Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Trang Nhật Ký Rất Riêng Tư Trong Ngày Thương Bố

LM Trần Cao Tường

Image
Tình Bố, Ảnh của Cao Tường (từ hình khắc của Willow Tree)
Vào ngày Ghi Ơn Bố tôi thích gợi lại hình ảnh Bố qua anh chàng Hải trong phim Ba Mùa (Three Seasons) do Tony Bùi đạo diễn. Ở Miền Nam nước Việt mình thì chỉ có hai mùa, là mùa nắng cháy khô và mùa mưa sũng ướt. Mùa nào cũng khổ, làm sao mà kham nổi?! Vậy mà Tony Bùi đã tìm ra được cái nét văn hóa nằm sâu trong máu của dân mình qua mùa thứ ba là mùa “rung tim” hóa giải mọi nỗi oan khiên.

Bốn câu truyện trong phim đan dệt với nhau thật tài tình, được gắn lại bằng một chất keo mầu nhiệm qua bài hát ca dao như cái hồn ẩn mật của dân tộc làm nền:

Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng.
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.


Bốn câu truyện với sáu bảy nhân vật đều là những cảnh rung cây, như bốn truyện điển hình của cuộc đời Việt nam trong suốt một thế kỷ qua, trong suốt dọc dài lịch sử bi đát của dân mình. Cây cứ bị gió rung hoài, lá cứ rụng mà chẳng ai còn đủ sức quét sạch được lá rừng!

Ông Đào vốn là một nhà thơ có hồn, đẹp trai, nhà giầu. Vậy mà lại bị bệnh phong cùi phải ẩn tránh mọi người, sống đóng kín thầm lặng trong ngôi nhà ngói giữa một hồ sen lớn. Ông cho thuê nhiều nhân công hái hoa sen đưa lên Sài Gòn bán, trong đó có một cô gái nhà quê rất chơn chất mộc mạc tên là Kiến An. Cô gái quê này có nước da ngăm ngăm, thường mặc áo bà ba với dáng vẻ nghèo túng. Cô lam lũ vất vả như những người đàn bà khác cùng hái sen trong hồ để kiếm sống. Nhưng nét hồn nhiên qua đôi mắt trong sáng diễn tả một tâm hồn thật dễ thương như một đóa sen, cũng là nét đẹp và giầu có của trái tim Việt Nam nhẫn nhục giữa bùn lầy qua bao thời đại. Trong những cần cù mồ hôi nhễ nhãi, bài hát ca dao khác lại vang lên:

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.


Cây đời ông Đào bị rung quá mạnh phải quị xuống, ngón tay ông bị rụng dần không còn viết thơ được nữa. Vậy mà bỗng một ngày ông thấy yêu đời, cánh thơ mọc lại cho ông vượt ra khỏi bốn bức tường giam hãm mà thênh thang bay lên cõi trời cao, nhờ nghe được giọng hát ca dao của Kiến An từ hồ sen vẳng vào. Thì ra độ rung cây đã bắt gặp được độ rung tim, một thứ tình thương tinh ròng mở cánh sen tỏa hương nhè nhẹ ít gặp được trong xã hội này, với một niềm cảm thông sâu thẳm vượt qua ngôn ngữ. Chất ca dao qua giọng hát Kiến An được mẹ thổi vào hồn, chuyển vào mạch máu qua tiếng ru ngọt mềm từ lúc còn trong nôi, nay bỗng chạm tới độ rung mầu nhiệm cho chất thơ sống lại: mùa rung cây đã trở thành mùa rung tim, khiến cho nhà thơ mong ước được thả hoa sen xuống dòng sông làm đẹp dòng sông cuộc đời.

Cũng một thứ hoa sen và giọng hát ca dao đó, anh chàng Hải đạp xích lô đã mang được trong tim mình. Anh có thể là một nhà giáo lỡ thời phải làm cái nghề kỳ dị này trong một thành phố ngột ngạt chen sống. Lúc ngồi chờ khách thì anh đọc sách. Suốt ngày phải dầm mưa giãi nắng, anh đúng là hiện thân của hai mùa nóng cháy khô và mùa mưa sũng nước. Cây đời anh cũng bị rung mạnh lắm. Vậy mà tim anh có chất hương sen, đi đeo đuổi một bông hoa dại mọc ven đường là cô gái ăn sương vấy bùn tên Lan với loại tình yêu cũng rất khác lạ: loại tình yêu hoa sen với bông trắng nhị vàng. Thứ tình này đã khiến cho cây Lan đang độ rung bật gốc tìm lại dáng nét tình hoa phượng nở hồi còn làm nữ sinh áo trắng thơ ngây.

Trong lúc lam lũ đạp xích lô, Hải thường bắt gặp một anh chàng người Mỹ ngồi thơ thẩn trước khách sạn như tìm kiếm một điều gì. Thì ra anh ta trước đây đã từng là lính GI ở Việt Nam, nay trở lại tìm đứa con gái lai bị bỏ rơi lại. Mãi rồi anh ta cũng tìm thấy. Anh ta mua một bó hoa sen của Kiến An đưa tặng cho đứa con gái với lời tạ tội. Tim anh ta cũng mang được chất tình hoa sen còn biết rung động.

Chen giữa những câu truyện gắn bó với nhau là hình ảnh một đứa bé thường lầm lũi lội dưới mưa. Nó có tên trong phim là Woody, có thể vì tên nó là Mộc, cũng là một loại cây dại mọc bên đường, là đứa con tượng trưng của cả một dân tộc. Nó tội tình gì mà bị xã hội vất ra ngoài đường, sống nghèo khổ với cái thùng đồ bán diêm quẹt và xâu móc chìa khóa? Vậy mà nó vẫn sống hồn nhiên với cặp mắt thật sáng, vẫn ham mê giấc mộng bình thường thả con thuyền giấy trên dòng nước mưa.

TIẾNG HÁT RUNG TIM BA MÙA

Anh chàng Hải giống Bố tôi ở dáng phong sương với nước da đen sạm, nhưng con mắt thì thật sáng diễn tả một tâm hồn thanh thản và cương nghị có sức hóa giải tất cả, vượt qua tất cả, kham nổi nắng oi nực cũng như mưa đầm đìa. Chắc là anh bị lỡ thời, chữ nghĩa không còn giá trị bằng cặp giò đạp xích lô. Những lúc ế ẩm không có khách, nhớ chữ nghĩa quá thì anh lôi cuốn sách cũ nhàu nát ra đọc, hay ban đêm ngước nhìn sao trời làm người nhà giầu hưởng thú khách sạn “nghìn sao.” Chứng kiến bao cảnh oan trái và trớ trêu, anh vẫn nhẫn nhục góp phần thả hoa xuống dòng sông cuộc đời, bằng một thứ tình yêu tinh ròng, nguyên thủy. Những giọt mồ hôi nhễ nhãi của anh có thể thơm hơn những đồng tiền trong những khách sạn năm sao ăn chơi sang trọng mà bần tiện kia.

Bố tôi cũng bị sa cơ thất thế. Dòng nội tổ có thể đã từ đâu tụ về vùng Trà Lũ bên Nam Định, nơi phát sinh cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành chống lại cái cơ chế đã rã của nhà Nguyễn. Sau khi thất bại, thì nhiều người được Doanh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ khôn khéo bao che cho về “núi vàng” Kim Sơn từ năm 1829 làm “nguyên mộ,” tức là những người đầu tiên có công mộ dân đi lập nghiệp nơi cánh đồng lầy với những làng mang tên thật đẹp cho lên tinh thần như Hòa Lạc, Chí Tĩnh, Quy Hậu, Tôn Đạo… và đã nhiều đời đứng đầu một lý, với bao chông chà thuở ban đầu như ca vè vùng đất Kim Sơn còn ghi lại:

Đường đi như thể chông chà,
Ầm ầm muỗi bọ như là thóc xay.


“Núi vàng” với những đống lúa cao như núi thì chưa thấy, chứ gia phả để lại thì chỉ kể chuyện về những cảnh phá giặc và dẹp cướp Tàu Ô vùng cửa Thần Phù rất gian khổ.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.


Nơi Bố tôi sinh trưởng không có gì là “địa linh nhân kiệt” cả. Không phát xuất nhiều bậc tài ba mà cũng chẳng là nôi sinh văn hóa trống đồng hay trống da trâu gì hết, ngoại trừ một di tích đã xưa cũ là động Hoa Lư của Đinh Bộ Lĩnh, Trương Hán Siêu và cái gia sản tinh thần tự do không chịu luồn cúi chầu chực một cái khuôn rã nát của lớp cai trị đã làm cản bước tiến. Vào thập niên ‘30, Bố phải bỏ quê sang Thái lan lập nghiệp mấy năm, nhưng ông nội bắt về lập gia đình để cầm chân cho chắc ăn. Mà Bố có muốn an phận thủ thường cũng đâu có dễ. Chỉ biết những ngày thơ ấu, tôi đã chứng kiến cái cảnh sau hiệp định Genève bố tôi được thả tù trở về đúng là một con chó chết ốm o, vì như lời Bố kể vùng rừng núi nhà tù nước độc đến nỗi con chó lội qua suối lên là trụi không còn một chiếc lông nào. Hình ảnh mẹ tôi hồi còn trẻ khóc lăn lộn vật vã suốt những tháng ngày Bố tôi bị bắt vào đêm “tháp chuông Hòa Lạc” vẫn mãi mãi ghi đậm trong tôi.

Thế là Bố tôi mang gia đình di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, sống thấp cổ bé miệng không sao ngóc đầu lên được.Trong nhiều kỷ niệm của gia đình, tôi còn nhớ cái đêm Bố khóc. Vào khoảng năm 1957 gì đó, mẹ tôi và tất cả các em đều bị đau nặng nằm ở nhà thương, mà nhà quá nghèo không sao chạy được tiền thuốc. Vào khoảng hai ba giờ sáng, tôi bỗng giật mình dậy vì những tiếng nấc và những tiếng kể lể thổn thức rằng “mẹ ơi, con là đứa con bất hiếu, con để mẹ lại ngoài Bắc, mang vợ con chạy vào đây mà bây giờ cùng quẫn không còn biết xoay xở làm sao!” Thì ra ban ngay Bố tôi cố nén niềm đau xót. Tôi hiểu vậy nên nằm nín thinh không dám cho Bố hay là tôi đã thức, chỉ biết chảy nước mắt thương Bố, cảm được tâm hồn của Bố, mặc dù tôi còn nhỏ. Càng lớn lên tôi càng hiểu Bố tôi có tính chẳng chịu cầu cạnh lụy ai, vì thế nghèo lâu là phải! Nhưng tôi lại thương luôn cái ngang tàng này của Bố mà cũng tập tành đi vào cuộc đời. Vì thế mà xem phim Ba Mùa (Three Seasons) tôi chịu ngay cái anh chàng Hải hào sảng đạp xích lô. Và tôi bèn kiếm ngay cho Bố tôi một cái nghề mới là nghề đạp xích lô, mặc dù Bố tôi đã qua đời từ lâu do gánh chịu bệnh hoạn tật nguyền của những ngày tù tội, không được hưởng cái làm ăn lên của gia đình về sau.

