Ngôi thánh đường bất đắc dĩ
Saturday, June 26, 2010
LTS: Ngày 26 tháng 6, 2010 khi loan báo kết quả phiên họp vòng 2 ở Vatican về thiết lập bang giao giữa Tòa Thánh và nhà cầm quyền Hà Nội, hãng thông tấn chính thức TTXVN viết rằng: “Phía Việt Nam khẳng định lại chính sách nhất quán tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo cũng như các quy định pháp luật đảm bảo thực hiện các quyền tự do đó.”
Cũng ngày này, Mục Sư Nguyễn Trung Tôn, hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Toàn Vẹn ở Thanh Hóa, gửi tới báo Người Việt một bài viết có tựa đề “Ngôi thánh đường bất đắc dĩ.” Bài viết mô tả ngôi thánh đường đặt tại một cái chuồng bò đổ nát của Mục Sư Dương Kim Khải ở một khu vực ngoại thành Sài Gòn.
Nhà nguyện tư gia của MS Tôn ở Thanh Hóa từng bị triệt hạ, cá nhân ông và các tín đồ từng bị đánh đập, sỉ nhục khi tổ chức các buổi sinh hoạt tôn giáo.
Khi cùng một số người đi vào Sài Gòn thăm Mục Sư Khải, ông viết bài này để mọi người hiểu quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam nó như thế nào. Ðược biết, MS Tôn, chị Hồ Thị Bích Khương, chị Nguyễn Thị Thu Trâm, sinh viên Lê Viết Thắng, khi từ miền Trung vào Sài Gòn thăm MS Khải rồi gặp kỹ sư Ðỗ Nam Hải. Họ đã bị công an bắt, thẩm vấn, và riêng chị Bích Khương đã bị đám công an CSVN đánh đập tàn nhẫn.
MS Nguyễn Trung Tôn
Nhân chuyến đi Sài Gòn, tôi và chị Hồ Thị Bích Khương ghé thăm gia đình Mục Sư Dương Kim Khải, cũng là nơi Hội Thánh Chúa đang sinh hoạt hàng tuần trong một chuồng bò bên cạnh bờ sông Sài Gòn, giữa thành phố mang tên “bác hồ vĩ đại.” Cùng đi với chúng tôi có cô Nguyễn Thu Trâm và sinh viên Lê Viết Thắng. Khoảng 5 h chiều ngày 14 tháng 6, 2010 chiếc taxi chở chúng tôi đã dừng lại cạnh bờ sông Sài Gòn ở quận Bình Thạnh, thành phố Sài Gòn. Gió thổi nhẹ mang hơi nước từ dòng sông đầy rác thải và mùi hôi hám của xác súc vật chết làm chúng tôi phải rùng mình. (Mùi của kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa...) Chúng tôi xắn quần lội qua dòng nước đang tràn vào “ngôi thánh đường” của hội thánh Mennonite do MS Dương Kim Khải quản nhiệm.

Ngôi thánh đường bất đắc dĩ của Mục Sư Dương Kim Khải là cái chuồng bò bỏ hoang ở Gò Vấp, Sài Gòn.
(Hình: do MS Nguyễn Trung Tôn cung cấp)
Bước vào ngôi “thánh đường” chuồng bò cũ này, đập vào mắt chúng tôi là một “bà cụ” 52 tuổi đang nằm bất động trên một “chiếc giường” được ghép những tấm bằng gỗ tạp, chính là vợ của Mục Sư Khải. Thấy chúng tôi vào thăm hội thánh, Mục Sư Khải rất đỗi vui mừng, lội qua dòng nước ra tận ngõ đón tiếp và siết chặt tay chúng tôi mời vào nhà, ông phấn khởi pha trà mời chúng tôi. Chị Hồ Thị Bích Khương trèo lên chiếc “giường” để nắn bóp cho vợ Mục Sư Khải, nhưng ngay lập tức chị nhận được một sự phản ứng từ phia người đàn bà câm bại liệt này. Bà Mai Thị Dung là tên của vợ MS Khải. MS Khải cho biết khi thấy chúng tôi vào bất ngờ chị Dung lầm tưởng chúng tôi là công an nên chị rú lên phản đối. Chị Dung rú lên rất lớn và quơ tay xua đuổi chúng tôi đi. Khi nghe Mục Sư Khải giải thích, chúng tôi hiểu được lý do bị chị Dung phản đối. Chị Bích Khương giải thích: “Chúng tôi là con cái Chúa tới thăm chị, không phải công an CS đâu chị.” Chi Bích Khương dùng hai ngón tay ký kiệu hình thập tự giá để chị Dung hiểu. Chị Dung bỗng nhiên mỉm cười trên miệng và hai dòng nước mắt bắt đầu lăn trên má chị.
