QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Hãy Quên Quá Khứ Để Hướng Về Tương Lai ???
Võ Trang

Tôi đã đọc câu này ra rất nhiều lần - cả trăm lần - để chắc mình không hiểu lầm!

Hãy quên quá khứ...
Tại hải ngoại, CSVN không ngừng kêu gọi người Việt hãy quên quá khứ để hướng về tương lai. Trong Tâm Sinh Lý học, quên quá khứ là chuyện không thể làm được. Cái gì đã đi vào bộ não thì sẽ ở đó cho đến khi con người lìa đời? Một đôi khi chấn thương sọ nảo hay tinh thần có thể làm gián đoạn dẫn truyền của hệ thống thần kinh. Nhưng khi hồi phục thì người ta vẫn nhớ lại. ...

Ngày nay, với tất cả thành tựu của con người trong mọi lãnh vực, văn minh trong cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần là nhờ quá khứ đấu tranh của cả mấy ngàn năm không chỉ qua những thành công mà chính là nhờ những thất bại. Thế thì tại sao phải quên quá khứ?

Nhưng "hãy" quên cái quá khứ nào? - Có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ tù đày trong những trại học tập không biết ngày mai, bị sĩ nhục mỗi ngày mà vẫn phải cám ơn "cách mạng" đã khoan hồng? Có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ của gia đình bị hăm dọa đẩy lên vùng kinh tế mới để nhà cửa còn lại cho "cách mạng" tịch thâu và khi trở về phải ngũ dưới hầm cầu, trên vĩa hè của chính nhà của mình? Quá khứ hải hùng hể bị chụp mũ là tư sản thì đời kể như tiêu tùng, thân bại danh liệt, tài sản tịch thu, thân tù đày? Quá khứ hãi hùng trên biển cả, khiếp đảm trong bìa rừng Thái, Lào mà mỗi gia đình người Việt ngày nay ở hải ngoại đều có 1 câu chuyện như là một phần đời... xa hơn nữa, có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ của cuộc cách mạng địa chủ năm 1954 đã hành quyết hàng chục ngàn người hay là cuộc chôn sống tập thể cả 5 ngàn người vào Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968? Ngược lại, có những quá khứ không nên quên bao giờ chẳng hạn như cuộc cách mạng muà Thu, Đại Thắng Mùa Xuân, những hy sinh vô bờ bến của Hồng Quân Liên Sô và Trung Quốc...?

Mỗi lần nghĩ về lịch sữ oai hùng của dân tộc và những hy sinh của tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nuớc là tôi thấy hãnh diện và sung sướng. Nhưng không phải quá khứ nào cũng huy hoàng và không có lý do gì tôi chỉ nên nhớ những huy hoàng ấy và bỏ qua những sai lầm như một trốn chạy. Còn như để quên quá khứ như một người mất trí thì hướng về tương lai để làm gì?

Ngay tại Việt-Nam ngày nay, nhiều người đã muốn quên quá khứ như mượn rượu để giải sầu. Có người còn muốn quên cả hiện tại. Phải chăng đây cũng là phản ảnh của hiện tượng hút xách, ăn nhậu, chơi ngông ? thêm vào đó chính quyền còn giúp cho đại đa số dân chúng một cuộc sống phải vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày một và một hệ thống giáo dục tẩy não để họ không có thời giờ nhớ về quá khứ hay phương tiện để tra cứu?

Hãy xoá bỏ hận thù...
Có lẽ người nói câu hãy quên quá khứ để hướng về tương lai muốn nói là hãy xóa bỏ hận thù để hướng về tương lai? Vì quá khứ là một "hiện thực" khách quan nên không thể quên được. Nhưng hận thù là sản phẩm của tâm tư con người nên con người có thể khắc phục được. Hận thù đưa đến trả thù sẽ làm cuộc sống máu me dơ bẩn. Hận thù làm tâm linh ta khốn khổ, cuộc sống mất đi cái hồn nhiên vô gía và hướng thượng... và ngay cả sau khi trả được mối thù, cái bàn tay nhuốm máu ấy vẫn không bao giờ rửa sạch...

Nhưng chính người cọng sản Việt-Nam đã lấy hận thù để làm cách mạng. Có cái lòng hận thù nào để giáo dục cho con cháu như thế này: hôm qua dân quân ta bắn rơi 2 máy bay của Mỹ Nguỵ. Hôm nay dân quân ta lại bắn rơi thêm 3 chiếc nữa. Vậy tổng cọng ta đã bắn rơi bao nhiêu chiếc cả thảy? Họ đã lấy hận thù để tiêu diệt tất cả các đảng phái không cùng chính kiến với họ. Sau khi toàn thắng ở miền Nam, thay vì dùng cái cơ hội bằng vàng này để nêu cao chính nghĩa dân tộc và hòa giải quốc gia, họ nhìn ở đâu cũng thấy toàn kẻ thù. Cái tâm lý bệnh hoạn và sợ hãi củng cố chế độ đã làm họ phải quyết định bế môn tỏa cảng trong cả 10 năm đầu. Hậu quả thì như ai cũng biết, nước Việt-Nam đã trở thành 1 trong 10 nước nghèo đói nhất của thế giới. Đánh động được lương tâm của con người qua những việt trợ nhân đạo, chính họ cũng phải nới lỏng nền kinh tế chỉ huy thiếu hiện thực, như đã từng được chứng minh qua các cuộc cách mạng ở Liên Sô và Trung Quốc. Nhưng khi tình hình đã được khả quan hơn nhờ những trao đổi với bên ngoài, họ trở lại nhìn thấy thêm kẻ nội thù, từ chính người dân của họ, những đồng chí mà cách đâu không lâu đã hy sinh cuộc đời cho sự nghiệp "giải phóng" dân tộc do họ chủ xướng. Ngoài những lực lượng thù nghịch, họ đã đặt để thêm những kẻ thù trong những "diễn tiến hoà bình" - nỗi lo sợ và lời buộc tội đã mâu thuẩn với chính danh xưng của những biến chuyển mà nghe ra rất khách quan trong phát triển tự nhiên của con người. Họ khuyên người ta hảy quên quá khứ, xóa bỏ hận thù nhưng chính họ thì không bao giờ, - vì hận thù vốn là sức sống, là linh hồn, là nền tảng của sự an toàn trong tư tuởng và lý luận của những người cọng sản Việt-Nam khi đi làm các mạng!

Nhưng có những hận thù nào ta không nên quên chăng? cho dù cả ngàn năm sau? như hận thù của 2 bà Trưng Trắc Trưng Nhị trước cảnh nước mất nhà tan mà rồi cuối cùng vẫn phải nhảy xuống sông tự vẫn? Trong đấu tranh cho Chủ Nghĩa Xã Hội, người vô sản có nên quên mối thù không đội trời chung với bọn tư bản bóc lột? Không hận thù thì làm gì có cách mạng? những ai còn phân vân với tính chuyên chính vô sản này thì cứ tìm đến ông Tô Huy Rứa để nghe lời giải thích. ... Hay là chỉ có người cọng sản mới được quyền hận thù?

Mới đây thôi, trong bài diễn văn đọc trước Quốc-Hội Hoa Kỳ, bà Thủ Tướng nước Đức đã nói gì? Cần nhắc lại, bà Merkel đã sống và lớn lên trong xã hội cọng sản Đông Đức mà vẫn trở thành Thủ Tướng của nước Đức thống nhất là một bằng chứng của sự xóa bỏ hận thù: "Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng và chà đạp các quyền vô giá của con người".

Xóa bỏ hận thù không có nghĩa là đồng lõa với tội ác. Không chịu nhìn thẳng vào cái gì đã gây ra hận thù nhưng chỉ biết kêu gọi xoá bỏ, cũng như họ kêu gọi đoàn kết nhưng không chỉ cho thấy cái gì đã gây ra chia rẽ là một sự lường gạt ấu trĩ và rẽ tiền !.

Để hướng về tương lai...
Có ai trong chúng ta sống mà không để hướng về tương lai?. Ngay cả trong tu dưỡng cá nhân cũng đễ cho một sự ra đi thanh thảng khi từ giả cuộc đời. Tất cả người Việt chân chính đều mong muốn thấy được một nước Việt-Nam giàu mạnh, công bằng và nhân bản. Nhưng một lần nữa chúng ta đang nói về một tương lai nào? Một sự thành cộng của Chủ Nghĩa Xã Hội tại Việt-Nam và trên toàn thế giới? Quên quá khứ để hướng về tương lai trong diễn dịch của nhà cầm quyền CSVN là quên hết (như người mất trí?) và chấp nhận trở về làm việc cho họ. "Bằng lòng đi em về với quê hương". Những người cọng sản Việt-Nam đã nói rõ ràng rồi: yêu nước là yêu Chủ Nghĩa Xã Hội. Danh từ "đoàn kết" có nghĩa là từ bỏ vị trí chống đối hoặc không đồng chính kiến để trở về dưới sự lãnh đạo của họ. Không có hòa hợp hòa giải gì cả. Hãy thành thật với nhau như chút liêm sĩ còn lại mà chúng ta đều hiểu: không ai có tư cách mặc cả với chế độ CS hiện nay cả!

Tôi không tin là cho đến bây giờ những người gọi là Việt Kiều Yêu Nước vẫn chưa biết mình đang nói cái gì? Xin các Việt-Kiều Yêu Nước đừng lừa dối thế hệ trẻ ngày nay vì họ không có cơ hội để kiểm chứng. Xin đừng tiếp tục làm dơ bẩn những ý tưởng cao đẹp của lòng nhân đạo, tình quê hương là những giá trị cao quí của dân tộc. Nhắm mắt lại như con đà điểu chui đầu vào cát? - những người tự gọi là Việt Kiều yêu nước đi về Việt-Nam xây vài lớp học, đào vài cái giếng rồi giáo dục những người Việt khác cũng nên yêu nước như mình... Chính người viết bài này cũng đã và đang gởi tiền về Việt-Nam để giúp đở bạn bè thân nhân khốn khổ của mình... nhưng yêu nước và "chỉ là" lòng nhân đạo khác nhau rất nhiều!. Hãy nhìn cho rõ cái nguyên nhân chính đã đưa đến tình trạng hiện nay. Đó là hậu quả của một chế độ chính trị lỗi thời đang ngự trị trên cái quê hương khốn khổ này. Con đường đi đã sai lầm rồi thì càng đi càng xa cái đích dù đi bằng cách nào đi nữa. Trong mặt tiêu cực, càng đi càng lãng phí, càng phá hoại như chúng ta đã nhìn thấy xã hội hiện nay. Dù có bao nhiêu nghị quyết, bao nhiêu "rà soát" cũng chỉ là "mị dân" mà thôi.

Chính cái chế độ chính trị này trong hơn 30 năm qua đã đưa đất nước thụt lùi, cụ thể là so với các nước khác trong vùng. Trong lãnh vực xã hội, chính cái chế độ chính trị này đã tạo ra 1 giai cấp thống trị mà giờ đây chẳng khác gì một loại băng đảng, bao che cho nhau và sống trên mồ hôi nước mắt của tuyệt đại đa số người dân còn lại. Cái hậu quả của chế độ chính trị này đã và đang thấy tại các quốc gia đi theo cùng một chế độ chính trị. Tại Việt Nam, để bảo tồn quyền lực, băng đảng này đối với các thế lực cường quốc thì lạy dạ run sợ nhưng đối với chính người dân khốn khổ của mình thì thẳng tay đàn áp. Người cọng sản nói rất rõ: chế độ nào cũng là chế độ độc tài của giai cấp thống trị. Trong chế độ XHCN, đó là giai cấp vô sản. Cho nên chế độ XHCN là chế độ độc tài của giai cấp vô sản. Người cọng sản cười thầm khi những kẻ theo đuôi họ cứ ráng giải thích tính dân chủ tư sản của chế độ cọng sãn.

Nhưng thực tế chúng ta thấy gì? - chế độ của họ ngày nay quả là chế độ độc tài của 1 giai cấp lãnh đạo, nhưng không phải vô sản mà là 1 loại siêu tư sản, được bảo vệ một cách công khai bởi hệ thống chính trị và chính quyền. Điều này không chỉ thấy ở Việt-Nam mà trong hiện thực của tất cả các nước cọng sản ngày nay. Trong kinh tế , nhờ vào quyền lực sẵn có, họ hội tụ tài sãn của cả quốc gia vào trong tay tập đoàn lảnh đạo của họ. Cho nên nhóm bè đãng lãnh đạo của bọn họ rất giàu trong khi quốc gia thì vẫn èo ọt và tuyệt đại đa số người dân thì vẫn nghèo đói. Trong chính trị, băng đảng của họ có quyền lực không khác mấy thời của những lãnh chúa... cái chế độ như cha truyền con nối là những ngạo mạn, thách thức đối với lương tri của con người. Nếu họ vẫn còn đó và có lẻ phải còn chờ lâu nữa cho đến khi trình độ dân trí của dân ta đủ mạnh để chiến thắng những khó khăn và sợ hải của cuộc sống thì xã hội sẽ tiếp tục như vậy. Đó là cái tương lai mà Người Việt Yêu Nước muốn hướng về? Còn nếu không, hãy quên bất cứ quá khứ nào cũng được để hướng về 1 tương lại vô định thì nếu người nói không mù quáng là có ý xem thường khả năng phán đoán của người nghe rồi. Một số người Việt khác quả quyết họ vẫn yêu quê hương bằng một con đường hợp tác khác, như con đường của một Tôn thọ Tường thì tôi chỉ còn biết tặng họ lại hai câu thơ của cụ Phan văn Trị:

Anh hởi Tôn Quyền anh có biết?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng...

Vào lứa tuổi của tôi có bạn đã chết, đang bị đày đoạ trên chính quê hương của mình, đã vùi thây trong Thái Bình Dương bao la, trong những bìa rừng âm u ở Thái, Lào hay đang lạc lỏng trên những mãnh đất xa lạ nào đó ở Châu Phi, ở Trung Đông... so với họ tôi may mắn hơn nhiều. Hơn 30 năm đã qua. Vì nhiều lý do: an ninh bản thân và gia đình, an toàn khi có dịp về thăm quê nhà, miếng cơm Tây, manh áo gấm khiến tôi đã vô tình im lặng và tránh né. Giờ đây tóc đã hai màu, còn chút tình mà vẫn không dám nói thì đợi đến bao giờ? Riêng đối với các chiến sĩ VNCH trong đó có hàng cha anh chú bác của tôi, những người đã chết cho cho một chính nghĩa đã bị chối bỏ và chưa bao giờ được nhìn nhận, họ sẽ được những người CSVN viết lại trong lịch sữ như những tội đồ ... tôi có thể nào quên họ, quên cái quá khứ có sự hy sinh vô bờ và cô đơn của họ? Trong tự do của hôm nay tội vẫn nên tiếp tục "hy sinh", không nên nói lên những khát vọng của những người bạn, của đại đa số đồng bào kém may mắn hơn tôi đễ giữ an toàn và phồn vinh cho thiểu số còn lại chấp nhận đổi đời? Tôi không có tư cách để khuyên mọi người nên nói như tôi nói. Nhưng tôi sẽ cảm thấy hổ thẹn khi khuyên họ không nên làm như thế bởi vì với tôi, viết là để công bằng trả lại cho đời chút ân tình mà tôi đã nhận, dù chỉ là ngọn lữa của một que diêm, như một người bạn của chúng tôi có nói, sẽ không đủ sức để sưởi ấm cho cả một mùa đông băng giá này!.

