Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


Tuyên bố của nhà báo Bùi Tín nhân ngày 30-4-2010
Bùi Tín viết riêng cho VOA Thứ Năm, 29 tháng 4 2010

Gần đây Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân ở Hà Nội đã mở hội nghị để viết lại tài liệu lịch sử về ngày 30-4-1975, với ý định được tuyên bố là «thuật lại thật chính xác những gì đã xảy ra trong ngày hôm ấy tại Dinh Độc lập giữa Sài Gòn»’.

Thật đáng tiếc là tài liệu được tạo nên có một số điều sai sự thật.

Là một người chứng kiến tại chỗ, tôi buộc lòng phải lên tiếng, không hề vì động cơ cá nhân.

Tôi giữ thái độ trung thực, tôn trọng sự thật đúng như nó có, không tô vẽ gì thêm - không tự vẽ thêm râu ria - cũng không để ai khác nhận vơ những điều chính tôi đã phát biểu.

Trong tài liệu nói trên của Bộ Tổng tham mưu, không hề nói gì đến chuyện tôi, Bùi Tín, lúc ấy là Thượng tá QĐND, cũng là cán bộ cao cấp duy nhất chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh vào buổi trưa và xế chiều ngày 30-4-1975 tại «Dinh Độc Lập».

Tôi không hề mảy may có ý tranh dành tiếng tăm hay vinh dự gì trong thời điểm lịch sử này.

Biết bao liệt sỹ của 2 bên đã nằm xuống, trong đó có nhiều bạn thân, đồng đội, anh em, con cháu trong dòng họ của tôi. Việc tranh dành công trạng là điều tôi coi là xấu xa đáng sỉ nhục.

Nhưng lịch sử là lịch sử. Sự thật lịch sử cần tôn trọng tuyệt đối. Nói sai lịch sử về một số chi tiết có thể gây nghi ngờ về nhiều điều lớn hơn.

Do có những nhận định mang tính chất bôi xấu, vu cáo là tôi đã tự nhận là người nhận đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, thậm chí cho là tôi không hề có mặt ngày 30-4 ở Dinh Độc Lập, nên tôi thấy cần nói rõ sự thật chân thực là như sau:

-Tôi đến Dinh Độc lập cùng Trung tá Nguyễn Trần Thiết - phóng viên ban biên tập quân sự của báo QĐND - lúc 12 giờ rưỡi trưa ngày 30-4-1975, sau khi đoàn cơ giới của Lữ đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 đột nhập vào trong sân;

-Tôi và Trung tá Thiết ra ngoài cổng Dinh hỏi chuyện vài thanh niên cưỡi xe gắn máy đang tò mò xúm quanh mấy xe tăng, rồi vội vào cùng đi khắp các tầng, các phòng của dinh Độc Lập. Xong chúng tôi tìm ngay chỗ ngồi viết bài tường thuật để gửi gấp về Hà Nội, vì biết rằng ngoài tòa soạn đang mong chờ cho số báo in ngay tối nay.

-Tôi đang viết bài thì Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn 202 và Trung tá Nguyễn Văn Hân, trưởng Ban Bảo vệ của Quân đoàn 2, cùng đến yêu cầu tôi vào gặp nội các Dương Văn Minh. Tôi từ chối việc này, vì tôi không được giao trách nhiệm, lại đang chăm chú lo viết bài báo. Tôi trả lời 2 trung tá: «Các anh nên đưa 1, 2 người ra đài phát thanh để công bố tin toàn thắng đi, nên làm gấp để cả nước và thế giới biết». Sau này gặp lại anh Tùng, tôi mới biết 2 anh trung tá ấy cùng nghĩ rằng cấp trung tá chỉ là cán bộ trung cấp, nên việc làm không đủ giá trị theo quân phong quân kỷ. Họ cần ý kiến một cán bộ cao cấp, mà lúc ấy không có một ai khác là tôi, họ biết tôi là cấp thượng tá, là phó tổng biên tập báo QĐND.

[Cần nói rõ thêm để các bạn ở ngoài quân đội biết là giữa Trung tá và Thượng tá là khác không chỉ một cấp, mà khác hẳn một bậc. Cán bộ sơ cấp từ Thiếu uý lên Đại úy là bậc Sơ cấp, từ Thiếu tá và Trung tá là bậc Trung cấp, từ Thượng tá lên cấp Tướng là bậc Cao cấp. Phân biệt 3 cấp ấy rất rõ, khác hẳn nhau, từ bếp ăn, phòng ngủ, nhà ở, quân phục, tiền lương, sổ mua hàng, lớp học, trường học, hội nghị, tài liệu đều phân biệt rõ.]

Ngay sau đó, Trung tá Bùi Văn Tùng đưa ông Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn để loan tin đầu hàng trong vòng nửa tiếng rồi cùng trở về dinh Độc Lập, chờ cấp trên vào; họ chờ nhất là Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn II. Tôi cũng đã viết gần xong bài báo. Tôi còn nhớ Trung tá Thiết mở hộc bàn giấy của tổng thống lấy ra tờ giấy cứng in Thực đơn của Tổng thống trưa 30-4-1975, trên đó có 2 món chính là: «gân bò hầm sâm» và «cá thu kho mía», đưa cho tôi xem để ghi thêm trong bài báo cho sinh động.

Hai Trung tá Tùng và Hân lại khẩn khoản nói với tôi: họ đang ngồi chờ trong kia, chừng 30 người, các ông tướng chưa ai vô, anh vào gặp họ đi, để họ chờ lâu không tiện.

Anh Thiết bàn với tôi: «Anh vào gặp họ đi, ta cùng vào rồi sẽ viết thêm vài chi tiết, sau ta sẽ vào trại Davis – Tân Sơn Nhất, nhờ tổ thông tin đánh bài báo ra Tổng cục chính trị».

Trung tá Hân dẫn 2 chúng tôi vào phòng họp lớn. Anh Hân, trên cương vị trưởng ban bảo vệ Quân đoàn hiện là người sắp xếp trật tự của dinh Độc Lập. Anh vào trước, báo tin: «Tất cả đứng dậy! Sắp có một cán bộ cao cấp QĐND vào gặp các ông!»

Tôi và anh Thiết bước vào. Phòng khách rộng lớn, ghế ngồi lót dạ đỏ, trên bàn có những cốc nước và mấy hộp hạt đào lộn hột. Anh Thiết ghi tên suốt lượt cả 28 người có mặt, từ các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền đến các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Bùi Tường Chiểu, Nguyễn Hữu Hạnh, Bùi Hòe Thực, ông Diệp, ông Trường v...v...

Vừa lúc ấy, Trung tá Hân đón tổ quay phim Quân giải phóng (có 2 người) vào. Ông Minh bước tới trước, nói chậm rải:-«Thưa quý ông! Chúng tôi chờ quý ông từ buổi sáng đặng chuyển giao chính quyền».

Tôi đáp ngay: «Các ông còn có gì mà bàn giao; không thể bàn giao khi trong tay không còn có gì!»

Tôi không nói gì đến chuyện đầu hàng vì 2 Trung tá Tùng và Hân đã cho tôi biết ông Minh vừa tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh. Ý tôi muốn nói là không thể có chuyện bàn giao chính quyền, vì tình hình đã ngả ngũ xong xuôi.

Tôi thấy các ông Minh, Mẫu, Huyền, Hảo, Có …đều buồn. Ông Minh cúi hẳn đầu, tôi thấy cằm ông lún phún râu, đường gân 2 bên má co giật nhẹ. Tôi liền an ủi: «Hôm nay là ngày vui. Hòa bình đã đến. Cuộc chiến tranh đã kết thúc. Chỉ có người Mỹ là thua. Tất cả người Việt nam ta là người chiến thắng».

Tôi thấy một số vị gật gật đầu, ông Mẫu nở nụ cười vui vẻ, tán đồng. Tôi liền thêm: «Bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều có thể coi ngày hôm nay là ngày vui lớn của mình».

Sau đó tôi mời mọi người ngồi, uống nước, trò chuyện thân mật. Tôi hỏi chuyện ông Minh, sức khỏe ra sao, ngày ông chơi mấy «sét» tennis ? Collection phong lan của ông có bao nhiêu giò rồi? có những loại hiếm quý nào? Ông trả lời hết, vui vẻ, tự nhiên …

Tôi quay sang ông Mẫu hỏi ông từ giã miền Bắc từ hồi nào? Ông còn nhớ gì về vùng quê Chèm Vẽ…nay Cầu lớn Thăng Long qua gần đấy; tôi hỏi về trường Luật ông đang dạy, tôi cũng hỏi ông: Sao tóc ông đẹp, dài vậy, tôi nghe có hồi ông cắt tó phản đối chính quyền ? ông cười, đó là chuyện 2 năm trước, ông luôn mê say với sinh viên trẻ ngành Luật…

Một lát sau, ông Nguyễn Văn Hảo yêu cầu gặp riêng tôi. Tôi cùng ông ngồi cạnh chiếc bàn con bên cửa sổ lớn nhìn xuống sân trước, ông nói: «Tôi là Nguyễn Văn Hảo, giáo sư, phó thủ tướng đặc trách kinh tế, xin báo với riêng ông một tin quan trọng: bọn này đã giữ lại trong kho Ngân khố quốc gia hơn 16 tấn vàng, không cho họ mang ra khỏi nước, mong quý ông báo ra Hà Nội cho người vô nhận…»

Tôi hỏi kỹ lại và tối đó tôi điện ngay cho Thiếu tướng Lê Quang Đạo phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Ngày 2-5-1975 Hà Nội cho chuyên cơ IL 18 vào Sàigòn nhận đủ hơn 16 tấn vàng ấy.

Đêm ấy, tôi gửi bài báo «Sài Gòn 30-4: Trong ánh chớp của lịch sử» in trên số báo QĐND ra sáng 1-5-1975, do tổ thông tin của Đoàn đại biểu Mặt trận Giải phóng trong Ban Liên hợp 2 bên trong trại Davis – Tân Sơn Nhất chuyển bằng tín hiệu morse. Đây là bài báo duy nhất gửi được từ Sài Gòn, vì bưu điện bị đóng cửa liền 2 ngày. Fax, điện thoại viễn liên, điện báo đều tắc. Do chuyển bằng morse, tên 2 món trong thực đơn của tổng thống bị sai, «cá thu kho mía» thành «cá thu kho giá» và «gân bò hầm sâm» thành «gan bò hầm sâm»!

Sáng 1-5 tôi gặp các phóng viên Boris Galash (Tây Đức) và Tiziano Terzani (Ý) và nhận chuyển giúp 2 bài báo ngày 30-4 của họ qua con đường Thông tấn xã Viêt Nam ở Hà Nội. Họ mừng rỡ vô cùng vì đó là điều họ lo, sốt ruột nhất. Bài báo đến được Berlin, Bonn và Roma.

Những sự việc trên đây tôi ghi lại thật đúng với thực tế lịch sử.

Trong tài liệu chính thức của bộ Tổng tham mưu, các câu nói của tôi trên đây được đặt trong miệngTrung tá Bùi Văn Tùng (!). Tôi khá thân với anh Tùng, từng ghé thăm 2 vợ chồng anh. Tôi tin là anh Tùng sẽ có thể đến lúc không ngại gì nói rõ sự thật đầy đủ.

Có những nhân chứng còn sống, về những lời nói của tôi trưa hôm ấy, như các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Hữu Hạnh, các ông Diệp, Trường (tôi không nhớ họ)… cũng như tổ phim Giải phóng hay nhà báo Nguyễn Trần Thiết rất ngay thật thẳng tính.

Sự thật là hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy để tôi là cán bộ cấp cao duy nhất của QĐND có mặt tại dinh Độc Lập trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 16 giờ chiều 30-4-1975 để chứng kiến và chút ít tham gia sự kiện lịch sử này.

Vị tướng đầu tiên tôi gặp lúc đã xế chiều ở Dinh Độc lập là Thiếu tướng Nam Long, phái viên của bộ Tổng tham mưu, tôi cùng tướng Nam Long chụp chung ảnh kỷ niệm. Tối mịt Thiếu tướng Nguyễn Hữu An mới đến, khi quanh sân anh em nổi lửa nấu cơm, mỳ ăn liền.

Sở dĩ một số báo nước ngoài cứ nói phóng lên là tôi là người nhận đầu hàng của tướng Minh là vì tướng Trần Văn Trà chủ tịch ủy ban Quân quản Sài Gòn hồi tháng 9-1975 có lần giới thiệu tôi với các nhà báo Nhật, Pháp, Thái lan, Hoa Kỳ … rằng : đây là nhà báo, sỹ quan cao cấp nhất chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn. Rõ ràng «chứng kiến » và «nhận» là 2 điều khác nhau.

Hồi 1989, khi tôi đưa nhà báo Mỹ Stanley Karnow đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà khách chính phủ (đường Ngô Quyền), ông Giáp giới thiệu với S. Karnow: Đại tá Bùi Tín là sỹ quan cao cấp nhất có mặt ở Dinh Độc Lập khi chính quyền của tướng Minh đầu hàng.

Từ đó, có thể có người hiểu sai, hiểu lầm cho rằng tôi là người nhận đầu hàng. Cũng có thể có người hiểu sai, cho rằng khi tôi nói «không còn gì để bàn giao» thì cũng có nghĩa là tôi đòi họ phải đầu hàng tôi!

