Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

NAM LỘC - NGƯỜI NHẠC SĨ CỦA THÁNG TƯ

Image
Nhạc Sĩ Nam Lộc
Mỗi năm cứ vào dịp kỷ niệm Tháng Tư đen, thì không thể nào người ta không hát, không nghe hoặc không nhắc đến ca khúc “Sàigòn Ơi, Vĩnh Biệt” mà nhạc sĩ Nam Lộc đã sáng tác vào những ngày cuối Thu 1975.

Sàigòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời,
Sàigòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời.
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi,
Những nụ cười nát trên môi,
Những giọt lệ ôi sầu đắng .....!


Ôi, có mấy ai sống ở miền Nam VN mà không nhỏ những giọt lệ sầu đắng cùng anh khi nghe được nhạc phẩm này. Một ca khúc mà tác giả viết cho chính thân phận mình cùng những kẻ tha hương đồng cảnh ngộ, hay cho người ở lại đã phải chào vĩnh biệt cái tên yêu dấu của thành phố Sàigòn vào tháng Tư, 1975.

Nhưng đối với người vượt biển thì mỗi độ Tháng Tư về, họ lại nhớ đến Nam Lộc qua những lời diễn tả xót xa của thân phận thuyền nhân, cùng cái giá mà họ đã phải trả để đổi lấy hai chữ Tự Do trong bài “Xin Đời Một Nụ Cười”:

Tự Do ơi Tự Do,
Tôi trả bằng nước mắt.
Tự Do hỡi Tự Do,
Anh trao bằng máu xương.
Tự Do ơi Tự Do
Em đổi bằng thân xác.
Vì hai chữ Tự Do,
Ta mang đời lưu vong....!


Quả thật, chúng ta hãy thử hỏi xem, trong số 3 triệu người tỵ nạn VN tại hải ngoại hiện nay, có bao nhiêu người đang sống lưu vong mà không phải vì hai chữ Tự Do?
Image
Các trẻ em tại trại tỵ nạn Malaysia

Riêng đối với những người lính thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh cùng những người tù cải tạo, và nhất là các tử sĩ QLVNCH, mà Nam Lộc gọi là “chiến hữu” thì không ai mà không nhớ đến anh qua đoản khúc cuối của nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn”:

Cho tôi xin lại ngọn đồi,
Ở nơi tôi dừng quân cũ.
Cho tôi xin lại bờ rừng,
Nơi từng chiến đấu bên nhau.
Cho tôi xin một lần chào,
Chào bao nhiêu người đã khuất.
Xin cho tôi một mộ phần,
Bên ngàn chiến hữu cuả tôi ....!


Nam Lộc đã có lần tuyên bố, cũng chính vì những lời cam kết tâm huyết này mà anh đã bỏ hết công sức để góp phần xây dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster, đồng thời đứng ra tổ chức hoặc tham dự vào các buổi nhạc hội ở khắp mọi nơi để gây quỹ trợ giúp Thương Phế Binh VNCH hiện đang sống vất vưởng ở quê nhà.
Image
Các trẻ em tại trại tỵ nạn Hongkong

Tháng Tư 2008, đánh dấu 33 năm viễn xứ, người ta vẫn nhắc đến Nam Lộc. Nhiều người còn cho rằng dù 66 hay 99 năm sau, dù tình hình đất nước có thay đổi thế nào đi chăng nữa, thì cứ mỗi dịp Tháng Tư về, dòng nhạc của Nam Lộc vẫn là những viên thuốc an thần hiếm quý để xoa dịu vết thương không bao giờ lành trong khúc quanh đen tối nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Sơn Lai Khê (Cựu Trung Úy Sư Đoàn 5 Bộ Binh)
Viết tặng “chiến hữu” Nam Lộc, tháng Tư 2008
nguon:S.Times

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Xanh màu cổ tích

Orchid Lâm Quỳnh
Tự nghĩ mình có một mối tình đẹp, rất đẹp trong cuộc đời, vậy mà tôi không dám thổ lộ với ai. Nó vẫn thầm kín ở cùng tôi, rất lâu. Nó như mồi lửa diệu kỳ, phỏng rát tuổi hai mươi.

Trong trí nhớ tôi, như in, ngày đầu tiên bước vào một lớp học mới. Nhút nhát, hoang mang, thiếu tự tin, đi một mạch xuống cuối phòng, kiếm một chỗ ngồi trong xó góc. Vậy mà trực giác con gái cho tôi biết, có một ánh mắt dõi theo từng bước chân. Ánh mắt mang trong nó nụ cười và niềm bí mật!
Image
Orchid Lâm Quỳnh (Hình Ngọc Lan/Người Việt)
Ánh mắt tôi chỉ cảm mà không nhận. nó làm tôi nôn nao mong ngóng ngày đến lớp. Nó như vạt rong biển quấn quít mơn man trên tay trần, cổ và đỏ au lên đôi má. Lạ thật! Tôi không nhìn mà biết có ánh mắt khảm, đính vào mỗi bước chân đi. Nó cũng khiến tôi tự khảm, đính áo mặc, khăn quàng của mình, chút gì giống như kiêu căng, làm dáng... Kể cả phần ghi chú bài vở chỉ cho mình đọc, tôi thấy dường tôi cũng hân hoan nắn nót hơn.

Ánh mắt dõi theo tôi cả tháng, cũng có lần tôi “tình cờ” bắt gặp. Đó là ánh mắt biếc xanh nước biển. Lá nõn sớm mai. Tinh ròng ngọc quý...

Ánh mắt mà mỗi sáng soi mình trong gương, tôi đã ao ước có được. Tôi xin mẹ cho đeo contact lens, để thay màu mắt tôi tối thẩm. Tôi yêu quá màu mắt xanh. Tôi nhớ trong một truyện ngắn của LMK, cô kể chuyện một người con gái, chỉ vì rung động trước màu mắt xanh của một tù nhân, kẻ tử thù của cô ta trước đó, mà cô tha mạng cho người tù binh này. Tôi nghĩ, phải chăng tôi cũng đang yêu màu mắt xanh (hằng dõi theo tôi,) như tác giả LMK, yêu màu mắt xanh của người tù binh mà cô đã từng dẫn độ? Trường hợp nào, thì với tôi, đó vẫn là một truyện tình nhẹ nhàng, chứa chan nhân bản.

Một tháng sau, tôi không còn phải giả bộ “tình cờ” bắt gặp đôi mắt xanh kia nữa.

Z và tôi thành một đôi bạn. Chúng tôi ngồi lại với nhau để cùng giải những bài toán khó. Không cần nói ra, chúng tôi cùng hiểu, sự liên hệ của hai đứa, đã vượt ngoài khuôn khổ những bài toán khó. Và, không công thức toán học nào có thể giảng giải được.

Chúng tôi chọn để được học cùng nhau vào những lớp sau 7 giờ tối, bởi cả ngày tôi tất bật với hàng trăm công việc. Đời sống tôi cứ bị ngắt vụn thành từng miếng nhỏ. Tôi mệt nhoài chắp nối công việc trong ngày, và chắp nối cả cuộc sống mình. Mãi đến tối, khi vào lớp gặp Z, tôi mới trút bỏ hết được mọi thúc ké nhí nhách đời thường. Tôi như thoát thai, hóa thân trong một thế giới khác. Ở đó tôi như đứa bé hất mũ, vứt giầy, chân trần mang nỗi hân hoan chạy quầng đồng cỏ lau mượt. Ở đó Z cho tôi lượng sống mới, lạ lẫm. Tôi mong ngóng, đón chờ phút giây thanh thản bên Z. Thế mà cũng không phải là ít, những lúc trong tôi lại dấy lên ý nghĩ kèn cựa: Anh thay cho tôi lượng máu mới, thì chính tôi cũng mang đến cho anh những kèn trống thanh âm mà anh thiếu vắng...

Z rất tò mò về cuộc sống tôi trước 7 giờ tối. Cuộc sống có ánh đèn, có tiếng vỗ tay, có những chua cay, và có cả những hào quang (không thật).

Z tiếp nhận mọi chuyện từ tôi như miếng sponge hút nước. Mắt anh trong veo, xanh óng, trìu mến. Anh luôn tỏ ra thần phục, thích thú đầy ngưỡng mộ. Lần đầu tiên tôi có được cảm giác hãnh diện của một người bản xứ, đón nhận một “immigrant” từ xứ sở thật xa, vừa đặt chân lên mảnh đất màu mỡ của mình. Tôi tô màu, vẽ hoa, rắc nhiều kim tuyến lấp lánh cho thế giới của mình. Tôi tha hồ vẽ rồng vẽ rắn. Tôi tha hồ vung vẩy hào quang. Tôi như người làm ảo thuật, và những trò rất xoàng xĩnh cũng đủ phỉnh anh. Anh như tờ giấy trắng, trên đó tôi tha hồ tô vẽ: Văn hóa, con người, tập tục của xứ sở tôi. Tôi tô vẽ bằng trái tim tràn đầy hào khí dân tộc. Bằng rất nhiều ấm ức của con dân một đất nước, chỉ là dải đất rách nát vì chiến tranh, không lớn bằng một tiểu bang của xứ sở Hoa Kỳ. Tôi kể cho anh nghe Hội Trùng Dương. Tôi rót vào anh, hình ảnh đền Hùng với văn miếu mấy ngàn năm... Tôi kể anh nghe, Triệu Ẩu cưỡi voi giết giặc. Triều đình Tàu nghệt mặt, há hốc miệng trước những đối đáp của sứ giả nước Nam. Tôi cũng kể về Tiếng Sáo Thiên Thai, Mối Tình Trương Chi; luôn cả Màu Tím Hoa Sim cùng Hai Sắc Hoa Tigon...