Võ Trang

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Ðạt Thịnh

“Tâm tư tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” là quyển sách mới nhất của ông Nguyễn Tiến Hưng; tác phẩm trước ông viết, “Hồ sơ mật dinh Ðộc Lập” đã tạo tín nhiệm với độc giả, do đó lần này tác phẩm mới của ông rất thành công, ngay trong buổi ra mắt tại Nam Calif. Ký giả Vi Anh viết, “Mười bốn năm ở Little Saigon chưa bao giờ người viết bài này thấy một cuộc ra mắt sách nào số người tham dư đông đảo, nghiêm trang như cuộc ra mắt sách “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”
Ông Vi Anh kể, “Ngày Chủ Nhựt 16-5-2010, tại Rose Theater, Thành phố Wesminster, tác giả tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng từng là bộ trưởng kế hoạch, cố vấn ngoại giao cho cố TT Nguyển văn Thiệu ra mắt sách “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”.
Ông Hưng là người làm việc gần gũi TT Thiệu khi ở trong nước, và khi ra hải ngoại tới lui rất thường với TT sau 75. Có thể nói ông là một nhân chứng sống, hiểu biết tường tận tâm tư TT Thiệu đối với đồng minh Mỹ.”
Vi Anh mô tả chi tiết cuộc ra mắt sách,“ khoảng 650 ghế trong hội trường ngồi đầy cả, mà nhiểu người còn đứng lắng nghe phía sau. Trong bài nói chuyện có vẻ hàn huyên tâm sư, tâm tình với nhau hơn là diễn thuyết, hay diễn giảng, tác giả tâm tình tâm sự cứu cánh của Ông khi viết quyển “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”, Ông muốn cho lớp trẻ người Mỹ gốc Việt ở quê hương thứ hai là nước Mỹ này rút kinh nghiệm. Tại sao một chánh quyền qui mô như Mỹ lại có một lổ hỏng trong thòi kỳ chiến tranh như Chiến tranh VN. Cái lổ hỏng đó Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng gọi là hiện tượng Kissinger (phenomenon Kissinger – chữ phenomenon (Anh), phénomène (Pháp) hiểu theo nghĩa một thứ kỳ quặc. Kỳ quặc nhưng đóng một vai trò quan trọng cho sư sụp dổ VNCH. Phần dẫn nhập của Ts Hưng làm cho người nghe liên tưởng đến những câu hết sức quen thuộc trong tập thề người Mỹ gốc Việt lâu nay, làm kẻ thù Mỹ thì dễ làm bạn với Mỹ thì khó.”

Chưa được đọc quyển “tâm tư tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, nhưng tôi biết nhiều khó khăn, nhục nhã của ông Thiệu qua quyển “Hồ sơ mật dinh Ðộc Lập”.
Mặc dù thương cảm cho cái yếu thế của vị tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, trong cảnh lãnh tụ một quốc gia nhược tiểu đi xin, rồi nhận, và cố giữ viện trợ Mỹ cho đất nước mình vừa nghèo đói, vừa lâm nguy trước cuộc chiến tranh xâm lược của Việt Cộng, nhưng tôi vẫn không đồng ý với tác giả về việc vẽ chân dung ông Thiệu qua một góc duy nhất: góc đối ngoại, cắn răng chịu nhục với những chính phủ Hoa Kỳ, người đồng minh thiếu tín nghĩa, không tôn trọng danh dự, hèn nhát bỏ chiến trường tháo chạy.
Ông Hưng biết rất rõ là ngoài bức chân dung “người đồng minh bị phản bội”, ông Thiệu còn một vai trò nữa: ông là tổng thống của một quốc gia 30 triệu dân, và là tổng tư lệnh của một quân đội 1 triệu quân nhân, đã chiến đấu trong suốt vài chục năm dưới quyền ông, từ lúc ông là một thiếu úy cho đến lúc ông trở thành một tướng lãnh tư lệnh sư đoàn, quân đoàn, rồi tổng tư lệnh quân đội.
Ông đã làm những gì để 30 triệu người dân Nam Việt được tiếp tục sống trong tự do, và để 1 triệu người lính dưới quyền ông có thể chiến đấu bất khuất dù không có viện trợ Mỹ.

Ðó chỉ là một trong nhiều nhận định của tôi về tổng thống Thiệu; trong những năm ông còn sống tôi đã viết rất nhiều bài báo chỉ trích việc ông, một tổng tư lệnh, bỏ chạy, an toàn đem toàn bộ gia đình ra ngoại quốc, trong lúc quân đội còn đang giao tranh với địch và đang thất thế vì lỗi lầm chiến lược và chính trị của ông. Tôi không muốn dùng những chữ nặng hơn chữ “lỗi lầm”.
Có lần nhân khi ông tuyên bố tại hải ngoại là ông sẵn sàng đóng vai quyển từ điển sống về chiến tranh Việt Nam cho bất cứ người Việt nào muốn hỏi về cuộc chiến này, tôi đã viết bài xin ông mở quyển từ điển đến chữ “T” để cùng thảo luận với tôi về “tỉnh lộ 7b” và cuộc rút lui thê thảm ngày 15 tháng Ba, giúp Văn Tiến Dũng tiêu diệt toàn bộ lực lượng của Quân Ðoàn 2, sau khi ông Thiệu đã lột hết vũ khí nặng của họ.
Giờ này ông Thiệu không còn nữa, tôi xin thảo luận với ông về cuộc rút quân mà ông ghi nhận không chính xác, phê phán bất công.
Ðiều không chính xác thứ nhất, trên trang 444 của quyển “HỒ SƠ MẬT DINH ÐỘC LẬP”, ông viết như sau, “Toàn bộ sư đoàn 23 bộ binh đã được điều động về Pleiku: việc phòng thủ Banmethuột giao lại cho một liên đoàn Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân, phần lớn gồm dân Thượng. Tướng Phú ở lại Pleiku, cách Ban Mê Thuột 94 dậm về phía Bắc. Khi địch tấn công Ban Mê Thuột ông ta bị cô lập hoàn toần và không thể điều động SÐ 23BB để chiếm lại thế thượng thủ được nữa.”
Chi tiết này hoàn toàn sai, tướng Phú không hề có toàn bộ SÐ 23BB tại Pleiku; và một trung đoàn của SÐ này, trung đoàn 53, do trung tá Ân chỉ huy vẫn phòng thủ BMT, cả vị tư lệnh phó SÐ, đại tá Nguyễn Thế Quang, cũng có mặt tại thành phố này, thành phố từ 1975 đã trở thành Buồn Muôn Thủa đối với người Việt lưu vong.
Tối mùng 9 tháng Ba, tư lệnh QÐ 2, thiếu tướng Phạm Văn Phú, còn đáp trực thăng xuống BMT, đi thanh tra hệ thống phòng thủ của phi trường Phụng Dực, căn cứ tử thủ sau này của trung đoàn 53. Ông và đại tá Quang, trung tá Ân đã thảo luận rất lâu về phương thức phòng thủ của một trung đoàn, chống lại 3 sư đoàn bộ binh địch, có một lực lượng pháo binh và thiết giáp hùng hậu yểm trợ.
Nói cách khác là cuộc tấn công BMT không hề là một bất ngờ chiến thuật đối với những giới chức quân sự tại QK II, mặc dù nó là một bất ngờ chiến lược cho vị tổng tư lệnh quân đội tại Sài Gòn, trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.
Tại Pleiku, thiếu tướng Phú chỉ có một trung đoàn 45 (trú đóng tại căn cứ Hàm Rồng); sáng ngày 14 tháng Ba 1975, đại tá Phùng Văn Quang, trung đoàn trưởng, được lệnh đưa trung đoàn về giải cứu BMT. Ðêm hôm trước, ông Phú chỉ thị cho ông Quang võ trang tối đa súng chống chiến xa cho chiến sĩ trong nhiệm vụ tái chiếm BMT, vì trung tá Ân đang đối phó với vài chục chiến xa quanh phi trường Phụng Dực.
Quân nhân trong trung đoàn háo hức chờ trực thăng đến căn cứ Hàm Rồng đón họ, họ háo hức trong nhiệm vụ vô cùng thiết thân là giải cứu BMT, nơi có hậu cứ của trung đoàn với toàn bộ vợ con họ ở đó. Bà đại tá Quang, mặc quân phục của chồng, cũng xách theo một khẩu M 72. Ông bà còn 2 đứa con sống trong thành phố đang lọt vào tay giặc.
Tôi dài lời mô tả cuộc hành quân “tái chiếm” BMT là để ông thấy tướng Phú không hề có nguyên cả SÐ 23 BB tại Pleiku, nếu có ông đã không đưa chỉ 1 trung đoàn xuống đánh 3 sư đoàn Việt Cộng. Hy vọng ông thấy đây là biện pháp tuyệt vọng của vị tư lệnh Quân Ðoàn 2.
Sáng 14 tháng Ba chính tướng Phú đã có mặt tại Hàm Rồng, kiểm điểm vũ khí chống chiến xa của binh sĩ trước lúc đoàn trực thăng đầu tiên cất cánh; sau đó ông đi Cam Ranh phó hội.
Tại đây ông xin hai vị tướng cấp trên của ông, một vị là tổng tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu, vị kia là tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên tăng viện cho QK II (trang 447). Ông Nguyễn Tiến Hưng, viết, “Ông ta xin thêm quân tăng cường và trực thăng, nhưng được Viên cho biết quân trừ bị đã xử dụng hết rồi,” câu trả lời này khiến tôi viết ở đoạn trên là dù trên cấp chiến thuật, tướng Phú không bị bất ngờ vì cuộc tấn công BMT, nhưng BMT đã là một bất ngờ chiến lược cho tổng tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu.
Bất ngờ này được nhìn thấy rõ qua câu trả lời của đại tướng Viên khi ông nói lực lượng tổng trừ bị của Việt Nam “đã bị xử dụng hết rồi.”
Lực lượng TTB là quân xe, quân pháo trên bàn cờ chiến tranh Việt Nam; năm 1972 chính lực lượng này đã tự xé thành 3 cánh để giữ vững cả 3 mặt trận Quảng Trị, Kontum và An Lộc.
Nhưng tháng Ba 1975 “quân trừ bị đã xử dụng hết rồi” là xử dụng ở đâu?
Tháng Giêng 1975 khi Việt Cộng tấn công tỉnh Phước Long để thử nghiệm phản ứng của Hoa Kỳ và của VNCH, thì tướng Viên cũng không có lực lượng tổng trừ bị để đưa vào cứu viện Phước Long; ông phải dùng đến Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Nhẩy Dù, một đơn vị chuyên tác chiến sau phòng tuyến địch, và tác chiến bằng những đơn vị cấp nhỏ.
Trả lời một câu hỏi của truyền thông về việc không xử dụng lực lượng Nhẩy Dù như thường khi, trung tướng Dư Quốc Ðống nói toàn bộ sư đoàn NDù bị “kẹt” ngoài giới tuyến vì điều khoản cấm chuyển quân của thỏa ước Ba Lê 1973. Ông kể lại việc ông đưa một tiểu đoàn ND về Long Bình dưỡng quân, thì bị Việt Cộng phản đối với người Mỹ, và Mỹ yêu cầu ông đưa tiểu đoàn vừa về miền Nam trở ra miền Trung.
Tôi còn biết một giai thoại khác chứng minh việc các cấp chỉ huy chiến lược của VNCH bị bất ngờ vì cuộc tổng tấn công 1975 của địch.
Giai thoại đó là một sĩ quan Việt Nam, sau trận Phước Long và sau tiết lộ của trung tướng Ðống, đã viết phiếu trình lên đại tướng tổng tham mưu trưởng đề nghị thiết lập một lực lượng tổng trừ bị thứ nhì, tăng cường cho 2 sư đoàn tổng trừ bị -Nhẩy Dù và TQLC- bị bất động vì lý do chính trị.
Phiếu trình nói rõ là với gần 50 tiểu đoàn BÐQ tinh nhuệ, VNCH có thể thành lập 4 sư đoàn tổng trừ bị, sau khi võ trang cho họ thêm thiết giáp và pháo binh. Nếu có 4 sư đoàn này, tướng Viên đã không phải trả lời tướng Phú bằng 2 chữ “hết quân” khiếp đảm; khiếp đảm vì không có tăng viện trung tá Ân với trung đoàn 53 của ông, đại tá Quang với trung đoàn 45 của ông, dù có tài giỏi đến đâu cũng không chống cự nổi với 3 sư đoàn địch.
Xin nhắc lại thời điểm của trận Phước Long là tháng Giêng 1975, lúc chúng ta còn nguyên 3 tháng trời để tái tổ chức lực lượng tổng trừ bị. Cuối tháng Ba đại tướng Frederic Weyand được tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford cử sang Việt Nam để khuyến cáo một giải pháp.
Weyand, vị tư lệnh cuối cùng của lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, là vị tướng tương đối trẻ (vào những năm ông phục vụ chiến trường Việt Nam), có nhãn quan chiến lược, và cũng là người đã bất đồng ý kiến với tướng Westmoreland về mục tiêu tấn công của Việt Cộng trong trận Mậu Thân. Westmoreland đưa quân ra biên giới và Khe Sanh để chờ một Ðiện Biên Phủ tái diễn năm 1968, trong lúc Weyand giữ một lực lượng của Chiến Ðoàn 2 do ông chỉ huy lại Long Bình; do đó ông là lực lượng Hoa Kỳ đầu tiên giúp quân lực VNCH đánh bật Việt Cộng ra khỏi Sài Gòn.
Ðến Việt Nam lần chót, Weyand khuyến cáo VNCH nên sử dụng những tiểu đoàn, liên đoàn BÐQ để thành lập tổng trừ bị. Nhưng thời gian quá cấp bách và thế giặc đuổi sát sau lưng, chúng ta không còn thì giờ nữa.
Một điều nữa tôi muốn viết về việc trận BMT bị trình bầy sai lệch trong quyển HÔ SƠ MẬT DINH ÐỘC LẬP là câu ông Hưng viết trên trang 447, “Thiệu ra lệnh cho Phú rút lui khỏi Pleiku để tái chiếm BMT, và trên trang 448, “Quân Ðoàn II sẽ triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum, tập trung lại tại Tuy Hòa, rồi tiến đánh BMT.”
Không phải là một quân nhân, ông Hưng có thể lầm về điểm này, vì muốn tái chiếm BMT, thì Tuy Hòa không thuận lợi bằng Pleiku. Tôi nghĩ ông Hưng viết câu này chỉ để bênh vực quyết định sai lầm của ông Thiệu là triệt thoái Cao Nguyên, quyết định đưa đến việc mất nước.
Tướng Phú cũng đã nỗ lực tái chiếm BMT ngay ngày ông xuống Cam Ranh phó hội với ông Thiệu; nếu lực lượng ông đến Hàm Rồng sáng hôm 3/14 để thị sát trước khi đưa vào chiến trường là sư đoàn Nhẩy Dù hay sư đoàn TQLC thì tình hình đã khác hẳn. Nhưng Sài Gòn thản nhiên trả lời ông là toàn bộ lực lượng tổng trừ bị bận việc khác, quan trọng hơn công tác cứu viện BMT.

