Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

GIẤC MỘNG DÀI .

Nguyễn Thị Thanh Dương
Tôi vừa về đến nhà là bố tôi hỏi ngay:

- Thủ tục đã xong xuôi chưa con?

- Xong cả rồi bố ạ, bên ấy ông Mấn chỉ đợi phỏng vấn thôi.

Ông Mấn là chú của bố tôi, người mà tôi phải gọi bằng ông trẻ. Ông đang sống ở miền Bắc Việt Nam , và bố tôi đang làm thủ tục bảo lãnh chú sang Mỹ theo diện du lịch.

Sau năm 1975, bố tôi phải đi “Học tập cải tạo” ròng rã 8 năm trời. Ra tù, về nhà bố tôi sống khép kín cho qua ngày, vả lại, một người sĩ quan chế độ cũ đi tù về, chẳng có cơ hội nào để vươn lên trong xã hội mới cả. Cho tới khi có chương trình HO, cho những người tù cải tạo được định cư tại Mỹ, thế là cả nhà tôi đi Mỹ.

Cuộc sống mới nơi xứ người đã phục hồi lại con người thật của bố tôi, bố mẹ đã đi làm, nuôi chúng tôi ăn học, cuộc sống dần dần ổn định mọi bề.

Năm 2000 bố mẹ và tôi lần đầu tiên về thăm quê hương Việt Nam , hay nói cho đúng hơn là về miền Bắc để tìm lại người thân. Bố đã gặp lại người mà bố muốn gặp, đó là ông Mấn, vì bố đã nghe tin ông vẫn còn đang sống ngay tại làng quê cũ.

Ký ức tuổi thơ của bố vẫn còn những kỷ niệm đẹp với ông chú, thuở còn trai trẻ, chú Mấn đã bỏ làng, đi buôn bán phương xa, từ buôn bè trên sông đến buôn hàng chuyến đủ loại thượng vàng hạ cám, miễn là cuộc đời được giang hồ tứ xứ.

Đi xa như thế, mỗi lần trở về làng, dù lời lãi hay không, chú Mấn đều mang quà về cho nhà, bố tôi là cháu ruột, cũng được nếm đủ loại quà bánh của chú, ngon như bánh cốm, bánh xu xê, bánh đậu xanh, bánh khảo của Hải Dương, hay tầm thường thì có những cục kẹo lạc, kẹo vừng hay kẹo bột ngọt ngào mà trẻ con nào không ưa thích !

Bố đã nhìn ông chú bằng ánh mắt kính phục và ngưỡng mộ, đôi chân chú khoẻ, đi hoài mà không biết mỏi, không chịu quay về làng quê ở hẳn như gia đình mong muốn. Ngoài quà bánh, chú Mấn còn có nhiều câu chuyện kể cho lũ cháu trẻ ranh làm chúng nó mê mẩn, bố tôi thích nhất những câu chuyện chú Mấn đi buôn bè trên sông, thả gỗ từ thượng nguồn xuôi về hạ nguồn, có khi gặp nước lũ, bè trôi, những người buôn bè phải chống trả với phong ba bão táp, những hình ảnh ấy hồi hộp và ly kỳ hơn trong phim truyện. Đến nỗi bố đã từng mơ, lớn lên sẽ đi buôn bè, giang hồ dọc ngang như chú Mấn.

Chú Mấn rất hào phóng, nhiều lúc chú đã dúi tiền cho bố tôi, bảo tao cho mày, cất đi mà tiêu, đừng cho bố mẹ mày biết. Những đồng tiền ngày đó đối với bố tôi đã lớn biết bao.

Chúng tôi đến nhà con gái ông Mấn, họ bảo ông đang ở căn lều ngoài nghĩa địa, ông thích ở riêng, khỏi phiền con cháu, mà nhà chúng nó cũng chẳng phải là một căn nhà nên ông chẳng chen chân vào làm gì, rồi lại mang tiếng ở nhà con rể.

Đứa cháu ngoại của ông dẫn chúng tôi đến căn lều, cô hơn 20 tuổi mà trình độ, kiến thức của cô vẫn ngô nghê như một đứa trẻ bậc Tiểu học, làm như từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, cô chỉ từ làng quê này đi kinh tế mới Lào Cai, và trở lại làng, nên chẳng biết gì hơn ngoài núi rừng và đồng ruộng

Huyền thoại về “chú Mấn” cũng làm tôi thích thú và khao khát được gặp ông bằng xương bằng thịt. Bây giờ “chú Mấn” là một ông già 73 tuổi, ông to cao như cây cổ thụ, nước da nâu sẫm của người nông dân cả ngày phơi mặt ngoài đồng. Ông Mấn dựng một túp lều nhỏ ngay tại nghĩa địa, sống một mình, ngoài thì giờ làm vườn, làm ruộng, ông về lều thảnh thơi ngồi uống rượu như một kẻ nhàn du.

Khi tôi hỏi ông ở một mình nơi nghĩa địa ông có sợ ma không? Thì ông Mấn coi như đó là một câu hỏi ngớ ngẩn, ông bảo ma sợ ông chứ ông sợ gì nó!

Ông có một đứa con gái, hai vợ chồng nó nghèo xơ xác, căn nhà ọp ẹp dựng ở ven đê, mùa mưa con đường đê dấy lên bùn sình như bột nhão, đặt chân xuống bùn, dở lên để đi bước nữa thật là vất vả và khó khăn, vợ chồng chị đã từng đi kinh tế mới ở Lào Cai, chẳng thể sống nổi lại kéo nhau về làng cũ với căn bệnh sốt rét, nay ốm mai đau, tiền bạc không có, ruộng vườn trắng tay, đành phải ra đê mà ở là vậy.

Sau này cũng đơn lên đơn xuống các cấp xã, huyện, mới xin được một mẩu đất ruộng xấu nhất cuối làng, để cày cấy lấy hạt gạo đổ vào mồm, tuy không đủ no nhưng có còn hơn không. Vợ chồng chị đều ốm yếu, con thơ nhếch nhác, nên ông Mấn đã phải xông pha ,mang hết sức lực ra, đổ mồ hôi trên ruộng vườn để phụ giúp con cháu suốt bao nhiêu năm nay, ngoài ra ông còn sẵn sàng làm thuê cuốc mướn cho những nhà khác nữa.

Khác với lòng mong ước và sự tưởng tượng của tôi. Ông Mấn không hề vồ vập hay xúc cảm với bố tôi, thằng cháu nhỏ năm xưa ông từng âu yếm cho quà và cho tiền, ông nhìn chúng tôi bằng ánh mắt không thiện cảm cho lắm, ánh mắt ấy như nói rằng, lũ chúng tôi đã chạy theo “Mỹ Nguỵ” chẳng tốt lành hay ho gì.

Suốt câu chuyện, ông kiêu ngạo và hãnh diện khoe đất nước Việt Nam sau cuộc chiến thắng vinh quang 1975, đã dần dần đổi mới và tiến lên. Cụ thể là ngôi làng này, con đường làng bụi đất và gồ ghề khi xưa nay đã được tráng nhựa, nhiều nhà gạch xây lên và có điện thắp sáng, có ti vi, có đài radio, dân không phải nghe tin tức bằng cái loa ở trụ sở ấp nữa…

Dĩ nhiên, không phải cả làng ai cũng khá giả như thế, bằng chứng là nhà con gái ông và ông vẫn chưa có những thứ ấy. Nhưng ông Mấn vẫn khẳng định chắc như đinh đóng cột, trong tương lai nhà nhà sẽ no ấm hơn, cuộc sống tiện nghi đầy đủ hơn, xã hội chủ nghĩa sẽ đi đến đỉnh cao của thành công và quang vinh.

Ông Mấn khoe thêm, cuộc sống bây giờ dân chủ, ai có tiền thì cứ việc ăn ngon mặc đẹp, không như dạo xưa, giết một con gà để ăn cũng phải lén lút, dấu diếm sợ hàng xóm phê bình.

Tội nghiệp ông! Đã trải qua những năm dài đăng đẳng đói ăn, thiếu mặc của miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh, đã quen với những vùi dập của cơ chế bao cấp thị trường, gạo, thịt, nhu yếu phẩm mua bằng tem phiếu. Nay được hưởng một chút tiện nghi rất sơ đẳng, rất bình thường, đã cho là đổi mới vĩ đại, đã hài lòng mãn nguyện.

Chúng tôi được biết ông Mấn đã là đảng viên, đang lãnh lương hưu trí, số tiền hưu cho một anh bộ đội quèn chẳng là bao, nhưng nó khẳng định cái giá trị công lao của anh đã đóng góp cho đảng và nhà nước.

Bố tôi và tôi đều thất vọng về “chú Mấn” ngày xưa, bố mẹ đã biếu ông Mấn một số tiền và đặc biệt là một cái áo ấm bằng da mà chính tay bố đã mua cho ông, vì bố đã biết mùa Đông đất Bắc mưa phùn gió bấc lạnh thế nào!

Tuy ông Mấn có ý chê trách chúng tôi theo “Mỹ Nguỵ”, nhưng ông không chê những món quà của “Mỹ Ngụỵ”, ông cẩn thận gấp những đồng tiền đô la bỏ vào túi và mặc thử cái áo ấm to dày với vẻ hài lòng. Tôi liếc nhìn quanh căn lều chông chênh, trống toang toác của ông, bốn bề gió lộng giữa bãi tha ma, làm sao mà không lạnh!

Về tới Mỹ, nghĩ đi nghĩ lại, bố tôi vẫn thương “chú Mấn”, ở cái tuổi già bên Mỹ đã được nghỉ ngơi, an hưởng đời sống đầy đủ từ vật chất đến y tế thuốc men, thì ông Mấn vẫn cơ cực làm công việc nặng nhọc, mà đời sống vẫn thiếu thốn mọi bề, chỉ có những giấc mộng của ông thì đầy ắp những ấm no, giàu đẹp. Không biết giấc mộng sẽ kéo dài tới bao lâu? Và ông có còn sống để mà hưởng không hay phải đợi đầu thai kiếp khác?

Mỗi năm sau đó, chúng tôi vẫn gởi tiền về cho ông Mấn, dù bất đồng ý kiến, nhưng chẳng ai nỡ nhìn người thân của mình ở tuổi già gần đất xa trời vẫn loay hoay đánh vật với cuộc sống để kiếm cơm cháo qua ngày như thế !

Cô cháu ngoại của ông Mấn thỉnh thoảng viết thư cho chúng tôi, kể về ông, năm nay ông 79 tuổi rồi, không còn khoẻ như hồi chúng tôi về thăm nữa. Bố tôi ngậm ngùi thương cho ông, và có ý định làm bảo lãnh cho ông Mấn sang Mỹ thăm thân nhân, coi như một món quà bất ngờ cho ông. Một con người từng yêu thích ngang dọc một thời, đây là cơ hội ông không thể bỏ qua, dù ông chưa tin tụi Mỹ cho lắm.

*** *** ****

Ba tháng sau, ông Mấn của chúng tôi đã đặt chân đến Mỹ, ông như người từ cung trăng vừa rơi xuống mặt đất này, cái phi trường, nơi ông vừa ra khỏi máy bay đã làm ông choáng váng, ông bảo nó to đẹp cực kỳ mà ông chưa bao giờ tưởng tượng được.

Rồi đường xá, xe cộ…Trời ơi, thì ra có đất nước giàu có và tiện nghi cao cấp vượt bực đến vậy! ông bảo có nằm mơ ông cũng không thấy, ông đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, mỗi ngày ông biết thêm những điều mà ông cho là từ “vô lý” đến “đại vô lý” không thể tin được.

Ai đời, một người khách lạ đến từ nước khác, một nước theo xã hội chủ nghĩa như ông, mà chẳng cần phải khai báo, đăng ký tạm trú với chính quyền địa phương gì cả, tự do dân chủ đến độ ông không tin nổi !

Ai đời, người già, người tàn tật, dù không sinh đẻ ở Mỹ, dù chưa đi làm ngày nào trên đất Mỹ, chỉ được thân nhân bảo lãnh sang đây, cũng được hưởng tiền trợ cấp và bảo hiểm sức khoẻ !

Ông bảo nước Mỹ giàu có quá hoá…ngu ! Chúng nó bảo lãnh nhau sang đây, được nước chủ nhà cho định cư là qúy rồi, thì vợ chồng, con cái chúng nó phải nuôi nhau, lo cho nhau, việc gì nhà nước phải đứng ra trợ cấp?

Đã thế, tiền trợ cấp hàng tháng được gởi tới tận nhà, không bao giờ trễ nãi hay sai sót, trong khi ở làng quê ông, có chuyện gì cần đến xã, đến huyện thì thật là nhiêu khê, với đầy đủ giấy tờ, chứng cớ trong tay mà phải chầu chực, xin xỏ, có khi vẫn không xong.

Đây là những bài học dân chủ lần đầu tiên ông học được trong đời .

Hai tháng ở Mỹ, ông đã lên cân, khoẻ mạnh hẳn ra và vui vẻ thư thái, có lẽ vì ông được ăn uống đầy đủ, không phải vác cuốc ra đồng mỗi ngày, và nhất là ông đã cảm nhận một đời sống tự do, thoải mái?.

Dường như ông thấy thời gian trôi quá nhanh, ông chưa muốn trở về làng quê, dù đôi lúc ông cũng nhớ con nhớ cháu, dòng máu giang hồ đang trổi dậy trong người ông, y như ngày xưa, ông trôi dạt đó đây, thú vui phương xa đã níu giữ bước chân ông.

Ông Mấn đến Mỹ với chiếc áo ấm to dày mà ngày xưa bố mẹ tôi đã mang từ Mỹ về để tặng ông, chắc đây là chiếc áo ông quý lắm và chỉ mặc khi có chuyện “đại sự” nên trông vẫn còn tốt. Nhưng bố tôi vẫn bảo ông bỏ đi và dẫn ông đi sắm vài bộ đồ khác ở chợ Wal- Mart.

Ông Mấn tưởng đây là cửa hàng quần áo sang trọng bậc nhất thế giới mà ông đã hân hạnh được vào, dù bố tôi đã nói là cửa tiệm bình dân, nhưng ông nào tin, cứ cho là bố tôi khiêm nhường hay nói đùa.

Ba tháng du lịch của ông Mấn trôi qua, tới ngày ông phải trở về Việt Nam . Chúng tôi sắm cho ông hai va li đầy những quần áo và quà cáp.