CON ỐC MANG QUÁ KHỨ ĐI CHÔN

Có lần nhà thơ Quan Dương ở New Orleans kể truyện Chiếc Lá giữ làm kỷ niệm như một con ốc cõng quá khứ. “Người ta trước khi có hiện tại đều bị có quá khứ hết. Quá khứ nhiều lúc muốn cởi bỏ nó không phải dễ. Ngày xưa có một con ốc nhỏ sống cô quạnh trong một vũng đầm lầy với chuỗi tháng ngày mà nó cho là buồn thảm. Cứ mỗi một ngày trả một ngày về cho quá khứ, sự buồn thảm vì thế trở thành chất chồng nặng nề một quá khứ nặng nề trên lưng con ốc. Một hôm nó quyết định mang quá khứ đi chôn. Nó nghĩ chỉ có thế nó mới được nhẹ nhàng trong cuộc sống. Nghĩa địa nằm bên kia đường. Khi con ốc chở quá khứ đến được mé đường thì nó mới thấy rằng băng qua không phải dễ. Xe cộ ngược xuôi như mắc cửi, không chừa một khoảng trống thời gian nào để khả dĩ tương xứng với vận tốc chậm như ốc để nó có thể băng qua. Cuối cùng con ốc hiểu rằng nếu nó muốn qua bên kia thì không thể nào thoát khỏi sự cán nát dưới những bánh xe. Vì thế nó đành cõng quá khứ trở về nơi đầm lầy nước đọng xưa kia. Con ốc đã không đủ can đảm làm một cuộc cách mạng hy sinh mạng sống mình để trút bỏ một quá khứ dẫu quá đau buồn. Con ốc tự nó biết là cả suốt một cuộc đời đành lẩn quẩn ôm một quá khứ đau buồn của mình và chờ chết.” (Văn, tháng 4, 1999, trang 75)

Truyện con ốc này được diễn ra thật nơi một ông bố ở vùng tôi. Ông này là một nghệ sĩ, trước kia ở Việt Nam cũng vào loại có hạng. Vậy mà sang Mỹ ông đành phải đi làm cái nghề gọi sang là “sửa sắc đẹp thành phố”, “chuyên trị” rác và cỏ công viên. Ông mặc cảm vô cùng về cái thân phận chẳng giống ai. Có lần nhân có chuyện chạy qua vùng đó, tôi rà rà xe tới có ý chào ông thì từ đàng xa ông đã quay mặt đi chỗ khác làm như không thấy! Chiều về là ông đưa rượu ra vườn sau uống. Và luôn say mèm, rồi nổi cơn la hét vợ con.

Một hôm ông nhờ tôi thu cho ông một băng nhạc bình ca, loại nhạc êm ả bằng tiếng La-tinh xưa. Ông vui ra mặt, đưa băng nhạc về nhà, đuổi vợ con đi chỗ khác hết. Ông vào phòng tắm vặn nước cho chảy róc rách, hạ độ máy lạnh xuống thật thấp, lên giường kéo mền đắp kín để chừa hai bàn chân ra, rồi mở nhạc bình ca nằm nghe thú vị quá chừng.

Đố ai đoán được ông đang diễn trò gì đấy? Ông đang sống lại những ngày êm đềm ở Bắc Việt xưa kia. Một buổi chiều mưa rơi róc rách ở mái hiên, trời mùa thu đất Bắc lạnh sớm nên phải đắp chiếu thường không kín được chân nên cái rét ngọt len lỏi một cách đáng yêu. Từ xa xa có tiếng chuông nhà thờ lẫn tiếng nhạc La-tinh vẳng lại. Ôi mê quá là mê!

TIN VUI GỬI CON ỐC BUỒN THẢM

Ấy, ông chuyên viên “sửa sắc đẹp thành phố” của chúng ta chán hiện tại đến tột độ rồi. Ông mắc bệnh nghiền quá khứ. Vậy mà ông cũng chế được linh dược chữa bệnh. Ông cõng quá khứ trên lưng một cách trân quí chứ chẳng chịu chôn nó. Quan Dương mà biết truyện này hay xem phim Ba Mùa thì thế nào cũng chịu cho con ốc cõng quá khứ trên lưng như những đóa sen mà thả trôi xuống dòng sông cuộc đời. Anh chàng Hải đạp xích lô, cô Kiến An đều thích cho tiếng hát ca dao chảy róc rách len lỏi vào hồn mà tạo được Mùa thứ ba làm thứ thuốc thần hóa giải hai mùa nóng khô và mưa sũng của hiện tại chẳng mấy khả quan.

Con người không ngờ mà lại sợ nhiều thứ. Sợ nghèo. Sợ mất mát. Sợ mặc cảm thua kém. Sợ quá khứ đau buồn. Sợ hiện tại trớ trêu. Sợ bóng sợ vía. Sợ chính mình nữa, như con ốc tự nhốt giam thu mình lại vào cái vỏ, tự đầy đọa mình trong đầm lầy nước đọng.

Người Bố nào mà chả có đốm lửa trong mắt, cố nuốt niềm xót xa để bật sáng lối đi tin tưởng cho con “ráng mà ngóc đầu lên con nhá.” Bố thường bảo: Ở đời quí nhất là cái tâm, cái tâm vốn trong sáng và giầu có: không một bóng tối nào lấn át được, không một thứ tiền của hay quyền lực nào sai bảo mình được, không ai có thể làm cho mình hèn được trừ ra chính mình. Có ai và có gì vùi dập mình xuống bùn được đâu? Mà giả như có bị nhận xuống bùn như những cây sen kia, thì lá vẫn xanh, hoa vẫn trắng, nhị vẫn vàng, như ca dao là hơi thở của Việt tộc vẫn chuyển diễn qua bao đời. Trong máu người mình có chất hào sảng như vậy rồi, vì vốn mang niềm tin như An Tiêm trong truyện thiêng Dưa Hấu: Trời sinh Trời dưỡng. Ca dao Việt vốn diễn lên niềm tin này:

Dù ai nói ngược nói xuôi,
Ta đây vẫn cứ đạo Trời khăng khăng.


Đó là niềm tin tạo sức mạnh hóa giải mọi oan khiên, khiến người mình cứ bướng bỉnh bước tới với đầu cao mắt sáng dù bất cứ gì. Niềm tin này thật hài hòa với niềm tin Đạo Chúa. Cuộc sống nào mà chả có những lúc “cuồng phong nổi lên sóng ập vào thuyền”! Vậy mà khi tin tưởng vào Trời thì đâu cũng vào đó. Tin Vui tuần này nói lên niềm tin như thế, và Chúa Giêsu đã ra tay ngăm đe gió và ra lệnh cho biển:

“Im đi, Câm đi! Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.” (Mc 4:39)

Mọi người lấy làm kinh ngạc thán phục:

“Vậy người này là ai mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mc 4:41)

PHÚT BẬT SÁNG TỪ TÂM

Trong ngày Vinh Danh Bố, con nhớ Bố và muốn ghi ơn Bố. Trong dịp này con bỗng bắt gặp ánh mắt Bố cười qua mắt chàng Hải đạp xích lô trong phim Ba Mùa. Nét đặc biệt của Bố là cười bằng mắt. Khi Bố cười, khóe mắt bật bật như đẩy ra chất laser, có sức xua xa nỗi sợ và coi mọi niềm đau là chuyện nhỏ. Bố còn sống hay đã qua đời thì Bố vẫn cười bằng mắt, khuyến khích con biết ngẩng đầu lên, nhất là bây giờ con đã sang Mỹ, có cơ may hơn Bố. Từ ánh mắt Bố, con cũng hiểu được sức mạnh của cõi tâm và sự giầu có của niềm tin trong mạch máu dân mình. Con muốn cùng Kiến An hát cho Bố nghe, cho Mẹ nghe, cho thầy Đào và cả con nghe nữa bài tiếp nối ca dao “đố ai quét sạch lá rừng, để ta khuyên gió gió đừng rung cây”, trải dài hoa sen minh triết trong phim Ba Mùa:

Đố tằm ăn mấy ruộng dâu
Đủ tơ xe áo lụa màu ngày xưa.
Đố trời đổ mấy cơn mưa
Để cho nước mắt ngập bờ đại dương.


Lm. Trần Cao Tường

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Nghề lạ ở Việt Nam : Câu gián mưu sinh


SÀI GÒN: Khi màn đêm buông xuống, Sài Gòn tĩnh lặng hơn nhiều so với sự náo nhiệt thường ngày của nó. Giữa đêm tối lặng lẽ của thành phố, những người mưu sinh trong đêm lại hoạt động. Đó là những người nhặt rác, đi đấm bóp dạo, bán hủ tiếu gõ, những người câu cá kiếm cơm và cả những người chuyên đi câu gián ở nắp cống...
Sau một hồi lân la nói chuyện, chúng tôi quyết định đi theo nhóm người câu gián để tìm hiểu cái nghề mưu sinh trong đêm đầy lạ lẫm này.

Không đụng nghề

Bắt tay vào nghề năm 1997 đến nay đã gần 13 năm, thế nhưng anh Bình (biệt danh Sáu Bình) ở quận Gò Vấp, khẳng định: "Đây vẫn là một nghề kiếm sống mới toanh đó nghe, cả thành phố ít ai làm nghề này lắm, đi bắt hoài mà tui chỉ gặp một hai người cùng nghề thôi...".
Anh nói nửa đùa nửa thật: "Anh không biết chứ thành phố mình chuột với gián là đứng hàng nhất nhì đó, chuột thì tui chẳng biết ai mua, chứ gián thì tui có mối hẳn".

Lăn lộn giữa thành phố làm đủ thứ nghề để kiếm sống, trông anh Bình sành sỏi rất nhiều. Tuy nhiên, trên gương mặt người đàn ông hơn 40 tuổi này luôn thể hiện sự nhiệt tình với mọi người.
Anh kể: "Tui đến với nghề cũng thật tình cờ, khi đi ngang qua Cầu Đen dưới chân cầu Sài Gòn thấy bạn câu đông quá tui ghé xe trông thử vì cũng mê câu cá lắm. Thấy người ta dùng gián làm mồi câu vậy mà giật được cá liên tục". Sau vài lần như vậy anh Bình nảy sinh ra ý tưởng "đi câu gián cho dân câu cá". Anh nói: "Tui nghỉ chạy xe ôm, vác cần câu lân la và biết người ta mua gián để câu cá bông lau, câu cá trê".

Sau mấy lần vác cần câu đi dạo để tìm mối, anh Bình cũng tìm ra được nhờ bạn câu chỉ bảo. Anh kể về cái lần đầu đi bẫy gián của mình: "Đi liền mấy đêm bắt chẳng được là bao, tui đem cho bạn câu hết. Mỗi lần cho và trò chuyện tui học được nhiều thứ và cũng tìm ra được bí quyết dụ tụi gián, đó là tụi gián hảo ngọt". Sau lần đó anh Bình bẫy gián bằng que tre quấn vải tẩm mật mía, lần đầu đem gián về nhà mọi người cứ bàn tán mãi, ngay cả vợ anh cũng kinh ngạc, mà cho rằng anh "bất bình thường".

Qua tháng sau anh tìm được mối ruột nhận mua gián đó là một cửa hàng chuyên cung cấp mồi và dụng cụ câu cá ở gần Hàng Xanh. Trên chiếc xe máy "cà tàng", anh Bình cùng con trai của mình là Minh luồn lách khắp các ngóc ngách của thành phố để câu “tụi gián” đang trú ẩn dưới nắp cống. Đêm nào trúng nhất của anh cũng bắt gần 3,000 con (3 thiên). Những lúc trúng như vậy anh kiếm hơn 300,000đ một đêm. Anh cho biết: "Giá mỗi con gián được mua 100đ, một đêm bắt được một thiên cũng đủ sống".
Lúc đầu có nhiều người bàn tán về cái nghề lạ lẫm của anh, anh chỉ cười trừ bảo: "Mình làm nghề không đụng nghề với ai mới dễ sống, cái nghề này tuy lạ nhưng lại hay, vừa giúp mình kiếm tiền lại vừa trừ hại côn trùng cho thành phố". Gần 4 giờ sáng, lồng gián của anh đã lỉnh kỉnh hơn, anh và con trai mới bắt đầu thu dọn đồ nghề để về nhà trước khi thành phố thức giấc.

Nghề cũng chọn người

"Khó ngửi như mùi rác, nhưng lâu rồi cũng quen, thằng con trai tui lần đầu tiên đi còn bịt khẩu trang kín mít. Nhưng giờ nó lại là một tay sát gián... Ở đất Sài Gòn này không có nghề nào dễ sống cả, nghề nào có cái khổ của nghề đó", anh Bình chia sẻ khó khăn của nghề.