Chỉ riêng việc Phước Long thất thủ, rồi BMT bị tấn công mà chính phủ VNCH vẫn không dám vi phạm hiệp định Ba Lê, rút hai sư đoàn Nhẩy Dù và TQLC từ giới tuyến trở về Sài Gòn để đảm nhiệm vai trò tổng trừ bị tối cần thiết cho giai đoạn quyết định của chiến trường, thì quả khó tìm được chữ để mô tả tâm trạng của tổng tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu trong giai đoạn này.
Ấy là chưa bàn đến lệnh của ông Thiệu bắt Quân Ðoàn 2 rút quân bằng tỉnh lộ 7b, con đường bỏ phế từ sau năm 1954, không còn cây cầu nào nguyên vẹn, khiến lực lượng rút lui bị tước hết vũ khí nặng, bỏ lại bên bờ sông, bờ rạch, ngay tại cây cầu gẫy đầu tiên.

Ông Nguyễn Tiến Hưng đã thành công trong buổi ra mắt quyển “Tâm tư tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, vì số tài liệu phong phú và đặc biệt ông trích dẫn trong quyển HỒ SƠ MẬT DINH ÐỘC LẬP. Là một tác giả khoa bảng biết cách viết một quyển sách tài liệu, ông còn là một người thân tín của ông Thiệu, được ông này trao lại toàn bộ hồ sơ cất giữ nhiều năm tại lầu 3 dinh Ðộc Lập.
Hai yếu tố này giúp ông thành công, nhưng ngoài giá trị đơn thuần của những tài liệu lịch sử, nhiều dữ kiện khác liên quan đến chiến tranh đã bị ông diễn dịch không đúng, dù ông cố ý hay không.
Trận đánh BMT là một thí dụ.

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nhân lễ Chiến Sĩ Trận Vong Mỹ, nhớ Nghĩa Trang Biên Hòa !

Tác Giả : Huy Phương
Vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 5, người Mỹ kỷ niệm lễ Chiến Sĩ Trận Vong, tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã hy sinh trên khắp các mặt trận
kể từ sau cuộc nội chiến Nam Bắc 1860. Ngày này cũng là dịp để người Việt nhớ đến những người đã nằm xuống trong cuộc chiến vừa qua. Ông Vũ Văn Lộc, Giám đốc tổ chức IRCC ở San Jose, California trao đổi với VOA về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nơi vẫn còn 16.000 mộ phần quân nhân miền Nam vào tháng 4 năm 1975.
Image
Hình: IRCC / Tượng “Thương Tiếc” trước cổng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị giật sập sau 1975
VOA: Xin ông cho biết sự liên hệ giữa tổ chức IRCC của ông và Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa?
Ông Vũ Văn Lộc: IRCC là cơ quan định cư của người di dân. Bên cạnh đó, tôi có thực hiện một viện bảo tàng thuyền nhân Việt Nam Cộng Hòa tại San Jose. Trong viện bảo tàng, tôi có nhu cầu thực hiện lịch sử và mô hình của nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thành ra cơ quan này là cái duyên của tôi.
Trước năm 75 tôi là một trong những người có liên hệ đến việc xây dựng nghĩa trang này, chúng tôi có theo dõi để biết các diễn tiến của nghĩa trang cho đến bây giờ.
VOA: Cách đây mấy năm, Thủ tướng Việt Nam đã ký quyết định dân sự hóa nghĩa trang này, quyết định này có ý nghĩa gì và kết quả cụ thể cho tới giờ này ra sao?

Ông Vũ Văn Lộc: Tôi nghĩ các ông ấy đã đến lúc phải làm nhưng tôi nghĩ biến thành nghĩa trang nhân dân thì chẳng đi đến đâu cả, bởi vì cái ý nghĩa quan trọng nhất là những người chiến binh miền Nam, khi người ta nằm xuống trong nghĩa trang đó, người ta không thể biến thành nhân dân được. Các ông ấy làm như vậy là lẩm cẩm, cho nên từ lúc đó chúng tôi đã yêu cầu nó phải là một di tích lịch sử của chiến tranh, vẫn luôn luôn là những ngôi mộ và nghĩa trang của phía quân lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy mới đúng.
Thực ra thì có vẻ như họ đã nhìn nhận có sự kiện đó, nhưng họ muốn bẻ ngoặt sang phía khác. Trên thực tế có một điểm như thế này: họ chưa có hành động tàn nhẫn là bốc đi chỗ khác hay là di tản.

Nếu đó là một nghĩa trang nhân dân thì sẽ giống như các nghĩa trang nhân dân khác trên đất nước. Có thể một ngày nào đó, nếu có nhu cầu muốn giải tỏa thì vẫn giải tỏa được. Nhưng nếu là một di tích lịch sử của chiến tranh để lại thì việc giải tỏa có thể không thể thực hiện được.
Thêm nữa, đã là nghĩa trang nhân dân thì sẽ theo quy chế của nghĩa trang thường, tức là ai muốn bốc mộ đem đi chỗ khác cũng được, muốn chôn thêm người vào đó cũng được. Như vậy chỉ độ vài chục năm sẽ có dân thường chôn ở đó; thế thì ý nghĩa của một nghĩa trang quân đội trong một thời kỳ chiến tranh hoàn toàn mất hết.

VOA: Cũng cách đây mấy năm, cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ cũng kêu gọi Việt Nam xét lại vấn đề Nghĩa Trang Biên Hòa khi ông ấy về Việt Nam, ông có ghi nhận kết quả nào về lời kêu gọi này hay không?
Image
IRCC / Một góc của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước năm 1975
Ông Vũ Văn Lộc: Tôi có theo dõi nhiều nhưng không thấy kết quả gì cụ thể cả, mà ông Kỳ không có một suy tính tham mưu khoa học đầu đuôi. Ông chỉ nói theo ngẫu hứng, theo nhu cầu chính trị và cá nhân. Ông ấy cũng chẳng biết trong đó còn lại bao nhiêu ngôi mộ, chia lô như thế nào, hoàn cảnh thực tế như thế nào.

Do nhu cầu nghiên cứu nên chúng tôi biết khi chúng ta bỏ nước ra đi năm 75 thì ở đó có 16.000 ngôi mộ, và do diễn tiến từng ngày một xảy ra thì bây giờ cũng còn vào quãng 11.000. Như vậy đang còn một số đất trống có thể chôn cất thêm được quãng bốn năm ngàn người nữa. Còn nhà máy nước Bình An thì bên cộng sản họ cho đóng vào ngay chính giữa khu nghĩa trang, làm cho con đường đi từ cổng nghĩa trang đi qua Đền Tử Sĩ tới Nghĩa Dũng Đài bị cắt ra. Xong họ mở một cửa hông nhỏ để cho mọi người vào thăm. Tính chất họ làm chẳng có gì gọi là đàng hoàng cả.

Vì thế tôi nghĩ ông Kỳ cũng chưa tạo được một ảnh hưởng gì và cũng không biết mình đòi hỏi cái gì cho đúng đắn và làm cái gì cho nó rõ ràng cả. Ông chỉ nói có tính cách chính trị mà thôi.

VOA: Ông vừa nói nghĩa trang bây giờ đã mở cửa cho mọi người vào thăm. Hiện nay việc thăm viếng này đã dễ dàng hay vẫn còn khó khăn như trước?
Ông Vũ Văn Lộc: Nói một cách công bình thì không khó khăn nhưng cũng rất lẩm cẩm. Chẳng hạn như không giống một nghĩa trang dân sự thực sự, nó vẫn tạo ra sự nghi ngờ và thân nhân vào thăm viếng không thoải mái, phải ghi tên, phải trả lời xem thăm ngôi mộ nào, ở đâu. Những cái đó không giống một di tích lịch sử mà cũng không giống một nghĩa trang thường.

Còn một điểm quan trọng nhất là bởi vì không có sự gìn giữ đàng hoàng nên có cây mọc giữa ngôi mộ, đường xá có cỏ mọc, thành ra tôi có một ước mong là chẳng cần xây cất bằng một ngân khoản lớn lao gì, chỉ cần giữ cho cây cỏ đừng tàn phá nghĩa trang; rồi nhiên hậu, lịch sử đến một giai đoạn nào người ở hải ngoại hay trong nước còn mồ mả thân nhân có thể có cơ hội chấn chỉnh cho đàng hoàng.
VOA: Mới đây, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa Trang Biên Hòa là chứng tích lịch sử quốc gia, ông nghĩ sao về đề nghị này?
Image
IRCC / Bia mộ hư hỏng của Hạ sỉ Lê Văn Cảnh
Ông Vũ Văn Lộc: Cái đó phải là một di tích của quốc gia. Đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Nam Bắc của Mỹ, hay bất cứ một cuộc chiến tranh nào, khi có một nơi tập trung chôn cất những tử sĩ như vậy thì đương nhiên nó phải là một di sản lịch sử của quốc gia.
Nhưng thực tình mà nói, cái này nó nằm trong Chính Trị Bộ, chứ còn Quốc hội thì tôi chả có hy vọng gì. Cái này phải do đảng cộng sản phải nhìn ra vấn đề rồi đến chính phủ phải làm.

Ở hải ngoại này mình phải vận dụng các chính phủ thông qua Quốc hội các nước thì mới có thể được, thành ra tôi cũng có biên thơ cho nhiều ông Dân biểu và Thượng nghị sĩ Mỹ, nói với họ bây giờ chúng tôi là công dân Mỹ, và đó là những mồ mả của thân nhân chúng tôi thì các ông phải lưu ý chứ.
Nhưng lẽ dĩ nhiên vấn đề này chưa phải là ưu tiên của họ. Tôi ước mong toàn thể khối hải ngoại và cả người trong nước cùng nhau vận động, bởi vì kể cả các chiến binh đối phương của chúng tôi họ cũng phải nhìn nhận như thế.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc của Hoa Kỳ là một bài học về tính chất văn minh của một nước là luôn luôn phải tôn trọng những người chết, cho nên ba mươi mấy bốn chục năm sau thì tất cả những tử sĩ của miền Nam rải rác đều được đưa vào trong nghĩa trang quốc gia Arlington của liên bang chôn cất. Họ làm cũng đàng hoàng lắm. Việt Nam muốn học đòi văn minh thế giới thì cũng phải làm như vậy.

VOA: Theo ông, giải pháp lý tưởng đối với Nghĩa Trang Biên Hòa nên theo hướng giải quyết như thế nào?
Ông Vũ Văn Lộc: Bây giờ tôi nghĩ người cộng sản họ có những khó khăn nội tại, nhưng họ vẫn có thể tiến từng bước một. Thứ nhất là tuyên bố đó là di sản lịch sử quốc gia.

Thứ hai, các ông ấy phải di tản ngay nhà máy nước đá Bình An đang nằm chình ình ngay giữa nghĩa trang, làm sao một di sản quốc gia mà có một nhà máy chặn đường vào nghĩa trang được.
Thứ ba, không cần phải xây cất lại cho nó hoành tráng, chỉ cần giữ cho nó có căn bản để nhiên hậu những bước kế tiếp, có thể con cháu của các liệt sĩ đã chết từ từ sẽ làm lại.

Khi chúng tôi đi khỏi Sài gòn thì ở đó còn 16.000 ngôi mộ, bây giờ đã cải táng được ít nhất 5.000; và cũng còn một số đất trống nữa. Nếu theo đúng kiểu trên thế giới người ta làm, thì những liệt sĩ được chôn rải rác ở khắp nơi, khi tìm được thì họ đem vào cải táng ở đó.
Bây giờ những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa chết trong lúc bị tù cải tạo ở các nơi, nếu bây giờ muốn cải táng từ những miền xa xôi thì cũng phải được chôn ở đó. Lẽ dĩ nhiên, gia đình hay bạn bè có thể làm, không cần chính phủ cộng sản phải làm. Như vậy nó mới trở thành một di sản quốc gia một cách rõ ràng, thể hiện được tình người Việt Nam nói chung cho các thế hệ tương lai.

Cũng có thể ngay cả những người như chúng tôi có thể cải táng đem về chôn ở đó. Tôi cũng sẵn sàng rất mong khi tôi chết trở về nằm ở đó, giống như nhạc sĩ Nam Lộc đã đặt trong một bài hát “xin cho tôi một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi.”

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Một số hình ảnh sinh hoạt của Cựu Chiến Sĩ QLVNCH tại Hoa Kỳ
trong dịp cuối tuần tháng 5/2010




A.- DIỄN HÀNH NGÀY CHIẾN SĨ TRẬN VONG TẠI THỦ ĐÔ HOA THỊNH ĐỐN:
Đoàn Diễn hành cuả Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng HTĐ và Phụ cận, tham dự lần thứ tư, Cuộc Diễn Hành Ngày Chiến Sĩ Trận Vong 2010 ( National Memorial Day Parade) tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ngày Thứ Hai 31-05-2010.

http://picasaweb.google.com/11824454288 ... feat=email#


B.- ĐẠI HỘI NHẢY DÙ LẦN THỨ 30 TẠI ARLINGTON, TX.
Đại Hội Nhảy Dù lần Thứ 30, tại Arlington, TX, ngày Thứ Sáu 28-05-2010.
Xem hình ảnh Slide Show:
http://picasaweb.google.com/ngocbktd/Ai ... 5454503074
Xem từng hình một:
http://picasaweb.google.com/ngocbktd/Ai ... tification

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

NGƯỜI HÁT Ô GIÀ THĂM MỘ BẠN


Người “Hát-Ô” già… chiều nay thăm mộ bạn,
Trời nghĩa trang buồn… lối nhỏ nắng mong manh !
Lớp lớp mộ bia… chữ đề xa lạ,
Mỹ, Pháp, Nga, Tàu… có cả tên anh !

Đốt điếu thuốc thơm… mời linh hồn đó,
Hút cùng nhau… như thưở xuân xanh !
Nhớ buổi tòng quân… chúng mình bé nhỏ,
Súng nặng, thân gầy… khổ với giày đinh !

Đi đứng nghiêm trang… ngay hàng thẳng tắp,
Khi chạy, khi bò… bỏng rát đôi chân !
Tóc hớt ba phân… trông càng bé choắt,
Các bạn trêu cười… lính sữa còn măng !

Thế rồi cuộc chiến… thêm tàn khốc,
Rèn luyện tôi, anh… một dạn dày !
Chí trai hồ thỉ… tang bồng lắm,
Nợ nước nhiều phen… tưởng liệm thây !

