Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
CÔNG LAO CỦA VỢ
Chuyện phiếm của Gã Siêu
Cứ mỗi lần lễ tình nhân, hay ngày tôn vinh mẹ hiền trở về, là mấy anh con giai lo toát cả mồ hôi, chạy đôn chạy đáo để mà mua bông mua quà, còn mấy ông viết lách thì hết lời ca tụng và tôn vinh phe đờn bà con gái, khiến cho cánh kẹp tóc cứ vểnh tai cối lên mà nghe, cánh mũi nở to như trái cà chua và cảm thấy đời bỗng dưng “dzui”.
Dịp mồng tám tháng ba, ngày quốc tế phụ nữ năm nay, có một anh chàng độc thân vui tính đã viết :
- Đời không có đờn bà con gái giống như một ngày mà không có mặt trời. Ủ dột và tê tái.
Nếu như anh chàng độc thân này mà rời bỏ binh chủng “phòng không” của mình, để gia nhập lực lượng “lính thủy đánh bộ”, chắc chắn anh ta sẽ được liệt vào hàng “tôn thờ” bà xã theo kiểu:
- Kính vợ đắc thọ,
Sợ vợ sống lâu,
Nể vợ ta hết u sầu,
Để vợ lên đầu,
Thì trường sinh bất lão.
Mà quả đúng như vậy, nếu bà xã là mặt trời, thì lúc nào mà chẳng ở vào cái thế “thượng phong”, vì mặt trời luôn luôn chẳng chiếu sáng trên đầu chúng ta.
Ngày xưa khi học về ca dao tục ngữ, gã vẫn còn nhớ bài “Mười thương”:
- Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên,
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng qua tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chính thương cô ở một mình,
Mười thương con mắt có tình với ai.
Thế nhưng, ngày phụ nữ đòi quyền sống và sướng năm nay, một anh bạn của gã tận mãi bên Đan Mạch, không biết tự mình sáng tác, hay đã đọc được ở đâu đó, bèn gửi cho gã một bài thơ cùng một thể thức và cũng mang tựa đề là “Mười thương” được nhái theo bài ca dao trên, gọi là để góp tiếng ngợi ca phe kẹp tóc:
- Một thương đôi má của nàng,
Xoa toan mỹ phẩm, anh tàn tháng lương.
Hai thương giọng ngọt như đường,
Nàng xin một tiếng, vua nhường mất ngôi.
Ba thương đo đỏ đôi môi,
Anh không hôn được, sợ trôi son nàng.
Bốn thương mười ngón thiên đàng,
Móng nàng lạ lắm : lúc vàng, lúc xanh.
Năm thương đôi mắt long lanh,
Liếc tình, cọp cũng biến thành nai tơ.
Sáu thương cái nết ngây thơ,
Quen nàng một tháng, anh khờ ba năm.
Bảy thương cái mặt chầm dầm,
Đòi mua vài cái áo đầm mới vui.
Tám thương mái tóc buông xuôi,
Làm anh té xỉu bởi mùi dầu thơm.
Chín thương nàng biết nấu cơm,
Lớp khê, lớp khét, thằng bờm chạy xa.
Mười thương tính chẳng xa hoa,
Vòng vàng không khoái, hột xoàn nàng mê.
Đời trai sao lắm ê chề,
Thương xong mười cái anh về chăn trâu.
Gọi là góp tiếng để ngợi ca phe kẹp tóc theo cái kiểu này, thì đúng là tên phản phé, đâm sau lưng các…nữ chiến sĩ rồi còn gì.
Riêng phần gã, gã xin mượn phần đất của bài viết hôm nay, để tôn vinh công sức của các chị vợ.
Thực vậy, có người đã định nghĩa chữ “vợ” như sau :
- Vợ là mẹ các con ta,
Thường kêu “bà xã”, hiệu là “phu nhân”.
Vợ là tổng hợp bạn thân,
Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền.
Vợ là ngân khố, kho tiền,
Gửi vô nhanh gọn, hơi phiền rút ra.
Vợ là biển cả bao la,
Đôi khi nổi sóng, khiến ta chìm phà.
Vợ là âm nhạc, thi ca,
Vừa là cô giáo, vừa là luật sư.
Cả gan đấu khẩu vợ ư?
Cá ươn không muối, chồng hư cãi lời.
Chồng ơi! Đừng có dại khờ,
Vợ đi, thì biết cậy nhờ vào ai?
Vợ là phước, lộc, thọ, tài,
Thuộc trăm định nghĩa, trả bài vợ khen.
Bài thơ trên đã quảng diễn một cách phong phú ý tưởng của câu “ranh ngôn” :
- Vợ không có công sinh ra ta, nhưng lại có công nuôi dưỡng và dạy dỗ ta nên người.
Hay như một câu ca dao thời nay :
- Dù không sinh đẻ ra ta,
Nhưng công dưỡng dục thật là lớn lao.
Dựa vào câu “ranh ngôn” cũng như câu ca dao trên, gã thấy công sức của chị vợ được chia thành hai loại:
Loại thứ nhất, đó là công sức nuôi dưỡng.
Mặc dù thỉnh thoảng cũng có tí luật trừ, đó là một vài anh đờn ông bỗng dưng giỏi chuyện bếp núc, phụ trách chế biến các món ăn ở những khách sạn năm sao và một vài chị đờn bà bỗng dưng mù tịt việc nấu nướng, chỉ nguyên việc thổi một nồi cơm, thì cũng đã trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét.
Tuy nhiên, phải công nhận rằng lãnh vực bếp núc là lãnh vực riêng của các nàng. Có bàn tay phụ nữ, bữa ăn được cải thiện trông thấy. Không còn cảnh chém to kho mặn…
Chính vì thế, nhiều anh chàng sinh viên đã gạ gẫm bạn gái của mình góp gạo thổi cơm chung. Rồi sau đó, việc gì đến, ăt sẽ phải đến. Và chuyện…ăn cơm trước kẻng đương nhiên sẽ xảy ra, với những hậu quả thật não nùng và bi đát , mà phần thiệt thòi bao giờ cũng nằm ở phía các nàng.
Ngày nay, hình như người ta thích dành cho mình cái danh hiệu là “từ mẫu”, tức là mẹ hiền. Mấy ông bác sĩ, mấy ông thày thuốc và ngay cả những vị lang băm cũng đều ra sức tự phong cho mình cái nhãn hiệu ấy:
- Lương y như từ mẫu.
Trong khi đó, mấy cô giáo nhà trẻ cũng say mê tập cho các em thuộc lứa tuổi babilac hát vang:
- Lúc ở nhà, mẹ cũng là cô giáo,
Đi đến trường, cô giáo như mẹ hiền.
Cô và mẹ là hai cô giáo,
Mẹ và cô cũng như mẹ hiền.
Và bây giờ đến lượt các chị vợ cũng rất mong muốn được làm mẹ của các anh chồng. Dĩ nhiên, sự mong muốn này được biểu lộ ra không phải trong tư tưởng, cũng như không phải trong lời nói, mà được biểu lộ ra trong những việc làm cụ thể, bằng cách “nuôi chồng khỏe và dạy chồng ngoan”.
Hiện giờ, chuyện an toàn thực phẩn đang là một vấn đề nóng bỏng được thiên hạ bàn tán. Phở thì có “phọc môn”, bún thì có hàn the, thịt lợn thì đang bị lở mồm long móng, thịt gà thịt vịt thì đang bị dịch cúm gia cầm, lúa gạo thì nhiễm thuốc trừ sâu và phân hóa học…
Cũng chính vì thế, để bảo đảm sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, các chị vợ đều bắt mọi người phải ăn cơm nhà, vừa bảo đảm, lại vừa đủ chất dinh dưỡng. Còn đâu nữa mỗi buổi sáng ra quán làm một tô phở tái béo ngậy, rồi nhâm nhi ly cà phê đen mà ba hoa chích chòe đủ mọi chuyện trên trời dưới đất với nhóm bạn hữu.
Thậm chí, nhiều khi đi dự đám tiệc, chị vợ cũng bắt anh chồng phải ăn cơm ở nhà trước cho chắc bụng. Hơn thế nữa, lỡ có uống dăm ba ly, thì cũng khó mà say được.
Nhiều chị vợ còn ra sức chăm sóc anh chồng một cách chu đáo, vượt ngoài mức độ cần thiết, cứ như một người mẹ chăm sóc đứa con bé bỏng của mình.
Chẳng hạn sau mỗi bữa cơm, phải “tráng miệng” bằng hai trái chuối, và trước khi đi ngủ, phải “lót lòng” bằng một ly cối đầy sữa…Thành thử anh chồng cứ mỗi ngày một phát tướng và vòng số hai cứ liên tục phát triển. Chị vợ đâu có ngờ rằng cái vòng này càng to ra, thì vòng đời càng teo lại!
Nếu chẳng may anh chồng quá vui mà bị xỉn, thì đã có chị vợ lo pha nước chanh, đắp khăn nóng và thậm chí còn bôi vôi vào gan bàn chân để được mau tỉnh. Còn nếu chẳng may anh chồng bị đau yếu thì đã có chị vợ vội tìm thầy chạy thuốc, dành cho một chế độ “bồi dưỡng” mà ngày thường có nằm mơ cũng chẳng thấy. Vì thế, người ta đã bảo :
- Khi ta đau ốm xanh xao,
Vợ lo chăm sóc, hồng hào khỏe ngay.
Anh chồng mà nhõng nhẽo…chả muốn ăn, thì liền được rót vào tai những lời ngọt ngào :
- Bộ anh hổng còn thương em nữa sao? Em đã bỏ công lo lắng cho sức khỏe của anh từng ly từng tí, để vợ chồng mình được ăn ở đời kiếp với nhau. Vậy mà anh hổng chịu nghe lời em.
Tới nước này, thì anh chồng cũng giống như em bé, ầm một cái, ăn cho bà xã được vui lòng.
Tuy nhiên, đôi lúc sự chăm sóc trên cả tuyệt vời này, khiến cho anh chồng…ngao ngán. Nguyễn Niệm trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 7 ra ngày mồng 2 tháng 3 năm 2008, đã đưa ra một trường hợp điển hình như sau:
Một hôm, mấy tay “chiến hữu” đến rủ anh chồng đi…nhậu. Lúc anh chồng chuẩn bị lên đường, chị vợ bèn dặn dò đủ thứ:
- Nè, anh nhớ uống vừa phải thôi, còn chừa đường về.
- À, mà khi nhậu, anh phải nhớ ăn nhiều, bằng không sẽ bị đau bao tử nghe chưa!
Đến khi anh chồng phóng xe ra tới đầu ngõ, chị vợ còn réo gọi, chạy theo đưa cho anh chồng chiếc áo mưa và nói:
- Sao anh bỏ áo mưa ở nhà, lỡ trời đổ mưa, bị cảm lạnh lại khổ thân.
Thái độ chăm sóc chồng trên mức…bình thường của chị vợ trước mặt đám “chiến hữu” khiến anh chồng ngượng chín cả người, thiếu điều muốn độn thổ mà thôi…
Loại thứ hai, đó là công sức dạy bảo.
Chị vợ không phải chỉ bỏ công sức ra nuôi chồng khỏe, mà còn bỏ biết bao nhiêu công sức ra để giáo dục, nhờ đó mà anh chồng được “thuần hóa” và trở nên người “ích quốc, lợi gia”.
Thực vậy, gã đã từng thấy có những anh con giai, thuở còn độc thân, thì ngang tàng không ai chịu nổi, thế nhưng, cưới vợ xong chỉ một thời gian ngắn là bỏ được cái thói ngông nghênh của mình, chí thú làm ăn, khiến cho bà con lối xóm phải tâm phục, khẩu phục. Thì ra, sự dạy bảo của chị vợ, tuy âm thầm mà lại hiệu quả, theo kiểu “mưa dầm thấm đất”.
Gã đã sưu tầm được một số những lời dạy bảo đầy êm dịu của những chị vợ, xin ghi lại nơi đây để những anh chồng cùng suy gẫm và đem ra thực hành, khi gặp phải những tình huống tương tự.
Trước hết, khi còn ở trong nhà thì phải biết chia sẻ công việc “tề gia nội trợ” với chị vợ, chứ đừng lên mặt thầy đời, chỉ tay năm ngón. Một anh chồng đã thú nhận sự thất bại của mình trước những lời dụ dỗ ngọt ngào của chị vợ như sau:
- Vợ tui là khéo nhất nhà,
Rất hay sai vặt, nhưng là sai hay!
Anh ơi giúp em tí này,
Mang hộ cái đấy vào đây anh à.
Cái này thì hãy mang ra,
Mang vào cái đấy mang ra cái này.
Vào ra giúp hộ tối ngày,
Cái tai vẫn khoái, cái tay vẫn đều.
Vợ tui đúng thật là siêu,
Sai mà sai khéo, sai yêu, sai tình. (Bắc Tiếu)
Còn khi ra ngoài ngõ, thì phải nhớ lời vợ dặn :
- Lái xe ra khỏi cổng nhà,
Vợ kêu giật ngược, diết da dặn rằng :
Một đừng mơ mộng thơ trăng,
Đụng xe, thi sĩ gẫy răng u đầu.
Hai đừng giữ ống nghe lâu,
Gái tơ õng ẹo ghẹo đầu dây kia.
Ba đừng ghé quán rượu bia,
Bốc men tơ tưởng nọ kia khó lường.
Bốn đừng mua báo dọc đường,
Bìa in hoa hậu soi gương liếc cười.
Năm đừng liến láo con ngươi,
Đồng nghiệp váy ngắn ẹo người đi qua.
Sáu đừng hoang phí thời gian,
Ngồi lâu trộm nghía cô hàng cà phê.
Bảy đừng thấy phở mà mê,
Ăn vào loét dạ, lại chê cơm nhà.
Tám đừng hò hát lang thang,
Tiếp viên ca sĩ giả ma hớp hồn.
Chín đừng dạo bước hoàng hôn,
Công viên hoa lá cô hồn rủ rê.
Mười đừng ghé rạp xi nê,
Ti vi nhà sẵn, lẹ về coi phim.
Rõ chưa, vợ hét đứng tim,
Đừng hòng tưởng bở như chim sổ lồng.
Mà này! Nhắc lại cho thông,
Nếu không, tui quyết nhốt ông ở nhà.
Ở mọi nơi và trong mọi lúc, chị vợ luôn có những hành động phù hợp, để giáo dục anh chồng:
- Sợ ta đi trật đường rày,
Vợ liền theo dõi kéo ngay về nhà,
Khi ta tán tỉnh ba hoa,
Vợ liền “quát nạt” để mà răn đe.
Tới đây gã xin kể lại một câu truyện trong sách “Cổ Học Tinh Hoa” để thấy được rằng nếu chịu khó nghe lời vợ dạy, thì sẽ trở nên một con người đức độ và thành đạt.
Án Tử làm tướng nước Tề, một hôm đi việc quan, có tên đánh xe theo hầu.
Vợ tên đánh dòm qua khe cửa, thấy chồng tay cầm cái dù, tay cầm dây cương, mặt vác lên trời, dương dương tự đắc.
Lúc chồng về nhà, nàng xin từ bỏ nhà ra đi. Chồng hỏi :
- Tại làm sao ?
Nàng nói :
- Án Tử người gầy thấp và bé nhỏ, nhưng làm đến tướng nước Tề, danh tiếng lừng lẫy khắp thiên hạ, thế mà thiếp xem ông ấy vẫn có ý chín chắn và khiêm nhường, như chưa bằng ai. Chớ như chàng cao lớn đẫy đà, mới chỉ làm được một tên đánh xe tầm thường và hèn hạ, thế mà thiếp xem chàng đã ra dáng lấy làm vinh hạnh, tưởng không ai bằng. Thiếp xin bỏ chàng, thiếp đi.
Từ hôm ấy, tên đánh xe bỏ được cái bộ vênh váo, chừa được cái tính nông nổi. Án Tử thấy thế, lấy làm lạ, bèn hỏi. Tên đánh xe bèn đem việc nhà mà kể lại. Án Tử bèn cất cho làm đại phu.
Sở dĩ Án Tử chừa bỏ được cái thói “tự cao hão” và làm tới chức đại phu cũng chỉ vì đã nghe lời vợ dạy,
Tuy nhiên, đôi khi cũng có những anh chồng cứng đầu cứng cổ, thì lúc đó chị vợ sẽ áp dụng chiến thuật “bất bạo động”: không nói, không cười, không cộng tác và không làm gì hết.
Hay tạo nên một tình huống “chiến tranh lạnh”: ban ngày thì mặt mũi ủ rũ như treo cờ tang, còn ban đêm thì…”cấm vận”, mỗi người ngủ một nơi.
Sau cùng, “tối hậu thu” được đưa ra một cách âm thầm, đó là chị vợ sẽ lặng lẽ khăn gói quả mướp về với bu, để dạy cho anh chồng một bài học thế nào là vâng lời vợ và thế nào là lễ độ với vợ. Tới đây, muốn được ổn định lại cuộc sống, anh chồng đành phải năn nỉ ỉ ôi, xin chị vợ tha thứ, để rồi “mời nàng về…dinh”.
Kinh nghiệm cay đắng này, sẽ làm cho anh chồng mau mắn “hạ quyết tâm”:
- Vợ mà dạy, phải lắng nghe,
Mai sau “khôn lớn”, mà khoe mọi người.
Tóm lại, gã xin kính cẩn nghiêng mình trước những chị vợ đã cư xử như một người mẹ và đã góp rất nhiều công sức vào sự nghiệp “nuôi chồng khỏe, dạy chồng ngoan”.
Gã Siêu gasieu@gmail. com
Chuyện phiếm của Gã Siêu
Cứ mỗi lần lễ tình nhân, hay ngày tôn vinh mẹ hiền trở về, là mấy anh con giai lo toát cả mồ hôi, chạy đôn chạy đáo để mà mua bông mua quà, còn mấy ông viết lách thì hết lời ca tụng và tôn vinh phe đờn bà con gái, khiến cho cánh kẹp tóc cứ vểnh tai cối lên mà nghe, cánh mũi nở to như trái cà chua và cảm thấy đời bỗng dưng “dzui”.
Dịp mồng tám tháng ba, ngày quốc tế phụ nữ năm nay, có một anh chàng độc thân vui tính đã viết :
- Đời không có đờn bà con gái giống như một ngày mà không có mặt trời. Ủ dột và tê tái.
Nếu như anh chàng độc thân này mà rời bỏ binh chủng “phòng không” của mình, để gia nhập lực lượng “lính thủy đánh bộ”, chắc chắn anh ta sẽ được liệt vào hàng “tôn thờ” bà xã theo kiểu:
- Kính vợ đắc thọ,
Sợ vợ sống lâu,
Nể vợ ta hết u sầu,
Để vợ lên đầu,
Thì trường sinh bất lão.
Mà quả đúng như vậy, nếu bà xã là mặt trời, thì lúc nào mà chẳng ở vào cái thế “thượng phong”, vì mặt trời luôn luôn chẳng chiếu sáng trên đầu chúng ta.
Ngày xưa khi học về ca dao tục ngữ, gã vẫn còn nhớ bài “Mười thương”:
- Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên,
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng qua tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chính thương cô ở một mình,
Mười thương con mắt có tình với ai.
Thế nhưng, ngày phụ nữ đòi quyền sống và sướng năm nay, một anh bạn của gã tận mãi bên Đan Mạch, không biết tự mình sáng tác, hay đã đọc được ở đâu đó, bèn gửi cho gã một bài thơ cùng một thể thức và cũng mang tựa đề là “Mười thương” được nhái theo bài ca dao trên, gọi là để góp tiếng ngợi ca phe kẹp tóc:
- Một thương đôi má của nàng,
Xoa toan mỹ phẩm, anh tàn tháng lương.
Hai thương giọng ngọt như đường,
Nàng xin một tiếng, vua nhường mất ngôi.
Ba thương đo đỏ đôi môi,
Anh không hôn được, sợ trôi son nàng.
Bốn thương mười ngón thiên đàng,
Móng nàng lạ lắm : lúc vàng, lúc xanh.
Năm thương đôi mắt long lanh,
Liếc tình, cọp cũng biến thành nai tơ.
Sáu thương cái nết ngây thơ,
Quen nàng một tháng, anh khờ ba năm.
Bảy thương cái mặt chầm dầm,
Đòi mua vài cái áo đầm mới vui.
Tám thương mái tóc buông xuôi,
Làm anh té xỉu bởi mùi dầu thơm.
Chín thương nàng biết nấu cơm,
Lớp khê, lớp khét, thằng bờm chạy xa.
Mười thương tính chẳng xa hoa,
Vòng vàng không khoái, hột xoàn nàng mê.
Đời trai sao lắm ê chề,
Thương xong mười cái anh về chăn trâu.
Gọi là góp tiếng để ngợi ca phe kẹp tóc theo cái kiểu này, thì đúng là tên phản phé, đâm sau lưng các…nữ chiến sĩ rồi còn gì.
Riêng phần gã, gã xin mượn phần đất của bài viết hôm nay, để tôn vinh công sức của các chị vợ.
Thực vậy, có người đã định nghĩa chữ “vợ” như sau :
- Vợ là mẹ các con ta,
Thường kêu “bà xã”, hiệu là “phu nhân”.
Vợ là tổng hợp bạn thân,
Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền.
Vợ là ngân khố, kho tiền,
Gửi vô nhanh gọn, hơi phiền rút ra.
Vợ là biển cả bao la,
Đôi khi nổi sóng, khiến ta chìm phà.
Vợ là âm nhạc, thi ca,
Vừa là cô giáo, vừa là luật sư.
Cả gan đấu khẩu vợ ư?
Cá ươn không muối, chồng hư cãi lời.
Chồng ơi! Đừng có dại khờ,
Vợ đi, thì biết cậy nhờ vào ai?
Vợ là phước, lộc, thọ, tài,
Thuộc trăm định nghĩa, trả bài vợ khen.
Bài thơ trên đã quảng diễn một cách phong phú ý tưởng của câu “ranh ngôn” :
- Vợ không có công sinh ra ta, nhưng lại có công nuôi dưỡng và dạy dỗ ta nên người.
Hay như một câu ca dao thời nay :
- Dù không sinh đẻ ra ta,
Nhưng công dưỡng dục thật là lớn lao.
Dựa vào câu “ranh ngôn” cũng như câu ca dao trên, gã thấy công sức của chị vợ được chia thành hai loại:
Loại thứ nhất, đó là công sức nuôi dưỡng.
Mặc dù thỉnh thoảng cũng có tí luật trừ, đó là một vài anh đờn ông bỗng dưng giỏi chuyện bếp núc, phụ trách chế biến các món ăn ở những khách sạn năm sao và một vài chị đờn bà bỗng dưng mù tịt việc nấu nướng, chỉ nguyên việc thổi một nồi cơm, thì cũng đã trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét.
Tuy nhiên, phải công nhận rằng lãnh vực bếp núc là lãnh vực riêng của các nàng. Có bàn tay phụ nữ, bữa ăn được cải thiện trông thấy. Không còn cảnh chém to kho mặn…
Chính vì thế, nhiều anh chàng sinh viên đã gạ gẫm bạn gái của mình góp gạo thổi cơm chung. Rồi sau đó, việc gì đến, ăt sẽ phải đến. Và chuyện…ăn cơm trước kẻng đương nhiên sẽ xảy ra, với những hậu quả thật não nùng và bi đát , mà phần thiệt thòi bao giờ cũng nằm ở phía các nàng.
