trù dập tàn tệ đối với những người có tín ngưỡng bất kể theo đạo nào, tức là con người bị tước đoạt hết nhân quyền, kể cả việc thờ phượng Thượng đế.
Còn hơn thế nữa, những vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo thường là đối tượng chính bị CS hành hạ, kết án nặng nề, đặc biệt khi bị giam giữ trong các trại cải tạo, điển hình qua nhận xét của cán bộ chính trị ở các buổi học tập như: “Lời tuyên truyền chống phá Cách mạng của các anh cho giáo dân có sức mạnh hơn cả mấy chục Sư đoàn” hoặc” Chính các anh dụ dỗ đồng bào, con chiên chạy theo chân thằng Chúa vào Nam chứ ai”. Đa số những nhà tu hành đã chết tức tưởi vì vô số đòn thù đốn mạt, hèn hạ của Việt cộng ở các lò trừng giới được thiết lập trên khắp cả nước từ Nam chí Bắc, số người dân khác ngoài xã hội bị lọai trừ vì lý lịch khai có tôn giáo trong các kỳ thi tuyển sinh hay khi đi xin việc, ngọai trừ việc gọi nhập ngũ thanh niên để chết thãm trên chiến trường ngoại biên Campuchia cho cái gọi là nghĩa vụ quốc tế đối với đất nước Xã hội Chủ nghĩa anh em.
Ở bất cứ thời đại nào, người ta cũng không thể phủ nhận được ảnh hưởng thật quan trọng của Tôn giáo đối với cuộc sống của con người. Nó chính là kim chỉ nam để hướng đến Chân; Thiện; Mỹ. Kỷ thuật, khoa học và nhiều lãnh vực khác có thể phát triển theo thời gian, nhưng chắc chắn xã hội con người không thể thăng hoa nếu đạo đức thụt lùi. Dân trí gia tăng đồng nghĩa với sự yêu chuộng cái Hay, cái Đẹp, cái Văn minh của nhân loại. Mà đã như vậy thì không thể nào đồng lõa với sự Độc tài, Gian dối, Bất công, Tàn ác, thế mà những điều ấy vẫn thản nhiên xảy ra từng ngày trên quê hương Việt nam nghèo đói của chúng ta dưới chế độ CS vô nhân tính, vốn không thích Công lý, bởi vì chính sự Thật, sự Sáng, sự Thiện sẽ tạo một xã hội tốt đẹp, Công bình và như thế là đi ngược lại bản chất những con người CS dốt nát đang nắm quyền thống trị bằng xảo thuật qủy quyệt cộng thêm bạo lực bởi bộ máy Công an khổng lồ với chủ trương dân Ngu dể trị!
Xã hội là tập hợp đông đảo của nhiều con người. Sự phát triển, tiến bộ của nó tùy thuộc vào công sức đóng góp bằng sức lực và trí tuệ của từng cá nhân với tất cả nhiệt tình.Ngược lại sự băng hoại của xã hội cũng bởi một phần từ sự bàng quang thiếu trách nhiệm của mỗi con người trong chúng ta hay do chánh sách, đường lối sai lệch của người lãnh đạo đất nước. Hảy thử nhìn xem thực trạng xã hội Việt nam ngày nay ra sao từ khi đất nước hoàn toàn bị nhuộm đỏ kể từ năm 1975. Sự hủy diệt tận gốc rể các nền tảng đạo lý, nhân phẫm con người trong tất cả môi trường từ cơ quan đến học đường… bắt nguồn từ đâu, do nguyên nhân nào, nếu không do bọn lãnh đạo CS bất tài, tham ô với các chính sách mị dân, hủ hóa, đầu độc nhằm đồi trụy, sa đọa dân tộc, nhất là thế hệ trẻ để chỉ mãi mê vui chơi hầu mất sức đề kháng trước bạo quyền và như thế thì hiểm họa diệt vong của quốc gia chỉ còn là vấn đề thời gian!!!
Tương tự như xã hội, Giáo hội của bất kỳ Tôn giáo nào cũng là thành phần tập hợp các người cùng đức tin. Không một người tín hữu hay vị chủ chăn chân chính nào lại không muốn Giáo hội mình thăng tiến, bởi vì đó qua đó vô hình chung sẽ thúc đẩy xã hội loài người thêm phần tốt đẹp. Đạo đức sẽ không bao giờ có điều kiện để nở hoa ở miền đất nghèo nàn phân bón tự do, dân chủ, mà đó chính lại là yếu tố thật quan trọng để xây dựng một tập thể hoàn mỹ. Bằng sự đóng góp, bàn thảo của mọi người, không phân biệt chính kiến vào tất cả lãnh vực, đặc biệt là khía cạnh giáo dục, hướng dẫn đề cao về những giá trị luân lý của con người qua tôn giáo sẽ tạo cơ hội giúp thế giới hoàn thiện hơn và điều nầy không thể nào thực hiện được dưới chế độ vô thần, độc tài, đảng trị CS. Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ lục đã từng nói” Hảy cho tôi những gia đình đạo đức, tôi sẽ xây dựng được một xã hội thánh thiện”. Như thế, đã có một sự hổ tương song hành rất mật thiết giữa Tôn giáo và Chính trị, nếu như hiểu chính trị không có nghĩa chỉ là can dự vào việc nắm giữ quyền bính của xã hội trần gian mà còn là an bang tế thế tức góp phần mình vào việc làm thăng hoa cuộc sống nhân loại. Không ai có thể phủ nhận công sức lớn lao của Giáo hội Công giáo Ba lan trong việc lật đổ ách thống trị CS để người dân đất nước họ ngày hôm nay được sống thực sự dân chủ, tự do. Trong những cuộc bầu cử ở các quốc gia, thẻ cử tri được phân phát đến tận tay tất cả người dân, kể cả các vị tu hành để thể hiện việc chọn người lãnh đạo xứng đáng xuyên qua lá phiếu của mình, đó há chẳng phải vừa là quyền lợi, nghĩa vụ và thái độ chính trị của một công dân hay sao?
Linh mục Nguyễn hữu Lễ, một cựu tù nhân lương tâm bị CS giam giữ nhiều năm khi nhập cuộc tranh đấu Dân chủ , Nhân quyền cho đất nước và dân tộc, ngài đã ý thức trách nhiệm và nói” Trước khi tôi trở thành linh mục, tôi đã là người công dân Việt nam”. Trong nước, mặc dù bị trấn áp, khủng bố dã man nhưng vẫn không dập tắt được ngọn lữa đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của con người, tiêu biểu là sự bất khuất của linh mục Tadeo Nguyễn văn Lý hay con chiên anh thư Lê thị Công Nhân. Do đó thiển nghỉ, một cá nhân khi đã sống an nhàn nơi nước ngoài, nhất là nơi nhân quyền được tuyệt đối tôn trọng, thì có quyền tự ý từ khước việc thực hiện bổn phận của một con dân đất Việt trong lúc tổ quốc, đồng bào điêu linh. Nhưng nếu tuyên bố rằng Tôn giáo không làm Chính trị mà theo phân tích như trên thì e rằng hơi quá đáng, nhất là lời phát biểu lại xuất phát từ những người lãnh đạo cao cấp của các Giáo hội. Nếu như nhận định của các vị mà được nhiều người tán đồng mà chắc chắn bọn CSVN sẽ là những người đầu tiên vỗ tay khen thưởng nhiệt liệt và như vậy, chúng ta phải xem như phúc đức của tổ tiên ta gầy công xây dựng qua bao đời đã đến hồi cạn kiệt vì bọn qủy dữ sớm chiến thắng dể dàng qua việc nhồi sọ tuyên truyền gạt gẫm các thành phần ngây thơ, cả tin và dân tộc ta còn phải tiếp tục chịu cảnh triệu năm nô lệ như kiếp súc vật dưới bàn tay đẫm máu của những con người tuy cùng chủng tộc nhưng vô cảm bởi vì vốn dĩ chúng không có trái tim!!!
Thái Phiên
Chúng ta thấy gì sau 35 năm ngưng chiến.(1975-2010)
Nguyễn Liệu
Những Điểm Tốt
Trong nước
1- Không còn chiến tranh nên không còn người chết vì bom đạn
2- Kiến thiết đồ sộ nhà cửa, dinh thự, đường sá, cầu cống…..
3- Nhà ngói thay thế nhà tranh , nhà lầu thay thế nhà trệt
4- Ăn no, mặc lành và đẹp. Trừ người thượng miền núi, người kinh no ấm lành lặn
5- Nhờ khoa học kỹ thuật lao động ít vất vã hơn xưa
6- Nông thôn có điện, có TV, có telephone, nhất là cell phone, có computer, có internet
7- Hệ thống đi lại tương đối đầy đũ
8- Nước ngoài đầu tư vào Việt Nam rất nhiều, làm cho nền kinh tế phát triển
9- Kinh tế thị trường làm cho giới thương mại phát triển, tạo thêm nhiều công việc làm cho người dân có cuộc sống tương đối đầy đũ.
10- Ngành du lịch phát triển làm cho du khách đến Việt Nam ngày càng đông.
11- Du học sinh Việt Nam ngày càng đông nhất là du học tại Mỹ, làm cho xã hội Việt Nam có chiều sáng sủa theo nép sống văn minh Tây phương.
12- Thế hệ trẻ đều có ước vọng du học Hoa Kỳ , các nước Tây Âu, Úc đại lợi…
13- Những người Việt quân cán chính, nói chung những người trong đội ngũ chiến đấu bảo vệ quốc gia, phe Miền Nam, bỏ nước ra đi, được trở về thăm bà con anh em bạn bè quê hương tạo nên không khí thanh bình thân thiện
Người Việt ở nước ngoài
1- Trên ba triệu người bỏ nước ra đi tạo được cuộc sống sung túc văn minh. Thế hệ con cái của họ thành đạt lớn về phương diện học vấn, về thương mại, nghệ thuật khoa học. Có những người thành danh trên thế giới về khoa học kỹ thuật, về giáo dục.
2- Phát huy và duy trì được nền văn học Việt Nam hãi ngoại. Nhiều tờ báo đài phát thanh truyền hình của Việt Nam, mang màu sắc thuần Việt, duy trì phát triển tiếng Việt ở hải ngoại
3- Việt kiều ở hải ngoại đã sống tập trung thành những vùng lớn mạnh về văn hóa về thương mại không thua các cộng đồng văn minh khác. Có những thương gia những nhà kinh doanh có tầm cỡ quốc tế.
Những điểm không tốt.
Trong nước.
1- Tham nhũng phát triển quá mạnh, tạo nên những tệ hại khủng khiếp :
- Tạo sự cách biệt quá xa giữa tài sản, mức sống, của người cán bộ đối với dân chúng.
- Cuộc sống ăn chơi xa hoa của cán bộ làm cho dân chúng ganh ghét
- Những thiếu nữ ở nông thôn vì nghèo khổ phải chịu hư hỏng để kiếm tiền chi tiêu cho gia đình cho cha mẹ già và cho bản thân, cụ thể là làm gái mãi dâm, làm vợ tập thể cho đám người ngoại quốc vô loại. Đạo đức suy đồi khủng khiếp, chưa từng có trong lịch sử Việt Nam
- Xây cất đại công trình nhưng rất dối trá vì tham nhũng
- Nền giáo dục phá sản hoàn toàn, mảnh bằng vô giá trị, không đánh giá không đào tạo được người có thật khả năng
- Thầy không ra thầy trò không ra trò. Cũng vì nhìn mực sống xa hoa của cán bộ mà thầy cô giáo không giữ được thiên chức của nhà giáo và do đó không làm cho học sinh kính nể.
- Học sinh phải tập quen tánh hối lộ cô thầy để được lên lớp để được trúng tuyển
- Nền đại học phá sản hầu như vô phương cứu chữa.
2- Các cấp lãnh đạo không có lòng yêu nước và không đủ khả năng điều hành công việc. Cho nên :
- Không đủ bản lĩnh và khả năng nghe tiếng nói, ý kiến của người dân, nhất là đối với giới có học
- Làm những việc sai trái mà không biết, như làm tiền bất hợp pháp cho mau giàu, các việc cho bọn Tàu khai quật bauxite và nhượng đất cho Tàu, bán rừng cho Tàu v..v…đó là vì thiếu lòng yêu nước, thiếu hiểu biết, và quá tham lam nôn móng mau giàu
- Không có những kế hoạch lâu dài để làm giàu mạnh cho tổ quốc, chỉ có những kế hoạch tạm thời để vơ vét cho cá nhân mà thôi.
- Tạo ra phe cánh tranh giành chính quyền với mục đích vơ vét thật nhanh để trở thành tư bản thật nhanh
- Quá khiếp nhược trước bọn Tàu, nhưng quá bóp chặt dân chúng, sợ dân chúng phản đối.
- Báo cáo giả dối, lường gạt từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nên không còn phân biệt đâu là hư đâu là thật
4- Người dân trong nước. Người dân trong nước mất hết khả năng quật khởi. Chịu đựng lâu dài thành thói quen “ làm thinh cho yên chuyện”. Ngậm miệng cúi mặt, cho qua ngày, mặc cho chánh quyền muốn làm gì làm. Tránh xa chánh quyền sợ vạ lây.
Người Việt ở nước ngoài.
1- Nói chung bị ru ngủ trong cuộc sống đầy đủ về mọi mặt
2- Lớp già 65 tuổi trở lên phần nhiều an phận, sống với quá khứ với kỷ niệm. Buồn bã vì thua cuộc, tổ quốc lọt vào phe đang hư hỏng mục rửa, nhưng cảm thấy bất tài bất lực trong việc đóng góp để xây dựng tổ quốc.
3- Đả phá chánh quyền đang phản dân phản quốc, nhưng chỉ nói suông cho hả giận, chứ không có một kế hoạch thiết thực để hành động. Càng ngày sức càng tàn, trí óc hết sáng suốt, đâm ra chia rẽ, đả kích, nói xấu lẫn nhau, và chụp cho nhau những cái mũ cộng sản một cách kinh tởm.
4- Lớp trung niên lo làm ăn lo tiến lên giai cấp trung lưu hưởng đầy đủ về hạnh phúc gia đình. Dồn hết sức lo cho con cái để chúng có cơ hội có khả năng tiến lên tầng cao trong xã hội văn minh.
5- Lớp thiếu niên lo học hành, lo luyện tập ngôn ngữ chính là Anh văn. Không nói được tiếng Việt, xa hẳn nền văn hóa Việt nam
6- Một số rất ít có nghĩ đến dân tộc Việt Nam đang thiếu thốn, và thiếu học vấn, nên bằng phương pháp từ thiện giúp đỡ chút ít cho dân chúng nghèo khổ với lòng e dè sợ sự đàn áp của một chính quyền đang say máu ngà về tiền bạc và uy quyền.
7- Một số rất ít, lớp trẻ, có hành động cứu quốc, can đảm về nước hoạt động nhưng bị đàn áp bị tù tội.
Nguyễn Liệu
Nguyễn Liệu
Những Điểm Tốt
Trong nước
1- Không còn chiến tranh nên không còn người chết vì bom đạn
2- Kiến thiết đồ sộ nhà cửa, dinh thự, đường sá, cầu cống…..
3- Nhà ngói thay thế nhà tranh , nhà lầu thay thế nhà trệt
4- Ăn no, mặc lành và đẹp. Trừ người thượng miền núi, người kinh no ấm lành lặn
5- Nhờ khoa học kỹ thuật lao động ít vất vã hơn xưa
6- Nông thôn có điện, có TV, có telephone, nhất là cell phone, có computer, có internet
7- Hệ thống đi lại tương đối đầy đũ
8- Nước ngoài đầu tư vào Việt Nam rất nhiều, làm cho nền kinh tế phát triển
9- Kinh tế thị trường làm cho giới thương mại phát triển, tạo thêm nhiều công việc làm cho người dân có cuộc sống tương đối đầy đũ.
10- Ngành du lịch phát triển làm cho du khách đến Việt Nam ngày càng đông.
11- Du học sinh Việt Nam ngày càng đông nhất là du học tại Mỹ, làm cho xã hội Việt Nam có chiều sáng sủa theo nép sống văn minh Tây phương.
12- Thế hệ trẻ đều có ước vọng du học Hoa Kỳ , các nước Tây Âu, Úc đại lợi…
13- Những người Việt quân cán chính, nói chung những người trong đội ngũ chiến đấu bảo vệ quốc gia, phe Miền Nam, bỏ nước ra đi, được trở về thăm bà con anh em bạn bè quê hương tạo nên không khí thanh bình thân thiện
Người Việt ở nước ngoài
1- Trên ba triệu người bỏ nước ra đi tạo được cuộc sống sung túc văn minh. Thế hệ con cái của họ thành đạt lớn về phương diện học vấn, về thương mại, nghệ thuật khoa học. Có những người thành danh trên thế giới về khoa học kỹ thuật, về giáo dục.
2- Phát huy và duy trì được nền văn học Việt Nam hãi ngoại. Nhiều tờ báo đài phát thanh truyền hình của Việt Nam, mang màu sắc thuần Việt, duy trì phát triển tiếng Việt ở hải ngoại
3- Việt kiều ở hải ngoại đã sống tập trung thành những vùng lớn mạnh về văn hóa về thương mại không thua các cộng đồng văn minh khác. Có những thương gia những nhà kinh doanh có tầm cỡ quốc tế.
Những điểm không tốt.
Trong nước.
1- Tham nhũng phát triển quá mạnh, tạo nên những tệ hại khủng khiếp :
- Tạo sự cách biệt quá xa giữa tài sản, mức sống, của người cán bộ đối với dân chúng.
- Cuộc sống ăn chơi xa hoa của cán bộ làm cho dân chúng ganh ghét
- Những thiếu nữ ở nông thôn vì nghèo khổ phải chịu hư hỏng để kiếm tiền chi tiêu cho gia đình cho cha mẹ già và cho bản thân, cụ thể là làm gái mãi dâm, làm vợ tập thể cho đám người ngoại quốc vô loại. Đạo đức suy đồi khủng khiếp, chưa từng có trong lịch sử Việt Nam
- Xây cất đại công trình nhưng rất dối trá vì tham nhũng
- Nền giáo dục phá sản hoàn toàn, mảnh bằng vô giá trị, không đánh giá không đào tạo được người có thật khả năng
- Thầy không ra thầy trò không ra trò. Cũng vì nhìn mực sống xa hoa của cán bộ mà thầy cô giáo không giữ được thiên chức của nhà giáo và do đó không làm cho học sinh kính nể.
- Học sinh phải tập quen tánh hối lộ cô thầy để được lên lớp để được trúng tuyển
- Nền đại học phá sản hầu như vô phương cứu chữa.
2- Các cấp lãnh đạo không có lòng yêu nước và không đủ khả năng điều hành công việc. Cho nên :
- Không đủ bản lĩnh và khả năng nghe tiếng nói, ý kiến của người dân, nhất là đối với giới có học
- Làm những việc sai trái mà không biết, như làm tiền bất hợp pháp cho mau giàu, các việc cho bọn Tàu khai quật bauxite và nhượng đất cho Tàu, bán rừng cho Tàu v..v…đó là vì thiếu lòng yêu nước, thiếu hiểu biết, và quá tham lam nôn móng mau giàu
- Không có những kế hoạch lâu dài để làm giàu mạnh cho tổ quốc, chỉ có những kế hoạch tạm thời để vơ vét cho cá nhân mà thôi.
- Tạo ra phe cánh tranh giành chính quyền với mục đích vơ vét thật nhanh để trở thành tư bản thật nhanh
- Quá khiếp nhược trước bọn Tàu, nhưng quá bóp chặt dân chúng, sợ dân chúng phản đối.
- Báo cáo giả dối, lường gạt từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nên không còn phân biệt đâu là hư đâu là thật
4- Người dân trong nước. Người dân trong nước mất hết khả năng quật khởi. Chịu đựng lâu dài thành thói quen “ làm thinh cho yên chuyện”. Ngậm miệng cúi mặt, cho qua ngày, mặc cho chánh quyền muốn làm gì làm. Tránh xa chánh quyền sợ vạ lây.
Người Việt ở nước ngoài.
1- Nói chung bị ru ngủ trong cuộc sống đầy đủ về mọi mặt
2- Lớp già 65 tuổi trở lên phần nhiều an phận, sống với quá khứ với kỷ niệm. Buồn bã vì thua cuộc, tổ quốc lọt vào phe đang hư hỏng mục rửa, nhưng cảm thấy bất tài bất lực trong việc đóng góp để xây dựng tổ quốc.
3- Đả phá chánh quyền đang phản dân phản quốc, nhưng chỉ nói suông cho hả giận, chứ không có một kế hoạch thiết thực để hành động. Càng ngày sức càng tàn, trí óc hết sáng suốt, đâm ra chia rẽ, đả kích, nói xấu lẫn nhau, và chụp cho nhau những cái mũ cộng sản một cách kinh tởm.
4- Lớp trung niên lo làm ăn lo tiến lên giai cấp trung lưu hưởng đầy đủ về hạnh phúc gia đình. Dồn hết sức lo cho con cái để chúng có cơ hội có khả năng tiến lên tầng cao trong xã hội văn minh.
5- Lớp thiếu niên lo học hành, lo luyện tập ngôn ngữ chính là Anh văn. Không nói được tiếng Việt, xa hẳn nền văn hóa Việt nam
6- Một số rất ít có nghĩ đến dân tộc Việt Nam đang thiếu thốn, và thiếu học vấn, nên bằng phương pháp từ thiện giúp đỡ chút ít cho dân chúng nghèo khổ với lòng e dè sợ sự đàn áp của một chính quyền đang say máu ngà về tiền bạc và uy quyền.
7- Một số rất ít, lớp trẻ, có hành động cứu quốc, can đảm về nước hoạt động nhưng bị đàn áp bị tù tội.
Nguyễn Liệu
GIA ĐÌNH CHÚ HAI
Không ai biết chú Hai tên thật là gì và cũng không ai nhớ là gia đình chú Hai đến đây lập nghiệp từ lúc nào, người ta chỉ biết rằng xe phở của chú được đặt dưới gốc cây me già, trên con lộ đi đến ga xe lửa Hòa Hưng từ lâu lắm; lâu đến nỗi nếu có ngày nào chú Hai vắng mặt, thì mọi người quanh đấy đều nhận biết là ở gốc cây me thiếu vắng xe phở của chú Hai.
Phở chú Hai nấu rất ngon, giá lại tương đối rẻ nên chú có rất nhiều khách. Khách của chú thì đủ mọi thành phần trong giới bình dân. Từ các bạn hàng lên xuống ga xe lửa, bạn hàng buôn bán ở chợ Nhỏ, một cái chợ do dân địa phương họp lại chỉ cách nhà ga vài trăm thước, đến các bác xe xích lô, xe ba bánh, đôi khi, có cả các cô cậu học sinh nếu hôm nào may mắn trong túi có rủng rỉnh chút tiền còm. Xe phở của chú Hai luôn bán hết trước bạn hàng và thường dọn về sớm hơn gánh chè đậu của chị Năm, mâm hột vịt lộn của cô Bé Sáu và nồi cháo vịt của bà Mười.
Chính chú Hai cũng không nhớ rõ vì sao chú có nghề nấu phở. Chú chỉ nhớ rằng chín năm trong lính, chú làm chức trưởng ban hỏa đầu vụ và chưa hề ra trận. Nhưng không phải vì thế mà chú không thăng quan tiến chức. Chú vẫn cho rằng chú có cung quan lộc tốt nên từ binh bét, chú trở thành Thày Đội. Có người còn gọi chú là Thày Đội Bếp vì chú giữ chân nấu ăn trong đơn vị. Tuy chỉ là Thày Đội Bếp nhưng chú đã qua mặt đàn anh mà cưới được thím Hai, một cô thôn nữ xinh đẹp đảm đang nhất làng và là con gái của ông Hương ở Cù Lao Phố, Biên Hòa.
