Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Con trai Thành Long thích làm ca sĩ hơn làm tài tử

Image
Phùng Tổ Danh (Jaycee Fung), 27 tuổi, con trai tài tử quyền cước Thành Long, lúc nhỏ theo bố đóng phim, nay chọn cho mình con đường ca hát, chứ không thích điện ảnh.
(Hình: STR/ Getty Images)

HONG KONG (AP) - Con trai tài tử Thành Long, Phùng Tổ Danh (Jaycee Chan hoặc Jaycee Fung), lúc nhỏ thường đi theo sự hướng dẫn của bố, là đi vào con đường điện ảnh, tuy nhiên giờ đây đã lớn, Phùng Tổ Danh nói thẳng ra là mình thích trở thành ca sĩ hơn là tài tử.

Sáu năm sau khi ra cuốn phim đầu tiên và cũng ra được một album ca nhạc, Phùng Tổ Danh, 27 tuổi, cho biết anh muốn xếp lại hành trang của gia đình nổi tiếng về điện ảnh của anh, để đi theo con đường mới mà anh đã chọn, đó là con đường ca hát.

Phùng Tổ Danh nói tiếp với hãng thông tấn AP:

“Lúc đầu tôi cũng có một số nghi ngờ về con đường ca nhạc của tôi, vì lúc đầu tôi thấy có ít người ủng hộ tôi, tuy nhiều giờ đây ngày càng có nhiều người ủng hộ tôi hơn. Chính vì vậy mà tôi cảm thấy hài lòng về con đường mà tôi đã chọn.”

Nhân dịp ra mắt cuốn phim tình mới nhất của mình tại Hong Kong “Break Up Club,” Phùng Tổ Danh đã có một cuộc tiếp xúc với báo chí, và anh cũng đã nói qua về con đường ca nhạc của mình, như sau, sau khi cũng vừa ra một album mới, mang tựa đề “Messy,” mà Phùng Tổ Danh cho biết nó có thể khác với các album nhạc Trung Quốc phát hành gần đây “Chỉ nói nhiều về tình yêu lứa đôi, trong khi nó còn tình yêu gia đình, tình bạn bè...”

Phùng Tổ Danh cũng nhìn nhận là anh thích âm nhạc hơn là thân phụ của anh, chỉ thích đóng phim quyền cước võ thuật mà thôi.

Phùng Tổ Danh cho biết: “Tôi cho sự nghiệp ca nhạc của tôi là quan trọng hơn sự nghiệp điện ảnh của tôi, vì âm nhạc là tôi. Tôi có thể sáng tác bài ca, tôi hát được. Tôi thường tự điều khiển được các chương trình ca nhạc thu video của tôi.”

Phùng Tổ Danh cũng nhận xét rằng khi đóng phim anh tự cảm thấy mình như con rối, “Người ta bảo tôi phải làm cái này, tôi phải làm cho đúng. Tôi làm như vậy, và tôi được trả lương và bình thường thì tôi cũng hài lòng. Nếu cuốn phim được coi là hay. Tôi càng cảm thấy vui sướng hơn. Tuy nhiên bên ca nhạc, tất cả đều là do tôi cả. Nếu nhạc mà kém quá, thì chỉ có tôi là phải chịu mà thôi.”

Trong album mới “Messy” của mình, Phùng Tổ Danh cho biết đã viết 16 trong số 18 bài hát.

Phùng Tổ Danh cho biết bố, mẹ của anh, nhất là bà mẹ, nữ tài tử Ðài Loan, Lâm Phụng Kiều (Lin Fen Jiao), nay đã về hưu, thường đưa ra các ý kiến này nọ, tuy nhiên Phùng Tổ Danh cho biết anh tự điều khiển lấy sự nghiệp ca nhạc của mình mà thôi. (L.T)

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Image


Bóng Đá Mỹ: Cơ Hội 80 Năm Một Lần

đội Mỹ đi từ chỗ sắp bị loại thành ra...
đầu bảng và rơi vào con đường...
đầy hy vọng
Cali Today News - Hồi một năm trước anh chàng tuyển thủ Mỹ Charlie Davies có nhận định rằng nếu đội Mỹ vẫn chơi tốt như ở Federation Cup và mọi chuyện "xuông sẻ" thì khả năng đội Mỹ sẽ vô địch thế giới. Lúc đó ai cũng cười vào mũi Davies và coi như mấy tên Mỹ hay làm ... phách. Mà cũng đúng, bóng đá Mỹ hiện đại chỉ thắng đúng một trận ở vòng knock-out là trận thắng đội Mexico 2 - 0 ở World Cup 2002.

Chuyện đội Mỹ có chơi tốt hay không thì còn có lúc "up and down" lên hay xuống, nhưng chuyện "xuông sẻ" có lẽ đang đến với đội Mỹ, một cơ hội mà ... 80 năm lịch sử World Cup mới đến một lần. Thật vậy bảng phân chia vòng đấu trực tiếp này đã đưa Mỹ vào nhóm đội ... "lép vế" nhất trong thang điểm của FIFA. Một trong bốn đội Ghana, Uruguay, Nam Hàn, và Mỹ sẽ vào đến trận bán kết. Nhìn trên bảng xếp hạng thì Mỹ ở hàng 14, cao nhất trong 4 đội. Trước ngày vào giải, không có một nhà bình luận nào tiên đoán 4 đội này có khả năng vào đến bán kết. Nay, với kết quả như vậy, theo xác suất thông kê, việc các đội trên tiến đến bán kết không phải nhỏ, nên chính các sòng bạc ở Anh đã phải hạ giá cá cược của đội Mỹ từ 1 đồng ăn 125 xuống còn 1 đồng ăn 46. Dĩ nhiên họ vẫn đánh giá Uruguay cao hơn với giá 1 đồng ăn 19.

Cả nước Anh bây giờ lấy làm tiếc vì cái con đường "ngon ăn" của đội Mỹ lẽ ra là chỗ của Anh. Anh bây giờ phải nằm trên tử lộ gồm các đội Argentina, Đức, Anh và Mexico. Nếu Mỹ lọt vô đường này, coi như Mỹ sẽ là đội kèo dưới (underdog). Mà cũng lạ, so với các đội đầu bảng khác, đội Mỹ chiếm được chức đầu bảng chỉ vào đúng 2 phút chót. Nói theo ngôn ngữ của bóng bầu dục là 2 phút phù du ( 2 minutes remain). Chỉ có 2 phút cuối cùng thôi, đội Mỹ đi từ chỗ sắp bị loại thành ra ... đầu bảng và rơi vào con đường ... đầy hy vọng. Trên con đường này, Ghana và Nam Hàn xếp yếu nhất, tạm tạm là Uruguay.

Bỏ qua những cái không may đến từ tiếng còi của trọng tài trong các trận trước, mà hãy nhìn lại những cái ... may đến cho đội Mỹ. Có lẽ khởi đầu từ bàn thắng trong trận mở đầu với đội Anh. Nếu thủ môn Green của đội Anh khá hơn, có thể tình thế đã khác. Rồi kế tiếp là những đội thuộc hàng đại gia như Pháp, Ý xuống chân một cách thảm hại, tránh đường cho đội Mỹ trên con đường tiến vào bán kết. Dĩ nhiên Ghana, Uruguay, Nam Hàn cũng thấy được vận may này. Đừng quên là Ghana đã từng loại Mỹ 4 năm trước ở Đức. Đừng quên là Uruguay đang lên chân với Forlan và Suarez sung sức. Đừng quên là Nam Hàn quyết chí lập lại thành tích 8 năm trước. Nhưng đội Mỹ có một vận may khác là nhờ sự xử ép của trọng tài mà cầu thủ Mỹ đã được rèn luyện về ý chí tấn công bền bỉ đến phút chót. Cái này rất quan trọng trong vòng đấu knock-out này. Do or Die!!! Cầu thủ Mỹ hơn ai hết đã hiểu và "thấm nhuần" ý nghĩa của nó.

Cũng không hiểu là tình cờ hay do duyên trời mà hãng Nike có câu quảng cáo "one game can change everything". Cho nên hôm qua, anh chàng trung phong của đội Mỹ là Altidore có nói rằng bây giờ là từng trận một, mọi chuyện đều có thể xảy ra và biết đâu chừng, chúng tôi sẽ chơi tới trận ... cuối cùng (là trận chung kết).

Lần này thì không ai dám cười vào mặt Altidore nữa.

Xin cầu chúc may mắn đến với đội Mỹ. Cơ hội 80 năm ... mới có một lần là vậy!