Cả nhà ra phi trường tiễn ông, trước khi đi vào trong cổng, ông đã nắm tay bố tôi, ân cần, thân thiện như “chú Mấn” ngày xưa, và rưng rưng:

- Năm xưa cháu về Việt Nam , chú đã tuyên truyền cho cháu một thiên đường trong mộng, nhưng vẫn không bằng một góc cái hiện tại này, thực tế này, mà các cháu đang được hưởng. Gẫm lại, cùng một kiếp người mà đời chú và con cháu của chú đã gánh chịu bao nhiêu thiệt thòi. Cả thời tuổi trẻ, chú từng đi xa, đây là một chuyến đi xa đẹp nhất và có ý nghĩa nhất trong cuộc đời chú.

Rồi ông cười nhếch mép, vừa đùa vừa tủi thân:

- Kiếp sau, chú vẫn sẽ là một thằng thích giang hồ, xa xứ. Nhưng chú mong sẽ bước tới bất cứ miền nào, vùng đất nào có tự do, dân chủ và no ấm như nước Mỹ này.

Máy bay cất cánh, mang ông Mấn trở về Việt Nam, về ngôi làng quê, nơi có con đường tráng nhựa, có những căn nhà gạch, có ánh điện, có ti vi, có đài…

Nhưng chắc chắn giấc mộng dài của ông về một đất nước xã hội chủ nghĩa thì không còn nữa.

Nguyễn Thị Thanh Dương

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Mỹ tiết lộ việc nghiên cứu vũ khí
kinh hoàng hơn bom nguyên tử ?



Sau gần 20 năm tìm tòi, gần đây khi Edward tiết lộ loại vũ khí mới này có uy lực vượt xa bom nguyên tử - vài gram sẽ có thể hủy diệt trái đất, khiến người ta kinh ngạc và lo lắng.Năm 1990, tại căn cứ không quân Glyn, Mỹ, Tiến sĩ Kenis Edward và các cộng sự trong nhóm nghiên cứu phát triển "cải cách vũ khí", Mỹ bắt đầu thực hiện công việc: Nghiên cứu vũ khí phản vật chất (VKPVC).

Ba đại "Bí mật của thế kỷ"

Đầu năm 2009, trong cuộc họp với các quan chức cao cấp quân sự Lầu Năm Góc, giới thiệu về tiến triển nghiên cứu phát triển VKPVC, Edward nói: "Ba đại bí mật thế kỷ" đã kích thích những nghiên cứu của tôi".

Edward cho biết, "bí mật thế kỷ" đầu tiên và nổi tiếng nhất là vụ nổ Tungus, xảy ra sáng sớm ngày 30/6/1908, trong rừng rậm vùng Tungus, Siberia, Nga. Đây là một vụ nổ lớn chưa có tiền lệ trong lịch sử. Uy lực của nó tương đương với 1.000 quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, Nhật Bản đồng thời nổ, khiến mọi vật và sự sống trong vùng nổ vài trăm kilômét vuông bị hủy diệt. Cho đến nay vẫn chưa ai giải thích được nguyên nhân của vụ nổ này.
Image
Vệ tinh nghiên cứu phản vật chất
Vụ thứ hai của "bí mật thế kỷ" xảy ra ngày 22/9/1979. Hôm đó, vệ tinh Mỹ đã chụp được ảnh một vụ "nổ hạt nhân" cực mạnh xảy ra ở bờ biển Tây Phi. Thời kỳ này chỉ có vài nước như Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc... có vũ khí hạt nhân, nguyên nhân nổ hạt nhân ở Tây Phi cho đến nay vẫn không rõ.


Lần thứ 3 "bí mật thế kỷ" xảy ra lúc 22h ngày 29/4/1984. Lúc đó một số máy bay của Nhật Bản bay đến bầu trời Alaska - Mỹ, Phó cơ trưởng bỗng nhiên phát hiện phía trước có một "đụn mây hình nấm" rất nhanh khuếch tán ra xung quanh... Cơ trưởng của 3 chiếc máy bay khác trên cùng đường bay cũng nhìn thấy hiện tượng lạ này. Nhưng sau khi cả 4 chiếc máy bay này hạ cánh, các nhân viên trên máy bay và trên thân máy bay đều được kiểm tra, đã không phát hiện thấy bất kỳ dấu tích nhiễm phóng xạ nào.

Mãi đến năm 1986, sau khi giới khoa học có những nghiên cứu đột phá về phản vật chất, mới có người lên tiếng: Ba vụ nổ trên có thể là kết quả của các cuộc thử nghiệm "điều khiển phát triển phản vật chất".

Edward sinh năm 1960, công dân Mỹ. Năm 1990, tốt nghiệp ngành vật lý tại Viện Công nghệ Massa, Mỹ, rồi nhận bằng tiến sĩ, sau đó đến làm việc tại Cơ sở Nghiên cứu máy gia tốc quốc gia Feymi, Mỹ. Tại đây, Edward bắt đầu đi sâu nghiên cứu lý luận phản vật chất.

Năm 2000, Edward được giao phụ trách nhóm nghiên cứu "cải cách vũ khí", bắt đầu chuyên sâu nghiên cứu cụ thể VKPVC. Edward cho biết: "Chúng ta đều biết, vật thể trong tự nhiên đều hợp thành từ proton, nơtron và điện tử, nhưng tất cả những hạt vi mô đều có phản hạt của chính nó. Chính uy lực sản sinh ra của những phản vật chất (phản hạt) này đã được bộc lộ qua “3 đại bí mật thế kỷ".

Ngày 24/3/2004, trong Hội thảo Những khái niệm tiên tiến do Cục Hàng không vũ trụ Mỹ tổ chức, Edward tới dự và phát biểu những lời tỏ ra bi quan: "Tuy các nước đã đầu tư nhân lực, vật lực to lớn, nhưng việc nghiên cứu phản vật chất vẫn tiến triển chậm chạp, nguyên nhân là vì không có cách nào sử dụng máy gia tốc hạt để sản xuất ra đủ lượng phản vật chất. Hơn nữa, để sản xuất ra 1 phần tỉ gram phản vật chất yêu cầu tiêu tốn vài tỉ USD! Ngoài ra, hoạt động của điện tử dương rất khó khống chế, rất khó lưu giữ chúng trong một dụng cụ đặc biệt; điều đó có nghĩa là, nó không có giá trị quân sự"!

Từ sau cuộc họp đó, người ta hầu như không thấy Edward và nhóm cộng sự xuất hiện nữa. Có lúc người ta cho rằng, có thể Edward thấy khó nên đã sớm rút lui?

Kinh hoàng hơn bom nguyên tử?

Theo tiết lộ, tháng 8/2008, Edward xuất hiện tại Lầu Năm Góc, báo cáo trước các quan chức cao cấp quân đội Mỹ về thành quả tiến triển nghiên cứu mới nhất của ông ta về VKPVC.

"Trên nghiên cứu VKPVC của chúng ta đã có được sự đột phá quan trọng, chúng ta đã thành công trong việc nghiên cứu phát triển một loạt dụng cụ có thể tồn giữ phản vật chất lâu dài có hiệu quả, điều này có nghĩa là việc sử dụng phản vật chất trong quân sự sẽ trở thành hiện thực"! Sau đó, Edward bắt đầu trình bày trước giới quân sự về uy lực của VKPVC.

Edward đã chủ trì một cuộc diễn tập mô phỏng qua máy tính điện tử với biệt hiệu: "Tấn công đặc biệt phản vật chất" với giả tưởng: Một ngày vào năm 201X, một binh sĩ Mỹ mang theo một quả bom PVC định giờ tiềm nhập vào thủ đô nước C; vào trong một nhà vệ sinh của tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C gần trung tâm thành phố, đặt quả bom rồi ung dung đi ra. Đúng như kế hoạch, bom định giờ phản vật chất nổ, tòa nhà Bộ Tổng tham mưu nước C và các công trình phụ cận đổ sụp hết. Quả bom PVC mà binh sĩ này mang chỉ nặng 1 phần 50 triệu gram!

Tiếp sau đó, một quả bom xung mạch PVC nổ trên không tại nhà máy điện và mạng thông tin nước C, chỉ trong nháy mắt mọi hoạt động quân sự và xã hội của nước này tê liệt hoàn toàn... Lúc đó, có tướng lĩnh đã thốt lên "nếu vậy, chỉ cần quả bom phản vật chất nặng vài gram sẽ hủy diệt toàn cầu".

Kết thúc diễn tập, Edward giải thích: "Quan hệ giữa vật chất và PVC tương tự như học thuyết âm dương cổ đại". Trong tự nhiên, bất cứ một loại "hạt nguyên tử thứ cấp nào (hạt so với nguyên tử còn nhỏ hơn) đều có một loại phản vật chất đối ứng, nếu hai loại vật chất này phát sinh va chạm mãnh liệt, chúng đều tiêu tan, đồng thời giải phóng ra năng lượng cực lớn.

Edward còn cho biết, điều kỳ lạ khác với bom nguyên tử là khi bom phản vật chất nổ, sẽ không sản sinh bức xạ, có thể được coi là một loại "bom hydro sạch". Nó có uy lực nổ như bom hydro, nhưng sẽ không gây ô nhiễm bức xạ hạt nhân... Edward nhấn mạnh, đương nhiên, nghiên cứu phản vật chất không phải chỉ dùng cho chiến tranh, ông giải thích: "1 gram phản vật chất đủ cung cấp động lực cho hàng chục máy bay hàng không vũ trụ. Điều này có thể làm thay đổi căn bản mô thức cung ứng nguồn năng lượng, sẽ là một cuộc cách mạng nguồn năng lượng".

"Người mở bình ma quỷ"

Nhưng, loại vũ khí mới mà Edward gọi là "sạch" này lại khiến các nhà quân sự thế giới hết sức lo lắng. Một số nhà khoa học, nhà sử học, trung tâm nghiên cứu cao cấp Đại học Prinston, Mỹ đã chỉ ra, VKPVC "sạch" khác xa so với vũ khí hạt nhân "bẩn" và nó còn đáng sợ hơn nhiều. Bom nguyên tử thông thường, bom hydro nói chung chỉ coi là thủ đoạn uy hiếp chiến lược, cơ bản không được sử dụng trong chiến tranh thông thường và chiến tranh cục bộ. Vì chúng ngoài uy lực lớn, còn sinh ra bức xạ hạt nhân, gây ô nhiễm thổ nhưỡng, không khí, nguồn nước khu vực chiến tranh, đồng thời tạo ra tổn thương nhiễm phóng xạ đối với sinh vật và thực vật, dẫn đến thảm họa nhân đạo.

Giới phân tích cho rằng, sự lo lắng của các chuyên gia quân sự không phải không có lý. Vì ngay từ năm 2004, sau khi Edward công khai kết quả tiến triển nghiên cứu phản vật chất của ông ta, một số nước đã lao vào nghiên cứu phát triển lĩnh vực nhạy cảm này. Pháp và Thụy Điển đã hợp tác xây dựng Trung tâm Nghiên cứu phản vật chất châu Âu; Cơ sở nghiên cứu vật lý cao năng của Nga cũng đang nghiên cứu phản vật chất dùng cho quân sự. Cho nên, giới khoa học Mỹ đã gọi Edward là "Người cha của VKPVC", nhưng có người đã ví Edward như là "người mở bình ma quỷ".

Theo Nguyễn Mau (Vũ khí hiện đại)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Một trời tro bụi

Bùi Tín



Không phải một trời nắng chói. Không phải một trời mưa bão. Rất lạ!
Mà là một trời tro bụi. Bao phủ gần hết 30 nước châu Âu, suốt 6 ngày đêm qua.Núi lửa Eyjafjoll ở phía Nam đảo Iceland (Băng đảo), một đảo nhỏ ở phía tây bắc của nước Anh, đột nhiên thức dậy, sôi ruột, phun tro bụi đen kịt lên bầu trời, mới đầu lên 5 – 6.000 mét, sau lên đến 9.000 mét. Cuộc phun mới này bắt đầu từ nửa đêm rạng sáng thứ tư 14, tăng mạnh ngày 15, 16, đến tận sáng chủ nhật 18-4 mới dịu dần…

Suốt 5 ngày đêm từ 15 đến 18 -4, hầu hết các sân bay ở châu Âu đều đóng cửa. Hàng chục nghìn máy bay trên hàng trăm sân bay nằm tê liệt trên sân. Chiều ngày 18 mới mở dần từng khu vực, từng hành lang cho không vận, sau khi một số may bay trực thăng và phản lực bay thử nghiệm an toàn.

Lý do máy bay phải nằm im vì núi lửa phóng lên trời không ngừng nghỉ một lượng tro bụi khổng lồ tạo nên bởi chất thạch nham sôi sục từ trong lòng đất phun lên gặp những tảng băng lạnh liền bùng nổ dữ dội, cuộn lên những mảng mây tro bụi đen nóng, sau đó lại kết tụ trên bầu trời thành vô vàn hạt tinh thể, được các làn gió theo các hướng và các tầng cao thấp đưa đẩy đi xa, lại còn bị tác động của cử động quay tròn của trái đất từ Đông sang Tây….

Trời đầy tro bụi hạn chế tầm nhìn của người lái và các máy đo đạc quan trắc, nhưng nguy hiểm hơn là tro bụi và các hạt tinh thể dày đặc bị hút liên tiếp vào các lò phản lực tích tụ lại có thể làm hỏng hóc động cơ máy bay, gây nên tai nạn.

Đã có một chiếc máy bay phản lực chiến đấu của Hoa Kỳ F-16 bị hỏng máy do hút phải tro bụi nói trên và những tinh thể kết tụ đã suýt gây tai nạn cho động cơ, theo lời một người phát ngôn của Khối Bắc Đại Tây Dương NATO ở Bruxelles - Bỉ.

Tổng cộng trong 5 ngày đêm, có 750 ngàn hành khánh trên khắp thế giới không ra vào được châu Âu, mặc dầu có vé trong tay.

Tất cả các sân bay lớn nhỏ ở châu Âu đều ùn tắc, các khách sạn quanh đó hết chỗ, phần lớn khách phải tự xoay sở nghỉ tạm trên ghế dài, trên sàn nhà, trong nhà tư nhân, mong đợi từng giờ núi lửa nguôi cơn giận dữ. …

Cũng có hơn 100 ngàn người Pháp bị kẹt ở New York, Tokyo, Toronto, Bangkok … phải nhờ sự giúp đỡ của sứ quán nước mình cũng như của đồng bào mình sống tại đó cho trú tạm.

Những người ốm đau, già cả, trẻ em đều được các tổ chức từ thiện, chữ thập đỏ cứu giúp, tùy khả năng.

