Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ðọc 'Những Người Muôn Năm Cũ' của Huy Phương

GS Ðàm Trung Pháp
Như một thói quen thường làm khi gặp sách hay, tôi đã đọc tác phẩm trên hai lần. Lần đầu qua “lăng kính thưởng ngoạn” với trái tim đóng vai chủ động. Rồi quay lại để đọc chúng qua “lăng kính hàn lâm” với trí tuệ đóng vai chính để tìm ra lý do, qua phân tích nội dung tác phẩm và văn phong tác giả, tại sao tôi mến mộ những cuốn sách này.

Ðọc xong, tôi mến anh vì anh từng là nhà giáo, ngưỡng mộ anh vì văn tài, thương anh vì những ngày khổ ải sau quốc nạn 1975, quý trọng anh vì bản chất hiền hòa đôn hậu, và biết ơn anh đã chia sẻ những kinh nghiệm sống khi trực diện biến cố đổi đời nghiệt ngã ở quê nhà cũng như những thử thách gây ra bởi xung đột văn hóa tại quê người.

Tập truyện “Những Người Muôn Năm Cũ” (NNMNC) gồm 18 truyện ngắn mà nội dung làm tê tái cõi lòng người đọc. Tất cả các truyện đều hay, nhưng tôi thích nhất các truyện sau đây.

“Bếp Lửa Ngày Về” là câu chuyện của người tù cải tạo tên Hựu khi trở về nhà sau tám năm khổ cực. Trên đường về, anh được nhiều người thương cảm: anh lơ xe đò nhất định không lấy tiền xe, một bà già ngồi bên mời anh trái quít. Nhưng anh cũng bị một người tự nhận là “huynh đệ chi binh” chém quá nhiều tiền sau chuyến xe ôm, mặc dù hắn nói, “Chặt ai thì chặt, chứ không nhẽ chặt đàn anh!” Cảm động nhất là lúc anh vào nhà cũ thấy đứa con trai nhỏ đang ngồi nhặt gạo trên chiếc ghế nhỏ, và vợ anh vừa đi đâu về, xuất hiện trên bậc cửa - “Chị đứng đó, không kêu lên một tiếng, không bước lại gần anh, chỉ đứng lặng với hai dòng nước mắt trào ra.”

“Dưới Mái Từ Ðường” lưu lại cho người đọc những hình ảnh cô đơn đến rợn người. Ðây là câu chuyện của tác giả khi trở về thăm ngôi từ đường bên ngoại trang nghiêm, u tịch, trong đó có bàn thờ, bài vị, hình ảnh của những người đã mất. Người duy nhất còn lại để trông coi ngôi từ đường là “dì Thuần” xưa kia là một thiếu nữ gia thế, xinh đẹp, nay là một cô gái già hiu quạnh. Tập tục nặng nề của Huế đã giết chết mối tình đầu của dì. Giã từ chốn ấy, Huy Phương bị ám ảnh bởi “hình ảnh dì Thuần già nua, héo úa trong gian nhà đầy những khung ảnh thờ của những người quá vãng trong gia tộc, gian nhà tranh tối tranh sáng, không bao giờ có được một tia nắng rọi vào.”

Tôi không biết Huy Phương đã tốn bao nhiêu hộp Kleenex để lau nước mắt khi viết truyện “Những Ngày Buồn Thảm” để kính tặng hương hồn thân mẫu (mà anh phải gọi bằng “dì”), với câu mở đầu bộc trực: “Dì tôi lấy chồng từ năm 18 tuổi, nói cho đúng ra là đi làm hầu cha tôi.” Cha Huy Phương là một thầy giáo kiêm nghề thầy thuốc bắc cũng là “một gia trưởng nghiêm khắc, vũ phu, và độc đoán.” Lúc ấy Huy Phương năm tuổi, và theo lời anh: “Một đêm nào đó, tôi bỗng choàng thức dậy, không thấy dì tôi bên giường và tiếng la hét ầm ĩ nổi lên, tiếng đánh đập rợn người, cùng với tiếng khóc kể lể của dì tôi. Dì tôi càng khóc càng kể lể thì cha tôi càng đánh đập nặng tay.” Vì sao nên nỗi? Thưa, tất cả chỉ vì “hoàn cảnh khó khăn, vất vả thể xác, đau khổ tinh thần, thương mẹ, bênh em đã đổ hết những bực bội lên đầu dì tôi.” Vậy mà, mãi về sau, khi thấy cha tiều tụy với tuổi già, Huy Phương vẫn thấy xót xa thương cha và cảm thấy “những oán hận trong lòng tôi chừng như đã hoàn toàn phai nhạt.” Câu chuyện buồn thảm này còn có một giá trị xã hội học vì nó đã ghi lại, qua một nhân chứng sống, một nếp sinh hoạt gia đình rất phiền toái và khổ đau của người dân Việt trong giai đoạn ấy.

“Huế Của Một Thời” là một bài học hấp dẫn về lối sống, cái ăn, cái ngủ của người Huế. Tôi thích nhất các chi tiết sau đây: “Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác” (trang 58 ). “Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng người Huế cũng không muốn cho ai biết.” (Trang 59). “Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của những linh hồn oan khuất.” (Trang 61). Và tôi ngậm ngùi với câu kết của Huy Phương về thành phố cổ kính này, “Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là nơi đi để mà nhớ, không phải để ở mà thương.” (Trang 65).

Qua lăng kính hàn lâm, một truyện ngắn có giá trị phải có một số đặc điểm, nhất là các đặc điểm sau đây: (1) Trong cốt truyện (plot) phải có một xung khắc (conflict) tăng dần để dẫn đến mức căng thẳng (tension) giữa những nhân vật. (2) Cao điểm (climax) của truyện là đoạn bi tráng (dramatic) hoặc hưng phấn (exciting) nhất; đây là lúc nhân vật chính như nhận thức ra được một điều gì hoặc đi đến một quyết định. (3) Phần kết thúc phải đưa ra một dung giải (resolution) cho mức căng thẳng, thường là một tư duy sâu sắc hé lộ một khía cạnh của nhân bản.

Các truyện ngắn và một số trong các “tạp ghi” (theo tôi, tương đương về ý nghĩa với “essays” trong tiếng Anh) có chứa đựng những đặc điểm nêu trên mà tôi sẽ chứng minh trong chốc lát, cùng với những điểm son khác của nhà văn Huy Phương. Cũng nên nói thêm, văn phong anh trong sáng giản dị, phản ánh lối viết của một nhà giáo nghiêm trang - quả thực, trong tất cả các tác phẩm tôi đã đọc của anh, tôi chưa hề thấy một “câu cụt” hoặc một câu tối nghĩa nào. Anh cũng không làm dáng, không dùng sáo ngữ, vì anh trân trọng chữ nghĩa và kính trọng độc giả của anh. Tôi thiết nghĩ những ai trong chúng ta muốn viết truyện ngắn hay tạp ghi có thể lấy lối viết Huy Phương làm mẫu mực.

Có lẽ truyện ngắn “Những Ngày Buồn Thảm” duy trì được mức căng thẳng dữ dội nhất, qua sự mô tả sống động sự xung khắc ngột ngạt giữa “cái gia đình vợ chính, nàng hầu của cha tôi” (NNMNC trang 103) là nguyên nhân đã dẫn tới nhiều bi đát. Cũng trong NNMNC, truyện ngắn “Người Tù Buồn” cho độc giả thấy mức căng thẳng giữa “Hải tóc quăn” và các bạn tù cải tạo hầu như lúc nào cũng ngùn ngụt.

Cao điểm là lúc một sự thực - bất kể xấu hay tốt - được soi sáng. Ðó là điều sẽ lưu lại trong tâm tư lâu nhất. Tạp ghi “Tổ Trống” được Huy Phương viết sau cuộc viếng thăm hai vợ chồng người bạn đã già, con cái ở xa, hiện đang ở ngôi nhà rộng lớn trống trải. Truyện này có một cao điểm đã ám ảnh tôi mãi, vì vợ chồng chúng tôi cũng đang sinh sống trong một “tổ trống” (empty nest). Trong đoạn văn dưới đây, những câu của cao điểm này được gạch dưới, “Về già, anh chị ngủ riêng vì cho rằng ngủ chung khó ngủ. Anh độc chiếm căn phòng lớn ở dưới basement với lý do là bề bộn sách vở hay nghe nhạc đến khuya. Phần chị còn lại là 4 phòng ngủ ở trên cùng với phòng khách rộng thênh thang, vắng lặng. Ðêm qua, lúc thức giấc, tôi nghe tiếng chị ho ở phòng bên, chuỗi ho kéo dài từng chập. Ở dưới kia, chắc anh đã ngủ say. Các con chị giờ này ở xa.” (NXCÐ trang 45)

Trong truyện ngắn “Người Tù Buồn” Huy Phương đã dung giải nổi xung khắc với Hải “tóc quăn” một cách cao thượng khiến người đọc phải mủi lòng về sự độ lượng của anh, “Quả thật bọn ta xấu hổ vì có một thằng bạn tù như mày. Nhưng thôi, mong được gặp mày một ngày nào đó... Dù sao mày cũng là một con người hèn yếu, chỉ mong sao mày thấy rõ được con người của mày. Hãy bắt tay tao và không cần thiết phải nói một lời xin lỗi đâu.” (NNMNC trang 183)

Sử dụng ẩn dụ đắc địa là một biệt tài của Huy Phương. Trong tạp ghi “Chiếc Bình Trà Sứt Vòi Trên Nhà Thủy Tạ Ðà Lạt” tôi thấy anh đã dùng ẩn dụ “bình trà vàng ố, sứt vòi, vỡ nắp” để làm biểu tượng cho sự đi xuống thảm thê của Ðà Lạt (và của cả nước) sau ngày miền Nam sụp đổ. Mùa mưa 1988 Huy Phương trở lại Ðà Lạt, vào một quán cà phê. Theo lời anh, “Trong khi chờ cà-phê, người nữ mậu dịch quốc doanh đem ra một bình trà và 2 chiếc tách để xuống bàn. Tôi đang lơ mơ mải nhìn qua phía bên kia hồ, tiếng động làm tôi quay lại. Bạn ơi, trên mặt bàn là một bình trà sứt vòi, vỡ nắp và 2 chiếc chén, tất cả đều bằng sành. Tôi định kêu người mậu dịch viên trở lại nhưng cô ấy đã khuất sau cánh cửa... Trong trí nhớ tôi, tôi vẫn thường nghĩ về một Ðà Lạt dịu dàng, sang trọng đẹp đẽ, mặc dù điều ấy giờ đây có thể sai. Nhưng chiếc bình trà vàng ố, sứt vòi, vỡ nắp nằm thách đố trên chiếc bàn, dưới ánh đèn làm tôi cảm thấy nghẹn tức, như có một điều gì bất như ý hiện ra trong lúc tôi đang vui.” (NMLL trang 35)

Nhiều kinh nghiệm cuộc đời Huy Phương chia sẻ trong tác phẩm thực mãnh liệt và làm giàu kiến thức người đọc. Tưởng cũng nên biết rằng nền giáo dục xứ này đánh giá sự thủ đắc kiến thức qua kinh nghiệm người khác (vicarious experience) rất cao. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được sự chia sẻ kinh nghiệm sống này của Huy Phương trong tạp ghi “Tôi Biết Thế Nào Anh Cũng Ðến”: “Thật ra điều kinh khủng ở trong các trại tù không phải là bị bỏ đói, lao động khổ sai hay bị hành hạ mà chính là thấy tháng ngày vô vọng, và nỗi đau đớn thấy mình bị bỏ quên, mất hết lòng tin về những chiến hữu hay những đồng minh đã kề vai sát cánh cùng nhau ngày trước.” (NXCÐ trang 9)

Nhưng chính cái bản chất đôn hậu, nhân ái, và đạo đức lồ lộ của Huy Phương trong các tác phẩm đã làm tôi quý anh nhất. Tạp ghi “Nỗi Ðau Của Ðồng Loại” có những lời anh nói về một vị chân tu Phật Giáo người Việt ở Canada làm tôi cảm động vô cùng. Vị chân tu này đã quyết định bán miếng đất vừa mua để xây chùa mới, lấy nửa triệu Mỹ kim để cứu giúp nạn nhân sóng thần ở Nam Á. Huy Phương viết, “Việc làm của thầy Nguyên Thảo ở Canada đã làm cho chúng tôi ứa nước mắt vì sung sướng và hãnh diện để còn có lòng tin rằng trên đời này còn có thầy hiểu rõ những lời Phật dạy, hỉ xả, từ bi trước nỗi thống khổ của nhân loại.” ((ÐLCX trang 79)

Luôn luôn tin tưởng rằng “văn tức là người,” tôi đã nhận ra con người thực của Huy Phương qua những tác phẩm rất đáng đọc của anh. Tôi thật hạnh phúc vì vừa có thêm một người bạn văn rất đáng quý mến mang danh Huy Phương mà tôi ước chi đã gặp sớm hơn trong đời.


(1) Tác phẩm do Nam Việt xuất bản. Giá $16.00; Liên lạc: huyphuong@sbcglobal.net hay 949-654-7715.

(Nội dung bài viết cũng là bài nói chuyện của GS Ðàm Trung Pháp trong buổi giới thiệu tác phẩm “Những Người Muôn Năm Cũ” vào ngày 2 tháng 5, 2010, tại Dallas-Ft Worth.)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Ba ru con ngủ

Ầu ơ, con ngủ cho ngon
Để ba lên Net ghẹo con ghệ già
Ghệ già tội lắm con nha
Không ai đưa đón thật là buồn ghê

Nhiều em, nhìn cũng “phê phê”
Nhưng vì “tửng” quá khó mê quá chừng
Nhiều em "được ghẹo" rất mừng
Chưa chi em đã muốn trưng "độc hàng"

Không nhìn, em nói "làm tàng"
Nhìn rồi lỡ xấu biết đàng nào BYE

Ầu ơ con ngủ cho dai
Ghệ già trên Net nói hoài không xong
Nhiều em không ngực, không mông
Độn vào một cục chỉ mong "show hàng"

Có em hay thích thở than:
"Đường tình em thiệt trái ngang anh à !!
Mặc dù em rất mặn mà
Công, dung, ngôn, hạnh, thật thà, lại duyên

Trai gặp cũng nói dịu hiền
Hôm nào anh rãnh kiếm tiền ... thăm em"

Ầu ơ con ngủ ngon thêm
Để ba lên Net trông, xem em này
Em này nhìn cũng hay hay
Mà sao ba thấy hơi gầy đó con

Khuôn mặt nhìn cũng còn son
Mà sao đôi mắt mõi mòn làm sao
"Hello" - ba gởi lời chào
Em ơi có rãnh, “tầm phào” chút không?

"Chào anh, em cũng đang trông:
Anh nào lịch sự, cua xong làm chồng"
Ba nghe mà ngứa cái ... mông
Thời nay gái dạn ... chứ không như là:

Cái thời mẹ đến "cua ba"
Tuy nhiều mắc cỡ như mà, thiết tha

Ầu ơ con ngủ đi nha
Hổm rày trên Net ghệ già tìm ba
Nghĩ hoài ba nghĩ không ra
Ghệ nào cũng nói: "thịt, da nõn nà

Thân em tơ liễu thướt tha
Vậy mà ráng kiếm chẳng ra thằng chồng
Đêm về phải ngủ “phòng không”
Ba đây cũng thấy mũi lòng con ơi!

Đôi khi ba nghĩ xa xôi
Phải chi má chịu thì thôi ba liều
Rước em tuổi đã ngả chiều
Coi như làm phước để chìu lòng em

Nhưng ba đốt đuốc đêm đêm
Cũng chẳng kiếm được một em cho vừa
Thời nay trai thiếu gái thừa
Tính sao con hả để vừa “ghệ ba”??

