QUÁN BIÊN THUỲ

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

HUYỀN SỬ VỀ NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA

Sơn Tùng


Trong nỗi buồn của những ngày Tháng Tư, tôi có một niềm vui bất ngờ, niềm vui thầm lặng pha lẫn nỗi xót xa khi đọc được một bài viết ngắn trong mục “CASUAL” trên tuần báo The Weekly Standard số ra ngày 5.4.2010.Bài viết mang tựa đề War Music của tác giả Robert Messenger nói về các bản nhạc nổi tiếng mà những người lính đã hát trên chiến địa ở mọi nơi trong lịch sử,

nhưng hầu như toàn bài viết đã được dùng để thuật lại một trận đánh ác liệt khi quân Pháp bị bao vây trong tám tuần lễ tại Điện Biên Phủ năm 1954.

Messenger kể rằng vào cao điểm của cuộc vây hãm, một đơn vị phòng thủ nhỏ của quân đội Pháp đã quyết định phản công sau 11 ngày đêm đẩy lui các cuộc tấn công liên tục của Việt Minh nhắm vào những ngọn đồi trọng yếu ở tuyến phòng thủ phiá đông. Khởi sự từ 6 giờ 10 phút sáng ngày 10 tháng 4, ba đại đội “trừ” của Tiểu đoàn 6 Dù Thuộc địa, khoảng 180 người, đã tái chiếm một trong những cứ điểm giao tranh dữ dội nhất là đồi Eliane 1. Bị tổn thất nặng, nhưng những toán phóng hỏa đã tiến lên dưới làn đạn để phun lửa lùa bộ đội Việt Minh ra khỏi nơi ẩn náu, và sau một cuộc đánh xáp lá cà ác liệt lính dù Pháp đã làm chủ đỉnh đồi.

Bộ đội Việt Minh tức thì phản công, và tuy quân lính Pháp giữ vững phòng tuyến, những cuộc tấn công vẫn không ngừng. Cuộc giao tranh đã diễn ra ngang ngửa trong đêm tối, và cuộc chiến đấu tiếp tục dưới ánh sáng ma trơi của những trái hoả châu treo lơ lửng dưới những chiếc dù. Viên sĩ quan Pháp chỉ huy dùng máy truyền tin gửi đi một lời kêu gọi tới các đơn vị bạn ở gần để xin tiếp cứu.

Lực lượng tiếp cứu đến đầu tiên là hai Đại đội 2 và 3 của Tiểu đoàn Dù Lê Dương Ngoại quốc. Quân số bình thường của các đại đội gồm từ 150 tới 200 người, nhưng sau một tháng giao tranh tại Điện Biên Phủ đã làm quân số mỗi đại đội giảm xuống còn khoảng 50 tay súng. Khi tiến lên ngọn đồi đang giao chiến ác liệt dưới ánh sáng hoả châu màu xanh lục, họ bắt đầu hát vang bài quân hành của Lữ đoàn mang tên “Contre les Viets” (được đổi từ bài hát nguyên thủy “Contre les Rouges”).

Những người lính Lê Dương tiến lên đồi Eliane đã hát giống như họ đã từng hát trong khi làm việc để lên tinh thần. Và họ đã không cô đơn. Ngay sau khi họ bắt đầu tiến lên ngọn đồi đầy hầm hố và xác chết, Đại đội 2 và Đại đội 3 của Tiểu đoàn Dù Việt Nam đã tới cứu viện. Vì mới vừa được thành lập, các người lính Dù Việt Nam đã không có bài quân hành của chính họ, nhưng họ hãnh diện là những người lính chiến. Họ đã chiến đấu dũng cảm và tới nửa đêm, ngọn đồi đã vào tay những người lính Dù, và họ đã giữ vững thêm được 20 ngày nữa cho đến khi bị Việt Minh tràn ngập.

Điện Biên Phủ thất thủ và trở thành một địa danh lớn trong chiến sử thế giới, và là một vết nhơ trong lịch sử nước Pháp, nhưng có lẽ không sử sách nào ghi lại cuộc chiến đấu hào hùng của hai đại đội Dù của Quân đội Việt Nam lúc ấy còn non trẻ vừa được thành lập trong một hoàn cảnh lịch sử cay nghiệt.

Trong cuốn “Tôn Vinh Cuộc Chiến Đấu Thần Thánh Của Quân Lực VNCH”, xuất bản năm 1999, cuốn sách thứ 36 và cuối cùng của ông, cố Học giả Phạm Kim Vinh đã viết như sau về sự ra đời của Quân Lực VNCH:

“Được coi như ra đời trên thực tế từ năm 1950, quân đội quốc gia Việt Nam chỉ có hân hạnh được chính thức hoá sự hiện hữu của mình mười lăm năm sau đó, bằng một văn kiện hành chánh ấn định lập Ngày Quân Lực Việt Nam. Đây mới chỉ là một trong bao nhiêu điều nghịch thường chồng chất lên quân đội quốc gia Việt Nam, một quân đội gặp nhiều bất hạnh ngay từ khi mới được thành lập.

“Sau năm 1948, một số người Việt quốc gia đứng trước một chọn lựa đau đớn: họ đã bắt đầu nhận ra sự lừa bịp của Hồ Chí Minh dưới chiêu bài kháng chiến chống Pháp để giành độc lập, nhưng mặt khác, những người ấy không thể tìm được ngọn lửa hăng say khi mà người Pháp rõ rệt là chỉ muốn tái lập chế độ thuộc địa tại Đông Dương. Câu hỏi lớn nhất với người Việt quốc gia từ năm 1948 trở đi là sau khi hai đảng chính trị lớn nhất của người quốc gia - Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội – đã bị tàn sát hầu hết cán bộ cao cấp và trung cấp vì thủ đoạn vô cùng xảo quyệt và khát máu của Hồ Chí Minh thì những người không chấp nhận đường lối của Hồ Chí Minh sẽ tìm chất liệu ở đâu, tìm được những người lãnh đạo nào để họ theo đuổi con đường xây dựng một nước Việt Nam không cộng sản? Thiếu vắng một chính nghĩa rõ rệt, cũng như thiếu hẳn một hình thức lãnh đạo chính trị hữu hiệu, những người Việt này ngơ ngác, và bắt buộc giữ một thái độ cầm chừng, trong khi người Pháp tiếp tục ngoan cố không chịu nói chuyện với phiá người Việt quốc gia. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh ra lệnh tổng động viên mọi người Việt từ 18 đến 45 tuổi (đây là những người sống dưới sự kiểm soát của họ Hồ). Cuộc tổng động viên ấy được họ Hồ coi là để chuẩn bị giai đoạn tổng tấn công quân Pháp tại Việt Nam. Lúc ấy, Hoa lục vừa bị Mao Trạch Đông chiếm trọn nên nước Mỹ bắt đầu có cái nhìn khác về Đông Dương. Tuy vẫn còn bị người Pháp bắt chẹt (Pháp sau Thế chiến II là chủ lực của Minh ước Bắc Đại Tây Dương, một tổ chức được người Mỹ dùng để chặn sự bành trướng của Sô Viết tại Âu Châu), nhưng người Mỹ đã dần dần gia tăng áp lực để buộc Pháp nói chuyện với người Việt quốc gia.

“Dưới áp lực ấy, Pháp chịu ký thoả hiệp tại Điện Elysée ngày 8.3.1949, thừa nhận sự độc lập của nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của cựu hoàng Bảo Đại, nhưng là độc lập trong khuôn khổ “Liên Hiệp Pháp”. Dĩ nhiên là hình thức độc lập nhỏ giọt ấy làm cho nhiều người quốc gia thất vọng. Trong số những người có khả năng trở thành người lãnh đạo của phiá quốc gia, nhiều người chán nản vì thái độ ngoan cố của Pháp nên đã tìm đường lưu vong. Cũng có người nhắm mắt theo chân cộng sản.

“Đến khi thấy Hồ Chí Minh tổng động viên, nước Pháp (lúc ấy là nội các René Pleven) mới vội vàng ‘long trọng cam kết’ một lần nữa là sẽ thi hành thoả hiệp Elysée 8.3.1949, và hứa đến ngày 1.1.1951 là chậm nhất, sẽ trao lại quyền hành chánh cho người Việt Nam, và trao quyền quân sự cho quân đội quốc gia càng sớm càng hay. Vì sự cam kết ấy cho nên về mặt hành chánh, quân đội quốc gia Việt Nam được coi như ra đời năm 1950 (11.5.1950).” (ngưng trích)

Từ khi được thành lập, Quân đội Quốc gia Việt Nam đã không ngừng phát triển và trưởng thành trong khói lửa dù bị người Pháp chèn ép, ăn chặn viện trợ Mỹ, và cướp đoạt nhiều loại vũ khí của Mỹ giúp cho quân đội non trẻ Việt Nam.

Dù ra đời trong hoàn cảnh nghiệt ngã, vì phần nào bị nhìn như tay sai của thực dân Pháp, người lính quốc gia đã chiến đấu dũng cảm, như hai đại đội Dù trong trận Điện Biên Phủ được thuật lại trong bài viết của Robert Messenger. Có lẽ Messenger không biết rằng binh chủng Dù tinh nhuệ oai hùng của Quân đội Việt Nam cho đến sau này cũng chỉ có một khẩu hiệu đơn giản: “Nhảy dù - cố gắng!” Những người lính can trường ấy đã “cố gắng” trong suốt cuộc đời chiến binh của họ!

Chỉ sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và Việt Nam bị chia đôi, chế độ Cộng Hoà được thành lập tại miền Nam năm 1955, Quân đội Quốc gia mới thực sự độc lập và chiến đấu bảo vệ đất nước trong 20 năm, để rồi cuối cùng tan rã trong 55 ngày và bị “bạn” cũng như thù bôi nhọ.

Sau năm 1975, đã có một số tác giả ở Mỹ và phương Tây viết những cuốn sách nói lên sự thật, mà cuốn mới nhất có lẽ là Ride The Thunder của Richard Botkin, do WorldNetDaily xuất bản năm 2009. Đây là một cuốn sách được viết bằng lương tâm của một người lính Mỹ về người lính Việt Nam trong cuộc chiến Việt Nam - một cuộc chiến thảm khốc với nhiều toan tính bất lương từ bên ngoài và bên trong, với những nhân danh giả tạo từ phiá bên này và phiá bên kia. Chỉ có máu của người lính là thật. Sự hy sinh vô bờ bến của họ là thật.

Trong cuộc chiến tàn khốc kéo dài ba thập niên ấy, người lính Pháp đã chiến đấu cho tham vọng thuộc địa của thực dân Pháp, người lính miền Bắc Việt Nam đã chết cho chủ nghiã cộng sản dưới chiêu bài kháng chiến chống ngoại xâm, người lính Mỹ tới Việt Nam rồi ra đi theo lệnh của những chính khách con buôn ở Washington, chỉ có người lính miền Nam Việt Nam đã chiến đấu để bảo vệ chính đất nước của mình, bảo vệ gia đình mình và tự do của chính mình.

Người lính ấy đã miệt mài chiến đấu cho đến khi ngã xuống hay trở thành phế nhân. Họ không cần biết tới những toan tính ở Washington, ở Mac-tư-khoa, ở Bắc Kinh, ở Hà-nội, hay Sài-gòn. Họ không quan tâm tới tiếng chê, lời khen phù phiếm của những nhà báo, nhà văn đi tìm danh lợi ở phương Tây xa xôi và an lạc.

Người lính ấy cũng không cần ai “phục hồi danh dự”, vì họ đã có danh dự do chính họ tạo ra bằng những hy sinh cao quý không gì sánh được. Trên mỗi vùng đất miền Nam Việt Nam, từ An Lộc, Bình Long, tới Gio Linh, Quảng Trị …, đều có thấm những giọt máu của người lính đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng mà huyền sử đã được ghi trên đá, trên hoa.

Danh dự và huyền sử kiêu hùng của người lính Việt Nam Cộng Hoà không có gì làm bợn nhơ được với hàng trăm người - từ tướng tới quân - đã tự chọn cái chết trước cuộc tan hàng oan nghiệt vào Tháng Tư 1975.

Sơn Tùng
09 Tháng Tư 2010

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

30 Tháng Tư: Phút Cuối Của Vị Tướng

Tác giả: Phan

Tác giả là một nhà báo tại Dallas. Ông từng phụ trách mục "Chuyện Vỉa Hè" trong Ca Dao Magazine, và hiện trong nhóm chủ biên của báo Trẻ. Ông đã góp nhiều bài viết đặc biệt và nhận Giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2007. Bài mới nhất của ông kể về “Nỗi Buồn Tháng Tư” và một đoạn hồi ký đã làm ông “tối sầm mặt mũi”: giờ phút cuối của vị Tướng tuẫn tiết chiều 30 Tháng Tư, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng.

Ly Cà Phê Đã Lạnh!
Lâu lắm rồi, tôi mới tử tế với mình một bữa. Pha ly cà phê phin đúng điệu thuở nào. Có chén nước nóng bên ngoài ly, cho cà phê đừng nguội. Chế nước nóng vô phin cũng phải đúng cách mới ngon. Đừng đổ lấy đầy như mọi hôm vì châm phin cà phê xong là đi đánh răng, rửa mặt, trở ra vừa xong. Tiết kiệm được thời gian, nhưng ngon thì không. Đúng điệu là chế chút nước nóng vô phin cà phê thôi, nước đủ để nở cà phê mà coi như chưa pha. Cùng lắm, chỉ cho cà phê nhỏ xuống ly đôi ba giọt. Cà phê rơi từng giọt/ từng giọt buồn rơi rơi/ nhìn đời qua khói thuốc/ mấy ai là tri âm. Không biết thời đi học, thằng mắc dịch nào sên sắc… sến ra mấy câu hời tình. Vái ông trời: không phải mình, đã đủ hên.

Thế đó, có một thời như thế ở quê tôi. Người ta không biết làm gì cho hết thời gian nên chôn đời vào những thú vui ru đời quên lãng. Giả sử một tên bạn làm quản lý thị trường, được con buôn dúi cho nhúm cà phê. Im miệng cho họ đi hàng lậu là đồng loã. Nhưng bắt họ sao được, họ là ai? Cô, dì, mẹ của mấy thằng mình. Vì sao họ đi buôn lậu cà phê? Để kiếm tiền tiếp tế cho chú, cậu, cha, anh trong trại tù cải tạo.
Nhúm cà phê ăn hối lộ mang về, ăn năn hối hận thoáng qua mau với mùi thơm của quỷ. Mấy mái đầu xanh tuổi trẻ ngồi nhâm nhi khổ nhục của cha mẹ, cậu mợ, dì dượng, chú thím… mới vỡ lẽ ra rằng: Trước hoà bình, cà phê như bắp, như khoai. Ai chở đi đâu thì chở, đừng chở vô rừng cho Việt cộng là được. Sao hoà bình rồi, cà phê trở thành mặt hàng quốc cấm. Cả nước không được uống cà phê. Cà phê là mặt hàng chiến lược, mặt hàng xuất khẩu… Nếu một ngày trái đất thiếu cà phê/ thành phố Paris sẽ biến thành thành phố chết/ dòng sông Seine ngưng chảy/ và chiến tranh/ sẽ làm nổ tung nước Mỹ… Đúng là không có việc gì làm thì người ta làm thơ cho hết thời gian. Thơ chẳng ăn nhậu gì với thế sự càng siêu. Làm thơ không ai hiểu là thượng thừa! Ghê thật.

Ngồi nhìn lá mới, gió mới về, lá mới xanh. Từng giợn lá như sóng xô theo gió, mơn man, mịn màng. Không khô khốc xạc xào như lá mùa thu, gió mùa thu vừa buồn vừa ảm đạm với màu lá, màu trời. Còn gì nữa mà không châm nước nóng vô phin cà phê. Sẽ thấy cà phê không chảy tong tong, hối hả vì cà phê trong phin đã nở đủ rồi. Những giọt cà phê sánh giọt sẽ rơi nhẹ hều xuống lớp đường trắng, mỏng dưới đáy ly tinh khiết diệu kỳ. Nhưng từ khi có xâm lăng, từng giọt, từng giọt đen thấm dần, loang dầu tới hết thơ ngây của lớp đường trinh bạch. Ngồi nhìn cà phê rơi đã đủ sướng, thú tính hưng phấn bội phần. Đen xâm thực trắng tới toàn phần y Trung cộng với Việt Nam. Tía má ơi! Không ngờ có ngày mình cũng để an nguy tổ quốc trong lòng như một nhà yêu nước vô danh.

Thả lỏng tư tưởng đi hoang cho đã, nhìn lại phin cà phê đã nhỏ giọt cuối cùng từ bao giờ. Hello người thôn tính, kết cục của xâm chiếm là cạn kiệt. Ngươi đồng hoá được đường trắng thành đen thì cà phê ngươi cũng đâu còn nguyên chất đắng, vị ngọt của đường đã tan loãng vào ngươi. Không bao lâu nữa, Trung cộng tràn xuống Việt Nam như cà phê xâm thực lớp đường. Tùy nồng độ ngọt, người ta gọi là ly nước đường có mùi cà phê hay ly cà phê có đường! Đằng nào, hai bên cũng không còn thuần chủng. Ngày xưa, vó ngựa Thành Cát đánh qua châu Aâu. Để lại dân tộc Bungari là dân tộc da vàng duy nhất ở châu Aâu. (Không nhớ đọc ở đâu, ai quởn, kiểm chứng giùm. Đa tạ)

Ít nhiều, chiến tranh đã kết thúc 35 năm. Hai cuộc chiến tây bắc với Trung cộng; tây nam với Campuchia năn 1979 không đáng kể. 35 năm thôi thấy hoả châu đêm đêm thắp sáng một vùng trời. Sáng ra thôi thấy mặt người hớt hải chạy tang. Nhưng cuộc chiến sắp tới không tránh khỏi. Máu lại chảy thành dòng ra biển lớn. Có hay không? Có chiến tranh thì chắc có, nhưng đổ máu thì không tin. Chả ai thích đổ máu, nhưng chẳng đặng đừng, thà đổ máu giữ nước, tướng chết theo thành khi không giữ được còn hơn. Nhưng “Hệ đầu hàng” đang nắm quyền bính trong tay, trong nước. Một chuyến bay trốn chui trốn nhủi ra ngoại quốc, họ bỏ lại toàn dân nô khổ cho Tàu, là điều hiển hiện.

Nghĩ tới thôi đã buồn. Nãy giờ gõ liên miên mà có biết là mình gõ gì đâu! Thì ra là: Nỗi buồn tháng tư. Ly cà phê cầu kỳ đã lạnh. Cái háo hức chờ hớp cà phê đầu tiên thời tuổi trẻ đã mất tự bao giờ. Sự hưởng thụ tới hồi không cần thiết bằng nghĩ cách đóng góp, làm cho con nít thành con nít sống lâu năm. “Nhiệt tình cộng với sự ngu dốt, tạo thành một sức phá hoại khủng khiếp”, là ta.

Nỗi buồn tháng tư đậm đà như muối muối. Muối đem muối hồi nào, ăn thời bụi phấn trắng vai, tới nay còn mặn. Ngồi uống ly cà chớn, đọc mớ email cà khịa. Bỗng tối sầm mắt mũi, rời rã tay chân với hồi ký của ông Nghĩa. Do báo Trẻ Florida gởi về. Đọc mà tức tácgiả, người chi tiếc viết tới cái họ với chữ lót. Nghĩ cho cùng, một cái tên ở đời có nghĩa gì. Người sống đúng tên như ông Nghĩa thì một chữ “Nghĩa” đã có nghĩa.
Đọc đi đọc lại như không tin mình hân hạnh được đọc hồi ký về vị tướng chết theo thành đã lừng danh thiên cổ. Đa tạ ông Nghĩa trước khi xin trích đoạn. Cầu xin Ơn trên cho ông được bình an tới lúc lâm chung vì những đau khổ trần gian ông đã gánh chịu hơn đời. Đa tạ.