Là một tay sát gián chuyên nghiệp nhưng anh vẫn thừa nhận: "Như tui đã là gì đâu, tui có hai "đàn anh" còn giỏi hơn đó là anh Quý ở chợ Cây Gõ, quận 6 và anh Long ở Gò Dưa, Thủ Đức. Hai ông đó vào nghề lâu hơn tui một năm nhưng chịu khó cày cấy lắm, chắc cái nghề nó cũng chọn người".
Cùng nghề với anh Bình còn có chú Bảy, anh Hùng đều ở Gò Vấp, ngày trước họ cũng là "đàn em" của anh Bình. "Tui đâu có giấu nghề đâu, ai hỏi tui cũng chỉ hết vì hiện nay câu không đủ bán mà. Gián trong thành phố này bắt sao cho hết, nhưng có tìm ra mối và theo nghề được không đó mới là chuyện", anh Bình giải thích.

Theo anh muốn kiếm tiền từ gián thì phải chấp nhận sống chung với gián, anh đem chính bản thân của mình ra so sánh cho chúng tôi thấy rõ hơn: "Tối nghe mùi gián, sáng nghe mùi gián, ăn cơm cũng nghe... thử hỏi có mấy ai chịu được, thời gian đầu mùi này còn gây sây sẩm, buồn nôn nữa chứ... người bị dị ứng chắc không sống được bằng nghề câu gián đâu. Tui nhận bốn đứa đệ tử giờ chỉ còn lại có thằng Hùng là sống được bằng nghề, mấy đứa kia chạy dài...".

Giải thích về việc này anh cười nhẹ: "Lao động mà, nghề nào vinh, nghề nào nhục, mình móc cống hoài, nhiều lúc đám thanh niên nhìn mình như người ngoài hành tinh... Ấy thế là có người không câu gián nữa". Còn Minh con trai anh thì khẳng định: "Nói gì thì nói tui vẫn theo nghề này, khi nào sông hết cá, thành phố hết gián thì chúng tôi mới thất nghiệp. Nghề đã chọn mình thì mình sống với nó".

Sống nhờ... người câu cá!

Phần lớn lượng gián được tiêu thụ bởi những người câu cá kiếm cơm, một đêm người câu gián kiếm được 100,000đ thì những cần câu cá kiếm cơm cũng kiếm được ngần ấy. Điều khác nhau của "hai cần câu cơm" này là độ máu lửa và sự kiên nhẫn, anh Bình cười nói: "Câu cá tôi cũng mê lắm, nhưng không nuôi sống nổi gia đình, với lại tôi không rành về sông nước, thôi mình cứ câu ở "nắp cống" để cung cấp mồi cho mấy ông câu ở sông".
Theo một số dân câu cá kiếm cơm chuyên nghiệp thì gián là món ruột của cá bông lau, nó còn nhạy hơn cả trái bần chín hay thịt bò, trong khi đó giá cả lại quá rẻ so với những mồi câu khác.
Một nguồn khác để anh không sợ thất nghiệp từ cái nghề lạ lẫm của mình nữa đó là, dân câu cá văn nghệ xuất hiện ngày càng nhiều, câu cá đang trở thành mốt giải trí của phần đông người dân Sài Gòn vào cuối tuần.
Anh Bình cười thật tươi khoe chuyến làm ăn lớn của mình: "Mùa câu cá bông lau sắp rộ rồi, khoảng tháng 5 - 6 âm lịch, lúc này cá ăn rất nhiều và người câu cá cũng rất đông, tui đang lên kế hoạch thu mua thêm gián của những người khác nữa".

Anh Bình kể lại mùa câu cá bông lau năm trước: "Mỗi lần vào mùa rộ cá bông lau giá mồi câu cũng được đẩy lên. Năm trước mình tôi và con trai không đủ hàng để cung cấp phải khoán thêm cho một số người khác, giá 1 lồng gián khoảng 500 con trả 35,000 – 40,000đ. Tuy nhiên, mùa này giá đó không ai đi bắt cho mình nữa đâu, giờ đây nghề câu gián cũng đã bắt đầu có sự cạnh tranh rồi...".

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Người Mỹ và thời trang mùa Hè

Quỳnh Giao
Người Mỹ ăn mặc rất dễ dãi, đó là ý nghĩ của người viết khi thấy Hè về.

Nhưng không phải thời nào cũng vậy. Thỉnh thoảng khi coi lại phim cũ, thấy phụ nữ mặc áo đầm, đội mũ, đeo găng thì người bên cạnh “phán” ngay: “Nước Mỹ ngày xưa thanh bình và lịch sự hơn!” Chả bù ngày nay thì tự do phóng túng tuyệt đối trong lối ăn mặc, rất lôi thôi.

Còn nhớ có người kể chuyện bạn ở bên Pháp qua chơi mùa Hè. Ra khỏi máy bay gặp ngay người bạn cố tri ưu ái ra đón. Nhẹ nhàng thư thái với áo thun ba lỗ và quần xà lỏn. Từ Âu Châu qua thì khách trợn mắt ngạc nhiên, nhưng không tiện nói. Hôm sau đi chơi phố mới biết bên Mỹ vào mùa Hè thì thiên hạ đều “thoải mái’ như thế.

Lại nhớ hồi mới qua năm 75, thú vị chừng nào khi đọc bài viết của Võ Phiến. Ông tả cái cảnh mình mặc bộ đồ bà ba, kín đáo ngồi phòng khách thì lại mang tiếng khiếm nhã. Trong khi cô hàng xóm nằm phơi mình ngoài sân cho cả xóm ngắm với hai mảnh vải tí hon trên người... Thời ấy, nhà văn yêu quý của chúng ta còn ở Minnesota miền Ðông Bắc. Chứ khi thiên đô qua đất Eo Lê - thành phố Los Angeles qua cách nói của một số người được Võ Phiến tủm tỉm ghi lại - có lẽ ông càng thấy bàng hoàng, tê tái.
Image
Những nàng Cali với xiêm y mùa hè thoãi mái
Nơi đây, quả thật là bốn mùa gì đều là mùa Hè và áo xiêm gì thì cũng cho... tà huy bay hết. Còn lại trên mình chỉ lơ thơ tơ liễu buông mành mấy mảnh lụa trên cái quần cộc. Nhưng chúng ta thấy mãi rồi cũng quen. Ngày nóng nực nhiệt độ lên tới gần một trăm thì thấy cái quần “soọc” này coi bộ có lý.

Nhưng chỉ có lý nếu mình chưa tới ba mươi xuân xanh.

Thấy cái quần cực ngắn, vì chấm dứt khi mới khởi đầu, và đôi chân dài như cẳng cua cùng làn da nâu mịn màu mật ong, thì nhiều ông thấy đã mắt. Nói của đáng tội, nhìn người mẫu ở tuổi thanh xuân thì các nàng có quấn bao tải quanh bụng cũng đẹp.

Nhưng ra đường nhìn các bà chân ngắn bằng chân ghế, mà cong queo gân xanh gân đỏ ngoằn ngoèo thò ra từ cái xà lỏn thì hơi hãi. Thêm vào đó là cái áo chẽn quá ngắn, với cuống rốn... đã lìa từ nửa thế kỷ trước, nhiều người thật không dám nhìn nữa. Bảo rằng đấy là “mốt” là kiểu có khi cũng không chỉnh. Ðôi khi chỉ là thói quen của sự phóng túng tự do, thích sao làm vậy. Người khác nghĩ sao, thấy gì, thì đó là chuyện của họ. Không thèm ngó tới cách người ta ngó mình nữa.

Nghĩ lại, người viết cứ tưởng rằng mình lạc hậu và đầu óc không được phóng khoáng. Nào ngờ mới đây đọc được bài báo trong tờ Allure, loại tạp chí thời trang của các bà các cô. Té ra dân Mỹ cũng có nhiều người không thích nhìn quần xà lỏn ngoài đường.

Bài báo nêu vấn đề với các phụ nữ mới có con còn nhỏ. Họ quá chú ý tới trách nhiệm làm mẹ mà bỏ qua nhiệm vụ làm đẹp của người vợ. Nếu gặp họ đẩy xe cho con đi dạo mát, câu trả lời thông thường nhất của họ là: “Bạn không gặp tôi lúc chưa có cháu bé. Chứ trước đây tôi ăn mặc đẹp lắm!” Hóa ra là vì cháu bé!

Nhưng tại sao họ phải tự bào chữa như vậy? Tại vì họ đang mặc một cái áo thun mầu xỉn như vôi, thay vì mầu trắng nguyên thủy của nó. Ở dưới là cái quần để tập yoga, dù họ chẳng hề tập yoga.

Thật sự thì vai trò người mẹ bên Mỹ rất là bận rộn. Khi con còn nhỏ chưa đi học thì phải làm vú em, y tá, lo bếp núc kiêm hoạt náo viên, là pha trò để giải trí nữa. Ðến khi lớn hơn một chút, bắt đầu đi học thì làm thêm nhiệm vụ tài xế đưa đón. Hết trường chữ đến trường đàn. Rồi trường dạy vũ nếu có con gái và trường dạy tennis nếu có con trai. Thêm trường dạy toán, dạy bơi, và nếu là người Việt sống trên đất người thì thêm trường Việt ngữ và dạy võ nữa... Cứ như thế, bà mẹ chạy long tóc gáy tối tăm mặt mũi, còn thì giờ đâu mà trang điểm, mà ăn mặc?

Nhưng thống kê có cho thấy là trên nước Mỹ, việc chưng diện của phụ nữ cũng còn tùy vùng!.. Bài báo nói là California và Texas tệ hơn New York.

Ở New York, người ta thấy các bà mẹ đẩy xe cho con dạo mát, tuy chỉ mặc áo thun và quần Jean nhưng trông vẫn mát mắt du khách. Chỉ vì áo thun trắng tinh, quần Jean đúng mốt, không quá chật, thoải mái nhưng không xệ và xốc xếch. Ngoài ra, và đây mới là điểm chính: các bà mang hoa tai mầu sắc, làm bộ mặt tươi tắn hơn. Và vai đeo ví hợp thời trang chứ không máng một cái bị bằng nhựa để đựng các món đồ lỉnh kỉnh. Các thứ ấy thì quàng vào cái bị để bên cạnh xe đẩy là được rồi.

Thêm một điều là ở New York, cư dân thường phải đi bộ dài dài, nên các bà đi giầy sandal hoặc snicker, nhưng là loại hợp thời trang. Cách ăn mặc không diêm dúa chải chuốt, nhưng sạch sẽ gọn gàng và tự nhiên, cho nên không chỉ làm đẹp cho mình mà còn cho thiên hạ đẹp mắt nữa. Tác giả bài viết có nhắn một câu: Người phụ nữ không nghĩ rằng mình làm đẹp cho mình thì có lợi như thế nào.
Image Chỉ cần chút má hồng, chút môi son, một cái áo xinh xắn và cái quần vừa vặn là đã đem niềm vui lại cho người rồi. Thảng hoặc có một câu khen, hay cái ngoái nhìn của một người lạ, thì chính mình cảm thấy vui chứ sao không?

Nói vậy chứ cũng đừng quá lố.

Giữa trưa nắng lại diện áo kim tuyến chói lòa, hay mang hột xoàn hột xiếc tùm lum, coi còn kinh hoàng hơn đấy... Ðôi khi vào các thương xá Mỹ giữa trưa, chúng ta bị thấy có bà đỏng đảnh mặc áo nhung gắn kim tuyến, bước đi lấp lánh như cây Noel, mặt mũi nghiêm trọng. Trông rất oi! Mình biết ngay đấy là mệnh phụ ở miệt... nhà. Có khi đấy là phu nhân của một quan tiến sĩ từ một trường Mỹ mờ ám nào đó mà lại không biết tiếng Anh, như hiện tượng đang được báo chí nói tới!