Thế giới của tôi lãng mạn, nên thơ lẫn hào hùng, khí phách, không chỉ 200 năm lập quốc, mà đã trên 4 ngàn năm văn hiến.


Có lần Z hỏi: “Thế em có điều gì giấu anh?” Không, anh chỉ được quyền nghe những tiếng cười, nhìn thấy những ánh đèn rực rỡ, có ngọn xanh, ngọn đỏ. Anh chỉ được biết những tràng pháo tay của đời sống quanh tôi. Tuyệt nhiên, tôi không hé mở, quê hương tôi nghèo đói, “người dân của đất nước tôi chưa lớn đã già, trẻ chưa cao đã cọc.” Không, anh không được phép, kể cả không được phép biết, tôi nhận ra tình yêu hai đứa, có cái gì đó, ghềnh thác, chênh vênh.

Z sống đơn giản, có phần lập dị. Z không lái xe, cũng chẳng cần bằng lái. Hỏi đến, Z chỉ có đôi câu trả lời: “Anh không có nhu cầu đó!” hoặc, “Nếu cần, anh đã có một cô thật dễ thương để chở anh, vậy tội gì lái xe!” Z có đúng dăm cái T-shirts, 1 trắng, 1 xanh da trời, 1 xanh lá cây, và 1 đen. Chiếc áo đẹp nhất của anh có lẽ là chiếc áo anh dành riêng để đi làm cuối tuần. Áo đẹp, đơn giản vì đó là đồng phục của club, làm bartender thì phải mặc đồ đẹp. Tôi rất ngạc nhiên, và xót khi biết mỗi cuối tuần anh pha rượu trong club V2O. Nhìn bàn tay trắng xanh, khuôn mặt thơ trẻ, vẻ hồn nhiên trong ánh mắt, anh không thể cùng thở không khí với đám người hàm hỗn. “Em phải biết club đó, có rất nhiều người Châu Á.” “Châu Á thì sao? Đâu có nghĩa là Việt Nam, thì em phải đi club.” Trong một khoảng khắc, tôi mong đám Châu Á (mà phải là người Việt Nam) ở club kia, bóp cổ anh!

Tôi bước vào căn phòng nhỏ, rón rén như một tên ăn trộm sợ có người bắt gặp. Có lẽ, tôi muốn trộm thấy sự giản dị của đời sống Z. Sự giản dị trên 4 bức tường trắng trơn. Sự giản dị trên chiếc tủ sách đã ngả màu. Sự giản dị của màu xanh trên chiếc nệm kê sát góc tường. Tôi như người trên mây, bay bổng với hạnh phúc giản dị của mình. Bỗng mắt tôi chạm phải một vật, kéo tôi về lại với thực tại... Cả buổi tôi bồn chồn vì hình ảnh vừa chạm phải... “Có lẽ Z không biết! Mình sẽ phải nói với Z thôi!”

Rồi Z cũng về. Tôi phóng ra cửa như con hổ vồ mồi: “Z, tại sao anh có lá cờ này?” Z chưa kịp nhận ra sự nóng giận trong tôi. Chàng khoan thai: “Anh vừa có hobby mới, đó là collect cờ của nhiều nước, và đương nhiên phải có nước của cưng chứ!”

Tôi hốt hoảng: “Nhưng cờ này không đúng, cờ kia mà anh. Anh bỏ cờ này đi. Cờ này là cờ CS!” Z bình thản: “nhưng cờ này được thế giới công nhận. Chỉ có em mới bướng bỉnh thế thôi! Chuyện xưa quá rồi. Lại nữa, cả em, và cả anh, có biết thế nào là chiến tranh đâu!” Tôi im lặng, nghe những ngỡ ngàng như bức tường lớn, ầm ầm đổ xuống.

Không hiểu tại sao chúng tôi không có thói quen đi chung với nhau trong trường. Chúng tôi chọn bên nhau vào mỗi sáng Thứ Bảy, tôi lái xe đến nơi ở của Z, sau khi cùng nhau học bài, chúng tôi đi bộ ra biển. Không hiểu tại sao giữa đất trời lồng lộng, giữa bãi cát bao la, và biển hun hút, tôi có được cái cảm giác bình an bên Z. Biển đã xóa tan mọi ghềnh thác giữa chúng tôi. Chỉ có màu xanh óng biếc của mắt, nụ cười thơ dại rạn vỡ trên môi; và chiếc mũi thô kệch biết cười, như Z nghĩ về tôi.

Tôi lái xe về, mở radio thật lớn, âm thanh quen thuộc (mà bấy lâu tôi vô tình lãng quên) chợt vang lên. Những ngày sau đó, tôi sống lâng lâng, thất lạc. Dần dần tôi chợt nhận ra một hố sâu vô hình giữ chúng tôi. Thật ra, Z chẳng khác gì một khán giả mỗi tối chờ xem tôi trình diễn những vở kịch. Có khác chăng, chỉ là sự trung thành của người khán giả mắt xanh. Lòng trung thành, sự ngưỡng mộ phát sanh từ sự nghèo nàn, tính một chiều của những vở kịch. Vở kịch hạ màn. Cuối cùng, tôi đã nhận ra, tôi cần tìm một trái tim cùng nhịp đập. Khi vô tình, tiếng hát cất lên: “Quê hương...” Tôi cần biết có ai cũng sẽ thổn thức như tôi?

Cuộc sống không bao giờ cho ta sự toàn vẹn! Tôi cho rằng mình đã đòi hỏi quá đáng ở Z. Tôi cho đó chỉ là những ám ảnh. Tôi cho những khát khao về sự đồng cảm, xuất phát từ điểm dị biệt của hình ảnh bên ngoài, màu mắt, màu da, màu tóc... Mình thường ao ước những điều không thể có. Chắc gì, một chàng trai Việt Nam đã có được sự đồng cảm như tôi đã đòi hỏi ở Z? Hơn thế nữa, tôi tin ở tình yêu.

Nhưng tôi đã lầm. Một buổi chiều, như thường lệ, tôi đi cùng với Z ra bãi đậu xe. Z bị chặn lại bởi hai cô bạn. Tôi tế nhị nhanh chân đi vội, để Z có thể tự nhiên đứng lại chuyện trò. Z hưởng ứng ngay, hành động của tôi. Chàng đứng lại. họ trò chuyện thật vui vẻ với nhau. Và họ quên bẵng sự hiện diện rất mờ nhạt của thiếu nữ Châu Á đang chờ Z.

Lòng tôi quặn xót. Ý nghĩ chỉ cần một tình yêu, chỉ cần một tha thiết, âu yếm, vụt bay khỏi tôi.

Thoáng chốc, cảm giác nhói buốt vụt tan. Tôi chưa bao giờ thấy mình tỉnh táo hơn. Chưa bao giờ tôi thấy mình mạnh mẽ hơn. Một mình trên xe, tiếng nhạc ngũ cung vang lên. Nước mắt tôi trào ra. Tuy nhiên, dù biết đó là nước mắt chính mình, tôi cũng không hề cảm thấy đau đớn. Cuối cùng tôi nhận ra: Dù tôi đã yêu Z tha thiết, nhưng tình yêu đó phát sinh từ lòng ích kỷ, tính tự ti mặt cảm. Tôi yêu chàng, đơn giản vì chàng đã yêu tất cả những gì rất Việt Nam của tôi. Những gì mà chính bản thân tôi đã cho đó là sự bất toàn. Chàng yêu mái tóc đen mỏng, yêu thân hình bé nhỏ (để nằm gọn trong vòng tay chàng,) yêu chiếc mũi thô kịch (biết cười)...

Cuối cùng tôi đã nhận ra, dù tôi có yêu Z đến mức nào, tôi không chấp nhận khi chàng nói “những cuộc ẩu đả trong club thường xảy ra từ người Châu Á.” Tôi không chấp nhận khi chàng nói, “chàng vẫn không hiểu khi người Châu Á hay nói chữ losing face? Có gì đâu mà losing face?” Làm sao Z hiểu được những khổ đau mà dân tộc tôi đã phải trải qua. Đời sống anh an lành quá. Đất nước anh thanh bình quá. Dân tộc anh ôn hòa quá. Và tôi, dù có yêu anh đến mức nào, cũng không thể chấp nhận những lời anh phỉ báng dân tộc tôi, màu da tôi. Dù đã trải qua bao thế hệ, dù chiến tranh đã qua, dù chúng ta có sống trên cùng mảnh đất, nói cùng một ngôn ngữ... và, dù tôi có yêu anh đến mức nào đi nữa, thì tôi vẫn là cô gái Việt Nam, với trái tim VN. Còn anh, muôn đời chỉ là “Donna.”

Thỉnh thoảng tôi cũng thấy những cặp trai gái Mỹ Việt, họ cười nói, giỡn cợt, âu yếm bên nhau. Tôi có nhớ đến Z của tôi, tôi có nhớ đến đôi mắt biếc xanh, tôi có nhớ đến mái tóc vàng ánh lên như những lá phong trong nắng, tôi có nhớ đến tiếng cười trong veo... Và cùng lúc, tôi cũng nhớ đến những câu thơ trong bài “Vỡ lòng cho một người con gái Mỹ” của nhà thơ Du Tử Lê:

... không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng vẫn trở về.
anh vẫn phải trở về quê hương anh,
cái dải đất nóng khô cong hình chữ S.
cái dải đất không lớn bằng tiểu bang California
của xứ sở em.
ôi Donna! Donna!
phải là người Việt Nam
em mới hiểu được nỗi xúc động rưng rưng của anh
khi nghe thấy tên gọi quê hương mình
dạt lùa trong một khoảng không gian đẫm mù
sương muối...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Mùa Xuân vẫn còn tại Dallas, Texas

Ðoàn Thanh Liêm

Dallas là thành phố thứ ba tôi đến thăm trong Tháng Tư 2010, sau khi đã ở Houston và New Orleans. Chiều Chủ Nhật, 18 Tháng Tư, sau khi tham dự đại hội của Cựu Nữ Sinh Trưng Vương tại Houston, tôi được anh chị Giáo Sư Ðàm Trung Pháp cho quá giang xe để đi Dallas về phía Bắc của tiểu bang Texas, nơi tôi cũng đã có dịp viếng thăm nhiều lần trong những năm gần đây.