Đã có bài báo tiếng Việt ở Pháp bịa ra rằng: Bùi Tín rút súng chĩa vào nội các Dương Văn Minh, hét mọi người phải giơ tay đầu hàng, rồi bắn loạn xạ lên trời để thị uy, làm phách…!

Tôi không bao giờ nhận một điều gì không phải của mình, không do mình làm.

Hơn nữa, sự có mặt của tôi ngày 30-4 -1975 ở Sài Gòn với hy vọng hòa giải và hòa hợp dân tộc trọn vẹn đã sớm tan thành mây khỏi, với chính sách thực tế của lãnh đạo CS là chiếm đóng, trả thù, đày đọa các viên chức, binh sỹ, đồng bào ruột thịt ở miền Nam, tịch thu quyền sống tự do, có nhân phẩm, nhân quyền của nhân dân cả nước suốt 35 năm nay. Gần 20 năm nay họ để cho bọn bành trướng uy hiếp, mua chuộc, để chúng lấn đất, lấn biển, lấn đảo, giết hại ngư dân ta…

Do tình hình đất nước nguy kịch như thế, đã 20 năm nay, tôi chỉ một điều tâm niệm là góp hết sức thực hiện đoàn kết thống nhất dân tộc, cùng toàn dân đấu tranh dành lại các quyền tự do dân chủ bị một chế độ độc đảng toàn trị tước đoạt hơn nửa thế kỷ nay.

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Hình Ảnh Lễ Thượng Kỳ Trên Hàng Không Mẫu Hạm US Midway
30/04/2010



Hình ảnh màu cờ vàng tung bay rạng rỡ trên Hàng Không Mẫu hạm U.S Midway.trong ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 năm 2010.
Ba mươi lăm năm qua,hôm nay mới thấy hãnh diện cho lá cờ .Thế
giới nhìn vào đây sẽ hiểu rỏ giửa 2 lá cờ máu và Vàng 3 sọc đỏ,
ai hơn ai ?
Xin tri ân những người bạn đã nâng trân trọng lá cờ
trên mẫu hạm US.Midway hôm nay cũnh như ngày xưa đã từng kéo lên
tại kỳ đài ở Huế.



Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

[center]Image


Sài Gòn Vĩnh Biệt

Sáng tác : Nam Lộc và Tùng Giang


Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Còn lại đây, những kỷ niệm sống trong tôi
những nụ cười tắt trên môi
những giọt lệ vương sầu đắng

Sài Gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên vĩa hè
Từng ngày qua, mưa vẫn có ngập lối đường về
Và mùa thu, lá còn đổ xuống công viên
bóng người còn bước nghiêng nghiêng
tôi vẫn nhớ thương cho người yêu

Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn
Từng ngày qua, từng kiếp sống, đếm thời gian
Kiếp tha hương, lắm đau thương, lắm chua cay
Tôi gọi tên quê hương mãi thôi

Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về
Người tình ơi, tôi xin hứa trọn mãi lời thề
Dù thời gian, có là một thoáng đam mê
Phố phường đầy những ánh sao đêm
Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên [/center]
Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Đêm Mưa Tháng Mười

Nguyên Nhung


Đêm ấy là một đêm mưa tháng mười, trời chưa cười đã tối. Đáng lẽ thì Huân chưa định lái xe đi vào buổi trưa hôm ấy, khi từ biệt anh bạn cũ nhà ở vùng East New Orleans ra đi. Bầu trời xám xịt, những tảng mây đen nặng nề và hơi gió buốt người thổi thốc vào cái " patio" phía sau nhà, phần phật gần như muốn tốc luôn cái mái tôn cũ kỹ. Bầu trời như trĩu xuống , đe dọa sẽ đổ xuống vùng đất thấp hơn mặt biển này một biển nước. An nhìn bạn ái ngại:

" Cậu ở lại vài hôm đã, vội gì, đường nào chả về La Mã. . ."

Huân bật cười. Đường nào chẳng về La Mã, thế nhưng đường về quê hương xa vời vợi. Từ ngày sang đây bạn bè tan tác mỗi người mỗi nơi mỗi ngả như chim lạc bầy, những lúc gặp gỡ tương phùng hiếm hoi, khi chia tay nghe như trong mắt đã vương ngàn hạt bụi. Bụi làm cay mắt cay lòng, nỗi buồn tha phương , nỗi buồn mất nước, nhìn bạn vừa thương vừa tủi, muốn ở mà ở không được, muốn đi mà đi không đành. . .

An có tính khôi hài, dù trước cái chết trong "đường tơ kẽ tóc" hắn vẫn cứ xem như đùa, Huân thích bạn ở điểm đó. Một thời bay bổng bên nhau trong khu cư xá độc thân đã trôi vèo như mây trôi gió cuốn, may là ngày cuối cùng ấy, cả hai cùng chạy kịp ra chiếc máy bay của phi đoàn đang sửa soạn cất cánh. Cả hai cùng bỏ lại một quê hương tơi bời khói lửa, bỏ lại gia đình, bỏ lại người tình nhỏ bé không một lời giã biệt. Khi qua Mỹ, lúc ở trại tỵ nạn An tìm được một đối tượng tương đối, rồi vội vã kết hôn ngay. Thực ra, với viễn ảnh không ngày về, không còn chọn lựa nào hơn là tìm ngay cho mình một đời sống gia đình để bù đắp nỗi mất mát đó, nhưng thực ra chẳng làm sao có thể thay thế được. Riêng Huân kém may mắn hơn bạn, hay là chàng khó tính hơn để chấp nhận thà sống một mình, chứ không thích sau niềm vui của một ngày, sẽ là những nỗi phiền muộn suốt đời khi thực tình lấy một người vợ mà chưa yêu được bao nhiêu.

Một thời trẻ tuổi của đời thanh niên đã qua, thuở độc thân " tiền lính tính liền", những ngày cuối tháng chưa đến kỳ lương mà tiền đã hết, mì gói nước lạnh làm chuẩn. Mấy hôm ghé vào thăm bạn, hai thằng bạn nối khố thuở nào kề cà bên những chai bia lạnh, kể chuyện cũ. Huân cảm nhận mơ hồ rằng sinh hoạt gia đình bạn có xáo trộn đôi chút, lại thêm thằng bạn thất nghiệp thì mặt vợ An đã không được tươi tỉnh như độ trước. Huân có trực giác rất mạnh, chỉ cần nhìn vào đôi mắt ai là chàng đã cảm nhận ra được ít nhiều điều gì họ đang nghĩ trong lòng, ở lại đây lâu ngày, chàng sẽ trở thành thứ " oan gia nghiệp chướng" cho bạn mà thôi. . .

Thực ra, khi nhận cú phôn của người chị họ, cho biết có một công việc tạm thời rất thích hợp ở thành phố Charlotte yên tĩnh, thuộc tiểu bang North Carolina, Huân nhân tiện chuyến đi ghé vào thăm bạn. Miền Đông New Orleans thuở ấy gồm một khu phố buồn lèo tèo vài tiệm buôn, chợ Chồm Hổm nhóm vào cuối tuần, ì xèo kẻ mua người bán khi trời chưa sáng tỏ, rồi tan ngay khi mặt trời lên. Đấy là những cuối tuần người ta tụ tập vào ngôi nhà thờ địa phương, cầu nguyện và gặp gỡ nhau cho ấm áp chút buồn xa xứ. Những căn phố đủ kiểu buồn hiu trên thềm xi măng khô khốc, cơn gió cuốn những tờ giấy bẩn cuộn theo lớp bụi mù. Vẫn có một nét gì rất Việt Nam trên xứ người, trước sân nhà là bức tượng Thánh, bên hè là một bụi chuối rậm rạp, giàn mướp hương bò quanh bờ rào. Nhìn qua, Huân nhớ mênh mang cái không khí của khu gia binh ở miền Nam ngày xưa, một quận lỵ đìu hiu nào đó thời chinh chiến. Suốt những nẻo đường quê hương, từ trên phi cơ nhìn xuống, chiếc đồn nhỏ nằm lẻ loi ven quốc lộ, xung quanh là trảng cỏ tranh đầy những bất trắc rình rập.


Sau vuông rào khu nhà thờ là mấy dãy chung cư cây cối đã cao tầm tầm mái nhà, đêm đêm người ta nghe lác đác tiếng súng nổ. Chiều chiều từng tốp trẻ em da màu chơi đùa dưới bóng cây, toát ra một sự nghèo nàn, nhếch nhác. Nếu không có dãy tiệm tùng của người Việt bên kia cầu, khu này mang dáng vẻ một khung cảnh chết, cỏ cây dường như mới xanh lên từ lúc có đám di dân người Việt kéo đến định cư lập nghiệp. Không biết sao An lại chui về đây rồi bằng lòng với số phận, hắn vẫn nhậu say bí tỉ quên trời quên đất, quên luôn một thuở thân nam nhi bồng bềnh với mây trời, gió cuốn.

Phải đi thôi, hành lý đồ đạc đã gói ghém vào hai chiếc va ly nằm sau cái cốp xe để lên đường, khởi hành từ thành phố Houston khi trời vừa hừng sáng. Đó là những ngày thê thảm nhất cuối thập niên 80, thành phố dãy chết sau đợt kinh tế xuống, so với nơi này cũng chẳng hơn gì nhau. Nước Mỹ buồn rầu những khu chung cư chồng lên nhau như hộp diêm, bao nhiêu hãng xưởng đồng loạt đóng cửa, kéo theo hằng chục ngàn người thất nghiệp, ngành cơ khí , công nghiệp xuống dốc thê thảm, Huân cũng nằm trong số những người không may đó.

Huân sang Mỹ có một mình, đi làm thì lương bổng rẻ mạt, chỉ đủ gói ghém gửi về giúp cho gia đình ở Việt Nam. Tất cả bên nhà đều trông vào một mình chàng, ông anh kẹt lại trong tù, bố mẹ nay đau mai yếu, mấy cô em gái lúc nào cũng xa gần nhắc anh chuyện đi xa, bởi vậy tự nhiên chàng gánh lên hai vai một gánh nợ lớn. Vừa tạm ổn định đời sống, đang nghĩ đến việc xây dựng gia đình thì tai ương đổ xuống, lại mất việc. Đúng ra thì cô bạn gái vừa quen không tệ đến nỗi hắt hủi chàng, nhưng tự Huân đã biết dừng lại để không bước vào sự bế tắc của tình cảm. Huân đã chứng kiến nhiều cảnh đổ vỡ của bạn bè sau khi bị thất nghiệp, nó kéo theo nhiều tai ương khác nữa. Mất nhà, mất xe, mất vợ, có đầm ấm lắm cũng chịu đựng được thời gian đầu, sau đến thời kỳ tối tăm hơn, quanh quẩn mãi trong nhà cũng sinh tội, rồi cãi nhau liên tu bất tận, thấy mặt nhau là cơn chán nó ứ lên tận cổ. Chuyện chia tay xảy ra như cơm bữa, qua xứ này đàn bà khôn ra nhiều, thực tế gấp nghìn lần hồi còn ở quê nhà, vì thế chỉ hơi nặng lời một lần là nó đã đủ sức làm rã luôn một mái ấm gia đình.

* * *

Chiếc xe tàng của Huân rời khu East New Orleans, con đường liên tỉnh 90 vắng hoe, người ta trốn hết ở trong nhà những ngày mưa gió. Huân cho xe chạy ngược lại nhịp cầu dài theo xa lộ để về hướng Florida. Từ đây, chàng phải vượt qua mấy tiểu bang nữa như Missisippi, Alabama, qua nhiều thành phố nhỏ thưa thớt dọc theo đường đi, và hy vọng nếu thời tiết khá hơn, chàng sẽ tới được North Carolina càng sớm càng tốt, nơi gia đình bà chị họ đang cư ngụ ở đó.

Cũng không có gì để vội vã, chiếc xe tàng không cho phép Huân vội vã hơn vì nó có thể trở chứng nằm lại dọc đường. Đúng ra thì cũng đến thời kỳ vứt đi, nhưng thời gian đầu, không có nó thì chàng sẽ y như kẻ có chân mà vẫn như què. Con đường xuyên bang nhà cửa thưa thớt, thậm chí qua nhiều dặm đường dài vẫn không có nhà cửa, hai bên đường chỉ rừng và rừng, những tầng lá cao thấp đan nhau làm cho con đường càng thêm âm u, quạnh vắng. Vẫn mưa suốt, từ lúc rời nhà An với bầu trời xám xịt, cơn bão rớt tháng 10, kéo theo những trận mưa suốt đường dài, vài lần tấp vào khu vực " Rest Area" để cho xe nghỉ, Huân cũng ngả lưng chợp mắt được một giấc để lấy sức. Giữa cảnh đất trời u ám, cái rét mướt của tâm hồn khiến Huân đôi lần muốn chảy nước mắt khi nghĩ đến thân phận kẻ tha hương nơi đất khách quê người. Gió vẫn hú trên những rặng thông chập chùng chênh vênh trên sườn đồi thấp, bầu trời nặng trĩu những tảng mây xám báo hiệu cơn mưa sẽ dai dẳng không bao giờ dứt.