Trích đoạn Hồi Ký:
“Lúc đó khoảng 8h30 tối ngày 30-4-75. Bộ quân phục nghiêm chỉnh vẫn còn trên người Chuẩn Tướng và tôi. Bên trong phòng ngủ Chuẩn Tướng, ngay sát đầu cầu thang trên lầu, sau nụ hôn vĩnh biệt của phu nhân vừa kịp đặt trên má chồng, ông Tướng đã vội vã đẩy bà ra phía ngoài và đóng nhanh cánh cửa. Lúc quay người lại, thấy tôi còn đứng lại trong phòng, giọng ông thảng thốt:
- Nghĩa! Mầy đi ra...
Vừa nói ông vừa nắm lấy tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo:
- Tôi ở lại cùng Thiếu Tướng!?
Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hằng ngày trong giây phút xúc động mãnh liệt làm giọng Chuẩn Tướng lạc đi. Cái níu đẩy tôi ra ngoài, sự cọ xát ngắn ngủi đầy bi thương ấy khiến tôi có cảm giác mình như là thỏi sắt đang bị rút ra khỏi cục nam châm. Ôi! Cái chết hoàn toàn được sắp đặt trước, lần đầu tiên trong đời tôi mới chứng kiến. Tôi chợt oà khóc!
Đứng bên ngoài, tôi và phu nhân tai còn vọng nghe tiếng rít cài then khô khốc từ bên trong. Bất giác, tôi và bà Tướng mọp người xuống nền gạch, cố đưa mắt nhìn vào khe hở dưới cửa. Mọi sự diễn ra không đầy 1 phút sau đó. Một tiếng nổ chát chúa vang lên bên trong cánh cửa. Tôi hoảng hốt ngưng khóc, đứng bật dậy. Với tiếng nổ đó, tôi đau đớn nhận rõ chắc chắn chuyện gì đã xảy ra rồi! Trong phòng không còn tiếng động nào. Tôi đưa tay thử lay động cánh cửa. Vô hiệu! Tôi lùi lại nhìn xuống phía chân cầu thang kêu lớn khi thấy có 3-4 cái đầu đang nhớn nhác nhìn lên (hình như có cả Thiếu Tá Phương):
- Kiếm một con dao... cạy cửa mau...
Người tài xế tên Giêng cầm con dao to, nhọn, chạy nhanh lên và đích thân nạy cánh cửa bật ra. Mọi người cùng ùa vào phòng. Tôi bàng hoàng khóc ngất. Tất cả cũng khóc và chạy đến chỗ giường ngủ của Chuẩn Tướng. Ông đang ngửa người, nửa thân trên nằm trên tấm nệm trải drap trắng, 2 cánh tay buông ngang, khuy cổ và ngực áo bung ra, màu máu tươi nhuộm thắm phần ngực trái chiếc áo thun trắng bên trong. Cả phần chân Chuẩn Tướng buông thỏng bên ngoài, 2 gót giày chấm đất. Có lẽ Chuẩn Tướng đã ngồi cạnh thành giường, 1 tay cởi 2 khuy áo trên, tay kia đưa nòng colt 45 ấn vào chỗ trái tim...
Chúng tôi đặt Chuẩn Tướng ngay ngắn lại trên giường, gương mặt ông xanh tái, lấm tấm mồ hôi, miệng há, đôi mắt chưa khép, biểu lộ sự đau đớn cực độ. Vừa đặt đầu ông lên gối, bà Tướng vuốt mắt cho chồng... Chuẩn Tướng đã yên nghỉ! Viên đạn oan nghiệt đã xuyên thật chính xác quả tim người anh hùng.
Đứa con đầu lòng, Lê Uy Hải, lúc đó vừa tròn 6 tuổi, đã nhặt được đầu đạn đưa cho mọi người xem, rồi mím môi khép 5 ngón tay giữ chặt "kỷ vật". Nhìn cử chỉ ấy, tôi nghĩ tuổi thơ ngây dại của cháu đã trôi qua mất kể từ buổi tối hôm nay rồi. Khoảng một tiếng đồng hồ trước đó hai anh em (em gái 3 tuổi) còn đùa giỡn trên tấm nệm cao su đặt dưới nền gạch cạnh phòng cha, hai đứa bé không hề hay biết lát nữa đây vành khăn tang trắng sẽ phủ lên tuổi ấu thơ hồn nhiên của mình.”

*
Ông Nghĩa, chắc là sĩ quan tùy viên của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó Vùng IV chiến thuật, phó tướng của Tư lệnh Vùng IV Nguyễn Khoa Nam. Hai vị tướng tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi đọc hết hồi ký này, kính phục phu nhân tướng Hưng còn hơn kính phục vị tướng chết theo thành. Chuyện quá đương nhiên. Tướng đu trực thăng sao gọi là tướng được. Và đau lòngvô hạn với diễn tả của ông Nghĩa về thi thể Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam nằm trong Quân y viện Cần thơ.
35 năm thời gian trôi qua đời đứa trẻ lon ton đi lượm đạn về chơi ngày 30 tháng 4 năm nào. 35 năm sau, ngồi khóc thời gian, lặng lẽ nơi này.
Phan

PHAN

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image


Những ngày cuối cùng của Đại tá Sơn Thương
Anh là người Việt gốc Miên, Cựu Đại Tá Biệt Động Quân, và đã có mặt trên chiền trường miền Nam trong suốt cuộc đời binh nghiệp.

Cũng như các bạn đồng đội còn ở lại đơn vị cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh đã bắt buộc phải ngưng súng chiến đấu, rồi bị Cộng Sản lưu đầy ra miền thượng du Bắc Việt.

Anh đến với chúng tôi ở trại cải tạo Phú Sơn 4, tỉnh Bắc Thái vào cuối năm 1977, khi tất cả các cải tạo viên đều do Công An qủan trị. Chúng tôi thuộc đội 4, gồm trên 30 đội viên do anh Nguyễn Minh Đăng, cựu dân biểu quốc hội nhiệm kỳ 1 và 2. Công tác chính của đội 4 là xây dựng nhà cửạ

Anh Sơn Thương rất cao lớn, khoẻ mạnh, làm việc không biết mệt mỏi nên thường xuyên được bình bầu là đội viên xuất sắc. Anh làm nhiều nhưng nói rất ít, hiếm khi trò truyện với người khác. Ngay cả trong giờ kiểm thảo vào mỗi buổi tối, anh thường ngồi yên lặng từ đầu tới cuối, và nếu được yêu cầu phát biểu ý kiến thì anh cũng chỉ vắn tắt vài câu vô thưởng vô phạt mà thôi.

Anh lại có tật nóng bất ngờ, khi gặp một truyện bất như ý, dù chẳng có gì quan trọng anh vẫn dơ cả hai tay đấm ngực và đòi tự tử chết cho rồi.

Còn một việc có thể làm cho anh tủi thân là anh không hề nhận được quà gia đình.

Theo thường lệ thì cứ ba tháng một lần, mỗi cải tạo viên được lãnh một gói quà không quá 3 ký.

Đối với người tù ở xa nhà, lại bị đói ăn từ ngày này sang ngày khác thì một gói quà tiếp tế của thân nhân là một an ủi vô cùng. Quý giá cả vật chất lẫn tinh thần.

Một hôm nắng gắt, anh Sơn Thương và cùng tôi ra đầu nhà ăn trưa cho bớt nóng nực. Hôm đó tôi mới nhận được một lọ muối mè nên mời anh dùng một chút lấy thảo, và trong tinh thần đồng đội tương thân, tôi đã hỏi tại sao anh không được tiếp tế như mọi người, anh thở dài buồn bã, một lát sau mới cho biết là vợ anh đã mất tích. Gia đình anh chỉ còn một mẹ già và một con trai vị thành niên bây giờ không biết lấy gì để sinh sống, rồi anh ngồi thẫn thờ không nói tiếp. Tôi cũng không tiện hỏi thêm nữa.

Đến giữa mùa hè 1978, vật liệu xây dựng chở về dồn dập nên đội 4 chúng tôi phải tăng thêm giờ làm việc theo đúng tiêu chuẩn "Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm". Tuy nhiên, tất cả đội đều hồ hởi phấn khởi vì 2 lý do:

-Trong đêm hè nóng bức, được ra khỏi phòng giam ngột ngạt để hưởng không khí thoáng mát ngoài trời là cơ hội may mắn hiếm có.

-Đi lao động buổi tối thì mỗi đội viên được bồi dưỡng 1/2 ký khoai mì nên đỡ bị đói.

Giữa lúc mọi người lên tinh thần thì anh Sơn Thương gặp truyện không may.

Một buổi sáng anh Sơn Thương và tôi được phân công chuyên chở vật liệu, nhưng khi chúng tôi đang di chuyển thì lại phải làm công việc khác.

Lúc ấy, trên bãi đất trống bên đường, mấy cán bộ công an đang hì hục lăn một cuộn giây cáp to lớn lên xe tải. Thấy chúng tôi đi ngang, họ liền bắt vào phụ lực. Cuộn giây rất nặng nên mọi người phải cố hết sức mới nâng được nên cao, nhưng càng lên cao thì sức nặng càng tăng và những người cao lớn như anh Sơn Thương thì phải chống đỡ nhiều nhất. Thấp bé như tôi thì chỉ làm thợ vịn.

Bất ngờ anh Sơn Thương kêu lên một tiếng đau đớn rồi không đứng vững được nữa. Bọn cán bộ phải để cho tôi dắt anh về bệnh xá khám nghiệm và kết qủa là anh bị trật khớp xương sống.

Kể từ hôm đó, an Sơn Thương phải nghỉ lao động nhưng vẫn được chia một phần khoai mì bồi dưỡng như thường lệ.

Mấy ngày sau bệnh tình của anh không thuyên giảm và đã gây ra nhiều phiền phức cho cả đội.

Anh cần phải được nâng đỡ dìu dắt khi đi lại.

Anh cũng không thể tự lo liệu vệ sinh cá nhân cho nên có những đêm khuya, anh làm cho nhiều người mất ngủ.

Sua cùng cán bộ quản giáo của đội 4 quyết địng chuyển anh qua đội bệnh nhân ở nhà số 1 để có người trông nom săn sóc.

Lúc ấy nhà số 1 có 3 đội:

-Đội 1 canh nông. Đội trưởng là anh Vũ Thành An một nhạc sỹ trẻ tuổi rất nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975.

-Đội nhà bếp. Đội trưởng là anh Lớn ( tôi không nhớ rõ họ) cựu dân biểu quốc hội

-Đội bệnh nhân. Đội trưởng là anh Hồ Quang Nguyên, cựu bác sỹ Giám Đốc bệnh viện Chợ Quán Saigon.

Ở trại cải tạo Phú Sơn 4, các nhà giam đều kế cận nhau, nhưng sự giao tiếp giữa nhà này nhà khác bị nghiêm cấm.

Vì vậy khi anh Sơn Thương đã được chuyển sang nhà số 1 thì không còn liên hệ gì tới đội 4 nữa.

Tuy nhiên sau khi qua đội bệnh nhân được vài ngày, anh Sơn Thương gửi lên Ban giám thị khiếu nại đã bị cắt phần khoai mì bồi dưỡng, nhưng ban giám thị không cứu xét mà lại chuyển về cho đội 4 giải quyết.

Ngay sau đó vấn đề đã được đội 4 thảo luận và nhất trí rằng anh Sơn Thương không còn là đội viên của đội 4 thì đương nhiên không có tránh nhiệm và quyền lợi gì ở đội 4 nữa .

Đơn khiếu nại đã bị bác bỏ nhưng đã làm cho anh Sơn Thương mất đi nhiều thiện cảm với các đồng đội cũ.

Khoảng 1/2 tháng sau, anh khỏi bệnh và được trả lại đội 4 vào một buổi trưa, khi mọi người đã ra ngoài hiên chờ điểm danh đi lao động.

Đáng buồn cho anh là tất cả đồng đội đều thờ ơ lãnh đạm, trông thấy anh trở về mà không một lời đón chào, thăm hỏi. Có lẽ anh cảm thấy bẽ bàng nên lẳng lặng cất đồ đạc rồi ra ngồi riêng biệt một góc sân.

Đêm hôm ấy khi cả đội hội họp để kiểm điểm công tác, anh đội trưởng Nguyễn Minh Đăng lớn tiếng nhắc lại cho anh Sơn Thương biết rằng chỉ có những đội viên đội 4 phải đi lao động vào buổi tối mới được cung cấp khoai mì bồi dưỡng. Vì vậy đơn khiếu nại không có lý do chính đáng mà còn có thể gây ngộ nhận không tốt cho các bạn đồng đội .

Dường như anh đội trưởng không giữ được bình tĩnh khi phát biẻu ý kiến nên cử chỉ và lời nói của anh có vẻ gay gắt, trong khi đó, tất cả mọi người đều yên lặng, coi như mặc nhiên nhất trí với anh đội trưởng. Sư kiện này chắc chắn đã làm cho anh Sơn Thương tủi thân vì lẻ loi cô độc. Anh không một lời biện minh cũng không còn thói quen giơ hai tay đấm ngực đòi tự tử chết mà chỉ cúi đầu thở dài buồn bã.

Sáng hôm sau, khi đội 4 đang thi hành công tác thì anh Sơn Thương kêu choáng váng, chóng mặt và phải ngồi nghỉ. Được một lúc, đột nhiên chân tay anh co giật liên tiếp, và bấy giờ anh mới tiết lộ là đã uống hết một lọ thuốc sốt rét để tự sát vì anh không muốn sống thêm nữa. Tất cả mọi người hiện diện đều hoảng sợ, và dù chưa có lệnh của cán bộ bảo vệ, anh vẫn được đưa ngay về bệnh xá để cấp cứu .

Đến gần trưa khi đội 4 bắt đầu thu dọn công trường thì được tin anh đã tắt thở. Tính ra kể từ khi anh Sơn Thương trở về đội 4 cho tới luc anh qua đời chỉ có một thời gian ngắn ngủi chưa đầy 24 giờ.

Đêm hôm ấy, đội 4 dành hết thời gian của buổi hội họp thường lệ để thảo luận về thảm họa vừa xảy ra. Nhiều ý kiến được trình bầy nhưng tựu chung chỉ là những lời tiếc rẻ, nhớ thương, hoặc vài câu nhận xét vô thưởng vô phạt.

Tuy nhiên trong chỗ riêng tư, chúng tôi cho rằng anh Sơn Thương đã ấp ủ trong lòng quá nhiều căm hờn, tủi nhục mà không chịu tìm cách giải tỏa nên càng ngày càng thêm chán đời, cho tới lúc không còn chịu đựng được nữa thì chỉ cần một nguyên nhân cỏn con có thể đột xuất thành tai họa khủng khiếp.

Vì vậy mấy lời phê bình tuy gay gắt nhưng không có gì sai trái vẫn biến thành mồi lửa oan nghiệt châm ngòi vào thùng thuốc nổ.

Sau khi anh Sơn Thương mất đi được ít lâu trại cải tạo Phú Sơn 4 bị giải thể vì tình hình bất an do cuộc xâm lăng của Công sản Trung Quốc, các trại viên được chuyển qua nhiều trại cải tạo khác ở cách xa biên giới Hoa Việt, do đó câu truyện anh Sơn Thương tự sát đã được phổ biến rộng rãi đi nhiều nơi, dần dà chuyển vào Nam nhờ những cải tạo viên được phóng thích về với gia đình, sau cùng sang tới cả nước ngoài theo lớp ngưới lìa bỏ quê hương đi tìm tự do.

Khi còn ở Việt Nam cũng như khi định cư tại Úc, tôi được nghe nhiều người kể lại truyện anh Sơn Thương, nhưng mỗi người nói một khác, thậm chí còn có người tin rằng anh đội trưởng Vũ Thành An đã nhẫn tâm cắt bỏ phần khoai mì bồi dưỡng khiến cho an Sơn Thương uất ức mà tự tử.

Tôi cho rằng những sai lầm này không phải là do ác ý xuyên tạc mà chỉ vì nhiều nguyên nhân bất khả kháng.

Như đã trình bầy ở trên, trại cải tạo Phú Sơn nghiêm cấm mọi sự giao tiếp giữa nhà này với nhà khác cũng như giữa đội này với đội khác, nên chỉ có mấy đội viên của đội 4 mới biết rõ anh Sơn Thương qua đời trong trường hợp nào.

Các đội khác thì chỉ nghe phong thanh qua mấy lời truyền khẩu vắn tắt, thầm kín trong một vài dịp họp mặt đông đủ ở hội trường tham dự học tập hoặc xem biểu diễn văn nghệ.

Vì chỉ biết rất sơ lược những gì đã xẩy ra nên người nào cũng cố tìm hiểu nguyên nhân thảm họa này theo cảm nghĩ chủ quan của mình, và trong hoàn cảnh cơ cực về cả thể xác lẫn tinh thần thì tất cả suy tư phán đoán đbều không thể tránh khỏi bi quan thiên lệch.

Cũng vì thế, các câu truyện kể lại thường không giống nhau nhưng cũng có nhiều sai lầm tai hại nên đã gây ra những sự nghi ngờ oan uổng và những lời chê trách bất công.

Hôm nay theo yêu cầu của một thân hữu đã từng bị vạ gió tai bay, tôi cố gắng ghi lại trung thực tất những điều mắt thấy tai nghe trong những ngày cuối cùng của Đại Tá Sơn Thương ở trại cải tạo Phú Sơn 4, và ước mong rằng sẽ xóa bỏ được những sự ngộ nhận rất đáng tiếc như đã xảy ra.

Sydney tháng 10 năm 2001
Nguyễn Đình Bình
Cựu Chánh Thanh Tra Giám Sát Viện

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hoàng Phong Linh - Võ Đại Tôn, Cả Một Đời Sắt Son Gìn Vàng Giữ Lửa

HỮU NGUYÊN

Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản tung hoành một cách bá đạo trên lãnh thổ Việt Nam, dân tộc ta có không biết bao nhiêu anh hùng. Trong số đó, có những vị oai hùng xông pha ngoài trận mạc, có những vị sẵn sàng vị quốc vong thân, có những vị bất khuât giữ gìn khí tiết trong lao tù CS...
Tháng 4 năm 1975, khi đất nước rơi vào tay cộng sản, người dân VN ở khắp mọi miền của đất nước, lại một lần nữa chứng kiến những tấm gương anh hùng, bất khuất, bước vào sử xanh của dân tộc... Trong số đó, có những vị đã vĩnh viễn nằm xuống trong lòng đất lạnh, có những vị vẫn âm thầm chiến đấu trong lòng địch, có những vị vẫn ngược xuôi bôn ba, gìn vàng giữ ngọc, nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh cho quê hương, đất nước suốt mấy chục năm trời...

Trong số những vị anh hùng đó, ta không thể không nói đến ông Võ Đại Tôn, người đã sáng lập Liên Minh Quang Phục Việt Nam ngay từ những tháng năm đầu mất nước, đã từng về VN trực tiếp chiến đấu với kẻ thù CS, từng bị kẻ thù bắt cầm tù suốt thời gian ngót 10 năm trời, nhưng trước sau vẫn giữ được khí tiết của một người lính, sự minh mẫn của một kẻ sĩ, cùng tấm lòng đa cảm, bao dung của một người nghệ sĩ tài hoa.

Người VN xưa nay vẫn có câu: Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức quân thần. Khi nhà nghèo mới hiểu lòng hiếu thuận của con; Khi nước mất mới biết lòng ái quốc của thần dân.

Việc trở về VN tìm đường cứu nước của những vị anh hùng như Trần Văn Bá, Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn, Võ Hoàng, Lê Hồng... trong những năm sau 1975, đã thực sự thắp sáng trong tâm hồn của người Việt yêu nước trên toàn thế giới, niềm tự hào, lòng hy vọng, và sự khâm phục.
Nhưng nếu sự trở về VN chiến đấu, cùng thời gian 10 năm sống trong lao tù CS của ông, đã khiến mọi người kính phục sự can đảm và lòng yêu nước của ông, thì đặc biệt cuộc họp báo của ông ngay giữa sào huyệt của cộng sản cách đây đúng 20 năm, đã khiến cho cả thù lẫn bạn đều phải thừa nhận, bên cạnh lòng cảm đảm, bất khuất, ông Võ Đại Tôn còn là một người mưu lược, biết chủ động mở mặt trận tuyên truyền ngay giữa lòng địch, và chiến thắng vẻ vang.
"Tôi sẽ không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi để tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi sẵn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi."

Hai mươi năm trước, ngay giữa gông cùm và xiềng xích của kẻ thù CS, những lời tuyên bố trên, đã vang vọng như một bản tuyên ngôn của lòng yêu nước, của trí bất khuất, của chân lý, lẽ phải, đức tin... Và suốt 20 năm qua, dù là những năm dài bị đầy đọa trong lao tù của kẻ thù, hay những năm tháng sống tại Úc, tại Mỹ, với tuổi tác chồng chất, ông Võ Đại Tôn vẫn trước sau như một, thủy chung đi theo con đường tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc.

Có nhìn vào cuộc sống của người Việt hải ngoại suốt 27 năm qua, để thấy có những người Việt tỵ nạn CS thuở nào nay bắt tay làm ăn với cộng sản, có những tổ chức chính trị khởi thủy ôm ấp hoài bão đấu tranh cho một nước VN tự do dân chủ, nay biến thái trở thành những tổ chức phi chính trị, thuần túy xã hội, chỉ biết mưu cầu hạnh phúc, bổng lộc riêng tư; có những lãnh tụ ngày nào tiên phong trong cuộc đấu tranh, bây giờ bỗng nửa đường đứt gánh, nay thay áo, mai đổi màu, mốt trùm mền buông lời yếm thế... ta mới thấy được tấm lòng yêu nước của ông Tôn, son sắt, thủy chung và đáng qúy đến nhường nào.

Điều đặc biệt đáng ngưỡng mộ nữa ở ông Võ Đại Tôn là tấm lòng đa cảm và khả năng đầy tài hoa của một người nghệ sĩ, lúc nào cũng hiện hữu cùng ông trên bước đường tranh đấu. Nhờ vậy, với bút hiệu Võ Đại Tôn hoặc Hoàng Phong Linh, trước 1975, ông có những tác phẩm như: Hoa Tím, Đêm Trắng, Cánh Chim Bằng, Đăng Trình, Hồn Ca...; và sau 1975, tại hải ngoại, các tác phẩm: Lời Viết Cho Quê Hương, Đoản Khúc Người Ra Đi, Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy, Tắm Máu Đen... và tác phẩm mới nhất, Chim Bắc Cành Nam, sẽ được Liên Minh Quang Phục VN phát hành vào lúc 6 giờ 30 tối Thứ Bảy, 13/7 tuần này.

Chim Bắc Cành Nam là tác phẩm kể trong tù, về một mối tình Nam Bắc, trong đó tác giả đã thành công trong việc mô tả tình người, đức tin và niềm hy vọng, đã chiến thắng được những bi phẫn của nghịch cảnh. Tác phẩm dày hơn 200 trang, giấy trắng khổ 4x8 với phần giới thiệu của ông Nguyễn Chí Thiện, trang phụ bản của Họa sĩ Đông Duy và thủ bút thơ tặng của Thi Sĩ Cao Tiêu cùng một số hình ảnh tư liệu. Sách được chia làm 5 chương không kể hai chương mở đầu và kết thúc.