Ầu ơ con ngủ thêm nha
Ba ra pha sữa xong là vô ngay
Uống xong con ngủ cho say
Để ba ghẹo tiếp ghệ này nha con

Ghệ này mặt mũi hơi tròn
Mắt thì sâu thẳm mõi mòn… đợi ai??
Tóc dài em cắt ngang vai
Môi thì đỏ chét ... muốn gài độ ba

"Hello em gái phương xa
Nếu em có rãnh hai ta CHAT cùng"
"Chào anh em cũng đang lùng
Anh nào đang rãnh để cùng với em

Tâm sự tình cảm thâu đêm
Lâu rồi em cũng RẤT THÈM Chat khuya
Bạn em nhiều đứa đã dzìa
Vì trai ít quá phải chia nhau lùng"

Ba nghe mà thấy hãi hùng
Tứ chi bủn rủn, lùng bùng hai tai
Bỗng nhiên ba lại thở dài:
"Đâu rồi những nét trang đài ngày xưa

Tan trường dưới nắng hanh vừa
Hay là những buổi đội mưa đến trường?
Trinh nguyên áo trắng dễ thương
Tóc thề trong gió vấn vương bao chàng"

Ầu ơ con ngủ cho ngoan
Ghệ già trên Net sắp hàng đợi ba
Có em vừa gặp hôm qua
Nay em "nhã ý" về nhà em chơi

Ngỡ rằng em chỉ mời lơi
Nào ngờ em thiệt hết lời thiết tha:
"Nếu anh dối được "chị nhà"
Em đây yểu điệu, mượt mà tiếp anh"

Nghe xong ba nghĩ "thật nhanh"
Cơm nhà của mẹ để "dành" ăn sau
Phở FREE phải dzớt cho mau
Nếu không dzớt sớm thằng nào nhào vô

Coi như mấy tiếng đồng hồ
Ba đây "gượng ép" trầm trồ, ngợi ca:
Nào là: em đẹp, nết na
Ba vòng rõ nét, đúng là GIAI NHÂN

Nếu không dzớt, uổng "trăm phần"
Chuyến này ba phải dấn thân qua nhà
Ai ngờ vòng MỘT tới BA
Toàn là đồ giả, thiệt là tức ghê

Vừa rờ, em nói "nhẹ nhen"
Em vừa TUNE UP, đừng chê ... em mà
Anh biết không: đã hàng ba
Vậy mà chẳng có được CHA nào rờ

Nên đêm nằm ngủ ... phải MƠ
Trai đâu sao lại hững hờ với em
Ngồi năm phút, ba rút êm
"Anh đây bận việc, mong em đừng buồn"

Tự nhiên nước mắt em tuôn
"Anh thiệt mang lại nỗi buồn trong em
Ngỡ rằng anh ở qua đêm
Nào ngờ anh cũng để em ... một mình

Đêm nay cũng "bóng với hình"
Như bao Cô khác "chỉ mình với ta"
Anh về nói với chị nhà
Chỉ thiệt hạnh phúc, nhớ mà "GIỮ NHA"


Siu Tầm

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Tóc Tiên Kể Chuyện Hát Show ở Mỹ
Quang Chí
Cùng nghe "Cô bé tóc xù" chia sẻ chuyện vừa học vừa đi hát ở Mỹ vất vả ra sao.

- Hi, Tóc Tiên! Cuộc sống của bạn bên đó thế nào?

- Tôi đang học ở trường Pasadena City College ở tiểu bang California, chuyên ngành Sinh học (biology). Sau khi hoàn thành các tín chỉ ở đây, trung bình khoảng 2 năm, tôi sẽ chuyển tiếp lên trường đại học khác để hoàn tất bằng BA hoặc BS, tương đương bằng cử nhân tại Việt Nam.

Học bên Mỹ khá thoải mái vì mình có thể tự chọn lớp, chọn giờ học sao cho phù hợp. Tôi học từ thứ 2 đến thứ 6 trong tuần và học cả từ sáng đến chiều. Tôi cũng chơi cùng một nhóm nhỏ các bạn học sinh Việt Nam. Bình thường, tôi chỉ đi diễn vào các tối thứ 7 hàng tuần. Chủ nhật cũng có rất nhiều show nhưng tôi không thể nhận. Ở đây khi đi diễn, các ca sĩ Việt thường phải di chuyển sang các tiểu bang khác bằng máy bay, nên nếu nhận show chủ nhật, tôi không thể về kịp để thứ 2 đi học.

- Hát show ở Mỹ chắc khác Việt Nam nhiều?

- Các show ca nhạc bên Mỹ chủ yếu diễn vào cuối tuần. Có ba hình thức show phổ biến: hát cho club, hát ở casino, và hát ở các đại nhạc hội hay hội chợ. Ca sĩ bên đây phải di chuyển nhiều. Sự chênh lệch múi giờ và việc bay liên tục khiến tôi ban đầu chưa quen nên bị mất sức rất nhiều.

Năm ngoái, khi nhận lời biểu diễn vào tuần lễ Tạ ơn - một kỳ nghỉ lễ rất lớn của Mỹ vào tháng 11, tôi đã phải bay liên tục 5 ngày tới 5 thành phố và tiểu bang khác nhau. Hành lý mang theo nhiều, mà đến ngày thứ hai có một vali bị hỏng, tôi phải kéo vali rất nặng lê lết khắp sân bay. Thêm nữa, các show đa số kết thúc khá trễ, gần 2 giờ sáng mới xong. Trong khi đó, các ca sĩ lại phải bay sớm để kịp show ngày hôm sau nên tôi gần như không ngủ suốt mấy ngày đó. Diễn đến ngày cuối cùng thì phải nằm vật vạ ngoài sân bay vì quá mệt.

Một kỷ niệm khác là đợt diễn vào dịp Tết âm lịch vừa rồi, không được ở nhà bên gia đình mà phải bay show liên tục nên vào khuya giao thừa, lúc trên đường ra sân bay tôi đã… khóc. (cười) Kể lại rất mắc cỡ nhưng dù sao bù lại, khán giả bên này rất dễ thương và gần gũi, họ ủng hộ ca sĩ hết mình.

- Tóc Tiên còn tự lái xe hơi đi học mỗi ngày trong khi ở Việt Nam không biết lái xe máy?

- Bên đây mọi người vẫn thường nói đùa: “Không có xe giống như người không có chân”. Thật vậy, di chuyển bên đây không gần như ở Sài Gòn, mọi người đều cần có xe như một điều tất yếu.

Từ nhà tới đến trường mất khoảng 30 phút chạy xe mà đã được xem là khá gần. Trước khi qua Mỹ, tôi cũng đã có học lái sơ qua. Khi qua bên đây, tôi phải thi tới 2 lần mới lấy được bằng lái. Khi cầm tấm bằng trong tay, tôi sung sướng vô cùng vì ở Việt Nam, tôi thậm chí còn chưa biết lái xe máy. Khoảng thời gian đầu khi lái xe còn nhiều bỡ ngỡ, tôi đã phải nhận tới hai vé phạt. Một lần khi đang đi xe thì đâm sầm vào xe người khác, lần thứ hai là lúc tôi chuyển qua làn đường khác mà không xi-nhan. Nhưng đó là lúc đầu, bây giờ, tôi đã lái tốt rồi nhé.

- Tóc Tiên đã đi chơi nhiều và rành hết đường phố nơi mình sống chưa?

- Tôi khá “lười” đi chơi nên dù mang tiếng ở Mỹ hơn một năm nhưng chẳng biết gì nhiều. Tôi chỉ hay đi shopping ở những trung tâm thương mại gần nhà và gần trường.

Tôi vẫn nhớ lần đi xem New Moon ở đây. Hôm đó là ngày đầu tiên công chiếu nên khán giả rất đông. Rạp chiếu có trên 20 phòng chiếu đầy đủ tiện nghi. Khán giả hâm mộ New Moon đến đông lắm. Tôi nghĩ họ đến trước ít nhất 2-3 tiếng trước khi chiếu phim, cốt chỉ để mua được vé và giành được chỗ ngồi đẹp, vì bên đây không có số ghế ngồi, ai vào trước sẽ được ngồi chỗ tốt. Rất đông người xếp hàng chờ đợi, những bạn gái ngồi ở hàng đầu tiên còn đem theo cả tấm lót, mền (vì lúc đó rất lạnh), vài dụng cụ giải trí… để chờ đến giờ xem phim.

Quang Chí

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

LÁ THƯ ĐẾN TỪ BANGKOK.

Nguyễn Thị Thanh Dương.
Tiếng nói bên kia đầu dây điện thoại xa lạ, làm cho tôi ngỡ ngàng:
- Xin lỗi, chị là ai nhỉ?
- Chị Nhuận đây, Nhuận Ngã Ba Ông Tạ đây, xưa ở cùng trại tị nạn Thái Lan với em, nhớ ra chưa?
Tôi thảng thốt reo lên:
- Trời ơi, bây giờ thì em nhận ra giọng nói Bắc Kỳ di cư 54 của chị rồi, bao nhiêu năm xa cách chứ ít gì!
- Chính xác là 16 năm. Thật khủng khiếp, bước chân thời gian qúa dài.

Hai người ríu rít kể và hỏi thăm cuộc đời nhau cũng như của những bạn bè cùng ở trại tị nạn trước kia. Tôi rời khỏi trại tị nạn Thái Lan sang Mỹ định cư ngày 8 tháng 12 năm 1993, chị Nhuận đậu thanh lọc và qua Mỹ sau tôi một năm. Người phỏng vấn chị là một anh luật sư trẻ đã kín đáo thiết tha nhờ chị một chuyện là sang Mỹ tìm hỏi tin tức, địa chỉ của tôi để cho anh liên lạc. Anh tên Piyawat.
Thuở đó, tôi là một cô gái xinh xắn, làm việc ở bưu điện trong trại tị nạn, và sau này tôi làm cho văn phòng cao ủy định cư, nên có thể nói vào thời điểm đó không người tị nạn nào mà không biết mặt, biết tên tôi. Anh Piyawat nói về tôi là chị Nhuận nhận ra ngay, chị đồng ý và hứa sẽ giúp anh với tất cả nhiệt tình, để trả ơn anh đã giúp chị đậu thanh lọc dễ dàng, là một giấc mơ vĩ đại cho những con người vượt biên cuối mùa, đang đối diện với bức tường thanh lọc khó khăn, đang sống khắc khoải từng ngày chờ đợi tin vui mong được đi định cư ở nước thứ ba.

Qua Mỹ, chị Nhuận có ý tìm tin tức của tôi nhưng không ai hay biết. Tình cờ mới đây, chị Nhuận nghe từ một người bạn và biết địa chỉ của tôi, chị liền báo tin cho Piyawat, anh rất vui mừng và sẽ gởi một lá thư cho tôi, chẳng biết để nói chuyện gì mà anh đã theo đuổi bao nhiêu năm qua.

Tôi vượt biên bằng đường bộ, cuối năm 1989, từ Việt Nam sang Campuchia và từ biên giới Campuchia đi một đoạn biển mất một ngày là sang tới biên giới Thái Lan, chỉ một đoạn biển tưởng chừng ngắn ngủi và đơn giản thế mà cũng suýt chết thảm thương.

Người tổ chức vượt biên thuê thuyền chở chúng tôi gồm 41 người từ bờ biển Campuchia sang phía Thái Lan, nhưng họ không dám đến gần đất Thái, sợ bị bắt, chỉ đổ bộ trên một hòn đảo san hô nhỏ bé, vừa đủ cho cả đám đứng chen chúc bên nhau, cách rất xa bờ đất Thái, lúc ấy khỏang 7 giờ chiều. Họ thúc đẩy chúng tôi rời thuyền thật nhanh và vội vàng quay trở về Campuchia. Thế là họ phủi tay, xong trách nhiệm, chúng tôi phải lo liệu mà vào bờ, bằng cách nào tùy ý. Thật là hoang mang và hãi hùng, người thì khóc lóc cầu nguyện, người thì nguyền rủa bọn tổ chức vượt biên vô lương tâm. Trời càng tối thuỷ triều càng lên cao, nước phủ ngập đảo, rồi lên dần tới đầu gối chúng tôi, cứ cái đà thủy triều lên này chúng tôi sẽ bị chết chìm tập thể ở đây mà không ai hay biết. Hai thanh niên tình nguyện lội thử xuống nước để về phía bờ biển Thái mờ xa đằng kia, nhưng đi được vài bước thì hụt hẫng vì biển sâu, không thể đi được. Đúng lúc ấy, tôi mới nhớ ra mình có mang theo một cái phao, thế là mấy thanh niên to, khỏe, hì hục thổi phao cho căng phồng lên và một anh tình nguyện ôm phao bơi vào bờ cầu cứu.

Một giờ sau đã có hai chiếc thuyền tam bản của người Thái ra đảo san hô, nhưng họ đòi ai có tiền, vàng thì mới được lên thuyền. Thế là ai có vàng bạc dấu kỹ cũng mau chóng mang ra để đổi lấy sự sống. Thuyền của họ đưa chúng tôi cặp sát vào bờ, chúng tôi bước qua bãi biển sình lầy thật khó khăn, vất vả, có người lên tới bờ rồi là nằm vật xuống ngất xỉu, nhưng cuối cùng mọi người đều an toàn .
Hôm sau cảnh sát Thái Lan đưa về tạm cư trong khu gia binh của họ trước khi giao nộp chúng tôi cho cao ủy tị nạn.

Trại gia binh cảnh sát nằm trên đầu con đường dốc, làng Tha Luông, thị trấn Chad thuộc vùng biển nên khí hậu mát mẻ, ấm áp. Sau những ngày ngủ bờ bụi tại Campuchia, sau chuyến vượt biển đối diện với tử thần, những ngày sống ở đây đã cho tôi một cảm gíac an lành dù tôi biết còn bao nhiêu chông gai, khó khăn phía trước vì đã nghe tin thời gian này Thái Lan sẽ thanh lọc những thuyền nhân trước khi cho phép gặp các nước thứ ba đi định cư.

Chúng tôi không ai còn một đồng xu dính túi. Hàng ngày tôi và một hai người bạn thường lân la làm quen với một vợ lính cảnh sát, nơi ngôi nhà chúng tôi ngủ nhờ mái hiên sau, tôi sẵn sàng làm giúp việc nhà cho chị ta như giặt giũ quần áo, để được chị thương tình cho mấy gói mì ăn tạm những lúc đói lòng. Giữa cảnh đời bấp bênh, tôi thèm thuồng nhìn cảnh sống đời thường êm đềm của chị, có một mái nhà, có đứa con nhỏ để chăm lo và có người chồng trở về nhà sau một ngày làm việc.

Mỗi sáng sớm thức dậy, tôi hay đứng trong hàng rào bên hông trại và nhìn xuống cuối con đường dốc phía dưới, thấy xa xa căn nhà bán hàng tạp hóa mà có lần tôi đã xin phép trưởng trại ra đó mua đồ bằng những đồng tiền ít ỏi của vợ anh cảnh sát trả công cho tôi, ngôi nhà chìm trong làn sương mờ, êm đềm như trong cổ tích. Tôi thấy vài phụ nữ Thái đi ngược lên đồi, chờ xe lam lên thị trấn, và những em học sinh, nữ mặc đầm xanh, nam mặc quần xanh, áo trắng, lên đầu dốc, gần trại, đợi xe bus chở đến trường. Những hình ảnh bình thường ấy đã xâm chiếm tâm hồn tôi, nỗi nhớ quê hương, nhớ nhà và cuộc sống đã qua

Ba tuần sau chúng tôi rời thị trấn Chad , chính thức về sống ở trại tị nạn Panat Nikhom. Sống ở đây thì tôi đã hiểu sự thật phũ phàng, tất cả thuyền nhân phải qua cuộc phỏng vấn thanh lọc đầy khó khăn. Thế là mỗi người phải tìm những chứng cớ để chứng minh đã bị chính quyền cộng sản trả thù hay vì lý do đoàn tụ gia đình, để mong đậu thanh lọc.