Ngày nay, hình như người ta thích dành cho mình cái danh hiệu là “từ mẫu”, tức là mẹ hiền. Mấy ông bác sĩ, mấy ông thày thuốc và ngay cả những vị lang băm cũng đều ra sức tự phong cho mình cái nhãn hiệu ấy:
- Lương y như từ mẫu.
Trong khi đó, mấy cô giáo nhà trẻ cũng say mê tập cho các em thuộc lứa tuổi babilac hát vang:
- Lúc ở nhà, mẹ cũng là cô giáo,
Đi đến trường, cô giáo như mẹ hiền.
Cô và mẹ là hai cô giáo,
Mẹ và cô cũng như mẹ hiền.
Và bây giờ đến lượt các chị vợ cũng rất mong muốn được làm mẹ của các anh chồng. Dĩ nhiên, sự mong muốn này được biểu lộ ra không phải trong tư tưởng, cũng như không phải trong lời nói, mà được biểu lộ ra trong những việc làm cụ thể, bằng cách “nuôi chồng khỏe và dạy chồng ngoan”.
Hiện giờ, chuyện an toàn thực phẩn đang là một vấn đề nóng bỏng được thiên hạ bàn tán. Phở thì có “phọc môn”, bún thì có hàn the, thịt lợn thì đang bị lở mồm long móng, thịt gà thịt vịt thì đang bị dịch cúm gia cầm, lúa gạo thì nhiễm thuốc trừ sâu và phân hóa học…
Cũng chính vì thế, để bảo đảm sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, các chị vợ đều bắt mọi người phải ăn cơm nhà, vừa bảo đảm, lại vừa đủ chất dinh dưỡng. Còn đâu nữa mỗi buổi sáng ra quán làm một tô phở tái béo ngậy, rồi nhâm nhi ly cà phê đen mà ba hoa chích chòe đủ mọi chuyện trên trời dưới đất với nhóm bạn hữu.
Thậm chí, nhiều khi đi dự đám tiệc, chị vợ cũng bắt anh chồng phải ăn cơm ở nhà trước cho chắc bụng. Hơn thế nữa, lỡ có uống dăm ba ly, thì cũng khó mà say được.
Nhiều chị vợ còn ra sức chăm sóc anh chồng một cách chu đáo, vượt ngoài mức độ cần thiết, cứ như một người mẹ chăm sóc đứa con bé bỏng của mình.
Chẳng hạn sau mỗi bữa cơm, phải “tráng miệng” bằng hai trái chuối, và trước khi đi ngủ, phải “lót lòng” bằng một ly cối đầy sữa…Thành thử anh chồng cứ mỗi ngày một phát tướng và vòng số hai cứ liên tục phát triển. Chị vợ đâu có ngờ rằng cái vòng này càng to ra, thì vòng đời càng teo lại!
Nếu chẳng may anh chồng quá vui mà bị xỉn, thì đã có chị vợ lo pha nước chanh, đắp khăn nóng và thậm chí còn bôi vôi vào gan bàn chân để được mau tỉnh. Còn nếu chẳng may anh chồng bị đau yếu thì đã có chị vợ vội tìm thầy chạy thuốc, dành cho một chế độ “bồi dưỡng” mà ngày thường có nằm mơ cũng chẳng thấy. Vì thế, người ta đã bảo :
- Khi ta đau ốm xanh xao,
Vợ lo chăm sóc, hồng hào khỏe ngay.
Anh chồng mà nhõng nhẽo…chả muốn ăn, thì liền được rót vào tai những lời ngọt ngào :
- Bộ anh hổng còn thương em nữa sao? Em đã bỏ công lo lắng cho sức khỏe của anh từng ly từng tí, để vợ chồng mình được ăn ở đời kiếp với nhau. Vậy mà anh hổng chịu nghe lời em.
Tới nước này, thì anh chồng cũng giống như em bé, ầm một cái, ăn cho bà xã được vui lòng.
Tuy nhiên, đôi lúc sự chăm sóc trên cả tuyệt vời này, khiến cho anh chồng…ngao ngán. Nguyễn Niệm trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 7 ra ngày mồng 2 tháng 3 năm 2008, đã đưa ra một trường hợp điển hình như sau:
Một hôm, mấy tay “chiến hữu” đến rủ anh chồng đi…nhậu. Lúc anh chồng chuẩn bị lên đường, chị vợ bèn dặn dò đủ thứ:
- Nè, anh nhớ uống vừa phải thôi, còn chừa đường về.
- À, mà khi nhậu, anh phải nhớ ăn nhiều, bằng không sẽ bị đau bao tử nghe chưa!
Đến khi anh chồng phóng xe ra tới đầu ngõ, chị vợ còn réo gọi, chạy theo đưa cho anh chồng chiếc áo mưa và nói:
- Sao anh bỏ áo mưa ở nhà, lỡ trời đổ mưa, bị cảm lạnh lại khổ thân.
Thái độ chăm sóc chồng trên mức…bình thường của chị vợ trước mặt đám “chiến hữu” khiến anh chồng ngượng chín cả người, thiếu điều muốn độn thổ mà thôi…
Loại thứ hai, đó là công sức dạy bảo.
Chị vợ không phải chỉ bỏ công sức ra nuôi chồng khỏe, mà còn bỏ biết bao nhiêu công sức ra để giáo dục, nhờ đó mà anh chồng được “thuần hóa” và trở nên người “ích quốc, lợi gia”.
Thực vậy, gã đã từng thấy có những anh con giai, thuở còn độc thân, thì ngang tàng không ai chịu nổi, thế nhưng, cưới vợ xong chỉ một thời gian ngắn là bỏ được cái thói ngông nghênh của mình, chí thú làm ăn, khiến cho bà con lối xóm phải tâm phục, khẩu phục. Thì ra, sự dạy bảo của chị vợ, tuy âm thầm mà lại hiệu quả, theo kiểu “mưa dầm thấm đất”.
Gã đã sưu tầm được một số những lời dạy bảo đầy êm dịu của những chị vợ, xin ghi lại nơi đây để những anh chồng cùng suy gẫm và đem ra thực hành, khi gặp phải những tình huống tương tự.
Trước hết, khi còn ở trong nhà thì phải biết chia sẻ công việc “tề gia nội trợ” với chị vợ, chứ đừng lên mặt thầy đời, chỉ tay năm ngón. Một anh chồng đã thú nhận sự thất bại của mình trước những lời dụ dỗ ngọt ngào của chị vợ như sau:
- Vợ tui là khéo nhất nhà,
Rất hay sai vặt, nhưng là sai hay!
Anh ơi giúp em tí này,
Mang hộ cái đấy vào đây anh à.
Cái này thì hãy mang ra,
Mang vào cái đấy mang ra cái này.
Vào ra giúp hộ tối ngày,
Cái tai vẫn khoái, cái tay vẫn đều.
Vợ tui đúng thật là siêu,
Sai mà sai khéo, sai yêu, sai tình. (Bắc Tiếu)
Còn khi ra ngoài ngõ, thì phải nhớ lời vợ dặn :
- Lái xe ra khỏi cổng nhà,
Vợ kêu giật ngược, diết da dặn rằng :
Một đừng mơ mộng thơ trăng,
Đụng xe, thi sĩ gẫy răng u đầu.
Hai đừng giữ ống nghe lâu,
Gái tơ õng ẹo ghẹo đầu dây kia.
Ba đừng ghé quán rượu bia,
Bốc men tơ tưởng nọ kia khó lường.
Bốn đừng mua báo dọc đường,
Bìa in hoa hậu soi gương liếc cười.
Năm đừng liến láo con ngươi,
Đồng nghiệp váy ngắn ẹo người đi qua.
Sáu đừng hoang phí thời gian,
Ngồi lâu trộm nghía cô hàng cà phê.
Bảy đừng thấy phở mà mê,
Ăn vào loét dạ, lại chê cơm nhà.
Tám đừng hò hát lang thang,
Tiếp viên ca sĩ giả ma hớp hồn.
Chín đừng dạo bước hoàng hôn,
Công viên hoa lá cô hồn rủ rê.
Mười đừng ghé rạp xi nê,
Ti vi nhà sẵn, lẹ về coi phim.
Rõ chưa, vợ hét đứng tim,
Đừng hòng tưởng bở như chim sổ lồng.
Mà này! Nhắc lại cho thông,
Nếu không, tui quyết nhốt ông ở nhà.
Ở mọi nơi và trong mọi lúc, chị vợ luôn có những hành động phù hợp, để giáo dục anh chồng:
- Sợ ta đi trật đường rày,
Vợ liền theo dõi kéo ngay về nhà,
Khi ta tán tỉnh ba hoa,
Vợ liền “quát nạt” để mà răn đe.
Tới đây gã xin kể lại một câu truyện trong sách “Cổ Học Tinh Hoa” để thấy được rằng nếu chịu khó nghe lời vợ dạy, thì sẽ trở nên một con người đức độ và thành đạt.
Án Tử làm tướng nước Tề, một hôm đi việc quan, có tên đánh xe theo hầu.
Vợ tên đánh dòm qua khe cửa, thấy chồng tay cầm cái dù, tay cầm dây cương, mặt vác lên trời, dương dương tự đắc.
Lúc chồng về nhà, nàng xin từ bỏ nhà ra đi. Chồng hỏi :
- Tại làm sao ?
Nàng nói :
- Án Tử người gầy thấp và bé nhỏ, nhưng làm đến tướng nước Tề, danh tiếng lừng lẫy khắp thiên hạ, thế mà thiếp xem ông ấy vẫn có ý chín chắn và khiêm nhường, như chưa bằng ai. Chớ như chàng cao lớn đẫy đà, mới chỉ làm được một tên đánh xe tầm thường và hèn hạ, thế mà thiếp xem chàng đã ra dáng lấy làm vinh hạnh, tưởng không ai bằng. Thiếp xin bỏ chàng, thiếp đi.
Từ hôm ấy, tên đánh xe bỏ được cái bộ vênh váo, chừa được cái tính nông nổi. Án Tử thấy thế, lấy làm lạ, bèn hỏi. Tên đánh xe bèn đem việc nhà mà kể lại. Án Tử bèn cất cho làm đại phu.
Sở dĩ Án Tử chừa bỏ được cái thói “tự cao hão” và làm tới chức đại phu cũng chỉ vì đã nghe lời vợ dạy,
Tuy nhiên, đôi khi cũng có những anh chồng cứng đầu cứng cổ, thì lúc đó chị vợ sẽ áp dụng chiến thuật “bất bạo động”: không nói, không cười, không cộng tác và không làm gì hết.
Hay tạo nên một tình huống “chiến tranh lạnh”: ban ngày thì mặt mũi ủ rũ như treo cờ tang, còn ban đêm thì…”cấm vận”, mỗi người ngủ một nơi.
Sau cùng, “tối hậu thu” được đưa ra một cách âm thầm, đó là chị vợ sẽ lặng lẽ khăn gói quả mướp về với bu, để dạy cho anh chồng một bài học thế nào là vâng lời vợ và thế nào là lễ độ với vợ. Tới đây, muốn được ổn định lại cuộc sống, anh chồng đành phải năn nỉ ỉ ôi, xin chị vợ tha thứ, để rồi “mời nàng về…dinh”.
Kinh nghiệm cay đắng này, sẽ làm cho anh chồng mau mắn “hạ quyết tâm”:
- Vợ mà dạy, phải lắng nghe,
Mai sau “khôn lớn”, mà khoe mọi người.
Tóm lại, gã xin kính cẩn nghiêng mình trước những chị vợ đã cư xử như một người mẹ và đã góp rất nhiều công sức vào sự nghiệp “nuôi chồng khỏe, dạy chồng ngoan”.
Gã Siêu gasieu@gmail. com
Tháng 4 Nghĩ Đến Những Người Đã Chết
Ta nợ những người chết sông chết biển
Nợ những người ở lại để ta đi. Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, cả miền Nam vấn khăn tang. Trên bàn thờ của mỗi gia đình, ngoài ông bà, cha mẹ chết vì tuổi già, đã có những khuôn mặt trẻ, những người mặc quân phục chết trận hay bà con mất tích trong những ngày di tản hỗn loạn, trên tất cả bờ biển của miền Trung, không những trên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn về đến Ninh Hòa mà còn trên tất cả mọi nẻo đường của đất nước. Tất cả người chết đều là những người miền Nam đang cầm súng chống lại Cộng Sản hay tháo chạy hỗn loạn vì nghe tin Cộng Sản sắp đến. Phần lớn những người chết đều bị chết vùi dập với cỏ cây, đất đá, trong bom đạn không ai còn lo được cho ai.
Không những chúng ta chỉ có những vị tướng đã tự sát để giữ tròn khí tiết, mà còn có hàng nghìn chiến sĩ vô danh chết trong giờ phút tàn cuộc vì không chịu nỗi nhục đầu hàng với lựu đạn nổ trong tay hay viên đạn bắn vào đầu, trong bước đường cùng. Chúng ta có biết hay còn nhớ đến những người như thế không?
Bây giờ đã 35 năm rồi, chúng ta còn phải đọc những bản tin tìm người thân mất tích trong những ngày cuối Tháng Tư năm đó. Họ nằm lại trên bãi biển, bên cánh rừng, trên một con đường đất đỏ, thân thể như vươn chuồi về phía trước, bỏ lại nỗi ghê sợ đuổi sát đến sau lưng, nỗi ghê sợ cái ác, cái tàn bạo mà chỉ mới nghe đến người ta đã rùng mình bỏ chạy. Cái ác đó là những chuyện đấu tố ở nông thôn, những vụ chôn tập thể của Mậu Thân, của những lối bắn giết tàn bạo trong những vùng tranh tối tranh sáng mang tên Việt Cộng. Cái ác đó là nỗi ám ảnh từ những năm của 45-50, với những tiếng chó sủa trong đêm, để buổi sáng thấy xác người trôi sông hay những người bị giết đêm qua, đang được đắp tạm một mảnh chiếu trên đường làng, giữa chợ huyện, mang tên Việt Minh.
Cái ác đó là chủ trương bất di dịch, người ta dùng để khủng bố và tạo ra cường quyền, để trấn áp những người bất đồng chính kiến. Cái ác đó kéo dài cho đến thời kỳ gọi là văn minh, hiện đại. Khi miền Nam sụp đổ và Saigon đầu hàng, không như chủ trương kêu gọi hòa hợp hòa giải qua thông báo của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam và sau đó là của các Ủy Ban Quân Quản địa phương, binh lính và sĩ quan “ngụy” được về quê làm ăn, Cộng Sản bắt đầu một chiến dịch trả thù tàn độc. Tránh né một chiến dịch “tắm máu” to lớn, Cộng Sản tìm cách trả thù bằng cách giết lẻ.
Tại Ðại An, Biên Hòa, ba toán thám sát của Biệt Kích Dù 81, sau khi buông súng đầu hàng ngày 5 Tháng Năm 1975 tại địa phương, mười tám anh em bị Việt Cộng bắt giam, bỏ đói, sau đó bị bắn chết rồi thả trôi sông. Những xác của anh em sau đó bị sình thối nên Việt Cộng bắt dân vớt lên chôn dọc theo bờ sông Ðồng Nai, còn 8 xác anh em khác đã bị chôn tập thể trong một cái giếng bỏ hoang. Hai thám sát khác cũng đã bị đánh chết sau khi đã vào nhà tù. Người dân địa phương đã chứng kiến nhưng không dám nói ra, và không ai dám xây mộ hay đặt bia kỷ niệm, chỉ còn một điều: chế độ Cộng Sản sụp đổ trước khi các nhân chứng qua đời. Tại Quảng Ngãi, nhiều đảng viên một đảng chính trị đã bị bắt, thay vì đưa đi “tập trung cải tạo” như chiêu bài, họ bị đưa về phía biển và bị chôn sống. Nhiều thân nhân theo dõi, đã đánh dấu vùng chôn người này, nhưng nếu họ tiết lộ, vùng đất này sẽ bị san bằng và con cháu những nạn nhân sẽ không bao giờ tìm được nắm xương của những người đã khuất, nên đành nín lặng. Nhiều nhân viên cảnh sát đặc biệt hay viên chức địa phương, người nhà biết ngày giờ đi trình diện “học tập”, nhưng không bao giờ có tin tức để thăm nuôi, và cố nhiên là không bao giờ có ngày về. Ðó là chủ trương “đánh người chạy đi, nhưng phải giết người chạy lại”.
Ðối với những người chống đối sau ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Sản thẳng tay đàn áp dùng án tử hình để đè bẹp ý chí của những người tranh đấu. Hội Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo Việt Nam đang có danh sách 300 tù nhân miền Nam bị án tử hình, trong đó những tên tuổi chúng ta không thể quên như các L.M. Nguyễn Hữu Nghị, Trần Học Hiệu hay như hai phụ nữ là chị Trương Ánh Loan chiến sĩ Phục Quốc bị xử tử tại hãng thuốc Bastos Khánh Hội Tháng Năm 1975, chị Trần Thị Lan bị xử tử hình trong lúc có thai tháng đúng vào ngày Vu Lan! Cựu Thiếu Tá Nhảy Dù Nguyễn Văn Viên, đã anh dũng bước tới pháp trường, người anh là L.M. Nguyễn Văn Vàng bị kết án chung thân và chết trong xà lim của trại tù “thung lũng tử thần” Xuân Phước. Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Võ Vàng, Thiếu Tá Nguyễn Ðức Xích, Ðại Úy Quách Dược Thanh... đều là nạn nhân của chính sách trả thù man rợ của Cộng Sản. Chúng ta không thể kể hết những tên tuổi quá lớn này.
Chúng ta có biết bao người yêu nước đã chết trong những trại tập trung mang danh “cải tạo” của Cộng Sản dựng lên cả ở hai miền Nam Bắc vì đói rét, bệnh tật, kiệt sức, mà hiện nay nhiều anh em, nắm xương tàn còn lưu lạc trong những vùng rừng núi xa xôi, chưa về được với gia đình.
Vì không thể sống với chế độ Cộng Sản, hàng trăm nghìn người đã tìm cách vượt biển, vượt biên giới để ra đi, nhưng hai phần ba đã không bao giờ đến được bến bờ tự do. Trong mỗi gia đình chúng ta, gia đình nào lại không có bà con ruột thịt xa gần bị vùi thây trên biển cả hay giữa núi rừng. Nhiều gia đình đã chết trọn cha mẹ, con cái, anh em trên một chiếc thuyền mỏng manh giữa biển khơi. Có gia đình mất hết con. Người mất anh, kẻ mất chị. Có tìm hiểu chuyện trò dần dần chúng ta mới thấy những mất mát, những niềm đau bị giấu kín, ít khi muốn phơi bày. Cuộc sống xô đẩy mọi gia đình cuốn trôi theo dòng đời, tang tóc thường được giấu kín sau những nụ cười từ hơn ba mươi lăm năm nay, từ ngày miền Nam được gọi là “giải phóng”: chỉ có “đế quốc Mỹ là thua, còn chúng ta không kể Nam hay Bắc đều là anh em, những người thắng trận” như giọng nói nhân nghĩa của kẻ thống trị. Cái ác đã thắng và điều thiện đã thua, nhưng đời đời lịch sử sẽ không ngưng nguyền rủa.
Quả thật, sau khi Cộng Sản tiến chiếm miền Nam không có việc “tắm máu”, những quả thật người miền Nam đã chết dần chết mòn trong sự trả thù tinh vi từ trại tập trung đến việc xô đẩy hằng trăm nghìn người ra biển khơi. Chúng ta chưa hề có được một con số thống kê về những người đã chết vì chế độ Cộng Sản. Tượng đài kỷ niệm nạn nhân Cộng Sản có thể đã được dựng lên ở một nơi nào đó trên trái đất, nhưng trong mỗi gia đình người Việt đều đã có một tượng đài. Chẳng qua rồi con người chóng quên, để những hình ảnh này phai nhạt cùng năm tháng, như những chiếc khung ảnh người quá cố phủ bụi thời gian trên bàn thờ của mỗi gia đình.
Ba mươi lăm năm đã trôi qua, những người già lưu lạc đã chết đi mang niềm tuyệt vọng chưa có một ngày về cố hương, những đứa trẻ lớn lên gần như không biết gì đến dĩ vãng. Những người đã chết sẽ không chết uổng, khi những người còn sống có cuộc đời đáng sống. Chúng ta không những nợ những người đã chết mà còn nợ những người đang sống, đó là những thương binh miền Nam thương tật ở quê nhà, những gia đình mất cha, mất chồng, mất anh em trong cuộc chiến để cho chúng ta có được ngày hôm nay.
Mong anh em, bạn bè, sống khôn thác thiêng, phù hộ độ trì cho đất nước qua cơn đại nạn.
Ngủ Đại Hồ Ngày 28 Tháng 4 Năm 2010
Binh Bét MXTS
Ta nợ những người chết sông chết biển
Nợ những người ở lại để ta đi. Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, cả miền Nam vấn khăn tang. Trên bàn thờ của mỗi gia đình, ngoài ông bà, cha mẹ chết vì tuổi già, đã có những khuôn mặt trẻ, những người mặc quân phục chết trận hay bà con mất tích trong những ngày di tản hỗn loạn, trên tất cả bờ biển của miền Trung, không những trên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn về đến Ninh Hòa mà còn trên tất cả mọi nẻo đường của đất nước. Tất cả người chết đều là những người miền Nam đang cầm súng chống lại Cộng Sản hay tháo chạy hỗn loạn vì nghe tin Cộng Sản sắp đến. Phần lớn những người chết đều bị chết vùi dập với cỏ cây, đất đá, trong bom đạn không ai còn lo được cho ai.
Không những chúng ta chỉ có những vị tướng đã tự sát để giữ tròn khí tiết, mà còn có hàng nghìn chiến sĩ vô danh chết trong giờ phút tàn cuộc vì không chịu nỗi nhục đầu hàng với lựu đạn nổ trong tay hay viên đạn bắn vào đầu, trong bước đường cùng. Chúng ta có biết hay còn nhớ đến những người như thế không?
Bây giờ đã 35 năm rồi, chúng ta còn phải đọc những bản tin tìm người thân mất tích trong những ngày cuối Tháng Tư năm đó. Họ nằm lại trên bãi biển, bên cánh rừng, trên một con đường đất đỏ, thân thể như vươn chuồi về phía trước, bỏ lại nỗi ghê sợ đuổi sát đến sau lưng, nỗi ghê sợ cái ác, cái tàn bạo mà chỉ mới nghe đến người ta đã rùng mình bỏ chạy. Cái ác đó là những chuyện đấu tố ở nông thôn, những vụ chôn tập thể của Mậu Thân, của những lối bắn giết tàn bạo trong những vùng tranh tối tranh sáng mang tên Việt Cộng. Cái ác đó là nỗi ám ảnh từ những năm của 45-50, với những tiếng chó sủa trong đêm, để buổi sáng thấy xác người trôi sông hay những người bị giết đêm qua, đang được đắp tạm một mảnh chiếu trên đường làng, giữa chợ huyện, mang tên Việt Minh.
Cái ác đó là chủ trương bất di dịch, người ta dùng để khủng bố và tạo ra cường quyền, để trấn áp những người bất đồng chính kiến. Cái ác đó kéo dài cho đến thời kỳ gọi là văn minh, hiện đại. Khi miền Nam sụp đổ và Saigon đầu hàng, không như chủ trương kêu gọi hòa hợp hòa giải qua thông báo của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam và sau đó là của các Ủy Ban Quân Quản địa phương, binh lính và sĩ quan “ngụy” được về quê làm ăn, Cộng Sản bắt đầu một chiến dịch trả thù tàn độc. Tránh né một chiến dịch “tắm máu” to lớn, Cộng Sản tìm cách trả thù bằng cách giết lẻ.