Võ Đại Tôn là một chiến sĩ! Cuộc đời ông suốt mấy chục năm qua, dù khi khoác áo lính, khi mặc áo tù, hay khi sống cuộc sống của một người tỵ nạn, ông vẫn trước sau sống, làm việc và suy tư như một người lính. Vì vậy, trong những bài thơ của Hoàng Phong Linh, người đọc vẫn xúc động cảm nhận được những hào khí oai hùng của người lính Võ Đại Tôn.
Viết đến đây, tôi lại nhớ tới mấy câu thơ, ông viết trong đêm Thắp Sáng Niềm Tin tại San José vào đầu tháng 3 năm 1999:

Đã đến giờ chưa
Mà sao mặt trời rực đỏ
Giữa đêm chính ngọ bùng lên!
Không cần gọi tên
Sóng người vẫn đến
Vạn bàn tay giơ cao ngọn nến
Biển cờ vàng chói lọi Niềm Tin.

Trước khi dừng bút, tôi chân thành hy vọng, với tấm lòng son sắt cho quê hương đất nước của ông Võ Đại Tôn suốt mấy chục năm qua, không cần gọi tên, sóng người vẫn đến trong đêm LMQPVN phát hành sách Chim Bắc Cành Nam của ông.


HỮU NGUYÊN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Đại Tướng và Tôi

Nguyễn Trọng Hoàn



1. Lý do tôi phải mào đầu dài dòng để kể câu chuyện này, như sau:

Sau khi Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã, cả nước Nam tan rã, chúng ta phải sống tha phương nơi đất khách quê người. Vì nơi dung thân là nước Mỹ, giầu có, nên tấm thân của mình, của gia đình mình, trông lên những người bản xứ thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống những đồng bào của mình đang còn ở quê nhà, thì quả một trời một vực! Tuy vậy, đối với một số người thì là một sự đổi đời, còn với nhưng người khác, niềm hoài vọng ngày trở về cố hương xa lắc cứ dần dần bị xói mòn, riêng những người lính trận chúng tôi. . . Mời bạn đọc tiếp:

Bản tản thân tôi thì không ra gì, dở chàng dở đục, nhưng bạn bè tôi, nhìn ngang nhìn ngửa đứa nào cũng nổi tiếng. Ngày trước, chúng nổi tiếng trên chiến trường, qua Mỹ chúng nổi tiếng bằng cái nghề tay trái: Làm báo viết văn! Tôi thích mang những sở trường của họ ra khoe với những người lạ, làm cứ như những ưu điểm của họ có thể lấp trống giùm cho tôi những nhược điểm của bản thân mình

Ðại tướng Ðỗ Cao Trí lẽ dĩ nhiên không nằm trong trường hợp trên, vì nếu như bây giờ, ai người ta cũng có thể gọi bằng thằng, càng gọi khỏe càng lộ chất “ Ông” trong người mình ra. Thì ngày xưa, cái móng tay của ông ấy tôi cũng không bằng, huống chi nói là bạn với bè?
Có điều, một vị tướng ngày xưa, thì thiếu gì thuộc hạ. Tôi có may mắn là thuộc hạ của ông Ðại tướng tài ba và nhiều tai tiếng này. . .
Sau tết Mậu Thân, Việt cộng ngậm ngùi suy ngẫm học thuyết quân sự cũ rích: Tiến công và nổi dậy! Ðó là sở trường mà chúng gọi là tổng công kích.
Công là đánh tới. Kích là bẩy lên, hay xúi giục ai nổi lên. Thành phần chủ lực ở ngoài tấn công vào. Ðám nằm vùng xúi dân nổi loạn. Khốn thay cho Việt cộng trong cuộc tấn công này, bộ đội chủ lực thì xâm nhập vào được nhưng chẳng có ma nào xúi được dân nổi lên cả, ngay cả những người dẫn đường cũng lặn luôn. Nên bọn cán ngố cứ như con dế bị ngắt mất cọng râu. Thế là làm mồi cho quân ta mà thôi!

Nhân đây, tôi cũng xin mở một dấu hỏi to tướng, về âm mưu “ Thay ngựa giữa dòng” của người Mỹ. Họ đã biết trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của Việt cộng, nhưng họ lờ đi “ Ðể xem mày ( VNCH) có chống cự nổi không, còn sức chống, tao giúp tiếp, dở quá, bỏ luôn.” Một bằng chứng là khoảng 26, 27 tháng Chạp là các cố vấn Mỹ ở các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị biệt lập đã cuốn gói trở về “ hậu phương” rồi!
Thế rồi, thiên bất dung gian, kẻ gian đại bại. Ngay sau đó, trong khi ông Hồ mang cái hận ngàn thu ấy xuống âm ty địa phủ thì đám cán bộ mang tàn quân lết bên Căm Bốt để cùng nhau hát bài : “ Dậy mà đi!”

Tôi tham gia cuộc hành quân Toàn-thắng của Sư đoàn 25 BB, mục đích để tiêu diệt nốt đám tàn quân ấy! Chiến đoàn tôi mang tên 333 từ hướng mật khu Ba Thu, đánh xuôi xuống vùng Mõm Chó, Chi Phu. Bravet rồi theo quốc lộ 1 thọc thẳng lên Svayrieng ( Xoài Riêng). Trận này, diễn tiến như thế nào, tôi sẽ kể sau.

2. Mẫu giáo :

Tôi có một thói quen. mỗi khi sắp tham dự vào một cuộc hành quân xa, tôi thường xin về Sài Gòn một thoáng để thăm mẹ . Phần nghĩ đến một thời gian dài sắp tới phải nhá cái khẩu phần C. chết tiệt. Phải về với mẹ để được ăn một món gì cho khoái khẩu. Phần vì tôi luôn đeo đẳng cái cảm giác, sự sống của những người lính trận chỉ đếm bằng từng ngày một. . . “ Mình không về gặp bả, ngộ có gì. . .”
Tôi lại không bao giờ dám nói với mẹ là mình sắp đi xa:"Con hành quân ở vùng ven biên ấy mà, tạt về thăm đẻ một chút thôi rồi con phải đi liền!"
“ Một chút” của tôi thường bị kéo dài bởi nồi canh cua rau đay nấu với mướp hương hoặc những miếng thịt heo cháy cạnh mà chỉ tự tay mẹ làm thì mới vừa miệng tôi thôi. . .
Làn này, chính cậu “ Tà loọc” đã làm hại tôi:
- Bà có hộp dầu ông hổ nào không, con xin cho Trung úy một hộp? Ở Miên nghe nói mùa này là mùa gió chướng, Trung úy lậi chỉ hợp với loại dầu này!
Mẹ tôi ngừng têm trầu:
- Lại đi đánh nhau tận bên Miên cơ à?
Tôi thấy mẹ tôi lấy khăn lau nước mắt. Ăn cơm xong, mẹ ra đi văng ngồi nhai trầu, giọng bà như muốn khóc:
- Ðánh nhau như vậy đủ rồi, hay để đẻ nói với chú Hạ ( thông gia nhà tôi), nói với bác Thuần xin cho con về văn phòng?
Biết sẽ phải nghe điệp khúc ấy, tôi đứng dậy vuông vai, lấy chiếc áo trận, vừa mặc vừa nói như hát vọng cổ:
- Mẹ ơi! Mai kia mốt nọ yên giặc con cũng trở . . . Dzề!.
Mẹ tôi chì chiết:
- Con người ta, cha mẹ bảo sao nghe vậy, chúng nó ăn trắng mặc trơn, nhơn nhơn ăn học. . . Còn cái thứ con nhà này. . . Ngu như bò!
Mẹ tôi đưa hộp dầu ông hổ cho chú lính, mẹ nói:
- Ở Miên họ hay dùng bùa ngải lắm đấy! Lại hay “thư” nữa đấy! Có người bụng cứ trướng lên, mổ ra một đống toàn răng với tóc không đấy nghe con! Con gái của họ, không phải như gái bên mình , đá gà đá vịt vào rồi không thích thì bỏ đâu đấy! Ðừng dại nghe con..

Khác với những lần trước, mẹ tôi đưa tôi ra tận cổng, hành động này của mẹ khiến tôi vừa xúc động vừa lo lắng. Mẹ tôi chỉ vào chiếc balô căng đầy mà chú lính đang để vào băng sau xe jeep:
- Mẹ có cho mang cho con một cỗ bài chắn, đóng quân ở đâu, trong lúc rảnh rỗi, thày trò rủ nhau đánh cò con cho vui, nhớ đừng đi lang thang nghe con.
Hai mẹ con đang bịn rịn thì Hương phóng xe tới. Mặt cô đỏ au. Mẹ tôi giữ ý, chỉ Hương:
- Thôi cô cậu giã từ rồi lên đường cho sớm, mẹ vào..
Hương cầm lấy hai cánh tay tôi, chân dậm dậm xuống đất:
- Em vừa lên hậu cứ kiếm anh, anh sắp đi Miên hả?
Tôi cười:
- Việc binh cốt ở thần tốc và bất ngờ, anh chưa xuất phát mà ngã ba Ông Tạ đã biết, Hàng Xanh đã biết thì còn đánh đấm cái mẹ gì nữa?
Hương đưa ngón tay dí vào môi tôi:
- Sao lại nói tục với em? Hôm nọ hứa cái gì nào? Em có tin mừng mới phải lên báo cho anh chứ bộ!
Tôi sướng run lên, tôi biết ngay cái tin đó là gì rồi, nhưng cũng giả vờ hỏi:
- Tin gì vậy?
Nàng lại ghé sát vào má tôi, mái tóc có mùi bồ kết làm tôi ngây ngất:
- Em “ Có” rồi. Hú vía, hú vía! Mà này, anh qua bên Miên, ăn bánh trả tiền nhe! Con gái Miên ghê lắm đấy!

3. Ngày N. . .

Lần đầu tiên từ khi tôi ra trường, tôi được “ đối đáp” với một vị Tướng, mà lại là vị tướng nổi danh mới oách chứ:
Trung tướng Ðỗ Cao Trí ngoái cổ lại hàng ghế phía sau hỏi to:
- Ông nào là Ðại đội trưởng Trinh sát đâu?
Tôi đứng bật dậy như lò xo bung:
- Có mặt.
- Nãy giờ ông có nghe kỹ diễn tiến của ngày N và N+1 không?
- Nghe rõ!

Ông Tướng đứng dậy, đưa tay ra hiệu cho Ðại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng chiến đoàn 333, đưa que chỉ bảng cho ông.

Bây giờ tôi mới nhìn thấy rất rõ ngoại mạo một ông Tướng khét tiếng này. Vầng trán cao xám ngoét, đôi mắt sáng, đỏ au như mắt cá chầy ( Người ta bảo con mắt ổng có cô hồn đấy! Nhất tướng công thành vạn cốt khô mà!) Phần từ đầu tới thắt lưng, tướng pháp không chê vào đâu được, nhưng từ thắt lưng xuống tới đôi giầy “ Máp”, giống như củ khoai lang cắt đôi, dựng ngược, từ từ teo tóp. . . Tôi bỗng rùng mình, chua chát nghĩ đến chiếc bóng chênh vênh của Kinh Kha bên dòng Dịch Thủy:
Gió hiu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê.
Tráng sĩ một đi không trở về!

Tướng Trì xòe nguyên bàn tay mum múp trên tấm bản đồ không ảnh, kéo một đường dài từ Gò Dầu Hạ, dọc theo quốc lộ 1 lên tận Svayrieng:
( Ôi! Những ai từng “ đi” nhận lệnh hành quân, còn nhớ chăng cái cảm giác xương sống lành lạnh, mỗi khi thấy ông đơn vị trưởng của mình xòe tay trên một tấm bản đồ 1/25.000 trong đó một ô vuông nhỏ xíu nhưng ngoài thực tế là một cánh đồng bát ngàn, đi mù con mắt mà vẫn không tới ?)
- Ông Chuyên, cho các mục tiêu vừa thuyết trình, giạt ra xa quốc lộ 1 chừng một cây số...
Bỗng ông ngừng lại:
- Ông Cường, thằng Tiểu đoàn 1 của ông đến đâu rồi?
Ðại tá Cường, rập hai chân lại trong một cữ chỉ vừa nghiêm trang, vừa như lấp ló có tin vui:
- Thưa Trung tướng, thằng 1 của tôi vừa làm chủ Chi-Phu.
- Tốt, như thế này nhá: Ông Cường cho Bộ chỉ huy Chiến đoàn của ông, dời từ đây lên Chi-Phu. Tôi nhắc các ông từ bây giờ bọn cố vấn Mỹ không theo mình vào Miên nữa đâu đấy!
Ông nhìn mấy cố vấn Mỹ, rồi bảo người thông dịch viên:
- Dịch nguyên văn cho “chúng nó” nghe câu này: “ Phải tập đánh độc lập đi, dựa mãi vào mãi thằng Mỹ mai kia mốt nọ, chúng qua cổng rút cầu thì sao?”
Ông lại xòe bàn tay ra, dùng ngón trỏ và ngón giữa căng theo quốc lộ 1, rồi ông dùng que chỉ bảng chỉ ngay vào mặt Thiếu tướng Nguyễn Xuân Thịnh, Tư lệnh sư đoàn 25, gốc pháo binh:
- Ông Thịnh, từ đây lên Xoài Riêng còn trong tầm bắn tác xạ của Tiểu đoàn 252 Pháo binh không?
Tôi thích thú nhìn tướng Thịnh, ông Tướng có mấy sợi lông tài trên nốt ruồi đen, trên khuôn mặt to đen lạnh lùng như ông thần đất, mà mọi khi chúng tôi rất hãi, cũng phải đứng bật lên :
- Thưa, tới!
Bất ngờ tướng Trí chỉ ngay vào tôi:
- Trung úy Hoàn, mở sổ tay ra.

Tôi rụng rời. . . Trong cái nóng hầm hập của phòng hành quân tạm, mọi người đổ dồn về phía tôi, một sĩ quan có cấp bậc nhỏ nhất, lại được tướng Trí nhớ tên. Tôi đỏ mặt, tính háo danh, và sự sung sướng lấn át hết cảm giác sợ hãi. Tự tin hơn là tôi đã chuẩn bị một quyển sổ tay, mà những sĩ quan nào, hơn một lần bị “ ông Tướng sổ tay” hạch hỏi vì: “ Là cấp chỉ huy mà không có quyển các-nê-đờ-nốt là một sĩ quan tồi. . .”
Tôi cầm quyển sổ tay. A! Có một điểm đầu tiên rồi đấy! Tôi thấy Tướng Trí cười:
- Quân số hành quân của ông bao nhiêu?
- Trình Trung tướng: 102. sĩ quan 9. Hạ Sĩ quan 15, binh sĩ. . .
Tướng Trí hét lên:
- Sao nhiều thế, sao sĩ quan nhiều thế, hạ sĩ quan ít thế? Bịa hả?
Ðại tá Cường đỡ cho tôi:
- Thi hành khẩu lệnh của Trung tướng trước đây, quân số các đơn vị Trinh sát phải luôn luôn bổ sung đầy đủ. Sĩ quan nhiều vì trong Trung đội viễn thám, mỗi Toán viễn thám phải có một sĩ quan trưởng toán. . .
Tướng Trí ngắt lời:
- Tôi biết rồi.
Rồi ông lại dùng que thuyết trình chỉ xuống phía dưới, giọng ông chắc nịch:
- Tất cả mở sổ tay ra.
Như cái máy, Tướng, Tá phía dưới đồng loạt để tay lên túi áo trận.
Tướng Trí đọc chính tả:
- Viết đi: Sức mạnh của một đơn vị bộ binh chiến đấu ( phẩy) không phải ở lớp Sĩ quan chuyên chỉ tay năm ngón (phẩy) mà nằm trong lớp Hạ sĩ quan cốt cán( chấm) Tóm lại, bộ binh là hoàng hậu của chiến trường ( phẩy) mà chiến trường thắng hay bại tùy thuộc vào cấp bậc từ Hạ sĩ nhất đến Thượng sĩ nhất, viết rõ chưa? ( Chấm hết)
Rồi ông lại chỉ vào mặt tôi:
- Trung Úy lên đây.
Con người nhỏ con kia sao toát ra cái uy quyền lạ kỳ. Tôi đã vào sinh ra tử nhiều lần nhưng chưa bao giờ tôi lúng túng đến như thế. Tôi ríu tíu đỡ cây que chỉ bảng:
- Trung úy chỉ cho tôi xem đâu là Quốc lộ 1. Tốt. Ðâu là cây cầu chính vào thành phố. Tốt. . . Trung úy có thể chiếm thành phố này chỉ với một mình đại đội của Trung úy được không?
Cả sống lưng của tôi như bị điện giật. . . Một đại đội Trinh sát với một nhúm người như thế này, làm sao đây?
Tính háo danh của tôi lại bật dậy:
- Ðược, thưa Trung Tướng.
- Tốt, thế mới là trinh sát chứ! Như thế này nhá. Ông Cường cho . . .

. . . Máu háo thắng cùng niềm kiêu hãnh cứ dâng lên từng đợt trong con người phàm của tôi cho đến khi tôi tập họp đại đội dưới một thửa ruộng khô vừa xong mùa gặt. Tôi huênh hoang khoe:
- Ðích thân Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn vừa chỉ thị, một mình Ðại đội ta sẽ chiếm Tòa thị sảnh Svâyriêng !
Từ sĩ quan cho tới lính mặt mày nhớn nhác. Có nhiều người nhẩy lên vì thích thú. Có người dơ cao khẩu M16 hét lên:
- Chơi luôn!
Có vài nét mặt đăm chiêu của sĩ quan, tôi lờ đi, nói lớn, ngất ngất hào khí:
- Mọi người có nửa tiếng để sắp xếp lại quân trang quân dụng, bỏ lại hết thực phẩm, quân trang nặng nề. Tóm lại chỉ mang súng đạn cá nhân. Hai Trung đội trưởng trinh sát và Trung đội trưởng viễn thám ra đây nhận lệnh.
Lệnh có gì đâu, nhưng nghe xong, mặt ai cũng như chàm đổ. . .

Sau đấy khoảng hơn một tiếng. Hơn 10 chiếc xe vận tải dân sự từ Gò Dầu Hạ trở về Miên, bị chúng tôi trưng dụng. Trung đội trưởng kè súng vào hông người tài xế Miên, còn lính nằm ở phía sau. Ðạn lên nòng, xe cứ thế mà chạy. Trên quốc lộ phía bên Miên ngày ấy, cứ vài cây số lại có một cái bàn đặt ngay quốc lộ để đơn vị Miên nào đóng gần quốc lộ . . . thâu tiền mãi lộ!

Ðoàn xe của Ðại đội cứ thế mà chạy, qua trạm, chạy luôn, khiến những người lính Miên trên các trạm ấy xả súng vào đoàn xe, cũng may không có ai bị thương.
Tôi ngồi ngay xe thứ 2, xe trước tôi là Toán viễn thám 1 của Chuẩn úy Cừu.
Bỗng tôi thấy đoàn xe chạy chậm lại, cái dốc cầu vào thị xã cong cong làm tôi không quan sát được chiếc xe phía trước.
Có tiếng thằng Một:
- Hải Ðiểu, đây Một.
Tôi chụp máy:
- Tôi nghe đây!
Tiếng của Cừu gấp gáp:
- Trình Thẩm quyền trên đường tụi Miên giăng concertina nhiều quá, có cả mấy con ngựa gỗ nữa. . .
Một tràng súng xé không gian, tiếp theo là những tràng súng khác thi nhau vãi vào đoàn xe.
Tôi hét to trong máy:
- Cho xuống xe ngay, xung phong! Cả đại đội sẽ yểm trợ cho ông, chiếm ngay cái bốt canh kia kìa!

Một chiếc trực thăng xà ngay xuống, tôi thấy rõ Tướng Trí đội nón đỏ đang quần quần ngay trên cái đồn tôi vừa ra lệnh cho Cừu chiếm. Chiếc trực thăng đảo một vòng rồi bay lơ lửng ngay trên đồn Miên. Tôi vừa hô xung phong vừa kinh ngạc nhìn lên thấy Tướng Trí đã ngồi vào vị trí của người xạ thủ đại liên. Ông xoay họng súng vào phía lô cốt, một tay khoác khóac như cổ động cho đám quân dưới đất. Có tiếng hét của Cừu:
- Tụi nó bắn lên máy bay của ông Tướng kìa.
Một khẩu đại liên phòng không từ một cái đồn nhỏ bên phải cầu đang khạc hung hãn lên hông bên kia của chiếc máy bay. Chiếc trực thăng chao nghiêng. . .
Tôi kéo trung sĩ Thuận trong toán Viễn thám , chỉ tay về hướng ổ đại bác phòng không:
- Cậu dẫn toán men theo bên này cầu, diệt phứt cái lô cốt kia đi cho tôi.
Thuận nhận lệnh, anh dẫn toán chạy lên, vừa dùng súng M97 hướng mũi trực xạ, một tiếng nổ làm bật tung khẩu súng phòng không, đồng thời biến mất những tên lính Miên, xạ thủ của khẩu phòng không ấy. .
Chiếc trực thăng chở Tướng Trí lại vòng tới, lần này ông lại bay thấp hơn, ông biến thành xạ thủ của chiếc “ gunship”, chĩa những lằn đạn về phía đồn chính.