Đối với chú Hai, chín năm lính đó là quãng thời gian đáng ghi nhớ và là một sự nghiệp đáng kể trong đời, do đó những lúc nhàn rỗi chú thường kể lại cho vợ con hoặc người quen nghe một cách vô cùng thích thú.
Sau ngày trận Điện Biên kết thúc, hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Nhiều ngàn người di cư vào Nam tìm tự do. Chú Hai giải ngũ và đem vợ con lưu lạc từ chợ Đồn lên Thủ Đức, Saigon và cuối cùng chọn Cống Bà Xếp làm nơi cư ngụ. Trong khoảng thời gian đó, nghề nấu phở của chú ra đời.
Mới đầu, xe phở của chú là một gánh phở. Một bên là thùng nước lèo lúc nào cũng được giữ nóng bằng những cục than đá, còn một bên là cái khung gỗ hình chữ nhựt dựng đứng trên bốn chân, được chia ra làm ba ngăn. Ngăn trên cùng là một rổ bánh phở trắng tươi, được phủ bằng một miếng vải trắng mỏng sạch sẽ để ngừa bụi, bên cạnh những sợi bánh phở mềm mại là cái rổ nhỏ đựng đầy chanh ớt hành ngò và rau thơm. Ngăn thứ nhì đựng tô, chén. Những chiếc tô được úp thứ tự gọn gàng bên nhau. Ngăn thứ ba và cũng là ngăn cuối cùng là một chiếc thau nhôm chứa nước để rửa chén. Một chiếc khăn lau chén trắng ngã màu ngà được chú Hai vắt ngang một đầu đòn gánh.
Cứ độ hai giờ chiều là chú Hai bắt đầu gánh gánh phở của chú đến nhà ga. Chú đặt gánh xuống dưới gốc cây me, lấy thêm vài cục than đá cho vào lò rồi đến tiệm giặt ủi kế bên lấy vài cái ghế xếp và một chiếc bàn con mà chú gởi ở đó mỗi ngày ra kê gọn gàng ngay dưới gốc me chờ khách. Chú vừa làm những công việc này vừa vui vẻ chào hỏi bạn hàng.
Rồi từ gánh phở, khấm khá chú mua lại được cái xe phở cũ. Từ ngày có xe phở, chú Hai nhàn hơn một chút, vì sau khi nấu nướng chuẩn bị xong, chú chỉ phải nhẹ nhàng đẩy xe ra chỗ bán chứ không còn phải gánh nặng như xưa.
Nhờ xe phở và sự tằn tiện vén khéo của thím Hai, gia đình chú có một cuộc sống tương đối dễ chịu.
Ba người con của chú, Phú, lớn nhất, mười tám tuổi. Phú vừa đậu xong toàn phần Tú Tài và đang định nộp đơn vào đại học. Kế là Đức, thua anh tới 8, tuổi, đang học lớp nhứt và sau chót là Chi, ba tuổi. Gia đình chú Hai sống rất hạnh phúc. Chú là người chồng, người cha tốt. Thím là người vợ đảm, mẹ hiền. Hằng ngày thím chăm sóc gia đình con cái chu đáo và phụ với chú lo cho gánh phở thêm phần tươm tất. Con cái chú rất chăm ngoan, hiếu thảo và lễ độ. Chưa ai nghe thấy vợ chồng chú to tiếng bao giờ, vì thế, hàng xóm láng giềng ai cũng mến gia đình chú và có người còn lấy gia đình chú ra làm hình ảnh dạy bảo con cái họ.
Chiến tranh từ từ lan rộng. Từ những trận đánh du kích lẻ tẻ ở các vùng hẻo lánh, Việt cộng tăng địa bàn hoạt động lên cấp tấn công vào các đồn bót, đắp mô, phá cầu, đặt mìn ám sát, pháo kích và khủng bố ở các tỉnh, các thành phố và mục tiêu chót vẫn là Sài Gòn. Phú cảm thấy mình không thể ngồi yên trên ghế nhà trường để nhìn mảnh đất thân yêu đang bị cày nát bằng bom đạn ngoại bang và những cái chết thương đau của đồng loại như một người ngoại cuộc. Ngần ngại mãi, một hôm sau bữa cơm chiều, Phú nhìn cha mẹ nói thật vội vàng:
- Ba má à, con muốn xin phép a má cho con được nghỉ học.
Chú Hai nhìn Phú ngạc nhiên:
- Tại sao ?
- Con muốn đăng lính
- Đăng lính? - Thím Hai thảng thốt hỏi
- Dạ , con muốn được góp sức mình trong việc bảo vệ quê hương. Ba má thấy đó, lúc này ở đâu cũng lộn xộn. Con không thể ngồi yên học hành được. Xin ba má cho phép con....
Thím Hai không muốn con đi, thút thít khóc can ngăn nhưng chú Hai sau một lúc im lặng thì đồng ý. Chú chợt nhìn thấy hình ảnh mình những ngày còn trẻ qua con chú. Ừ, Con chú thì phải giống chú chứ. Chú đã chẳng từng hãnh diện về những năm trong quân ngũ của chú là gì...
Sau thời gian quân trường thao luyện, Phú trông khác hẳn đi. Da chàng đen và người chàng vạm vỡ khoẻ mạnh. Chàng về thăm nhà với cấp bậc Chuẩn úy làm chú thím Hai cảm thấy hãnh diện vô cùng. Chi thấy anh Phú lạ hẳn đi, cô thích lấy tay sờ vào bộ quân phục ủi thẳng nếp, cái alpha trên cầu vai và đôi giày bóng loáng của anh. Phú lấy chiếc mũ của mình đội lên đầu Chi làm cô bé cười thích thú. Đức cũng quấn quít bên anh. Trong mười ngày về phép của chàng, Lan, cô hàng xóm xinh xắn tuổi vừa tròn trăng thích đến chơi với Chi hơn và lại hay đem bài vở sang nhờ Phú chỉ giùm. Sau những ngày phép vui vẻ Phú đi trình diện ở một đơn vị tác chiến vùng Long Khánh.
Khi Chi được sáu tuổi thì thím Hai mang thai đứa con thứ tư. Chiến tranh ngày càng sôi động và sôi động mãnh liệt. Chú Hai vừa nấu phở vừa ngồi cạnh chiếc radio với nét mặt ưu tư. Thím Hai ngồi lặt mớ rau thơm, thỉnh thoảng lại nhìn chồng. Từ ngày Phú đi lính, thím Hai mới để ý đến tin chiến sư, mặc dầu thím chẳng hiểu gì nhiều. Thím thường hỏi chồng và chú Hai thường kể lại cho vợ nghe về tin tức của các trận đánh mà chú đã nghe được từ chiếc máy thâu thanh. Nhưng chú Hai không muốn vợ qúa lo lắng, nhất là lúc thím thai nghén nên đôi khi chú chỉ trả lời sơ qua và luôn tìm cách trấn an:
- Má thằng Phú đừng lo lắng qúa. Gia đình mình ăn hiền, ở lành. Thằng Phú có Ông Bà phò hộ. Không sao đâu!
Mỗi lần được nghe chồng nói thế, lòng thím được nhẹ đi. Thím lại nhìn chồng lần nữa như để thêm tin tưởng vào câu nói ” Không sao đâu!” của chú.
Tình hình càng ngày càng căng thẳng. Những trận đánh xáp lá cà diễn ra nhiều nơi trên lãnh thổ. Rồi những lớp người di tản từ miền Trung vào, từ Hậu Giang lên, từ Cao nguyên xuống và từ Tây Ninh về làm chú thím Hai càng thêm bối rối. Những tiếng súng đại bác vọng về làm rung chuyển thành phố, những đoàn xe nhà binh chạy rầm rầm vội vã khắp nơi nhất là trên đường Lê Văn Duyệt, trục lộ chính nối liền Saigon Tây Ninh làm nỗi lo lắng của chú thím Hai càng tăng. Đã sáu bảy tuần liền, chú thím Hai không nhận được tin tức gì của Phú. Cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Long Khánh càng làm những nếp nhăn hiện rõ hơn trên mặt chú Hai. Chú trở nên trầm lặng còn thím Hai thì cảm thấy tim mình nhói đau mỗi khi nghe tiếng đại bác vọng về. Vào khoảng giữa tháng Tư, một người bạn trong đơn vị Phú ghé qua cho chú thím Hai biết tin là trong trận đánh ở Long Khánh, Phú được ghi là mất tích. Được tin, trời đất như tối sầm lại và thím Hai té xuống mép giường. Những ngày sau đó thím Hai chỉ còn biết khóc. Chú Hai thì hết ngồi cạnh chiếc radio lại ngóng nhìn ra đầu xóm và càng thêm trầm lặng. Đôi lúc, thím Hai muốn tìm nơi chồng một lời an ủi nhưng thím biết rõ là chú Hai cũng đau khổ không thua gì thím nên thím không dám làm chú bối rối thêm. Chú Hai ăn không ngon, ngủ không yên nhưng chú vẫn phải tỏ ra bình tĩnh trước mặt thím Hai và luôn nhắc nhở thím giữ gìn sức khoẻ cho bào thai vì càng ngày, thím Hai càng xanh xao, yếu đuối.
Những phần đất quanh Saigon thu hẹp lại một cách vội vàng. Trong khi những chiếc máy bay chở các ông bà lớn và gia đình họ di tản, những chiếc trực thăng bốc lính Mỹ từ các cao ốc trong thành phố để chở ra những hạm đội chờ sẵn ngoài khơi, những người dân khốn khổ chen lấn lên nhau ở bến Bạch Đằng để tìm một chỗ đứng trên chiếc tàu của Hải Quân thì gia đình chú Hai chỉ còn biết nhìn nhau tuyệt vọng. Trưa ngày 30/4 khi lệnh buông súng đầu hàng của Dương Văn Minh từ máy phát thanh vang lên thì chú Hai bật khóc. Hôm đó, dù nồi phở đã nấu xong nhưng chú không đi bán mà gọi hàng xóm tới lấy ăn. Phần bị chấn động mạnh bởi sự đầu hàng của phe Quốc gia và những biến động chung quanh, phần lo cho Phú.
Ngồi trong nhà sốt ruột, chú Hai chạy ra đường thì thấy những cảnh chết chóc kinh hoàng rải rác khắp nơi. Tiếng súng đại bác đã im nhưng những tiếng súng nhỏ thỉnh thoảng vẫn còn. Ngược xuôi, những người dân gương mặt đau buồn thiểu não. Cả ngàn người qua lại nhưng hiếm hoi thấy trên mặt ai có được nụ cười. Ngay cả những con người mệnh danh là giải phóng, nét mặt họ không buồn thảm nhưng cũng không thể bảo là vui. Vẻ mặt họ ngờ nghệch và nhiều người theo chú, còn rất trẻ. Đi xa hơn về phía ngã sáu, chú thấy vài xe nhà binh của chế độ cũ do các cán binh cộng sản lái, chở những xác chết nằm chồng lên nhau từ Quân Vụ Thị Trấn đi ra. Họ còn mặc nguyên quân phục Chiến Sĩ Cộng Hoà nhưng không đi giàỵ Vớ cũng bị lột để lộ những bàn chân trần xanh xao. Chú hết sức đau lòng vì biết đó là những thi thể của những người lính đã chiến đấu đến giờ phút chót. Họ đã thể hiện tinh thần Tổ Quốc và Trách Nhiệm. Họ đã không thể chấp nhận được sự đầu hàng nhục nhã nên đã chọn cái chết âm thầm dầu không tên không tuổi. Chú Hai lại nghĩ đến Phú. Tuy thán phục những anh hùng vị quốc vong thân nhưng chú cầu xin Phú đừng làm như vậy. Chú nghĩ, chết là hết, cho dù cái chết có oai hùng. Phải sống. Phải sống vì Phú còn qúa trẻ Sống để đòi lại những gì mình mất...
Khi chú về đến nhà thì thấy thím Hai đang khóc. Nhưng thím khóc là vì lo cho Phú chứ nào thím có hiểu gì về thời cuộc. Với thím, chế độ nào thì thím cũng chỉ là người dân hiền lành chất phác. Không tranh dành danh lợi. Không có đầu óc chính trị, chính em thì thím nghĩ rằng sẽ chẳng ai phiền hà gì đến thím.
Thế nhưng chỉ mới vài ngày sau, khi thím đang ngồi lặt rổ rau thơm cho nồi phở thì bỗng đâu có một người cán bộ theo sau hai người thanh niên mặc đồ bà ba đen, cổ khoác khăn rằn xông xáo bước vào nhà thím. Vừa đến cửa, một trong hai người thanh niên nói với người cán bộ:
- Thưa đồng chí chính trị nhà này là nhà sĩ quan ngụy đây. Nó có con đi lính phản cách mạng.
Tuy trang phục có khác nhưng thím Hai nhận ra ngay hai người thanh niên ấy là Tư Đen và Tường Thẹo ở xóm ngoài. Thím Hai chợt hoang mang vì thím biết rõ hai người này mới ít tuần trước đây còn bị bắt vì tội ăn cướp xe Honda ở đường Nguyễn Thông Nối Dài. Họ nổi tiếng là tay anh chị và vào tù ra khám như cơm bữa, thế mà hôm nay họ đã là những người làm cách mạng. Thím Hai yên lặng nhìn họ chưa biết nói gì thì may cho thím qúa, chú Hai bỏ nồi nước lèo từ bếp chạy lên. Người chính trị viên tự động ngồi xuống chiếc ghế đẩu và phác họa một cử chỉ cho chú Hai cũng ngồi. Xong, hắn cố nặn ra một nụ cười gượng gạo mà hắn cho là niềm nở nhất:
- Chúng tôi được lệnh đồng chí trưởng ban Thành uỷ Thành phố đến đây để thăm viếng và làm việc với những gia đình có thân nhân là sĩ quan của chế độ cũ. Vậy chú biết gì thì cứ khai cho chúng tôi biết nhá. Đừng sợ hãi gì cả . Đảng và nhà nước ta bao giờ cũng nhân đạo và khoan hồng cho tất cả những người biết thật lòng hối cải. Thế anh Phú đóng lính ở đâu?
- Thưa, cháu nó ở Long Khánh. Chú Hai e ngại trả lời.
Anh ta mở cái túi vải xách theo, lấy ra một cuốn sổ tay, một cây bút nguyên tử vừa ghi chép, vừa chậm rãi :
- Thế à? Long Khánh thì gay lắm đấỵ Cấp bậc gì? Trung úy phải không?
- Thưa, không, cháu nó vừa mới lên Thiếu úỵ
- Đường lối cách mạng rất là sáng suốt, chú phải khai báo cho thành thật thì con chú mới được khoan hồng
- Dạ
Dù lo ngại cho con nhưng bản tính chú Hai rất thành thật nên chú biết gì nói nấỵ Người chính trị viên ghi chép rồi bảo chú thím rằng khi nào Phú về thì bảo Phú đến ngay Ủy Ban Nhân Dân Phường trình diện.
Trước khi ra về, Tư Đen vênh váo:
- Đồ ngụy quân ngụy quyền phản động. Phen này xem thằng Phú còn đẹp trai, học giỏi nưã không.
*********
Bị thương ở cánh tay và đùi, Phú bị loại ra khỏi vòng chiến và mất liên lạc với đơn vị gốc. May được người bạn cùng đơn vị cõng ra trạm cứu thương lưu động ngoài thị xã và để chàng lại đó. Việt cộng đánh rát quá, trạm cứu thương hình như đã đã di tản và không có người trực. Những vết thương đã xưng tấy lên. Vừa mất máu, vừa khát nước, Phú lên cơn sốt và ở trong trạng thái nửa mê, nửa tỉnh. Những khi tỉnh, Phú thấy dân chúng chạy qua chỗ Phú nằm. Ai cũng hốt hoảng lo sợ nên không ai có thì giờ hỏi han hay giúp đỡ gì được Phú. Có một vài người dừng lại nhìn Phú một giây, ngập ngừng, ái ngại, lắc đầu rồi vội vã bỏ đi. Chàng đành nằm chờ sự rủi may của định mệnh.
Mặt trời ngả về Tây. Nắng bớt gay gắt và người ta vẫn ùn ùn kéo nhau xuôi ngược. Một chiếc xe lam chở gia đình chạy chậm trước lều. Nhìn vào, thấy Phú quần áo bê bết máu, người tài xế ngần ngại một chút rồi ngừng hẳn xe lại. Ông xuống xe, gọi đứa con trai phụ ông khiêng Phú đặt vào lòng xe với hai đứa con nhỏ và người vợ. Người vợ nhìn Phú ái ngại, bà lấy trong túi vải một một bộ quần áo của chồng đưa cho Phú:
- Thiếu Úy thay bộ đồ này đi chứ lúc này ăn mặc thế tôi nghĩ rằng không có lợi. Nếu có ai chặn xe lại hỏi thì Thiếu úy nói là em nhà tôi chứ đừng nhận mình là sĩ quan nhé. Tên nhà tôi là Hùng. Còn tôi gọi chú là chú Năm. Nhớ nhé. Mạnh này, con phụ ông ấy với.
Người con trai hồi nãy khiêng Phú lên xe lặng lẽ giúp Phú thay quần áo.
Dù gượng nhẹ đến mấy Phú cũng lịm ngất người đi bởi những cử động va chạm đến vết thương. Người vợ móc trong túi quần Phú lấy cái ví đựng giấy tờ ra đưa cho chàng rồi vung tay ném bộ quân phục dính đầy máu ra ngoài xe mà chẳng chờ đợi ý kiến gì của Phú. Trong trạng thái mê mê, tỉnh tỉnh, chàng không hiểu đó là thực hay mơ. Thấy môi Phú khô và mặt Phú đỏ bừng vì sốt. Bà mẹ bảo đứa con trai lấy bình nước ra và bà cho Phú uống từng muỗng nhỏ. Nước sóng sánh tràn ướt cổ Phú khi xe lắc mạnh. Được miếng nước, Phú thấy dễ chịu, cố nhướng mắt nhìn người đàn bà và nói lơì cảm ơn. Nhưng môi chàng mấp máy không ra tiếng và mắt thì chỉ thấy những hình tròn lố nhố, lắc lư và chàng lại thiếp đi. Người đàn bà nhìn Phú khẽ lắc đầu trong khi những đứa con nhỏ của bà nhìn Phú vừa sợ hãi, vừa tội nghiệp.
Chiếc xe lam vẫn đi rất chậm. Thỉnh thoảng lại phải ngừng hẳn lại nhường chỗ cho xe nhà binh, nhường chỗ cho đoàn người đi bộ đôi khi, tràn cả ra ngoài đường cái. Cứ thế, chiếc xe lam len lỏi bên đám người chạy loạn. Có một lúc tỉnh lại, Phú nghe tiếng đạn rít chung quanh. Tiếng đại bác vang lên ầm ã. Tiếng trẻ con khóc, tiếng người gọi nhau hoà lẫn tiếng động cơ của đủ loại xe tạo thành một thứ âm thanh kinh hoàng, hỗn loạn. Phú cũng mơ hồ nhìn thấy mấy đứa con nhỏ của người chủ xe lam lấy tay bưng mặt không dám nhìn những xác chết nằm co quắp ở dọc đường.
Xe đi đến Hố Nai thì bánh xe bị bể. Phú nghe người chồng nói với vợ là không thể đi tiếp được. Họ bàn với nhau là ghé vào tạm trú nhà người bà con gần đó rồi mai sáng tính sau. Người vợ và đứa con trai lớn xuống đẩy xe phụ với người chồng. Đi được một quãng không xa lắm thì người chồng bảo không đi được nữa vì phía trước có một đám người chận đường. Họ đốt phá, đánh đập cướp bóc....chẳng ai biết họ là ai. Và lúc này thì cũng chẳng ai còn có đủ thì giờ để tìm hiểu họ là ai. Hai vợ chồng người chủ xe nhìn nhau lo lắng, sau đó, người chồng quyết định:
- Bỏ xe lại. Mỗi người cầm theo một gói quần áo mà đi. Mình dắt hai đứa nhỏ. Mạnh, phụ với ba, dìu Thiếu úỵ
Người vợ đứng tần ngần nhìn chiếc xe đoạn bước theo chồng, kín đáo chùi nước mắt. Người chồng đi chậm lại nói bên tai vợ :
- Thôi, mình đừng khóc. Mình khóc làm tôi rối ruột thêm thôi. Còn người, còn của. Mình ăn ở hiền lành, Trời sẽ giúp mình!
Trời tối đen. Đường đất gồ ghề. Thỉnh thoảng, người chồng và Phú phải chựng lại vì Phú. Chân Phú bây giờ xưng to, không cử động được và anh lại đang lên cơn sốt.
Nhờ bỏ quốc lộ chính để đi vào những con đường đất từ xóm này luồn đến xóm khác nên họ tránh được sự chận xét. Đi độ hơn nửa giờ thì họ đến được nhà người quen. Vùng này là nơi lập nghiệp của người Bắc di cư. Đã biết cộng sản là gì nên trong trường hợp như thế này họ rất đoàn kết và gan dạ. Hơn nữa, súng đạn chưa thực sự xâm lấn nơi họ ở nên nhiều gia đình chưa chạỵ Phú được giúp đỡ tận tình. Chủ nhà, ông bà Bùng là người rất nhân hậu, mời y tá trong vùng đến chích thuốc và săn sóc Phú mỗi ngàỵ Hơn một tuần sau, lệnh đầu hàng loan ra từ máy thâu thanh làm Phú chết điếng trong lòng. Phú tỏ ý muốn về Saigon nhưng vì vết thương chưa được lành lặn lắm, vả lại, tình thế còn rất hoang mang, ai cũng lo sợ cho thân thế Phú nên ông bà Bùng nhất định giữ chàng lại chờ thêm ít ngày xem có gì thay đổi. Nể ơn cứu tử, Phú đành ở lại thêm một tuần mặc dầu lòng chàng như lưả đốt vì lo lắng cho cha mẹ và các em. Bảy ngày sau, dù vẫn còn rất lộn xộn, nhưng để chiều ý Phú, ông Bùng và em họ ông, chú Hùng, người chủ chiếc xe Lam, đưa chàng đến một chiếc xe đò của người quen gởi chàng về Saigon. Ông Bùng không quên dúi vào túi áo Phú năm trăm đồng để phòng khi cần đến.
Phú cảm động trước lòng tốt và ơn sâu của hai gia đình. Trong hoàn cảnh này, chàng chỉ còn biết nói lời cảm ơn và mong có ngày gặp lại.
Phú về nhà được đúng bốn ngày thì thím Hai chuyển bụng. Mặc dầu chưa được tám tháng nhưng thím biết là mình bị xúc động dồn dập qúa nhiều nên sanh sớm. Thím bảo Phú ở nhà với Chi rồi thím cùng đi với Đức đến viện bảo sanh. Chỉ có gần hai tuần trong chế độ mới mà viện bảo sanh Từ Dũ đã thay đổi hẳn. Bệnh viện chật ních, sản phụ nằm la liệt trên nền gạch để chờ sanh. Chỉ còn một số ít bác sĩ và y tá cũ làm việc, họ bận rộn đến nỗi không có giờ ăn giờ nghỉ. Nét mặt ai cũng hiện vẻ lo lắng ưu tư. Vì sanh sớm, thím Hai yếu sức, lại sót nhau nên thím bị làm băng. Đức vội về nhà báo tin cho chú Hai hay. Chú Hai để xe phở cho Đức và vội vàng đi thăm vợ. Đến nơi, người y tá đưa cho chú một đứa bé gái nhỏ xíu quấn trong tấm khăn lông trắng nói:
- Chia buồn với ông, bà nhà làm băng, mất máu nhiều qúa nên đã đi rồi. Bà đi lúc bốn giờ hai mươi, cách đây nữa tiếng, chúng tôi vừa mới đưa bà đến nhà xác!
Rồi người y tá nói với người đàn ông đang lau sàn nhà gần đó:
- Bác Bảy ơi, đưa ông Nguyễn Văn Lành đi nhận xác vợ.