Và rồi, chính những giọt nước mắt nhạt nhòa trên mặt chị Dung đã cắt nghĩa cho chúng tôi hiểu, vì sao khi MS Khải vào tù thì chị bị bệnh liệt giường cho tới nay. Hơn 5 năm đã qua, gia đình chị “được” công an CS thành phố mang tên bác này tạm giải phóng ra khỏi nhà, chồng vào tù, hội thánh tưởng tan đàn, sẻ nghé... gánh nặng quá sức trên đôi vai gầy đã làm chị Dung suy sụp như ngày nay...
MS Dương Kim Khải kể: “Tôi là người ngoài Bắc vào đây, ngày trước hội thánh chúng tôi sinh hoạt tại một căn nhà khác khang trang, nhưng ngày 19 tháng 8, 2004 tôi bị công an bắt và kết án 2 năm tù, chỉ vì tôi đứng ra bệnh vực những người dân mất đất và công an vu cho tội vu khống. Sau 6 ngày tôi bị bắt thì vào ngày 5 tháng 9, 2004, nhà chúng tôi cũng là nơi cầu nguyện của hội thánh chính thức bị cướp trắng. Do bị áp lực chồng bị bắt tù oan, nhà bị cướp trắng không nơi thờ phượng Chúa và ở nên vợ tôi đổ bệnh từ đó. Chuồng bò này là do một người tốt bụng cho gia đình tôi mượn để ở tạm, thế mà cũng đã 3 năm nay chuồng bò này đã trở thành ngôi thánh đường bất đắc dĩ. Kể từ ngày 19 tháng 8, 2006, sau khi tôi mãn hạn tù, thì tôi có ở nhờ vài chỗ nữa, trước khi vào ở trong chuồng bò này...”
Khi chúng tôi ngồi nói chuyện thì nước sông Sài Gòn đã tràn qua bức tường cao chừng 1m do Mục Sư Khải xây để ngăn nước chảy lênh láng trên nền “ngôi thánh đường” bất đắc dĩ này.
Hình ảnh chuồng chiên năm xưa, nơi Thiên Chúa giáng sinh bỗng trở về trong suy nghĩ tôi. Năm xưa do quán trọ hết chỗ nên Thiên Chúa phải chào đời nơi nghèo hèn tạm bợ. Nay nhờ đất nước “phát triển theo kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa do đảng CSVN sáng suốt lãnh đạo” nên Mục Sư Khải mất nhà, phải tạm dùng chuồng bò làm nơi sinh hoạt hội thánh.
Một lát sau cháu Dương Mạnh Hùng, con trai MS Khải đi học về, nhìn cháu già hơn tuổi, chúng tôi biết ngay cháu đã trải qua nhiều bất hạnh trong cuộc đời nhưng mặt cháu rất vui vẻ khi chào hỏi chúng tôi. Chị Bích Khương lấy máy ảnh chụp vài kiểu ảnh của “ngôi thánh đường” chuồng bò trên nước làm kỷ niệm, rồi chị bật chức năng quay phim để quay lại cảnh nước tràn vào nền “nhà.” Cảm động trước cảnh ngộ của gia đình, chị Bích Khương đã chia sẻ khoản tiền ít ỏi của chúng tôi để MS Khải có thể mua cho gia đinh một bữa ăn đạm bạc.
Sau 35 năm đất nước thống nhất và 75 năm xây dựng thiên đàng cộng sản trên đất của đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm cho những ai chứng kiến cảnh ngộ của gia đình MS Dương Kim Khải và hội thánh tại đây không thể không động lòng thương xót. Ấy thế mà những nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn dửng dưng như không có chuyện gì đáng xấu hổ hay phải suy nghĩ, trăn trở, ngược lại còn gây khó khăn thêm cho những con người bất hạnh, nhưng ở họ thì tràn đầy hy vọng nơi Thiên Chúa.
Chia tay gia đình MS Khải, lòng tôi đau nhói bởi máu xương cha anh xưa đã đổ xuống cho chế độ cộng sản này chỉ với một mong mỏi nhỏ nhoi, ấy là đất nước được độc lập, thống nhất, dân tộc được tự do, hạnh phúc, người cày có ruộng, bỗng nước mắt tôi trào ra trong sự nghẹn ngao, uất ức và cả căm phẫn nữa...
Và rồi, tôi cảm ơn Chúa Thánh Thần, Ðấng đã nhắc nhở tôi, với Thi Thiên 68:6 làm nguồn an ủi, trước khi rời khỏi Thánh đường ở Thành phố Hồ Chí Minh - Hòn Ngọc Viễn Ðông, khi thủy triều đang dâng như đe dọa nhận chìm nhà Mục Sư Dương Kim Khải. Lời Chúa làm cho chúng tôi sống lại và hy vọng, rằng: “Ðức Chúa trời ở trong nơi Thánh Ngài, Là cha kẻ mồ côi, và quan xét của người góa bụa.”
Ðáng ngợi khen Ðức Chúa Trời,
Thanh Hóa 25 tháng 6, 2010
Mục Sư Nguyễn Trung Tôn