Bỗng mọi người dưới đất xanh mặt khi chiếc máy bay rung lên, như con rồng chuyển mình, bốc lên cao. Một cái nón đỏ, đúng là nón của ông Tướng bay vụt ra, xoay vòng vòng như chiếc lá rồi bay vút về phía cây cầu. . .
Những người lính trinh sát vừa hò hét vừa tiến lên, đen kịt thành cầu, những tiếng la phát ra từ những trái tim nóng hổi:
- Việt Nam, Việt Nam!
Tôi kéo chú hiệu thính viên lao tới, hai mắt tôi rưng rưng. . .
Thuận hớn hở chạy về phía tôi giơ cao chiếc mũ đỏ có ba ngôi sao gắn chéo. Người ta bảo nóng giận thì mất khôn, nhưng vui mừng quá cũng mất khôn luôn, với lại tính háo danh nằm sẵn trong tôi, nó sai bàn tay tôi, ném cái mũ sắt đang đội, lấy cái nón đỏ đội vào đầu. Lại nghĩ: “ Có ngày “mày” cũng được “ nằm” vào đầu tao thôi!”
Tôi vừa đắc chí vừa chạy tới, chạy một quãng thì hiệu thính viên đưa cho tôi chiếc combiné:
- Mặt Trời gập Trung úy.
Tôi nghe tiếng Tướng Trí.
- Ðừng bắn, đừng bắn nữa, chúng nó từ chân cầu đang phất cờ trắng kia kìa.
Một hàng dài lính Miên, có cả đàn bà, con nít đang cầm những mảnh khăn trắng giơ cao trên đầu. Tôi vừa ra lệnh ngừng bắn thì hiệu thính viên lại đưa ống nghe cho tôi:
Tiếng tướng Trí:
- Tốt lắm, để một toán nhỏ lại giữ đầu cầu thôi, còn cậu tiếp tục đi.

Như những con gà chọi đang say đấu, chúng tôi lao cả đoàn xe về phía trung tâm thành phố. Dưới đường người ta vẫn thong thả đi lại, những người lính Miên vẫn đeo súng lơ ngơ ngắm phố. Chắc không có một ai hiểu việc gì đang sắp xẩy ra với họ.
Tiếng Cừu báo qua máy:
- Trình Thẩm quyền mục tiêu kia rồi
“Băng ga lo” hoành tráng, nơi tôi phải chiếm, đang ẩn mình dưới những tàn cây cổ thụ, mục tiêu diễm lệ của tôi kia rồi!
Xe của Cừu húc đổ ngay con ngưạ gỗ, tiếp theo xe của tôi và các xe sau trờ tối. . .
Cừu đưa khẩu colt vào ngay ngực tên lính gác, qua một người lính gốc Miên thông dịch.
- Văn phòng Tỉnh trưởng đâu?
Tên lính đưa tay chỉ về phía cổng lớn nơi có hai con ngựa đá rất to. Cả đại đội lại lao về phía đó. Chẳng có đội hình gì cả. Khi Ban chỉ huy của tôi chạy vào trong đại sảnh thì một cảnh tượng vừa tức cười, vừa thống khoái hiện ra trước mặt: Trung úy đại đội phó Trần Như Xuyên đang ghìm khẩu súng M16 về hướng những người mặc toàn lễ phục đang chắp tay lậy như tế sao!
Té ra tại đây đang diễn ra buổi đại tiệc!
Tiếng người thông dịch:
- Trong các ông, ai là Tỉnh trưởng?
Một người chắp tay xá xá. Bỗng có tiếng lao xao phía sau tôi. Có người lính hét to:
- Sao sẹt! Sao sẹt kìa!
- Vào hàng, Phắc!

Tướng Trí xông thẳng đến tôi, ông đến trước tôi khoảng ba bước, ông rập hai chân vào nhau rồi đứng nghiêm chào tôi. Tất cả quan quân mặt ai cũng xanh như tầu lá! Chết mẹ tôi rồi! Cái nón đỏ có hàng lon Trung tướng tôi đang đội trên đầu, chỉ đem cho tôi cái thích thú phù du, nhưng sẽ là một thảm họa khôn lường cho tôi.
Tôi vừa sợ hãi vừa xấu hổ , đưa tay lên đầu, giật ngay cái mũ xuống rồi bằng hai tay, trịnh trọng đưa trả nón, y như kẻ bại trận dâng cây kiếm quy hàng.
Tướng Trí, chìa cả hai tay lấy chiềc nón đỏ. . . Mọi người chờ con thịnh nộ của ông Tướng Sấm Sét. . .
Ông cúi xuống gỡ ba ngôi sao ra cười hiền từ:
- Giữ giùm cậu ba ngôi sao này, còn tặng cậu cái mũ làm kỷ niệm, làm kỷ niệm thôi nhé ! Coi chừng quân cảnh bắt về tội tiếm phục quân hiệu đấy.
Mặt tôi nóng ran lên như người lên cơn sốt.

Tướng Trí đến ngay trước viên Tỉnh trưởng Miên, tính võ biền cố hữu của ông biến mất và y như một chánh khách chuyên nghiệp, ông dơ tay, bắt tay viên Tỉnh trưởng. Ông nói một tràng tiếng Pháp, tôi nghe lỏm bõm, hình như ông ra lệnh cho viên Tỉnh trưởng phải kêu gọi các lực lượng dưới quyền quy hàng, bằng cách ra lệnh cho các đơn vị ấy, tháo hết các cơ bẩm của các loại súng rồi cho chở lên các bộ chỉ huy liên hệ.
. . Rồi y như ông chủ, chính tay ông khui whisky:
- Vào đây, Ðại đội trinh sát vào đây, các chú khá lắm, “moi” phải khao các “toi” một chầu mới được. Tôi bước ra trước, nhưng ông làm tôi quê hết sức khi ông hỏi lớn:
- Chú lính nào ít thâm niên nhất, cấp bậc nhỏ nhất vào đây.
Rồi cũng y như khi lúc xung phong, chẳng kể quan lính, mạnh ai nấy ùa tới vây quanh ông y như một người thân. Chính tay ông rót cho mỗi người một ly ruợu nhỏ.
Bỗng tướng Trí lấy tay đập vào trán:
- Chú nào bắn trái M79 trúng ổ đại liên cứu “ moi” thế?
Tôi chỉ vào viên Trung sĩ viễn thám:
- Trình Trung tướng, Toán phó viễn thám, Trung sĩ Thuận !
- Thấy “moi” nói có đúng không? Nhớ đấy ! Hạ sĩ quan mới là lực lượng nòng cốt của quân đội!
Ông rút trong túi ra quyển sổ tay, nhìn chăm chăm vào bảng tên của Thuận, ghi xong ông hất hàm hỏi:
- Trung sĩ nhất bao lâu rồi?
Thuận hớn hở trả lới:
- Thưa Trung tướng, gần hai năm.
Tướng Trí nghiêm nghị:
- Cho cậu lên Thượng sĩ.
Rồi ông quay lại phía tôi, nhắc lại điệp khúc:
- Phải nằm lòng, Hạ sĩ quan mới là nòng cốt. . .
Lần này không thấy ông bắt ai ghi vào sổ tay cả.

4. Cô gái Miên.

Sau khi chiếm xong dinh Tỉnh trưởng, Ðại đội Trinh sát của tôi, được lệnh kéo trở ngược lại Bravét, một thị trấn nằm giữa Chi-Pu và Svrâyriêng, vừa đóng chốt, vừa giữ an ninh cho một toán công binh chiến đấu làm cầu. Ðây là một cây cầu nhỏ nhưng rất quan trọng về mặt chiến lược đã bị quân lính của Si- Ha-Núc phá sập khi họ rút lui về Nam Vang. . .

Buổi chiều, tôi dẫn các Trung đội trưởng đi tìm chỗ đóng quân. Ðến cây cầu đang xây, tôi nói với Ðại đội phó Xuyên:
- Cái thằng Trưởng toán công binh này, giờ này không đến nhận lệnh đóng quân là làm sao? Chúng nó làm gì mà túm quanh căn nhà sàn kia thế? Thôi ta vào đấy xem sao?
Vừa thấy chúng tôi đến. Toán người đứng xung quanh nhà sàn bỗng bỏ chạy. Biết có việc gì không ổn, toán sĩ quan đi theo tôi chạy đến. Tôi vừa bước lên chân cầu thang đã nghe thấy tiếng quát của Xuyên:
- Sĩ quan mà khốn nạn vậy à ?

Trước mặt tôi là một người con gái Miên thân thể lõa lồ, nằm tênh hênh, bất động giữa sàn nhà, một toán 5, 6 người lính đang lui cui mặc đồ. Tôi hoa mắt lên vì giận, khẩu súng colt 45 run run chĩa vào một người, có lẽ là sĩ quan đang nghênh ngang đứng trước Xuyên:
- Ông cấp bậc gì?
- Chuẩn úy!
- Mấy người hiếp dâm người phụ nữ này?
- Bẩy người.
- Tại sao ông làm cái việc vô lại này?
- Xa vợ lâu ngày, kẹt quá ông ơi!
Bỗng tôi nghe thấy người phụ nữ rên:
- “ Miên tê! Miên tê” ( Trời ơi, trời ơi).
Cô cong người lên, thở hắt ra , hai bàn chân rung rung, rồi xụi lơ. Hành động cuối cùng của một sinh vật trước khi lìa đời.
Cơn giận như một nồi áp suất quá tải, bật tung, tôi nã luôn hai phát vào đôi chân đang giạng ra như thách thức của viên sĩ quan, mà ngay chiều hôm ấy, tôi biết anh ta là em của một ông Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng của một Cục. . .

5. Phúc hữu trùng lai!

Sáu tháng sau, tôi dời Ðại đội trinh sát để sang Tiểu đoàn 2, người ta bảo, đi kèm với một sự may mắn thường là một tai nạn . . .
Hai viên đạn súng colt hôm ấy, có một viên trúng bắp vế của viên sĩ quan nọ, và viên đạn này đã đưa tôi đến cái ngưỡng cửa của Quân lao Gò Vấp
Tôi sẽ phải về trình diện phòng dự thẩm 1 ở bến Bạch Ðằng, nới có cái một ông Ðại tá tên X. chẳng tha một ai khi phải trình diện ông ta. . .
Ðại tá Lều Thọ Cường bắt tay tôi như bắt tay một thuộc cấp lần chót. Tôi leo lên trực thăng, rồi nhìn xuống bến phà Neak-Luông. Nơi đóng quân của đơn vị tôi, nước sông cuồn cuộn đục ngầu, phẫn nộ. . . Bỗng lòng tôi chùng hẳn xuống. Tại sao cuộc đời lại có thể bất công thế nhỉ? . . .

Tôi vừa xuống máy bay tại sân bay Trảng Lớn, thì gập máy bay của Trung tướng Ðỗ Cao Trí cùng sĩ quan tham mưu của ông cũng vừa đáp xuống. Tôi đang tính né qua cái cái hunger để tránh mặt ông thì có một Ðại tá cầm tấm bản đồ vẫy tôi:
- Ðại úy, đến trình diện Trung tướng.
Tướng Trí hỏi tôi:
- Cậu đi phép hả?
Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã móc quyển sổ tay ra. Nhưng tôi vội nói:
- Trình Trung tướng, tôi không về phép.
Tướng Trí tròn mắt:
- Dù hả, oai nhỉ, dù bằng máy bay cơ à?
Giọng tôi bi ai:
- Trình Trung tướng lần này tôi về Sài Gòn để ra Tòa án binh!
- A! Cái vụ cậu nện cái thằng sĩ quan hiếp dâm chứ gì. Sao không bắn què cả hai chân nó luôn cho rồi? Quân đoàn đã có văn thư gửi Nha quân pháp về vụ này rồi ! Khỏi, khỏi, cho cậu về thăm cha mẹ, thăm bồ bịch 48 tiếng rồi trở lại mặt trận giết giặc cho tốt. . .
Không để tôi cám ơn, ông bỏ đi ngay.

Tôi đứng như trời trồng, giữa trùng vây của bụi, khói và nóng, thế mà người tôi mát lạnh, nhẹ tênh, tôi có cảm giác như đang đi vào cổng nhà Hương. Có giàn hoa thiên lý ngan ngát. Có nếp nhăn áo lụa vàng dậy muộn. Có hương bồ kết thoang thoảng quyện theo bước chân chim. . .

6. Người đi, đi mãi. . .

Một tháng sau, Tiểu đoàn tôi đang hành quân tại Kăm Pông Trapeck, vùng biên giới phía Ðông nam căn cứ Thiện Ngôn, trên một ngọn đồi trọc, một người lính hiệu thính viên chỉ về phía Trảng Lớn la to:
- Một em gẫy cánh rồi!
Tôi ngoảnh lại, một khối đỏ như một quả cầu, đang ôm một chiếc trực thăng xoay vòng vòng rồi đâm nhào xuống đất.
Ngay tối hôm ấy, tôi được biết chiếc máy bay ấy đã chở cố Ðại tướng Ðỗ Cao Trí về miền đất không bao giờ có tiếng súng trận nữa.
Tôi bước ra ngoài lều vải, chòm sao Hiệp sĩ đêm nay có cái đầu bị mây đen che khuất, có thanh gươm mờ nhạt, nhấp nháy như muốn khóc.

Nguyễn Trọng Hoàn

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

CỰU TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU:
NÓI VỀ CÁI CHẾT CỦA TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM



Trên cương vị Tổng Thống, tôi không có đủ thì giờ thăm viếng tất cả các sư đoàn. Rất tiếc là chuyến sau cùng tôi xuống Cần Thơ đi thăm Biệt Khu 44 cùng với Tướng Thanh vào ngày Thứ Bảy trước khi đi Côn Sơn, qua ngày Chủ Nhật hôm sau thì Tướng Thanh tử trận, trước hay sau đó tôi không nhớ rõ, tôi có ngồi nói chuyện với Tướng Nam. Sau này, Tướng Nam có lên phủ Tổng Thống họp trong những ngày cuối, lúc tình hình nguy hiểm.

Theo dõi các Tư Lệnh Sư Đoàn thì tôi thấy ông là người nghiêm chỉnh, đạo đức, về cái đạo đức của ông thì quá tốt, mình không còn gì để đặt câu hỏi. Khả năng quân sự thì chỉ có khen thôi, không có chỗ nào có thể chê được, con người can đảm, trầm tĩnh, suy nghĩ và lý luận rất là chín chắn, phân tách rất rõ ràng.

Tóm lại, khi suy nghĩ về cái chết của Tướng Nam và các tướng lãnh khác, tôi thấy đó là những cái chết anh hùng không ai có thể chối cãi được - Tướng chết anh hùng là như vậy - Nhưng có điều tôi có thể nói là tôi tiếc vì đã nghĩ lầm: “Hồi đó, tôi tin tưởng rằng, vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, các tướng lãnh sẽ có lập trường riêng của mình.” Khi tôi quyết định từ chức, tôi chỉ giao quyền cho cụ Hương, mặc dù tôi cũng có nghe nói Tướng Dương Văn Minh muốn thay thế cụ Hương. Tôi từ chức là vì những lý do riêng của tôi, và tôi nghĩ rằng đó là quyết định tốt nhất cho đất nước trong tình thế khó khăn lúc ấy. Tôi quyết định từ chức vì bổn phận bắt buộc tôi phải làm như vậy. Tôi tin rằng giao lại cho cụ Hương, chắc chắn Cụ sẽ không bao giờ chịu trao quyền lại cho Việt Cộng, họa chăng Việt Cộng vào Dinh Độc Lập, dí súng vào cổ ông, ông thà chịu để cho địch bắt đi chớ không bao giờ kêu gọi quân dân trao quyền cho chúng.

Trước khi tôi từ chức, đâu phải quân đội mình hoàn toàn tan rã đâu. Mình muốn tiếp tục đánh thì cũng đánh được, không biết tới bao lâu thôi, và chắc mình cũng không phải đầu hàng vô điều kiện. Trước đó, tôi có hỏi ý kiến một số anh em sĩ quan hay lấy ý kiến từ những người này người kia, mọi người đều đồng ý rằng nếu thương thuyết một giải pháp chính trị với Việt Cộng là việc không thể tránh thì mình phải làm, nhưng nếu giải pháp chính trị quá bất lợi cho mình thì phản ứng tự nhiên của quân đội là rút về miền Tây. Tôi nghĩ rằng nếu cụ Hương còn thì ông cũng làm như vậy. Ông sẽ giao quyền cho anh em tướng lãnh, và về phương diện quân sự, lựa chọn cuối cùng của các anh em tướng lãnh là rút về miền Tây. Có điều tôi lấy làm tiếc là khi ông Minh ra lệnh buông súng đầu hàng Cộng Sản thì các anh em tướng lãnh tại miền Tây như ông Nam, Hưng, Hai lại lựa chọn giải pháp tuẫn tiết. Lúc ấy ở miền Tây thì các ông ấy có toàn quyền quyết định. Mình có câu nói: “Tướng sa trường đâu có bắt buộc phải theo lệnh thượng cấp.”

Thật ra bây giờ, tôi chỉ tiếc cho cái chết của Tướng Nam và các tướng lãnh khác. Quốc gia, quân đội và nhân dân đã không được tận dụng tối đa các đức tính và tài năng của cấp chỉ huy quân đội còn lại như ông Nam. Lấy ví dụ như là các ông ấy quyết định tử thủ miền Tây mà thua đi vì thiếu phương tiện (dù không đầu hàng thì mình cũng phải thua, không phải vì mình thua trí, thua cái can đảm mà mình thua sức, thua phương tiện), thì lúc đó các ông ấy vẫn làm được cái gì để giữ mình và còn có cơ hội làm lại được điều gì hữu ích cho đất nước sau này…
Tiểu sử tướng Nguyễn Khoa Nam:

Image
Tướng Nguyễn Khoa Nam...

Tướng Nguyễn Khoa Nam sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927 tại Đà Nẵng. Ông là em ruột nhà văn Hải Triều-Nguyễn Khoa Văn và là chú của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm…

Năm 1953 ông Nguyễn Khoa Nam nhập ngũ Khóa 3 Thủ Đức và gia nhập binh chủng Nhảy dù vào tháng 10 cùng năm. Từ 1955 đến 1964, Nguyễn Khoa Nam mang lon đại úy. Năm 1965 ông lên quân hàm thiếu tá và giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.

Năm 1967, Nguyễn Khoa Nam được thăng cấp trung tá và được bổ nhiệm làm Lữ đoàn trưởng của Lữ đoàn 3 Nhảy dù. Cuối năm này ông được thăng đại tá. Năm 1969 ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, kiêm Tư lệnh Khu Chiến thuật Tiền Giang. Tháng 11 cùng năm ông được thăng chuẩn tướng. Năm 1972 ông được thăng thiếu tướng.

Tháng 11 năm 1974, Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng IV Chiến thuật đến năm 1975. Ông tự sát bằng súng bắn qua màng tang vào khoảng rạng sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975…

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Cái Chết Anh Hùng Của Tướng Lê Văn Hưng

Bà Lê Văn Hưng,
nhũ danh Phạm Thị Kim Hoàng
Từ chàng ra đi lưng khoác chiến y,
và hồn nương bóng quốc kỳ
Nàng ngừng con thoi có khi nhớ chàng.
Có muốn gì đâu! Lệ thắm tơ vàng.
Chàng ngồi trên yên mơ bóng dáng em
mịt mù sau đám khói tên.
Bâng khuâng mắt nhìn tay kiếm.
Không sao dấu đôi lệ hiền….
(Chinh phụ ca – Phạm Duy)



Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói:
- “Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ”.

Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:
- “Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì”. Họ còn hỏi nhau:
- “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?”
Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi:
- “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:
- “Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng”.

Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân.
Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:
- “Tại sao Tướng Nam, Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?”
Lại có người nghiêm khắc trách tôi:
- “Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?”
Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?

Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi: Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”. Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng. Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sàigòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc “kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:
- “Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng”.Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.” Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.

Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.
Trong khi Sàigòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.

Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

Tìm kiếm Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:
- “Có đồng ý đem con lánh nạn không?”
Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:
- “Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?”
Tôi đáp:
- “Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản”.
Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú. Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu:
- “Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường…”.
Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:
- “Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng”.
Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:
- “Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh”.
Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:
- “Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào”.
6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.

7g30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh:
- “Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Đại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ”.
Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng:
- “Em phải sống ở lại nuôi con”.
Tôi hoảng hốt:
- “Kìa mình, sao mình đổi ý?”
- “Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con.”
- “Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản. Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc”.
- “Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta”.
- “Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?”
Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc:
- “Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?”
Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi:
- “Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế”.
Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:
- “Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào”.
Tôi phát run lên hỏi:
- “Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?”
Nắm chặt tay tôi, Hưng nói:
- “Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình”.
Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:
- “Vâng, em xin nghe lời mình”.
Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:
- “Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi”.
- “Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?”
Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi:
- “Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh”.
Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:
- “Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó”.
Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi:
- “Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên”.
Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống.
Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói:
- “Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau. Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh”.

Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:
- “Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả”.
Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:
- “Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết”.
Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:
- “Nghĩa trở lại với tôi”.
Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa. Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:
- “Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?”
Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:
- “Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!”
Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc:
- “Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”
Tôi bảo Giêng:
- “Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào chũng phải ngăn chận Việt Cộng”.

Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.
Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam, không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang:
- “Alô, Alô, ai đây?”
- “Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây”.
Tôi bàng hoàng:
- “Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?”
Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi:
- “Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút”.
Tôi lúng túng vài giây:
- “Ông đang điều động quân ngoài kia”.
- “Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?”
- “Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé”.
Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:
- “Đại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?”
Nghĩa lúng túng:
- “Cô nói Thiếu Tướng chết rồi”.
- “Không thể nói như vậy được. Đại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng”.
Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt:
- “Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Địch ra sao?”
- “Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?”
- “Cẩn vui lòng chờ chút”.
Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:
- “Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?”
Cẩn đáp thật nhanh:
- “Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!”
- “Tốt lắm, vậy thì y lịnh”.
- “Dạ, cám ơn chị”.
Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:
- “Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!”
“Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!” Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.
11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam:
- “Alô, chị Hưng!”
Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:
- “Thưa Thiếu Tướng…”
Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:
- “Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng”.
Tôi vẫn nức nở:
- “Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?”
- “Hưng đã nói với chị hết rồi hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình”.
Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:
- “Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?”
- “Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?”
- “Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì… Đàng chị thế nào?”
- “Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản”.
- “Còn mấy chú đâu hết?”
- “Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng”
- “Chị tẩm liệm Hưng chưa?”
- “Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới”.
- “Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp. chúng nó sẽ không để yên”.
- “Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?”
Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên:
- “Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót”.
Người chép miệng thở dài:
- “Thôi chị Hưng ơi”.
Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi:
- “Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước”.
Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:
- “Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới”.
- “Dạ, cám ơn Thiếu Tướng”.
Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế.

Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.
7 giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện:
- Xin Thiếu Tướng tha thứ. Tôi không dám bỏ xác Hưng để đến vuốt mắt Thiếu Tướng và lo việc tẩm liệm cho Thiếu Tướng. Bây giờ linh hồn của Thiếu Tướng đã gặp Hưng, xin linh thiêng phò hộ cho mẹ con tôi thoát khỏi tay Cộng Sản. Xin thương xót cho quê hương, cho dân tộc chúng ta. Xin thương xót cho toàn thể anh em binh sĩ.
Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Đại Tá kia. Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.

Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?

Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống?
Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn sáu chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm. Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Đừng vô tình thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho tổ quốc.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân


Phạm Phong Dinh

Tên tuổi của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã bắt đầu lừng lẫy từ khi ông còn là một sĩ quan cấp Úy phục vụ trong binh chủng Mũ Nâu Biệt Động Quân ở Miền Tây. Các cấp chỉ huy Biệt Động Quân trong thời điểm đầu những năm 1960 đã để ý nhiều đến tân Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đội Trưởng BĐQ, về những hành động quả cảm đến phi thường trong những cuộc giao tranh. Người Trung Đội Trưởng trẻ mới có 22 tuổi đời đã đứng xõng lưng dẫn quân Mũ Nâu xung phong lên đánh những trận long trời trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Những chiếc lon mới nở nhanh theo cùng với những chiến thắng. Chỉ trong vòng bốn năm, Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn đã được vinh thăng lên đến cấp bậc Đại Úy và được điều về làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh "Tia Sét Miền Tây". Lúc đó trên lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật đã nổi lên những khuôn mặt chiến binh dũng mãnh mà đã đƯợc ca tụng là những con mãnh hổ miền Tây, Đại Úy Hồ Ngọc Cẩn có vinh dự nằm trong số năm vị này. Những vị còn lại gồm những tên tuổi như sau:

- Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân

- Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.

- Thiếu Tá Lê Văn Dần, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân.

- Thiếu Tá Lê Văn Hưng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, SĐ21BB.

- Thiếu Tá Vương Văn Trổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 33, SĐ21BB.

Thật ra bản danh sách này chỉ có tính cách ước lệ và tượng trưng, đâu phải một Miền Tây rộng bát ngát mà chỉ có vỏn vẹn có năm người hùng. Mỗi người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xứng đáng được vinh danh là những anh hùng, vì những đóng góp máu xương quá lớn cho tổ quốc.

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24.3.1938 tại xã Vĩnh Thạnh Vân, Rạch Giá. Thân phụ của ông là một hạ sĩ quan phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (danh xưng của quân đội trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Đại Tá Cẩn không may sinh ra và lớn lên trong thời buổi chiến tranh, nên khi lên bảy tuổi ông sắp sửa cắp sách đến trường, thì chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, việc học của ông bị gián đoạn. Mãi hai năm sau, tức vào năm 1947 ông mới được đi học lại, sau khi tình hình ở các thành phố trở lại yên tĩnh, quân Việt Minh rút về các chiến khu, quân Pháp chiếm đóng các thành phố. Cậu bé Cẩn học muộn đến những hai năm, khi ông học tiểu học được bốn năm thì thân sinh của cậu quyết định xin cho cậu nhập học Trường Thiếu Sinh Quân Gia Định. Có lẽ vị thân sinh của người đã nhìn thấy được những dấu hiệu, những nảy nở của tinh thần và ý hướng, mà sau này sẽ hướng người vào con đường binh nghiệp, sẽ làm nên những công nghiệp lớn có ích lợi cho đất nước

Cuộc đời đèn sách trễ nải của chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn, lúc này đã 17 tuổi, đã ngáng bước đi lên về mặt văn hóa. Theo học quy của Trường Thiếu Sinh Quân, một học sinh ở độ tuổi 17 chưa học xong Đệ Ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. Vì vậy chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn được trường gửi lên Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức học khóa chuyên môn CC1 Vũ Khí. Trong lớp văn hóa hồi ở Trường TSQ, ông chỉ ở mức trung bình, nhưng sau ba tháng học ở Thủ Đức, chàng trai trẻ lại đậu hạng ưu. Ông được cho học thêm khóa chuyên môn vũ khí bậc nhì CC2. Sau khóa học này ông quyết định đăng vào phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, với cấp bậc Binh Nhì. Theo quy chế dành cho các Thiếu Sinh Quân, thì ba tháng sau, Binh Nhì Hồ Ngọc Cẩn sẽ được thăng lên Hạ Sĩ, ba tháng kế tiếp được lên Hạ Sĩ Nhất và ba tháng sau nữa được thăng Trung Sĩ. Trong vòng chín tháng kế tiếp, với khả năng ưu hạng về môn vũ khí, Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được chọn làm huấn luyện viên vũ khí cho trường.

Cuộc đời làm huấn luyện của ông những tưởng êm đềm trôi và tài năng quân sự của người sẽ bị mai một trong một ngôi trường khiêm tốn. Nhưng định mệnh đã dành cho người anh hùng một vị trí xứng đáng trong quân đội và những cơ hội thi thố tài năng, mà sau này được mọi người truyền tụng lại như là những huyền thoại, để phục vụ và bảo vệ tổ quốc. Tình hình quân sự ngày càng nghiêm trọng cho một quốc gia non trẻ và một quân đội còn tập tễnh kinh nghiệm chiến đấu, sĩ quan chỉ huy thiếu hụt. Bộ Quốc Phòng quyết định mở các khóa Sĩ Quan Đặc Biệt bắt đầu từ năm 1962 để cung cấp thêm sĩ quan có khả năng cho chiến trường và nâng đỡ những Hạ Sĩ Quan có ước vọng thăng tiến. Một may mắn lớn cho Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn, mà cũng là may mắn cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, một cựu Thiếu Sinh Quân, đã nâng đỡ cho các đàn em TSQ. Những Thiếu Sinh Quân không hội đủ năm năm quân vụ và có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp vẫn được cho đi học Khóa Sĩ Quan Đặc Biệt. Hơn nữa, dường như Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đại Tướng Lê Văn Tỵ có mật lệnh, các tân Chuẩn Úy xuất thân từ Thiếu Sinh Quân đều được đưa về các binh chủng thiện chiến hay đặc biệt như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Giáp, Biệt Động Quân, Quân Báo, An Ninh Quân Đội, Lực Lượng Đặc Biệt. Tổng Thống Diệm và Đại Tướng Tỵ cũng không quên gửi những Thiếu Sinh Quân tốt nghiệp Tú Tài vào học các Trường Cao Đẳng Sư Phạm và Y Khoa để có nhân tài phục vụ xã hội và huấn luyện lại cho những thế hệ tuổi trẻ kế tiếp. Đặc biệt nhiều Thiếu Sinh Quân cũng được cho vào học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt để làm nền tảng cho cái xương sống chỉ huy chuyên nghiệp trong hệ thống quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được cho theo học Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH, Đồng Đế, Nha Trang. Các tân Chuẩn Úy Đặc Biệt, trong đó có Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn tung cánh đại bàng bay đi khắp bốn phương và sau này đã trở thành những sĩ quan tài giỏi nhất của quân lực, lưu danh quân sử. Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn được thuyên chuyển về Biệt Động Quân Vùng 4 Chiến Thuật Miền Tây, sau một khóa học Rừng Núi Sình Lầy của binh chủng Mũ Nâu. Lúc đó các đại đội BĐQ biệt lập theo lệnh của TT Diệm, đã được cải tổ và sát nhập thành các tiểu đoàn. Khu 42 Chiến Thuật gồm lãnh thổ các tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu và An Xuyên, có hai tiểu đoàn BĐQ, mà lại là hai tiểu đoàn lừng lẫy nhất của binh chủng. Đó là Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân "Cọp Ba Đầu Rằn", và Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân "Cọp Xám". Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn nhận sự vụ lệnh trình diện Tiểu Đoàn 42 BĐQ và làm Trung Đội Trưởng. Khả năng quân sự thiên bẩm, tài chỉ huy và sự chiến đấu hết sức gan dạ của Chuẩn Úy Cẩn, mà đã đem nhiều chiến thắng vang dội về cho TĐ42BĐQ, được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận, đã nhanh chóng xác nhận Trung Úy tân thăng

Hồ Ngọc Cẩn có khả năng chỉ huy tiểu đoàn. Trung Úy Cẩn được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 42BĐQ, đặt dưới quyền chỉ huy của một chiến binh lừng lẫy và nhiều huyền thoại không kém gì Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn. Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, xuất thân từ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, với tác phong chiến đấu dũng cảm làm quân giặc kiêng sợ và thuộc cấp kính phục. Cung cách đánh giặc như vũ bão của Trung Úy Cẩn còn được nhân lên thập bội, khi lời yêu cầu của ông lên cấp chỉ huy xin cho các chiến binh gốc Thiếu Sinh Quân được về chiến đấu chung với ông. Lời yêu cầu này được thỏa mãn một phần, nhưng cũng đủ để cho Trung Úy Cẩn có thêm được sức mạnh cần thiết. Có lần ông tâm sự với một người bạn lý do này: "Một là để dễ sai. Tất cả bọn cựu Thiếu Sinh Quân này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng, mà chúng nó lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng nó về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng nó những gì mà quân trường không dạy. Hai là truyền thống của tôi khi ra trận là chết thì chết chứ không lùi. Vì vậy cần phải có một số người giống mình, thì đánh nhau mới đã. Bọn cựu Thiếu Sinh Quân đều như tôi".

Một câu chuyện dũng cảm và cảm động khác kể về Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15 Bộ Binh tại mặt trận An Lộc năm 1972. Trong khi quân của Trung Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh bị pháo địch nã hàng ngàn quả ghìm đầu xuống trong những hố cá nhân bên đường Quốc Lộ 13 gần thị xã An Lộc, thì binh sĩ trung đoàn ngạc nhiên lẫn cảm kích khi thấy vị Trung Đoàn Trưởng của họ dẫn vài người lính cũng quả cảm như vị chỉ huy điềm tĩnh đi thẳng lưng dưới cơn hỏa pháo cường kích như bão lửa của Sư Đoàn 7 Bắc Việt từ công sự này sang hố chiến đấu kia thăm hỏi chiến sĩ, an ủi các chiến thương và khích lệ tinh thần binh sĩ. Chiến binh Hồ Ngọc Cẩn coi thường cái chết, mà dường như cái chết cũng sợ hãi và tránh xa con người kiệt xuất ấy. Định mệnh sẽ dành cho người một cái chết cao cả nhất, ít nhất cũng chưa phải là trong mùa hè đỏ lửa của năm 1972. Dường như giữa Trung Tá Cẩn và cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí có rất nhiều chất hào hùng quả cảm giống như nhau. Đại Tướng Đỗ Cao Trí thường nói với các phóng viên ngoại quốc đi trong cánh quân của người, khi họ tỏ lòng khâm phục người chiến binh Nhảy Dù ấy đã đứng giơ cao khẩu súng Browning thúc giục binh sĩ tiến lên, giữa những làn đạn đan chéo như vải trấu của địch quân: "Nếu đạn không trúng mình thì mình được tiếng anh hùng, mà nếu đạn có trúng thì mình cũng được tiếng anh hùng luôn"!

Các loại pháo địch từ 122ly đến 130ly, chưa kể đến những loại cối 81ly và các loại súng đại bác không giật 75 ly và 90 ly dội hàng chục ngàn quả lên vị trí của quân ta. Quân Trung Đoàn 15 đánh lên An Lộc dọc theo QL13 từ Tân Khai tiến rất chậm vì đạn pháo giặc. Để tránh bị thiệt hại nặng, Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn đã lệnh cho binh sĩ mỗi người đào một hố nhỏ như những cái "miệng ve" để ẩn trú. Nếu pháo dội trúng cái "miệng ve" nào, thì chỉ một chiến sĩ ở chỗ đó bị tử thương mà thôi. Trong một khoảng chiến tuyến mỗi chiều bề dài 300 thước, có hàng mấy trăm cái hố nhỏ, mấy ngàn quả pháo của cộng quân dội xuống, tính trung bình mỗi mét vuông lãnh vài trái. Nếu tính theo lý thuyết toán học thì mỗi chiến sĩ Trung Đoàn "ăn" từ hai trái lấy lên, và như vậy toàn bộ trung đoàn coi như chết hết. Nhưng thật kỳ diệu, chiến thuật "cò ỉa miệng ve" của quân ta lại cứu sống hàng ngàn sinh mạng chiến sĩ. Dứt cơn pháo địch, chiến sĩ ta nhú đầu lên điểm danh quân số, thì thấy rằng, nhờ ơn trời, rất ít chiến thương. Tuy nhiên khi quân Trung Đoàn 15 tiến quân trên QL13 và giao chiến với quân địch, thì con số thương vong lên rất cao. Có nhiều đại đội trên 100 người, khi tàn cuộc chiến trở về Quân Khu IV chỉ còn khoảng ba chục chiến sĩ.

Ở phía Nam Tân Khai, Sư Đoàn 21 Bộ Binh cũng bị thiệt hại nặng vì pháo, nhiều sĩ quan cao cấp bị tử thương. Trung Đoàn Trưởng của một trung đoàn là Trung Tá Nguyễn Viết Cần và một vị Trung Tá Trung Đoàn Phó của một trung đoàn khác hy sinh vì pháo địch quá ác liệt. Trung Tá Nguyễn Viết Cần chính là bào đệ của cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh. Ông xuất thân từ binh chủng Mũ Đỏ Nhảy Dù, con đường binh nghiệp đang có nhiều triển vọng đi lên thì ông bị liên can trong vụ thuộc cấp ngộ sát hai Quân Cảnh Mỹ tại Sài Gòn. Thiếu Tá Cần bị thuyên chuyển về SĐ 21 BB, ít lâu sau ông thăng Trung Tá và nắm trung đoàn. Cuối cùng thì dòng họ Nguyễn Viết đã cống hiến cho đất nước đến hai người con ưu tú. Theo lời kể lại của Đại Úy Tiến, một vị Tiểu Đoàn Phó của Trung Đoàn 15 Bộ Binh lên An Lộc tham chiến, thì Trung Tá Cẩn đã lệnh cho ông phải đứng lên điều động binh sĩ giữa lúc đạn pháo giặc dội như bão xuống các vị trí Trung Đoàn. Tất cả các vị chỉ huy cao cấp của Trung Đoàn đều phải nêu gương dũng cảm cho thuộc cấp và chiến sĩ, để cùng xông lên giải cứu An Lộc. Vì những chiến công ngoài chiến trường, tính đến năm 1970 thì Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn là chiến sĩ được tưởng thưởng nhiều huy chương nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với 78 chiếc của gồm 1 Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, 25 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, 45 Anh Dũng Bội Tinh với các loại Ngôi Sao, 3 Chiến Thương Bội Tinh và 4 Huy Chương Hoa Kỳ.

Sau khi trở về từ An Lộc, Trung Đoàn 15 Bộ Binh còn tăng viện cho các trung đoàn bạn và Sư Đoàn 7 Bộ Binh đánh những trận long trời ở miền biên giới Việt-Miên, các tỉnh bờ Bắc sông Tiền Giang. Những tổn thất và vết thương còn chưa hồi phục từ chiến trường Miền Đông, lại vỡ toác ra từng mảnh lớn khác. Nhưng có sá gì chuyện tử sinh, làm thân chiến sĩ thì người lính của chúng ta chỉ biết tận lực hiến dâng xương máu cho nền tự do của tổ quốc và cho niềm hạnh phúc của dân tộc. Một lần nữa, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn được trao cho một chức vụ trọng yếu và hết sức khó khăn, khó có ai đảm đương nổi. Ông sẽ đi trấn nhậm tỉnh Chương Thiện, một tỉnh có địa hình phức tạp nhất vùng đồng lầy Miền Tây, với cái gai nhọn nhức nhối mật khu U Minh Thượng trong lãnh thổ, từ đó quân Bắc Việt và Việt Cộng phóng ra những cuộc đánh phá lớn, uy hiếp các quận xã hẻo lánh. Chọn Đại Tá Cẩn về trấn giữ tỉnh Chương Thiện, vị Tư Lệnh Quân Đoàn IV biết chắc Đại Tá Cẩn cùng với lực lượng Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thiện chiến của ông sẽ ít nhất hóa giải được áp lực giặc, không cho chúng tiến xuống Cần Thơ. Giữ vững được Chương Thiện tức là bảo đảm an toàn cho lãnh thổ Quân Khu IV ở bờ Nam sông Hậu Giang.

Trong thời gian Đại Tá Cẩn làm tỉnh trưởng Chương Thiện, nhiều huyền thoại khác về ông đã được kể lại. Đại Tá Cẩn chẳng những là một nhà quân sự xuất chúng, mà còn là một nhà cai trị và bình định tài ba. Một ngày trước khi ông nhận bàn giao tỉnh Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã ăn mặc thường phục, giả dạng thường dân đi thanh tra ngầm một vòng tỉnh lỵ Vị Thanh. Ông vào các sòng bài, những nơi nhận tiền đánh số đề và những ổ điếm quan sát.

Ngày hôm sau, khi đã chính thức là vị Tỉnh Trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn cho gọi người Thiếu Tá Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh đến cật vấn nghiêm khắc về những tệ đoan xã hội trong tỉnh, rồi lập tức cách chức ông này. Thay vào đó là Trung Tá Đường, một vị sĩ quan mẫn cán và tài năng. Trung Tá Đường là cánh tay mặt vững chãi của Đại Tá trong lĩnh vực bình định, xã hội và truy bắt bọn Việt Cộng hoạt động dầy đặc trong tỉnh. Bọn cộng phỉ rất căm thù Trung Tá Đường, đến nỗi sau ngày 30.4.1975, chúng bắt được Trung Tá Đường, chỉ giam giữ ông một thời gian ngắn rồi đem ông ra xử bắn tại Vị Thanh. Cùng đền ơn tổ quốc với Trung Tá Đường còn có Đại Úy Bé, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Thám Báo Tỉnh. Đại Úy Bé đã làm điêu đứng bọn giặc cộng, với những chiến sĩ Thám Báo nhảy sâu vào hậu cứ địch báo cáo tin tức, địch tình, cũng như tọa độ trú quân để Không Quân, Pháo Binh dội những cơn bão lửa lên đầu chúng. Trung Tá Đường và Đại Úy Bé bị giặc tàn nhẫn bắn chết tại chân cầu dẫn vào thành phố Vị Thanh.

Có một ông Quận Trưởng nọ, muốn cho chi khu của mình được an toàn tối đa, chiều nào cũng xin Pháo Binh tiểu khu yểm trợ hỏa lực, nại lý do Việt Cộng pháo kích hay tấn công. Đại Tá Cẩn thỏa mãn tối đa và được báo cáo là quận bị thiệt hại một kho xăng và kho lương thực. Đại Tá tin thật, ông lệnh cho sĩ quan Trưởng Phòng 3 chuẩn bị xe Jeep đi xuống quận. Buổi chiều chạng vạng trên những con đường đất hoang vắng rợn người ở vùng quê Chương Thiện mà vị Tỉnh Trưởng trẻ của chúng ta dám đi xe Jeep cùng với một vài người lính, chỉ có những chiến binh dũng cảm như Đại Tá Cẩn mới làm được. Ông Quận Trưởng đang nằm trên võng rung đùi uống Martell hoảng kinh ngồi bật dậy mặt mũi tái xanh đứng nghiêm chào vị Tỉnh Trưởng đầy huyền thoại. Đại Tá Cẩn đi thẳng xuống Trung Tâm Hành Quân của Chi Khu xem bản đồ và ra lệnh cho ông Quận: "Tôi muốn những ấp loại C sau ba tháng được nâng lên loại B. Những ấp loại B sau ba tháng phải được nâng lên loại A". Ngài Quận Trưởng tạm ngưng uống rượu và làm việc trối chết. Đại Tá Cẩn không trừng trị tội xao nhãng nhiệm vụ của ông Quận, nhưng cung cách độ lượng và cương quyết của Đại Tá Cẩn giống như lưỡi gươm trừng phạt treo đung đưa trên đầu. Đúng ba tháng sau, nhận được báo cáo khả quan của vị Quận Trưởng, Đại Tá Cẩn lại xuống quận ngủ đêm, sau khi đã trân trọng gắn lon mới tưởng thưởng cho ông này. Nếu tất cả 44 tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa đều có những vị Tỉnh Trưởng can đảm, mẫn cán và tài ba như Đại Tá Cẩn, làm sao giang sơn hoa gấm của tổ tiên của chúng ta có thể lọt vào tay bọn cộng nô tay sai Nga Tàu dễ dàng như vậy được. Chúng ta cũng được biết rằng, Đại Tá Cẩn là vị Tỉnh Trưởng trẻ tuổi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông nhận chức vụ này hồi năm 1973, lúc ông mới có 35 tuổi.