Chú Hai không biết rằng mình mơ hay tỉnh. Cái chết của thím Hai đến bất ngờ qúa sức tưởng tượng của chú. Chú Hai ôm lấy đứa con thẫn thờ đi theo người lao công. Đươ.c vài bước, như chợt nhớ ra điều gì, chú quay lại hỏi người y tá một câu hỏi hơi ngờ nghệch:
- Cô ơi, thế sao cô không tiếp máu cho vợ. Tôi ?
Người y tá buồn rầu:
- Chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng vì ngân hàng máu của bệnh viện đã được Cách mạng đem đi để phục vụ cho cán bộ nên chúng tôi không thể làm gì hơn được !
Vừa đi theo người lao công, chú Hai vừa nói như người mơ ngủ:
- Cách mạng lấy máu đem đi.... không thể làm gì hơn được...
Trong nhà xác, chú thấy có đến chục xác chết người lớn và trẻ con. Những xác người lớn này toàn là sản phụ kém may mắn như vợ chú. Người lao công đến bên một xác chết, lật khăn phủ mặt ra, đọc tên người qúa cố rồi lại đậy lại. Đến cái xác thứ tư, sau khi kiểm lại tên, ông ta nói với chú trước khi hấp tấp bỏ đi:
- Bà ấy đây!
Chú Hai, một tay ôm con, một tay vuốt mắt vợ. Chú nhìn vợ, nhìn con. Vợ chú mặt tái xanh, mắt nhắm nằm thiêm thiếp như đang say ngủ. Chú vẫn không tin là vợ chú chết cho đến khi con chú, đứa bé gái vừa lọt lòng mẹ đã mồ côi, khẽ cựa quậy trên tay, chú mới bật khóc. Lòng chú xót xa thương vợ. Chú nhớ như in nét mặt xinh đẹp hiền lành của thím Hai trong ngày đám cưới. Trong phút chốc, kỷ niệm của những ngày đầm ấm sống bên nhau hơn hai mươi năm ồ ạt như một trận cuồng phong nhận chìm lấy chú. Chú lại nghĩ đến những biến cố kinh hoàng của ngày 30/4, đến lời nói của người y tá... băng huyết... mất máu nhiều quá... ngân hàng máu của bệnh viện đã được bác sĩ giải phóng chuyển đi... không có máu tiếp cho bà nhà... qua đời... nhà xác...
Chú thấy tội nghiệp người vợ hiền lành của chú. Một đời tận tụy cho chồng con. Chao ơi, giải phóng là thế này sao? Con chú, Phú, đã bị thương vì giải phóng và nhờ may mắn được cứu thoát. Giải phóng chưa được bao lâu mà vợ chú đã chết vì không có máu để tiếp... chú chợt thấy sợ hãi. Rồi đây giải phóng còn đem lại những tai họa gì đến cho gia đình chú??? Nếu không có biến cố của ngày 30/4 thì vợ chú chắc gì đã chết và con chú chắc gì đã sanh thiếu tháng ... Nếu bác sĩ giải phóng không lấy máu đem đi cho bộ đội dùng thì vợ chú sẽ được tiếp máu đầy đủ...
Chú miên man từ ý nghĩ nay đến ý nghĩ khác, người lao công lại đi vào và nói một vài lời gì đó mà chú không nghe rõ. Sau đó, ông bước lại, đặt một bàn tay lên vai chú:
- Bác ạ, tôi biết bác đau khổ lắm, nhưng đau khổ thì cũng không lấy lại được gì. Thôi, bác về lo chôn cất cho bác gái được mồ yên mả đẹp là hơn!
Đến lúc đó, chú Hai như bừng tỉnh. Một tay ôm con, một tay lau nước mắt, chú nhìn mặt vợ lần cuối rồi thất thểu bước đi.
Sau khi chôn cất cho thím Hai được it lâu thì Phú được gọi đi học tập cải tạo. Từ ngày giải phóng, gia đình chú Hai trở thành gia đình Ngụy, vì chú có con đi lính cho Mỹ Ngụy, phản nhân dân, phản cách mạng. Hàng xóm láng giềng xưa vẫn thương qúy gia đình chú nay vó vẻ e dè khi phải tiếp xúc với chú. Phần xót xa thương tiếc vợ, phần lo lắng và thương Phú đi đã sáu, bảy tháng mà không có tin tức gì về. Trước khi đi, Cách mạng bảo chỉ mang đủ tiền ăn và quần áo cho mười ngày. Thế mà bây giờ đã sáu bẩy tháng trôi qua. Phần thì bị công an phường, khóm, nhòm ngó, nay bắt đi họp tổ, mai bắt đi họp phường, đi thủy lợi. Chú còn bị khuyến khích ghi tên xung phong đi kinh tế mới làm chú Hai lo lắng sợ hãi ốm hẳn đi. Con gái chú, Chi, mới gần chín tuổi mà đã phải làm nhiều công việc xưa kia thím Hai làm. Nào quét dọn nhà cửa, phụ Đức nấu cơm, rửa chén bát và săn sóc cho bé Mai. Vì sanh thiếu tháng, bé Mai bú sữa bò không chịu nên Chi cứ phải ôm em đi khắp xóm xin bú thép. Nhờ trời, bé Mai dễ nuôi, lớn trông thấy và mũm mĩm xinh đẹp. Đức, ngoài việc phụ với Chi còn phải phụ với cha trông nom xe phở để kiếm sống vì lúc này chú Hai cứ đau yếu luôn, do đó, khi nhà trường bắt đầu mở lại, Đức không thể tiếp tục học vì hoàn cảnh gia đình. Chú Hai tuy không được học hành bao nhiêu nhưng chú luôn luôn trọng sự học. Chú thường bảo con là có học mới ngoi lên được. Thế mà bây giờ, chú phải đành rơi lệ nhìn con mình thất học.
Khách hàng của chú nay có cả khách cách mạng và công an. Bộ đội chính quy thì lại không bao giờ ăn phở của chú vì họ phải vào những nhà hàng có ghế ngồi, có máy lạnh hay ít nhất cũng phải có quạt máy để bù đắp lại những ngày khổ cực đánh Mỹ cứu nước và những ngày lặn lội gian lao ở rừng Trường sơn hoặc đường mòn Hồ chí Minh. Vi` thế, những người cách mạng chiếu cố xe phở của chú đều là cách mạng Ba mươi và công an khu vực. Thành phần này trước ngày Ba mươi họ cũng là dân sống ở miền Nam như chú. Nhưng họ làm đủ mọi nghề, kể cả “nghề” trốn lính, trộm cướp hoặc không làm gì cả mà vẫn được đàn em cung cấp đủ mọi nhu cầu. Nay phải phóng đến, họ thức thời và nghiễm nhiên trở thành những người có công trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và được người dân gọi họ là Cách Mạng Ba Mươi. Những người khách cách mạng ba mươi này mà kéo nhau đến chiếu cố phở của chú thì chủ phải vui vẻ tính giá ủng hộ cách mạng. Nhất là công an khu vực của chú đến ăn thì chú lại không dám tính tiền vì gia đình chú là gia đình ngụy. Lại nữa, buôn bán như chú là phi lao động, là tư sản mại bản, là thành phần mà cách mạng cho là hút máu nhân dân. Vì vậy, công an khu vực để cho chú đem xe phở ra đây bán là may mắn lắm rồi nên chú phải biết ơn đối với cách mạng và sống cho ... đúng với tinh thần cách mạng !
Nhờ có Đức phụ và nhờ tài nấu phở ngon nên hàng chú bán vẫn chạy. Có điều vật giá leo thang, bán xong xe phở tiền lời chỉ còn bằng một phần ba lúc trước, thêm vào đó, cứ bốn, năm tháng là chú lại được giấy báo đi thăm Phú. Dù khó khăn đến đâu chú Hai cũng chắt chiu góp nhặt để mua cho Phú ít đồ ăn và chút vật dụng cá nhân cần thiết. Mỗi lần đi thăm con, chú Hai phải thức dậy từ hai ba giờ sáng mới mua được vé ở bến xe đò. Thăm nuôi xong, phải đến tám, chín giờ tối chú Hai mới về được đến nhà. Nhưng chưa bao giờ chú bỏ một chuyến thăm nuôi nào cả.
Vì thấy gia đình chú Hai là một gia đình ... hiền lành nên trong một cuộc họp phường, Đức "được chọn" đi thanh niên xung phong. Cán bộ bảo rằng dù gia đình chú Hai là gia đình Ngụy nhưng nhờ chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng và Nhà nước đã cho gia đình chú có cơ hội lấy công chuộc tội. Thế là một tuần sau, Đức hấp tấp từ giã cha và em để lên đường. Đức đi, chú Hai như mất một cánh tay. Vất vả thì chú chịu được, nhưng đau khổ dồn dập vì thương vợ nhớ con thì chú chỉ còn biết khóc. Nhưng lại chỉ dám khóc thầm. Có một lần chú vừa bán phở, vừa rơm rớm nước mắt nói với bạn hàng là chú thương nhớ con, thế là sáng hôm sau chú được công an khu vực gọi lên phường làm tờ tự kiểm vê tội chưa quán triệt đường lối khoan hồng nhân đạo của Đảng và nhà nước.
Chỉ trong một thời gian ngắn mà bao nhiêu biến chuyển quan trọng đã xảy đến cho gia đình chú nên chú Hai hao gầy đi thấy rõ. Cả gia đình trông vào xe phở nhưng chú Hai thỉnh thoảng phải nghỉ bán có khi đến vài ngày. Ngoài việc tiếp tế cho Phú nay chú Hai còn phải tiếp tế thêm đồ ăn và thuốc men cho Đức. Trong một hoàn cảnh gia đình như thế, Chi lớn lên không có tuổi dậy thì. Cô hoàn toàn nghỉ học từ khi Đức ra đi dù cô chưa học xong lớp bảy. Để phụ thêm với cha, cô phải ra chợ mua bắp, ổi, cóc mang đến cổng trường học để bán kiếm lời. Bé Mai cũng theo ngồi bên cạnh chị, khi thì cầm quạt quạt chậu than để nướng bắp, khi thì lấy ớt, muối cho thêm vào chiếc chén sành.
Từ ngày Đức đi thanh niên xung phong, chú Hai đỡ khổ tâm vì không bị thúc giục tình nguyện "đăng ký " đi kinh tế mới. Nhưng cũng đúng hai năm sau ngay Đức ra đi, một buổi chiều chú Hai được công an khu vực ra tận xe phở của chú, lần này không phải để ăn phở mà để chúc mừng chú đã được là ... gia đình liệt sĩ. Thoạt đầu, nghe người công an nói chúc mừng, chú tưởng đâu là có tin Đức được về thăm nhà. Nét mặt khắc khổ của chú Hai vui hẳn lên và chú lắp bắp lời cám ơn. Chú mỉm cười. Một nụ cười hiếm thấy trên môi chú từ khi vợ chú chết, từ ngày Phú và Đức ra đi. Nhưng sau khi người công an nói rõ là Đức đã tử trận tại biên giới Việt Miên, nụ cười của chú bỗng méo xệch đi, run lên rồi cóng lại. Chú không khóc nhưng đôi mắt chú mờ đi và sau đó ánh lên nét đau thương khiến người công an tự cảm thấy sự có mặt của anh ta trở thành vô duyên nên vội vã bỏ đi.
Chỉ được báo tin là Đức chết thế thôi chứ chú Hai không hề được đi nhận xác con. Khi chú ra phường hỏi thì cán bộ nói rằng nhà nước đã lo việc chôn cất Đức rồi. Chú Hai đau đớn lắm nhưng không biết làm sao hơn được. Nhờ cái chết của Đức, chú Hai không phải đóng thuế xe phở nữa và những vụ thăm viếng xe phở của công an, của cách mạng ba mươi cũng thưa thớt hẳn đi. Đỡ được chuyện này nhưng trên vai chú lại nặng thêm trăm ngàn tấn đau thương. Việc đi thăm Phú từ đó bị cắt giảm vì chú hay đau yếu và nhất là sau mấy lượt đổi tiền thì giá trị của tiền bạc cứ thì nhau đi ngược chiều với thức ăn và vật dụng.
Ngày lại ngày buồn thảm trôi qua với chú Hai. Mỗi tối đẩy xe phở về và rửa chén bát nồi soong xong, chú đến trước bàn thờ thím Hai bây giờ lại có thêm cả Đức, thắp một nén nhang rồi đứng đó thật lâu. Chi vừa soạn bữa ăn tối cho gia đình vừa nhìn cha ai ngại:
- Ba à ba, thôi ba đi nghỉ rồi lát ăn cơm. Em Mai đang chờ ba chơi với nó kìa!
Chú Hai không trả lời con, chậm chạp đi đến chỗ bé Mai. Mai nhìn cha, mỉm cười. Nhìn nụ cười rất hồn nhiên của đứa con gái út chưa tròn năm tuổi, đáng lẽ lòng người cha phải vui, nhưng không, chú Hai không vui được vì chú sợ nụ cười hồn nhiên đó chẳng bao lâu nữa sẽ mất đi vì những sự thật phũ phàng trong đời sống mà cha con chú đang phải sống.
Một buổi tối bên xe phở, ngọn đèn dầu leo lét không đủ cho chú Hai thấy rõ mặt một người thanh niên mặc bộ quần áo sờn, rách, bạc màu dừng lại bên xe phở, nhìn chú một giây, rồi tiến đến cầm tay chú, gọi với giọng đầy nước mắt:
- Ba!
Chú Hai cũng mừng rỡ như sống trong mơ:
- Con ? Phú ? Lạy Trời Phật, con tôi đã về ! Phải Phú không ? Con về thật hả Phú ?
Khi nhận chắc là Phú, chú mếu máo :
- Má và em con phù hộ cho cha con mình đó Phú ơi...
Chú hai vừa nói vừa ôm chầm lấy con, nước mắt dàn dụa trên đôi gò má gày gò, xạm nắng. Qua phút giây mừng rỡ, chú Hai nhận thấy một cái gì là lạ nơi con. Chú nhìn lại Phú thì ra Phú đang mắc chứng bịnh phù thũng, một chứng bịnh của người thiếu dinh dưỡng. Chú chợt hiểu ra đó chính là lý do mà con chú được thả về.
Từ ngày Phú về, chú Hai có vui vẻ lên chút ít nhưng nhìn Phú, chú lại xót xa thương nhớ Đức. Bịnh Phú càng ngày càng thêm nặng mặc dù chú Hai đã bán đến đôi bông tai cuối cùng của thím Hai để lo chạy chữa cho con. Người Phú cứ xưng phù lên rồi lại xẹp xuống. Mặt mũi chân tay cứ húp lại và da Phú thì xanh tái bủng beo. Phú không còn là một chàng thanh niên trẻ trung khỏe mạnh yêu đời của ngày nào nữa mà Phú bây giờ là một người bệnh hoạn, yếu đuối, thất thần và chậm chạp. Nhiều lần nhìn anh như thế, Chi đau lòng qúa không kềm nổi cơn nức nở. Phú hiểu lòng em, chàng vuốt tóc Chi cố tìm lời an ủi nhưng không biết mở đầu thế nào. Lâu lắm, Phú mới nói được dù chàng biết là chàng nói dối Chi:
- Đừng khóc, Chi. Mai mốt anh sẽ hết bịnh, anh sẽ làm việc phụ với ba và em sẽ được đi học lại.
Chi nhìn anh. Cô muốn tin như thế lắm nhưng vì sớm vào đời nên cô đã khôn hơn tuổi. Cô hiểu là Phú nói thế để an ủi cô và an ủi chính anh.
Như thường lệ, mỗi khi trời xẩm tối là Chi dọn hàng về để chuẩn bị bữa cơm tối cho gia đình. Theo chân bé Mai vào nhà, sự yên lặng, qúa sức yên lặng làm Chi có cảm giác hơi sờ sợ. Tuy Phú yếu đuối, không làm được những việc nặng nhọc nhưng chàng thường phụ em nấu nồi cơm rồi chờ Mai đem thức ăn về nấu. Chi vừa nấu ăn, vừa nói chuyện với Mai và Phú. Cô hay kể lại những mẩu chuyện vui buồn hằng ngày giữa cô và khách hàng cho Phú nghe. Mai đã học lớp Một và cũng khoe với anh chị nào là bài tập viết của bé được điểm cao, nào là tan học, bé ra phụ bán với chị Chi ngay chứ không đi chơi lang thang như trẻ khác.
Nhưng hôm nay căn nhà sao yên vắng qúa. Sự yên vắng rợn người làm cô sợ hãi. Không thấy Phú ở phòng ngoài, nơi kê bộ bàn ghế vưà làm bàn ăn, vừa làm bàn tiếp khách, Chi chạy thẳng vào trong bếp thì thấy Phú đang nằm như một con mèo ốm, co ro trên chiếc “đi văng” mà xưa mẹ cô còn sống hay ngồi lặt rau, thái thịt hoặc vá quần aó. Thấy Phú đang ngủ say, Chi mừng và bớt sợ, cô khe khẽ gọi:
- Anh Phú! Anh Phú! Anh ngủ hả. Về không thấy anh, em hết hồn!
Không nghe anh trả lời, cô vừa lấy đồ ăn trong cái giỏ ra, vừa cao giọng:
- Anh Phú!...Anh Phú!
Phú ngủ say qúa, Chi nghĩ là Phú mệt, định để yên cho anh ngủ thêm chút nữa nhưng không hiểu sao, cô bước đến cầm nhẹ tay anh.
Một cảm giác lạnh toát truyền sang tay cô khiến cô rùng mình. Cô cúi xuống nhìn vào mặt Phú và chợt hiểu những gì mình sợ hãi nay đã xảy ra. Chi cảm thấy mình yếu hẳn đi, hai chân cô không đứng vững, mắt cô hoa lên, đầu cô nặng chĩu và cô khụy xuống bên cạnh chiếc đi văng. Bé Mai chưa hiểu rõ chuyện gì, hốt hoảng chạy đến đỡ chị xuýt xoa:
- Chị Chi...chị té hả ? Đau không? Ừa, tay chị trầy rồi kià, để em kiếm thuốc xức nghen!
Bé Mai chạy vụt đi. Trong cơn đau đớn tột cùng, Chi như quên cả Mai và như trong cơn mơ, cô ngồi rũ xuống nền bếp, hai tay cô ôm lấy cánh tay Phú vừa lay, vừa khóc:
- Má ơi má.... Má về mà xem nhà mình nè....Anh Đức chết không được nhìn thấy xác.... Nay anh Phú chết như vầy này má ơi... Làm sao mà ba chịu nổi? Làm sao mà con chịu nổi... Má ơi là má.... Anh Phú ơi là anh Phú.....
Bé Mai tay cầm chai dầu Nhị Thiên Đường chạy đến bên Chi. Cô bé hoảng sợ thấy chị Chi khóc ngất. Càng hoảng sợ hơn nữa khi thấy anh Phú vẫn nằm im. Rồi bé nghe chị Chi vừa khóc vừa kể là anh Đức chết, anh Phú chết. Bé mở mắt thật lớn nhìn anh Phú. À, thì ra chết là như thế này sao? Chết là nằm im không dậy được nữa dù ai gọi cũng không dậy được....Đã nhiều lần chị Chi kể cho bé nghe má chết khi sanh bé. Chắc ngày xưa má cũng chết như anh Phú thế này... Má cũng nằm im không dậy được như anh Phú bây giờ.... Má không nghe ba gọi, má cũng không nghe chị Chi gọi má.... Đúng rồi, má không nghe được thì làm sao mà má dậy được!
Bé chợt hiểu chết là không dậy được và người ta chôn người chết xuống đất. Không bao giờ còn gặp được như bé không bao giờ biết và gặp má. Bé oà lên khóc. Chỉ trong ít phút, bé thấy mình lớn hẳn và biết được thật nhiều về sự chết. Bé cảm thấy đau khổ và mất mát. Người ta sẽ chôn anh Phú và nhà vắng anh sẽ buồn. Nhất là bé, vì sẽ không còn ai ngồi kiên nhẫn nghe bé kể chuyện về Bác Hồ, vị cha già kính yêu của dân tộc, về cuộc chiến thắng Mỹ ngụy của Đảng và nhà nước ta anh hùng, về ba dòng thác cách mạng... và nhất là bé sắp được là cháu ngoan Bác Hồ, sắp được quàng khăn quàng đỏ như con Kim, như thằng Tấn.
Đành rằng chị Chi cũng thích nghe bé kể chuyện nhưng chỉ là những chuyện bạn và cô giáo thôi. Còn chuyện về Bác Hồ, về khăn quàng đỏ, về đảng ta anh hùng thì có lần chị hét lên bảo bé im mà bé chẳng hiểu vì sao...
Bé khóc nức nở và cảm thấy hoang mang đau đớn. Tại sao lại thế này ? Tại sao anh Phú chết? Tại sao anh Đức đang ở nhà lại đi xung phong? Khi anh Đức chết, có ai lay gọi anh như chị Chi gọi anh Phú không? Bé quay cuồng với bao nhiêu câu hỏi không giải đáp. Tiếng chị Chi khóc kể và gọi má càng lúc càng thêm thảm thiết và làm bé hoang mang đau đớn hơn. Bé không chịu được tiếng khóc của chị Chi nữa, bé lách mình qua đám người hàng xóm đang đông dần trong nhà bé và bé chạy băng ra đầu hẻm. Càng chạy, tiếng khóc của chị Chi càng đuổi theo. Bé vội đưa hai tay lên bịt tai lại và tiếp tục chạy. Bé chạy thật nhanh. Bé chạy vụt ra đường.
Một chiếc xe Honda chở hai người bộ đội đang chạy như bay tông vào bé. Người bé tung lên cao rồi rơi xuống như một trái cây chín rục tạo thành một tiếng động khô khan. Bé nằm im trên mặt lộ, máu từ miệng bé trào ra. Chiếc xe Honda mất thăng bằng, chao nghiêng đi và người bộ đội lái xe vội thắng lại. Sau khi cúi xuống xem xét chiếc xe và thấy không hề hấn gì, anh ta giận dữ quay nhìn bé nằm bất động:
- Cái con đĩ con kia, đi với đứng hay nhỉ. Mày có mù không? Xe ông mới mua mà mày dám đâm ngay vào. May mà xe ngoại ló cứng chứ không thì mày có mà chết với ông. Còn nằm đó ăn vạ hả? Tụi ngụy chúng bay ghê thật, vừa lứt mắt ra mà đã có tinh thần phản động !...
Người bộ đội ngồi phía sau can:
- Thôi, bớt lóng đi đồng chí. Xe đồng chí không sao thì mình khẩn trương kẻo trễ. Không khéo đồng chí thủ trưởng nại không bằng nòng!
Hai người bộ đội thản nhiên rồ máy lái xe đi trước những đôi mắt ngơ ngác của số người chứng kiến. Sự việc xảy ra quá sức nhanh chóng và hết sức bất ngờ, lại liên quan đến bộ đội nên không ai dám có phản ứng gì. Trong khi đó, ở đầu hẻm bên kia đường, chú Hai vô tình âm thầm đẩy xe phở đi vào xóm. Trên xe phở hôm nay có một cuốn vở mới cho bé Mai và một gói thuốc phù thủng mà chú Hai vừa mua cho Phú.
Ngo^ Minh Ha(`ng
Không ai biết chú Hai tên thật là gì và cũng không ai nhớ là gia đình chú Hai đến đây lập nghiệp từ lúc nào, người ta chỉ biết rằng xe phở của chú được đặt dưới gốc cây me già, trên con lộ đi đến ga xe lửa Hòa Hưng từ lâu lắm; lâu đến nỗi nếu có ngày nào chú Hai vắng mặt, thì mọi người quanh đấy đều nhận biết là ở gốc cây me thiếu vắng xe phở của chú Hai.