Dọc đường, chúng tôi đã trao đổi với nhau rất nhiều chuyện. Ðiển hình như chuyện ra đi của nghệ sĩ Thanh Hùng, người chuyên diễn ngâm các điệu thơ vào cuối năm 2009 vừa qua. Chúng tôi đều bùi ngùi thương tiếc người bạn nghệ sĩ rất mực tài ba này. Theo lời yêu cầu của người bạn trẻ Phan Ngọc Thuần, anh Pháp và tôi đã đến nhà riêng của Thuần, nơi đây chúng tôi còn gặp cả Luật Sư Nguyễn Xuân Phước và nghệ sĩ Phan Ðình Minh. Và chúng tôi được các bạn này thông báo cho biết là một nhóm anh chị em ở Dallas đang chuẩn bị ra một tờ tuần báo mới, lấy tên là “Chính Việt Thời Báo,” với số đầu sẽ phát hành vào đúng ngày 30 Tháng Tư 2010. Và các bạn cũng mời chúng tôi tham gia đóng góp bài vở cho tờ báo mới này. Cả Giáo Sư Pháp và tôi đều hoan hỉ và sẵn sàng hợp tác với các bạn trẻ này tại Dallas mà chúng tôi vẫn quý mến từ lâu nay.

Buổi tối, tôi được Luật Sư Phước chở về ngủ tại nhà anh tại thành phố Irving cũng gần với phi trường quốc tế Dallas Fort Worth (DFW). Căn nhà nằm bên một hồ rộng đến trên 150 acres, nên thật là yên tịnh thoáng mát. Ban đêm từ phía sau nhà mà nhìn về phía bên kia bờ hồ, tôi thấy rất rõ hành lang đáp xuống của máy bay tới phi trường quốc tế này. Vì sau cơn mưa, trời trở lạnh, nên tôi đã không có dịp được gia chủ chở xuồng đi du ngoạn trên hồ như mọi khi Phước vẫn hay dẫn các bạn đi. Vì mệt tôi đi ngủ sớm; mà vào lúc quá nửa đêm lúc tôi thức giấc vào 1-2 giờ sáng, tôi vẫn còn thấy Phước miệt mài với công việc tại bàn máy computer ở văn phòng. Phước cho biết văn phòng luật sư của anh làm chung với mấy người bạn khác, thì chuyên lo các loại hồ sơ về phá sản, ly dị (bankruptcy, divorce) nhiều hơn về các vụ hình sự. Từ nhiều năm nay, Luật Sư Phước chú trọng đến việc nghiên cứu trao đổi về các bản Hiến Pháp cho Việt Nam, anh nói rõ là quan điểm nơi bản Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thì lại thông thoáng tiến bộ hơn tất cả các bản Hiến Pháp sau này do chế độ cộng sản ban hành. Và cũng theo sự gợi ý của anh mà cách đây vài năm, tôi có đề nghị với chị bạn Sophie Quinn-Judge ở Ðại Học Temple ở Philadelphia để họ đứng ra tổ chức một khóa hội thảo về Luật Hiến Pháp cho Việt Nam, nhưng cho đến nay thì tôi vẫn chưa nhận được một sự đáp ứng nào từ phía các bạn luật gia người Mỹ đối với đề nghị này.

Luật Sư Phước đã du học từ năm 1972, tốt nghiệp cử nhân tại đại học nổi tiếng Berkeley California, và học tiếp về Luật tại Ðại Học Rutgers cũng danh tiếng tại New Jersey. Anh còn trẻ mới vào tuổi 56-57, nên còn có thể đóng góp rất nhiều cho nền luật pháp Việt Nam trong vòng 20-30 năm nữa. Trong dịp này, tôi đã chuyển cho Phước một số bài tôi mới viết gần đây, để anh tùy nghi sử dụng cho tờ báo sắp trình làng ở Dallas của nhóm bạn trẻ của anh như đã nói ở trên.

Qua bữa sau 19 Tháng Tư, tôi lại có dịp đến thăm tòa báo Thế Giới Mới do anh Trương Sĩ Lương điều khiển với văn phòng làm việc tại nhà riêng ở thành phố Arlington nằm giữa Dallas và Fort Worth. Anh Lương nói tiếng Huế, là người vóc dáng nhỏ bé mà lại có sức làm việc phi thường, anh say mê với công việc viết báo và làm báo, ngày đêm miệt mài không biết mệt mỏi. Tờ báo dầy cỡ trên dưới 100 trang, mỗi tháng ra 2 kỳ. Tòa soạn chỉ có độc lực một mình anh với một người tổng thư ký phụ tá, mà phải chăm lo đủ mọi thứ việc, từ nội dung bài vở, cách trình bày và cả chuyện quảng cáo nữa. Và nhất là bận rộn với tờ báo “Thế Giới Mới on-line” với bài vở rất là đa dạng phong phú và cập nhật thường xuyên. Anh Lương tâm sự với tôi là hồi trước năm 1975 ở Việt Nam, anh chẳng hề có tham gia về chính trị xã hội gì cả, mặc dầu công việc anh làm cũng liên hệ nhiều đến truyền thông báo chí. Nhưng khi qua Mỹ, và nhất là vì được gần gũi với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, thì anh đã “ngộ ra được” con đường tranh đấu và rồi trong gần 30 năm nay anh đã dấn thân hết mình vào công việc chính trị xã hội của Liên Minh Dân Chủ, của phong trào Hưng Ca và nhất là của tờ báo Thế Giới Mới mà anh đã khởi sự sáng lập và điều hành liên tục kể từ năm 1987- 88 đến nay.

Từ ít lâu nay, tôi tham gia gửi bài vở cho anh và anh đã đăng tải khá nhiều bài viết của tôi trên báo in và nhất là trên báo on-line. Do vậy mà anh em chúng tôi quen biết gắn bó thân thương với nhau rất là mặn mà đẹp đẽ. Anh Lương còn trẻ tuổi lắm, anh thua tôi cả đến một con giáp cơ đấy.

Tại văn phòng làm việc của anh Lương, tôi được chứng kiến cái cảnh tất bật của anh giữa lúc phải đối phó với chuyện tờ báo on-line của anh bị bọn hacker phá hoại tơi bời đến độ bị ngưng trệ. Anh phải thường xuyên kêu cứu đến bộ phận “server” để tìm mọi cách phục hồi sinh hoạt của tờ báo. Trong khi vẫn phải chuẩn bị cho số báo in được phát hành cho kịp Lễ Kỷ niệm 30 Tháng Tư sắp đến. Anh nói các con anh làm ăn khá giả, nên đã hỗ trợ tài chánh cho anh, chứ phần thâu nhập do quảng cáo thì không được bao nhiêu để mà trang trải cho đủ mọi thứ chi phí liên hệ đến nghề làm báo của anh, vốn chú trọng đến việc tranh đấu chính trị, chứ không phải là tìm kiếm lợi lộc gì về thương mại.

Mặt khác tích cực hơn, đó là sự thành công vẻ vang của anh Nguyễn Xuân Hùng trong cuộc bầu cử khá gay go vào chức vụ “Ủy viên của Hạt Tarrant” (Tarrant Commissioner) vào tuần lễ đầu Tháng Tư vừa qua. Thắng lợi của nhân vật rất năng nổ hoạt động là cựu chủ tịch Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Fort Worth này đã làm cho anh Lương và bà con tại địa phương Dallas-Fort Worth hết sức phấn khởi lạc quan. Tôi có gọi điện thoại để chúc mừng anh Nguyễn Xuân Hùng, nhưng anh đang quá bận rộn, nên tôi đã không thể trực tiếp nói chuyện với anh được. Nhân vật khác nữa mà tôi cũng nói chuyện qua điện thoại được, đó là Chị Lam Ngọc, người vừa mới nhận chức vụ Chủ Tịch Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Dallas. Lam Ngọc vốn là một thành viên nòng cốt của phong trào Hưng Ca tại địa phương, cũng như đã từng tham gia tích cực với bà con trong cộng đồng. Rất tiếc là lần này tôi đã không thể ở lại Dallas nhiều thời gian hơn, để mà có dịp gặp gỡ trao đổi với các nhân vật vốn có sự nhiệt thành năng nổ đối với nhân quần xã hội như các bạn trẻ này. Vì ngay ngày hôm sau 20 Tháng Tư, Luật Sư Phước đã phải chở tôi ra phi trường Love Field ở Dallas để đi tới Washington DC.

Cũng như ở Houston và New Orleans, tại Dallas tôi thấy Mùa Xuân Canh Dần 2010 vẫn tươi vui rạng rỡ, cả nơi thiên nhiên với nắng chan hòa êm dịu, cây cối xanh tươi, mà còn cả nơi tâm hồn của những người bạn trẻ đầy thiện chí và hăng say với lý tưởng phục vụ thiết thực cho bà con ruột thịt của mình tại địa phương, cũng như tại quê nhà ở Việt Nam. Tất cả các bạn này đều nhằm hướng vào việc góp phần xây dựng cho một nước Việt Nam thật sự phú cường, mà mọi công dân đều được tôn trọng về phẩm giá cũng như về quyền sống, trong một xã hội đích thực tự do dân chủ. Và chính điều đó đã gây cho tôi một niềm lạc quan phấn khích, ngay trong ba tuần lễ đầu tiên của chuyến đi vòng thứ 19 xung quanh nước Mỹ vào dịp mùa Xuân và mùa Hè năm 2010 này vậy.