Mà không… nghĩa vụ còn đeo đẳng,
Tình của quê hương… của quốc gia !
Gối súng đêm đêm… ngoài chiến trận,
Hai đứa buồn… thầm đếm ánh sao sa !

Cuộc chiến điêu tàn… dai dẳng quá,
Chúng mình hai đứa… lắm phong ba !
Biết bao nghịch lý… đời quân ngũ,
Cũng chẳng làm ta… nản chí ta !

Bởi biết trót sinh… thời loạn quốc,
Làm trai… phải trả nợ non sông !
Chính nghĩa về ta… ta dẫu chết,
Buồn chi thế sự… để đau lòng !

Thế rồi đất nước… tàn binh lửa,
Anh một phương trời… tôi một phương !
Hai đứa ngậm hờn… trong cải tạo,
Cùng chung nỗi khổ… với quê hương !


Mười sáu năm dài… trong nghiệp lính,
Tám năm tù tội… bộ xương khô !
Bỗng gặp lại nhau… trời Mỹ quốc,
Tay nắm bàn tay… đất Ngũ Hồ !

Hai tên lính sữa… ngày xưa ấy,
Giờ mái đầu xanh… muối trộn tiêu !
Khốn nỗi… muối nhiều, tiêu quá ít,
Khô cằn thân xác… tuổi thêm chiều !

Chưa sống bao lâu… đời tỵ nạn,
Anh chết vùi chôn… mảnh đất xa !
Bởi đạn trong người… xưa chiến trận,
Và, mấy ngọn đòn thù… nát thịt da !

Tra tấn dã man… loài quỷ đỏ,
Tôi còn chịu được… đến hôm nay !
Rồi cũng theo anh… mà đến đó,
Làm ma vong quốc… não nùng thay !

Thôi nhé… anh nằm yên nghỉ nhé,
Nếu bây giờ còn sống… chắc buồn hơn !
Bởi Ải Nam Quan… giờ không còn nữa,
Giặc Cộng bán rồi… liếm gót Bắc Phương !

Ôi quốc nhục… làm sao gột rửa ?
Dân lầm than… từng bữa đói cơm !
Kể làm sao hết tủi hờn,
Đời lưu vong… nhớ nước non thêm sầu !

Người “Hát-Ô” già… gục đầu than với bạn,
Đời lưu vong… mồ mả cũng tha phương !
Dẫu đã biết… chết là về với đất,
Nhưng đất này… không phải đất quê hương !

Rồi người “Hát-Ô” già… giã từ mộ bạn,
Bước chân run… vì lực bất tòng tâm !
Nhìn tít phương Nam… mây chiều bảng lảng,
Người “Hát-Ô” già… ôm mối hận xa xăm !

Đất Ngũ Hồ, ngày Memorial
Nhật Hồng Nguyễn-Thanh-Vân

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Người lính Nghĩa Quân trong tim tôi !
Năm tôi được 10 tuổi, gia đình tôi bỏ ruộng vườn vào ở trong khu Ấp chiến lược, được bao bọc bởi một vòng thành kiên cố có kẽm gai, có hào sâu chung quanh. Ở hai đầu ấp có hai cái đồn nghĩa quân nhỏ. Ba má tôi thỉnh thoảng trở về nhà làm ruộng, gặt lúa ban ngày, rồi ban đêm vào xóm ở. Ấp Chiến lược là một công trình chiến lược dùng để cô lập Việt Cộng ra khỏi dân chúng. Việt Cộng hay trà trộn trong dân và bắn giết dân chúng, quân lính Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc nầy VC bắt đầu nổi dậy mạnh ở miền Tây, thâu thuế, giết hại dân thường, ám sát Xã trưởng, Ấp trưởng của VNCH gây kinh hoàng cho dân chúng, gây mất ổn định cho xã hội miền Nam đang sống trong thanh bình. Họ bịt mắt, chặt đầu hay chôn sống bất cứ người nào họ nghi ngờ là đang cộng tác với chính quyền VNCH. Khu ấp chiến lược tôi ở được bảo vệ bởi một trung đội nghĩa quân, gồm có 3 tiểu đội. Các chú lính hay ở trong đồn còn vợ con họ sống trong các căn nhà nhỏ trong xóm. Nhà tôi ở gần nhà ông Tiểu đội trưởng, tôi kêu là chú Tấn.


Lúc mới vào ấp tôi chỉ là một đứa con gái nhỏ quê mùa ngơ ngác. Nhưng lần lần tôi cặp bè bạn chơi với mấy đứa bạn, gái có, trai có, lớn tuổi, lanh lợi hơn, tôi học được nhiều thứ mới mẻ . Tôi biết cả tên cây súng nào là cây Carbine, cây nào là Garant, Thompsom, cây nào là cây súng phóng lựu .

Tôi biết tên hầu hết các chú lính nghĩa quân trong tiểu đội của chú Tấn, nào là chú Tường, chú Sanh, chú Đúng, chú Quít, chú Mực ... Các chú rất hiền và chú nào cũng nghèo. Bộ quân phục được các bà vợ vá nhiều chổ. Tôi hay lân la đến nhà các chú chơi với con của họ. Với đồng lương nghĩa quân khiêm tốn, các chú ăn uống rất đạm bạc, thường là cá linh, cá lòng tong kho, với rau lang luộc hoặc chút ít canh bí, canh bầu . Hầu như chú nào cũng có vợ và vài ba đứa con. Khi rãnh rỗi tôi thấy các chú hay giúp việc nhà cho vợ buôn bán chút đỉnh kiếm thêm tiền. Có chú giữ con cho vợ ngồi bán rau ngoài chợ. Có chú xay bột cho vợ làm bánh tầm, bánh bò bán cho dân trong xóm ..

Chú Tấn còn trẻ, nhưng ít nói . Thím Tấn là một người đàn bà hiền lành, có đôi mắt đẹp, to và dễ khóc Chú hay xay đậu nành làm thành bánh đậu hủ cho thím ủ chao, ủ tương, rồi thím đem bán vào những buổi chợ rằm, chợ ba mươi cho người ta ăn chay . Chú thím Tấn có hai đứa con . Thằng Dũng được 6 tuổi, con Lan 3 tuổi . Khi bận bán tương, chao , thím Tấn hay gởi 2 đứa nó nhờ tôi giử dùm . Tôi hay chơi đùa và coi chúng nó như em. Tụi nó cũng rất thương tôi .

Rất ít khi dân trong xóm gặp các chú nghĩa quân ra đi hành quân, các chú lặng lẽ ra đi khi trời sụp tối để giử bí mật . Họ âm thầm canh gác đâu đó dọc theo bờ thành ấp chiến lược, sáng sớm mới trở về. Họ đi về im lặng như những cái bóng mờ . Có những sáng tôi hay gặp các chú trở về, thường thì chỉ có cái áo khô, quần các chú ướt đẫm, sình bùn lên trên đùi. Các chú thường đi dép hay đi chân không, chẳng mấy ai có được đôi giầy .

Có khi đang đêm, tôi nghe súng nổ dòn giả . Sáng hôm sau các chú lính quen thuộc mang về hai cây súng chiến lợi phẩm của VC cùng với vài trái lựu đạn . Các chú kể cho mọi người trong xóm nghe là đêm rồi một toán VC băng qua ruộng phá hàng rào định đột nhập vào ấp chiến lược thu thuế và bắt dân đi làm dân công, qua sự hướng dẫn của một tên giao liên là người trong ấp. Các chú bắn chết hai tên, thây còn bỏ ngoài bìa ấp . Chúng tôi rủ nhau đi coi xác VC. Có lần các chú bắn chết cả một xuồng VC đang băng qua sông . Nhờ các bác ghe chài vớt lên, được nhiều súng . Sáng hôm sau ông Quận trưởng bất ngờ đến đồn nghĩa quân xóm tôi, khen ngợi và thưởng tiền mua một con heo quay thật lớn . Các chú được dịp ăn nhậu vui vẽ . Mấy đứa con các chú nghĩa quân cũng hí hửng được dịp ăn thịt heo quay .

Một ngày nọ tôi đi học về thấy cả xóm nhốn nháo lên, mấy thím vợ lính hớt hãi lo lắng. Thím Tấn nước mắt đoanh tròng. Tôi hỏi thì thím cho tôi hay Trung đội nghĩa quân vừa bị tấn công và 2 chú nghĩa quân hiền lành của xóm tôi vừa hy sinh, đền nợ nước. Chú Mực mà tôi quen thì bị đạp mìn VC gảy giò . Thật là một cái tang lớn cho cả xóm tôi . Linh cửu của 2 chú được quàng tại chùa, vợ con lối xóm khóc lóc tỉ tê . Đến chiều thì người ta chôn 2 chú ngoài bờ rào ấp . Một hàng 6 chú nghĩa quân đứng chào trên bờ huyệt . Quan tài hạ xuống, các chú bắn 6 loạt đạn điếc tai . Mặt các chú rất đau khổ, gầm lại khác hẳn các khuôn mặt hiền từ hàng ngày mà tôi thấy .

Vợ con hai chú đòi nhảy xuống huyệt chết theo chồng . Nhiều người phải xúm lại kéo các thím lên, khó khăn lắm mới dẩn được họ về nhà . Bọn chúng tôi và mấy đứa con trai ngày thường hay chạy nhảy, phá phách, la hét, mà giờ cũng đứng im ru . Tôi không biết VC là ai, nhưng tôi lờ mờ hiểu rằng họ là người không tốt, vì họ bắn phá mà gia đình tôi phải bỏ thôn xóm vào đây . Giờ họ còn theo định đột nhập vào cái ấp chiến lược nầy làm chi nữa ?


Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt . VC bắt đầu tấn công miền Nam ở cấp số lớn hơn. Họ đặt mìn giật xe chạy trên quốc lộ , họ giật xập cầu , bắt dân chúng đi đắp mô cản đường xe chạy . Có khi họ giật mìn chết cả một chiếc xe đò . Nhiều người chết có cả đàn bà và trẻ em, thịt xương văng tung toé . Có lúc họ pháo kích hay đặt mìn giật xập trường học của học sinh miền Nam. Tiểu đội của chú Tấn phải đi kích liên miên. Thím Tấn lo âu thấy rõ . Trung đội nghĩa quân lập được nhiều chiến công . Nhưng các chú nghĩa quân mà tôi quen biết cũng vơi dần . Họ đã âm thầm ra đi như những người chiến sĩ vô danh và trở về im lìm, trong những chiếc chiếu, những cái poncho, trong cái cảnh da ngựa bọc thây .

Rồi cái ngày đau thương của thím Tấn và 2 đứa con dại đã đến Chú Tấn và một chú nghĩa quân nữa hy sinh trong một cuộc đụng độ dữ dội với VC năm 1965. Xác chú được khiêng để trên bộ ván trong căn nhà nhỏ của chú . Khi tôi đi học về , tôi thấy người ta đang tắm rửa thay đồ rồi để một nải chuối lên bụng chú, ngọn đèn dầu leo lét được thắp trên đầu nằm có để một chén cơm và một cái trứng vịt . Đầu chú được băng bông trắng. Máu còn rĩ ra bên màng tang . Vợ con chú vật vã khóc than, đau đớn không thể nào kể xiết. Tôi đến mắm tay 2 đứa nhỏ. Thằng Dũng thỉnh thoảng hỏi tôi “Bộ Ba em chết rồi hả chị ?”. Tôi chỉ ừ, không biết trả lời làm sao !

Đến khi chôn chú Tấn, hàng loạt đạn đưa tiễn vang rền. Thím Tấn chết lên chết xuống, bộ đồ tang trắng bê bết bùn sình. Người ta phủ lên cái mã đất của chú Tấn một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà thật dài . Bốn phía có cắm bốn lóng trúc có gạo và muối . Tôi phải dẩn con Lan và thằng Dũng về nhà. Nước mắt tôi tuôn rơi. Cuộc sống chúng tôi đang êm đềm hiền hoà , thì tại sao người ta phải tấn công thôn ấp, giết hết người nầy người nọ. Để làm gì ? Miền Nam độc lập tự chủ, có ai chiếm đóng miền Nam đâu, mà phải giải phóng chúng tôi. Cuộc đời dân miền Nam không hạnh phúc, sung sướng gấp chục lần dân miền Bắc hay sao ? Tại sao các người phải giết chú Tấn của chúng tôi để cho cuộc đời mẹ con thằng Dũng từ đó ảm đạm, sa sút hẳn đi. Thím Tấn khóc hoài không dứt ...

Năm sau, gia đình tôi dời đi chổ khác. Tôi ít được gặp lại Thím Tấn, thằng Dũng và con Lan. Năm năm sau, tôi mới được về thăm ấp cũ, tôi mừng rỡ gặp lại thím Tấn và 2 đứa con. Bây giờ ngày nào thím cũng phải ra chợ bán tương chao nuôi con. Thằng Dũng vẫn còn nhớ tôi nhưng con Lan thì không nhận ra tôi nửa.

Sau nầy tôi có dịp tiếp xúc với nhiều binh chủng oai hùng khác của quân lực VNCH, nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ về các chú nghĩa quân hiền lành mà tôi đã biết năm nào . Hơn phân nửa các chú đã nằm xuống để bảo vệ làng xóm, quê hương tôi . Số còn lại có người gẫy chân , có người cụt tay, sống đời tàn phế. Việt Cộng đã chà đạp lên Hiệp Định Hoà Bình Paris mà họ vừa ký kết năm 1973, cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, đưa cả nước xuống 10 tầng địa ngục.
Thân tôi giờ xa xứ xa quê, đã hiểu được ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các anh, các chú quân nhân quân lực miền Nam, thỉnh thoảng tôi nhớ lại các chú lính nghĩa quân tôi quen biết mà thấy lòng thương lắm . Cùng với bao nhiêu binh chủng khác của quân đội, các chú âm thầm lặng lẽ hy sinh, cho dân chúng trong ấp tôi được sống trong yên bình . Các chú đem xương máu ra bảo vệ nền tự do, dân chủ mới được thành hình trên miền Nam yêu dấu .

Các chú đã nằm xuống - bỏ lại con thơ, vợ dại - để ngăn cản bọn quỷ đỏ hung tàn trong công cuộc tiến chiếm miền Nam, áp đặt cả nước trong một chế độ độc tài, hung bạo, không lối thoát . Các chú đã đem sinh mạng, xương máu của mình, để ngăn cản bọn bán nước buôn dân đày đoạ cả dân tộc, và đưa đất nước Việt Nam đi ngược dòng tiến hoá cũa nhân loại . Các chú đã anh dũng hy sinh, ngăn cản bọn CSVN chiếm đoạt đất nước làm tài sản riêng tư cho đảng, rồi tự ý dâng hiến đất đai, hải đảo của tiền nhân cho quan thầy Trung Cộng .

Hởi cô bác, hởi anh chị ơi ! Nếu vị nào may mắn, có cuộc sống bình yên xin đừng quên các chú lính nghĩa quân đang sống đời tàn phế . Xin đừng quên các chú nghĩa quân đã lặng lẽ hy sinh để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nạm Xin đừng quên vợ con họ , bị bỏ lại sau lưng với cuộc đời đau khổ.