Quang An

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Vài Nét Mặt Người Việt Ở Paris

Nguyễn thị Cỏ May
Cách nay ít lâu, trên thị trường sách vở tiếng Việt ở Paris xuất hiện một quyển sách dịch từ tác giả người Tàu, Bá Dương, có tựa là Người Trung Quốc Xấu Xí . Sách do ông Nguyễn Hồi Thủ dịch, đã thu hút sự chú ý của khá nhiều độc giả người Việt. Cỏ May dám quả quyết như vậy vì nhiều người Việt Nam, cả các bà già trầu, tức những người không từng quan tâm đến chữ nghĩa, cũng đã tìm hoặc nhờ mua để đọc qua cho biết.

Ông Bá Dương sanh năm 1929 ở lục địa. Năm 1949, ông chạy qua Đài Loan tỵ nạn cộng sản Mao Trạch Đông. Trong 30 năm sanh sống ở Đài Loan, ông viết tiểu thuyết 10 năm, viết tạp văn 10 năm và ở tù 10 năm.

Cái tựa sách Người Trung Quốc Xấu Xí để gợi nhớ trước đó đã từng có Người Mỹ Ưu Tư, Người Mỹ Trầm Lặng, Người Nhựt Xấu Xí,… nhưng Người Việt Cao Quí.

Điều đã làm cho các bà già trầu chỉ mê phim bộ nay đọc Người Trung Quốc Xấu Xí vì các bà nghe nói Người Trung Quốc Xấu Xí sao mà giống hệt người mình quá!

Ai đã đọc qua rồi đều thừa nhận trong Người Trung Quốc Xấu Xí hiện rõ nét bóng dáng Việt Nam như ông Bá Dương viết về người Việt mình vậy.

Theo lịch sử Tàu thì họ ở phía bắc sông Dương Tử, còn Việt Nam là Nam man, thuộc một trong nhóm Bách Việt, ở vế phía nam sông Dương Tử. Như vậy Việt Nam đâu có họ hàng xa gần gì với người Tàu mà giống nhau được. Chẳng lẽ vì Việt Nam là con cháu Thần nông mà không giống lông cũng giống cánh?

Cỏ May sẽ trích dẫn một vài đoạn văn của ông Bá Dương mô tả Người Trung Quốc Xấu Xí để bạn đọc nhận diện và so sánh với người Việt Nam mình.

Giờ đây Cỏ May nói về một nét sinh hoạt xã hội ở Paris trong đó không thiếu bóng dáng người Việt ta.

Ở Pháp, đặc biệt tại những thành phố lớn như Paris, có nhiều tiệm cà-phê bán thuốc hút và vé số (lô-tô), cá ngựa. Thuốc hút do Chánh phủ độc quyền nên chỉ bán ở những địa điểm nhứt định. Người muốn hành nghề này phải là công dân Pháp và cựu quân nhân. Người khác phải mua lại môn bài. Bán vé số và cá ngựa thì điều kiện sang lại dễ dàng hơn như bán cà-phê.

Tại những Bar-Tabac-PMU, tức Cà-phê, Bar,Thuốc lá và Cá ngựa luôn luôn đông khách, phần lớn là người Rệp (Á-rặp), đen. Người Việt Bam chỉ là số ít vì trên cả nước Pháp cũng chỉ không quá 200,000 dân sanh sống. Nhưng không vắng mặt.

Trong số người đánh cá ngựa có lắm người sạt nghiệp. Nhưng họ vẫn mê sai như người ghiền mê thuốc phiện hay xì-ke. Theo họ ‘đánh cá ngựa là để sống’. Có người biết ‘cá ngựa là một thứ bịnh’ nhưng không muốn chữa trị cho dứt. Một phụ nữ Pháp, y tá Quốc gia nay hưu trí, mê cá ngựa và chơi suốt 40 năm mà không một lần được trúng. Bà than ‘đời bà không bao giờ được may mắn’!

Một phụ nữ khác sẵn sàng trả lời những người chung quanh về đặc tính của con ngựa này, con ngựa kia, những lần về nhứt,… Ở Bar-Tabac-PMU còn là nơi để người ta nói chuyện chơi với nhau, uống với nhau một ly. Có người chọn nơi này để tìm giải thoát khỏi đời sống nhàm chán hằng ngày. Một người ăn xin thường có mặt ở đây, sau khi sạch túi, mơ màng ngày mai sẽ xin được nhiều tiền hơn để đánh một mẻ lớn. May ra…

Người Việt ta ngồi chụm lại với nhau chung một bàn để bàn luận nên đánh con ngựa nào. Đối với phe ta, Bar-Tabac-PMU cũng giống như dân Tây là nơi hẹn hò nhau trong đam mê cá ngựa.

Ở Hòa Lan và Anh, trước đây người bản xứ gọi người Việt là ‘Việt chả giò’ vói ý thân thiện vì họ thích món chả giò của Việt Nam. Nay họ gọi bằng danh từ mới ‘Việt chả giò cần sa’. Danh từ này mới xuất hiện từ ít lâu nay, khi có người Việt gốc Đông Âu đến sanh sống hoặc đến từ Miền Bắc Việt Nam theo diện đoàn tụ gia đình. Đi làm ăn lãnh lương tháng vất vả nên họ chuyển qua trồng tỉa nhỏ. Họ trồng trong nhà chừng 10 cây cần sa trong vòng vài tháng, thu hoặch được ít nhứt 10 kg cần sa, đem bán mỗi ký từ 1000 đến 1300 euros. Nếu bị bắt, người trồng sẽ bị phạt có lợi tức không khai để đóng thuế. Trồng cần sa nhiều hơn qui định và không cho nhu cầu tự tiêu thụ hoặc tự chữa bịnh bị phạt 40 giờ lao động xã hội chủ nghĩa, tức lao động cho công ích như đi quét hoặc chăm sóc cây kiểng ở công viên. Nếu không muốn làm việc này để tránh có người thấy thì đi lao chùi bàn ghế công sở.
Về pháp lý, Bar-Tabac-PMU là những cơ sở thương mãi tư nhân khai thác do Bộ Canh nông và Bộ Ngân sách quản lý thu tiền đánh cá của dân chúng ngoài hệ thống Trường đua. Hằng năm, hệ thống cá ngựa loại này thu về cho Nhà nước 1 tỷ euros và tăng đều 9%. Người Việt ta chỉ đánh cá ngựa ở Cà-phê chớ chưa đủ điều kiện đến chơi tại trường đua.

Riêng tại thành phố Cỏ May ở chỉ là một thành phố nhỏ thuộc ngoại ô Paris, gốc nông nghiệp mà ngày nay chỉ còn một loại phô-mai Brie nổi tiếng, có vài ba tiệm Cà-phê có đánh cá ngựa.

Mỗi Cà-phê là một nơi gặp gở riêng của từng nhóm người Việt ta.
Một hôm Cỏ May đến Cà-phê mua một con tem của Bộ Tài chánh phát hành để trả thuế. Người chủ tiệm mới mua lại cửa hàng của người Pháp trước kia là Việt Nam, thấy Cỏ May cũng là Việt Nam nên hỏi :
- ‘Việt Nam, sao không thấy tới đây bao giờ hết vậy?’
- ‘Tới để làm gì ?’
- ‘Để đánh cá ngựa.’
- ‘Vậy phải đánh cá ngựa, mới là Việt Nam sao?’

Ở những nơi khác, Cỏ May không biết người Việt ta có mê cá ngựa và đánh Casino hay không. Ở Pháp, đời sống khó khăn. Phần lớn người Việt đến đây sau năm 1975 nếu không có ngành chuyên môn về khoa học kỹ thuật cao, như kỹ sư Trường Lớn của Pháp hoặc Nha Y sĩ (dược phải học lại rất nhiều nên ít người hành nghề lại dược), thường phải chấp nhận làm những nghề dưới khả năng của mình và lương thấp. Thế mà họ vẫn dành dụm để cuối tuần đi chơi Casino. Có những người làm nghề may mướn hoặc làm chả giò bán, cuối tuần thua sạch túi.

Casino ở Pháp sau năm 1981, Chánh phủ đóng cửa một số lớn. Những Casino còn lại đã có từ lâu đời. Muốn vào chơi phải ăn mặc chỉnh tề, mang giày Basket hay đi dép, áo bỏ ngoài, … không được vào. Khi vào, phải nói rõ với người gác cửa sẽ chơi môn gì để người gác cửa hướng dẫn thẳng đến phòng đó.

Cách nay ít lâu, có một bà người Việt ta mang bầu vào Casino mê ăn thua đến nổi phải đẻ trong Casino. Từ đó, Casino được lệnh không cho các bà người Việt có bầu vào Casino nữa.

Cỏ May nhận thấy người Việt ở Paris thuộc giới ‘bình dân’ khá đông đều mê cá ngựa và Casino. Số tiền họ mua cỏ cho ngựa ăn hay giúp Casino mở mang rất lớn so với lợi tức của họ. Cỏ May không hiểu tại sao có hiện tượng này. Vì đời sống khó khăn nên nuôi hi vọng làm giàu chớp nhoáng? Hay vì ngày mai không có gì bảo đảm mà sống chụp giựt qua ngày? Bản tánh cần cù, chịu khó, như sách vở nói, ở đâu sao không thấy?