Tại Ðại An, Biên Hòa, ba toán thám sát của Biệt Kích Dù 81, sau khi buông súng đầu hàng ngày 5 Tháng Năm 1975 tại địa phương, mười tám anh em bị Việt Cộng bắt giam, bỏ đói, sau đó bị bắn chết rồi thả trôi sông. Những xác của anh em sau đó bị sình thối nên Việt Cộng bắt dân vớt lên chôn dọc theo bờ sông Ðồng Nai, còn 8 xác anh em khác đã bị chôn tập thể trong một cái giếng bỏ hoang. Hai thám sát khác cũng đã bị đánh chết sau khi đã vào nhà tù. Người dân địa phương đã chứng kiến nhưng không dám nói ra, và không ai dám xây mộ hay đặt bia kỷ niệm, chỉ còn một điều: chế độ Cộng Sản sụp đổ trước khi các nhân chứng qua đời. Tại Quảng Ngãi, nhiều đảng viên một đảng chính trị đã bị bắt, thay vì đưa đi “tập trung cải tạo” như chiêu bài, họ bị đưa về phía biển và bị chôn sống. Nhiều thân nhân theo dõi, đã đánh dấu vùng chôn người này, nhưng nếu họ tiết lộ, vùng đất này sẽ bị san bằng và con cháu những nạn nhân sẽ không bao giờ tìm được nắm xương của những người đã khuất, nên đành nín lặng. Nhiều nhân viên cảnh sát đặc biệt hay viên chức địa phương, người nhà biết ngày giờ đi trình diện “học tập”, nhưng không bao giờ có tin tức để thăm nuôi, và cố nhiên là không bao giờ có ngày về. Ðó là chủ trương “đánh người chạy đi, nhưng phải giết người chạy lại”.
Ðối với những người chống đối sau ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Sản thẳng tay đàn áp dùng án tử hình để đè bẹp ý chí của những người tranh đấu. Hội Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo Việt Nam đang có danh sách 300 tù nhân miền Nam bị án tử hình, trong đó những tên tuổi chúng ta không thể quên như các L.M. Nguyễn Hữu Nghị, Trần Học Hiệu hay như hai phụ nữ là chị Trương Ánh Loan chiến sĩ Phục Quốc bị xử tử tại hãng thuốc Bastos Khánh Hội Tháng Năm 1975, chị Trần Thị Lan bị xử tử hình trong lúc có thai tháng đúng vào ngày Vu Lan! Cựu Thiếu Tá Nhảy Dù Nguyễn Văn Viên, đã anh dũng bước tới pháp trường, người anh là L.M. Nguyễn Văn Vàng bị kết án chung thân và chết trong xà lim của trại tù “thung lũng tử thần” Xuân Phước. Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Võ Vàng, Thiếu Tá Nguyễn Ðức Xích, Ðại Úy Quách Dược Thanh... đều là nạn nhân của chính sách trả thù man rợ của Cộng Sản. Chúng ta không thể kể hết những tên tuổi quá lớn này.
Chúng ta có biết bao người yêu nước đã chết trong những trại tập trung mang danh “cải tạo” của Cộng Sản dựng lên cả ở hai miền Nam Bắc vì đói rét, bệnh tật, kiệt sức, mà hiện nay nhiều anh em, nắm xương tàn còn lưu lạc trong những vùng rừng núi xa xôi, chưa về được với gia đình.
Vì không thể sống với chế độ Cộng Sản, hàng trăm nghìn người đã tìm cách vượt biển, vượt biên giới để ra đi, nhưng hai phần ba đã không bao giờ đến được bến bờ tự do. Trong mỗi gia đình chúng ta, gia đình nào lại không có bà con ruột thịt xa gần bị vùi thây trên biển cả hay giữa núi rừng. Nhiều gia đình đã chết trọn cha mẹ, con cái, anh em trên một chiếc thuyền mỏng manh giữa biển khơi. Có gia đình mất hết con. Người mất anh, kẻ mất chị. Có tìm hiểu chuyện trò dần dần chúng ta mới thấy những mất mát, những niềm đau bị giấu kín, ít khi muốn phơi bày. Cuộc sống xô đẩy mọi gia đình cuốn trôi theo dòng đời, tang tóc thường được giấu kín sau những nụ cười từ hơn ba mươi lăm năm nay, từ ngày miền Nam được gọi là “giải phóng”: chỉ có “đế quốc Mỹ là thua, còn chúng ta không kể Nam hay Bắc đều là anh em, những người thắng trận” như giọng nói nhân nghĩa của kẻ thống trị. Cái ác đã thắng và điều thiện đã thua, nhưng đời đời lịch sử sẽ không ngưng nguyền rủa.
Quả thật, sau khi Cộng Sản tiến chiếm miền Nam không có việc “tắm máu”, những quả thật người miền Nam đã chết dần chết mòn trong sự trả thù tinh vi từ trại tập trung đến việc xô đẩy hằng trăm nghìn người ra biển khơi. Chúng ta chưa hề có được một con số thống kê về những người đã chết vì chế độ Cộng Sản. Tượng đài kỷ niệm nạn nhân Cộng Sản có thể đã được dựng lên ở một nơi nào đó trên trái đất, nhưng trong mỗi gia đình người Việt đều đã có một tượng đài. Chẳng qua rồi con người chóng quên, để những hình ảnh này phai nhạt cùng năm tháng, như những chiếc khung ảnh người quá cố phủ bụi thời gian trên bàn thờ của mỗi gia đình.
Ba mươi lăm năm đã trôi qua, những người già lưu lạc đã chết đi mang niềm tuyệt vọng chưa có một ngày về cố hương, những đứa trẻ lớn lên gần như không biết gì đến dĩ vãng. Những người đã chết sẽ không chết uổng, khi những người còn sống có cuộc đời đáng sống. Chúng ta không những nợ những người đã chết mà còn nợ những người đang sống, đó là những thương binh miền Nam thương tật ở quê nhà, những gia đình mất cha, mất chồng, mất anh em trong cuộc chiến để cho chúng ta có được ngày hôm nay.
Mong anh em, bạn bè, sống khôn thác thiêng, phù hộ độ trì cho đất nước qua cơn đại nạn.
Ngủ Đại Hồ Ngày 28 Tháng 4 Năm 2010
Binh Bét MXTS
30-4 và Con Đường Trước Mặt
Bảo Giang
Cứ mỗi năm đến ngày 30-4 là người dân Việt trên toàn thế giới lại nhìn nhau và tự hỏi:
- Đến bao giờ ta mới lấy lại được quê hương để xóa đi kiếp đời nô lệ và lưu vong? Đến bao giờ ta mới được hát lại bài ca Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền với bước đi hiên ngang tự chủ trên phần đất của quê ta?
Hỏi như thế là người dân Việt Nam ngày nay đã thấm nỗi đau của việc mất nước, để người trong nước thì làm nô lệ cho Việt cộng ( chủ nghĩa cộng sản) và người ở ngoại quốc thì thật khó mà nuốt trôi miếng bánh, dù rất ngon ngọt, trên phần đất lưu đày.
*Tại sao lại có chuyện nghịch lý, người Việt sống trên quê hương mình mà phải coi là nô lệ và người ở nưóc ngoài, nay đã mang những quốc tịch ngoại như Mỹ, Úc, Pháp Canada , Đức v.v. mà lại bảo là tủi cho tấm bánh trên phần đất lưu đày? Há người viết là kẻ bi quan? Bởi lẽ, nước Việt Nam vẫn còn đó, vẫn có mặt trên bản đồ thế giới. Vẫn có một dân số ghi trong sổ bộ thế giới là hơn 80 triệu ngươi trong tổng số hơn 4 tỷ người trên trái đất. Đặc biệt, vẫn có ngôn ngữ riêng, chữ viết riêng và cả một nền văn hóa Nhân Bản do người tỵ nạn ra khỏi nước, đem vào sinh hoạt trong cộng đồng thế giới và làm cho thế giới phải ngưỡng mộ. Vậy tại sao lại gọi là mất nước?
Vâng, gọi là mất nước, bởi vì, từ năm 1930, bọn Hồ chí Minh và tập đoàn cộng phỉ đã đem chủ thuyết vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc vào Việt Nam với mục địch chối bỏ tình nghĩa gia đình, tiêu diệt nền luân lý đạo đức của xã hội, của tôn giáo rồi xoá bỏ ranh giời tổ quốc để làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản. Nhưng núp dưới chiêu bài chống ngoại sâm, giải phóng dân tộc. Việt cộng đã cướp được chính quyền ở miền bắc vào năm 1954 rồi đẩy cả nước vào cuộc chiến đẫm máu. Với sự trợ giúp đắc lực của hai đế chế cộng sản Nga- Tàu, Việt cộng đã thắng trong cuộc chiến súng đạn với Mièn Nam vào ngày 30-4-1975. Từ ngày đó, nước Việt Nam với chủ thuyết Nhân Bản, Dân Tộc, tôn trọng nếp sống luân lý, đạo đức gia đình, đạo đức tôn giáo, bảo vệ ý thức tự chủ về nền độc lập của quốc gia đã bị Việt cộng thôn tính và xóa sổ. Ngày nay, trên bản đồ VN, vẫn còn sắc dân Việt Nam , nhưng bản thể nhân bản xã hội của Việt Nam không còn chỗ đứng. Trái lại, chỉ có bản thể duy vật biện chứng nô lệ được tồn sinh, phát triển mà thôi. Trong chiều hướng phát triển này, người ta dễ kiểm nhận những sự kiện sau:
1, Xã hội nhân bản Việt Nam bị đồng hóa và được thay thế bằng bản thể duy vật biện chứng (ác độc. bất nhân) của cộng sản
Tôi không biết nhiều về đời sống của dân mình trưóc năm 1954, nhưng từ sau đó và cho đến năm 1975, đi bất cứ nơi đâu, từ thôn quê cho đến thị thành, gặp bất cứ giai cấp nào của xã hội ở miền nam, tôi vẫn còn nhìn ra được, ở trong đó, tuy trình độ dân trí không cao, nhưng họ là những nhân phẩn đáng qúy trọng với đầy đủ nhân tính. Nghĩa là họ hiền hậu, đạo nghĩa, không dối trá và luôn cố gắng xây dựng đời sống dựa trên căn bản lương thiện. Ba tôi cũng thường kể cho con cháu nghe về những câu chuyện, mẫu người tương tự như thế ở ngoài bắc vào trưóc năm 1954. Nhưng ngưòi cô của tôi, ở lại ngoài bắc, đã vào thăm cha mẹ tôi ngay sau cái ngày mà người ta vẫn còn say men chiến thắng vào tháng 8-1975. Sau hai tháng thăm bà con thân nhân ở trong nam, trong bữa cơm tiễn biệt để kẻ ở Nam, người về Bắc, cô đã nói vơi cả gia đình tôi là: Điều hạnh phúc của anh chị và các cháu ở trong nam là đã được sống hơn chúng em và đồng bào ta ở ngoài kia 20 năm trong tình người chân thật. Sự giàu nghèo , cách biệt về vật chất, tuy là một khổ cực, nhưng không phải là thước đo hạnh phúc. Tiếc rằng, dưới cái chết độ này, nay mai cả nưóc ta đều phải sống bằng sự giả dối của nhũng kẻ nô lệ. Phải lừa đảo lẫn nhau mà sống!
Chúng tôi không hiểu được điều cô đã nói vào hôm ấy, nhưng dần dần, và cho đến nay, có lẽ cả nước đã nhận chân được gía trị của câu nói ấy là: Người Việt Nam đã bị Việt cộng đồng hóa bằng đời sống dối trá, lừa đảo và phản bội. Nói một cách chính xác hơn, người Việt Nam đang phải sống theo kiểu sống của Việt cộng mà Trần quốc Thuận, phó chủ nhiệm quôc hội của chúng đã định nghĩa như sau (10-2006): “ Ngày nay, người ta phải nói dối nhau mà sống. Nói dối lâu ngày thành thói quen, Thói quen lâu ngày thành đạo đức, mà cái đạo đức ấy là đạo đức của xã hội Việt cộng”
2. Nền Văn Hóa Nhân Bản Việt bị thay thế bằng nền văn hóa nô lệ
Nền văn hóa nhân bản của Việt Nam cả nghìn năm trước được xây dựng vững chắc trên hai lãnh vực, Văn hóa bình dân ( văn chương truyển khầu, Ca Dao Tục Ngữ v.v) và văn hóa văn tự, đặt nền tảng trên Nhân Lễ Nghĩa Trì Tín. Ai trong chúng ta chưa từng nghe qua lời ru vào đời khi còn nằm nôi: “ Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra(Ca dao). “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chi nhân mà thay cường bạo,” Bình Ngô Đại Cáo ( Nguyễn Trãi)
Đó là văn hóa, đó là tự hào và là sự tồn sinh của dân tộc. Và hẳn nhiên, ai cũng biết là ngày xưa khi đến trường, ( kể cả dưới thời pháp thuộc) một trong những điều đầu tiên trẻ đươc dạy dỗ là: Tiên học Lễ hậu học văn. Nghĩa là, học đường có cả một chương trình về Nhân Lễ Nghĩa Trì Tín cho học sinh. Hơn thế, còn cả một chương trình dài về lòng tự chủ, tính độc lập của quê hương để phát triển tinh thần yêu nươc thương dân cho những mầm non của đất nươc. Chính vì có một nền văn hóa nhân bản lâu đời ấy nên thời nào đât nước ta cũng có những anh kiệt. Xa kia thì có Hưng đạo Vương, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung… Gần thì như Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Phan thanh Giản rồi Nguyễn thái Học đến những Ngô đình Diệm, Nguyễn khoa Nam, Pham văn Phú, Trần văn Hai, Lê văn Hưng Lê Nguyên Vỹ, Hồ ngọc Cẩn….Mỗi người một vẻ làm nên những nét đẹp tô thắm non sông.
Nhưng kể từ ngày đất nươc ta bị Việt cộng ( chủ nghĩa cộng sản) đô hộ, học đường không còn là nơi đào tạo những anh kiệt cho non sông nữa. Trái lại, nơi ấy trở thành lò đào luyện những bội phản và vô đạo theo gương bất nhân bất nghĩa của Hồ chí Minh.
Nói cách khác, nơi ấy chỉ chuyên lo đào tạo những kẻ phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản trong mưu đồ triệt hạ chủ nghĩa quôc gia độc lập. Kết qủa là sau mấy mươi năm dân ta bị Việt cộng đô hộ. Người dân đã đánh mất bản ngã tự chủ của dân tộc, đi sâu vào con đường bạc nhược, mất tính phản kháng nên để mặc cho đám quan chức của bọn cộng sản tự tung, áp chế, đè lên đầu lên cổ dân ta bằng những hệ thống luật pháp phi luân, phi pháp, bất nhân bất nghĩa. Phần chúng, tựa đầu vào thế lực cộng sản, chiếm lấy quyền lực và áp đặt lên dân tộc ta những bài ca không cha không mẹ, không đạo lý, không tổ quốc:
"Bên kia biên giới là nhà, bên đây biên giới cũng là quê hương”, hoặc là” “ Thương cha thương mẹ thương chồng, thương mình thương một thương ông thương mười,” (Tố Hữu).
Với một nền tảng văn hóa và căn cơ phản trắc bẩm sinh như thế, nên những tên Việt cộng như Minh, Đồng, Duẫn, Giáp, Khiêm đến Mười. Phiêu, Khải, Anh, Kiệt, Cầm đều tựa đầu vào thế lực của cộng sản mà nắm được quyền lực, làm thái thú ở Việt Nam, chúng đã không ngần ngại cắt đất, cắt biển của dân tộc Việt Nam để dâng cho quan thầy tầu cộng. Và ngày nay thì đến bọn Dũng, Mạnh, Triết, Trọng theo chiến lược của đảng cộng mà cắm lại cọc mốc biên giới vào sâu trong nội địa nước ta. Tệ hơn thế, chúng còn rước bọn tàu cộng vào chiếm đóng ngay giữa lòng đất của quê hương ta là Cao Nguyên Trung Phần.
Ai cũng biết, dưới một chế độ nô lệ, dân bản xứ bao giờ cũng bị áp đặt bởi một chính sách ngu dân và bưng bít thông tin, nên dân bản xứ không hề hay biết gì về những việc làm phi nhân bất nghĩa của nhà cầm quyền. Thời Pháp thuộc, dĩ nhiên, cũng không có ngoại lệ. Nhưng nay dưới thời Việt cộng, dân ta còn bị áp đặt bằng một hệ thống tuyên truyền bất lương gian trá hơn. Từ sách giáo khoa về địa lý, lịch sử cho đến báo chí và truyền thanh truyền hình thời sự, giao tế hàng ngày, hầu như rất khó tìm được một biểu hiện thật, tin thật. Trái lại, chỉ thấy những trò bất lương và gian trá của nhà nước để lừa dối dân chúng. Tệ hơn thế, chúng còn ra sức biến dân ta thành một tập đoàn chỉ biết nói dối, lừa đảo nhau mà sống. Ai dám nói lên điều thật lẽ thật thì ngục tù, tra tấn của chế độ áp bức ấy không hề nương tay.
Theo đó, nếu đem so xánh cái bạo tàn của thời Pháp thuộc với cái ác độc của chế độ cộng sản thì xem ra, cái bạo tàn, ác độc của chế độ Việt cộng đè trên cổ dân ta còn bạo tàn gấp trăm lần cái bạo tàn của phong kiến và thuộc địa góp chung lại. Thực vậy:
A. Thời Pháp thuộc
1. Thời Pháp thuộc, chúng củng giết dân ta, nhưng đa phần là giết lén lút, và giết từng cá nhân đơn lẻ. Thời Pháp thuộc không có chính sách giết người tập thể như Việt cộng đã áp dụng vào thời đấu tố, hay trong lúc chiến tranh vào tết Mậu Thân ở Huế vào năm 1968. Và chưa có thời nào những kẻ sát nhân lại đắc dụng như thời Việt cộng
2. Thời Pháp thuộc, nhà cầm quyền vẫn có chủ trương xây dựng và giáo dục nền văn hóa, luân lý nhân bản xã hội cho học sinh. Trái lại, chế độ áp bức của Việt cộng chủ trương xây dựng xã hội không dựa trên chủ thuyết nhân bản và luân lý xã hội. Nhưng dựa trên nền tảng vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo. Chúng muốn xoá bỏ hẳn nền luân lý nhân bản đạo đức của xã hội để theo gương của Hồ chí Minh là chối bỏ tình nghĩa, liên hệ trong gia đình. Hủy diệt niền tin và luân lý đạo đức của tôn giáo của xã hội, cuối cùng là xóa bỏ biên cương của lãnh thổ
3. Dưới thời Pháp thuộc, đường biên giới của tổ quốc ta không bị xâm lấn và bọn thực dân cũng không bao giờ cắt đất cắt biển của dân ta giao cho kẻ khác, để cùng chia sẻ quyền lợi với lân bang.
B Thời cộng sản đô hộ dân ta thì sao?
1. Về đối nội, như đã nói ờ trên. Mặt đối ngoại: Chúng chủ trương đưa đất nước Việt Nam vào qũy đạo thuộc địa, làm nô lệ cho tàu cộng. Bằng chứng điển hình là:
1. Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng đã cúc cung đời nô lệ qua việc ký công hàm năm 1958, công nhận chủ quyền 12 hải lý của Tàu cộng trên quần đảo Trường Sa Hoàng Sa là phần đất thuộc Việt Nam về mặt lịch sử và trực thuộc miền nam Việt Nam quản trị theo hiệp định Geneve năm 1954 quy định.
2. Đến cuối năm 1999 và 2000, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Võ văn Kiệt, Phan văn Khải, Nguyễn mạnh Cầm lại ký hiệp định và hiệp thương về biên giới và lãnh hải nhường thêm những địa danh như thác Bản Dốc, Ải Nam Quan và vùng biển bắc bộ rộng hàng ngàn ngàn Kilô mét vuông trên bộ cũng như lãnh hải, cho Tàu cộng để tỏ rõ ý chí thần phục bành trướng phương bắc.
3. Đến nay, Nguyễn tấn Dũng, Nông đức Mạnh, Nguyễn minh Triết, Phạm phú Trọng, không những chỉ đồng ý đóng lại các cột mốc ở biên giới lui sâu vào xương thịt Việt Nam cho vừa lòng Tàu cộng. Chúng còn ruớc Tàu qua cao nguyên trung phần Việt Nam , tiếng là nhượng đặc quyền quản trị và khai thác mỏ bauxite. Nhưng thực tế là chúng đang thực hiện chủ trương đưa Việt Nam vào vòng nô lệ của tàu bàng cách bao che và khai mở ra cuộc di dân vĩ đạì, được bảo vệ và tổ chức từ phương bắc tràn qua lãnh thổ Việt Nam sinh sống một cách hợp pháp. Hợp pháp vì nhà cầm quyền Việt cộng có khi nào dám đòi hỏi đến việc cấp chiếu khán có thời hạn, hoặc được quyền kiểm soát số nhân viên thuộc công nông trường và an ninh của tàu cộng sang sinh sống, khai thác hầm mỏ hay rà đặt các căn cứ quân sự? Những đặc khu này có phải là một nhượng địa cho Tàu cộng hay không?
Đó là những tội trạng, Trời không tha, đất không dung của Việt cộng đã phạm với dân tôc ta. Nhưng tệ hại hơn cả là, cho đến nay nhiều người vẫn chưa nhìn ra được là mình đang sống dưới ách nô lệ của cộng sản. Cứ tưởng Việt cộng là nguồn gốc nhân bản Việt Nam , nên vẫn có kẻ đi theo chúng để kiếm sống, rúc rỉa tìm ăn trên muôn vàn thống khổ của toàn dân. Tệ hơn thế, còn có loại cho chúng là những “ lương đống” đã ra tay cứu dân cứu nước.
Nay, 30-4 rồi, hãy thực tâm một lần, đặt chúng lên bàn cạn đo và hỏi xem chúng là ai? Có phải:
1. Chúng là những lương đống, tôi thần cứu nước của Việt Nam
hay là bọn gian manh bán nước. Hoặc chúng là tiên là phật là thánh là người hay là loài có đuôi?
1.1 Là những lương đống, tôi thần cứu nước thì không thể là những kẻ bán nước giết dân. Bọn Hồ chí Minh và Việt cộng không đồng nghĩa với định nghĩa này. Bằng chứng, hãy nhìn cuộc đấu tố từ 1953- 1957, rồi vụ án Nhân Văn Giai Phẩm đến tết Mậu Thân ở Huế. Hãy nhìn cho kỹ những bản văn chúng gọi là công hàm về Trường Sa, Hoàng Sa năm 1958 và hiệp thương về Nam Quan, Bản Dốc vào năm 1999 và năm 2000 thì đủ biết chúng không phải là nhưng “lương đống” của dân Việt. Trái lại, chúng đích thực là những tên nghịch tặc phản quốc cầu vinh.