Phở chú Hai nấu rất ngon, giá lại tương đối rẻ nên chú có rất nhiều khách. Khách của chú thì đủ mọi thành phần trong giới bình dân. Từ các bạn hàng lên xuống ga xe lửa, bạn hàng buôn bán ở chợ Nhỏ, một cái chợ do dân địa phương họp lại chỉ cách nhà ga vài trăm thước, đến các bác xe xích lô, xe ba bánh, đôi khi, có cả các cô cậu học sinh nếu hôm nào may mắn trong túi có rủng rỉnh chút tiền còm. Xe phở của chú Hai luôn bán hết trước bạn hàng và thường dọn về sớm hơn gánh chè đậu của chị Năm, mâm hột vịt lộn của cô Bé Sáu và nồi cháo vịt của bà Mười.
Chính chú Hai cũng không nhớ rõ vì sao chú có nghề nấu phở. Chú chỉ nhớ rằng chín năm trong lính, chú làm chức trưởng ban hỏa đầu vụ và chưa hề ra trận. Nhưng không phải vì thế mà chú không thăng quan tiến chức. Chú vẫn cho rằng chú có cung quan lộc tốt nên từ binh bét, chú trở thành Thày Đội. Có người còn gọi chú là Thày Đội Bếp vì chú giữ chân nấu ăn trong đơn vị. Tuy chỉ là Thày Đội Bếp nhưng chú đã qua mặt đàn anh mà cưới được thím Hai, một cô thôn nữ xinh đẹp đảm đang nhất làng và là con gái của ông Hương ở Cù Lao Phố, Biên Hòa.
Đối với chú Hai, chín năm lính đó là quãng thời gian đáng ghi nhớ và là một sự nghiệp đáng kể trong đời, do đó những lúc nhàn rỗi chú thường kể lại cho vợ con hoặc người quen nghe một cách vô cùng thích thú.
Sau ngày trận Điện Biên kết thúc, hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Nhiều ngàn người di cư vào Nam tìm tự do. Chú Hai giải ngũ và đem vợ con lưu lạc từ chợ Đồn lên Thủ Đức, Saigon và cuối cùng chọn Cống Bà Xếp làm nơi cư ngụ. Trong khoảng thời gian đó, nghề nấu phở của chú ra đời.
Mới đầu, xe phở của chú là một gánh phở. Một bên là thùng nước lèo lúc nào cũng được giữ nóng bằng những cục than đá, còn một bên là cái khung gỗ hình chữ nhựt dựng đứng trên bốn chân, được chia ra làm ba ngăn. Ngăn trên cùng là một rổ bánh phở trắng tươi, được phủ bằng một miếng vải trắng mỏng sạch sẽ để ngừa bụi, bên cạnh những sợi bánh phở mềm mại là cái rổ nhỏ đựng đầy chanh ớt hành ngò và rau thơm. Ngăn thứ nhì đựng tô, chén. Những chiếc tô được úp thứ tự gọn gàng bên nhau. Ngăn thứ ba và cũng là ngăn cuối cùng là một chiếc thau nhôm chứa nước để rửa chén. Một chiếc khăn lau chén trắng ngã màu ngà được chú Hai vắt ngang một đầu đòn gánh.
Cứ độ hai giờ chiều là chú Hai bắt đầu gánh gánh phở của chú đến nhà ga. Chú đặt gánh xuống dưới gốc cây me, lấy thêm vài cục than đá cho vào lò rồi đến tiệm giặt ủi kế bên lấy vài cái ghế xếp và một chiếc bàn con mà chú gởi ở đó mỗi ngày ra kê gọn gàng ngay dưới gốc me chờ khách. Chú vừa làm những công việc này vừa vui vẻ chào hỏi bạn hàng.
Rồi từ gánh phở, khấm khá chú mua lại được cái xe phở cũ. Từ ngày có xe phở, chú Hai nhàn hơn một chút, vì sau khi nấu nướng chuẩn bị xong, chú chỉ phải nhẹ nhàng đẩy xe ra chỗ bán chứ không còn phải gánh nặng như xưa.
Nhờ xe phở và sự tằn tiện vén khéo của thím Hai, gia đình chú có một cuộc sống tương đối dễ chịu.
Ba người con của chú, Phú, lớn nhất, mười tám tuổi. Phú vừa đậu xong toàn phần Tú Tài và đang định nộp đơn vào đại học. Kế là Đức, thua anh tới 8, tuổi, đang học lớp nhứt và sau chót là Chi, ba tuổi. Gia đình chú Hai sống rất hạnh phúc. Chú là người chồng, người cha tốt. Thím là người vợ đảm, mẹ hiền. Hằng ngày thím chăm sóc gia đình con cái chu đáo và phụ với chú lo cho gánh phở thêm phần tươm tất. Con cái chú rất chăm ngoan, hiếu thảo và lễ độ. Chưa ai nghe thấy vợ chồng chú to tiếng bao giờ, vì thế, hàng xóm láng giềng ai cũng mến gia đình chú và có người còn lấy gia đình chú ra làm hình ảnh dạy bảo con cái họ.
Chiến tranh từ từ lan rộng. Từ những trận đánh du kích lẻ tẻ ở các vùng hẻo lánh, Việt cộng tăng địa bàn hoạt động lên cấp tấn công vào các đồn bót, đắp mô, phá cầu, đặt mìn ám sát, pháo kích và khủng bố ở các tỉnh, các thành phố và mục tiêu chót vẫn là Sài Gòn. Phú cảm thấy mình không thể ngồi yên trên ghế nhà trường để nhìn mảnh đất thân yêu đang bị cày nát bằng bom đạn ngoại bang và những cái chết thương đau của đồng loại như một người ngoại cuộc. Ngần ngại mãi, một hôm sau bữa cơm chiều, Phú nhìn cha mẹ nói thật vội vàng:
- Ba má à, con muốn xin phép a má cho con được nghỉ học.
Chú Hai nhìn Phú ngạc nhiên:
- Tại sao ?
- Con muốn đăng lính
- Đăng lính? - Thím Hai thảng thốt hỏi
- Dạ , con muốn được góp sức mình trong việc bảo vệ quê hương. Ba má thấy đó, lúc này ở đâu cũng lộn xộn. Con không thể ngồi yên học hành được. Xin ba má cho phép con....
Thím Hai không muốn con đi, thút thít khóc can ngăn nhưng chú Hai sau một lúc im lặng thì đồng ý. Chú chợt nhìn thấy hình ảnh mình những ngày còn trẻ qua con chú. Ừ, Con chú thì phải giống chú chứ. Chú đã chẳng từng hãnh diện về những năm trong quân ngũ của chú là gì...
Sau thời gian quân trường thao luyện, Phú trông khác hẳn đi. Da chàng đen và người chàng vạm vỡ khoẻ mạnh. Chàng về thăm nhà với cấp bậc Chuẩn úy làm chú thím Hai cảm thấy hãnh diện vô cùng. Chi thấy anh Phú lạ hẳn đi, cô thích lấy tay sờ vào bộ quân phục ủi thẳng nếp, cái alpha trên cầu vai và đôi giày bóng loáng của anh. Phú lấy chiếc mũ của mình đội lên đầu Chi làm cô bé cười thích thú. Đức cũng quấn quít bên anh. Trong mười ngày về phép của chàng, Lan, cô hàng xóm xinh xắn tuổi vừa tròn trăng thích đến chơi với Chi hơn và lại hay đem bài vở sang nhờ Phú chỉ giùm. Sau những ngày phép vui vẻ Phú đi trình diện ở một đơn vị tác chiến vùng Long Khánh.
Khi Chi được sáu tuổi thì thím Hai mang thai đứa con thứ tư. Chiến tranh ngày càng sôi động và sôi động mãnh liệt. Chú Hai vừa nấu phở vừa ngồi cạnh chiếc radio với nét mặt ưu tư. Thím Hai ngồi lặt mớ rau thơm, thỉnh thoảng lại nhìn chồng. Từ ngày Phú đi lính, thím Hai mới để ý đến tin chiến sư, mặc dầu thím chẳng hiểu gì nhiều. Thím thường hỏi chồng và chú Hai thường kể lại cho vợ nghe về tin tức của các trận đánh mà chú đã nghe được từ chiếc máy thâu thanh. Nhưng chú Hai không muốn vợ qúa lo lắng, nhất là lúc thím thai nghén nên đôi khi chú chỉ trả lời sơ qua và luôn tìm cách trấn an:
- Má thằng Phú đừng lo lắng qúa. Gia đình mình ăn hiền, ở lành. Thằng Phú có Ông Bà phò hộ. Không sao đâu!
Mỗi lần được nghe chồng nói thế, lòng thím được nhẹ đi. Thím lại nhìn chồng lần nữa như để thêm tin tưởng vào câu nói ” Không sao đâu!” của chú.
Tình hình càng ngày càng căng thẳng. Những trận đánh xáp lá cà diễn ra nhiều nơi trên lãnh thổ. Rồi những lớp người di tản từ miền Trung vào, từ Hậu Giang lên, từ Cao nguyên xuống và từ Tây Ninh về làm chú thím Hai càng thêm bối rối. Những tiếng súng đại bác vọng về làm rung chuyển thành phố, những đoàn xe nhà binh chạy rầm rầm vội vã khắp nơi nhất là trên đường Lê Văn Duyệt, trục lộ chính nối liền Saigon Tây Ninh làm nỗi lo lắng của chú thím Hai càng tăng. Đã sáu bảy tuần liền, chú thím Hai không nhận được tin tức gì của Phú. Cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Long Khánh càng làm những nếp nhăn hiện rõ hơn trên mặt chú Hai. Chú trở nên trầm lặng còn thím Hai thì cảm thấy tim mình nhói đau mỗi khi nghe tiếng đại bác vọng về. Vào khoảng giữa tháng Tư, một người bạn trong đơn vị Phú ghé qua cho chú thím Hai biết tin là trong trận đánh ở Long Khánh, Phú được ghi là mất tích. Được tin, trời đất như tối sầm lại và thím Hai té xuống mép giường. Những ngày sau đó thím Hai chỉ còn biết khóc. Chú Hai thì hết ngồi cạnh chiếc radio lại ngóng nhìn ra đầu xóm và càng thêm trầm lặng. Đôi lúc, thím Hai muốn tìm nơi chồng một lời an ủi nhưng thím biết rõ là chú Hai cũng đau khổ không thua gì thím nên thím không dám làm chú bối rối thêm. Chú Hai ăn không ngon, ngủ không yên nhưng chú vẫn phải tỏ ra bình tĩnh trước mặt thím Hai và luôn nhắc nhở thím giữ gìn sức khoẻ cho bào thai vì càng ngày, thím Hai càng xanh xao, yếu đuối.
Những phần đất quanh Saigon thu hẹp lại một cách vội vàng. Trong khi những chiếc máy bay chở các ông bà lớn và gia đình họ di tản, những chiếc trực thăng bốc lính Mỹ từ các cao ốc trong thành phố để chở ra những hạm đội chờ sẵn ngoài khơi, những người dân khốn khổ chen lấn lên nhau ở bến Bạch Đằng để tìm một chỗ đứng trên chiếc tàu của Hải Quân thì gia đình chú Hai chỉ còn biết nhìn nhau tuyệt vọng. Trưa ngày 30/4 khi lệnh buông súng đầu hàng của Dương Văn Minh từ máy phát thanh vang lên thì chú Hai bật khóc. Hôm đó, dù nồi phở đã nấu xong nhưng chú không đi bán mà gọi hàng xóm tới lấy ăn. Phần bị chấn động mạnh bởi sự đầu hàng của phe Quốc gia và những biến động chung quanh, phần lo cho Phú.
Ngồi trong nhà sốt ruột, chú Hai chạy ra đường thì thấy những cảnh chết chóc kinh hoàng rải rác khắp nơi. Tiếng súng đại bác đã im nhưng những tiếng súng nhỏ thỉnh thoảng vẫn còn. Ngược xuôi, những người dân gương mặt đau buồn thiểu não. Cả ngàn người qua lại nhưng hiếm hoi thấy trên mặt ai có được nụ cười. Ngay cả những con người mệnh danh là giải phóng, nét mặt họ không buồn thảm nhưng cũng không thể bảo là vui. Vẻ mặt họ ngờ nghệch và nhiều người theo chú, còn rất trẻ. Đi xa hơn về phía ngã sáu, chú thấy vài xe nhà binh của chế độ cũ do các cán binh cộng sản lái, chở những xác chết nằm chồng lên nhau từ Quân Vụ Thị Trấn đi ra. Họ còn mặc nguyên quân phục Chiến Sĩ Cộng Hoà nhưng không đi giàỵ Vớ cũng bị lột để lộ những bàn chân trần xanh xao. Chú hết sức đau lòng vì biết đó là những thi thể của những người lính đã chiến đấu đến giờ phút chót. Họ đã thể hiện tinh thần Tổ Quốc và Trách Nhiệm. Họ đã không thể chấp nhận được sự đầu hàng nhục nhã nên đã chọn cái chết âm thầm dầu không tên không tuổi. Chú Hai lại nghĩ đến Phú. Tuy thán phục những anh hùng vị quốc vong thân nhưng chú cầu xin Phú đừng làm như vậy. Chú nghĩ, chết là hết, cho dù cái chết có oai hùng. Phải sống. Phải sống vì Phú còn qúa trẻ Sống để đòi lại những gì mình mất...
Khi chú về đến nhà thì thấy thím Hai đang khóc. Nhưng thím khóc là vì lo cho Phú chứ nào thím có hiểu gì về thời cuộc. Với thím, chế độ nào thì thím cũng chỉ là người dân hiền lành chất phác. Không tranh dành danh lợi. Không có đầu óc chính trị, chính em thì thím nghĩ rằng sẽ chẳng ai phiền hà gì đến thím.
Thế nhưng chỉ mới vài ngày sau, khi thím đang ngồi lặt rổ rau thơm cho nồi phở thì bỗng đâu có một người cán bộ theo sau hai người thanh niên mặc đồ bà ba đen, cổ khoác khăn rằn xông xáo bước vào nhà thím. Vừa đến cửa, một trong hai người thanh niên nói với người cán bộ:
- Thưa đồng chí chính trị nhà này là nhà sĩ quan ngụy đây. Nó có con đi lính phản cách mạng.
Tuy trang phục có khác nhưng thím Hai nhận ra ngay hai người thanh niên ấy là Tư Đen và Tường Thẹo ở xóm ngoài. Thím Hai chợt hoang mang vì thím biết rõ hai người này mới ít tuần trước đây còn bị bắt vì tội ăn cướp xe Honda ở đường Nguyễn Thông Nối Dài. Họ nổi tiếng là tay anh chị và vào tù ra khám như cơm bữa, thế mà hôm nay họ đã là những người làm cách mạng. Thím Hai yên lặng nhìn họ chưa biết nói gì thì may cho thím qúa, chú Hai bỏ nồi nước lèo từ bếp chạy lên. Người chính trị viên tự động ngồi xuống chiếc ghế đẩu và phác họa một cử chỉ cho chú Hai cũng ngồi. Xong, hắn cố nặn ra một nụ cười gượng gạo mà hắn cho là niềm nở nhất:
- Chúng tôi được lệnh đồng chí trưởng ban Thành uỷ Thành phố đến đây để thăm viếng và làm việc với những gia đình có thân nhân là sĩ quan của chế độ cũ. Vậy chú biết gì thì cứ khai cho chúng tôi biết nhá. Đừng sợ hãi gì cả . Đảng và nhà nước ta bao giờ cũng nhân đạo và khoan hồng cho tất cả những người biết thật lòng hối cải. Thế anh Phú đóng lính ở đâu?
- Thưa, cháu nó ở Long Khánh. Chú Hai e ngại trả lời.
Anh ta mở cái túi vải xách theo, lấy ra một cuốn sổ tay, một cây bút nguyên tử vừa ghi chép, vừa chậm rãi :
- Thế à? Long Khánh thì gay lắm đấỵ Cấp bậc gì? Trung úy phải không?
- Thưa, không, cháu nó vừa mới lên Thiếu úỵ
- Đường lối cách mạng rất là sáng suốt, chú phải khai báo cho thành thật thì con chú mới được khoan hồng
- Dạ
Dù lo ngại cho con nhưng bản tính chú Hai rất thành thật nên chú biết gì nói nấỵ Người chính trị viên ghi chép rồi bảo chú thím rằng khi nào Phú về thì bảo Phú đến ngay Ủy Ban Nhân Dân Phường trình diện.
Trước khi ra về, Tư Đen vênh váo:
- Đồ ngụy quân ngụy quyền phản động. Phen này xem thằng Phú còn đẹp trai, học giỏi nưã không.
*********
Bị thương ở cánh tay và đùi, Phú bị loại ra khỏi vòng chiến và mất liên lạc với đơn vị gốc. May được người bạn cùng đơn vị cõng ra trạm cứu thương lưu động ngoài thị xã và để chàng lại đó. Việt cộng đánh rát quá, trạm cứu thương hình như đã đã di tản và không có người trực. Những vết thương đã xưng tấy lên. Vừa mất máu, vừa khát nước, Phú lên cơn sốt và ở trong trạng thái nửa mê, nửa tỉnh. Những khi tỉnh, Phú thấy dân chúng chạy qua chỗ Phú nằm. Ai cũng hốt hoảng lo sợ nên không ai có thì giờ hỏi han hay giúp đỡ gì được Phú. Có một vài người dừng lại nhìn Phú một giây, ngập ngừng, ái ngại, lắc đầu rồi vội vã bỏ đi. Chàng đành nằm chờ sự rủi may của định mệnh.
Mặt trời ngả về Tây. Nắng bớt gay gắt và người ta vẫn ùn ùn kéo nhau xuôi ngược. Một chiếc xe lam chở gia đình chạy chậm trước lều. Nhìn vào, thấy Phú quần áo bê bết máu, người tài xế ngần ngại một chút rồi ngừng hẳn xe lại. Ông xuống xe, gọi đứa con trai phụ ông khiêng Phú đặt vào lòng xe với hai đứa con nhỏ và người vợ. Người vợ nhìn Phú ái ngại, bà lấy trong túi vải một một bộ quần áo của chồng đưa cho Phú:
- Thiếu Úy thay bộ đồ này đi chứ lúc này ăn mặc thế tôi nghĩ rằng không có lợi. Nếu có ai chặn xe lại hỏi thì Thiếu úy nói là em nhà tôi chứ đừng nhận mình là sĩ quan nhé. Tên nhà tôi là Hùng. Còn tôi gọi chú là chú Năm. Nhớ nhé. Mạnh này, con phụ ông ấy với.
Người con trai hồi nãy khiêng Phú lên xe lặng lẽ giúp Phú thay quần áo.
Dù gượng nhẹ đến mấy Phú cũng lịm ngất người đi bởi những cử động va chạm đến vết thương. Người vợ móc trong túi quần Phú lấy cái ví đựng giấy tờ ra đưa cho chàng rồi vung tay ném bộ quân phục dính đầy máu ra ngoài xe mà chẳng chờ đợi ý kiến gì của Phú. Trong trạng thái mê mê, tỉnh tỉnh, chàng không hiểu đó là thực hay mơ. Thấy môi Phú khô và mặt Phú đỏ bừng vì sốt. Bà mẹ bảo đứa con trai lấy bình nước ra và bà cho Phú uống từng muỗng nhỏ. Nước sóng sánh tràn ướt cổ Phú khi xe lắc mạnh. Được miếng nước, Phú thấy dễ chịu, cố nhướng mắt nhìn người đàn bà và nói lơì cảm ơn. Nhưng môi chàng mấp máy không ra tiếng và mắt thì chỉ thấy những hình tròn lố nhố, lắc lư và chàng lại thiếp đi. Người đàn bà nhìn Phú khẽ lắc đầu trong khi những đứa con nhỏ của bà nhìn Phú vừa sợ hãi, vừa tội nghiệp.
Chiếc xe lam vẫn đi rất chậm. Thỉnh thoảng lại phải ngừng hẳn lại nhường chỗ cho xe nhà binh, nhường chỗ cho đoàn người đi bộ đôi khi, tràn cả ra ngoài đường cái. Cứ thế, chiếc xe lam len lỏi bên đám người chạy loạn. Có một lúc tỉnh lại, Phú nghe tiếng đạn rít chung quanh. Tiếng đại bác vang lên ầm ã. Tiếng trẻ con khóc, tiếng người gọi nhau hoà lẫn tiếng động cơ của đủ loại xe tạo thành một thứ âm thanh kinh hoàng, hỗn loạn. Phú cũng mơ hồ nhìn thấy mấy đứa con nhỏ của người chủ xe lam lấy tay bưng mặt không dám nhìn những xác chết nằm co quắp ở dọc đường.
Xe đi đến Hố Nai thì bánh xe bị bể. Phú nghe người chồng nói với vợ là không thể đi tiếp được. Họ bàn với nhau là ghé vào tạm trú nhà người bà con gần đó rồi mai sáng tính sau. Người vợ và đứa con trai lớn xuống đẩy xe phụ với người chồng. Đi được một quãng không xa lắm thì người chồng bảo không đi được nữa vì phía trước có một đám người chận đường. Họ đốt phá, đánh đập cướp bóc....chẳng ai biết họ là ai. Và lúc này thì cũng chẳng ai còn có đủ thì giờ để tìm hiểu họ là ai. Hai vợ chồng người chủ xe nhìn nhau lo lắng, sau đó, người chồng quyết định:
- Bỏ xe lại. Mỗi người cầm theo một gói quần áo mà đi. Mình dắt hai đứa nhỏ. Mạnh, phụ với ba, dìu Thiếu úỵ
Người vợ đứng tần ngần nhìn chiếc xe đoạn bước theo chồng, kín đáo chùi nước mắt. Người chồng đi chậm lại nói bên tai vợ :
- Thôi, mình đừng khóc. Mình khóc làm tôi rối ruột thêm thôi. Còn người, còn của. Mình ăn ở hiền lành, Trời sẽ giúp mình!
Trời tối đen. Đường đất gồ ghề. Thỉnh thoảng, người chồng và Phú phải chựng lại vì Phú. Chân Phú bây giờ xưng to, không cử động được và anh lại đang lên cơn sốt.
Nhờ bỏ quốc lộ chính để đi vào những con đường đất từ xóm này luồn đến xóm khác nên họ tránh được sự chận xét. Đi độ hơn nửa giờ thì họ đến được nhà người quen. Vùng này là nơi lập nghiệp của người Bắc di cư. Đã biết cộng sản là gì nên trong trường hợp như thế này họ rất đoàn kết và gan dạ. Hơn nữa, súng đạn chưa thực sự xâm lấn nơi họ ở nên nhiều gia đình chưa chạỵ Phú được giúp đỡ tận tình. Chủ nhà, ông bà Bùng là người rất nhân hậu, mời y tá trong vùng đến chích thuốc và săn sóc Phú mỗi ngàỵ Hơn một tuần sau, lệnh đầu hàng loan ra từ máy thâu thanh làm Phú chết điếng trong lòng. Phú tỏ ý muốn về Saigon nhưng vì vết thương chưa được lành lặn lắm, vả lại, tình thế còn rất hoang mang, ai cũng lo sợ cho thân thế Phú nên ông bà Bùng nhất định giữ chàng lại chờ thêm ít ngày xem có gì thay đổi. Nể ơn cứu tử, Phú đành ở lại thêm một tuần mặc dầu lòng chàng như lưả đốt vì lo lắng cho cha mẹ và các em. Bảy ngày sau, dù vẫn còn rất lộn xộn, nhưng để chiều ý Phú, ông Bùng và em họ ông, chú Hùng, người chủ chiếc xe Lam, đưa chàng đến một chiếc xe đò của người quen gởi chàng về Saigon. Ông Bùng không quên dúi vào túi áo Phú năm trăm đồng để phòng khi cần đến.
Phú cảm động trước lòng tốt và ơn sâu của hai gia đình. Trong hoàn cảnh này, chàng chỉ còn biết nói lời cảm ơn và mong có ngày gặp lại.