Tôi xuất thân là nữ sinh trung học, học giỏi nhưng không đậu đại học chỉ vì tôi chưa được kết nạp vào đoàn viên. Lý do cha tôi làm việc trong chính quyền chế độ cũ, và có hai người anh “phản động” đi vượt biên. Buồn, chán và khóc rất nhiều vì thi rớt đại học một cách bất công trong khi tôi biết chắc bài làm của tôi đều khá, nên tôi muốn đi vượt biên để tìm cuộc sống tự do dân chủ và phát huy khả năng thật sự của mình. Nhưng lý do ấy không đủ mạnh để tôi có thể vượt qua cuộc phỏng vấn, những bạn bè quanh tôi, những người anh, người chú lớn tuổi và kinh nghiệm hơn tôi, đều khuyên tôi nên khai cho mình một “hoàn cảnh” đáng thương là đi vượt biên để “đoàn tụ” với chồng, vì những lý do tình cảm vợ chồng là nhân đạo được ưu tiên hàng đầu, dễ đậu thanh lọc nhất.

Tôi liên lạc với các anh tôi bên Mỹ, họ đã gấp rút tìm cho tôi một người hùng tình nguyện giúp đỡ, đứng ra nhận là chồng tôi, và không đòi lại một điều kiện nào cả. Thế là hồi mới đến trại, tôi khai độc thân, bây giờ tôi lên gặp người có thẩm quyền để xin mẫu đơn về …khai lại đã có chồng. Những chuyện vô lý, vô duyên như thế xảy ra khá nhiều ở trại, ai không có lý do chính trị vững vàng thì cứ sáng tác ra chuyện tình dang dở để hi vọng được người phỏng vấn “xót thương”.

Ngày tôi mới về Panat Nikhom, có anh Thái đen to con đẹp trai tên Tha Nu, là nhân viên thuộc bộ nội vụ Thái trong trại, theo tôi sát nút, khi tôi được làm ở bưu điện, ngày nào anh cũng lái xe Honda qua đó tìm tôi, hôm nào không trốn kịp thì tôi đành phải mỉm cười và chào hỏi anh vài câu, hôm nào được các bạn cùng làm “báo động” khi thấy bóng dáng Tha Nu hay nghe tiếng xe gắn máy của anh từ xa, là tôi đã chui xuống gầm bàn để trốn, và ai đó đã trả lời anh là tôi không có mặt ở đây. Nhưng chính anh, chính là anh Tha Nu đã giúp tôi điền lại cái form khai đã có chồng và còn góp ý thêm điều này bớt điều kia. Làm việc trong chính quyền Thái và gần gũi với đám tị nạn hàng ngày nên Tha Nu thừa hiểu những gì cần thiết phải khai để đạt hiệu qủa cao nhất khi đi phỏng vấn .

Năm 1991 những người tị nạn ở Thái Lan đã biểu tình phản đối phái đoàn phỏng vấn khó khăn, bất công, đánh rớt nhiều người, nên chúng tôi được chuyển lên Sekiew và những người phỏng vấn cũ được thay bằng những sinh viên luật trẻ trung hơn đến từ Bangkok.

Ngày tiễn tôi đi Sekiew anh Tha Nu cầu chúc cho tôi đậu thanh lọc, vì những người đậu thanh lọc sẽ trở về Panat Nikhom, đợi chờ các nước phương tây phỏng vấn, và như thế anh sẽ được gặp tôi lần nữa. Tôi đã thật sự cảm động, nước mắt rưng rưng trước tấm lòng của anh đối với tôi, dù tôi vẫn không hề yêu anh.

Ở Sekiew tôi đã gặp Piyawat, người Thái bảo rằng cái tên này vừa đẹp vừa sang như con người anh. Đám phụ nữ tị nạn chúng tôi ai cũng ao ước được lọt vào bàn phỏng vấn của anh, vì người ta đồn rằng anh thương người và tử tế, không như những nhân viên Thái khác, hống hách, lạm dụng chức quyền hà hiếp thô bỉ những người Việt Nam tị nạn như cá nằm trên thớt, họ muốn làm gì thì làm. Tôi may mắn đạt được điều ước ấy.

Anh thật xứng đáng với lời đồn, Piyawat là một người Thái trắng cao, khuôn mặt vuông, đôi mắt dài đẹp vẻ hiền lành và nụ cười dễ mến. Anh lịch sự mời tôi ngồi và rót trà cho tôi uống trong khi anh mở đống giấy tờ hồ sơ dầy cộm của tôi ra đọc, hình như anh hơi mỉm cười có vẻ chế nhạo hơn là hạch họe khi ngẩng lên hỏi tôi:
- Tại sao khi mới nhập trại cô khai độc thân, sau lại khai có chồng, vì yêu chồng nên phải vượt biên, sang Mỹ để đoàn tụ? Cô thật là mâu thuẫn.
Đã học thuộc bài bản từ trước nên tôi không bối rối:
- Vì ban đầu tôi hoang mang, lo sợ nên khai đại, sau khi đã bình tâm tôi quyết khai đúng sự thật..
Anh vẫn giữ nụ cười đầy cảm tình đó và đọc tiếp hồ sơ, sau đó anh hỏi tôi nhiều câu, câu nào tôi cũng trả lời suông xẻ. Nhưng cuối cùng là một câu thật bất ngờ, khi anh gấp đống hồ sơ lại và nhìn đăm đăm vào đôi mắt tôi:
- Nếu bây giờ tôi nói rằng tôi yêu cô, sẽ cưới cô. Vậy cô có muốn về Bangkok sống với tôi không?

Tôi sững sờ nhìn anh, không biết trong ánh mắt hiền lành tình tứ ấy đâu là sự thật? có thể anh đùa vui? có thể anh đang thử lòng tôi? có vì vẻ đẹp trai và nghề nghiệp tương lai tươi sáng của anh mà xiêu lòng chấp nhận? tức là chối bỏ mọi lời khai tha thiết vừa rồi Và anh ta sẽ biết ngay là tôi ngụy tạo hồ sơ và đánh rớt không thương tiếc.

Tôi không phủ nhận đã rung động vì vẻ đẹp trai và phong cách của anh, nhưng cái tình cảm vừa hé nhụy mong manh ấy không biến tôi thành một cô gái đa tình ủy mị ngay được. Tôi nghiêm nét mặt, cứng rắn đáp:
- Tôi xin lỗi, tôi không thể. Tôi luôn mong muốn được đoàn tụ với chồng tôi.

Anh lẳng lặng đẩy tập hồ sơ qua một bên, và hẹn buổi chiều phỏng vấn tiếp.
Buổi chiều tôi đến sớm hơn giờ hẹn một chút, vì chẳng ai muốn đến trễ, làm mất thì giờ của người phỏng vấn, chỉ gây thêm ác cảm, bất lợi cho mình.

Trong văn phòng của anh lúc đó có hai người bạn cũng là sinh viên về đây làm công việc phỏng vấn, khi tôi ngồi xuống ghế đối diện Piyawat, hai người bạn vẫn chưa chịu ra khỏi phòng, một người mở tập hồ sơ của tôi ra và cũng như anh Piyawat buổi sáng, anh này nhìn tôi mỉm cười với vẻ nghi ngờ:
- Cô đã có chồng rồi à? Mà chồng cô lại nhỏ hơn cô những ba tuổi.
- Vâng, nhưng chúng tôi yêu nhau không kể gì tuổi tác.
May qúa anh này không hỏi gì thêm nữa, như câu hỏi rất có lý vừa rồi của anh, có thể làm tôi bối rối, trở tay không kịp, vì đã đến giờ làm việc, phải trở về phòng của họ. Anh Piyawat tiếp tục phỏng vấn tôi, và một lần nữa câu cuối cùng của anh cũng bất ngờ như buổi sáng:
- Cô đã suy nghĩ chưa? Nếu qủa thật có một tình yêu của người chồng dành cho cô, thì tôi cũng có một tình yêu bằng hay hơn thế, chứ không thể nào thua kém anh ta. Cô hãy về Bangkok với tôi đi !

Trong đầu tôi nghĩ đến ngày đoàn tụ với các anh tôi ở Mỹ, tôi không thể đánh một ván bài liều với một người xa lạ, mới gặp tôi lần đầu đã nói yêu tôi đến thế. Cái hồ sơ gia cảnh dở dang mong đoàn tụ với chồng, tôi đã tốn bao nhiêu công lao soạn ra cho hợp lý, ăn khớp với mọi tình huống và học thuộc lòng, không thể chỉ vài phút giây yếu lòng mà buông rơi tất cả.

Trong cuộc phỏng vấn sống còn này, trong trại tị nạn buồn chán mà tư cách của con người dễ bị chà đạp này, tôi cũng như bao nhiêu người khác mong thoát ra càng sớm càng tốt. Đây không phải là nơi chốn cho tôi mơ mộng , tôi đã nghĩ thầm “ Anh Piyawat ơi, nếu anh yêu tôi thật, nếu anh đang nói những lời thật của con tim, thì tôi vô cùng xin lỗi anh, chúng ta đã gặp nhau không đúng chỗ, không đúng lúc rồi”
- Cô trả lời tôi đi, tôi xin cô !
Bây giờ người cầu xin van nài không phải là tôi, là cô gái tị nạn mà cuộc đời tôi vui hay buồn, chờ trông vào tấm lòng của người phỏng vấn này, mà lại là anh. Tôi cắn môi dưới của tôi gần rướm máu để thốt lên được mấy chữ:
- Không, tôi chỉ muốn đoàn tụ với chồng tôi.
Anh thẫn thờ kết thúc cuộc phỏng vấn buổi chiều và khi tôi chào anh ra về, anh bắt tay tôi thay cho lời nói, bàn tay anh đã bóp chặt tay tôi như muốn níu giữ tôi mãi mãi…

Cuối tuần ấy, cũng là ngày lễ gì đó của người Thái, nên trong trại có tổ chức một trận bóng đá, tòan là nhân viên trong trại, Piyawat là một thành viên trong đội bóng đá, người ta mở hàng rào ngăn trại, nơi đám tị nạn chúng tôi đang ở, để thông thương sang bên khu sân bóng.

Đời tị nạn buồn, rảnh rang, nên trò chơi gì cũng khiến chúng tôi tò mò và vui lây, nhất là nghe tin có Piyawat tham dự đá bóng, những cô gái đã từng được anh phỏng vấn, đang đợi chờ kết qủa, đua nhau ăn diện để sang bên đó, họ lượn quanh sân, tìm cách tiếp cận Piyawat, để mỉm cười với anh và nhắc nhở anh, hỏi anh về trường hợp của mình, anh nắm hồ sơ chúng tôi trong tay như nắm quyền sinh sát, nếu muốn, anh chỉ việc mở hồ sơ ra xét lại, viết cho lời nhận xét hay ho trước khi những hồ sơ được gởi đi Bangkok cho cấp trên . Hầu như mọi quyết định ở đấy đều tùy thuộc vào lời nhận xét của người phỏng vấn.

Tôi không có mặt trong đám con gái ấy, dù anh đã để lại trong tôi một ấn tượng đẹp. Những người bạn rủ tôi sang coi đá bóng, và tôi chỉ đứng xa, không hề đi kiếm tìm anh, nhưng tôi đã thấy anh đi vòng quanh sân dáo dác ngó khắp nơi trong đám đông người tị nạn đang vây quanh sân, anh đã nhìn thấy tôi, anh đứng sững tuyệt vọng vì khỏang cách qúa xa, mà anh với tư cách nhân viên trong ban phỏng vấn không thể đến bên tôi được, người ta sẽ nghi ngờ và dị nghị, gây bất lợi cho tôi hơn là cho anh.

Khoảng cách chúng tôi nào chỉ một sân bóng mà cả hai khung trời cách biệt. Tôi không biết số phận mình sẽ đậu hay rớt thanh lọc? ngày mai sẽ ra sao? đời tôi sẽ trôi nổi đến đâu? còn anh, một ngày nào đó xong nhiệm vụ, sẽ trở về Bangkok tiếp tục học hành, ra trường, có vợ đẹp, con xinh là điều trong tầm tay của anh.
Sau ngày lễ, tôi ngạc nhiên khi nghe loa gọi tên tôi và hẹn giờ lên văn phòng gặp Piyawat để bổ túc thêm một vài giấy tờ, nhiều người cũng ngạc nhiên như tôi vì chưa có trường hợp nào như thế bao giờ. Nhưng có một chú dày dạn kinh nghiệm đời, quen rất thân đã nói với tôi:
- Chẳng có gì cần bổ túc hết, cô đã có một đống hồ sơ nộp cho họ rồi. Anh ta chỉ muốn gặp cô thôi.
Nhưng tôi vẫn không khỏi lo âu, khi đến ngày hẹn tôi lên văn phòng thấy Piyawat đang phỏng vấn một người. Đã chờ đợi sẵn, vừa thấy tôi, anh đứng dậy đi ra ngoài và nói rất nhỏ với tôi, vì sợ người bên trong nghe thấy:
- Cô sẽ đậu phỏng vấn, hãy học Anh Ngữ và chờ ngày đi khỏi nơi đây.
Tôi ngỡ ngàng sung sướng tưởng như mơ:
- Cám ơn anh Piyawat.
Lần đầu tiên tôi gọi tên anh, cũng rưng rưng nước mắt vì cảm động như đã từng rơi nước mắt vì Tha Nu, nhưng lần này với sự rung động của con tim.

Một năm sau những người đậu thanh lọc mới có kết quả từ Bangkok gởi về, ngôi nhà thờ trong trại là nơi chúng tôi đến nhận giấy báo kết qủa , mà những người rớt hay chưa được phỏng vấn cũng kéo nhau ra bu quanh nhà thờ để chứng kiến cảnh người khác may mắn. Cầm tờ giấy đậu thanh lọc trong tay như cầm một vé lên thiên đàng, tôi bước ra ngoài, không nỡ nhìn đám đông, rồi đây trong số đó ai sẽ được may mắn như tôi? ai sẽ phải hồi hương Việt Nam trong đắng cay thất vọng ?

Khi tôi trở về Panat Nikhom, tôi không gặp Tha Nu, họ nói anh đã được cấp trên điều động đi nơi khác.
Anh có còn nhớ đến tôi không và có nuối tiếc vì không bao giờ gặp lại nhau lần nữa?



************


Sau cuộc điện thoại với chị Nhuận, đúng như chị đã nói, mấy tuần sau tôi nhận được một lá thư đến từ Bangkok.

“ Ngày..tháng..năm 2009,

Tôi là Piyawat, tôi đã chờ đợi cô mỏi mòn bao năm, kể từ khi cô rời khỏi trại tị nạn Thái Lan đi định cư ở Mỹ.
Tôi không bao giờ quên ngày tôi phỏng vấn cô, là một ngày tháng Năm, năm 1991, đẹp trời nhất trong đời tôi, cái ngày định mệnh đã cho tôi một tình yêu chớp nhoáng và vô vọng.