Dù sao thì cũng phải đi, ở lại một mình trên con đường liên tỉnh thâm u chỉ rừng với rừng, mưa và mưa, lạnh và gió rét Huân cảm thấy đôi chút bất an, nếu như những cơn mưa tiếp tục rơi và cơn lụt nhanh đổ xuống thì số phận của chàng với chiếc xe tàng sẽ vô cùng thê thảm. Lại lên đường, lúc ấy khoảng 9 giờ đêm, trước mặt mịt mờ một màn mưa trắng xóa, vài chiếc xe lướt qua, để lại hai vệt đèn đỏ như ma trơi trên quãng đường vắng. Thật ra có lúc Huân như không nhìn thấy gì ngoài khoảng đường mập mờ do ánh đèn xe chiếu ra phía trước, nhưng ảo giác lại đánh lừa mắt chàng, khiến Huân chập chờn thấy như có nhiều nhà cửa nằm lấp ló hai ven đường, và vì thế chàng cứ gắng cho xe chạy để đi vào một thị trấn nhỏ. Có nhiều khi mưa lớn quá, Huân phải dừng xe lại bên đường, tắt máy cho xe nghỉ, hé khung cửa để nhìn nhưng rõ ràng chỉ thấy hai ven đường là rừng cây đen thẫm. Mưa và lạnh ập đến làm chàng tỉnh hẳn người, lại vội vã nổ máy vì chỉ sợ chiếc xe cũng như chàng, nằm lịm đi giữa con đường xuyên bang đầy bóng tối và hoang vu . . .

Ngay lúc ấy có một chiếc xe Van vừa vặn lướt qua. Ánh đèn chập chờn khi tỏ, khi mờ để Huân chợt nhận ra dưới ánh đèn đỏ phía sau, hai lá cờ một Mỹ một Việt vẽ bắt chéo qua nhau, được chủ nhân gắn vào cái bửng xe phía sau bỗng đập vào mắt chàng . Tự nhiên Huân tỉnh ngủ, lá cờ vàng ba sọc đỏ như dội vào mắt chàng một điểm sáng lung linh, nằm vắt chéo với chiếc cờ hoa nước Mỹ, vẽ trên một tấm thiếc gắn phía sau chiếc xe Van. Lúc nãy Huân không để ý, nhưng vì chiếc xe Van cứ từ từ thong thả đi trước như dẫn đường, Huân lại tò mò muốn biết chủ nhân của chiếc xe Van, Mỹ hay Việt, tóc vàng hay tóc đen? Nhưng chàng không làm sao vượt lên được chiếc xe kềnh càng trước mặt, mà lạ lùng là hễ chàng chạy nhanh nó chạy nhanh, chàng chạy chậm nó chạy chậm. Trời mưa đường trơn ướt, đèn xe lại mờ mịt khiến Huân cũng không dám tăng tốc độ.

Lá cờ vàng lung linh ẩn hiện trước mặt gợi lại cho Huân nỗi nhớ đau thắt lòng, hình như lâu rồi Huân không muốn nghĩ đến lá cờ thân yêu ấy nữa, kể từ ngày bỏ nước ra đi. Mỗi lần có dịp nhìn thấy lá cờ, chàng lại ràn rụa nước mắt. Những cuộn phim cũ lần lượt trở về, sân trường năm xưa thuở còn là một chú bé con, với chúng bạn Huân đã từng ngồi tụm với nhau chuyện vãn trên sân cỏ, dưới chiếc cột cờ cao nghều nghệu. Những buổi sáng thứ hai quần xanh áo trắng, bao nhiêu con mắt trong veo mở to nhìn lên lá cờ bay phấp phới, bấy nhiêu cái miệng tròn vo đồng ca bài Quốc Ca Việt Nam. Nhưng có lẽ hình ảnh ghi đậm vào tâm khảm chàng vẫn là cái chết của những người bạn cùng khóa, cùng phi đoàn, cũng lá cờ ấy phủ trên cỗ áo quan của bạn bè, ba vệt đỏ như ba dòng máu chảy loang trên nền cờ vàng, lẫn với tiếng khóc rấm rứt của người vợ trẻ. Lẫn trong vòng hoa tang là những ngọn nến trắng bập bùng, chiếu lên tấm ảnh chân dung người lính trẻ vừa nằm xuống. . .

Bây giờ giữa đêm mưa đường dài, nơi đất khách quê người trên con đường thiên lý như đêm nay, lá cờ Việt Nam bỗng ở đâu lại chập chờn trên chiếc xe đằng trước như dẫn đường, bắt chàng hồi tưởng lại nỗi đau cũ khiến Huân rợn người. Mưa vẫn như trút nước, chiếc xe Van cũng chầm chậm dẫn đường, dường như Huân chẳng thấy gì hơn được hình ảnh hai lá cờ Việt, Mỹ bắt chéo đằng sau xe, như có một ma lực huyền bí bắt chàng đi theo không nghĩ ngợi. Dù sao Huân cũng yên tâm khi có bạn đồng hành trong một đêm mưa gió như đêm nay, khiến chàng hồi tưởng lại ngày xưa còn là một phi công, phi vụ của chàng rơi vào một buổi sáng mù sương, chiếc phi cơ như lạc loài, lẻ loi trong màn mây bao phủ, chàng vẫn nghe trong chiếc nón bay, tiếng người bạn đồng hành vẫn thỉnh thoảng gọi chàng trên tần số. ...

Nhờ có chiếc xe Van đi trước, Huân không cảm thấy nỗi cô đơn và rét mướt trong cơn mưa đường dài. Hai chiếc xe nối đuôi nhau chạy qua không biết bao nhiêu dặm đường, thỉnh thoảng lắm mới nhìn thấy một vài căn nhà miền quê nằm lẻ loi giữa khu đồng trống, xen vào những mảnh rừng nối tiếp. Có đi xa như vậy, mới thấy đất nước này rộng lớn, mênh mông, hết rừng dầy lại rừng thưa, hết cánh đồng này qua cánh đồng khác, có những thị trấn chỉ lèo tèo vài chục căn nhà, duy nhất một ngã tư đèn xanh , đèn đỏ. Huân cũng không biết là mình đã chạy theo chiếc xe Van bao nhiêu đoạn đường, rồi chàng bỗng buồn cười nhớ lại một câu chuyện vui cười đọc được trên báo. Đêm sương mù, chẳng thấy đường để chạy, xe này cứ theo xe kia , cuối cùng khi ngừng lại mới biết mình đang chạy theo xe người ta vào " garage".

Lúc nhìn lại đồng hồ, dù di chuyển rất chậm, Huân biết mình đã lái xe tù tì đến gần bốn tiếng đồng hồ, chiếc xe tàng như có phép lạ cứ bon bon đi theo chiếc xe Van, vượt được một đọan đường thiên lý đến hằng trăm dặm. Mãi đến khi Huân nhìn thấy ánh đèn của một trạm xăng phía xa, báo hiệu đã sắp tới khu dân cư và có cửa tiệm ăn uống, ngay khi ấy, chiếc xe Van có hai lá cờ Việt Mỹ bỗng biến nhanh khỏi tầm mắt chàng. Huân dụi mắt để nhìn theo hai vệt đèn đỏ đằng sau chiếc xe Van, hình ảnh hai lá cờ Việt Mỹ bắt chéo trong cái khung thiếc sơn màu bạc cũng chập chờn tan như sương. Và cũng đúng lúc ấy, chiếc xe của chàng khựng lại, kim đồng hồ không nhúc nhích, chiếc xe chắc không còn một giọt xăng nào nữa. . .

Trời rét thế mà Huân vã mồ hôi lạnh, may là chiếc xe hết xăng ở khu vực này, không có nhà cửa dân cư đông đúc nhưng còn đỡ hơn là nơi đường rừng hoang vắng. Huân thấm mệt, chàng tưởng mình đã kiệt sức khi đi theo chiếc xe có hai lá cờ suốt đoạn đường dài. Chàng nhắm mắt lại ngủ ngồi trên tay lái, vì giờ này cũng còn lâu trời mới sáng, trời tuy lạnh nhưng không mưa, cảnh vật như được bao phủ bằng một màn sương trắng đục như sữa.

Chàng cứ vương vấn hình ảnh hai lá cờ Mỹ Việt gắn trên chiếc xe Van , lòng bỗng dưng ấm áp. Biết đâu trên chiếc xe kia lại cũng là một anh chàng cựu chiến binh nào đó đã từng tham chiến ở Việt Nam, đã vấn vương hay để lại chút tình đồng đội trên mảnh đất cong cong hình chữ S. Và giờ đây, chàng cũng đang mang thân phận người lính thua cuộc, lang thang cuộc đời tỵ nạn trên quê người. Hai thứ tình ấy gắn bó với mảnh đất đầy những kỷ niệm vui, buồn, ngẫu nhiên lại đồng hành thành đôi bạn đường im lặng trên con đường xuyên bang mưa gió não nề.


Thiếp đi sau một giấc ngủ ngắn , trời đã hừng sáng, trời hết mưa, dần dần bớt tối hơn, tuy rằng vẫn lạnh và rất ảm đạm. Tuy thế, ở cái thị trấn nhỏ ven đường vẫn thưa thớt xe cộ, Huân tỉnh hẳn, thèm một ly cà phê và điếu thuốc thơm buổi sáng. Chút nữa Huân phải nhờ ai đó để đến cái trạm xăng gần nhất dằng kia, điều ấy không khó lắm vì những người cư dân ở thành phố nhỏ hay miền quê tính tình rất nhân hậu, họ sẵn sàng giúp kẻ lỡ đường.

Huân mở cửa xe rồi bước xuống đường, vươn vai làm vài động tác thể dục cho đỡ mỏi. Ánh đèn đêm vẫn lung linh dưới những lùm cây tối, chàng nhìn thấy những con quạ đen lông ướt sũng, co ro với nhau dưới hàng cây trốn gió. Huân lại nhớ đến chú chim sẻ thơ thẩn đi kiếm ăn một mình trên sân nhà lúc hoàng hôn, thức ăn chỉ là những hột cỏ nhỏ hơn hạt kê, con chim sẻ đi tìm mồi trong buổi hoàng hôn, khiến chàng liên tưởng đến cảnh cô đơn của mình mà ngậm ngùi trong dạ. Một người cô đơn, một bóng chim lẻ loi, sao vẫn phải tìm nguồn sống để sinh tồn, chim còn vậy huống gì mình là người, nghĩ vậy mà Huân cảm thấy đời chưa đến nỗi tận cùng của sự đau khổ.

Huân ngó quanh quất cảnh vật hai bên đường. Chàng bỗng giựt mình khi nhận ra nơi mình đang đứng, chiếc cổng có vòm cao dẫn vào một Đài Tưởng Niệm, bức tượng người lính Vô Danh bằng đồng đen đứng im lìm vươn lên nền trời chưa sáng tỏ. Những bụi mưa còn đọng lại trên hai vai bức tượng đồng đen, ướt át, như hình ảnh những giọt mưa khuya còn vương trên tấm "poncho" của người lính vừa xong phiên gác đêm.

Huân nhớ lại những gì xảy ra khi chiếc xe của chàng hết xăng lúc hơn nửa đêm về sáng, bóng chiếc xe Van cũng mất hút ngay trước mắt chàng dù chỗ này không có một ngã ba hay ngã tư nào hết. Chiếc xe có hai lá cờ đi đâu? Có phải nó đã tới nơi rồi, và người lính ngã xuống năm xưa trên một chiến trường nào đó, đã leo lên chiếc bệ đá, đứng yên lặng chào chàng trong bóng tối của Đài Tưởng Niệm.

Nguyên Nhung

( Viết bằng cảm xúc một đêm mưa trên con đường dài)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

LON GUIGOZ HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI TÙ CẢI TẠO
Không biết vô tình hay hữu ý mà trong hành trang lên đường của tôi có chiếc lon guigoz. Guigoz là lon sữa bột của nước Hòa Lan sản xuất. Hầu hết trước năm 1975, con cái của công chức, quân nhân và gia đình khá giả đều uống loại sữa này.

Vợ tôi để dành những cái lon không để đựng những đồ gia vị gồm bột ngọt, tiêu, đường, muối, mỡ… vì vừa nhẹ, vừa sạch và vừa kín. Khi đậy nắp lại không có con kiến nhỏ nào chui lọt.

Trong “ba – lô”(túi sách nhà binh) đi học tập cải tạo của tôi có đến hai chiếc lon guigoz. Một cái đựng bàn chải đánh răng và kem súc miệng. Còn cái kia đựng thuốc ngừa sốt rét, thuốc đau bụng và hai chai dầu gió. Đó là những việc mà vợ tôi lo xa..

Ngày 27 tháng 6 năm 1975 là ngày tôi đến trường nữ Trung Học Gia Long, đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn, trình diện.Sau mấy tháng không làm việc gì nặng nhọc, khi mang ba – lô trên vai đi bộ độ mươi bước thì tôi cảm thấy người như chùng xuống.

Tôi thầm trách vợ tôi:”đã nói học tập có mười ngày, đem theo đồ gì gọn nhẹ mà sao không nghe”. Đến trường Gia Long ở hai ngày một đêm mà tôi không buồn soạn cái ba- lô, coi trong đó đựng những thứ gì. Tôi chỉ lấy chiếc lon guigoz đựng kem súc miệng và cái khăn mặt để sử dụng hàng ngày. Thật là tiện lợi khi dùng nó vì nó chứa được nhiều nước.

Ngày 29 thang 6 năm 1975,tôi đến trại tù ở Suối Máu Biên Hòa. Sau khi điểm danh và phân chia nhà ở xong, việc đầu tiên của tôi là xách chiếc lon guigoz đi tìm nước súc miệng. Đi một vòng xung quanh trại mà tôi chẳng thấy có cái lu, cái khạp, hay cái thùng phi nào chứa nước sẵn.