Nguyễn Thanh Thuỷ.

(Bài nầy được viết dựa vào những sự kiện có thật. Vì sự an toàn của một số người còn kẹt lại, tác giả tạm thời không đề cập đến những địa danh và tên người cần thiết trong bài nầy)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Chuyện Về Bức Tượng TQLC

ToVanCap

(Xin gửi bài này như một món quà Giáng Sinh và năm mới đến tất cả quý vị đã một lần đứng ngắm bức tượng TQLC. Xin bái phục các Mũ Xanh đã góp công sức thực hiện và bảo vệ bức tượng, và cám ơn quý anh đã cung cấp tin tức để viết)


“Lão Xit đẻ ở nước Nga, cớ sao sang đứng vườn hoa nước mình?”

Thằng cháu con ông anh ngâm xong câu thơ rồi quay sang hỏi tôi:

- Chú có thể cho cháu biết “lý lịch” của bức tượng hai người lính TQLC trước tòa nhà Quốc Hội ở Sài-Gòn được không?

- Ư, ư ! Tưởng cháu hỏi lý do lão Xít lão Mao tại sao lại bị gậy sang ăn mày nước ta thì chú sẽ giải thích cặn kẽ rõ ràng, còn hỏi về bức tượng TQLC đứng trước tòa nhà quốc hội thì quả thực chú không rành lắm, chú không biết!

- Chuyện lão Mao lão Xít muốn thịt dân ta thì tụi cháu cũng còn biết, huống chi là người lớn. Nhưng các chú thường hãnh diện là lính Mũ Xanh, đi hành quân từ Bến Hải đến mũi Cà Mau, từ Cao Nguyên xuống đầm lầy, có mặt khắp mọi miền đất nước, vậy mà ngay tại trung tâm thủ đô VNCH có bức tượng TQLC nổi tiếng mà chú không biết gì về lý lịch của bức tượng này thì lạ thật..!

Thằng cháu con ông anh bỏ lửng câu hỏi rồi mỉm cười khiến tôi nóng mặt. Nhưng sự thật là vậy thì biết phản ứng ra sao, thôi thì đành hứa với cháu là chú sẽ tìm hiểu rồi trả lời sau.

Nghĩ lại mà ngượng và buồn, gia đình tôi có ba anh em đều là lính và hiện tỵ nạn tại Little SG nên mỗi cuối tuần, anh em tôi luân phiên họp mặt cả ba gia đình với con cháu, nhân dịp này cha chú kể chuyện đời lính cho thế hệ sau nghe. Người em kể về đời lính Không Quân, ông anh Cảnh Sát nói chuyện đô thành, còn tôi TQLC nói về hành quân và lao tù CS, như vậy là đầy đủ những chuyện trên trời dưới đất và hỏa ngục. Vậy mà tôi lại mù tịt về bức tượng nổi danh của Binh Chủng sừng sững giữa trung tâm thủ đô! Buồn thật! Ta buồn ta đi hỏi.

Hỏi từ các anh cao đến em thấp trong binh chủng, hỏi trên diễn đàn TQLC, mỗi người cho một tin, góp một ý, tất cả đều do trí nhớ cách nay đã hơn 40 năm. Những ý kiến tương đối chính xác, nhưng rất tiếc không tìm được tài liệu trên giấy tờ để chứng minh cụ thể nên tôi chỉ xin ghi lại, xem như một giai thoại về bức tượng hơn là một “tài liệu” chính thức. Vì vậy nếu có những chi tiết không phù hợp với ý nghĩ của bất cứ ai thì xin miễn trách.

Năm 1966, Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ giao cho mỗi đơn vị quân đội dựng một biểu tượng cho đơn vị mình tại các công viên hay công trường trong thành phố Saìgon và Chợ Lớn, những kiến trúc ấy như sau:

Hải Quân dựng tượng thánh tổ Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng.

Không Quân với “Tổ Quốc và Không Gian” trước tòa Đô Chính.

TQLC với bức tượng 2 người lính ở vườn hoa trước Quốc Hội.

Pháo Binh có biểu tượng trước hội trường Diên Hồng.

Truyền Tin với thánh tổ Trần Nguyên Hãn trước chợ Bến Thành.

Thiết Giáp là Phù Đổng Thiên Vương tại bùng binh ngã sáu Saigon.

BĐQ có tượng 3 người lính tại ngã sáu Lý Thái Tổ.

Nhẩy Dù có biểu tượng đặt trước bệnh viện Sùng Chính.

Quân Nhu đặt biểu tượng trên đường Hồng Bàng Chợ Lớn.

Quân Cụ đặt biểu tượng trên đường Khổng Tử.

Cảnh Sát đặt hai nhân viên đứng thao diễn nghỉ trên đường Thành Thái v.v..

Cái lý do thủ tướng cho thiết lập các biểu tượng này là muốn thay đổi nét mặt của thủ đô đẹp hơn và cũng mang một dáng dấp “Nội Các Chiến Tranh”. Nhưng thời gian đó cũng có những cuộc biểu tình phản chiến thường tập trung tại những địa diểm này để phản đối chính phủ, đồng thời nhiều tin đồn là một số tu sĩ của tôn giáo nọ dự định chiếm các nơi này để dựng những “hình ảnh” tôn giáo với mục đích làm khó dễ chính phủ nên chính phủ phải ra tay trước (người viết xin nhắc lại đây chỉ là tin đồn, thực hư tùy người nghe), giao cho các đơn vị quân đội thực hiện biểu tượng của mình thật gấp với lý do để kịp khánh thành vào ngày kỷ niệm NCCT chấp chánh.

Vị trí cho từng đơn vị thì được bốc thăm (?) và chính phủ cấp cho mỗi đơn vị một ngân khoản rất hạn chế. Ngân khoản hạn chế, thơi gian gấp rút nên đa số các biểu tượng không được đúng với tiêu chuẩn nghệ thuật. Đẹp và có ý nghĩa nhất là tượng Phù Đổng Thiên Vương, Thánh Tổ Thiết Giáp (TTTG), Đức Trần Hưng Đạo (TTHQ), ĐứcTrần Nguyên Hãn (TTTrTin). Người viết không dám có ý kiến về các biểu tượng khác, nhưng riêng về biểu tượng của TQLC là hai người lính trước tòa nhà Quốc Hội thì nhiều người cho là có vị trí đẹp nhất. Nhưng với tôi, vị trí lý tưởng nhất là công viên trước tòa Đô Chính với biểu tượng “Tổ Quốc và Không Gian” của KQ, và tượng Đức Trần Hưng Đạo của HQ tại công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng.

Nói về tượng TQLC, họa sĩ Lương Trường Thọ (TTHL/TQLC) góp ý:

- “Tượng TQLC đặt trước quốc hội là một vị trí đẹp nhất của đô thành Saigon, chính vì vậy mà được nhiều người biết đến. Đầu tiên là Thiếu Tá Huỳnh Huyền Đỏ, thuộc bộ TTM làm phác thảo mẫu tượng với ba người lính TQLC. Th/tá Đỏ là điêu khắc gia xuất thân trường Mỹ Thuật Gia Định, khi đang thực hiện công trình này thì vì một lý do nào đó ông không thể tiếp tục được nữa nên giao công việc đang còn dang dở cho TQLC.

Vì phải hoàn thành đúng thời hạn để kỷ niệm ngày chấp chánh nên TQLC giao cho Thiếu Úy Đinh Văn Thuộc tiếp tục công việc với sự góp ý và hường dẫn của Họa Sĩ Lê Chánh (BTL/TQLC) và HS Lương Trường Thọ (TTHL/TQLC).

Thiếu úy Đinh Văn Thuộc là đại đội trưởng đại đội Công Vụ TQLC. Tuy không là họa sĩ hay điêu khắc gia mà chỉ là tay ngang, tay súng vậy mà ông cùng anh em đại đội Công Vụ đã nhận lãnh trách nhiệm do trên giao, họ làm việc liên tục 24/24 và anh em đã hoàn thành nhiệm vụ.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã tốn công tốn của và được phủ tồng thống yểm trợ tối đa nên mới hoàn thành được bức tượng “Tiếc Thương”, còn Thiếu Úy Đinh Văn Thuộc và anh em binh sĩ TQLC chỉ là tay ngang mà đắp được bức tượng đồ sộ như thế thì đáng khâm phục, không thể phê bình hay đòi hỏi gì hơn về nghệ thuật chuyên môn như của một điêu khắc gia được.

Nhưng bức tượng hai người lính TQLC lại là một bức tượng nổi tiếng, nhiều người biết đến do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó có thể là do hướng súng đại liên, và nhất là trong ngày cuối cùng của VNCH, một vị anh hùng đã chọn chân tượng đài TQLC để tự sát, chết theo thành (phố).

Hai người lính TQLC ôm súng xung phong vào tòa nhà Quốc Hội?

Chi tiết này là nguyên do chính được nhiều người biết đến và cũng là lý do khiến bức tượng hai người lính này “vất vả” với các vị dân cử ngồi trong tòa nhà quyền lực cao nhất nước! Lính TQLC thật thì đang vất vả với súng đạn khói lửa, sống chết trong nháy mắt trên khắp chiến trường để bảo vệ chế độ. Khi họ đã hy sinh mạng sống, hồn thiêng về ngồi nghỉ bên bức tượng thì lại bị các vị dân cử trong Quốc Hội hỏi “giấy phép” và bắt đi chỗ khác chơi !

Tại sao? Vào thời điềm này thì các vị dân cử thường “mổ bò” thay vì bàn quốc sự, môt số dân cử trốn lính “trốn làm” quay sang đối lập với Nội Các Chiến Tranh nên tranh dành đủ thứ gây ra tình trạng hỗn loạn và rồi đổ thửa tại hai người lính TQLC hướng súng vào tòa nhà Quốc Hội khiến họ bị xúi-quẩy!

Đồng thời một vị dân biểu bị ám sát chết (dân biểu Văn) nên một số vị dân cử càng tin “cuốc hội xui xẻo” vì cái họng súng đen ngòm kia! Dị đoan bói toán đã là một “yêu” điểm của các ông tai to mặt lon ở hậu phương nên các ông này chính thức lập phái đoàn để chất vấn TQLC về lý do tại sao lại cho lính ôm súng “xung phong vào quốc hội?”.

Thiếu Tá Lê Đình Bảo, Trưởng Phòng Chính Huấn BTL/TQLC nói:

- Một phái đoàn gồm nghị sĩ và dân biểu ( Th/Tá Bảo có nêu đích danh một số vị nhưng người viết xin miễn ghi, phí giấy) họp và thảo luận với BTL/TQLC về bức tượng với mục đích muốn dời tượng đi chỗ khác. Lý do là súng đại liên TQLC chĩa vào quốc hội? Nhưng một vị thuộc BTL xác định với phái đoàn như sau:

- “TQLC không hướng súng vào Quốc Hội mà là bảo vệ Quốc Hội, súng TQLC nhắm vào bên hông trái* QH, nơi có hang ổ của phản chiến và nội tuyến. Quý vị có thể ra tận nơi để xác định hướng súng. Hơn nữa, mỗi ngày có hằng trăm anh em chúng tôi hy sinh tại chiến trường trong khi ở hậu phương chỉ có một dân cử bị nạn mà quý vị đòi dẹp bỏ biểu tượng của TQLC chúng tôi!”

(* Xin mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm về vị trí nhà hàng Givral và khách sạn Continental. Nếu chúng ta đứng dưới chân tượng TQLC nhìn về QH thì bên tay trái chúng ta, góc đường Lê Lợi và Tự Do là nhà hàng Givral, băng qua đường Tư Do là khách sạn Cotinental, cả hai nơi này là tụ điểm của những nhà báo và những tên tình báo thường xuyên lui tới để trao đồi tin tức, luận bàn tình hình chính trị và chiến trường thường có khuynh hướng bất lợi cho chế độ VNCH)

Thú thực khi được Th/tá TP/CH nhắc lại lời của cấp chỉ huy ngày trước, cách nay gần nửa thế kỷ, mà tôi cảm động đến nóng người, như trông thấy ông là “cây tùng trước bão”, trông thấy ông như bức tượng đồng trơ gan cùng “tuế nguyệt”. Tôi kính phục ông, kính phục ông, chỉ tiếc một điều là ông thiếu một cái nắm tay đập mạnh xuống mặt bàn., ngón tay chỉ ra cửa .. “get out”.

Rồi những con người “dị đoan” kia ra đứng dưới “chân” bức tượng để nhắm hướng và quả thực họ đã nhận thấy mũi súng của anh lính TQLC hướng thẳng vào ổ gián điệp, vào lũ phản chiến, một bọn luôn mong nền Đệ Nhị Cộng Hòa sụp đổ! Nhưng hai người lính TQLC vẫn sừng sững giữa thủ đô trong khi những người muốn đuổi họ đi chỗ khác thì đã cao bay xa chạy! Tụt quần mà chạy, bỏ lon bỏ chức mà chạy và họ đã cảm thấy an toàn hạnh phúc, thở phào nhẹ nhõm khi được chùm lên người một bộ áo giáp an toàn: “Thuốc DDT”, còn hai anh lính vẫn vững tay súng, họ chỉ sụp đổ sau khi chế độ đã bị giật sập!

Nhưng bức tượng hai anh lính TQLC không cô đơn, còn có một anh hùng khác cũng thác theo thành (phố) ngay bên cạnh các anh. Ông Phan Tấn Ngưu, THT Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gian VN Hải Ngoại xác nhận:

“Người tự sát dưới chân tượng đài TQLC là Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long, Ông là Chánh Sở Tư Pháp vùng I, mới vừa di tản về Saigòn. Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn long có biệt danh là .. “Long-Lý”.

Người ta gọi ông là Long-Lý, vì ông làm việc với phương châm “Pháp bất vị thân”. Thân sơ gì cũng không tha, một khi vi phạm luật pháp quốc Gia thì chỉ có nhẹ thì giam, nặng thì “trảm”. Dễ gì có được một “Bao Công” thời đại như ông, tôi xin kính cẩn cúi đầu lạy ông: Ông Long-Lý.

Trở lại cây súng của hai anh linh TQLC, Tr/Tá Đoàn Trọng Cảo nói:

- Khi đặt bức tượng, các thẩm quyền TQLC cũng suy nghĩ nhiều lắm, không phải vì lý do phong thủy quỷ quái gì cả mà vì vấn đề tế nhị, không thể để hai cái mông hướng về các vị dân cử được, mà phải là hướng mặt về cơ quan quyền lực nhất nước. Nhưng phải xê dịch làm sao cho mũi súng chếch sang một bên, sang bên trái thì có ý nghĩa hơn. Continental là nơi bọn phá thối, bọn ăn cơm Quốc Gia thờ ma VC hay ngồi bàn chuyện “dại sự”, hãy hướng mũi súng về đó.