1.2 Bảo rằng chúng “đánh Mỹ cứu nưóc, giải phóng miền nam“ để cứu dân chăng? Dứt khóat ngươi dân Việt Nam không cầu có cuộc chiến này. Nói cách khác, ngưới Việt Nam cầu có được cách “nô lệ” vào những tháng ngày trưóc 30-4-1975. Ngưới Việt Nam không muốn nhận những qủa đạn giải phóng vào trường học Cai Lậy để giết chết những mầm non của quê hương Việt. Việt Nam không muốn nhận những qủa đạn giải phóng gởi vào nhà thờ, gởi vào nhà Chùa. Người Việt Nam không muốn đươc giải phóng bằng lựu đạn, bằng dao mã tấu và bằng đạn Ak, bằng sơn pháo dọc trên các đại lộ, trong thành phố hay trong các thôn làng. Nhưng ngươi Việt Nam muốn đươc “nô lệ “ trong Tự Do, Nhân Quyền, Công Ly và muốn hưởng một xã hội ấm no trong nền luân lý và đạo đức làm ngươi như trước ngày 30-4-1975. Đó là lời thật, lẽ thật. Đó là ươc muốn của ngươi dân Việt Nam . Nên “ giải phóng miền nam” chỉ là ngụy từ của một bọn cướp không hơn không kém.,
1.3. Việt cộng muốn gì khi chúng khơi cuộc chiến tranh? Trước hết là muốn giải tỏa áp lực ở miền bắc. Sau cuộc đấu tố phú nông địa hào dã man từ 1953-1956 và vụ án Nhân Văn Giao Phảm, miền bắc đã thực sự rơi vào cơn khủng hoảng, không có lối thoát. Nên việc mở chiến tranh vào miền nam vơi chiêu bài “ chống Mỹ cứu nước” chỉ là một phương cách giải áp lực cho bè lũ cộng sản ở miền bắc cũng như để chúng thực hiện phương cách làm tay sai, mở rộng biên giới cho bọn cộng sản Ngà tàu. Theo đó, không thể có chữ “ lương đống” cho bọn gian manh cộng sản.
2. Chẳng lẽ chúng lại là Tiên, là Thánh, là Phật hay là người?
Câu hỏi này không khó trả lời. Bởi vì, nếu là Phật thì Phật không thể pháo kích vào chùa giết Phật tan như xác pháo. Là Thánh thì thánh đã không đột kích nhà Thờ để tặng cho tượng Thánh qủa mìn nát tan thây. Là người thì người không thể tặng mìn tặng pháo, tặng mã tấu cho ngưòi miền nam. Vậy chúng là ai? Qủy dữ chăng? Không, chúng là Việt cộng đãy. Không phải là Phật, không phải là Thánh và cũng không chắc là người có nhân tính đâu. Bởi lẽ, trong sách vở vẫn thường bảo rằng, Chỉ có loài ác qủy mới chống lại thần thánh và nhân bản con người thôi!
Nay, sau 35 năm đưa lên bàn cân đo, tôi tin rằng không còn một người Việt Nam nào nghi ngờ về sự kiện là Tiên là Phật là Thánh là lương đống là ngưòi có nhân bản tính của chúng nữa. Trái lại, những bộ măt thật của loài có đuôi đã hiện nguyên hình rồi. Theo đó, chỉ cón lại một câu hỏi duy nhất là: bằng phương cách nào chúng ta sẽ khai trừ chúng ra khỏi xã hội Việt Nam ?
Nhân ngày Quốc Hận thứ 35, ta hãy nhìn lại mính và hãy nhìn người xem thế nào? Việt Nam và Ba Lan có những gì khác hoặc giống nhau, để một bên đã thành công trong việc thiêu rụi cái chữ chủ nghĩa cộng sản trên quê hương, còn một bên vẫn phải còng lưng đeo hai chữ nô lệ cho cộng sản.
Này nhá:
* Ba lan chỉ có mỗi tượng đài Lech Walesa. Việt Nam ta có cả trăm, thậm chỉ cả ngàn tượng đài Lech walesa!
* Ba Lan chỉ có mỗi công đoàn Đoàn Kết. Việt Nam ta có hàng trăm đảng phải, hội đoàn, tổ chức chống cộng.
* Ba Lan có một khát vọng tiêu diệt cộng sản để xây dựng một xã hội Tự Do, theo thể chế Dân Chủ Đa Nguyên và dựa trên nền tảng Bình Đẳng và Công Bằng trong xã hội Việt Nam ta cũng có cùng chung một khát vọng như dân tộc Balan. Nhưng tại sao họ thành công còn ta thì mãi chỉ là một giấc mơ.
Dễ hiểu lắm, tại họ chỉ có một Lech Walesa, chỉ có một công đoàn đoàn kết, còn ta có nhiểu qúa!
- Bạn toàn nói chuyện dở hơi, càng đông càng vui, càng nhiều càng qúy chứ? Tiền nhiều không thích lại thích có một đồng à?
Vâng qúy lắm. tôi viết thế, không có nghĩa là Ba Lan chỉ có một tổ chức và chỉ có mỗi một Lech Walesa. Nhưng là Ba Lan và hàng trăm hàng ngàn Lech Walesa khác biết xây cho quốc gia của họ một tượng đài là Lech Walesa và một công đoàn Đoàn Kết để đối đầu với cộng sản. Chính điểm này, họ đã thắng cộng sản.
Nay nhìn về Việt Nam , hỏi rằng chúng ta có thể xây cho quê hương ta một tượng đài khả dĩ có thể đạp đổ chế độ cộng sản tại đó chăng?
Dĩ nhiên là có và chắc chắn tượng đài của chúng ta xây, nếu không hơn thì cũng không thể nào thua kém Lech Walesa. Đó là Lê thị Công Nhân. Một luật sư trẻ đủ can trường, đầy ắp lòng nhân, có trí, đã tự xóa bỏ đi cái đài các kiêu xa của mình để nhập ngục cứu quốc. Người này rất xứng đáng để người dân Việt gởi gắm niềm tin, để ký thác thành một tượng đài tiêu biểu cho toàn dân trong công cuộc diệt cộng cứu quốc và kiến quốc. ( viết như thế, tôi e rằng có nhiều người chu mỏ, bỉu môi và cho kẻ viết là nông cạn. Vâng có thể là như thế. Nhưng xin những ai kia dám chu mỏ ra, hãy nhìn kỹ xem, mình là ai, đang ở một chỗ đứng nào để tin rằng, tôi đây mới đúng là tượng đài?). Lại nữa, ý kiến này không có nghĩa là Lê thị Công Nhân ở trên hết thảy. Trái lại, trong cuộc thế hiện tại, Lê thị Công Nhân cũng giống như Aung San Suu Kyi là niềm tin của Miến điện hoặc là Nelson Mandela của Nam Phi lúc trước. Theo tôi, một khi tượng đài Lê thị Công Nhân càng cao, càng chắc cái tượng bùn của Hồ chí minh càng chóng tàn. Tuy nhiên, có em thì không thể thiếu chị. Giống như Nhị Trưng xưa. Có Lê thị Công Nhân không thể thiếu KHG. Dương Nguyệt Ánh
Đó là Con Đường trước mặt chúng ta phải đi để Ngày Mai có Tự Do, Dân Chủ, Nhân, Quyền, Công Lý nở hoa trên đất nước Việt Nam. Nhưng liệu từng cá nhân , từng tập thể có dám từ bỏ cái tôi của mình đi, để cùng đi chung trên một con đường xây dựng lại tương lai cho đất nước hay không lại là một chuyện khác.
Bảo Giang
Bảo Giang
Cứ mỗi năm đến ngày 30-4 là người dân Việt trên toàn thế giới lại nhìn nhau và tự hỏi:
- Đến bao giờ ta mới lấy lại được quê hương để xóa đi kiếp đời nô lệ và lưu vong? Đến bao giờ ta mới được hát lại bài ca Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền với bước đi hiên ngang tự chủ trên phần đất của quê ta?
Hỏi như thế là người dân Việt Nam ngày nay đã thấm nỗi đau của việc mất nước, để người trong nước thì làm nô lệ cho Việt cộng ( chủ nghĩa cộng sản) và người ở ngoại quốc thì thật khó mà nuốt trôi miếng bánh, dù rất ngon ngọt, trên phần đất lưu đày.
*Tại sao lại có chuyện nghịch lý, người Việt sống trên quê hương mình mà phải coi là nô lệ và người ở nưóc ngoài, nay đã mang những quốc tịch ngoại như Mỹ, Úc, Pháp Canada , Đức v.v. mà lại bảo là tủi cho tấm bánh trên phần đất lưu đày? Há người viết là kẻ bi quan? Bởi lẽ, nước Việt Nam vẫn còn đó, vẫn có mặt trên bản đồ thế giới. Vẫn có một dân số ghi trong sổ bộ thế giới là hơn 80 triệu ngươi trong tổng số hơn 4 tỷ người trên trái đất. Đặc biệt, vẫn có ngôn ngữ riêng, chữ viết riêng và cả một nền văn hóa Nhân Bản do người tỵ nạn ra khỏi nước, đem vào sinh hoạt trong cộng đồng thế giới và làm cho thế giới phải ngưỡng mộ. Vậy tại sao lại gọi là mất nước?
Vâng, gọi là mất nước, bởi vì, từ năm 1930, bọn Hồ chí Minh và tập đoàn cộng phỉ đã đem chủ thuyết vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc vào Việt Nam với mục địch chối bỏ tình nghĩa gia đình, tiêu diệt nền luân lý đạo đức của xã hội, của tôn giáo rồi xoá bỏ ranh giời tổ quốc để làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản. Nhưng núp dưới chiêu bài chống ngoại sâm, giải phóng dân tộc. Việt cộng đã cướp được chính quyền ở miền bắc vào năm 1954 rồi đẩy cả nước vào cuộc chiến đẫm máu. Với sự trợ giúp đắc lực của hai đế chế cộng sản Nga- Tàu, Việt cộng đã thắng trong cuộc chiến súng đạn với Mièn Nam vào ngày 30-4-1975. Từ ngày đó, nước Việt Nam với chủ thuyết Nhân Bản, Dân Tộc, tôn trọng nếp sống luân lý, đạo đức gia đình, đạo đức tôn giáo, bảo vệ ý thức tự chủ về nền độc lập của quốc gia đã bị Việt cộng thôn tính và xóa sổ. Ngày nay, trên bản đồ VN, vẫn còn sắc dân Việt Nam , nhưng bản thể nhân bản xã hội của Việt Nam không còn chỗ đứng. Trái lại, chỉ có bản thể duy vật biện chứng nô lệ được tồn sinh, phát triển mà thôi. Trong chiều hướng phát triển này, người ta dễ kiểm nhận những sự kiện sau:
1, Xã hội nhân bản Việt Nam bị đồng hóa và được thay thế bằng bản thể duy vật biện chứng (ác độc. bất nhân) của cộng sản
Tôi không biết nhiều về đời sống của dân mình trưóc năm 1954, nhưng từ sau đó và cho đến năm 1975, đi bất cứ nơi đâu, từ thôn quê cho đến thị thành, gặp bất cứ giai cấp nào của xã hội ở miền nam, tôi vẫn còn nhìn ra được, ở trong đó, tuy trình độ dân trí không cao, nhưng họ là những nhân phẩn đáng qúy trọng với đầy đủ nhân tính. Nghĩa là họ hiền hậu, đạo nghĩa, không dối trá và luôn cố gắng xây dựng đời sống dựa trên căn bản lương thiện. Ba tôi cũng thường kể cho con cháu nghe về những câu chuyện, mẫu người tương tự như thế ở ngoài bắc vào trưóc năm 1954. Nhưng ngưòi cô của tôi, ở lại ngoài bắc, đã vào thăm cha mẹ tôi ngay sau cái ngày mà người ta vẫn còn say men chiến thắng vào tháng 8-1975. Sau hai tháng thăm bà con thân nhân ở trong nam, trong bữa cơm tiễn biệt để kẻ ở Nam, người về Bắc, cô đã nói vơi cả gia đình tôi là: Điều hạnh phúc của anh chị và các cháu ở trong nam là đã được sống hơn chúng em và đồng bào ta ở ngoài kia 20 năm trong tình người chân thật. Sự giàu nghèo , cách biệt về vật chất, tuy là một khổ cực, nhưng không phải là thước đo hạnh phúc. Tiếc rằng, dưới cái chết độ này, nay mai cả nưóc ta đều phải sống bằng sự giả dối của nhũng kẻ nô lệ. Phải lừa đảo lẫn nhau mà sống!
Chúng tôi không hiểu được điều cô đã nói vào hôm ấy, nhưng dần dần, và cho đến nay, có lẽ cả nước đã nhận chân được gía trị của câu nói ấy là: Người Việt Nam đã bị Việt cộng đồng hóa bằng đời sống dối trá, lừa đảo và phản bội. Nói một cách chính xác hơn, người Việt Nam đang phải sống theo kiểu sống của Việt cộng mà Trần quốc Thuận, phó chủ nhiệm quôc hội của chúng đã định nghĩa như sau (10-2006): “ Ngày nay, người ta phải nói dối nhau mà sống. Nói dối lâu ngày thành thói quen, Thói quen lâu ngày thành đạo đức, mà cái đạo đức ấy là đạo đức của xã hội Việt cộng”
2. Nền Văn Hóa Nhân Bản Việt bị thay thế bằng nền văn hóa nô lệ
Nền văn hóa nhân bản của Việt Nam cả nghìn năm trước được xây dựng vững chắc trên hai lãnh vực, Văn hóa bình dân ( văn chương truyển khầu, Ca Dao Tục Ngữ v.v) và văn hóa văn tự, đặt nền tảng trên Nhân Lễ Nghĩa Trì Tín. Ai trong chúng ta chưa từng nghe qua lời ru vào đời khi còn nằm nôi: “ Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra(Ca dao). “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chi nhân mà thay cường bạo,” Bình Ngô Đại Cáo ( Nguyễn Trãi)
Đó là văn hóa, đó là tự hào và là sự tồn sinh của dân tộc. Và hẳn nhiên, ai cũng biết là ngày xưa khi đến trường, ( kể cả dưới thời pháp thuộc) một trong những điều đầu tiên trẻ đươc dạy dỗ là: Tiên học Lễ hậu học văn. Nghĩa là, học đường có cả một chương trình về Nhân Lễ Nghĩa Trì Tín cho học sinh. Hơn thế, còn cả một chương trình dài về lòng tự chủ, tính độc lập của quê hương để phát triển tinh thần yêu nươc thương dân cho những mầm non của đất nươc. Chính vì có một nền văn hóa nhân bản lâu đời ấy nên thời nào đât nước ta cũng có những anh kiệt. Xa kia thì có Hưng đạo Vương, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung… Gần thì như Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Phan thanh Giản rồi Nguyễn thái Học đến những Ngô đình Diệm, Nguyễn khoa Nam, Pham văn Phú, Trần văn Hai, Lê văn Hưng Lê Nguyên Vỹ, Hồ ngọc Cẩn….Mỗi người một vẻ làm nên những nét đẹp tô thắm non sông.
Nhưng kể từ ngày đất nươc ta bị Việt cộng ( chủ nghĩa cộng sản) đô hộ, học đường không còn là nơi đào tạo những anh kiệt cho non sông nữa. Trái lại, nơi ấy trở thành lò đào luyện những bội phản và vô đạo theo gương bất nhân bất nghĩa của Hồ chí Minh.
Nói cách khác, nơi ấy chỉ chuyên lo đào tạo những kẻ phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản trong mưu đồ triệt hạ chủ nghĩa quôc gia độc lập. Kết qủa là sau mấy mươi năm dân ta bị Việt cộng đô hộ. Người dân đã đánh mất bản ngã tự chủ của dân tộc, đi sâu vào con đường bạc nhược, mất tính phản kháng nên để mặc cho đám quan chức của bọn cộng sản tự tung, áp chế, đè lên đầu lên cổ dân ta bằng những hệ thống luật pháp phi luân, phi pháp, bất nhân bất nghĩa. Phần chúng, tựa đầu vào thế lực cộng sản, chiếm lấy quyền lực và áp đặt lên dân tộc ta những bài ca không cha không mẹ, không đạo lý, không tổ quốc:
"Bên kia biên giới là nhà, bên đây biên giới cũng là quê hương”, hoặc là” “ Thương cha thương mẹ thương chồng, thương mình thương một thương ông thương mười,” (Tố Hữu).
Với một nền tảng văn hóa và căn cơ phản trắc bẩm sinh như thế, nên những tên Việt cộng như Minh, Đồng, Duẫn, Giáp, Khiêm đến Mười. Phiêu, Khải, Anh, Kiệt, Cầm đều tựa đầu vào thế lực của cộng sản mà nắm được quyền lực, làm thái thú ở Việt Nam, chúng đã không ngần ngại cắt đất, cắt biển của dân tộc Việt Nam để dâng cho quan thầy tầu cộng. Và ngày nay thì đến bọn Dũng, Mạnh, Triết, Trọng theo chiến lược của đảng cộng mà cắm lại cọc mốc biên giới vào sâu trong nội địa nước ta. Tệ hơn thế, chúng còn rước bọn tàu cộng vào chiếm đóng ngay giữa lòng đất của quê hương ta là Cao Nguyên Trung Phần.
Ai cũng biết, dưới một chế độ nô lệ, dân bản xứ bao giờ cũng bị áp đặt bởi một chính sách ngu dân và bưng bít thông tin, nên dân bản xứ không hề hay biết gì về những việc làm phi nhân bất nghĩa của nhà cầm quyền. Thời Pháp thuộc, dĩ nhiên, cũng không có ngoại lệ. Nhưng nay dưới thời Việt cộng, dân ta còn bị áp đặt bằng một hệ thống tuyên truyền bất lương gian trá hơn. Từ sách giáo khoa về địa lý, lịch sử cho đến báo chí và truyền thanh truyền hình thời sự, giao tế hàng ngày, hầu như rất khó tìm được một biểu hiện thật, tin thật. Trái lại, chỉ thấy những trò bất lương và gian trá của nhà nước để lừa dối dân chúng. Tệ hơn thế, chúng còn ra sức biến dân ta thành một tập đoàn chỉ biết nói dối, lừa đảo nhau mà sống. Ai dám nói lên điều thật lẽ thật thì ngục tù, tra tấn của chế độ áp bức ấy không hề nương tay.
Theo đó, nếu đem so xánh cái bạo tàn của thời Pháp thuộc với cái ác độc của chế độ cộng sản thì xem ra, cái bạo tàn, ác độc của chế độ Việt cộng đè trên cổ dân ta còn bạo tàn gấp trăm lần cái bạo tàn của phong kiến và thuộc địa góp chung lại. Thực vậy:
A. Thời Pháp thuộc
1. Thời Pháp thuộc, chúng củng giết dân ta, nhưng đa phần là giết lén lút, và giết từng cá nhân đơn lẻ. Thời Pháp thuộc không có chính sách giết người tập thể như Việt cộng đã áp dụng vào thời đấu tố, hay trong lúc chiến tranh vào tết Mậu Thân ở Huế vào năm 1968. Và chưa có thời nào những kẻ sát nhân lại đắc dụng như thời Việt cộng
2. Thời Pháp thuộc, nhà cầm quyền vẫn có chủ trương xây dựng và giáo dục nền văn hóa, luân lý nhân bản xã hội cho học sinh. Trái lại, chế độ áp bức của Việt cộng chủ trương xây dựng xã hội không dựa trên chủ thuyết nhân bản và luân lý xã hội. Nhưng dựa trên nền tảng vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo. Chúng muốn xoá bỏ hẳn nền luân lý nhân bản đạo đức của xã hội để theo gương của Hồ chí Minh là chối bỏ tình nghĩa, liên hệ trong gia đình. Hủy diệt niền tin và luân lý đạo đức của tôn giáo của xã hội, cuối cùng là xóa bỏ biên cương của lãnh thổ
3. Dưới thời Pháp thuộc, đường biên giới của tổ quốc ta không bị xâm lấn và bọn thực dân cũng không bao giờ cắt đất cắt biển của dân ta giao cho kẻ khác, để cùng chia sẻ quyền lợi với lân bang.
B Thời cộng sản đô hộ dân ta thì sao?
1. Về đối nội, như đã nói ờ trên. Mặt đối ngoại: Chúng chủ trương đưa đất nước Việt Nam vào qũy đạo thuộc địa, làm nô lệ cho tàu cộng. Bằng chứng điển hình là:
1. Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng đã cúc cung đời nô lệ qua việc ký công hàm năm 1958, công nhận chủ quyền 12 hải lý của Tàu cộng trên quần đảo Trường Sa Hoàng Sa là phần đất thuộc Việt Nam về mặt lịch sử và trực thuộc miền nam Việt Nam quản trị theo hiệp định Geneve năm 1954 quy định.
2. Đến cuối năm 1999 và 2000, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Võ văn Kiệt, Phan văn Khải, Nguyễn mạnh Cầm lại ký hiệp định và hiệp thương về biên giới và lãnh hải nhường thêm những địa danh như thác Bản Dốc, Ải Nam Quan và vùng biển bắc bộ rộng hàng ngàn ngàn Kilô mét vuông trên bộ cũng như lãnh hải, cho Tàu cộng để tỏ rõ ý chí thần phục bành trướng phương bắc.
3. Đến nay, Nguyễn tấn Dũng, Nông đức Mạnh, Nguyễn minh Triết, Phạm phú Trọng, không những chỉ đồng ý đóng lại các cột mốc ở biên giới lui sâu vào xương thịt Việt Nam cho vừa lòng Tàu cộng. Chúng còn ruớc Tàu qua cao nguyên trung phần Việt Nam , tiếng là nhượng đặc quyền quản trị và khai thác mỏ bauxite. Nhưng thực tế là chúng đang thực hiện chủ trương đưa Việt Nam vào vòng nô lệ của tàu bàng cách bao che và khai mở ra cuộc di dân vĩ đạì, được bảo vệ và tổ chức từ phương bắc tràn qua lãnh thổ Việt Nam sinh sống một cách hợp pháp. Hợp pháp vì nhà cầm quyền Việt cộng có khi nào dám đòi hỏi đến việc cấp chiếu khán có thời hạn, hoặc được quyền kiểm soát số nhân viên thuộc công nông trường và an ninh của tàu cộng sang sinh sống, khai thác hầm mỏ hay rà đặt các căn cứ quân sự? Những đặc khu này có phải là một nhượng địa cho Tàu cộng hay không?
Đó là những tội trạng, Trời không tha, đất không dung của Việt cộng đã phạm với dân tôc ta. Nhưng tệ hại hơn cả là, cho đến nay nhiều người vẫn chưa nhìn ra được là mình đang sống dưới ách nô lệ của cộng sản. Cứ tưởng Việt cộng là nguồn gốc nhân bản Việt Nam , nên vẫn có kẻ đi theo chúng để kiếm sống, rúc rỉa tìm ăn trên muôn vàn thống khổ của toàn dân. Tệ hơn thế, còn có loại cho chúng là những “ lương đống” đã ra tay cứu dân cứu nước.
Nay, 30-4 rồi, hãy thực tâm một lần, đặt chúng lên bàn cạn đo và hỏi xem chúng là ai? Có phải:
1. Chúng là những lương đống, tôi thần cứu nước của Việt Nam
hay là bọn gian manh bán nước. Hoặc chúng là tiên là phật là thánh là người hay là loài có đuôi?
1.1 Là những lương đống, tôi thần cứu nước thì không thể là những kẻ bán nước giết dân. Bọn Hồ chí Minh và Việt cộng không đồng nghĩa với định nghĩa này. Bằng chứng, hãy nhìn cuộc đấu tố từ 1953- 1957, rồi vụ án Nhân Văn Giai Phẩm đến tết Mậu Thân ở Huế. Hãy nhìn cho kỹ những bản văn chúng gọi là công hàm về Trường Sa, Hoàng Sa năm 1958 và hiệp thương về Nam Quan, Bản Dốc vào năm 1999 và năm 2000 thì đủ biết chúng không phải là nhưng “lương đống” của dân Việt. Trái lại, chúng đích thực là những tên nghịch tặc phản quốc cầu vinh.