Chỉ có một cái giếng duy nhất để chứa nước nấu ăn. Có giếng nước mà trại lại không phát thùng múc nước. Làm sao lấy nước lên được khi độ sâu của giếng khoảng hơn mười thước. Tôi đành xách chiếc lon guigoz đi về nhà ở. Thấy ai nấy đều đem mùng ra kiếm chỗ treo lên, tôi cũng mở ba- lô lấy cái mùng “nhà binh” màu xám( loại mùng bằng vải nylon, phía trên nóc và xung quanh chân mùng có bốn sợi dây, mỗi sợi dài hơn ba thước.)

Một ý nghĩ bỗng thoáng qua trong đầu tôi là tại sao tôi không lấy bốn sợi dây này nối lại ( " một cây làm chẳng nên non”), xong buộc vào lon guigoz mà lấy nước từ dưới giếng lên. Tôi liền thực hành ngay. Quả thật tôi đã lấy nước một cách dễ dàng, không những cho tôi mà còn cho những bạn tù khác.

Đến 8 giờ 30 cùng ngày, cả nhà( gồm 44 người) ngồi lại bầu một nhà trưởng và một người phụ trách nấu ăn. Quái ác, một thằng bạn thấy tôi có sáng kiến lấy được nước từ giếng sâu lên, nó liền đề cử. Thế là cả bọn dơ tay tán thành.

Khởi sự đi nấu vào lúc 9 giờ sáng mà mãi đến 2 giờ chiều mới có cơm ăn. Độc nhất, chỉ có rau muống luộc bằng nước giếng. Nước dùng để vo gạo và rửa rau, kể cả nước để vô chảo để nấu cơm và luộc rau, cũng chỉ dùng chiếc lon guigoz lấy nước từ dưới giếng lên.

Còn củi để chụm là những khúc cây cao su bằng bắp chân cưa ngắn lại độ ba gang tay còn xanh. Làm sao nhúm lửa được mà nấu? Trại tù không phát dao cũng không phát búa, sợ tụi này dùng vật bén nhọn tấn công tụi nó.

Tôi lại một phen đi đào lấy cọc sắt” ấp chiến lược” loại ngắn độ hơn gang tay để chẻ củi. Sau đó, đi lấy bao cát nylon để đốt cho cây củi cao su khô đi mới bắt cháy được. Thật là nhiêu khê!

Sau khi làm bếp xong, tôi lấy một lon guigoz nước để” tắm búng”(thắm nước cho ướt mình mẩy rồi lấy tay se se cho đất tróc ra, xong búng nó đi)

Có một hôm trời mưa to. Cả bọn mừng rỡ chạy ra tắm mưa dưới những mái tôn nhà đang ở. Bỗng nhiên mưa đứt hột một cách đột ngột. Cả bọn nhìn nhau cười ngặt nghẽo vì đầu cổ mình mẩy đứa nào đứa nấy đều dính đầy bọt xà bông, trông rất thảm hại! Chiếc lon guigoz lại lần nữa giúp cho bọn tù chúng tôi rửa sạch bọt bèo xà bông.

Có nhiều đêm tôi muốn đi ngủ sớm vì quá mệt nhọc trong công việc nhà bếp nhưng mấy thằng ban đâu có tôi nằm yên, tụi nó thay phiên nhau tới chỗ tôi nằm để mượn chiếc lon guigoz. Đã mười giờ đêm mà tôi vẫn chưa ngủ được vì lấy lon guigoz đi, thì bốn sợi dây giăng mùng cũng đi theo.

Sau hơn một tháng, vào ngày 9 tháng 7 năm 1975, chúng tôi chuyển trại bằng đường bộ từ Suối Máu xuống An Dưỡng(Biên Hòa). Dọc đường, chiếc lon guigoz lại giúp tôi đỡ cơn khát. Ở trại mới, so với trại cũ có phần thoáng mát hơn. Cũng xử dụng nước giếng nhưng trại phát cho thùng xách nước. Còn củi thì trại có đưa búa cho chẻ củi. Cho nên chiếc lon guigoz lúc này dùng việc “ca cống”(là dùng ca và lon guigoz bằng nhôm nấu ăn hoặc nấu nước uống bằng than của nhà bếp)

Ở chung trại có anh bạn tù tên là Tuấn. Anh ta có một thân hình lực sĩ đẹp nhất trại nhưng vì anh ta hay bắt chuột làm thịt ăn nên cả bọn chúng tôi kêu anh ta bằng Tuấn chuột. Một đêm trăng, tôi nằm thao thức mãi không ngủ được, một phần thì nhớ nhà, một phần thì bụng đói cồn cào.

Tôi ngồi dậy, nhìn ra ngoài trời, dưới ánh sáng của vầng trăng tròn, tôi thấy hai con chuột đang tìm cách tha cái lon guigoz của Tuấn Chuột. Một con chuột nằm ngửa, bốn cẳng của nó ôm chặt chiếc lon guigoz, còn con kia cắn đuôi con chuột nằm ngửa mà kéo đi nhưng vì miệng hang quá nhỏ nên chúng không thể nào đem cái lon guigoz vào được.

Ngoài ra chiếc lon guigoz cũng giúp tôi khỏi bị bệnh tê liệt một thời gian ngắn. Số là ở trại tù An Dưỡng, bọn quản lý trại giam đã cho chúng tôi ăn gạo ẩm(gạo cũ bị bể nát). Chỉ trong một tuần lễ là tất cả chúng tôi đều đi đứng không được mà phải bò bằng tay và hai đầu gối. Tuấn Chuột là người khỏe mạnh mà cũng bị bò.

Riêng tôi, tôi vẫn đi đứng bình thường. Bởi trong khi đi lao động gần nhà bếp trại, tôi thấy bọn chúng vo gạo trắng,tôi liền lấy lon guigoz xin một lon đầy nước cơm vo. Mãn giờ lao dộng, tôi trở về ”lán”(chỗ ngủ của tù cải tạo) để bắt đầu giờ ca cống. Tôi xin chút than nhà bếp để nấu nước cơm vo này. Nhờ có nước cơm vo( có chất vitamin B1) mà tôi không phải bị bò.

Thấy tôi đi đứng bình thường, mấy thằng bạn nói tôi có nhiều thuốc vitamin B1 nên khám ba- lô của tôi. Đến khi lục soát xong, bọn chúng mới biết tôi chỉ có mấy viên thuốc ngừa sốt rét mà vợ tôi đã cẩn thận bỏ trong hành trang của tôi. Sau đó, Ban Quản Lý trại mới mua gạo lức về nấu cho chúng tôi ăn để khỏi bị bệnh tê liệt.

Ở trong trại, tôi có ăn chung với một thằng bạn tên Hoa. Nhân ngày lễ của bọn chúng, chúng tôi mỗi thằng được trại ”ưu ái” phát cho một cục thịt heo bằng ngón tay cái. Chúng tôi đâu dám ăn liền mà bỏ vào lon guigoz rồi lọc nước muối đổ đầy vào lon nấu thịt cho ra nước mỡ để hai đứa ăn một tuần lễ vì trại trừ phần ăn bảy ngày.

Ngày 17 tháng 6 năm 1977, chúng tôi chuyển trại từ An Dưỡng đến Căn Cứ 5 Rừng Lá,thuộc Hàm Tân, Phan Thiết(trại Z30D). Thời gian ở trại này có thêm đội nữ( gồm có các chi quân nhân và các chị ở Biệt Đội Thiên Nga Cảnh Sát). Tội nghiệp! Các chị đều bị bệnh vì chế độ ăn uống ở đây quá khắc nghiệt.

Trong lúc này, tôi ở Đội Nhà Bếp. Hàng ngày, ngoài việc nấu cơm và luộc rau muống, tôi còn phải nấu một chảo nước sôi để chia cho đội nữ. Lợi dụng việc đi lại với nhà bếp, các chị đã gởi cho tôi sáu cái lon guigoz để gởi tôi nấu dùm. Đố các bạn biết trong đó đựng những gì? Xin thưa: đó là đậu xanh hột. Số là trong khi các chị đi thu hoạch đậu xanh, các chị đã giấu lại không nộp hết rồi bỏ vô lon guigoz đem xuống nhà bếp nhờ tôi nấu chín.

Có lần tên cán bộ( lúc này Công An Quản Lý) nhà bếp hỏi tôi nấu cái gì trong đó. Tôi nói là nấu nước sôi cho đội nữ. Hắn ta thắc mắc hỏi. Tại sao anh nấu một chảo nước sôi màkhông đủ chia? Tôi giải thích rằng họ cần nước đun chín để uống thuốc. Thế là thoát nạn.

Trong thời gian cải tạo, người tù như chúng tôi đều trải qua những cơn đói khát kinh hoàng. Chiếc lon guigoz đã nuôi sống chúng tôi trong những cơn hoạn nạn. Chiếc lon guigoz là vật bất ly thân, đã đi theo chúng tôi từ trại tù này đến trại tù khác. Chiếc lon guigoz là người bạn đường thân thiết của tôi.
Chiếc lon guigoz cũng là hình ảnh, là báu vật mà suốt cuộc đời của người tù cải tạo không quên được.

Hoàng Chương.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Một Vài Hình Ảnh Cộng Đồng San Diego
Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư


Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Bolsa ngày ấy – bây giờ


Không một người Việt Nam tị nạn, di dân nào ở Hoa Kỳ lại không biết đến địa danh Bolsa-Little Saigon ở miền Nam California. Đến Bolsa hôm nay, 35 năm sau khi những người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến mảnh đất này, không ai có thể hình dung được một Little Saigon “thủ đô của người Việt tị nạn,” sầm uất, tấp nập người xe và cửa tiệm hàng quán,
đã từng là một thành phố nông nghiệp với những cánh đồng dâu tây, những khu đất bỏ hoang và cả những căn nhà được xây dựng tạm bợ từ sau thế chiến thứ hai.

Ngày ấy

Theo một số tài liệu ghi ghép lại thì trước thập niên 1970, thành phố Garden Grove và Westminster, nơi được định vị là Little Saigon, vốn là những thành phố nông nghiệp, lại nằm ở những vị trí trung gian của những thành phố và quận hạt lớn như Orange County, Los Angeles, Long Beach,… nên hai thành phố này chưa bao giờ có đủ sức hấp dẫn để người dân bản xứ về sinh sống.

Lúc đầu con đường Bolsa chỉ có một đoạn là khu mini Bolsa. Sự phát triển chậm lắm, nếu không có người Việt Nam thì ruộng dâu chắc vẫn là ruộng dâu.

Nhà thơ Du Tử Lê

Được xem là một trong những người Việt Nam tị nạn đầu tiên có mặt tại vùng Bolsa-Little Saigon từ năm 1975, nhà thơ Du Tử Lê, tác giả của “Khúc Thụy Du,” kể lại: “Lúc đầu con đường Bolsa chỉ có một đoạn là khu mini Bolsa. Đối diện khu mini Bolsa, giờ là chợ ABC, cả một dãy đó là một ruộng dâu, chảy dài từ Magnolia tới đường Eucild. Sự phát triển chậm lắm, nếu không có người Việt Nam thì ruộng dâu chắc vẫn là ruộng dâu.”

Sự thay đổi bắt đầu vào thời điểm cuối tháng 4 năm 1975, khi hàng trăm ngàn người người Việt Nam, đa phần là quân dân cán chính, di tản đến Mỹ và đổ dồn về các trại tị nạn ở Hoa Kỳ, đặc biệt là trại Pendleton, ở San Diego, nằm cách Bolsa 50 dặm về hướng Nam. Với sự bảo trợ của một số người quen biết, những người tị nạn Việt Nam đầu tiên xuất hiện ở Bolsa, Wesminster, mà theo nhà thơ Du Tử Lê là “xuất hiện một cách rất tình cờ.”

Đến vùng đất lạ khi còn đang nặng nề những nỗi hoang mang đối với những gì vừa xảy ra trên mảnh đất quê hương, người Việt Nam khi ấy chưa hề chuẩn bị tâm thế gì cho cuộc sống của một người tị nạn. Xa lạ với hệ thống hành chính Hoa Kỳ, lại thêm rào cản ngôn ngữ càng khiến người Việt Nam dường như co mình, tìm sự che chở và đùm bọc lẫn nhau ngay chính trên con đường Bolsa, nơi mà một vài cửa tiệm do người Việt làm chủ được dựng lên, họ buôn bán ngay trong lòng cộng đồng tị nạn mới.

Sau đó khoảng năm 77- 78 thì có một cái chợ gọi là chợ Hòa Bình của một người Tàu gốc Việt tên Ngô Khuông Hán. Trong khu mini Bolsa hồi đó có một tiệm gửi đồ về Việt Nam, hồi đó phong trào gửi đồ về VN là một như cầu. Khoảng năm 78-79 thì có nhà sách Tú Quỳnh, nhà hàng đầu tiên có tại mini Bolsa là Thành Mỹ, có một tiệm thuốc bắc Thúc Sinh. Đó là những tiệm đầu tiên của Bolsa.”

Theo gia đình từ tiểu bang Michigan dọn về Bolsa vào năm 1980, dân biểu Trần Thái Văn, một người Mỹ gốc Việt đầu tiên có mặt trong quốc hội tiểu bang California, cho rằng Bolsa-Little Saigon khi ấy cũng không có gì nhiều:

“Từ đầu thập niên 80, những cơ sở thương mại VN rất thưa thớt chứ không sầm uất như hôm nay.”