Những đóng góp và hy sinh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn lớn lao và nhiều không sao có thể kể được hết, suốt một đời người đã tận tụy với nước non, danh tiếng lừng lẫy và nắm giữ những chức vụ khó khăn, mà người vẫn khiêm nhường hết mực, giữ cuộc sống trong sáng và thanh liêm, tâm tư lúc nào cũng hướng về những thế hệ đàn em. Một người bạn cũ trong một dịp gặp lại Đại Tá Cẩn ở Cần Thơ vào mùa hè 1974, đã hỏi ông:"Anh từng là Trung Đoàn Trưởng, hiện làm Tỉnh Trưởng, anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm Tư Lệnh sư đoàn không"? Con người danh tiếng lừng lẫy trên các chiến trường đã khiêm tốn trả lời: "Tôi lặn lội suốt mười bốn năm qua gối chưa mỏi, nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy trung đoàn là cao rồi, mình phải biết liêm sỉ chớ, coi sư đoàn sao được. Làm Tỉnh Trưởng bất quá một hai năm nữa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi Trường Thiếu Sinh Quân, hoặc coi các lớp huấn luyện Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh mà tôi đã trải qua". Ôi cao cả biết ngần nào tấm chân tình với nước non và với thế hệ chiến binh đàn em của người. Con người chân chính để lại cho hậu thế những lời khí khái.

Cuối cùng thì cái ngày tang thương 30.4.1975 của đất nước cũng đến. Dân tộc Việt Nam được chứng kiến những cái chết bi tráng hào hùng của những vị thần tướng nước Nam, của những sĩ quan các cấp còn chưa được biết và nhắc nhở tới. Và của những người chiến sĩ vô danh, một đời tận tụy vì nước non, những đôi vai nhỏ bé gánh vác cả một sức nặng kinh khiếp của chiến tranh. Sinh mệnh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cũng bị cuốn theo cơn lốc ai oán của vận mệnh đất nước. Chu vi phòng thủ của Tiểu Khu Chương Thiện co cụm dần, quân giặc hung hăng đưa quân tràn vào vây chặt lấy bốn phía. Những chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân của Chương Thiện nghiến răng ghì chặt tay súng, quyết một lòng liều sinh tử với vị chủ tướng anh hùng của mình. Đại Tá Cẩn nhớ lại lời đanh thép của ông: "Chết thì chết chứ không lùi". Ông tự biết những khoảnh khắc của cuộc đời mình cũng co ngắn lại dần theo với chu vi chiến tuyến. Ông nhớ lại những ngày sình lầy với Biệt Động Quân, những ngày lên An Lộc với chiến sĩ Sư Đoàn 9 Bộ Binh đi trong cơn bão lửa ngửa nghiêng, những lúc cùng chiến sĩ Sư Đoàn 21 Bộ Binh đi lùng giặc trong những vùng rừng U Minh hoang dã, và những chuỗi ngày chung vai chiến đấu với chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thân thiết và dũng mãnh của ông trên những cánh đồng Chương Thiện hoang dã. Hơn ba trăm trận chiến đấu, nhưng chưa lần nào ông và chiến sĩ của ông phải đương đầu với một cuộc chiến cuối cùng khó khăn đến như thế này.

Khoảng hơn 9 giờ tối ngày 30.4.1975, gần nửa ngày sau khi Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng, Đại Tá Cẩn cố liên lạc về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV xin lệnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Người trả lời ông lại là phu nhân Thiếu Tướng Lê Văn Hưng. Đại Tá Cẩn ngơ ngác không biết chuyện hệ trọng nào mà đã đưa Bà Hưng lên văn phòng Bộ Tư Lệnh. Bà Hưng áp sát ống nghe vào tai, bà nghe có nhiều tiếng súng lớn nhỏ nổ ầm ầm từ phía Đại Tá Cẩn. Như vậy là Tiểu Khu Chương Thiện vẫn còn đang chiến đấu ác liệt và không tuân lệnh hàng cùa tướng Minh. Trước đó, khoảng 8 G 45 phút tối 30.4.1975 Thiếu Tướng Lê Văn Hưng đã nổ súng tử tiết, Thiếu Tướng Nam đang đi thăm chiến sĩ và thương bệnh binh lần cuối cùng trong Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ, rồi người tự sát ngay trong đêm. Bà Thiếu Tướng Hưng biết Đại Tá Cẩn kiên quyết chiến đấu đến cùng, thà chết không hàng, vì đó là tính cách thiên bẩm của người chiến sĩ Hồ Ngọc Cẩn. Nếu có chết thì Đại Tá Cẩn phải chết hào hùng, trong danh dự của một người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa công chính. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cùng các sĩ quan trong Ban Chỉ Huy Tiểu Khu và các chiến sĩ Tiểu Khu Chương Thiện đã đánh một trận tuyệt vọng nhưng lừng lẫy nhất trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đánh tới viên đạn và giọt máu cuối cùng và đành sa cơ giữa vòng vây của bầy lang sói. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 11 giờ trưa ngày 1.5.1975, quân ta không còn gì để bắn nữa, Đại Tá Cẩn lệnh cho thuộc cấp buông súng. Khi những người lính Cộng chỉa súng vào hầm chỉ huy Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, vị Trung Úy tùy viên và các sĩ quan tham mưu, hạ sĩ quan và binh sĩ tùng sự đều có mặt. Một viên chỉ huy Việt Cộng tên Năm Thanh hùng hổ chỉa khẩu K 54 vào đầu Đại Tá Cẩn dữ dằn gằn giọng:"Anh Cẩn, tội anh đáng chết vì những gì anh đã gây ra cho chúng tôi". Đại Tá Cẩn cười nhạt không trả lời.

Nhưng bọn cộng phỉ không giết ông ngay, chúng đã có kế hoạch làm nhục người anh hùng sa cơ nhưng cứng cỏi của chúng ta. Các sĩ quan tham mưu được cho về nhà, nhưng Đại Tá Cẩn thì không, địch áp giải ông sang giam trong Ty Cảnh Sát Chương Thiện. Vài ngày sau, các sĩ quan Tiểu Khu Chương Thiện cũng bị gọi vào giam chung với Đại Tá Cẩn. Để làm nhục và hành hạ tinh thần người dũng tướng nước Nam, giặc cho phá hủy nhà cầu trong Ty Cảnh Sát và thay vào bằng một cái thùng nhựa. Mỗi buổi sáng, ngày nào chúng cũng bắt Đại Tá Cẩn cùng một người nữa khiêng thùng phân đi đổ. Người ưu tiên được làm nhục thứ hai là vị Phó Tỉnh Trưởng. Dù cho các sĩ quan của ta có đề nghị hãy để cho mọi người làm công tác công bằng, nhưng bọn Cộng vẫn nhất quyết đày đọa Đại Tá Cẩn. Người anh hùng của chúng ta chỉ mỉm cười, ung dung làm công việc của mình. Chúa Jesus đã chẳng từng nói khi lên thập giá: "Lạy Cha ở trên trời, họ không biết việc họ đang làm" đó sao. Bà Đại Tá Cẩn lo sợ bị cộng quân trả thù nên bà đã đem cậu con trai duy nhất của ông bà là Hồ Huỳnh Nguyên, lúc ấy được 5 tuổi, về Cần Thơ ẩn náu và thay đổi lý lịch nhiều lần. Nhớ thương chồng, nhiều lúc bà đã liều lĩnh choàng khăn che mặt xuống Vị Thanh tìm đến Ty Cảnh Sát đứng bên này bờ con rạch nghẹn ngào nhìn vào sang dãy tường rào kín bưng. Một vài sĩ quan ra xách nước trông thấy bà đã tìm cách dẫn Đại Tá Cẩn ra. Những khoảnh khắc cuối cùng đẫm đầy nước mắt ấy sẽ theo ký ức của bà Đại Tá Cẩn đến suốt khoảng đời còn lại của bà. Đầu năm 1979 bà Cẩn cùng bé Nguyên liều chết vượt biển. Thượng Đế đã dang tay từ ái bảo vệ giọt máu duy nhất của Đại Tá Cẩn. Bà Cẩn và bé Nguyên đến được đảo Bidong thuộc Mã Lai. Mười tháng sau hai mẹ con bà Đại Tá Cẩn được phái đoàn phỏng vấn Mỹ cho định cư tại Hoa Kỳ theo dạng ưu tiên có chồng và cha bị cộng sản bắn chết tại Việt Nam.

Bọn phỉ không giết Đại Tá Cẩn ngay, chúng muốn làm nhục người và làm nhục quân dân Miền Tây. Bọn chúng sẽ thiết trí một pháp trường và dành cho người một cái chết thảm khốc hơn. Đại Tá Cẩn không thể tử tiết, vì là con chiên ngoan đạo, luật Công Giáo không cho phép con cái Chúa được tự tử. Đại Tá Cẩn thường cầu nguyện mỗi buổi sáng và thổ lộ tâm tư với thuộc cấp trước khi ra trận: "Sống chết nằm trong tay Chúa". Vì vậy viên đạn cuối cùng người bắn vào kẻ thù, để cho chúng biết rằng nước Nam không thiếu anh hùng.

Quân dân Miền Tây đã tiếc thương cái chết của hai vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng trong ngày u ám đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Giờ đây, cũng trong bầu không khí ảm đạm đau buồn của ngày 14.8.1975, người dân thủ phủ Cần Thơ sẽ được chứng kiến giây phút lìa đời cao cả của người anh hùng Hồ Ngọc Cẩn. Bọn sói lang đã áp giải người từ Chương Thiện về Cần Thơ và cho bọn ngưu đầu đi phóng thanh loan báo địa điểm, giờ phút hành hình người anh hùng cuối cùng của Quân Lực Việt Cộng Hòa. Bọn tiểu nhân cuồng sát thay vì nghiêng mình kính phục khí phách của người đối địch, thì chúng lại lấy lòng dạ của loài khỉ và loài quỷ để đòi máu của người phải chảy. Chúng quyết tâm giết Đại Tá Cẩn để đánh đòn tâm lý phủ đầu lên những người yêu nước nào còn dám tổ chức kháng cự lại bọn chúng. Thật đau đớn, trong khoảnh khắc cuối cùng này, bà Đại Tá Cẩn và người con trai còn phải ẩn trốn một nơi kín đáo theo lời căn dặn của Đại Tá Cẩn trước khi ông bị bắt, vì sợ bọn chúng bắt bớ tra tấn, nên bà không thể có mặt để chứng kiến giây phút Đại Tá Cẩn đi vào lịch sử.

Đại Tá Cẩn bị giải lên chỗ hành hình, mấy tên khăn rằn hung hăng ghìm súng bao quanh người chiến sĩ. Trước khi bắn người, tên chỉ huy cho phép người được nói. Đại Tá Cẩn trong chiếc áo tù vẫn hiên ngang để lại cho lịch sử lời khẳng khái: "Tôi chỉ có một mình, không mang vũ khí, tôi không đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi xin được mặc quân phục và chào lá quốc kỳ của tôi lần cuối". Dĩ nhiên lời yêu cầu không được thỏa mãn. Đại Tá Cẩn còn muốn nói thêm những lời trối trăn hào hùng nữa, nhưng người đã bị mấy tên khăn rằn nón cối xông lên đè người xuống và bịt miệng lại. Tên chỉ huy ra lệnh hành quyết người anh hùng. Điều duy nhất mà bọn chúng thỏa mãn cho người là không bịt mắt, để người nhìn thẳng vào những họng súng thù, nhìn lần cuối quốc dân đồng bào. Rồi người ngạo nghễ ra đi. Cùng ngẩng cao đầu đi vào chiến sử Việt Nam với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ là người anh hùng Thiếu Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng quận Kiến Thiện, bạn đồng khóa với Đại Tá Cẩn. Thiếu Tá Tiếp đã cùng các chiến sĩ Địa Phương Quân Chi Khu chiến đấu dũng cảm đến sáng ngày 1.5.1975 thì ông bị sa vào tay giặc. Thiếu Tá Tiếp là một sĩ quan xuất sắc, trí dũng song toàn. Ông đã từng gây rất nhiều tổn thất nặng nề cho quân địch, nhờ tổ chức thám sát chính xác, có lần ông đã gọi B 52 dội trúng một trung đoàn cộng quân và hầu như xóa sổ trung đoàn này. Cộng quân ghi nhớ mối thù này, người anh hùng của chúng ta sa vào chúng, thì chúng sẽ giết chết ông không thương tiếc. Hai người anh hùng cuối cùng của miền Tây đã vĩnh viễn ra đi. Đất trời những ngày đầu mùa mưa bỗng tối sầm lại.

Một nhân chứng đứng ở hàng đầu dân chúng kể lại rằng, trong những giây phút cuối cùng, Đại Tá Cẩn đã dõng dạc hét lớn: "Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Đả Đảo Cộng Sản"! Năm sáu tên bộ đội nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét man rợ và đánh đấm người anh hùng sa cơ tàn nhẫn.

Người phụ nữ nhân chứng nước mắt ràn rụa, bà nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Bà nghe trong cõi âm thanh rừng rú có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Khi bà mở mắt ra thì thấy nhiều tên Việt Cộng quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đem đi.

Đúng ra, phải vinh danh Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn là Chuẩn Tướng Hồ Ngọc Cẩn, vì người đã anh dũng chiến đấu trên chiến trường và vị quốc vong thân. Nhưng Tổng Thống Tổng Tư Lệnh, Tổng Tham Mưu Trưởng đã bỏ chạy từ lâu, Tư Lệnh Quân Khu IV đã tử tiết, lấy ai đủ tư cách trao gắn lon và truy thăng Chuẩn Tướng cho người. Anh linh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã thăng thiên. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử đến ngàn đời sau. Xin người hãy thương xót cho dân tộc và đất nước Việt Nam còn đang chìm đắm trong tối tăm và gông xiềng cộng sản, xin hãy ban cho những người còn đang sống khắc khoải sức mạnh và quyết tâm. Để cùng nhau đứng dậy lật đổ chúng, hất bọn chúng, tất cả bọn tự nhận là con cháu loài vượn đó vào vực thẳm lạnh lẽo nhất của địa ngục.

Phạm Phong Dinh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ
LƯU TIẾNG NGÀN THU


Phạm Phong Dinh
Ngày 13.4.1972, sư đoàn 9 Bắc Việt mở màn chiến dịch đánh chiếm An Lộc, sau khi pháo binh đủ loại của địch bắn cường tập vào tất cả vị trí phòng thủ của Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa. Cộng quân dội cả một cơn bão lửa kinh khiếp lên đầu ba ngàn Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, gồm các Ðơn vị của Trung Ðoàn 7, Trung Ðoàn 8 thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Chiến Ðoàn 52 thuộc Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh và Trung Ðoàn 9 Bộ Binh của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh triệt thoái từ Quận Lộc Ninh về.

Cơn hỏa pháo của địch dội lên chiến tuyến của quân phòng thủ dữ dội và kéo dài đến mãi 6 giờ chiều. Giặc muốn đánh phủ đầu quân ta bằng hỏa lực pháo, làm tiêu hao Lực Lượng Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và hy vọng tinh thần chiến đấu của Chiến Sĩ Ngôi Sao Miền Ðông bị suy sụp. Trong lúc pháo địch nã liên hồi kỳ trận vào Thị Xã An Lộc ghìm đầu quân ta xuống, thì trung đoàn 203 thiết giáp Bắc Việt vừa được điều động từ Hạ Lào vào Miền Ðông, đã đưa hàng trăm chiếc T-54 và T-59 (loại T-54 của Nga sô do Trung cộng biến cải) áp sát vào mọi tuyến phòng thủ của các Ðơn vị Việt Nam Cộng Hòa. Lực lượng thiết giáp địch ủi quá nhanh xuyên qua chiến tuyến của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh làm bộ binh thuộc sư đoàn 9 Bắc Việt địch không theo kịp, một phần lớn bị quân Sư Ðoàn 5 Bộ Binh chận đánh dữ dội. Vài chục chiếc tăng của cộng quân ầm ầm nghiến bánh xích tràn vào Thành Phố không có bộ binh tùng thiết. Một chiếc T54 của giặc chạy đến gần hầm của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, mũi súng đại bác quay ngang dọc, nhiều lúc nó đứng sững ngơ ngác giữa Ðường phố và không biết phải hành động ra sao.

Chuẩn Tướng Hưng mặc chiếc áo thun quân đội màu xanh ô liu, một tay cầm khẩu M16, một tay thủ sẵn một quả lựu đạn. Chiếc xe tăng T-54 đang nổ máy ì ầm và đậu cách hầm Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn một khoảng ngắn. Chỉ cần nó quay mũi súng khạc đạn vào hay húc bừa và cán lên hầm, thì tất cả những người trong hầm khó mà thoát chết. Chuẩn Tướng Hưng đinh ninh trong lòng rằng, vạn nhất bọn cán binh Bắc Việt có tràn vào ‘’bắt sống Sư Trưởng Sư 5 ngụy giải về Hà Nội’’, như ta đã nghe được qua điện đàm của địch, thì ông sẽ cho nổ lựu đạn và cùng hy sinh, để khỏi lọt vào tay giặc. Tuy nhiên, thời điểm hy sinh của người anh hùng vẫn chưa đến. Ðịnh mệnh sẽ dành cho người một cái chết xứng đáng hơn, tên tuổi của người sẽ đi vào lịch sử ngàn đời sau. Giờ đây, có một người chiến binh nổi tiếng dũng cảm nhất của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh sẽ đứng ra giải tỏa mỗi lo cho người Tư Lệnh của mình.

Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 Bộ Binh, được Chuẩn Tướng Hưng triệu về hầm chỉ huy kiêm nhiệm chức vụ Sĩ Quan Hành Quân Sư Ðoàn. Ðại Tá Vỹ cầm lấy khẩu súng bắn hỏa tiễn chống tăng M-72 của một người Lính đứng gần ‘’Em để Qua làm thịt thằng này’’. Gương khẩu M-72 ra hết chiều dài ở thế khích hỏa, Ðại Tá Vỹ thò đầu lên khỏi miệng hầm, ông gác khẩu M-72 để cho cái nòng phụt hậu của nó xoay về hướng trống, để khi xạ kích lửa phụt hậu không phụt trúng những người trong hầm. Chiếc T-54 vẫn loay hoay chạy chầm chậm tênh hênh giữa đường. Ðại Tá Vỹ lấy đường nhắm, ba ngón tay miết lên miếng cao su kích hỏa. Một tiếng đánh xẹt rợn người của chiếc hỏa tiễn phóng về chiếc tăng địch, một làm lửa màu cam phụt mạnh về phía sau. Trúng rồi, quả đạn bắn trúng vào hông chiếc T54.

Một tiếng nổ kinh hồn vang dậy, một khối lửa đỏ và khói trắng mù mịt bao phủ lấy chiếc T-54. Chiếc tăng địch nằm chết lịm, xa đoàn 4 người bị kẹt trong lòng xe và bị cháy thui theo. Sĩ Quan và Chiến Sĩ nấp trong hầm mừng quá nhảy lên reo hò vang trời. Một anh Chiến Sĩ ôm lấy Ðại Tá Vỹ la lớn: ‘’Trúng rồi, Ðại Tá!’’. Quả M-72 của Ðại Tá Vỹ có tác dụng vực dậy tinh thần chiến đấu của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.

Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Ðông từ khi ông về phục vụ dưới cờ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Ông nổi danh là một Chiến binh quả cảm, một Sĩ Quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huy. Ông đi lần lên đến chức vụ Trung Ðoàn Trưởng là nhờ những chiến công gặt hái được ngoài chiến trường. Tiếng tăm của Ðại Tá Vỹ đã trở nên quen thuộc với các Chiến Sĩ trong những Tỉnh thuộc trách nhiệm bảo vệ của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh gồm Bình Dương, Phước Long và Bình Long. Ngay cả vị Cố Vấn Quân Ðoàn III trong bản phúc trình hàng năm gửi lên MACV (Military Assistance Command of Vietnam) đã viết như sau: ‘’Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 Bộ Binh thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, là Trung Ðoàn Trưởng giỏi nhất Quân Ðoàn III. Ðại Tá Vỹ đủ khả năng để trở thành một Tư Lệnh Sư Ðoàn...’’.

Với bản báo cáo súc tích như thế này, đã đủ giải thích cái lon Chuẩn Tướng và chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của Ðại Tá Vỹ, sau khi Chuẩn Tướng Hưng rời Sư Ðoàn về Cần Thơ làm Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn IV & Quân Khu IV vào khoảng tháng 11.1973. Người Mỹ rất cao ngạo, khó tánh và rất hà tiện lời khen các giới chức chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng một khi họ đã chịu công nhận bản lĩnh các vị Tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa thì chắc chắn họ đã nhận xét đúng với lương tâm của họ.