Ngẫm lại thì nhiều người am hiểu về cách ăn mặc của phụ nữ có phân biệt hai chuyện. “Kiểu” và “dáng.”

Kiểu gì thì cũng có người dám mặc, vì nay ta đang ở một xứ tự do mà. Nhưng hợp thời hợp lúc không thì là chuyện văn hóa. Và kiểu gì thì kiểu, chứ dáng mới quan trọng. Biết chọn kiểu thích hợp với dáng dấp của mình thì mới làm đẹp cho mình. Kiểu là sản phẩm trí tuệ của người khác, được bày bán trong tiệm. Dáng là do chính mình tạo ra.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Từ bên kia bờ đại dương nhìn vào nước Mỹ

Lê Mạnh Hùng
Khi tôi còn học “undergraduate” tại đại học, trong chương trình kiến thức tổng quát mà tất cả học sinh trường tôi đều phải học, có nói tới thời Khai Sáng tại Châu Âu. Nhưng vào lúc đó, khi học về thời Khai Sáng này, người ta chỉ nhắc đến thời Khai Sáng ở Pháp với những nhà văn và triết gia như Descartes, Rousseau hoặc là Voltaire.

Những người này là những nhà tư tưởng mà khi đứng trước một thế giới đầy mê tín và tàn dư của một thời u tối hồi trung cổ, tìm cách kéo thế giới này ra trước ánh sáng của lý trí và suy luận. Bị hấp dẫn bởi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lúc đó đang xảy ra tại Châu Âu, họ đặt toàn bộ tin tưởng vào sức mạnh của lý trí cá nhân trong việc tìm ra những sai lầm và đưa con người đến một chân lý tuyệt đối.

Descartes có thể là nhân vật điển hình của phong trào này. Ông muốn đặt lại từ căn bản sự hiểu biết của con người, loại bỏ những thiên kiến tích lũy của quá khứ, và xây dựng một tòa lâu đài kiến thức mới từ nền móng trở lên, với những chân lý đạt được qua những suy luận lô gích dựa trên một số những nguyên lý được coi như là tuyệt đối.

Ðiều mà Descartes làm đối với siêu hình học và trí thức luận, thì cũng được những người khác làm trong lãnh vực chính trị, quét sạch đi những truyền thống cũ hủ bại và xây dựng một chế độ mới dựa trên lý trí. Ðó chính là mục tiêu của cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789.

Sau khi tốt nghiệp đại học, qua nhiều năm lăn lộn và vài cuộc đổi đời, tôi sang được đến bên Anh. Và trong khi cắp sách đến trường đi học trở lại, tôi được làm quen với một thời Khai Sáng mới, không phải của Pháp như tôi đã học mà của Anh với những nhà tư tưởng như David Hume, Adam Smith và đặc biệt là Edmund Burke. Trái với những nhà tư tưởng Pháp như Descartes tập trung vào sức mạnh và khả năng của lý trí và suy luận, những nhà tư tưởng Anh chú trọng đến những giới hạn của lý trí, đặc biệt là trong những lãnh vực có liên quan đến con người, chỉ ra rằng, người ta, nhất là trong tập thể, nhiều khi hoàn toàn không hành động theo lý trí.

Họ nhấn mạnh đến vai trò của cảm tính. Người ta sinh ra có những ước vọng tự nhiên muốn được mến phục và làm sao xứng đáng cho sự mến phục đó. Người ta sinh ra đã có sẵn một số cảm tính về đạo đức, tỷ như một khái niệm về công bằng và nhân đạo. Thế nhưng người ta sinh ra cũng có những cảm tính xấu như lòng ích kỷ; tinh thần bè phái. Và những cảm tính này đã làm hỏng những ý đồ của lý trí. Chúng ta là những sinh vật chịu sự chi phối chính và quan trọng nhất bởi những cảm tính và xã hội, nhất là trên phương diện chính trị không thể nào bỏ quên được.

Trên phương diện chính trị, người nói ra rõ nhất quan điểm này là Edmund Burke. Trong cuốn “Suy nghĩ về cuộc Cách Mạng tại Pháp” (Reflexions on the Revolution in France) Burke biện luận rằng mỗi một thế hệ chỉ là một mắt xích trong một chuỗi mắt xích dài của lịch sử. Chúng ta đóng vai trò người thừa kế những di sản trí tuệ của quá khứ và có bổn phận phải truyền lại chúng - nếu có thể được với một số cải thiện - cho những thế hệ sau. Cái di sản trí khôn đó bù đắp vào những chỗ hổng trong lý trí của chúng ta vì những định chế cổ truyền đó tự chúng có thể đã chứa nhiều trí năng (wisdom) hơn là khả năng của bất kỳ một cá nhân nào.

Burke cảm thấy khủng khiếp khi nghĩ đến việc người ta có thể dùng những lý luận trừu tượng để quét sạch những định chế mà đã tồn tại từ nhiều trăm năm. Ông không chống cải cách, nhưng ông tin rằng cải cách phải thực thi một cách tiệm tiến. Ta không tìm cách thay đổi những bản chất căn bản của một định chế, ta phải tìm cách thay đổi nó từ bên trong, giữ lấy những phần tốt và loại bỏ những phần bị hư hỏng.

Ðó là lý do Burke chống gay gắt cuộc cách mạng Pháp. Theo Burke nếu ta tìm cách thay đổi xã hội trên cơ sở của những kế hoạch trừu tượng thì cuối cùng ta chỉ gặt hái được những khó khăn mới vì xã hội là một thực thể phức tạp hơn là lý trí của ta có thể suy đoán được. Nếu bắt đầu từ số không trở lại, ta không bao giờ làm được cái gì đúng.

Burke ủng hộ cuộc cách mạng Mỹ vì ông coi nó như là khác với cuộc cách mạng Pháp. Ông cho rằng Quốc Hội Anh đã chà đạp lên một cách vô lý những quyền tự do truyền thống mà những người dân định cư tại Mỹ vốn vẫn được hưởng. Thành ra cuộc cách mạng Mỹ là một cố gắng của người dân Mỹ bảo tồn những cái gì họ có sẵn.

Thế nhưng cuộc cách mạng Mỹ không hoàn toàn có tính cách một cuộc phục cổ như Burke nhận xét. Trong tiến trình bảo vệ những truyền thống cũ, những bậc cha già của dân tộc Mỹ cũng tạo ra một cái gì mới. Và những mâu thuẫn giữa hai hệ phái Khai Sáng Anh và Pháp cũng được thể hiện qua những tranh cãi ngay từ khi Hoa Kỳ mới lập quốc giữa Alexander Hamilton và Thomas Jefferson và còn kéo dài cho đến ngày nay.

Nhưng vào lúc này nếu ta nhìn vào chính trị Mỹ, ta thấy về phía hữu, những người tự gọi là bảo thủ cực đoan lên tiếng muốn xóa bỏ trên 100 năm lịch sử và đưa chính quyền Liên Bang trở về tình trạng của thời nước Mỹ còn là một nước nông nghiệp. Còn về phía tả, ta thấy những người tự gọi là khai phóng (liberal) đặt hết tin tưởng vào khả năng của những quan chức chính phủ trong việc dùng lý trí và suy luận để tái tổ chức và kiểm soát những hệ thống phức tạp. Các nhà tranh luận cả ở phía tả và phía hữu đều dùng những lý luận trừu tượng nhiễm đầy ý thức hệ không khác gì những cuộc tranh luận của những phe phái như Jacobins hoặc Girondin trong thời cách mạng Pháp.

Những tư tưởng của những người trong hệ phái Khai Sáng Anh đang dần lùi bước. Nhưng những nhà tư tưởng Anh đã nắm đúng hơn bản chất con người. Cuộc cách mạng Pháp kết thúc bằng cuộc phản cách mạng của Napoleon. Mong rằng những tranh cãi ý thức hệ hiện nay của Mỹ chỉ là một giai đoạn tạm thời và chính trị Mỹ sớm trở lại một tình trạng cân đối và tiệm tiến như trước.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Tản mạn về BIA

Nguyễn Ý Đức



Lại một tình cờ đã đưa tới sự khám phá ra cách chế biến món nước “Tinh Thần”, uống cho tới tận cùng say xỉn này. Truyền thuyết kể lại là cách đây trên mươi ngàn năm, một cô bé đang ăn miếng bánh mì khô uống với ly nước lạnh, thì có bạn gọi đi chơi trò nhẩy dây. Cô ta ném miếng bánh vào ly nước, để trên mặt bàn rồi chạy ra ngoài.
Đó là miếng bánh cũ bỏ quên trong cặp sách đã lâu, có bám bụi xanh.
Mấy ngày sau bà mẹ dọn bàn thấy ly nước trong trong, có mùi thơm thơm. Đang khát nước, bà bèn uống. Một lúc sau cảm thấy trong người sảng khoái, lên tinh thần. Bà khoe với ông chồng và ngỏ ý muốn có thêm. Chiều vợ, ông chồng làm nước đó cho vợ và gia đình. Lối xóm bắt chước và thiên hạ cũng làm theo. Thế là Bia ra đời.
Anh ngữ gọi là Beer, Pháp ngữ là Biere từ chữ Latin “Bibere” nghĩa là "Uống".
Người Việt ta phiên âm là LA DE từ chữ La Biere cho tiện việc sổ sách.
Tiếng Đức, Baere từ chữ Barley là loại lúa mạch dùng nhiều nhất để làm la de.
Trung hoa gọi bia là Ty tửu vì có ít ethanol.