Đam mê cờ bạc là một nét nổi bật khá rõ ở người Việt Paris.
Còn những nét tiêu biểu khác, Cỏ May mời bạn đọc vài đoạn trích dẫn trong quyển Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương để mình nhận diện mình:

Về đoàn kết

‘… có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở bên dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi - nơi không cần quan hệ với người khác - thì có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc hợp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau. Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được....(tr.30)’

Tánh tự ty và tự tôn

Đường đường là một nước lớn. Thế mà thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi (tr. 40)... đưa đến một đằng tuyệt đối tự ty, một đằng tuyệt đối tự kiêu. Lúc tự ty thì thành ra tôi tớ, nghĩ mình không bằng đống phân chó. Lúc tự kiêu thì thành ông chủ, xem mọi người đều là *** chó hết (...)

Viết được dăm ba bài văn là đã thành văn hào. Đóng được hai bộ phim đã là ngôi sao sáng của nền điện ảnh. Hai năm có được ít chức quyền nghiễm nhiên có thể cho mình là cứu tinh của nhân dân. Qua Mỹ học được hai năm đã trở thành một học giả chuyên gia (tr. 41)

Theo tác giả, ấy do tội lỗi của đám Hủ Nho đã bóp chết khả năng suy xét, tưởng tượng chẳng khác nào lấy cái túi nhựa bịt kín bộ não lại. Ông gọi là hũ tương văn hoá Trung Quốc (dẫu có vứt mứt đào vào rồi cũng sẽ biến thành *** khô) (tr.48)

Nếu người dân không tự nuôi dưỡng được cho mình cái trình độ phán đoán đánh giá những lãnh đạo của mình thì chẳng có lý do gì để trách ai cả. Đi tôn thờ một kẻ không tôn thờ được thì còn trách ai một khi kẻ đó cưỡi lên đầu lên cổ mình? (...) Dân chủ là một cái gì phải tự mình giành giật được, chẳng ai ban phát cho cả (tr 49)

Người Trung Quốc là cái vại tương

Trong bài Người Trung Quốc và cái vại tương, Bá Dương chê người Trung Quốc ưa làm quan, phong kiến, khi phán xét, suy luận, không dùng lý trí mà nặng về cảm tính; xã hội dựa trên tiêu chuẩn chính trị đạo đức thời phong kiến hủ Nho, đặt lợi ích của người làm quan lên trên. Lâu ngày, những thói tục xấu xa ăn sâu vào "nhiễm thể",…
Dân vi quí, quân vi khinh (dân là quí, vua là thường). Đấy chỉ là một thứ lý tưởng mà Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện (tr. 62). Người Trung Hoa xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là gì. Tuy có người bảo chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền tự do của chúng ta rất có hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép (....) Phạm vi của tự do rất hẹp hòi. Đương nhiên có thể có cái tự do suy nghĩ vớ vẩn chứ các khái niệm dân chủ, pháp trị thì hoàn toàn chẳng có (tr.65)

Bá Dương liệt kê năm khuyết điểm

Khuyết điểm thứ nhất là vì nhân quyền, nhân tính, phẩm giá con người bị chế độ và xã hội phong kiến chà đạp trong suốt 5000 năm, khiến dân không còn lòng tự trọng (?) cái tự trọng còn lại chẳng qua cũng chỉ là cái tinh thần tự dối mình như AQ trong truyện của Lỗ Tấn (...). Ví dụ tôi đến thăm anh, thấy anh nhà cao cửa rộng (....) lúc ra khỏi nhà anh lại bảo "Ở nhà đẹp thế! Không biết ăn cắp hay ăn cướp ở đâu ra lắm tiền! Cầu trời cho ngày mai có đám cháy thiêu rụi cái nhà nó đi cho rồi!" Tâm lý (...) bị ức chế lâu ngày chỉ biết dùng cái tinh thần đó để tự thoả mãn. (tr. 80).

Khuyết điểm thứ hai là 4000 năm chiến tranh liên miên chỉ vì bần cùng, giết chóc, đố kỵ một cách lâu dài thành ra lòng dạ chúng ta thành hẹp hòi (tr.82).

Khuyết điểm thứ ba là chế độ khoa cử, quan trường, tạo ra một tầng lớp Quan liêu chẳng trung thành với quốc gia lãnh tụ gì cả, chỉ tận tâm tận lực với kẻ cất nhắc nó lên làm quan (tr 85)….

Cái xã hội ăn chơi, phù hoa là nơi các quan ra oai, tự nhiên hình thành một hệ thống tương hỗ bao che giữa các quan với nhau - một quan hệ vô cùng phức tạp. (tr 86) (.....) phức tạp đến độ một người lành mạnh không thể nào chịu nổi (tr.89)

Tinh thần Nho giáo bảo thủ, là khuyết điểm thứ tư, khiến xã hội mất hết sức sáng tạo, mất tập quán tự tìm hiểu, tự phê phán (tr 93)
Và nạn nhân mãn là khuyết điểm (cuối cùng), Trung Quốc quá đông, nghèo khổ quá lớn, quan trường quá mạnh, cạnh tranh quá khắc nghiệt, những lý do này sinh ra nơi người Trung Quốc cái hiện tượng bẩn, loạn, ồn, xâu xé lẫn nhau (...) Tôi cho là Trung Quốc là một nước tuyệt đối không trọng lễ nghĩa. Người Trung Quốc thật thô lỗ... (tr 96) Người Trung Quốc thông minh (....) đến độ khi bị đem đến lò sát sinh, còn cố cò kè về giá cả của mình, nếu kiếm thêm được vài đồng thì chết rất hả hê. Cái kiểu thông minh quá cỡ này nhất định sẽ thành kiểu ích kỷ quá cỡ. (...) người nào mà không suy nghĩ một cách ích kỷ, cư xử một cách ích kỷ đều bị chế diễu là ngu ngốc (tr.99)
Quan hệ giữa dân với Chánh quyền

(...) Phe nắm quyền, đối với thứ dân (...) bố thí, ban phát cho để tỏ ra mình đại lượng, khẳng khái. Sự thực là giữa người và người đầy những "cung kính" và "sợ sệt". Có nhiều người vì kính mà thành sợ, chẳng khác nào con đối với cha. Có nhiều người vì sợ thành ra kính, giống gái đĩ đối với khách làng chơi, như đại thần đối với hoàng đế, tiện dân đối với quan lại, tù nhân đối với cai ngục.(tr.115)
Tính ích kỷ quá mức được thể hiện ở chỗ không tuân thủ kỹ luật chung và lúc nào cũng mưu lợi riêng.

Ôi! Một kế hoạch, một phương pháp, một hội nghị, một quyết sách, thậm chí một vụ kiện cũng chỉ đều là cái cớ để (.....) nghĩ ngay rằng trong việc này mình có lợi gì không? hoặc ta sẽ kiếm chác (...) được hưởng quyền hành gì (....) được trách nhiệm lớn hay nhỏ? (....) đều lòng vòng trên những thứ đó. Bề trên cũng vậy, cấp dưới cũng thế. Cả anh cả tôi cũng rứa, mọi người đều ôm lấy chúng đến chết cũng không buông (tr. 119). Cái kiểu nhà Nho, mồm không nói đến lợi, đến tiền nhưng lòng dạ lại đầy ứ những quan niệm què quặt về lợi tiền (tr.121).

Các bạn với Cỏ May, ta hãy tìm đọc Người Việt Cao Quí.

Nguyễn thị Cỏ May

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

May mà Việt Nam còn có Sài Gòn!
Friday, June 25, 2010

Trần Tiến Dũng/Người Việt

Image
Sài Gòn, thành phố của những người nhập cư với nhịp sống luôn nhanh và náo nhiệt. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Người Sài Gòn từ thời hộ khẩu đến kinh tế thị trường

Khi có ý đi tìm người Sài Gòn, không hiểu sao khi chưa ra khỏi nhà tôi đã biết có đi phỏng vấn đến tết Congo cũng không ai người Sài Gòn tự nhận mình là người Sài Gòn gốc 3 đời hoặc mấy chục đời cả. Chắc rằng mọi người sẽ hỏi lại tôi, sao hỏi chi cái chuyện tào lao, tầm phào hết sức vậy cha nội, kiếm sống được ở Sài Gòn, là người Sài Gòn rồi.