Ðoàn Thanh Liêm

(Baltimore, Maryland, 22 tháng 4, 2010)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Đừng Yêu Phụ Nữ Quá Quyến Rũ
Nhân vật bạn mới quen sẽ là cô gái hoàn toàn bình thường nếu chỉ có chút ít tính cách của những cô nàng dưới đây. Nhưng nếu có quá nhiều thì bạn nên tránh xa cô ấy.

Cô nàng đầu gấu

Nàng thực sự là một cơn ác mộng, không những trong lời nói mà còn trong cả việc làm. Nàng ta uống rượu và thậm chí còn đánh nhau. Lúc đầu hẹn hò với nàng sẽ là những phút giây nhẹ nhàng và ngọt ngào nhưng khi kết thúc sẽ kinh khủng với những rắc rối. Nàng ta có thể la hét với mọi người, nôn mửa và cả chửi thề nữa.

Và thậm chí dù có phát ốm vì nàng ta mà muốn “vĩnh biệt”, bạn vẫn còn “nhừ đòn” với nàng một thời gian dài sau đó đấy.

Cô nàng ghen tuông điên cuồng

Bản tính của cô nàng này ẩn sau hàng mi rợp bóng nhưng sẽ hiện nguyên hình nếu có đối thủ bước vào vùng lãnh địa. Nàng ta sẽ liên tục khóc lóc, giận dữ quy chụp cho người tình những tội lỗi tày đình hoặc đau khổ, vật vã để cho chàng biết thế nào là "lễ độ" mà chừa đi ý định tơ hào "một sư tử khác”. Rồi bạn sẽ khổ sở vì cái “vòng kim cô” ghen tuông điên cuồng chụp lên đầu bạn.

Nhưng không dễ từ bỏ nàng đâu nhé. Sau cơn giận của "sư tử Hà Đông", những lời nói thỏ thẻ xin lỗi dễ nghe, những cái chớp chớp mắt đầy e lệ cùng chiêu quyến rũ vô cùng tinh tế của nàng sẽ lại khiến bạn tặc lưỡi cho qua.

Cô nàng thích sưu tập trái tim

Những cô nàng này có khả năng quyến rũ đặc biệt. Cô ta từng tích lũy rất nhiều kinh nghiệm “chinh chiến” và hiểu rõ tâm lý các chàng như lòng bàn tay. Nàng ta như con tắc kè hoa, biết biến hóa để bao vây con mồi tội nghiệp. Khi bạn đã chết mê và muốn mời nàng đi ăn tối thì nàng từ chối với lý do rất ngoan hiền rằng “em còn phải ở nhà với mẹ”, hay “em phải ở nhà làm việc”.

Nhưng nếu bạn có nhớ quá mà gọi cho nàng thì chẳng có ai ở nhà. Nàng đang ra ngoài để bắt thêm nhiều con cá nữa đấy. Nếu bạn yêu nàng, bạn sẽ biết thế nào là đau khổ trong tình yêu.

Cô nàng chỉ huy

Nàng sẽ “nhảy “ vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống của bạn để cho bạn biết bạn đã làm sai cái gì. Thế thì cũng tốt thôi, nhưng có điều là theo nàng, tất cả những vấn đề ấy chỉ có nàng mới giải quyết được. Với cô nàng như vậy, dần bạn sẽ trở thành người đàn ông "mặc váy" vì không thể tự quyết được điều gì.

Cô nàng “trói buộc”

Cô nàng này quả thật "khó đỡ". Nàng sẵn sàng dâng hiến cho bạn, và rồi khi nàng thông báo có thai thì bạn có chạy đằng trời.

Cô nàng đào mỏ

Trong khi các cô gái chạy theo bạn vì sự ga lăng, vẻ đẹp trai quyến rũ và những nét đẹp trong tâm hồn bạn thì nàng này chỉ quan tâm đến túi tiền. Chắc chắn cô ấy trông rất quyến rũ và dễ thương. Nàng ta sẽ dùng mọi chiêu để khơi dậy phần nhục cảm trong bạn. Và lúc ấy bạn đâu có tiếc tiền mua cho nàng cái quần cái áo, rồi đến điện thoại xe máy, rồi xe hơi, nhà cửa.

Nhưng khi cháy túi, ban mới chợt nhận ra rằng mình đang đứng ngoài đường lúc nào không hay. Còn trong kia, trong nhà nàng là một con mồi béo bở khác mà nàng vừa mới “chăn”.

Cô nàng ghét bố

Lúc nào nàng ta cũng hằn học với bố. Lý do có thể là ông bố chỉnh nàng về lối sống hay đôi lúc ông không thể hiện đủ tình cảm với con gái. Và khi nhìn bạn, nàng ta lại nhớ đến ông bố đáng ghét của mình.

Cô nàng quá quyến rũ

Nàng ta là “sinh vật” đáng yêu nhất mà bạn từng thấy trên đời. Sự gợi cảm của nàng khiến bạn chết đứ đừ. Vẻ nóng bỏng, gợi tình của nàng hấp dẫn bạn mọi lúc mọi nơi. Và bạn quên hết mọi thứ trên đời chỉ để ngập chìm vào vòng tay tình ái. Khi ấy bạn sẽ không còn tỉnh táo để nhận ra rằng ngoài nàng ra, trên đời ban còn nhiều thứ khác nữa cũng cần phải làm.



Mai Khuê (theo Askmen.com)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

XIN ĐỜI MỘT NỤ CƯỜI

Nam Lộc

Image
Nam Lộc khi mới đến Hoa Kỳ năm 1975.
Tháng Tư, 1985, kỷ niệm 10 năm ngày Sài Gòn rơi vào tay Cộng Sản. Truyền thông Mỹ sửa soạn rầm rộ để thực hiện các phóng sự, cùng những cuộc phỏng vấn hầu ghi lại một khúc quanh lịch sử khó quên của đất nước và quân đội Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Trên đường lái xe đến sở làm, suốt những tuần lễ đó, lúc nào mở radio lên tôi cũng đều nghe được các lời phân tích cũng như nhận định về chính sách cùng đường lối của người Mỹ khi họ quyết định đưa quân vào để bảo vệ miền Nam VN. Ngoài những lời phát biểu chua cay của một số cựu viên chức chính quyền thời tổng thống Nixon và Ford, còn thì hầu hết đều là những câu trả lời ngớ ngẩn và không chính xác. Thì ra, chỉ mới có một thập niên mà người ta đã quên đi tất cả? Quên hay không muốn để ý tới, đối với tôi lúc đó đều có ý nghĩa như nhau.

Là một người cố vấn về di trú và tỵ nạn của cơ quan thiện nguyện USCC thời bấy giờ, tôi được mời vào thuyết trình về đề tài “Người Tỵ Nạn VN” tại một lớp học của trường UCLA. Trước khi bắt đầu câu chuyện tôi đưa ra ba câu hỏi để thăm dò xem trình độ hiểu biết của các sinh viên về vấn đề VN vào thời điểm đó cũng như trước năm 1975.

Câu hỏi đầu tiên là “có bao nhiêu bạn sinh viên trong lớp học này biết người Mỹ có tham dự vào chiến tranh VN?”. Hầu hết cả lớp đều giơ tay lên. Nhưng khi tôi hỏi vậy nước Mỹ ủng hộ miền Bắc hay Nam VN, thì tất cả đều ngơ ngác, chỉ còn có hai người đưa tay xin trả lời. Một nói rằng Mỹ ủng hộ quân đội miền Bắc, còn sinh viên kia thì nói người Mỹ chống cả hai!

Câu hỏi kế tiếp “có bao nhiêu bạn biết được lý do về sự hiện diện của người tỵ nạn VN trên đất Mỹ hiện nay?” Có 6 người giơ tay tình nguyện trả lời, nhưng chỉ có một dùng chữ tỵ nạn (refugee) còn 5 sinh viên kia thì cho là người Việt đến HK vì muốn tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn (looking for a better life), người khác thì bảo cũng như các di dân từ Mễ Tây Cơ muốn trốn vào nước Mỹ mà thôi. Ba em kia trả lời giống nhau rằng, cha mẹ các em cho biết, đa số người Việt sống ở Mỹ một cách bất hợp lệ!

Cả lớp học gần 30 sinh viên, mà chỉ có một người biết dân VN đến HK vì lý do tỵ nạn. Vậy thì làm sao mà họ có thể hiểu nổi những đắng cay, chua xót của một khối người đã phải chấp nhận bao hiểm nguy, trăm ngàn tủi nhục, bỏ lại sau lưng gia đình và quê hương để tìm hai chữ Tự Do. Hai chữ Tự Do đánh vần thật giản dị, và lúc nào cũng lai láng trên các miền đất hứa. Nhưng nó là những gì thiêng liêng, cao quý nhất mà hàng triệu người Việt đang phải trả giá bằng nước mắt, bằng máu xương, và bằng thân xác họ. Dù đó là người vượt thoát vào thời điểm khi Sài Gòn vừa thất thủ, hay lang thang qua rừng già, núi thẳm, hoặc lênh đênh trên biển khơi. Mười năm trước đây (1975), thời gian lúc đó (1985) hay mười năm, hai mươi năm sau nữa, nếu Cộng Sản vẫn còn ngự trị trên quê hương đất nước, thì người Việt cũng sẽ tiếp tục bỏ nước ra đi!