Phú về nhà được đúng bốn ngày thì thím Hai chuyển bụng. Mặc dầu chưa được tám tháng nhưng thím biết là mình bị xúc động dồn dập qúa nhiều nên sanh sớm. Thím bảo Phú ở nhà với Chi rồi thím cùng đi với Đức đến viện bảo sanh. Chỉ có gần hai tuần trong chế độ mới mà viện bảo sanh Từ Dũ đã thay đổi hẳn. Bệnh viện chật ních, sản phụ nằm la liệt trên nền gạch để chờ sanh. Chỉ còn một số ít bác sĩ và y tá cũ làm việc, họ bận rộn đến nỗi không có giờ ăn giờ nghỉ. Nét mặt ai cũng hiện vẻ lo lắng ưu tư. Vì sanh sớm, thím Hai yếu sức, lại sót nhau nên thím bị làm băng. Đức vội về nhà báo tin cho chú Hai hay. Chú Hai để xe phở cho Đức và vội vàng đi thăm vợ. Đến nơi, người y tá đưa cho chú một đứa bé gái nhỏ xíu quấn trong tấm khăn lông trắng nói:
- Chia buồn với ông, bà nhà làm băng, mất máu nhiều qúa nên đã đi rồi. Bà đi lúc bốn giờ hai mươi, cách đây nữa tiếng, chúng tôi vừa mới đưa bà đến nhà xác!
Rồi người y tá nói với người đàn ông đang lau sàn nhà gần đó:
- Bác Bảy ơi, đưa ông Nguyễn Văn Lành đi nhận xác vợ.
Chú Hai không biết rằng mình mơ hay tỉnh. Cái chết của thím Hai đến bất ngờ qúa sức tưởng tượng của chú. Chú Hai ôm lấy đứa con thẫn thờ đi theo người lao công. Đươ.c vài bước, như chợt nhớ ra điều gì, chú quay lại hỏi người y tá một câu hỏi hơi ngờ nghệch:
- Cô ơi, thế sao cô không tiếp máu cho vợ. Tôi ?
Người y tá buồn rầu:
- Chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng vì ngân hàng máu của bệnh viện đã được Cách mạng đem đi để phục vụ cho cán bộ nên chúng tôi không thể làm gì hơn được !
Vừa đi theo người lao công, chú Hai vừa nói như người mơ ngủ:
- Cách mạng lấy máu đem đi.... không thể làm gì hơn được...
Trong nhà xác, chú thấy có đến chục xác chết người lớn và trẻ con. Những xác người lớn này toàn là sản phụ kém may mắn như vợ chú. Người lao công đến bên một xác chết, lật khăn phủ mặt ra, đọc tên người qúa cố rồi lại đậy lại. Đến cái xác thứ tư, sau khi kiểm lại tên, ông ta nói với chú trước khi hấp tấp bỏ đi:
- Bà ấy đây!
Chú Hai, một tay ôm con, một tay vuốt mắt vợ. Chú nhìn vợ, nhìn con. Vợ chú mặt tái xanh, mắt nhắm nằm thiêm thiếp như đang say ngủ. Chú vẫn không tin là vợ chú chết cho đến khi con chú, đứa bé gái vừa lọt lòng mẹ đã mồ côi, khẽ cựa quậy trên tay, chú mới bật khóc. Lòng chú xót xa thương vợ. Chú nhớ như in nét mặt xinh đẹp hiền lành của thím Hai trong ngày đám cưới. Trong phút chốc, kỷ niệm của những ngày đầm ấm sống bên nhau hơn hai mươi năm ồ ạt như một trận cuồng phong nhận chìm lấy chú. Chú lại nghĩ đến những biến cố kinh hoàng của ngày 30/4, đến lời nói của người y tá... băng huyết... mất máu nhiều quá... ngân hàng máu của bệnh viện đã được bác sĩ giải phóng chuyển đi... không có máu tiếp cho bà nhà... qua đời... nhà xác...
Chú thấy tội nghiệp người vợ hiền lành của chú. Một đời tận tụy cho chồng con. Chao ơi, giải phóng là thế này sao? Con chú, Phú, đã bị thương vì giải phóng và nhờ may mắn được cứu thoát. Giải phóng chưa được bao lâu mà vợ chú đã chết vì không có máu để tiếp... chú chợt thấy sợ hãi. Rồi đây giải phóng còn đem lại những tai họa gì đến cho gia đình chú??? Nếu không có biến cố của ngày 30/4 thì vợ chú chắc gì đã chết và con chú chắc gì đã sanh thiếu tháng ... Nếu bác sĩ giải phóng không lấy máu đem đi cho bộ đội dùng thì vợ chú sẽ được tiếp máu đầy đủ...
Chú miên man từ ý nghĩ nay đến ý nghĩ khác, người lao công lại đi vào và nói một vài lời gì đó mà chú không nghe rõ. Sau đó, ông bước lại, đặt một bàn tay lên vai chú:
- Bác ạ, tôi biết bác đau khổ lắm, nhưng đau khổ thì cũng không lấy lại được gì. Thôi, bác về lo chôn cất cho bác gái được mồ yên mả đẹp là hơn!
Đến lúc đó, chú Hai như bừng tỉnh. Một tay ôm con, một tay lau nước mắt, chú nhìn mặt vợ lần cuối rồi thất thểu bước đi.
Sau khi chôn cất cho thím Hai được it lâu thì Phú được gọi đi học tập cải tạo. Từ ngày giải phóng, gia đình chú Hai trở thành gia đình Ngụy, vì chú có con đi lính cho Mỹ Ngụy, phản nhân dân, phản cách mạng. Hàng xóm láng giềng xưa vẫn thương qúy gia đình chú nay vó vẻ e dè khi phải tiếp xúc với chú. Phần xót xa thương tiếc vợ, phần lo lắng và thương Phú đi đã sáu, bảy tháng mà không có tin tức gì về. Trước khi đi, Cách mạng bảo chỉ mang đủ tiền ăn và quần áo cho mười ngày. Thế mà bây giờ đã sáu bẩy tháng trôi qua. Phần thì bị công an phường, khóm, nhòm ngó, nay bắt đi họp tổ, mai bắt đi họp phường, đi thủy lợi. Chú còn bị khuyến khích ghi tên xung phong đi kinh tế mới làm chú Hai lo lắng sợ hãi ốm hẳn đi. Con gái chú, Chi, mới gần chín tuổi mà đã phải làm nhiều công việc xưa kia thím Hai làm. Nào quét dọn nhà cửa, phụ Đức nấu cơm, rửa chén bát và săn sóc cho bé Mai. Vì sanh thiếu tháng, bé Mai bú sữa bò không chịu nên Chi cứ phải ôm em đi khắp xóm xin bú thép. Nhờ trời, bé Mai dễ nuôi, lớn trông thấy và mũm mĩm xinh đẹp. Đức, ngoài việc phụ với Chi còn phải phụ với cha trông nom xe phở để kiếm sống vì lúc này chú Hai cứ đau yếu luôn, do đó, khi nhà trường bắt đầu mở lại, Đức không thể tiếp tục học vì hoàn cảnh gia đình. Chú Hai tuy không được học hành bao nhiêu nhưng chú luôn luôn trọng sự học. Chú thường bảo con là có học mới ngoi lên được. Thế mà bây giờ, chú phải đành rơi lệ nhìn con mình thất học.
Khách hàng của chú nay có cả khách cách mạng và công an. Bộ đội chính quy thì lại không bao giờ ăn phở của chú vì họ phải vào những nhà hàng có ghế ngồi, có máy lạnh hay ít nhất cũng phải có quạt máy để bù đắp lại những ngày khổ cực đánh Mỹ cứu nước và những ngày lặn lội gian lao ở rừng Trường sơn hoặc đường mòn Hồ chí Minh. Vi` thế, những người cách mạng chiếu cố xe phở của chú đều là cách mạng Ba mươi và công an khu vực. Thành phần này trước ngày Ba mươi họ cũng là dân sống ở miền Nam như chú. Nhưng họ làm đủ mọi nghề, kể cả “nghề” trốn lính, trộm cướp hoặc không làm gì cả mà vẫn được đàn em cung cấp đủ mọi nhu cầu. Nay phải phóng đến, họ thức thời và nghiễm nhiên trở thành những người có công trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và được người dân gọi họ là Cách Mạng Ba Mươi. Những người khách cách mạng ba mươi này mà kéo nhau đến chiếu cố phở của chú thì chủ phải vui vẻ tính giá ủng hộ cách mạng. Nhất là công an khu vực của chú đến ăn thì chú lại không dám tính tiền vì gia đình chú là gia đình ngụy. Lại nữa, buôn bán như chú là phi lao động, là tư sản mại bản, là thành phần mà cách mạng cho là hút máu nhân dân. Vì vậy, công an khu vực để cho chú đem xe phở ra đây bán là may mắn lắm rồi nên chú phải biết ơn đối với cách mạng và sống cho ... đúng với tinh thần cách mạng !
Nhờ có Đức phụ và nhờ tài nấu phở ngon nên hàng chú bán vẫn chạy. Có điều vật giá leo thang, bán xong xe phở tiền lời chỉ còn bằng một phần ba lúc trước, thêm vào đó, cứ bốn, năm tháng là chú lại được giấy báo đi thăm Phú. Dù khó khăn đến đâu chú Hai cũng chắt chiu góp nhặt để mua cho Phú ít đồ ăn và chút vật dụng cá nhân cần thiết. Mỗi lần đi thăm con, chú Hai phải thức dậy từ hai ba giờ sáng mới mua được vé ở bến xe đò. Thăm nuôi xong, phải đến tám, chín giờ tối chú Hai mới về được đến nhà. Nhưng chưa bao giờ chú bỏ một chuyến thăm nuôi nào cả.
Vì thấy gia đình chú Hai là một gia đình ... hiền lành nên trong một cuộc họp phường, Đức "được chọn" đi thanh niên xung phong. Cán bộ bảo rằng dù gia đình chú Hai là gia đình Ngụy nhưng nhờ chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng và Nhà nước đã cho gia đình chú có cơ hội lấy công chuộc tội. Thế là một tuần sau, Đức hấp tấp từ giã cha và em để lên đường. Đức đi, chú Hai như mất một cánh tay. Vất vả thì chú chịu được, nhưng đau khổ dồn dập vì thương vợ nhớ con thì chú chỉ còn biết khóc. Nhưng lại chỉ dám khóc thầm. Có một lần chú vừa bán phở, vừa rơm rớm nước mắt nói với bạn hàng là chú thương nhớ con, thế là sáng hôm sau chú được công an khu vực gọi lên phường làm tờ tự kiểm vê tội chưa quán triệt đường lối khoan hồng nhân đạo của Đảng và nhà nước.
Chỉ trong một thời gian ngắn mà bao nhiêu biến chuyển quan trọng đã xảy đến cho gia đình chú nên chú Hai hao gầy đi thấy rõ. Cả gia đình trông vào xe phở nhưng chú Hai thỉnh thoảng phải nghỉ bán có khi đến vài ngày. Ngoài việc tiếp tế cho Phú nay chú Hai còn phải tiếp tế thêm đồ ăn và thuốc men cho Đức. Trong một hoàn cảnh gia đình như thế, Chi lớn lên không có tuổi dậy thì. Cô hoàn toàn nghỉ học từ khi Đức ra đi dù cô chưa học xong lớp bảy. Để phụ thêm với cha, cô phải ra chợ mua bắp, ổi, cóc mang đến cổng trường học để bán kiếm lời. Bé Mai cũng theo ngồi bên cạnh chị, khi thì cầm quạt quạt chậu than để nướng bắp, khi thì lấy ớt, muối cho thêm vào chiếc chén sành.
Từ ngày Đức đi thanh niên xung phong, chú Hai đỡ khổ tâm vì không bị thúc giục tình nguyện "đăng ký " đi kinh tế mới. Nhưng cũng đúng hai năm sau ngay Đức ra đi, một buổi chiều chú Hai được công an khu vực ra tận xe phở của chú, lần này không phải để ăn phở mà để chúc mừng chú đã được là ... gia đình liệt sĩ. Thoạt đầu, nghe người công an nói chúc mừng, chú tưởng đâu là có tin Đức được về thăm nhà. Nét mặt khắc khổ của chú Hai vui hẳn lên và chú lắp bắp lời cám ơn. Chú mỉm cười. Một nụ cười hiếm thấy trên môi chú từ khi vợ chú chết, từ ngày Phú và Đức ra đi. Nhưng sau khi người công an nói rõ là Đức đã tử trận tại biên giới Việt Miên, nụ cười của chú bỗng méo xệch đi, run lên rồi cóng lại. Chú không khóc nhưng đôi mắt chú mờ đi và sau đó ánh lên nét đau thương khiến người công an tự cảm thấy sự có mặt của anh ta trở thành vô duyên nên vội vã bỏ đi.
Chỉ được báo tin là Đức chết thế thôi chứ chú Hai không hề được đi nhận xác con. Khi chú ra phường hỏi thì cán bộ nói rằng nhà nước đã lo việc chôn cất Đức rồi. Chú Hai đau đớn lắm nhưng không biết làm sao hơn được. Nhờ cái chết của Đức, chú Hai không phải đóng thuế xe phở nữa và những vụ thăm viếng xe phở của công an, của cách mạng ba mươi cũng thưa thớt hẳn đi. Đỡ được chuyện này nhưng trên vai chú lại nặng thêm trăm ngàn tấn đau thương. Việc đi thăm Phú từ đó bị cắt giảm vì chú hay đau yếu và nhất là sau mấy lượt đổi tiền thì giá trị của tiền bạc cứ thì nhau đi ngược chiều với thức ăn và vật dụng.
Ngày lại ngày buồn thảm trôi qua với chú Hai. Mỗi tối đẩy xe phở về và rửa chén bát nồi soong xong, chú đến trước bàn thờ thím Hai bây giờ lại có thêm cả Đức, thắp một nén nhang rồi đứng đó thật lâu. Chi vừa soạn bữa ăn tối cho gia đình vừa nhìn cha ai ngại:
- Ba à ba, thôi ba đi nghỉ rồi lát ăn cơm. Em Mai đang chờ ba chơi với nó kìa!
Chú Hai không trả lời con, chậm chạp đi đến chỗ bé Mai. Mai nhìn cha, mỉm cười. Nhìn nụ cười rất hồn nhiên của đứa con gái út chưa tròn năm tuổi, đáng lẽ lòng người cha phải vui, nhưng không, chú Hai không vui được vì chú sợ nụ cười hồn nhiên đó chẳng bao lâu nữa sẽ mất đi vì những sự thật phũ phàng trong đời sống mà cha con chú đang phải sống.
Một buổi tối bên xe phở, ngọn đèn dầu leo lét không đủ cho chú Hai thấy rõ mặt một người thanh niên mặc bộ quần áo sờn, rách, bạc màu dừng lại bên xe phở, nhìn chú một giây, rồi tiến đến cầm tay chú, gọi với giọng đầy nước mắt:
- Ba!
Chú Hai cũng mừng rỡ như sống trong mơ:
- Con ? Phú ? Lạy Trời Phật, con tôi đã về ! Phải Phú không ? Con về thật hả Phú ?
Khi nhận chắc là Phú, chú mếu máo :
- Má và em con phù hộ cho cha con mình đó Phú ơi...
Chú hai vừa nói vừa ôm chầm lấy con, nước mắt dàn dụa trên đôi gò má gày gò, xạm nắng. Qua phút giây mừng rỡ, chú Hai nhận thấy một cái gì là lạ nơi con. Chú nhìn lại Phú thì ra Phú đang mắc chứng bịnh phù thũng, một chứng bịnh của người thiếu dinh dưỡng. Chú chợt hiểu ra đó chính là lý do mà con chú được thả về.
Từ ngày Phú về, chú Hai có vui vẻ lên chút ít nhưng nhìn Phú, chú lại xót xa thương nhớ Đức. Bịnh Phú càng ngày càng thêm nặng mặc dù chú Hai đã bán đến đôi bông tai cuối cùng của thím Hai để lo chạy chữa cho con. Người Phú cứ xưng phù lên rồi lại xẹp xuống. Mặt mũi chân tay cứ húp lại và da Phú thì xanh tái bủng beo. Phú không còn là một chàng thanh niên trẻ trung khỏe mạnh yêu đời của ngày nào nữa mà Phú bây giờ là một người bệnh hoạn, yếu đuối, thất thần và chậm chạp. Nhiều lần nhìn anh như thế, Chi đau lòng qúa không kềm nổi cơn nức nở. Phú hiểu lòng em, chàng vuốt tóc Chi cố tìm lời an ủi nhưng không biết mở đầu thế nào. Lâu lắm, Phú mới nói được dù chàng biết là chàng nói dối Chi:
- Đừng khóc, Chi. Mai mốt anh sẽ hết bịnh, anh sẽ làm việc phụ với ba và em sẽ được đi học lại.
Chi nhìn anh. Cô muốn tin như thế lắm nhưng vì sớm vào đời nên cô đã khôn hơn tuổi. Cô hiểu là Phú nói thế để an ủi cô và an ủi chính anh.
Như thường lệ, mỗi khi trời xẩm tối là Chi dọn hàng về để chuẩn bị bữa cơm tối cho gia đình. Theo chân bé Mai vào nhà, sự yên lặng, qúa sức yên lặng làm Chi có cảm giác hơi sờ sợ. Tuy Phú yếu đuối, không làm được những việc nặng nhọc nhưng chàng thường phụ em nấu nồi cơm rồi chờ Mai đem thức ăn về nấu. Chi vừa nấu ăn, vừa nói chuyện với Mai và Phú. Cô hay kể lại những mẩu chuyện vui buồn hằng ngày giữa cô và khách hàng cho Phú nghe. Mai đã học lớp Một và cũng khoe với anh chị nào là bài tập viết của bé được điểm cao, nào là tan học, bé ra phụ bán với chị Chi ngay chứ không đi chơi lang thang như trẻ khác.
Nhưng hôm nay căn nhà sao yên vắng qúa. Sự yên vắng rợn người làm cô sợ hãi. Không thấy Phú ở phòng ngoài, nơi kê bộ bàn ghế vưà làm bàn ăn, vừa làm bàn tiếp khách, Chi chạy thẳng vào trong bếp thì thấy Phú đang nằm như một con mèo ốm, co ro trên chiếc “đi văng” mà xưa mẹ cô còn sống hay ngồi lặt rau, thái thịt hoặc vá quần aó. Thấy Phú đang ngủ say, Chi mừng và bớt sợ, cô khe khẽ gọi:
- Anh Phú! Anh Phú! Anh ngủ hả. Về không thấy anh, em hết hồn!
Không nghe anh trả lời, cô vừa lấy đồ ăn trong cái giỏ ra, vừa cao giọng:
- Anh Phú!...Anh Phú!
Phú ngủ say qúa, Chi nghĩ là Phú mệt, định để yên cho anh ngủ thêm chút nữa nhưng không hiểu sao, cô bước đến cầm nhẹ tay anh.
Một cảm giác lạnh toát truyền sang tay cô khiến cô rùng mình. Cô cúi xuống nhìn vào mặt Phú và chợt hiểu những gì mình sợ hãi nay đã xảy ra. Chi cảm thấy mình yếu hẳn đi, hai chân cô không đứng vững, mắt cô hoa lên, đầu cô nặng chĩu và cô khụy xuống bên cạnh chiếc đi văng. Bé Mai chưa hiểu rõ chuyện gì, hốt hoảng chạy đến đỡ chị xuýt xoa:
- Chị Chi...chị té hả ? Đau không? Ừa, tay chị trầy rồi kià, để em kiếm thuốc xức nghen!
Bé Mai chạy vụt đi. Trong cơn đau đớn tột cùng, Chi như quên cả Mai và như trong cơn mơ, cô ngồi rũ xuống nền bếp, hai tay cô ôm lấy cánh tay Phú vừa lay, vừa khóc:
- Má ơi má.... Má về mà xem nhà mình nè....Anh Đức chết không được nhìn thấy xác.... Nay anh Phú chết như vầy này má ơi... Làm sao mà ba chịu nổi? Làm sao mà con chịu nổi... Má ơi là má.... Anh Phú ơi là anh Phú.....
Bé Mai tay cầm chai dầu Nhị Thiên Đường chạy đến bên Chi. Cô bé hoảng sợ thấy chị Chi khóc ngất. Càng hoảng sợ hơn nữa khi thấy anh Phú vẫn nằm im. Rồi bé nghe chị Chi vừa khóc vừa kể là anh Đức chết, anh Phú chết. Bé mở mắt thật lớn nhìn anh Phú. À, thì ra chết là như thế này sao? Chết là nằm im không dậy được nữa dù ai gọi cũng không dậy được....Đã nhiều lần chị Chi kể cho bé nghe má chết khi sanh bé. Chắc ngày xưa má cũng chết như anh Phú thế này... Má cũng nằm im không dậy được như anh Phú bây giờ.... Má không nghe ba gọi, má cũng không nghe chị Chi gọi má.... Đúng rồi, má không nghe được thì làm sao mà má dậy được!
Bé chợt hiểu chết là không dậy được và người ta chôn người chết xuống đất. Không bao giờ còn gặp được như bé không bao giờ biết và gặp má. Bé oà lên khóc. Chỉ trong ít phút, bé thấy mình lớn hẳn và biết được thật nhiều về sự chết. Bé cảm thấy đau khổ và mất mát. Người ta sẽ chôn anh Phú và nhà vắng anh sẽ buồn. Nhất là bé, vì sẽ không còn ai ngồi kiên nhẫn nghe bé kể chuyện về Bác Hồ, vị cha già kính yêu của dân tộc, về cuộc chiến thắng Mỹ ngụy của Đảng và nhà nước ta anh hùng, về ba dòng thác cách mạng... và nhất là bé sắp được là cháu ngoan Bác Hồ, sắp được quàng khăn quàng đỏ như con Kim, như thằng Tấn.
Đành rằng chị Chi cũng thích nghe bé kể chuyện nhưng chỉ là những chuyện bạn và cô giáo thôi. Còn chuyện về Bác Hồ, về khăn quàng đỏ, về đảng ta anh hùng thì có lần chị hét lên bảo bé im mà bé chẳng hiểu vì sao...
Bé khóc nức nở và cảm thấy hoang mang đau đớn. Tại sao lại thế này ? Tại sao anh Phú chết? Tại sao anh Đức đang ở nhà lại đi xung phong? Khi anh Đức chết, có ai lay gọi anh như chị Chi gọi anh Phú không? Bé quay cuồng với bao nhiêu câu hỏi không giải đáp. Tiếng chị Chi khóc kể và gọi má càng lúc càng thêm thảm thiết và làm bé hoang mang đau đớn hơn. Bé không chịu được tiếng khóc của chị Chi nữa, bé lách mình qua đám người hàng xóm đang đông dần trong nhà bé và bé chạy băng ra đầu hẻm. Càng chạy, tiếng khóc của chị Chi càng đuổi theo. Bé vội đưa hai tay lên bịt tai lại và tiếp tục chạy. Bé chạy thật nhanh. Bé chạy vụt ra đường.
Một chiếc xe Honda chở hai người bộ đội đang chạy như bay tông vào bé. Người bé tung lên cao rồi rơi xuống như một trái cây chín rục tạo thành một tiếng động khô khan. Bé nằm im trên mặt lộ, máu từ miệng bé trào ra. Chiếc xe Honda mất thăng bằng, chao nghiêng đi và người bộ đội lái xe vội thắng lại. Sau khi cúi xuống xem xét chiếc xe và thấy không hề hấn gì, anh ta giận dữ quay nhìn bé nằm bất động:
- Cái con đĩ con kia, đi với đứng hay nhỉ. Mày có mù không? Xe ông mới mua mà mày dám đâm ngay vào. May mà xe ngoại ló cứng chứ không thì mày có mà chết với ông. Còn nằm đó ăn vạ hả? Tụi ngụy chúng bay ghê thật, vừa lứt mắt ra mà đã có tinh thần phản động !...