Đọc hồ sơ và nghe những lời khai của cô tôi thừa biết là gỉa tạo như nhiều người đã làm khi đó, rất dễ cho tôi quyết định ghi những nhận xét đủ cho cô bị rớt thanh lọc.

Tôi tin cô còn độc thân và khi tôi ngỏ lời yêu cô, tôi đã thấy đôi mắt cô đầy bối rối, phân vân. Nhưng tôi biết là cô không dám liều lĩnh làm một quyết định táo bạo nhận lời tôi mà ở lại Thái Lan, lấy gì bảo đảm tôi sẽ mang cô ra khỏi trại tị nạn và cưới cô?

Sau lần phỏng vấn cô, tôi đã phỏng vấn nhiều trường hợp tương tự, những cô gái Việt Nam trẻ như cô, tôi không rung động vì họ, nhưng tôi viết nhận xét tốt cho họ có thể đậu thanh lọc, chỉ vì một lẽ đơn giản, tôi nhớ cô qua những người đồng hương của cô.

Trở về Bangkok, tôi học xong đi làm và chờ đợi tin cô từ chị Nhuận, từng ngày, từng tháng, từng năm…Nước Mỹ mênh mông, cô như cánh chim bay, biết đâu mà tìm?

Mấy năm sau tôi lập gia đình, nay đã có hai đứa con, và tôi cũng tin chắc cô đang hạnh phúc ấm êm nơi vùng đất mà cô đã khao khát mong chờ định cư.

Giờ đây, tình yêu mãnh liệt thuở ban đầu trong tôi không còn nữa, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được cô, một cô gái Việt Nam trong trắng và đầy tự trọng, tôi đã đánh gía cô như thế dù chỉ vài lần gặp, khi đối diện tôi trong phòng phỏng vấn, chỉ có hai người, cô không hề cho tôi một nụ cười dễ dãi, không liếc mắt đong đưa, không hứa hẹn trao tình cho tôi như vài cô gái khác đã làm để đánh đổi lấy cơ may đậu thanh lọc.

Đây là lá thư đầu tiên và cũng là cuối cùng tôi viết cho cô, giờ đây tôi không có quyền mong đợi gì nơi cô nữa, vì cả hai chúng ta đều đã có gia đình, hai cuộc đời riêng biệt, tôi chỉ muốn xác định với cô một điều mà ngày ấy tôi biết đã làm cô hoang mang, lo âu tự hỏi tôi yêu cô thật tình hay gỉa tạo để thử lòng cô?
Tình yêu tôi dành cho cô là tất cả tấm lòng tôi, là mối tình đầu của tôi.
Mến chào cô, chúc cô luôn hạnh phúc bên chồng con.”

Đọc xong lá thư tôi bàng hoàng cảm xúc.
Dù đã định cư ở Mỹ 16 năm, nhưng hình ảnh trại tị nạn Thái Lan vẫn còn rõ ràng trong tôi, một khỏang đời đáng nhớ, nơi ấy tôi đã hoang phí mất 4 năm trời, 4 năm tuổi thanh xuân tươi đẹp của một thời thiếu nữ, chập chờn những âu lo, buồn bã, những hi vọng, thất vọng và cả tuyệt vọng. Nhưng cũng chính nơi ấy, có Piyawat đã để lại trong tôi một hình ảnh lãng mạn, xứng đáng đánh đổi cho những sự mất mát kia. Anh là người đàn ông đầu tiên đi vào tâm hồn tôi.
Tôi ấp lá thư lên ngực như để gần anh hơn. Giá như chị Nhuận tìm thấy tôi sớm, vài năm sau khi tôi đến Mỹ, lúc ấy tôi vẫn còn nghĩ đến anh nồng nàn. Biết đâu tôi đã bay đến Bangkok gặp anh trước khi anh sang Mỹ gặp tôi?

Nay thì qúa muộn, khỏang cách giữa chúng tôi càng ngày càng xa, không bao giờ nối gần lại được. Nhưng tên anh Piyawat, và thủ đô Bangkok nơi anh trú ngụ sẽ là một điệp khúc yêu thương vang vọng mãi trong trái tim tôi.

Nguyễn Thị Thanh Dương
( July- 2009)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Đã Từng Ngậm Ngùi Ngay Trên Quê Hương Mình

THANH TÙNG/Việt Tribune

Image
Ca sĩ Giang Tử-Hình do nghệ sĩ cung cấp.
GẶP GỠ CA SĨ GIANG TỬ

Sau ba mươi lăm năm kẹt lại Việt Nam và vài chuyến vượt biên bất thành, ca sĩ Giang Tử cuối cùng cũng đã định cư tại vùng đất tự do theo diện bảo lãnh gia đình. Nam ca sĩ từng chiếm cảm tình khán thính giả từ trước 1975 qua những giai điệu quê hương và ca ngợi người lính VNCH ghi dấu ấn một thời binh lửa đã dành cho Thanh Tùng- Việt Tribune cuộc phỏng vấn sau đây.

THANH TÙNG: Hiện giờ, ca sĩ Giang Tử đang sinh sống tại thành phố và tiểu bang nào?

GIANG TỬ: Giang Tử mới được con gái bảo lãnh sang định cư tại Mỹ vào tháng 1/2010, chỉ được khoảng 3 tháng nay. Hiện bây giờ, vợ chồng Giang Tử đang đoàn tụ với con gái tại thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Chào mừng ca sĩ Giang Tử cuối cùng rồi cũng đã được định cư tại vùng đất tự do. Có lẽ nhờ vậy mà anh sẽ có nhiều cơ hội hơn để được gặp gỡ và hát cho khán giả hải ngoại, cũng là những khán giả thân thương của anh từ trước 1975?

GIANG TỬ: Cảm ơn Thanh Tùng và cảm ơn quý khán giả kính mến đã dành rất nhiều tình cảm cho Giang Tử. Trong thời gian hơn 3 tháng nay khi Giang Tử qua Mỹ đã nhận được sự thương mến của nhiều khán giả trước 1975 và kể cả những khán giả trẻ sau này. Trong đó có những em còn rất trẻ nhưng nhờ được nghe các đĩa nhạc xưa mà cha mẹ mang theo từ Việt Nam cho nên đã dành nhiều cảm tình cho mình. Giang Tử rất hạnh phúc và không nghĩ rằng khi sang bên này lại được khán giả và các nhà tổ chức thương mến đến như vậy.

Trong một số lần cùng đi show chung với ca sĩ Giang Tử tại Mỹ, Thanh Tùng nhận ra sự ủng hộ rất nồng nhiệt của khán giả dành cho Giang Tử, đặc biệt trong một show văn nghệ tại San Jose cách đây khoảng 2 năm. Lúc đó, khi Giang Tử chỉ mới cất lên câu hát đầu tiên trong bài“Xin anh giữ trọn tình quê”, cả rạp hát như vỡ òa tiếng vỗ tay của khán giả. Sau đó, hàng đoàn người xếp hàng nối đuôi nhau tiến về phía sân khấu để lì xì Giang Tử. Nhiều khán giả buột miệng: “Nghe Giang Tử hát mà nhớ Duy Khánh quá chừng”. Anh có chạnh lòng không?

GIANG TỬ: Thực sự Giang Tử quá hạnh phúc khi cách đây 2 năm được một ban tổ chức mời sang Mỹ trình diễn. Giang Tử đã muốn rơi nước mắt trên sân khấu trước sự thương mến nồng nhiệt của khán giả, trong đó có nhiều người đã lên sân khấu lì xì. Cũng có nhiều khán giả bảo Giang Tử hát giống Duy Khánh. Có lẽ vì trời sinh ra Giang Tử và anh Duy Khánh mỗi người một miền đất nhưng lại có sự trùng hợp là chất giọng. Khi cất tiếng hát lên thì tình cờ giống nhau vậy thôi (cười). Lúc sang Mỹ, Giang Tử cũng có chút ngậm ngùi thương nhớ khi mà những ca sĩ đàn anh như Duy Khánh, Nhật Trường hoặc các bạn bè đồng liêu, đồng ngũ, cùng đơn vị ngày xưa đã không còn nữa.

Lúc mới đi hát, anh thường thích hát nhạc tiền chiến. Sau này, anh lại chọn các ca khúc quê hương và người lính VNCH để trình diễn. Tại sao có sự chuyển hướng như vậy?

GIANG TỬ: Đó là do sự phát triễn của xã hội mà thôi. Thời gian Giang Tử sinh ra và lớn lên là giai đoạn chuyển tiếp. Hồi còn đi học, chiến tranh chưa ác liệt và những bài hát về quê hương, về người lính chưa nhiều. Giang Tử lúc đó chỉ có một dòng nhạc để hát, đó là dòng nhạc tiền chiến. Tuy nhiên, đến khoảng năm 1963, khi bước chân vào quân ngũ, Giang Tử đã có những suy nghĩ khác khi tiếp xúc với những người lính đồng đội của mình và với bầu không khí chiến tranh bao trùm cả miền Nam của chúng ta. Hơn nữa, các nhạc sĩ cũng bắt đầu chuyển qua viết những bài hát ca ngợi người lính Cộng Hòa, ca ngợi chiến công cũng như chia xẻ với những thân phận, tâm tư của người lính Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Giang Tử chuyển sang dòng nhạc quê hương vì nó phù hợp với chất giọng của mình.

Dường như có khoảng thời gian anh Giang Tử phục vụ tại Cục Tâm lý chiến?

GIANG TỬ: Đúng rồi. Giang Tử gia nhập quân ngũ năm 1963 ở Cục Tâm lý chiến, lúc bấy giờ được gọi là Tổng cục chiến tranh chính trị.

Tên thật của anh là Giang. Tại sao lại có nghệ danh Giang Tử, thưa anh?

GIANG TỬ: (cười) Vâng đúng rồi. Cái tên Giang Tử cũng đã gây nhiều thắc mắc cho khán giả. Có người diễn giải một cách nôm na: “Giang” là sông, còn “Tử” là chết. “Giang Tử” là con sông chết. Nhưng sự thật không phải. Bản chất con người Giang Tử thích phiêu lưu tang bồng, giang hồ lãng tử. Tên thật của mình là Nguyễn Hoàng Giang. Bạn bè hay nói đùa mình có máu lãng tử. Khi đi hát cần phải có nghệ danh nên mình quyết định chọn tên thật là “Giang” kết hợp cùng với tính cách giang hồ lãng tử của mình. Từ đó mới có Giang Tử ngày nay.

Nghe đồn sau 1975, Giang Tử đã hơn một lần đi vượt biên nhưng đều không thành công?

GIANG TỬ: Đúng rồi! Lúc bấy giờ, ai cũng muốn tìm đường đến với tự do. Nhưng mỗi người một số phận. Do đó mà Giang Tử đã bị kẹt lại Việt Nam cho đến hôm nay.

Và có lẽ số phận của Giang Tử là được sang Mỹ bằng máy bay chứ không phải bằng tàu thuyền?

GIANG TỬ: (cười) Vâng! Số phận của mình là phải kiên trì chờ đợi cho đến 35 năm sau mới được đến thế giới tự do bằng máy bay.

Anh có cảm thấy hối tiếc vì đã sang Mỹ chậm hơn so với nhiều đồng nghiệp và bạn bè của anh không?

GIANG TỬ: (ngẫm nghĩ) Đương nhiên rồi! Cho đến bây giờ với tuổi đời và quãng thời gian quá dài, Giang Tử đã phải ngậm ngùi sống ngay tại quê hương, đất nước của mình dưới một chế độ như vậy. Giang Tử đã bị cấm đoán nhiều thứ trong lãnh vực nghệ thuật. Những gì thuộc về chính quyền thì mình không được tham gia vì mình là người lính của chế độ cũ. Vì phải nuôi sống gia đình, Giang Tử phải hợp tác với những tổ chức tư nhân đi lưu diễn lòng vòng trong đất nước của mình. Cho đến khoảng năm 1995, Việt Nam xuất hiện dòng nhạc mới, mà bên mình gọi là New Wave, bên Việt Nam gọi là dòng nhạc trẻ. Lúc bấy giờ, với chất giọng ảnh hưởng dân nhạc của mình, với tuổi tác không còn phù hợp, Giang Tử đã phải ngậm ngùi rút vào bóng tối.

Trước 1975, vì sao anh và ca sĩ Chế Linh khi đi hát song ca lại đặt tên là “Hai con lạc đà”, thưa anh?

GIANG TỬ: Trong sinh hoạt văn nghệ tại Sài Gòn, Chế Linh và Giang Tử đều là những ca sĩ hát đơn ca. Thời gian đó, bạn bè rất nhiều. Nào là Y Vũ, Nguyễn Ngọc Ngạn, Đỗ Lễ và những người trong giới đã ngồi lại với nhau. Chính nhạc sĩ Y Vũ (em ruột của nhạc sĩ Y Vân) là người bạn chí cốt học cùng thầy với Giang Tử đã gợi ý: “Hai đứa mày cứ hát đơn ca hoài, tao thấy nhàm quá! Sao hai đứa không ráp vô chung làm một cặp song ca? Tao sẽ viết một số bài.”

Từ đó, với tính yêu nghệ thuật, Giang Tử và Chế Linh OK liền. Chúng tôi đã ráp lại làm một cặp hát chung một số ca khúc dành cho song ca. Bài song ca đầu tiên mà Chế Linh và Giang Tử hát chung là một sáng tác của Chế Linh: “Nỗi buồn sa mạc”. Tựa của bài hát này đã gợi cho Chế Linh và Giang Tử một cái tên chung khi hát song ca để có kỷ niệm. Hai đứa ngồi bàn bạc và chọn tên “Hai con lạc đà” mang ý nghĩa của sự chịu đựng. Con lạc đà thường vượt qua sa mạc mênh mông cần phải có sự chịu đựng dẻo dai. Lúc đó, cũng có một chút tâm linh và dị đoan, mình nghĩ đặt tên như vậy sẽ có sự bền bĩ, nhờ vậy, sự kết hợp song ca của hai đứa sẽ được kéo dài.

Cho đến bây giờ qua thực tế trên 40 năm, Giang Tử nhận ra sự trùng hợp. Bạn bè đồng liêu kẻ mất người còn, nhưng “Hai con lạc đà” ngày nào thực sự đã vượt qua được sa mạc mênh mông nửa vòng trái đất để tìm đến với nhau. Sau 35 năm, “Hai con lạc đà” vẫn còn đủ sức chịu đựng những gian nan để được đến với nhau ngay tại đất nước tự do này.

Xin cảm ơn ca sĩ Giang Tử đã dành cho Việt Tribune cuộc phỏng vấn này và chúc anh thành công trong phần trình diễn của mình.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Trên Tay Có Đá

Nguyễn Ngọc Tư
Trên một ngọn núi cao lêu đêu đứng khều mây, có ông thầy.

Lần đầu tới chơi thầy kêu bỏ mấy cục đá xuống cho rảnh tay múc giùm ta gàu nước. Bạn cãi ủa con có cầm đá gì đâu. Thầy cười, khi nảy con định ném đá cho bể đầu ông xe ôm dưới chân núi mà. Tại thằng cha đó lấy tiền công mắc quá, mới chạng vạng mà tính giá gấp đôi lúc ban ngày, bạn ngoay cái miệng phân trần. Thầy lại cười, mấy chục ngàn đó cũng còn rẻ, vì chở con là chở theo một đống đá, nặng lắm chớ đâu phải chơi.

Giọng thầy không có chút cà rỡn nào, làm bạn ngờ ngợ ngờ ngợ ngờ ngợ miết. Không nén được, bạn xòe tay ra coi và thật kỳ lạ, bạn thấy trên tay mình thiệt tình là có đá. Thiệt tình là bạn đang lăm le chực chờ ném vào người khác, giống hệt cái cách người đời hăng hái ném nhau.