1.2 Bảo rằng chúng “đánh Mỹ cứu nưóc, giải phóng miền nam“ để cứu dân chăng? Dứt khóat ngươi dân Việt Nam không cầu có cuộc chiến này. Nói cách khác, ngưới Việt Nam cầu có được cách “nô lệ” vào những tháng ngày trưóc 30-4-1975. Ngưới Việt Nam không muốn nhận những qủa đạn giải phóng vào trường học Cai Lậy để giết chết những mầm non của quê hương Việt. Việt Nam không muốn nhận những qủa đạn giải phóng gởi vào nhà thờ, gởi vào nhà Chùa. Người Việt Nam không muốn đươc giải phóng bằng lựu đạn, bằng dao mã tấu và bằng đạn Ak, bằng sơn pháo dọc trên các đại lộ, trong thành phố hay trong các thôn làng. Nhưng ngươi Việt Nam muốn đươc “nô lệ “ trong Tự Do, Nhân Quyền, Công Ly và muốn hưởng một xã hội ấm no trong nền luân lý và đạo đức làm ngươi như trước ngày 30-4-1975. Đó là lời thật, lẽ thật. Đó là ươc muốn của ngươi dân Việt Nam . Nên “ giải phóng miền nam” chỉ là ngụy từ của một bọn cướp không hơn không kém.,
1.3. Việt cộng muốn gì khi chúng khơi cuộc chiến tranh? Trước hết là muốn giải tỏa áp lực ở miền bắc. Sau cuộc đấu tố phú nông địa hào dã man từ 1953-1956 và vụ án Nhân Văn Giao Phảm, miền bắc đã thực sự rơi vào cơn khủng hoảng, không có lối thoát. Nên việc mở chiến tranh vào miền nam vơi chiêu bài “ chống Mỹ cứu nước” chỉ là một phương cách giải áp lực cho bè lũ cộng sản ở miền bắc cũng như để chúng thực hiện phương cách làm tay sai, mở rộng biên giới cho bọn cộng sản Ngà tàu. Theo đó, không thể có chữ “ lương đống” cho bọn gian manh cộng sản.
2. Chẳng lẽ chúng lại là Tiên, là Thánh, là Phật hay là người?
Câu hỏi này không khó trả lời. Bởi vì, nếu là Phật thì Phật không thể pháo kích vào chùa giết Phật tan như xác pháo. Là Thánh thì thánh đã không đột kích nhà Thờ để tặng cho tượng Thánh qủa mìn nát tan thây. Là người thì người không thể tặng mìn tặng pháo, tặng mã tấu cho ngưòi miền nam. Vậy chúng là ai? Qủy dữ chăng? Không, chúng là Việt cộng đãy. Không phải là Phật, không phải là Thánh và cũng không chắc là người có nhân tính đâu. Bởi lẽ, trong sách vở vẫn thường bảo rằng, Chỉ có loài ác qủy mới chống lại thần thánh và nhân bản con người thôi!
Nay, sau 35 năm đưa lên bàn cân đo, tôi tin rằng không còn một người Việt Nam nào nghi ngờ về sự kiện là Tiên là Phật là Thánh là lương đống là ngưòi có nhân bản tính của chúng nữa. Trái lại, những bộ măt thật của loài có đuôi đã hiện nguyên hình rồi. Theo đó, chỉ cón lại một câu hỏi duy nhất là: bằng phương cách nào chúng ta sẽ khai trừ chúng ra khỏi xã hội Việt Nam ?
Nhân ngày Quốc Hận thứ 35, ta hãy nhìn lại mính và hãy nhìn người xem thế nào? Việt Nam và Ba Lan có những gì khác hoặc giống nhau, để một bên đã thành công trong việc thiêu rụi cái chữ chủ nghĩa cộng sản trên quê hương, còn một bên vẫn phải còng lưng đeo hai chữ nô lệ cho cộng sản.
Này nhá:
* Ba lan chỉ có mỗi tượng đài Lech Walesa. Việt Nam ta có cả trăm, thậm chỉ cả ngàn tượng đài Lech walesa!
* Ba Lan chỉ có mỗi công đoàn Đoàn Kết. Việt Nam ta có hàng trăm đảng phải, hội đoàn, tổ chức chống cộng.
* Ba Lan có một khát vọng tiêu diệt cộng sản để xây dựng một xã hội Tự Do, theo thể chế Dân Chủ Đa Nguyên và dựa trên nền tảng Bình Đẳng và Công Bằng trong xã hội Việt Nam ta cũng có cùng chung một khát vọng như dân tộc Balan. Nhưng tại sao họ thành công còn ta thì mãi chỉ là một giấc mơ.
Dễ hiểu lắm, tại họ chỉ có một Lech Walesa, chỉ có một công đoàn đoàn kết, còn ta có nhiểu qúa!
- Bạn toàn nói chuyện dở hơi, càng đông càng vui, càng nhiều càng qúy chứ? Tiền nhiều không thích lại thích có một đồng à?
Vâng qúy lắm. tôi viết thế, không có nghĩa là Ba Lan chỉ có một tổ chức và chỉ có mỗi một Lech Walesa. Nhưng là Ba Lan và hàng trăm hàng ngàn Lech Walesa khác biết xây cho quốc gia của họ một tượng đài là Lech Walesa và một công đoàn Đoàn Kết để đối đầu với cộng sản. Chính điểm này, họ đã thắng cộng sản.
Nay nhìn về Việt Nam , hỏi rằng chúng ta có thể xây cho quê hương ta một tượng đài khả dĩ có thể đạp đổ chế độ cộng sản tại đó chăng?
Dĩ nhiên là có và chắc chắn tượng đài của chúng ta xây, nếu không hơn thì cũng không thể nào thua kém Lech Walesa. Đó là Lê thị Công Nhân. Một luật sư trẻ đủ can trường, đầy ắp lòng nhân, có trí, đã tự xóa bỏ đi cái đài các kiêu xa của mình để nhập ngục cứu quốc. Người này rất xứng đáng để người dân Việt gởi gắm niềm tin, để ký thác thành một tượng đài tiêu biểu cho toàn dân trong công cuộc diệt cộng cứu quốc và kiến quốc. ( viết như thế, tôi e rằng có nhiều người chu mỏ, bỉu môi và cho kẻ viết là nông cạn. Vâng có thể là như thế. Nhưng xin những ai kia dám chu mỏ ra, hãy nhìn kỹ xem, mình là ai, đang ở một chỗ đứng nào để tin rằng, tôi đây mới đúng là tượng đài?). Lại nữa, ý kiến này không có nghĩa là Lê thị Công Nhân ở trên hết thảy. Trái lại, trong cuộc thế hiện tại, Lê thị Công Nhân cũng giống như Aung San Suu Kyi là niềm tin của Miến điện hoặc là Nelson Mandela của Nam Phi lúc trước. Theo tôi, một khi tượng đài Lê thị Công Nhân càng cao, càng chắc cái tượng bùn của Hồ chí minh càng chóng tàn. Tuy nhiên, có em thì không thể thiếu chị. Giống như Nhị Trưng xưa. Có Lê thị Công Nhân không thể thiếu KHG. Dương Nguyệt Ánh
Đó là Con Đường trước mặt chúng ta phải đi để Ngày Mai có Tự Do, Dân Chủ, Nhân, Quyền, Công Lý nở hoa trên đất nước Việt Nam. Nhưng liệu từng cá nhân , từng tập thể có dám từ bỏ cái tôi của mình đi, để cùng đi chung trên một con đường xây dựng lại tương lai cho đất nước hay không lại là một chuyện khác.
Bảo Giang
CASINO ĐÀ NẴNG:
BÁN THỊT DÊ BẮT TREO ĐẦU CHÓ
truongduynhat Cho phép thiết trí các máy đánh bạc, lại cho phép lắp đặt cả một hệ thống các bàn đánh bạc, mà cứ nhất định không chịu nói là đánh bạc, bắt phải gọi là “vui chơi giải trí có thưởng” thì kỳ quặc quá, và làm sao cho người nước ngoài họ hiểu? Như thế khác gì cho người ta bán thịt dê, nhưng lại bắt treo cái… đầu chó?
Khu du lịch và giải trí quốc tế đặc biệt mang tên Silver Shores Hoàng Đạt nằm trên tuyến đường ven biển Sơn Trà- Điện Ngọc (thuộc quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng). Đây là dự án khu du lịch bãi biển cấp 5 sao được phép tổ chức khu vui chơi có thưởng dành cho người nước ngoài với tổng vốn đầu tư trên 1,6 tỉ USD. Dự án phức hợp này gồm khu nghỉ dưỡng chuẩn 5 sao và khu vực Casino có sức chứa hàng trăm người chơi cùng một lúc và gồm các dịch vụ như Baccarat, Blackjack, Sic bo, Roulette và Caribbean Stud Pokers.
Đây là Casino đầu tiên được cấp phép tại Đà Nẵng và là điểm Casino có quy mô lớn nhất nước.
Cụm khách sạn 5 sao và khu resort đang trong giai đoạn hoàn thành. Riêng khu Casino đã được đưa vào sử dụng.
Thế nhưng, rắc rối xảy ra ngay sau khi khu Casino này bắt đầu hoạt động không lâu. Khởi phát từ chữ Casino gắn trên 2 bảng hiệu trước khu Silver Shores Hoàng Đạt: Crowne International Casino và Crowne Casino.
Một đoàn thanh tra thuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư được phái vào Đà Nẵng để kiểm tra, rà soát lại hoạt động của khu Casino này. Kết thúc, vài “sai phạm” được yêu cầu chỉnh sửa.
Tôi không muốn nhắc đến vài “sai phạm” khác mà đến nay, mỗi phía (thanh tra và bị thanh tra) đều kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình. Chỉ nói quanh chữ Casino mà đoàn thanh tra cho là “nhạy cảm” và bắt phía Silver Shores Hoàng Đạt phải tháo gỡ đã… dở khóc dở cười rồi!
Phía thanh tra lý giải: dùng chữ Casino thì có nghĩa là… đánh bạc. Mà giấy phép đầu tư không cho phép đánh bạc, chỉ cho phép tổ chức các loại hình “vui chơi có thưởng”.
Bản chất của những trò vui chơi có thưởng là gì? Thực chất đó là đánh bạc, không là gì khác. Nói không phải đánh bạc, chỉ là “vui chơi có thưởng”- trẻ nít nghe nó cũng cười cho! Và nói thế khác gì người cấp phép tự vả vào mặt mình?
Cho phép thiết trí các máy đánh bạc, lại cho phép lắp đặt cả một hệ thống các bàn đánh bạc, mà cứ nhất định không chịu nói là đánh bạc, bắt phải gọi là “vui chơi giải trí có thưởng” thì kỳ quặc quá, và làm sao cho người nước ngoài họ hiểu? Đối tượng phục vụ là người nước ngoài, mà cứ chơi chữ khôi hài theo kiểu Việt thế thì có ma hiểu được? Viết “Crowne International Casino” là đúng quá rồi, viết “Crowne International Club” (sửa lại theo yêu cầu của đoàn kiểm tra) thì ai đứng ra mà giải thích được cho người nứơc ngoài đó là “trò chơi có thưởng” ? Và làm sao cho họ hiểu được “trò chơi có thưởng” cũng có nghĩa là… Casino ?
Đây là sự không đàng hoàng của luật pháp, chứ không phải là sự không đàng hoàng của phía doanh nghiệp.
Khác gì cho người ta bán thịt dê, nhưng lại bắt treo cái… đầu chó ?
Tấm biển hiệu cao nhất ở ngay cổng, trước đây là Crowne Casino, nay đã bị gỡ chữ Casino, còn vỏn vẹn mỗi chữ Crowne. Như vậy, người nước ngoài họ hiểu đây là cái gì?
Giả như có khúc mắc, trục trặc ở điểm nào đó, thì luật pháp phải được gỡ bỏ nhằm tạo thuận tiện, thông thoáng cho nhà đầu tư. Luật pháp phải đàng hoàng. Thanh tra và luật pháp là để phục vụ và bảo vệ cho hoạt động chính đáng của nhà đầu tư, chứ không phải nhằm hạn chế và gây khó dễ, ách tắc và làm tổn hại đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
Câu chuyện quanh chữ Casino chỉ là một dẫn chứng điển hình cho nhiều vết cộm khác đang cản trở và vô tình tạo cho các nhà quản lý đi… bắt khó doanh nghiệp.

Bên trong sòng bạc

Khi có chữ Casino

Chữ Casino được gỡ thay bằng chữ Club.
BÁN THỊT DÊ BẮT TREO ĐẦU CHÓ
truongduynhat Cho phép thiết trí các máy đánh bạc, lại cho phép lắp đặt cả một hệ thống các bàn đánh bạc, mà cứ nhất định không chịu nói là đánh bạc, bắt phải gọi là “vui chơi giải trí có thưởng” thì kỳ quặc quá, và làm sao cho người nước ngoài họ hiểu? Như thế khác gì cho người ta bán thịt dê, nhưng lại bắt treo cái… đầu chó?
Khu du lịch và giải trí quốc tế đặc biệt mang tên Silver Shores Hoàng Đạt nằm trên tuyến đường ven biển Sơn Trà- Điện Ngọc (thuộc quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng). Đây là dự án khu du lịch bãi biển cấp 5 sao được phép tổ chức khu vui chơi có thưởng dành cho người nước ngoài với tổng vốn đầu tư trên 1,6 tỉ USD. Dự án phức hợp này gồm khu nghỉ dưỡng chuẩn 5 sao và khu vực Casino có sức chứa hàng trăm người chơi cùng một lúc và gồm các dịch vụ như Baccarat, Blackjack, Sic bo, Roulette và Caribbean Stud Pokers.
Đây là Casino đầu tiên được cấp phép tại Đà Nẵng và là điểm Casino có quy mô lớn nhất nước.
Cụm khách sạn 5 sao và khu resort đang trong giai đoạn hoàn thành. Riêng khu Casino đã được đưa vào sử dụng.
Thế nhưng, rắc rối xảy ra ngay sau khi khu Casino này bắt đầu hoạt động không lâu. Khởi phát từ chữ Casino gắn trên 2 bảng hiệu trước khu Silver Shores Hoàng Đạt: Crowne International Casino và Crowne Casino.
Một đoàn thanh tra thuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư được phái vào Đà Nẵng để kiểm tra, rà soát lại hoạt động của khu Casino này. Kết thúc, vài “sai phạm” được yêu cầu chỉnh sửa.
Tôi không muốn nhắc đến vài “sai phạm” khác mà đến nay, mỗi phía (thanh tra và bị thanh tra) đều kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình. Chỉ nói quanh chữ Casino mà đoàn thanh tra cho là “nhạy cảm” và bắt phía Silver Shores Hoàng Đạt phải tháo gỡ đã… dở khóc dở cười rồi!
Phía thanh tra lý giải: dùng chữ Casino thì có nghĩa là… đánh bạc. Mà giấy phép đầu tư không cho phép đánh bạc, chỉ cho phép tổ chức các loại hình “vui chơi có thưởng”.
Bản chất của những trò vui chơi có thưởng là gì? Thực chất đó là đánh bạc, không là gì khác. Nói không phải đánh bạc, chỉ là “vui chơi có thưởng”- trẻ nít nghe nó cũng cười cho! Và nói thế khác gì người cấp phép tự vả vào mặt mình?
Cho phép thiết trí các máy đánh bạc, lại cho phép lắp đặt cả một hệ thống các bàn đánh bạc, mà cứ nhất định không chịu nói là đánh bạc, bắt phải gọi là “vui chơi giải trí có thưởng” thì kỳ quặc quá, và làm sao cho người nước ngoài họ hiểu? Đối tượng phục vụ là người nước ngoài, mà cứ chơi chữ khôi hài theo kiểu Việt thế thì có ma hiểu được? Viết “Crowne International Casino” là đúng quá rồi, viết “Crowne International Club” (sửa lại theo yêu cầu của đoàn kiểm tra) thì ai đứng ra mà giải thích được cho người nứơc ngoài đó là “trò chơi có thưởng” ? Và làm sao cho họ hiểu được “trò chơi có thưởng” cũng có nghĩa là… Casino ?
Đây là sự không đàng hoàng của luật pháp, chứ không phải là sự không đàng hoàng của phía doanh nghiệp.
Khác gì cho người ta bán thịt dê, nhưng lại bắt treo cái… đầu chó ?
Tấm biển hiệu cao nhất ở ngay cổng, trước đây là Crowne Casino, nay đã bị gỡ chữ Casino, còn vỏn vẹn mỗi chữ Crowne. Như vậy, người nước ngoài họ hiểu đây là cái gì?
Giả như có khúc mắc, trục trặc ở điểm nào đó, thì luật pháp phải được gỡ bỏ nhằm tạo thuận tiện, thông thoáng cho nhà đầu tư. Luật pháp phải đàng hoàng. Thanh tra và luật pháp là để phục vụ và bảo vệ cho hoạt động chính đáng của nhà đầu tư, chứ không phải nhằm hạn chế và gây khó dễ, ách tắc và làm tổn hại đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
Câu chuyện quanh chữ Casino chỉ là một dẫn chứng điển hình cho nhiều vết cộm khác đang cản trở và vô tình tạo cho các nhà quản lý đi… bắt khó doanh nghiệp.

Bên trong sòng bạc

Khi có chữ Casino

Chữ Casino được gỡ thay bằng chữ Club.
- CarteNoire
- Posts: 374
- Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm
SỰ LỰA CHỌN
Nhị Tường dịch Một phụ nữ chợt nhìn thấy 3 cụ già râu tóc bạc phơ đang ngồi trước sân. Không biết họ là ai nhưng chị nói:
“Tôi không biết các ông, nhưng xem chừng các ông có vẻ đói, xin mời vào nhà và dùng một chút gì đó”.
“Có ông chủ ở nhà không, thưa bà?” Họ hỏi.
“Không, ông ấy đi làm rồi”
“Vậy thì chúng tôi không vào”. Họ trả lời.
Buổi chiều, khi người chồng trở về, nghe chuyện liền nói:
“Tôi đã về nhà, hãy mời họ vào đi”.
Người vợ ra ngoài và mời những cụ
già vào nhà.
“Chúng tôi không vào nhà cùng với nhau”.
Họ trả lời
“Vì sao thế?” Người vợ muốn biết lý do. Một người trong họ chỉ vào người khác và nói:
“Tên ông ấy là Thịnh Vượng”,
rồi chỉ vào người nữa và nói:
“Ông này là Thành Công, còn tôi là Tình Yêu”.
Rồi cụ già nói tiếp:
“Chị hãy vào nhà và thảo luận với chồng xem ông ấy muốn mời ai trong chúng tôi vào nhà”
Người vợ trở vào và kể lại, người chồng rất thú vị:
“Hay quá, chúng ta sẽ để cho Thịnh Vượng vào, ông ấy sẽ mang đến cho nhà ta sự giàu có”
Người vợ không đồng ý:
“Ông ạ, sao mình không mời Thành Công?”
Cô con dâu lắng nghe câu chuyện bỗng
góp ý: “Sao mình không mời Tình Yêu, ông ấy sẽ làm cho nhà mình tràn ngập tình thương yêu!"
“Chúng ta hãy làm theo lời con dâu vậy "
người chồng nói với vợ. Người vợ bước ra cửa và nói:
“Ai là Tình Yêu, hãy vào nhà và là thượng khách của chúng tôi”
Tình Yêu đứng dậy bước vào. Hai người kia cũng theo sau. Rất ngạc
nhiên, người vợ hỏi Thành Công và Thịnh Vượng:
“Tôi chỉ mời có ngài Tình Yêu, sao các ông cũng vào?”
Họ trả lời:
“Nếu chị mời Thành Công hoặc Thịnh Vượng thì hai người trong
chúng tôi sẽ ở ngoài, nhưng một khi các bạn mời Tình Yêu, bất cứ ông ấy đi đâu thì chúng tôi cũng đi theo. Bất cứ nơi nào có Tình Yêu, nơi đó có Thịnh Vượng và Thành Công.
Nơi nào có đau khổ, chúng tôi sẽ cầu chúc cho các bạn bình an và may mắn.
Nơi nào có hoài nghi, chúng tôi sẽ chúc cho các bạn lấy lại nghị lực để vượt qua.
Nơi nào có mệt mỏi, lực kiệt, chúng tôi sẽ cầu chúc cho sự kiên nhẫn và sức mạnh mới. Nơi nào có sợ hãi, chúng tôi sẽ cầu chúc cho các bạn tình yêu và lòng can đảm.”
Nhị Tường dịch Một phụ nữ chợt nhìn thấy 3 cụ già râu tóc bạc phơ đang ngồi trước sân. Không biết họ là ai nhưng chị nói:
“Tôi không biết các ông, nhưng xem chừng các ông có vẻ đói, xin mời vào nhà và dùng một chút gì đó”.
“Có ông chủ ở nhà không, thưa bà?” Họ hỏi.
“Không, ông ấy đi làm rồi”
“Vậy thì chúng tôi không vào”. Họ trả lời.
Buổi chiều, khi người chồng trở về, nghe chuyện liền nói:
“Tôi đã về nhà, hãy mời họ vào đi”.
Người vợ ra ngoài và mời những cụ
già vào nhà.
“Chúng tôi không vào nhà cùng với nhau”.
Họ trả lời
“Vì sao thế?” Người vợ muốn biết lý do. Một người trong họ chỉ vào người khác và nói:
“Tên ông ấy là Thịnh Vượng”,
rồi chỉ vào người nữa và nói:
“Ông này là Thành Công, còn tôi là Tình Yêu”.
Rồi cụ già nói tiếp:
“Chị hãy vào nhà và thảo luận với chồng xem ông ấy muốn mời ai trong chúng tôi vào nhà”
Người vợ trở vào và kể lại, người chồng rất thú vị:
“Hay quá, chúng ta sẽ để cho Thịnh Vượng vào, ông ấy sẽ mang đến cho nhà ta sự giàu có”
Người vợ không đồng ý:
“Ông ạ, sao mình không mời Thành Công?”
Cô con dâu lắng nghe câu chuyện bỗng
góp ý: “Sao mình không mời Tình Yêu, ông ấy sẽ làm cho nhà mình tràn ngập tình thương yêu!"
“Chúng ta hãy làm theo lời con dâu vậy "
người chồng nói với vợ. Người vợ bước ra cửa và nói:
“Ai là Tình Yêu, hãy vào nhà và là thượng khách của chúng tôi”
Tình Yêu đứng dậy bước vào. Hai người kia cũng theo sau. Rất ngạc
nhiên, người vợ hỏi Thành Công và Thịnh Vượng:
“Tôi chỉ mời có ngài Tình Yêu, sao các ông cũng vào?”
Họ trả lời:
“Nếu chị mời Thành Công hoặc Thịnh Vượng thì hai người trong
chúng tôi sẽ ở ngoài, nhưng một khi các bạn mời Tình Yêu, bất cứ ông ấy đi đâu thì chúng tôi cũng đi theo. Bất cứ nơi nào có Tình Yêu, nơi đó có Thịnh Vượng và Thành Công.
Nơi nào có đau khổ, chúng tôi sẽ cầu chúc cho các bạn bình an và may mắn.