Dư âm của buổi thuyết trình tại trường đại học UCLA đã dằn vặt tôi cả hơn một tuần lễ, nhưng đó chính là những dữ kiện thai nghén để tôi cho ra đời nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười”, đúng một tuần lễ trước ngày kỷ niệm 10 năm mất nước. Tôi có nhờ anh Ngô Chí Thịnh, một giáo sư Anh ngữ dịch ngay sang tiếng Anh để đài truyền hình CBS sử dụng trong buổi phỏng vấn chị Kiều Chinh cùng hai người tỵ nạn Cao Miên và Lào. Nhưng tiếc rằng đến khi chương trình CBS được phát hình họ chỉ dùng phần nhạc, nên khán giả theo dõi cũng chẳng biết ý nghĩa của bài hát. Tôi còn nhớ câu nói cay đắng của chị Kiều Chinh lúc đó, chị bảo: “tức quá, phải chi mình có một quyển sách Anh ngữ viết về người tỵ nạn VN liệng vào mặt tụi nó, để họ biết tại sao mình phải mang kiếp sống lưu vong”! Tôi chỉ biết nắm tay và nhìn lên đôi mắt buồn diệu vợi của chị.
Image Ngày 23 tháng 10, 2002, tôi nhận được lời mời của một giáo sư đại học luật khoa, ông Donald Kerwin mời tôi đến nói chuyện với các sinh viên trong một lớp học tại trường đại học Georgetown University ở Hoa Thịnh Đốn với khoảng hơn 30 sinh viên, đặc biệt là có một em người VN. Cô cho biết đã theo cha mẹ vượt biển tỵ nạn và sang HK định cư vào khoảng giữa thập niên 1980, lúc cô vừa được 1 tuổi. Tôi hỏi em là có bao giờ chia sẻ với các bạn câu chuyện nhọc nhằn của thuyền nhân VN cho các bạn đồng lớp được biết hay không? Em trả lời’: “chính em còn không biết rõ cuộc hành trình đó gian khổ ra sao”! Thỉnh thoảng xem TV hoặc báo chí cô có tò mò hỏi cha mẹ về chuyện này, nhưng mẹ đều trả lời là “chuyện dài lắm, kể không hết, thôi lo học đi, để khi khác”. Nhưng theo em thì dường như có điều gì mà mẹ không muốn nói, “hoặc cũng có thể vì cháu không nói rành tiếng Việt, mà mẹ thì không nói giỏi tiếng Anh nên câu chuyện chẳng bao giờ được bắt đầu”! Tôi chợt nhớ lại câu nói của chị Kiều Chinh gần 20 năm về trước, và nói thầm trong bụng là: “tức quá, phải chi mình có một quyển sách Anh ngữ viết về ‘Vietnamese Boat People’ liệng vào tay cô bé, để nó biết thế nào là thân phận của một gia đình thuyền nhân, cùng những gì mà họ đã phải trải qua trên đường tìm tự do”! Nhưng chắc chắn không thể là một quyển, vì có thể hàng chục ngàn em như cô bé “thuyền nhân” nói trên đã quên hay không biết đến ý nghĩa của những chuyến đi “tìm chết, để sống” mà người tỵ nạn VN đã phải trải qua.

Tháng Tư 2005, kỷ niệm 30 năm tỵ nạn. Trung tâm Thúy Nga thu hình DVD “30 Năm Viễn Xứ” và phổ biến nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười” của tôi qua ba giọng hát Khánh Ly, Trần Thái Hòa, và Thế Sơn. Chỉ chưa đầy một tháng sau ngày phát hành, thì trên số báo ra ngày 21, tháng 5, 2005, tờ Công An Thành Phố, qua một bài viết ký tên Phương Liên đã diễn tả (trích nguyên văn) “Quê hương không bao giờ chối bỏ bất cứ ai, kể cả những người vượt biên đã tự động rời bỏ quê mẹ, nhưng đã được lý giải rất lệch lạc, rằng không thể sống ở đất mẹ mà buộc phải bỏ đi như bài ‘Xin Đời Một Nụ Cười’ .... bài hát này đã cố tình tô vẽ và biện minh cho sự ra đi, trốn chạy khỏi đất nước của những kẻ phản quốc là đúng đắn, ca ngợi những vùng đất nơi xứ người là mảnh đất của Tự Do ...”

30 năm sau báo chí nhà nước vẫn gọi những người ra đi là “kẻ phản quốc”. bài “Xin Đời Một Nụ Cười” tôi viết năm 1985, khi cao trào vượt biển lên cao, khi mà “đất mẹ không chối bỏ một ai”, nhưng lại bắt hết đám “sĩ quan ngụy” vào tù, còn người miền Nam thì đi vùng kinh tế mới. Nhà cửa bị tịch thu, nên “không sống ở đất mẹ, mà buộc phải bỏ đi”, tôi không nghĩ đó là những lý giải lệch lạc. Tôi đố tác giả bài báo trích từng câu trong ca khúc “Xin Đời Một Nụ Cười” và tìm được tôi sai ở chỗ nào? Nhưng tiếc rằng chuyện đó sẽ không bao giờ xẩy ra với chế độ thông tin một chiều như ở VN hiện nay. Nhà nước CS chỉ lợi dụng quyền tự do báo chí ở hải ngoại phổ biến bừa bãi, để kết tội và vu khống. Trong khi đó thì lại bưng bít những tin tức từ nước ngoài gởi về quốc nội.

Gần đây, ngày 18 tháng 9, 2006, trên tờ Công An Thành Phố HCM, đã phổ biến một bài báo ký tên Phúc Huy, “chửi rủa” thậm tệ nhạc sĩ Việt Dzũng, có một đoạn nói về thuyền nhân tỵ nạn VN như sau (trích nguyên văn) “Việt Dzũng sáng tác, trình bầy hàng loạt ca khúc phản động như Kinh Tị Nạn, Lưu Vong Khúc .... để kích động nạn vượt biên trái phép. Nhiều người đã bỏ mình trên biển cả hoặc bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, chịu đau đớn cả đời, gia đình tan nát cũng vì tin theo những luận điệu xuyên tạc như thế...”

Nếu CSVN thực tâm muốn tìm hiểu chuyện này thì thử làm một cuộc thăm dò ý kiến để xem trong số gần một triệu thuyền nhân, có bao nhiêu người vì nghe nhạc của ông Việt Dzũng “xúi dục” mà xuống thuyền đi tỵ nạn? Hãy tạm bỏ ra ngoài những phán quyết về tư cách của các bài báo nói trên. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu các thế hệ sau có hiểu được lý do và ý nghĩa của cuộc tìm kiếm tự do vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc VN hay không? Liệu những người dân hoặc thế hệ trẻ ở trong nước, nếu không được giải thích, họ có bị ảnh hưởng bởi những bài báo đang cố tình bóp mép và xuyên tạc lịch sử hay không? Làm sao để cho người bản xứ, đặc biệt là các sinh viên đại học ở HK hoặc các nước tự do khác có được những tài liệu chính xác để đối chiếu với lịch sử cận đại về cuộc hành trình tìm tự do đầy bi hùng của một dân tộc không chấp nhận chế độ Cộng Sản? Chắc chắn không có gì trung thực hơn bằng chính lời tự thuật của những người trong cuộc, bằng các nhân chứng sống và bằng tiếng nói chân thành từ trái tim của một con người VN đích thực với tấm lòng nhân bản. Những câu chuyện “Viết Về Nước Mỹ”, “Chuyện Tù Cải Tạo”, “Hành Trình Biển Đông”, “Người Thương Binh VNCH” v..v.., sẽ là những câu trả lời chính xác nhất. Và đó cũng là lý do tôi hỗ trợ công việc làm của bất cứ ai đang có những nỗ lực sưu tầm, dịch thuật, phổ biến và gìn giữ những tài liệu cùng các tác phẩm văn học, nghệ thuật cho đời ta và cho đời sau.

Quá khứ dù có buồn thảm đến đâu, dù có hận thù thế nào, thì vẫn là lịch sử. Mà lịch sử thì cần phải ghi nhận một cách trung thực và đứng đắn. Cần phải lưu giữ và lại càng phải lưu truyền. Kẻ nào không tôn trọng hay cố tình làm sai lạc, chắc chắn sẽ có tội với giống nòi và quê hương, tổ quốc. (Nam Lộc).

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Biển một thời đau thương
http://www.voanews.com/MediaAssets2/vie ... 10_voa.Mp3

Bích Huyền

Nhân ngày 30 tháng 4, chúng ta cùng tưởng niệm những người đi tìm tự do đã bị vùi sâu trong rừng sâu và dưới lòng biển cả…


Nhưng dưới sâu… sâu nữa
Vạn hồn thuyền nhân sớm tối đi về
Vẫn oan khiên… tràn ngập lòng biển Đông

Với thơ Trần Hồng Châu, tức GS Nguyễn Khắc Hoạch, khoa trưởng trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975, chúng ta cùng tưởng niệm ngày 30/4/75 với Biển một thời đau thương trong câu chuyện thơ nhạc Đài VOA đêm nay…

Trong thơ văn nhạc họa, biển như những bài tình ca muôn thuở…

Biển và những đợt sóng chuyên chở những nỗi nhớ nhung của những mối tình say đắm nồng nàn, những đợt sóng ngậm ngùi của những mối tình lỡ làng, trái ngang… Dù sao đi chăng nữa, biển trong những bối cảnh ấy bao giờ cũng lãng mạn, đắm say.

Cám ơn em dịu dàng đi bên cạnh
Biển ngoài kia xanh quá nói chi nhiều
Núi gần quá, sóng và em gần quá
Anh đủ lời để tỏ một tình yêu…

Giọng hát Quang Minh và ca khúc Biển Vẫn Đợi Em của Đoàn Vi Hương lần đầu tiên phát thanh trên làn sóng đài VOA. Vâng, họ còn rất trẻ nhưng cũng rất tài năng, vừa xuất hiện trong sinh hoạt văn nghệ hải ngoại năm qua.