Kinh khủng hơn nữa là thông tin, truyền thông công cộng bị đột nhiên quá tải. Các trạm điện thọai công cộng luôn có khách nối đuôi hàng trăm mét, các điện thoại cầm tay gọi như mắc cửi, gọi về gia đình, bạn bè, công sở, sân bay để hỏi giờ giấc các chuyến bay, gọi về các hãng bảo hiểm, các trạm xe bus, ga xe lửa để chuyển sang phương tiện khác.

Một vài thông tin bổ ích và lý thú:

- Núi lửa Eyjafjoll đã từng 3 lần gây tai họa vào những năm : 500, 1612 và 1823, có khi kéo dài gần một năm trời. Trước khi bùng nổ đêm 14-4 vừa qua, nó đã cựa mình phun lửa vào chiều 20-3-2010 báo hiệu một cơn nổ lớn.
- Băng đảo có tên Anh là Iceland, tên Pháp là Island, khác với nước Ái Nhĩ lan, là Irlande, hay Ireland, ớ sát Vương quốc Anh.

- Băng đảo – Iceland là đất lạnh, ‘đất đóng băng’, nhưng thật ra đất quanh đảo không quá lạnh vì nhờ dòng nước ấm Gulf stream chảy quanh từ vùng xích đạo lên.

- Băng đảo là nước cộng hòa nhỏ bé, rộng 10 vạn kilômét vuông,, chỉ có 32 vạn dân, nguyên là thuộc địa của vương quốc Đan Mạch, độc lập từ năm 1944, là nước giàu có loại nhất châu Âu và thế giới, thu nhập dầu người năm 2008 là hơn 40 ngàn Euro/năm, nhờ vào thủy sản, hải sản, chủ yếu là đánh cá và xuất khẩu cá hộp. Nghề nuôi cừu và nuôi ngựa cũng phát triển. Thủy điện, điện thủy triều và điện - địa nhiệt (géo -thermique) đều phong phú nên cực rẻ. Thủ đô là Reykjavik, quanh năm đông khách du lịch vì quanh đó nhiều phong cảnh hùng vĩ, núi cao, thác nước lớn, đập to, rừng thông, bãi chăn nuôi rộng, trượt tuyết, bơi thuyền, cưỡi ngựa, câu cá thỏa thích…

Một đặc điểm là tỷ lệ xe ôtô riêng và máy bay công cộng đứng hàng đầu thế giới. Đường ô tô rải nhựa bao quanh đảo. Cả đảo có đến 88 sân bay lớn nhỏ.

Đến hôm nay, chiều ngày 22-4, hoạt động hàng không châu Âu nhìn chung đã trở lại bình thường. Các hãng hàng không quốc tế đã bị thiệt khoảng gần một tỷ đôla.

Một trời tro bụi lại sáng dần lên giữa mùa Xuân của đất trời.

Điều rất ít ai biết là riêng ở Băng Đảo, nơi xuất phát của tai họa, nhìn chung hoạt động không vận vẫn hầu như bình thường, các hãng hàng không vẫn đông khách, hầu hết gần một trăm sân bay vẫn náo nhiệt, vì núi lửa ở trên cao gần 2 ngàn mét, lại phun cao thêm hơn 6 ngàn mét, rồi gió to cuốn mạnh lên cao thêm, đi xa hơn, nên vùng trời Băng Đảo ở dưới 3, 4 ngàn mét vẫn trong sáng, an toàn.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

THÁNG TƯ NHỚ VỀ SÀIGON

Image
Hình ảnh di tản
Tháng Tư về, gợi lên bao điều để suy nghĩ và để nhớ.

Nhớ Sài Gòn, chẳng hạn. Ờ, tại sao lại nhớ Sài Gòn mà không nhớ Huế, nhớ Đà Nẵng, nhớ Nha Trang? Hay nhớ Đà Lạt? Có thể nhiều người nhớ những thành phố này, còn với Nguyễn thì Sài Gòn là đóa quỳ vàng của một thời. Có lẽ tại vì Nguyễn đã sống ở đó những năm thanh xuân của đời mình, và ra đi từ đó. Lại nữa, Sài Gòn chính là Việt Nam trong tim của Nguyễn và của nhiều người. Ôi Việt Nam / từng là nỗi đau xé trong tôi / sao tôi khóc lúc ra đi / phượng đỏ một lời yêu dấu cũ / là lúc chia xa… Vâng, qua bên này nghe ca khúc Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng lại càng nhớ da diết. Đêm nhớ về Sài Gòn / Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa / Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa / Ai sầu trong quán úa…

Ôi Tháng Tư. Tháng Tư mở ra những cơn mưa đầu tháng Năm ở Sài Gòn ngày ấy. Mưa. Mưa trái mùa trên rừng cao su An Lộc. Những chiến sĩ Biệt Kích Dù, hàng hàng lớp lớp, đứng nghiêm trong mưa, chào quốc kỳ lần cuối. Rồi chia tay... Vì đâu... Xin hãy nhớ lại kể từ 30 Tháng Tư 1975, không còn tiếng súng xối xả vào kẻ thù, mà đây đó có những tiếng súng lẻ tẻ, tiếng nổ lựu đạn, của các tướng quân, sĩ quan, binh sĩ chấp nhận cái chết chứ nhất định không để rơi vào tay kẻ thù. Những người lính Dù ở Lăng Cha Cả chẳng hạn, hay những người lính Thủy Quân Lục Chiến trong Biển Xưa của Nguyễn Mộng Giác.

Và như vậy, Tháng Tư gợi lại bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều thế hệ người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Nó là một dấu mốc rất lớn, kể từ năm 1975 trở đi tới nay, và chắc chắn nó cũng nói lên bao điều với những thế hệ sau này. Thật vậy, tháng 4 vẫn luôn là những kỷ niệm thật đau khổ và lớn lao, một vết cháy trong tâm hồn bạn tâm hồn tôi - những người một thời bước đi trên sạn đạo lửa đỏ quê hương - và cho cả lớp người theo cha mẹ vượt biên hồi còn bé dại rồi lớn lên ở những xứ sở xa lạ - như cô bé Phạm Quỳnh Anh người hôm nào đã hát ca khúc Bonjour Vietnam tuyệt vời, hay như cô bé Dao Strom với tiếng đàn thùng, tác giả những bài ca buồn trong tuyển tập Send Me Home - lớp người trẻ hôm nay vẫn chưa quên những năm hãi hùng "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội xã hội chủ nghĩa," với những ông chủ mới "y trang xúng xính. giọng hét phàm phu" (chữ của Tô Thùy Yên) chĩa mũi súng đẩy hàng trăm ngàn người vào trại cải tạo, đẩy cả triệu dân ra biển Đông sóng dữ hay đi vùng kinh tế mới ma hoang nước độc...

Đúng vậy. Nhà báo Trần Khải viết: Những hình ảnh kinh hoàng, bây giờ nhìn lại vẫn thấy y hệt như là truyện tiểu thuyết Liên Xô. Có vẻ gì rất là siêu thực, như không thể là thực, nhưng lại rất là bi thảm, và đã làm chết biết bao nhiêu người, trên rừng, ngoài phố và sau này là trên biển. Bao giờ thì tháng 4 có thể hàn gắn, không còn là một vết thương, ít nhất là với nhiều triệu người? Với Sơn Ca, có bao giờ cô quên được những hình ảnh hãi hùng đau đớn của Tháng Tư 1975: hôm 28 tháng tư em vào Tân Sơn Nhất / đêm địch pháo phi trường. em ôm hai con / trời tối đen. tắt rồi ánh lửa / không tiếng người. anh ờ nơi đâu... Ôi, cô ca sĩ mắt xếch, tóc màu auburn, em còn nhớ đã cùng chàng chỉ ít hôm sau khi Việt Cộng chiếm Sài Gòn, đã đi mua ngay chiếc xe đạp, đèo nhau đi, để gọi là từ đài các bước xuống bụi đời… Và em nữa, cùng hai con, lúc ấy còn bé xíu, chiều chiều đứng trên ban công nhìn ra sông Thanh Đa, cầu nguyện... Tháng Tư quả như vết dao chém xuống Sài Gòn, chém xuống Việt Nam, cắt đứt những mảnh đời. Kể từ đây xanh thành đỏ, phải thành trái, đúng thành sai, con người lộn ngược đầu kiểu như trong tranh Upsidedown của Nguyễn Đại Giang. Còn gã nhạc sĩ mù ôm đàn gào trong cơn mưa trước rạng đông mặt trời bị cắt cổ (soleil / cou coupé –Apollinaire), bây giờ đi đâu về đâu?

Cuối cùng, Tháng Tư vọng lên câu chửi thề nổi tiếng của thi sĩ Sơn Núi: Đ. cây bông hồng / Mày không lao động / Sao mày trổ bông... [NXT]

Nguyễn Xuân Hoàng

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ở ĐÂU TRONG TRẬN ĐỘNG ĐẤT? Hãy đọc và chuyển thông tin này cho các thành viên trong gia đ́ình bạn; nó có thể cứu sống họ một ngày nào đó!


ĐOẠN TRÍCH TỪ BÀI BÁO CỦA DOUG COPP: "TAM GIÁC CỦA SỰ SỐNG"


Tôi tên là Doug Copp. Tôi là Đội trưởng đội cứu hộ (Rescue Chief and Disaster Manager) thuộc tổ chức American Rescue Team International (ARTI), đội cấp cứu giàu kinh nghiệm nhất thế giới. Thông tin trong bài báo này sẽ cứu nhiều sinh mệnh trong một trận động đất.

Tôi đã trườn, bò trong 875 toà nhà đã bị đổ sập, làm việc với các đội cấp cứu từ 60 nước, thành lập các đội cấp cứu tại một số nước, và tôi là thành viên của nhiều đội cấp cứu của nhiều nước.

Tôi đã là một chuyên gia Liên Hợp Quốc về khắc phục thảm hoạ (Disaster Mitigation) trong 2 năm. Tôi đã làm việc tại tất cả các thảm hoạ chủ yếu trên thế giới từ năm 1985, trừ những thảm hoạ xảy ra đồng thời.

Toà nhà đầu tiên tôi đã từng trườn ḅò trong đó là nơi đã là một trường học ở Thủ độ Mexico trong trận động đất năm 1985. Mỗi đứa trẻ đều đang ở dưới bàn của nó. Mỗi đứa trẻ đã bị nghiền nát tận xương. Lũ trẻ có thể đã sống sót bằng cách nằm dài bên cạnh bàn học của chúng trên các lối đi. Điều đó thật là bẩn thỉu, vô lương và tôi đã băn khoăn tại sao lũ trẻ đã không ở trên các lối đi. Lúc đó tôi đã không biết là lũ trẻ được nói cần ẩn náu dưới cái ǵì đó.

Đơn giản mà nói, khi các toà nhà sụp đổ, sức nặng của trần rơi trên các đồ đạc bên trong nghiền nát các vật này, để lại một khoảng trống ngay cạnh chúng. Khoảng trống này là cái mà tôi gọi là "tam giác của sự sống". Vật càng lớn, nó sẽ kết khối càng rắn chắc và nhỏ. Vật kết khối càng nhỏ thì khoảng trống càng lớn, khả năng càng lớn là người sử dụng khoảng trống để an toàn sẽ không bị thương. Lần tới khi bạn xem một toà nhà sụp đổ, trên tivi, hãy đếm "các tam giác" được hình thành mà bạn thấy. Chúng có ở mọi nơi. Nó có hình dạng chung nhất, bạn sẽ thấy trong các toà nhà bị đổ sập.

CÁC LỜI KHUYÊN ĐỂ AN TOÀN KHI XẢY RA ĐỘNG ĐẤT

1) Hầu hết những người chỉ đơn giản "cúi đầu xuống và ẩn náu" KHI CÁC TOÀ NHÀ SỤP ĐỔ bị nghiền nát đến chết. Những người chui xuống các vật như bàn làm việc hay ô tô, bị nghiền nát.

2) Các con mèo, chó và trẻ nhỏ thường cuộn tṛòn một cách tự nhiên trong tư thế bào thai.

Bạn cũng nên như vậy trong một trận động đất. Nó là một bản năng sống sót/ an toàn tự nhiên.

Bạn có thể sống sót trong một khoảng trống nhỏ hơn. Hãy đến cạnh một vật, cạnh một cái tràng kỷ, cạnh một vật to lớn đồ sộ mà sẽ bị bẹp nhẹ nhưng để lại một khoảng trống cạnh nó.

3) Các toà nhà gỗ là những loại nhà an toàn nhất để ẩn náu trong một trận động đất. Gỗ linh hoạt và di động theo các sức mạnh của trận động đất. Nếu toà nhà gỗ sụp đổ, các khoảng trống an toàn lớn sẽ được tạo ra. Cũng vậy, các toà nhà gỗ có sức nặng tập trung, phá huỷ ít hơn. Các toà nhà gạch sẽ đổ đến từng viên gạch. Các viên gạch sẽ gây ra nhiều vết thương nhưng các cơ thể bị đè nén ít hơn là các tấm bê tông.

4) Nếu bạn đang trong giường trong đêm và một trận động đất xảy ra, đơn giản là lăn khỏi giường.

Một khoảng trống an toàn sẽ tồn tại gần giường. Các khách sạn có thể có được tỷ lệ sống sót cao hơn trong động đất, đơn giản bằng việc dán một dấu hiệu phía sau cửa của mỗi pḥòng báo cho những người thuê phòng nằm xuống sàn, ngay cạnh giường trong một trận động đất.

5) Nếu một trận động đất xảy ra và bạn không thể trốn thoát dễ dàng bằng cách qua cửa lớn hoặc cửa sổ, hãy nằm xuống và cuộn tṛòn trong tư thế bào thai ngay cạnh một ghế tràng kỷ hay một ghế lớn.

6) Hầu hết những người đứng dưới ô cửa khi các toà nhà sụp đổ sẽ bị chết. Như thế nào? Nếu bạn đứng dưới ô cửa và rầm cửa rơi xuống phía trước hay phía sau bạn sẽ bị nghiền nát bởi trần nhà phía trên. Nếu rầm cửa rơi xuống bên cạnh, bạn sẽ bị cắt làm đôi bởi ô cửa. Trong cả hai trường hợp, bạn sẽ bị chết!

7) Không bao giờ được đi vào cầu thang.