Bạn về nhà rồi, chuyện mấy cục đá cũng lẽo đẽo theo về, đeo bám dai dẳng. Đôi khi bạn bĩu môi lườm nguýt ai đó, mắng xiên chửi xéo ai đó… mà thấy rõ ràng là mình vừa ném đá vào người ta. Đôi khi viết một đoạn chữ mà thấy lổn nhổn nặng nề như đá. Đôi khi chỉ nói nửa câu mà thấy người nọ rúm ró vì đau. Ném đi rồi thấy sướng phút đó, hể hả phút đó nhưng dường như người không nhẹ bớt, vì cục đá thiên hạ ném trả bạn nhặt lấy mang theo bên mình, rình chờ cơ hội chọi lại.

Những hòn đá đó không bao giờ rơi xuống đất, bởi không người này cất thì người kia cũng cầm. Vì nó mà mình đau nhưng người ta vẫn giữ gìn để tiếp tục làm đau người khác, hòn đá được ném đi ném lại trong một hành trình sát thương không ngơi nghỉ. Sách nói vậy. Sau này, bạn nghiền ngẫm sách thiền các loại, bạn nghiên cứu kinh Phật, Kinh thánh, kinh Coran…

Bạn cố không lẫn lộn giữa chê bai và lăng mạ, giữa phê bình và đạp đổ, giữa gièm pha và hạ nhục… để nếu có ném đi thì chỉ là những hòn đá con con. Thấy chưa ăn thua, bạn hay lên núi nói chuyện với ông thầy học cách làm sao bỏ đá khỏi tay. Ông thầy cười nói phải có cách nào thì ta đâu có bỏ chạy lên đây, ở một chỗ chỉ có mây và vài nhà hàng xóm. Ít người lại qua, ít va chạm, ít thị phi thì đỡ phải ném đá nhau…

Nhưng bạn ở một chỗ nào? Chỗ mà sáng sớm dừng ở đèn đỏ có kẻ chạy xe lấn đường xước cả tay bạn. Chỗ mà sáng sớm phát hiện ra chị kia thản nhiên cân thiếu. Chỗ mà sáng sớm anh cảnh sát giao thông ngoắc bạn lại kiếm tiền lót tay. Chỗ mà sáng sớm mở trang báo thấy bao nhiêu chuyện nát lòng: chó người giàu cắn chết người nghèo, mẹ ngược đãi con, chồng giày vò vợ…

Chưa hết, biển thông tin đưa bạn tới gần những sự thật, ở đâu đó người ta đào bới tận diệt thiên nhiên. Ở đâu đó có những đứa trẻ bị đẩy ra đường phơi mưa nắng kiếm tiền khi vẫn còn ẵm ngửa. Ở đâu đó có những người phụ nữ bị bán mua rẻ mạt…

Bạn nghe lửa bốc lên đầu, giận đầy ứ họng. Căm. Uất. Ngột ngạt. Nghe đá ở đâu bỗng chất oằn cả người, kẻ thủ ác mà đứng trước mặt bạn dám ném cho họ chết lắm. Nhưng đó là “ở đâu đó…”, giờ chuyện xảy ra ngay ở quê hương bạn, cách chỗ bạn chỉ hai mươi cây số. Nghe đâu, coi bản tin thấy hai vợ chồng trẻ người mà tàn ác man rợ, nhục hình tra tấn thằng nhỏ làm công mà tỉnh bơ như thở, như ăn, có một bà già quê đập bể tivi rồi xách dầm xuống xuồng bơi đi “đi đánh hai đứa ác ôn đó coi tụi nó biết đau không?”.

Như thể hết cách rồi, đá phải được đáp trả bằng đá. Bạn giận mình sao không được như bà già đó. Những cuốn sách về nghệ thuật buông bỏ, hạn chế sân hận trải rộng tình thương… đã trở nên vô nghĩa.

Không thể buông bỏ ở cái thời thế còn ngổn ngang này. Đến cha mẹ mà tàn tệ với con, không phải loạn thì là cái gì. Ông thầy trên núi gọi điện thoại xuống, nói ông coi tivi rồi. Lặng đi giây lát, ông nói “ta thấy sợ…”. Ông thầy sợ vì tôn giáo mà ông đeo đuổi làm sao cứu rỗi được người đã đánh mất chất người. Còn bạn sợ vì luật pháp làm sao cải tạo, thay đổi được người mà không phải người. Sách nói không có gì là rác hết, bạn đã từng tin vậy nhưng giờ chê sách xạo, thiệt tình.

Tội ác biết đâu nảy sinh từ những cú ném đá lặt vặt nhỏ nhít mà người ta không nhận ra. Cho đến một ngày…

Nguyễn Ngọc Tư

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

ÐỪNG.
Đừng để nhìn thấy 1 nụ cười rồi mới cười lại.
Đừng đợi đến khi được yêu thương mới yêu thương lại.
Đừng đợi đến khi cô đơn mới nhận ra giá trị của tin nhắn.
Đừng đợi đến khi có 1 công việc thật vừa ý rồi mới bắt đầu làm.
Đừng để có thật nhiều rồi mới chia sẻ đôi chút.
Đừng để đến khi làm người khác buồn rồi mới xin lỗi.

Ðừnghạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình với người khác. Mỗi chúng ta là một con người khác nhau và đều có những giá trị khác nhau.

Ðừng mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng, vì chỉ có bạn mới hiểu rõ những mục tiêu nào là tốt cho mình.

Ðừng ngại học hỏi. Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là hành trang vô giá theo bạn suốt cuộc đời.

Ðừng ngại mạo hiểm để làm những điều tốt. Ít nhất bạn cũng học được cách sống dũng cảm với những lần mạo hiểm.

Ðừng nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ. Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được.

Đừng để cuộc sống đi qua mắt bạn chỉ vì bạn đang sống trong quá khứ hay tương lai. bằng cách sống cuộc sống của mình ngày hôm nay, vào lúc này, bạn đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời.

Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.

Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do để cố gắng thực hiện điều đó.

Đừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại, chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ "giàu có" trong cuộc sống của mình.

Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.

Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời.

Đừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu, đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.

Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.

Đừng từ chối nếu bạn vẫn còn cái để cho.

Đừng ngần ngại thừa nhận rằng bạn chưa hoàn hảo.

Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, bạn mới học được can đảm.

Đừng đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì bạn nghĩ không thể nào tìm ra nó. Cách nhanh nhất để nhận tình yêu là cho, cách mau lẹ để mất tình yêu là giữ nó quá chặt, cách tốt nhất để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi cánh tự do.

Đừng đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi bạn quên mất mình đang ở đâu và thậm chí quên mình đang đi đâu.

Đừng quên nhu cầu cảm xúc cao nhất của một người là cảm thấy được tôn trọng.

Đừng ngại học hỏi. Kiến thức là vô bờ, là một kho báu mà ta luôn có thể mang theo dễ dàng.

Đừng sử dụng thời gian hay ngôn từ bất cẩn. Cả hai thứ đó đều không thể lấy lại.

Đừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ, vì biết được thêm một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi.

Đừng quên mỉm cười trong cuộc sống.

Đừng quên tìm cho mình một người bạn thực sự, bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt cuộc đời.

Và cuối cùng đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần. Bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng.

Cuộc sống không phải là một cuộc chạy đua, nó là một cuộc hành trình mà bạn có thể tận hưởng từng bước khám phá...

Hãy cho đi rồi bạn sẽ nhận được thật nhiều. Gửi thông điệp này đến những người mà bạn yêu quý. Và đừng quên gửi lại cho tôi nếu tôi vẫn là 1 người bạn của bạn. Bạn nhận được tin nhắn này….thì hãy cười đi nhé! Vì ít nhất đâu đó quanh đây… có một người nhớ bạn...

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Đừng Yêu Người Làm Thơ

Nguyễn Thị Thanh Dương
Đợi cho Quang ra khỏi nhà là mẹ tôi nói ngay:

- Anh Quang này trông đứng đắn đàng hoàng đấy, vậy con liệu mà bảo nó tính đến chuyện hỏi cưới đi.

Tôi đáp với lòng hãnh diện:

- Sớm muộn gì anh ấy cũng phải lên tiếng thôi, con việc gì phải bảo người ta cho nó mất giá trị !

- Mẹ thấy mấy đám trước cũng tử tế như thế này, cứ kéo dài hò hẹn, tìm hiểu mãi rồi ai cũng rút lui, chẳng hiểu họ chê con vì điểm gì? nên lần này con phải chủ động giục cưới cho chắc ăn, kẻo lại thêm một mối tình lỡ.

- Mẹ yên tâm, đây sẽ là mối tình cuối cùng của đời con.

Mẹ tôi cũng không quá lo xa đâu, có nhiều mối tình đến với tôi, nồng nàn tha thiết bao nhiêu nhưng vẫn không đi đến kết quả tốt đẹp. Mẹ tôi bảo tại tôi lãng mạn quá, trái tim dễ rung động quá, nên yêu nhiều mà chẳng được bao nhiêu, yêu chưa đúng người.

Tôi đã biết yêu từ năm 12 tuổi, hồi đó ở Việt Nam vẫn còn là tuổi của ngây thơ khờ dại. Tôi rất thích ăn mì của cái tiệm ở đầu đường nhà tôi do một người Hoa làm chủ, đứng nấu mì là một anh ba Tàu trẻ, thường thì mẹ dẫn tôi đi hay có khi tôi thèm thì xin tiền mẹ chạy đến tiệm ăn một mình. Dù đi với mẹ hay không , tôi đều thích đứng cạnh xe mì để nhìn ngắm anh Tàu trổ tài nấu mì, anh để một vắt mì vào thùng nước sôi và nhanh chóng vớt lên bằng một cái vợt lưới, bàn tay anh thao tác nhuần nhuyễn, hất tung vắt mì lên vài lần cho ráo nước và sau cùng hất vào tô, bao giờ cũng chính xác, không rớt ra ngoài... Xong anh bày lên những miếng thịt heo nạc thái mỏng còn viền màu đỏ vì đã được ướp xá xíu, một thìa tóp mỡ thái hột lựu, và một thìa củ cải mặn cũng thái hột lựu, rồi mới đến những cọng hẹ cắt khúc ngắn. Anh mở nắp vung thùng nước lèo, cả một mùi thơm bát ngát theo hơi khói bay ra, thuở đó trong mắt tôi thùng nước lèo to, sâu thẳm ấy là một công trình vĩ đại và kỳ bí như trò ảo thuật, vì chẳng biết anh Tàu nấu bằng xương thịt gì, bí quyết gì mà nước lèo thơm ngon thế ? Có bao giờ tôi ăn tô mì mà chẳng húp hết nước sạch sẽ đâu !

Khi thì anh Tàu bê tô mì ra bàn cho tôi, khi anh bận thì tôi tự làm lấy vui vẻ. Tôi thích ăn mì và yêu cả anh Tàu nấu mì, không biết vì anh tre trẻ đẹp trai vui tính hay vì anh là người đã nấu cho tôi những tô mì ngon ?

Tôi đến tiệm mì thường xuyên đến nỗi anh Tàu nhớ mặt tôi, có lần anh vừa vung vẩy biểu diễn hất vắt mì vào tô vừa cười cười với tôi: “Hày, con nhỏ này là khách quen của bổn tiệm mà, để tao cho mày thêm vài miếng thịt”.

Hôm ấy tôi ăn tô mì đặc biệt nhiều thịt, vừa sung sướng vì anh nhớ đến tôi, vừa buồn buồn vì anh gọi tôi bằng “mày” và xưng “tao”. Anh Tàu chẳng biết rằng con bé ranh này đang yêu anh, hôm nào không có tiền ăn mì, đi học về qua tiệm tôi đi chậm lại một chút để nhìn thấy anh rồi mới chịu đi nhanh về nhà, tương tư anh nên tôi đã nói với mẹ: “Lớn lên con sẽ lấy anh Tàu bán mì “.

Mối tình đơn phương đầu đời có liên quan đến vấn đề ăn uống ấy chỉ tồn tại được một hai năm, không phải vì có vài lần tôi thấy vợ anh đứng nấu mì thay cho anh, là một chị mập ú, luôn luôn mặc áo sát nách để hở hai cánh tay béo mỡ, vừa nấu mì vừa xổ một tràng tiếng Tàu với hai đứa con nhỏ đang luẩn quẩn bên cạnh, mà vì càng lớn tôi càng có nhiều sở thích khác ngoài ăn mì. Tôi thích đọc sách báo, thơ truyện, tôi biết tưởng tượng đến một người yêu thanh tao gấp mấy chục lần anh Tàu của tôi thuở tôi 12 tuổi.

Năm tôi học lớp 11, đã có vài bài thơ đăng báo nên cả lớp “nể mặt” và đồng loạt bầu tôi làm Trưởng ban báo chí của lớp, sau khi tôi đi họp để bầu Trưởng ban báo chí của toàn trường, tôi phải đứng trước lớp báo cáo lại kết quả buổi họp đó. Tôi đâu có tài ăn nói trước đám đông, trong khi bao nhiêu con mắt đang đổ dồn vào tôi, làm tôi bối rối thì ít mà thằng lớp trưởng đứng bên cạnh làm tôi bối rối thì nhiều, vì tôi yêu và nể nó, tính tình nó hiền lành, ăn nói lưu loát và có tài lãnh đạo. Tôi lí nhí kể lại buổi họp cho thằng lớp trưởng, khi một người ngồi dưới hỏi chị trưởng ban báo chí lớp ơi ! đã bầu xong trưởng ban báo chí toàn trường chưa? Thì thằng trưởng lớp dõng dạc trả lời giùm tôi “Chị cho biết là chưa có bầu”. Cả lớp cười ồ lên còn tôi thì đỏ mặt. Lớp trưởng vội vàng sửa lại, nói đầy đủ hơn: “Chị cho biết là chưa có… bầu trưởng ban báo chí toàn trường”.

Tình yêu là một trò chơi quanh quẩn, trong khi tôi yêu thầm thằng lớp trưởng, nó chẳng thèm để ý đến tôi, (bụt nhà không thiêng ?) thì một thằng bên lớp 12 lại trồng cây si tôi mê mệt, luôn luôn tôi thấy có cặp mắt nào đó đang nhìn mình, những lúc tôi đang ăn chè đá đậu hay chấm mút trái cóc chua ngọt với muối ớt trước cổng trường đều bị nó bám sát không rời, làm tôi phải nhịn thèm các món đó luôn vì mắc cở, cho đến cuối năm đó nó rời khỏi trường tôi mới được tự do ăn uống trở lại. Lá thư tỏ tình nó gởi tôi do một đứa bạn cùng lớp đưa lại chẳng bao giờ tôi trả lời vì tôi không yêu nó. Sau 1975 nó đi vượt biên với vợ con và mất tích ngoài biển khơi.

Tôi nghĩ đời tôi có hai cái may, nếu mối tình với anh ba Tàu mà thành sự thật thì bây giờ tôi đã là chị ba Tàu, chắc cũng mặc áo sát nách đứng nấu mì thay cho chồng và quát tháo lũ con om sòm bằng tiếng Tàu rồi ! hoặc nếu tôi lấy anh chàng lớp 12 si tình kia thì giờ này tôi cũng mất tiêu trên biển với nó rồi !