Người Việt tụ về Bolsa không chỉ do miền Nam California thời tiết khí hậu ôn hòa, mà còn do đặc tính đậm chất Á Đông thích sống theo kiểu cộng đồng, chòm xóm, gần gũi với gia đình, bạn bè, người quen, nên người đi trước gọi người đi sau, cứ thế Bolsa ngày càng trở thành tên gọi quen thuộc của nhiều người Việt Nam tị nạn đến Hoa Kỳ trong những thập niên 80, 90 và đến tận bây giờ.

Nếu năm 1977, Bolsa chỉ xuất hiện vài ba cửa tiệm như đã kể trên thì đến năm 1982, nghĩa là khoảng 5 năm sau đó, con số này đã lên đến 100. Cứ thế chẳng bao người Việt tị nạn từ khắp nơi kéo đến ngày một đông, làm sống lại thành phố nông nghiệp này bằng việc mở mang thêm những cửa tiệm, mua lại những cửa hiệu cũ do người bản xứ làm chủ trước đây. Các cơ sở kinh doanh lan dần sang các thành phố lân cận như Garden Grove, Stanton, Fountain Valley, Anaheim và Santa Ana .

Theo dân biểu Trần Thái Văn, sự thay đổi rõ ràng nhất là từ năm 1986, khi thương xá Phước Lộc Thọ được dựng lên, khu thương mại Asian Village hình thành.

Với sự phát triển nhanh chóng đó, cũng năm 1986, Ủy ban phát triển Little Saigon gồm 46 thành viên, đã được các dân biểu và nghị sĩ tiểu bang giúp đỡ để đưa đề nghị thành lập đặc khu Little Saigon lên thống đốc tiểu bang. Đầu tháng 6 năm 1986, trước quốc hội tiểu ban, thống đốc George Deukmejian đã chấp thuận đề nghị này.

Dân biểu Trần Thái Văn phát biểu: “Mình thấy hãnh diện khi thấy cộng đồng người Mỹ gốc Việt có một địa điểm tập trung mà nó nói lên được sức mạnh và sự phồn thịnh về mặt văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế của cộng đồng Việt Nam mình, ngay tại miền Nam California.”

Kể từ đó, qua gần một phần tư thế kỷ, tên gọi Little Saigon đã trở thành niềm tự hào của người tị nạn Việt Nam không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn là của người Việt khắp nơi trên thế giới.

Bây giờ

Bolsa, Little Saigon sau 35 năm in dấu chân người tị nạn Việt Nam, đã từ những ruộng dâu nối tiếp ruộng dâu biến thành một trong những thành phố sầm uất của Orange County, miền Nam Hoa Kỳ, với trên 4,000 cơ sở thương mại của người Việt Nam.


Thấy vui và hãnh diện là trong 35 năm cộng đồng Việt Nam có mặt, cũng như 33 năm cơ sở thương mại đầu tiên có sự hiện diện tại Westminster.
DB Trần Thái Văn



Nếu hơn 30 năm trước, những người Việt Nam đến Bolsa chỉ biết được một mini Bolsa, một chợ Hòa Bình, một tiệm thuốc bắc, một tiệm thuốc tây, một tiệm sách,… thì giờ đây, người ta cứ ngỡ như mình đang thực sự đứng giữa thành phố Sài Gòn khi bao quanh con đường Bolsa và những con đường lân cận là hàng hàng cửa tiệm chen cùng cửa tiệm. Nào là Phở 79, Phở Nguyễn Huệ, Phở Nam Định, Phở Kimmy, nào là cơm tấm Thuận Kiều, cơm tấm Trần Quý Cáp, nào là bún Ban Mai, là bánh cuốn Tây Hồ, nào là chợ ABC, chợ Á Đông, chợ Bến Thành, nào là nhà hàng Hương Giang, Thăng Long, Song Long, nào là bò bảy món Ánh Hồng, là nước mía, hột vịt lộn Long An, là bánh mì Chợ Cũ, là chè Hiển Khánh,… Người Sài Gòn tị nạn, người Việt Nam di dân, mang theo cả quốc hồn quốc túy, những gì gần gũi và thân thương nhất, dồn lại, trên con phố Bolsa này, trong lòng Little Saigon này.

Sự biến đổi đó khiến người ta phải nghĩ đến câu thơ của Trần Tế Xương:

Sông kia giờ đã lên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai.

Nhà thơ Du Tử Lê, người chứng chứng kiến từ đầu những đổi thay của Little Saigon cũng thừa nhận rằng ông “Thấy rất rõ sự biến thiên của thiên nhiên của nhu cầu phát triển của con người.”

“Lúc đầu chú vẫn nghĩ là sức sống của người Việt Nam mình, nhất là về phương diện business là không bằng người Tàu. Nhưng xuyên qua đoạn đường Bolsa chú thấy người Việt Nam có sức sống mạnh mẽ, khủng khiếp.”

Gắn bó với mảnh đất Bolsa – Little Saigon từ những ngày nó còn phôi thai, nhà thơ vẫn còn nặng nợ với ngòi bút tâm sự: “Chú nhìn nơi đang ở này, nó là một quê hương thứ hai của chú…Khi người ta sống quá lâu với nó, thì người ta trở thành một phần của nó, tức một phần thịt da, một phần máu huyết của nó. Cho nên cái buồn vui, với riêng chú, là cái buồn vui tự nhiên lắm.”

Trong khi đó, Tiffany Lê, 25 tuổi, sinh ra và lớn lên tại thành phố Riverside, cách Little Saigon khoảng 45 phút lái xe, lại cảm nhận Little Saigon theo cách của riêng mình:

“Lúc còn nhỏ xíu mỗi cuối tuần mẹ dẫn đi Little Saigon chơi để mua sắm hoặc đi chợ ở Little Saigon. Cứ đi theo với mẹ thôi nhưng mà thấy nó xa rồi ngồi trong xe thấy tại sao phải vô trong Little Saigon hơi đông, rồi cứ chờ hoài, cứ đi mua sắm hoài, cứ phải chờ đợi nhưng mà thấy nó vui tại vì thấy đó như một ngày đi chơi rồi được ăn đồ ăn Việt Nam, đi ăn phở chỗ mấy nhà hàng, được đi Phước Lộc Thọ mua đồ chơi.”

Hiện tại, Tiffany đã chính thức trở thành cư dân Little Saigon được một năm. Tiffany cho rằng cô thích Little Saigon vì có nhiều bạn Việt Nam, vì cô có thể nói được tiếng Việt, hiểu biết kỹ thêm về phong tục Việt Nam:


Lái xe ngoài đường Bolsa, thấy cờ Việt Nam, thấy chợ Việt Nam, toàn là tiệm Việt Nam, thấy Phúc Lộc Thọ, em rất là xúc động, tự hào đây là thành phố của mình..
Cô Tiffany


“Mỗi buổi sáng đi làm lái xe ngoài đường Bolsa, thấy đường có mấy lá cờ Việt Nam, thấy mấy chợ Việt Nam, toàn là tiệm Việt Nam, thấy Phúc Lộc Thọ, em rất là xúc động, tự hào đây là thành phố của mình.. Mình không có cái gì hết, 35 năm trước, 35 năm sau đây là thành phố lớn nhất mà người nước ngoài cũng muốn vô du lịch để coi nó làm sao…. Khi lái xe ngoài đường thấy mấy người Việt Nam, mấy ông già uống cà phê cà pháo ngoài đường, thấy mấy bà già đi xe đạp ngoài đường đội nón lá ở bên Mỹ cũng thấy rất là đẹp và dễ thương.”

Đến Hoa Kỳ từ năm 10 tuổi, Tyler Diệp, nghị viên người Mỹ gốc Việt trẻ nhất của thành phố Westminster, nơi miền đất Little Saigon tọa lạc, nhớ những kỷ niệm đầu với Little Saigon: “Trước khi định cư ở khu vực Little Saigon này, tôi biết được vùng đất ở đây khi được ba mẹ đưa lên đây để đi ăn, đi mua sắm, bởi tại khu vực Little Saigon này đồ ăn Việt Nam rất là ngon hơn những nơi khác. Khi đi chợ thì rau cải, thịt ở đây luôn rẻ hơn, ngon hơn những chỗ khác.”

Sau 5 năm làm cư dân của thủ đô người Việt tị nạn, nghị viên Tyler Diệp đã cảm thấy trở nên gắn bó với mảnh đất này với cùng lý do thật đơn giản: “Tôi thấy rất là ấm cúng khi sinh sống và đi lại trong khu vực Little Saigon vì đi đâu cũng là những bản hiệu tiếng mẹ đẻ, đi đâu mình cũng gặp những người đồng hương. Mình sinh sống ở đây mình không có bị lạc loài.”

Trong vai trò của một nhà lập pháp, dân biểu tiểu bang California Trần Thái Văn chia sẻ: “Thấy vui và hãnh diện là trong 35 năm cộng đồng Việt Nam có mặt, cũng như 33 năm cơ sở thương mại đầu tiên có sự hiện diện tại Westminster. Vui là trong một thời gian tương đối là ngắn trong lịch sử con người, của một cộng đồng, tập thể người Việt Nam mình có thể lập ra được một sự hiện diện khá vững chắc, vững mạnh tại California cũng như tại Hoa Kỳ.”

35 năm thời gian không là dài trong tiến trình phát triển của một dân tộc, một cộng đồng, nhưng 35 năm qua, Little Saigon đã tự tin vượt qua được những thử thách ban đầu. Có điều, như một người Việt trẻ ở thế hệ thứ hai suy nghĩ:“Chúng ta phải làm như thế nào để thu hút giới trẻ đừng bỏ đi những nơi khác mà họ cho là tân tiến hơn, mới hơn. Chúng ta phải làm cách nào để giữ và thu hút giới trẻ người Mỹ gốc Việt tiếp tục sinh sống ở đây, sinh hoạt ở đây và trở về lại đây tại vì chúng ta không thể nào biến Little Saigon biến thành một China Town thứ hai như tại thành phố Los Angeles.”

35 năm, Bolsa ngày đầu và Little Saigon hôm nay đã cùng cộng đồng tị nạn Việt Nam bước một cách vững vàng qua những dâu bể, đổi thay.

Little Saigon hôm nay vẫn luôn níu chân những kẻ xa xứ ít nhất một lần trong đời được đến để nhìn, để ngắm, để nghe, để cảm nhận và để thấy Sài Gòn gần gũi biết bao nhiêu.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ ... 03549.html

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

ĐÊM THẮP NẾN ở SYDNEY

Image



Image


Vào tối thứ Sáu 30 tháng 4 vừa qua , Cộng Đồng Người Việt Tự Do tiểu bang NSW đã tổ chức một đêm Thắp Nến Tưởng niệm 35 năm ngày Quốc hận 30 tháng 4 .
Đã có 1000 đồng hương tham dự .
Buổi lễ có sự tham dự của các vị lãnh đạo Tinh thần các Tôn giáo - Phật giáo-Công Giáo- Hào hảo và Cao đài cùng với sự hiện diện của Đức Giám mục Julian Porteous - Phụ tá TGP Sydney và các Nghị sĩ - Dân biểu Liên bang và Tiểu bang NSW .

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Image

Gương Anh Hùng:
Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành tuẫn tiết


Nhân kỉ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư lần thứ 35, chúng tôi xin đúc kết một số tài liệu để vẽ phác chân dung cựu Bộ trưởng Trần Chánh Thành và cái chết lẫm liệt của ông như một nén hương tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ ông. Mỗi năm, vào dịp kỉ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư, lại thấy xuất hiện trên các phương tiện truyền thông khắp nơi hình ảnh các vị tướng tá đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết hi sinh mạng sống để bảo vệ danh dự, tiết tháo của một cấp chỉ huy. Các vị ấy xứng đáng được tôn vinh là những anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, xứng đáng được lưu danh muôn thuở.

Cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do suốt 20 năm là cuộc chiến đấu chống Cộng sản của toàn dân, mà trọng trách giao vào tay quân, cán, chánh. Khi nước mất, thành đổ, nếu đã có những vị tướng tá quyết tự chọn lấy cái chết oai hùng để đền nợ nước thì đồng thời cũng ghi nhận có những viên chức bên phía chính quyền dám tuẫn tiết, không chịu để bị lọt vào tay bọn Cộng sản. Trong số các vị ấy, nổi bật lên sáng chói là cái chết bi dũng của cựu Bộ trưởng Trần Chánh Thành. Ông đã an nhiên chọn lựa một cách chết trước quân thù, để gióng lên một lời tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước về những hiểm họa sẽ giáng xuống dân tộc VN, một khi đất nước bị đảng Cộng Sản nắm trọn quyền thống trị.

Nhân kỉ niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư lần thứ 35,chúng tôi xin đúc kết một số tài liệu để vẽ phác chân dung vị cựu Bộ trưởng này và cái chết lẫm liệt của ông như một nén hương tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ ông.