Các cầu thang có một "mô men tần số" khác nhau (chúng dao động riêng rẽ với các phần chính của toà nhà). Các cầu thang và phần cọ̀n lại của toà nhà tiếp tục va đập vào nhau cho đến khi cấu trúc cầu thang gãy. Những người đi vào cầu thang trước khi chúng găy bị băm nhỏ bởi các mặt cầu thang – kinh khủng gấp bội. Thậm chí nếu toà nhà không sụp đổ, hãy tránh xa cầu thang. Các cầu thang là phần của toà nhà có thể bị hư hại nhiều nhất. Thậm chí nếu các cầu thang không bị sụp đổ bởi động đất, chúng có thể sụp đổ sau đó khi bị quá tải bởi những người bỏ chạy. Luôn luôn nên kiểm tra cầu thang xem có an toàn không, thậm chí khi phần còn loại của toà nhà không bị thiệt hại.

8 ) Hãy ra gần tường ngoài của toà nhà hay là bên ngoài toà nhà nếu có thể - Tốt hơn nhiều là ở gần bên cạnh của tòa nhà hơn là ở bên trong. Bạn càng ở xa bên trong tòa nhà thì đường thoát chạy của bạn sẽ bị chặn lại càng có khả năng xảy ra.

9) Những người ở bên trong các phương tiện giao thông của họ cũng bị nghiến nát khi con đường ở bên trên rơi xuống trong một trận động đất và nghiền nát xe cộ của họ; đó chính xác là điều đã xảy ra với các tấm bê tông giữa các tấm sàn của xa lộ Nimitz. Các nạn nhân của trận động đất San Francisco đều ở bên trong xe cộ của họ. Tất cả họ đều bị chết. Họ có thể đã sống sót dễ dàng bằng việc thoát ra và ngồi gần (nhưng không chạm vào) xe cộ của họ. Mỗi người bị chết có thể đã sống nếu họ có thể thoát ra khỏi xe và ngồi hoặc nằm gần xe. Tất cả các xe bị nghiến nát đều có khoảng trống cao 3 foot ngay cạnh chúng, trừ các ô tô có các cột rơi trực tiếp vắt chép ngay cạnh.

10) Tôi đã phát hiện ra, trong khi trườn bò bên trong các toà báo và các cơ quan có nhiều giấy tờ khác bị sập, rằng giấy tờ không bị bẹp. Những khoảng trống lớn được thiết lập quanh những đống giấy.

Hãy lan truyền những thông tin này để có thể cứu sống ai đó… Toàn bộ thế giới đang trải qua những thảm hoạ tự nhiên v́ì vậy hãy chuẩn bị đương đầu!

Năm 1996 chúng tôi làm một bộ phim, chứng minh phương pháp luận sống sót của tôi là đúng đắn. Chính phủ liên bang Thổ Nhĩ Kỳ, Thủ đô Istanbul, Đại học Istanbul Case Productions và ARTI đã hợp tác để làm cuốn phim thử nghiệm thực tế, khoa học này. Chúng tôi đã làm sập một trường học và một ngôi nhà với 20 người nộm bên trong. Mười người nộm đã "cúi đầu và ẩn náu", và mười người nộm tôi đã sử dụng trong phương pháp sống sót "tam giác của sự sống" của tôi. Sau trận động đất tự tạo toà nhà đổ sập chúng tôi trườn ḅò qua gạch vụn và vào toà nhà để quay phim và dẫn chứng kết quả. Cuốn phim, trong đó tôi thực hành kỹ thuật sống sót của tôi trong các điều kiện dễ thấy trực tiếp, khoa học, liên quan tới việc sập toà nhà, đã chỉ ra sẽ không có cơ hội sống sót cho những người làm theo "cúi xuống và ẩn náu"

Có thể có 100 % khả năng sống sót cho những người sử dụng phương pháp "tam giác của sự sống" của tôi. Cuốn phim này đã được hàng triệu người xem trên tivi ở Thổ Nhĩ Kỳ và phần còn lại của châu Âu, và nó đã được trình chiếu ở Mỹ, Canada và châu Mỹ Latin trên chương trình truyền hình Real TV.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Ngày chia tay Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đang đến gần

Giáo dân Hà Nội sẽ phải chấp nhận "được" chăn dắt bởi những mục tử đến từ những cuộc mặc cả, toan tính... vậy có còn là "đấng nhân danh Chúa mà đến" hay không? Xin hãy cầu nguyện cho đấng chăn chiên mới được vững vàng, ơn mạnh bạo để tiếp bước người tiền nhiệm kiêu dũng của mình, vượt qua những trạng thái mơ hồ "Lên tiếng như không lên tiếng".

Rõ ràng, việc này được quyết định bởi Tòa Thánh, nhưng thực tế trong đó một số cá nhân đã lũng đoạn quy trình này của Tòa Thánh gây nên thảm trạng này cho GHVN nói chung, Hội đồng GMVN nói riêng và cách đặc biệt cho TGP Hà Nội.
Image Như các thông tin Nữ Vương Công Lý đã đưa, việc bổ nhiệm TGM phó Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn được làm hết sức khẩn trương và nhanh chóng (được gọi là dự án "Phó TGM Vườn hoa"). Đức TGM Hà Nội đã phải chấp nhận những sự sắp xếp để chuẩn bị ra đi trao quyền lại cho Phó TGM Nguyễn Văn Nhơn trong nửa đầu tháng 5/2010.

Một Thánh lễ chia tay cộng đoàn dân Chúa của Đức TGM Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt sẽ diễn ra tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội, có thể đây là Thánh lễ cuối cùng của Ngài trên cương vị Tổng Giám mục Hà Nội, dự kiến vào ngày 4/5. Thánh lễ này cũng là Thánh lễ cuối cùng Ngài ban cho đàn chiên mà Ngài đã chăn dắt bấy lâu nay, vì đàn chiên này mà Ngài đã phải chịu "những cuộc khổ nạn" như hiện tại.
Image Bộ phận văn phòng Tòa TGMHN có nhiệm vụ liên hệ với Phó TGM mới để biết thời gian biểu khi Ngài ra nhậm chức tại Hà Nội. Nếu trong buổi lễ chia tay của TGMHN có sự có mặt của Phó TGMHN Nguyễn Văn Nhơn thì TGMHN sẽ giới thiệu cách "hết sức thân mật", nếu không có mặt, ngày đón tiếp sẽ tính sau. Theo tin chúng tôi nhận được thì Tòa GM Đà Lạt sẽ tưng bừng mở hội và Thánh lễ tiễn Đức GM Nguyễn Văn Nhơn ra Hà Nội vào ngày 4/5/2010.

Sau Thánh lễ này, mấy ngày còn lại Ngài sẽ bàn giao công việc rồi Ngài sẽ ra đi và từ đó sẽ không còn trở lại trên cương vị TGM Hà Nội nữa. Đàn chiên TGP Hà Nội sẽ được TGM mới chăn dắt

Với cá nhân Đức Tổng Giuse, Ngài chấp nhận tất cả những khó khăn, mọi sự khắc nghiệt đến với Ngài như Ngài đã từng chấp nhận vì đàn chiên Hà Nội này.

Nhưng với giáo dân Hà Nội, họ sẽ phải chấp nhận được chăn dắt bởi những mục tử đến từ những cuộc mặc cả, toan tính... vậy có còn là "đấng nhân danh Chúa mà đến" hay không?

Thưa quý vị độc giả

Đành rằng với TGM Giuse, Ngài chấp nhận tất cả. Nhưng "cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt" là cái giá phải trả quá lớn cho cá nhân buộc phải rời bỏ đàn chiên mình yêu quý, buộc phải rời bỏ ngai tòa đã bao nhiêu tháng năm miệt mài, tu luyện học hành khắp nơi trên thế giới để về phụ vụ đoàn chiên khi tuổi đời mới 58.
Từ nay giáo dân Hà Nội sẽ vắng bóng một chủ chăn thật sự như lời Chúa dạy: "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta".
Ai đã gây ra điều này? Đây có thể nói là gì? Nếu không nói là một tội ác của bọn vô thần và một số cá nhân đã thỏa hiệp, đã bán đứng đồng đội, anh em mình và đã thò bàn tay can thiệp vào để đưa người đến con đường khổ giá.
Những giáo dân TGPHN, Giáo dân Việt Nam và mọi thành phần dân Chúa khắp nơi cũng như những người yêu chuộng hòa bình công lý, sự thật nghĩ gì trước biến cố đớn đau này?
Xin Giáo dân TGPHN thay mặt những người yêu Công Lý, Sự thật, Hòa Bình hãy tiễn đưa Ngài một cách xứng đáng với những tình cảm bao la mến yêu mà Ngài đã hi sinh cả mạng sống mình cho đàn chiên TGPHN và nêu cao "TINH THẦN NGÔ QUANG KIỆT"
Xin hãy cầu nguyện cho đấng chăn chiên mới được vững vàng, ơn mạnh bạo để tiếp bước người tiền nhiệm kiêu dũng của mình.

Rõ ràng, việc này được quyết định bởi Tòa Thánh, nhưng thực tế trong đó một số cá nhân đã lũng đoạn quy trình này của Tòa Thánh gây nên thảm trạng này cho GHVN nói chung, Hội đồng GMVN nói riêng và cách đặc biệt cho TGP Hà Nội.

Cho đến nay, nhiều giáo dân, độc giả vẫn chưa hiểu được tại sao những quyết ý của nhà cầm quyền CSVN lại được thi hành cách triệt để như vậy? Những khó khăn của Đức Tổng GMHN Giuse Ngô Quang Kiệt đã gặp ở Roma như thế nào? Vì sao Ngài phải về nước sớm? Tiến trình loại bỏ Đức TGMHN ra khỏi Ngai tòa Hà Nội ra sao? Một đường dây đã hình thành từ trong hàng ngũ Giám mục Việt Nam đến Tòa Thánh Vatican để điều khiển GH Việt Nam theo ý một số người như thế nào?

Theo ý nguyện của nhiều độc giả yêu mến sự thật và đặc biệt theo BBT WHĐ (Website của HĐGMVN) yêu cầu chúng tôi không chỉ nói "một nửa sự thật", chúng tôi sẽ kiểm chứng và sẽ thông tin đến quý vị trong thời gian tới.
Image

Image
Với tất cả tấm lòng yêu mến Giáo Hội Công giáo Tông truyền, Thánh Thiện, Thông công và hiệp nhất không bị ảnh hưởng bởi các thế lực trần thế. Chúng tôi cho rằng cần phải bạch hóa các vấn đề đó trước toàn thể giáo dân Việt Nam, chấp nhận những đau thương, mất mát có thể có để GHVN có cơ hội tự thanh tẩy mình dưới ơn của Thánh linh Chúa quan phòng.

Xin cho Giáo hội Việt Nam được ơn Sám hối mạnh mẽ và thật tâm để lãnh nhận ơn đó.

Chúng ta tin vào Đức Kito, vâng phục các đấng bậc được Chúa chọn đến để chăn dắt đàn chiên của Người cách công chính, Đức TGMHN là người đã được Chúa chọn đến để cùng vác thập giá với giáo dân Hà Nội thời gian qua, và nay Ngài đang chấp nhận chịu đóng đinh trên Thập giá đó.





Với tất cả tấm lòng kính mến, biết ơn và cảm phục Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt - Chứng nhân của sự thật Công lý, Hòa Bình, Nữ Vương Công Lý xin gửi đến Ngài và Giáo dân Hà Nội những lời chia sẻ chân thành và sâu sắc nhất. Xin Chúa che chở cho quý vị vững mạnh kiên cường với "Tinh thần Ngô Quang Kiệt"

Để tiễn biệt Ngài trước khi bước lên Thập giá, giáo dân Hà Nội có thể bắt đầu cầu nguyện cho Ngài hoặc chia sẻ tại đây từ hôm nay.

Mọi liên lạc, bài vở, tin tức và lời cầu nguyện xin gửi bằng tiếng Việt có dấu về hộp thư nuvuongcongly@ gmail.com

Xin cảm ơn tất cả quý vị và xin Thiên Chúa luôn quan phòng với Giáo hội Việt Nam.

Nữ Vương Công Lý

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Người ngoài hành tinh đã có mặt trên Trái đất? Trái đất là một hành tinh trong số hàng tỉ tỉ hành tinh đang tồn tại trong vũ trụ. Trái đất có sự sống, vậy trong vũ trụ bao la liệu có tồn tại sự sống? Một số nhà khoa học cho rằng, sự sống không những tồn tại trong vũ trụ mà còn phát triển vượt bậc so với sự sống trên trái đất?

Con người không đơn độc trong vũ trụ?

Năm 1963, ba nhà du hành vũ trụ Mỹ là Neil Armstrong, Buzz Aldrin và Michael Collins đã cùng với con tàu “Apollo - 11” đổ bộ thành công lên mặt trăng, hành tinh được xem là gần với trái đất nhất, với khoảng cách 384.403km. Khi Michael Collins ở lại trên tàu, Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã đi dạo trên bề mặt mặt trăng và phát hiện có một vật thể lạ cùng xuất hiện trong thời gian họ đổ bộ. Buzz Aldrin kể lại: “Chúng tôi nhìn thấy một vật thể lớn ở cách chúng tôi một khoảng không xa lắm. Hình dạng giống với chiếc nôi và chuyển động theo quỹ đạo hình ê-líp. Quan sát qua kính viễn vọng, đó không phải là con tàu của trái đất”.
Image
Hình ảnh người ngoài hành tinh được mô phỏng theo lời kể của các nhân chứng.
Ngày 5/9/2005, 10 nông dân làng Huay Nam Rak, Thái Lan khẳng định họ đã nhìn thấy trên cánh đồng làng một sinh vật kỳ lạ cao chừng 70cm, thân hình nhỏ bé giống người nhưng cái đầu thì to quá khổ. Anh Sawaeng Boonyalak, 35 tuổi, phát biểu trên tờ The Nation: “Trong lúc đang làm đồng thì đột nhiên tôi nhìn thấy một sinh vật lạ xuất hiện rất gần, đầu không có tóc, da màu vàng sậm, cằm dẹt, miệng rất nhỏ, nhưng mắt và tai thì rất to, không thấy các ngón tay và ngón chân của sinh vật lạ”.

Hạ sĩ Mark Proctor, đóng quân tại Tern Hill (Anh), trong lúc đi tuần tra đêm đã phát hiện một loạt các vật thể lạ chuyển động theo hình ê-líp trên bầu trời, anh này dùng điện thoại để quay lại và sau đó báo cáo lên cấp trên.
Hai giờ sau, một chiếc trực thăng chở các quan chức quân đội Anh đã bị một vật thể lạ khổng lồ đe dọa khi máy bay của họ đang cố gắng hạ cánh tại căn cứ gần Cardiff, thuộc xứ Wales. Một nhân chứng cho biết: “Chúng không có âm thanh nhưng có các đốm sáng bên trong”. Phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Anh nói: “Chúng tôi đang nghiên cứu video về UFO xem liệu có mối đe dọa quân sự nào hay không”...