Có một thời, một thời không xa lắm đâu, biển vừa là nỗi mong đợi, là ước mơ, nhưng lắm khi cũng mang đến những tai họa cho người dân Việt tìm đường bỏ nước ra đi để được nhìn thấy ánh sáng tự do phía chân trời xa lạ. Những người dân Việt ấy, lòng yêu quê hương vẫn tràn đầy, tình yêu đất nước vẫn sâu đậm, nhưng họ không còn cách lựa chọn nào khác hơn: Tìm cái sống trong nỗi chết.

Chúng ta sẽ nghẹn ngào, xúc động biết bao nhiêu khi lắng nghe Khánh Ly hát bài Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, sáng tác của Châu Đình An. Ông viết trong những ngày tháng khi chuyện vượt biển tìm tự do của người dân miền Nam lên tới cao điểm. Với bao nguy hiểm đợi chờ. Lòng biển sâu như một thủy cung đen, một nghĩa địa lớn. Sóng nước như cùng đong đưa giấc ngủ ngàn đời…

Chưa có một thống kê chính xác, nhưng người ta ước tính, 2/3 khối người Việt tỵ nạn Cộng sản sống trên khắp thế giới là thuyền nhân. Cứ một thuyền nhân đến được đất liền thì có khoảng bao nhiêu người bỏ mình trong lòng biển sâu? Đó là điều không ai biết rõ.

Cách đây nhiều năm, tác phẩm Hành Trình Biển Đông, gồm nhiều chuyện kể do chính các thuyền nhân còn sống sót ghi lại. Đọc, chúng ta rùng mình kinh sợ và không ngăn được dòng nước mắt, giống như khi xem từng thước phim trình chiếu những con thuyền chật ních người, thật mỏng manh giữa trùng khơi mênh mông. Trên mỗi con thuyền ấy, chồng chất những tấm thân gầy còm, kiệt sức và tơi tả vì đói khát, bệnh tật. Vì mưa sa bão táp và vì sự dập vùi tàn ác của cướp biển.

Ôi đau thương, biển khơi cuồng nộ đầy máu và nước mắt của dân tộc tôi…

Nhân loại thế giới rúng động.

Sự ra đi tìm Tự Do của người Việt Nam bắt đầu từ tháng 4 năm 1975 liên tục trên dưới mười năm trời, có thể nói là một thiên hùng ca bi tráng của lịch sử dân tộc.

Biển Đông nghìn trùng cơn sóng vỗ
Biệt ly với những đoạn trường…
(Kd)

EM BÉ VIỆT NAM VÀ VIÊN SỎI

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

- Viên kẹo tròn nầy để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị
Viên kẹo lớn nầy để lại cho em
Còn viên kẹo thật to nầy... là phần Bé đấy

Bên bờ biển Palawan
Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Ðang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện một mình
Như nói với xa xăm

- Em đến từ Việt Nam
Câu trả lời thường xuyên và duy nhất
Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng nầy thôi
Em nhớ kỹ trong lòng
Em chỉ ra ngoài Ðông Hải mênh mông
Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?
- Ngủ ngoài biển cả
Em của em đâu?
- Sóng cuốn đi rồi

Chị của em đâu?
- Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?
Em lắc đầu không nói
- Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Ðã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đã chết đói trên tàu
Chị của em hải tặc bắt đi đâu
Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nỗi
Ðã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

- Viên kẹo tròn nầy để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị
Viên kẹo lớn nầy để lại cho em
Còn viên kẹo thật to nầy... là phần Bé đấy

Suốt tuần nay em vẫn ngồi
Một mình lẫm bẩm
Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi
Như thuở chờ Mẹ đi chợ về
- Thật trể làm sao
Em tiếp tục thì thầm
Những câu nói vẫn vơ
Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc

Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi
Mai nầy ai hỏi Bé yêu chi
Em sẽ nói là em yêu biển
Nơi cha chết không tiếng kèn đưa tiễn
Nơi tiếng chị rên
Nghe buốt cả thịt da
Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Nơi em trai ở lại
Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.

Khi biên soạn chương trình này, Bích Huyền đã phải ngưng nhiều lần vì cảm thấy lòng trĩu nặng! Và ngay lúc này đây nghe bài hát Em Bé Và Viên Sỏi, Phan Văn Hưng soạn theo thơ Trần Trung Đạo, với phần diễn tả của chính tác giả Phan Văn Hưng và giọng hát của em bé Đào Ái Hòa. Bích Huyền biết mình không tránh khỏi sự xúc động nghẹn ngào… Vâng, nỗi đau riêng đã trở thành nỗi đau chung của dân tộc. Nỗi đau thương đó đã trở thành một quá khứ tối đen, trở thành một trang sử đau buồn của dân tộc Việt Nam…

*Những ca khúc trong chương trình:
-Biển Vẫn Đợi Em, nhạc và lời của Đoàn Vi Hương, giọng hát Quang Minh
-Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, nhạc và lời của Châu Đình An, giọng hát Khánh Ly
-Em Bé Và Viên Sỏi, thơ Trần Trung Đạo, Phan Văn Hưng phổ nhạc, giọng hát Phan Văn Hưng và bé Đào Ái Hoa

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ai Sẽ Nói Thay Cho Bạn?
Đầu tiên họ lùng bắt những người theo đảng Xã Hội,
tôi đã không lên tiếng, vì tôi không theo đảng Xã Hội.
Khi họ đi lùng những người Công Giáo,
tôi đã không lên tiếng, vì tôi không phải đạo Công Giáo.
Kế họ tìm những người theo đạo Do Thái,
tôi đã không lên tiếng, vì tôi không phải đạo Do Thái.
Rồi họ tìm đến tôi,
và lúc ấy chẳng còn ai khác để lên tiếng thay cho tôi.



Những lời phát biểu trên của Mục Sư Martin Niemởller, một nạn nhân tù đày thời Đức Quốc Xã vẫn còn vang vọng mãi trong tâm trí bao nhiêu người yêu chuộng Tự Do hoặc đang thèm khát Tự Do. Ai sẽ nói thay cho bạn về những ước vọng, những khao khát về giá trị con người ? Ai sẽ phát biểu sự chọn lựa mà bạn mong muốn nhất cho đời sống, cho cộng đồng, cho gia đình, cho tương lai con cái?


Chúng ta cần phải đứng lên, nói lên, nói to lên, trước khi không còn ai khác để nói thay cho chúng ta. Ngay cả trước khi chúng ta bị trực tiếp đe dọa chúng ta cần phải chọn lựa một thái độ thích hợp và bày tỏ quan điểm thích ứng đồng lòng với những tiếng nói khác để có thể biến Nước Mỹ thành một xã hội tốt đẹp hơn cho lý tưởng Tự Do cùng với mọi công dân Hoa Kỳ khác.


Trong kỳ đại hội các đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa chúng ta đều thấy những giọt nước mắt rất chân thành khi các diển giả nói lên về xứ sở của họ: Tôi là một người Mỹ đầy tự hào... chúng ta sẽ thấy ngay những ánh mắt long lanh, những tiếng hô biểu đồng tình, và cả những giọt lệ khi các diễn giả phát biểu về ước vọng sẽ làm quốc gia Hoa Kỳ tốt đẹp hơn...


Ngày tôi còn bé, có một vị thầy đã dẫn dắt tôi. Ông dạy cho tôi về giá trị của lý tưởng. Ông cho tôi trí tuệ, và mang tôi từ vùng bóng tối của khờ dại vào vùng ánh sáng của ước vọng và lý tưởng. Ông mang cho tôi những kiến thức lạ, và cho tôi khoảng trống để tôi tự suy tư tìm thêm đáp số thích hợp cho chính mình. Và tôi luôn luôn ước ao một ngày nào đó tôi cũng sẽ mang ánh sáng ấy cho những người kế tiếp. Một hôm tôi hỏi: Thưa thầy, thế nào là một công dân đúng nghĩa? Ông nói: Con ạ, không phải chỉ đơn thuần con được sanh ra ở một quốc gia nào đó, là con đã đương nhiên trở thành một công dân đúng nghỉa... Chỉ khi nào con sống đúng với cái lý tưởng mà đã khiến quốc gia đó trở nên phồn thịnh hơn, tốt đẹp hơn, đáng giá hơn...l úc bấy giờ con mới là một công đân đúng nghỉa của quốc gia ấy.


Trong kỳ đại hội đảng Dân Chủ vừa qua chúng ta nghe Hillary Clinton phát biểu: Các bạn, chúng ta phải cùng làm việc cho tổ quốc mà chúng ta rất yêu quý. Tôi đã không trải qua 35 năm phục vụ trong những hố thẳm khó khăn, tranh đấu cho quyền lợi trẻ em, cho bảo hiểm sức khỏe toàn quốc, cho quân bình giữa việc làm và gia đình, cho quyền của phụ nữ của Mỹ quốc và cả nơi khác để thấy tiềm lực và hứa hẹn của quốc gia bị đánh mất... khi các phòng đầu phiếu được khép cửa, và những quảng cáo về bầu cử không còn loan trên truyền hình, mọi sự sẽ do chính các bạn chịu trách nhiệm về sự chọn lưa, và nó sẽ ảnh hưởng đời sống của chính các bạn và tương lai con cái của các bạn... Chúng ta còn nhiều việc phải lo trước mắt: mất việc làm, mất nhà, giảm lương, giá đồ vật gia tăng, quốc gia mang nặng nợ, tiền mượn từ Trung Quốc để mua xăng dầu Ả Rập, chiến tranh Nga và Georgia, Iran và Iraq...


Từ 1848 một số phụ nữ can đảm và vài người đàn ông đã cùng đứng lên đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, vì vậy mà hằng mấy thập niên nay, từ 88 năm về trước phụ nữ đã được quyền bầu cử...