Những bước đầu tiên

Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành gốc miền Bắc, do cha tùng sự tại Huế cho nên ông học và tốt nghiệp Trung học tại đây; sau đó, trở ra Hà Nội học lấy Cử nhân Luật. Ông học rất giỏi, đã đậu đầu kì thi ngạch Tri huyện Tư pháp cho toàn cõi Bắc và Trung kì, rồi được cử làm Chưởng lí các tòa án Trung kì. Khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, ông được bổ làm Chánh văn phòng Bộ Tư pháp cho Tổng trưởng Trịnh Đình Thảo. Không bao lâu sau, nổ ra cuộc ‘Cách Mạng Tháng Tám’ đưa ông Hồ Chí Minh lên nắm chính quyền. Dưới bình phong mặt trận Việt Minh (tên tắt của Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, ngày 19.5.1941), đảng Cộng Sản đã thu hút được các thành phần ái quốc với khẩu hiệu đánh Pháp đuổi Nhật. Ông Trần Chánh Thành đã được mời ra Hà Nội trong thời kì này và được trọng dụng trong chức vụ Giám đốc Tư pháp Liên khu 3 (trong 3 năm), rồi Giám đốc Kinh tế Liên khu 3 (trong 2 năm sau đó). Song, cũng như trường hợp nhiều trí thức trẻ khác vào thời đó, sau khi đi theo Việt Minh tham gia kháng chiến một thời gian, ông Thành đã hiểu ra bộ mặt thật của Việt - Minh - Cộng - Sản cho nên ông khéo léo cáo bệnh từ chức, để trở về Diễn Châu, Nghệ An (Liên khu 4), trú tại nhà ông Cao Xuân Vỹ. Từ Nghệ An, cùng người em con ông chú là nhà báo Mạc Kinh, ông vượt biển ra vùng quốc gia. Sau vài tháng ở Hà Nội, ông vào Sài Gòn làm nghề luật sư trong văn phòng của Luật sư Trương Đình Du. Vào tháng 10. 1952, ông Ngô Đình Nhu chủ trương tạp chí Xã Hội, anh em ông Trần Chánh Thành và Mạc Kinh đã cộng tác với tờ tạp chí và trở thành chỗ thân tình với ông Ngô Đình Nhu. Mối giao tình này đánh dấu một khúc rẽ quan trọng trong cuộc đời chính trị của ông.

Bậc lương đống của nền Cộng Hòa

Có thể nói ngay ông Trần Chánh Thành cùng với các ông Trần Trung Dung, Nguyễn Hữu Châu…là những bậc lương đống ‘khai quốc công thần’ của nền Đệ nhất Cộng hòa.

Trong bài báo nhan đề Ông Ngô Đình Diệm Lên Cầm Quyền Như Thế Nào (Thông Luận Số 191, ra ngày 04.4.2005), tác giả Nguyễn Gia Kiểng chứng minh chính ông Ngô Đình Nhu đã bí mật đạo diễn một vở kịch chính trị lớn để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền chứ không phải là người Mĩ hay Vatican. Trong vở kịch này, ông Trần Chánh Thành được giao cho thủ một vai và ông đã đóng xuất sắc. Duyên do bắt đầu từ mối liên hệ thân tình giữa ông Ngô Đình Nhu với ông Trần Chánh Thành.

Tác giả Nguyễn Gia Kiểng thuật lại, vào tháng 11.2004, ông được ông Trần Minh Châm trao cho 2 bức thư viết tay bằng tiếng Pháp: Một của ông Jacques Bénet, bạn của ông Trần Minh Châm, viết ngày 18.10.2004 gửi cho bà Ngô Đình Nhu và một của ông Ngô Đình Nhu viết ngày 20.4.1955 gửi cho ông J. Bénet. Ông J. Bénet và ông Ngô Đình Nhu là bạn học rất thân khi còn tại trường Ecole des Chartes.

Trong thư gửi cho bà Ngô Đình Nhu, ông J. Bénet xác nhận 2 điểm quan trọng: một là ông (J. Bénet) có đóng vai môi giới trong việc vận động các nhà lãnh đạo nước Pháp để đưa ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền; hai là ông ca ngợi ông Ngô Đình Nhu đã có một ý kiến ‘thiên tài’ vì đã nắm bắt đúng vào lúc (3.1954) chính quyền Pháp đang lúng túng do viễn ảnh thất trận tại Điện Biên Phủ để mở chiến dịch thuyết phục họ (Thủ tướng Laniel – Ngoại trưởng Bidault – Reynaud) nên mau chóng đưa ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền. Để thực hiện sáng kiến này, ‘Ông Nhu đã cử bạn ông là ông Trần Chánh Thành sang Paris và nhờ ông Jacques Bénet giúp đỡ để tiếp xúc và thuyết phục chính quyền Pháp về đề nghị này. Ông Bénet đã làm được việc này nhờ một người bạn tên là Antoine Ahond quen thân nhiều nhân vật quan trọng trong chính quyền Pháp, đặc biệt là các ông Germain Vidal, chánh văn phòng thủ tướng, ông Bourgenot, bộ trưởng tại phủ thủ tướng, và ngoại trưởng Bidault. Mặt khác, chính ông Trần Chánh Thành cũng tỏ ra xuất sắc. Nhờ thế mà ông Diệm đã được chính quyền Pháp chấp nhận và ép buộc ông Bảo Đại phải chấp nhận’.

Ông Trần Chánh Thành được giao nhiệm vụ vận động các yếu nhân trong chính quyền Pháp, tuy được khen là đã hoàn thành ‘xuất sắc’, nhưng có lẽ ông chỉ biết phần đầu của vở kịch chính trị lớn của ông Ngô Đình Nhu. Chính trong lá thư thứ hai của ông Ngô Đình Nhu viết gửi ông J. Bénet mới cho biết phần hai của vở kịch chính trị này.

Trong thư viết ngày 20.4.1954 gửi cho ông J. Bénet, ông Ngô Đình Nhu yêu cầu ông Bénet giúp đỡ trong việc ‘vận động để chính quyền Pháp thực hiện khẩn cấp một kế hoạch đã được dự trù. Ông Nhu viết : "Phải vận động để những chỉ thị theo chiều hướng này, mà tao(NGK: họ quá thân nhau) chắc chắn là đã chuẩn bị sẵn, được khẩn cấp gửi sang Sài Gòn". Theo tác giả Nguyễn Gia Kiểng, "chiều hướng này" được hiểu là một loạt các việc cấp bách yêu cầu chính phủ Pháp làm ngay. Đó là giúp cho ông Ngô Đình Diệm nắm được quân đội quốc gia từ tay Tướng Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Hinh, dẹp các giáo phái vũ trang và sau đó tiến tới tổng tuyển cử. Tất cả đã diễn ra thành công mau chóng, suông sẻ, khiến cho các nhà quan sát quốc tế lúc ấy phải lấy làm ngạc nhiên và đánh giá ông Ngô Đình Diệm như là một lãnh tụ đầy tiềm năng mới ở Á châu. Chưa hết, ông Ngô Đình Nhu chỉ khéo léo than phiền nhẹ nhàng là tướng Ely, Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Việt Nam, ‘ là một con người tiêu cực và thiếu quả quyết’, cũng đủ làm cho chính phủ Pháp triệu hồi tướng Ely trong thời gian chưa đầy hai tháng!

Do thành tích trước đây, lại là chỗ thân tình với ông cố vấn Ngô Đình Nhu, cho nên ông Trần Chánh Thành rất được Thủ tướng Ngô Đình Diệm tin dùng trong nhiều chức vụ quan trọng:

Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng 06.7.1954

Tổng trưởng Thông tin ngày 10.5.1955


Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia, đã đề ra kế hoạch Tố Cộng (Nguyễn Trân. Hồi Ký Công Và Tội. Xuân Thu, 1992. Trang 176). Khi kế hoạch được phát động, chính ông nắm vai trò Chỉ đạo Chiến dịch Tố Cộng Trung ương bao gồm liên bộ Thông tin, Tư pháp, Quốc phòng và Nội vụ. Chiến dịch này được phát động nhằm tiêu diệt các tổ chức cán bộ Cộng sản nằm vùng, đồng thời triệt hạ những lực lượng thực dân, phong kiến (bài phong, đả thực), trọng điểm là việc truất phế Quốc trưởng Bảo Đại.

Ngoài ra, ông còn là một Dân biểu Quốc hội và là một trong 14 vị thuộc Ủy ban soạn thảo Hiến Pháp.

Nhìn thoáng qua như thế đủ biết ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã trở thành ngôi sao sáng vào thời khai mở nền Đệ nhất Cộng hòa.

Tuy nhiên có nghi vấn, đang khi ông được Sài gòn tin dùng thì, ngoài Huế, ông Ngô Đình Cẩn lại muốn tách ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành và cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (?) ra khỏi vòng quyền lực (Thomas L. Ahern Jr. Hai tài liệu của CIA về các tướng lãnh VN và gia đình họ Ngô. Nguyễn Kỳ Phong lược dịch. Nam Úc Tuần Báo, Số 718 ra ngày 30.10.2009).

Thêm vào đó, nếu chiến dịch Tố Cộng triển khai thắng lợi lúc ban đầu, khiến cho khoảng 200 ngàn cán binh Cộng Sản được cài lại ở miền Nam có nguy cơ bị tiêu diệt thì, tại các địa phương, phát sinh tệ nạn chụp mũ Cộng sản lên đầu những người từng có thành tích kháng chiến chống thực dân Pháp. Mà theo ông Nguyễn Trân, ‘…không phân biệt kháng chiến với Cộng sản là đi ngược lại lòng dân’ (Nguyễn Trân. Hồi ký Công Và Tội. Sđd. Trang 177).
Những lực đối kháng này một khi đã nuôi ý đồ, sẽ dễ dàng tạo ra được một mối nghi ngờ trong dư luận về lòng trung thành với phe quốc gia của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành, căn cứ vào việc ông đã nắm giữ những vị trí tư pháp quan trọng ở Liên khu 3, thời Việt Minh. Tuy nhiên Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn tiếp tục tin tưởng ông cho tới cuối tháng 10 năm 1960. Đó là thời điểm xẩy ra việc 4 ông bộ trưởng đồng loạt từ chức; gồm có các ông Trần Chánh Thành (Bộ Thông tin), Trần Trung Dung (Bộ Quốc phòng), Lâm Lễ Trinh (Bộ Nội vụ) và Nguyễn Văn Sĩ (Bộ Tư pháp). Có dư luận cho là vì các ông bất đồng về sự lạm quyền của đảng Cần Lao? Chỉ 2 tuần sau đó, ngày 11.11.1960, nổ ra cuộc phản loạn của Nguyễn Chánh Thi - Vương Văn Đông.

Năm 1962, Tổng thống cử ông Trần Chánh Thành đi làm đại sứ tại Tunisie (ở Bắc Phi châu).

Ngày 01.11.1963, Tướng Dương Văn Minh cầm đầu cuộc đảo chánh thành công, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đã giao công tác cho ông Trần Chánh Thành đi Nam Vang tiếp xúc thiện chí với Quốc vương Shianouk (18.12.1963).

Trong những năm chính trường miền Nam hết sức rối ren sau đó, ông Trần Chánh Thành rút lui vào bóng tối sống ẩn dật.

Khi nền Đệ nhị Cộng hòa được thành lập, ngày 01.4.1967, một bản Hiến pháp mới được ban hành đưa đất nước trở lại trật tự, quy củ. Rồi ngày 03.9.1967, diễn ra cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội. Ông Trần Chánh Thành ra ứng cử trong liên danh Đoàn Kết Để Tiến Bộ, dấu hiệu con voi trắng (Bạch Tượng) đứng chung với các ông Trần Văn Lắm (thụ ủy liên danh), Trần Trung Dung, Đào Đăng Vỹ, Bà Phan Nguyệt Minh (Nguyễn Văn Thơ), Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Phượng Yêm, Phạm Như Phiên, Đoàn Văn Cừu, Trần Ngọc Oành. Liên danh ‘Bạch Tượng’ đã đắc cử với 550,157 phiếu (Nguyễn Văn Chức. Việt Nam Chính Sử. Tiền Phong, 1989. Trang 163).

Sau trận đánh Tết Mậu Thân 1968, ngày 28.5.1968, Cụ Trần Văn Hương lại được mời thành lập chính phủ mới thay cho chính phủ của Ls. Nguyễn Văn Lộc. Đây là thời điểm cuộc hòa đàm Paris khởi sự, sắp bước sang giai đoạn công khai, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tín nhiệm Nghị sĩ Trần Chánh Thành vào chức vụ Tổng trưởng ngoại giao. Đây là chức vụ cao cấp cuối cùng trong sự nghiệp chính trị của ông. Sau khi Tướng Trần Thiện Khiêm trình diện nội các mới vào ngày 01.9.1969, chức vụ tổng trưởng ngoại giao được chuyển sang cho Nghị sĩ Trần Văn Lắm, cũng thuộc Liên danh Bạch Tượng. Ông Trần Chánh Thành trở về giảng dậy môn báo chí tại Trường Luật cho tới ngày ‘trời sập’ 30.4.1975.

Những dòng lược thuật trên đây cho thấy ông Trần Chánh Thành là nhân vật hiếm hoi được lãnh đạo tin dùng ở những vị trí cao cấp và rất quan trọng trong cả 3 giai đoạn chính trị của đất nước: thời toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp, thời Đệ nhất Cộng hoà và thời Đệ nhị Cộng hòa. Điều đó chứng tỏ ông là một người có thực tài, tận tụy phục vụ. Đặc biệt là ông đặt lợi ích và lí tưởng quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân: khi biết rõ Đảng Cộng sản nắm trọn quyền lèo lái mặt trận Việt Minh, ông từ chức và tìm cách đào thoát; đang khi được TT Ngô Đình Diệm trọng dụng, ông sẵn sàng từ chức bộ trưởng để phản đối phe cánh Cần Lao lạm quyền; và khi nền Đệ nhị Cộng hòa thành lập, ông gạt bỏ mặc cảm là người của ‘chế độ cũ’, chấp nhận trọng trách được giao phó. Cuối cùng, theo gương các bậc tiền bối xưa, hết ‘làm quan’ ông vui vẻ về làm thầy truyền thụ sở học qúy báu cho môn sinh.