Thật ra trên khắp thế giới, phần căn cước của một người ít ai phân biệt dân tỉnh lẻ hay dân thủ đô và đó là văn minh dân quyền căn bản nhất. Riêng ở Việt Nam thì khác. Dưới chế độ cộng sản, việc phân biệt dân thủ đô, dân thành phố lớn hay dân tỉnh lẻ, nông thôn, dân kinh tế mới,... là chuyện căn bản. Ai cũng biết sự phân biệt đối xử của chế độ hộ khẩu là khắc nghiệt, vấn nạn đó lâu ngày tạo nên cả một gói “tự hào” về địa vị chính trị, kinh tế, văn hóa... dành cho dân có hộ khẩu thủ đô, thành phố trước phần dân cư còn lại của cả nước.

Khi nền kinh tế mở cửa, dù chế độ hộ khẩu vẫn không thay đổi nhưng những yếu tố kinh tế thị trường tư bản đã phá vỡ toàn bộ những công dụng chuyên chế của chế độ hộ khẩu. Theo nhu cầu mưu sinh và nhu cầu nhân lực của kinh tế thị trường, dân tỉnh lẻ, nông thôn tràn về đô thị bất chấp chuyện họ sống đời không hộ khẩu hoặc chỉ có cái gọi là chứng nhận KT3 (một loại giấy tạm trú).
Image
Tượng Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo, một trong số những biểu tượng của Sài Gòn. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Theo thời gian, đội quân nhập cư tăng theo cấp số nhân và cả người nhập cư thành đạt, người kiếm sống qua ngày trở thành nguồn dân số bá chủ. Chính nguồn dân số và chất lượng dân số bùng nổ này đã dồn những ai tự huyễn hoặc cho mình dân thủ đô gốc, dân thành phố cố cựu vào hội chứng yếu đề kháng, trở thành những kẻ thất bại.

Nếu ai còn tự cho mình là dân Hà Nội gốc, thật ra đó là lối nghĩ của dân được bảo hộ bởi chế độ hộ khẩu thiếu dân quyền. Họ có thể trưng ra lý do là ông bà cha mẹ sống ở Hà Nội trước chế độ cộng sản và họ thừa kế cái gốc người Hà Nội. Cơ sở lý lẽ này là không minh bạch, vì trong lịch sử cận đại Việt Nam, theo tìm hiểu, trước thời cộng sản nắm quyền không có chuyện độc đoán khoanh tròn mực đỏ dân Hà Nội điểm tối ưu, và phần dân còn lại chỉ có điểm trung bình kém.

Người Hà Nội trước thời cộng sản đủ khỏe mạnh tinh thần và trí thức để rộng tay đón nhận tất cả các nguồn dân cư như đón nhận dòng máu mới, cũng như đủ ứng xử văn minh để biết rằng cực đoan địa phương tính là ngớ ngẩn. Chuyện dân thủ đô được tôn trọng kính nể... đó là do phẩm chất người, chất lượng từ những công việc phục vụ cộng đồng, quốc gia và được cộng đồng xác nhận trong chuẩn giá trị văn hóa chung, chứ không phải một dạng đặc quyền đặc lợi do một thể chế độc tài chỉ đạo.

Người Hà Nội đủ văn hóa để nhìn thấu rằng hiện trạng hư hỏng của xã hội Việt Nam đều có nguyên nhân do thiếu nhân quyền. Cả dân tộc, không phân biệt bất kỳ ai, vùng miền nào đều phải gánh chịu hiện trạng xã hội hư hỏng tệ hại này.

Một giáo sư sinh ra ở Hà Nội di cư vào Nam muốn giấu tên đã nói thật với chúng tôi rằng: “Chỉ thời đại này mới có kiểu tự tôn bệnh hoạn địa phương thượng đẳng.”
Image
Ngồi quán cà phê, một thói quen của người Sài Gòn. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Dân hào hiệp và dân nhập cư

Mỗi tháng tôi đều đến một tiệm hớt tóc của một ông chủ trẻ trên đường Hồ Bá Kiện. Tuổi chưa đến bốn mươi, anh có tổng cộng ba tiệm hớt tóc. Lần này anh mời tôi hớt tóc, lấy ráy tai, ở một tiệm mới khai trương. Cô gái lấy ráy tai cho tôi nói: “Ổng vài bữa nữa là sắm thêm xe hơi.”

Tôi hỏi thẳng ông chủ tiệm là anh có mấy chiếc xe hơi rồi, anh chàng nói giọng miền Nam lơ lớ: “Tính mua thêm một chiếc nữa là bốn. Xe tôi mua cho cơ quan công ty thuê, họp đồng tính theo năm.”

Rồi anh kể: “Năm 1980, anh từ Huế vô Sài Gòn làm phụ hồ, khổ trơ xương, ba năm không biết mùi bún bò, mì quảng là gì.” Tôi hỏi anh: “Anh thấy người Sài Gòn thế nào?” Mặt anh ngạc nhiên như người từ sao Hỏa xuống: “Rứa, lúc mới vào tôi cũng có nghĩ người trong này ăn ngon, chơi bạo khác người quê tôi, nhưng chỉ ở vài tháng là tôi thấy chỉ người có tiền là khác.”

Cái anh chàng chủ tiệm hớt tóc này cũng như hàng triệu người từ nhiều thế hệ đã nhìn thấy Sài Gòn là một nơi kiếm sống, kiềm tiền làm giàu. Ðối với mọi người Việt Nam, tính cả dân thủ đô Hà Nội, Sài Gòn là vùng đất hứa, là một kiểu giấc mơ Mỹ của người Việt Nam.

Một trí thức người Bắc di cư kết luận: “Sài Gòn là đất Phật.” Nhiều người bạn ông bàn thêm: “Giá trị rõ nhất của đất Phật trước tiên đây là nơi chốn bình yên, bình yên cả trong chiến tranh, thiên tai và những vấn nạn đáng sợ khác có nguyên nhân từ con người. Sài Gòn không có chuyện phân biệt đối xử vùng miền, văn hóa và chủng tộc...”

Nhà báo TG. có lần nói: “Chỉ cần vô Sài Gòn, có một cái bơm xe, ngồi ở vỉa hè Sài Gòn cũng sống được, cũng thoát khổ mà tính chuyện khởi nghiệp.” Họa sĩ TC, có lần kể: “Trước 1975, thi sĩ Nguyễn Ðức Sơn và cố nhà văn Nguyễn Thụy Long có thời ăn cơm cháy, uống trà đá, ngồi xỉa răng ở một quán cơm xã hội.”

Mỗi người, trong hàng triệu người từ nhiều thế hệ đều có riêng cho mình những kỷ niệm sâu sắc về sự rộng lòng của đất và người Sài Gòn. Có người còn nói nửa đùa nửa thật rằng, nếu ai có chí, dám đứng le lưỡi cho người ta dán tem ở bưu điện thành phố chắc chắn không thiếu khách hàng.
Image
Sài Gòn, nay vẫn còn đó những xóm nhà ven kênh rạch nghèo xơ xác. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Nhưng Sài Gòn cũng có bất công. Ðiều bất công này không phải do Sài Gòn gây ra mà chính là do không ít người đến với Sài Gòn gây ra. Có thể thông cảm hiện trạng lúc nào họ cũng thương nhớ ca ngợi nguyên quán xuất thân của họ. Và Sài Gòn cũng dễ quên không chấp khi có những người nhập cư thành đạt, nên cơ nghiệp, chỉ nhận họ là người thành phố này, tỉnh nọ.

Sài Gòn không hề chỉ là Sài Gòn của nơi kiếm tiền, chỉ là một nơi tạm trú, bởi đa phần người nhập cư đã hoặc sẽ có khoảng đời sống ở thành phố này dài hơn so với lúc họ sống ở nguyên quán sinh ra. Hãy đến các nghĩa trang, các chùa có để cốt mà xem, hàng triệu người tứ xứ thuộc nhiều thế hệ đã chọn gởi lại cho Sài Gòn nắm xương tàn.

Nhưng người Sài Gòn anh là ai? Có người nói ngày nay muốn tìm người Sài Gòn thì qua tiểu bang Cali ở Mỹ hoặc các cộng đồng người Việt lưu vong trên khắp thế giới. Nhưng chúng tôi vẫn muốn tìm người Sài Gòn ở Sài Gòn.

Một cô bạn của chúng tôi sinh ra ở một nhà bảo sanh trên đường Gò Công quận 6, có ông bà nội là người Minh Hương, ông bà ngoại là dân sanh ra ở bến Mễ Cốc quận 8. Cô nói: “Nếu muốn biết ai là người Sài Gòn thì chỉ cần nhìn cách họ đón tiếp đối xử với bà con cô bác ở quê lên thăm hoặc lên kiếm việc làm. Bà ngoại tôi mỗi lần gặp bà con là mừng lắm, tấm lòng của người tha hương mà. Ai cũng có họ hàng dây mơ rễ má, chớ có phải ở đất nẻ chui lên đâu.”