Theo các nhà khảo cổ, thì la de được dân chúng thành phố Babylon chế ra đầu tiên một cách khá quy mô, cách đây trên 6000 năm. Họ ngâm nước cho hạt lúa mạch lên mốc xanh, nghiền nát, trộn với nước, để dăm ngày rồi uống. Khi đó, la de rất được dân chúng ưa thích, mà khả năng biến chế giới hạn nên các Lãnh Chúa bèn đặt chế độ khẩu phần. Dân lao động chỉ được mỗi ngày hai lít, công nhân viên nhà nước ba lít, quan chức cao cấp và quý ngài tu sĩ năm lít.
Từ Ai Cập, la de lan tràn ra các nước khác và được phổ thông trước khi nho được trồng làm rượu vang, vào thời kỳ đế quốc La Mã. Con dân đế quốc coi la de như thứ nước uống của người man di, còn họ uống thứ nước dành cho Thần Linh, ấy là rượu vang.
Cũng nên nhắc là việc nấu la de, theo luật đời xưa, là việc làm của nữ giới. Đến sau Thiên Chúa giáng sinh thì la de được đưa vào thị trường thương mại, ai mua cũng được.
Chuyện này cũng có lý do. Vì đã có một thời kỳ, làm la de được các tu viện hầu như dành quyền ưu tiên chế biến và là nguồn lợi tức đáng kể cho cơ sở tôn giáo. Ngoài lợi tức, các tu sĩ còn muốn tự do dùng la de chung với thực phẩm ngon mà họ được cung cấp. Đồng thời la de không bị cấm trong thời gian ăn chay, nên các ngài tự do dùng và mỗi tu sĩ được chia tới 5 lít một ngày.
Chỉ sau thời kỳ Cải Cách giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã, đưa đến sự thành lập các giáo hội Tin Lành vào thế kỷ 16, sự ưu đãi độc quyền làm bia này cho tu viện mới được bãi bỏ. Bia được các nhà sản xuất thương mại trách nhiệm.
Nhưng phải công nhận là nhờ kiến thức của các tu sĩ mà kỹ nghệ làm bia tiến bộ rất nhiều, từ việc một miếng bánh rơi vào ly nước tới những máy móc, tuy thô sơ, nhưng mau lẹ, làm được nhiều lại an toàn vệ sinh, có phẩm chất ngon hơn.
Kỹ nghệ sản xuất bia thực sự cải thiện vào đầu thế kỷ thứ 19 với sự sáng chế ra máy hơi của James Watt và hệ thống làm lạnh của Carl von Linde. Trước đó, bia thường được làm vào mùa Đông, thuận tiện cho sự lên men của bánh. Từ khi khám phá ra hệ thống làm lạnh, bia được sản xuất quanh năm. Đầu máy hơi nước của James Watt giúp sự sản xuất bia từng loạt với số lượng nhiều hơn.
Trong việc làm bia, nhà bác học Pháp Louis Pasteur cũng cống hiến một khám phá quan trọng: Đó là sự tìm ra những nấm lên men mà ông đã trình bày trong nghiên cứu tựa đề “ Etude de la Bierre”, vào năm 1876. Nhờ khám phá này mà ngày nay ta đã nuôi được men và dùng rộng rãi trong kỹ nghệ làm bia và rượu vang.
Một khoa học gia khác người Đan Mạch, Christian Hansen, đã thành công trong việc tách một thứ nấm, trồng trong dung môi dinh dưỡng và dùng hàng loạt vào việc lên men lúa mạch để làm bia.
Làm bia.
Muốn có một lon bia, ta cần bốn vật liệu chính yếu: Nước, ngũ cốc, men và cây Hoa Bia (Hop= Houblon).
a-Ngũ cốc
Bia có thể được làm từ gạo (Việt Nam,Trung Hoa Nhật Bản), ngô (Thổ dân American Indian), mì ( Đức wheat), lúa mạch đen ( Nga, ryes) yến mạch ( Oats) nhưng thông thường nhất vẫn là bằng hạt lúa mạch ( Barley) rồi đến lúa mì. Ngô và gạo cho loại bia kém phẩm chất.
Lúa mạch có nguồn gốc từ Châu Á và Ethiopia và là loại ngũ cốc được sản xuất đứng hàng thứ tư sau lúa mì, gạo và ngô. Lúa mạch có lượng carbohydrates khá cao, tới 67% và 13% chất đạm.
Trước hết, mạch được ngâm trong nước độ một tuần cho nẩy mầm đồng thời tinh bột của mạch được chuyển hóa thành đường maltose. Sau đó mạch có mầm được đun chín rồi sấy khô, say khỏi vỏ rồi ngâm trong nước nóng. Đường trong mạch sẽ hòa vào nước cho một dung dịch có vị ngọt.
Dung dịch này được đun sôi khoảng hai giờ để diệt hết vi khuẩn. Đây là lúc mà Hoa Bia được thêm vào để tạo ra vị đắng cho bia.
b-Hoa bia
Houblon là loại cây leo có hoa mọc thành từng chùm. Hoa được sấy khô để tạo vị đắng cho bia. Đun càng lâu thì chất đắng của hoa bia càng tan nhiều trong nước, bia sẽ đắng hơn.
Nghiên cứu ở Mỹ cho biết cây Hoa Bia có chất chống oxy hóa Antioxidant Prenylated Flavonoids rất tốt để giúp cơ thể giảm nguy cơ bị các bệnh tim, ung thư, sa sút trí tuệ và cao cholesterol.
Dung dịch được để nguội, vớt hết lá hoa bia và cặn bã ra rồi men được thêm vào.
c-Men
Men bia là những nấm nhỏ li ti có khả năng chuyển đổi tinh bột ra đường. Nấm có nhiều trong thiên nhiên.
Hai loại men thường dùng trong kỹ nghệ bia là Sacchromyces cerevisiae nổi lên mặt dung dịch và loại Saccharomyces uvarum, chìm dưới đáy. Mươi ngày sau men sẽ chuyển hóa hầu hết đường maltose và lúc đó ta đã có một lon bia.
Nhưng chưa đủ, muốn có hơi sủi bọt, bia được chuyển vào một bình điều hòa để lên men lần thứ hai và có hơi carbonates.Vì còn vẩn đục, nên bia được lọc.
Bia vô lon hoặc chai được đun nóng (Pasteurized) để diệt hết các vi khuẩn còn sót và để chặn sự lên men.


Draft bia không đun nóng nhưng phải giữ ở nhiệt độ lạnh cho tới khi dùng để bia thôi lên men. Uống ngay sau khi sản xuất, Draft bia ngon hơn vì trong khi chuyên trở đi xa, sự thay đổi nhiệt chung quanh ảnh hưởng tới phẩm chất của bia.
đ-Nước
Nước dùng để làm bia cũng rất quan trọng. Nước có nhiều khoáng chất thì bia đắng hơn là nước có ít khoáng chất.
Beer cũng như rượu vang có từ 2-6% Ethanol trong khi đó rượu mạnh như wisky, gin, vodka có tới 45-50% ethanol.
Một vài loại bia
Như đã nói ở trên, bia có thể làm từ lúa mì, ngô, gạo nhưng lúa mạch thường được dùng nhiếu nhất.
Ngay cả làm từ lúa mạch, bia cũng có nhiều loại tùy theo men nổi hay chìm, nhiệt độ và thời gian để mạch lên men, số lượng Hoa bia, thời gian và nhiệt độ nơi cất giữ bia. Theo luật, bia không được có quá 5% chất rượu ethanol.
-Ale nặng hơn beer và dùng men nổi mà beer thì dùng men chìm dưới đáy.
-Bitter là la de có nhiều Hoa bia nên đắng hơn và được dân Anh rất thích.
-Lager cũng là la de nhẹ, mầu lạt, rất phổ thông bên Đức.
-Malt liquor mạnh hơn beer.
-Shandy là hỗn hợp beer với nước chanh (lemonade) hoặc ginger beer)
-Sake của Nhật được chế từ gạo, có nồng độ ethanol từ 14-%, nên thường được gọi là rượu gạo rice wine. Nhưng thực ra sake là một loại beer vì cũng được làm bằng sự lên men của gạo. Sake không có mầu, không có hơi, hâm nóng uống ngon hơn, trong khi đó beer phải uống lạnh mới đã.
Dinh dưỡng
Về phương diện ăn uống, ngoài nước, bia có một số lượng các chất dinh dưỡng rất khiêm nhường vì đa số đã bị tiêu hủy trong quá trình chế biến.
Một ly 360 cc (12 Oz) cho 140 calories mà 60% là do chất rượu ethyl alcohol của bia; 17mg calcium; 28mg magnesium; 40mg phosphore; 85mg potassium; rất ít Zinc, sinh tố B.
Các chất đạm, chất béo, sinh tố C và sinh tố hòa tan trong chất béo đều có rất ít nên bia được nhiều người coi như chẳng bổ dưỡng gì ngoài một số calories. Chẳng thế mà bác sĩ David Williams của đại học Wales, Anh Quốc đã cổ võ là trong chương trình giảm béo, nên uống nửa lít bia một ngày vì bia có tới 93% là nước lã, không đường, không chất béo.
Bia còn giữ hương vị thơm ngon nếu tiêu thụ trong vòng hai tháng sau khi làm, do đó không nên mua tích trữ quá nhiều và quá lâu. Cất bia ở chỗ mát, không có ánh nắng mặt trời để bia khỏi lên mùi.
Ly để uống bia cần sạch, không vết mỡ vì mỡ làm bia hết bọt.
Cũng không nên uống bia quá lạnh vì nhiệt độ thấp làm giảm mùi thơm của bia.
Bia với Sức Khỏe
Trang báo Forbes ngày 17 tháng 3 năm 2008, tác giả Allison Van Dusen có nêu ra 8 lý do lành mạnh để uống bia, căn cứ vào một số nghiên cứu khoa học. Đó là từ 30-35% ít bị heart attack, tăng chất béo lành HDL, giảm rủi ro máu cục, giảm hóa già, bảo vệ khỏi tử vong vì bệnh tim mạch, tăng trí tuệ giảm Alzheimer, giúp xương chắc mạnh, giảm biến chứng tiểu đưởng.
Nhưng Allison nhấn mạnh ở chữ vứa phải moderation. Vừa phải là 240 cc, ngày hai lần, quý bà thỉ chỉ ½ mà thôi.
Lưu ý là uống bia mãn ngày mãn tháng, lon trước rước lon sau thì hậu quả tai hại cũng nhiều. Chẳng hạn như trở thành bét nhè nghiện rượu, xơ cúng ung thư gan, ung thư miệng…Ấy là chưa kế phá rối an ninh trật tự công công khi say xỉn, gây gổ hận thù, than chủ thường xuyên của khám nhỏ khám lớn. Ngoài ra, có nghiên cứu cho là uống vài ly bia/ngày có thể tăng rủi ro ung như nhũ hoa nữ giới.
Thành ra bia không phài là tốt cho mọi người.
Như giáo sư Charlie Bamforth, Đại học California ở Davis, nhắc nhở là không nên coi bia như một dược phẩm. Uống bia vì ý thích nhưng vừa phải là điều cần nhớ.

Tác giả : Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Trần truồng

Trịnh Hội
Tôi thường nghe đi xa là để mở mắt nhưng chưa bao giờ trong đời tôi đã mở mắt lớn đến như trong cuối tuần vừa qua khi lần đầu tiên tôi chứng kiến một cảnh trần truồng xảy ra ngay trước mặt mình tại một nơi công cộng.

Số là đêm Thứ Bảy tuần trước, trước khi trở về lại Phi Châu làm việc, tôi và 2 người bạn mới quen đã rủ nhau ra bãi biển Barceloneta cùng ăn tối và sau đó là đi bar trước khi nói lời chia tay từ giã. Ăn tối xong lúc ấy đã gần 12 giờ khuya nhưng trên bãi biển vẫn còn tấp nập người qua lại. Già, trẻ, bé, lớn có đủ. Hình như ở Tây Ban Nha người ta chỉ đi ngủ vào ban ngày chứ không phải ban đêm. Vì từ lúc tôi đến đây cho đến nay, đêm nào, ở thành phố nào tôi cũng thấy nghẹt người vào giờ này không thấy ai chịu đi ngủ.

Thấy có một quán bar open space rộng thoáng mát có khá đông khách lại nằm ngay trên bãi cát sát cạnh mặt nước, chúng tôi đã quyết định ghé vào uống nhâm nhi một vài ly cocktail trước khi đi tiếp. Vừa ngồi xuống thì tôi cũng để ý thấy có một nhóm trai gái khoảng 10 người đang ngồi trò chuyện trên bãi biển gần cạnh. Họ cũng trạc tuổi chúng tôi và trông như đang có vẻ háo hức mong đợi một điều gì đó sẽ xảy ra trong chốc lát.

Mà đúng vậy. Vài phút sau chúng tôi đã nghe nhạc trỗi lên. Những điệu nhạc latin đầy sức sống gợi cảm không thể nào nhầm lẫn được. Và trong tiếng vỗ tay huýt sáo của nhóm trẻ, từ bên trong quầy bar bỗng xuất hiện một vũ nữ trong bộ quần áo... thiếu vải đang từ từ bước ra đứng giữa vòng tròn nhún nhảy theo điệu nhạc.

À! Thì ra chúng tôi sắp sửa được xem một màn vũ sexy striptease ngay trước mặt mình mà không cần phải đi vào club dành riêng cho đàn ông như... những lần trước! Chắc có lẽ có một anh nào trong nhóm sắp sửa phải lấy vợ và đêm nay là đêm anh được bạn bè ‘đãi’ mà tiếng Anh thường được gọi là ‘buck's night’ hay bachelor party. Ai đã có xem qua phim hài nổi tiếng ‘The Hangover’ trong hè vừa qua sẽ biết rất rõ tôi đang nói gì.

Lúc ấy tôi cứ nghĩ trong bụng. Ừ. Cũng lạ đó chứ. Lần đầu tiên không cần vé vào cửa tôi sẽ chứng kiến được một màn trình diễn striptease ngay tại một nơi công cộng. Tôi đoán chắc là người vũ nữ cũng như phần lớn dân chúng ở Barcelona sẽ cảm thấy rất thoải mái tự động cởi áo ngực như nhiều người con gái khác mỗi ngày nằm tắm nắng trên bãi biển. Ở Úc điều này được cho là thường tình nên tôi cũng không thấy ngạc nhiên gì cho lắm.