Ngoài ra, đã có rất nhiều người nhìn thấy các hiện tượng gần giống với các sự kiện trên: các UFO có hình dạng tròn, bay theo quỹ đạo ê-líp, xuất hiện trên bầu trời kèm theo một luồng sáng, chúng hiện diện và biến mất rất nhanh... Tuy nhiên, các bằng chứng về sự hiện diện này chỉ ở mức “nhìn thấy”, “chứng kiến” mà thôi.

Người Mỹ đã liên lạc được với người ngoài hành tinh?
Vừa qua, TSKH Mỹ, Edgar Mitchell, người có cuộc đổ bộ cùng với con tàu Apollo 14 lên mặt trăng 37 năm trước đã khẳng định trước công luận rằng sự sống ngoài trái đất có tồn tại. Phát biểu trên của Edgar Mitchell đã dấy lên một làn sóng cho rằng người ngoài hành tinh đã có mặt trên trái đất.
“Người ngoài hành tinh có thật và đã tới trái đất nhưng đã bị chính phủ Mỹ che giấu” - TS. Edgar Mitchell đã trả lời trong cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Kerrang (Anh).

Edgar Mitchell là phi hành gia đầu tiên của NASA (Cơ quan Hàng không vũ trụ của Mỹ) và là người đàn ông thứ 6 đặt chân lên mặt trăng cho hay, sở dĩ ông biết được các thông tin trên là do ông là một sĩ quan tình báo quân đội đã có nhiều năm làm việc tại NASA. TS. Mitchell còn khẳng định Trung tâm NASA không những biết về UFO mà còn liên lạc được với những sinh vật đang điều khiển các UFO.

“Người ngoài hành tinh có dáng dấp đúng như hình ảnh mà chúng ta xem trên màn ảnh: thân hình bé nhỏ, mắt và đầu rất to. Với những gì để lại khi tới thăm trái đất, thì có thể nói người ngoài hành tinh có trí óc siêu việt hơn hẳn chúng ta”.

“Tôi muốn công khai sự việc trước công luận và đây mới là sự khởi đầu trong quá trình công khai sự việc. Chúng ta cần phải mở tấm rèm bí mật và một số tổ chức nghiên cứu về UFO cũng đang hướng tới điều này”.
Nghi vấn cần được làm sáng tỏ

Đến nay, khoa học về vũ trụ của loài người chỉ cho phép chúng ta thăm dò và thám hiểm mặt trăng, sao hỏa... những hành tinh gần với trái đất và được các nhà khoa học xác định là không hề tồn tại sự sống. Để làm sáng tỏ nghi vấn liệu có tồn tại sự sống ngoài trái đất, 3 tổ chức nghiên cứu UFO và MUFON, KUFOS và FUFOR đã ra lời kêu gọi chính phủ của nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, Anh, nơi đang sở hữu các bằng chứng về sự tồn tại người ngoài hành tinh mở các tài liệu mật mà họ đang giữ kín để cho nhân loại biết rằng, chúng ta không đơn độc trong vũ trụ.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Xin cùng đọc một chuyện hay

NGƯỜI VIỆT GỐC MỸ

Tác giả Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khóa K2DH/DH/CTCT, định cư tại Mỹ 1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregon.
Công việc: Sỹ quan điều hành tổ thông dịch viên của Lực Lựơng Phòng Vệ thuộc Vệ Binh Quốc Gia, Oregon, cấp bậc Thiếu Tá.
(Oregon Army National Guard/State Defense Force/Interpreters Team/X.O) (ORANG/SDF/Interp. Team/XO).
Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là chuyện về một người bạn cựu chiến binh Mỹ tự xưng là “Người Việt gốc Mỹ”.



Tôi biết Mike khoảng hai năm sau ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Dù hành trang sẵn có chút ít tiếng Anh từ trước 1975, tôi vẫn phải vất vả hội nhập vào xã hội mới bằng những bước chân chập chững, e dè trong độ tuổi "bất hoặc".

Thật may mắn, tôi tình cờ được gặp và quen biết Mike. Anh đã cho tôi một cái nhìn khá bao quát nước Mỹ từ phong tục tập quán đến văn hóa xã hội lẫn chính trị. Mike đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cả vật chất tinh thần để tôi có được một nghị lực, niềm tự tin, sự phấn khởi tràn trề khi bắt đầu nửa cuộc đời còn lại nơi tha phương, đất khách.

Trong buổi họp mặt cựu Chiến Binh nhân dịp Memorial Day của State Guards Association of U.S (SGAUS), bàn của tụi tôi rất ồn ào với đủ mọi vấn đề trên trời dưới đất, vui nhất là những chuyện tiếu lâm xoay quanh đời sống thường nhật của người Mỹ, đặc biệt lớp tuổi về hưu phải đương đầu với nhà dưỡng lão, bệnh tật, nhất là bệnh lãng trí Alzheimer... .
Hôm ấy, tôi kể chuyện một đôi vợ chồng già, Bác Sĩ nói với người vợ: tôi thấy sức khỏe ông nhà ngày càng khá hơn khi ông tìm được niềm vui nơi Thượng Đế, tin tưởng nhiều hơn vào Chúa Quan Phòng, đến nỗi, ông nghĩ Chúa đang theo giúp đỡ ông trong mọi việc, trong từng bước chân đi. Ông nói với tôi, đêm qua, khi ông vừa mở cửa nhà vệ sinh để đi tiểu thì Chúa bật đèn lên cho ông liền....
Bà vợ la lên, ngắt lời Bác Sĩ:
- Ôi lạy Chúa tôi, ổng lại đái vào tủ lạnh của tôi rồi!!!
Cả bọn cười bò lê bò càng. Cười lớn nhất là một chàng cao lớn, tóc vàng tên là Mike.
Anh vỗ vai tôi:
- Ê, bạn người gốc nước nào?
- Việt Nam.
Mike bật đứng dậy, bàn tay như hộ pháp chụp lên đầu tôi, nói thật lớn, nguyên văn bằng tiếng Việt đặc sệt giọng miền nam:
- Đ.M. nãy giờ sao hổng nói?
- Ủa, anh biết tiếng Việt hả?
Mike vênh mặt lên, tay phải vỗ bồm bộp vào cái ngực đang ưỡn, vẫn dùng tiếng Việt:
- Hai lần công tác Việt Nam, đem về Mỹ một cô giáo dạy tiếng Việt tại gia từ 1972, học và nói tiếng Việt từ hồi đó đến giờ, bộ ngu lắm sao mà không biết, biết rành quá đi chứ!!
Không ngờ trong bàn lại có một số cựu chiến binh Việt Nam khác, đua nhau xổ ra những câu tiếng Việt họ còn nhớ lõm bõm:
- Chòi đắt ui (trời đất ơi)
- chào cắc Ong, mành giỏi? (chào các Ông, mạnh giỏi)
- Con gái Viết Nàmdde.p lám (con gái VN đẹp lắm)
- Ngùi Viết Nàmtót lám, đi đi mao, đin - kí đàu (người VN tốt lắm, đi đi mau, điên cái đầu !)....
Riêng Mike nói tiếng Việt rất lưu loát, không hề sai một âm nào (giống như ca sĩ Delena hát tiếng Việt vậy), kể cả cách dùng chữ rất trí thức, đôi khi dí dỏm, có lúc thật tiếu lâm.
Tôi đã gặp một nhân viên Bộ Ngoại Giao rành tiếng Việt đến nỗi khi tôi đùa hỏi "Anh người gì mà nói tiếng Việt ngon lành vậy" Anh trả lời tỉnh bơ "Tôi người Bắc !".

Tôi cũng đã gặp một số người Mỹ chính gốc, thuộc giáo phái Mormon, họ thảo luận Kinh Thánh, đi truyền đạo Tin Lành bằng tiếng Việt thật trôi chảy, nhưng đó là nghề của họ.
Còn Mike, anh nói tiếng Việt bằng cả tấm lòng: tên Mỹ của tôi là Micheal, tên Việt của tôi là Mai, theo giọng Việt Nam có nghĩa là hên, là may mắn, còn giọng Việt Bắc (?) hay Việt Trung (?) có nghĩa là hoa mai, một loài hoa rực rỡ mùa xuân !
Vợ tôi vẫn thích kêu tôi là Mai Cồ, hay Anh Cồ, hoặc Cồ ơi chỉ vì tôi bự con! Con rể của nước Đại Cồ Việt mà! Một ông thày bói VN nói số tôi phải cưới vợ họ Trần vì cả đời tôi không thích mặc áo..vv và vv ... tôi há hốc miệng ngồi nghe một chàng mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng 100% Anglo-Saxon đang chơi chữ bằng chính ngôn ngữ của tôi !!!
Một đêm hội ngộ tuyệt vời, vui như chưa từng thấy từ ngày sống kiếp lưu vong.
Một tuần sau, Mike điện thoại mời tôi đến nhà.
Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: gia đình Mike gồm vợ chồng và 2 con hoàn toàn sinh hoạt theo truyền thống Việt Nam và tự nhận là người VN. Mike nói: đúng ra tôi là người Việt gốc Mỹ! Người bản xứ khi nghe tôi giới thiệu là người VN, nói tiếng VN thì họ vui lắm, vài người lúc đầu cứ tưởng nước VN ở đâu đó bên Đông Âu nên mới tóc vàng, mắt xanh!
Người gốc VN lại tưởng tôi là Mỹ lai, càng vui hơn, gần gũi hơn vì có 50% máu Việt Nam trong người mà, ai cũng vui. Mike dùng chữ "vui cả làng"!
Cả gia đình dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính.
Sống trên đất Mỹ, Mike tâm sự, nói tiếng Anh là việc đương nhiên, thế mà nhiều gia đình VN từ vợ chồng con cái đều ra vẻ hãnh diện với mớ tiếng Mỹ đôi khi trật giọng, sai văn phạm....hoặc nói đệm, câu nào cũng chêm thêm chữ Mỹ vào, trong khi cố tình lơ lớ tiếng mẹ đẻ của mình, dễ mất gốc quá, tủi hổ ông bà tổ tiên quá, uổng phí quá.
Lại có cả vài người viết văn, nhiều chữ thông thường không biết, hay giả vờ không biết, lại phải dùng tiếng Anh mới thấy dổm làm sao.
Tôi rất khâm phục những gia đình còn giữ vững truyền thống tốt đẹp VN. Tôi thấy những em bé VN thật dễ thương với tiếng Việt líu lo như chim hót nhưng tôi nhìn các em với cặp mắt bình thường nếu các em nói tiếng Anh, thật bình thường vì đây là nước Mỹ, sau này khi lớn lên phải học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Anh, họ sẽ hối hận. Tiếc quá, Mike chặt lưỡi, lập đi lập lại, tiếc quá !!
Anh có biết "bà lang kẹt" là ai không? Thế mà một ông VN đã tuyên bố tự nhiên như người Sàigòn, vào mỗi mùa Đông, trên giường của ông phải có ít nhất hai bà lang kẹt ngủ mới đã, mới đủ ấm !?!?
Mai Liên, vợ anh, một sinh viên Đại Học Cần Thơ sinh quán Sóc Trăng.
Hai người quen nhau khi Mai Liên đi học thêm Anh ngữ trong một lớp do chính Mike phụ trách phần đàm thoại và luyện giọng. Thế rồi hai người yêu nhau nhưng không thể tiến đến hôn nhân vì gia đình hai bên đều không tán thành.

Mike phải xin trở lại Việt Nam lần thứ hai, kiên trì thuyết phục cha mẹ Mai Liên bằng chính tiếng Việt anh đã học được từ người tình. Cuối cùng không những cha mẹ, anh chị em của Mai Liên mà cả bà con xóm giềng cũng hài lòng với "thằng Cồ" vui tánh dễ thương lúc nào, nơi nào cũng pha trò được.
Riêng gia đình Mike lúc đầu vẫn chưa mấy thiện cảm với người dâu dị tộc. Hai vợ chồng son cố gắng sống hòa hợp với mọi người, không tỏ ra khó chịu mà còn thấy vui vui với cái tên Liên vài người cố tình đọc trại thành Alien (=người lạ).

Chẳng bao lâu sau tình thế hoàn toàn đảo ngược. Khi cha mẹ Mike dọn vô nhà dưỡng lão chỉ có vợ chồng Mike thăm viếng thường xuyên.
Ông bà rất cảm động, thỉnh thoảng lại công khai ngỏ lời xin lỗi Mai Liên và giới thiệu với mọi người Liên là đứa con gái yêu quý nhất.
Bốn gia đình anh chị của Mike tan vỡ hết ba, sự kiện phổ thông với trên 60% gia đình Mỹ bị rắc rối trong hôn nhân. Cứ một lần li dị lại một lần chia gia tài, riết giống như chuyện thường tình. Tuy nhiên, có điều lạ là sau khi chia tay, họ vẫn liên lạc qua lại với nhau, coi nhau như bạn, không ai ghen tuông gì hết.