Nơi nào có hoài nghi, chúng tôi sẽ chúc cho các bạn lấy lại nghị lực để vượt qua.
Nơi nào có mệt mỏi, lực kiệt, chúng tôi sẽ cầu chúc cho sự kiên nhẫn và sức mạnh mới. Nơi nào có sợ hãi, chúng tôi sẽ cầu chúc cho các bạn tình yêu và lòng can đảm.”
Kính chuyển ..vui : Bàn Đề ..
Bạn có biết 1 số nước có cái tên rất lãng mạn không?
H.O.L.L.A.N. D - Hope Our Love Lasts And Never Dies - Hi vọng tình yêu của chúng ta mãi mãi và bất tử.
I.T.A.L.Y - I Trust And Love You - Tôi tin tưởng và yêu bạn.
L.I.B.Y.A. - Love Is Beautiful; You Al so - Tình yêu thì đẹp - bạn cũng vậy.
F.R.A.N.C.E. - Friendships Remain And Never Can End - Tình bạn tồn tại mãi mãi & không bao hêt.
C.H.I.N.A. - Come Here.. I Need Affection - Hãy đến đây, tôi cần tình yêu thương của bạn.
Còn
V.I.E.T.N.A.M - Viagra In Every Time, Night And Morning.....
Bạn có biết 1 số nước có cái tên rất lãng mạn không?
H.O.L.L.A.N. D - Hope Our Love Lasts And Never Dies - Hi vọng tình yêu của chúng ta mãi mãi và bất tử.
I.T.A.L.Y - I Trust And Love You - Tôi tin tưởng và yêu bạn.
L.I.B.Y.A. - Love Is Beautiful; You Al so - Tình yêu thì đẹp - bạn cũng vậy.
F.R.A.N.C.E. - Friendships Remain And Never Can End - Tình bạn tồn tại mãi mãi & không bao hêt.
C.H.I.N.A. - Come Here.. I Need Affection - Hãy đến đây, tôi cần tình yêu thương của bạn.
Còn
V.I.E.T.N.A.M - Viagra In Every Time, Night And Morning.....
Tạp ghi: Những ca khúc ngày xưa ấy!
Huy Phương
Tôi còn nhớ một câu chuyện cách đây đã gần ba mươi năm. Một ngày giá rét ở núi rừng thượng du Bắc Việt, chúng tôi một nhóm tù gồm mấy anh em đang lang thang dọc bờ suối để chặt cho đủ chỉ tiêu một bó nứa hai mươi cây. Khi đi ngang qua một ngôi nhà sàn của đồng bào thiểu số, chúng tôi nghe một bài hát vẳng lại. Ðó là một bài hát quen thuộc khá bình dân, rất phổ biến ở miền Nam là bài “Một Trăm Phần Trăm” do Hùng Cường và Mai Lệ Huyền hát. Hồi ấy đã là cuối năm 1977, có lẽ đây là một cuốn băng cassette “chiến lợi phẩm” do một anh “bộ đội” dân tộc nào đó mang về cho gia đình. Bỗng dưng không ai nói ai, chúng tôi cùng chậm chân lại, rồi đứng hẳn, cùng im lặng lắng nghe. Giờ phút đó, phải nói chúng tôi uống từng lời hát, nuốt từng âm điệu, sung sướng như chưa bao giờ được nghe một bản nhạc hay như thế trong suốt cuộc đời mình. Phần tôi, trong những “ngày xưa ấy”, tôi cũng không tâm đắc gì với hai giọng hát trên và cũng không mặn nồng gì với những ca khúc tương tự. Nhưng giờ đây, đó là những điều đã mất, đó là cái gì thuộc về máu thịt của miền Nam, đó là cái gì thuộc về dĩ vãng, thuộc về kỷ niệm. Vì hiện tại là chúng tôi, những thằng tù đã mất tất cả, đang cầm mỗi đứa một con dao “tông”, đứng bên bờ suối, dưới một cái nhà sàn, thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, xa Sài Gòn tới 1,200 cây số đường chim bay.
Mỗi năm Tết đến, bọn tù chúng tôi sau một buổi cơm chiều Ba Mươi, có bát cơm trắng và miếng thịt mỡ, ai cũng hân hoan và phấn khích thức ngủ đón Giao Thừa. Bài hát mà chúng tôi năm nào, giờ Giao Thừa cũng hát đi hát lại hằng chục lần là bài “Ly Rượu Mừng” của Phạm Ðình Chương. Sở dĩ bài này không thuộc loại “nhạc vàng” hay cấm kỵ, là vì bài hát có những câu “mừng anh nông phu vui lúa thơm”, người công nhân ấm no”, thì đúng đường lối cách mạng rồi. Với lại còn có thêm “mẹ già đợi con, từ lâu mong con mắt rưng rưng lệ nhòa, ngày ấy quê hương yên vui, đón anh về”, thì đã là con người, anh bộ đội hay chúng tôi thì cũng mủi lòng như nhau, ai đó cũng khóc thầm mà ai biết cho ai. Chúng tôi quây quần bên nhau cùng hát, biết hát và chưa hề hát, hát với tất cả tấm lòng, hát say sưa như chưa bao giờ hát say sưa như thế. Hát như thế là chúng tôi để cho mình trôi về dĩ vãng, như mới hôm qua, hôm kia đây. Hát để nhớ về Sài Gòn, hát để “nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà”.
Sau này trở lại miền Nam, về với gia đình, mỗi năm bài “Ly Rượu Mừng” trong nhà hay đâu đó lại vang lên, giữa khói pháo mịt mù, lại thấy mắt mình cay vì khói pháo hay vì những giọt lệ dưới khóe mắt. Nhớ lại những ngày tháng cũ, nhớ bạn bè xa khuất hay nhớ tới thân phận mình?
Phải chăng, bây giờ chúng ta ở đây có những bản nhạc, những ca khúc đã nghe từ nửa thế kỷ, vẫn rộn ràng gây xúc động biết bao cho chúng ta. Mỗi lần cuối năm Âm Lịch, những bản nhạc Xuân lại vang lên, gợi lại cho chúng ta bao nhiêu nỗi nhớ, bao nhiêu kỷ niệm. Những bản nhạc ấy chúng ta nghe đã hằng trăm lần, đã thuộc từng câu, nhớ từng nốt nhạc, nó làm chúng xúc động hơn nghìn lần một bản nhạc mới ra đời hay mới nghe đâu đây một đôi lần...
Mỗi bài hát, của riêng mỗi người đều mang theo những màu sắc, âm thanh của một ngày tháng cũ xa xưa nào đó, cho nên đối với người này bản nhạc có thể có ý nghĩa, quay quắt tuyệt vời, với người kia là tầm thường vô vị. Những ca khúc được hát lên trong một đoạn đời nào đó, sẽ được nhắc lại, vẽ lại bây giờ, đó là giai điệu của một mối tình, một hình ảnh, một tháng, một ngày, một phút giây. Khi tiếng hát được cất lên, chúng ta không nhìn ra người hát, không nhớ tới người viết. Nó là nỗi niềm riêng của mỗi người, là châu báu không thể ban cho ai. Chính những dòng nhạc đó đã tiềm ẩn sẵn đâu đó trong vùng sâu kín của tâm hồn, đang trỗi dậy gọi chúng ta về với những ngày tháng cũ.
Cũng vì như thế, những tiếng hát ngày xưa mà chúng ta đã nghe quen, giờ đây tưởng chừng như tiếng thì thầm, ngọt bùi thân ái như tiếng nói của một người quen thân. Cũng vì như thế, bây giờ có những giọng hát trẻ trung, có thể “so bề tài sắc lại là phần hơn”, nhưng đối với chúng ta đó vẫn là một điều gì còn mới mẻ và hãy còn xa lạ vì thiếu một đoạn thời gian, một đoạn đường đi chung, có hạnh phúc mà cũng có khổ đau. Còn gì quí hơn một bài hát cũ, một giọng hát xưa, gọi lại những tháng ngày đã mất. Ðó là một người bạn cũ, một người tri kỷ mà chúng ta có thể gởi gắm vào đó những điều thầm kín nhất của lòng mình.
Mùa Xuân tha hương của những người đã bỏ xứ ra đi, của đàn chim phiêu bạt bên chân trời trong chiều nay lạnh giá. Bên những cành hoa đào, những khóm thược dược hay những chậu hoa lan, bên những khay mứt kẹo, cùng với những mâm bánh chưng bánh tét để đón những năm Tết tha hương, quả thật chúng ta không thể thiếu những dòng dòng nhạc Xuân rộn ràng mừng Xuân đón Tết.
Khi mà những ca khúc đã đi vào lòng người thì không ai có thể xóa bỏ đi. Trong những xứ mà chế độ còn hà khắc, có những bài hát người ta có thể cấm những ca sĩ hát ở nơi công cộng, người ta có thể cho những người trình diễn hát bài này hay bỏ bài kia, nhưng không ai cấm cản nỗi người ta nuôi trong lòng những ca khúc mà người ta đã có nhiều kỷ niệm, đã mang trong lòng một thời. Những ca khúc được nghe, chúng ta đâu có cần tới một lý lịch dọc-ngang hay vuông-tròn của tác giả, có ai buồn nghĩ tới tác giả đang ở trong hay ở ngoài đất nước hay tổ quốc. Nghe tới những điều cấm kỵ như ”bỏ tổ quốc ra đi, chống lại cách mạng” như là những luận điệu để lên án một người mang tội phản quốc, không đủ lý lịch hoàn hảo để cho tác phẩm của họ được trình diễn trước công chúng.
Ngày xưa chúng ta đã hát Văn Cao, đã yêu Ðoàn Chuẩn - Từ Linh, đã ngậm ngùi theo Doãn Mẫn, đã từng hát những ca khúc của Phan Huỳnh Ðiểu, Nguyễn Văn Thương, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Tý... và đến cả Lưu Hữu Phước. Nào chúng ta có nhớ ai Bắc, ai Nam, ai bên nớ, bên ni. Nhưng những gì còn mãi lại trong lòng người mới đáng quí, còn cung điện kia, tượng đài nọ, lăng miếu hay mộ bia cũng như ngày thứ huân chương, tước vị đều là những thứ rất dễ phôi phai, đổ nát.
Huy Phương
Tôi còn nhớ một câu chuyện cách đây đã gần ba mươi năm. Một ngày giá rét ở núi rừng thượng du Bắc Việt, chúng tôi một nhóm tù gồm mấy anh em đang lang thang dọc bờ suối để chặt cho đủ chỉ tiêu một bó nứa hai mươi cây. Khi đi ngang qua một ngôi nhà sàn của đồng bào thiểu số, chúng tôi nghe một bài hát vẳng lại. Ðó là một bài hát quen thuộc khá bình dân, rất phổ biến ở miền Nam là bài “Một Trăm Phần Trăm” do Hùng Cường và Mai Lệ Huyền hát. Hồi ấy đã là cuối năm 1977, có lẽ đây là một cuốn băng cassette “chiến lợi phẩm” do một anh “bộ đội” dân tộc nào đó mang về cho gia đình. Bỗng dưng không ai nói ai, chúng tôi cùng chậm chân lại, rồi đứng hẳn, cùng im lặng lắng nghe. Giờ phút đó, phải nói chúng tôi uống từng lời hát, nuốt từng âm điệu, sung sướng như chưa bao giờ được nghe một bản nhạc hay như thế trong suốt cuộc đời mình. Phần tôi, trong những “ngày xưa ấy”, tôi cũng không tâm đắc gì với hai giọng hát trên và cũng không mặn nồng gì với những ca khúc tương tự. Nhưng giờ đây, đó là những điều đã mất, đó là cái gì thuộc về máu thịt của miền Nam, đó là cái gì thuộc về dĩ vãng, thuộc về kỷ niệm. Vì hiện tại là chúng tôi, những thằng tù đã mất tất cả, đang cầm mỗi đứa một con dao “tông”, đứng bên bờ suối, dưới một cái nhà sàn, thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, xa Sài Gòn tới 1,200 cây số đường chim bay.
Mỗi năm Tết đến, bọn tù chúng tôi sau một buổi cơm chiều Ba Mươi, có bát cơm trắng và miếng thịt mỡ, ai cũng hân hoan và phấn khích thức ngủ đón Giao Thừa. Bài hát mà chúng tôi năm nào, giờ Giao Thừa cũng hát đi hát lại hằng chục lần là bài “Ly Rượu Mừng” của Phạm Ðình Chương. Sở dĩ bài này không thuộc loại “nhạc vàng” hay cấm kỵ, là vì bài hát có những câu “mừng anh nông phu vui lúa thơm”, người công nhân ấm no”, thì đúng đường lối cách mạng rồi. Với lại còn có thêm “mẹ già đợi con, từ lâu mong con mắt rưng rưng lệ nhòa, ngày ấy quê hương yên vui, đón anh về”, thì đã là con người, anh bộ đội hay chúng tôi thì cũng mủi lòng như nhau, ai đó cũng khóc thầm mà ai biết cho ai. Chúng tôi quây quần bên nhau cùng hát, biết hát và chưa hề hát, hát với tất cả tấm lòng, hát say sưa như chưa bao giờ hát say sưa như thế. Hát như thế là chúng tôi để cho mình trôi về dĩ vãng, như mới hôm qua, hôm kia đây. Hát để nhớ về Sài Gòn, hát để “nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà”.
Sau này trở lại miền Nam, về với gia đình, mỗi năm bài “Ly Rượu Mừng” trong nhà hay đâu đó lại vang lên, giữa khói pháo mịt mù, lại thấy mắt mình cay vì khói pháo hay vì những giọt lệ dưới khóe mắt. Nhớ lại những ngày tháng cũ, nhớ bạn bè xa khuất hay nhớ tới thân phận mình?
Phải chăng, bây giờ chúng ta ở đây có những bản nhạc, những ca khúc đã nghe từ nửa thế kỷ, vẫn rộn ràng gây xúc động biết bao cho chúng ta. Mỗi lần cuối năm Âm Lịch, những bản nhạc Xuân lại vang lên, gợi lại cho chúng ta bao nhiêu nỗi nhớ, bao nhiêu kỷ niệm. Những bản nhạc ấy chúng ta nghe đã hằng trăm lần, đã thuộc từng câu, nhớ từng nốt nhạc, nó làm chúng xúc động hơn nghìn lần một bản nhạc mới ra đời hay mới nghe đâu đây một đôi lần...
Mỗi bài hát, của riêng mỗi người đều mang theo những màu sắc, âm thanh của một ngày tháng cũ xa xưa nào đó, cho nên đối với người này bản nhạc có thể có ý nghĩa, quay quắt tuyệt vời, với người kia là tầm thường vô vị. Những ca khúc được hát lên trong một đoạn đời nào đó, sẽ được nhắc lại, vẽ lại bây giờ, đó là giai điệu của một mối tình, một hình ảnh, một tháng, một ngày, một phút giây. Khi tiếng hát được cất lên, chúng ta không nhìn ra người hát, không nhớ tới người viết. Nó là nỗi niềm riêng của mỗi người, là châu báu không thể ban cho ai. Chính những dòng nhạc đó đã tiềm ẩn sẵn đâu đó trong vùng sâu kín của tâm hồn, đang trỗi dậy gọi chúng ta về với những ngày tháng cũ.
Cũng vì như thế, những tiếng hát ngày xưa mà chúng ta đã nghe quen, giờ đây tưởng chừng như tiếng thì thầm, ngọt bùi thân ái như tiếng nói của một người quen thân. Cũng vì như thế, bây giờ có những giọng hát trẻ trung, có thể “so bề tài sắc lại là phần hơn”, nhưng đối với chúng ta đó vẫn là một điều gì còn mới mẻ và hãy còn xa lạ vì thiếu một đoạn thời gian, một đoạn đường đi chung, có hạnh phúc mà cũng có khổ đau. Còn gì quí hơn một bài hát cũ, một giọng hát xưa, gọi lại những tháng ngày đã mất. Ðó là một người bạn cũ, một người tri kỷ mà chúng ta có thể gởi gắm vào đó những điều thầm kín nhất của lòng mình.
Mùa Xuân tha hương của những người đã bỏ xứ ra đi, của đàn chim phiêu bạt bên chân trời trong chiều nay lạnh giá. Bên những cành hoa đào, những khóm thược dược hay những chậu hoa lan, bên những khay mứt kẹo, cùng với những mâm bánh chưng bánh tét để đón những năm Tết tha hương, quả thật chúng ta không thể thiếu những dòng dòng nhạc Xuân rộn ràng mừng Xuân đón Tết.
Khi mà những ca khúc đã đi vào lòng người thì không ai có thể xóa bỏ đi. Trong những xứ mà chế độ còn hà khắc, có những bài hát người ta có thể cấm những ca sĩ hát ở nơi công cộng, người ta có thể cho những người trình diễn hát bài này hay bỏ bài kia, nhưng không ai cấm cản nỗi người ta nuôi trong lòng những ca khúc mà người ta đã có nhiều kỷ niệm, đã mang trong lòng một thời. Những ca khúc được nghe, chúng ta đâu có cần tới một lý lịch dọc-ngang hay vuông-tròn của tác giả, có ai buồn nghĩ tới tác giả đang ở trong hay ở ngoài đất nước hay tổ quốc. Nghe tới những điều cấm kỵ như ”bỏ tổ quốc ra đi, chống lại cách mạng” như là những luận điệu để lên án một người mang tội phản quốc, không đủ lý lịch hoàn hảo để cho tác phẩm của họ được trình diễn trước công chúng.
Ngày xưa chúng ta đã hát Văn Cao, đã yêu Ðoàn Chuẩn - Từ Linh, đã ngậm ngùi theo Doãn Mẫn, đã từng hát những ca khúc của Phan Huỳnh Ðiểu, Nguyễn Văn Thương, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Tý... và đến cả Lưu Hữu Phước. Nào chúng ta có nhớ ai Bắc, ai Nam, ai bên nớ, bên ni. Nhưng những gì còn mãi lại trong lòng người mới đáng quí, còn cung điện kia, tượng đài nọ, lăng miếu hay mộ bia cũng như ngày thứ huân chương, tước vị đều là những thứ rất dễ phôi phai, đổ nát.
GALANG MỘT THỜI MỘT ĐỜI
Nguyễn Mạnh Trinh Như thói quen mỗi buổi sáng ở freeway trên con đường đến sở, tôi lơ đãng bật đài phát thanh để nghe cho đỡ đường dài. Bỗng nhiên, nghe đoạn phóng sự những người tị nạn về Galang thăm lại cảnh cũ xưa, tưởng như mình lạc vào một thế giới khác. Trước mặt, không thấy cảnh kẹt xe nữa. Suy nghĩ miên man, đi quá mấy exit mà không biết. Trong tâm, bùi ngùi cảm xúc. Hai mươi năm, qua thật mau. Một thời đã qua. Một đời tiếp nối. Tự nhiên, những người trăm năm cũ hiện về. Từ ký ức chẳng thể nào quên. Những ngày tháng ấy.
Tôi vượt biển vào tháng tám năm 1980. Cũng đã đi nhiều lần, cũng lên “cá lớn, cá nhỏ” nhiều bận, bị lừa gạt, chạy xát bất xang bang nhiều phen, rốt cuộc đến được xứ sở tạm dung vào một ngày trăng tròn. Đến đảo Kuku, khi nơi đây dân tị nạn vừa chuyển tiếp từng đợt qua đảo lớn Galang nên chỗ này hoang vu lắm. Những dãy nhà dài bỏ không, cây cỏ xanh um. Ngôi chùa ở lưng đồi, trơ những hàng cột và những tấm bạt ni- lông rách bươm phần phật trong gió. Và nghĩa địa, nơi những người tị nạn sớm bỏ dương trần, những bia gỗ sắp hàng trong cái lạnh lùng hoang dã không sinh khí.
Nhưng, phong cảnh đảo thì tuyệt đẹp. Đi sâu vào trong, có dòng suối, có những mỏm đá hữu tình. Bờ biển cát trắng, nước trong. Những ngày đầu, trăng sáng lồng lộng. Qua một hành trình mệt nhọc trên biển, bây giờ mới biết chắc mình còn sống. Lúc đầu, chân lơ lửng bềnh bồng như trên sóng. Mấy ngày sau, mới bình thường đi lại vững vàng trên mặt đất.
Thời khắc mà nhìn biển với màu xanh mù mịt thăm thẳm đã qua. Nhớ lại cảm giác,trên hành trình, nhìn đại dương xanh biền biệt một màu, nhất là vào những buổi chiều tắt nắng sao cô đơn và phập phồng chi lạ. Biển với những tay sóng thịnh nộ như lúc nào cũng muốn ra oai vùi dập với con người và con thuyền gỗ nhỏ bé. Biết bao nhiêu người vùi mình dưới đáy đại dương. Biết bao nhiêu con thuyền vỡ tan trong giông bão. Đến lúc nhìn thấy những cánh chim sao ấm áp quá. Đất đã hiện ra, và cái sống đã như trở lại.
Bây giờ, biển lại hiền hòa vỗ về bờ cát. Bây giờ, biển lại âm vang những khúc tình ca. Ngay cả khi trong những cơn mưa nhiệt đới, dù mù mịt ngoài khơi nhưng trong bờ nước ấm áp dễ chịu. Ngọn núi ở phía trong, với những đường mòn khuất khúc, với những khoảng rừng thưa, như hứa hẹn những không gian nào, nơi chốn nào cho tìm tòi khám phá. Hết rồi những ngày bị dòm ngó, bị đe dọa ở quê hương. Saigòn, có những lúc rưng rưng nhớ. Thành phố của những ngày mới lớn, của những mơ ước, của những nỗi niềm.
Ở Kuku nửa tháng rồi có tàu lớn chở qua Galang, một cuộc sống khác bắt đầu, như ở một phố nhỏ nào lạ lẫm. Một con đường trải nhựa từ bến tàu đi vào trung tâm đảo. Những dãy nhà tôn hai bên, khu Galang I. Con đường đi qua tới cuối đảo là khu Galang II đang xây cất. Lúc ấy cả đảo có chừng gần hai chục ngàn thuyền nhân, có người di chuyển từ Mã Lai, Thái Lan hoặc Hồng Kông tới. Thuyền nhân Hồng Kông thì có bề ngoài bảnh bao hơn những nơi khác đến. Nhiều lần tôi ở trong những người đại diện trại đón tiếp và cũng nhiều lần được nghe những mẫu chuyện về đời thuyền nhân. Có những nghẹn ngào cố nén xúc động khi nhắc về những người đã khuất và những chuyện thương tâm. Biển đưa người đi nhưng biển cũng vô tình giết người.
Ở đó, một cuộc sống tạm bợ lạ lùng bắt đầu. Cũng có các nơi phải đến: nơi cấp lương thực hai tuần một lần, nơi phát thư để mong có những liên hệ với thế giới bên ngoài, có văn phòng cao ủy để làm thủ tục định cư, có ban đại diện trại để lo những công tác công cộng.
Nhìn bề ngoài thì như vậy, nhưng trong thâm tâm mỗi người tị nạn chất chứa đầy ắp những nỗi niềm. Cá nhân tôi, may mắn mọi chuyện chót lọt, không phải lo lắng đến chuyện đi Mỹ nên tâm tư thoải mái hơn. Dù rằng, vẫn nghĩ về quê hương với nỗi ngậm ngùi. Còn phần đông, với mọi người là cảnh huống nóng lòng chờ đợi ngày đi định cư. Những ngày ở đảo, dài theo chuỗi đợi chờ. Có nhiều người bị ở đây cả năm nên tinh thần khá sa sút. Những cái loa, báo tin mừng, tin buồn. Người đi vui vẻ. Người ở lại, lo lắng đợi chờ.