Ta hãy nghe thêm phúc trình của hai vị Cố Vấn Trưởng và Phó của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, vốn có nhiều kinh nghiệm tham mưu, hành quân và tiếp xúc trực tiếp với Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ. Ðại Tá John G. Hayes, Cố Vấn Trưởng Sư Ðoàn 5 Bộ Binh phúc trình lên Cố Vấn Quân Ðoàn III ngày 7.2.1970 như sau: ‘’Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ, nhận chức ngày 20.12.1968, có 19 năm quân ngũ. Ðại Tá Vỹ là một cấp Chỉ Huy Trưởng xếp hạng trên trung bình. Ông có khả năng, rất xông xáo, có nhiều sáng kiến trong lúc chạm địch và trong khi Huấn luyện Binh Sĩ’’. Trung Tá Roy E. Couch, Cố Vấn Phó Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, trong bản phúc trình ngày 4.2.1970 thì lại đánh giá Ðại Tá Vỹ cao hơn nữa: ‘’Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 Bộ Binh là một Sĩ Quan tài ba, rất nhiệt tâm, rất nghiêm chỉnh và rất được việc. Một người Quốc Gia nhiệt tình. Ðáng được thăng chức’’.

Sau chiến thắng An Lộc, Ðại Tá Vỹ được điều động về làm Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 21 Bộ Binh một thời gian. Trong một tai nạn trực thăng, ông đã thoát chết nhưng bị thương nhẹ ở chân. Chiến trường miền Tây khá yên tĩnh sau thời điểm Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. Sư doàn 1 Bắc Việt ẩn náu trong các vùng U Minh tối tăm và vùng biên giới tránh né không dám đụng độ với các Sư Ðoàn thiện chiến của miền Tây. Những ngày chỉ huy Chiến Sĩ Tia Sét Miền Tây là những ngày khá nhàn nhã của Ðại Tá Vỹ, chưa cần đến những trận đánh lớn có mặt Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Các Ðơn Vị Ðịa Phương Quân Quân Khu IV đã lớn mạnh và có khả năng đảm đương hầu hết các cuộc giao tranh ở vùng đồng bằng. Nhờ vậy Ðại Tá Vỹ được gọi đi học Khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Mỹ. Khi ông trở về Việt Nam, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông. Ðại Tá Vỹ được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, thay thế Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch và được vinh thăng Chuẩn Tướng khoảng cuối năm 1974, phụ giúp Chuẩn Tướng Vỹ là một dàn Sĩ Quan tài năng của Quân Ðoàn III, vị Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 5 Bộ Binh là Ðại Tá Trần Văn Thoàn, Ðại Tá Từ Vấn giữ chức Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn, Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường Sĩ Quan Hành Quân Sư Ðoàn, Trung Tá Nguyễn Minh Tánh Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh, Ðơn Vị Thiết Giáp cơ hữu của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng Trung Ðoàn Trưởng.

Chuẩn Tướng Vỹ, dưới con mắt kính trọng của Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, ông là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Chuẩn Tướng Vỹ làm việc không kể giờ giấc, ngày đêm. Mới vừa thấy ông ở Bản Doanh Bộ Tư Lệnh đóng ở Lai Khê, thì sau đó ông đã lên trực thăng đi thăm các Trung Ðoàn, Tiểu Ðoàn để thăm hỏi sinh hoạt và đời sống của Chiến Sĩ, kiểm tra, đốc thúc các Ðơn vị củng cố Ðơn vị phòng thủ, đắp chướng ngại vật cản chiến xa. Giống như những vị Tư Lệnh năng nổ khác, Chuẩn Tướng Vỹ lưu tâm đặc biệt đến việc Huấn Luyện Tân Binh, thường xuyên mở lớp Huấn luyện và ôn tập cho Sĩ Quan và Binh Sĩ.

Một đặc điểm khác trong cá tính của Chuẩn Tướng Vỹ, là ông nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, làm người ta nhớ lại hình ảnh của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu hồi còn làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Tuy nhiên bản tính của Chuẩn Tướng Vỹ bộc trực và rất dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Chuẩn Tướng Vỹ rất hăng hái trong công tác bài trừ tham nhũng trong Sư Ðoàn. Một số Sĩ Quan mà dưới thời Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch được ông này dung túng làm chuyện càn quấy, ăn chận trên đầu trên cổ và trên xương máu của Chiến Sĩ, đã bị Chuẩn Tướng Vỹ trừng trị thẳng cánh. Như trường hợp một người Thiếu Tá Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 9. Một Ðại Úy Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 5 Trinh Sát, đã bị phạt giáng cấp xuống làm Trung Sĩ. Trong một buổi khai giảng Khóa Huấn Luyện Tân Binh tại Trung Tâm Huấn Luyện Sư Ðoàn 5 Bộ Binh ở Lái Thiêu, ông đã công kích tệ nạn tham nhũng trong vòng một tiếng đồng hồ. Ông nhiều lần than thở với các Sĩ Quan thân cận: ‘’Chúng nó đã móc ngàm với nhau rất chặt chẽ, mình phải gỡ ra từ từ mới được’’.

Cái chặt chẽ mà ông thường nhắc đến, là tập đoàn con ông cháu cha nhiều như lũ ruồi nhặng và có mặt khắp nơi, khắp chức vụ trong Trung Tâm Huấn Luyện Sư Ðoàn. Ông gọi bọn tham sống sợ chết, bọn tham nhũng, ăn xén ăn bớt khẩu phần Khóa Sinh là ‘’lũ heo’’. Chuẩn Tướng Vỹ thường nói: ‘’Chúng nó ăn no béo, mập như những con heo’’. Một cá nhân nhỏ bé như ông, một cái lon Chuẩn Tướng chưa đủ sức mạnh để giúp ông đương đầu với bọn ăn chơi phè phỡn trên xương máu Chiến Sĩ. Thiếu Tướng Hiếu, người Tư Lệnh tiền nhiệm của ông, một thời được sự che chở của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương để làm Chủ Tịch Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng cũng đã gặp nhiều khó khăn.

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ sinh trưởng trong một gia đình Nho Học, danh gia ở Thị Xã Sơn Tây. Giòng họ Lê ở Sơn Tây nhiều người đỗ đạt, những người phục vụ trong Quân Ðội thì thăng lên đến những chức vụ cao cấp, như trường hợp Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, sau 1972 ông giữ chức Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, phụ tá Ðại Tướng Cao Văn Viên.

Chuẩn Tướng Vỹ là con đầu trong một gia đình gồm hai em gái và một em trai. Ông gia nhập Quân Ðội và được đưa đi học Trường Bộ Binh Ðập Ðá ở Huế trong năm 1951 và Tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, được điều về phục vụ trong Tiểu Ðoàn 19 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy của Ðại Úy Ðỗ Cao Trí. Khi được vinh thăng Ðại Úy, ông được cử đi làm Quận Trưởng Quận Bến Cát, Tỉnh Bình Dương. Từ năm 1968, Trung Tá Lê Nguyên Vỹ được tín nhiệm lên làm Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 Bộ Binh của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Trong Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972, Ðại Tá Vỹ được Chuẩn Tướng Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh giao cho kiêm nhiêm luôn chức vụ Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân Sư Ðoàn. Sau chiến thắng An Lộc, Ðại Tá Vỹ lại một lần nữa hành trang về miền Tây đáo nhận Sư Ðoàn 21 Bộ Binh với chức vụ Tư Lệnh Phó. Trong một lần bay trên trực thăng quan sát hành quân, máy bay bị bắn rơi, Ðại Tá Vỹ bị thương ở chân phải nằm Quân Y Viện một thời gian.

Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp của phía Hoa Kỳ. Người ta thấy ở ông tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vẫn đề khó khăn. Trong một buổi họp bàn về phòng thủ, một vị Trung Ðoàn Trưởng báo cáo tình hình xây dựng hàng rào phòng thủ gặp nhiều trở ngại vì thiếu cọc sắt viện trợ của Quân Ðội Hoa Kỳ, Chuẩn Tướng Vỹ không kềm được sự tức giận: ‘’Cái gì cũng Mỹ... Mỹ nó bỏ anh rồi biết không? Vùng này thiếu gì tre gai, cho Lính trồng dọc theo hàng rào phòng thủ. một thời gian sau sẽ thành một vòng đai tre gai dầy đặc, việt cộng nào mà vào được’’. Tuy sáng kiến của ông rất hay và ít tốn kém, nhưng Quân Ta không có đủ thời gian để thực hiện. Mọi sự đều đã quá muộn màng.

Vừa phải nâng cao đời sống Binh Sĩ và gây dựng lại tinh thần chiến đấu suy sụp của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Vỹ còn phải lo đối phó với áp lực địch ngày càng nặng trong Khu vực trách nhiệm, nhất là Tỉnh Bình Long và Thị Xã An Lộc. Sau ngày chiến thắng Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972, An Lộc mấy năm sau vẫn là một đống gạch đá đổ nát và quãng đường từ Chơn Thành lên An Lộc vẫn hoang vắng rợn người. Tuy vậy Quân Ðoàn III vẫn phải điều các Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân lên trấn giữ. Sự dàn trải Binh lực chặt chẽ như vậy vẫn không làm Ðại Tá Vỹ an tâm.

Ông đã có cái nhìn xa và có tính cách chiến lược về mưu toan của địch quân. Ông thường tâm sự với các Sĩ Quan Tham Mưu: ‘’Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ở ngoài này mà tìm cách len lõi đi thẳng vào Sài Gòn’’. Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, tìm cách len lõi xuyên qua những điểm bố trí của Sư Ðoàn để hối hả tiến về Sài Gòn dứt điểm Chính Quyền chủ bại Dương Văn Minh. Suốt đêm 28.4.1975, tại các vị trí quan sát, quân Sư Ðoàn 5 Bộ Binh thấy rõ binh đội Bắc Việt và chiến xa địch đi hàng hàng lớp lớp bên Xa Lộ Ðại Hàn Bình Dương-Sài Gòn công khai và không cần ngụy trang cây lá. Binh Sĩ trong Trung Tâm Huấn Luyện bắn súng cối vào đội hình của địch, chúng phản kích qua loa rồi gấp rút di chuyển tiếp, chỉ để lại một vài bộ phận khống chế Chợ Lái Thiêu.

Vào trung tuần tháng 4.1974 Quận Chơn Thành bị bỏ ngõ, Căn Cứ Lai Khê, Bản Doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh coi như là Tiền Ðồn đương đầu trực tiếp với các sư đoàn cộng quân. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III lên Lai Khê bàn với Chuẩn Tướng Vỹ, rằng nên di chuyển Bộ Tư Lệnh về Phú Lợi, và bố trí một Trung Ðoàn trấn thủ Lai Khê. Tuy nhiên Tướng Vỹ đã thẳng thắn từ chối: ‘’Nếu tôi di chuyển đi Phú Lợi, Lính tráng sẽ nói mình di tản chiến thuật sao? Tôi quyết sống chết cũng ở nơi này’’. Riêng Tướng Toàn, trước áp lực rất mạnh của quân đoàn Bắc Việt bao vây trong lãnh thổ Quân Khu III và tình hình tuyệt vọng của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh ở Long Khánh, mặc dù Chiến Sĩ Sư Ðoàn 18 Bộ Binh đã chiến đấu anh dũng cầm chân một quân đoàn địch, ông đã cho di chuyển Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III về đóng chung với Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, vì ông cũng kiêm nhiệm luôn Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp. Như vậy chính Tướng Toàn là người nảy ra ý nghĩ di tản trước cả thuộc cấp. Hơn một tuần sau, cũng chính ông là viên Tư Lệnh Quân Ðoàn đào ngũ bỏ chạy ra nước ngoài trước nhất, chỉ sau ông Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và ông Viên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có vài ngày.

Trong tình hình dầu sôi lửa bỏng đó, Trung Tá Nguyễn Minh Tánh, Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh xin phép Chuẩn Tướng Vỹ về Sài Gòn vài ngày có việc riêng. Trung Tá Tánh về đến Sài Gòn, ông chứng kiến bầu không khí nặng nề đầy lo âu.

Ngày 28.4.1975, Chuẩn Tướng Vỹ quyết định cho di chuyển Bộ Tư Lệnh nhẹ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh về Phú Lợi, một Cứ Ðiểm chỉ cách Thị Xã Bình Dương vài cây số, Ðại Tá Trần Văn Thoàn, Tư Lệnh Phó Chỉ Huy, Trung Ðoàn 8 của Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng cũng được điều động về Phú Lợi, cùng với Chi Ðoàn 3/1 Kỵ Binh của Ðại Úy Nguyễn Văn Thiệp. Chuẩn Tướng Vỹ nhận định tình hình vô cùng bất lợi cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nên cho phép Sĩ Quan thuộc cấp tìm đường lo cho vợ con di tản, nhưng bản thân các Sĩ Quan phải ở lại cùng chiến đấu với Sư Ðoàn. Phu nhân của Ðại Tá Thoàn có quốc tịch Pháp nên đã lo được giấy tờ đi Pháp cùng với gia đình của Tướng Vỹ. Hiện Phu nhân của Chuẩn Tướng Vỹ đang định cư ở Tiểu Bang Virginia, Hoa Kỳ.

Chiều ngày 29.4.1975 Bộ Tư Lệnh quyết định bỏ Căn Cứ Lai Khê di chuyển về Bình Dương, những quân trang quân dụng không mang theo được, giấy tờ quan trọng đều được đốt tiêu hủy. Trong Căn Cứ Lai Khê về đêm, nổi lên những đám lửa nhỏ đỏ rực. Ðêm 29.4.1975 chính là đêm dài nhất trong chiến sử của Chiến Sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và của cả Sư Ðoàn 25 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá bên hướng Căn Cứ Củ Chi. Dàn pháo 175 ly của Pháo Binh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đã tích cực bắn yểm trợ cho Sư Ðoàn 25 Bộ Binh khi Căn Cứ Củ Chi bị cộng quân tấn công từ sáng ngày 29.4.1975, nhưng cũng không giúp được gì nhiều. Cuối cùng thì Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá và một Cận Vệ trung thành đã xa vào tay giặc trên một cánh đồng ngập nước, khi Chuẩn Tướng Bá cố gắng tìm về các Ðơn Vị Biệt Ðộng Quân ở Hóc Môn.

Sáng ngày 30.4.1975 họp Tham Mưu Sư Ðoàn xong. Chuẩn Tướng Vỹ và toàn Ban Sĩ Quan ngồi bên chiếc Radio chờ nghe Tướng Dương Văn Minh đọc diễn văn quan trọng. Ðúng 10 giờ, có tiếng của Tướng Minh. Tưởng là diễn văn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, hay tổ chức di tản về miền Tây tiếp tục cố thủ. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan và nhục nhã kêu gọi Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao. Tiếp theo là lời kêu gọi buông súng của Tướng Nguyễn hữu Hạnh, Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Vận nước đã đến hồi cáo chung, Chuẩn Tướng Vỹ, một Chiến Sĩ tuân thủ nghiêm nhặt Kỷ Luật Quân Ðội, u buồn bảo các thuộc cấp: ‘’Từ nay tôi không còn là người chỉ huy nữa, vậy các anh hãy tự lo liệu lấy’’. Nhưng trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các Sĩ Quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông.

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ đã họp Bộ Tham Mưu và các Sĩ Quan Trưởng Phòng và nói: ‘’Mặc dù có lệnh trên, nhưng tôi cương quyết không đầu hàng. Tôi sẽ có cách tự xử trí riêng của tôi’’. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của người Tư Lệnh, các Sĩ Quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảng khắc ảm đạm đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắt như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ đi ra ngoài. Ông bình tĩnh bước ra sân nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh, tự sát bằng chính khẩu súng chỉ huy của mình.

Tất cả Sĩ Quan Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đều có mặt khi các sĩ quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản Doanh Trại. Sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: ‘’Ðây mới xứng đáng là con nhà Tướng’’. Nhân đó các Sĩ Quan xin họ cho mai táng Chuẩn Tướng Vỹ trong sân Bộ Tư Lệnh gần cột cờ, nhưng quân việt cộng không thuận. Chiến Sĩ Sư Ðoàn phải chuyển thi thể Chuẩn Tướng Vỹ ra an táng trong rừng cao su gần Doanh Trại Bộ Tư Lệnh. Bà Vỹ và con cái đã di tản được ra ngoại quốc. Trung Tá Tuân, Quận Trưởng Bến Cát, là anh ruột của Bà Vỹ bàn với nội tướng là Bà Tuân xin đến gặp cấp chỉ huy cộng quân. Bà Tuân phải nói dối là vợ của Chuẩn Tướng Vỹ, để xin nhận xác chồng về cải táng. Bà còn đào mộ lấy xác Chuẩn Tướng Vỹ đem về chôn tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Năm 1987, Cụ Thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ ở ngoài Bắc cùng với người anh con bác là ông Lê Nguyên Hoàng vào Hạnh Thông Tây cải táng một lần nữa. Hài cốt của Chuẩn Tướng Vỹ được đem hỏa thiêu và được mang về Thờ ở Từ Ðường họ Lê tại Quê nhà ở Tỉnh Sơn Tây.

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, người Anh Hùng của Dân Tộc Việt Nam, người Chiến Sĩ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, người Anh cả đức độ của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đã tự sát để bảo toàn Danh Dự của một Người Chỉ Huy. Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, một đời tận tụy với Ðất Nước, đã hiến dâng cho Tổ Quốc những giọt máu đỏ thắm, tinh khôi cuối cùng của mình. Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của người mãi mải lưu lại trong Sử Sách Việt Nam và được Dân Tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói.

Phạm Phong Dinh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quân đội bị Quên lãng của Việt Nam Cộng Hoà---

Andrew Wiest

Trước hết xin cho phép tôi được tri ân hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại đã mời tham dự biến cố tuyệt vời này, và chúng tôi cũng muốn đặc biệt cám ơn ông Lê Tinh Thông vì ông đã bỏ nhiều công sức thực hiện cuộc hội thảo.

Tôi xin được tự giới thiệu là Andrew Wiest, dạy môn “Lịch sử Chiến tranh Việt Nam” tại Đại học Southern Mississipi. Tôi chào đời năm 1960, là vào thời điểm cuối của thế hệ “nhi đồng hậu Thế chiến II” tại Hoa Kỳ. Do đó, tôi còn quá trẻ để phục vụ trong cuộc chiến Việt Nam, nhưng cuộc chiến ấy vẫn hiện diện quanh tuổi trưởng thành của tôi, nhất là trên các đài truyền hình. Tôi rất muốn học hỏi về cuộc chiến ấy, nhưng các trường từ trung học đến đại học không có nơi nào dạy môn đó cả.

Lịch sử và nhân dân Hoa Kỳ hình như đều muốn quên lãng trận chiến và những người chiến đấu trong chiến tranh đó.

Sau đấy, tôi học môn lịch sử quân sự trong đại học, và chuyên ngành về Thế chiến I. Nhưng tôi cũng kín đáo tự học hỏi về cuộc chiến của thế hệ chúng tôi: Chiến tranh Việt Nam. Để hiểu thấu đáo bí mật này, năm 1997, tôi tình nguyện giảng dạy một lớp về Chiến tranh Việt Nam. Như có thói quen trong các lớp mình dạy, tôi mời một số cựu chiến binh trong trận chiến đến diễn thuyết cho sinh viên. Những câu chuyện họ kể khiến cho tôi xúc động sâu xa. Tôi học được thêm về trận chiến Việt Nam, nhưng vẫn thấy thiếu sót cái gì đó, cho nên vào năm 2000, tôi đem một số cựu chiến binh và sinh viên sang tận Việt Nam để học về cuộc chiến ở ngay tại hiện trường.

Tuy nhiên, trong chuyến du hành đó, một việc rất bất ngờ đã xảy ra.

Tại Huế, tôi gặp ông Phạm Văn Đính, cựu sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, một người đã từng oanh liệt chiến đấu trong nhiều năm, để rồi năm 1972 phải đầu hàng cùng cả đơn vị bị vây hãm trong trận Tấn công mùa Phục sinh "Easter Offensive" [ta gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa]. Và bản thân ông thì chạy qua bên địch.

Khi trở về Hoa Kỳ, tôi gặp ông Trần Ngọc Huế, cũng là cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hoà và chiến hữu của ông Đính. Tuy nhiên, thay vì đầu hàng, ông Huế lại cùng đơn vị chiến đấu đến cùng khi bị địch quân vây hãm trong chiến dịch Lam Sơn 719 tại Lào năm 1971. Ông Huế bị giam 13 năm trong trại tù cộng sản, thêm sáu năm quản thúc tại gia trước khi được đi qua Mỹ.

Với tôi, việc hai người là bạn thâm giao từng chiến đấu bên nhau, lại có hai kết cục quá khác biệt, là một bí mật nữa cần được giải đáp. Tôi sang Việt Nam để tìm hiểu về cuộc chiến tranh của người Hoa Kỳ, nào ngờ lại tìm thấy một cuộc chiến của người Việt Nam.

Sau đó, tôi bắt đầu tìm tòi và nghiên cứu tất cả những gì tôi thấy về miền Nam Việt Nam và trận chiến của họ, nhưng phải chấp nhận một sự thật phũ phàng là mình gần như không tìm thấy gì nhiều về những điều muốn biết. Vai trò của Việt Nam Cộng Hòa trong trận chiến hầu như làmột sự vô hình với Tây Phương. Và tôi ý thức được là tôi đã có một dịp may lớn. Lấy cuộc đời của hai ông Đính và Huế làm tâm điểm, tôi quyết định sẽ làm những gì có thể làm được hầu điều chỉnh quan điểm lịch sử sai lầm và thảo lại lịch sử của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Sau sáu năm nghiên cứu và biên soạn của tôi, nhà “New York University” cho xuất bản cuốn “Một Quân đội bị Lãng quên: Anh hùng và Bội phản trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa”, với nội dung trình bày lại phần lớn của cuộc chiến có kết hợp quan điểm của Quân lực Cộng Hòa.