“Tạ ơn trời đất (Mike không dùng chữ Chúa) tôi có được một bà vợ tuyệt vời. Liên lo lắng chăm sóc tôi kỹ lắm từ mọi sinh hoạt đến từng miếng ăn hàng ngày. Tôi đã quen và rất thích thức ăn Việt Nam. Rất hợp lý nếu ta không biết kiêng cữ, cứ ăn tầm bậy là đưa đủ thứ bệnh tật vào thân thể mình thôi. Anh ăn cái gì anh sẽ như thứ ấy (1).
Ăn nhiều rau, đậu, trái cây tươi, da thịt anh sẽ tươi. Anh ăn mỡ, cơ thể anh sẽ phải đeo mỡ (2).
Tốt nhứt nên ăn chay. Gia đình tôi ăn chay mỗi tuần một lần, nhiều nhất là các loại rau. Đồ chay Liên làm ngon lắm. Món nào cũng ngon, cũng tốt cho sức khỏe vì Liên chỉ dùng dầu olive thay cho mỡ động vật, không mặn lắm, không ngọt quá như đồ ăn Mỹ, nhất là hoàn toàn không dùng bột ngọt. Đặc biệt nước mắm ăn riết rồi mê luôn nhưng điều cần thiết nước mắm mua ở chợ về phải đem nấu cho sôi lên rồi đổ lại vô chai xài vì trong nước mắm có thể có nhiều siêu vi trùng, nhất là siêu vi bệnh gan, các loại mắm cũng vậy.
Chế độ ăn uống như thế làm sao bị phát phì như ba phần tư dân Mỹ hiện nay. Đến như con nít trên 6 tuổi thì phân nửa đã vượt quá trọng lượng được coi là mập rồi. Còn về thẩm mỹ, Anh thấy không, thông thường da người Mỹ trắng lại quá trắng, trắng nhễ nhại (?!)trắng như Bạch Tuyết nên trông có vẻ yếu đuối, bệnh tật, vì vậy họ phải đi phơi nắng ngoài biển hay vô các phòng nhuộm da trong các tanning clubs để cho da họ có màu đồng nâu hay màu bánh mật, nhìn rất khỏe mạnh, thể thao hơn, mốt thời thượng mà! Bà xã tôi được Trời Đất thương cho cái màu tự nhiên đó từ bé nên Ông Bà Ngoại sắp nhỏ mới đặt cho cái tên Mai Liên, anh đọc lái lại coi?!”
Nghe đến đây chính tôi đã phải kêu lên: chu choa mệ tổ ơi, mần răng mà cái chi mô anh cũng biết hết rứa chừ hết biết luôn.
Mike hiện nguyên hình một "chú Sam" há hốc miệng "Wh...what? What d'you say?"
Ngay sau khi dành thắng lợi đem được Mai Liên về Mỹ, Mike giải ngũ. Liên đi làm 2 nghề khác nhau cho phép Mike trở lại Đại Học lấy xong bằng Kỹ Sư Điện Tử.
Mike rất vui mỗi lần nhắc lại giai đoạn này:
tôi sướng như Ông Trời con, ngày ngày đi học, còn Liên cực lắm, hy sinh vừa đi làm vừa lo cho tôi còn hơn Ba Má tôi ngày xưa, dĩ nhiên tôi yên tâm học xong rất nhanh.
Bên Mỹ này anh muốn học là phải được, muốn học gì cũng được, muốn lấy bằng gì cũng có, chỉ cần anh có ý thích và có ý chí. Anh có thể học toàn thời gian, bán thời gian, học hàm thụ hay học ngay cả trên online. Không có tiền thì Chánh Phủ hoặc một cơ sở, một công ty hay một tổ chức nào đó ứng tiền cho mượn nếu đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên khi nộp đơn xin việc làm, người chủ chỉ căn cứ một phần trên bằng cấp, còn phần lớn dựa trên kinh nghiệm việc làm đã qua và sự giới thiệu, phê bình của các chủ cũ.

Tôi là cựu chiến binh, gần lấy xong bằng Kỹ Sư thì hãng Điện Tử Intel đã nhận trước rồi.
Năm đầu tiên tôi đi làm Liên chỉ còn làm một nghề, đến năm thứ hai Liên nghỉ việc hoàn toàn để đi học ngành Y tá. Đó là lý do chúng tôi chậm có con và chỉ có hai đứa.
Bên Mỹ này nghe nhà nào có 3,4 con là thiên hạ lắc đầu, le lưỡi liền. Có bầu, sanh con thật dễ dàng nhưng khó nhất, đau đầu nhất là vấn đề giáo dục, không dạy dỗ con được thì lại đổ thừa "cha mẹ sanh con, Trời sanh tánh", chưa chắc vậy đâu !
Có rất nhiều gia đình nuôi con đến 18 tuổi là bắt nó phải tự lập, nghĩa là đẩy nó ra ngoài xã hội, xét cho cùng điều này cũng có phần tốt.
Vì vậy, cũng rất công bằng khi bố mẹ già yếu, đến phiên chúng nó sẽ đẩy bố mẹ vô nhà hưu dưỡng thôi!
- Mai Lan ơi, ra chào chú đi con, Mike gọi.
Một cô gái Mỹ đẹp như tài tử điện ảnh Hollywood tươi cười bước ra, hai tay khoanh trước ngực, đầu cúi xuống, nói bằng tiếng Việt rất chuẩn:
- Cháu tên Mai Lan, cháu chào chú.
Tôi đứng dậy, Mai Lan bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay:
- Chú tên là Long, Chú rất hân hạnh được biết cháu, được quen biết gia đình cháu, một gia đình tuyệt vời, cháu là một cô gái tuyệt vời. Cháu có về VN lần nào chưa?
- Dạ, cám ơn lời khen của Chú. Cháu đã về VN hai lần. Năm rồi cháu đi VN miễn phí.
- Sao vậy?
- Cháu có hai người bạn, hai chị em, bố mẹ họ là người Việt, hai bạn cháu không rành tiếng Việt nên bao cháu đi chung về VN để làm thông ngôn. Vui quá chừng. Bà con chòm xóm dưới quê cứ nhìn cháu chằm chằm: sao kỳ quá hè, Mỹ nói tiếng Việt còn Việt đặc thì bù trất, kỳ hén !
Lại nữa, Mỹ thì tên Việt còn Việt lại lấy tên Mỹ, ngộ ghê!!
Cháu dịch lại cho hai đứa bạn nghe, tụi nó mắc cỡ quá, về đến Mỹ bắt đầu học tiếng Việt ngay.
Ba má tụi nó kèm riết, cháu cũng dạy thêm, bây giờ nói được hơi nhiều rồi. Hè năm nay tụi cháu lại về VN nhưng lần này cháu phải trả tiền vé máy bay vì bạn cháu không cần thông ngôn nữa, thông ngôn thất nghiệp rồi !!
Ông bà ngoại cùng gia đình mấy Cậu, mấy Dì thương cháu lắm. Cũng có thể sẽ có anh Liêm đi cùng.
- Liêm là ai?
- Anh Hai cháu. Ảnh tên là Uy Liêm.
- Có phải đó là phiên âm tiếng Việt của chữ William không?
- Dạ đúng
- Thế anh cháu thích tên nào?
- Cả nhà cháu thích tên Uy Liêm hơn vì đa số tên riêng của Mỹ không có ý nghĩa gì hết, thường được bắt chước từ trong Kinh Thánh. Còn tên VN có lồng nghĩa trong đó, có khi mang cả ước vọng của cha mẹ đặt ở người con.
- Vậy Uy Liêm nghĩa là sao? Tôi giả vờ hỏi.
- Uy là uy phong, uy nghi, uy quyền, uy lực... còn Liêm là liêm chính, liêm sỉ, thanh liêm.
Người có quyền uy thì phải liêm chính. Người ta khi có chút quyền chức thường hay sanh tật xấu, rồi tham nhũng, rồi phách lối.
Ba má cháu muốn anh Hai khi nào có địa vị lớn thì phải sống thanh liêm.
- Anh hai cháu đã có địa vị lớn chưa?
- Dạ ảnh chỉ mới là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang chiến đấu ở Iraq. Còn 4 tháng nữa ảnh sẽ xong nghĩa vụ, khi trở lại Mỹ, được nghỉ phép, anh Hai sẽ theo tụi cháu về thăm Ngoại.
- Anh Hai có biết tiếng Việt không?
- Hết sẩy Chú ơi, dù dở nhứt nhà nhưng cũng gần ngang tầm với Ba cháu ...
Mike ngồi nghe tôi khảo hạch cô con gái, miệng cứ tủm tỉm cười.
Tôi thật sự cảm động, nếu không nói là choáng váng, cứ ngây người ra. Giả sử có ai đó kể tôi nghe về một gia đình như thế này, về một cô gái Mỹ thế này, về một Đại Úy Đại Đội Trưởng TQLC Mỹ như vậy... chắc chắn tôi không thể tin vì tôi đã phải chứng kiến nhiều hoàn cảnh trái ngược.
Có lần, vừa bước vô nhà một người bạn VN, ngay tại phòng khách treo một tấm bảng bằng carton với chữ: "No Vietnamese!" tôi ngập ngừng, hơi tái mặt, rồi lẳng lặng, chẳng nói chẳng rằng bước ra ngoài. Chủ nhà chạy theo đon đả.
Tôi nuốt nước miếng cho dằn cái gì đó nghèn nghẹn trong cổ họng rồi chậm rãi: có phải ông không muốn tiếp khách người VN hay ông không cho phép ai ngồi trong phòng đó nói tiếng Việt ?
Anh ta phân bua: tôi chỉ muốn bà Xã và các cháu luyện tiếng Anh cho thật nhuyễn để mau thành dân Mỹ thôi !?!?
Vậy nếu ông vào một nhà hàng, một công viên, lên máy bay, xe lửa, xe buýt hay vô nhà một người Mỹ nào đó, ông thấy hàng chữ này, ông hiểu nó thế nào?!?!
Cách đây vài chục năm, khi tình trạng kỳ thị chủng tộc còn tồn tại trên đất nước Mỹ, người ta thường thấy trên xe buýt hay công viên có đeo bảng: No dogs and negroes (cấm chó và người da đen). Đến thập niên 60 mới chấm dứt. Bây giờ ông treo "No Vietnamese" trong phòng khách nghĩa là làm sao?!?!
Ông ta gỡ bảng xuống liền.
Ông bà này nghe nói qua Mỹ có mấy năm đã về VN xum xue, bà con bên nhà ngạc nhiên thấy ông và gia đình lột xác nhanh quá, sức mạnh một đại cường quốc có khác.
Bên này cả hai ông bà đi làm vệ sinh, quét dọn trường học, về VN khoe làm trong ngành giáo dục nên rất ít nói tiếng Việt.
Riêng dân Mỹ hay người VN tại Mỹ chỉ nghe âm Mít đặc, không cần nhìn, đều biết ngay ông chánh gốc là "dân địa phương" Alaska vì, mười câu hết chín, ông đều nhắc đến tên một thành phố lớn của Tiểu Bang này: Du nô (3).
Nhưng thôi, đây là đất nước tự do mà! Tự do dân chủ với lưỡng đảng đàng hoàng.
Mike thường nói đùa với tôi "coi dzậy chứ hổng phải dzậy mà còn quá cha dzậy nữa" khi đề cập đến hệ thống lưỡng đảng của Hoa Kỳ hiện nay.
Cứ nhìn vô gia đình Thống Đốc Tiểu Bang California: Ông chồng Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa trong khi bà vợ lại theo Dân Chủ. Khi làm việc, hai đảng kiểm soát lẫn nhau như vợ theo dõi chồng, như chồng để ý coi chừng bà vợ.

Nhưng khi có những sự kiện trọng đại liên quan đến an ninh đất nước, đến sự tồn vong của quốc gia, đến sự sống còn của dân tộc Hoa Kỳ thì hai đảng chỉ là một như sau vụ 9/11 mấy năm trước đây. Hình như có một thứ siêu chính quyền đâu đó quyết định tất cả, tương tự ảnh hưởng nội ngoại trên hai vợ chồng giữ cho hạnh phúc lứa đôi bền vững, từ đó nuôi dạy con cái thành công, kinh tế gia đình thịnh vượng, cho nước Mỹ chỉ mới hơn 200 năm lập quốc đã tiến lên bá chủ hoàn cầu. Nước Mỹ đang đứng nhất trên toàn thế giới về mọi phương diện nhưng rất tiếc, nhất luôn về vô luân thường, vô đạo lý và nhất luôn về cả lãnh vực tội phạm!
Đấy, Mike hướng dẫn cho tôi nhiều, rất nhiều điều, nhiều chuyện.
Chúng tôi ngày càng thân hơn khi biết tôi ngày xưa cũng có một thời gian đi dạy học. Vợ chồng Mike và cháu Lan lại thích tìm hiểu sâu xa tiếng Việt hơn qua những từ ngữ Hán Nôm mà tôi đã được Ông Ngoại, một Cử Nhân Hán Văn, khoa thi cuối cùng, dạy dỗ.
Nhờ vợ chồng Mike, tôi thực sự hội nhập vào xã hội Mỹ lúc nào không hay. Từ sự nhiệt tình giới thiệu của Mike, tôi được một chân Technician trong hãng Merix ở Forest Grove. Một năm sau, Mike khuyến khích và hướng dẫn vợ chồng tôi mua một cơ sở kinh doanh riêng ngay trung tâm thành phố Tigard đến nay đã tròn 12 năm.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi nhanh như những áng mây ngoài khung trời rộng. Thênh thang như giấc mơ Hoa Kỳ của gia đình tôi liên tiếp nở hoa.
Cho đến một ngày... Tin như sét đánh ngang tai. Hai vợ chồng Mike vừa qua đời trong một tai nạn xe! Cháu Lan gọi báo cho tôi bằng tiếng được tiếng mất, tức tưởi, nghẹn ngào.
Một anh Mễ nhập cư bất hợp pháp say rượu lái xe vào đường cấm ngược chiều. Xe Toyota Camry của vợ chồng Mike nằm bẹp dí dưới gầm chiếc xe tải F350 chở đầy đồ nghề làm vườn cắt cỏ.
Toán cấp cứu phải cưa xe mới đem được hai người ra nhưng cả hai đều đã tắt thở vì sức va chạm quá mạnh và vì vết thương quá nặng....
Lại thêm một nhức nhối của người Mỹ trước làn sóng nhập cư bất hợp pháp... lại thêm một vết đen tệ nạn say rượu, say xì ke lái xe DUII (4) ngày càng nhiều....
Tang lễ thật đơn giản gồm đa số người quen gia đình, bạn bè làm chung Intel với Mike và đồng nghiệp trong bệnh viện của Mai Liên.
Cháu Uy Liêm được thông báo từ Iraq về để vừa kịp nhìn cha mẹ lần cuối trước khi đóng nắp quan tài.
Trời Oregon chiều nay mưa buồn day dứt. Nghĩa trang Finley Sunset Hills với những dốc thoai thoải quay về hướng Tây, về hướng Thái Bình Dương mà tận cùng bên kia bờ có một vùng đất mang tên VN, quê hương yêu dấu của Mike và Mai Liên suốt cả đời người. Gió buốt miên man như xoáy sâu vào tận xương tủy. Như chưa bao giờ.
Vài tia sáng yếu ớt long lanh trên những ngọn cỏ đầm đìa. Mắt tôi nhạt nhòa trong cái lạnh tái tê. Cũng xong một kiếp trong vô lượng luân hồi. Một chút gì đó có lẽ hai người đang hài lòng là vẫn còn được đi chung với nhau, vẫn còn được tay trong tay, cùng qua một thế giới khác, hy vọng sẽ tốt đẹp hơn.
Ít nhất về vật chất bây giờ xác hai người vẫn còn được nằm bên nhau, hai ngôi mộ song song, cùng nhìn về quê hương VN tít mù xa thẳm cuối chân trời.