Trên con đường đấu tranh cho tự do một phụ nữ can đãm người New York, bà Harriet Tubman, người đã liều mạng sống nhằm cứu những nô lệ đi trốn từng chỉ dẫn: "Nếu bạn nghe chó sủa, cứ bước tới. Nếu bạn thấy đuốc đi lùng thắp sáng đầy rừng, cứ bước tới. Nếu có tiếng la đuổi theo bạn, cứ bước tới. Không bao giờ ngừng lại. Cứ bước tới. Nếu bạn muốn nếm mùi vị của Tự Do, phải ngang nhiên bước tới"...


Cựu Tổng Thống Bill Clinton phát biểu: Quốc gia chúng ta đang gặp nạn ở hai mặt: Giấc Mơ Hoa Kỳ đang bị khủng hoảng ở trong nước, và thế lảnh đạo của chúng ta trên thế giới bị suy yếu... Giới trung lưu và giới thu nhập kém bị thiệt hại, nhà cửa bị tịch thu, và nợ thẻ tín dụng gia tăng... bảo hiểm sức khỏe gia đình biến mất, và tăng giá cao độ về giá hàng chợ, giá điện nước, giá xăng dầu...Vị thế của nước Mỹ trên thế giới bị suy giảm vì quá nhiều những quyết định đơn phương của chính quyền chúng ta và quá ít sự hợp tác của các nước khác, một sự lệ thuộc quá nặng nề vào xăng dầu nhập cảng, sự từ khước vai trò đối với hiện tượng tăng nhiệt toàn cầu, sự mang nợ gia tăng đáng lo ngại vào tiền từ nước ngoài, gánh nặng quân sự trầm trọng, và sự thất bại trong việc xử dụng sức mạnh của thương thuyết ngoại giao, từ Trung Đông đến Phi Châu, từ Nam Mỹ đến Trung Âu và Đông Âu... Hẳn nhiên, chúng ta cần một Tổng Thống mới để tái tạo lại Giấc Mơ Hoa Kỳ và xây dựng lại vị thế Nước Mỹ trên liên hệ thế giới...


Ứng Cử Viên Tổng Thống Barack Obama phát biểu: Bốn năm trước, tôi đứng trước quý vị và kể chuyện của tôi, về sự gặp gỡ ngắn ngủi của một người cha từ nước Keynya và bà mẹ Kansas của tôi. Cả hai đều không giàu có và không ai biết đến, nhưng họ cùng có một niềm tin là tại Hoa Kỳ đứa con trai của họ có thể đạt được điều gì mà cậu ấy theo đuổi...Vì niềm hứa hẹn đó mà đã khiến quốc gia này đặc biệt, rằng với kiên nhẩn làm việc và hi sinh cho mục đích, mọi người chúng ta đều có thể đạt giấc mơ của chính mình... Đó là lý do tôi có mặt ở đây hôm nay...


Những người trên đây tuy phát biểu những lời kêu gọi nóng bỏng có mục đích chính trị trong kỳ vận động tranh cử nhưng đích thật cũng có một sợi giây vô hình nào đó đã nối kết họ lại từ một mẫu số chung của các người công dân Mỹ. Là công dân của một quốc gia đầy cá nhân chủ nghĩa nhưng họ tôn trọng một giá trị chung về tổ quốc Hoa Kỳ. Khi đối phó với khủng bố họ dẹp các khác biệt về chính trị để cùng đứng thành một phe, đối đầu với kẻ địch. Khi vận động tranh cử các ứng cử viên chỉ trích nhau, nhưng khi phiếu đã bầu xong và tiếng nói của đại đa số cử tri đã phán quyết, họ cùng yễm trợ người do đảng họ bầu ra. Họ tôn trọng luật chơi và hành xử theo luật chơi đó.


Điều này không khỏi khiến chúng ta tự nhìn lại thân phận chính mình và nêu lên một số câu hỏi.

Thế nào là điểm chung của chúng ta, những người Việt tị nạn khắp nơi? Chúng ta phải làm những gì cho những người không có cơ hội nói lên tiếng nói cho chính họ?


Đã được 35 năm kể từ ngày tôi đặt chân đến trại tỵ nạn Indiantown Gap tại Pennsylvania. Trên biển cả lênh đênh đã có lần tôi suy tính sẽ không còn thiết sống nữa nếu bị Cộng Sản bắt được. Tập thể người Việt không từng bỏ nước ra đi năm 1975 chỉ vì miếng cơm manh áo. Chúng ta là những người tị nạn chính trị. Chính vì lý do đó mà nước Hoa Kỳ đã ưu tiên cho chúng ta vào nước Mỹ tị nạn và nhập quốc tịch với lý lịch "political refugees".


Sau khi tốt nghiệp đại học nhưng vẫn còn nhiều suy tư và bâng khuâng về lý lịch nhân bản của chính mình, tôi cứ mãi chần chừ không nộp đơn nhập quốc tịch. Một cái gì đó thâm trầm với mặc cảm tội lỗi về sự khước từ bản chất Việt Nam để thay thế bằng một quốc tịch mới khiến cho tôi ngần ngừ mãi cho đến ngày đi làm việc cho hảng Exxon ở Houston TX. Hãng bắt buộc các kỹ sư trong nhóm thiết kế hệ thống computer thâu dữ kiện cho các tàu đi tìm dầu phải có thông hành để ứng biến, có thể bay đến bất kỳ nước nào khi hữu sự, nhằm yễm trợ các chuyến hải hành viễn liên đi tìm dầu rất tốn kém này. Cuối cùng tôi đã làm thủ thục và tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ năm 1981. Ngày đưa tay tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ tôi chợt nhớ lời của vị thầy tôi trong những lời nhắn nhủ mà tôi hằng nhớ mãi... về câu hỏi thế nào là một công dân tốt...và bao nhiêu năm nay tôi vẫn tự nhủ thầm rằng dù trở thành một công dân Hoa Kỳ tôi vẫn có một tình yêu quê hương Việt Nam sâu thẳm với những giá trị nhân bản tốt đẹp ấy đã hun đúc tôi nên người. Và tôi sẽ không bao giờ quên được nguồn gốc giá trị chính mình.


Khoảng năm 1987 nước Mỹ thời Tổng Thống Bush (cha) đang chuẩn bị tiến quân sang Iraq đánh giặc để giải cứu tiểu quốc Kuwait đang bị Iraq xâm chiếm. Mọi người khắp nơi đều bàn tán xôn xao về viễn tượng chiến tranh. Vì có tham dự diễn thuyết và thắng một số giải thưởng trong hội Toastmasters International, tôi được một giáo sư trường Đại Học Cal State Long Beach biết đến và mời tôi làm người khách đặc biệt để bàn luận về đề tài Chiến Tranh Việt Nam với các sinh viên năm thứ tư thuộc phân khoa Sử trong lớp của ông. Khi tôi đến lớp thì thấy có khoảng 28-30 sinh viên, cùng với vị giáo sư. Tôi đề nghị mọi người cùng sắp ghế thành một vòng tròn lớn cho thân mật và tự giới thiệu tôi không phải là một sử gia, cũng không có một cái nhìn bao quát và tế nhị để nói về một đề tài chiến tranh khá phức tạp. Tôi chỉ là một chứng nhân, một người đã được sinh ra và lớn lên trong chiến tranh. Những điều tôi sắp nói có thể sẽ là chủ quan vì có cả những niềm ẩn uất đau thương của một con người trong cuộc... Các sinh viên năm thứ tư sắp tốt nghiệp đại học có nhiều kiến thức nên đã đặt ra nhiều câu hỏi rất hay, tiếc là tôi đã bỏ mất cơ hội ghi hết lại những kỹ niệm đặc biệt đó... tôi chỉ nhớ mình đã sung sướng vì có dịp nói lên những uẩn khúc của người Việt Nam... rằng nước Mỹ nếu muốn tham gia bất kỳ 1 trận chiến nào thì nước Mỹ phải suy tính cho cẩn thận... mọi người cùng phải đồng lòng quyết chiến đấu... vì mục đích cuối cùng của chiến tranh phải là chiến thắng... chiến tranh không thể nào được xem như là 1 nước cờ nhằm đi đến giải pháp chính trị, mà phải là ngược lại... biện pháp tối hậu chiến tranh chỉ được dùng tới khi không còn 1 giải ngọai giao nào khác nữa... vì chiến tranh sẽ gây tang thương cho không biết bao nhiêu gia đình bao nhiêu thế hệ...


Nói chung bằng những lời lẽ tuy nhẹ nhàng tôi đã phân tích nhiều điễm sai lầm trong sự tham gia chiến tranh Việt Nam của người Mỹ... Tôi kể họ nghe ngày đến đảo Orote Point (ở Guam) trong khi chờ đợi lãnh cơm, một Trung Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ chợt đến hỏi tôi: Hạm Đội Hải Quân Việt Nam có bao nhiêu tàu? Tôi hơi bị bất ngờ, trả lời: Hạm Đội Hải Quân Việt Nam có khoảng 42 chiến hạm lớn nhỏ... Anh ta hỏi tiếp: Thế tại sao các anh thua Việt Cộng... Tôi suy nghỉ và hỏi lại anh: Vậy tổng số chiến hạm Hoa Kỳ là bao nhiêu chiến hạm...anh trả lời: Nhiều quá không thể nào kể hết... Tôi hỏi: Vậy tại sao Hoa Kỳ cũng không thắng được Việt Cộng? Anh ta im lăng, rồi bỏ đi...

Niềm sung sướng của tôi sau buổi nói chuyện ngày hôm đó tại Cal State Long Beach là cái bắt tay rất thân tình của vị giáo sư Sử học và những ánh mắt những nụ cười thông cảm của các sinh viên khi họ ra về.