Theo một ông già từng là lính VNCH, nay chạy xe ôm ở quận Tân Bình, “đất Sài Gòn trước tiên là đất của những tay hảo hớn, bởi chỉ có những người mạnh mẽ từ tâm hồn đến thể xác mới quyết định bỏ xứ ra đi đến đất mới, cũng chính họ mở đường cho con cháu mưu cầu sự sống mới và tự do. Tánh hảo hớn và phóng khoáng là máu huyết căn cơ của người Sài Gòn.”

Ở góc đường Cao Thắng và Phan Thanh Giản cũ (nay là Ðiện Biên Phủ) có một cái miếu lớn gọi là Thành Hoàng Bổn Cảnh. Nơi đây hàng ngày hàng đêm vẫn nghi ngút hương khói tưởng nhớ những vong linh của tướng quân Lê Văn Khôi (con nuôi Tả quân Lê văn Duyệt) và các nghĩa binh bị xử chém, vùi xác ở quanh khu Kỳ Hòa, thành Gia Ðịnh dưới thời vua Minh Mạng. Một nhà nghiên cứu lịch sử miền Nam có lần nói với tôi: “Không rõ lắm những nghĩa quân này có phải là người Sài Gòn không, nhưng tôi tin chắc khi họ chết, anh linh họ là người Sài Gòn.”

Và sẽ không tìm thấy một người Sài Gòn nào nếu tiếp tục nhìn lịch sử theo lối độc quyền và thiển cận. Người Sài Gòn chỉ có một khi lịch sử được minh bạch rằng, người Sài Gòn hôm nay chính là những người nhận được cơ hội từ những người từng đến, sống và chết từ Sài Gòn-Gia Ðịnh trong xuyên suốt các triều đại phong kiến, những anh linh tử sĩ VNCH, những vong linh người vượt biển vì tự do và cả những nạn nhân khác của bóng tối lịch sử.

Chỉ từ cách nhìn nhận này mới sáng rõ đúng nghĩa tánh hảo hớn-hào hiệp vì tự do và công bằng của người Sài Gòn.


May mà còn có Sài Gòn

Gia đình bên ngoại tôi có một người anh họ, anh tên là Ba V. Trước 1975 anh là lính sư đoàn 7 Bộ Binh VNCH đồn trú ở Gò Công. Quê anh ở ở một xã heo hút dù không xa Sài Gòn nhưng rất nghèo... Sau biến cố 1975, anh và gia đình càng lâm cảnh nghèo tệ hại hơn. Sài Gòn với anh là một thiên đường tại thế, có lần anh nói với tôi: “Tao phục mày quá, sống được ở Sài Gòn ngon thấy mẹ.” Lời anh đơn giản nhưng chí lý, người Sài Gòn thời nào cũng rất bảnh trong cách nhìn của người địa phương khác.

Có người sẽ phản bác tôi rằng, người Sài Gòn ngày nay không còn sang trọng nữa. Nhưng trường hợp gia đình anh họ tôi thì lại đồng ý với tôi. Sau 1975 cả bảy đứa con của anh họ tôi đều không đủ ăn đến xanh mặt. Khi Sài Gòn vào thời kinh tế thị trường cả năm đứa con trai, con gái của anh đều trở thành người Sài Gòn, anh chỉ giữ lại được đứa con gái và đứa con trai út làm người Gò Công cày cấy trên nửa mẫu ruộng hương hỏa. Ðiều đáng nói là những người con Sài Gòn của anh, dù chỉ làm thợ hồ và nấu bếp ở Sài Gòn nhưng đã đem lại một cuộc cách mạng kinh tế, lối sống văn minh cho cả gia đình anh. Chất nông dân cố cựu của anh không còn như trước, ở anh ngày càng rõ ra cái chất thị dân Sài Gòn do con anh truyền bá.

Có hàng triệu gia đình ở Việt Nam hôm nay giống như anh, người ta không thể thống kê hết những thay đổi theo kiểu Sài Gòn. Nhưng có một điều người ta chắc chắn là văn hóa thị dân Sài Gòn hình thành từ tinh hoa thể chế thực dân và ánh sáng của nền dân chủ tự do Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa, ánh sáng này đủ mạnh để dung chứa mọi cách sống và để truyền bá những điều tốt đẹp.
Image
Người Sài Gòn hôm nay vẫn còn thói quen hóng gió trên bến Bạch Ðằng. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Tôi có dịp nói chuyện với cô gái người Hà Nội, cô vào Sài Gòn làm nghề báo. Tôi không biết cô có phải là người Hà Nội gốc hay không, cô nói: “Khi mắng cái dân thiếu văn minh ngoài đấy, em có Sài Gòn để chứng minh là trong này người ta không ai làm việc xấu hổ thế.”

Tất nhiên, không có vùng rộng của lối sống văn minh nào lại không có mặt tệ nạn, nhưng cộng đồng thị dân Sài Gòn không có kiểu hí hởn cả tập thể hùa nhau hái hoa Anh Ðào của Nhật Bản triển lãm về làm của riêng, cũng không có những vấn nạn không thể tưởng tượng được như chiếm thang máy chung cư, cho thang máy chạy lên chạy xuống liên tục để vỗ con và đút cơm cho con mình ăn ngon miệng.

Và không có cái kiểu nghĩ và hành xử như một cô ca sĩ trẻ mà tôi quen. Cô này từ Hà Nội vào Sài Gòn tìm cơ hội thành “sao.” Trong thời điểm Hà Ðông có quyết định sáp nhập vào Hà Nội, cô luôn miệng tục tằn gay gắt với những người “đời đời kiếp kiếp” cô không nhận là người Hà Nội, dù hàng ngày đang cùng thở, cùng sống ở không gian Hà Nội mở rộng với cô.

Chính từ những cách nhìn kỳ thị kiểu này đã xác lập một thứ ranh giới mà ở đó người ta tự cho Hà Nội như mình đây là tốt đẹp, phần còn lại là tệ hại vì không phải là Hà Nội. Có gì đáng buồn cười và xấu hổ cho bằng kiểu kỳ thị “địa phương thượng đẳng” đó. Và chính đó mới là mầm mống, là nguyên nhân của vô số vấn nạn xã hội.

Vấn đề không phải Sài Gòn không có người nhập cư quê mùa kém cỏi, nhưng cái chính là văn minh Sài Gòn đủ mạnh để hướng mọi người đến phẩm chất tôn trọng lợi ích cộng đồng và tự trọng trong lối sống cá nhân.

Ở phạm vị rộng hơn, nhiều bậc thức giả chiêm nghiệm rằng, không phải năm 1975 “giải phóng Sài Gòn” mà chính là biến cố đó đem đến cơ hội giải phóng toàn diện xã hội miền Bắc.

Hơn ba mươi năm qua, những ai công tâm sẽ nhìn thấy những dòng người không thể thống kê hết từ miền Bắc vào Sài Gòn để mưu cầu cuộc sống tốt hơn, qua từng cá nhân, họ hàng, thôn làng vào Sài Gòn vào miền Nam rồi về thăm quê đã đưa về, đã truyền bá lối sống văn minh vật chất và tinh thần Sài Gòn.

Bạn tôi, nhà thơ, là một người Hà Nội sang trọng, anh vào và chọn Sài Gòn để sống và cũng có thể coi anh là người tị nạn văn hóa ở Sài Gòn. Anh có những kỷ niệm vui buồn sâu sắc dành cho Hà Nội, nên mỗi lần về quê trở vào là anh nói: “Mình đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất là thấy nhẹ người.” Tất nhiên cũng trùng hợp, người biết và chia sẻ tâm trạng “nhẹ người” này là những Việt kiều lưu vong mỗi khi rời Việt Nam bay trở lại đất nước bao dung mình.

Và từ những năm đen tối nhất của lịch sử cho đến thời tạm dễ thở, không một nơi chốn nào của đất nước này được hàng triệu triệu người Việt đồng tâm tin rằng: May mà Việt Nam còn có Sài Gòn!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image


NỖI BUỒN MÙA THU
Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân loại. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng “Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm). Ông mất đi trong cảnh khôn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. “Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết”, để rồi tên tuổi cũng đã chết theo mùa thu ở cái “thị trấn giữa đàng” bên tận xứ Cali, bởi cái tính kênh kiệu và tấm lòng phản trắc, chỉ để lại cho những người từng hâm mộ ông sự chua xót, bẽ bàng. Ở Việt nam ta, nếu “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nỗi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc - đặc biệt có Mùa Thu trong đó. Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất …học trò của ông Thanh Tịnh.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được……….

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp…….”