Sau khi ưỡn ẹo làm một vài động tác đùa nghịch với áo ngực đúng theo thể thức của một striptease, cuối cùng người vũ nữ đã cởi bỏ áo theo đúng như mong đợi. Một tràng huýt sáo được kéo dài và tiếp sau đó là những tràng cười thoải mái của những cô gái trong nhóm. Ðây cũng là một sự khác lạ vì thường chỉ có đàn ông con trai mới tham gia vào những trò chơi như thế này.

Nhưng không. Ðây là Tây Ban Nha. Họ khác. Tôi đã nghĩ thế và cũng đoán là màn trình diễn sắp chấm dứt vì bài hát sắp hết và mọi người đã bắt đầu vỗ tay khen ngợi người vũ nữ đang từ từ múa chậm lại.

Nhưng vũ điệu latin vừa chấm dứt thì một dòng nhạc mới với cường điệu mạnh hơn đã dồn dập vang lên trong tiếng la ó của mọi người. Người vũ nữ thay vì phải bước vào bên trong nay đã thay đổi thái độ và bắt đầu uốn éo thân mình ra dấu với những động tác gợi cảm hơn cả lúc trước.

Chả lẽ cô ta sẽ cởi luôn để cho cả người trần truồng? Ngay tại bãi biển này là một nơi công cộng? Nooooooooooo. Không thể nào chuyện ấy sẽ xảy ra. Cảnh sát sẽ bắt cô ta ngay. Luật lệ sẽ không thể nào cho phép cô ta làm vậy.

Nhưng chỉ cần vài phút sau là tôi đã được chứng minh rõ ràng là tôi sai. Sai hoàn toàn. Vì không những cô ta đã cởi luôn những gì còn lại trên người của cô mà không may cho anh chàng độc thân sắp lấy vợ chính anh cũng bị đám bạn và cô vũ nữ bắt đứng lên nhảy múa với cô để rồi sau đó bị... cởi luôn.

Thật là hết sức tưởng tượng. Tưởng là mình đã đi nhiều, thấy nhiều nhưng đến đêm hôm Thứ Bảy tuần rồi tôi mới nhận thức ra được rằng còn rất nhiều điều tôi chưa thấy!

Sau khi màn trình diễn chấm dứt tôi đã hỏi người hầu bàn về vấn đề này thì anh cho biết thật ra những gì tôi vừa chứng kiến cũng là điều bình thường vì luật ở Barcelona cho phép mọi người trần truồng. Ai muốn cởi cứ tự nhiên cởi. Ðàn ông lẫn đàn bà. Ở bất cứ nơi nào.

Nhưng. Luật bắt buộc - ngoại trừ ở bãi biển - còn nếu như ở trong các khu trung tâm công cộng hoặc trên đường phố thì một khi quyết định cởi là bạn phải cởi hết. Không còn mặc bất cứ cái gì trên người. Còn nếu không thì phải mặc cả quần lẫn áo đầy đủ. Cho cả đàn ông lẫn đàn bà.

Bởi vậy trong suốt một tuần ở Barcelona tôi hoàn toàn không thấy một anh nào ở trần ngoài đường. Hoặc thỉnh thoảng lại chỉ thấy những người trần như nhộng.

Thế mới thấy đi là để mở mắt phải không bạn?

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Chén Trà

Buổi sáng yên tĩnh, tôi ngồi với chén trà, đọc một trang trà đạo. Trang sách dẫn tôi vào một trà thất truyền thống cạnh một ngôi chùa nhỏ bên xứ Phù Tang.
Đường vào trà thất là một lối đi nhỏ, thoai thoải uốn khúc giữa một khu vườn, trước mặt là đồi núi. Khu vườn xinh xắn, đơn giản. Một dòng nước róc rách chảy ngược chân khách, rêu phủ trên đá, hoa dại lác đác mọc ven bờ.
Trà thất cũng đơn giản một am tranh, nhỏ vừa bằng nơi trú của một ẩn sĩ. Khách bước đến trước một bể nước, nước từ ống tre chảy xuống. Khách rửa tay, súc miệng, làm một cử chỉ tượng trưng, như rửa sạch thân ý trước khi bước vào nhà.

Cửa nhà chỉ một liếp, mở ra dọc theo vách. Khách phải cúi xuống tận nền để bước vào. Vào nhà, trước mặt là một gian phòng nhỏ trang hoàng độc nhất bằng một bức thư pháp, trên đó thảo một bài thơ. Thêm một bình hoa, giản dị, hoa chọn theo mùa, lúc đó là hoa xuân. Ánh sáng lọc qua khe cửa, mờ ảo, vừa đủ để làm ấm thêm màu vách vốn đã ấm. Khách ngồi xuống chiếu, nghe nước reo sôi từ ấm thiếc và chim ríu rít bên ngoài. Cảnh lặng yên, khách cũng lặng yên.
Chủ nhân hiện ra. Quỳ gối, ông che quạt trước mặt, cúi xuống tận đất, chào khách. Khách chào trả. Chủ quay chân bước ra khỏi phòng rồi đi vào với dụng cụ pha trà.
Tay trái cầm chéo khăn lụa, ông vuốt một đường khăn bằng tay phải, gọn gàng xếp khăn thành ba.
Lần theo cuối khăn, ông kéo các góc lại với nhau, xếp thành ba lần nữa. Với khăn xếp như thế, ông lau từng dụng cụ, lau một cách tượng trưng vì đồ vật đều đã sạch nhẵn. Tỉ mỉ, nghi thức, ông tráng các chén trà bằng nước nóng trong ấm thiếc, nhúng một thẻ tre vào nước, quan sát, rồi đặt xuống bên cạnh. Xong, ông rót nước nóng vào bình trà trước khi lau bình với một chiếc khăn ướt.
Quay lại khách, ông mời một viên kẹo ngọt. Khách nhắm kẹo trong lúc chủ nhân sửa soạn ấm trà. Long trọng, ông mở hộp trà, đong trà bằng một cái thìa tre, cho trà vào ấm. Nhúng một cái muỗng có cán thật dài vào ấm thiếc, ông chế nước nóng vào trà. Xong, với một thẻ tre, ông khuấy trà cho hết bọt.
Quay lại, ông đặt một chén trà trước mặt khách, xoay phần đẹp nhất của chén về phía khách. Khách nâng chén, đưa chén đến gần, cầm chén trong lòng bàn tay, cúi chào chén trà. nhấm vài ngụm nhỏ, rồi uống thật to phần trà cuối chén mà người Nhật cho là phần ngon nhất.
Cạn chén trà, khách xoay chén vào đúng vị trí cũ, đặt chén xuống nền nhà, trước mặt, cúi chào chén.
Chủ nhân cầm chén, rửa chén bằng nước nóng, trả chén về lại cho khách để khách quan sát, ngắm nghía chén trà gia bảo, không đâu khác có.
Ngắm nghía như vậy là một phần lễ nghi quan trọng trong buổi uống trà. Mỗi dụng cụ đều được chủ nhân đem ra dùng đặc biệt cho khách. Khách thong thả ngắm, thưởng thức vẻ đẹp, rồi trả lại cho chủ. Chủ bưng tất cả vào phòng trong, rồi trở lui, đứng trước mặt khách. Buổi uống trà chấm dứt như lúc bắt đầu. Chủ đặt cây quạt xuống đất trước mặt, cúi đầu.
Khách cúi đầu đáp lễ. Chủ rút lui vào trong.
Khách rời con đường nhỏ, quanh co xuống dốc, xuyên qua khu vườn. Tiếng ồn ào của thành phố dần dần vẳng lại, càng lúc càng rộn.
Trà đạo là gì? Là nghi lễ tương tự như nghi lễ tôn giáo? Là sự tương thông tương giao giữa chủ và khách?
Là một nghệ thuật phi nghệ thuật? Tôi được giải thích rằng chén trà trong trà thất diễn tả wabi và sabi trong nghệ thuật thiền của Nhật. Wabi là một cảm giác cô đơn, buồn vời vợi, lặng lẽ như một bông tuyết rơi. Sabi là vẻ đẹp đến từ cái gì xưa cũ, phai mòn, già cỗi với thời gian. Chén trà trong trà thất không phải là đồ quý, đồ sang, đắt tiền, thường là thô, lắm khi chỉ là một cái chén đơn sơ. Wabi- sabi là vẻ đẹp của những đồ vật không hoàn hảo, tầm thường, khiêm tốn, chỉ có mắt nào biết nhìn mới thấy đẹp.
Và thấy rồi thì trong lòng nảy ra hoài cảm, vấn vương với quá khứ, bâng khuâng trước chuyển dịch của thời gian, của vạn vật vô thường. Ấm trà, chén trà, mái nhà, gian phòng, từng cử chỉ của chủ nhân... tất cả gợi lên cảm giác đó, tất cả tỏa ra hơi thở của nghệ thuật thiền.
Nhưng trên tất cả, tinh túy của tinh túy, là bản chất đơn sơ của mọi sự vật, đơn sơ đến độ như không vướng mắc vào bất cứ một cái gì, như không có gì, như chỉ duy nhất tầm thường có thế thôi. Mỗi chén trà tự nó là mỗi chén trà, nhìn nó như một chén trà, ngoài ra mọi chuyện khác hãy tự bay đi, biến mất.
Nhìn chén trà như vậy mới thấy nó hiện ra như một chén trà, với vẻ đẹp đơn sơ của nó. Không có gì khác ngoài nó, không có gì khác ngoài giây phút hiện tại, sự thực vốn đơn sơ như chẳng có gì để nói, như sự lặng yên nơi mỗi cử chỉ của chủ nhân, như thế đấy sự vật hiện ra trước mắt, lặng yên mà nhìn, mà thấy, mà hiểu, mà cúi đầu.
Tôi có cảm tưởng hiểu được tinh túy của nghệ thuật trà đạo ở Nhật. Uống trà không phải là uống chén trà mà uống cái đẹp giản dị, sơ khôi, thể hiện qua cách pha trà, mời trà.
Tôi thán phục văn hóa thiền đã đi sâu vào đời sống của dân tộc bạn. Nhưng, không hiểu sao, tôi vẫn chưa muốn vào trà thất, tôi sợ tôi vẫn chỉ là người khách xa lạ trước một chủ nhân trịnh trọng. Tôi sợ lễ nghi, cung cách. Lễ nghi lắm khi giết chết lễ nghi.
Tôi thích uống trà theo phong cách Việt Nam, uống trà như tôi thường uống với các sư trong chùa. Khách đến, bình thủy của chùa như lúc nào cũng có nước nóng, như lúc nào cũng vui được hồn nhiên tiếp khách. Sư vừa tiếp chuyện vừa chế trà, thản nhiên nhưng vẫn chăm chút trong từng cử chỉ.
Khách cũng vậy, hồn nhiên uống trà, không kiểu cách, ngụm trà thơm ngon trong miệng, nhưng không cảm ơn chén trà, mà chắc chén trà cũng không đòi cúi đầu cảm ơn. Cả cái sân chùa cũng không đòi cảm ơn, tuy khách uống trà ở chùa là uống cả cái sân chùa. Ở Việt Nam không có thiền trà chăng?
Đâu phải! Cứ lên chùa uống trà thì biết: chén trà ở chùa vẫn khác. Không kiểu cách mà vẫn khác. Không lễ nghi mà khách vẫn nâng chén trà thận trọng khác thường ngày. Chưa kể, lúc được song ẩm với sư, chén trà chỉ còn là hương thơm.
Vậy thì nghệ thuật uống trà ở chùa là thế nào? Có gì là nghệ thuật trong đó chăng?
Giữa lễ nghi của trà thất ở Nhật và cái phong cách chẳng có gì là lễ nghi cả ở trong chùa, có chỗ nào gặp nhau không? Miên man, tôi nghĩ là có. Gặp nhau ở chỗ đơn sơ. Đơn sơ ở trong chùa thì dễ thấy. Đơn sơ như cái hồn diễn đạt qua cả một cung cách lễ nghi như trong trà đạo thì khó nhận ra hơn, nhưng ở đâu cũng vậy thôi, uống trà là để hòa, để kính, để tịnh, để tịch với thiên nhiên, với người trước mặt, với đồ vật chung quanh, với chén trà.
Nghệ thuật nằm ở chỗ ấy: đơn sơ nào cũng cần có chút lễ nghi, nhưng tinh túy của lễ nghi là đơn sơ.
Tôi thích câu chuyện này, của một thiền sư người Mỹ kể về thầy của mình, một thiền sư người Nhật. Một hôm, ông đến phi trường New York đón thầy. Máy bay đến trễ, giờ uống trà buổi sáng đã qua, trò tỏ ý tiếc. Thầy nói: "Đâu có trễ! Vào đây!".
Thầy trò đưa nhau vào quán ăn trong sân bay, đầy nhóc người. Trò hoảng hồn, chẳng lẽ thầy làm trà đạo ở đây? Thầy trò ngồi vào bàn. Thầy thản nhiên rút trong tay nải ra một hộp trà, mở hộp, tìm cái thìa tre, đong đầy một thìa trà, bảo trò há miệng ra, thảy trà vào miệng, kẹp miệng trò lại với hai ngón tay, ra lệnh: "Pha nước vào!".
Dạy bài học đơn sơ của trà đạo đến mức đó thì tuyệt chiêu. Đơn sơ là tinh túy của thiền.
Tôi nhớ đến câu chuyện đó một buổi sáng sớm trên núi Yên Tử, cuối thu vừa qua. Tôi đến Yên Tử lúc bốn giờ chiều, không biết rằng cáp treo đã hỏng. Ai cũng nghĩ sức tôi không leo lên núi được, trời lại chiều, đêm sắp xuống. Nhưng đến Yên Tử mà không leo lên thì có lỗi với tổ tiên, nên phải leo thôi. Hai giờ sau, giữa bóng đêm, chúng tôi lên đến nửa núi, vào thắp hương trong chùa Hoa Yên, nơi vua Trần Nhân Tông đến tu.
Ngủ lại đêm trong quán trọ lưng chừng núi, sáng tinh sương hôm sau chúng tôi thức dậy với mây hồng phớt nhẹ trên núi non hùng vĩ. Như phản xạ, tôi thèm quá một chén trà. Nhưng trà đâu, bình đâu? May quá, đồng hành với tôi là một ông sư trẻ, mà, như một chân lý bất diệt, ở đâu có sư thì ở đấy có trà.
Cho nên, sư thoắt đi rồi sư thoắt về với một ấm trà và vài cái chén trong tay. Giữa vũ trụ lặng yên bước chân thầm của lịch sử, mấy cái chén trà, đặt trên gạch đá, trước cây đại xưa bảy trăm năm, trong sương thu se lạnh, mang đến một không khí wabi-sabi mà tôi chỉ biết trong tưởng tượng. Tôi tưởng như nghe bước chân của Vua một mình leo lên Hoa Yên này đây, vứt quyền hành dưới chân núi. Thốt nhiên, tôi muốn dâng chén trà trong tay cho núi non Yên Tử. Thốt nhiên, tôi cảm thấy sự cần thiết thôi thúc của một lễ nghi. Tôi cúi đầu trước chén trà.
Có lẽ thầy Pháp Trí bên cạnh tôi cũng rúng động một tâm trạng như tôi lúc đó. Có lẽ, đứng trước khí thiêng sông núi, ai cũng có xúc động như tôi.
Nhưng, phút cảm động đi qua, chúng tôi trở lại với ấm trà bình thường, quen thuộc trong chùa.
Vui vẻ, tôi uống cạn chén trà, uống một hơi thật to khi cạn chén, tuy trà hẩm, nước hẩm. Rồi nghĩ: như vậy là may lắm rồi, vì ông sư trẻ đồng hành này không há miệng tôi ra, thảy vào đấy một muỗng trà khô.