Nhưng, có những nỗi đau đớn lớn hơn. Có những người mất mát thân nhân ngoài biển cả. “Nghĩ đắt vô cùng giá tự do”, câu thơ Thanh Nam thật là đúng. Ở barrack tôi ở có ông già người Hoa cả đại gia đình cả mấy chục người chỉ còn sót lại có hai ông cháu. Buổi tối ông cõng đứa cháu nội trên vai lủi thủi đi xem truyền hình rồi nặng nề trở về trong đêm tối trông đau đớn làm sao. Có lần ông kể trong nước mắt, cái đêm mà cả đại gia đình của ông bị lính Mã Lai áp tải lên thuyền tống ra khơi rồi tất cả bị sóng cuốn đi. Tiếng khóc nén trong lồng ngực nghe tội nghiệp. Xoa đầu đứa bé ba bốn tuổi, ông nói nếu không có nó chắc ông cũng chẳng sống làm gì. Những người như vậy, chắc đến lúc họ xuôi tay về với đất mới có thể quên lãng được nỗi đau đớn ấy.
Nếu có dịp trở lại, tôi sẽ ghé về để nhìn lại barrack mà mình đã sống gần sáu tháng. Cũng như, sẽ bồi hồi biết bao khi đứng ở cầu tầu để đón những người đến và tiễn những người đi. Con đường xuyên qua đảo, biết bao nhiêu kỷ niệm. Những hình bóng thoáng qua. Những cuộc tình vời vợi. Cũng có những nuối tiếc bâng khuâng, ngày ấy tuy đã hơn ba mươi tuổi mà sao nghe già cỗi cuộc đời. Mới đây hai mươi lăm năm. Và, những người muôn năm cũ.. Tôi chợt nhớ đến một bài hát làm tôi xúc động. Bài “Trên đảo Galang nghe người hát” của anh Trần Đình Quân, bây giờ đã khuất núi. Bài hát mà tôi đã nghe chính tác giả hát trong một cuộc họp mặt có rất đông những người viết văn làm thơ viết nhạc ở nhà tôi với tiếng đàn đệm dương cầm của chị Quỳnh Giao. Bài nhạc đã làm cho tôi rưng rưng và mắt đỏ đến
nỗi phải ra sau vườn để trấn tĩnh lại. Nốt nhạc buồn, ngôn ngữ bình dị nhưng truyền cảm, diễn tả một tam trạng mà bất cứ ai đã ở trại đảo đều cảm thấy. Hình như tôi đã thấy đôi mắt buồn vời vợi của người hát:
“Chiều qua trên đảo Galang, nghe người hát bài Kembali Ké Jakarta (trở về Jakarta). NgườiI có Jakarta, người có quê hương để trở về thăm nhà.
Chiều nay trên đảo Galang quê người xa lạ một mình nghe lòng đau. Trở về đâu. Về đâu?
Quê ta! Về đâu! Về đâu! Trở về đâu! Về đâu!?
Quê ta đó ta không được ở. Nhà ta đó ta phải bỏ đi.
Cha mẹ ta tủi buồn thương nhớ. Người yêu ta đau đớn lìa xa. Anh em ta âm thầm từ biệt. Bạn bè ta câm nín ngậm ngùi”
Điệp khúc về đâu, về đâu cứ xoáy mạnh trong tim người nghe. Về đâu bây giờ, những người đã bỏ mình trong biển cả? Về đâu bây giờ những người lưu lạc bỏ lại quê hương? Không phải một mình anh Trần Đình Quân có câu hỏi ấy, lúc đó. Mà, bây giờ, cũng có nhiều người ngậm ngùi hát điệp khúc ấy trong hồi ức như tôi, lúc này. Sao tôi muốn gửi theo những người thuyền nhân trở về thăm lại Galang, Bidong một chút tâm tình chia sẻ. Hãy thấp giùm tôi một nén nhang nơi nghĩa trang của những người nằm lại. Hãy đi giùm tôi lên nhà thờ trên dốc cao hay bước những bậc thang gỗ lên chùa để cầu nguyện và đa tạ đất trời. Tôi muốn cám ơn đất nước Indonesia đã dung chứa và bảo bọc chúng tôi. Tôi vẫn luôn luôn nghĩ mình là một người may mắn dù trong bất cứ hoàn cảnh ngặt nghèo nào. Làm lại cuộc đời ở tuổi trên ba mươi dù chậm nhưng vẫn còn chưa trễ. Định cư xứ người đi học, đi làm, tôi đã hiểu được cái giá mà khi mình vượt biển đã định. Cố gắng sao sống cho đúng con người, chu toàn bổn phận với chính bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình. Có phải, đó là điều tôi thực hiện? Xin ơn trên dìu dắt tôi đi trên con đường ấy!
Nguyễn Mạnh Trinh Như thói quen mỗi buổi sáng ở freeway trên con đường đến sở, tôi lơ đãng bật đài phát thanh để nghe cho đỡ đường dài. Bỗng nhiên, nghe đoạn phóng sự những người tị nạn về Galang thăm lại cảnh cũ xưa, tưởng như mình lạc vào một thế giới khác. Trước mặt, không thấy cảnh kẹt xe nữa. Suy nghĩ miên man, đi quá mấy exit mà không biết. Trong tâm, bùi ngùi cảm xúc. Hai mươi năm, qua thật mau. Một thời đã qua. Một đời tiếp nối. Tự nhiên, những người trăm năm cũ hiện về. Từ ký ức chẳng thể nào quên. Những ngày tháng ấy.
Tôi vượt biển vào tháng tám năm 1980. Cũng đã đi nhiều lần, cũng lên “cá lớn, cá nhỏ” nhiều bận, bị lừa gạt, chạy xát bất xang bang nhiều phen, rốt cuộc đến được xứ sở tạm dung vào một ngày trăng tròn. Đến đảo Kuku, khi nơi đây dân tị nạn vừa chuyển tiếp từng đợt qua đảo lớn Galang nên chỗ này hoang vu lắm. Những dãy nhà dài bỏ không, cây cỏ xanh um. Ngôi chùa ở lưng đồi, trơ những hàng cột và những tấm bạt ni- lông rách bươm phần phật trong gió. Và nghĩa địa, nơi những người tị nạn sớm bỏ dương trần, những bia gỗ sắp hàng trong cái lạnh lùng hoang dã không sinh khí.
Nhưng, phong cảnh đảo thì tuyệt đẹp. Đi sâu vào trong, có dòng suối, có những mỏm đá hữu tình. Bờ biển cát trắng, nước trong. Những ngày đầu, trăng sáng lồng lộng. Qua một hành trình mệt nhọc trên biển, bây giờ mới biết chắc mình còn sống. Lúc đầu, chân lơ lửng bềnh bồng như trên sóng. Mấy ngày sau, mới bình thường đi lại vững vàng trên mặt đất.
Thời khắc mà nhìn biển với màu xanh mù mịt thăm thẳm đã qua. Nhớ lại cảm giác,trên hành trình, nhìn đại dương xanh biền biệt một màu, nhất là vào những buổi chiều tắt nắng sao cô đơn và phập phồng chi lạ. Biển với những tay sóng thịnh nộ như lúc nào cũng muốn ra oai vùi dập với con người và con thuyền gỗ nhỏ bé. Biết bao nhiêu người vùi mình dưới đáy đại dương. Biết bao nhiêu con thuyền vỡ tan trong giông bão. Đến lúc nhìn thấy những cánh chim sao ấm áp quá. Đất đã hiện ra, và cái sống đã như trở lại.
Bây giờ, biển lại hiền hòa vỗ về bờ cát. Bây giờ, biển lại âm vang những khúc tình ca. Ngay cả khi trong những cơn mưa nhiệt đới, dù mù mịt ngoài khơi nhưng trong bờ nước ấm áp dễ chịu. Ngọn núi ở phía trong, với những đường mòn khuất khúc, với những khoảng rừng thưa, như hứa hẹn những không gian nào, nơi chốn nào cho tìm tòi khám phá. Hết rồi những ngày bị dòm ngó, bị đe dọa ở quê hương. Saigòn, có những lúc rưng rưng nhớ. Thành phố của những ngày mới lớn, của những mơ ước, của những nỗi niềm.
Ở Kuku nửa tháng rồi có tàu lớn chở qua Galang, một cuộc sống khác bắt đầu, như ở một phố nhỏ nào lạ lẫm. Một con đường trải nhựa từ bến tàu đi vào trung tâm đảo. Những dãy nhà tôn hai bên, khu Galang I. Con đường đi qua tới cuối đảo là khu Galang II đang xây cất. Lúc ấy cả đảo có chừng gần hai chục ngàn thuyền nhân, có người di chuyển từ Mã Lai, Thái Lan hoặc Hồng Kông tới. Thuyền nhân Hồng Kông thì có bề ngoài bảnh bao hơn những nơi khác đến. Nhiều lần tôi ở trong những người đại diện trại đón tiếp và cũng nhiều lần được nghe những mẫu chuyện về đời thuyền nhân. Có những nghẹn ngào cố nén xúc động khi nhắc về những người đã khuất và những chuyện thương tâm. Biển đưa người đi nhưng biển cũng vô tình giết người.
Ở đó, một cuộc sống tạm bợ lạ lùng bắt đầu. Cũng có các nơi phải đến: nơi cấp lương thực hai tuần một lần, nơi phát thư để mong có những liên hệ với thế giới bên ngoài, có văn phòng cao ủy để làm thủ tục định cư, có ban đại diện trại để lo những công tác công cộng.
Nhìn bề ngoài thì như vậy, nhưng trong thâm tâm mỗi người tị nạn chất chứa đầy ắp những nỗi niềm. Cá nhân tôi, may mắn mọi chuyện chót lọt, không phải lo lắng đến chuyện đi Mỹ nên tâm tư thoải mái hơn. Dù rằng, vẫn nghĩ về quê hương với nỗi ngậm ngùi. Còn phần đông, với mọi người là cảnh huống nóng lòng chờ đợi ngày đi định cư. Những ngày ở đảo, dài theo chuỗi đợi chờ. Có nhiều người bị ở đây cả năm nên tinh thần khá sa sút. Những cái loa, báo tin mừng, tin buồn. Người đi vui vẻ. Người ở lại, lo lắng đợi chờ.
Nhưng, có những nỗi đau đớn lớn hơn. Có những người mất mát thân nhân ngoài biển cả. “Nghĩ đắt vô cùng giá tự do”, câu thơ Thanh Nam thật là đúng. Ở barrack tôi ở có ông già người Hoa cả đại gia đình cả mấy chục người chỉ còn sót lại có hai ông cháu. Buổi tối ông cõng đứa cháu nội trên vai lủi thủi đi xem truyền hình rồi nặng nề trở về trong đêm tối trông đau đớn làm sao. Có lần ông kể trong nước mắt, cái đêm mà cả đại gia đình của ông bị lính Mã Lai áp tải lên thuyền tống ra khơi rồi tất cả bị sóng cuốn đi. Tiếng khóc nén trong lồng ngực nghe tội nghiệp. Xoa đầu đứa bé ba bốn tuổi, ông nói nếu không có nó chắc ông cũng chẳng sống làm gì. Những người như vậy, chắc đến lúc họ xuôi tay về với đất mới có thể quên lãng được nỗi đau đớn ấy.
Nếu có dịp trở lại, tôi sẽ ghé về để nhìn lại barrack mà mình đã sống gần sáu tháng. Cũng như, sẽ bồi hồi biết bao khi đứng ở cầu tầu để đón những người đến và tiễn những người đi. Con đường xuyên qua đảo, biết bao nhiêu kỷ niệm. Những hình bóng thoáng qua. Những cuộc tình vời vợi. Cũng có những nuối tiếc bâng khuâng, ngày ấy tuy đã hơn ba mươi tuổi mà sao nghe già cỗi cuộc đời. Mới đây hai mươi lăm năm. Và, những người muôn năm cũ.. Tôi chợt nhớ đến một bài hát làm tôi xúc động. Bài “Trên đảo Galang nghe người hát” của anh Trần Đình Quân, bây giờ đã khuất núi. Bài hát mà tôi đã nghe chính tác giả hát trong một cuộc họp mặt có rất đông những người viết văn làm thơ viết nhạc ở nhà tôi với tiếng đàn đệm dương cầm của chị Quỳnh Giao. Bài nhạc đã làm cho tôi rưng rưng và mắt đỏ đến
nỗi phải ra sau vườn để trấn tĩnh lại. Nốt nhạc buồn, ngôn ngữ bình dị nhưng truyền cảm, diễn tả một tam trạng mà bất cứ ai đã ở trại đảo đều cảm thấy. Hình như tôi đã thấy đôi mắt buồn vời vợi của người hát:
“Chiều qua trên đảo Galang, nghe người hát bài Kembali Ké Jakarta (trở về Jakarta). NgườiI có Jakarta, người có quê hương để trở về thăm nhà.
Chiều nay trên đảo Galang quê người xa lạ một mình nghe lòng đau. Trở về đâu. Về đâu?
Quê ta! Về đâu! Về đâu! Trở về đâu! Về đâu!?
Quê ta đó ta không được ở. Nhà ta đó ta phải bỏ đi.
Cha mẹ ta tủi buồn thương nhớ. Người yêu ta đau đớn lìa xa. Anh em ta âm thầm từ biệt. Bạn bè ta câm nín ngậm ngùi”
Điệp khúc về đâu, về đâu cứ xoáy mạnh trong tim người nghe. Về đâu bây giờ, những người đã bỏ mình trong biển cả? Về đâu bây giờ những người lưu lạc bỏ lại quê hương? Không phải một mình anh Trần Đình Quân có câu hỏi ấy, lúc đó. Mà, bây giờ, cũng có nhiều người ngậm ngùi hát điệp khúc ấy trong hồi ức như tôi, lúc này. Sao tôi muốn gửi theo những người thuyền nhân trở về thăm lại Galang, Bidong một chút tâm tình chia sẻ. Hãy thấp giùm tôi một nén nhang nơi nghĩa trang của những người nằm lại. Hãy đi giùm tôi lên nhà thờ trên dốc cao hay bước những bậc thang gỗ lên chùa để cầu nguyện và đa tạ đất trời. Tôi muốn cám ơn đất nước Indonesia đã dung chứa và bảo bọc chúng tôi. Tôi vẫn luôn luôn nghĩ mình là một người may mắn dù trong bất cứ hoàn cảnh ngặt nghèo nào. Làm lại cuộc đời ở tuổi trên ba mươi dù chậm nhưng vẫn còn chưa trễ. Định cư xứ người đi học, đi làm, tôi đã hiểu được cái giá mà khi mình vượt biển đã định. Cố gắng sao sống cho đúng con người, chu toàn bổn phận với chính bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình. Có phải, đó là điều tôi thực hiện? Xin ơn trên dìu dắt tôi đi trên con đường ấy!
GALANG MỘT THỜI MỘT ĐỜI
Nguyễn Mạnh Trinh Như thói quen mỗi buổi sáng ở freeway trên con đường đến sở, tôi lơ đãng bật đài phát thanh để nghe cho đỡ đường dài. Bỗng nhiên, nghe đoạn phóng sự những người tị nạn về Galang thăm lại cảnh cũ xưa, tưởng như mình lạc vào một thế giới khác. Trước mặt, không thấy cảnh kẹt xe nữa. Suy nghĩ miên man, đi quá mấy exit mà không biết. Trong tâm, bùi ngùi cảm xúc. Hai mươi năm, qua thật mau. Một thời đã qua. Một đời tiếp nối. Tự nhiên, những người trăm năm cũ hiện về. Từ ký ức chẳng thể nào quên. Những ngày tháng ấy.
Tôi vượt biển vào tháng tám năm 1980. Cũng đã đi nhiều lần, cũng lên “cá lớn, cá nhỏ” nhiều bận, bị lừa gạt, chạy xát bất xang bang nhiều phen, rốt cuộc đến được xứ sở tạm dung vào một ngày trăng tròn. Đến đảo Kuku, khi nơi đây dân tị nạn vừa chuyển tiếp từng đợt qua đảo lớn Galang nên chỗ này hoang vu lắm. Những dãy nhà dài bỏ không, cây cỏ xanh um. Ngôi chùa ở lưng đồi, trơ những hàng cột và những tấm bạt ni- lông rách bươm phần phật trong gió. Và nghĩa địa, nơi những người tị nạn sớm bỏ dương trần, những bia gỗ sắp hàng trong cái lạnh lùng hoang dã không sinh khí.
Nhưng, phong cảnh đảo thì tuyệt đẹp. Đi sâu vào trong, có dòng suối, có những mỏm đá hữu tình. Bờ biển cát trắng, nước trong. Những ngày đầu, trăng sáng lồng lộng. Qua một hành trình mệt nhọc trên biển, bây giờ mới biết chắc mình còn sống. Lúc đầu, chân lơ lửng bềnh bồng như trên sóng. Mấy ngày sau, mới bình thường đi lại vững vàng trên mặt đất.
Thời khắc mà nhìn biển với màu xanh mù mịt thăm thẳm đã qua. Nhớ lại cảm giác,trên hành trình, nhìn đại dương xanh biền biệt một màu, nhất là vào những buổi chiều tắt nắng sao cô đơn và phập phồng chi lạ. Biển với những tay sóng thịnh nộ như lúc nào cũng muốn ra oai vùi dập với con người và con thuyền gỗ nhỏ bé. Biết bao nhiêu người vùi mình dưới đáy đại dương. Biết bao nhiêu con thuyền vỡ tan trong giông bão. Đến lúc nhìn thấy những cánh chim sao ấm áp quá. Đất đã hiện ra, và cái sống đã như trở lại.
Bây giờ, biển lại hiền hòa vỗ về bờ cát. Bây giờ, biển lại âm vang những khúc tình ca. Ngay cả khi trong những cơn mưa nhiệt đới, dù mù mịt ngoài khơi nhưng trong bờ nước ấm áp dễ chịu. Ngọn núi ở phía trong, với những đường mòn khuất khúc, với những khoảng rừng thưa, như hứa hẹn những không gian nào, nơi chốn nào cho tìm tòi khám phá. Hết rồi những ngày bị dòm ngó, bị đe dọa ở quê hương. Saigòn, có những lúc rưng rưng nhớ. Thành phố của những ngày mới lớn, của những mơ ước, của những nỗi niềm.
Ở Kuku nửa tháng rồi có tàu lớn chở qua Galang, một cuộc sống khác bắt đầu, như ở một phố nhỏ nào lạ lẫm. Một con đường trải nhựa từ bến tàu đi vào trung tâm đảo. Những dãy nhà tôn hai bên, khu Galang I. Con đường đi qua tới cuối đảo là khu Galang II đang xây cất. Lúc ấy cả đảo có chừng gần hai chục ngàn thuyền nhân, có người di chuyển từ Mã Lai, Thái Lan hoặc Hồng Kông tới. Thuyền nhân Hồng Kông thì có bề ngoài bảnh bao hơn những nơi khác đến. Nhiều lần tôi ở trong những người đại diện trại đón tiếp và cũng nhiều lần được nghe những mẫu chuyện về đời thuyền nhân. Có những nghẹn ngào cố nén xúc động khi nhắc về những người đã khuất và những chuyện thương tâm. Biển đưa người đi nhưng biển cũng vô tình giết người.
Ở đó, một cuộc sống tạm bợ lạ lùng bắt đầu. Cũng có các nơi phải đến: nơi cấp lương thực hai tuần một lần, nơi phát thư để mong có những liên hệ với thế giới bên ngoài, có văn phòng cao ủy để làm thủ tục định cư, có ban đại diện trại để lo những công tác công cộng.
Nhìn bề ngoài thì như vậy, nhưng trong thâm tâm mỗi người tị nạn chất chứa đầy ắp những nỗi niềm. Cá nhân tôi, may mắn mọi chuyện chót lọt, không phải lo lắng đến chuyện đi Mỹ nên tâm tư thoải mái hơn. Dù rằng, vẫn nghĩ về quê hương với nỗi ngậm ngùi. Còn phần đông, với mọi người là cảnh huống nóng lòng chờ đợi ngày đi định cư. Những ngày ở đảo, dài theo chuỗi đợi chờ. Có nhiều người bị ở đây cả năm nên tinh thần khá sa sút. Những cái loa, báo tin mừng, tin buồn. Người đi vui vẻ. Người ở lại, lo lắng đợi chờ.
Nhưng, có những nỗi đau đớn lớn hơn. Có những người mất mát thân nhân ngoài biển cả. “Nghĩ đắt vô cùng giá tự do”, câu thơ Thanh Nam thật là đúng. Ở barrack tôi ở có ông già người Hoa cả đại gia đình cả mấy chục người chỉ còn sót lại có hai ông cháu. Buổi tối ông cõng đứa cháu nội trên vai lủi thủi đi xem truyền hình rồi nặng nề trở về trong đêm tối trông đau đớn làm sao. Có lần ông kể trong nước mắt, cái đêm mà cả đại gia đình của ông bị lính Mã Lai áp tải lên thuyền tống ra khơi rồi tất cả bị sóng cuốn đi. Tiếng khóc nén trong lồng ngực nghe tội nghiệp. Xoa đầu đứa bé ba bốn tuổi, ông nói nếu không có nó chắc ông cũng chẳng sống làm gì. Những người như vậy, chắc đến lúc họ xuôi tay về với đất mới có thể quên lãng được nỗi đau đớn ấy.
Nếu có dịp trở lại, tôi sẽ ghé về để nhìn lại barrack mà mình đã sống gần sáu tháng. Cũng như, sẽ bồi hồi biết bao khi đứng ở cầu tầu để đón những người đến và tiễn những người đi. Con đường xuyên qua đảo, biết bao nhiêu kỷ niệm. Những hình bóng thoáng qua. Những cuộc tình vời vợi. Cũng có những nuối tiếc bâng khuâng, ngày ấy tuy đã hơn ba mươi tuổi mà sao nghe già cỗi cuộc đời. Mới đây hai mươi lăm năm. Và, những người muôn năm cũ.. Tôi chợt nhớ đến một bài hát làm tôi xúc động. Bài “Trên đảo Galang nghe người hát” của anh Trần Đình Quân, bây giờ đã khuất núi. Bài hát mà tôi đã nghe chính tác giả hát trong một cuộc họp mặt có rất đông những người viết văn làm thơ viết nhạc ở nhà tôi với tiếng đàn đệm dương cầm của chị Quỳnh Giao. Bài nhạc đã làm cho tôi rưng rưng và mắt đỏ đến
nỗi phải ra sau vườn để trấn tĩnh lại. Nốt nhạc buồn, ngôn ngữ bình dị nhưng truyền cảm, diễn tả một tam trạng mà bất cứ ai đã ở trại đảo đều cảm thấy. Hình như tôi đã thấy đôi mắt buồn vời vợi của người hát:
“Chiều qua trên đảo Galang, nghe người hát bài Kembali Ké Jakarta (trở về Jakarta). NgườiI có Jakarta, người có quê hương để trở về thăm nhà.
Chiều nay trên đảo Galang quê người xa lạ một mình nghe lòng đau. Trở về đâu. Về đâu?
Quê ta! Về đâu! Về đâu! Trở về đâu! Về đâu!?
Quê ta đó ta không được ở. Nhà ta đó ta phải bỏ đi.