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm “công tác xóa nạn mù chữ”. Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi. Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm... kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thuơng miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc” lên thế giới đại đồng (!). Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành “những con nai vàng ngơ ngác”, cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào “trường cải tạo”. Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:


Qua cơn mờ mịt binh đao
đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng
Lạc loài trên chính quê hương
thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành


Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái “bằng khen”, mấy cái huy chương “dũng sĩ” treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. “Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi..trở về”. Khoảng cách giữa hai mùa thu... vậy mà cũng đã hai mươi năm. Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:


Tôi về đứng trước ngôi trường cũ
nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm
nhấp nhô những mái nhà rêu phủ
thương hải tang điền mấy biến thiên

Tôi về xuôi một dòng sông chảy
con nước vô tình lặng lẽ trôi
hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể
hai lần tắm ở một dòng thôi

… Tôi về - có phải sông về biển
sao nghe từng con sóng não nề
như thể bây giờ là cổ tích
tôi về - chỉ gặp lại mình... tôi


Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành “Trường PTCS Lê văn Tám”. Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài “thơ trong tù”của bác, thơ “Khóc ông Lê Nin” của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim”(thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi “hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…” hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng? Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên “anh hùng Lê văn Tám” mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới – Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở “thành phố mang tên bác” thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.

Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa “phong bì”?

Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà “mô phạm”, những “nhất tự vi sư bán tự vi sư” một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trử tình với mùa thu và hương hoa sửa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông “khả kính” ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước “lấy điểm gạ tình” một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ “trả bài” cho thầy trong khách sạn!

Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng “chú” mà không phải bằng “anh” thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.

Mới đây trên đài BBC, ông Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: “Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nỗi.” (nguyên văn)

Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin “vui” này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè. Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để... gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.


“Thầy có nhớ con không...?”
Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác
người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.
“Thầy còn nhớ con không...?”
Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng
hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè
rụng xuống trên vai người thầy học cũ
“không... xin lỗi.. ông lầm...
Tôi chưa từng dạy học
Xin thối lại ông tiền thuốc... cám ơn!”
Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn
Thầy học cũ mười năm không lầm được
Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc
giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.
Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư
người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,
chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,
biết yêu anh em - đất nước - xóm giềng.
Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,
Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.
Bên hè phố im lìm,
vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.
Câu phủ nhận phải vì câu áo rách
trước đứa học trò quần áo bảnh bao?
Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,
những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.
Mười năm nữa đứa nào trong số đó,
sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?


Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời.Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những “đỉnh cao” đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào,có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi... buồn chết được.

phạmtínanninh

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Tình Báo Anh Nói về Gián Điệp Nga Hoa Kỳ vừa tuyên bố bắt giữ một nhóm 11 người bị tình nghi là gián điệp của Nga tại nước này. Vụ việc đã gây sốc dư luận Mỹ, song Cục Tình báo Nội địa Anh (MI5) không ngạc nhiên trước thông tin này, bởi theo họ số lượng tình báo Nga đang hoạt động tại Anh nhiều vô kể, được cho là ngang với thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi mà gián điệp Nga ở Anh nhiều như châu chấu.
Image
Tòa nhà trụ sở MI5.
Tờ Guardian của Anh dẫn lời trên trang web của MI5: “Hoạt động gián điệp với nước Anh tiếp tục trên nhiều mặt trận. Số lượng sĩ quan tình báo của Nga ở London tương đương với thời kỳ Xô Viết. Anh là một mục tiêu gián điệp được ưu tiên và một số quốc gia đang chủ động tìm kiếm thông tin và hàng hóa nhằm hỗ trợ cho các chương trình về công nghệ, quân sự, chính trị và kinh tế của họ”.

Theo MI5, trong số những gián điệp nước ngoài đang hoạt động ở Anh, gây nguy hại tới các quyền lợi của nước này ở nhiều mức độ khác nhau, đáng lo ngại nhất là các gián điệp của Nga và Trung Quốc.

Cũng theo MI5, có một điểm khác so với trước đây là gián điệp Nga ngày nay tập trung tìm kiếm các chính sách về năng lượng và công nghệ mới, thay vì các mục tiêu chính trị và quân sự. Các mục tiêu công nghệ bao gồm công nghệ viễn thông, thông tin, di truyền, hàng không, lazer, quang học, điện tử... Vì vậy, đối tượng nhắm đến của hoạt động gián điệp nước ngoài thường là các doanh nghiệp.

Một số quan chức tình báo Anh cho biết trong những năm gần đây, lần đầu tiên kể từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh MI5 đã xây dựng một lực lượng phản gián chống lại các mạng lưới tình báo của Nga và các nước khác. Mặc dù ưu tiên chính của MI5 vẫn là điều tra và ngăn ngừa các đối tượng khủng bố Hồi giáo cực đoan và Al-Qaeda, song các nhân viên tình báo và phản gián MI5 đã được huấn luyện để chống lại các âm mưu của những nước được cho là có ý đồ với Anh.

Do có trữ lượng về dầu khí lớn, Nga đặc biệt quan tâm tới các chính sách năng lượng không chỉ của Anh mà của các nước phương Tây nói chung. Chính phủ Nga thường sử dụng năng lượng như một quân bài trong chính sách đối ngoại; và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev từng giữ chức Chủ tịch tập đoàn năng lượng Gazprom của nước này.

Image
Cựu điệp viên Nga Alexander Litvinenko đã bị đầu độc chết tại London.
Mặc dù Anh không phụ thuộc vào nguồn dầu khí nhập khẩu như một số quốc gia Tây Âu khác, nhưng cả Công đảng trước đây và chính phủ liên minh hiện nay đều đề cao vấn đề phản gián trong chiến lược an ninh quốc gia của Anh. Các đảng này đều nhấn mạnh tới việc Nga và Trung Quốc coi việc kiểm soát nguồn năng lượng là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại.

Theo các quan chức phản gián nói trên, trong khi nguy cơ đến từ Trung Quốc là những cuộc tấn công qua mạng, thì Nga tìm kiếm thông tin bằng nhiều cách khác nhau, từ phân tích chính trường tới các hệ thống quân sự công nghệ cao của Anh.

Cựu Giám đốc MI5, Stella Rimington, cho biết chiến thuật cài đặt gián điệp dưới vỏ bọc kín kẽ và lâu dài là một chiến thuật Nga đã sử dụng lâu nay. “Đó là chiến thuật giấu mình lâu dài để thu phục lòng tin”, bà Stella nói.

Mới đây Nga đã tỏ ý muốn cải thiện quan hệ song phương với Anh sau vụ cựu điệp viên Nga là Alexander Litvinenko tị nạn ở London và bị đầu độc tại đây vào năm 2006. Ngay sau cái chết của Litvinenko, các nguồn tin an ninh Anh cho rằng thủ phạm của vụ này có một mối liên hệ với chính phủ Nga.

Theo Minh Tâm

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image
Câu chuyện ốc sên

Ốc sên con ngày nọ hỏi mẹ: "Mẹ ơi! Tại sao chúng ta từ khi sinh ra phải đeo cái bình vừa nặng vừa cứng trên lưng như thế? Thật mệt chết đi được!"

"Vì cơ thể chúng ta không có xương để chống đỡ, chỉ có thể bò, mà bò cũng không nhanh" - Ốc sên mẹ nói.

"Chị sâu róm không có xương cũng bò chẳng nhanh, tại sao chị ấy không đeo cái bình vừa nặng vừa cứng đó?"

"Vì chị sâu róm sẽ biến thành bướm, bầu trời sẽ bảo vệ chị ấy".

"Nhưng em giun đất cũng không có xương, cũng bò chẳng nhanh, cũng không biến hoá được, tại sao em ấy không đeo cái bình vừa nặng vừa cứng đó?"

"Vì em giun đất sẽ chui xuống đất, lòng đất sẽ bảo vệ em ấy".

Ốc sên con bật khóc, nói: "Chúng ta thật đáng thương, bầu trời không bảo vệ chúng ta, lòng đất cũng chẳng che chở chúng ta".

"Vì vậy mà chúng có cái bình!" - Ốc sên mẹ an ủi con - "Chúng ta không dựa vào trời, cũng chẳng dựa vào đất, chúng ta dựa vào chính bản thân chúng ta".

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nữ sinh gốc Việt bị đâm chết ở Mỹ

Image
Vanessa Phạm. Ảnh: CBS.
Thi thể một cô gái gốc Việt 19 tuổi vừa được tìm thấy trong ôtô dưới một con mương tại bắc Virginia, Mỹ.

Cảnh sát quận Fairfax xác nhận xác cô gái trong chiếc xe Toyota được tìm thấy bên đường cao tốc hôm 26/6 là Vanessa Phạm, 19 tuổi.