Người bộ đội ngồi phía sau can:
- Thôi, bớt lóng đi đồng chí. Xe đồng chí không sao thì mình khẩn trương kẻo trễ. Không khéo đồng chí thủ trưởng nại không bằng nòng!
Hai người bộ đội thản nhiên rồ máy lái xe đi trước những đôi mắt ngơ ngác của số người chứng kiến. Sự việc xảy ra quá sức nhanh chóng và hết sức bất ngờ, lại liên quan đến bộ đội nên không ai dám có phản ứng gì. Trong khi đó, ở đầu hẻm bên kia đường, chú Hai vô tình âm thầm đẩy xe phở đi vào xóm. Trên xe phở hôm nay có một cuốn vở mới cho bé Mai và một gói thuốc phù thủng mà chú Hai vừa mua cho Phú.
Ngo^ Minh Ha(`ng
Tôi đã thức tỉnh !!!
Lê Nguyễn Huy Trần. Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung, Việt Nam, trong thời kỳ đất nước được “hoàn toàn thống nhất” và cai trị dưới chế độ Cộng Sản. Hôm nay tôi viết lên đây những tâm tư của một người con trẻ như tôi cuối cùng cũng đã nhận ra bộ mặt thật tàn ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) mà không ngôn từ nào đủ sức lên án.
Cũng như những người bạn đồng trang lứa trong nước, tôi được nuôi dưỡng và đào tạo dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) Việt Nam mà ở đấy, thầy cô luôn dạy chúng tôi phải làm một người công dân tốt trước khi tiếp thu những kiến thức chuyên môn. Còn gì tuyệt vời hơn khi bản thân tôi được học tập trong một nền giáo dục “tiên học lễ, hậu học văn” đầy lễ giáo ấy.
Ngay từ lúc còn học mẫu giáo, tôi đã cố gắng phấn đấu để làm con ngoan trò giỏi cho ông bà, cha mẹ vui lòng. Cái thước đo sự ngoan ngoãn vâng lời của tôi chính là những phiếu “bé ngoan Bác Hồ” được cô giáo phát thưởng hàng tuần. Tôi tiếp tục rèn luyện mình trở thành một học sinh gương mẫu về đạo đức cũng như về thành tích học tập trong những năm tiểu học (cấp I).
Năm tôi lên lớp bốn, thầy giáo chủ nhiệm đã đề ra một số bạn xuất sắc để kết nạp đội viên vào Đội Thiếu niên tiền phong (TNTP) Hồ Chí Minh, trong đó có tôi. Theo lệ thường thì học sinh nào cũng sẽ được tham gia Đội TNTP khi bước vào ngưỡng cửa trung học cơ sở (cấp II), trừ những thành phần cá biệt mới bị tước quyền gia nhập. Vì thế tôi rất hãnh diện đến lớp với chiếc khăn quàng đỏ tươi thắm trên cổ áo sơ mi trắng lúc tôi được vào Đội trước những người bạn cùng lớp khác.
Tôi nổ lực phấn đấu cho lý tưởng trở thành một công dân tốt của nước XHCN Việt Nam và trời đã không phụ lòng tôi. Một lần nữa tôi lại được vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản (TNCS) Hồ Chí Minh sớm hơn với tư cách là một đoàn viên ưu tú. Đó là năm học cuối trước khi tôi thi tốt nghiệp vào phổ thông trung học (cấp III). Lúc ấy, tôi không bao giờ quên đeo trên ngực chiếc huy hiệu đoàn biểu thị cho một ý chí vững mạnh của thanh niên Việt Nam trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tôi rất tự hào về những thành tích với các hạng vị đội viên hay đoàn viên mà mình đã đạt được trong những năm đầu đời tập tễnh học làm người. Tôi xây mộng cho một tương lai đảng viên mẫu mực để có thể giúp xã hội ngày càng phát triển hơn. Tôi ước nguyện đất nước sẽ giàu mạnh lên khi nghe Việt Nam, dưới sự lãnh đạo “tài tình” của chính phủ hiện thời, gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Ngay đến thời điểm tôi rời quê nhà để đi du học thì trong tâm trí tôi lúc nào cũng hướng về một Việt Nam xinh đẹp với những trang sử oai hùng.
Trong những năm đầu du học, tôi nghe và biết người Việt hải ngoại không đồng tình với cách vận hành đất nước của Cộng Sản, nhưng tôi không để ý tìm hiểu lý do vì tôi không thích chính trị. Tôi thiết nghĩ ở đâu thì cũng có những cuộc chống đối giữa các phe phái bởi “chín người mười ý”. Cho đến một ngày gần đây khi tôi may mắn gặp và nói chuyện với một người bạn trẻ yêu nước trên mạng, tôi mới chợt nhận ra rằng tôi muốn làm một công dân tốt nhưng lại rất thờ ơ về hiện tình của đất nước mình. Không phải tôi không quan tâm mà tôi đã quá tin vào đường lối, chủ trương của Đảng Cộng Sản (ĐCS) và những gì mà tôi đã được dạy dỗ từ mái trường XHCN ấy.
Nhưng rồi qua vài cuộc trò chuyện tìm hiểu sự thật về Đảng và cuộc đời Bác Hồ với anh bạn trẻ đó, tôi bắt đầu tò mò và tìm đọc những tài liệu liên quan đến Việt Nam trong quá khứ mà trước đây khi còn ở trong nước, tôi đã bị những quyển sách lịch sử (in bởi Nhà xuất bản Giáo dục) lừa dối. Chỉ vì Đảng muốn bưng bít mọi tội ác đã và đang gây ra cho dân tộc mà phải nguỵ tạo biết bao câu chuyện thần thánh để tô đẹp hình tượng “ác nhân” cụ Hồ, để các bạn trẻ trong nước cứ mãi đắm chìm trong giả dối. Mọi niềm tin tôi đặt vào Đảng Cộng Sản cho một đất nước thanh bình đã tan vỡ.
Tôi đã ngu muội để cho cái chế độ bạo quyền và độc tài ấy nhồi sọ mình mà ngỡ đấy là một niềm hi vọng, là một chân lý sống. Tôi nhục nhã khi nhìn lại hình ảnh đứa bé mẫu giáo (là tôi) đã cẩn thận dán những tấm phiếu “bé ngoan Bác Hồ” ngay ngắn lên tường nhà mà ngây thơ không biết Bác là một con người hạ cấp đến mức độ nào. Tôi tự trách khi quàng chiếc khăn đội viên màu đỏ đã thấm máu của biết bao đồng bào vô tội trong công cuộc “cải cách ruộng đất” do ĐCS thi hành hay phong trào “Nhân Văn-Giai Phẩm” đòi tự do dân chủ trong những năm giữa thập niên 50. Tôi hổ thẹn khi cài chiếc huy hiệu đoàn mang biểu tượng tay cầm lá cờ đỏ sao vàng mà theo Đảng là để soi sáng đường thanh niên tiến bước.
Đó không phải là sự thật. Tôi hận mình đã từng chấp nhận mang trên người sự dối trá đê hèn, bởi chính cái lá cờ ấy mà tất cả người con đang sống trên đất Việt hiện nay do lầm tin một lần để rồi phải sống nô lệ cho ngoại bang từng ngày, từng giờ, từng phút. Hỡi ôi, những cụm từ “giải phóng miền Nam” và “thống nhất đất nước” của Đảng đặt ra sao mị dân đến thế. Vậy mà một số cá nhân vẫn còn sùng bái những chính sách “ngu dân” để rồi tự biến mình thành đứa con tội đồ ngàn đời của mẹ Việt Nam.
Ngày trước tôi còn hồn nhiên trên chiếc xe đạp đến trường, còn vô tư cùng bè bạn vui đùa trong suốt quãng đời học trò yên bình của mình. Xung quanh chúng tôi được bao bọc bởi lớp kính vạn hoa mà nhìn xuyên qua là cả một bầu trời muôn sắc muôn màu hiện ra rực rỡ. Trong cái thế giới ấy, tôi đã thấy những con người ngồi chiễm chệ trên chiếc xe hơi bóng loáng, những cao ốc sang trọng của thời đại tân tiến, những khu phố nhộn nhịp tiếng nói cười hớn hở, những kế hoạch to lớn và quan hệ hợp tác, đầu tư lâu dài của các nhà kinh doanh nước ngoài đối với Việt Nam.
Thời kỳ kinh tế đã bắt đầu mở cửa ư? Không. Bây giờ tôi chỉ thấy đằng sau lồng kính nhiệm màu kia là những hình ảnh đau thương, tang tóc của quê hương. Tôi không còn thấy sự phồn thịnh do Đảng nguỵ tạo lên mà thay vào đó là chết chóc, là đọa đày. Đất nước ngày nay như một sa mạc khô cằn không sức sống, như cánh rừng hoang tàn thiếu tiếng chim ca, như một trại tù cho toàn dân vô tội, như một nghĩa trang đầy những linh hồn chết oan. Xã hội ngày nay tràn ngập tệ nạn mại dâm, đồi truỵ, buôn lậu, ăn cắp, quan liêu cửa quyền, tham nhũng hối lội v.v…
Đã thế ĐCS nào có lo lắng cho đời sống của dân mà cứ hút máu đồng bào như loài ác quỷ, lại còn làm tay sai cho Tàu Cộng để chúng vơ vét hết đất đai, rừng núi, hải đảo của quê hương. Quả là một guồng máy xã hội mục ruỗng, thối nát. Một bọn phản đồ đang sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật như thế thì thử hỏi tôn ti trật tự ở đâu, lễ nghĩa phép tắc ở chổ nào đây.
Cái mái trường XHCN chỉ đưa ra những lý thuyết suông thôi sao? Hay nó chỉ dạy cho Đảng phải biết nhường nhịn và tôn thờ quân Tàu cướp nước; còn đối với đồng bào ruột thịt thì chính quyền Cộng sản ra sức đàn áp và giết hại, lúc đó mới gọi là “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa” sao? Thế mà tôi đã từng thần tượng, cảm phục cái nền giáo dục xảo trá ấy. Còn biết bao tuổi trẻ trong nước phải chịu sự cưỡng bách tư tưởng mà không thể tự do nói lên tiếng nói dân chủ của chính mình. Xót xa thay cho con cháu Lạc Hồng với bề dày lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Tuổi thơ của những ai đã từng bị Bộ Giáo Dục và Đào Tạo tiêm cho một mũi độc dược “mang tên Người” thì không thể không nhớ hay ít nhất cũng nghe đến “Năm điều Bác Hồ dạy”. Đây là những lời căn dặn của Hồ Chí Minh viết cho thiếu niên, nhi đồng trong dịp lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam nhưng sau này những câu chữ ấy đã được sửa lại hoàn chỉnh như sau:
1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
2. Học tập tốt, lao động tốt
3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm
Tôi nhận thấy rằng những cán bộ cao cấp Trung ương Đảng hiện thời thực hành lời dạy dỗ của cụ Hồ còn tốt hơn gấp triệu lần thanh thiếu niên Việt Nam. Nói về “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”, họ không bao giờ để nhân dân nhúng tay vào những việc “dơ bẩn” hay bận tâm đến những chuyện trọng đại mang tính dân tộc như bán đất nhượng rừng, hiến dâng hai hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Nói về “Học tập tốt, lao động tốt”, các cán bộ này rất ham học hỏi tính đàn áp tôn giáo, tính hạch sách những nhà dân chủ, tính bóc lột dân nghèo và họ cũng lao động cật lực cho quân ngoại xâm . Nói về “Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt”, những bộ mặt Đảng viên nhơ nhớp ấy luôn sống đùm bọc cùng bọn cướp Trung Quốc với phương châm “16 chữ vàng” là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và chủ trương “4 tốt” là “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Họ tuyệt đối tuân theo những qui định giặc Tàu đề ra với một tinh thần “kỷ luật tốt” để giữ gin tình anh em hữu nghị.
Nói về “Giữ gìn vệ sinh thật tốt” thì không ai chú trọng bảo vệ sức khoẻ bằng cựu Tổng bí thư ĐCSVN Lê Khả Phiêu khi ông ta cho trồng nguyên một vườn rau sạch trên sân thượng để tránh ăn thực phẩm độc hại ngoài chợ. Nói về “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”, tôi có thể thấy tính khiêm nhường của các cán bộ này mỗi lần vơ vét của dân được “mười tạ” thì chỉ nói là nhặt nhạnh được “một ký”. Hơn nữa, họ còn thật thà tin vào dự án khai thác quặng bô-xít trên Tây Nguyên của đối tác Trung Quốc để nông dân trong vùng phải sống lay lắt vì mất đất trồng hoa màu. Họ dũng cảm chấp nhận làm tên nô dịch cho giặc Tàu mặc dù hiểu rõ rằng tính mạng hàng triệu đồng bào đang bị đe dọa bởi kế hoạch thống trị toàn đất nước Việt Nam của giặc.
Tôi công nhận những vị cán bộ này quả xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. Các bạn trẻ trong nước và hải ngoại hãy nhìn vào công cuộc đổi mới của Đảng Cộng Sản mà tự mình phán xét chế độ lộng quyền kia có còn của dân, cho dân, và vì dân hay không.
Tôi sợ lắm khi mình không còn tìm thấy tên nước Việt Nam hiện diện trên bản đồ thế giới vào một ngày mù tối. Tôi buồn lắm khi dân tộc Việt Nam trở thành gia nô cho kẻ thù đã từng đô hộ nước nhà một nghìn năm. Tôi hoang mang không biết nguồn cội của mình ở đâu nếu con cháu Lạc Hồng biến mất trong tiềm thức của dư luận thế giới. Tôi sẽ là ai? Các bạn tuổi trẻ Việt Nam sẽ là ai? Có thể các bạn muốn giống người này kẻ nọ hay những nhân vật nổi tiếng trên thế giới, nhưng hãy nhớ rằng chúng ta không bao giờ trở thành họ vì chúng ta là người Việt Nam mang trong mình dòng máu yêu nước.
Tôi tin những người trẻ chúng ta không một thành phần cá nhân nào muốn quê hương rơi vào bóng đêm rồi câm lặng mãi mãi. Vận mệnh của đất nước đang nằm trong tay chúng ta. Hãy tìm hiểu sự thật và lên tiếng cho nhân quyền! Tôi mong lắm những trái tim nhiệt huyết cùng chung một lý tưởng cho Việt Nam thanh bình và ấm no. Đừng để bản thân các bạn lầm đường lạc bước trên muôn vàn đau thương của quê nhà, các bạn ạ!
Còn tôi, tôi đã thức tỉnh.
Lê Nguyễn Huy Trần. Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung, Việt Nam, trong thời kỳ đất nước được “hoàn toàn thống nhất” và cai trị dưới chế độ Cộng Sản. Hôm nay tôi viết lên đây những tâm tư của một người con trẻ như tôi cuối cùng cũng đã nhận ra bộ mặt thật tàn ác của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) mà không ngôn từ nào đủ sức lên án.
Cũng như những người bạn đồng trang lứa trong nước, tôi được nuôi dưỡng và đào tạo dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) Việt Nam mà ở đấy, thầy cô luôn dạy chúng tôi phải làm một người công dân tốt trước khi tiếp thu những kiến thức chuyên môn. Còn gì tuyệt vời hơn khi bản thân tôi được học tập trong một nền giáo dục “tiên học lễ, hậu học văn” đầy lễ giáo ấy.
Ngay từ lúc còn học mẫu giáo, tôi đã cố gắng phấn đấu để làm con ngoan trò giỏi cho ông bà, cha mẹ vui lòng. Cái thước đo sự ngoan ngoãn vâng lời của tôi chính là những phiếu “bé ngoan Bác Hồ” được cô giáo phát thưởng hàng tuần. Tôi tiếp tục rèn luyện mình trở thành một học sinh gương mẫu về đạo đức cũng như về thành tích học tập trong những năm tiểu học (cấp I).
Năm tôi lên lớp bốn, thầy giáo chủ nhiệm đã đề ra một số bạn xuất sắc để kết nạp đội viên vào Đội Thiếu niên tiền phong (TNTP) Hồ Chí Minh, trong đó có tôi. Theo lệ thường thì học sinh nào cũng sẽ được tham gia Đội TNTP khi bước vào ngưỡng cửa trung học cơ sở (cấp II), trừ những thành phần cá biệt mới bị tước quyền gia nhập. Vì thế tôi rất hãnh diện đến lớp với chiếc khăn quàng đỏ tươi thắm trên cổ áo sơ mi trắng lúc tôi được vào Đội trước những người bạn cùng lớp khác.
Tôi nổ lực phấn đấu cho lý tưởng trở thành một công dân tốt của nước XHCN Việt Nam và trời đã không phụ lòng tôi. Một lần nữa tôi lại được vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản (TNCS) Hồ Chí Minh sớm hơn với tư cách là một đoàn viên ưu tú. Đó là năm học cuối trước khi tôi thi tốt nghiệp vào phổ thông trung học (cấp III). Lúc ấy, tôi không bao giờ quên đeo trên ngực chiếc huy hiệu đoàn biểu thị cho một ý chí vững mạnh của thanh niên Việt Nam trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tôi rất tự hào về những thành tích với các hạng vị đội viên hay đoàn viên mà mình đã đạt được trong những năm đầu đời tập tễnh học làm người. Tôi xây mộng cho một tương lai đảng viên mẫu mực để có thể giúp xã hội ngày càng phát triển hơn. Tôi ước nguyện đất nước sẽ giàu mạnh lên khi nghe Việt Nam, dưới sự lãnh đạo “tài tình” của chính phủ hiện thời, gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Ngay đến thời điểm tôi rời quê nhà để đi du học thì trong tâm trí tôi lúc nào cũng hướng về một Việt Nam xinh đẹp với những trang sử oai hùng.
Trong những năm đầu du học, tôi nghe và biết người Việt hải ngoại không đồng tình với cách vận hành đất nước của Cộng Sản, nhưng tôi không để ý tìm hiểu lý do vì tôi không thích chính trị. Tôi thiết nghĩ ở đâu thì cũng có những cuộc chống đối giữa các phe phái bởi “chín người mười ý”. Cho đến một ngày gần đây khi tôi may mắn gặp và nói chuyện với một người bạn trẻ yêu nước trên mạng, tôi mới chợt nhận ra rằng tôi muốn làm một công dân tốt nhưng lại rất thờ ơ về hiện tình của đất nước mình. Không phải tôi không quan tâm mà tôi đã quá tin vào đường lối, chủ trương của Đảng Cộng Sản (ĐCS) và những gì mà tôi đã được dạy dỗ từ mái trường XHCN ấy.
Nhưng rồi qua vài cuộc trò chuyện tìm hiểu sự thật về Đảng và cuộc đời Bác Hồ với anh bạn trẻ đó, tôi bắt đầu tò mò và tìm đọc những tài liệu liên quan đến Việt Nam trong quá khứ mà trước đây khi còn ở trong nước, tôi đã bị những quyển sách lịch sử (in bởi Nhà xuất bản Giáo dục) lừa dối. Chỉ vì Đảng muốn bưng bít mọi tội ác đã và đang gây ra cho dân tộc mà phải nguỵ tạo biết bao câu chuyện thần thánh để tô đẹp hình tượng “ác nhân” cụ Hồ, để các bạn trẻ trong nước cứ mãi đắm chìm trong giả dối. Mọi niềm tin tôi đặt vào Đảng Cộng Sản cho một đất nước thanh bình đã tan vỡ.
Tôi đã ngu muội để cho cái chế độ bạo quyền và độc tài ấy nhồi sọ mình mà ngỡ đấy là một niềm hi vọng, là một chân lý sống. Tôi nhục nhã khi nhìn lại hình ảnh đứa bé mẫu giáo (là tôi) đã cẩn thận dán những tấm phiếu “bé ngoan Bác Hồ” ngay ngắn lên tường nhà mà ngây thơ không biết Bác là một con người hạ cấp đến mức độ nào. Tôi tự trách khi quàng chiếc khăn đội viên màu đỏ đã thấm máu của biết bao đồng bào vô tội trong công cuộc “cải cách ruộng đất” do ĐCS thi hành hay phong trào “Nhân Văn-Giai Phẩm” đòi tự do dân chủ trong những năm giữa thập niên 50. Tôi hổ thẹn khi cài chiếc huy hiệu đoàn mang biểu tượng tay cầm lá cờ đỏ sao vàng mà theo Đảng là để soi sáng đường thanh niên tiến bước.
Đó không phải là sự thật. Tôi hận mình đã từng chấp nhận mang trên người sự dối trá đê hèn, bởi chính cái lá cờ ấy mà tất cả người con đang sống trên đất Việt hiện nay do lầm tin một lần để rồi phải sống nô lệ cho ngoại bang từng ngày, từng giờ, từng phút. Hỡi ôi, những cụm từ “giải phóng miền Nam” và “thống nhất đất nước” của Đảng đặt ra sao mị dân đến thế. Vậy mà một số cá nhân vẫn còn sùng bái những chính sách “ngu dân” để rồi tự biến mình thành đứa con tội đồ ngàn đời của mẹ Việt Nam.
Ngày trước tôi còn hồn nhiên trên chiếc xe đạp đến trường, còn vô tư cùng bè bạn vui đùa trong suốt quãng đời học trò yên bình của mình. Xung quanh chúng tôi được bao bọc bởi lớp kính vạn hoa mà nhìn xuyên qua là cả một bầu trời muôn sắc muôn màu hiện ra rực rỡ. Trong cái thế giới ấy, tôi đã thấy những con người ngồi chiễm chệ trên chiếc xe hơi bóng loáng, những cao ốc sang trọng của thời đại tân tiến, những khu phố nhộn nhịp tiếng nói cười hớn hở, những kế hoạch to lớn và quan hệ hợp tác, đầu tư lâu dài của các nhà kinh doanh nước ngoài đối với Việt Nam.
Thời kỳ kinh tế đã bắt đầu mở cửa ư? Không. Bây giờ tôi chỉ thấy đằng sau lồng kính nhiệm màu kia là những hình ảnh đau thương, tang tóc của quê hương. Tôi không còn thấy sự phồn thịnh do Đảng nguỵ tạo lên mà thay vào đó là chết chóc, là đọa đày. Đất nước ngày nay như một sa mạc khô cằn không sức sống, như cánh rừng hoang tàn thiếu tiếng chim ca, như một trại tù cho toàn dân vô tội, như một nghĩa trang đầy những linh hồn chết oan. Xã hội ngày nay tràn ngập tệ nạn mại dâm, đồi truỵ, buôn lậu, ăn cắp, quan liêu cửa quyền, tham nhũng hối lội v.v…
Đã thế ĐCS nào có lo lắng cho đời sống của dân mà cứ hút máu đồng bào như loài ác quỷ, lại còn làm tay sai cho Tàu Cộng để chúng vơ vét hết đất đai, rừng núi, hải đảo của quê hương. Quả là một guồng máy xã hội mục ruỗng, thối nát. Một bọn phản đồ đang sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật như thế thì thử hỏi tôn ti trật tự ở đâu, lễ nghĩa phép tắc ở chổ nào đây.