Chọn lựa một cách chết lẫm liệt

Từ khi chiến dịch Tây nguyên do Cộng quân mở ra đầu tháng 3.1975 cho tới ‘ngày sập trời’ 30.4.75 vỏn vẹn chỉ có 55 ngày đêm. VNCH đang đi những bước thụt lùi vội vã, tất tưởi cuối cùng tới bờ vực thẳm. Đương nhiên ông Trần Chánh Thành phải là người tiên đoán được tình hình bi đát và tuyệt vọng ấy và ông đã gửi vợ con đi Pháp trước. Theo nhà báo Đặng Văn Nhâm, ông và hai bạn thân là cựu Thủ tướng Phan Huy Quát và Nghị sĩ Trần Trung Dung được Tòa đại sứ Pháp hứa sẽ bốc đi vào lúc 10 giờ sáng ngày 29. Nhưng vừa khi Tướng Dương Văn Minh ra nhận chức tổng thống lúc 5 giờ 30 chiều 28.4 thì giờ phi trường Tân Sơn Nhất bị CS oanh tạc và chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Sài Gòn lên cơn sốt mạnh . Manh ai nấy chạy thoát thân. Sáng 29.4, tân Tổng thống Minh gửi thư cho Đại sứ Martin yêu cầu quân Mĩ triệt thoái trong vòng 24 giờ. Yêu cầu này cũng được tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu tuyên bố công khai. Trong tình hình ấy, kế hoạch người Pháp hứa giúp ông Trần Chánh Thành và các bạn ông di tản bằng phi cơ không còn có thể thực hiện được. Cả ba ông bị kẹt ở lại. Nhất thời, ngày 30.4, các ông tạm lánh mặt tại nhà thương Grall của Pháp. 24 giờ sau, bệnh viện yêu cầu các ông ra khỏi nơi này. Rời bệnh viện Grall, ông Trần Chánh Thành tạt vào một cao ốc trên đường Gia Long sát góc đường Tự Do. Khoảng 4 giờ chiều ngày 02.5, nhà báo Mạc Kinh, người em thúc bá rất thân thiết với ông đến đón ông về nhà trên đường Duy Tân. Nhà ông lúc này chỉ còn lại mẹ ông, bà chị tên Nhơn và ba bốn người làm.

Suốt buổi chiều hôm ấy, anh em ông bộ trưởng đã trút hết nỗi niềm tâm sự lần cuối cùng với nhau. Sắp tới 7 giờ chiều là giờ giới nghiêm, khi chi tay với ông Mạc Kinh, ông bộ trưởng nói lời cuối cùng: ‘Chúng ta đều đã hiểu CS quá rõ. Với anh, chỉ có một lựa chọn cuối cùng. Anh phải tự xử lấy anh thôi...Em về đi. Giờ giới nghiêm đã tới rồi. Sáng sớm mai em lên với anh nhé!’

Ông Mạc kinh nghe lời nói đó mà ngỡ như lời trối trăng. Ông chỉ có thể van vỉ ông anh: ‘Dù thế nào chăng nữa, xin anh cũng đừng quyết định gì vội. Hãy cố chờ đến sáng mai anh em ta gặp lại nhau’.

Tuy nói như thế, nhưng thâm tâm ông MK vẫn không tin vào hiệu quả của lời mình nói. Linh tính đã báo cho ông biết rằng kể từ giây phút này, ông đã mất hẳn, mất vĩnh viễn ông Thành ...

Hôm sau, khi trời vừa sáng, ông Mạc Kinh phóng xe lên nhà ông bộ trưởng.

Cho tới nay, duy nhất chỉ có nhà báo lão thành Đặng Văn Nhâm có thể thuật lại tỉ mỉ, sống động cái chết bi tráng của ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành: ‘Vừa đặt chân vào phòng khách. Khác hẳn mọi khi, nơi đây bỗng trở nên vắng lặng như tờ, như không còn một hơi thở nào nữa. Không khí trong căn phòng này đã bao phủ một màu thê lương, ảm đạm. Bà Nhơn lẻ loi, đôi mắt đỏ hoe, đang ngồi thu mình nơi bực cầu thang, lối dẫn lên phòng ngủ của ông Thành . Bà Nhơn bảo ông MK:

"Em lên ngay đi. Thành an nghỉ rồi! Hồi hôm, Thành đã nói chuyện lâu với chị...dặn trao tập giấy màu vàng cho em đó... Thành nằm ở phòng ngủ nhỏ lầu hai... Em ở bên Thành đi. Chị phải tới sứ quán Pháp ngay bây giờ để làm sẵn thủ tục. Chị sẽ quay về thật gấp..."

Lập tức ông MK phải lo giải quyết ngay một số việc cần kíp. Trước hết, mời bà cụ thân mẫu của ông Thành đi theo bà Nhơn đến tạm trú tại nhà một thân nhân khác, và phải nói dối là cụ cứ đi trước, còn ông Thành sẽ được tòa đại sứ Pháp cho xe đến đón ra phi trường sau. Ông MK sợ bà cụ mà biết chuyện ông Thành tự tử thì sẽ lôi thôi to. Mọi việc lo cho ông Thành bây giờ phải thật kín đáo, không để lộ một chút tin tức hay nghi hoặc nào ra ngoài vòng ruột thịt. Mặt khác, ông MK dặn gia nhân hãy để cho ông Thành ngủ yên, đừng ai quấy rầy, không cần đem sữa sáng như thường lệ, vì đêm qua ông đã thức khuya...Sáng nay ông Thành cũng không muốn tiếp khách nữa!...

Khi còn lại chỉ có một mình trong ngôi nhà rộng thênh thang, ông MK mới đẩy nhẹ cửa phòng ngủ, tiếng máy lạnh vẫn sè sè nho nhỏ. Ông Thành đang nằm đó, bất động như người đang ngủ mê. Nét mặt bình thản. Nhưng hai bên cánh mũi có hai vệt thuốc nhỏ màu nâu nhạt lẫn chút máu đỏ đọng lại, dài bằng hai đốt ngón tay. Ông MK ôm nhẹ mặt ông Thành, thấy vẫn còn ấm, ngực và chân tay vẫn hãy còn ấm. Ông thầm nghĩ chắc ông Thành chỉ mới vừa từ giã cõi đời thôi. Nhì trên mặc chiếc bàn ngủ, một hộp thuốc ngủ 50 viên chẳng còn sót một viên nào. Nơi bàn giấy góc phòng, mọi thứ đều ngăn nắp. Có một tập giấy 18 trang. Ông MK liếc thoáng qua, biết ngay là những lời trăn trối cuối cùng của ông Thành. Ông Thành lên tiếng tố cáo hiểm họa CSVN trước thế giới tự do, sau khi chúng đã cưỡng chiếm miền Nam. Ông Thành cũng tiên liệu để kêu gọi thế giới dân chủ , nhân đạo phải có trách nhiệm tinh thần ngăn chận bàn tay máu trả thù trút lên mạng sống của toàn thể quân nhân và quần chúng miền Nam. Ngoài ra, ông Thành còn phác họa cho mọi người thấy trước thảm trạng của miền Nam, đồng thời phơi bày âm mưu gây chiến tranh loạn lạc đối với các nước láng giềng trong bán đảo Đông Dương và Thái Lan. Cuối cùng ông Thành minh xác, ông đã lấy cái chết để phản đối CSBV xâm chiếm miền Nam.…

Bên cạnh tập giấy đó, ông Thành còn viết sẵn vài dòng chữ trên một tấm danh thiếp, nhằm gửi thẳng cho cơ quan an ninh, xác định cái chết của ông là do chính ông tự chọn, đừng gây phiền nhiễu cho ai hết!

Trong vòng một tiếng đồng hồ sau, bà Nhơn đã trở về. Lúc này, toàn thân ông ông Thành mới bắt đầu trở lạnh, lạnh ngắt. Một mặt ông MK phải lo canh chừng đám gia nhân, vài người còn lại. Mặt khác bà Nhơn lo liên lạc báo tin cho vài người bà con trong thân tộc nội, ngoại (bên bà Thành). Nhưng không một ai lui tới. Dường như ai cũng lo ngại, muốn trốn tránh. Không khí thành phố Sài Gòn lúc ấy căng thẳng đến tột độ. Ai cũng có chuyện để phải lo và để sợ. Một tiếng động mạnh cũng đủ làm cho người ta giật mình kinh hoảng, nhớn nhác...

Trong hoàn cảnh đó, một mình ông MK phải lo hết mọi việc rửa ráy thi hài và tẩn liệm cho ông Thành.

Lúc ấy, khoảng ba giờ chiều , bỗng gia nhân báo tin có ban Quân Quản đến khám nhà. Gồm ba cán bộ đeo súng ngắn bên hông, băng đỏ trên cánh tay, và một tên bộ đội mang tiểu liên đi theo hộ vệ. Trong trường hợp này, dù muốn dù không, ông MK vẫn phải ra mặt tiếp đón. Ngay câu đầu tiên bọn cán bộ CS đã nói thẳng, chúng đến tiếp thu ngôi nhà, và ra lệnh đưa chúng đi xét nhà. Chúng đi thẳng một mạch lên lầu 4, rồi từ đó mới trở xuống, vào từng phòng một, quan sát soi mói và khám xét cẩn thận. Không bỏ sót một phòng nào. Vào đâu chúng cũng ngắm nhìn, để ý kiểm điểm từng ly từng tí, rồi xẵng giọng hạ lịnh: "Đồ đạc ở đâu để nguyên đấy. Cấm tuyệt không được di chuyển!"

Khi xuống đến lầu 2, nơi có phòng thi hài của ông Thành nằm đó, bỗng nhiên đầu óc ông MK trở nên căng thẳng tột độ. Tinh thần ông bấn loạn. Nếu bọn cán bộ CS bất chợt thấy thi hài ông Thành đang nằm trơ trơ ở đó, ông sẽ trả lời như thế nào? Một điều chắc chắn nhất, không thể nào tránh được là bọn cán bộ CS sẽ hạch hỏi mọi người hiện diện trong nhà. Rồi thì mọi sự sẽ phải khai trình tỉ mĩ, từ tên tuổi, chức phận cũ, rồi đến nguyên nhân cái chết... Nhưng liệu bọn CS ác ôn này có cho phép chôn cất ngay không, hay sẽ đem thi hài đi mổ xẻ, khán nghiệm...?

Lại còn vấn đề sấp giấy ông Thành đã viết di ngôn tố cáo CSVN nữa chứ. Ông MK bối rối vô cùng, không biết sẽ phải ăn nói ra sao, và rồi những gì sẽ xảy ra cho bản thân ông ngay sau đó, ông không thể lường được.

Trong tình cảnh nguy nan đó, ông MK chỉ còn kịp nghĩ đến việc cầu nguyện vong hồn ông Thành, sống khôn, thác thiêng, xin ông phù hộ cho gia đình thoát qua được cơn hiểm nghèo nghiệt ngã này, để còn có cơ hội chôn cất di hài ông êm thắm!

Không ngờ một chuyện lạ của đời người đã xảy đến, chẳng khác nào như lời khấn vái của ông MK linh ứng , như linh hồn ông Thành hãy còn lẩn khuất đâu đó, để lôi chân bọn cán bộ CSBV đi qua căn phòng đó. Chúng vừa đi vừa chuyện trò với nhau, và vẫn ra lệnh mở từng cửa phòng, nhưng không còn vẻ tích cực soi mói như vài giây đồng hồ trước đó. Khi chúng đến trước cửa phòng ông Thành nằm, lồng ngực MK tưởng chừng sắp nổ tung. Nhưng chẳng khác nào như một phép lạ, chúng cứ thế đi luôn, không dừng lại, cho đến phòng cuối của từng lầu 2, rồi chúng đi luôn xuống dưới nhà...

Nơi đây, chúng dừng lại, ghi vội biên bản, coi như ngôi nhà này vô chủ. Chủ nhân đã bỏ đi ngoại quốc! Thì ra bọn cán bộ này cũng ngờ ngệch lắm.Trong đầu chúng đã bị nhồi chặt cứng một mớ lý thuyết Mác Xít, với những giáo điều rẻ tiền, đâu còn chỗ nào để chứa thêm một thứ hiểu biết gì khác! Nhưng chúng đặc biệt quan tâm đến mọi thứ đồ đạc vật chất trong nhà. Cuối cùng, trước khi ra đi, chúng ra lệnh: Mọi người trong nhà chỉ được phép quây quần ở tầng trệt, không được bén mảng lên lầu. Đồ đạc trong nhà không được tơ hào suy suyển.

Sau đó bà Nhơn và ông MK phân công mỗi người một việc cần kíp. Bà Nhơn chạy vội ra phường khai tử cho ông Thành, với lý do bịnh tim. Còn ông MK phóng thẳng về nhà tìm giấy chủ quyền ngôi mộ của bà thân mẫu ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi [còn một tầng trên], đem trình ban Quân Quản Nghĩa Trang, để xin đóng dấu cho mai táng.

Đến lúc này xét ra cái chết của ông Thành chẳng còn gì cần phải che giấu nữa, nên gia nhân đều được biết hết. Tiếng khóc không còn bị đè nén ấm ức, nghẹn ngào nữa, mà được tự do vang lên, khiến các nhà hàng xóm không khỏi ngạc nhiên. Cách nhà ông Thành chừng hai, ba ngôi biệt thự là trụ sở của "Hội Trí Thức Yêu Nước" thành phố HCM của đám Ngô Bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, Trương Đình Dzu, Trần Thúc Linh v.v...Vì thế nên tin ông Thành qua đời đã mau chóng đến tai những người trong hội ấy.