Cho đến năm tôi 20 tuổi, trước khi đi định cư ở Mỹ thì trong tâm hồn tôi đã có một đống những người tình lý tưởng lấy ra từ trong tiểu thuyết và phim ảnh, Rhett Butler của “Gone With The Wind”, Zhivago của “Dr. Zhivago”, hay ông linh mục Ralph của “The Thorn Birds” hay “chú” Sách tử tế và bao dung yêu vợ trong “Tình nghĩa vợ chồng” của Leon Tolstoi do Bảo Sơn dịch..v..v… Tôi từng bị tiếng sét ái tình với người trong phim truyện, thì với người đời bằng xương bằng thịt là lẽ đương nhiên, nhưng dù sét đánh dữ dội thế nào tôi cũng không bao giờ chết, yêu nhanh và quên cũng nhanh. Mẹ tôi bảo tính tôi lãng mạn, mê làm thơ, mê đọc thơ nhiều quá rồi nó vận vào người, toàn là những mộng mơ ảo tưởng ! Đã hơn 30 tuổi rồi mà vẫn chưa “tỉnh” người ra để kiếm một tấm chồng, để sinh con đẻ cái như người ta. Tôi chống chế, thời buổi này người ta lập gia đình trễ sau khi đã có công danh sự nghiệp. Mẹ tôi lẩm bẩm, nhưng con không bận học hành, không làm ăn buôn bán, chỉ đi làm hãng xưởng thì sự nghiệp gì mà chờ đợi cho nó già cả người hở con ?

Ba mươi mấy tuổi ! chưa già, nhưng cũng không còn trẻ ! Tôi không “nhìn lên trời” để tìm Rhett Butler hay Dr. Zhivago nữa, mà đã hạ tiêu chuẩn, tìm nhũng người thường xung quanh tôi, lần này tôi sẽ không để mất Quang vì tôi yêu anh và anh cũng yêu tôi như thế.

** ** **

Đã mấy tuần trôi qua, chẳng hiểu sao Quang không liên lạc với tôi, cell phone và e-mail đều im lặng. Lạ quá ! những tín hiệu tôi gởi đi nhưng anh vẫn không hồi đáp.

Một người bạn thân của tôi báo cho tôi một tin không thể tin nổi là Quang đang quen với một người con gái khác, tôi cười khỉnh vào mặt bạn tôi rằng, đó là tin đồn thất thiệt, mày phải nhớ là Quang yêu tao như thế nào! chiều chuộng từng sở thích của tao như thế nào ! và nhất là Quang yêu thơ của tao nũa ! Anh tìm đâu ra một người yêu vừa lãng mạn vừa biết làm thơ ?người nào mà lấy tao thì cuộc đời sẽ đẹp như thơ.

Tôi bỗng nhận được lá thư của Quang gởi từ bưu điện. E-mail tiện lợi, anh không dùng, hay anh muốn cứu giúp ngành bưu điện đang ế ẩm, để các mailman có việc làm ?

Thái độ im lặng thật lâu đã lạ, cách liên lạc của anh càng lạ hơn làm tôi hồi hộp khi bóc thư ra, nhưng tôi vẫn tin rằng đó là một lá thư dài tràn đầy lời thương nhớ và tới tấp xin lỗi em yêu ! Tôi trải tờ thư phẳng phiu ra và khoan khoái đọc:

Thương gởi em ! (biết ngay mà, tôi nghĩ )

Suốt mấy tuần qua, anh đã suy nghĩ rất nhiều trước khi viết lá thư này. Anh phải viết bằng thư tay để em đọc xong và suy ngẫm, chứ gởi qua e-mail coi chừng em xóa mất !

Em ơi, chúng mình đã yêu nhau hơn một năm trời, đã bao lần hò hẹn, gặp gỡ tìm hiểu nhau, đủ để đi đến một quyết định…(đọc đến đây tôi nhắm mắt lại, thở phào một cái sung sướng trước khi đọc tiếp lời cầu hôn năn nỉ của anh ta)…

Anh nhận thấy một điều rất rõ ràng là: Anh không thể lấy em ! Có nghĩa là chúng mình sẽ chia tay từ đây ! Vì em lãng mạn quá, em như sống ở trên mây, anh đã cố gắng chiều chuộng em, nhưng thà chiều chuộng một đứa trẻ, khi nó lớn lên một chút là thôi, còn chiều chuộng những đứa làm thơ như em thì phải cả đời.

Em đâu có biết, anh đã mệt mỏi căng thẳng biết bao để chiều lòng em ! Nừa đêm anh đang ngủ ngon để mai đi làm sớm thì em gọi cell phone đánh thức anh dậy để… khoe một câu thơ vừa hiện ra trong đầu, em đọc cho anh nghe, anh mắt nhắm mắt mở chỉ thèm ngủ chứ đâu có thèm nghe thơ, dù hay cỡ nào cũng không thành vấn đề đối với anh trong lúc này. Vậy mà anh phải khen hay, nhưng em không tin, còn bắt anh phân tích hay ở chỗ nào? Anh đành làm nhà phê bình văn học thơ em cho tới sáng, cho tới giờ đi làm. Anh không lạng quạng lái xe đụng người ta trên highway đầy nghẹt xe là may phước cho nhà anh rồi.

Những lúc hai đứa mình đi chơi, anh đang lái xe đến một địa điểm nào đó đã định trước, thì em chỉ huy anh phải quẹo hết con đường này đến con đường khác, mặc dù em không biết nó về nơi đâu ! Nhưng đó là những con đường có hàng cây đẹp làm em mơ mộng, nổi máu muốn làm thơ.

Cái hôm mình đi ăn đám cưới một người bạn, em còn nhớ không? Chỉ vì anh đi theo những con đường thơ mộng đó theo bất chợt cảm hứng của em, mà đến trễ 3 tiếng đồng hồ, vượt hẳn kỷ lục đi trễ của người Việt Nam mình khá xa !

Yêu em nên anh ráng hy sinh, nhưng chuyện chiều chuộng em cuối cùng vừa rồi thì anh chịu hết nổi, và em có còn nhớ không? Đó là một buổi chiều Chủ Nhật, ngày vui của Weekend đã tàn, ai cũng cần nghỉ ngơi để thứ Hai đi làm, trời lại đang gió mưa, thật ấm cúng khi được ngồi ở nhà ăn bữa cơm chiều, hay xem tivi, đọc báo… thì em phone cho anh, đến gặp em gấp. Anh vội vàng thay đồ đến nhà em, tưởng em đang gặp chuyện gì khó khăn, cần có anh giúp một tay. Thì ra em rủ anh đi dạo phố chiều mưa với em cho… vui, cho romantic. Em ơi, lúc đó mẹ anh mà bị bệnh, kêu anh ra chợ mua cho bà hộp thuốc, chưa chắc gì anh muốn đi, nhưng vì yêu em, thấy em phấn khởi, thích thú quá, anh đành chiều.

Trời mưa rả rích, gió lạnh từng cơn, trên con đường lá rụng ướt đẫm nước mưa, anh cầm dù che cho em là chính, còn anh hứng toàn bộ cơn mưa, ngày xưa còn bé, anh khoái tắm mưa, còn hôm đó anh tắm mưa bất đắc dĩ, mưa ướt anh từ đầu đến chân, người anh run lên vì lạnh, nhưng anh không dám kêu ca, để tôn trọng tâm hồn thi sĩ của em, để cho em hoàn tất được ý thơ cho bài “Hai đứa đi trong chiều mưa gió”.

Khi bài thơ ấy được đăng báo, may ra có một vài người cảm động vì thơ em, nhưng anh phải đánh đổi với cái giá rất đắt, suýt nữa bằng cả một sinh mạng ! Anh về nhà, tối hôm đó bị cảm lạnh, lên cơn sốt cao hừng hực, mẹ anh biết chuyện vừa xót xa thương con vừa tức giận , mắng anh là thằng ngu ! Nó đã dở hơi mà mày cũng dở hơi theo nó đi trong mưa như thế à ? Tao nói cho mày biết nhé, dù con dở hơi ấy có giàu, có đẹp đến đâu cũng không bao giờ tao muốn nó về làm dâu nhà này ( Anh xin thề đây là nguyên văn lời của mẹ anh, chứ anh không nỡ gọi em là “con dở hơi”, cho dù anh thấy điều ấy cũng… không sai).

Hôm sau anh phải nghỉ làm, đi Bác sĩ và nằm nhà suốt tuần.

Em, một người làm thơ, có tâm hồn nhạy cảm vô song, một chút nắng đổi màu, một cơn gió xao xác chuyển mùa, hoa lá kia đang nở hay héo tàn… em biết ngay, em sản suất ra thơ ngay. Nhưng anh nằm ốm bệnh lu bù ở nhà thì em không biết, em chẳng đoán ra, chỉ gởi những lời nhắn khơi khơi trên e-mail hay cell phone là “ Gọi lại cho em gấp ! Đến nhà em gấp !”

Em không hề thắc mắc là vì sao anh vắng mặt, vì sao anh im lặng, mà chỉ ra lệnh cho anh đến với em.

Sau trận ốm suýt chết oan đó, đọc thấy lời nhắn của em, anh sợ quá, sợ em lại rủ anh đi trong một cơn mưa gió cho một bài thơ khác sắp hiện ra trong đầu em, hay bắt anh chở đi lòng vòng khắp các nẻo phố phường có hàng cây lá đẹp, đến chóng cả mặt, và tốn cả xăng, thời buổi kinh tế khó khăn, giá dầu thô lên 82 đồng một thùng, em biết chưa ?

Nhờ trận ốm đó, anh đã tìm ra một chân lý là “Đừng yêu người làm thơ”, những đứa làm thơ như em, chỉ làm thiệt hại đến người khác, chỉ nương tựa vào người khác. Anh đến nhà em, lần nào cũng thấy mẹ em đang nấu cơm, chưa bao giờ anh thấy em đứng trong bếp, dù chỉ để cắt một cọng hành ! Anh dám chắc là trong đời em chưa bao giờ biết luộc rau muống, chứ đừng nói tới các món cầu kỳ khác ! Thế mà đã mấy lần em mời anh đến nhà ăn cơm chiều, em tự hào khoe , mẹ em kho cá , mẹ em nướng thịt ngon lắm, hay bất cứ món gì khác, mẹ em đều nấu ngon hết .

Em ơi, nếu anh lấy em, ai sẽ nấu cơm cho anh ăn? Nên anh đã tưởng tượng ra thảm cảnh tương lai, anh sẽ phải làm bếp và nếu có con anh sẽ kiêm luôn phần trông con, giặt giũ, quét dọn nhà cửa, để cho em rảnh tay làm thơ. Vì thế, anh quyết định chia tay em để quen với người khác, một con người thực tế 100 % , không biết làm thơ gì cả ! Chẳng sao, anh mở báo, mở net ra, có cả đống nhà thơ cho anh đọc, cần gì phải cưới một nhà thơ về để phải chiều nó cho mệt cuộc đời? Còn người vợ thực tế của anh sẽ biết đi chợ, sẽ biết lo cho anh miếng ăn, giấc ngủ.

Anh may mắn thoát khỏi tay em, nhưng anh chưa yên tâm đâu, sau này anh sẽ để di chúc truyền đời cho các con, các cháu anh để cho chúng biết mà tránh xa “Đừng yêu người làm thơ”.

Hôn em lần cuối.

Tái bút: Dù sao anh cũng luôn cầu mong em sớm kiếm được một người khác để thay anh dìu em đi trong mưa cho những bài thơ sắp tới của em. (anh tin rằng cuộc đời này lúc nào cũng có sẵn những thằng ngu như anh).


Đọc xong lá thư tôi vừa tức vừa đau khổ, yêu tôi được lãng mạn thế, anh không happy thì thôi, mà còn kết tội tôi và chấm dứt mối tình đang tha thiết . Tôi vùi đầu trong chăn, trong gối, để mặc cho nước mắt tuôn rơi và cõi lòng tan nát .

Nhưng tôi chợt vùng dậy, chạy ra lấy giấy bút ghi vội một đề tài, một câu thơ vừa xuất hiện trong đầu, vì trong đau khổ hồn thơ bỗng lai láng, nên dù buồn đứt ruột vẫn có xen lẫn một chút vui thú vì câu thơ vừa ý. Nay mai tôi sẽ có bài thơ đăng báo là “ Hai đứa chia tay trong chiều mưa gió” Và nếu đúng như lời Quang đã nói trong thư, tôi lại chờ đợi một anh chàng ngu ngơ, lù khù nào đó sẽ đi vào đời tôi, để tha hồ mộng mơ tiếp, và hi vọng lần này sẽ…kiếm được một tấm chồng có tâm hồn đồng điệu, biết yêu người làm thơ.