Riêng tôi lòng trĩu nặng mối ân tình chưa thanh thỏa.
Trong suốt cuộc đời còn lại, dù còn sống trên đất Mỹ này, hay giang hồ đó đây, hình ảnh tươi vui khỏe mạnh, tràn đầy sinh lực, gương mặt dễ thương, cử chỉ ân cần, lời nói nhã nhặn nhiệt tình và đặc biệt ân nghĩa của vợ chồng Mike đã dành cho gia đình tôi chắc chắn sẽ khó phai mờ.
Cám ơn Michael Erickson. Cám ơn Mai Liên Trần.
Xin tạm biệt.

NGUYỄN THẾ THĂNG

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Mục Tiêu Cao Cả của Bậc Cao Tăng Đất Việt
Thor Halvorssen viết về Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ
PARIS, ngày 27.4.2010 (PTTPGQT) - Ngày 16.3 vừa qua, ông Thor Halvorssen, Chủ tịch Sáng hội Nhân quyền nổi danh có trụ sở đặt tại thành phố New York, Hoa Kỳ (New York-based Human Rights Foundation), đồng thời cũng là người sáng lập Diễn Đàn Tự do Oslo (The Oslo Freedom Forum) đến Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon vấn an Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, mời Hòa thượng sang dự Hội nghị Diễn Đàn Tự do Oslo tổ chức tại thủ đô Oslo, Vương quốc Na Uy ngày 28.4. Nhưng hiển nhiên trong tình trạng quản chế hiện nay, Hòa thượng không thể rời nước.
Image
Ông Thor Halvorssen.
Do đó, ông đã có dịp hàn huyên với Hòa thượng trong vòng ba tiếng đồng hồ về hiện trạng nhân quyền và đàn áp tôn giáo tại Việt Nam. Cuộc nói chuyện đã biến thành cuộc phỏng vấn có ghi hình.

Thế nhưng vào lúc xế trưa, vừa ra khỏi Thanh Minh Thiền viện, ông Thor Halvorssen liền bị bốn công an mặc thường phục nhảy xô đến, miệng vừa la hét “Tại sao mày vào chùa ? Mày vào chùa làm gì?” tay vừa thụi vào lưng ông đến bầm tím. Chúng áp giải ông về đồn công an quận Phú Nhuận. Tại đây một sĩ quan vai đeo lon năm sao thẩm vấn suốt 90 phút bằng tiếng Anh, vẫn là những câu hỏi không ngừng : “Tại sao vào chùa… Vào chùa để làm gì ?, v.v…”. Ông Thor Halvorssen giải thích rằng ông là Phật tử, nên thấy chùa là ông vào thăm. Sĩ quan Công an bảo rằng : “Thanh Minh Thiền viện không phải là chùa thật, không được Nhà nước công nhận, tại sao không vào các chùa khác?”. Ông Thor Halvorssen chỉ được trả tự do khi ông nói thẳng với Công an rằng “Không thả tôi ra các ông sẽ gặp khó chứ tôi chẳng bị khó khăn gì đâu”. Qua cuộc điện đàm ông cho Phòng Thông tin Phật giáo Quốc biết là rất đông công an mặc thường phục cũng như sắc phục theo dõi thường trực trước mặt tiền Thanh Minh Thiền Viện.

Sự kiện nói trên đã được ông Võ Văn Ái ghi nhận trong văn bản gửi đến cuộc điều trần của Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos tổ chức tại Quốc hội Hoa Kỳ ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn hôm 23.3.2010 dưới đề tài “Nhân quyền và Tự do tôn giáo tại Việt Nam”, mà ông Ái đã bình luận rằng :

“Sự kiện hôm 16.3 đối với ông Thor Halvorssen cho thấy chính sách tôn giáo hai mặt của Hà Nội đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ bị quản chế không hề được xét xử, chưa có tòa án nào phán xét tội danh ngài. Tại diễn đàn LHQ hay trên các diễn đàn quốc tế, Hà Nội không ngừng khẳng định Hòa thượng không bị giam giữ, quản chế, Hòa thượng “hoàn toàn tự do”. Thế mà nay sự thăm viếng của một người ngoại quốc - ông Thor Halvorssen - bị xem như phạm pháp, bị câu lưu, hăm dọa, hành hung và thẩm vấn ?! Nếu Việt Nam cư xử với một người ngoại quốc như thế, thử hỏi sự hành xử miệt thị của nhà cầm quyền Cộng sản còn bi thiết như thế nào đối với 86 triệu công dân Việt Nam ?”.

Cuộc thăm viếng đã được ông Thor Halvorssen viết thành bài “Mục tiêu cao cả của bậc Cao tăng đất Việt” (The Noble Prupose of a Vietnamese Monk) đăng trên tờ The Huffinton Post và cũng là lời dẫn nhập cho cuốn phim phỏng vấn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ sẽ trình chiếu tại Hội nghị Diễn Đàn Tự do Oslo vào ngày 28.4.2010.

Bài viết được Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế Việt dịch sau đây :

Mục tiêu cao cả của bậc Cao Tăng đất Việt

Viết từ Saigon, Việt Nam – Nhắc tới Việt Nam, đa số khách bàng quan chỉ nghĩ đến máy bay trực thăng Mỹ trang bị súng ống lượn vòng trên đồng bằng sông Cửu Long truy kích lính Việt Cộng. Cuộc chiến đó chấm dứt vào cuối tháng Tư năm 1975 khi bộ đội Hồ Chí Minh chiến thắng bước vào Saigon. Mẫu trực thăng Mỹ vẫn còn đó và được chưng trong Viện bảo tàn di sản chiến tranh, cạnh những hình ảnh sưu tập hằn bóng chiến tranh. Buồn thay, vẫn còn ở đây một chính quyền Cộng sản rêu rao giải phóng cho một dân tộc 82 triệu người.

Đã 35 năm hơn cho lời hứa hẹn giải phóng ấy, nhưng Việt Nam vẫn còn bị một đảng thống trị. Không ai được quyền phê phán nhà nước, và những xã hội dân sự chính yếu đều phải hoạt động trong vòng kiểm soát của cơ cấu chính quyền. Báo chí đăng tải những tin tức chính trị xẩy ra bên Thái Lan hay ở Úc châu hơn là những chuyện đang xẩy ra tại Việt Nam. Chẳng thấy đâu công đoàn độc lập, và bất cứ ai kêu gọi cho nhân quyền hay dân chủ đều bị tống giam - thường quy cho tội “xâm phạm an ninh quốc gia”. Hàng trăm nhà bất đồng chính kiến chính trị và tôn giáo bị cầm tù, nơi diễn ra những cuộc tra tấn.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị cao tăng Phật giáo 81 tuổi, là một trong những nhà bất đồng chính kiến ấy. Chuyện đời Hòa thượng là một chuỗi đấu tranh ôn hòa cho tự do và dân chủ Việt Nam - mà cũng là sự kiên trì nhẫn nại trước cuộc đàn áp khắc nghiệt của nhà nước như lời đáp-trả bức thông điệp của Hòa thượng.

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ là Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tổ chức bị chính quyền cấm đoán. Hòa thượng là biểu tượng kết liên của phong trào dân chủ sôi sục dưới đáy tầng đàn áp của chế độ độc tài Việt Nam. Hòa thượng đã trở thành một trong những người bảo vệ chính trực cho dân chủ và nhân quyền, và đang thách thức chính quyền thông qua những kiến nghị gọi kêu cuộc thảo luận trên lĩnh vực cải cách dân chủ và nhân quyền.

Tôi đã gặp Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ tại ngôi thiền viện ngài bị chính quyền quản chế. Tôi đến để thu âm lời chứng của ngài cho hội nghị nhân quyền mà ngài không được phép sang tham dự.

Câu chuyện của đời ngài giàu ấn tượng

Vào năm 17 tuổi, Hòa thượng chứng kiến bổn sư ngài bị bộ đội Hồ Chí Minh bắt nơi ngôi chùa Linh Quang là ngôi chùa đầu đời của ngài. Một tấm biển treo trên cổ với chữ “Bán nước”, rồi ba phát súng lục bắn vào màng tai sư phụ ngài. Hòa thượng nói với tôi rằng kể từ giây phút ấy, ngài cảm nhận chế độ độc tài cộng sản sẽ không tồn tại lâu dài. Hòa thượng nói “Họ thảm sát, họ ly tán gia đình, họ bóp nghẹt tự do, và xử tội tình yêu… một cách dã man, thì đó không thể là nền tảng xây dựng nên thể chế chính trị. Nhân dân ruồng bỏ sự vô đạo và ác độc”. Hòa thượng đoan quyết rằng, người cộng sản có đề cao mục tiêu phục vụ cao cả nào chăng nữa, ngài chẳng bao giờ chấp nhận bạo lực, thù hận và sự kỳ thị. Hòa thượng bỏ cả đời mình đấu tranh chống lại sự bất bao dung. Hòa thượng giải thích rằng, “Những chi lợi ích cho nhân loại mới có thể tồn tại. Đó là lý do vì sao Phật giáo tồn tại từ hai nghìn năm trên đất nước này. Và vì sao độc tài sẽ chấm dứt một ngày gần đây”.
Image
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, ảnh của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế.
Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã phải trả giá đắt cho cuộc hành hoạt của ngài. Tổng cộng 28 năm trong cảnh tù đày - dài hơn những ngày tù của Nelson Mandela ở Nam Phi. Trải hơn chục lần ngài bị đánh đập, tra khảo, và biệt giam. Ngày nay, chính quyền thường rêu rao ngài được tự do, nhưng ngài ví cuộc quản chế ngày nay như “con cá trong chậu - tôi có thể đi đứng quanh liêu phòng của tôi - nhưng hãy liệu hồn nếu tôi muốn nhảy thoát hòng nếm mùi vị tự do bên ngoài”.

Sự dấn thân kiên định của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cho sự thật, là lý do làm cho thế giới biết đến hoàn cảnh của một triệu người tù gửi vào các Trại Cải tạo Việt Nam, mà chẳng bao giờ được xét xử trước tòa án. Sự phản kháng và lên tiếng của Hòa thượng đã đưa ngài tới chốn lưu đày trong ngôi chùa hoang lạnh lẽo ở miền Bắc. Chính quyền đưa cả bà mẹ già 84 tuổi của ngài cùng ngài đến đấy. Bà đã chết trong cái chết khủng khiếp vì lạnh và đói năm 1985. Hòa thượng cảm thấy trách nhiệm trong sự khổ đau của mẹ mình. Hầu như mọi thành viên của gia đình ngài đều chết trong tay của quyền chính - vì họ chẳng chịu chối từ nguồn đạo Phật họ tôn thờ.

Trong thông điệp bí mật chuyền ra nước ngoài Hòa thượng nói rằng :

“Nhân quyền là quyền của mỗi con người được sống tự do và được tôn trọng như những thành viên của xã hội. Nhưng Việt Nam ngày nay không có tự do. Chúng tôi là những người tù ngay trên quê hương của chúng tôi, ngay trong ngôi chùa, trong mỗi căn nhà của chúng tôi - tù nhân của một chế độ giữ độc quyền cho phép chúng tôi ăn nói hay bắt chúng tôi cầm mồm, ban phát cho chúng tội quyền tự do hay bắt chúng tôi bỏ tù. Tất cả chúng tôi là tù nhân của chế độ từ sau 35 năm chiến tranh chấm dứt, một chế độ tiếp tục cuộc chiến tranh chống lại nhân dân họ, đồng thời cướp giật mọi nhân quyền cơ bản của người công dân. Thiếu dân chủ và đa nguyên, chúng tôi chẳng sao diệt trừ sự nghèo đói và bất công, cũng không sao phát triển thực hữu và đem lại tiến bộ cho dân nước tôi. Thiếu dân chủ và đa nguyên, chúng tôi không thể bảo đảm cho quyền con người, vì nhân quyền không thể bảo đảm khi chưa được những thiết chế dân chủ và pháp quyền bảo vệ”.

Trong quá khứ, những khách ngoại quốc như bà Dân biểu bang California, Loretta Sanchez, bị chận bắt khi vào Thanh Minh Thiền viện. Năm 2006, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ nhận được Giải Nhân quyền Quốc tế Rafto, một giải nhân quyền ở Vương quốc Na Uy thường dễ trở thành Giải Nobel Hòa bình trong tương lai (như trường hợp đã xẩy ra đối với bà Aung San Suu Kyi ở Miến Điện, ông José Ramos Horta ở Đông Timor, bà Shirin Ebadi ở Iran, ông Kim Dae-jung ở Đại Hàn). Vị Giám đốc Điều hành của Sáng hội Rafto đã bị bắt khi bước vào Thanh Minh Thiền viện để trao giải cho Hòa thượng.

Còn trường hợp của tôi, thì bị bắt khi vừa ra khỏi Thanh Minh Thiền viện. Công an mặc thường phục đứng chờ bên kia đường trước mặt Thiền viện, họ đã bắt tôi đưa về đồn công an. Rốt cuộc tôi cũng được trả tự do - nhưng chỉ sau khi họ thẩm vấn tôi suốt một giờ đồng hồ về sự kiện vì sao tôi đến chùa. May mắn thay, một sự lơ là khiến cho người bạn đồng nghiệp của tôi, người điều khiển máy quay phim, đã kịp trốn thoát qua một cửa cạnh chùa.

Đoạn phim mà chúng tôi ghi được ở Thanh Minh Thiền viện sẽ được trình chiếu ở thủ đô Oslo, Vương quốc Na Uy, vào ngày 28.4, tại Đại hội Diễn Đàn Tự do Oslo. Và cũng sẽ được đưa trực tuyến lên Trang nhà www.oslofreedomforum.com.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Nguồn Gốc Dân Tộc Việt

Linh Vũ
- Ðọc qua một số ý kiến của đọc gỉa trên web Calitoday.com về bài viết của bà TS Sử Ðỗ Ngọc Bích với những lời chỉ trích năng nhẹ, tôi xin góp một số ý kiến sau đây : Sở dĩ họ nói nặng lời với bà là vị học vị của bà khá cao trong ngành sử học. Ðiều thứ hai là bà đã kết luận một cách quá hàm hồ, sai lạc về sử liệu mà hiện nay chưa có một chứng minh hay bằng chứng nào rỏ ràng về nguồn gốc dân tôc Việt. Ðiều này nếu bà là người không có học vị cao, hay không phải là người trong ngành nghề sử học thì chẳng ai quan tâm đến làm gì. Và nhất là chủ trương Hán hóa hiện nay của Trung Cộng trên toàn vùng Ðông Nam Á.