Chỉ huy là tiên liệu, cấp chỉ huy của chúng tôi đã tiên liệu và sự việc đã xảy ra đúng như dự đoán, các cấp chỉ huy của chúng tôi đã đi “bốt-đờ-sô” vào trong bụng mấy anh dân cử đối lập cuội nhưng phản chiến thực. Để kiểm chứng, tôi gọi cho cựu dân biểu Tô Đức H. đơn vị Lâm Đồng, hiện ở Alhambra:

- Ê H.. hồi đó có chuyện mấy tên dân cử đòi bứng tượng TQLC đi không?

- Có, nhưng họ bị hố, khi xem lại thì mới biết súng nhắm vào Continental.

Nội dung bức tượng hai người lính TQLC như vậy là tuyệt vời, đầy đủ ý nghĩa, nhưng hình thức thì .. với cái nhìn méo mó mắt trần của cá nhân tôi thì có một vài khuyết điểm, thí dụ như lòng cây súng đại liên ngắn quá. Còn cái mông của người lính thì ôi thôi.. đời lính hành quân chỉ nhá toàn cơm sấy với rau rừng, khô cá mối, thịnh soạn thì may ra có thêm thịt ba-lát ration C thì lấy gì tẩm bổ mà cái mông to thế! Nghe tôi phê bình nghệ thuật, mấy MX bên cạnh kê nhẹ một phát:

- “Anh không thích mông to nhưng nhiều người lại yêu nét duyên dáng ấy”

Thấy các tay súng này bắt đầu bàn ngang, bắn hoảng, hs Thọ vội giải thích:

- Một điêu khắc gia chính hiệu có khi ngồi hằng giờ chỉ để sửa lại một nét trên tác phẩm của họ, có khi sửa hôm nay, mai đục đi đắp lại, nghệ thuật mà, trong khi Th/Úy Thuộc và anh em thuộc Đ.Đ Công Vụ chỉ là tay ngang lại phải đắp tượng trong điều kiện “khắc nghiệt”, thời gian bị hạn chế, tự lo tìm vật liệu thì không có bất cứ một nhà điêu khắc nào làm hơn các anh được. Theo bản vẽ lúc đầu của điêu khắc gia Huỳnh Huyền Đỏ là ba người lính, nhưng khi toán Th/Uy Thuộc đắp thì chỉ có hai, có lẽ vì đắp lớn quá nên thiếu chỗ.

- Thực ra các với sự góp ý của họa sĩ Lê Chánh, các anh đắp cũng nghệ thuật lắm, nhưng vì toàn trọng lượng của bức tượng này quá nặng, phải dùng xe cần cẩu để đưa vào đúng vị trí, lại phải xê dịch nhiều lần theo ý của cấp trên sao cho hướng súng không “trực xạ” vào Quốc Hội, vì thế lòng súng bị cong và mông người lính bị nứt! Ngày khánh thành gần kề, không còn thời gian sửa chữa nên ông Thuộc cho cưa bớt phần cong lòng súng đi. Còn cái mông anh lính? Lại phải độn thêm, đắp thêm nhiều lớp đề che đi chỗ bị nứt và kết dính các bộ phận khác vào với nhau, đó cũng là một nghệ thuật.

Người viết lại tiểu sử bức tượng hai người lính TQLC trước tòa nhà QH/VNCH với sự góp ý khá chính xác của những nhân chứng sống, nhưng vẫn xin được xem như câu chuyện “bên lề” vì thiếu tài liệu chứng minh. Trong tương lai nếu có những góp ý khác tôi sẽ xin bổ sung sau, nhưng nếu ai chưa có tài liệu chính xác mà phản bác điều tôi ghi chép thì tôi xin miễn trả lời đúng sai.

Nhưng có một điều mà những ai có một tấm lòng của con người thì đều thấy sai, đó là hành động phá bỏ những tác phẩm nghệ thuật của bọn Taliban. Taliban chính hiệu lấy súng cà-nông bắn nát những bức tượng Phật, bọn taliban cu-mu-lít vixi thì !!! Bần tiện hơn, chúng đục đẽo bào gọt phá bỏ cả bảng tên kỷ niệm những nạn nhân hy sinh trên đường tìm tự do ở một hòn đảo hoang vu ngoài lãnh thổ VN thì chúng tha gì những hình ảnh của VNCH, dù là nghệ thuật.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

TRUNG TÁ VÕ VÀNG
XIN MỘT LẦN ĐƯỢC NHẮC TÊN ANH


Trương Đức Thủy





Thời gian vẫn vô tình trôi qua ,như nước chảy dưới cầu , như vó câu qua cữa sổ .... Và lòng ngươì thì bị cuốn hút vào trong cơn lốc xoáy nghiệt ngã của thời cuộc . Tháng Tư uất hận một lần nữa lại về ......
Đã bao lần tôi muốn viết vài giòng trân trọng ,để tưởng nhớ anh , nhưng tiếc thay tôi biết quá ít về đời tư của anh , dù đã có thời gian anh đối xử và thương mến tôi ,như thằng em nhỏ dại .Sau khi cãi taọ về , tôi đã cố tìm gặp những người có mặt bên anh trong những giây phút cuối , để lấy thêm dữ kiện sống ,nhưng cũng không thỏa mản được, những điều tôi muốn biết . Ngay khi mới đinh cư tại Hoa kỳ, tôi đã tìm tòi qua báo chí , nhất là những thiên hồi ký trong tù của nhiều người , nhưng cũng chỉ thoáng qua tên anh .Tháng Tư năm 1975 , tháng Tư 2004 : 29 năm , một phần ba đời người sống thọ ,Thời gian thật dài .Sợ chờ đợi mãi , có khi trí óc bị bào mòn . và thời gian sẻ đưa tất cả vào quên lảng . Thà thắp lên tia lửa nhỏ ,còn hơn ngôì nguyền ruả bóng đêm .Tôi quyết định, mạo muội viết những kỷ niệm về anh ,goị là thắp nén hương tưởng niệm người anh-hùng , tôi hằng kính yêu ,nhân ngày giổ thứ 27 sắp tới của anh . Tháng 7 năm 1977 .......... Tháng 7 năm 2004.

QUEN ANH NHƯ LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH : . Ngươì ta ở đời ,có hai trường hợp . thứ nhất : Mới thoáng gặp nhau là đã có cảm tình , muốn trò chuyện . muốn kết thân, hay trai gái mơí gặp nhau đầu mày ,cuối mắt đã phãi lòng nhau , muốn trao nhau trái tim yêu nóng hổi , sách tướng số, bói toán goị là hạp căn , hạp tuổi , hạp mạng v v .... Thứ hai : Mới gặp nhau dù chưa từng quen biết , mới thoáng qua là đã muốn doa , muốn đục , muốn đuổi đi cho khuất mắt , sách tướng số gọi là xung khắc , không hạp căn , không hạp mạng , gần nhau là như chó với mèo ... Tôi hân hạnh quen anh nằm trong hai trường hợp trên . Sau chuyến công tác , trở về Đànẵng , buổi chiều hôm đó tôi dẫn cô bé Lệ H...đi ăn ở nhà hàng nổi ,trước khách sạn Bạch đằng , đây là lần đầu tiên tôi đưa cô bé đi ăn ở nhà hàng , thường thường chúng tôi đi ăn kem Diệp hãi Dung , cơm gà Hãi Nam , hay bánh hỏi thịt nướng , chè Ngã Năm ....đi vào chỗ nào cô bé cũng rụt rè , e-lệ ,tôi muốn đưa vào nhà hàng ,để cô bé làm quen với không khí mới lạ .Bước chân vào trong , cô bé đã tỏ ra mất bình tỉnh ,trước không khí nhiểm đầy khói thuốc và sắc aó rằn ri ., tôi trấn tỉnh em và đưa vào một góc cuối , hai đứa đang cúi xuông trên tấm thực đơn , chọn thức ăn ,thì có một bóng người đến đứng trước bàn tôi , tôi ngẩng đầu lên , bắt gặp khuôn mặt đỏ ké . trong bộ quân phục ` rằn ri Biệt động , trên cổ aó một bông mai đen ,tôi tưởng bạn nhìn lầm người ,nên định đứng lên chào , nhưng không , anh chàng đưa mắt nhìn Lệ H.. và gằn giọng nói vơí tôi : Ai cho phép mầy nghinh bọn tao ???Tôi biết mình đang bị kiếm cớ gây sự . Tôi thầm kêu khổ trong bụng , không phãi tôi sợ , tôi là thằng lì có tiếng , ngàn lần tôi không sợ , nhưng làm sao tránh cho cô bé khỏi bị tổn thương .Tôi xin vắn tắt vài giong , xem tôi đã làm gì mà các bạn Biệt Động ngứa mắt . Tôi vưà ra trường trên một năm , xông pha trận mạc vài lần , nhưng nhỏ con , chưa qua khỏi tuổi 21 , nên còn rất thư sinh , nếu cởi bỏ binh phục thay vào aó trắng quần xanh , tôi cũng chỉ là cậu hoc trò trung học . Thế mà dám dẫn đào vào đây rước đèn , Aó quần cũng rằn ri nhưng khác màu cuả Biệt động ,binh chũng chúng tôi có cái thói quen lập dị là không bao giờ mang cấp bậc , nếu có mang cũng rất kín đáo , như muốn không cho ai thấy , gắn ở chuôi dao găm ,sau nắp túi aó .....Rừng nào thì cọp nấy , Thanh phố ĐN là rừng của anh em Liên đoàn I BĐQ .Tôi biết tôi đã làm cho các anh gai con mắt ,và muốn đục tôi dằn mặt . Anh Thiếu uý chưa thấy tôi trả lời ,đã cao giọng ra lệnh : Mầy hảy đến bàn kia xin lổi mấy anh đi , thì tau tha cho ! Tôi biết tình hình quả gay go . thực khách lần lượt ra khỏi nhà hàng . Xin lổi ư ? không bao giờ , vì tôi có lổi gì đâu .vì tự- aí , vì màu aó tôi đang mặc , tôi biết chắc là có đổ máu , đổ máu một cách vô i'ch ,vì trong tuí quần trận tôi luôn luôn có khẩu Breta nhỏ , Lệ H.. tái mét mặt mày . Tôi bảo nhỏ : Em qua ghế đá ngồi đợi anh .Tôi bỏ tay vào tuí quần, chạm cục thép lạnh , tôi nghĩ nếu anh bạn xáng tôi bạt tai , thì máu sẻ đổ. Trong giây phút quả bong bóng căng sắp nổ ,thì có tiếng tằng hắng nghe rỏ mồn một ở gần quầy , anh chàng Thiếu úy nhìn lên , lẳng lặng về bàn và cả bộ ba keó nhau rời nhà hàng . Lệ H.. như chết khiếp , tôi phãi trấn an nàng ,nên chưa để ý xem ai vưà tằng hắng ,mà mấy ông thần gây sự bỏ đi . thì một ngươì cao to ,bước đến trước mặt , tôi nhìn thấy cặp galong Thiếu tá trên cổ aó rằn ri , bảng tên trên túi : VANG . tôi đứng thẳng ngươì chào ,nhưng Thiêú tá vổ vổ vào vai tôi và noí : Em hay ngồi xuống và tự nhiên cùng bạn gái em ăn uống ,. xem như không có gì xẫy ra , Ông hỏi tôi về đơn n vị , tôi trinh bày đơn vị ,cấp bậc và noí : Em vừa về sau chuyến nhảy dài nên chưa cắt tóc , các anh kia thấy gai mắt mà sinh chuyên , xin Thiếu tá tha lổi , Ông dịu dàng : Em không có lổi gì cả ,thôi quên đi mà vui vẻ với bạn gái , chúng tôi chưa ăn gì cả, và thức ăn cũng chưa mang ra . Lệ H... một mực đòi về , tôi đành chìu nàng , tôi đứng lên : Thưa Thiếu tá, cho em đưa bạn gaí về , không ngờ ông sốt sắng lấy xe Jeep đưa chúng tôi về , dù tôi quyết liệt từ chối , sợ làm phiền ông , sau khi trả Lệ H...về nhà nàng , tôi lại đi chơi và tâm sự với ông gần sáng đêm . Đó là Thiếu tá VÕ VÀNG , Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 21 BĐQ , lừng dang trên chiến trường Miền Trung , từ lúc còn mài đủng quần trên ghê Trường TH/PCT/ ĐN , tôi đã nghe danh và ngưởng mộ người anh hùng nầy , không ngờ tình cờ như một định mênh xui khiến ,tôi được quen Ổng và được ổng thương mến như em út ,Ông bắt tôi gọi bằng anh và goi tôi bằng mày ,( tiếng mày từ miệng ông sao mà thân mật quá , không như tiếng mày của anh bạn Thiếu-uý BĐ gọi tôi trong nhà hàng , nghe qua đã lộn máu nóng lên đầu ....) Tôi thưa : Trước mặt lính tráng cuả Thiếu tá ,mà em goị như vậy e bất tiện qúa ! Ổng nghiêm giọng : Có sao đâu , mầy là em tau ,là em tau thì phãi gọi tau bằng ANH ...