Cao Huy Thuần.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Một anh giàu có... có 4 bà vợ.

#4/ Ông yêu người vợ thứ tư nhất, luôn mua sắm cho bà ta những bộ đồ sang trọng đắt tiền. Ông nâng niu chiều chuộng, coi người vợ thứ tư như một món đồ trang sức quý.

#3/ Ông cũng rất yêu người vợ thứ ba. Ông tự hào về người vợ này và luôn muốn “khoe” vợ với bạn bè. Tuy nhiên, trong ông luôn thường trực nỗi lo sợ bà bỏ đi với người đàn ông khác.

#2/ Ông cũng yêu người vợ thứ hai. Ông coi bà như người bạn tâm tình, người giúp ông vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Bất cứ khi nào gặp khúc mắc, ông đều tìm đến bà.

#1/ Người vợ thứ nhất lại là người rất chân thành, chung thủy, luôn kề vai sát cánh bên ông lo toan chu đáo chuyện gia đình. Tuy nhiên, ông lại không yêu bà vợ thứ nhất. Mặc dù bà rất yêu ông, ông hầu như chẳng bao giờ chú ý đến bà.




Một ngày, ông ngã bệnh. Ông tự biết rằng mình sắp từ giã cõi trần. Ông nghĩ về cuộc sống giàu sang xa hoa và tự nhủ: “Hiện mình có 4 bà vợ. Nhưng khi mình chết, lại chỉ có một mình. Thật cô đơn làm sao!”

#4/ Ông ta hỏi bà vợ thứ tư: “Tôi yêu mình nhất, luôn dành cho mình sự quan tâm đặc biệt và những điều tốt đẹp nhất. Tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa, liệu khi tôi chết, mình có nguyện đi theo tôi không?”
“Không đâu” - Bà vợ thứ tư đáp lại và bước đi. Câu trả lời như một nhát dao cứa vào.

#3/ Ông ta hỏi bà vợ thứ ba: “Tôi yêu bà nhiều lắm, tôi sắp chết rồi, bà có nguyện theo tôi không?”
“Không, cuộc sống vẫn đang đẹp mà. Sau khi ông chết, tôi sẽ tái hôn”. Trái tim ông run lên đau đớn.

#2/ Ông ta hỏi bà vợ thứ hai: “Bất cứ khi nào gặp vấn đề khó khăn rắc rối gì tôi cũng đều tìm đến bà. Bây giờ tôi xin bà hãy kề vai sát cánh cùng tôi lần cuối cùng. Khi tôi chết, bà có nguyện đi theo tôi không?”
Bà vợ thứ hai trả lời: “Xin lỗi, lúc này tôi không thể giúp ông được. Nếu có, tôi chỉ đưa linh cữu ông ra mộ thôi”. Ông nghe câu trả lời mà như sét đánh ngang tai. Ông thực sự quá đau đớn vì người mà ông nghĩ có thể tin tưởng nhất cũng bỏ rơi ông.

#1/ Bỗng có một giọng nói cất lên: “Tôi sẽ đi cùng ông, đi đến bất cứ nơi nào ông tới”. Ông dáo dác tìm kiếm chủ nhân của giọng nói và nhận ra đó chính là người vợ thứ nhất, người mà chẳng mấy khi ông để ý tới. Trông bà gầy và xanh xao quá. Rưng rưng xúc động, ông nói: “Ðáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn nữa”.


Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ.

#4/ Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết.

#3/ Còn bà vợ thứ ba? Ðó chính là của cải, địa vị... Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác.

#2/ Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi.

#1/ Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời. Tốt hơn hết là nuôi dưỡng tâm hồn ngay từ bây giờ, vì đó là “người” thân tín nhất bên ta. Ðừng để phải hối hận vì đã lãng quên nó.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Mùa Thu Cuộc Tình

Tiểu Tử




LGT: Tiểu Tử tên thật Võ Hoài Nam, sinh năm 1930 tại Gò Dầu Hạ (Tây Ninh). Sau khi tốt nghiệp trường kỹ sư Marseille (Pháp) năm 1955, ông về Việt Nam dạy trường Petrus Ký một năm rồi vào làm việc trong hãng dầu Shell Việt Nam từ năm 1956 cho đến ngày mất nước. Năm 1979, ông vượt biên rồi định cư ở Pháp.

Sau đó, ông qua Côte d'Ivoire (Phi Châu) làm việc cho Công ty Đường Mía của Pháp (1979-1982) và qua làm hãng dầu Shell Côte d'Ivoire cho đến lúc về hưu. Trước 1975, ông phụ trách mục biếm văn Trò Đời của nhật báo Tiến với bút hiệu Tiểu Tử, và tiếp tục dùng bút hiệu này kể từ sau 1975. Trong dịp trả lời phỏng vấn của Thư Viện Diên Hồng vào cuối năm 2007, ông cho biết, đã xuất bản tập truyện, Những Mảnh Vụn (2004), Bài Ca Vọng Cổ (2006), chuẩn bị tái bản tập truyện Những Mạnh Vụn và sẽ xuất bản cuốn thứ ba nhan đề Chị Tư Ù (xem chi tiết trang 41). Truyện của ông trong sáng, giản dị, gần gũi với đời sống đau đớn của người dân Miền Nam dưới chế độ VC kể từ sau 30-4- 1975, nên đọc truyện, ai cũng xúc động, không cầm được nước mắt. Ông viết văn bằng cả tấm lòng đôn hậu, thấm đượm đạo nghĩa của một người Việt yêu nước chống cộng, nên lời văn nhẹ nhàng, tha thiết, lay động nhân tâm, ngay cả với những người đã lầm đường lạc lối theo VC. Truyện ngắn vô cùng cảm động sau đây của ông sẽ cho quý độc giả thấy được những giá trị tuyệt vời, những hạnh phúc cao cả, những phần thưởng vô giá... trong đời sống vợ chồng, một khi hai người biết thuỷ chung yêu thương nhau, quý trọng nhau, trọn vẹn sống cho nhau...





Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị: một trái cà tô mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị! Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy. Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết "làm" một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…



Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố. Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là "đi chợ Tàu" chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương: những khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen!), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ… Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. "Chắc lá đã rụng đầy", ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ. Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur. Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa! Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây - năm sáu năm gì rồi - cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu... Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết: "Anh thường nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trước mắt để hướng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hướng về đâu hả em? Anh bỗng ứa nước mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả?" Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật người, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…

Image

Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nước mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm. Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những người giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi, bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình. Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than:
- Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy!

Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay người lại để nhìn sâu vào mắt:
- Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao?
Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến "cái ngày không còn có nhau" đó. Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, VC đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng "văn phạm Nhà Nước". Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được giấy nhập cảnh cho bà gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt… Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu! Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…


Image

Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một! Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ? Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức. Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy! "Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc! Vậy rồi thôi! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết!" Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ "Thôi! Đừng nghĩ tới nữa". Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…
Khi đi qua trước phòng gác gian, có tiếng gọi:
- Ông Georges! Ông Georges!
Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác gian bước ra trao cho ông một điện tín, nói:
- Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.
Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa: "Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai". Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe: "Đúng rồi! Bả được xuất cảnh rồi!"
Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng:
- Có sao không? Có chuyện gì không? Ông Georges?
Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh:
- Cám ơn bà! Cám ơn bà nhiều! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng! Quá tốt bụng! Cám ơn! Cám ơn!
Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang:
- Nhưng mà… Nhưng mà…"
Nửa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói với xuống:
- Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi! Cám ơn! Cám ơn nhiều!
Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hươu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi!

Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu "Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai". Đọc là hiểu ngay! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong.

Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng. Tội nghiệp! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả. Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm bận tâm ông. Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là "thằng Năm trúng số độc đắc" hoặc "đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy". Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương… Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá!

Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau! Mười năm… lâu lắm chớ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ! Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra. Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó! Coi vậy mà cũng nặng ớn! Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó "sáng" ra mới được.

Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy! Mà thiệt! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì! Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn "nét" lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai...

Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói! Tuy vậy, cũng phải "bỏ bụng" một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho "lấy có" và ăn cũng cho "lấy có". Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu "hai đứa gặp nhau" (những ngày đó, tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng!), ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi "hai đứa hẹn hò" (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó... Chao ôi! Đẹp quá! Dễ thương quá! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…

*
Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi. Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột. Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh:

- Georges! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nổi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ!
Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu. Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ.. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa:
- Ông chờ đón bạn à?
Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời:
- Không! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.
Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…



Lại nghĩ đến bà Năm. Bả "điệu" lắm! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả. Hà! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó đàng trời! Người ta nói bả có "gout". Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái "gout" để vào đâu cho nó nổi! Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu "Gái không con mà nom cũng mòn con mắt", nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn!

Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục "điệu" như thường! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có "tác phong cách mạng" thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng "Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi", bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn: "Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được"…

Image

Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngả văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France. Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ: "Ông Năm!" Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi:
- Ông Năm…
Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt: khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi! Là vợ tôi đây mà! Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng: "Mai!" Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng "Ông Năm!" như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt!

Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn: "Sao vầy nè?" Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết: "Sao vầy nè… Trời?" Tiếng "Trời" nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng: nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà "tụi nó" chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy!

Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói:
- Thôi mình về đi em!
Tiếng "em" thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng "em" mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa: to tròn như mắt đầm, tròng đen lay láy. Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu:
- Để em xách!
Tiếng "em" cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm… Ông vói tay cầm lấy quai túi:
- Để anh xách cho.
Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải:
- Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.
Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra "tụi nó" đày đọa bả đến nước đó! Bả tội gì? Tội gì? Tội vượt biên? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa? Vậy tội gì? Ông Năm nghiến cái căm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra:
- Quân khốn nạn!

Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói:

- Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không?
Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo:
- Gì không nổi? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.
Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này! Tội nghiệp! Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được!

Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh:
- Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.
Bà Năm dịu dàng:
- Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…
Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng "hai đứa" nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi: bây giờ "hai đứa" vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết: họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.

Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi:
- Cây thánh giá này đây?
Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu: cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng… Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá. Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh:
- Để em soạn đồ ra.
Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy! Ông thấy thương vợ vô cùng. Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn: vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ… Vừa làm bà vừa nói:
- Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.
Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm:
- Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.
Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.
Có tiếng bà Năm nói:
- Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.
Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn.. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tiềm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn… Chao ơi! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa.. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa!

Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sữa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răn, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt!

Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp! Mười năm xa quê hương… Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo:
- Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp phê đó.

Bà Năm nghi ngờ:
- Anh mà làm bếp cái nỗi gì? Mua ở tiệm thì có.
Ông Năm cười sảng khoái:
- Em lầm rồi! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe!
Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng. Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cán gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc. Ông vui vẻ:
- Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em?
Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng:
- Súp ngon chớ! Anh học nấu ở đâu vậy?
Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật:
- Hùm… Không nói đâu! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết!
Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…

Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra làm sao mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất. Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được. Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ: "Mình!" Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng "mình" nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều. Tiếng "mình" mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng "mình" gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng "mình" cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng "mình" ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến… Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng "mình" gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, thân xác gầy còm của vợ run lên như đang cơn sốt. Và tai ông còn nghe những tiếng "mình" đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…

Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ?

*
Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì… Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm lâu nay, bây giờ bà mới cho biết: hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. "Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa?" Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật! Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho "nhân dân". Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất!

Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mười năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…

Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.
Mùa thu đó, lá rụng thật nhiều.



Tiểu Tử

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hôm nay cáo phó sao nhiều quá!


Ở tuổi già, bạn bè thường nói với nhau: “Bây giờ chẳng ai mời đám cưới nữa mà toàn đi dự đám tang!” Ðây không hẳn là một câu nói trách móc ai mà chỉ là một lời “tri thiên mệnh.” Một ông bạn già còn phát biểu thêm: “Ði đám ma còn mất thời giờ hơn đi đám cưới!” Tôi đang còn ngạc nhiên vì chậm hiểu thì ông bạn lanh lẹ giải thích:

“Lần thứ nhất phải vào bệnh viện thăm, lần thứ hai phúng điếu tại nhà quàn, lần thứ ba đưa đám và lần thứ tư dự lễ thất tuần hay bách nhật!” Ðúng là một thằng cha chi ly, tính toán, nhưng chưa chừng thực tế, nếu chúng ta thân với hắn, chắc cũng phải đến với hắn đủ bốn lần, cho đúng với câu “nghĩa tử là nghĩa tận”.
Nhiều người sợ khi phải nói đến cái chết, tệ hơn là nói đến những dự định hay sửa soạn cho đám tang của mình, vì sợ xui xẻo, nhưng lại thích tưởng tượng chuyện trúng số độc đắc, bằng chứng là có nhiều người mua vé số hàng tuần vì hy vọng. Người mua vé số “có thể” trúng độc đắc, ta là người mua vé số, ta cũng có thể trúng độc đắc, đó là tam đoạn luận. Tuy vậy, mỗi năm nước Mỹ này chỉ có thêm được vài chục người may mắn trúng số độc đắc, nhưng cũng mỗi năm xứ này có 20,000 người chết vì bệnh cúm thường (common flue), 42,000 người chết vì tai nạn trên xa lộ, 15,000 người chết vì súng ống, đâm chém. Nội số người bị điện giật không thôi cũng gấp bốn lần số người trúng số. Vậy thì chúng ta nói chuyện đám ma coi bộ còn có lý và hiểu biết chuyện đời hơn là bàn chuyện trúng số.

Nếu bàn chuyện: “Chết rồi đi về đâu?” là nói chuyện triết lý và đụng đến niềm tin tôn giáo. Bọn phàm phu tục tử chúng tôi thường có câu hỏi thực tế gần hơn, là chết rồi, nên chôn hay nên thiêu? Thiêu thì hẳn rẻ hơn chôn. Thiêu rồi đem rải tro ở đâu đó để “cát bụi trở về cát bụi” cho xong một kiếp người. Nhưng khổ nỗi, nhiều người ngỏ ý không chịu cho con cháu thiêu vì sợ nóng, người chết còn biết nóng thì chắc khi chôn bị ngộp thở, rồi côn trùng sâu bọ rúc rỉa trong xương thịt dài dài, còn khổ sở biết bao nhiêu! Chôn xuống đất, phải tốn tiền cho một phần mộ. Một phần đất chôn, cộng với nhà quàn, quan tài, bia mộ không dưới $15,000 cho một người, đâu phải là số tiền ai cũng có được! Mộ thì phải có bia, mặc dù bia đá trăm năm cũng phải mòn. Chôn xuống đất rồi, nằm đó, ngày tháng trôi qua mà không có “con ma” nào lui tới thăm viếng còn rầu hơn nữa, nhất là những ngày Hiền Mẫu, Nghiêm Phụ, những ngày Lễ Tết, “nằm trong huyệt lạnh chắc em sầu...”( Ðinh Hùng), vì mộ người bên cạnh nhang khói, hoa tươi phủ đầy mà phần ta tiêu điều vắng lạnh, sao cho khỏi chạnh lòng dưới mộ sâu.

Chết rồi đem vào nhà quàn, lại có người muốn đến đọc bản tuyên dương công trạng và phủ cờ. Bản thân chưa làm được điều gì ích quốc lợi dân, lại chưa hết lòng vì tổ quốc, nay nước mất nhà tan, chịu cảnh đầu hàng, hoặc là bỏ đơn vị, chiến hữu ra đi, cao bay xa chạy, hoặc xếp hàng “đăng ký” xin ghi tên vào tù, còn vinh dự gì để được lá cờ tổ quốc phủ lên quan tài. Những người xứng đáng được phủ lá cờ tổ quốc hiện nay đang nằm trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa hoang lạnh hay bỏ xác trên rừng dưới biển. Ngoài những trang liệt sĩ, anh hùng đã chết vì tổ quốc như thế, ở đây còn ai xứng đáng để phủ lá cờ thiêng liêng ấy cho người lính già chết tha phương trên đất khách hôm nay?

Cũng xin đừng quá lo lắng, phiền lòng đến chuyện cầu nguyện cho người đã chết để linh hồn được sớm siêu thoát bay lên Niết Bàn hay Thiên Ðàng an vui. Nghiệp chướng, nếu sống một cuộc đời tốt lành, không có năng lực nào làm cho dầu chìm được xuống đáy hồ, nếu sống một cuộc đời xấu xa, là đá thì là nghìn câu kinh cầu nguyện cũng không làm cho đá nổi lên được mặt nước. Không có giáo sĩ quyền năng trên thế giới này có thể cầu nguyện để làm ngược lại được định luật đó.

Nếu chúng ta vẫn thường tự hào về bản sắc văn hóa, nghìn năm nô lệ cũng không bị đồng hóa, sao mới sống với Mỹ ba mươi lăm năm, đã vội quên đậy nắp quan tài cho người thân. Người Việt trong nước sau năm 1975, bắt chước Liên Xô, người chết nằm trong quan tài có nắp kính để người viếng có thể trong thấy mặt, vợ con anh em thay nhau phát biểu tình cảm với người chết, rồi quan khách “diễu hành” quanh quan tài nhiều vòng, trước khi di quan, nhưng ngày nay loại văn hóa này đã không còn tồn tại. Theo tục lệ Việt Nam, người chết rồi thì phải đắp mặt, tẩm liệm thì phải đậy nắp hòm. Người bệnh đau ốm lâu ngày, nhan sắc tàn phai, nhiều khi không muốn gặp mặt bạn bè, thân quyến, huống gì lúc đã nhắm mắt xuôi tay. Gia đình con cái thì xúc động khi còn nhìn thấy mặt người thân, tạo nên sự lưu luyến tình cảm, bịn rịn không muốn chia rời.

Hầu như tất cả đám tang cử hành tại Mỹ, trong cáo phó đều có ghi hàng chữ “Xin miễn phúng điếu” vì dần dần người ta hiểu nghĩa “xin miễn phúng điếu”, có nghĩa là tang gia không nhận tiền, trong khi đó vẫn nhận hoa. Thật ra “Phúng: là lễ vật để điếu người chết,” “Phúng Ðiếu: là đem lễ vật đến hỏi thăm người chết” (*) vậy thì không những tiền, mà hoa hay bánh trái, nhang đèn (như ở Việt Nam) đều là vật phúng điếu. Người ta cũng thường căn cứ vào số lượng vòng hoa phúng để lượng giá một đám tang lớn hay nhỏ, sang hay hèn, mặc dầu những tràng hoa này chỉ tồn tại trong vòng một ngày rồi đem vứt bỏ, đã tốn kém khoảng $200 cho một tràng hoa, một số tiền không nhỏ. Nhiều tang gia đã loan báo không nhận vòng hoa và xin dành số tiền đó cho những việc từ thiện, nhưng không được đáp ứng từ bạn bè thân thích, lý do là người ta thích bề ngoài, làm sao cho đẹp mắt mà mọi người đều thấy được. Một đám tang, khoảng từ 5 đến $8,000 tiền hoa được đem đi vứt bỏ phí phạm. Một đám tang của người Mỹ, dù là danh giá hay triệu phú, không có nhiều vòng hoa tang như người Việt, có dịp, các bạn thử đếm xem, chúng ta “chơi bảnh” hơn họ nhiều.

Vui hay buồn thì cũng hiểu cho thuận lẽ trời. Mái tóc điểm sương và xác thân “tứ đại”(**) bắt đầu rệu rã. Châm ngôn của ngành Thiếu Hướng Ðạo là “Sắp Sẵn”, còn chúng ta thuộc loại “cổ lai hy” rồi, đã có ai sắp sẵn chưa?

Phần các con, xin hãy cho mẹ một bát canh nóng lúc về già hơn là nghìn nghi thức đưa tiễn lúc nằm xuống, lúc bấy giờ mẹ đâu còn biết gì nữa!

Post Reply