Chiếc xe của Phạm đi ngược hướng vì đó là đường một chiều và nằm dưới con mương, CBS cho hay. Tuy nhiên, khi điều tra thêm, cơ quan an ninh cho rằng đó không đơn thuần là một vụ tai nạn. Trên người cô có nhiều vết dao đâm và cô đã qua đời trước khi xe lao xuống mương.

Phát ngôn viên cảnh sát địa phương cho biết Phạm chết vì những vết thương ở bụng chứ không phải do va đập vì đâm xe. "Chúng tôi cũng không cho rằng cô ấy lái chiếc xe đó", ông nói thêm.

Cảnh sát in tờ rơi có hình của cô và kêu gọi người dân địa phương cung cấp thông tin nếu có bất kỳ manh mối nào về vụ án mạng.

Julie Phạm, mẹ của nạn nhân, cho biết cô đi thăm bạn hôm 26/6 và bạn không có nhà. Bà cho biết Phạm là cô gái rất cởi mở và thân thiện. "Con bé rất hài hước, năng nổ và hòa hợp với mọi người", Washington Post dẫn lời bà cho hay.

Phạm vừa kết thúc năm thứ nhất tại cao đẳng nghệ thuật và thiết kế Savannah. Cô là con một trong gia đình. Người thân của Phạm cho biết cô là một nghệ sĩ và nhà thiết kế tài năng.

Ngọc Sơn

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nguyễn Hiền, người tình thủy chung của thi ca miền Nam, 20 năm.

Du Tử Lê

Nói tới nhạc sĩ Nguyễn Hiền, đa số thường đề cập tới sự kiện ông có một trí nhớ siêu việt và, một kiến thức sâu rộng nhờ khả năng thông thạo nhiều sinh ngữ.

Cũng không ít người đề cập tới bản chất nhẹ nhàng, lịch lãm của ông trong những giao tiếp đời thường.

Image
Từ trái qua: Du Tử Lê, Nguyễn Hiền, Kiều Chinh.

Tuy nhiên, dường như có ít người ghi nhận rằng, nếu theo tỷ lệ, trong số hàng trăm sáng tác của họ Nguyễn (chỉ tính tới tháng 4, 1975,) số lượng ca khúc của ông phổ từ thơ của các thi sĩ; đã đạt tới một con số đáng kể.

Căn cứ theo tài liệu của trang nhà Ðặc Trưng, một trang nhà sưu tập tương đối đầy đủ các sáng tác âm nhạc, thi ca, văn xuôi... của người Việt trong nước cũng như hải ngoại thì, trong số 18 ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, được khán thính giả yêu thích nhất mà trang nhà này sưu tầm được, thì hết 9 ca khúc nổi tiếng ấy, vốn là thơ, hoặc lời do các thi, văn sĩ viết.

Ðiểm theo danh sách những ca khúc của họ Nguyễn do trang nhà Ðặc Trưng phổ biến theo thứ tự, chúng ta có: “Anh Cho Em Mùa Xuân,” thơ Kim Tuấn; “Mười Hai Câu Của Tuổi Trẻ,” thơ Song Hồ; “Hồ Than Thở,” thơ Hà Dzũng; “Hoa Bướm Ngày Xưa,” lời Thanh Nam; “Hương Thề,” thơ Hoàng Ngọc Liên; “Lá Thư Gửi Mẹ,” thơ Thái Thủy; “Mái Tóc Dạ Hương,” thơ Ðinh Hùng; “Người Em Nhỏ,” thơ Thiệu Giang; “Thanh Bình Ca,” lời Thanh Nam.

Tôi không biết sinh thời, nhạc sĩ Nguyễn Hiền có làm thơ không? Nhưng hiển nhiên với số lượng thơ phổ nhạc chiếm tới một nửa tổng số ca khúc của mình, họ Nguyễn nếu không phải là thi sĩ thì ông cũng là một người yêu thơ và, có một trình độ thưởng ngoạn thi ca đặc biệt, hơn người.

Vì thế, tôi không chút ngạc nhiên khi tình cờ tìm được bài viết của tác giả Lê Hữu, nhan đề “Nguyễn Hiền, nhạc, thơ tràn muôn lối” đăng tải trên Diễn Ðàn Mẫu Tâm.

Lê Hữu viết bài vừa kể “nhân kỷ niệm ba năm ngày mất của nhạc sĩ Nguyễn Hiền” tháng 12 năm 2008.

Trong bài viết công phu của mình, tác giả Lê Hữu đã chỉ ra nhiều điều mang đầy tính thi sĩ của cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Ðó là những phân tích, tôi nghĩ có thể ít người thấy được, nếu Lê Hữu không viết ra.

Tác giả Lê Hữu đặc biệt ghi nhận nhiều về những đổi mới cũng như phần sáng tạo của Nguyễn Hiền qua ca khúc “Anh Cho Em Mùa Xuân,” thơ Kim Tuấn. Một trong những ca khúc gắn liền với mùa Xuân của người Việt Nam dù ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này.

“Anh Cho Em Mùa Xuân” một trong vài ca khúc của nền tân nhạc Việt mà, tôi từng trộm nghĩ, mùa Xuân sẽ giảm đi hương xuân và, vị xuân rất nhiều...; nếu cùng với sự cựa mình, thức dậy của thiên nhiên mà chúng ta không được nghe những nốt nhạc, những ca từ náo nức, rạo rực thương yêu, cùng hy vọng lấp lánh ứa ra từ nốt nhạc đầu tiên, tới cuối cùng của ca khúc ấy.

Trong bài viết chứa đựng nhiều phát hiện mới mẻ của mình, tác giả Lê Hữu viết nguyên văn như sau:

“‘Bầy chim lùa vạt nắng... ’ câu hát tôi thích nhất. ‘Lùa vạt nắng’, tôi chưa nghe ai nói thế bao giờ. Chữ ‘lùa’ ấy rất mới, rất đẹp, rất thơ. Làm sao mà ông lại có thể nghĩ ra được cái chữ tài tình đến như vậy? Làm sao mà ông lại dùng chữ ấy chứ không phải là một chữ nào khác? (‘Bầy chim... đùa vạt nắng’ chẳng hạn, như thế cũng là hay, nhưng không thể hay bằng ‘...lùa vạt nắng’). Ngày ấy chưa ai viết những lời như thế trong thơ, trong nhạc. Mãi về sau này ta mới nghe ‘lùa nắng cho buồn vào tóc em’ (Nắng Thủy Tinh, Trịnh Công Sơn).

“Ðiều thú vị, câu ấy không phải là câu thơ Kim Tuấn trong ‘Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân,’ mà là thơ... Nguyễn Hiền.

“‘Con chim mừng ríu rít’ trong bài thơ được ông đổi ra thành ‘bày chim lùa vạt nắng’, để tương ứng với những nốt nhạc thấp cao, trầm bổng, vừa giữ được ý thơ (vẫn ‘nghe’ được tiếng chim ríu rít mừng vui), vừa thơ hơn và giàu hình ảnh hơn. (......)

“‘Nhạc chan hòa đây đó’, câu hát ấy không thấy trong thơ Kim Tuấn. Hơn thế nữa ‘nhạc, thơ tràn muôn lối’, câu hát cuối của bài hát ấy cũng không thấy trong thơ Kim Tuấn. Trong ‘Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân’ không có câu nào nói đến ‘nhạc’ cả. Vậy thì những câu ấy ở đâu ra, nếu không phải là thơ của Nguyễn Hiền. Trong nhạc có thơ, trong thơ có nhạc. Nhạc quyện vào thơ, thơ quấn lấy nhạc. Nhạc thơ, thơ nhạc đã hòa làm một.” (Lê Hữu)

Tiếng Việt vốn được ghi nhận là giàu có nhạc tính và hình ảnh. Vì thế mà biên giới hay khoảng cách giữa thơ và nhạc Việt là một biên giới, một khoảng cách rất mong manh, nếu không muốn nói là đã bị san bằng. Ðã hòa lẫn.

Nhìn lại, người ta thấy những ca khúc nào của nền tân nhạc miền Nam, 20 năm, hôm nay còn tồn tại, còn vang âm trong tâm hồn người thưởng ngoạn, đều là những ca khúc mà cuộc hôn phối giữa thơ và nhạc, đã đạt tới mức bất hoại trước bản chất vùi dập, xóa bỏ của thời gian.

Nhưng chọn lựa để đi tới cuộc hợp hôn vĩnh cửu lại hoàn toàn tùy thuộc nơi cảm quan, bản chất của mỗi nhạc sĩ.

Có những nhạc sĩ chỉ rung động với những bài thơ mà chia lìa hay khổ đau là đỉnh điểm.

Cũng có những nhạc sĩ chỉ có thể “thành gia thất” với những nàng thơ mà niềm vui và tiếng cười là chọn lựa thứ nhất.