NHỮNG NĂM THÁNG CÓ ANH TRONG ĐỜI :.Từ đó sau ,những lần về ĐN tôi thường ra căn cứ Liên đoàn 1/BĐQ ở Phú lộc ( trên đường ra Hoà khánh,quẹo tay mặt)để thăm anh ,nhờ đó mà tôi quen gần hết cac bạn trong Tiểu đoàn 21/BĐQ , kể cả anh Thiếu uý T . người đòi đục tôi trong nhà hàng .Thơì gian những năm 66 /67 chiến trường miền Trung vô cùng sôi động , Đồng minh ào ạt đổ quân vào , Tiểu đoàn 21 BĐ của Thiếu ta Võ Vàng đã tạo những chiến công vang dội , báo chi trong và ngoài nước nức lòng ngơị khen , Các cấp chỉ huy Quân Đồng minh nể mặt .Những lần gặp lại anh , tôi được anh thương mến đặc biệt , thường dặn dò và bày vẽ những kinh nghiệm chiến trường , vì duới mắt anh , tôi chỉ là con dê non ưa húc càn . Anh luôn nói về đời lính , và yêu đời quân ngủ trên hết mọi chuyện ,ở anh chỉ có chiến công và mong sớm có thanh bình cho Quê hương ,Tết Mậu thân ,hai anh em cùng hành quân trên một địa bàn , Nam sông Hương , khi tạm yên tiếng súng , anh goị tôi sớm mai đến Bộ chỉ huy (BCH) cuả anh để uống bia , nhưng đêm đó ,tôi nhận lệnh bàn giao khu vực trách nhiệm cho đơn vị bạn , để đến vùng hành quân khác ,thất hẹn với anh . Sau Mậu thân , anh được vinh thăng Trung tá và giữ chức vụ Liên đoàn phó LĐI /BĐQ . Sau đó anh được thuyên chuyển về Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà lạt , giữ nhiệm vụ Trưởng ban Quân vụ , đây là thời gian dài ,chúng tôi không gặp nhau , Trương Vỏ bị Đà-lạt là chỗ dung thân tốt nhất ,cho những ai muốn tìm chữ THỌ , nhưng trong những bức thư anh gởi cho tôi , anh luôn luôn than buồn chán và nhớ chiến trường , hơn ai hết , tôi biết con hổ bất đắc dĩ phãi xa nuí rừng thì rất nhớ rừng xanh , núi thẳm ,anh mong được trở lại thời ngang dọc cũ . Và anh được toai nguyện , anh trở ra cầm quân trong chức vụ Trung đòn trưởng ,trung đòan 5 SĐ2/ BB ,tôi cứ đinh ninh với tài thao lược, và kinh nghiệm của anh , đương tiến thân của anh sẻ thanh thang ,rộng mở . Những ngaỳ trước khi Hiệp dịnh Paris được bốn bên ký kết , V.C cố đánh chiếm Sa huỳnh ,để làm cữa khẫu và cắt đứt con đương huyết mạch Nam Bắc của VNCH , đây là đất anh dụng võ , anh muốn đánh trận đánh để đời , nhưng đột nhiên tôi nghe anh bị cất chức Trung Đoàn trưởng , nguời cách chức anh là Ch/T Trần văn Nhựt . Tư lệnh SĐ2 / BB. Tôi xin dành it giòng để điểm qua báo chi về vị tướng nầy : Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của CH/ T Nhựt thì canh bạc xì phé ,ông ăn đậm nhất là khi mặt trận Bình long nổ ra , ổng đã về nhiệm sở kịp thời để xí phần , vì trên cương vị Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Bình Long , ông không góp tí công lao nào cả , mà moị chuyện đã có Ch/Tướng HƯNG Tư lệnh SĐ5/ BB , Đ/Tá Lê quang LƯỞNG LĐ/ Dù . Đ/Tá HUẤN , Liên đoàn 81 Biệt cách / Dù lo trọn gói ..Khi An lộc được quân dân anh hùng tái chiếm , Bà vợ C/Tướng Nhựt đã chạy cửa hậu ,với chi Sáu Thẹo ,kiếm cho cái chức Tư lệnh SĐ2 /BB và một ông sao (,ông này có số núp bóng quần hồng ). Trong trận tái chiếm Sa huỳnh , SĐ2/ BB dưới tài cầm quân của Ch/T Nhựt thì ra sao ??? xin mời qúy vị hảy nghe nhân chứng sống, Tr/ Uy Trần thi VÂN , ngươì trực tiếp dự trận đánh ,với chức vụ Đai đội trương ĐĐ1 , tiểu đoàn 21 BĐQ , kể sau đây trong tập bút ky chiến trường ANH HÙNG BẠT MẠNG của Ông :(Theo lời Th/ tá Quách Thưởng kể, trước khi T/T Nguyễn văn Thiệu đến BCH Trung đoàn 6 xem thành quả tái chiếm Sa huỳnh, các khối vũ khí được trình bày riêng rẻ ,với tấm bảng đề tên đơn vị tịch thu , dĩ nhiên chiến lợi phẫm của LĐI/BĐQcũng được ghi rỏ . Đặc biệt thêm một tấm tương tự treo trên nòng súng phòng không 12 ly 8. Nhưng khi phài đoàn T/T đáp trực thăng xuống ,và các Sĩ quan Mũ nâu ra sân đón rước, thì CH/T TRẦN VĂN NHỰT LIỀN CHO BỘ HẠ NƠI PHÒNG TRIỂN LÃM ĐA'NH THÁO HẾT CÁC TẤM BẢNG GHI CHIÊ"N LỢI PHẪM, NGHĨA LÀ MỘT DÃY 300CÂY SÚNG ĐỦ LOẠI DO BĐQ TRịCH THU, BỖNG TRỞ THÀNH CHIẾN LỢI PHẪM CỦA SĐ2/ BB . Ông còn trắng trợn, bỉ ổi không thể tả được là độc nhất có cây phòng không 12ly 8 của Đ/Đ tôi cũng bị đánh tráo luôn , không chút ngượng taỵ Rỏ ràng hành đông của Ch/T NhỰt như anh hàng thịt ,treo đầu heo bán thịt chó .Tội nghiệp đám tướng sĩ tượng ,cả xe pháo mã đứng xem chỉ biết tâm tắc khen tài , chứ đâu có ngờ ông bình vôi , nữa người nữa ngợm ,vừa làm trò aỏ thuật cướp công xương máu BĐQ ....) ( Xin ngưng trích ). Tháng Tư năm 75 . Ch/T Nhựt ( hay là GIỰT chạy ) kéo được ít quân tháo chạy về Tuy Hoà , được Tr/T Vĩnh Nghi ,Tư lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 3 ,giao cho làm phụ tá hành quân ,tái phối trí lực lượng , gìữa lúc dầu sôi lữa đỏ , CH/T Nhựt lên trực thăng xin đi thị sát mặt trận , nhưng vù thẳng ra Hạm đội , đào ngủ .Theo kỹ luật Quân đội : khi đối diện với đich mà đào ngũ thì ra toà án binh , bị tước đoạt binh quyền và có thể bị Tử hình , Nhưng khi qua đến Mỹ Ch/T Nhựt đã không bị lột long ,mà còn tự phong là Thiếu tướng , ba hoa chích choè , khi bị báo chí vạch lưng ,thì đánh lận con đen ,xưng là Tướng ( General )để người ta có thể tưởng là Major General , hay LT General hay hơn nữa , mà thực chật là phường biển lận , tên hèn nhát , kẻ vô liêm sĩ .bất taì . Đất nước chúng ta ,để cho những tên như vậy, giữ trọng trách trấn nhậm , những vùng hiểm yếu , mà mãi đến 75 mới rơi vào tay CS , âu cũng là một phép lạ , hy vọng sữ sách ,sẻ dành cho những tên tướng Quảng -lạc nầy vài chương ,để hậu thế tránh vết xe cũ . Hiệp định Paris được ký kết , trong đó ,có kèm theo 2 Nghị định Thư , tổ chức hai cơ quan thi hành , đó là ICCS ( international commission control , surpervision) goi là Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế , gồm hai nước CS la Ba lan và Hungary , hai nước tự do là Indonesia và Canada , nhưng sau Canada thấy không đi đến đâu ,nên rút lui và Iran vaò thay thê' ( Thời gian nầy Iran còn có Vua Penlavi , thân Mỹ ) và cơ quan kia là :Ban liên hợp quân sự bốn bên và sau còn lại hai bên ( VNCH Và thằng giải phong đội lốt ) Trung tá VÕ VÀNG bị đưa về Phú bài ,giử chức vụ trưởng toán BLH/ QS/ VNCH Phú bài ,một chức vụ ngồi chơi xơi nước vối ,anh như con cọp bị chặt hết nanh vuốt , buồn rầu , chán nản ,tôi đến thăm anh , tìm cách an uỉ anh ,cũng như tìm hiểu nguyên nhân tại sao ,cờ đến tay anh đang phất ,mà bị ngươì ta giựt mất , anh chỉ buồn rầu nói : Chỉ vì anh biết qúa nhiều ,ngươì ta sợ anh nổi lên thì ngươì ta sẻ mờ đi , nó nhiều tham vọng, nhưng tài hèn và nhiều thủ đoạn ....Tôi sợ anh buồn chán , nên đem đến cho anh đủ dụng cụ thể dục và khuyên anh tập đều đặn ,để giữ sức khoẻ , ngươì ta sẻ cần đến anh . Trong thời gian ở Phú bài ,công việc của anh có phần nghi lể , nghĩa là đón tiếp các phài đoàn từ Sài gòn ra ,tại sân bay Phú bài . Một hôm anh ra đón một Đại tá người Hunggary , Tr/Ta Võ Vàng trong cái bắt tay xả giao,đã bóp nát tay tên Đ/Tá CS ,tên Đại tá nầy sau đó làm lớn chuyện . gởi văn thư phản kháng đến Trung ương . Anh rất căm thù CS ,dù dưới màu da nào . Hiệp định Paris chưa ráo mực , CS đã vi phạm khắp nơi , Tướng Ngô quang Trưởng sáng suốt , thấy được viên dõng sĩ đang ngồi chơi xơi nước vối , nên vội gọi vào trình diện và giao cho Liên đội ĐPQ / Quảng Nam , hình thức tổ chức của Liên đội ĐPQ, cấp số cũng tương đương với lữ-đoàn hay Trung đoàn .Khi đi nhận nhiệm vụ , anh có hỏi tôi : Muốn làm việc cạnh anh không ? . Tôi biết anh thương tôi , muốn nâng đỡ tôi tôi qúa quyến luyến màu aó đang mặc ,nên xin cho thời gian nữa , Nhưng không có thời gian nào cho chúng tôi nữa cã .Tháng 3/75 ĐN tan tác , ĐN uất nghẹn đau thương , tan đàn rẻ nghé .....Ngày 5 tháng Tư năm 1975 , một buổi sáng tôi ra giếng nước trong Quân Điện Bàn / QN ( nơi đám tù tàn binh tập trung )để lấy nước , bất ngờ gặp anh ,tôi như chết lặng , tay trái anh được treo lên : Anh cho biết ngaỳ 29 /3 mới về đến ĐN, đang đi trên đương Thống nhất, gần Câu vòng , thì bi một chiếc xe dân sự tông anh , may mà anh văng lên lề , chỉ bị thương .Tôi thật sự lo lắng cho anh ,vì anh nổi tiêng quá , ngay đây , nơi tập trung tù binh , cũng không có ai dám gần anh để giúp anh trong khi đang bị thương , Tôi chỉ nói với anh , ngay bây giờ anh phãi tìm cách thoát , lợi dụng lúc nầy để thoát , nguy hiểm quá . Tuần lể sau ,tôi bị đưa đi chổ khác với thầy Hoàng thế Diệm , không còn qua lại thăm anh .

NGƯỜI ANH HÙNG BỊ THỦ TIÊU :Sau thời gian tập trung tại Quận đường Điện bàn / QN , tất cả tù tàn binh ,trình diện hay bị bắt tại ĐN, được đưa lên Trại Kỳ Sơn . Trại Cãi tạo Kỳ Sơn , gồm 1 tổng trại và 4 phân trại , Sĩ quan cấp tá ở traị I , gần mỏ vàng Bông Miêu , trại 2 , nằm sâu về hướng Tây , dành cho Sĩ quan cấp Đại uý , trại 3 và 4 dành cho cấp trung uý trở xuống ,gần trại 1 và Tổng trại . Anh Võ Vàng nằm trong trại 1 .Sau thời gian đầu lo xây dựng doanh trại , phát rẩy canh tác . ổn định nơi ăn chốn ở . Tháng 5 năm 77 , đợt hoc tập chính trị được mở ra trên quy mô rộng lớn .Tất cả đều nghĩ lao động và tham dự 100% .. Những buổi học, tất cả tập trung tại hôi trường để nghe cán bộ chinh trị lên lớp ,và sau đó về tổ thảo luận. những bài :Đế quốc Mỹ tên sen đầm quốc tế , kẽ thù số I cuả nhân dân ta và loaì ngươì tiến bộ trên traí đất . Hệ thông Xã hôị chũ nghĩa ..... Nhưng hóc búa và điên đầu nhất là bài Nguỵ quân và nguỵ quyền , Tập đoàn tay sai bán nước .Sau khi ngồi nghe chưởi ruả trên hội trường , trở về tổ phãi liên hệ bản thân , tự giác khai ra những viếc đã làm trong thời gian phục vụ trong quân đội VNCH .Đây là bản án ,tự mình viết cho mình , ai cũng phãi tìm cho mình một cái tội , Sau đợt hoc tập chính trị ,có ngươì như bị kiệt sức vì bị những đòn tra tấn cân não . Nhiêù lúc giữa đêm khuya bị goi lên khung ( Bộ chi huy) làm việc , cứ tra đi hỏi laị nhũng họat động đã qua . Tr/ Ta Võ Vàng là mục tiêu chính ,bọn cai tù nhắm đến , luôn luôn chúng đặt câu hỏi : Trong quá trình chỉ huy BĐQ . Trung đoàn trưởng , Liên đội trưởng , anh đã giết bao nhiêu Cán bộ CS và dân lành , mấy ngày đầu anh trả lời : Trên cương vị chỉ huy , tôi chưa bao giờ trực tiếp bắn , còn lính dưới quyền ,lúc xung trận ,ai bắn chậm thì chết , tôi không biết . Bọn chúng đâu có chịu ,Bọn chúng quây anh từ sáng ,tới tối , ngày nọ sang ngaỳ kia , nhưng anh vẫn kiên gan giữ lơì khai , đến lúc đó , bọn chúng mới đem những tờ báo cũ , có ghi kết quả các trận đánh ra , và tổng kết tổn thất địch ( VC) ,trong khoảng thơì gian anh Vàng chỉ huy , không dưới 20 ngàn VC phơi thây .Bản án Tử hình cho anh đã manh nha thành hình . Trong số các vệ binh coi tù . có nhiêù tên mới theo VC sau 30 thang 3/ 75 ,gồm nhiêù thành phần , có tên rất khát máu , thù hận ,vì có thân nhân , bà con chết trong cuộc chiến , nhưng cũng có tên nguyên trước 30 thang 3 là hoc trò của vợ tù , nên cũng dễ dãi và dễ bị mua chuộc để lấy tin tức . Sau đợt học tập chính tri ,quy mô kéo daì trên một tháng , tất cả tù được lệnh đi lao động trở lại . Một đêm đầu tháng 7 năm 1977 . Bộ chi huy trại 1 có cuộc họp chi bộ đãng , bản án tử hình danh cho Tr/Tá VÕ VÀNG đã được tổng trai Kỳ Sơn ký từ trước , buổi họp nầy, có mục đích tìm ngươì tình nguyện thi hành bản án . Tên Nguyễn Bốn , tên vê- binh loắt choắt , nhỏ con nhưng khét tiếng ác độc và khát máu đối vời tù , đứng lên tình nguyên thi hành .(tên Bốn nầy có cha hoạt đông nằm vùng cho VC bi nghĩa quân giết) . Buổi trưa hè , tháng 7 năm 1977 , tổ của Tr/tá Võ VÀNG có nhiệm vụ tiả bắp trong rẩy ,cạnh sông Vàng , ( nói là sông , nhưng thật sự là giòng suôí nhỏ ,chảy qua các ghềng đá bị xoi mòn rất đẹp )trong khu vực Mỏ Vàng Bông miêu, trời đứng bóng , nắng chang chang , tất cả tổ nghĩ lao động kéo nhau vào bóng mát ,lấy vắt cơm sắn và chút nước mắm cáí ra ăn ,thì tên Nguyễn Bốn xuất hiên với AK trên tay , ra lệnh : Anh Vàng theo tôi lên đồi nhổ sắn ( củ mì ) về bồi dưởng cho cả tổ . Linh tính báo cho biết ,việc chẵng lành , anh em trong tổ nhao nhao lên : Xin anh cho tôi đi nhổ sắn thay , vì anh Vàng mấy hôm nay bi kiết lị, yếu lắm . Nhưng tên Bốn vẫn khăng khăng bắt anh Vàng đúng lên đi lên đồi . Khoảng từ 7 đến 10 phút sau thì một loạt AK nổ , lát sau tên Bốn trở xuống noí : Các anh lên đem xác tên Vàng xuống chôn cất , nó Giựt súng tôi , nên tôi đã xử lý . Bọn khốn nạn , lủ hèn nhát đã giết anh một cách hèn hạ, tại sao chúng lại dựng nên tấn tuồng giết người tay không ,một cách hen hạ như vậy ??? vì bản chất chúng là bọn ngươì hèn hạ,bọn đê tiện , làm việc gì cũng không quang minh, chính đại , hành động của lủ đầu trộm , đuôi cướp ....Anh đã tức tưởi nằm xuống bên giòng sông Vàng , trong khu Mỏ Vàng Bông miêu , như là một định mệnh .....