Cái mái trường XHCN chỉ đưa ra những lý thuyết suông thôi sao? Hay nó chỉ dạy cho Đảng phải biết nhường nhịn và tôn thờ quân Tàu cướp nước; còn đối với đồng bào ruột thịt thì chính quyền Cộng sản ra sức đàn áp và giết hại, lúc đó mới gọi là “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa” sao? Thế mà tôi đã từng thần tượng, cảm phục cái nền giáo dục xảo trá ấy. Còn biết bao tuổi trẻ trong nước phải chịu sự cưỡng bách tư tưởng mà không thể tự do nói lên tiếng nói dân chủ của chính mình. Xót xa thay cho con cháu Lạc Hồng với bề dày lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Tuổi thơ của những ai đã từng bị Bộ Giáo Dục và Đào Tạo tiêm cho một mũi độc dược “mang tên Người” thì không thể không nhớ hay ít nhất cũng nghe đến “Năm điều Bác Hồ dạy”. Đây là những lời căn dặn của Hồ Chí Minh viết cho thiếu niên, nhi đồng trong dịp lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam nhưng sau này những câu chữ ấy đã được sửa lại hoàn chỉnh như sau:
1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
2. Học tập tốt, lao động tốt
3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm
Tôi nhận thấy rằng những cán bộ cao cấp Trung ương Đảng hiện thời thực hành lời dạy dỗ của cụ Hồ còn tốt hơn gấp triệu lần thanh thiếu niên Việt Nam. Nói về “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”, họ không bao giờ để nhân dân nhúng tay vào những việc “dơ bẩn” hay bận tâm đến những chuyện trọng đại mang tính dân tộc như bán đất nhượng rừng, hiến dâng hai hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng. Nói về “Học tập tốt, lao động tốt”, các cán bộ này rất ham học hỏi tính đàn áp tôn giáo, tính hạch sách những nhà dân chủ, tính bóc lột dân nghèo và họ cũng lao động cật lực cho quân ngoại xâm . Nói về “Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt”, những bộ mặt Đảng viên nhơ nhớp ấy luôn sống đùm bọc cùng bọn cướp Trung Quốc với phương châm “16 chữ vàng” là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và chủ trương “4 tốt” là “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Họ tuyệt đối tuân theo những qui định giặc Tàu đề ra với một tinh thần “kỷ luật tốt” để giữ gin tình anh em hữu nghị.
Nói về “Giữ gìn vệ sinh thật tốt” thì không ai chú trọng bảo vệ sức khoẻ bằng cựu Tổng bí thư ĐCSVN Lê Khả Phiêu khi ông ta cho trồng nguyên một vườn rau sạch trên sân thượng để tránh ăn thực phẩm độc hại ngoài chợ. Nói về “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”, tôi có thể thấy tính khiêm nhường của các cán bộ này mỗi lần vơ vét của dân được “mười tạ” thì chỉ nói là nhặt nhạnh được “một ký”. Hơn nữa, họ còn thật thà tin vào dự án khai thác quặng bô-xít trên Tây Nguyên của đối tác Trung Quốc để nông dân trong vùng phải sống lay lắt vì mất đất trồng hoa màu. Họ dũng cảm chấp nhận làm tên nô dịch cho giặc Tàu mặc dù hiểu rõ rằng tính mạng hàng triệu đồng bào đang bị đe dọa bởi kế hoạch thống trị toàn đất nước Việt Nam của giặc.
Tôi công nhận những vị cán bộ này quả xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. Các bạn trẻ trong nước và hải ngoại hãy nhìn vào công cuộc đổi mới của Đảng Cộng Sản mà tự mình phán xét chế độ lộng quyền kia có còn của dân, cho dân, và vì dân hay không.
Tôi sợ lắm khi mình không còn tìm thấy tên nước Việt Nam hiện diện trên bản đồ thế giới vào một ngày mù tối. Tôi buồn lắm khi dân tộc Việt Nam trở thành gia nô cho kẻ thù đã từng đô hộ nước nhà một nghìn năm. Tôi hoang mang không biết nguồn cội của mình ở đâu nếu con cháu Lạc Hồng biến mất trong tiềm thức của dư luận thế giới. Tôi sẽ là ai? Các bạn tuổi trẻ Việt Nam sẽ là ai? Có thể các bạn muốn giống người này kẻ nọ hay những nhân vật nổi tiếng trên thế giới, nhưng hãy nhớ rằng chúng ta không bao giờ trở thành họ vì chúng ta là người Việt Nam mang trong mình dòng máu yêu nước.
Tôi tin những người trẻ chúng ta không một thành phần cá nhân nào muốn quê hương rơi vào bóng đêm rồi câm lặng mãi mãi. Vận mệnh của đất nước đang nằm trong tay chúng ta. Hãy tìm hiểu sự thật và lên tiếng cho nhân quyền! Tôi mong lắm những trái tim nhiệt huyết cùng chung một lý tưởng cho Việt Nam thanh bình và ấm no. Đừng để bản thân các bạn lầm đường lạc bước trên muôn vàn đau thương của quê nhà, các bạn ạ!
Còn tôi, tôi đã thức tỉnh.
Một phút suy-tư
(lượm lặt tren Internet không rõ xuât xứ)
Thảo luận về khuynh hướng đấu tranh chính trị, vị trí đấu tranh, vai trò đấu tranh của một tổ chức hay một cá nhân trong 1 quốc gia là một việc tích cực, một ưu điểm của sự tự do ngôn luận tại quốc gia đó.
Nhưng đôi khi chúng ta không khai thác ưu thế của tự do ngôn luận mà lại làm ngược lại.
Ông A phân tích, đưa nhận định tiêu cực về 1 cá nhân. Thay vì đưa những phân tích, nhận xét tích cực để bênh vực cá nhân đó, để phản biện sự chống đối, thì ông B lại phê phán ông A. Rồi thì A phản pháo, tấn công lại B. Chụp mũ nhau như vậy, dán nhãn nhau là "thiếu tử tế" như vậy, chỉ chứng minh được sự thiếu trưởng thành của chúng ta trong việc sử dụng quyền tự do ngôn luận.
Câu chuyện về cá nhân của các nhà tranh đấu đã được nhiều người bàn thảo, có viết thêm chút nữa chắc cũng không hay ho gì hơn. Hôm nay chúng tôi chỉ muốn bàn về một khía cạnh khác.
Quý vị hãy bỏ vài phút, thử tưởng tượng mình đang là Việt Cộng chính hiệu, quí vị có đầy tâm địa độc ác, tính tàn nhẫn, lòng tham lam, sự điếm đàng, y-chang như bọn Việt Cộng, như vậy trước một hiện tượng bị phát biểu tranh đấu, bài bác, chống đối chế độ Cộng Sản như hiện nay, quý vị sẽ đối phó như thế nào.
Quý vị có dùng lệnh quản chế để cấm việc liên lạc với báo chí, hay là quý vị im lặng để cho những người là mối nguy của quý vị ngang nhiên trả lời phỏng vấn, phóng tiếng nói đi cả năm châu bốn biển.
Việt Cộng có thừa khả năng mỗi ngày bỏ một ít steroid hay dược chất vào thức ăn làm giảm hệ thống miễn nhiễm của một người, khiến người ấy không mắc bệnh này cũng mắc bệnh khác, Việt Cộng có dám làm như vậy hay không?
Có lẽ có nhiều quý vị sẽ cho rằng Việt Cộng sợ áp lực quốc tế, Việt Cộng muốn tạo bộ mặt tự do, nên Việt Cộng không thể xử quá ép những người chống đối họ một cách công khai.
Nếu nghĩ nhu vậy vô tình quí vị đã bênh vực cho Việt Cộng và đang tán dương không công cho chế độ Cộng Sản Việt Nam rồi đó, quí vị đang ca ngợi bọn Việt Cộng đã tôn trọng tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do chính trị v..v..và v..v...
Quý vị hãy nghĩ lại chuyện Việt Cộng thừa gan dạ xé nát hiệp định Paris, tổng tấn công trong lúc đồng ý hưu chiến, ngưng bắn, đày đọa hàng triệu người, giết chết hàng trăm ngàn người, thủ tiêu ám sát vô số người, từng tuyên truyền qua mặt thế giới tự do, Việt Cộng sẽ làm gì với những người có thể là mối nguy của chúng nó hiện nay ?
Những nhà chống đối trong nước, tốt hay xấu, là Hằng Nga hay chú Cuội, chúng tôi không "dám" bàn ở đây vì "sợ" những người "tử tế" chụp mũ, chúng tôi chỉ muốn chúng ta nghĩ xem nếu chúng ta là Việt Cộng, với đầy đủ những "tính ác độc" của Việt Cộng, thì chúng ta sẽ làm gì trước một người, một nhóm có thể di họa cho chúng ta.
Nếu tôi là Việt Cộng, tôi cũng sắp sẵn vở tuồng, không phải chỉ chọn các vai chánh, mà cả vai phụ, những tay phỏng vấn. Nếu tôi là Việt Cộng tôi cũng sẽ gài người vào các cơ quan truyền thông lớn, nếu không gài được thì sẽ mua chuộc.
Người nào không phải của tôi thì đừng hòng có cơ hội có tin tức trong nước.
Trong một ván cờ, chúng ta không thể chỉ nghĩ đến nước đi của chúng ta mà quan trọng hơn rất nhiều nữa, chúng ta phải đoán xem đối thủ sẽ đi như thế nào.
Có một số nhà đấu tranh không có cơ hội lên tiếng, một số người đã bị giết, trong khi một số người được Việt Cộng cho phát biểu "vô tư".
Nếu phát biểu bất lợi cho quí vị, và nếu quí vị là Việt Cộng, quý vị thủ tiêu, bịt miệng hay để cho mầm họa tự do phát biểu?
Ngược lại, nếu mầm họa trở cờ, ăn năn hối cải, đồng ý phát biểu có lợi cho quí vi. Nếu quí vị là Việt Cộng , quí vị có cho họ phát biểu hay không?
Chắc chắn là có, phải không quí vị ?
(lượm lặt tren Internet không rõ xuât xứ)
(lượm lặt tren Internet không rõ xuât xứ)
Thảo luận về khuynh hướng đấu tranh chính trị, vị trí đấu tranh, vai trò đấu tranh của một tổ chức hay một cá nhân trong 1 quốc gia là một việc tích cực, một ưu điểm của sự tự do ngôn luận tại quốc gia đó.
Nhưng đôi khi chúng ta không khai thác ưu thế của tự do ngôn luận mà lại làm ngược lại.
Ông A phân tích, đưa nhận định tiêu cực về 1 cá nhân. Thay vì đưa những phân tích, nhận xét tích cực để bênh vực cá nhân đó, để phản biện sự chống đối, thì ông B lại phê phán ông A. Rồi thì A phản pháo, tấn công lại B. Chụp mũ nhau như vậy, dán nhãn nhau là "thiếu tử tế" như vậy, chỉ chứng minh được sự thiếu trưởng thành của chúng ta trong việc sử dụng quyền tự do ngôn luận.
Câu chuyện về cá nhân của các nhà tranh đấu đã được nhiều người bàn thảo, có viết thêm chút nữa chắc cũng không hay ho gì hơn. Hôm nay chúng tôi chỉ muốn bàn về một khía cạnh khác.
Quý vị hãy bỏ vài phút, thử tưởng tượng mình đang là Việt Cộng chính hiệu, quí vị có đầy tâm địa độc ác, tính tàn nhẫn, lòng tham lam, sự điếm đàng, y-chang như bọn Việt Cộng, như vậy trước một hiện tượng bị phát biểu tranh đấu, bài bác, chống đối chế độ Cộng Sản như hiện nay, quý vị sẽ đối phó như thế nào.
Quý vị có dùng lệnh quản chế để cấm việc liên lạc với báo chí, hay là quý vị im lặng để cho những người là mối nguy của quý vị ngang nhiên trả lời phỏng vấn, phóng tiếng nói đi cả năm châu bốn biển.
Việt Cộng có thừa khả năng mỗi ngày bỏ một ít steroid hay dược chất vào thức ăn làm giảm hệ thống miễn nhiễm của một người, khiến người ấy không mắc bệnh này cũng mắc bệnh khác, Việt Cộng có dám làm như vậy hay không?
Có lẽ có nhiều quý vị sẽ cho rằng Việt Cộng sợ áp lực quốc tế, Việt Cộng muốn tạo bộ mặt tự do, nên Việt Cộng không thể xử quá ép những người chống đối họ một cách công khai.
Nếu nghĩ nhu vậy vô tình quí vị đã bênh vực cho Việt Cộng và đang tán dương không công cho chế độ Cộng Sản Việt Nam rồi đó, quí vị đang ca ngợi bọn Việt Cộng đã tôn trọng tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do chính trị v..v..và v..v...
Quý vị hãy nghĩ lại chuyện Việt Cộng thừa gan dạ xé nát hiệp định Paris, tổng tấn công trong lúc đồng ý hưu chiến, ngưng bắn, đày đọa hàng triệu người, giết chết hàng trăm ngàn người, thủ tiêu ám sát vô số người, từng tuyên truyền qua mặt thế giới tự do, Việt Cộng sẽ làm gì với những người có thể là mối nguy của chúng nó hiện nay ?
Những nhà chống đối trong nước, tốt hay xấu, là Hằng Nga hay chú Cuội, chúng tôi không "dám" bàn ở đây vì "sợ" những người "tử tế" chụp mũ, chúng tôi chỉ muốn chúng ta nghĩ xem nếu chúng ta là Việt Cộng, với đầy đủ những "tính ác độc" của Việt Cộng, thì chúng ta sẽ làm gì trước một người, một nhóm có thể di họa cho chúng ta.
Nếu tôi là Việt Cộng, tôi cũng sắp sẵn vở tuồng, không phải chỉ chọn các vai chánh, mà cả vai phụ, những tay phỏng vấn. Nếu tôi là Việt Cộng tôi cũng sẽ gài người vào các cơ quan truyền thông lớn, nếu không gài được thì sẽ mua chuộc.
Người nào không phải của tôi thì đừng hòng có cơ hội có tin tức trong nước.
Trong một ván cờ, chúng ta không thể chỉ nghĩ đến nước đi của chúng ta mà quan trọng hơn rất nhiều nữa, chúng ta phải đoán xem đối thủ sẽ đi như thế nào.
Có một số nhà đấu tranh không có cơ hội lên tiếng, một số người đã bị giết, trong khi một số người được Việt Cộng cho phát biểu "vô tư".
Nếu phát biểu bất lợi cho quí vị, và nếu quí vị là Việt Cộng, quý vị thủ tiêu, bịt miệng hay để cho mầm họa tự do phát biểu?
Ngược lại, nếu mầm họa trở cờ, ăn năn hối cải, đồng ý phát biểu có lợi cho quí vi. Nếu quí vị là Việt Cộng , quí vị có cho họ phát biểu hay không?
Chắc chắn là có, phải không quí vị ?
(lượm lặt tren Internet không rõ xuât xứ)
Thư Xin Lỗi của Hội Chuyên Gia Việt Nam
Chúng tôi phản đối những hành vi phá hoại của tin tặc, đặc biệt là những phá hoại đến từ Việt Nam. Chúng tôi đang hợp tác với các công ty liên hệ trong việc này và những công ty chuyên truy tìm nguồn gốc các tin tặc. Chúng tôi cũng sẽ hợp tác tối đa với các cơ quan công quyền có trách nhiệm điều tra và phòng chống tin tặc tại các nước đang có phân hội HCGVN hoạt động.
Trần Hữu Nhân
Tổng Thư Ký Hội Chuyên Gia Việt Nam
Các vụ tấn công của tin tặc nhắm vào phần mềm VPSKeys
Kính gửi quý độc giả của trang web Hội Chuyên Gia Việt Nam và quý vị đang sử dụng VPSKeys.
Tiếp theo bản lên tiếng của ban kỹ thuật HCGVN về việc nhu liệu VPSKeys bị tin tặc nhiễm virus, chúng tôi có nhận được sự quan tâm và chia sẻ cảm thông của nhiều quí vị vì nhu liệu VPSKeys gõ tiếng Việt khá phổ thông trong giới sử dụng máy vi tính.
Chúng tôi xin nhắc lại là vào ngày 22 tháng 1, 2010 ban kỹ thuật của HCGVN khám phá ra sự xâm nhập của tin tặc vào trang web vps.org để cài ấn bản VPSKeys có virus. Ngay sau đó ban kỹ thuật đã xóa bỏ nhu liệu có virus và vá lại các lỗ hổng an ninh. Tuy nhiên, anh chị em trong ban kỹ thuật chúng tôi đã lượng định sai mức độ hệ trọng và tin là tin tặc chỉ mới đột nhập vào mà thôị Do đó sau khi vá lại lỗ hổng an ninh, chúng tôi tưởng đã giải quyết xong vấn đề và không thông báo rộng rãi trên web.
Nay Hội Chuyên Gia Việt Nam xin thành thật xin lỗi tất cả quý độc giả, quý vị đang sử dụng nhu liệu VPSkey, và quý đồng hương về sự sai sót nàỵ
Theo lượng giá của công ty McAfee thì tin tặc xâm nhập vào trang web vps.org vào khoảng cuối năm 2009. Do đó nếu quý vị nào có tải nhu liệu VPSKeys từ trang web vps.org xuống trong khoảng thời gian từ 11/2009 đến hết 1/2010, xin rà soát lại máy của mình để loại trừ virus, nếu có.
Theo Bấmđánh giá của công ty McAfee từ trước đến nay thì nhu liệu VPSKeys vẫn là một nhu liệu an toàn để sử dụng.
Ấn bản VPSKeys hiện thời trên trang nhà vps.org là ấn bản tốt, theo lượng giá của McAfeẹ Tuy nhiên để quý vị thật sự an tâm, đây là những chỉ số để nhận dạng nhu liệu nguyên thủy của chúng tôi:
VPSKeys43.exe download từ trang vps.org sẽ có:
Filesize: 1,351,777 byte,
MD5 Checksum : 69b6071e1cebf2dc0849e94b4ad7d414
Sau khi cài đặt xong, program Vpskeys.exe, có filesize = 102,400 byte
Hội Chuyên Gia Việt Nam là tập hợp của những chuyên gia Việt Nam tự nguyện đóng góp thời giờ, công sức cho những việc ích lợi cho cộng đồng.
Chúng tôi phản đối những hành vi phá hoại của tin tặc, đặc biệt là những phá hoại đến từ Việt Nam. Chúng tôi đang hợp tác với các công ty liên hệ trong việc này và những công ty chuyên truy tìm nguồn gốc các tin tặc. Chúng tôi cũng sẽ hợp tác tối đa với các cơ quan công quyền có trách nhiệm điều tra và phòng chống tin tặc tại các nước đang có phân hội HCGVN hoạt động.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2 ... tter.shtml
Trần Hữu Nhân
Tổng Thư Ký Hội Chuyên Gia Việt Nam
Các vụ tấn công của tin tặc nhắm vào phần mềm VPSKeys
Kính gửi quý độc giả của trang web Hội Chuyên Gia Việt Nam và quý vị đang sử dụng VPSKeys.
Tiếp theo bản lên tiếng của ban kỹ thuật HCGVN về việc nhu liệu VPSKeys bị tin tặc nhiễm virus, chúng tôi có nhận được sự quan tâm và chia sẻ cảm thông của nhiều quí vị vì nhu liệu VPSKeys gõ tiếng Việt khá phổ thông trong giới sử dụng máy vi tính.
Chúng tôi xin nhắc lại là vào ngày 22 tháng 1, 2010 ban kỹ thuật của HCGVN khám phá ra sự xâm nhập của tin tặc vào trang web vps.org để cài ấn bản VPSKeys có virus. Ngay sau đó ban kỹ thuật đã xóa bỏ nhu liệu có virus và vá lại các lỗ hổng an ninh. Tuy nhiên, anh chị em trong ban kỹ thuật chúng tôi đã lượng định sai mức độ hệ trọng và tin là tin tặc chỉ mới đột nhập vào mà thôị Do đó sau khi vá lại lỗ hổng an ninh, chúng tôi tưởng đã giải quyết xong vấn đề và không thông báo rộng rãi trên web.
Nay Hội Chuyên Gia Việt Nam xin thành thật xin lỗi tất cả quý độc giả, quý vị đang sử dụng nhu liệu VPSkey, và quý đồng hương về sự sai sót nàỵ
Theo lượng giá của công ty McAfee thì tin tặc xâm nhập vào trang web vps.org vào khoảng cuối năm 2009. Do đó nếu quý vị nào có tải nhu liệu VPSKeys từ trang web vps.org xuống trong khoảng thời gian từ 11/2009 đến hết 1/2010, xin rà soát lại máy của mình để loại trừ virus, nếu có.
Theo Bấmđánh giá của công ty McAfee từ trước đến nay thì nhu liệu VPSKeys vẫn là một nhu liệu an toàn để sử dụng.
Ấn bản VPSKeys hiện thời trên trang nhà vps.org là ấn bản tốt, theo lượng giá của McAfeẹ Tuy nhiên để quý vị thật sự an tâm, đây là những chỉ số để nhận dạng nhu liệu nguyên thủy của chúng tôi:
VPSKeys43.exe download từ trang vps.org sẽ có:
Filesize: 1,351,777 byte,
MD5 Checksum : 69b6071e1cebf2dc0849e94b4ad7d414
Sau khi cài đặt xong, program Vpskeys.exe, có filesize = 102,400 byte
Hội Chuyên Gia Việt Nam là tập hợp của những chuyên gia Việt Nam tự nguyện đóng góp thời giờ, công sức cho những việc ích lợi cho cộng đồng.
Chúng tôi phản đối những hành vi phá hoại của tin tặc, đặc biệt là những phá hoại đến từ Việt Nam. Chúng tôi đang hợp tác với các công ty liên hệ trong việc này và những công ty chuyên truy tìm nguồn gốc các tin tặc. Chúng tôi cũng sẽ hợp tác tối đa với các cơ quan công quyền có trách nhiệm điều tra và phòng chống tin tặc tại các nước đang có phân hội HCGVN hoạt động.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2 ... tter.shtml
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Mong qúy anh chị hưởng ứng và phổ biến rộng rãi .
HƯỞNG ỨNG CHIẾN DỊCH "KHỒNG VỀ VIỆT NAM THÁNG TƯ ĐEN 2010"
Thiết thực yểm trợ cuộc đấu tranh quốc nội
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nếu phải trả lời câu hỏi, "bạn có sẵn sàng yểm trợ cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trong quốc nội không?" tôi tin là 99% người Việt hải ngoại sẽ trả lời "sẵn sàng", dù có phải đóng góp tiền bạc, sức lực.
Chúng ta cần yểm trợ vì Việt Cộng đàn áp đồng bào ruột thịt của chúng ta, những người chỉ võ trang bằng đức tin và lòng hy sinh ngồi cầu nguyện dưới sức roi điện, lựu đạn cay của công an Việt Cộng; chúng ta còn cần yểm trợ vì Việt Cộng đàn áp hàng vạn dân oan mất đất lên Sài Gòn, Hà Nội nằm ngồi lê lết trên lể đường, chịu đựng cảnh màn trời chiếu đất.
Phương tiện yểm trợ chúng tôi vận động với quý bạn chính là sức mạnh của đồng mỹ kim; nhưng chúng tôi không xin quý bạn phải đóng góp vào một quỹ nào cả; quý bạn cũng không phải tiêu một đồng nào, mà chỉ cần kế hoạch hóa nhu cầu giúp đỡ gia đình tại Việt Nam.
Chúng tôi xin quý bạn không gởi một đồng nào về Việt Nam trong tháng Tư năm nay để hưởng ứng phong trào tạo sức mạnh cho "tháng Tư đen"; phô trương tiềm năng của khối 3 triệu người Việt hải ngoại chúng ta: tiềm năng lớn lao của ý thức, và của đoàn kết.
Chúng ta phải làm cho tháng Tư Ðen trở thành tháng thất thu, tháng nghèo túng của các quan chức Việt Cộng; vì không những không gửi tiền, chúng ta còn không về nước thăm viếng gia đình trong tháng Tư năm nay.
Dĩ nhiên mỗi gia đình một cảnh, nhưng quý bạn không cần phải vĩnh viễn không gởi tiền về giúp đỡ thân nhân, cũng không cần dứt khoát từ bỏ thông lệ về thăm gia đình. Quý bạn chỉ cần kế hoạch hoá những số tiền gửi, những cuộc thăm viếng.
Số tiền đáng lẽ gửi vào tháng Tư, quý bạn có thể gửi vào tháng trước, hay tháng sau; chuyến đi Việt Nam đáng lẽ đi vào tháng Tư, xin quý bạn đi sớm hơn, hay trể hơn.