Ngày hôm sau, 2.5.1975, lèo tèo vài thân nhân đến viếng. Trong đám bạn bè, người ta chỉ thấy một mình ông Trần Trung Dung.

Ngày 4.5.75, khoảng vài mươi người đã đến tiễn đưa di thể ông Thành đến nơi an nghỉ cuối cùng. Không khí lo sợ, ngại ngùng lặng lẽ bao trùm hết cả vẻ "tử biệt sinh ly" của một đám tang’… (Đặng Văn Nhâm. Ls. Trần Chánh Thành Đã Coi Cái Chết Nhẹ Như Lông Hồng Để Phản Đối Hành Động Xâm Lăng Của CS Và Cảnh Giác Thế Giới Tự Do. Daichung.com).

Ông Bộ trưởng Trần Chánh Thành đã chọn cho mình một cái chết can trường để bảo vệ sĩ khí và tiết tháo của một nhân vật chính trị, của một viên chức cao cấp từng mang trọng trách. Khi biết tình thế không còn có thể cứu vãn được, bản thân không mong thấy được thành quả tốt đẹp của lý tưởng đời mình nữa thì ông an nhiên, thanh thản ra đi, quyết không chịu để bị lọt vào tay Cộng quân.

Trên chính trường nước ta thời cận đại, một nhân tài, một nhân cách như ông Trần Chánh Thành, rõ ràng là không có nhiều.

Ôi cám cảnh thay! Anh hùng mạt lộ!

Khi tàn cuộc chiến, nước mất thành đổ, mới rõ mặt anh hùng, bất kể vị anh hùng ấy là võ hay là văn.

Bạch Diện Thư Sinh
http://quanviahe.multiply.com/journal/item/6158

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Biến cố 1975, nhớ Di Cư 1954:
Ðọc 'Deliver Us from Evil' của Bác Sĩ Thomas A. Dooley


* Operation Passage To Freedom * Vai trò Hải Quân Hoa Kỳ * Chiến hạm USS Montague


Hà Giang/Người Việt
Tôi được biết đến cuốn “Deliver Us From Evil,” của tác giả Thomas A. Dooley, một bác sĩ quân y thuộc Hải Quân Hoa Kỳ, lần đầu tiên trong đời, ở phòng khách của người phụ nữ được giới truyền thông Hoa Kỳ mệnh danh “Angel of Saigon,” và người Việt tị nạn giờ đây bắt đầu đặt cho cái tên “Mẹ Của Cô Nhi Việt Nam,” trong chuyến đi thăm bà tại Seattle để thực hiện phóng sự đặc biệt cho dịp 35 năm kỷ niệm 30 Tháng Tư cách đây hai tuần.

Trao cho tôi cuốn sách bìa rách tả tơi, xuất bản năm 1956, cách đây đã hơn 50 năm, bà Betty Tisdale bảo “Deliver Us From Evil” với bà là một “định mệnh,” và tác giả của nó, Bác Sĩ Quân Y Tom Dooley, là “một phép lạ, người đã làm thay đổi hẳn cuộc đời” của mình.

Trân trọng nhận sách từ tay bà (với lời giới thiệu như thế thì không thể không trân trọng), tôi ngắm tấm bìa đã ố vàng in hình một người đàn ông đẹp trai trong y phục Hải Quân Hoa Kỳ, bên cạnh một đứa bé Á Ðông. Ðằng sau và tương phản với vẻ mặt tươi cười của hai người, là những ánh mắt hốt hoảng như nuốt chửng khuôn mặt âu lo của những người Việt Nam ngồi chen chúc bên nhau như cá hộp.


--------------------------------------------------------------------------------
Hành trình đến tự do của những người di cư không dễ dàng, vì tuy trên nguyên tắc, thì mọi người được tự do chọn nơi mình sống, và những ai muốn di cư vào Nam sẽ được hỗ trợ để ra đi cho đến hết đến Tháng Năm, 1955, trên thực tế, ở khắp các nẻo đường, Việt Minh luôn lén lút tìm cách ngăn cản, ruồng bắt họ, khiến họ phải liều chết để tìm đường lẩn trốn.
--------------------------------------------------------------------------------

Bà Betty bảo một chương trong cuốn sách nói về các trẻ em cô nhi của madame Vũ Thị Ngãi đã khiến bà rất xúc động, và thôi thúc bà đi thăm cô nhi viện An Lạc, một biến cố dẫn đến việc bà di tản hơn 200 cô nhi ra khỏi Việt Nam sau này.

Trực giác cho tôi biết cuốn sách này chứa đựng nhiều hơn thế nữa.

Lật vài trang, tôi như bị thôi miên bởi những tấm hình trắng đen ghi lại cuộc di cư của hơn một triệu người trốn chạy cộng sản từ Bắc vào Nam. Những hình ảnh trông còn thê thảm hơn cảnh vượt biên của “boat people” vào biến cố Tháng Tư, 1975.

Tôi lật thêm vài tấm hình nữa. Toàn là những khuôn mặt chứa đầy hãi hùng, đau thương. Nhưng tại sao những hình ảnh xa lạ này lại thân thuộc đến thế?

Một luồng điện chạy xẹt qua người. Phải chăng có hình ảnh cha mẹ tôi trong đám người hốt hoảng ấy kéo nhau di cư vào Nam năm ấy?

Ðột nhiên những câu chuyện mẹ tôi kể về cuộc di cư từ Bắc vào Nam của thế hệ bà, mà tôi đã nghe nhiều lần từ tấm bé ào ạt trở về.

Và những hình ảnh trước mắt chợt làm sống động những câu chuyện trước đây tôi chỉ được nghe mà không thể hình dung.

Lịch sử đang được phơi bày trước mắt. Những hình ảnh có thật, được ghi lại, kể lại bằng một nhân chứng sống, và một người ngoại quốc.


***


Sau hơn ba ngày chờ đợi, cuốn sách cũ tôi đặt mua trên Amazon.com cuối cùng cũng về đến thùng thư. Sách “paperback” nên mỏng quá, không “đẹp” như cuốn sách của bà Tisdale.

Nhưng không hề gì.

Tôi bỏ ra 4 tiếng đồng hồ, ngấu nghiến đọc.

“Deliver Us From Evil” là hồi ký của Bác Sĩ Tom Dooley kể lại một công tác mang ông đến Việt Nam vào cuối mùa Hè năm 1954. Vào mùa Xuân trước đó, quân Pháp đã bị Việt Minh đánh bại trong trận Ðiện Biên Phủ.

Hiệp Ðịnh Geneve ký kết vào Tháng Bảy, 1954 cho phép dân chúng miền hai miền được quyền chọn giữa thể chế tự do (miền Nam) và cộng sản (miền Bắc) và di cư qua vùng mình muốn. Khoảng thời gian thông thương này sẽ kéo dài đến Tháng Năm, 1955.

Hiệp định này tạo ra một luồng sóng người Bắc ào ạt di cư vào Nam trong những chuyến đi được chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ qua công tác gọi là Chiến Dịch Hành Trình Ðến Tự Do (Operation Passage To Freedom).

Bằng một giọng kể chuyện ngôi thứ nhất, tác giả Tom Dooley đã ghi lại sinh hoạt của ông trên hàng không mẫu hạm USS Montague, và công việc trong những trại tị nạn ở ngoại ô Hải Phòng, trong việc giúp người Bắc di cư vào Nam để trốn chạy chế độ cộng sản, vào khoảng năm 1954 đến đầu năm 1955.

“Deliver Us From Evil” là một hồi ký hấp dẫn, sinh động, chứa nhiều chi tiết gây ấn tượng sâu sắc về những phức tạp của việc xây dựng và duy trì một trại tị nạn, nơi những người di cư tạm trú trong thời gian đợi khám sức khỏe, chữa trị và chủng ngừa, trước khi được đưa vào Nam.

Qua lời kể của Tom Dooley, người đọc có thể hình dung được toàn cảnh cảng Hải Phòng, với những bến tàu, hai khách sạn xập xệ và vài cửa hàng tạp hóa đến những chi tiết cụ thể và thực tế trong trại như việc sử dụng nhà cầu, cũng như khó khăn tạo ra bởi sự khác biệt những về cả ngôn ngữ lẫn văn hóa.

Tác giả cũng giải thích những khó khăn của hải quân Hoa Kỳ trong việc đưa hàng trăm ngàn người dân, trong đó có nhiều người già, trẻ em, tàn tật, ghẻ lở ốm đau, những người đàn bà thai nghén, từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long.

Hành trình đến tự do của những người di cư không dễ dàng, vì tuy trên nguyên tắc, thì mọi người được tự do chọn nơi mình sống, và những ai muốn di cư vào Nam sẽ được hỗ trợ để ra đi cho đến hết đến Tháng Năm, 1955, nhưng trên thực tế, ở khắp các nẻo đường, Việt Minh luôn lén lút tìm cách ngăn cản, ruồng bắt họ, khiến họ phải liều chết để tìm đường lẩn trốn.

Một đoạn văn tả lại cuộc đi trốn của người làng Cửa Lò:

“Trên những con thuyền chỉ chở tối đa là 25 người, đêm nay chúng tôi chất cả trăm người trên mỗi thuyền. Im lặng như màn đêm, thuyền chúng tôi lặng lẽ rời bờ hướng về phía biển Ðông.

Chuyến đi của chúng tôi kéo dài năm ngày năm đêm. Chúng tôi không thể đốt lửa vì củi quá ướt. Chúng tôi bắt buộc phải ăn cơm sống, trà thì bị ngập nước biển không còn uống được, chúng tôi hầu như không uống nước. Trẻ con và đàn bà chết lả vì đói và khát.”

Trong tình cảnh thật khốn khó, tình cảm tác giả cũng như những đồng đội của ông trong Hải Quân Hoa Kỳ dành cho người di cư xấu số được thể hiện rất rõ ràng, nhất là trong những đoạn tả cảnh họ săn sóc các trẻ em cô nhi, mà cha mẹ đã bị chết trên đường tị nạn.

Nhưng lẫn với những câu chuyện chứa đầy tình người, là những hình ảnh hãi hùng khiến người đọc phải rùng mình. Ðó là những chuyện mà tác giả cho là phải ghi lại như một tài liệu lịch sử để cho thế giới thấy rõ những hành vi man rợ của một chế độ bất nhân, đã xô đẩy hàng triệu người phải bỏ tất cả nhà cửa, ruộng vườn, làng mạc, mồ mả ông bà tổ tiên, những gì quý giá nhất để gồng gánh, bồng bế nhau đi.

Trong chương có tên là “Cải tạo của Cộng Sản,” Bác Sĩ Tom Dooley kể một hôm người ta đưa đến trại tị nạn bảy em trai bị thương ở hai tai máu chảy lênh láng, và một người đàn ông miệng bê bết máu đã ngất xỉu để cấp cứu.

Dùng thuốc trụ sinh, và mọi phương tiện khó khăn lúc đó, bác sĩ đã cứu sống được họ, nhưng họ vẫn bị tàn tật suốt đời.

Nguyên nhân thương tích của họ được Bác Sĩ Tom Dooley kể lại như sau:

“Một người được chứng kiến câu chuyện sau đó kể cho chúng tôi biết là hôm đó Việt Minh kéo vào làng, họ đến ngôi trường mà một thầy giáo bị tố cáo là đã lén lút tổ chức những lớp học giáo lý vào buổi tối.

“Bảy học sinh và thầy giáo bị lôi ra khỏi lớp. Tất cả bị bắt ngồi xuống đất và hai tay bị trói ra đằng sau.

“Hai người công an đi đến từng đứa trẻ. Một người dùng hai tay nắm chặt lấy đầu đứa bé. Người kia lấy một chiếc đũa bằng tre chọc mạnh sâu vào cả hai tai em, máu chảy ròng ròng, và cả làng có thể nghe thấy tiếng kêu la kinh hoàng của những người bị trừng trị.”

Sau khi đã phải chứng kiến cảnh từng học trò của mình bị chọc hỏng tai, thầy giáo bị trừng phạt bằng một hình phạt nặng nề hơn. Một công an nắm chặt đầu ông, còn người kia banh miệng ông ra, dùng kéo cắt đi chiếc lưỡi dám rao giảng những giáo điều đi ngược với chính sách của đảng. Những em học trò này từ nay không thể nghe được lời rao giảng nào nữa, và thầy giáo bị câm thì không còn bao giờ nói được những điều bị cấm.”

Hãi hùng, thê thảm, hỗn loạn, bẩn thỉu, bệnh tật, chết chóc, sự quỷ quyệt và tàn nhẫn, là những gì được ghi lại trong chuyến di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, và công tác của ông gần đến ngày cuối thì lại càng khó khăn hơn vì vòng đai kiểm soát của Việt Minh ngày càng siết chặt.

Nhưng giữa những hình ảnh ảm đạm thê lương nhất, người đọc vẫn thấy thấp thoáng ánh sáng của hy vọng vào tình người, và sức mạnh mãnh liệt của niềm tin tôn giáo.

Ngay sau khi xuất bản, “Deliver Us From Evil” đã nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy nhất, và được xem là một tài liệu lịch sử có giá trị ghi lại vai trò của hải quân Hoa Kỳ trong cuộc di tản hơn một triệu người Bắc di cư vào Nam để tìm tự do.

Post Reply