Anh VÕ VÀNG kính yêu , đã 29 năm , ngày Tổ quốc bị bức tữ , 27 năm ,ngày anh bị chúng hành hình , một cách hèn nhát .Thời gian đủ để mọi ngươì mở mắt,nhìn thấy rỏ Thiên đường CS , thời gian đủ dài để xác thân anh trở về với cát bụi , và em tin tưởng linh hồn anh đang oai nghi , thanh thản ở cỏi vĩnh -hằng. Xin hảy cho em một lần được nhắc đến tên Anh , Anh VÕ VÀNG ,với lòng kính phục và thương tiếc sâu xa , một ngươì anh , một chiến sĩ QLVNCH kiệt -suất , hy sinh hết tuổi thanh xuân và cống hiến thân xác cho đại cuộc : Bão vệ tự do cho Tổ quốc . Xin anh cho em được đốt nén hương tưởng niệm anh ,nhân ngày giổ thứ 27 của anh . Xin anh cho em một lần nữa nhỏ nước mắt khóc thương Anh .

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »


SÁU ĐIỀU TÂM NIỆM của chiến sĩ VNCH


Trong chúng ta mấy ai còn nhớ ?
Sáu điều tâm niệm của chiến sĩ VNCH
Điều 1 : Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.
Điều 2 : Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu, tuyên truyền chia rẽ của giặc Cộng.
Điều 3 : Tôi luôn luôn kính già thương trẻ, đứng đắng với Phụ nữ và giúp đở Đồng bào.
Điều 4 : Tôi luôn tâm niệm, hành động làm mất lòng Dân, là xua Dân về phía giặc Cộng, là tự sát.
Điều 5 : Tôi luôn luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch ( VC. ) Không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng của họ, để thêm bạn bớt thù.
Điều 6 : Thực hiện các điều trên, là tôi tích cực xây dựng Tự do cho Đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn Dân. Tôi sẽ được đền bù, bằng sự cảm mến, biết ơn của Đồng bào.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Chuyện bây giờ mới kể


XIN ĐỌC MỘT CÂU CHUYỆN HAY VÀ THẬT CẢM-ĐỘNG !
PT


Câu chuyện hay: Câu chuyện về người thương phế binh Phan Thế Duyệt



Vào năm 2003 trong một chương trình giới thiệu hoạt động của hội “compassion” tại San Jose, California USA, ngay sau khi phát thanh lần thứ nhất, nhiều thính giả đã gọi vào thể hiện tâm tình họ dành cho câu chuyện thật đặc biệt, câu chuyện về một thương phế binh VNCH đang sống trong hoàn cảnh hết sức cô đơn tại một làng quê xa cách chốn phồn hoa đô hội… Câu chuyện có chút đau thương nhưng cũng lại có nhiều thơ mộng và đẹp của tình người.



Anh là một thiếu úy xuất thân từ trường Võ Bị QGVN và cũng đã từng mơ về một tương lai tươi sáng với những chiến công, những vòng hoa chiến thắng được choàng vào cổ từ tay của một nữ sinh sinh đẹp nào đó. Nhưng viên đạn AK47 ác nghiệt đã xuyên qua lưng anh ngay trong trận chiến đầu đời của một tân sĩ quan… Mọi giấc mơ tan vỡ, tương lai trở nên mịt mù và anh đã phải trải qua biết bao nhiêu đau thương sau đó.
Vết thương chưa lành hẳn thì biến cố 30 tháng 4 u.p xuống, anh bị đẩy ra khỏi Quân Y Viện khi viết thương còn rỉ máu, anh được cha mẹ gìa đưa về sống tại Tây Ninh, chẳng bao lâu sau đó anh đã phải cắt bỏ đôi chân vì ung thối để cứu mạng, thế rồi cha mẹ anh cũng lần lượt qua đời, còn lại một mình trong căn nhà nhỏ, anh đã sống 30 năm dài trong nỗi cô đơn tận cùng của kiếp người.
Đối với những người thương binh VNCH khác, hoàn cảnh của anh có lẽ chưa phải là tận cùng bằng số (?) Anh biết rõ điều này, nên không than van, chỉ vì buồn muốn viết thư đi khắp nơi để tìm người tâm sự và không kêu nài trợ giúp, lá thư gởi ra Hải Ngoại đi lang thang và được ai đó đưa lên internet, một cô gái ký tên “H” gởi về anh $50.00 Mỹ kim, anh viết thư cảm ơn…
Một người ở Paris đọc được lá thư anh gởi cho người con gái có tên “H” tưởng là bạn mình nên chuyển qua cho cô BS Hương (Liên Hương) thành viên của “Hội Huynh Đệ Chi Binh” cô BS cảm động vì lá thư lạ đã viết trả lời anh, lá thư cũng đầy tình cảm chan chứa, tường chừng như ở thời còn chinh chiến của một người em gái hậu phương gởi cho anh chiến sĩ nơi chiến trường, lá thư tỏ lòng ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một anh hùng. Anh chính là một “anh hùng” trong mắt cô Liên Hương ở Hoa Kỳ. Thư trao đổi giữa anh và cô BS trẻ với những lời chân tình đã làm nhiều người rơi lệ.
Giao Chỉ


Tây Ninh ……………. 1999
Cô H. thân mến,
Khi cầm bút viết thư này tới cô, tôi rất cảm động vì lần đầu tiên nhận được 1 thiệp chúc Noel và 50 USD. Bao đêm nằm suy nghĩ moi óc tìm về quá khứ xem có quen ai là H. không. Rồi kết luận tôi và cô rất xa lạ chưa 1 lần đối diện. Thế nhưng giữa khoảng không gian xa cách nghìn trùng, giữa lúc bận rộn với cuộc sinh nhai nơi đất khách quê người, mà cô còn có thời giờ hướng về quê nhà, nơi đó có những người nghèo khổ, tàn tật, đang âm thầm trên giường bệnh như tôi. Ngoài ý nghĩa về vật chất, món quà của cô còn có 1giá trị tinh thần rất to lớn, nó an ủi tôi trong những ngày Đông giá để chuẩn bị đón Xuân về. Nghĩa cử cao đẹp của cô chắc chắn sẽ được Thượng Đế đền bù.
Đây là những ngày đầu Xuân. Sau vài ngày Tết tạm quên đi những âu lo phiền muộn thì bây giờ lại suy nghĩ, tính toán cho năm rộng tháng dài. Tôi đã bị loại ra khỏi vòng chiến vào một buổi chiều mây giăng tím ngắt cách nay gần 27 năm dài (bị liệt và cưa 2 chân!).
Trong vòng 27 năm đó, cuộc sống của tôi âm thầm như những đêm không trăng sao. Bốn mùa cứ lần lượt trôi qua, bao đứa trẻ thơ đã trưởng thành, còn tôi đã thấy thấp thoáng con đường tới nghĩa trang!!! Ngày ngày chỉ nằm trên giường ngắm mây bay qua khung cửa sổ, và chiều chiều nghe tiếng chuông giáo đường buồn bã. Rồi đôi khi âu lo khi số tiền trong túi cạn dần.
Chưa bao giờ tôi đủ can đảm ngắm mình qua gương. Tuổi trẻ, tình yêu đã vượt khỏi tầm tay. Đôi khi kỷ niệm hiện về hỗn độn, quay cuồng, tan vỡ như những mảnh thủy tinh sắc nhọn. Tủi thân, phiền muộn là căn bệnh trầm kha kéo dài từ ngày nầy đến ngày khác! Đầu năm chỉ duy nhất một mình trong căn nhà bầu bạn với chiếc tivi, dò hết đài nầy đến đài khác, rồi mệt mỏi lăn ra ngủ. Những lúc đau nặng, bao nguy cơ rình rập, chỉ biết phó mặt cho bàn tay Thượng Đế.
Đã lâu lắm rồi không có cơ hội viết thư nên trong hồi báo này từ đầu đến giờ lẩn thẩn quá phải không cô H? Nếu có gì sơ suất xin cô bỏ qua sự thiếu sót đó. Trước thềm năm mới, tôi chúc cô và gia đình hưởng một mùa Xuân vui vẻ, một năm mới An khang thịnh vượng.
Tôi xin dừng bút nơi đây. Chào cô.
Ký tên: Duyệt
P T D
_

____________ _________ _________ _________ _________ ______
San Jose ngày 1 tháng 8, 2003
Anh Duyệt thân mến,
Có lẽ anh sẽ ngạc nhiên lắm khi nhận được lá thư này. Do một sự tình cờ hay sắp xếp nào đó của Thượng Đế, nếu chúng ta còn tin có Thượng Đế hiện hữu trong cuộc đời này, lá thư của anh đã vượt ngàn dặm hải lý và thời gian phủ bụi mờ để đến tay tôi. Một người bạn của tôi ở Pháp, trong lúc đi sưu tầm trên những trang điện toán đã tìm thấy lá thư này, và chuyển đến tôi. Chỉ vì một sự trùng hợp ở vần tên với một cô gái nào đó mà anh đã viết thư cám ơn 3 năm trước đây.
Lá thư của anh không giống như bất cứ lá thư nào tôi đã đọc trong gần 10 năm qua. Tôi cũng chưa bao giờ trả lời riêng như tôi đang làm ngày hôm nay. Đây cũng là lần đầu tiên tôi dùng tên thật của mình để viết cho một người chưa biết mặt. Tôi viết như thế để anh hiểu cái ấn tượng sâu đậm, và một phần nào là nỗi xúc động lá thư của anh đã để lại trong tôi.
Trong tuần lễ qua, tôi đã gọi điện thoại về Việt Nam một vài lần theo số anh ghi trong thư, nhưng đáng tiếc vẫn không liên lạc được vì đường giây luôn luôn bận. Cũng có thể vì tôi gọi không đúng cách, một lần nữa lại cho anh biết rằng đây là 1 điều tôi không thường hay làm lắm đâu.
Lá thư của anh đã vô tình nhắc nhở cho tôi về quá khứ, những năm tháng chiến tranh điêu linh của đất nước mà tất cả chúng ta đều muốn quên. Anh không kể nhiều trong thư, nhưng tôi đoán anh chắc phải là 1 người đã có kiến thức của 1 vài năm Đại học, hay ít nhất cũng đã đỗ Tú Tài trước khi đăng lính vào quân đội. Bởi vì 1 người bình thường ít may mắn được đến trường hơn, đã không thể viết một lá thư vừa lắng đọng, vừa lãng mạn dạt dào tình cảm như vậy.
Sự gắn bó của tôi với những người lính cũ có lẽ bắt nguồn từ gia đình tôi vốn đã có rất nhiều người xuất thân từ quân đội miền Nam trước đây. Cha tôi ngày xưa là 1 bác sĩ quân y ở Chẩn Y Viện Trung Ương, và cậu tôi cũng đã từng là 1 bác sĩ giải phẫu chữa phỏng và chấn thương tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, nơi tôi vẫn thường xuyên lui đến những ngày còn nhỏ vì căn bệnh riêng của mình. Hình ảnh của những nguời thương bệnh binh quấn khăn băng trắng thẫm máu đỏ hàng ngày được chở về từ mặt trận với tôi vì thế đã không xa lạ lắm. Một trong những người bạn thân nhất của tôi ở đây hôm nay là 1 cựu phi công từng đóng quân ở Phù Cát (Qui Nhơn)…
Tôi viết thư cho anh hôm nay, không phải như 1 người Việt kiều xa xứ được ưu đãi trong 1 đời sống an lành, và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần, đang nghiêng mình xuống viết cho 1 người đồng loại bất hạnh của mình. Nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái nhỏ năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Saigon, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hàng đêm vẫn vọng về từ 1 chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả 1 thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó, vẫn có bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng, chiến đấu đơn độc vào những giờ phút chót để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi, tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.
Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh, cho các bạn của anh những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua. Để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí, hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ có thể bị xóa nhòa.
Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết 1 phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, còn những người Việt tỵ nạn như tôi cũng mất cả 1 nơi chốn dung thân để phải tha hương, lưu lạc khắp mọi phương trời. Có 1 điều ngày hôm nay, tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi, và cô độc. Tôi không là 1 bà tiên có đôi đũa thần nhiệm màu để có thể hóa phép trả lại anh thân thể nguyên vẹn. Nhưng tôi có thể trao tặng anh 1 tình bạn, và hy vọng những giòng chữ của mình có thể xoa dịu được những vết thương vẫn còn nhỏ máu trong tâm hồn anh từ 30 năm qua.
Khi nhận được lá thư này, xin anh gửi cho tôi hồ sơ + 1 tấm ảnh hồi đáp qua địa chỉ 1 người thân của tôi ở Saigon, để rồi sẽ có người đem thư về Mỹ lại cho tôi:
Nguyễn Liên Hương
c/o Phạm Thục Tuyết Xuân
tel:
Tôi muốn biết địa chỉ chính xác của anh, để gửi đến anh 1 món quà nhỏ, mà tôi ước mong sẽ đem lại 1 vài tia nắng ấm trong gian nhà lạnh vắng, hiu quạnh của anh hôm nay.
Cũng xin anh đừng phổ biến tên tuổi hay địa chỉ của tôi, vì điều tế nhị thỉnh thoảng tôi vẫn còn trở về Việt Nam trong những công tác xã hội. Thêm nữa, tôi hiểu khả năng giới hạn của mình trong những điều có thể làm. Thật sự sẽ là một điều tàn nhẫn để gieo mầm cho những ảo tưởng, hy vọng không có cơ may được thành tựu.
Cuối cùng, dù tôi không thể gửi nguyên 1 bài hát về, cũng xin cho tôi được gửi tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát, “You are my hero”. Bởi vì cuối cùng, trong cuộc đời này, không có điều gì anh hùng, và cao thượng hơn là hy sinh bản thân mình cho những người khác được quyền sống. Trong mắt tôi, mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những người trai anh hùng một thời đã chọn cho mình con đường đi và sống đích thực có ý nghĩa nhất.
Thân ái chào anh, và cầu chúc anh những ngày tháng cuối an lành trong niềm vinh dự và tự hào.
LH

Post Reply