Tôi thường được hỏi, nhất là từ các sinh viên khi họ chuẩn bị đề thi cuối năm, rằng ta có thể thắng trong cuộc chiến Việt Nam không. Và câu trả lời của tôi - xin đừng cho sinh viên của tôi biết! - là một lời khẳng định: chắc chắn!

Thật ra, điều tôi muốn nói là các đơn vị Hoa Kỳ sẽ không thắng được dù nếu cố gắng thêm để đạt được vài thành tích lớn lao. Vì trận chiến Việt Nam không để Hoa Kỳ chiến thắng mà là để miền Nam chiến thắng. Rốt cuộc thì chỉ có Quân lực Việt Nam Cộng Hoà mới có khả năng chuyển biến thắng lợi chiến thuật ngoài trận địa thành một thắng lợi chiến lược lâu dài.

Với lối suy nghĩ đó, tôi cho rằng chỉ khi nào chúng ta hiểu được miền Nam và bản chất của sự liên minh với Hoa Kỳ, thì mình mới hiểu thấu đáo về chiến tranh Việt Nam. Thay vì bị phủ nhận, miền Nam và quân đội của họ phải là trọng tâm của cuộc chiến. Đã đến lúc trả lại sự công bình cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Quan điểm của quảng đại quần chúng và của nhiều tài liệu lịch sử Tây phương về Quân lực Việt Nam Cộng Hoà mà tôi tìm thấy đều đơn giản và sai sót trầm trọng. Nhiều chứng liệu lịch sử hoàn toàn gạt bỏ Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, trong khi một số khác sơ sài đề cập đến Quân lực này thì lại kết án họ là không hiệu quả và tất yếu thất bại dưới tay quân đội cộng sản. Chỉ cần một cái nhìn bao quát, nơi đâu ta cũng thấy công chúng và các chứng liệu lịch sử có ảnh hưởng đều đánh giá miền Nam là suy nhược trầm trọng.

Miền Nam Việt Nam đã gặp chiến tranh suốt thời kỳ ngắn ngủi, từ 1954 đến 1975 - họ không hề có một ngày an bình. Trong cuộc chiến, miền Nam mất hơn 200 ngàn chiến binh, chưa kể chán vạn tổn thất dân sự. Chiến tranh dai dẳng khốc liệt, còn khó khăn hơn mọi hoàn cảnh mà quân đội Hoa Kỳ đã phải đối phó. Sau khi cuộc chiến chấm dứt, hơn một triệu rưởi người dân miền Nam đã rời bỏ quốc gia thân yêu của họ, và hàng trăm ngàn người bị giam trong các trại tập trung ở miền Bắc. Những chứng cớ không thể chối bỏ này cho ta thấy rằng thay vì hiển nhiên thất bại, miền Nam đã chiến đấu dai dẳng và quyết liệt cho quyền tự do của họ.

Nếu miền Nam đã chiến đấu anh dũng thì vì sao họ không thắng?

Với sự yểm trợ của người khổng lồ Hoa Kỳ, tại sao miền Nam không gieo cho hậu duệ của dân miền Bắc nỗi trăn trở là "vì sao miền Bắc lại thất trận"? Nếu Quân lực Việt Nam Cộng Hoà không có nhược điểm sinh tử và nếu họ có một chút hy vọng kiểm soát trọn quốc gia, thì câu hỏi chúng ta đặt ra lại càng gây khó chịu!

Quân lực Việt Nam Cộng Hoà có thể chỉ là một lý cớ đã bị viện dẫn quá lâu nhằm giải thích sự thất bại của Hoa Kỳ. Và đã đến lúc ta phải xét lại trọn vẹn hơn vai trò của Hoa Kỳ trong sự thất bại của một quốc gia thật ra có hy vọng sống còn.

Các nguyên nhân thất bại của liên minh Mỹ-Việt thật rất phức tạp, quá phức tạp để ta có thể đào sâu trong khuôn khổ của buổi hội thảo. Vả lại, chủ đề nghiên cứu ban đầu của tôi chỉ nhắm vào hai sĩ quan trung cấp trong Quân lực Cộng Hoà và chú trọng vào tình hình chiến sự tại Quân Đoàn I.

Vì vậy, cuốn sách của tôi, hay buổi nói chuyện hôm nay, không có tham vọng trình bày trọn vẹn lịch sử phức tạp của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng cả quyển sách lẫn bài thuyết trình hôm nay có thể nêu ra vài kết luận khái quát về khả năng và lịch sử của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cũng như gợi ý thảo luận về ưu khuyết điểm của sự vận hành và thất bại của liên minh Mỹ-Việt.

Dù có thể là quá khái quát, tôi cần nêu lên hai điểm khởi đầu.

Trước nhất - dù đã chiến đấu trong nhiều năm rồi, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà là một vận dụng bất toàn khi mối quan tâm của Hoa Kỳ vào trận chiến Việt Nam bắt đầu gia tăng vào đầu thập niên 1960. Trong khi quân nhân miền Nam đã chiến đấu can trường thì đa số lãnh đạo cao cấp nhất của Quân lực Cộng Hoà đều bị chính trị hóa và bị phân hóa. Cuộc tranh giành quyền lực nội bộ phương hại nặng nề cho Quân lực Việt Nam Cộng Hoà - đặc biệt là sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ - nên cần được thay đổi từ căn bản.

Thứ hai - dù đầy thiện chí, những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm gây dựng quân đội cho miền Nam cho thấy những hiểu biết phiến diện của họ về thực trạng Việt Nam. Sau chiến tranh Cao Ly, Hoa Kỳ cố lập ra một lực lượng quân sự tại miền Nam với bản chất quá Tây Phương. Thay vì thi hành trong khuôn khổ văn hóa Việt Nam, mà lại lãng quên nhiều triển vọng của hình thái chiến tranh chống nổi dậy, người Mỹ góp phần gây dựng Quân lực Cộng Hoà quanh các đơn vị Bộ binh Mỹ, vốn lệ thuộc vào nguồn tiếp vận dồi dào, vào hỏa lực và kỹ thuật, để đoạt thắng lợi chiến thuật.

Khi xây dựng Quân lực Cộng Hòa như một sức mạnh quy ước, người Mỹ hầu như coi thường khía cạnh phiến loạn của cuộc chiến ở miền Nam, khiến Quân lực Việt Nam Cộng Hoà không sẵn sàng đối phó với cuộc chiến. Chính sách Hoa Kỳ cũng sai lầm khi xây dựng một Quân lực Cộng Hòa dù hữu hiệu cũng quá tốn kém - một quân đội thuộc loại hạng nhất thế giới mà kinh tế miền Nam không thể cáng đáng nổi.

Việc Hoa Kỳ trực tiếp nhập cuộc năm 1965 chỉ làm tình thế thêm rối ren.

Đáng lẽ gửi quân đội đến phối hợp với Quân lực miền Nam tại chiến trường này, Hoa Kỳ lại đưa quân vào giành chiến thắng thay cho Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Đáng lý là cùng làm việc trong một tập thể để tạo dựng một quân đội và một miền Nam có khả năng vượt qua chiến tranh, quân lực Mỹ lại đẩy Quân lực Việt Nam Cộng Hoà qua bên lề để một mình giành lấy chiến thắng. Quyết định ấy đã gạt Quân lực Cộng Hoà và lãnh đạo quân sự của họ ra ngoài biên, đâm ra trì hoãn và cản trở những cải cách cần thiết.

Chính sách này còn khiến cho Quân lực Việt Nam Cộng Hoà càng tùy thuộc vào Hoa Kỳ về cố vấn, tiếp vận và hỏa lực.

Như ta sẽ thấy, các đơn vị Cộng Hòa đã chiến đấu anh dũng bên các đơn vị đồng minh, và gặt hái nhiều chiến thắng vẻ vang, mà thường bị lãng quên trong lịch sử chung của trận chiến. Tuy nhiên, cho đến năm 1968 chính sách Hoa Kỳ có góp phần tạo ra một Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, dù hữu hiệu về chiến thuật, chỉ được thiết trí để tác chiến bên quân lực Mỹ, thay vì là một quân đội có thể tự tồn tại. Chỉ sau vụ tấn công 1968, khi Hoa Kỳ muốn rút khỏi chiến tranh hơn là bảo đảm sự sống còn của Quân lực miền Nam, họ mới giúp đào tạo một Quân lực Việt Nam Cộng Hoà có khả năng tự lực tự cường sau khi quân Mỹ triệt thoái. Nhưng việc đó quá trễ, và quá ít.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh và sau đó là Tư lệnh Quân Đoàn I của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đã tóm lược sự tình như sau: “Gia nhập cuộc chiến với tinh thần và tác phong của một đội cứu hỏa, người Mỹ hăng hái xông vào cứu vãn ngôi nhà Việt Nam khỏi bị thiêu hủy, nhưng không hề quan tâm đến nạn nhân. Cho tới khi ý thức được rằng cả nạn nhân cũng phải được huấn luyện thành người cứu hỏa để cứu lấy ngôi nhà của họ thì Hoa Kỳ mới bắt đếu lưu tâm đến họ. Một khoảng thời gian quí báu đã bị lãng phí. Đến khi các nạn nhân được cấp cứu đã có thể đứng dậy tiến lên vài bước, thì đội cứu hỏa được gọi về trạm của họ”.

Trong khung cảnh đó, khi tìm hiểu kỹ về trường hợp của các ông Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế, tôi có cơ hội nghiên cứu sâu rộng hơn vai trò tác chiến của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà.

Đa số sử gia Tây phương về chiến tranh Việt Nam đều điểm lại các bài ký sự chiến trường nổi tiếng, từ trận đánh tại thung lũng Ia Drang năm 1965 đến trận đánh trên đồi Hamburger Hill năm 1969. Các bài tường thuật này thường là xúc động và vinh danh chiến binh Mỹ. Tuy nhiên chúng lại thiếu một yếu tố quan trọng. Trong các trận đó, hầu như Quân lực Cộng Hoà đều bị đồng loạt bỏ quên.

Thực tế thì người chiến binh Cộng Hòa đã hiện diện trên các chiến trường đó. Họ đã từng tác chiến trước khi lính Mỹ tới, rồi họ chiến đấu bên quân lực Mỹ trong hầu hết các trận lớn của cuộc chiến. Để hiểu được tường tận những thịnh suy của cả cuộc chiến, chúng ta phải đưa Quân lực Việt Nam Cộng Hoà vào khối sử liệu về trận chiến.

Trong buổi nói chuyện ngày hôm nay, tôi chỉ đề cập đến hai trận đánh quan trọng nhất trong cuộc nghiên cứu của tôi để chứng minh là hiển nhiên phải kể đến vai trò của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa một cách đầy đủ hơn trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Cứ chọn bất cứ quyển sách nào về cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 là quý vị cũng có thể thấy rất nhiều tin tức hay dữ kiện về các trận đánh tại thành phố Huế. Trong tất cả các quyển sách đó, tác giả đều ngợi ca Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ là đơn vị đã trước hết bảo vệ rồi gan dạ vãn hồi an ninh chung quanh công sự của bộ Tư lệnh MACV của Mỹ. Và đơn vị đã tái chiếm Huế bằng cách đánh đuổi địch từ nhà này xuyên qua nhà khác cũng là Thủy quân Lục chiến Mỹ.

Họ không ngớt lời xưng tụng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ nhưng hoàn toàn bỏ quên sự tham chiến của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà.

Các quân nhân Thủy quân Lục chiến Mỹ đã giao tranh rất anh dũng, và đã giải phóng một phần lớn phía Nam sông Hương, và chứng minh được danh tiếng như những đơn vị tinh nhuệ nhất thế giới. Trong trận Tết Mậu Thân oanh liệt đó, Thủy quân Lục chiến Mỹ có 147 chiến binh hy sinh (theo số liệu của ông Keith William Nolan trong cuốn "Battle of Hue - Tet 1968" xuất bản năm 1996, trang 185).

Nhưng cũng trong trận Mậu Thân đó, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà lại ít đươc đề cập đến, dầu họ đã đánh đuổi địch tại nhiều địa điểm nhất, đặc biệt là trong Thành Nội. Thành tích của các đơn vị Việt Nam, với hỏa lực và vũ khí yếu kém hơn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, được minh chứng với Đại đội Hắc Báo của Trần Ngọc Huế và Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 3 của Phạm Văn Đính. Họ chiến thắng các lực lượng Bắc Việt và Cộng sản miền Nam trong một trận chiến dài và gian khổ mà không có sự yểm trợ hỏa lực trực tiếp của các lực lượng đại pháo cơ hữu.

Sau khi chiến trận kết thúc, phía Việt Nam Cộng Hòa có 357 quân nhân tử trận, và giết được 2.642 bộ đội Bắc Việt và cộng sản miền Nam. Không ai có thể nghi ngờ được việc quân nhân Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ chiến đấu cách anh dũng và gian khổ tại Huế. Tuy nhiên, người ta quan niệm rằng trận chiến đó là của người Hoa Kỳ, với sự trợ lực nhỏ của quân lực miền Nam. Đấy là một quan niệm hết sức sai lầm.

Trận đánh giải phóng thành phố Huế trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là cơ hội để chúng ta nhìn nhận một cách chính xác và trả cho Quân lực Việt Nam Cộng Hoà những thành quả và danh dự mà họ đã tạo được trong một chiến thắng có thể nói là hào hùng và anh dũng nhất.

Một trận đánh cũng nổi tiếng nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ và trong phim ảnh, là trận chiến tại đồi Hamburger vào năm 1969.

Trong các sách vở hiện có, các tác giả đều mô tả một trận đánh bi thảm và anh dũng của các đơn vị Hoa Kỳ thuộc Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 187 Nhảy Dù, nhằm tái chiếm ngọn đồi đã bị các quân nhân Bắc Việt cuồng tín chiếm giữ suốt mười ngày. Khi gần thoái chí thì các quân nhân Mỹ lại tìm ra phương cách chiến thắng quân địch, và chiếm được vị trí oai hùng trong quân sử Hoa Kỳ từ cuộc chiến Việt Nam.

Tuy nhiên, sự thực lại khác hẳn.

Chính Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 3 của Sư đoàn I Bộ binh Việt Nam - dưới sự chỉ huy của Phạm Văn Đính - đã tiến chiếm đỉnh đồi trước. Để rồi được điều động đi nơi khác mà “nhường” chiến thắng lại cho lực lượng Hoa Kỳ.

Chỉ với hai thí dụ cụ thể đó để làm điểm tựa, chúng ta có thể thấy được rằng muốn hiểu biết rõ ràng và thâm sâu về chiến tranh Việt Nam, ta phải kể đến sự tham gia của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà vào lịch sử của chiến tranh Việt Nam.

Sau Tết Mậu Thân, vai trò của Quân lực này trong trận chiến đã thay đổi một cách rõ rệt. Đa số người lính Cộng Hoà nghĩ là họ đã thắng trận chiến chống quân cộng sản tại miền Nam từ năm 1969. Đa số các vùng nông thôn đều bình yên, và địch thủ đang lẩn trốn. Về phần hai ông Đính và Huế, họ nghĩ rằng bước tiến sắp tới sẽ là tiến qua Lào hoặc tấn công ra Bắc Việt để đánh vào gốc. Cũng như các chiến hữu trong Quân lực, họ rất ngạc nhiên vì đáng lẽ tiếp tục tiến mạnh thì người Mỹ lại bắt đầu rút lui: một hành động làm thay đổi toàn diện cục diện của chiến tranh Việt Nam.

Đa số các sử gia người Mỹ về chiến tranh Việt Nam không mấy để ý đến trận chiến sau năm 1970, vì cho rằng thảm kịch của Hoa Kỳ sắp sửa hạ màn. Nhưng, thảm kịch của quốc gia Việt Nam mới chỉ bắt đầu. Những trận đánh lớn nhất trong cuộc chiến chưa khai diễn, những trận chiến ít được truyền thông và báo chí Tây Phương theo dõi - mà lại là những trận then chốt để hiểu được vì sao chiến tranh Việt Nam lại kết thúc như vậy.

Vì không còn thiều thời gian duyệt xét lại từng trận đánh lớn, tôi sẽ nhắc đến hai trận đánh nổi bật nhất trong công việc nghiên cứu của riêng tôi: trận Lam Sơn 719 vào đất Lào và trận tổng tấn công mùa Phục Sinh, gọi là Eastern Offensive vào năm 1972 [mà người Việt gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa).

Trong trận đánh sang Lào năm 1971, lần đầu tiên Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tung các đại đơn vị vào đất địch mà không có cố vấn Hoa Kỳ. Trong trận chiến, quân đội Việt Nam đã tỏ ra rất hùng mạnh. Trước một địch thủ đông hơn, với khí giới tối tân hơn do khối cộng sản cung cấp, các quân nhân miền Nam đã kiên trì chiến đấu, được thể hiện qua kinh nghiệm của Trần Ngọc Huế. Ông Huế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, thuộc Trung đoàn 2 của Quân đoàn I Bộ binh, đã cùng đơn vị của ông phải giải vây sau sáu lần bị địch bao vây, trước khi Huế bị trọng thương. Chỉ có 26 người còn sống sót trở lại Việt Nam, trong khi Huế bị bắt làm tù binh và bị giam 13 năm trong các trại tù cộng sản tại miền Bắc.

Kinh nghiệm của chiến dịch Lam Sơn 719 cũng cho thấy là quân lực Việt Nam chưa sẵn sàng để sống còn một mình. Họ có vấn đề lãnh đạo ở cấp cao nhất. Và vẫn phải tùy thuộc vào hỏa lực yểm trợ của Hoa Kỳ, là những khó khăn có thể giải quyết được trong tương lai. Thay vì bổ khuyết và sửa chữa các khó khăn này, Hoa Kỳ lại càng rút quân nhanh chóng hơn.

Vào mùa Phục Sinh năm 1972, quân đội Bắc Việt tung toàn lực vào Nam với hy vọng mau chóng kết thúc trận chiến. Mặc dù bị thiệt hại nhiều lúc đầu, quân lực Việt Nam đã chống trả mãnh liệt tại các chiến trường Quảng Trị, Kontum và An Lộc - những trận chiến gần như không được biết tại Hoa Kỳ. Không có bất cứ trợ giúp nào của binh lính Mỹ tại trận địa, chỉ có các cố vấn Mỹ và hỏa lực Hoa Kỳ, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã dứt khoát đánh bại địch quân trên ngần ấy mặt trận.

Với quân cộng sản miền Nam bị triệt hạ, hai chiến dịch Lam Sơn 719 và tái chiếm cổ thành Quảng Trị chứng minh cho thế giới thấy Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, với sự cố vấn và yểm trợ của Hoa Kỳ, vẫn có thể đương đầu với quân Bắc Việt.

Trên một số phương diện, hệ thống kết hợp này đã thành công. Quân lực Việt Nam từng được đào tạo để chiến đấu bên lực lượng Bộ binh Hoa Kỳ. Bây giờ, việc hợp tác giữa nhân lực Việt Nam và hỏa lực Mỹ đã chứng tỏ sự công hiệu, nhất là trong trận tấn công mùa Phục Sinh. Nhưng người Mỹ đã quá mỏi mệt với “trận chiến của họ”, nên nhanh chóng rút cả cố vấn lẫn sự yểm trợ hỏa lực ra khỏi chiến tranh. Cuối cùng, họ cắt giảm luôn viện trợ tài chánh cho Việt Nam.

Hoa Kỳ đã bỏ ra nhiều thời gian và công sức giúp cho việc đào tạo một Quân lực Việt Nam Cộng Hoà có thể chiến đấu trong một liên minh bên cạnh quân lực Hoa Kỳ, với Hoa Kỳ giữ vai chính. Quân lực Cộng Hoà chiến đấu rất giỏi trong cái thế phân công ấy, và thắng bao nhiêu trận mà hoàn toàn bị Tây Phương phủ nhận. Vào giai đoạn cuối của trận chiến, liên minh ấy đã vất vả tiến gần chiến thắng thực sự. Nhưng chẳng may, người đồng minh chỉ đạo lại bỏ cuộc, để quân lực Việt Nam trong một hoàn cảnh mà họ không hề được huấn luyện để đảm nhiệm - là đơn phương chiến đấu. Với thời gian, họ sẽ thích ứng để đảm đương vai trò mới đó. Nhưng việc Hoa Kỳ rút hết viện trợ quân sự và tài chánh lại không cho Quân lực miền Nam khoảng thời gian thích ứng này.

Hoa Kỳ tháo chạy quá nhanh, để Quân lực Việt Nam Cộng Hoà có thể tồn tại một mình.

Để hiểu biết tường tận trận chiến Việt Nam, chúng ta phải nói đến Quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến. Một điều mà tôi hy vọng rằng quyển sách của tôi có thể làm là chứng minh Quân lực miền Nam đã chiến đấu cam go và bền bỉ cho nền độc lập của Việt Nam Cộng Hòa. Quân lực Việt Nam có thể thắng trận chiến, và xứng đáng được hưởng một số phận khác.

Tôi muốn kết thúc phần phát biểu của tôi bằng cách cám ơn một lần nữa tất cả quý vị đã cho tôi cơ hội nói chuyện hôm nay, bằng cách chào kính các cựu quân nhân trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Quý vị là bậc anh hùng, và tôi vinh dự được là kẻ tường thuật.

Post Reply