Tháng Tư thất thu sẽ là một chỉ dấu cho sự phẫn uất của chúng ta, và sẽ là sức phản đối rất mạnh của chúng ta; Việt Cộng sẽ phải hiểu, phải nể nang và phải nhượng bộ lực lượng người Việt hải ngoại, mà đến giờ này chúng chỉ ve vuốt.
Số tiền "kiều hối", tiền chúng ta gửi về, và số tiền chúng ta đem về nước tiêu xài, hàng năm lên đến 6 tỉ bạc, mỗi tháng nửa tỉ -- 500 triệu mỹ kim-- số tiền đủ lớn để Việt Cộng nhận ra ngay, hiểu ngay thái độ của chúng ta để nhanh chóng đáp ứng.
Một tiền lệ cho thấy Việt Cộng rất "nhậy cảm" trong vấn đề tiền bạc là thái độ ngụy quyền Việt Cộng bấn lên vì Nhật ngưng không cấp 100 triệu mỹ kim ngân khoản xây đại lộ Ðông Tây xuyên ngang Sài Gòn. Nguyễn Tấn Dũng vội vàng ve vuốt đại sứ Nhật, và hứa hẹn sửa sai, truy tố những tham quan ô lại, trong số có Huỳnh Ngọc Sỹ, bàn tay bẩn nhận tiền giùm cho toàn đảng Việt Cộng mafia.
Chúng sẽ còn bấn đến đâu nếu số tiền thất thu trong tháng tư đen lên đến 500 triệu mỹ kim, nhiều gấp 5 lần kinh phí xây đại lộ Ðông Tây.
Trong 33 năm nay Việt Cộng chỉ ve vuốt chúng ta mà chưa có một nhượng bộ nhỏ nào cả, vì chúng biết chúng ta có nhu cầu gửi tiền về giúp đỡ gia đình. Có thể năm nay với phong trào "Tháng Tư Ðen", số tiền 6 tỉ mỹ kim vẫn không ít hơn, nhưng khoảng thời gian một tháng thất thu sẽ làm chúng e ngại trước ý chí của khối người Việt hải ngoại, e ngại chúng ta còn có thể đi xa hơn nữa trong chiến thuật "cúp viện trợ."
Tại sao chúng ta không làm một việc không khó khăn tí nào cả để yểm trợ cuộc đấu tranh oai hùng nhưng cô đơn của bao nhiêu chiến sĩ dân chủ đang đói, lạnh trong lao tù Việt Cộng. Linh mục Nguyễn Văn Lý, hai luật sư Lê thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài và bao nhiêu người nữa sẽ âm thầm nở một nụ cười mát ruột khi nghe đến sức mạnh của phong trào "Tháng Tư Ðen."
Ðặc tính của phong trào là tinh thần tự giác, chúng ta tự ý thực hiện kỷ luật chung mà vẫn không ảnh hưởng gì đến mức chi tiêu của thân nhân tại Việt Nam.
Xin quý vị trả lời "sẵn sàng chấp nhận kỷ luật tự giác."
Nguyễn Ðạt Thịnh
--------------------------------------------------------------------------------
HƯỞNG ỨNG CHIẾN DỊCH "KHỒNG VỀ VIỆT NAM THÁNG TƯ ĐEN 2010"
Thiết thực yểm trợ cuộc đấu tranh quốc nội
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nếu phải trả lời câu hỏi, "bạn có sẵn sàng yểm trợ cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trong quốc nội không?" tôi tin là 99% người Việt hải ngoại sẽ trả lời "sẵn sàng", dù có phải đóng góp tiền bạc, sức lực.
Chúng ta cần yểm trợ vì Việt Cộng đàn áp đồng bào ruột thịt của chúng ta, những người chỉ võ trang bằng đức tin và lòng hy sinh ngồi cầu nguyện dưới sức roi điện, lựu đạn cay của công an Việt Cộng; chúng ta còn cần yểm trợ vì Việt Cộng đàn áp hàng vạn dân oan mất đất lên Sài Gòn, Hà Nội nằm ngồi lê lết trên lể đường, chịu đựng cảnh màn trời chiếu đất.
Phương tiện yểm trợ chúng tôi vận động với quý bạn chính là sức mạnh của đồng mỹ kim; nhưng chúng tôi không xin quý bạn phải đóng góp vào một quỹ nào cả; quý bạn cũng không phải tiêu một đồng nào, mà chỉ cần kế hoạch hóa nhu cầu giúp đỡ gia đình tại Việt Nam.
Chúng tôi xin quý bạn không gởi một đồng nào về Việt Nam trong tháng Tư năm nay để hưởng ứng phong trào tạo sức mạnh cho "tháng Tư đen"; phô trương tiềm năng của khối 3 triệu người Việt hải ngoại chúng ta: tiềm năng lớn lao của ý thức, và của đoàn kết.
Chúng ta phải làm cho tháng Tư Ðen trở thành tháng thất thu, tháng nghèo túng của các quan chức Việt Cộng; vì không những không gửi tiền, chúng ta còn không về nước thăm viếng gia đình trong tháng Tư năm nay.
Dĩ nhiên mỗi gia đình một cảnh, nhưng quý bạn không cần phải vĩnh viễn không gởi tiền về giúp đỡ thân nhân, cũng không cần dứt khoát từ bỏ thông lệ về thăm gia đình. Quý bạn chỉ cần kế hoạch hoá những số tiền gửi, những cuộc thăm viếng.
Số tiền đáng lẽ gửi vào tháng Tư, quý bạn có thể gửi vào tháng trước, hay tháng sau; chuyến đi Việt Nam đáng lẽ đi vào tháng Tư, xin quý bạn đi sớm hơn, hay trể hơn.
Tháng Tư thất thu sẽ là một chỉ dấu cho sự phẫn uất của chúng ta, và sẽ là sức phản đối rất mạnh của chúng ta; Việt Cộng sẽ phải hiểu, phải nể nang và phải nhượng bộ lực lượng người Việt hải ngoại, mà đến giờ này chúng chỉ ve vuốt.
Số tiền "kiều hối", tiền chúng ta gửi về, và số tiền chúng ta đem về nước tiêu xài, hàng năm lên đến 6 tỉ bạc, mỗi tháng nửa tỉ -- 500 triệu mỹ kim-- số tiền đủ lớn để Việt Cộng nhận ra ngay, hiểu ngay thái độ của chúng ta để nhanh chóng đáp ứng.
Một tiền lệ cho thấy Việt Cộng rất "nhậy cảm" trong vấn đề tiền bạc là thái độ ngụy quyền Việt Cộng bấn lên vì Nhật ngưng không cấp 100 triệu mỹ kim ngân khoản xây đại lộ Ðông Tây xuyên ngang Sài Gòn. Nguyễn Tấn Dũng vội vàng ve vuốt đại sứ Nhật, và hứa hẹn sửa sai, truy tố những tham quan ô lại, trong số có Huỳnh Ngọc Sỹ, bàn tay bẩn nhận tiền giùm cho toàn đảng Việt Cộng mafia.
Chúng sẽ còn bấn đến đâu nếu số tiền thất thu trong tháng tư đen lên đến 500 triệu mỹ kim, nhiều gấp 5 lần kinh phí xây đại lộ Ðông Tây.
Trong 33 năm nay Việt Cộng chỉ ve vuốt chúng ta mà chưa có một nhượng bộ nhỏ nào cả, vì chúng biết chúng ta có nhu cầu gửi tiền về giúp đỡ gia đình. Có thể năm nay với phong trào "Tháng Tư Ðen", số tiền 6 tỉ mỹ kim vẫn không ít hơn, nhưng khoảng thời gian một tháng thất thu sẽ làm chúng e ngại trước ý chí của khối người Việt hải ngoại, e ngại chúng ta còn có thể đi xa hơn nữa trong chiến thuật "cúp viện trợ."
Tại sao chúng ta không làm một việc không khó khăn tí nào cả để yểm trợ cuộc đấu tranh oai hùng nhưng cô đơn của bao nhiêu chiến sĩ dân chủ đang đói, lạnh trong lao tù Việt Cộng. Linh mục Nguyễn Văn Lý, hai luật sư Lê thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài và bao nhiêu người nữa sẽ âm thầm nở một nụ cười mát ruột khi nghe đến sức mạnh của phong trào "Tháng Tư Ðen."
Ðặc tính của phong trào là tinh thần tự giác, chúng ta tự ý thực hiện kỷ luật chung mà vẫn không ảnh hưởng gì đến mức chi tiêu của thân nhân tại Việt Nam.
Xin quý vị trả lời "sẵn sàng chấp nhận kỷ luật tự giác."
Nguyễn Ðạt Thịnh
--------------------------------------------------------------------------------
Phái đoàn Quốc Hội Việt Nam bị phản đối tại Quốc Hội California
Nửa số nghị sĩ bỏ phòng họp, Hạ Viện hủy bỏ lễ tiếp đón
Tiffany Lê - Ðông Bàn/Người Việt SACRAMENTO, Calif. - Chuyến viếng thăm chính thức của phái đoàn Quốc Hội Việt Nam đến Quốc Hội Tiểu Bang California hôm 5 tháng 4 bị hủy bỏ tại Hạ Viện, và gặp phải sự phản đối của khoảng một nửa số nghị sĩ tại Thượng Viện.

Thượng Nghị Sĩ Lou Correa (trái), phát biểu tại Thượng Viện trước khi phái đoàn Việt Nam được giới thiệu. Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn gởi thư phản đối đến Chủ Tịch Hạ Viện
John Perez. (Hình: Văn Phòng TNS Correa và DB Văn Trần cung cấp)
Phái đoàn Việt Nam do bà Lê Thị Thu Ba, chủ nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội Việt Nam, dẫn đầu. Và theo Dân Biểu Trần Thái Văn, ông đã viết thư ngay cho Chủ Tịch Hạ Viện Tiểu Bang John Perez, “ngay sau khi được biết phái đoàn Việt Nam sẽ được tiếp tại Hạ Viện.”
Ông Văn nói với Người Việt, ông đã giải thích với Dân Biểu Perez rằng, sẽ hoàn toàn không đúng đắn nếu “một phái đoàn như vậy, từ một chế độ toàn trị như vậy, lại được tiếp trang trọng ngay trong mùa lễ Tưởng Niệm 35 năm biến cố Tháng Tư Ðen.”
Chủ Tịch Hạ Viện Tiểu Bang John Perez, sau đó đã quyết định hủy buổi đón tiếp.
Tuy nhiên, chương trình đón tiếp tại Thượng Viện Tiểu Bang vẫn diễn ra như dự kiến.?
Cuộc tiếp xúc của Thượng Viện với phái đoàn Quốc Hội Việt Nam gặp sự phản đối của khoảng một nửa số nghị sĩ tiểu bang.

Phái đoàn đại diện Quốc Hội Việt Nam chờ phía bên ngoài phòng nghị hội của Hạ Viện California. (Hình: Christian Koszka) Ngay trước khi phái đoàn này, gồm tám thành viên, được chính thức giới thiệu, Thượng Nghị Sĩ Lou Correa lên tiếng phản đối, chỉ trích Hà Nội, và đưa ra một số “gợi ý.” Thượng Nghị Sĩ Lou Correa nói với Người Việt rằng, ông khuyên phái đoàn Việt Nam “nên học cách mà chính quyền tiểu bang giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền cá nhân, đến nhân quyền, đến quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, và tự do tôn giáo.”
Ngay tại phòng họp của Thượng Viện của Tiểu Bang, với phái đoàn Việt Nam đang đứng phía sau, Nghị Sĩ Correa phát biểu, rằng mặc dầu “không thể ngăn chặn chuyến viếng thăm này, nhưng nếu quý vị đã có mặt tại đây, quý vị cần học tất cả các điều liên quan đến ‘quyền,’ để hiểu chính quyền tiểu bang California đối xử với quyền tự do ra sao.”
Phát biểu xong, ông Correa rời phòng họp. Khoảng một nửa số nghị sĩ, hơn 20 người, đa số là các nghị sĩ Cộng Hòa, cũng rời khỏi phòng họp để biểu thị sự phản đối.
Bản tin của văn phòng Nghị Sĩ Correa cho biết, trong khi tám thành viên phái đoàn Việt Nam được giới thiệu tại Thượng Viện, thêm một số nghị sĩ khác cũng đứng dậy, rời phòng họp.
Phía Thượng Viện, Nghị Sĩ Ellen Corbett chính thức giới thiệu phái đoàn này với các đồng viện.
Phóng viên Người Việt gọi đến văn phòng Nghị Sĩ Corbett. Văn phòng từ chối đưa ra lời nhận định, và chuyển sang văn phòng Nghị Sĩ Steinberg. Thượng Nghị Sĩ Steinberg là chủ tịch Ủy Ban Ðịnh Chế Thượng Viện California. Hồi cuối tháng 3 vừa qua, Nghị Sĩ Correa đã gởi phản đối đến Nghị Sĩ Steinberg khi biết rằng Thượng Viện tiểu bang sẽ tiếp chính thức phái đoàn Việt Nam.
Nói với Người Việt, bà Alicia Trost, phát ngôn nhân của văn phòng Nghị Sĩ Steinberg, giải thích về lý do của chuyến viếng thăm Thượng Viện. “Chuyến thăm này là do Chính Phủ Liên Bang sắp xếp. Văn Phòng Quan Hệ Quốc Tế của Thượng Viện Hoa Kỳ sắp xếp các cuộc thăm viếng lẫn nhau, với nhiều quốc gia khác nhau.”
Bà Trost cũng nói thêm, rằng “mọi phái đoàn ngoại quốc đến thăm California đều được giới thiệu trước Thượng Viện. Và đây là phép lịch sự thông thường.”
“Nếu chúng ta đến thăm họ, họ cũng sẽ có hành động tương tự.”
Thông thường, một phái đoàn nước ngoài đến thăm Thượng Viện là để “học về thể chế dân chủ Hoa Kỳ.”
Bà Trost nói văn phòng Nghị Sĩ Steinberg không biết chi tiết của chuyến viếng thăm này.
Thông cáo báo chí của văn phòng Nghị Sĩ Correa viết, có đoạn nói về lời phát biểu của ông trước khi phái đoàn Việt Nam được giới thiệu. Phát biểu có đoạn, “...Tôi đại diện khu vực trung tâm quận Cam, và vùng Little Sài Gòn, nơi có đông người Việt Nam sinh sống nhất, bên ngoài Việt Nam. Chính tai tôi đã nghe nhiều câu chuyện từ cử tri của tôi, về những trường hợp bị tù cải tạo hàng chục năm. Nhiều người bị đi tù cải tạo, không chỉ là những quân nhân, mà còn cả những nhà thơ, nhà báo, ký giả, trí thức, và các lãnh đạo tinh thần...” “Quý vị có thể nói rằng chuyện đó là quá khứ, và hiện tại là khác. Nhưng, những quan tâm về sự thiếu nhân quyền tại Việt Nam vẫn còn và được sự chú ý và quan tâm của mọi giới.”
Trong khi đó, bức thư mà văn phòng Dân Biểu Trần Thái Văn gởi Chủ Tịch Hạ Viện John Perez có đoạn, “Cá nhân tôi là một người tị nạn cộng sản. Gia đình tôi được di tản ra khỏi Việt Nam cũng vào tháng này, 35 năm trước. Chúng tôi ra đi để trốn sự đàn áp tiếp ngay sau thời điểm những người cộng sản miền Bắc chiếm đóng miền Nam.”
“Và từ thời điểm ấy, Việt Nam luôn là thủ phạm của những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng mô tả tình trạng nhân quyền Việt Nam là yếu kém...”
Cuối tháng 3 vừa qua, Nghị Sĩ Lou Correa, trong thư phản đối chuyến viếng thăm của phái đoàn Quốc Hội Việt Nam, đã viết tương tự, rằng tình trạng nhân quyền tại Việt Nam vẫn tồi tệ, và nhiều nhân vật tranh đấu cho tự do bị cầm tù.
Thượng Nghị Sĩ Correa cũng nhắc cho đồng viện của ông tại Quốc Hội Tiểu Bang, là thời điểm tưởng niệm biến cố 30 tháng 4 đang đến gần. Biến cố này đáng ghi nhớ cho cộng đồng gốc Việt, và cho “tất cả chúng ta, về những người đã chết trong cuộc chiến Việt Nam.”
Nửa số nghị sĩ bỏ phòng họp, Hạ Viện hủy bỏ lễ tiếp đón
Tiffany Lê - Ðông Bàn/Người Việt SACRAMENTO, Calif. - Chuyến viếng thăm chính thức của phái đoàn Quốc Hội Việt Nam đến Quốc Hội Tiểu Bang California hôm 5 tháng 4 bị hủy bỏ tại Hạ Viện, và gặp phải sự phản đối của khoảng một nửa số nghị sĩ tại Thượng Viện.

Thượng Nghị Sĩ Lou Correa (trái), phát biểu tại Thượng Viện trước khi phái đoàn Việt Nam được giới thiệu. Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn gởi thư phản đối đến Chủ Tịch Hạ Viện
John Perez. (Hình: Văn Phòng TNS Correa và DB Văn Trần cung cấp)
Phái đoàn Việt Nam do bà Lê Thị Thu Ba, chủ nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội Việt Nam, dẫn đầu. Và theo Dân Biểu Trần Thái Văn, ông đã viết thư ngay cho Chủ Tịch Hạ Viện Tiểu Bang John Perez, “ngay sau khi được biết phái đoàn Việt Nam sẽ được tiếp tại Hạ Viện.”
Ông Văn nói với Người Việt, ông đã giải thích với Dân Biểu Perez rằng, sẽ hoàn toàn không đúng đắn nếu “một phái đoàn như vậy, từ một chế độ toàn trị như vậy, lại được tiếp trang trọng ngay trong mùa lễ Tưởng Niệm 35 năm biến cố Tháng Tư Ðen.”
Chủ Tịch Hạ Viện Tiểu Bang John Perez, sau đó đã quyết định hủy buổi đón tiếp.
Tuy nhiên, chương trình đón tiếp tại Thượng Viện Tiểu Bang vẫn diễn ra như dự kiến.?
Cuộc tiếp xúc của Thượng Viện với phái đoàn Quốc Hội Việt Nam gặp sự phản đối của khoảng một nửa số nghị sĩ tiểu bang.

Phái đoàn đại diện Quốc Hội Việt Nam chờ phía bên ngoài phòng nghị hội của Hạ Viện California. (Hình: Christian Koszka) Ngay trước khi phái đoàn này, gồm tám thành viên, được chính thức giới thiệu, Thượng Nghị Sĩ Lou Correa lên tiếng phản đối, chỉ trích Hà Nội, và đưa ra một số “gợi ý.” Thượng Nghị Sĩ Lou Correa nói với Người Việt rằng, ông khuyên phái đoàn Việt Nam “nên học cách mà chính quyền tiểu bang giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền cá nhân, đến nhân quyền, đến quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, và tự do tôn giáo.”
Ngay tại phòng họp của Thượng Viện của Tiểu Bang, với phái đoàn Việt Nam đang đứng phía sau, Nghị Sĩ Correa phát biểu, rằng mặc dầu “không thể ngăn chặn chuyến viếng thăm này, nhưng nếu quý vị đã có mặt tại đây, quý vị cần học tất cả các điều liên quan đến ‘quyền,’ để hiểu chính quyền tiểu bang California đối xử với quyền tự do ra sao.”
Phát biểu xong, ông Correa rời phòng họp. Khoảng một nửa số nghị sĩ, hơn 20 người, đa số là các nghị sĩ Cộng Hòa, cũng rời khỏi phòng họp để biểu thị sự phản đối.
Bản tin của văn phòng Nghị Sĩ Correa cho biết, trong khi tám thành viên phái đoàn Việt Nam được giới thiệu tại Thượng Viện, thêm một số nghị sĩ khác cũng đứng dậy, rời phòng họp.
Phía Thượng Viện, Nghị Sĩ Ellen Corbett chính thức giới thiệu phái đoàn này với các đồng viện.
Phóng viên Người Việt gọi đến văn phòng Nghị Sĩ Corbett. Văn phòng từ chối đưa ra lời nhận định, và chuyển sang văn phòng Nghị Sĩ Steinberg. Thượng Nghị Sĩ Steinberg là chủ tịch Ủy Ban Ðịnh Chế Thượng Viện California. Hồi cuối tháng 3 vừa qua, Nghị Sĩ Correa đã gởi phản đối đến Nghị Sĩ Steinberg khi biết rằng Thượng Viện tiểu bang sẽ tiếp chính thức phái đoàn Việt Nam.
Nói với Người Việt, bà Alicia Trost, phát ngôn nhân của văn phòng Nghị Sĩ Steinberg, giải thích về lý do của chuyến viếng thăm Thượng Viện. “Chuyến thăm này là do Chính Phủ Liên Bang sắp xếp. Văn Phòng Quan Hệ Quốc Tế của Thượng Viện Hoa Kỳ sắp xếp các cuộc thăm viếng lẫn nhau, với nhiều quốc gia khác nhau.”
Bà Trost cũng nói thêm, rằng “mọi phái đoàn ngoại quốc đến thăm California đều được giới thiệu trước Thượng Viện. Và đây là phép lịch sự thông thường.”
“Nếu chúng ta đến thăm họ, họ cũng sẽ có hành động tương tự.”
Thông thường, một phái đoàn nước ngoài đến thăm Thượng Viện là để “học về thể chế dân chủ Hoa Kỳ.”
Bà Trost nói văn phòng Nghị Sĩ Steinberg không biết chi tiết của chuyến viếng thăm này.
Thông cáo báo chí của văn phòng Nghị Sĩ Correa viết, có đoạn nói về lời phát biểu của ông trước khi phái đoàn Việt Nam được giới thiệu. Phát biểu có đoạn, “...Tôi đại diện khu vực trung tâm quận Cam, và vùng Little Sài Gòn, nơi có đông người Việt Nam sinh sống nhất, bên ngoài Việt Nam. Chính tai tôi đã nghe nhiều câu chuyện từ cử tri của tôi, về những trường hợp bị tù cải tạo hàng chục năm. Nhiều người bị đi tù cải tạo, không chỉ là những quân nhân, mà còn cả những nhà thơ, nhà báo, ký giả, trí thức, và các lãnh đạo tinh thần...” “Quý vị có thể nói rằng chuyện đó là quá khứ, và hiện tại là khác. Nhưng, những quan tâm về sự thiếu nhân quyền tại Việt Nam vẫn còn và được sự chú ý và quan tâm của mọi giới.”
Trong khi đó, bức thư mà văn phòng Dân Biểu Trần Thái Văn gởi Chủ Tịch Hạ Viện John Perez có đoạn, “Cá nhân tôi là một người tị nạn cộng sản. Gia đình tôi được di tản ra khỏi Việt Nam cũng vào tháng này, 35 năm trước. Chúng tôi ra đi để trốn sự đàn áp tiếp ngay sau thời điểm những người cộng sản miền Bắc chiếm đóng miền Nam.”
“Và từ thời điểm ấy, Việt Nam luôn là thủ phạm của những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng mô tả tình trạng nhân quyền Việt Nam là yếu kém...”
Cuối tháng 3 vừa qua, Nghị Sĩ Lou Correa, trong thư phản đối chuyến viếng thăm của phái đoàn Quốc Hội Việt Nam, đã viết tương tự, rằng tình trạng nhân quyền tại Việt Nam vẫn tồi tệ, và nhiều nhân vật tranh đấu cho tự do bị cầm tù.
Thượng Nghị Sĩ Correa cũng nhắc cho đồng viện của ông tại Quốc Hội Tiểu Bang, là thời điểm tưởng niệm biến cố 30 tháng 4 đang đến gần. Biến cố này đáng ghi nhớ cho cộng đồng gốc Việt, và cho “tất cả chúng ta, về những người đã chết trong cuộc chiến Việt Nam.”