Nguyễn thị Thanh Dương

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Cơm Âm Phủ ở Huế Xưa và Nay

Gần 50 năm xa cách, khi về lại Huế, một trong những chỗ mà tôi muốn thăm nhất là Quán Cơm Âm Phủ, một quán cơm nghèo mở ở vùng Đất Mới, nơi nổi danh một thời có Sân Vận Động Tự Do và có "xóm đĩ." Tôi thăm lại nó không phải là nó được nhắc tên trong sách Hướng dẫn Du lịch Cố Đô hay là câu nói của anh phu xích-lô thuê bao: "Ăn Cơm Âm Phủ, ngủ Khách sạn Thiên Đường." Động lực khiến tôi thăm lại nó có lẽ cũng bắt nguồn từ cái đặc tính nhiễu sự tới mức cầu kỳ của những người bạn Huế của tôi. Về tận Huế thì phải kiếm ăn món Huế nhưng "Nghĩ cho cùng thì sự thưởng thức này không chỉ yêu cầu ở khẩu vị mà chủ yếu là niềm mong ước được sống, được "nếm“ Huế của những ngày cũ đã vời xa.“ (Trần thị Linh Chi- truyện Quán Gió- Mây Lủng lơ). Khẩu vị của món ăn ngon hay không - theo những "con người Huế khó tính“ dai dẳng cỡ như Gustave Flaubert nhớ hoài món bánh Madeleine đầu đời - thường dính liền với những địa danh hay tên người làm ra mà họ nếm lần đầu, chẳng hạn như chàng thi sĩ Trụ Vũ làm thơ về những Bánh ướt Kim long, Bánh Nậm La khê, Chạo tôm Thuận An, Cơm nem An Định, Xôi gà Nguyệt Biều, Cơm sen Tịnh Tâm hay này nàng T.N. Hỷ Khương ca tụng Bánh bèo Tây Thượng, Chè Cồn Hến....
......................
Quán cơm Âm Phủ là một điều huyền sử nhỏ nhoi chấm phá trớ trêu trên trang sử của xứ Huế, bên cạnh những cung điện lăng tẩm đế vương. Tuy nguyên thủy là quán nghèo, nghe nói quán này có gia phả hẳn hoi, ra đời đâu đó vào năm cuối của đệ nhị Thế chiến 1914-1918 do ông Tống Phước Kỷ. Cái tên "Âm phủ“ chỉ là một cái tên đặt do những người khách bình dân làm công lam lũ hay ở đợ thời đó, chứ ai buôn bán mà chọn cái tên ma quái làm gì! Tên này đã lọt tự nhiên vào câu vè của xứ Huế xưa:
Kể từ ngày thất thủ Kinh đô,
Tây qua giăng giây thép, họa địa đồ nước Nam
Lên Dinh, ở tớ Tòa Khâm
Chén Cơm Âm Phủ, áo đầm mồ hôi!
...
Quán cơm dựng nên trên một vùng đất hoang vu trong thời đầu thế kỷ 20, tiếp giáp với cánh đồng An Cựu nên gọi nôm na là Đất Mới. Nhìn vào bản đồ Huế cũ, Đất Mới là vùng ngoại biên hẻo lánh về phía đông của Tòa Khâm được bảo vệ kỹ bằng những đồn lính Tây săng-đá De Courcy, lính Khố Đỏ, Khố Xanh, lính tập, lính kèn, sở Mật Thám... Do đó, Đất Mới trở thành khu chứa gái điếm. Gái của xóm Bình Khang này chưa chắc là "đĩ có giấy“ phải khám "lục-xì“(look & see), nhưng nghe đâu có bốn năm Tú Bà có thế lực như các bà L. (chồng là Hoàng phái), bà Bộ T., bà Ch., bà C ( sau này nấu bếp cho Thủ hiến Phan văn Giáo) như lời kể của Ông Tống Phước Thôi với giáo sư Nguyễn hữu Thứ trong bài Quán Cơm Âm phủ ở Huế (Tuyển tập Nhớ Huế số 11 - năm 2000). Trường hợp cũng giống như sòng bạc của bà Chúa Tám ở Kim Long nghe đâu cũng được trùm Mật thám Pháp Sogny đỡ đầu. Tại vùng Đất Mới hồi Tây chắc đêm đêm có những cảnh chia tay giữa người lính về đồn với nàng thương nữ lâm ly:
Chín giờ kèn thổi "cu-sê“ (coucher: đi ngủ)
Thôi em ở lại, anh về "áp-bên“ (appel: điểm danh)
............ .
Quán cơm Âm phủ chính là nơi mà người ta đến ăn bồi dưỡng trong những giờ khuya khoắt ở cái xã hội của những con vạc ăn đêm giống như ăn "sú-dề“ (tiêu dạ) ở Chợ Lớn: đó là những khách làng chơi, những con bạc, những người đi coi hát về khuya từ rạp hát Bà Tuần, những rạp xi-nê Morin, Tân Tân...
............
Trong không khí đêm khuya, đèn đuốc hiu hắt của một quán ăn bình dân giữa một vùng không có nhiều cột đèn điện vào đầu thế kỷ qua mới nẩy sinh ra cái tên "Cơm Âm Phủ“ gợi hứng cho ông Bửu Thụ làm câu vè sau:
Muốn ăn cơm đĩa trữ tình,
Có quán Âm Phủ, ma rình phía trong.
..........
Quán Âm Phủ thuở đầu đã bán một thứ "cơm dĩa“ gọi riêng là Món Cơm Âm Phủ. Đó là một loại cơm thập cẩm trộn trong đủ thứ được xắt nhỏ như nem, chả, thịt, nướng, tôm chấy, thịt heo, dưa gang, dưa chuột bóp... với chén nước mắm pha loãng để chan vào mà ăn. Đây là một phát kiến "fast food“ để đáp lại một nhu cầu tiện, rẻ, đủ mau của những khách ăn vội vã về khuya, thay vì làm nhiều món nóng sốt khác nhau. Có người xấu miệng nói dèm là một dĩa xào bần của những thứ quà rong Huế bán ế trong ngày được mua lại rẻ, nên mới xắt nhỏ trộn với cơm mà dọn cho những người chơi đêm dễ tính ăn dằn bao tử về khuya. Tình trạng cũng như tại Sài gòn hồi Tây mới qua, có bán món cơm "lâm-vố“ ( rabiot), tức là loại thức ăn dư từ các nhà hàng, cao lâu được nhà thầu mua rồi bán lại cho quán lề đường xào nấu lại thêm gia vị làm cơm cho người bình dân như câu quen nói: "Ăn cơm lâm-vố, uống nước phông-tên, ngủ lề đường“ (Rabiot là phần ăn ngoài tiêu chuẩn của lính Pháp.) [Cái truyền thống "fast food“ này cũng được lập lại với tài chế biến của Quán Cơm Âm Phủ qua món "Cháo bo- bo“ sau 1975 khi mà Việt Nam được các nước anh em viện trợ những bao lúa đại mạch rẻ tiền, ít bổ. Bo-bo được nấu lâu hằng giờ cho nhừ rồi để sẵn, mỗi khi khách gọi thì cho thịt và gia vị, rồi hầm nóng lên.]
............ ..
Ngoài ra, tùy theo túi tiền của khách, quán về sau càng phát đạt lại càng thêm những thức khác cũng ngon và rẻ như cơm gạo de An Cựu hay tám thơm, ăn với "Cá bống thệ kho khô, cá rô kho tộ,“ hay dưa cải với thịt phay chấm nước mắm ngon Nam Ô ... Quán còn bán nem Huế, loại tươi mới thì nướng lên và luộc cho khách ăn ngay, loại chín chua vài ngày cho khách nhâm nhi cũng sẵn. Dù sao thì mọi thứ cũng tươi và rẻ vì toàn là đặc sản mua tận gốc tại Huế như cá bống, hanh, hến từ Sông Hương, cá đối, dìa, sòng, nục từ Thuận An; thịt heo thịt bò có lò thịt Abattoir Cầu Thanh long, nem thì có Mụ Tôn cầu Đông Ba bỏ mối.
............
Giai đoạn "nhổ giò“ của Quán Âm Phủ là vào khoảng năm 1936 khi Vua Bảo Đại khánh thành sân Vận Động (Stade olympique) tại vùng Đất Mới lấy tên là Sân Bảo Long để kỷ niệm vị hoàng tử này mới ra đời, nhưng dân chúng quen gọi là Sân Tự do hay Sân Đất mới rộng hơn sân vận động người bình dân quen gọi là sân "sép“ bên chợ Đông Ba. Đây là một sân vận động độc nhất của xứ Đông Pháp với vòng chảo đua xe đạp (stade vélodrome). Vào năm 1936, nơi này có tổ chức trận chung kết Giải bóng tròn Đông Dương nên Quán Âm Phủ bấy giờ đã thịnh vượng như một cô gái trổ mã trở thành ngôi nhà ngói khang trang, làm nơi ăn uống giải khát bình luận sôi nổi của những người hâm mộ thể thao hay của dân cá độ nhỏ to. Cùng với sự lặn mình lén lút của những ổ mại dâm, cái không khí u tối tịch mịch của quán cơm Âm phủ ban đầu đã biến hẳn với đèn điện sáng choang.
........
Chính trong thời gian những năm đầu thập niên 40, bản thân tôi đã tới sân Vận Động Đất Mới này đi diễn hành mỗi khi trường học tổ chức ngày lễ Nữ anh hùng Pháp Jeanne d'Arc hay để hát tung hô Thống Chế Pétain với các bài như "Maréchal! Nous-voilà! devant toi de la France” hay bài “Debout! Belle Jeunesse” ( Bài sau nghĩa là Này Thanh Niên ! Hãy đứng lên!, nhưng lũ trẻ con lại hát bậy là "Rờ bụ ben-lơ giơ nét xờ!”). Thời này, Thực dân Pháp bị quân phiệt Nhật uy hiếp nên mở phong trào Thể thao Ducouroy rầm rộ để làm dân Việt mải tranh tài mà quên sự đối kháng và vùng lên. Có những trận đấu bóng tròn lớn, nhưng chúng tôi trẻ con không có tiền mua vé vào cửa, nên thích "chui rào” và thường bị bắt xách tai ra ngoài, hay bị đá đít tội nghiệp. Với con mắt ấu thơ, Sân Vận Động Tự do sao mà vĩ đại như một đấu trường La mã vậy. Chính nơi đây cũng đã tổ chức buổi biểu tình lớn khi Việt Minh mới cướp chính quyền, diễn hành với những lá cờ đỏ hoét mà mắt tôi mới thấy lần đầu. ....
Trong thời nay, hiếm hoi vài lần tôi được người lớn cho ăn ở Quán Cơm Âm Phủ. Món ăn thơm phức của quán khiến tôi ước ao sau này lớn lên sẽ có dịp có nhiều tiền thưởng thức nhiều món khác để “trả thù” đời.
.....
Thế rồi, tuế nguyệt trôi qua với những biến cố quan trọng như tản cư, hồi cư, chánh quyền quốc gia, Việt Cọng du kích, Tây càn quét... Còn tôi thì vô tư dần dà lớn lên học Trung học, để chẳng bao giờ có dịp lai vãng vùng Đất Mới với Quán Cơm Âm Phủ và Sân Vận Động nữa, mặc dù những ngôi trường tôi học như Lycéum Việt Anh, trường Thuận Hóa cách xa nơi này không quá một cây số. Tôi vào Saigon học thuốc năm 1952 rồi biền biệt không bao giờ trở lại xứ Huế mà tôi đã sống suốt thuở ấu thiếu niên cho đến tháng hai năm ngoái mới có dịp về thăm lại sau 49 năm xa cách.
...........
Thăm lại cảnh cũ thì cái Sân Vận Động Đất Mới ngày xưa mà tôi coi là mênh mông bây giờ sao nhỏ hẹp khi thu vào ống kính trông như là một bãi thao trường trung bình ở Mỹ. Còn cái lòng chảo đua xe đạp xây bằng xi măng của nó ngày xưa tôi thấy nó cao vời vợi như bức thành của một đập nước, bây giờ không làm tôi ngợp nữa...
.....
Còn Quán Cơm Âm Phủ chỉ là căn nhà một tầng lầu ở số 35 đường Nguyễn Thái Học, diện tích của hai tầng trệt và lầu đủ rộng để tổ chức một tiệc cưới dưới 30 bàn. Rõ ràng về phương diện ẩm thực, có một sự nâng cấp về sở thích yêu cầu từ món ăn của cái thuở ban sơ là dưa chua thịt heo phay cùng với những món cá kho, cơm dĩa lên đến các món mới hơn như dĩa lươn um, dồi trường, môi mép bò chấm mắm nêm, các món mắm tôm, mắm sò ăn với vả..., món thịt bò nướng vỉ kiểu hibachi ướp gia vị thơm ngon nức mũi khiến dân Việt Kiều hải ngoại khen rối rít. Quán vào loại đông khách vì ở vị trí trong quần thể nhiều nhà hàng ăn nằm gần những khách sạn lớn nhất Huế trên hữu ngạn Sông Hương từ Đập Đá lên Khách Sạn Morin. Nguyên nhân của sự phát đạt nói chung ở Huế là nhờ vào cái điều mà người ta gọi là "kinh tế thị trường“ với sự mở cửa đón tư bản và du khách cọng với sự Quần thể Di tích Huế được UNESCO công nhận là tài sản văn hóa của nhân loại.
.......
Đối với tôi, đa số cảnh cũ ở Huế đã hoàn toàn thay đổi, nên không còn mang những dấu tích kỷ niệm của tôi ngày xưa. Dân cư càng đông đúc xô bồ, nhà cửa cất bừa bãi không mấy gì mỹ quan nhưng không tệ như Sài gòn, Hà nội. Dầu sao, nhờ vào sự mở cửa du lịch, nói công bằng ra, xứ Huế cũng có nhiều mặt cải tiến khả quan như hai bờ sông Hương trông đẹp hơn... Tuy rằng cung điện lăng tẩm có tu bổ nhưng hình như chưa đủ phục hồi những nét cổ kính lắm.
......
Riêng quán Âm Phủ có tuổi thọ hơn 80 năm, theo tôi quả là một sự biến thái thích nghi tốt từ một quán cơm nghèo tăm tối phát sinh trong một xóm Bình Khang vào đầu thế kỷ qua, để dần dần thoát xác thành một nhà ăn khang trang đón khách du lịch khắp nơi với những món ăn càng ngày càng ngon nhưng phần nào vẫn giữ những đặc thù khẩu vị cổ truyền Huế. Còn khách sạn Thiên Đường mới mẻ ở bên cạnh ra thế nào, có thật đem lại cái lạc thú Thiên đường dù chưa vào ngủ nhưng tôi còn nghi ngờ là một cái tên quảng cáo cho vui.
.....
BS Lê Văn Lân

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

TRỢ TỬ, NÊN HAY KHÔNG NÊN Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Trợ tử (Euthanasia) còn là một vấn đề rất cấm kỵ, rất tế nhị ở phần lớn các quốc gia tiến bộ nhất là các quốc gia phương Tây nơi mà cuộc sống con người rất được quý trọng.

Được biết giúp người khác tự vận hay trợ tử là một hành động không được pháp luật nhìn nhận, và cho phép tại hầu hết các quốc gia tiến bộ trên thế giới kể cả Việt Nam.

Tuy nhiên cũng có một số ít nơi cho phép trợ tử trong những trường hợp thật đặc biệt.

Đó là Thụy Sĩ, Hòa Lan, Bỉ và tiểu bang Oregon của Hoa Kỳ.

Luật pháp Thụy Sĩ cho phép trợ tử. Hiến pháp dành một điều khoản đặc biệt cho khách hàng được toàn quyền quyết định. Luật dự trù hình phạt tù 5 năm cho ai giúp người khác chết vì mục đích ích kỷ và tiền bạc. Luật cấm bác sĩ kê toa thuốc ngủ đối với người còn khỏe mạnh, và ngăn cản việc trợ tử đối với những người bị bệnh tâm thần vì họ không có khả năng phán đoán một cách sáng suốt.

Ngược lại, tại các quốc gia độc tài, chuyên chính và các xứ kém mở mang nghèo khó thì vấn đề trợ tử thường được nhìn theo một khía cạnh không mấy quan trọng và đơn giản hơn nhiều.

Tầng lớp người già càng ngày càng gia tăng mãi.

Đây là một gánh nặng cho gia đình và cho xã hội.

Tuổi già thì phải bệnh, phải chiụ đau đớn về tinh thần lẫn thể xác và sau một thời gian thì phải ra đi đúng theo quy luật của tạo hóa...

Y phí trang trải để giúp các cụ kéo dài thêm cuộc sống tạm bợ không ngừng gia tăng thêm mãi đặc biệt là tại những quốc gia Âu Mỹ. Săn sóc cuối đời (soins palliatifs), nhà già, viện dưỡng lão đã trở nên những nhu cầu cấp thiết trong xã hội.

Niềm tin vào tôn giáo và các giá trị triết lý nhân bản cũng có phần mai một trong đời sống ngày nay cho nên con người phải tự mình đối mặt với cái chết qua một chuỗi tâm trạng phức tạp bắt đầu bằng sự tức giận, bất mãn ,bị shock, kế đến là giai đoạn cam phận và cuối cùng là sự chấp nhận số mạng để ra đi cho được thanh thản.

Chắc chắn là đa số các cụ cao tuổi, sức khỏe sa sút, đều muốn ra đi trong phẩm giá càng sớm càng tốt. Cụ không muốn phiền lụy đến gia đình và xã hội.Sống bấy nhiêu cũng quá đủ rồi. Nhưng đâu phải muốn đi là được đâu... Đôi khi con cháu vì quá thương tía, nên không ngừng đổ nhân sâm vào miệng nên làm sao tía mau đi được!

Một số quốc gia như Hòa Lan và Thụy Sĩ, rất “cách mạng và thực tế” nên đã cho phép việc trợ tử theo ý muốn của bệnh nhân trong những trường hợp thật đặc biệt.

Thụy Sĩ có cả Tổ chức Dignitas chuyên lo về trợ tử theo yêu cầu thật sự của khách hàng.

Có người gọi đây là du lịch tự sát vì dịch dụ dành cho tất cả khách hàng không phân biệt quốc tịch.

Dignitas cũng đảm nhận trợ tử cho từng cặp, từng đôi như vợ cũng muốn được cùng chết theo chồng cho vẹn tình vẹn nghĩa.

Đó là trường hợp vừa xảy ra vào mùa xuân năm 2009, Dignitas thực hiện trợ tử cho cặp vợ chồng nhạc trưởng Anh quốc Edward Dowes 85 tuổi và bà vợ 74 tuổi đã làm xôn xao dư luận bên Anh.