Hôm nay, tôi xin muốn góp ý với bà một bài viết gọi là chia xẻ về nguồn gốc dân tôc Việt để chúng ta có cái nhìn rộng hơn. Tôi nêu vấn đề này không phải vì tự ái dân tôc, hay vì một lý do nào khác của cá nhân, mà vì chúng ta đang sống trong thế kỷ 21th với đà văn minh của nhân loại, khoa học đã tiến bộ, nhiều tài liệu đã được bạch hoá, nhiều công trình nghiên cứu đã được chứng minh, cho nên những gì là sự thật hãy trả lại cho sự thật một cách công bằng. Trung Cộng đã sửa đổi sử liệu nhiều lần, giấu diếm những sai trái của lịch sử, phá hủy di tích lịch sử và xoá bỏ nền văn hoá Việt Nam và một số các quốc gia khác trong nhiều ngàn năm qua, rổi sau đó tự sửa đổi và tự nhận là của mình và cho mình là rốn của vũ trụ. Nhất là chủ trương ‘Thiên Triều chủ nghĩa’ của Trung Cộng hiện nay. Bây giờ tôi xin tóm gọn một số chi tiết vế nguồn gốc dân tôc Việt qua nhiều tài liệu mà tôi đọc được và tôi tin rằng đủ tính thuyết phục.

Lãnh vực lịch sử là một phạm trù qúa rộng lớn và khó khăn không thể một sớm một chiều có thể kết luận được mà nó phải có nhiều yếu tố kết hợp lại mới khả dĩ đáng tin cậy. Nếu muốn nghiên cứu về lịch sử chúng ta cần phải phối hợp nhiều cách khoa học như sau đây :

Khảo cổ học, Nhân chủng học, Huyền thoại học (mythology) huyền sử, huyền thoại), Lịch sử/ngôn ngữ/văn hóa/tập tục. Ðịa chất học/ Ðịa lý học, Thiên Văn/Khí Tượng học, Di truyền học.v.v. Bởi vậy các nhà khào cổ nghiên cứu về lịch sử của ta như Ðào Duy Anh trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Luợc hay Bình Nguyên Lộc đều là những người có tài cả nhưng kết luận của họ đều không được chính xác thiếu yếu tố chứng minh. Ngay cả nhà nghiên cứu người Pháp ông L’Arousseau, Maspéro cũng đều không có những dự kiện đủ để thuyết phục, cũng giống như Tư Mã Thiên và Hoài Nam Tử đứng trên diện kẻ chiến thắng để viết sử. Và tệ hơn nữa gần đây ở Việt Nam một số người tự cho là làm chính trị là hiểu biết nhiều như ông Nguyễn Gia Kiểng đã viết trong ‘Tổ Quốc Ăn Năn’ cho là nước Văn Lang là do người Trung Quốc sáng lập thật buồn cười. Sở dĩ có những nhận định như thế là vì sự nghiên cứu chưa đến tận gốc rễ, không có dữ kiện khoa học chứng minh và nhất là trong đầu của mỗi người Việt Nam khi hỏi đến nguồn gốc dân tôc VN, câu trả lời sẽ là từ Trung Quốc. Có lẽ cái quan niệm đó đã ăn sâu trong tâm trí người Việt chúng ta, cho nên nền văn minh dân tộc Việt cũng bị nghiễm nhiên trở thành của người Trung Quốc. Chính những sai lạc này người Trung Quốc rất mong muốn trong chính sách của họ ngày hôm nay.

Vì những lý do chúng ta im tiếng, không ai dám đưa ra những chứng minh cụ thể vì sợ rằng người ta sẽ cho mình là người ngu dốt, hay những ý kiến sai lạc như bà Ðỗ Ngọc Bích trên BBC sẽ tạo thêm lý do để người Tầu khinh miệt, trịch thượng, kỳ thị. Như trước đây họ đã xem dân tôc chúng ta như một loài cầm thú.

Các nhà trí thức Việt Nam rất dễ giải chấp nhận những sử liệu ngoại bang cho nên đã vô tình gieo vào đầu của những tầng lớp trẻ sau này một tâm lý tự ti.

Mỗi lần so sánh các nền văn hóa khác như của Tây, Mỹ, Tầu, Anh.v.v thì lúc nào của họ cũng là số một, mặc dù có rất nhiều điểm sai.

Chúng ta hãy xem lối nhận định của các nhà học giả Tây Phương đối với nền văn minh Ðông Nam Á ra sao, họ cho rằng tất cả đều xuất phát từ hai nước lớn nhất là Ấn Ðộ và Trung Hoa, nhưng hôm nay có nhiều khám phá mới về khảo cổ đã chứng minh được nền văn minh qua các thời cổ đại không như họ suy nghĩ. Cho nên những nhận định của các học giả Tây Phương về văn minh Ðông Nam Á không còn đứng vững.

Hiện nay có 04 gỉa thiết nói về nguồn gốc dân tộc Việt như sau :

1- H. Maspéro, O. Jansé, Lê văn Siêu,... cho rằng:”Người Việt Nam có nguồn gốc bản điạ.”

2- Theo L. Arousseau, Đào Duy Anh, ... cho rằng: ”Người Lạc Việt từ đường biển, và người Thái từ Quảng Tây và Vân Nam di cư đến Bắc Việt, và vì có văn hóa cao hơn nên đồng hóa thổ dân Indonésien.”

3- Theo G. Coedès, H. Kahlke, Bình Nguyên Lộc,... thì người Việt Nam gốc từ vùng Tây Tạng.

4- L, Finot lại cho “Người Việt có liên quan với cư dân các quần đảo Thái Bình Dương.”

Thuyết chủ trương cho rằng người Việt có nguồn từ phương Bắc đi xuống như một học giả người Pháp ông Edouard Chavannes, Leonard Aurousseau và một số học giả Việt Nam đó là thuyết về nhân chủng dựa trên nền văn minh dân tôc Hán có trước dân tôc Việt. Chúng ta không hiểu họ đã căn cứ vào những yếu tố và bằng chứng nào để kết luận rằng người Trung Hoa có trước người Việt Nam như là một chân lý bất biến. Hiện nay những gỉả thuyết đó sai sự thực, nhiều điều trái ngược cho nên không còn đứng vững.

Căn cứ vào kết quả của Hội nghị Berkeley 1978 nghiên cứu về nguồn gốc văn minh Trung Hoa, căn cứ vào những phát minh khoa học mới nhất về khảo cổ học, nhân chủng học, di truyền học (DNA), ngôn ngữ học, cả những sưu tầm về phong tục tập quán ở phần đất nay thuộc hai quốc gia khác nhau.

Nếu xét trên phương diện : Khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, huyết thống di truyền học, cả về phong tục tập quán, đều chứng tỏ Ðại Tộc Bách Việt đã có trước, cũng đã cư ngụ tại phần đất nay là đất nước Trung Hoa, ít nhất từ phía nam sông Hoàng, trước Hán tộc. Và văn minh Bách Việt, căn bản là văn minh định cư trồng lúa nước, cũng đã có trước văn minh Hoa Hán, thuộc văn minh săn bắn và trồng lúa tắc, lúa khô. Tộc Hoa Hán khởi thủy lập quốc từ đời Thương, khoảng 1600 năm trước Công Nguyên, chỉ là một tộc ít người, chiếm một vị trí nhỏ tương ứng với các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây và một phần Hoa Nam ngày nay, nhưng nhờ có tài thiện chiến, tâm lý thực dụng và văn minh vật chất, học được do tiếp xúc với văn minh Lưỡng Hà đã nhanh chóng bành trướng ra khắp đại lục và đã đồng hóa được đa số tộc Bách Việt, thâu hóa được văn minh của họ, hòa đồng với nhiều văn minh khác xây dựng nên một nước Trung Hoa vĩ đại và đa tạp như ngày nay (TL Cung Ðình Thanh)

Câu hỏi được đặt ra là từ Bắc xuống Nam hay từ Nam lên Bắc :

Trong ‘ Eden in the East’ một tác phẩm độc đáo của Oppenheimer, ông cho rằng người Trung Hoa và Ấn Ðộ ngày nay có gốc gác từ Ðông Nam Á chứ không phải là nguồn gốc của người Ðông Nam Á là Trung Quốc hay Ấn Ðộ. Chính thuyết này đã làm đảo lộn suy nghĩ của nhièu người Việt và lịch sử Việt từ bao lâu nay. Không phải chỉ có học gỉa Oppenheimer chứng minh điều đó mà con nhiều học giả nỗi tiếng và uy tín khác như Madelaine Colani, J Hornell, P.V Van Stein, Heine Geldern, Bernard Karlgren, N J Krom cũng đồng ý rằng làn sóng người từ Bắc Việt tràn xuống phía Nam và vào Ấn Ðộ trước khi vùng này bị giống dân Aryan xâm chiếm.

Theo tạp chí của Hàn Lâm Viện Quốc Gia Hoa Kỳ với nhóm nghiên cứu và viện nghiên cứu di truyền học trường Ðại Học Texas về Trung Hoa cho thấy nguồn gốc của người Trung Hoa và kể cả người Ðông Nam Á rất có thề là do người Ðông Nam Á di dân lên chứ không phài từ Bắc xuống. Chính vì thế thuyết cho rằng dân tôc Việt có nguồn gốc từ người Trung Quốc là không hợp lý mà phải nghĩ ngược lại.

*Tóm lại nhóm viết sử Trung Hoa trước đây họ không thật sự công bằng có thái độ kỳ thị Hoa- Man, đứng trên cương vị một kẻ thắng như Tư Mã Thiên, Ban Cố, Lịch Ðại Nguyên, Thẩm Hoài Viên cho nên đã bóp méo sự thật

*Còn các sử gia Việt chúng ta đa số đã dựa trên những tài liệu thư tịch mệnh danh là Hán thư Ðường Thư của Hán Tộc viết về Giao Châu, hoặc là thiếu chứng tích khảo cổ, hay nặng phần lý luận cho nên tạo nên nhiều sai lầm ảnh hưởng đến chính sử.

*Nhóm sử gia Pháp trong thời Pháp thuộc như: Henri Maspéro, Léonard Aurousseau, Henri Mensuy, Madeleine Colami,....Cô ng việc khảo-cứu của nhóm này mới nhìn ta thấy có tính cách khoa-học, vì dựa vào các sách sử Trung Hoa hay trên những di-tích khảo-cổ đã đào được do trường Viễn Đông Bác Cổ (L’école Francaise d’Extrême-Orient) có tính cách khoa học hơn.

Về Di Truyền Học: Theo định-nghĩa chuyên-môn về di-truyền học: “Những tế-bào (cell) của động-vật cũng như thực-vật đều chứa yếu-tố DNA. DNA (Deoxyribo Nucleic Acid) tạo nên gene, và chính các gene đã làm cho muôn loài có sắc-thái đặc-biệt. Do đó, tương quan giữa ngôn ngữ và di-truyền học thì “Trong hai (hay nhiều hơn) sắc dân đã phân tán, bao giờ cũng phân chia cả gene lẫn ngôn ngữ.” (In two or more population that have separated, there begins a process of differentations of both gene and language.”

* Theo giáo sư J.Y. Chu và đồng nghiệp của ông cho rằng: “ Cư dân ở miền Đông Trung Hoa ngày nay là hậu-duệ của dân Đông Nam Á đi lên.” (The phylogeny also suggested that it is more likely that ancestor of the population currently residing in East China entered from Southeast Asia - J.Y Chu - The National Academy of Sciences, USA, Vol. 95, issue 29 July 1998). Căn-cứ vào các dữ kiện nêu trên, ta có thể xác quyết dân Hoa (Tàu) và dân Việt là hai sắc dân khác biệt. Giả thuyết cho rằng người Việt có nguồn gốc từ Trung Hoa là giả thuyết nằm trong manh tâm muốn xóa nhòa nguồn gốc Việt để dễ dàng Tầu hóa! Sau biến cố “Đốt sách chôn nho sinh” (Phần thư khanh Nho) vào thời Tần. Các nhà nghiên cứu về Trung Hoa đã có nhận định như Caroline Blunder và giáo sư Mark Elkin thuộc đại học Oxford: “ Liệu ngay cả chính người Trung Hoa có được bao nhiêu ý niệm về Trung Quốc xưa kia thực sự ra sao? Đây là một nền văn minh cổ xưa của thế-giới còn lại. Xét theo sự liên-tục về văn-hóa, ấy vậy mà quá khứ của nó đã bị tái hiệu đính liên-miên, thay vì thực sự được bảo tồn. Chẳng những vậy, ngày nay đã chẳng còn được bao nhiêu tài liệu nguyên bản. Hầu hết chỉ là những bản sao...Đôi lúc kể cả những họa phẩm...” Quả đúng như lời Mạnh Tử khi đọc các sách sử của Trung Hoa. ta đừng vội tin, vì “Tận tín ư thư, bất như vô thư ” (Tận tin vào sách thà đừng có sách).(tài liệu Bản Sắc Việt GS. ÐKH)

Về ngôn ngữ. Một số nhà ngôn ngữ học hiện nay họ chia ngôn ngữ Đông Nam Á ra làm 4 nhóm chính :

1) Austronesian
2) Austro-Asiatic
3) Tai-Kadai
4) Sino Tibetan
Tiếng Hán thuộc nhóm Sino Tibetan

Tiếng Việt lúc xưa được xếp vào nhóm Tai-Kadai, bây giờ người ta lại xếp vào nhóm Austro-Asiatic. Chưa bao giờ tiếng Việt được xếp vào nhóm Sino Tibetan cả.

Kết luận, chúng tôi phát biểu vài điều về vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt. Phải nói ngay rằng đây là một vấn đề phức tạp, một phạm trù to lớn không thể nào nói trong vài trang giấy được, hơn nữa chúng ta vẫn còn thiếu thốn dữ kiện khoa học liên quan đến người Việt để phát biểu một cách khẳng định. Vì thế, người ta vẫn còn suy đoán, và có khi suy đoán thiếu cơ sở. Với tất cà những tài liệu và những chứng minh trên đây chúng tôi muốn nêu lên vì nó có tính thuyết phục, có bằng cớ và chứng minh bằng khoa học, để mọi người còn vọng ngọai (Tầu) có thể thoát ra khỏi ý nghĩ cố hữu là nguồn gốc dân tộc Việt từ Trung Quốc. Và tránh thảm họa bản đồ VN sẽ thành một tỉnh thành của Tầu Cộng.

Tài liệu: Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến Quốc, VN sử lược TTK, Khâm Ðịnh Việt Sử, VN Suối Nguồn Văn Minh Phương Ðông của LTH, Lịch Sử Văn Minh Thế Giới, VN Văn Hóa Sử Cương ÐDA, Eden in the east của Oppenheimer, The History Geography of Human Gen, J.Y Chu- The National, Academy of Sciences USA, VN Quốc Sử, Nguồn gốc Mã Lai…của BNL và một số web.

Post Reply