Cha mẹ ta tủi buồn thương nhớ. Người yêu ta đau đớn lìa xa. Anh em ta âm thầm từ biệt. Bạn bè ta câm nín ngậm ngùi”
Điệp khúc về đâu, về đâu cứ xoáy mạnh trong tim người nghe. Về đâu bây giờ, những người đã bỏ mình trong biển cả? Về đâu bây giờ những người lưu lạc bỏ lại quê hương? Không phải một mình anh Trần Đình Quân có câu hỏi ấy, lúc đó. Mà, bây giờ, cũng có nhiều người ngậm ngùi hát điệp khúc ấy trong hồi ức như tôi, lúc này. Sao tôi muốn gửi theo những người thuyền nhân trở về thăm lại Galang, Bidong một chút tâm tình chia sẻ. Hãy thấp giùm tôi một nén nhang nơi nghĩa trang của những người nằm lại. Hãy đi giùm tôi lên nhà thờ trên dốc cao hay bước những bậc thang gỗ lên chùa để cầu nguyện và đa tạ đất trời. Tôi muốn cám ơn đất nước Indonesia đã dung chứa và bảo bọc chúng tôi. Tôi vẫn luôn luôn nghĩ mình là một người may mắn dù trong bất cứ hoàn cảnh ngặt nghèo nào. Làm lại cuộc đời ở tuổi trên ba mươi dù chậm nhưng vẫn còn chưa trễ. Định cư xứ người đi học, đi làm, tôi đã hiểu được cái giá mà khi mình vượt biển đã định. Cố gắng sao sống cho đúng con người, chu toàn bổn phận với chính bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình. Có phải, đó là điều tôi thực hiện? Xin ơn trên dìu dắt tôi đi trên con đường ấy!
Nguyễn Mạnh Trinh Như thói quen mỗi buổi sáng ở freeway trên con đường đến sở, tôi lơ đãng bật đài phát thanh để nghe cho đỡ đường dài. Bỗng nhiên, nghe đoạn phóng sự những người tị nạn về Galang thăm lại cảnh cũ xưa, tưởng như mình lạc vào một thế giới khác. Trước mặt, không thấy cảnh kẹt xe nữa. Suy nghĩ miên man, đi quá mấy exit mà không biết. Trong tâm, bùi ngùi cảm xúc. Hai mươi năm, qua thật mau. Một thời đã qua. Một đời tiếp nối. Tự nhiên, những người trăm năm cũ hiện về. Từ ký ức chẳng thể nào quên. Những ngày tháng ấy.
Tôi vượt biển vào tháng tám năm 1980. Cũng đã đi nhiều lần, cũng lên “cá lớn, cá nhỏ” nhiều bận, bị lừa gạt, chạy xát bất xang bang nhiều phen, rốt cuộc đến được xứ sở tạm dung vào một ngày trăng tròn. Đến đảo Kuku, khi nơi đây dân tị nạn vừa chuyển tiếp từng đợt qua đảo lớn Galang nên chỗ này hoang vu lắm. Những dãy nhà dài bỏ không, cây cỏ xanh um. Ngôi chùa ở lưng đồi, trơ những hàng cột và những tấm bạt ni- lông rách bươm phần phật trong gió. Và nghĩa địa, nơi những người tị nạn sớm bỏ dương trần, những bia gỗ sắp hàng trong cái lạnh lùng hoang dã không sinh khí.
Nhưng, phong cảnh đảo thì tuyệt đẹp. Đi sâu vào trong, có dòng suối, có những mỏm đá hữu tình. Bờ biển cát trắng, nước trong. Những ngày đầu, trăng sáng lồng lộng. Qua một hành trình mệt nhọc trên biển, bây giờ mới biết chắc mình còn sống. Lúc đầu, chân lơ lửng bềnh bồng như trên sóng. Mấy ngày sau, mới bình thường đi lại vững vàng trên mặt đất.
Thời khắc mà nhìn biển với màu xanh mù mịt thăm thẳm đã qua. Nhớ lại cảm giác,trên hành trình, nhìn đại dương xanh biền biệt một màu, nhất là vào những buổi chiều tắt nắng sao cô đơn và phập phồng chi lạ. Biển với những tay sóng thịnh nộ như lúc nào cũng muốn ra oai vùi dập với con người và con thuyền gỗ nhỏ bé. Biết bao nhiêu người vùi mình dưới đáy đại dương. Biết bao nhiêu con thuyền vỡ tan trong giông bão. Đến lúc nhìn thấy những cánh chim sao ấm áp quá. Đất đã hiện ra, và cái sống đã như trở lại.
Bây giờ, biển lại hiền hòa vỗ về bờ cát. Bây giờ, biển lại âm vang những khúc tình ca. Ngay cả khi trong những cơn mưa nhiệt đới, dù mù mịt ngoài khơi nhưng trong bờ nước ấm áp dễ chịu. Ngọn núi ở phía trong, với những đường mòn khuất khúc, với những khoảng rừng thưa, như hứa hẹn những không gian nào, nơi chốn nào cho tìm tòi khám phá. Hết rồi những ngày bị dòm ngó, bị đe dọa ở quê hương. Saigòn, có những lúc rưng rưng nhớ. Thành phố của những ngày mới lớn, của những mơ ước, của những nỗi niềm.
Ở Kuku nửa tháng rồi có tàu lớn chở qua Galang, một cuộc sống khác bắt đầu, như ở một phố nhỏ nào lạ lẫm. Một con đường trải nhựa từ bến tàu đi vào trung tâm đảo. Những dãy nhà tôn hai bên, khu Galang I. Con đường đi qua tới cuối đảo là khu Galang II đang xây cất. Lúc ấy cả đảo có chừng gần hai chục ngàn thuyền nhân, có người di chuyển từ Mã Lai, Thái Lan hoặc Hồng Kông tới. Thuyền nhân Hồng Kông thì có bề ngoài bảnh bao hơn những nơi khác đến. Nhiều lần tôi ở trong những người đại diện trại đón tiếp và cũng nhiều lần được nghe những mẫu chuyện về đời thuyền nhân. Có những nghẹn ngào cố nén xúc động khi nhắc về những người đã khuất và những chuyện thương tâm. Biển đưa người đi nhưng biển cũng vô tình giết người.
Ở đó, một cuộc sống tạm bợ lạ lùng bắt đầu. Cũng có các nơi phải đến: nơi cấp lương thực hai tuần một lần, nơi phát thư để mong có những liên hệ với thế giới bên ngoài, có văn phòng cao ủy để làm thủ tục định cư, có ban đại diện trại để lo những công tác công cộng.
Nhìn bề ngoài thì như vậy, nhưng trong thâm tâm mỗi người tị nạn chất chứa đầy ắp những nỗi niềm. Cá nhân tôi, may mắn mọi chuyện chót lọt, không phải lo lắng đến chuyện đi Mỹ nên tâm tư thoải mái hơn. Dù rằng, vẫn nghĩ về quê hương với nỗi ngậm ngùi. Còn phần đông, với mọi người là cảnh huống nóng lòng chờ đợi ngày đi định cư. Những ngày ở đảo, dài theo chuỗi đợi chờ. Có nhiều người bị ở đây cả năm nên tinh thần khá sa sút. Những cái loa, báo tin mừng, tin buồn. Người đi vui vẻ. Người ở lại, lo lắng đợi chờ.
Nhưng, có những nỗi đau đớn lớn hơn. Có những người mất mát thân nhân ngoài biển cả. “Nghĩ đắt vô cùng giá tự do”, câu thơ Thanh Nam thật là đúng. Ở barrack tôi ở có ông già người Hoa cả đại gia đình cả mấy chục người chỉ còn sót lại có hai ông cháu. Buổi tối ông cõng đứa cháu nội trên vai lủi thủi đi xem truyền hình rồi nặng nề trở về trong đêm tối trông đau đớn làm sao. Có lần ông kể trong nước mắt, cái đêm mà cả đại gia đình của ông bị lính Mã Lai áp tải lên thuyền tống ra khơi rồi tất cả bị sóng cuốn đi. Tiếng khóc nén trong lồng ngực nghe tội nghiệp. Xoa đầu đứa bé ba bốn tuổi, ông nói nếu không có nó chắc ông cũng chẳng sống làm gì. Những người như vậy, chắc đến lúc họ xuôi tay về với đất mới có thể quên lãng được nỗi đau đớn ấy.
Nếu có dịp trở lại, tôi sẽ ghé về để nhìn lại barrack mà mình đã sống gần sáu tháng. Cũng như, sẽ bồi hồi biết bao khi đứng ở cầu tầu để đón những người đến và tiễn những người đi. Con đường xuyên qua đảo, biết bao nhiêu kỷ niệm. Những hình bóng thoáng qua. Những cuộc tình vời vợi. Cũng có những nuối tiếc bâng khuâng, ngày ấy tuy đã hơn ba mươi tuổi mà sao nghe già cỗi cuộc đời. Mới đây hai mươi lăm năm. Và, những người muôn năm cũ.. Tôi chợt nhớ đến một bài hát làm tôi xúc động. Bài “Trên đảo Galang nghe người hát” của anh Trần Đình Quân, bây giờ đã khuất núi. Bài hát mà tôi đã nghe chính tác giả hát trong một cuộc họp mặt có rất đông những người viết văn làm thơ viết nhạc ở nhà tôi với tiếng đàn đệm dương cầm của chị Quỳnh Giao. Bài nhạc đã làm cho tôi rưng rưng và mắt đỏ đến
nỗi phải ra sau vườn để trấn tĩnh lại. Nốt nhạc buồn, ngôn ngữ bình dị nhưng truyền cảm, diễn tả một tam trạng mà bất cứ ai đã ở trại đảo đều cảm thấy. Hình như tôi đã thấy đôi mắt buồn vời vợi của người hát:
“Chiều qua trên đảo Galang, nghe người hát bài Kembali Ké Jakarta (trở về Jakarta). NgườiI có Jakarta, người có quê hương để trở về thăm nhà.
Chiều nay trên đảo Galang quê người xa lạ một mình nghe lòng đau. Trở về đâu. Về đâu?
Quê ta! Về đâu! Về đâu! Trở về đâu! Về đâu!?
Quê ta đó ta không được ở. Nhà ta đó ta phải bỏ đi.
Cha mẹ ta tủi buồn thương nhớ. Người yêu ta đau đớn lìa xa. Anh em ta âm thầm từ biệt. Bạn bè ta câm nín ngậm ngùi”
Điệp khúc về đâu, về đâu cứ xoáy mạnh trong tim người nghe. Về đâu bây giờ, những người đã bỏ mình trong biển cả? Về đâu bây giờ những người lưu lạc bỏ lại quê hương? Không phải một mình anh Trần Đình Quân có câu hỏi ấy, lúc đó. Mà, bây giờ, cũng có nhiều người ngậm ngùi hát điệp khúc ấy trong hồi ức như tôi, lúc này. Sao tôi muốn gửi theo những người thuyền nhân trở về thăm lại Galang, Bidong một chút tâm tình chia sẻ. Hãy thấp giùm tôi một nén nhang nơi nghĩa trang của những người nằm lại. Hãy đi giùm tôi lên nhà thờ trên dốc cao hay bước những bậc thang gỗ lên chùa để cầu nguyện và đa tạ đất trời. Tôi muốn cám ơn đất nước Indonesia đã dung chứa và bảo bọc chúng tôi. Tôi vẫn luôn luôn nghĩ mình là một người may mắn dù trong bất cứ hoàn cảnh ngặt nghèo nào. Làm lại cuộc đời ở tuổi trên ba mươi dù chậm nhưng vẫn còn chưa trễ. Định cư xứ người đi học, đi làm, tôi đã hiểu được cái giá mà khi mình vượt biển đã định. Cố gắng sao sống cho đúng con người, chu toàn bổn phận với chính bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình. Có phải, đó là điều tôi thực hiện? Xin ơn trên dìu dắt tôi đi trên con đường ấy!
Tán tỉnh
Nguyễn Ðạt Thịnh
Chuyện không ai biết là ngày còn nhỏ -14 tuổi- tôi ở sát vách nhà bà Nguyễn thị Bình, có lúc đã làm đến chức phó chủ tịch của cái nước Việt Nam cộng sản hôm nay; chúng tôi cùng ở trên đường Frostin, Tân Ðịnh; tôi là một thằng bé mới lớn, và cô Bình (không mang tên Bình, mà mang một cái tên khác, vô cùng đẹp hơn) khoảng trên 20, nhưng chưa gần 30.
Ngày đó mới học lớp 8, chưa liên hệ gì đến báo chí, văn chương, nhưng có thể cái “nòi” văn nghệ đa tình đã có sẵn từ bẩm sinh, tôi mê nàng như điếu đổ; nàng hơn tôi khoảng 10 tuổi, nhưng, dĩ nhiên, cái tuổi hơn đó không có nghĩa là nàng già, khi nàng mới 24 (tôi ước đoán).
Tôi hãnh diện được nàng sai vặt, “lấy cho chị cái này, cái khác”; một lần nàng bảo tôi nhét khẩu súng lục nhỏ xíu vào cái nón chụp đầu của cái áo mưa nàng đang mặc; tôi hãnh diện tuân lệnh.
Nàng bảo tôi, “em sờ coi nó có cộm quá không?” Tôi run rẩy “sờ” vào khẩu súng, run không vì sợ súng mà vì sung sướng được đụng vào người nàng; có lẽ vì chưa thấy tôi sờ gì cả nàng bảo tôi, “em nhét cái mũ vào cái áo trong thử xem có kín hơn không.” Tôi còn đang lọng cọng không biết làm cách nào để nhét cái nón áo mưa vào sau lưng cái áo nàng đang mặc, thì C.S. (tên thật của bà Bình) kéo bung lớp nút áo bảo tôi, “nhét nó vô”.
Bẩy năm sau, tôi đi lính bảo vệ miền Nam, nàng vẫn theo đuổi con đường khiến chán, hai con đường song song như hai thanh đường sắt, rất gần nhau, nhưng không hy vọng gì gặp nhau.
Ít nhất trong những năm niên thiếu tôi yêu nàng bằng mối tình trẻ dại? Tôi nghĩ vậy.
Hôm nay, 65 năm sau nàng bảo tôi, "Với Mỹ, chúng ta sẵn sàng “gác” quá khứ, để hợp tác, nhìn về tương lai, thì không lý do gì, người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc, mà không thể hòa hợp, đoàn kết với nhau để xây dựng tương lai cho đất nước mình".
Tôi “xây nô” với câu nói dễ thương đó, không phải vì, năm nay, cái khoảng cách 10 tuổi làm bà nhìn quá già, mà tôi còn thấy bà nhìn giống như một mẹ mìn, mặt mày đanh ác khiến lời tống tình nghe vô duyên.
Tôi nói cùng một ngôn ngữ với bà Bình, nhưng tôi không phải là người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc với bả. Tôi là người Việt Nam bả là người Việt Cộng, một thứ người khác, nhân danh Việt Nam để tàn phá Việt Nam.
Một anh mẹ mìn khác là giáo sư Cao Huy Thuần. Mẹ mìn Thuần cũng dụ dỗ người Việt hải ngoại; Thuần nói, “Đã gọi là dân tộc, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác?...Hòa hợp dân tộc không phải là hòa giải giữa trong với ngoài. Đó là hòa hợp giữa dân với Đảng, giữa Đảng với dân.”
Anh này lương thiện hơn mẹ mìn Bình, anh biết giữa người Việt quốc nội với người Việt hải ngoại không có bất hòa nào đến nỗi cần hòa giải cả; anh còn biết người Việt trong với ngoài, tuy hai mà một. Mọi bất hoà chỉ có giữa Việt Cộng với Việt Nam thôi.
Bất hòa xẩy ra không phải vì người Việt Nam bắt người Việt Cộng bỏ tù, mà ngược lại; và đã như vậy, nếu Việt Cộng muốn hòa giải dân tộc thì chúng nó chỉ cần mở cửa tù ngục, thả người Việt Nam ra.
Mẹ mìn Thuần còn dịch một bài thơ tiếng Tây mô tả thái độ của người lính bại trận và anh tướng thắng trận. Bài thơ như sau:
SAU TRẬN ĐÁNH
Chiến trường đầy xác chết
Khi trận đánh vừa xong
Cha tôi trên mình ngựa
Duyệt chiến trận một vòng.
Đêm xuống. Ai rên rỉ
Giữa bóng tối thê lương?
Viên sĩ quan hầu cận
Thưa: lính bại ven đường.
Máu thấm hoen cỏ dại
Tên lính chết nửa người
Hổn hển. Thở. Kêu cứu
"Nước! Nước! Nước! Người ơi!"
Sĩ quan! Đây bình rượu
Uống đi, kẻ thương binh!
Viên sĩ quan cúi xuống
Kề miệng dốc ngược bình.
Như chớp, người kia rút
Súng nổ đạn vèo bay
Mũ cha tôi rơi xuống
Ngựa cong vó vẫy tai.
Thản nhiên cha tôi nói :
"Cứ cho uống tràn đầy".
Ông tướng Tây trong bài thơ cho người thương binh địch uống cô nhắc; tướng Việt Cộng cho thương binh Việt Nam đi mò tôm, uống nước cống. Người thương binh Tây bắn tên tướng thắng trận, nhưng người Việt Nam không cần đến bạo lực cũng đủ làm tướng Việt Cộng điên lên mà chết: trong nước họ chỉ cần viết blog, ngoài hải ngoại họ chỉ cần múa cờ vàng là đủ làm tướng giặc lên cơn sốt mê sảng, nói không ra tiếng.
Thị Bình và anh Thuần cứ hỏi những tên chóp bu Việt Cộng đã có lần dại dột xuất ngoại để biết kinh nghiệm chúng ngất xỉu vì dị ứng cờ vàng.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh
Chuyện không ai biết là ngày còn nhỏ -14 tuổi- tôi ở sát vách nhà bà Nguyễn thị Bình, có lúc đã làm đến chức phó chủ tịch của cái nước Việt Nam cộng sản hôm nay; chúng tôi cùng ở trên đường Frostin, Tân Ðịnh; tôi là một thằng bé mới lớn, và cô Bình (không mang tên Bình, mà mang một cái tên khác, vô cùng đẹp hơn) khoảng trên 20, nhưng chưa gần 30.
Ngày đó mới học lớp 8, chưa liên hệ gì đến báo chí, văn chương, nhưng có thể cái “nòi” văn nghệ đa tình đã có sẵn từ bẩm sinh, tôi mê nàng như điếu đổ; nàng hơn tôi khoảng 10 tuổi, nhưng, dĩ nhiên, cái tuổi hơn đó không có nghĩa là nàng già, khi nàng mới 24 (tôi ước đoán).
Tôi hãnh diện được nàng sai vặt, “lấy cho chị cái này, cái khác”; một lần nàng bảo tôi nhét khẩu súng lục nhỏ xíu vào cái nón chụp đầu của cái áo mưa nàng đang mặc; tôi hãnh diện tuân lệnh.
Nàng bảo tôi, “em sờ coi nó có cộm quá không?” Tôi run rẩy “sờ” vào khẩu súng, run không vì sợ súng mà vì sung sướng được đụng vào người nàng; có lẽ vì chưa thấy tôi sờ gì cả nàng bảo tôi, “em nhét cái mũ vào cái áo trong thử xem có kín hơn không.” Tôi còn đang lọng cọng không biết làm cách nào để nhét cái nón áo mưa vào sau lưng cái áo nàng đang mặc, thì C.S. (tên thật của bà Bình) kéo bung lớp nút áo bảo tôi, “nhét nó vô”.
Bẩy năm sau, tôi đi lính bảo vệ miền Nam, nàng vẫn theo đuổi con đường khiến chán, hai con đường song song như hai thanh đường sắt, rất gần nhau, nhưng không hy vọng gì gặp nhau.
Ít nhất trong những năm niên thiếu tôi yêu nàng bằng mối tình trẻ dại? Tôi nghĩ vậy.
Hôm nay, 65 năm sau nàng bảo tôi, "Với Mỹ, chúng ta sẵn sàng “gác” quá khứ, để hợp tác, nhìn về tương lai, thì không lý do gì, người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc, mà không thể hòa hợp, đoàn kết với nhau để xây dựng tương lai cho đất nước mình".
Tôi “xây nô” với câu nói dễ thương đó, không phải vì, năm nay, cái khoảng cách 10 tuổi làm bà nhìn quá già, mà tôi còn thấy bà nhìn giống như một mẹ mìn, mặt mày đanh ác khiến lời tống tình nghe vô duyên.
Tôi nói cùng một ngôn ngữ với bà Bình, nhưng tôi không phải là người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc với bả. Tôi là người Việt Nam bả là người Việt Cộng, một thứ người khác, nhân danh Việt Nam để tàn phá Việt Nam.
Một anh mẹ mìn khác là giáo sư Cao Huy Thuần. Mẹ mìn Thuần cũng dụ dỗ người Việt hải ngoại; Thuần nói, “Đã gọi là dân tộc, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác?...Hòa hợp dân tộc không phải là hòa giải giữa trong với ngoài. Đó là hòa hợp giữa dân với Đảng, giữa Đảng với dân.”
Anh này lương thiện hơn mẹ mìn Bình, anh biết giữa người Việt quốc nội với người Việt hải ngoại không có bất hòa nào đến nỗi cần hòa giải cả; anh còn biết người Việt trong với ngoài, tuy hai mà một. Mọi bất hoà chỉ có giữa Việt Cộng với Việt Nam thôi.
Bất hòa xẩy ra không phải vì người Việt Nam bắt người Việt Cộng bỏ tù, mà ngược lại; và đã như vậy, nếu Việt Cộng muốn hòa giải dân tộc thì chúng nó chỉ cần mở cửa tù ngục, thả người Việt Nam ra.
Mẹ mìn Thuần còn dịch một bài thơ tiếng Tây mô tả thái độ của người lính bại trận và anh tướng thắng trận. Bài thơ như sau:
SAU TRẬN ĐÁNH
Chiến trường đầy xác chết
Khi trận đánh vừa xong
Cha tôi trên mình ngựa
Duyệt chiến trận một vòng.
Đêm xuống. Ai rên rỉ
Giữa bóng tối thê lương?
Viên sĩ quan hầu cận
Thưa: lính bại ven đường.
Máu thấm hoen cỏ dại
Tên lính chết nửa người
Hổn hển. Thở. Kêu cứu
"Nước! Nước! Nước! Người ơi!"
Sĩ quan! Đây bình rượu
Uống đi, kẻ thương binh!
Viên sĩ quan cúi xuống
Kề miệng dốc ngược bình.
Như chớp, người kia rút
Súng nổ đạn vèo bay
Mũ cha tôi rơi xuống
Ngựa cong vó vẫy tai.
Thản nhiên cha tôi nói :
"Cứ cho uống tràn đầy".
Ông tướng Tây trong bài thơ cho người thương binh địch uống cô nhắc; tướng Việt Cộng cho thương binh Việt Nam đi mò tôm, uống nước cống. Người thương binh Tây bắn tên tướng thắng trận, nhưng người Việt Nam không cần đến bạo lực cũng đủ làm tướng Việt Cộng điên lên mà chết: trong nước họ chỉ cần viết blog, ngoài hải ngoại họ chỉ cần múa cờ vàng là đủ làm tướng giặc lên cơn sốt mê sảng, nói không ra tiếng.
Thị Bình và anh Thuần cứ hỏi những tên chóp bu Việt Cộng đã có lần dại dột xuất ngoại để biết kinh nghiệm chúng ngất xỉu vì dị ứng cờ vàng.
Nguyễn Ðạt Thịnh