Giữa hai cực này, tân nhạc Việt Nam, nghiêng hẳn về phía tuyệt vọng, nát tan, như là một khía cạnh đặc thù, tương tác, song sinh với dòng thi ca Việt Nam khởi từ thời tiền chiến...

Sự “lấn sân” của những cảm thức sướt mướt tình phụ, đọa lạc thân, tâm của nền thơ nhạc Việt, tôi cho cũng là điều dễ hiểu.

Ngoài ảnh hưởng của phong trào văn chương lãng mạn khởi tự Pháp, du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thập niên 1930, chúng ta cũng đừng quên lịch sử của dân tộc Việt Nam là một chuỗi dài chiến tranh, tang tóc... Trong ký ức của người Việt Nam nào, cũng có ít nhiều khăn tang, tử biệt.

Do đó, sự chấn thương tình cảm phản ảnh trong sinh hoạt văn học, nghệ thuật 20 năm miền Nam Việt Nam, đã như một thuộc tính của dòng sinh mệnh ấy.

Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa tất cả các thi sĩ, nhạc sĩ đều bước về phía của cùng quẫn chia ly mà nhạc sĩ Nguyễn Hiền, là một biểu tượng rõ ràng nhất.

Không biết có phải, như đã nói, bản chất hay cá tính họ Nguyễn vốn dịu dàng, êm đềm, nên âm điệu và những ca từ ông chọn cho các sáng tác của mình, đều ít tính áo não, thê thiết, như cõi nhạc của khá nhiều nhạc sĩ cùng thời với ông.

Nói cách khác, trong kho tàng thi ca Việt Nam nói chung, miền Nam Việt Nam, 20 năm nói riêng, họ Nguyễn vẫn có thể tìm đến với những tình yêu tuyệt vọng, hay những kết cuộc bi thảm hơn kiểu mối tình Trương Chi, lúc chết đi trái tim của kẻ bị phụ tình không tiêu tan mà thành khối ngọc nối tiếp tương tư...

Nhưng Nguyễn Hiền đã chọn cho đời nhạc của mình, một cõi giới khác. Cõi giới của những tỏ tình tha thiết ân cần, đằm thắm nhắn nhủ...

Thí dụ, như những ca từ trong ca khúc “Người Em Nhỏ” (thơ Thiệu Giang); sáng tác đầu tay này, họ Nguyễn viết khi ông mới bước vào tuổi 18:

“Tôi có người em nhỏ
“xanh xanh đôi hàng mi
“Môi hồng vừa đương độ
“Chưa biết sầu chia ly.

“Ngày tôi đi vàng nắng
“Nghiêng nghiêng một hàng cau
“Mai ta nhìn mây trắng
“Gửi lời về thương nhau”

Ở phần coda, trước khi kết thúc, tuy nói tới “biệt ly” - Nhưng đó lại là cái “biệt ly” xác tín về một tình yêu đã hình thành, một hứa hẹn tái hợp lấp lánh đâu đó:

“Tôi có người em nhỏ
“Xanh xanh đôi hàng mi
“Môi hồng vừa đương độ
“Ðã biết sầu biệt ly.”


Trong ca khúc “Lá Thư Gửi Mẹ” (thơ Thái Thủy), dù nội dung nói một cuộc lên đường đi vào lửa đạn, nhưng nốt nhạc của ông vẫn chan chứa một niềm tin; như thể ra đi cũng đồng nghĩa với trở về một cách nào khác:


“Mẹ ơi! thôi đừng khóc nữa
“Cho lòng con nặng sầu thương
“Con đi say tình viễn xứ
“Ðâu có quên tình cố hương”...

Ngay trong bài “Mái Tóc Dạ Hương” (thơ Ðinh Hùng,) tuy cũng nói về một chia tay. Nhưng đó là một chia tay chia tay làm thành kỷ niệm trăm năm. Kỷ niệm trăm năm là những hạt ngọc gắn trên vương miện quá khứ. Quá khứ của một tình yêu một thời và do đó, một đời:

“Từng bước lần theo trăng viễn khơi
“Trong đêm còn mơ dáng ai cười
“Tiếng cười như cõi thiên thu lại
“Tiền kiếp xưa nào em hé môi.

“Rồi đây trên những lối đi này
“Ta sẽ cùng ai tay nắm tay
“Nhịp chân lưu luyến mãi cung đàn
“Buông lắng chìm tâm tư đắm say.

“Dĩ vãng nào xanh hơn mắt em?
“Chao ôi! màu suối tóc buông mềm
“nét buồn khuê các hoen sương phủ
“Nhạt ánh sao mờ bên dáng xiêm.”

Chọn đường đi riêng, một đường đi không cùng hướng với những người đồng thời, nhưng phù hợp với cá tính, bản chất của mình, phải chăng nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã vô tình cho những thế hệ sau ông, biết rằng:

- Nền thi ca miền Nam hai mươi năm, không chỉ có nước mắt.

Nền thi ca ấy, qua ca khúc của ông, còn có tiếng cười hân hoan của lục lạc thương yêu; tiếng reo ngân thánh thót của chuông khánh những mùa Xuân đã qua và, những mùa Xuân sẽ tới, nữa.

Du Tử Lê
(15 tháng 6, 2010)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Mười món ăn chơi Chuyển các bạn xem chơi tiếp theo bài Người Việt ở khắp mọi nơi


Tặng quí vị 10 món ăn chơi đầu tiên để nhận ra phe ta trên đất Mỹ:

1.Nhà phải có piano trong phòng khách cho nó sang dù trong nhà hổng ai biết úynh đờn hay úynh dở như hạch.

2.Khóai làm ca sĩ: Hát dở thấy bà cố nhưng mua dàn Karaoke cả chục ngàn và tại các đám cưới tìm mọi cách leo lên sân khấu để tra tấn thực khách. Ở Bolsa bây giờ còn có phong trào mấy anh đốc tờ tổ chức ca hát đú đởn với nhau trông mà nản. Tui có lần đi ăn ở Đà Lạt Bistro thấy ông bs phạm rồng lộn cơ mắt cắt như bóng lộ, ca bambino với 1 bà già hổng nên nết lưng thì khọm, tóc loe hoe còn vài cọng, mặc mi ni ríp ôm mi cờ rô trên sân khấu mà tui nuốt miếng xì tết như nuốt cao su. Vợ tui hổng cản là tui nhào lên bóp cổ chả rồi

3.Nhút nhát khi phải nói chuyện trước đám đông, nhưng nếu đã đủ can đảm cầm cái mi cờ rô thì nhất định tử thủ không chịu bỏ xuống. Nói vừa dai, vừa dài, vừa dở.

4.Dàn bếp cả chục ngàn đô la, dám mua mà hổng dám xài, ráng nấu ngòai sân cho nó sạch, còn bếp trong nhà bọc tòan giấy bạc (aluminum foil) cho khỏi dơ !!!!

5.Dám lót thảm mà hổng dám đi, mua plastic phủ đầy thảm. Nhà thế nào cũng lót gạch cho khỏi dơ và bắt khách khứa phải tháo giầy đi chân không vào nhà nhìn khứa mặc đồ vết đi chân không tục không thể tả.

6.Có con thì thế nào cũng xúi bẩy, thúc dục, hăm dọa... để nó phải học đốc tờ, dược sĩ, nha sĩ hay luật sư dù biết rằng con mình có học xong cũng thành bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ hay luật sư dzởm.

7.Thấy người sang bắt quàng làm họ, khóai chụp hình với người lớn tiếng như chính trị gia, ca sĩ, tài tử. Hổng tin tui cứ tới mấy chỗ ca nhạc trong nhà hàng hay chỗ vận động gây quĩ là thấy liền.

8.Đi tới cơ sở thương mại VN phe ta tự động trở thành người Việt cao quí bằng cách xếp hàng ngang chứ hổng xếp hàng dọc, thằng nào mạnh lấn thì đuợc phục vụ trước.

9.Mê bằng cấp và luôn muốn mọi người xưng tụng bằng cấp của mình. Vợ đốc tờ mà không đuợc gọi là bà bác sĩ thì mặt mũi xưng xỉa ngay. cthm tui có cha bạn già lấy vợ bác sĩ, tui chơi trác gặp chả cứ gọi chả là ông bác sĩ làm chả nổi wạu.

10.Mặc cảm nhược tiểu: thấy Tây Mỹ nó sủa thì nó nói gì cũng riu ríu nghe theo, còn đối vói phe ta thì làm ông nội, thua nó thì nó khinh, hơn nó thì nó ghanh, bằng nó thì nó nói xấu. Cứ nhìn quảng cáo mấy anh thợ cãi luật sư VN thì thấy, thế nào cũng có 1 anh thợ cãi Mỹ dính trong danh sách cho khách nó tin. Mấy chị làm nail thì lúc nào cũng khoe tui làm ăn tòan là với Mỹ.

Post Reply