Những ngày mới lớn ở Việt Nam chúng ta không được ban cho đầy đủ những ân huệ làm người đó. Khi đi học chúng ta phải nghe lời giảng của thầy cô nhiều hơn là được khuyến khích trình bày cảm tưởng. Ngoài đời các quyết định quan trọng quan hệ tới vận mạng quốc gia thường là do một số ít những kẻ cầm quyền thao túng. Các cuộc bầu cử đầy rẫy những trò lường bịp. Một số kẻ cầm quyền thì tham lam. Sức mạnh của cử tri gần như vô nghỉa nên nhiều người rất thờ ơ với công cuộc của đất nước. Đến thời Cộng Sản lại càng tệ hại hơn. Học trò vào lớp học rặc như vẹt những giáo điều, ai hỏi câu gì động chạm đến phân tích lý luận thì cho là phản động. Trại cải tạo chỉ biết nhồi sọ với những điều phi lý. Ngày nay một thiểu số kẻ cầm quyền ở Việt Nam có tài sản hằng tỉ đô la, còn tuyệt đại đa số vẫn lầm than tay làm hàm nhai không một cơ hội thoát ra được cái vòng lẩn quẩn của cảnh cơ hàn.


Nhưng hiện tại đa số là công dân Mỹ chúng ta có quyền nói lên tiếng nói của sức mạnh từ lá phiếu. Ai sẽ nói thay cho bạn? Chính chúng ta cần phải đứng lên, nói lên, nói to lên, trước khi không còn ai khác để nói thay cho chúng ta. Chúng ta cần phải chọn lựa một thái độ thích hợp và bày tỏ quan điểm thích ứng đồng lòng với những tiếng nói khác để có thể biến Nước Mỹ thành một xã hội tốt đẹp hơn. Lý tưởng Tự Do có nghỉa chúng ta cùng sinh sống với các cộng đồng bạn. Bất kỳ bạn bỏ phiếu cho ai, Dân Chủ hay Cộng Hòa, xin hãy theo dõi những phương sách của các ứng cử viên và lựa chọn đúng bằng lá phiếu. Đối với cộng đồng Việt Nam xin hãy lắng nghe và phân biệt bằng lý trí của lẻ phải và hành xử theo công đạo để tránh sự chia rẻ của kẻ thù.


Ngày nay có những nhà tranh đấu cho nhân quyền và tôn giáo trong nước đã thay dân kêu lên những tiếng đau thương khẩn thiết, chúng ta có thể nào để cho các tiếng kêu uẩn ức đó rơi vào quên lảng được chăng ? Tiềm lực của chúng ta hiện tại khá mạnh so với những ngày xếp hành lảnh cơm tại trai Orote Point lúc chân ướt chân ráo mới đến Guam chuẩn bị hồ sơ vào nước Mỹ. Và những ân tình, ơn nghỉa với các thương phế binh cựu quân nhân QLVNCH còn ở lại tại Việt Nam, chúng ta có thể nào bỏ qua những lời đau đớn thống khổ của những người từng hi sinh một phần thân thể quyết gìn giử biên cương đó hay không?


Nơi tượng Nữ Thần Tự Do tại Ellis Island gần New York, có những hàng chữ sau đây vẫn còn khắc dưới chân bức tượng ấy:


Hãy giao cho ta những cơ cực, những nghèo khó
Những thân xác thèm khát được hít thở Tự do
Những kẻ bị ruồng rẫy từ các bờ biển lạ
Mang đến đây những kẻ vô gia cư, những con người qua bao bão tố
Ta sẽ nâng chiếc đèn dẫn lối vào cổng vàng



Nếu có người hỏi đến tôi, tôi sẽ không ngần ngại cho biết tôi là một công dân Hoa Kỳ và cũng là một người tị nạn chính trị Việt Nam. Tôi đã phải bỏ nước ra đi vì không còn chổ để dung thân. Tôi đã may mắn đến được bến bờ Tự Do này khi nước tôi bị Cộng Sản chiếm. Tôi luôn cố gắng trở thành một công dân Hoa Kỳ tốt và luôn cố gắng gìn giử những giá trị tốt đẹp của một người con gốc Việt.


CÁT BIỂN

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Người 'không ăn suốt 70 năm' vẫn sống

Các nhà khoa học Ấn Độ nghiên cứu một cụ ông 82 tuổi sau khi cụ tuyên bố không ăn hay uống bất kỳ thứ gì trong suốt 70 năm qua.

Image
Ảnh chụp cụ Prahlad Jani trong bệnh viện Sterling, thành phố Ahmedabad vào ngày 26/4. Ảnh: AFP.
Prahlad Jani, 82 tuổi, nói với Telegraph rằng cụ rời khỏi nhà khi mới lên 7 tuổi và lang thang khắp bang Rajasthan, Ấn Độ. Jani tin cụ được một nữ thần phù trợ nên không cần ăn hay uống mà vẫn sống bình thường. Nữ thần rót thuốc tiên qua một lỗ trong vòm miệng của cụ. Theo lời kể của Jani thì trong suốt 7 thập kỷ qua, cụ không ăn, uống và cũng chẳng thải thứ gì ra khỏi cơ thể.

Bác sĩ Sudhir Shah, một người chuyên nghiên cứu khả năng siêu nhiên, từng theo dõi cụ Janin vào năm 2003. Shah nói cụ không ăn và uống trong 10 ngày. Cơ thể cụ hấp thụ nước tiểu ngay sau khi nó hình thành trong bàng quang. Trọng lượng cơ thể của cụ giảm chút ít sau thử nghiệm.

Dù bác sĩ Shah công nhận khả năng của cụ Jani, nhiều người vẫn cho rằng câu chuyện đó chỉ là trò bịp bợm.

Giờ đây các nhà khoa học thuộc Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển quân sự của Ấn Độ (DRDO) quyết định tìm hiểu khả năng của Prahlad Jani. Họ đưa cụ vào một phòng biệt lập trong bệnh viện Sterling tại thành phố Ahmedabad, bang Gurjarat. Tại đây người ta theo dõi chặt chẽ Jani. Từ ngày 22/4 tới nay cụ không ăn và uống bất kỳ thứ gì, song các bác sĩ chưa phát hiện bất kỳ tác động tiêu cực nào, như đói, mệt mỏi, mất nước, kiệt sức, hôn mê. Cũng trong khoảng thời gian đó cụ không hề tiểu tiện hay đại tiện.

Telegraph cho biết, các bác sĩ sẽ tiếp tục theo dõi cụ Jani trong 15 ngày nữa. Họ dự đoán trong khoảng thời gian đó cơ thể cụ sẽ có những triệu chứng tiêu cực như teo cơ, mất nước, giảm cân, mệt mỏi, các cơ quan nội tạng ngừng hoạt động.

DRDO cho rằng cụ Jani có thể dạy các binh sĩ cách kéo dài thời gian sống sót mà không cần thức ăn. Những bí mật của cụ cũng có thể giúp những nạn nhân của thảm họa tăng khả năng sống sót trong lúc chờ lực lượng cứu hộ.

“Nếu những lời khẳng định của cụ Jani được chứng minh thì đây sẽ là một bước đột phá trong y khoa. Chúng ta sẽ có thể cứu nhiều mạng người trong các thảm họa thiên nhiên, những cuộc hành trình trên biển và các điều kiện khắc nghiệt. Chúng ta có thể dạy người dân những kỹ thuật sinh tồn với rất ít thức ăn và nước trong các điều kiện bất lợi”, tiến sĩ G Ilavazhagan, giám đốc Viện Sinh lý học và Khoa học ứng dụng thuộc Bộ Quốc phòng Ấn Độ, phát biểu.

Nhiều tín đồ đạo Jain và Hindu tại Ấn Độ có thể nhịn ăn và uống tới 8 ngày mà cơ thể vẫn hoàn toàn bình thường. Trên thực tế nhịn ăn là một phần trong các nghi lễ tôn giáo của họ. Theo Telegraph, phần lớn loài người không thể sống nếu không ăn trong 50 ngày.

Minh Long

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

Con buôn dùng sơn quan tài làm phẩm cho xôi gấc Wednesday, 21 April 2010 23:14 Chuyện Bên Nhà .Hà Nội: Theo các tin tức vừa được phổ biến thì ông chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực, Thực phẩm Việt Nam đã cho biết là việc sử dụng các loại hóa chất công nghiệp để tạo màu cho thực phẩm vẫn còn tràn lan. Một số nơi còn sử dụng loại sơn dùng sơn quan tài để tạo màu đỏ đẹp mắt cho xôi gấc. Một đám cưới tại ngoại thành Hà Nội có phục vụ khách loại xôi này, kết quả là nhiều người bị ngộ độc phải nhập viện.


Tại Thanh Oai Hà Nội, nhiều nông dân giấm cà chua bằng cách nhúng vào hóa chất. Người ta dùng một lọ to thuốc bảo vệ thực vật có hòa lẫn chất kích thích sinh trưởng, khi cà chua còn non thì nhúng vào. Dưới tác động của những chất này, cà, dưa tăng trưởng nhanh hơn, sâu cũng sợ, không dám chạm đến. Tuy nhiên hàm lượng các chất độc hại là vô cùng lớn.


Chuyện nông dân trồng rau ở luống này để bán, ở luống khác cho nhà ăn không còn lạ. Lạ hơn là nay đến chủ siêu thị cũng không dám ăn rau củ bán trong cửa hàng của mình. Cả Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương của Cộng sản Việt Nam đều thú nhận là chưa kiểm soát được các loại hóa chất sử dụng trong công nghiệp thực phẩm tại Việt Nam.
Image

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image
Bác nào muốn chạy nhanh vượt đèn đỏ thì click vào đây.



Post Reply