Ngoài ra, một bà vợ hoàn toàn khỏe mạnh khác ở British Columbia Canada cũng đòi được chết tại Zurich theo chồng đang mắc bệnh tim mạch rất trầm trọng. Sự việc sẽ được đem ra xét xử ở tòa án năm 2010 nầy.

Việc làm của Dignitas cũng bị dư luận Thụy Sĩ và cả thế giới phê phán và chống đối dữ dội. Tuy vậy, thương vụ của Dignitas, thành lập từ năm 1998, không vì thế mà bị giảm đi chút nào hết. Cho đến nay số khách hàng ghi danh, hồ sơ nóng actif cũng phải trên 6.000 người.

Số khách hàng đã được Dignitas giúp thực hiện chuyến viễn du tiên cảnh một cách êm ái tính ra đã có trên 1.000 người rồi. (giá trọn gói lối 4000-5000$)

Các người khách nầy đã đến từ 60 quốc gia khác nhau, đa số là người Đức, Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Do thái, Liban... Trong số đó có 9 người Canada tuổi từ 40 đến 90 tuổi

Đa số khách đều có vẻ rất thanh tịnh 99%, và họ rất hài lòng (?) vì có thể thoát khỏi sự đau đớn vô cùng tận mà họ đã phải gánh chịu từ nhiều năm qua.(có lẽ đây là lời quảng cáo)

BBC. Active and passive euthanasia

http://www.bbc. co.uk/ethics/ euthanasia/ overview/ activepassive_ 1.shtml

Trợ tử chủ động (active euthanasia)

Đây là trường hợp bác sĩ hay một người nào đó cố ý tiêm, cấp một loại thuốc hay giúp phương tiện nào đó để bệnh nhân chấm dứt cuộc sống ngay lập tức. Có nhiều người cho rằng trợ tử chủ động giúp bệnh nhân chết rất nhanh, gọn và sạch, tránh cho bệnh nhân kéo dài sự đau đớn vô ích. Về một mặt nào đó trợ tử chủ động tốt hơn, có vẻ “nhân đạo” hơn trợ tử thụ động

Trợ tử thụ động (passive euthanasia)

Trường hợp nầy bác sĩ không chửa trị đúng quy cách, không làm những gì cần thiết để duy trì cuộc sống của người bệnh, hoặc ngưng cung cấp những phương tiện hỗ trợ cho bệnh nhân có thể sống, chẳng hạng như: Tắt máy hỗ trợ hô hấp, gỡ máy cung cấp các chất dinh dưỡng, không thực hiện những cuộc giải phẫu cần thiết cũng như việc ngưng cấp thuốc để kéo dài thêm cuộc sống.

Liên Âu xôn xao về trợ tử

Chúng ta có quyền để một người đau bệnh trầm kha, nan y tự quyết định kết liểu đời họ để thoát khọi sự đau đớn thể xác hay không?

Tại Hòa Lan, việc trợ tử được xem như việc «trị liệu bằng thuốc» và chỉ có 40% ca trợ tử đã được chánh thức báo cáo.

Cũng tại Hòa Lan, 80% bác sĩ đã áp dụng phương pháp trợ tử chủ động active «tự tiện» giải phóng bệnh nhân thay vì phải áp dụng cách trợ tử thụ động passive (như bớt thuốc, bớt chất dinh dưỡng, v.v…để bệnh nhân kiệt sức mà mau thăng)

Belgique nối gót Hòa Lan cho phép trợ tử vào năm 2008.

Vừa qua, đảng xã hội Pháp đã đệ trình một dự luật về trợ tử đối với những bệnh nhân trong giai đoạn cuối cùng của bệnh ngặt nghèo như cancer và không còn hy vọng.

Dự luật thuận cho việc trợ tử để bệnh nhân có thể chết trong phẩm giá (?).

Nhưng cuối cùng dự luật trên đã bị chánh phủ Pháp bác bỏ.

Hoa kỳ và trợ tử

Tại Hoa Kỳ, tháng 11/2000, cử tri của tiểu bang Maine đã bác bỏ dự luật trợ tử.

Ngược lại, tiểu bang Oregon đã có 341 người được giúp trợ tử tính đến cuối 2007.

Ngoài tiểu bang Oregon ra, các nơi khác đều cấm trợ tử.

Tuy nhiên, theo cuộc thăm dò Gallup năm 2002 cho thấy có 72% dân chúng Mỹ thuận việc trợ tử.

Ngày 08/12/2009, tù nhân tử hình Kenneth Biros 51 tuổi bị đem ra «trợ tử» (xử tử) tại Ohio. Anh ta là tử tội đầu tiên bị giết bằng cách tiêm mạch một loại thuốc duy nhất mà thôi thay vì phải cần một hổn hợp cocktail chứa 3 loại thuốc như từ trước tới nay thường đuợc tòa án Hoa Kỳ áp dụng.

Québec thì sao?

Thăm dò ở giới bác sĩ chuyên khoa spécialistes cho biết 75% đều ok việc trợ tử.

75% bác sĩ gia đình cũng vậy.

Thăm dò Crop cho thấy 80% dân Québec đều thuận việc trợ tử nếu chính tay người bệnh nhân làm đơn xin.

Michel Dongois. L’euthanasie, un geste médical. L’Actualité Médicale, Le Journal du Médecin Vol 31 No 4/10 Mars 2010

Tại Quebec, chính giới bác sĩ (chớ không phải bệnh nhân) đã đưa vấn đề cần trợ tử ra trước công luận. Năm 2009 vừa qua, Collèges des Médecins du Québec, Fédération des médecins spécialistes du Québec FMSQ và Fédération des médecins omnipraticiens du Québec FMOQ đã e dè hé cửa đem vấn đề then chốt nầy ra bàn cãi. Theo các thầy thuốc thì trợ tử phải được xem như một acte médical để giúp bệnh nhân thoát khỏi cảnh đớn đau thể xác. Không biết việc nầy có sái với y đức éthique médical hay không? Nhưng có điều chắc chắn là ý kiến quá táo bạo của các bác sĩ đã làm nổi dậy ngọn sóng thần tsunami từ nhiều phía: từ các nhóm bạo vệ sự sống, từ các tôn giáo lớn, từ những nhà đạo đức thiệt và cả các nhà đạo đức giả.…Riêng các nhà chánh trị thì cẩn thận hơn nên họ tránh né không dám tuyên bố nầy nọ, không có lợi.

Nếu trợ tử được hợp pháp hóa thì lãnh vực săn sóc cuối đời sẽ mất đi hết ý nghĩa của nó. Số phận người già, người bị khuyết tật nặng và người bệnh trầm kha liệt giường liệt chiếu sẽ ra sao?

Chắc họ trước sau rồi cũng sẽ được giải phóng hết cho đỡ mất công cũng như để tiết kiệm ngân sách.

Bác sĩ có thể ngưng tiếp dịch truyền perfusion, chất dinh dưỡng và kháng sinh qua tĩnh mạch, để cho bệnh nhân từ từ kiệt lực hay bị nhiễm trùng huyết rồi cuối cùng phải chết (euthanasie passive).

Tiến trình có thể kéo dài trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần lễ trước khi bệnh nhân chịu phép ra đi. (kiểu nầy chỉ có bác sĩ và các y tá thân cận trong soins intensifs mới biết rõ mà thôi).

Một cách đúng phép, thông thường bác sĩ có thể giúp bệnh nhân giảm đau bằng morphine. Nhưng với những liều lượng nào đó (gia tăng) thì morphine cũng có thể giúp bệnh nhân đi luôn chỉ trong vòng đôi ba phút hoặc trong vài ba giờ mà thôi (euthanasie indirecte).

Nhưng nếu có chứng cớ bác sĩ tiêm một chất thuốc nào đó để cho bệnh nhân chết trong vòng vài ba giây (euthanasie active), bác sĩ có thể bị kết tội cố sát homicide volontaire.

Những tình huống không rõ rệt tranh tối tranh sáng vừa nêu trên đã làm cho các bác sĩ rất khó xử, e dè và rất bối rối trong cách trị liệu.

Đó là lý do tại sao giới y khoa muốn làm sáng tỏ vấn đề và hợp pháp hóa vấn đề trợ tử càng sớm càng tốt.

Bác sĩ không muốn họ bị mang tiếng là người vừa ban bố sức khỏe mà cũng vừa là người ban bố sự chết.

Tại sao có người chống đối vấn đề trợ tử?

Nói rõ chống đối trợ tử chỉ xảy ra tại những quốc gia tiến bộ, có tự do và dân chủ thật sự chẳng hạn như tại các quốc gia Âu Mỹ. Mọi người đều có quyền phát biểu quan điểm của mình mà không sơ bị trù ẻo, bị đì hay bị mời đi « làm việc ».

Nhóm chống đối đầu tiên là các tôn giáo lớn, rồi kế đến là những nhóm nhân danh bảo vệ quyền sống v,v…Họ không ngớt làm áp lực ngăn cản chánh phủ trong việc hợp pháp hóa việc trợ tử. Các dân biểu, các chánh khách thì quá rét, cố né tránh bàn luận vấn đề quá tế nhị nầy vì họ sợ bị mất lá phiếu trong mùa bầu cử sắp tới…

Theo bà Jocelyne SaintArnaud, chủ tịch ủy ban y đức lâm sàng bệnh viện Sacré Cœur Montreal (présidente du Comité d’éthique clinique de l’Hôpital du Sacré Cœur de Montréal) :

-Nhiều người đồng ý trợ tử có thể được thực hiện bởi bất kỳ ai miễn là người nầy được huấn luyện kỹ, chớ không nhất thiết phải cần đến bác sĩ.

-Ban đầu thì trợ tử chỉ dành cho những người tinh thần còn sáng suốt và họ có bày tỏ ý muốn một cách rõ rệt và tự do, đồng thời họ cũng có làm đơn nhiều lần xin được giúp trợ tử.

-Sau đó lần lần, trợ tử sẽ bị lạm dụng và lan qua các nhóm yếu thế khác như các người bị bệnh tâm thần, trí não không còn được sáng suốt, đang trong tình trạng hôn mê, những người mắc bệnh suy thoái nặng (maladie dégénérative), những người không có làm đơn xin, và trẻ em .

Các sự kiện vừa nêu trên đã xảy ra tại Hòa Lan, nơi mà vấn đề trợ tử đã được coi là hợp pháp. Tại đây trợ tử đã lan ra :

-những nhóm người không nằm trong diện được phép trợ tử nhưng họ đã có làm đơn từ trước đó.

-trẻ em từ 12 đến 16 tuổi, với sự ưng thuận của cha mẹ chúng.

-các hài nhi, cháu bé từ 0 đến 12 tháng tuổi mắc phải những chứng bệnh ngặt nghèo, theo nghi thức Groningen (protocole de Groningen)

Còn trợ tử thú y là gì?

Theo đà phát triển của khoa học, rất nhiều kỹ thuật chẩn đoán và phương pháp trị liệu tân kỳ mà trước đây chỉ dành riêng cho y khoa, ngày nay cũng được thấy đem sử dụng nhan nhản bên thú y.

Trợ tử ở người là một vấn đề rất gây cấn, bị chống đối và đả kích dữ dội khắp mọi nơi, bị lên án kịch liệt và hầu như bị ngăn cấm tại hầu hết các quốc gia Tây phương.

Ngược lại, trợ tử thú vật thì rất dễ dàng và duờng như còn được khuyến khích nữa.

Ngày nay tại các quốc gia Âu Mỹ, chó và mèo được xem như những thành viên trong gia đình và tình cảm mà con người dành cho chúng đôi khi cũng không kém gì tình cảm họ dành cho con cháu trong nhà.

Một mai vì một lý do gì đó, chẳng hạn như con vật bị thương tật đau đớn hoặc mắc phải một chứng bệnh nan y khó chữa trị được hoặc chi phí chữa trị quá tốn kém, nhưng không chắc gì có được kết quả mong muốn.

Trong trường hợp này người chủ phải can đảm, gạt lệ, đắn đo giữa tình cảm và túi tiền để nghĩ đến giải pháp trợ tử hầu có thể giải phóng con thú bất hạnh sớm thoát khỏi các khổ đau cơ cực một cách vĩnh viễn.

Trợ tử thú y là phương pháp giúp cho con vật chết một cách êm ái nhẹ nhàng trong tình yêu thương của người chủ, và cũng nhằm mục đích để giúp nó khỏi kéo dài lê thê sự đau đớn về thể xác do một chứng bệnh nan y hay một tai nạn nào đó gây nên.

Nếu trường hợp trợ tử ở người, thì mục đích là để giúp bệnh nhân bảo toàn được…phẩm giá và nhân cách của họ (sic).

Trợ tử thú y giúp cho người chủ đỡ tốn tiền, bảo vệ cái hầu bao, khỏi cần chữa trị con vật thân yêu của mình một cách vô ích.

Tại các quốc gia Tây phương, vấn đề trợ tử phải do thú y sĩ thực hiện. Thường là tiêm thuốc mê hoặc thuốc ngủ với liều lượng cao.

Thông thường có hai cách:

1) Tiêm vào tĩnh mạch chân một loại thuốc gây mê barbiturique như Thiopental (Nesdonal), Pentobarbital sodium (Euthanyl) hoặc T61.

2) Tiêm vào xoang bụng: tác dụng chậm hơn tiêm vào tĩnh mạch.

Trong bất cứ trường hợp nào, thú y sĩ cũng phải nghe tim đến khi nó hoàn toàn ngưng đập. Đôi khi cơ vòng hậu môn hoặc cơ bọng đái giãn ra lúc con vật vừa mới chết kéo theo sự thải phân và nước tiểu ra ngoài. Các tiết vật khác cũng có thể tiết ra từ các lỗ thiên nhiên.

Sau đó, theo thủ tục thì thú y sĩ chia buồn cùng chủ nhân.

Kết luận

Các cuộc thăm dò survey tại nhiều quốc gia cho biết đa số người dân đều đồng ý với việc hợp pháp hóa vấn đề trợ tử.

Có người cho đó là một hành động dã man, trái đạo đức. Người khác thì cho rằng trợ tử là điều rất cần thiết trong trường hợp những bệnh ngặt nghèo và đau đớn không có hy vọng cứu chữa được nữa.

Trợ tử là một vấn đề có thể liên hệ đến bất cứ ai một lúc nào đó trong tương lai. Có thể chúng ta sẽ phải tự quyết định cho chính mình hay quyết đinh thay cho người thân trong trường hợp người nầy đang trong tình trạng hôn mê hay không còn đủ sáng suốt để phán đoán.

Vậy chúng ta nên suy nghĩ cho chín chắn ngay từ lúc nầy là vừa.

Nếu muốn, bạn già chúng ta có thể làm thêm tờ di chúc sinh học testament biologique, biological will để phòng hờ trong hoàn cảnh quá ngặt nghèo không còn hy vọng, cho phép bác sĩ ngưng chữa trị, tháo gỡ ống v,v... để khỏi phải kéo dài lê thê thời gian hấp hối và cuộc sống nhân tạo một cách vô ích. Mình ước mong được ra đi trong phẩm giá.

Tại hải ngoại, các chứng từ trên có thể được làm tại văn phòng luật sư hoặc chưởng khế.

(…M’opposer à tout acharnement thérapeutique…maintien en vie par des moyens mécaniques. Souhaiter mourir dignement. M’opposer à ce qu’on me fasse subir une opération ou un traitement qui aurait pour effet me laisser des séquelles graves ou de me laisser dans un état végétatif.)

Văn hào Arthur Hugh Clough ( 1819-1861, Anh Quốc) có nói một câu bất hủ :

« Anh không được giết người, nhưng cũng không cần phải cố gắng để giữ lại sự sống »

Post Reply